
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến thị xã Bình Long.
Chúng tôi ghi tên dưới đây:
Số
TT
Họ và tên Ngày
tháng năm
sinh
Nơi công
tác
Chức
danh
Trình
độ
chuyên
môn
Tỷ lệ (%)
đóng góp
vào việc tạo
ra sáng kiến
1 ĐỒNG THỊ HOÀI 01/12/1972
Trường
THCS An
Lộc - Bình
Long -
Bình
Phước
Hiệu
trưởng
ĐHSP 50%
2 CAO LỆ TUYẾT 16/07/1978
Trường
THCS An
Lộc - Bình
Long -
Bình
Phước
Phó
Hiệu
trưởng
ĐHSP 50%
- Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Tổ chức các hoạt động dạy học theo
định hướng phát triển năng lực khi dạy ngữ văn lớp 9 ở trường THCS.
- Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
+ Họ và tên: Đổng Thị Hoài – Hiệu trưởng – Trường THCS An Lộc.
+ Họ và tên: Cao Lệ Tuyết – Phó Hiệu trưởng – Trường THCS An Lộc.
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục (Ngữ văn 9).
- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: 15/09/2020.
- Mô tả bản chất của sáng kiến:
PHẦN MỘT. MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN
I. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN GIẢI PHÁP
Những khó khăn khi dạy Ngữ văn lớp 9
- Trước đây, các giáo viên thường yêu cầu học sinh soạn bài theo câu hỏi hướng
dẫn học tập cuối mỗi bài học. Tuy nhiên, nhiều câu hỏi chung chung và thường tập
trung vào khai thác kiến thức một cách khô khan. Vì vậy, đối với học sinh cấp THCS,
việc làm này là quá khó, các em thường soạn bài một cách đối phó, nhiều khi cách
hướng dẫn tìm hiểu bài này làm cho tâm lí người học mệt mỏi, ngán ngẩm là điều khó
tránh khỏi. Học sinh vô cùng khó khăn để nhớ hết được lượng kiến thức dày đặc nếu
không “làm mới” thêm cho phương pháp, không tạo hứng thú cho người học, không
thay đổi cách học.
- Một thực trạng phổ biến hiện nay là học sinh ít đọc sách, không thích tương tác
với nhau và tương tác với giáo viên, kỹ năng thuyết trình, phản biện có nhiều hạn chế,
chưa thực sự được thực hành, luyện tập nhiều với nhiều cách tiếp cận khác nhau;

2
- Các kiến thức môn Ngữ văn liên quan đến các môn xã hội khác rất nhiều nên
nếu không có kiến thức liên môn, không biết vận dụng kiến thức liên phân môn để giúp
học sinh tri nhận và vận dụng là một thiếu sót vì kiến thức của học sinh hoặc rất nghèo
nàn hoặc có mà chưa biết cách vận dụng nên bài làm văn nghị luận văn học cũng như
nghị luận xã hội của các em rất nghèo ý tưởng hoặc lập luận thiếu chặt chẽ, thiếu sức
thuyết phục;
- Từ thực trạng trên, giáo viên Ngữ văn nói chung, bản thân chúng tôi nói riêng
luôn trăn trở trong việc tìm ra những giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng, hiệu
quả giảng dạy.
- Để đáp ứng được mục tiêu dạy học nói chung và dạy học môn Ngữ Văn nói
riêng theo hướng tiếp cận Chương trình GDPT mới, dạy học theo định hướng phát triển
năng lực học sinh cần sự đổi mới đồng bộ về chương trình, phương pháp dạy học và
soạn giáo án theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học. Năm học
2020-2021 Trường THCS An Lộc đã tổ chức chuyên đề về đổi mới soạn giáo án theo
định hướng phát triển năng lực học sinh cùng với những hướng dẫn cụ thể đến tất cả
giáo viên trong toàn trường và xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
trong năm học 2020 - 2021. Bởi vậy bản thân chúng tôi, những giáo viên trực tiếp đứng
lớp, đồng thời cũng là Ban giám hiệu, quản lý việc dạy và học trong nhà trường, chúng
tôi thấy việc cần thiết phải soạn và dạy, tổ chức các hoạt động dạy học theo định hướng
phát triển năng lực học sinh là quan trọng. Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Tổ chức
các hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực khi dạy ngữ văn lớp 9 ở
trường THCS” làm đề tài nghiên cứu.
II. TÍNH MỚI CỦA SÁNG KIẾN
Sáng kiến đã có tính mới trong việc tổ chức các hoạt động dạy học theo định
hướng phát triển năng lực khi dạy Ngữ văn lớp 9 ở trường THCS. Cụ thể:
Thứ nhất: Phát triển năng lực học sinh qua việc giao nhiệm vụ, hướng dẫn cách
chuẩn bị bài mới.
