intTypePromotion=1
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 143
            [banner_name] => KM - Normal
            [banner_picture] => 316_1568104393.jpg
            [banner_picture2] => 413_1568104393.jpg
            [banner_picture3] => 967_1568104393.jpg
            [banner_picture4] => 918_1568188289.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 6
            [banner_link] => https://alada.vn/uu-dai/nhom-khoa-hoc-toi-thanh-cong-sao-ban-lai-khong-the.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-11 14:51:45
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

SKKN: Một vài ý kiến đóng góp về việc dạy tự chọn Ngữ Văn 10

Chia sẻ: Lê Thị Diễm Hương | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
68
lượt xem
17
download

SKKN: Một vài ý kiến đóng góp về việc dạy tự chọn Ngữ Văn 10

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Yêu cầu đặt ra đối với người giáo viên Ngữ Văn là phải làm thế nào để tổ chức được tiết học tự chọn có hiệu quả, góp phần giúp học sinh yêu thích môn học, từ đó say mê học Văn và lĩnh hội, nâng cao kiến thức cần thiết theo từng chủ đề của môn học. Mời quý thầy cô tham khảo sáng kiến “ Một vài ý kiến đóng góp về việc dạy tự chọn Ngữ Văn 10”.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Một vài ý kiến đóng góp về việc dạy tự chọn Ngữ Văn 10

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT VÀI Ý KIẾN ĐÓNG GÓP VỀ VIỆC DẠY TỰ CHỌN NGỮ VĂN 10
  2. I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Trên cơ sở yêu cầu đổi mới việc dạy và học, từ năm học 2006 – 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa vào sử dụng bộ SGK mới theo chương trình phân ban đại trà áp dụng cho các trường THPT. Bên cạnh đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đồng thời đưa vào sử dụng bộ SGK Tự chọn dùng cho một số phân môn trong đó có Ngữ Văn. Tuy nhiên, các tài liệu phục vụ cho việc dạy tự chọn môn Ngữ Văn không nhiều và còn ít nhiều bất cập nên với thời gian dành cho tiết học Tự chọn không nhiều thì yêu cầu đặt ra đối với người giáo viên Ngữ Văn là phải làm thế nào để tổ chức được tiết học tự chọn có hiệu quả, góp phần giúp học sinh yêu thích môn học, từ đó say mê học Văn và lĩnh hội, nâng cao kiến thức cần thiết theo từng chủ đề của môn học. Với mong muốn, bằng những kinh nghiệm thực tế trong quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ Văn 10 của chương trình Cơ bản và Tự chọn theo phương pháp mới, người viết muốn bày tỏ phần nào những suy nghĩ về việc dạy và học Tự chọn Ngữ Văn 10 - Cơ bản. Trong quá trình giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy có những thuận lợi, khó khăn sau: 1. Thuận lợi: - Trên thực tế, chương trình Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 đã thực hiện sự đổi mới. Đó là sự tiếp tục và thống nhất với chương trình Sách giáo khoa Ngữ Văn ở cấp THCS. Vấn đề tích hợp ba phân môn: Văn học, Tiếng Việt, Làm Văn ở bộ SGK Ngữ Văn 10 - Cơ bản rất hợp lí theo thứ tự số tiết/tuần và số tuần học theo phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo. - Với lớp có tiết học Tự chọn Ngữ Văn, giáo viên được cung cấp một số tài liệu để nghiên cứu, phối hợp khi giảng dạy: + Tài liệu chủ đề Tự chọn nâng cao Ngữ Văn 10 - NXB Giáo dục 2006 do tác giả Bùi Minh Toán chủ biên, dùng cho cả giáo viên và học sinh. + Tài liệu chủ đề tự chọn bám sát chương trình chuẩn Ngữ Văn 10 - NXB Giáo dục 2006 do tác giả Bùi Minh Toán chủ biên, chỉ dùng cho giáo viên. + Ngữ Văn 10 - NXB Giáo dục 2006, gồm hai tập do tác giả Phan Trọng Luận tổng chủ biên. - Ngoài ra, trong quá trình giảng dạy giáo viên có thể tìm thêm tư liệu trên mạng Internet, sách báo, băng đĩa … để sử dụng trong quá trình giảng dạy. - Ở các lớp 10 có tiết học Tự chọn Ngữ Văn, đa số học sinh có ý thức chuẩn bị bài, đề tài thảo luận, nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến bài học chu đáo. - Những chủ đề của sách Tự chọn Ngữ Văn 10 tương đối bám sát chương trình và sách giáo khoa. - Người dạy có thể tùy theo mặt bằng chung của lớp để linh hoạt lựa chọn tài liệu phù hợp với trình độ tiếp nhận của học sinh. - Bản thân người viết luôn chủ động tìm tòi những kiến thức mới, phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy Tự chọn.
