
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến Trường Tiểu học Thanh Lương B
Tôi ghi tên dưới đây:
Số
TT
Họ và tên Ngày
tháng năm
sinh
Nơi công
tác
Chức
danh
Trình độ
chuyên
môn
Tỷ lệ (%)
đóng góp
vào việc
tạo ra
sáng kiến
1 VŨ THỊ KIM TĨNH 17/07/1984
Trường
TH
Thanh
Lương B
Giáo
viên
dạy
lớp 4
ĐHSPTH
100%
1. Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Biện pháp giúp học sinh
lớp 4 làm tốt bài văn miêu tả .”
2. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tác giả đồng thời là chủ đầu tư tạo ra sáng
kiến.
3. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục ( Tiếng Việt – phân môn Tập
làm văn )
4. Ngày sáng kiến được áp dụng: Áp dụng lần đầu: 10/ 2020.
5. Mô tả bản chất của sáng kiến:
5.1. Tính mới của sáng kiến:
Lớp Bốn là lớp đầu tiên học văn miêu tả và làm bài viết hoàn chỉnh chứ
không viết một đoạn hay dựa vào gợi ý như ở các lớp dưới. Để dạy tốt môn văn
miêu tả bên cạnh những điều kiện như: Tư tưởng tình cảm tốt, kiến thức sâu và
nắm chắc về ngôn ngữ, về văn học,…thì việc nắm vững phương pháp dạy học là
hết sức quan trọng. Giáo viên chính là người tổ chức, giải quyết các tình huống
học tập, kích thích óc tò mò và tư duy độc lập của học sinh; giúp học sinh phát
hiện ra những cái mới lạ, cái đẹp ở thế giới xung quanh mình. Từ đó các em
thích quan sát và thể hiện những gì mình quan sát được một cách có hệ thống
giàu hình ảnh, giàu cảm xúc và logic.
Qua miêu tả, học sinh có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của thiên nhiên, bồi
dưỡng niềm say mê, yêu thích môn Tập làm văn. Từ đó có động cơ học tập đúng
đắn và muốn tìm tòi khám phá thế giới muôn màu, muôn vẻ ở xung quanh. Đây
là cơ sở giúp các em học tốt văn ở các lớp học trên.
5.2. Nội dung sáng kiến:

2
5.2.1 Thực trạng của vần đề
Qua quá trình điều tra học sinh lớp chủ nhiệm nói riêng và học sinh lớp Bốn
ở trường Tiểu học Thanh Lương B nói chung thì có những thuận lợi và khó khăn
sau:
- Nhà trường luôn quan tâm tạo mọi điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất về
chuyên môn cho việc dạy và học.
- Học sinh biết làm bài văn có đầy đủ các phần: Mở bài, thân bài, kết bài và
biết tả đúng theo chủ đề.
- Đa số các em có ý thức học tập tốt và biết trình bày bài làm sạch đẹp.
- Học sinh sống ở vùng nông thôn nên có vốn hiểu biết, vốn sống khá
phong phú về các đề tài cần miêu tả.
Bên cạnh đó tôi cũng nhận thấy trình độ học sinh trong lớp không đồng
đều, số lượng học sinh làm văn hay ít vì phần lớn học sinh chưa tích cực, chưa
hứng thú với học môn này vì:
- Học sinh quan sát đối tượng cần miêu tả còn qua loa, sơ sài.
- Do vốn từ của các em còn hạn chế nên dẫn đến diễn đạt lủng củng, dùng
từ trùng lặp, sai nghĩa trong bài Tập làm văn .
- Học sinh chưa biết cách sử dụng biện pháp nghệ thuật vào bài và bộc lộ
cảm xúc.
- Học sinh chưa biết sắp xếp như thế nào cho bài văn mạch lạc, đảm bảo bố
cục và chưa biết cách chọn từ ngữ, hình ảnh miêu tả.
Từ đó các em hoàn thành bài làm còn hời hợt, chung chung, chưa biết chọn
lọc hình ảnh, đặc điểm nổi bật để miêu tả. Các em thiên về kể và liệt kê hơn là
miêu tả.
