UBND QUẬN HOÀNG MAI
TRƯỜNG THCS YÊN SỞ
MỘT VÀI KINH NGHIỆM TRONG VIỆC NÂNG CAO
NĂNG LÀM BÀI VĂN NGH LUẬN XÃ HỘI ĐỐI VỚI
HỌC SINH LỚP 9
A. PhÇn ®Æt vÊn ®Ò
I. Lí do chọn đề tài
Trong nh÷ng n¨m gÇn ®©y với quan điểm chú trng tới việc rèn luyện, nâng
cao năng thực hành tạo lập n bản nói văn bản viết, môn Ngữ văn nói
chung pn môn Tập làm văn nói riêng đã ctrọng xây dựng ni dung theo
cấu trúc đng tâm, lÆp lại (nâng cao) các lớp khác nhau. Đặc biệt, kiểu bài
nghị luận với việc cho thêm kiểu bài nghluận xã hội vào chương trình giảng dạy
bậc THCS PTTH đã thể hiện quan điểm của Bộ giáo dc và đào tạo nước
ta luôn mong muốn đẩy mạnh, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo trong học
tập của học sinh. Kiểu bài này đã giúp cho học sinh nâng cao được trình đ hiểu
biết cũng như được y tỏ được quan điểm của mình về các lĩnh vực hội. Đặc
biệt năng m bài văn của các em được nâng cao, tránh tình trạng lắp p y
nguyên các bài văn mẫu có sẵn trong các sách tham khảo.
Tuy vậy, một thực trạng chung năng viết văn nói chung viết văn
nghị luận xã hội nói riêng của đa số các em n rất yếu. Đối với học sinh trường
tôi đa số học sinh là con em vùng quê mới phát triển, điều kiện học tập và trình
tự nhận thức rất hạn chế. Ngay cả đối với kiểu văn tự sự c em n lúng túng
chưa biết làm đầy đủ một bài văn hoàn chỉnh thì kiÓu bµi nghÞ luËn héi ë
ch¬ng tr×nh s¸ch gi¸o khoa líp 9 với các em là một thách thức lớn. Sè lîng tiÕt
lÝ thuyÕt vÒ kiÓu bµi nghÞ luËn héi trong ch¬ng tr×nh s¸ch gi¸o khoa líp 9 lµ 5
tiÕt chia cho hai kiÓu bµi nhá : Nghị luận về một vấn đtưởng, đạo nghị
luận về một sviệc, hiện tượng đời sống. Nh vËy víi sè tiÕt Ýt ái cho hai kiÓu
bµi kh¸c nhau thuéc nghÞ luËn héi thì c¸c em häc sinh còn rất mơ màng về lý
thuyết nói gì đến việc nắm vững được các kĩ năng làm bài. Thªm vµo ®ã, c¸c kiÕn
thøc cña c em i cßn cïng ít i. Bởi nghị luận hội một lĩnh vực
rất rộng: Từ bàn bc những s việc, hiện tượng trong đời sống đến luận bàn
những vấn đchính trị, chính sách, từ những vấn đ đạo đức, lối sống đến những
vấn đề có tầm chiến lược, những vấn đề tư tưởng triết lí. Khi c« gi¸o giao cho c¸c
em mét ®Ò v¨n thuéc v¨n nghÞ luËn x· héi ®a phÇn c¸c em v« cïng lóng tóng. C¸c
em cch¨m ch¨m m trong s¸ch tham kh¶o xem bµi v¨n nµo trïng víi ®Ò
gi¸o cho ®Ó chÐp lÊy. Hoc làm bài chưa biết trình bày luận điểm, chưa biết
lập luận, diễn đạt lủng củng, kiến thức về các vấn đề xã hội rất ít ỏi, nông cạn...
Trong khi đó, kiểu i nghị luận xã hội từ lâu đã được đưa vào cấu trúc đ
thi 9 o lớp 10 chiếm 2.0 điểm. Lượng kiến thức của kiểu bài này như đã trình
bày trên rất rộng lớn. Nếu chỉ dậy tủ, học tủ, học sinh sẽ không thể làm bài thi
vào lớp 10 tốt được.
Đứng trước thực trạng đó tôi luôn trăn trở suy nghĩ m sao thể khắc
phục được những nhược điểm này của các em? Tôi nhận ra rằng chỉ thể rèn
luyện cho các em năng m bài văn thì chất ợng bài làm của các em mi
được nâng cao.
Với các do đó tôi đã chọn thực hiện sáng kiến kinh nghiệm Một i
kinh nghiệm trong việc nâng cao kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội đối với học
sinh lớp 9”.