  3. - Do điều kiện đặc thù nơi tôi công tác, khối lớp 10 chỉ giảng dạy ban Cơ bản nên nhà trường đã cung cấp cho các giáo viên trong trường cả hai bộ SGK (Chuẩn và Nâng cao) nhưng giáo viên cũng chỉ dạy theo SGK chương trình Chuẩn của Bộ với đặc thù của nhà trường. Thực tế người viết cũng chỉ giảng dạy môn Ngữ Văn 10 - Cơ bản và phần Tự chọn của Ngữ Văn 10 - Cơ bản, vì vậy cũng thuận lợi trong việc đầu tư cho giáo án Tự chọn Ngữ văn 10. - Qua một thời gian giảng dạy ở lớp có tiết học Tự chọn Ngữ Văn; một số tiết dự giờ, góp ý của các đồng nghiệp và bản thân tự rút kinh nghiệm, đồng thời có sự đầu tư cho giáo án Tự chọn, tôi thấy đã phần nào đem lại hứng thú cho học sinh khi các em học tiết Tự chọn Ngữ văn. 2. Khó khăn: - Tài liệu tham khảo về việc dạy Tự chọn Ngữ Văn 10 chưa thực sự đồng bộ, còn nhiều bất cập, mặc dù các chủ đề được đưa ra giảng dạy bám sát nội dung chương trình của sách giáo khoa nhưng lại không theo tiến trình học thực tế ở trên lớp theo Phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo. - Theo yêu cầu chuyên môn, chúng tôi cũng sử dụng cả bộ SGK Ngữ Văn 10 - Nâng cao để tham khảo trong quá trình giảng dạy, vì tài liệu Tự chọn Ngữ Văn 10 còn chưa nhiều nên thực tế trong năm đầu tiên dạy Tự chọn, chúng tôi rất lúng túng trong việc lựa chọn nội dung để nâng cao kiến thức cho học sinh trên cơ sở kiến thức cơ bản đã có trong SGK qua các tiết học Tự chọn. Và theo tìm hiểu thì bước đầu, hầu như giáo viên nào cũng cảm thấy khó khăn khi soạn giáo án Tự chọn vì phải làm sao để học sinh nắm bắt được những kiến thức mới, giúp các em thấy yêu thích mà không còn cảm thấy nhàm chán đối với tiết học Tự chọn. - Mặt bằng học sinh thấp, việc lĩnh hội kiến thức của các em ngay trong lớp có tiết học Tự chọn Ngữ Văn cũng không đồng đều; chính vì thế, khi triển khai đề tài Tự chọn, giáo viên cũng khá vất vả. II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: 1. Cơ sở lý luận: - Chương trình Ngữ Văn bậc Trung học phổ thông mới phản ánh những thành tựu tiên tiến của các ngành khoa học Tiếng Việt, Văn học và Làm văn những năm gần đây, đồng thời còn phản ánh thành tựu của các ngành tâm lí học và lí luận dạy học hiện đại - đó là lấy người học làm trung tâm. - Việc sử dụng thêm các bộ sách Tự chọn nhằm mục đích “bổ sung và nâng cao một số kiến thức cần thiết, hệ thống hoá kiến thức theo một số chủ đề và cung cấp thêm những tri thức cùng tư liệu thực hành cho việc giảng dạy những nội dung tương ứng theo từng chủ đề”. Tuy vậy, khi giảng dạy đôi khi giáo viên vẫn còn lúng túng vì phải làm thế nào để giúp các em học sinh nhanh chóng nắm bắt được những nội dung kiến thức mới theo từng chủ đề mà không trùng lặp với những kiến thức cơ bản đã được đề cập trong sách giáo khoa. - Bên cạnh đó, sách Tự chọn Ngữ Văn 10 cũng nhằm “phát triển tư duy, rèn luyện các kĩ năng đọc - hiểu, kĩ năng tạo lập văn bản cho học sinh”. Điều này là vô cùng cần thiết, nhất là trong mấy năm trở lại đây không ít học sinh phổ thông có tình trạng không mặn mà lắm với bộ môn Ngữ Văn. Các em cho rằng việc học văn