Thứ hai: Phát triển năng lực học sinh qua hoạt động khởi động.
Thứ ba: Phát huy năng lực học sinh qua các hoạt động dạy học bài mới.
Thứ tư: Phát huy năng lực học sinh qua luyện tập, làm bài tập, kiểm tra.
PHẦN HAI. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
1. Giải pháp 1: Phát triển năng lực học sinh qua việc giao nhiệm vụ, hướng
dẫn cách chuẩn bị bài mới.
Đối với môn Ngữ văn nói riêng và các môn học khác nói chung việc chuẩn bị
bài học mới là hết sức quan trọng. Bởi, việc làm này đòi hỏi học sinh không chỉ là soạn
bài, trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa mà là phải biết vận dụng các nội dung liên
quan, biết tích hợp kiến thức liên môn về Lịch sử, Địa lí, GDCD, Âm nhạc, Mĩ thuật...
để giải quyết nhiệm vụ mà bài học đặt ra đồng thời biết vận dụng trong thực tế làm bài
kiểm tra, phục vụ việc học ở bậc cao hơn cũng như trong cuộc sống sau này. Vì vậy, để
việc chuẩn bị các nội dung cho tiết học hiệu quả thì điều quan trọng và mấu chốt là giao
nhiệm vụ cho học sinh hoặc nhóm học sinh. Nhiệm vụ giao cho học sinh phải rõ ràng,
phải phát huy được trí tuệ của học sinh; phải khơi nguồn để học sinh phát huy sở trường

3
năng lực của bản thân. Đồng thời, việc chuẩn bị bài Ngữ văn ở nhà cũng phải góp phần
phát triển nhiều năng lực cho học sinh.
Ví dụ đối với những em có năng khiếu về Mĩ thuật thì giáo viên giao nhiệm vụ
vẽ tranh minh họa; vẽ sơ đồ, lược đồ, bản đồ tư duy,.... cho các nội dung liên quan đến
bài học. Đối với những em có năng khiếu về Âm nhạc, giao nhiệm vụ chuẩn bị, sưu
tầm những bài hát liên quan đến nội dung bài học để phục vụ quá trình dạy nâng cao,
mở rộng và liên hệ khi cần thiết.
Như vậy học sinh vừa có cơ hội để phát huy năng lực, sở trường của mình vừa
giúp cho tiết học sinh động và nội dung học sinh nhận thức được sẽ thêm sâu sắc. Hoạt
động giao nhiệm vụ theo sở trường, năng khiếu này giúp học sinh chuẩn bị bài môn
Ngữ Văn tốt hơn, cụ thể hơn theo định hướng kiến thức, kỹ năng mà giáo viên yêu cầu,
đồng thời còn phát huy được năng khiếu, năng lực, sở trường của bản thân các em,
khiến các em hứng thú hơn với việc chuẩn bị bài. Việc định hướng này của giáo viên,
giúp học sinh rèn luyện, phát triển năng lực thẩm mĩ, năng lực tạo lập văn bản. Ví dụ
thông qua việc chuẩn bị, vẽ sơ đồ tư duy, các em đã nắm được nội dung cốt lõi của văn
bản, từ đó khái quát hóa kiến thức thành sơ đồ tư duy. Hoặc, việc chuẩn bị bài bằng hoạt
động vẽ tranh minh họa cho tác phẩm văn học cũng giúp các em đã nắm được nội dung
cốt lõi, giá trị cốt lõi của tác phẩm văn học rồi chuyển thể sang loại hình nghệ thuật mới
- tác phẩm hội họa. Cách tổ chức này của giáo viên tạo điều kiện để học sinh được sáng
tạo. Vì thế năng lực thẩm mĩ, năng lực tiếp nhận văn bản, tạo lập văn bản,… của các em
được rèn luyện, phát triển một cách tự nhiên nhất thông qua những hoạt động gắn với
năng khiếu của các em.
Ngoài ra việc giao nhiệm vụ theo nhóm học sinh, việc giao nhiệm vụ theo tổ
cũng là cách để học sinh phát huy năng lực của mình trong đó rèn luyện và nâng cao các
năng lực như: năng lực hợp tác, năng lực tự quản, năng lực giải quyết vấn đề...vv.
Ví dụ khi dạy bài Viếng lăng Bác (Ngữ văn 9 tập 2) giáo viên giao nhiệm vụ như
sau:
- Nhóm 1, giao cho những em có năng khiếu hội hòa, vẽ một số bức tranh liên
quan đến nội dung bài thơ như hình ảnh “hàng tre bát ngát” trong sương và “dòng
người đi trong thương nhớ - kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”.
- Nhóm 2, giao cho một số em có năng khiếu Âm nhạc chuẩn bị nội dung hát bài
Viếng lăng Bác của nhạc sĩ Trần Hoàn phổ thơ Viễn Phương.
