
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến trường Tiểu học An Lộc A.
Tôi ghi tên dưới đây:
Số
TT
Họ và tên
Ngày
tháng
năm sinh
Nơi công
tác (hoặc
nơi thường
trú)
Chức
danh
Trình độ
chuyên
môn
Tỷ lệ (%) đóng
góp vào việc tạo
ra sáng kiến (ghi
rõ đối với từng
đồng tác giả, nếu
có)
1 NGUYỄN
THỊ
LOAN
25/04/1978
Trường
Tiểu học
An Lộc A
Giáo
viên
giảng
dạy
lớp 5
ĐHSP 100%
1. Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Hỗ trợ học sinh gặp
khó khăn trong học tập ở lớp 5 đạt được chuẩn kiến thức kĩ năng.
2. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tác giả đồng thời là chủ đầu tư tạo ra
sáng kiến.
3. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục (công tác chủ nhiệm)
4. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: 07.9.2020
5. Mô tả bản chất của sáng kiến:
5.1. Tính mới của sáng kiến:
Là một người giáo viên, với suy nghĩ góp phần nhỏ bé của mình đào tạo thế
hệ trẻ, tôi luôn suy nghĩ, trăn trở tìm ra phương án tốt nhất để góp phần mình
giáo dục học sinh có đầy đủ kiến thức cập nhật đảm bảo yêu cầu của xã hội mà

còn là những em học sinh trở thành người có ích cho đất nước. Chỉ mong thế hệ
măng non này lớn lên sẽ đủ lông đủ cánh gánh vác vận mệnh giang sơn không
thua kém bạn bè các nước trong khu vực và trên thế giới.
Với thâm niên là giáo viên chủ nhiệm 22 năm và đặc biệt 7 năm được Ban
giám hiệu phân công giảng dạy lớp 5 – một người thầy tổng thể vừa dạy các em
tri thức và vừa dạy các em cách làm người, hình thành những nhân cách cho trẻ.
Vậy phải làm thế nào để đạt được những yêu cầu này? Đó là một câu hỏi khó
không phải ai cũng tìm được câu trả lời. Thấy rõ vấn đề này, tôi luôn coi trọng
cả hai lĩnh vực dạy chữ và dạy người trong công tác giáo dục. Đặc biệt tôi luôn
chú trọng việc hỗ trợ những học sinh gặp khó khăn trong học tập.
Hỗ trợ, giúp đỡ học sinh gặp khó khăn trong học tập, chưa hoàn thành
môn học hay chưa đạt được chuẩn kiến thức kĩ năng là một công việc thường
xuyên được gắn bó với người giáo viên và hầu như giáo viên chủ nhiệm nào
cũng từng trải qua công tác này. Đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm phải luôn tìm tòi,
nghiên cứu tìm ra biện pháp khắc phục để cuối học kì và cuối năm các em hoàn
thành được môn học, đạt được chuẩn kiến thức kĩ năng của lớp học, cấp học.
Đối với những học sinh gặp khó khăn trong học tập, chưa đạt được chuẩn
KT- KN, ở các em thường có sự khác biệt về sức khỏe, sự nhận thức cũng như
khả năng tiếp thu bài so với các học sinh khác, có hoàn cảnh khó khăn về kinh
tế, cha mẹ ly hôn, cuộc sống không ổn định, cha mẹ phải đi làm lo mưu sinh nên
không quan tâm đến việc học của con em.
Để giúp các em có đủ kiến thức, đủ tự tin khi rời ghế nhà trường tiểu học
chuẩn bị bước vào lớp 6, tôi đã tiến hành xây dựng môi trường học tập thân
thiện, phân loại các đối tượng học sinh, giáo dục ý thức học tập và kèm cặp
những học sinh gặp khó khăn trong học tập.
Trên sở sở đó tôi đưa ra các biện pháp cụ thể ở các phân môn Tiếng Việt
và Toán, kèm theo các biện pháp khắc phục.
Từ những lí do nêu trên nên tôi đã chọn đề tài: “ Hỗ trợ học sinh gặp khó
khăn trong học tập ở lớp 5 đạt được chuẩn kiến thức kĩ năng”.

Phương pháp này hoàn toàn mới, không có trong sách vở...Và đây cũng
chính là “Tính mới “của sáng kiến.
5.2. Nội dung sáng kiến:
a.Thực trạng của vấn đề
Năm học 2020-2021 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 5 .
Thực tế, ở lớp tôi chủ nhiệm còn gặp những khó khăn sau:
- Học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập.
- Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong
học tập do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin.
- Học sinh lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải giúp, trình độ tư duy,
vốn kiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế.
- HS đọc viết chậm và khả năng tính toán chậm hoặc làm toán không
được.
- Khả năng nhận thức của các em cũng khác nhau, cùng một độ tuổi
nhưng trình độ chung các em chênh nhau rõ rệt.
- Một số phụ huynh chưa thật sự quan tâm, chăm lo và đôn đốc con em
mình học tập, còn phó thác cho nhà trường, cho thầy cô.
Chính vì những nguyên nhân trên đòi hỏi người giáo viên cần phải tìm
ra các biện pháp hữu hiệu nhất để giúp những học sinh gặp khó khăn trong
học tập đạt được chuẩn kiến thức kĩ năng. Muốn học sinh đạt hiệu quả tốt thì
giáo viên phải thực hiện tốt những việc sau:
b. Các giải pháp thực hiện
Thứ nhất: Xây dựng môi trường học tập thân thiện
- Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để biện pháp dạy học sinh
chưa đạt chuẩn KTKN đạt hiệu quả cao. Thông qua những cử chỉ, lời nói, ánh
mắt, nụ cười… giáo viên cần tạo được sự gần gũi, cảm giác an toàn nơi học sinh
để các em bày tỏ những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống của bản thân
mình.