  4. không còn thiết thực khi xã hội dường như có sự chú trọng hơn đến đời sống vật chất. Vì vậy, có nhiều học sinh khi đã học tới lớp 10, thậm chí là lớp 11, 12 cũng chưa nắm vững kĩ năng đọc hiểu một văn bản hoặc cách viết một đoạn văn, bài văn hoàn chỉnh. - Với mong muốn tổ chức tiết học Tự chọn Ngữ Văn có hiệu quả, tôi mạnh dạn đóng góp một vài ý kiến về việc dạy Tự chọn Ngữ Văn 10 ban cơ bản. 2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài: - Phương pháp nghiên cứu: khi thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: so sánh, phân tích, thực nghiệm, tổng hợp, khái quát. - Xuất phát từ cơ sở thực tiễn đã trình bày, trong sáng kiến kinh nghiệm này, người viết muốn thông qua mục đích việc dạy Tự chọn Ngữ Văn hướng tới, trình bày một vài suy nghĩ về việc dạy học tự chọn Ngữ Văn 10 ban Cơ bản. Cụ thể: + Bổ sung một số kiến thức nâng cao cần thiết bám sát chương trình. + Hệ thống hoá kiến thức theo một số chủ đề trọng tâm. + Bổ sung một số tư liệu thực hành phục vụ cho việc giảng dạy những nội dung tương ứng theo từng chủ đề của nội dung tự chọn. Với mục đích trên, người viết xin trình bày sáng kiến kinh nghiệm của mình theo từng luận điểm, kèm theo những kinh nghiệm tự rút ra qua thực tiễn giảng dạy. 2.1. Bổ sung một số kiến thức nâng cao cần thiết: Như đã trình bày ở trên, tiết học Tự chọn Ngữ Văn không phải là tiết học nhắc lại kiến thức cũ mà nhằm mục đích bổ sung và nâng cao kiến thức cho học sinh trên cơ sở kiến thức cơ bản đã có trong SGK. Điều cần thiết ở đây là người dạy Tự chọn Ngữ Văn phải có sự đầu tư thực sự trong quá trình soạn giảng, từ đó mới có thể bổ sung và nâng cao kiến thức cho học sinh có liên quan đến chương trình sách giáo khoa. Trong phạm vi đề tài này, người viết xin lấy 2 ví dụ thuộc phần Văn học và Tập làm văn. a. Phần văn bản: Ở học kì 2 của chương trình Ngữ Văn 10 ban cơ bản, học sinh được tiếp tục tìm hiểu về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều mà các em đã được học ở lớp 9 theo hướng nâng cao. Thực tế, ở bậc THCS học sinh đã được tìm hiểu khá kĩ về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều trước khi đi vào tìm hiểu, khai thác một số đoạn trích trong Truyện Kiều như: Cảnh ngày xuân, Mã Giám Sinh mua Kiều, Kiều ở lầu Ngưng Bích … nhưng có lẽ do được học về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều từ học kỳ I, đến học kỳ 2 của lớp 10 (chương trình Ngữ Văn 10 - Cơ bản) các em mới trở lại với tác giả và tác phẩm này, nên khi được giáo viên yêu cầu nhắc lại kiến thức, hiểu biết về phần tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều, đa số học sinh không còn nhớ hoặc chỉ còn nhớ rất ít. Đặc biệt, sách giáo khoa Ngữ Văn 10 - Cơ bản giới thiệu về Nguyễn Du tương đối kĩ nhưng không cung cấp nhiều tài liệu về Truyện Kiều, chẳng hạn: + Phần tóm tắt tác phẩm theo bố cục ba phần không được nhắc lại.
  5. + SGK không nói đến sự sáng tạo Truyện Kiều của Nguyễn Du so với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. + Đặc biệt, những giá trị trong Truyện Kiều như giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo, giá trị nghệ thuật cũng không được nhấn mạnh ... Điều đó khiến các em gặp không ít khó khăn khi đi vào khai thác các đoạn trích: Trao duyên, Nỗi thương mình … Với hai tiết trên lớp khi giới thiệu về tác giả Nguyễn Du, nếu giáo viên chỉ yêu cầu học sinh xem lại kiến thức Ngữ Văn 9 và khai thác những vấn đề mà sách giáo khoa đề cập thì thực sự là chưa đủ. Học sinh sẽ chỉ nắm bắt rất mơ hồ về tác phẩm - mặc dù là được học lại. Vì vậy, với những lớp có tiết học Tự chọn Ngữ Văn, giáo viên có thể cung cấp thêm những kiến thức mới nhằm làm giàu thêm hiểu biết cho học sinh về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều để tạo hứng thú và sự yêu thích học tập môn Văn cho các em. Chẳng hạn, khi nói về Truyện Kiều, người giáo viên Ngữ Văn cần:  Nhấn mạnh sáng tạo về nội dung: “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh tâm tài Nhân chỉ là một câu chuyện tình ở Trung Quốc vào đời Minh, đã được Nguyễn Du biến thành khúc ca đau lòng khóc thương cho một kiếp người tài hoa mà bạc mệnh; ghi lại “những điều trông thấy” trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội Việt Nam thời cuối Lê đầu Nguyễn.  