+ Kết quả môn Tập làm văn Cuối năm học 2019 – 2020:
Tốt Đạt Chưa đạt
Sĩ số: 20 SL % SL % SL %
- Quan sát đối tượng cần miêu tả 7 35,0 11 55,0 2 10,0
- Diễn đạt, dùng câu từ 6 30,0 11 55,0 3 15,0
- Sử dụng biện pháp nghệ thuật 7 35,0 10 50,0 3 15,0
- Hoàn thiện bài làm 6 30,0 12 60,0 2 10,0
Đánh giá chung 32,5% 55,0 % 12,5 %
5.2.2. Các biện pháp thực hiện:
a. Hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng được miêu tả.

3
Trong văn miêu tả hướng dẫn học sinh quan sát là khâu quan trọng. Cần
phân biệt nhìn và quan sát. Nhìn là nhận diện đối tượng đó là gì ? Là cây dừa
hay cây chuối, cây bưởi ? Còn quan sát là ta sử dụng nhiều giác quan: thị giác,
thính giác, khứu giác, xúc giác,… miêu tả kĩ đặc điểm cây này có điểm gì khác
với những cây khác. Muốn vậy, giáo viên cần cho học sinh được trải nghiệm
thực tế.
+ Quan sát bằng mắt: nhận ra hình khối, màu sắc, sự vật.
+ Quan sát bằng tai: âm thanh, nhịp điệu, gợi cảm xúc.
+ Quan sát bằng mũi: những mùi vị tác động đến tình cảm.
+ Quan sát bằng vị giác và xúc giác: nếm, sờ, cảm nhận của da.
Ví dụ: Em hãy tả cái cặp sách.
Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát cái cặp sách của mình. Khi học sinh
quan sát, giáo viên đóng vai trò dẫn dắt, gợi mở, tạo nguồn cảm hứng, khơi dậy
suy nghĩ trong các em. Sau khi các em đã quan sát rồi thì yêu cầu các em viết cụ
thể về những gì đã quan sát được.
Gợi ý học sinh đưa thêm những gì mình cảm nhận được vào câu văn, bài
văn và nêu cảm nhận bằng nhiều giác quan khác nhau để tạo cảm xúc cho người
đọc. Khuyến khích học sinh sử dụng các biện pháp nghệ thuật: so sánh, nhân
hóa. Giáo viên có thể yêu cầu các em hãy quan sát và thi xem ai tìm nhiều hình
ảnh so sánh nhất.
Nêu câu hỏi gợi ý:
- Khi quan sát cái cặp: Cái cặp có hình gì ? kích cỡ ra sao? Chất liệu da, vải
hay nhựa? Màu sắc như thế nào? Cặp có bao nhiêu ngăn, công dụng của mỗi
ngăn hay em đã sử dụng mỗi ngăn vào việc gì?
- Hướng học sinh mở rộng các giác quan, cảm nhận được điều mà từ trước
giờ các em chưa biết, chưa khám phá.
Ví dụ: Khi kéo dây kéo khóa của cặp em nghe thấy tiếng “rẹt rẹt” rất êm
tai hay khi em đóng khóa cặp nghe tiếng “ cách” có nghĩa là khóa đã đóng chặt
em cảm thấy rất yên tâm vì sách sẽ không bao giờ rơi ra được. (thính giác).
- Quai cặp bên trong có đệm một lớp xốp, bên ngoài thì bao bọc bởi một
lớp vải lưới mềm nên khi đeo cặp vào em cảm thấy dễ chịu và không hề nóng
vai chút nào. Thân cặp được làm bằng da, sờ tay vào cho em cảm giác mềm mát.
( xúc giác ). Mùi da của cặp mới hơi hăng hắc khó chịu nhưng khi giặt vài lần
thì không còn mùi nữa ( khứu giác ).
- Yêu cầu liên tưởng và cảm nhận về cái cặp: Chiếc cặp chăm chỉ ngày ngày
cùng em đến trường. Em coi nó như một người bạn đồng hành thân thiết. Em
thường gọi nó với cái tên đặt biệt “vật bất li thân” bởi vì nó gắn bó với em suốt
ba năm nay.