- Nhóm 3 chuẩn bị tìm hiểu về quá trình, hoàn cảnh, những tư liệu hình ảnh liên
quan đến Lăng Bác Hồ.
- Nhóm 4 sưu tầm những bài thơ, đoạn thơ, câu thơ viết về trăng của Bác hoặc
một số câu thơ, bài thơ ca ngợi về Bác.
2. Giải pháp 2: Phát triển năng lực học sinh qua hoạt động Khởi động (giới
thiệu bài).
Mỗi tác phẩm văn học là một sáng tạo nghệ thuật thông qua hình tượng văn học,
hình tượng thơ, hình tượng nhân vật. Văn chương đến với người tiếp nhận bằng sự rung
động của trái tim. Chính bởi vậy khi chuẩn bị vào tìm hiểu một tác phẩm văn chương thì
việc tạo tâm thế cho học sinh giống như một sự khơi gợi và dẫn dắt học sinh đi vào tác

4
phẩm tìm hiểu và cảm nhận nó một cách sâu sắc nhất, hiệu quả nhất. Như vậy khâu vào
bài (giới thiệu bài) nay gọi là “Khởi động”, tạo sức nóng (sự hào hứng, hứng thú cho
người học, tiết học) là hết sức quan trọng và có ý nghĩa. Để thực hiện bước Khởi động
hiệu quả, quan trọng nhất là tổ chức cho học sinh phát huy các khả năng, năng lực của
mình. Nếu như trước đây, giáo viên giới thiệu bài bằng cách thuyết giảng một mình, học
sinh nghe, thì dạy học theo định hướng phát triển năng lực người dạy có thể tổ chức
theo một số cách thức sau:
- Cách thứ nhất: Yêu cầu học sinh trình bày những ngữ liệu văn học liên quan
đến đề tài, nội dung của văn bản đang học.
Ví dụ khi học bài thơ: Đồng chí của Chính Hữu giáo viên yêu cầu học sinh trình
bày một số đoạn thơ viết về đề tài người lính trong thời kháng chiến chống Pháp chẳng
hạn: Chín năm làm một Điện Biên /Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng (Tố Hữu)… Từ
những câu thơ, đoạn thơ hay các ngữ liệu liên quan học sinh sẽ tự trình bày cảm nhận
của cá nhân về nội dung ngữ liệu. Từ đó liên hệ sang nội dung văn bản sẽ học. Như vậy
với giải pháp này học sinh sẽ có cơ hội phát huy năng lực giao tiếp, năng lực cảm thụ
thẩm mĩ của riêng mình.
- Cách thứ hai: Giáo viên cung cấp ngữ liệu bằng những đoạn Video clip, những
đoạn phim tư liệu liên quan đến đề tài, hoặc một vấn đề nào đó của nội dung bài học.
Ví dụ khi dạy văn bản: Cô Tô, giáo viên sẽ cung cấp đoạn phim tư liệu về vùng
đảo Cô Tô. Sau khi cho xem xong giáo viên sẽ phát phiếu học tập hoặc trực tiếp đặt câu
hỏi để học sinh trình bày ý kiến riêng của cá nhân, từ cảm nhận chung ấy về vùng đảo
Cô Tô giáo viên sẽ liên kết qua nội dung bài mới. Bằng cách làm này, học sinh sẽ dược
tiếp nhận những thông tin đa dạng về đảo Cô Tô từ đó hình thành ở các em năng lực
cảm thụ thẩm mĩ về cái đẹp của đảo Cô Tô, đồng thời tạo tiền đề để các em được hình
thành năng lực giao tiếp với văn bản về đảo Cô Tô một cách tự nhiên hơn trên cơ sở
những hình ảnh về đảo qua các đoạn clip.
Ví dụ khi học bài thơ Nói với con - Y Phương (Ngữ văn 9) giáo viên có thể khởi
động bằng cách:
Cho học sinh xem video bài hát Quê hương (Giáp Văn Thạch)
Đưa ra một số câu hỏi nêu vấn đề như: cảm nhận về tình yêu quê hương
được thể hiện như thế nào trong bài hát? Từ đó, giáo viên dẫn dắt vào bài mới.
Những hình nào, điều gì của quê hương được nói đến trong bài thơ? Đó là
những nét văn hóa, thổ nhưỡng hay con người…tất cả đã ăn sâu vào trong tâm hồn và
trở thành nguồn cảm hứng bất tận để tác giả viết nên những tác phẩm có giá trị.
Với cách khởi động đơn giản như vậy học sinh đã được cảm nhận, cảm thụ cái
đẹp của quê hương từ đó hình thành ở các em một cách tự nhiên về tình yêu quê hương,
về cái đẹp, … để rồi những cảm nhận đó tiếp tục được bổ sung, phát triển trong phần
hình thành kiến thức mới - học bài Nói với con.