Đtài này tôi đã áp dụng cho học sinh trường THCS Yên Sở và đã thu được
những kết quả khả quan. Trong khuôn khổ đ tài này tôi muốn sẻ chia một i
kinh nghiệm nhỏ của bản thân mình với tất cả các anh ch đồng nghiệp, với
những người đã từng trăn trở trước những bài viết của học sinh ®Ó ®ã cã thÓ
gióp Ých phần nào cho viÖc n©ng cao chất lượng n¨ng lµm bµi ngh luận xã hội
củac em học sinh.
II. Mục đích nghiên cứu
Qua một thời gian giảng dy của mình, i thấy rằng đ khơi dậy khả năng
sáng tạo, kĩ năng thực hành viết văn của c em thì người giáo viên phải luôn đi
mới phương pháp dạy học. Học sinh phải nắm được các phương pháp làm bài văn
cụ thể, nhuần nhuyễn. Vì vậy, viết đ tài này bản thân tôi mong muốn được góp
phần cùng đồng nghiệp hiểu sâu sát hơn vkiểu i nghị luận hội, qua đó tìm
ra được phương pháp tối ưu phù hợp với các em học sinh lớp 9.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lớp 9 (9A3,9A4) của trường THCS Yên Sở, Quận Hoàng Mai, TP.
Hà Nội
- Văn nghị luận xã hội ở lớp 9.
2. Phạm vi nghiên cứu: Cách làm bài văn nghị luận hội của học sinh lớp 9
của trường THCS Yên Sở
IV.Thời gian và phương pháp nghiên cu
1.Thời gian nghiên cứu: Năm học 2018-2019.
2. Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra bản.
- Thực hành.
- Phân tích, tổng hợp.
- So sánh đối chiếu.
- Trắc nghiệm.
- Tổng kết rút kinh nghiệm.
B. PHẦN GII QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG I- CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Giới thiệu khái quát về thể văn nghị luận.
Văn nghị luận loại văn viết ra đphát biểu ý kiến, bày tỏ nhận thức đánh
giá thái độ đi với cuộc sống bằng những luận điểm, lẽ, dẫn chứng. Nếu tác
phẩm văn học nghệ thuật phát biểu ý kiến y t thái độ cuộc sống bằng những
hình ợng nghệ thuật gợi cảm thì văn nghluận điễn đt bằng những mệnh đề,
phán đoán lôgic thuyết phục. Từ những điều nói trên, khái niệm về n nghị luận
được cthể nsau: n nghị luận loại n trong đó người viết (người i)
đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó thông qua cách thức bàn
luận thuyết phục được người nghe.
1.2. Đặc trưng của văn nghị luận
n nghị luận được xây dựng trên cơ sở của tư duy lôgíc. Nhiệm vụ củai
văn nghị luận trình bày dưới hình thức c luận điểm. Luận điểm linh hồn
của bài viết. Luận điểm đúng đn, chân thực, đáp ứng nhu cầu thực tế thì mới
sức thuyết phục.
Trong văn nghị luận, mỗi đoạn văn một kết cấu riêng, chúng thường
mang bóng dáng một trong những hình cấu trúc: tổng - phân – hợp, diễn dịch,
quy np...Ở cấp độ liên câu các câu cũng được sắp xếp theo một trật tự tuyến tính.
Nếu trật tự các câu không phù hợp với trình tự lập luận thì tính logíc bị phá vỡ.
Sức thuyết phục của mt bài văn nghị luận trước hết toát ra từ mt nội dung
tư tưởng sâu sắc, từ hệ thống lí lẽ luận chứng phong phú, xác đáng. Nng nếu
nội dung sâu sắc, phong phú mà kết cấu không chặt chẽ, trình bày không rạch i
gãy gọn, giữa các ý không có mối quan hệ lôgíc thì sức thuyết phục cũng bị giảm.
Sự chính c mạch lạc trong suy luận phải được thể hiện qua sự khúc chiết, chặt
chẽ nhất qn, liên tục trong trình bày.
1.3. Một số dạng thức nghị luận xã hội trong chương trình làm văn THCS
1.3. 1. Kiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.
trình bày quan điểm, suy nghĩ, thái đ (khẳng định hay phủ định, biểu
dương hay pphán) vmột sự việc nào đó xảy ra trong đời sống (gia đình, học
đường, xã hội...). Những hiện tượng tốt hoặc chưa tốt cần được nhìn nhận thêm.
Ví dụ: - Suy nghĩ của em về tình trạng thanh thiếu niên ham mê trò chơi điện
tử.
- Một tấm gương vượt khó trong học tập.
- Vấn đề bảo vệ môi trường.
1.3.2. Kiểu bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí.
trình bày suy nghĩ, thái đvề một quan niệm tưởng, đạo lí, lối sống,
văn hoá... định hình trong cuộc sống con người. Những quan niệm đó thường thể
hiện ới hình thức một ý kiến, một nhận định, mt đánh giá... tính chất
khuyên n (tục ngữ, ca dao, danh ngôn, nhận định...mang tính chân lí). Kiểu bài
nghị luận về một tưởng đạo quá trình kết hợp những thao tác lập luận để
làm rõ những vấn đề tư tưởng đạo lí trong cuộc đời.