Tất cả những giác quan đó sẽ giúp học sinh viết được một bài văn hay, thể
hiện tính chân thực, sinh động và tràn đầy cảm xúc.

4
Với những đối tượng miêu tả con vật, đồ vật, cây cối mà giáo viên không
thể có điều kiện cho học sinh quan sát trực tiếp thì có thể phối hợp với gia đình
học sinh. Ví dụ cha mẹ cho trẻ đi thăm những gì mà em chưa được thấy như:
cảnh thiên nhiên, vườn thú, con vật, cây cối,…
Ngoài ra, giáo viên có thể hướng dẫn tạo vốn sống gián tiếp cho học sinh
bằng cách sử dụng phương tiện dạy học như: tranh ảnh, dạy trình chiếu
powerpoint. Qua các phương tiện trực quan, những hình ảnh sinh động, học sinh
có thể tích lũy thêm vốn sống, nhất là những sự vật, hiện tượng… các em khó có
thể hoặc khó có cơ hội trải nghiệm. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách tiếp
cận, lựa chọn những đặc điểm cần tả ; những đặc điểm nổi bật, khác biệt với các
sự vật hiện tượng khác,…để vận dụng vào viết, nói, tránh tràn lan, rườm rà, liệt
kê.
b) Hướng dẫn học sinh mở rộng vốn từ và lựa chọn từ ngữ miêu tả rõ
ràng đúng nghĩa.
Để giúp học sinh viết văn miêu tả tốt câu văn rõ nghĩa không lặp ý, dùng từ
đúng ,… Để đáp ứng được nhu cầu như vậy phải giúp cho học sinh tích lũy vốn
từ và biết lựa chọn từ miêu tả phù hợp. Như các em hay sử dụng từ địa phương
giáo viên giúp học sinh tích lũy vốn từ, hướng dẫn lựa chọn từ phổ thông thích
hợp hơn trong các trường hợp cụ thể. Qua các bài Tập đọc, giúp cho học sinh
hiểu nghĩa một số từ có trong bài, học sinh nắm được nội dung, nghệ thuật dùng
từ của tác giả.
Ví dụ: Bài “Đôi giày ba ta màu xanh” (sách Tiếng Việt trang 81) Hướng
dẫn cho học sinh thấy, tác giả sử dụng câu văn miêu tả đôi giày: “Thân giày làm
bằng vải cứng, dáng thon thả, màu vải như màu da trời những ngày thu”. Tác giả
đã dùng từ ngữ giàu hình ảnh và sử dụng nghệ thuật so sánh để tô thêm vẻ đẹp
cho đôi giày (dáng thon thả là dáng vừa vặn không bành không thô; màu vải như
màu da trời những ngày thu: những ngày mùa thu nền trời hay còn gọi da trời
thường xanh trong ít mây gợi cho ta có cảm giác là nền trời đẹp nhất trong năm.)
Ví dụ: Bài Con chuồn chuồn nước (sách Tiếng Việt trang 127) Tác giả đã
sử dụng câu văn miêu tả con chuồn chuồn: “Bốn cái cánh mỏng như giấy bóng.
Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như thủy tinh. Thân chú nhỏ và thon vàng
như màu vàng của nắng mùa thu. Bốn cánh khẽ rung rung như đang còn phân
vân”. Tác giả đã sử dụng hình ảnh so sánh các bộ phận trên cơ thể chú chuồn
chuồn với các sự vật hiện tượng đẹp tương ứng để miêu tả chú chuồn chuồn một
cách sinh động, hấp dẫn.