Nhấn mạnh sáng tạo về nghệ thuật: Truyện Kiều của Nguyễn Du là truyện thơ Nôm gồm 3254 câu lục bát, mang tính chất tiểu thuyết bằng thơ. Trong tác phẩm, khi sáng tạo lại, ông đã thêm một số chi tiết mới để tô đậm câu chuuyện về tình người; biến các sự kiện chính của tác phẩm thành đối tượng bộc lộ cảm xúc, tình cảm của nhân vật và người kể; chuyển trọng tâm của truyện từ sự kiện sang tự sự về cuộc đời nhân vật chính. Ngòi bút tả cảnh, tả tình, tả người rất điêu luyện của Nguyễn Du đã làm cho các nhân vật được khắc họa cụ thể hơn, sâu sắc hơn, gây ấn tượng rõ nét đối với người đọc.  Nhấn mạnh giá trị nội dung: - Giá trị hiện thực: + Truyện Kiều là bức tranh về một xã bất công tàn bạo, là lời tố cáo xã hội Phong Kiến đã chà đạp lên quyền sống của con người, đặc biệt là những người tài hoa, người phụ nữ. + Truyện Kiều tố cáo các thế lực đen tối trong xã hội phong kiến, từ bọn sai nha, quan xử kiện, cho đến “họ Hoạn danh gia”, “quan Tổng đốc trọng thần”, rồi bọn ma cô, chủ chứa … tất cả đều ích kỉ, tham lam, tàn nhẫn, coi rẻ sinh mạng và phẩm giá con người. + Truyện Kiều còn cho thấy mạnh sức ma quái của đồng tiền đã làm tha hoá con người. Đồng tiền làm cho con người và cả xã hội đảo điên: Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì Đồng tiền chà đạp lên lương tâm con người và xoá mờ công lí: Có ba trăm lạng việc này mới xong
  6. - Giá trị nhân đạo: + Truyện Kiều là tiếng nói thương cảm, tiếng khóc đau đớn trước số phận bi kịch của con người. Thuý Kiều - nhân vật chính trong tác phẩm là nhân vật mà Nguyễn Du yêu quý nhất. Khóc Thuý Kiều, Nguyễn Du khóc cho những nỗi đau lớn lao của một kiếp người: tình yêu tan vỡ, tình cốt nhục lìa tan, nhân phẩm bị chà đạp, thân xác bị đày đọa … + Truyện Kiều đề cao con người từ vẻ đẹp hình thức, phẩm chất đến những ước mơ, những khát vọng chân chính. + Hình tượng nhân vật Thuý Kiều tài sắc vẹn toàn, hiếu hạnh đủ đường là nhân vật lý tưởng, tập trung những vẻ đẹp của con người trong cuộc đời. + Truyện Kiều là bài ca về tình yêu tự do, trong sáng, chung thuỷ. Bước chân “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” của Thúy Kiều đến gặp Kim Trọng đã phá vỡ những quy tắc thánh hiền của xã hội phong kiến về sự cách biệt nam nữ. + Truyện Kiều là giấc mơ về tự do và công lí. Qua hình tượng nhân vật Từ Hải, Nguyễn Du gửi gắm ước mơ về một người anh hùng “đội trời đạp đất” làm chủ cuộc đời, trả ân báo oán phân minh, thực hiện công lí theo mơ ước của nhân dân, khinh bỉ những “phường giá áo túi cơm”.  Nhấn mạnh giá trị nghệ thuật: - Ngôn ngữ: + Truyện Kiều là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên tất cả các phương diện ngôn ngữ thể loại. Với Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ. + Ngôn ngữ độc thoại được vận dụng tài tình để bộc lộ nội tâm nhân vật. + Ngôn ngữ đối thoại thể hiện tinh tế tính cách và hoàn cảnh nhân vật. - Tả người: + Nhân vật chính diện: Ngòi bút ước lệ  Là nhân vật lý tưởng hóa của Nguyễn Du. + Nhân vật phản diện: Tả thực, là nhân vật hiện thực hóa của Nguyễn Du. - Tả cảnh: + Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình sinh động, khắc họa rõ nét nội tâm nhân vật. b. Phần Tập làm văn: Chương trình Ngữ Văn 10 nhằm củng cố và nâng cao thêm một bước kiến thức về văn thuyết