- Giáo viên cần tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng,
không đánh mắng hoặc dùng lời lẽ thiếu tôn trọng với các em. Đừng để cho học
sinh cảm thấy sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng
mình.
- Học sinh tiểu học rất thích khen vì thế giáo viên nên thay thế những lời
chê bai bằng khen ngợi. Nên tìm những việc làm mà các em hoàn thành dù là
những việc nhỏ để khen ngợi các em để các em vui hơn, tự tin hơn trong học
tập.
Thứ hai: Phân loại các đối tượng học sinh
- Theo tôi, đây là một bước vô cùng quan trọng. Ngay từ đầu năm học,
thông qua giáo viên chủ nhiệm cũ, GVCN mới nắm bắt những thông tin cần
thiết (như kết quả hai mặt giáo dục, năng khiếu, hoàn cảnh gia đình, đặc biệt
chú trọng các đối tượng học sinh chưa đạt chuẩn KTKN) …nhằm phân loại đối
tượng học sinh. Giáo viên cần xem xét, phân loại những học sinh gặp khó khăn
trong học tập, chưa đạt chuẩn KTKN đúng với những đặc điểm vốn có của các
em để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm chung và riêng của
từng em. Ta thường hay gặp một số trường hợp ở đối tượng học sinh như: Sức
khoẻ kém, khả năng tiếp thu bài, lười học, thiếu tự tin, nhút nhát…
- Trong thực tế ta nhận thấy có bao nhiêu cá thể thì sẽ có chừng ấy phong
cách nhận thức. Vì vậy, hiểu biết về phong cách nhận thức là để hiểu sự đa dạng
của các chức năng trí tuệ giúp cho việc tổ chức các hoạt động sư phạm thông
qua đặc trưng này.
- Trong quá trình thiết kế bài học, giáo viên cần cân nhắc các mục tiêu đề
ra nhằm tạo điều kiện cho các em học sinh yếu được củng cố và luyện tập sao
cho phù hợp. Ví dụ khi học bài: Giải toán về tỉ số phần trăm ( Toán – lớp 5 ), đối
với các em học sinh học tiếp thu chậm thì các em chỉ cần nắm mục tiêu thứ nhất:
“Biết cách tìm tỉ số phần trăm của hai số” là đạt yêu cầu rồi.

- Trong dạy học cần phân hóa đối tượng học tập trong từng hoạt động,
dành cho đối tượng này những câu hỏi dễ, những bài tập đơn giản để tạo điều
kiện cho các em được tham gia trình bày trước lớp, từng bước giúp các em tìm
được vị trí đích thực của mình trong tập thể. Yêu cầu luyện tập của một tiết là 4
bài tập, các em này có thể hoàn thành 1, 2 hoặc 3 bài tuỳ theo khả năng của các
em. ( Được như vậy theo tôi là đã đạt yêu cầu đối với đối tượng học sinh chưa
hoàn thành.)
- Ngoài ra, giáo viên có thể tổ chức hỗ trợ cho những học sinh chưa hoàn
thành khi các biện pháp giúp đỡ trên lớp chưa mang lại hiệu quả cao. Ngoài buổi
học chính thức, giáo viên nên lên kế hoạch hỗ trợ cho các em vào buổi còn lại.
Cũng nên hỗ trợ riêng biệt vì trình độ của các em rất chênh lệch với các học sinh
khác của lớp. Tuyệt đối không nên vừa dạy thêm cho cả lớp vừa hỗ trợ cho học
sinh chưa đạt chuẩn vì vậy sẽ không đem lại hiệu quả. Tuy nhiên, việc tổ chức
hỗ trợ học sinh phải kết hợp với hình thức vui chơi, những bài tập hoặc câu hỏi
liên hệ với thực tế nhằm giúp các em dễ nhớ, dễ tiếp thu. Có như vậy mới lôi
cuốn các em đến lớp đều đặn và tránh áp lực nặng nề, quá tải.
Thứ ba: Giáo dục ý thức học tập cho học sinh
Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập của học sinh tạo cho các em sự
hứng thú trong học tập, từ đó sẽ giúp cho các em ý thức vươn lên. Trong mỗi tiết
dạy cần chú ý khả năng nhận thức, tiếp thu bài của từng em để có biện pháp giúp
đỡ. Trong quá trình khai thác và tìm hiểu bài luôn tạo cơ hội cho các em học tiếp
thu chậm trả lời các câu hỏi dễ nhằm động viên khen ngợi, tạo tính mạnh dạn
trước tập thể (Giáo viên không nên hỏi thường xuyên khi chưa biết chắc học sinh
có khả năng trả lời vì các em này dễ mặc cảm dẫn đến bỏ học, trốn học…)
Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ kiến thức vào thực tế để học sinh
thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn. Từ đây, các
em sẽ ham thích và say mê khám phá tìm tòi trong việc chiếm lĩnh tri thức.