Ngoài phân môn Tập đọc còn các phân môn khác như Luyện từ và câu
cũng giúp cho học sinh mở rộng vốn từ ví dụ bài: Mở rộng vốn từ Cái đẹp, các
em cũng lĩnh hội thêm được từ ngữ hội họa qua phân môn Mĩ thuật. Rèn kĩ năng
quan sát và trí tưởng tượng phong phú qua môn Đạo dức, Kể chuyện, Khoa
học…
Bên cạnh đó, học sinh đọc các bài tham khảo cần phải biết học tập cách
miêu tả và chọn lọc số từ ngữ miêu tả. Từ đó học sinh bổ sung được vốn từ ngữ
cho mình. Đặc biệt là học sinh tích lũy vốn từ qua thực tế cuộc sống hằng ngày

5
như nghe và ghi nhớ tiếng kêu của con mèo (meo…meo), tiếng sủa của con chó
(gâu..gâu) …
Âm nhạc cũng giúp học sinh làm giàu thêm vốn từ và bồi dưỡng tình cảm
qua lời ca tiếng nhạc. Ví dụ lời bài hát: “Con gà gáy le té le ..sáng rồi ai
ơi…nắng sáng lên rồi dậy lên nương đã sáng rồi ai ơi…” gợi cho học sinh nhận
biết tiếng gáy của chú gà trống giống như đồng hồ báo thức gọi bà con nông dân
dậy sớm ra đồng, hình ảnh chú gà gần gũi thân thiết với người nông dân,.. Từ
vốn từ mà học sinh đã tích lũy được, tôi hướng dẫn cho học sinh lựa chọn từ
ngữ, hình ảnh khi miêu tả, sử dụng cho phù hợp. Khi trình bày kết quả quan sát
được hoặc khi học sinh luyện viết đoạn, tôi đã uốn nắn, chỉ chỗ sai cho học sinh
ngay khi phát hiện học sinh dùng chưa đúng.
Học sinh viết: Chiếc cặp của em đã có quai cầm lại có thêm quai đeo. Giáo
viên sửa lại: Chiếc cặp của em rất tiện lợi có cả quai cầm và quai đeo.
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh sử dụng vốn từ, làm giàu vốn từ nhất là
những từ tượng thanh, tượng hình, từ gợi tả màu sắc,…Có nhiều cách cung cấp
vốn từ cho học sinh như tìm từ đơn, từ phức để miêu tả hình dáng, hoạt
động,…các tính từ, từ trái nghĩa, từ ghép, từ láy,…
Ví dụ: Tả cái cặp
Học sinh viết: “Chiếc cặp này bề ngoài có hình chú gấu bông ngồi câu cá.
Trên cái mũ màu trắng của chú gấu có trang trí một hình trái tim nhỏ màu đỏ.
Chiếc cặp này có màu xanh, màu hồng, màu vàng rất đẹp. Nổi bật là là cái khóa
có màu vàng sáng long lanh. Cái cặp này có quai cầm và phía sau còn có quai
đeo”. Giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét để chọn ra cách tả cái cặp hay
hơn, dùng từ phù hợp hơn sau cùng gợi ý các em có thể điều chỉnh như sau:
“Chiếc cặp này bên ngoài in hình chú gấu ngồi câu cá trông thật ngộ nghĩnh
đáng yêu. Nổi bật nhất là cái mũ của chú có hình trái tim nhỏ nhắn màu đỏ chót
trên nền mũ màu trắng muốt. Trên chiếc cặp có nhiều màu nhưng chủ đạo là
màu xanh dương. Dây kéo khóa bằng sắt màu bạc nhưng cái khóa có màu vàng
sáng bóng. Cái cặp này rất tiện lợi có quai cầm và quai đeo, khi nào em không
muốn cầm thì em đeo lên lưng rất tiện”.
c. Hướng dẫn sử dụng các biện pháp nghệ thuật và đưa cảm xúc vào
bài văn
Ở khối lớp 4, biện pháp nghệ thuật chỉ đơn giản là việc chọn lọc từ ngữ,
hình ảnh, sử dụng các biện pháp so sánh và nhân hóa. Bỡi vậy nó cũng rất gần
gũi quen thuộc với các em vì các em đã có được cả một quá trình học tập và rèn
luyện ở lớp dưới.
+ Dùng biện pháp so sánh:
Hướng dẫn học sinh sử dụng biện pháp so sánh trong văn miêu tả là lựa
chọn những hành ảnh đẹp và tương đồng với đối tượng được tả làm cho bài văn
thêm sinh động và làm nổi bật được đối tượng miêu tả.
- Khi tả về cây cối: Tán lá bàng nhìn từ xa trông giống gì? ( Giống như cái
ô khổng lồ, giống như cái nấm, giống cái nón úp,…)