minh cho học sinh. Thực ra, ngay từ lớp 8 bậc THCS, các em học sinh đă được làm quen và đã làm khá nhiều bài viết về kiểu bài này, nhưng khi giáo viên yêu cầu các em so sánh kiểu bài thuyết minh với các kiểu bài khác như nghị luận văn học, nghị luận xã hội … thấy kiểu bài nào khó viết hơn thì phần lớn các em cho rằng văn thuyết minh khó hơn. Có điều này là do các em thấy bài văn thuyết minh khô khan, khó diễn đạt … Điều này cho thấy do học sinh chưa nắm mục đích, các kĩ năng làm bài văn thuyết minh cần thiết nên các em mới thấy lúng túng khi làm bài, cách chọn từ, câu ... để diễn đạt ý mình. Vậy, khi cung cấp kiến thức nâng cao cần thiết trong tiết học Tự chọn Ngữ Văn 10 - Cơ bản, giáo viên cần phải nhấn mạnh:
  7. - Văn thuyết minh là một hoạt động mà con người vẫn thường xuyên tiến hành trong đời sống. Đó là khi cần cung cấp, giới thiệu, giảng giải … những tri thức hay sự hiểu biết cần thiết về một sự vật, hiện tượng nào đó trong cuộc sống quanh ta cho những người muốn tìm hiểu, như: thuyết minh về một danh lam thắng cảnh, về vật nuôi, về loài hoa … - Yêu cầu: + Đảm bảo tính chuẩn xác. Ví dụ: Khi thuyết minh về vị trí điạ lí, diện tích thắng cảnh Vịnh Hạ Long, học sinh cần biết chính xác là Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, là một phần bờ tây vịnh Bắc Bộ, bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn. Phía tây nam vịnh giáp đảo Cát Bà, phía tây giáp đất liền với đường bờ biển dài 120 km, được giới hạn trong các tọa độ từ 1060 58’ - 107 0 22’ kinh độ Đông và 200 45’ - 20 0 50’ vĩ độ bắc, với tổng diện tích 1553 km2 gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. + Tình cảm phải phù hợp với chân lí khách quan: Tình cảm với Vịnh Hạ Long có thể nảy sinh do được trực tiếp chiêm ngưỡng vẻ đẹp đặc sắc của thắng cảnh và niềm ao ước được đến để chiêm ngưỡng nó khi nghe giới thiệu từ một người hoặc một nguồn tin nào đó … + Làm giảm bớt sự khô khan, trừu tượng bằng những câu chuyện, những chi tiết cụ thể hoặc những so sánh thú vị, bất ngờ. Ví dụ: Khi giới thiệu về thắng cảnh vịnh Hạ Long đặc sắc của đất nước, chắc chắn người đọc sẽ bị lôi cuốn nếu học sinh biết lồng vào trong bài viết (thuyết minh) bởi câu chuyện truyền thuyết về tên gọi Vịnh Hạ Long … Sự tích vịnh Hạ Long kể rằng: Ngày xưa, khi người Việt mới lập nước đã bị giặc ngoại xâm, Ngọc Hoàng sai Rồng Mẹ mang theo một đàn Rồng Con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc. Thuyền giặc từ ngoài biển ào ạt tiến vào bờ, vừa lúc đàn Rồng tới hạ giới. Đàn Rồng lập tức phun ra vô số châu ngọc và thoắt biến thành muôn ngàn đảo đá trên biển, như bức tường thành vững chắc, bất ngờ chặn bước tiến của thuyền giặc. Đoàn thuyền của giặc đang lao nhanh, bị chặn đột ngột đâm vào các đảo đá và đâm vào nhau vỡ tan tành. Sau khi giặc tan, Rồng Mẹ và Rồng Con không trở về Trời mà ở lại hạ giới, nơi vừa diễn ra trận chiến. Vị trí Rồng Mẹ xuống là Hạ Long, nơi Rồng Con xuống là Bái Tử Long. Đuôi đàn Rồng quẫy nước trắng xoá là Long Vĩ (bán đảo Trà Cổ ngày nay) thành bãi cát mịn và dài hơn chục ki –lô- mét. - Bài thuyết minh thường được xây dựng theo một trong năm dạng kết cấu: + Theo trình tự thời gian: năm tháng, mùa, buổi, lúc… + Theo trình tự không gian: trên - dưới, phải - trái, trong - ngoài …. + Theo trình tự nhận thức: từ xa tới gần, từ lạ đến quen, từ hiện tượng đến bản chất, từ cụ thể đến trừu tượng … + Theo trình tự tổng hợp - phân tích: giới thiệu chung về đối tượng thuyết minh trước, thuyết minh riêng từng mặt, từng góc độ khác nhau sau.