Ví dụ: - Nghị luận về đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”,
- Ý nghĩa của tình yêu thương.
Trong phạm vi Tập m văn ntrường bậc THCS, học sinh p 9 được
làm quen kiểu bài văn nghị luận xã hội với hai dạng chính: nghị luận về một s
việc hiện tượng đời sống và nghị luận về mt vấn đtưởng đạo lí. Cụ thể trong
cấu trúc chương trình sách giáo khoa Ngữ văn cóc tiết:
- Tiết 99: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.
- Tiết 100: Cách m bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.
- Tiết 108: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.
- Tiết 113+114: Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí.
CHƯƠNG II- THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
2.1.Về thuận lợi
- Văn nghị luận một loại văn phổ biến sử dụng trong nhà trường hiện nay.
Trong các loại n, thì văn nghị luận tính khoa học, và đòi hỏi duy cao nhất
nhằm kiểm tra khả năng phân tích, tổng hợp duy khoa học của học sinh
vẫn đánh giá được ở học sinh khả năng diễn đạt và cảm thụ.
- Giáo viên được đào tạo bản, có năng lực, nhiệt huyết, kiến thức về xã
hội khá sâu sắc, được trang bị phương pháp dạy học tích cực kinh nghiệm
trong giảng dạy.
- Học sinh có nhiều em ngoan ngoãn. Một số emlßng say mê u thÝch b
n. Đời sống xã hội ngày được nâng cao chính vì vậy các vấn đề về xã hội ngày
càng được mọi người chú ý và quan tâm trên các phương tiện thông tin đại chúng
đặc biệt là các vấn đề liên quan đến i trường sống. Do vậy nguồn liệu thông
tin rất phong phú.
- Áp dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy đặc biệt cung cp những
hình ảnh về các vấn đ của đời sống xã hội đã góp phần quan trọng trong việc thu
hút sự chú ý cuả các em học sinh vào bài giảng.
- Phụ huynh học sinh tạo điều kiện cho con em học tốt n văn như: mua
sách tham khảo, giành nhiều thời gian cho con mình hc, thường xuyên trao đổi
về tình hình học tập của con mình với giáo viên giảng dạy.
- Trong qtrình thực hiện đtài tôi luôn nhận được những chia sẻ góp ý
chân thành từ đng nghiệp sự giúp đtận tình của các đồng chí trong Ban
giám hiệu nhà trường.
2.2. Về khó khăn
Tuy vậy tôi cũng gặp không ít khó khăn trong khi triển khai đtài. Bởi lẽ:
- Các em từ trước tới nay dựa dẫm quen vào văn mẫu, không chịu có tư duy
của riêng mình, mà nghị luận xã hội thì rất phong phú, không b cố định như
nghị luận văn học. Khi hình thức học thay đổi, tất yếu, các em khó có thể thích
nghi ngay được.
- Nghị luận xã hội thường là những vấn đề rất rộng của đời sống, các em học
sinh lại thiếu hiểu biết xã hội, nên không có vốn từ, vốn tư liệu,... để viết.
- Nghị luận xã hội hay có những câu danh ngôn, định nghĩa, khái niệm, nên
chúng thường rất trừu tượng, các em gặp khó khăn khi phải hiểu, phải giải
được ý nghĩa của đề .
- Số tiết giảng dạy về kiểu bài y trên lớp còn ít i. Thời gian đhc sinh
thực hành rất ít.
m học 2018-2019 tôi tiến hành khảo sát học sinh lớp 9A3 9A4 bao
gồm 2 lớp với tổng số 60 học sinh. Tôi cho học sinh làm bài với đbài Sách
mở ra trước mắt tôi những chân trời mới (M.Gorki).
Tôi thu được kết quả cụ thể như sau:
Lớp TS Giỏi Khá Trung
bình
Yếu m
SL % SL % SL % SL % SL %
9A3 35 0 5 14,2
11 31,
14 40 5 14,4
9A4 2
0 2 8,0 8 32,0
10 40,0
5 20,0
Cộng
60 0 7 11,6
19 13,3
24 40,0
10 35,1
Qua bảng thống kê trên cho thấy tỉ lệ học sinh khá giỏi là quá thấp ( không có
bài viết nào đạt loại giỏi) tỉ lệ học sinh i viết yếu kém chiếm số lượng khá
cao (trên 50 %). Đây một con số đáng báo động về khả năng tạo lập văn bản
của học sinh. Những con số đó là nỗi ám ảnh, là mt thách thức to lớn đối với tôi,