- Cách thứ ba: Tạo tình huống giả định liên quan đến nội dung văn bản để học
sinh giải quyết. Khi đặt học sinh vào tình huống có vấn đề học sinh vừa phát huy năng
lực tư duy, năng lực giao tiếp tiếng Việt và một số năng lực khác, đặc biệt là học sinh từ
tình huống đó sẽ kích thích sự tò mò khám phá,tìm hiểu nội dung văn bản đang học.

5
Ví dụ: Khi dạy văn bản: Bức tranh của em gái tôi, giáo viên giới thiệu bài bằng
cách tạo tình huống: Trong cuộc thi Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn
đề trong thực tế vừa qua, bạn Nguyễn Văn A của lớp mình đạt giải Nhất cấp Huyện, còn
em thì không đạt giải gì cả, trước thành công của bạn A, tâm trạng của em như thế nào
và thái độ của em với bạn lúc đó ra sao? Trước tình huống này mỗi em học sinh sẽ bày
tỏ ý kiến của riêng mình và chắc chắn sẽ có nhiều ý kiến khác nhau. Có thể có em là sự
vui mừng, có thể có em buồn, có em ghen tị; còn thái độ đối với bạn A có em là chơi
thân với bạn hơn, có em thì giữ khoảng cách. Từ ý kiến của các em giáo viên dẫn dắt và
liên kết sang bài mới.
Hoặc khi dạy văn bản: Cuộc chia tay của những con búp bê giáo viên giới thiệu
bài bằng cách tạo tình huống: giả sử chúng ta đang sống trong một gia đình êm ấm hạnh
phúc, bỗng một ngày được bố mẹ thông báo bố mẹ sẽ chia tay nhau, em phải sống với
bố hoặc mẹ, tâm trạng em lúc đó sẽ như thế nào? Từ tình huống này học sinh sẽ trình
bày suy nghĩ của mình, từ đó giáo viên dẫn dắt vào nội dung bài học.
Như vậy, qua cách làm này học sinh sẽ được hình thành những năng lực chuyên
biệt của môn Ngữ Văn ở bậc THCS như năng lực tư duy, năng lực giao tiếp tiếng Việt
(qua hoạt động nghe, hiểu về văn bản do giáo viên trình bày), năng lực thẩm mĩ, năng
lực giao tiếp (thể hiện qua cách cảm nhận nội dung câu chuyện, thái độ đối với nội dung
câu chuyện mà giáo viên kể),….
3. Giải pháp 3: Phát huy năng lực học sinh qua các hoạt động dạy học bài
mới.
Đây là bước quan trọng nhất vì các hoạt động dạy học sẽ tập trung ở dạy học bài
mới. Các năng lực chung và năng lực chuyên biệt sẽ được thể hiện chủ yếu qua các hoạt
động dạy học bài mới. Vì vậy trước tiên giáo viên phải xác định rõ những năng lực nào
sẽ hình thành cho học sinh và ứng với những năng lực đó là các hoạt động nào? Như
vậy mấu chốt của việc phát triển năng lực học sinh ở khâu dạy bài mới là cách điều
hành tổ chức của người thầy. Trong đó việc đầu tiên là khâu đặt câu hỏi. Trong quá
trình đi tìm hiểu phân tích một tác phẩm hay đoạn trích bên cạnh các câu hỏi thông
thường bấy lâu nay chúng ta vẫn sử dụng thì tăng thêm các loại câu hỏi đòi hỏi học sinh
phải có sự tư duy mới trả lời được. Qua các câu hỏi này học sinh sẽ phát huy các năng
lực của mình. Ở đây cần phân loại một số dạng câu hỏi đặc trưng như sau:
3.1. Dạng câu hỏi so sánh liên hệ: Dạng câu hỏi này phát sinh khi bắt gặp một
vấn đề trong văn bản liên quan đến một nội dung của một vắn bản đã học trước đó, khi
thực hiện dạng câu hỏi này một mặt giúp học sinh ôn lại nội dung kiến thức đã học đồng
thời liên hệ, so sánh với nội dung mới nảy sinh. Đồng thời qua việc học sinh trả lời
những câu hỏi dạng so sánh liên hệ như vậy buộc học sinh phải nhớ lại văn bản cũ với
mới (liên quan đến câu hỏi) từ đó hình thành năng lực tiếp nhận văn bản ở học sinh. Và
để so sánh được học sinh buộc phải tư duy, suy nghĩ, thể hiện ý kiến riêng của mình về
vấn đề được hỏi từ đó hình thành và phát triển năng lực tư duy, năng lực cảm thụ thẩm
mỹ ở các em.
Ví dụ khi dạy bài Viếng lăng Bác khi phân hai câu thơ: “Ngày ngày mặt trời đi
qua trên lăng - Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” giáo viên đặt câu hỏi: hình ảnh