  8. + Theo trình tự chủ yếu - thứ yếu: trình bày cái chính, cái chủ yếu trước, cái phụ, cái thứ yếu sau. - Phương pháp thuyết minh: định nghĩa, chú thích, phân loại, phân tích, nêu ví dụ điển hình, giải thích nguyên nhân - kết quả, dẫn tư liệu, nêu số liệu … Và nếu cần thiết, giáo viên có thể giới thiệu thêm các dàn bài với những bài văn thuyết minh theo từng chủ đề khác nhau; và cũng không quên chỉ cho học sinh thấy sự cần thiết trong việc phối hợp các phương pháp khi làm bài văn thuyết minh để các em có dịp đối chiếu, so sánh, tìm hướng đi cho bài văn thuyết minh của mình, từ đó trau dồi kỹ năng làm bài nghị luận nói chung, bài văn thuyết minh nói riêng. 2.2. Hệ thống hoá kiến thức theo một số chủ đề: Việc hệ thống kiến thức theo một số chủ đề trong giờ học Tự chọn Ngữ văn sẽ giúp cho các em học sinh dễ dàng nắm bắt tri thức một cách tổng hợp. Việc bố trí sắp xếp các chủ đề khi dạy của cuốn “Tài liệu chủ đề tự chọn Nâng cao Ngữ Văn 10" (NXB Giáo dục 2006) dùng cho học sinh lại không theo như phân phối chương trình Ngữ Văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Điều này có nghĩa học sinh phải chấp nhận một thực tế nếu cứ học theo thứ tự chủ đề như trong tài liệu sẽ khó cho việc tích hợp, bổ sung và nâng cao kiến thức song hành với kiến thức cơ bản đã được cung cấp trong SGK. Nếu như vấn đề tích hợp ba phân môn: Đọc - hiểu, Tiếng Việt, Làm Văn ở bộ SGK Ngữ Văn 10 rất hợp lí theo thứ tự số tiết/ tuần và số tuần/ năm thì ngược lại, ở “Tài liệu Tự chọn Ngữ Văn 10” lại không như vậy. Nguyên nhân là do ở mỗi chủ đề đã có sự tách bạch rất rõ ràng về mặt nội dung, gần như không liên quan hay lặp lại cùng nội dung ở những chủ đề khác theo hướng tích hợp. Điều đó không chỉ gây khó khăn cho học sinh mà ngay cả người dạy cũng rất lúng túng. Bởi vậy, đòi hỏi người giáo viên cần phải biết lựa chọn từng chủ đề cho phù hợp với thực tế trong quá trình giảng dạy Tự chọn Ngữ Văn 10. Giả sử, học sinh sẽ được học phần Văn học nước ngoài ở cuối học kì I, nếu giáo viên không chú ý giới thiệu chủ đề “Những vấn đề chủ yếu của phần Văn học nước ngoài trong chương trình Ngữ Văn 10” trước khi tìm hiểu các tác phẩm Văn học nước ngoài thì thật thiếu sót vì. Bởi nếu được giới thiệu trước chủ đề này thì khi đi vào tìm hiểu một số tác phẩm Văn học nước ngoài có trong chương trình Ngữ Văn 10 - Cơ bản, học sinh sẽ cảm thấy dễ hiểu, thích thú vì biết thêm những thành tựu của nhiều nền văn học trên thế giới, các tác phẩm Văn học nước ngoài sẽ trở nên gần gũi hơn mà không còn xa lạ, khó hiểu. Cũng vậy, sau khi dạy bài “Những yêu cầu về việc sử dụng tiếng Việt”, nếu giáo viên không chú ý đưa vào dạy chủ đề “Những lỗi thường gặp trong việc sử dụng tiếng Việt, thực hành sửa lỗi” trong giờ học tự chọn thì học sinh sẽ không có điều kiện củng cố để khắc sâu kiến thức bài học bằng các bài tập nâng cao mà sách giáo khoa chỉ đưa ra một số bài tập và thời gian quy định cho bài học trên lớp cũng hạn chế. 2.3. Cung cấp thêm tư liệu thực hành cho việc giảng dạy những nội dung tương ứng theo từng chủ đề: Đây là công việc rất quan trọng, đối với từng chủ đề thì tư liệu thực hành là hết sức cần thiết để từ đó góp phần giúp học sinh khắc sâu kiến thức bài học.
  9. Quay lại với bài “Những yêu cầu về việc sử dụng tiếng Việt” và chủ đề Tự chọn “Những lỗi thường gặp trong việc sử dụng tiếng Việt, thực hành sửa lỗi”. Bên cạnh việc bổ sung các lỗi thường gặp khi sử dụng tiếng Việt thì hệ thống các bài tập thực hành mà giáo viên đưa ra sẽ có tác dụng khắc sâu hơn kiến thức cho học sinh.  Một số lỗi thường gặp khi sử dụng tiếng Việt - những cách chữa cơ bản: * Lỗi dùng từ: Có thể học sinh hay gặp các lỗi: thiếu quan hệ từ, thừa quan hệ từ, dùng từ không chính xác, dùng từ sai phong cách... trong quá trình làm văn. - Thiếu quan hệ từ: VD: Đừng nên nhìn hình thức đánh giá kẻ khác.  Sửa: Đừng nên nhìn hình thức mà đánh giá kẻ khác. - Thừa quan hệ từ: VD: Qua câu ca dao “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” cho ta thấy công lao to lớn của cha mẹ đối với con cái.  Sửa: Câu ca dao “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” cho ta thấy công lao to lớn của cha mẹ đối với con cái. - Dùng từ không chính xác: VD: Bé Hoa kiên cố không chịu đi nhà trẻ.  Sửa: Bé Hoa kiên quyết không chịu đi nhà trẻ. * Lỗi đặt câu: - Câu thiếu thành phần chủ ngữ. VD: Qua tác phẩm Tắt đèn đã cho chúng ta thấy cuộc sống của người nông dân trong xã hội cũ.  Sửa: Qua tác phẩm Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã cho chúng ta thấy cuộc sống của người nông dân trong xã hội cũ. - Câu thiếu vị ngữ: VD: Tình cảm của chúng tôi dành cho thầy, người thầy đã cho chúng tôi những bài học đầu tiên về cuộc sống.  Sửa: Tình cảm của chúng tôi dành cho thầy, người thầy đã cho chúng tôi những bài học đầu tiên về cuộc sống, luôn theo chúng tôi trong những năm tháng chiến tranh ác liệt. - Câu thiếu cả chủ ngữ và vị ngữ: VD: Để có cơ hội nhận được việc làm như ý trong tương lai, ngay từ bây giờ, khi còn ngồi trên ghế nhà trường.  Sửa: Để có cơ hội nhận được việc làm như ý trong tương lai, ngay từ bây giờ, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải học tập thật tốt. - Lỗi thiếu vế câu ghép: VD: Thời tiết ngày mai, nếu trời có mưa, có gió. Mà chắc sẽ là mưa, gió to vì đài đã báo rồi.  Sửa: Thời tiết ngày mai, nếu trời có mưa, có gió, mà chắc sẽ là mưa, gió to vì đài đã báo rồi, chúng ta vẫn phải thực hiện kế hoạch đã đặt ra. - Lỗi sắp xếp sai trật tự các thành phần trong câu: VD: Chúng tôi luôn chú ý đến các hoạt động giáo dục về bảo vệ thiên nhiên và môi trường trong nhà trường.  Sửa: Chúng tôi luôn chú ý đến các hoạt động giáo dục trong nhà trường về bảo vệ thiên nhiên và môi trường.
  10. - Lỗi sử dụng sai dấu câu: VD: Bây giờ tôi mới hiểu tại sao tôi không giải được bài toán đó?  Sửa: Bây giờ tôi mới hiểu tại sao tôi không giải được bài toán đó. - Lỗi về nghĩa của câu: VD: Trong thanh niên nói chung và trong bóng đá nói riêng, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể.  Sửa: Trong thể thao nói chung và trong bóng đá nói riêng, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể. * Lỗi đoạn văn: - Lạc ý: VD: Trong ca dao Việt Nam, những bài về tình yêu nam nữ là những bài nhiều hơn tất cả (1). Họ yêu gia đình, yêu cái tổ ấm cùng nhau chung sống, yêu nơi chôn nhau cắt rốn (2). Họ yêu người làng, người nước, yêu từ cảnh ruộng đồng đến công việc trong xóm, trong làng (3). Tình yêu đó nồng nhiệt và sâu sắc (4).  Nhận xét: (1) - câu chủ đề nói về tình yêu; câu (2), (3), (4) không nói về tình yêu nam nữ - lạc ý.  Sửa lại nội dung câu chủ đề: Trong ca dao Việt Nam, những bài về tình yêu đất nước là những bài nhiều hơn tất cả (1). - Thiếu ý: VD: Cư dân Văn Lang rất yêu ca hát, nhảy múa (1). Họ hát trong những đêm trăng hoặc ngày hội (2). Họ còn hát trong lúc chèo thuyền, săn bắn (3). Những nhạc cụ đệm cho những điệu hát thường là trống đồng, khèn, sáo, cồng ... (4).  Nhận xét: các câu 2, 3, 4 mới đề cập đến ý 1 câu (1) mà chưa đề cập đến ý 2.  Sửa: Cư dân Văn Lang rất yêu ca hát, nhảy múa (1). Họ múa hát trong những đêm trăng hoặc ngày hội (2). Họ hát trong lúc chèo thuyền, săn bắn (3). Những nhạc cụ đệm cho những câu hát, điệu múa thường là trống đồng, khèn, sáo, cồng ... (4). - Lỗi lặp từ trong đoạn văn: VD: Phía sau nhà em có một mảnh vườn. Mảnh vườn ở phía sau nhà em, em trồng rất nhiều loài hoa. Em trồng hoa cúc. Em trồng hoa thược dược. Em trồng cả hoa hồng nữa. Ngày Phụ nữ quốc tế, em hái hoa sau vườn nhà tặng mẹ em. Em hái hoa tặng chị em...  Nhận xét: Việc lặp lại từ ngữ không đem lại tác dụng biểu cảm cho đoạn văn.  Sửa: Phía sau nhà em có một mảnh vườn. Em dùng khu đất ấy để trồng các loài hoa: hoa cúc, hoa thược dược, và cả hoa hồng nữa. Ngày Quốc tế phụ nữ, em hái chính những bông hoa ấy tặng chị và mẹ của em. III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI: - Sau khi áp dụng sáng kiến nhằm tạo hứng thú cho học sinh khi học giờ Tự chọn Ngữ Văn 10 - Cơ bản vào quá trình giảng dạy thực tiễn, tôi thu được những kết quả khả quan như sau: + Học sinh không còn phải xoay sở, bối rối, nhàm chán vì sự trùng lặp kiến thức giữa kiến thức cơ bản về bài học đã được cung cấp trong SGK và kiến thức trong giờ học Tự chọn. Trên cơ sở kiến thức cơ bản về bài học đã được cung cấp
  11. trong SGK, các em học sinh tích cực tham gia thảo luận, hăng hái phát biểu với những đề tài đã được chuẩn bị từ trước và tìm tòi vấn đề mới, lớp học trở nên sinh động hơn. + Bản thân người dạy cũng cảm thấy tự tin, chủ động hơn trong việc đầu tư soạn giáo án, lên lớp. Các em học sinh tự tin hơn khi phát biểu xây dựng bài, có nhiều thời gian để thảo luận, sáng tạo. - Kết quả thực hiện đề tài này không những thể hiện hiệu quả ngay trong giờ học mà còn thể hiện rõ trong kết quả kiểm tra đánh giá qua các bài kiểm tra 15 phút, bài viết 45 phút và bài thi học kì của học sinh. Cụ thể:  Kết quả học tập cuối học kì I năm học 2010-2011. + Lớp 10A2: Có áp dụng SKKN. Giỏi Khá Trung bình Yếu Tổng số HS SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ 50 14 28% 25 50% 11 22% 0 0 + Lớp 10A5: Không áp dụng SKKN. Giỏi Khá Trung bình Yếu Tổng số HS SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ 50 5 10% 18 36% 25 50% 2 4% IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG: - Để tổ chức tiết dạy Tự chọn Ngữ Văn có hiệu quả, giáo viên cần có sự phân chia thời gian hợp lí cho từng chủ đề; chủ đề được lựa chọn đưa vào giảng dạy cần có sự phối hợp nhiều nguồn kiến thức, tạo không khí thoải mái để học sinh hứng thú học tập, không còn cảm thấy gò bó như trong các tiết học chính khóa. - Về phía học sinh, các em cần phải nắm vững kiến thức cơ bản đã được cung cấp trong sách giáo khoa vì đó chính là nền tảng cơ sở để giúp các em nâng cao kiến thức bộ môn cho bản thân thông qua sự hỗ trợ của giáo viên. Bên cạnh đó, yêu cầu đặt ra là các em cần phải chịu khó tìm tòi tài liệu, soạn bài đầy đủ và học bài trước khi đến lớp, mạnh dạn phát biểu ý kiến khi tham gia thảo luận theo từng chủ đề tự chọn. V. TÀI LIỆU THAM KHẢO: - Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 – Cơ bản và Nâng cao. - Sách giáo viên Ngữ Văn 10 – Cơ bản và Nâng cao. - Tài liệu chủ đề tự chọn nâng cao Ngữ Văn 10 - Bùi Minh Toán - NXB GD (2006). - Tài liệu chủ đề tự chọn bám sát chương trình chuẩn Ngữ Văn 10 - Bùi Minh Toán - NXB GD (2006). - Ngữ Văn 10 - Phan Trọng Luận - NXB GD (2006). - http://tayvuongnuquoc.violet.vn
  12. - http://vietbao.vn NGƯỜI THỰC HIỆN (Ký tên và ghi rõ họ tên) Hoàng Thị Mộng Dung

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản