BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ------------ ------------
NGUYỄN THỊ KIM THOA
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬUĐẾN SINH HOẠT VÀ SẢN
XUẤT CỦA DÂN CƯHUYỆN GÒ
CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ------------------------- NGUYỄN THỊ KIM THOA
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU ĐẾN SINH HOẠT VÀ SẢN
XUẤT CỦA DÂN CƯ HUYỆN GÒ
CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG
Chuyên ngành: ĐỊA LÝ HỌC
Mã số: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Thái Thị Ngọc Dư
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu trường Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh, Phòng
Khoa học Công nghệ và Sau đại học đã mọi điều kiện thuận lợi để khoá học được hoàn thành tốt
đẹp.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Thái Thị Ngọc Dư, người đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể giảng viên trường Đại học Sư phạm TP. Hồ
Chí Minh đã tận tình giảng dạy, mở rộng kiến thức chuyên môn cho chúng tôi.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu - quý thầy cô trường THPT Chuyên Tiền Giang đã
có nhiều giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Sở Tài nguyên - Môi trường, Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, Sở Khoa học - Công nghệ, Trung tâm Khí tượng thuỷ văn Tiền Giang, Uỷ ban
nhân dân huyện Gò Công Đông cùng dân cư các xã Tân Thành, Vàm Láng, Kiểng Phước, Gia
Thuận, thị trấn Tân Hoà thuộc địa bàn huyện Gò Công Đông đã có nhiều giúp đỡ và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn là chổ dựa tinh thần vững chắc, tạo điều
kiện cho tôi thực hiện tốt luận văn này.
Trong quá trình thực hiện đề tài vẫn còn nhiều sơ sót. Kính mong quý thầy cô góp ý để đề tài
được hoàn thiện hơn.
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Nguyễn Thị Kim Thoa
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Nguyễn Thị Kim Thoa
Là học viên cao học Khoá 19 chuyên ngành Địa Lý học của trường Đại học Sư phạm Thành
phố Hồ Chí Minh niên khoá 2008-2011.
Tôi xin cam đoan đây là phần nghiên cứu do tôi thực hiện. Các số liệu, kết luận nghiên cứu
trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố ở các nghiên cứu khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên
Nguyễn Thị Kim Thoa
MỤC LỤC
8TLỜI CẢM ƠN8T ................................................................................................................................. 1
8TLỜI CAM ĐOAN8T .......................................................................................................................... 2
8TMỤC LỤC8T ...................................................................................................................................... 3
8TDANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT8T .................................................................. 5
8TDANH MỤC CÁC BẢNG8T .............................................................................................................. 7
8TDANH MỤC CÁC HÌNH8T ............................................................................................................... 8
8TMỞ ĐẦU8T ......................................................................................................................................... 1
8T1. Lý do chọn đề tài8T ...................................................................................................................... 1
8T2. Mục đích nghiên cứu của đề tài8T ................................................................................................ 2
8T3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài8T .............................................................................................. 3
8T4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài8T ............................................................................. 3
8T4.1. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:8T .......................................................................................... 3
8T4.2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài:8T ....................................................................................... 3
8T5. Phương pháp nghiên cứu:8T ........................................................................................................ 3
8TChương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN8T ............................................................. 4
8T1.1. Cơ sở lý luận :8T ....................................................................................................................... 4
8T1.1.1 Khái niệm về BĐKH8T ....................................................................................................... 4
8T1.1.2. Nguyên nhân hình thành BĐKH8T ..................................................................................... 4
8T1.1.2.1. Hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người làm tăng lượng khí thải 8T...................... 4
8T1.1.2.2. Sự biến đổi của tự nhiên8T .......................................................................................... 5
8T1.1.3. Tác động của BĐKH8T ...................................................................................................... 6
8T1.1.3.1. Tác động của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực 8T .............. 6
8T1.1.3.2. Tác động của BĐKH đến cuộc sống dân cư và vấn đề tái định cư :8T ......................... 7
8T1.1.3.3. Đối với tài nguyên nước, tài nguyên biển8T ................................................................ 8
8T1.1.3.4. Đối với tài nguyên rừng và hệ sinh thái tự nhiên8T ................................................... 10
8T1.2. Cơ sở thực tiễn:8T ................................................................................................................... 15
8T1.2.1. BĐKH trên thế giới8T ...................................................................................................... 15
8T1.2.2. BĐKH ở Việt Nam [3]8T ................................................................................................. 15
8T1.2.2.1. Thực trạng BĐKH ở Việt Nam8T.............................................................................. 15
8T1.2.2.2. Nhận định xu thế BĐKH ở Việt Nam [3]8T ............................................................. 16
8T1.2.2.3. Nhận định về tác động tiềm tàng của BĐKH ở Việt Nam [3] 8T ................................ 16
8TChương 2. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BĐKH VÀ ĐỊA BÀN
8T2.1. Tổng quan tài liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan đến BĐKH:8T .......................... 19
8T2.2. Tổng quan tài liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan đến BĐKH ở ĐBSCL8T ........... 21
8T2.2.1. Tiểu vùng (A) nơi chịu ảnh hưởng nguồn chiếm ưu thế :8T .............................................. 21
8T2.2.2. Tiểu vùng (C) nơi ảnh hưởng biển chiếm ưu thế8T .......................................................... 22
8T2.2.3. Tiểu vùng chịu ảnh hưởng hỗn hợp biển và nguồn (B). 8T ................................................ 22
8T2.3. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu [2],[11] 8T ........................................................................... 26
8TChương 3. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KHẢO SÁT8T ....................................................................... 29
8T3.1. Khái quát địa bàn nghiên cứu - Mô tả mẫu:8T ......................................................................... 29
8T3.2. Thống kê mô tả:8T .................................................................................................................. 32
8T3.2.1: Nhận thức của nhân dân địa phương về BĐKH: 8T ........................................................... 32
8T3.2.2: Các lĩnh vực chịu tác động của BĐKH:8T ........................................................................ 34
8T3.2.2.1: Tác động của BĐKH đến cuộc sống gia đình: 8T ....................................................... 35
8T3.2.2.2: Tác động của BĐKH đến sức khoẻ nhân dân: 8T ....................................................... 36
8T3.2.2.4: Tác động của BĐKH đến thu nhập:8T ....................................................................... 37
8T3.2.3: Các biểu hiện bất thường của khí hậu và thời tiết ở địa phương:8T ................................... 38
8T3.2.4: Tình hình khai thác và sử dụng nguồn nước:8T ................................................................ 39
8T3.2.4.1. Tình hình khai thác và sử dụng nguồn nước sinh hoạt:8T .......................................... 39
8T3.2.4.1. Tình hình thay đổi chất lượng nguồn nước sinh hoạt:8T ............................................ 40
8T3.2.4.2. Tình hình xâm nhập mặn:8T ...................................................................................... 41 8T3.2.5. Các giải pháp ứng phó hiện tượng nước biển dâng8T ................................................... 44
8T3.2.6. Các lực lượng tìm các giải pháp ứng phó với sự tác động của BĐKH8T ........................... 45
8T3.4. Kiểm định sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH giữa các nhóm: 8T .................... 46
8T3.4.1. Sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH theo nhóm tuổi 8T .............................. 46
8T3.4.2. Sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH giữa các nhóm theo địa bàn cư trú: 8T 46
8T3.4.3. Sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH theo nghề nghiệp 8T........................... 47
8T3.4.4. Sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH theo giới tính:8T ............................... 48
8TChương 4. TÌM HIỂU NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI
NGHIÊN CỨU8T ............................................................................................................................. 19
8T4.1. Ứng phó với BĐKH trên thế giới.8T........................................................................................ 50
8T4.2. Ứng phó với BĐKH ở Việt Nam8T ......................................................................................... 51
8T4.3 Ứng phó với BĐKH ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long8T ...................................................... 53
8T4.3.1. Nâng cao nhận thức của người dân8T ............................................................................... 54
8T4.3.2. Xác định và tiến hành sớm những nội dung cần nghiên cứu 8T ......................................... 54
BĐKH8T ........................................................................................................................................... 50
8T4.3.3. Phát huy và đào tạo nguồn nhân lực8T ............................................................................. 55
8T4.3.4. Nâng cao năng lực quản lý8T ........................................................................................... 55
8T4.4. Ứng phó với BĐKH ở huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang8T ............................................ 56
8T4.4.1. Nông nghiệp8T ................................................................................................................ 57
8T4.4.2. Lâm nghiệp8T .................................................................................................................. 58
8T4.4.3. Thuỷ sản8T ...................................................................................................................... 58
8T4.4.4. Nguồn nước8T ................................................................................................................. 59
8T4.4.5. Sinh hoạt sản xuất và đời sống của dân cư8T .................................................................... 59
8TKẾT LUẬN8T ................................................................................................................................... 60
8T1. Kết luận :8T ............................................................................................................................... 60
8T2. Khuyến nghị :8T ......................................................................................................................... 60
8TTÀI LIỆU THAM KHẢO8T ............................................................................................................ 63
8TPHỤ LỤC8T...................................................................................................................................... 67
8TPhụ lục 1: Bản đồ các huyện phía Đông của tỉnh Tiền Giang8T .................................................... 67
8TPhụ lục 2: BẢNG HỎI THU THẬP THÔNG TIN8T .................................................................... 68
8TPhụ lục 3: Kết quả phân tích Anova theo nhóm tuổi:8T ................................................................ 73
8TPhụ lục 4: Kết quả phân tích Anova theo địa bàn cư trú: 8T .......................................................... 74
8TPhụ lục 5: Kết quả phân tích Anova theo nghề nghiệp:8T ............................................................. 75
8TPhụ lục 6: Kết quả phân tích Anova theo giới tính:8T ................................................................... 77
8TPhụ lục 7: Một số hình ảnh liên quan đến biến đổi khí hậu ở ĐBSCL8T ...................................... 77
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH : Biến đổi khí hậu
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
: Đồng bằng sông Hồng ĐBSH
: Đa dạng sinh học. ĐDSH
: Sinh vật biến đổi gen GMO
: Trung tâm quản lý môi trường quốc tế ICEM
: Uỷ ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu IPCC
: Hỗ trợ phát triển ODA
: Đơn vị tính nồng độ phần tỉ ppb
: Đơn vị tính nồng độ phần triệu ppm
: Ruộng vườn ao chuồng RVAC
: Trung tâm START vùng Đông Nam Á (Đại học START
Chulalongkorn, Thái Lan)
STERN : Công trình nghiên cứu về Biến đổi khí hậu của tiến sĩ
Nicholas Stern- người Anh-chuyên gia kinh tế hàng đầu của
Ngân hàng Thế giới
UNDP : Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
UNFCCC : Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu
: Vườn ao chuồng VAC
: Tổ chức Y tế Thế giới WHO
: Tổ chức khí tượng Thế giới WMO
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng Nội dung Trang
2.1 Thông báo Quốc gia về BĐKH ở Việt Nam 24
2.2 Kịch bản BĐKH các vùng của Việt Nam 25
2.3 Kịch bản nước biển dâng ở Việt Nam so với năm 1990 25
3.1 Bảng mô tả mẫu phân theo giới tính và nghề nghiệp. 38
3.2 Bảng mô tả mẫu phân theo địa bàn cư trú và nhóm tuổi. 39
3.3 Nguồn cung cấp thông tin về BĐKH 41
3.4 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của BĐKH 42
3.5 Thống kê mô tả đánh giá về mức độ tác động của BĐKH 42
3.6 Đánh giá các lĩnh vực chịu ảnh hưởng của BĐKH 43
3.7 Mức độ tác động của BĐKH đến cuộc sống gia đình. 44
3.8 Mức độ tác động của BĐKH đến sức khoẻ. 45
3.9 Mức độ tác động của BĐKH đến công việc hàng ngày. 45
3.10 Mức độ tác động của BĐKH đến công việc thu nhập. 46
3.11 Các biểu hiện bất thường về thời tiết và khí hậu ở địa phương 48
3.12 Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt ở địa phương 49
3.13 Tình hình thay đổi chất lượng nguồn nước ở địa phương 51
3.14 Tình hình xâm nhập mặn ở địa phương 52
3.15 Tình hình xâm nhập mặn từ năm 2000 – 2009 52
3.16 53 Thời gian bắt đầu và kết thúc mùa mưa, lượng mưa trung bình năm từ năm 2000 – 2009
3.17 Tình hình ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến diện tích đất canh tác 54
3.18 Đề xuất các giải pháp ứng phó với hiện tượng nước biển dâng 55
3.19 Đề xuất các lực lượng tìm biện pháp ứng phó với BĐKH 56
3.20 Kết quả phân tích Anova theo nhóm tuổi 58
3.21 Kết quả phân tích Anova theo địa bàn cư trú 58
3.22 Kết quả kiểm định Tamhane’s 59
Bảng Nội dung Trang
3.23 59 Thống kê mô tả đánh giá mức độ tác động của BĐKH của các nhóm dân cư theo địa bàn cư trú
3.24 Kết quả phân tích Anova theo nghề nghiệp 60
3.25 Kết quả kiểm định Tukey HSD 60
3.26 61 Thống kê mô tả đánh giá mức độ tác động của BĐKH của các nhóm dân cư theo nghề nghiệp
61 3.27 Kết quả phân tích Anova theo giới tính
DANH MỤC CÁC HÌNH
Nội dung Trang Hình
Tác động giữa BĐKH và suy giảm tài nguyên tự nhiên, kinh tế - xã hội 1.1 17
Chuỗi dây chuyền tác động của hiện tượng BĐKH – nước biển dâng lên hệ
18 1.2 sinh thái, sản xuất và đời sống
3.1 Bản đồ hành chính huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang 37
3.2 Biểu đồ thể hiện cơ cấu mẫu khảo sát theo nghề nghiệp 38
3.3 Biểu đồ thể hiện cơ cấu mẫu khảo sát theo nơi cư trú 39
3.4 Biểu đồ thể hiện cơ cấu mẫu khảo sát theo nhóm tuổi 40
3.5 Biểu đồ thể hiện các nguồn cung cấp thông tin về BĐKH 41
3.6 42 Biểu đồ thể hiện đánh giá của nhân dân địa phương về mức độ tác động của BĐKH
3.7 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đánh giá các lĩnh vực chịu ảnh hưởng của BĐKH 44
3.8.1 47 Biểu đồ thể hiện số lượng người đánh giá mức độ tác động của BĐKH đến các lĩnh vực
3.8.2 47 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đánh giá mức độ tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực
3.9 49 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đánh giá các biểu hiện bất thường về thời tiết, khí hậu ở địa phương
3.10 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ các nguồn cung cấp nước sinh hoạt tại địa phương 50
3.11 56 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đề xuất của nhân dân về các biện pháp ứng phó với nước biển dâng
3.12 57 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đề xuất các lực lượng tìm biện pháp ứng phó với mực biển dâng
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề Trái Đất nóng lên, nước biển dâng và khí hậu đang biến đổi một cách khắc nghiệt đến
nay không còn là chuyện của thế giới, mà đang đe dọa trực tiếp đến Việt Nam: Lũ lụt, hạn hán, triều
cường, xâm nhập mặn ngày càng nặng nề hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn của con người và
cả nền kinh tế.
Theo bản báo cáo về phát triển con người 2007-2008 của UNDP[23], nếu nhiệt độ trên Trái
Đất tăng thêm 2 độ C, thì 22 triệu người ở Việt Nam sẽ mất nhà và 45% diện tích đất nông nghiệp ở
vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa lớn nhất của Việt Nam sẽ ngập chìm trong nước biển.
Ông Christophe Bahuet - Phó đại diện UNDP [23] tại Việt Nam - nhận định: BĐKH có thể
dẫn đến 5 nguy cơ lớn: Giảm năng suất nông nghiệp; gia tăng tình trạng thiếu nước; thời tiết cực
2 P, trong đó 18.066 kmP
P đất thuộc các
2 Theo thống kê, ĐBSCL có tổng diện tích 39.734 kmP
đoan gia tăng; các hệ sinh thái tan vỡ và bệnh tật gia tăng.
huyện ven biển [19]. Trong các thập kỷ gần đây, yếu tố khí tượng thuỷ văn tại ĐBSCL tiếp tục thay
đổi theo chiều hướng xấu. Các thiên tai như bão tố, lụt lội, xâm nhập mặn... xảy ra thường xuyên
hơn và khó dự đoán.
2 cần nước biển dâng lên vài mét, chúng ta sẽ mất đi một diện tích đất khoảng 15.000-20.000kmP
P tại
Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng thủy văn môi trường, ông Trần Thục cho biết: "Chỉ
ĐBSCL"[37].
ĐBSCL là vùng đất thấp ven biển của Việt Nam sẽ là khu vực bị tác hại nặng nề nhất do
BĐKH gây ra [19]. Trong các tháng mùa khô này, nhiều tỉnh vùng ĐBSCL đang bị nước biển xâm
nhập mặn sâu làm thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, nhiều khu vực đã thiếu nước ngọt phục vụ
sinh họat... Trước tình hình trên, nhiều địa phương trong khu vực ĐBSCL đã và đang đề ra nhiều
giải pháp để ứng phó và thích nghi do tác động của BĐKH.
Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, khẳng
định: “Ứng phó với mực nước biển dâng là một nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu về nhiều mặt:
kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng... chẳng những của ĐBSCL mà còn của cả nước. Các địa
phương phải tranh thủ điều tra, nghiên cứu trên từng địa bàn bị đe dọa để chuẩn bị phương án ứng
phó tốt nhất”[16]
Theo Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Đức Ngữ, Giám đốc Trung tâm Khí tượng Thủy văn và Môi
trường, để giảm nhẹ khả năng bị tổn hại do BĐKH gây ra, cần có sự điều chỉnh ở các hoạt động
kinh tế, xã hội... Các hoạt động ứng phó với BĐKH phải được triển khai ngay từ bây giờ và phải
được lồng ghép với kế hoạch của các ngành, lĩnh vực, địa phương...[9]
Các nhà khoa học cũng đề xuất một số giải pháp thủy lợi khả thi như: làm đê bao kết hợp hệ
thống cống và trạm bơm ở các vùng ven biển để tránh ngập lụt; xây dựng hồ chứa nước ngọt ngay
tại ĐBSCL trong các vùng ngập hay bán ngập để trữ nước, tránh tình trạng thiếu nước ngọt cho sinh
hoạt và sản xuất; ứng dụng công nghệ vật liệu mới vào xây dựng các công trình để giảm chi phí...
Để giảm nhẹ những hậu quả do BĐKH mang tới, các cấp chính quyền cần có những động thái mạnh
mẽ hơn: xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia; hướng dẫn cụ thể cho các ngành, các địa phương
chủ động xây dựng chương trình phù hợp; thiết lập cơ quan liên tỉnh của ĐBSCL để phối hợp xây
dựng chương trình ứng phó và hành động có hiệu quả không chỉ ở cấp địa phương mà trong toàn
vùng... Bên cạnh trách nhiệm và hành động của các nhà quản lý, nhà khoa học, mỗi người dân ở địa
phương cũng cần có ý thức và hành động thiết thực để góp phần giảm nhẹ các tác động của BĐKH.
Theo dự báo[44], trong vài chục năm tới, nước biển sẽ dâng cao làm ngập lụt phần lớn
ĐBSCL vốn đã bị ngập lụt hàng năm, dẫn đến mất nhiều đất nông nghiệp. Sẽ có từ 15.000 – 20.000
km2 đất thấp ven biển bị ngập hoàn toàn. Lưu lượng nước sông Mê kông giảm từ 2 – 24% trong
mùa khô, tăng từ 7- 15% vào mùa lũ. Hạn hán sẽ xuất hiện nhiều hơn. Nước lũ sẽ cao hơn tại các
tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, TP Cần Thơ, Hậu
Giang; thời gian ngập lũ tại đây sẽ kéo dài hơn hiện nay. Việc tiêu thoát nước mùa mưa lũ cũng khó
khăn. Suy giảm tài nguyên nước sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, nghề cá.
Quá trình xâm nhập mặn vào nội đồng sẽ sâu hơn, tập trung tại các tỉnh ven biển gồm Cà Mau, Bạc
Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Long An và nước ngọt sẽ khan hiếm.
Tỉnh Tiền Giang với 32 km bờ biển, lại án ngữ ba cửa biển lớn: Soài Rạp (sông Soài Rạp),
Cửa Tiểu và Cửa Đại (sông Tiền). Theo dự báo của Trung tâm Quốc tế về Quản lý Môi trường
(ICEM), tỉnh Tiền Giang sẽ là một trong mười tỉnh của cả nước bị ảnh hưởng nhiều nhất của
BĐKH. Trong 10 huyện (thành thị) của tỉnh Tiền Giang, huyện Gò Công Đông là huyện có chiều
dài bờ biển 32 km trông giống như một vành đai hướng ra biển Đông và là địa phương có tiềm năng
kinh tế biển lớn nhất tỉnh Tiền Giang. Cũng như các địa phương ven biển BĐKH sẽ ảnh hưởng trực
tiếp và tác động đến nhiều mặt liên quan đến sản xuất và đời sống của dân cư địa phương. Xuất phát
từ các lý do trên chúng tôi chọn đề tài luận văn “Tác động của Biến đổi khí hậu đến sinh hoạt và
sản xuất của người dân ở huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang”
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu này hướng đến những mục đích:
- Phân tích tác động của biến đổi khí hậu đến sinh hoạt và sản xuất của dân cư ở huyện Gò
Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
- Tìm hiểu những định hướng và các giải pháp nhằm hạn chế những tác động của BĐKH đến
vấn đề sinh hoạt và sản xuất của dân cư huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Môi trường tự nhiên của huyện Gò Công Đông đang đối mặt với vấn đề BĐKH như thế
nào?
- BĐKH đang và sẽ tác động như thế nào đến sinh hoạt và sản xuất của người dân huyện Gò
Công Đông, tỉnh Tiền Giang?
- Cần phải có những giải pháp gì để hạn chế những ảnh hưởng của BĐKH đến: Nông nghiệp,
đa dạng sinh học, vùng bờ biển, tài nguyên nước, tài nguyên rừng và tái định cư.
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
4.1. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
BĐKH sẽ tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, trong nghiên cứu này chúng
tôi tập trung phân tích ảnh hưởng của BĐKH trên 6 lĩnh vực chịu tác động nặng nề nhất của BĐKH,
đó là: Nông nghiệp, đa dạng sinh học, vùng bờ biển, tài nguyên nước, rừng và tái định cư.
4.2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Cuộc sống sinh hoạt và sản xuất của cư dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
5. Phương pháp nghiên cứu:
5.1. Thu thập và phân tích tài liệu của các cơ quan ban ngành có liên quan.
5.2. Khảo sát thực địa, phỏng vấn các tầng lớp dân cư
5.3. Phân tích số liệu bằng các phần mềm SPSS.
5.4. Tổng hợp đánh giá.
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận :
1.1.1 Khái niệm về BĐKH
Theo GS TSKH Lê Huy Bá: "BĐKH là sự thay đổi đáng kể, lâu dài các thành phần khí hậu,
"khung" thời tiết từ bình thường vốn có lâu đời nay của một vùng cụ thể, sang một trạng thái thời
tiết mới, đạt các tiêu chí sinh thái khí hậu mới một cách khác hẳn, để rồi sau đó, dần dần đi vào ổn định mới".[1]
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam: “BĐKH là sự thay đổi của hệ thống khí hậu
gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên
nhân tự nhiên và nhân tạo”.[3]
Theo quan điểm của Tổ chức khí tượng thế giới (WMO), BĐKH là sự vận động bên trong hệ
thống khí hậu, do những thay đổi kết cấu hệ thống hoặc trong mối quan hệ tương tác giữa các thành
phần dưới tác động của ngoại lực hoặc do hoạt động của con người.
Sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong
một khoảng thời gian dài, thường là vài thập niên hoặc dài hơn. BĐKH có thể là do các quá trình tự
nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành
phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất.
Sự thay đổi về khí hậu do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động của con người cùng
với BĐKH do tự nhiên sẽ làm thay đổi cấu thành của khí quyển.
1.1.2. Nguyên nhân hình thành BĐKH
BĐKH là do nồng độ của khí hiệu ứng nhà kính tăng lên trong khí quyển ở mức độ cao, làm
cho Trái Đất ấm lên, nhiệt độ bề mặt Trái Đất nóng lên. Nhiệt độ trái đất nóng lên tạo ra các biến
đổi đối với các vấn đề thời tiết hiện nay. Theo báo cáo mới nhất của Liên Hiệp Quốc, nguyên nhân
của hiện tượng BĐKH 90% do con người gây ra, 10% là do tự nhiên.[24]
1.1.2.1. Hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người làm tăng lượng khí thải
BĐKH có nhiều nguyên nhân, trong đó đáng quan tâm và cần hạn chế là nguyên nhân do
hoạt động của con người gây ra. Đó là sự tăng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến
tăng hiệu ứng nhà kính. Đặc biệt quan trọng là khí điôxit cacbon (CO R2 R) được tạo thành do sử dụng
năng lượng từ nguyên liệu hóa thạch (dầu mỏ, than đá, khí tự nhiên...), phá rừng và chuyển đổi sử
dụng chất thải vào khí quyển.[24]
Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của Uỷ Ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC, 2007)[21],
hàm lượng khí COR2 R trong khí quyển năm 2005 đã vượt xa mức tự nhiên trong khoảng 650.000 năm
qua (180 – 280ppm) và đạt 379ppm (tăng gần 35%). Lượng phát thải khí COR2 R từ sử dụng nhiên liệu
hóa thạch đã tăng trung bình từ 6,4 tỉ tấn cacbon mỗi năm (trong những năm 1990) đến 7,2 tỉ tấn
cacbon mỗi năm (trong thời kỳ 2000-2005). Trong việc đánh giá hiệu ứng của khí nhà kính, có hai
vấn đề rất đáng lưu ý là hàm lượng khí mêtan (CH R4 R) trong khí quyển đã tăng từ 715ppb (trong thời
kỳ tiền công nghiệp) lên 1.732ppb trong những năm đầu thập kỷ 90 và đạt 1.774ppb năm 2005 (tăng
gần 148%). Hàm lượng khí ôxit nitơ (N R2 RO) trong khí quyển đã tăng từ 270ppb (trong thời kỳ tiền
công nghiệp) lên 319ppb vào năm 2005 (tăng khoảng 18%). Các khí mêtan và ôxit nitơ tăng chủ
yếu từ sản xuất nông nghiệp, đốt nguyên liệu hóa thạch, chôn lấp rác thải..
Việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch phát thải 70-90% lượng CO R2 R vào khí quyển; năng lượng
hóa thạch được sử dụng trong giao thông vận tải, chế tạo các thiết bị điện như: tủ lạnh, hệ thống
điều hòa nóng lạnh và các ứng dụng khác; lượng phát thải COR2 R tăng còn do hoạt động trong nông
nghiệp và khai thác rừng (kể cả cháy rừng), khai hoang và công nghiệp. Tóm lại, tiêu thụ năng
lượng do đốt các nguyên liệu hóa thạch đóng góp khoảng gần một nửa (46%) vào tiềm năng nóng
lên toàn cầu. Phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18% và hoạt động nông nghiệp tạo ra khoảng 9%
tổng số các khí thải, gây ra lượng bức xạ cưỡng bức làm nóng lên toàn cầu... Đây là những nguyên
nhân dẫn đến BĐKH do hoạt động của con người gây nên.
1.1.2.2. Sự biến đổi của tự nhiên
Nhiều quá trình trong và ngoài khí quyển được cho là có khả năng là những nguyên
nhân của những thay đổi khí hậu. Trong quá khứ, khí hậu Trái Đất đã nhiều lần biến đổi do tự
nhiên. Những thời kỳ băng hà xen lẫn những thời kỳ ấm lên của Trái Đất đã từng xảy ra cách đây
vài triệu năm. Thời kỳ băng hà cuối cùng xảy ra khoảng 18.000 năm trước Công nguyên. Trong thời
kỳ này, băng bao phủ phần lớn Bắc Mỹ, Bắc Âu và Bắc Á. Mực nước biển trung bình thấp hơn hiện
nay tới 120m. Thời kỳ băng hà này kết thúc khoảng 10.000-15.000 năm trước Công nguyên. Thời
kỳ tiểu băng hà gần đây nhất , xảy ra ở châu Âu vào giữa thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ thứ 19.
PC. Thập kỷ 1990
0 khoảng hơn 100 năm qua (1906-2005) nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên 0,7 P
BĐKH hiện nay tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu bắt đầu xảy ra từ giữa thế kỷ 19. Trong
là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ qua. Trong 11 năm (1995-2006) là những năm nóng nhất từ
khi có số liệu đo bằng công cụ hiện đại. Do nóng lên toàn cầu, băng, tuyết của các vùng cực của
Trái Đất và trên núi cao tan ra, nước của các đại dương ấm lên và giãn nở ra, làm mực nước biển
trung bình toàn cầu dâng lên trung bình 0,17m trong thế kỷ XX. Các thiên tai như mưa lớn, bão, lũ
lụt, lũ quét, nắng nóng, hạn hán, lốc xảy ra nhiều hơn, mạnh hơn, dị thường hơn. Số ngày lạnh, đêm
lạnh, băng giá ít hơn. Hiện tượng El Nino xảy ra nhiều hơn, kéo dài và mạnh hơn. Ngập lụt, xói lở
bờ biển, xâm nhập mặn, sạt lở đất xảy ra nhiều và mạnh mẽ hơn trước... Đây là những ảnh hưởng do
BĐKH gây ra, những ảnh hưởng này tác động rất lớn đến mọi mặt đời sống xã hội vì vậy các địa
phương, các cấp, các ngành cần phải tập trung ứng phó và tìm giải pháp hạn chế thiệt hại do BĐKH
gây ra.
1.1.3. Tác động của BĐKH
Theo kết quả đánh giá cho toàn cầu của Uỷ ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC, 2007) và
những nghiên cứu sơ bộ ban đầu của các nhà khoa học Việt Nam, tác động tiềm tàng của BĐKH đối
với nước ta là nghiêm trọng và cần được nghiên cứu sâu thêm. Sự gia tăng của các hiện tượng khí
hậu cực đoan và thiên tai, cả về tần số và cường độ do BĐKH là mối đe doạ thường xuyên, trước
mắt và lâu dài đối với tất cả các lĩnh vực, các vùng và các cộng đồng. Bão, lũ lụt, hạn hán, mưa lớn,
nắng nóng, tố lốc là thiên tai xảy ra hàng năm ở nhiều vùng trong cả nước, gây thiệt hại cho sản xuất
và đời sống.
BĐKH sẽ làm cho các thiên tai nói trên trở nên ác liệt hơn và có thể trở thành thảm hoạ, gây
rủi ro lớn cho phát triển kinh tế, xã hội hoặc xoá đi những thành quả nhiều năm của sự phát triển,
trong đó có những thành quả thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. Những khu vực được dự tính
chịu tác động lớn nhất của các hiện tượng khí hậu cực đoan nói trên là dải ven biển Trung Bộ, vùng
núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.
1.1.3.1. Tác động của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực
BĐKH có tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng
nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng. BĐKH ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng của gia súc, gia
cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm.
Với sự nóng lên trên phạm vi toàn lãnh thổ, thời gian thích nghi của cây trồng nhiệt đới mở
rộng và của cây trồng á nhiệt đới thì thu hẹp lại. Ranh giới của cây trồng nhiệt đới dịch chuyển về
phía vùng núi cao hơn và các vĩ độ cao ở phía Bắc, phạm vi thích nghi của cây trồng á nhiệt đới bị
thu hẹp thêm. BĐKH có khả năng làm tăng tần số, cường độ, tính biến động và tính cực đoan của
các hiện tượng thời tiết nguy hiểm . Tố, lốc, bão và các thiên tai liên quan đến nhiệt độ và mưa như
thời tiết khô nóng, lũ lụt, ngập úng hay hạn hán, rét hại, xâm nhập mặn, sâu bệnh, làm giảm năng
suất và sản lượng của cây trồng và vật nuôi.
BĐKH gây nguy cơ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, một phần đáng kể diện tích đất nông
nghiệp ở vùng đất thấp đồng bằng ven biển, Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long bị
ngập mặn do nước biển dâng, nếu không có các biện pháp ứng phó thích hợp. BĐKH và nông
nghiệp là hai qui trình tác động lẫn nhau ở mức toàn cầu. Đối với nhà nông, thời tiết đóng vai trò
quyết định cho thành công hay thất bại, được mùa hay mất mùa. Ngược lại, nông nghiệp cũng ảnh
hưởng lên khí hậu, vì thải ra các khí làm tăng hiệu ứng nhà kính như hơi nước, khí cacbon, mê tan
và ôxít nitơ. Sự phát quang, phá rừng để trồng trọt và hiện tượng hoang hoá hay sa mạc hoá đất đai
vì thâm canh cũng làm thay đổi mặt vỏ Trái Đất, và làm mất quân bình cán cân bức xạ nhiệt.
BĐKH ảnh hưởng đến toàn bộ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tại cuộc họp về
BĐKH do Liên hiệp quốc UNDP gần đây, ông Nguyễn Khắc Hiếu, Phó ban chỉ đạo thực hiện công
ước khí hậu và nghị định thư Kyoto của Việt Nam cũng cho rằng: 1T"Sinh kế của hàng chục triệu
người Việt Nam đang bị đe dọa với những ảnh hưởng của BĐKH. Vấn đề này và những hệ quả của
nó đang khiến cho cuộc sống người nghèo và những người cận nghèo Việt Nam ở vùng núi, vùng
biển, vùng đồng bằng bị đe dọa". [5]
BĐKH đã, đang và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nông nghiệp gồm thủy lợi, trồng trọt và chăn
nuôi BĐKH có tác động đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ
lây lan sâu bệnh hại cây trồng, hai vựa lúa lớn nhất là Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long là
những vùng đất thấp trong tương lai sẽ chịu ảnh hưởng lớn của BĐKH khi mực nước biển dâng cao
và chu trình thủy văn thay đổi. Khô hạn và sự thiếu hụt nguồn nước sẽ làm năng suất nông nghiệp
giảm sút. Nhiều loại dịch bệnh cây trồng của vùng khí hậu nóng Tây Nam Bộ sẽ có khả năng xâm
lấn vào đồng ruộng (rầy trắng, vàng lùn-lùn xoắn lá…); các giống cây trồng ưa nước sẽ không cho
năng suất và bị các loài ưa khô hạn thay thế, dẫn đến khủng hoảng các hệ sinh thái nông nghiệp bản
địa. Xu thế này tất yếu dẫn đến việc nông dân lạm dụng phân bón hóa học và hóa chất bảo vệ thực
vật, làm cho đất bị suy thoái và chất lượng nông sản không cao.
1.1.3.2. Tác động của BĐKH đến cuộc sống dân cư và vấn đề tái định cư :
Nhiệt độ tăng làm tăng tác động tiêu cực đối với sức khoẻ con người, dẫn đến gia tăng một số
nguy cơ đối với tuổi già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh. Tình trạng nóng lên làm thay
đổi cấu trúc mùa nhiệt hàng năm. Ở miền Bắc, mùa đông sẽ ấm lên, dẫn tới thay đổi đặc tính trong
nhịp sinh học của con người. BĐKH làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới: sốt rét, sốt
xuất huyết, làm tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn trùng, vật chủ mang
bệnh, làm tăng số lượng người bị bệnh nhiễm khuẩn dễ lây lan,…Thiên tai như bão, tố, nước dâng,
ngập lụt, hạn hán, mưa lớn và sạt lở đất v.v… gia tăng về cường độ và tần số làm tăng số người bị
thiệt mạng và ảnh hưởng gián tiếp đến sức khoẻ thông qua ô nhiễm môi trường, suy dinh dưỡng,
bệnh tật hoặc do những đổ vỡ của kế hoạch dân số, kinh tế - xã hội, cơ hội việc làm và thu nhập.
Những đối tượng dễ bị tổn thương nhất là những nông dân nghèo, các dân tộc thiểu số ở miền núi,
người già, trẻ em và phụ nữ.
BĐKH là nguy cơ gây suy thoái môi trường và suy giảm đa dạng sinh học và sự nhiễu loạn
hệ sinh thái sẽ là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh mới cho con người. BĐKH làm suy thoái tài
nguyên nước ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của nhân dân và hoạt động sản xuất của các ngành
kinh tế. BĐKH còn là nguyên nhân gây nên các biến động về di dân do mất nơi ở, mất đất canh tác
hoặc do bệnh tật và nghèo đói. Trong mấy năm gần đây biểu hiện của BĐKH đối với Việt Nam đã
rất rõ nét như mưa lũ thất thường, hạn hán ngày càng khắc nghiệt... Bắc Trung Bộ có nguy cơ gia
tăng bão lũ, trong khi vùng ven biển Nam Trung Bộ đang gia tăng độ khô hạn và có nguy cơ hạn
hán. Hậu quả của bão lũ, hạn hán trực tiếp gây chết người, dịch bệnh sau lũ, mùa màng mất mùa,
làm tăng tỷ lệ suy dinh dưỡng, giảm khả năng kháng bệnh.
Đồng thời, khi nhiệt độ toàn cầu ấm lên sẽ tạo điều kiện cho dịch bệnh cũ và dịch bệnh mới
phát triển mà con người khó có thể kiểm soát được. Trong báo cáo gần đây của Ủy ban Liên chính
phủ về BĐKH (IPPC) [21] đã khẳng định: Dưới tác động của nhiệt các căn bệnh đã gia tăng như:
sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não (truyền qua muỗi); các bệnh đường ruột (qua môi trường nước), các
bệnh suy dinh dưỡng, bệnh phổi... Những bệnh này đặc biệt ảnh hưởng lớn đến các vùng 8Tkinh tế 8T
kém phát triển, đông dân và có tỷ lệ đói nghèo cao.
Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm BĐKH sẽ làm khoảng 150.000
người chết và 5 triệu người bệnh. Trong bối cảnh đó, BĐKH sẽ làm cho hàng triệu người Việt Nam
mất nhà cửa, đói nghèo dịch bệnh gia tăng. Hiện tượng tị nạn môi trường sẽ xảy ra và kéo dài trên
diện rộng. Với đất đai đã có chủ sử dụng, đã quy hoạch, giao thông và thông tin thuận lợi, các dòng
dân di cư sẽ khác xa so với trước đây. Dòng người tị nạn xâm nhập dần vào các đô thị ít chịu ảnh
hưởng của BĐKH, tạo ra các khu dân cư kiểu “xóm liều, ổ chuột”, gia tăng lực lượng lao động giản
đơn, bán hàng rong, tạo thành các nhóm dân lang thang trong đô thị, góp phần nông thôn hoá đô thị
và làm cho quy hoạch các khu vực đô thị trở thành không thể kiểm soát được. Phụ nữ hoá quản trị
hộ gia đình tại các vùng chịu ảnh hưởng của BĐKH do 8Tđàn ông8T phải rời nhà đi kiếm sống trong thời
gian dài, tạo ra những hệ luỵ khó khắc phục về mặt giáo dục trẻ em, trật tự xã hội và kiểm soát các
bệnh xã hội như HIV-AIDS, LAO, STD[6]
Những thành công trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo có thể bị BĐKH làm sút giảm, thậm
chí có thể xóa sạch. Hơn thế nữa, việc di dân tái định cư cho các hộ gia đình là thách thức lớn không
chỉ vì quỹ đất lúc đó đã trở nên hạn hẹp, kinh phí lớn mà còn làm xáo trộn sinh kế của dân cư đang
cư trú ở vùng bờ, không ít trong số đó lại tái nghèo. Do vậy, BĐKH có tác động mạnh vào những
người nghèo đặc biệt là những người nông dân.
P lãnh hải và trên 3.000 hòn đảo gần bờ
2 Việt Nam có bờ biển dài 3.260km, hơn một triệu kmP
1.1.3.3. Đối với tài nguyên nước, tài nguyên biển
và hai quần đảo xa bờ, nhiều vùng đất thấp ven biển. Những vùng này hàng năm phải chịu ngập lụt
nặng nề trong mùa mưa và hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa khô. BĐKH và nước biển dâng sẽ
làm trầm trọng thêm tình trạng nói trên, làm tăng diện tích ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước ,
tăng xói lở bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nước sinh
hoạt, gây rủi ro lớn đối với các công trình xây dựng ven biển như đê biển, đường giao thông, bến
cảng, các nhà máy, các đô thị và khu dân cư ven biển. Mực nước biển dâng và nhiệt độ nước biển
tăng ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển và ven biển, gây nguy cơ đối với các rạn san hô và rừng ngập
mặn, ảnh hưởng xấu đến nền tảng sinh học cho các hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản ven
biển. Tất cả những điều trên đây đòi hỏi phải có đầu tư rất lớn để xây dựng và củng cố hệ thống đê
biển, nhằm ứng phó với mực nước biển dâng, phát triển hạ tầng kỹ thuật, di dời và xây dựng các
khu dân cư và đô thị có khả năng thích ứng cao với nước biển dâng.
Thiếu hụt nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt dẫn đến việc khai thác quá mức và không
thể kiểm soát môi trường của việc khai thác nước ngầm. Hiện tượng nhiễm mặn và ô nhiễm nước
ngầm gia tăng. Tài nguyên nước đang chịu thêm nguy cơ suy giảm do hạn hán ngày một tăng ở một
số vùng, mùa. Khó khăn này sẽ ảnh hưởng đến nông nghiệp, cung cấp nước ở nông thôn, thành thị
và sản xuất điện.Chế độ mưa thay đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọng vào mùa mưa, và hạn hán vào
mùa khô, gây khó khăn cho việc cấp nước và tăng mâu thuẫn trong sử dụng nước. Trên các sông lớn
như sông Hồng và sông Cửu Long, xu hướng giảm nhiều hơn đối với dòng chảy năm và dòng chảy
kiệt; xu thế tăng nhiều hơn đối với dòng chảy lũ.
BĐKH cũng đang tác động đến nuôi trồng thủy sản, trong đó nhiệt độ đóng vai trò quan
trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của sinh vật nói chung và các loài thủy - hải sản nói
riêng.
Hiện tượng nước biển dâng và ngập mặn gia tăng dẫn đến các hậu quả sau: Nước mặn lấn
sâu vào nội địa, làm mất nơi sinh sống thích hợp của một số loài thuỷ sản nước ngọt. Rừng ngập
mặn hiện có bị thu hẹp, ảnh hưởng đến nơi cư trú của một số loài thuỷ sản. Khả năng cố định chất
hữu cơ của hệ sinh thái rong biển giảm, dẫn đến giảm nguồn cung cấp sản phẩm quang hợp và chất
dinh dưỡng cho sinh vật đáy. Do vậy, chất lượng môi trường sống của nhiều loại thuỷ sản xấu đi. -
Nước biển dâng làm cho chế độ thuỷ lý, thuỷ hoá và thuỷ sinh xấu đi. Kết quả là các quần xã hiện
hữu thay đổi cấu trúc và thành phần, trữ lượng giảm sút.
Nhiệt độ tăng cũng dẫn đến một số hậu quả: Gây ra hiện tượng phân tầng nhiệt độ rõ rệt
trong thuỷ vực nước đứng, ảnh hưởng đến quá trình sinh sống của sinh vật. Một số loài di chuyển
lên phía Bắc hoặc xuống sâu hơn làm thay đổi cơ cấu phân bố thuỷ sinh vật theo chiều sâu. Quá
trình quang hoá và phân huỷ các chất hữu cơ nhanh hơn, ảnh hưởng đến nguồn thức ăn của sinh vật.
Các sinh vật tiêu tốn nhiều năng lượng hơn cho quá trình hô hấp cũng như các hoạt động sống khác
làm giảm năng suất và chất lượng thuỷ sản. Suy thoái và phá huỷ các rạn san hô, thay đổi quá trình
sinh lý, sinh hoá diễn ra trong mối quan hệ cộng sinh giữa san hô và tảo. Nhiệt độ tăng làm cho
nguồn thuỷ, hải sản bị phân tán. Các loài cá cận nhiệt đới có giá trị kinh tế cao bị giảm đi hoặc mất
hẳn. Cá ở các rạn san hô đa phần bị tiêu diệt.
Cường độ và lượng mưa lớn làm cho nồng độ muối giảm đi trong một thời gian dẫn đến sinh
vật nước lợ và ven bờ, đặc biệt là nhuyễn thể hai vỏ (nghêu, ngao, sò…) bị chết hàng loạt do không
chống chịu nổi với nồng độ muối thay đổi. Các loài thực vật nổi, mắt xích đầu tiên của chuỗi thức
ăn cho động vật nổi bị huỷ diệt, làm giảm mạnh động vật nổi, do đó làm giảm nguồn thức ăn chủ
yếu của các động vật tầng giữa và tầng trên.
Thay đổi nhiệt độ còn là điều kiện phát sinh của nhiều loài dịch bệnh xảy ra. Dịch bệnh xảy
ra và lan truyền rất nhanh và rộng, nên mức độ rủi ro rất lớn. Mực nước biển, nhiệt độ nước biển,
độ mặn, tốc độ và hướng gió, bề dày của lớp trầm tích sẽ ảnh hưởng lớn tới sinh vật sống trong đó,
ảnh hưởng đến nơi sinh sống, khả năng cung cấp thức ăn cho cá.
Xói lở bờ biển và nguy cơ ngập chìm vùng đất thấp ven bờ là một đe dọa nguy hiểm. Theo
kịch bản dâng cao mực nước biển Việt Nam [5], đến 2050 nước biển sẽ dâng cao thêm 33 cm, theo
quy luật động lực sóng, chiều rộng bãi biển cát bị xói lở sẽ là 330 m- 3300 m, nơi tập trung cơ sở
hạ tầng du lịch và nghề nuôi trồng và chế biến thủy sản, nơi cư trú của hàng vạn hộ gia đình sẽ bị
sóng phá hủy. Tình trạng còn có thể nguy hiểm hơn nếu mực nước biển dâng cao thêm 1,0 m theo
dự báo của các nhà khoa học Anh.
1.1.3.4. Đối với tài nguyên rừng và hệ sinh thái tự nhiên
BĐKH với sự tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa và nước biển dâng ảnh hưởng đến thảm
thực vật rừng và hệ sinh thái rừng theo nhiều chiều hướng khác nhau. Phân bố ranh giới các kiểu
rừng nguyên sinh cũng như rừng thứ sinh có thể dịch chuyển. Sinh thái bị nhiễu loạn dẫn đến nguồn
lợi đa dạng sinh học bị cắt giảm, điều này sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của một số
đông dân chúng dựa chủ yếu vào nông nghiệp và nguồn lợi tự nhiên.
Do BĐKH, hệ sinh thái rừng bị ảnh hưởng theo các chiều hướng khác nhau: Nước biển dâng
lên làm giảm diện tích rừng ngập mặn hiện có, tác động xấu đến rừng tràm và rừng trồng trên đất bị
nhiễm phèn ở các tỉnh Nam Bộ. Nhiệt độ cao kết hợp với ánh sáng dồi dào thúc đẩy quá trình quang
hợp dẫn đến tăng cường quá trình đồng hoá của cây xanh. Tuy vậy, chỉ số tăng trưởng sinh khối của
cây rừng có thể giảm do độ ẩm giảm. Nguy cơ tiệt chủng của động vật và thực vật gia tăng, một số
loài động, thực vật quý hiếm có thể bị suy kiệt. Nhiệt độ và mức độ khô hạn gia tăng làm tăng nguy
cơ cháy rừng, phát triển sâu bệnh, dịch bệnh…
Các khu sinh thái trống rỗng hoặc kiệt quệ do BĐKH, tạo tiền đề cho các loài ngoại lai có
khả năng thích nghi tốt hơn xâm nhập.Trong số đó, có thể có những loài cây trồng hay vật nuôi biến
đổi gen (GMO) chưa được kiểm định về tính an toàn sinh học, được người dân hay các công ty
giống vật nuôi cây trồng nhập vào mà cơ quan kiểm dịch động thực vật khó bề kiểm soát hết.
BĐKH đang ngày càng tác động đến các hệ sinh thái biển, làm giảm nguồn lợi cá biển. Hiện tượng
san hô chết hàng loạt trong những năm qua do một số nguyên nhân trong đó có nguyên nhân do
nhiệt độ ở các vùng biển đã tăng lên
Đa dạng sinh học là cơ sở quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của các quốc gia.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trước sự tác động của BĐKH toàn cầu, ĐDSH đã và đang bị
ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng. Theo Báo cáo triển vọng Môi trường toàn cầu của Liên Hợp
Quốc 2007, thì BĐKH đang gây ra tình trạng suy thoái môi trường trên phạm vi toàn cầu, đòi hỏi
thế giới phải hành động nhanh chóng hơn bao giờ hết. Đối với Việt Nam - một trong những nước
được dự báo sẽ bị ảnh hưởng nặng nề của BĐKH thì có lẽ vấn đề bảo vệ ĐDSH cần phải được quan
tâm triệt để.
Trong thiên nhiên, ÐDSH, nhất là các hệ sinh thái rừng nhiệt đới là nơi chủ yếu tích luỹ trở
lại nguồn khí COR2 Rphát thải ra, để tạo thành chất hữu cơ. Trong khi đó, chúng ta lại đã và đang chặt
phá rừng để phát triển nông nghiệp, mở rộng chăn nuôi, xây dựng nhà cửa, đô thị. Sự tàn phá rừng,
không những gây mất cân bằng sinh thái ở nước ta mà còn làm giảm khả năng hấp thụ CO R2 R và gián
tiếp làm tăng thêm lượng khí CO R2 R phát thải vào khí quyển, góp phần làm cho BÐKH toàn cầu tăng
nhanh. Như vậy, sự giảm sút ÐDSH, nhất là giảm sút diện tích rừng đã thúc đẩy sự gia tăng BÐKH
toàn cầu, nhưng ngược lại sự nóng lên toàn cầu cũng đã ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển
của các loài sinh vật và ÐDSH.
Ngoài những tư liệu về sự thay đổi nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển, Báo cáo của
Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH của Liên hợp quốc (IPCC) đã trình bày những kết quả nghiên cứu
tại sao nhiệt độ Trái Đất thay đổi đã ảnh hưởng đến khí hậu, các đặc điểm vật lý và diễn thế các đặc
PC
o Báo cáo cũng đã đưa ra kết luận là nhiệt độ Trái Đất trong thế kỷ XX đã tăng lên trung bình 0,7P
điểm đó của Trái Đất, đến nơi sống của các loài sinh vật và đến sự phát triển kinh tế của chúng ta.
làm cho nhiều vùng băng hà, diện tích phủ tuyết, vùng băng vĩnh cửu đã bị tan chảy, dẫn đến mực
nước biển dâng lên. Nhiều dấu hiệu đã cho thấy tác động của BĐKH đang ảnh hưởng ngày một sâu,
rộng đến các hệ sinh thái. Vùng phân bố của các loài đó thay đổi: nhiều loài cây, côn trùng, chim và
cá đã chuyển dịch lên phía Bắc và lên các vùng cao hơn; nhiều loài thực vật nở hoa sớm hơn, nhiều
loài chim đã bắt đầu mùa di cư sớm hơn, nhiều loài động vật đã vào mùa sinh sản sớm hơn, nhiều
loài côn trùng đã xuất hiện sớm hơn ở Bắc bán cầu, san hô bị chết trắng ngày càng nhiều. Như vậy,
các loài sinh vật muốn phát triển một cách bình thường cần phải có một môi trường sống phù hợp,
tương đối ổn định về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, đất đai, thức ăn, nguồn nước... và cộng đồng các
loài sinh vật trong nơi sống đó. Chỉ một trong những nhân tố của môi trường sống bị biến đổi, sự
phát triển của một loài sinh vật nào đó sẽ bị ảnh hưởng, thậm chí có thể bị diệt vong, tùy thuộc vào
mức độ biến đổi nhiều hay ít.
o o Đất sẽ tăng thêm từ 1,8P P C vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăng thêm 5 - 10%, băng ở hai P C đến 6,4P
Theo dự báo, nếu không có biện pháp hữu hiệu để giảm bớt lượng khí nhà kính, nhiệt độ Trái
cực và trên các núi cao sẽ tan chảy nhiều hơn, mực nước biển sẽ dâng lên khoảng 70 - 100 cm và tất
nhiên nhiều hiện tượng khí hậu cực đoan theo đó sẽ diễn ra với mức độ khó lường trước được cả về
tần số và mức độ. Nước biển dâng sẽ gây nên xói mòn bờ biển, ngập lụt vùng ven bờ, làm suy thoái
đất ngập nước, nước mặn xâm nhập, giết chết các loài thực vật, động vật nước ngọt. Tại những vùng
mà BÐKH làm tăng cường độ mưa, thì nước mưa sẽ làm tăng xói mòn đất, lũ lụt, sụt lở đất đá và có
thể gây ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng của các thuỷ vực, làm ô nhiễm nguồn nước. Tất cả
những hiện tượng đó đều ảnh hưởng đến các loài sinh vật và tài nguyên sinh vật, làm cho nhiều hệ
sinh thái bị suy thoái, gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế và xã hội, nhất là tại các nước nghèo
mà cuộc sống đa số người dân còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.
Hai vùng đồng bằng lớn và đồng bằng ven biển nước ta, trong đó có rừng ngập mặn và hệ
thống đất ngập nước rất giàu có về các loài sinh vật, là những hệ sinh thái rất nhạy cảm, dễ bị tổn
thương. Mực nước biển dâng lên cùng với cường độ của bão tố sẽ làm thay đổi thành phần của trầm
tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nước, làm suy thoái và đe dọa sự sống còn của rừng ngập mặn
và các loài sinh vật đa dạng trong đó. Khi mực nước biển dâng cao, khoảng một nửa trong số 68 khu
đất ngập nước có tầm quan trọng quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng; nước mặn sẽ xâm nhập sâu vào nội
địa, giết chết nhiều loài động, thực vật nước ngọt, ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt cho sinh hoạt và
hệ thống trồng trọt của nhiều vùng. 36 khu bảo tồn, trong đó có 8 vườn quốc gia, 11 khu dự trữ
thiên nhiên sẽ nằm trong khu vực bị ngập.
Hệ sinh thái biển sẽ bị tổn thương. Các rạn san hô là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật
biển quan trọng, là lá chắn chống xói mòn bờ biển và bảo vệ rừng ngập mặn sẽ bị suy thoái do nhiệt
độ nước biển tăng, đồng thời mưa nhiều làm cho nước bị ô nhiễm phù sa và có thể cả các hoá chất
nông nghiệp từ cửa sông đổ ra. Nhiệt độ tăng làm nguồn thủy, hải sản bị phân tán. Các loài cá nhiệt
đới (kém giá trị kinh tế trừ cá ngừ) tăng lên, các loài cá cận nhiệt đới giá trị kinh tế cao giảm.
Các thay đổi diễn ra trong các hệ thống vật lý, hệ sinh học và hệ thống kinh tế xã hội, đe dọa
sự phát triển, đe dọa cuộc sống của tất cả các loài, các hệ sinh thái. BĐKH, với các hệ quả của nó
như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, xói mòn và sụt lở đất sẽ thúc đẩy cho sự suy thoái ÐDSH nhanh hơn,
trầm trọng hơn, nhất là những hệ sinh thái rừng nhiệt đới không còn nguyên vẹn và một số loài
đang nguy cấp với số
lượng cá thể ít, cũng vì thế mà sẽ tăng nguy cơ diệt chủng của động thực vật, làm biến mất các
nguồn gen quí hiếm, bệnh dịch mới có thể phát sinh [24]
Ngoài ra BĐKH còn tác động đến các lĩnh vực khác: năng lượng, giao thông vận tải, công
nghiệp- xây dựng, văn hoá, thể thao, du lịch, thương mại và dịch vụ
Hình 1.1: Tác động giữa BĐKH và suy giảm tài nguyên tự nhiên, kinh tế - xã hội.
Hình 1.2. Chuỗi dây chuyền tác động của hiện tượng BĐKH – nước biển dâng lên hệ sinh thái,
sản xuất và đời sống
1.2. Cơ sở thực tiễn:
1.2.1. BĐKH trên thế giới
Ảnh hưởng đầu tiên của BĐKH là tác động lên hầu hết các thành phần môi trường mà trước
hết là làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng cao, mực nước biển dâng.
Sau nhiều năm bị phủ nhận vì áp lực của các kỹ nghệ khai thác nhiên liệu hóa thạch (than và
dầu hỏa), BĐKH đã trở thành một vấn đề "nóng" hiện nay của thế giới, ngày càng hiện rõ tính cấp
bách và được công nhận như một thực tế đe doạ sự tồn tại của loài người trên Trái đất. Những công
trình nghiên cứu trong suốt 20 năm của Nhóm chuyên gia liên chính phủ về BĐKH
(Intergovernmental Panel on Climate Change – IPCC), thuộc Tổ chức Khí tượng Thế giới (World
Meterological Organization – WMO), đã góp phần quan trọng làm thức tỉnh dư luận thế giới trước
hiện thực và các hệ quả của vấn đề này, và do đó đã được tôn vinh với giải Nobel hoà bình trao cho
IPCC năm 2007 [21]. .
Khí hậu biến đổi do Trái Đất bị hâm nóng vì hiệu ứng nhà kính tăng quá mức quân bình tự
nhiên khiến các sông băng trên các núi cao và nhất là vùng quanh năm băng giá ở Bắc và Nam Cực
tan dần, làm mặt biển dâng cao hơn, tới lúc nào đó sẽ ngập chìm và xoá khỏi bản đồ những hòn đảo
và những vùng đất thấp của một số nước. Ngoài ra, thời tiết cũng bị biến loạn, thiên tai xảy ra
thường xuyên hơn và với cường độ cao hơn, lụt lội và hạn hán kéo dài hơn, như thực tế một số
nước đã cho thấy. Do BĐKH, đất đai còn bị huỷ hoại vì sa mạc hoá, mặn hoá, xói mòn, ngập chìm
- tất cả những triệu chứng này đã bắt đầu hiện rõ - với viễn tượng rất đáng sợ của một hiện tượng
"tị nạn môi trường" với những luồng di dân khổng lồ, làm căng thẳng quan hệ giữa các nước.
Bên cạnh những nguy cơ của mưa gió trái mùa, thiên tai gây tác hại mùa màng, gây đói kém,
việc mặt biển dâng cao là một mối lo âu lớn, vì trong nhiều nước, những vùng ven biển bị đe doạ
trực tiếp thường là nơi tập trung đông đảo dân chúng và là những vùng kinh tế, văn hoá quan trọng.
1.2.2. BĐKH ở Việt Nam [3]
1.2.2.1. Thực trạng BĐKH ở Việt Nam
Theo số liệu quan trắc, biến đổi của các yếu tố khí hậu ở Việt Nam có những điểm đáng lưu
ý sau :
0 tăng lên 0,7P
PC. Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961-2000) cao hơn trung bình năm
- Nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1951-2000), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam đã
của 3 thập kỷ trước đó (1931-1960). Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991-2000 ở Hà Nội, Đà
Nẵng, TP.Hồ Chí Minh đều cao hơn nhiệt độ trung bình của thập kỷ 1931-1940 lần lượt là 0,8 ; 0,4
0 và 0,6 P
PC. Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ
0 1931-1940 là 0,8 – 1,3P
0 PC. PC và cao hơn thập kỷ 1991-2000 là 0,4 -0,5P
- Lượng mưa: Trên từng địa điểm thì xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình năm trong 9
thập kỷ qua (1911-2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau, có giai đoạn tăng
lên và có giai đoạn giảm xuống.
- Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các trạm Cửa Ông và
Hòn Dấu, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20cm phù hợp với xu thế chung của toàn
cầu.
- Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ gần đây
(cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI). Năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15-16 đợt không khí lạnh bằng
56 % trung bình nhiều năm, trong đó có 6/7 trường hợp có số đợt không khí lạnh trong mỗi tháng
mùa đông (XI-III) thấp dị thường (3/1990, 1/1993, 2/1994, 12/1994, 2/1997 và 11/1997). Một biểu
hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh BĐKH toàn cầu là đợt không khí lạnh gây rét
đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông
nghiệp.
- Bão: Trong những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quỹ đạo bão dịch
chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo di
chuyển dị thường hơn.
- Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ 1981-1990 và chỉ còn
gần một nửa (khoảng 15 ngày/năm) trong10 năm gần đây.
0 PC vào năm 2100. Nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3P
1.2.2.2. Nhận định xu thế BĐKH ở Việt Nam [3]
Lượng mưa có xu thế biến đổi không đồng đều giữa các vùng, có thể tăng từ 0 đến 10% vào
mùa mưa và giảm từ 0 đến 5% vào mùa khô. Tính biến động của mưa tăng lên.
Mực nước biển trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam có thể dâng lên 1m vào năm 2100.
1.2.2.3. Nhận định về tác động tiềm tàng của BĐKH ở Việt Nam [3]
Việt Nam đang đối mặt với nhiều tác động của BĐKH bao gồm tác động đến cuộc sống,
sinh kế, tài nguyên thiên nhiên, cấu trúc xã hội, hạ tầng kỹ thuật và nền kinh tế. Việt Nam được
đánh giá là một trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH và mực nước biển dâng. Để
ứng phó với BĐKH cần phải có những đầu tư thích đáng và nỗ lực của toàn xã hội.
Các số liệu và phân tích cho thấy BĐKH có những tác động tiềm tàng đến những lĩnh vực,
các địa phương và các cộng đồng khác nhau của Việt Nam. BĐKH làm tăng khả năng bị tổn
thương và tạo nguy cơ làm chậm hoặc đảo ngược quá trình phát triển. Những người nghèo nhất,
thường tập trung ở các vùng nông thôn, đặc biệt ở dải ven biển và các khu vực miền núi là đối
tượng chịu nguy cơ tổn thương lớn nhất do BĐKH.
Khả năng tổn thương cần được đánh giá đối với từng lĩnh vực, khu vực và cộng đồng, cả hiện
tại và tương lai. Khả năng tổn thương do BĐKH (bao gồm cả biến động khí hậu, nước biển dâng và
hiện tượng khí hậu cực đoan) đối với một hệ thống phụ thuộc vào tính chất, độ lớn, mức độ biến
động khí hậu và những áp lực do BĐKH mà hệ thống đó phải hứng chịu, tính nhạy cảm cũng như
năng lực thích ứng của hệ thống đó. Năng lực thích ứng của một hệ thống phụ thuộc vào đặc điểm
tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường của hệ thống đó. Tác động tổng hợp của BĐKH đối với hệ
thống càng lớn và năng lực thích ứng của hệ thống càng nhỏ thì khả năng tổn thương càng lớn.
Ở Việt Nam, những lĩnh vực/đối tượng được đánh giá là dễ bị tổn thương do BĐKH bao
gồm : nông nghiệp và an ninh lương thực, tài nguyên nước, sức khoẻ, nơi cư trú, nhất là ven biển và
miền núi
Các khu vực dễ bị tổn thương bao gồm dải ven biển (kể cả những đồng bằng, đặc biệt là
những vùng hàng năm thường chịu ảnh hưởng của bão, nước dâng do bão, lũ lụt), vùng núi, nhất là
những nơi thường xảy ra lũ quét, sạt lở đất
Có thể nói, về mặt tiêu cực, BĐKH làm tăng tính ác liệt của thiên tai, cả về cường độ lẫn tần
suất.
Các cộng đồng dễ bị tổn thương bao gồm : nông dân, ngư dân (nhất là ở những khu vực dễ bị
tổn thương), các dân tộc thiểu số ở miền núi, người già, phụ nữ, trẻ em và các tầng lớp nghèo nhất ở
các đô thị là những đối tượng ít có cơ hội lựa chọn
Kết luận chương 1
BĐKH là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất mà nền văn minh nhân loại từng đối mặt từ
trước đến nay
BĐKH đang gây ra tình trạng suy thoái môi trường trên phạm vi toàn cầu, đòi hỏi thế giới
phải hành động nhanh chóng hơn bao giờ hết, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là thế giới cần phải
hành động ngay chứ không thể chần chừ thêm nữa
BĐKH là một vấn đề phức hợp, vừa mang tính cấp bách trước mắt, vừa mang tính lâu dài,
tác động tới tất cả các lĩnh vực, từ tự nhiên đến kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn cầu. BĐKH, thực
chất là một vấn đề liên quan đến sự phát triển bền vững. Vì vậy, việc tìm hiểu các tác động và đề ra
các giải pháp ứng phó với BĐKH cần phải được tiến hành trong một Chương trình/Kế hoạch quốc
gia thống nhất và trong sự hợp tác chặt chẽ với cộng đồng quốc tế, để cùng bảo vệ ngôi nhà chung
của chúng ta.
Chương 2. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BĐKH VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan tài liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan đến BĐKH:
Để cung cấp một cái nhìn tổng thể về vấn đề được nghiên cứu, chúng tôi sẽ trình bày tóm tắt
một số khảo sát, bài báo, sách, tư liệu có liên quan.
BĐKH tác động nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, đe dọa cuộc sống toàn thể nhân loại
và mọi sự sống trên hành tinh. Đây là vấn đề được nước ta và các nước trên thế giới đặc biệt quan
tâm.
Trước những hiểm hoạ và thách thức đó, năm 1992 Công ước khung của Liên hiệp quốc về
BĐKH (UNFCCC)[24] đã được ký kết và có hiệu lực từ năm 1994. Mục tiêu của công ước là ổn
định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm
của con người đối với hệ thống khí hậu.
Nghị định thư Kyoto là một nghị định liên quan đến Chương trình khung về vấn đề BĐKH
Liên Hiệp Quốc với mục tiêu cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Công ước được thông
qua tại Hội nghị lần thứ 3 các bên tham gia Công ước, tổ chức tại Kyoto, Nhật Bản tháng 12 năm
1997.
Năm 2005, lần đầu tiên Chính phủ Anh đã thực hiện đánh giá một cách toàn diện các tác
động về mặt kinh tế của BĐKH. Báo cáo do nhà kinh tế lỗi lạc Lord Nicholas Stern làm trưởng
nhóm. Báo cáo Stern đã đưa ra kết quả phân tích sâu sắc và chi tiết về chi phí và các rủi ro của
BĐKH cũng như của việc giảm phát thải khí nhà kính đối với nền kinh tế toàn cầu. Báo các Stern
[35] đã nhấn mạnh rằng thông qua việc đầu tư tốt hơn cho công tác phòng, tránh, giảm nhẹ thiên
tai, cả về tài chính và đời sống, sẽ đem lại lợi ích về lâu dài.
Năm 2007, Nghiên cứu đánh giá do Giáo sư Garnaut, nhà khoa học hàng đầu của Australia
chủ trì và thực hiện trong khoảng 12 tháng. Nghiên cứu nhằm đánh giá các tác động của BĐKH đối
với nền kinh tế Australia và đề xuất chính sách trung và dài hạn cho sự phát triển bền vững. Đây là
nghiên cứu đánh giá toàn diện và chi tiết nhất về BĐKH ở Australia
Việt Nam đã phê chuẩn UNFCCC[24] tháng 11 năm 1994 và phê chuẩn Nghị định thư
Kyoto tháng 9 năm 2002. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đánh giá và hội thảo khoa học đã được
thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đối với Việt Nam và xác định mục tiêu quốc gia về
đối phó với BĐKH, xác định các biện pháp, chiến lược đối phó với BĐKH.
Hiện nay vẫn cần nhiều nghiên cứu hơn để phân tích tác động của BĐKH đối với các vùng
cụ thể và để xác định các vùng nào sẽ chịu tác động lớn nhất từ BĐKH. Tiến hành các nghiên cứu
khoa học một cách cẩn thận về BĐKH trước khi hoạch định chính sách sẽ giúp tiết kiệm thời gian
ngân sách cho việc phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai, phục vụ mục tiêu phát triển lâu dài và bền
vững.
Một số phác thảo kịch bản BĐKH ở Việt Nam đã được công bố tại Hội thảo BĐKH toàn cầu
và giải pháp ứng phó của Việt Nam tại Hà Nôi tháng 2/2008, được trình bày tóm tắt dưới đây.
Bảng 2.1. Thông báo Quốc gia về BĐKH ở Việt Nam (so với năm 1990)
Mực nước biển tăng thêm Năm (cm) Nhiệt độ tăng thêm 0 PC) ( P
0,3-0,5 9 2010
1,1-1,8 33 2050
1,5-2,5 45 2100
Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu, 2008. [5]
Bảng 2.2. Kịch bản BĐKH các vùng của Việt Nam
0 (nhiệt độ tăng thêm P
PC so với năm 1990)
Năm Tây Bắc Đông Bắc Tây nguyên Nam Bộ Đồng bằng Bắc Bộ Bắc Trung Bộ Nam Trung Bộ
2050 1,41 1,66 1,44 1,68 1,13 1,01 1,21
2100 3,49 4,38 3,71 3,88 2,77 2,39 2,80
Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu, 2008.[5]
Bảng 2.3. Kịch bản nước biển dâng ở Việt Nam so với năm 1990
Kịch bản / năm 2050 2100
A1F1 13,7 39,7
A2 12,5 33,1
A1B 13,3 31,5
B2 12,8 28,8
A1T 12,7 27,9
B1 13,4 26,9
Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu, 2008 [5]
0 PC, mực nước biển dâng cao thêm 37cm chưa tính đến sự tan băng mà chỉ tính đến sự dãn nở 2,8P
Tính trung bình của cả sáu kịch bản thì đến cuối thế kỷ XXI nhiệt đô có khả năng tăng thêm
nước đại dương. IPCC cũng dự báo rằng cuối thế kỷ 21 mực nước biển có thể tăng thêm tối đa 81
cm. Tuy nhiên các nhà khoa học Anh cho rằng con số đó chưa phản ánh đúng, nước biển cuối thế kỷ
21 có thể tăng thêm đến 163 cm, tức là gấp đôi số liệu dự báo của IPCC.
Xu thế chung của BĐKH ở Việt Nam:
- Nhiệt độ ở các vùng phía Bắc tăng nhanh hơn các vùng phía Nam
0 - Đến cuối thế kỷ 21 nhiệt độ có thể tăng thêm từ 4,0 đến 4,5P
PC theo kịch bản cao nhất và 2,0
PC theo kịch bản thấp nhất
0 đến 2,2P
- Nhiệt độ ở các vùng ven biển tăng chậm hơn các vùng sâu hơn trong lục địa
- Biên độ dâng cao mực nước biển ở nước ta là khá lớn theo tất cả các kịch bản, mặc dù vậy
vẫn chỉ là tương đương hoặc thấp hơn chút ít so với dự báo của IPCC năm 2007
- BĐKH kéo theo hiện tượng El Nino, làm giảm đến 20-25% lượng mưa ở khu vực miền
Trung - Tây Nguyên, gây ra hạn hán không chỉ phổ biến và kéo dài mà thậm chí còn gây khô hạn
thời đoạn ngay trong thời gian El Nino. Tác động này ở Nam Trung Bộ lớn hơn Bắc Trung Bộ, Bắc
Tây Nguyên lớn hơn Nam Tây Nguyên.[5]
2.2. Tổng quan tài liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan đến BĐKH ở ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do
nước biển dâng. Hai đồng bằng còn lại là đồng bằng sông Nile (Ai Cập) và đồng bằng sông Hằng
(Bangladesh).[33]
Dựa trên các kết quả điều tra cơ bản, ĐBSCL gồm có 3 tiểu vùng: tiểu vùng mà quá trình
sông chiếm ưu thế (A); tiểu vùng mà quá trình biển chiếm ưu thế là (C); tiểu vùng vừa chịu ảnh
hưởng của sông vừa chịu ảnh hưởng của biển là (B). Có thể dự báo định tính tác động của mực
nước biển dâng lên ba tiểu vùng như sau:
2.2.1. Tiểu vùng (A) nơi chịu ảnh hưởng nguồn chiếm ưu thế :
Đó là các tỉnh giáp biên giới Cam-pu-chia, là nơi hai nhánh sông Mêkông và sông Bassac đi
vào lãnh thổ Việt Nam và lũ sông Mêkông tràn bờ và tràn đồng vào khu vực ĐBSCL. Tiểu vùng
này chịu tác động về môi trường tự nhiên của mực biển dâng nhưng không mạnh như hai tiểu vùng
B và C. Do quá trình biển mạnh lên do biển dâng, ranh giới của tiểu vùng sẽ lùi dần về phía nguồn,
độ sâu ngập vào mùa lũ sẽ sâu hơn và thời gian ngập cũng kéo dài hơn. Quá trình bồi lở bờ sông,
cồn bãi hoạt động mạnh hơn.
Về mặt kinh tế - xã hội, khu vực I của nền kinh tế bị biến động nhưng việc khắc phục không
quá khó vì chủ yếu vẫn còn là các hệ canh tác nước ngọt. Cơ cấu mùa vụ, hệ thống canh tác có thể
xảy ra tại một số địa bàn và sự điều chỉnh các công trình thuỷ lợi ở những địa bàn này là cần thiết.
Khu vực II và khu vực III có thể nhận phần dịch chuyển đầu tư và phát triển đô thị từ hai vùng B và
C. Mật độ dân số và quá trình đô thị hoá chịu tác động từ sự dịch chuyển một phần dân cư, lao động
và các cơ sở kinh tế của hai vùng B và C.
2.2.2. Tiểu vùng (C) nơi ảnh hưởng biển chiếm ưu thế
Đây là vùng duyên hải của các tỉnh giáp với biển Đông và vịnh Thái Lan. Tiểu vùng này chịu
tác động về môi trường tự nhiên của mực nước biển dâng trực tiếp nhất. Hệ sinh thái bãi triều và
rừng ngập mặn qua gánh chịu các tác động sẽ thể hiện vai trò ‘‘đệm’’ giảm sóng, phòng hộ và giữ
đất. Tình hình xói lở đường bờ sẽ mạnh hơn, tình hình bồi lắng ở các cửa sông sẽ thay đổi. Đường
ranh giới với tiểu vùng (B) sẽ bị dịch chuyển lên về phía nguồn, quy hoạch thuỷ lợi đê bao ven biển
cần phải tính toán lại với những tham số mới của phân vùng thuỷ văn thuỷ lực trong tiểu vùng.
Về mặt kinh tế - xã hội, khu vực I tại đây đã thích ứng từ trước với điều kiện ngập theo triều
và nhiễm mặn hầu như quanh năm, sẽ thay đổi theo hướng kinh tế nước mặn là chính. Vùng sản
xuất lúa sẽ bị co lai. Khu vực II, khu vực III và đời sống, sinh hoạt của người dân sẽ khó khăn hơn
do độ ngập tăng và khan hiếm nguồn nước ngọt. Nguồn nước ngọt tại đây chỉ trông chờ vào nước
mưa và nước ngầm. Đầu tư cho cơ sở hạ tầng để tôn cao và bảo vệ công trình sẽ tốn kém không ít.
Vì những lí do đó, một bộ phận dân cư có thể sẽ dịch chuyển ra ngoài tiểu vùng. Vấn đề lớn nhất
của tiểu vùng là bảo vệ các thành quả của lao động quá khứ.
2.2.3. Tiểu vùng chịu ảnh hưởng hỗn hợp biển và nguồn (B).
Đây là địa bàn thể hiện rõ rệt nhất sự giao thoa giữa hai quá trình sông và biển, với quá trình
biển mạnh lên. Tiểu vùng chịu sự tác động về môi trường tự nhiên mạnh dần theo hướng từ nguồn
ra biển. Diện tích của tiểu vùng bị thu hẹp lại. Ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội ở tiểu vùng này rất to
lớn do đây là vùng tập trung dân cư đô thị, có nhiều cơ sở kinh tế quan trọng, mà sinh hoạt và các
hoạt động kinh tế - xã hội cho tới nay đều dựa vào nguồn nước ngọt dồi dào hầu như quanh năm.
Đối với khu vực I, ở nột số địa bàn giáp với tiểu vùng (C), các hệ thống canh tác trên nền
nước ngọt như canh tác lúa, vườn cây ăn trái bị tác động về mặt năng suất, về diện tích canh tác ;
chăn nuôi gia súc gia cầm giảm mạnh ; diện tích nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt bị thu hẹp do bị
nước lợ và mặn lấn lên.
Khu vực II, khu vực III, đô thị và dân cư bị ảnh hưởng và có thể bị xáo trộn khá nhiều. Một
bộ phận sẽ dịch chuyển về tiểu vùng A hoặc ra ngoài vùng do thiếu nguồn nước ngọt, do ngập lụt
hoặc do xây dựng kết cấu hạ tầng cấp nước ngọt và chống ngập quá tốn kém. Cũng vì những lý do
này, sức thu hút đầu tư đã khó sẽ càng khó.
Nhìn tổng thể, kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ chịu sự tác động trên các
mặt :
Biến động trong sản xuất : Nếu không có giống mới chịu được mặn, kinh tế lúa và kinh tế
vườn sẽ giảm sút ; kinh tế biển sẽ tăng trưởng nhanh nhưng chưa chắc sẽ bù đắp lại hai sự sụt giảm
trên ; đầu tư trong lĩnh vực công thương nghiệp càng khó thu hút hơn.
Xây dựng kết cấu hạ tầng đã tốn kém càng tốn kém hơn.
Biến động về phân bố dân cư, đô thị và các trung tâm, cơ sở kinh tế sẽ diễn ra sự dịch chuyển
trong nội vùng và ra ngoài vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Những biến động về môi trường tự nhiên và về kinh tế - xã hội nêu lên trên đây sẽ ảnh hưởng
đến sự phát triển bền vững của Đồng bằng sông Cửu Long nếu không kịp thời có sự ứng phó thích
hợp. Cuộc sống của hàng chục triệu người dân sẽ gặp nhiều xáo trộn lớn ; Vai trò vựa lúa cả nước,
nguồn đóng góp quan trọng cho tổng kim ngạch xuất khẩu và ngân sách nhà nước mà Đồng bằng
sông Cửu Long đang đảm nhiệm sẽ chịu thách thức nghiêm trọng ; Nhiều khía cạnh về an ninh quốc
phòng sẽ được đặt ra, trước tiên là an ninh lương thực cho cả nước.
Nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế có uy tín đã xếp Việt Nam, đặc biệt là vùng
Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong nhóm quốc gia có nguy cơ tổn thương cao do tác động của
hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Năm 2009, Trung tâm START[20] vùng Đông Nam Á (Đại học Chulalongkorn, Thái Lan)
và Viện Nghiên cứu BĐKH – Đại học Cần Thơ đã phối hợp chạy mô hình khí hậu vùng PRECIS
với kịch bản A2 và B2, dựa vào chuỗi số liệu khí hậu giai đoạn 1980-2000 để phỏng đoán giai đoạn
2030-2040. Kết quả mô hình cho thấy nhiều khu vực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị các
0 - Nhiệt độ cao nhất trung bình trong mùa khô sẽ gia tăng từ 33 - 35P
0 PC lên 35 - 37P
PC
tác động sau:
- Lượng mưa đầu vụ Hè Thu (15/4 – 15/5) sẽ giảm chừng 10-20%
- Sự phân bố mưa tháng sẽ có khuynh hướng giảm vào đầu và giữa vụ Hè Thu nhưng gia
tăng một ít vào cuối mùa mưa.
- Tổng lượng mưa hàng năm sẽ giảm, đồng thời thời kỳ bắt đầu mùa mưa sẽ trễ hơn khoảng 2
tuần lễ.
- Xu thế lũ trong giai đoạn 2030 – 2040 sẽ khác đi so với hiện nay: diện tích bị ngập sẽ mở
rộng.
- Tình hình nhiệt độ gia tăng, mưa giảm, diện tích lũ mở rộng và mực nước biển dâng cao sẽ
tác động rất lớn đến hệ sinh thái và sản xuất nông nghiệp cũng như tạo ra các vấn đề khó khăn cho
sự phát triển kinh tế - xã hội khu vực.
0 - Nhiệt độ toàn cầu gia tăng 1P
0 PC trong giai đoạn 2010-2040 và 3 - 4P
PC trong giai đoạn 2070 –
Kết quả này tương đối phù hợp với mô hình của IPCC (2007) cho thấy:
2100.
- Lượng mưa trung bình trên thế giới sẽ giảm 20mm trong giai đoạn 2010-2040 nhưng gia
tăng 60mm trong giai đoạn 2070-2100.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa lớn nhất cả nước, không chỉ đáp ứng nhu cầu
lương thực cho thị trường và chiến lược an ninh lương thực trong nước mà còn góp phần đáng kể
vào kim ngạch xuất khẩu, đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu, đưa Việt Nam trở thành nước xuất
khẩu gạo nhất nhì thế giới.
Theo đánh giá của các chuyên gia khí tượng thủy văn, ĐBSCL sẽ là khu vực chịu tác hại
nặng nề nhất do BĐKH gây ra. Những năm gần đây, vào các tháng mùa khô, hầu hết các tỉnh
ĐBSCL đều bị nước mặn xâm nhập, gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất nông nghiệp, nhiều địa
phương rơi vào tình trạng thiếu nước ngọt sinh hoạt trầm trọng. Theo dự đoán của Chương trình
Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP)[23], tác động của BĐKH sẽ gây thiệt hại khoảng 17.000 tỷ
đồng/năm cho nước ta, đồng thời khiến 17 triệu người đứng trước nguy cơ không còn nhà cửa.
Trước đây, ĐBSCL ít gặp bão [33],[45]. Năm 1997, bão Linda đi qua khu vực này và năm
2006, đuôi bão Durian quét qua, gây thiệt hại nặng nề về người và của. Đáng lo ngại hơn, theo dự
báo của các chuyên gia, nếu mực nước biển dâng lên cao hơn so với hiện nay, hậu quả của các cơn
bão gây ra cho ĐBSCL còn khốc liệt hơn nhiều. TS. Nguyễn Hữu Chiếm, Khoa Môi trường và Tài
nguyên thiên nhiên (Trường Đại học Cần Thơ) khẳng định: “ĐBSCL đang chịu ảnh hưởng nặng nề
bởi BĐKH toàn cầu. Hiện đất đai của vùng đang bị bạc màu và đa dạng sinh học giảm mạnh; diện
tích đất bị xâm nhập mặn, khô hạn, nhiễm phèn ngày càng tăng cao. Toàn vùng ĐBSCL có khoảng
2,1 triệu hecta đất bị nhiễm mặn và 1,6 triệu hecta đất nhiễm phèn, khô hạn. Bên cạnh đó, nhiệt độ
không khí tăng cao cộng với tình trạng hạn hán bất thường, lũ lụt không theo quy luật khiến nhiều
loại dịch bệnh mới hình thành, gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất nông nghiệp”.Chỉ tính riêng các
đợt triều cường từ cuối năm 2008 đến đầu năm 2009, vùng ngoài đê bao của An Giang, Kiên Giang,
Hậu Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ đều bị ngập; nước sông dâng
cao khiến khoảng 70.000ha vườn cây ăn trái, hàng trăm kilômét đường nông thôn bị ngập sâu...
Đáng báo động là tình trạng ngập lụt không chỉ xảy ra vào mùa mưa mà còn diễn biến bất thường
trong mùa khô. Theo thông tin từ Viện Khoa học thủy lợi miền Nam, hiện nước mặn từ 6 cửa sông
thuộc hệ thống sông Mêkông đã xâm nhập sâu vào đất liền vùng ĐBSCL khoảng 70km. Tại Long
An, nước mặn từ Cửa Tiểu đã vào đến xã Thủy Tây (huyện Thạnh Hóa); tại Bến Tre, nước mặn từ
Cửa Đại vào đến xã Phú Túc (huyện Châu Thành); ở Trà Vinh, nước mặn từ cửa Hàm Luông đã vào
đến xã Long Thới (huyện Tiểu Cần); trong khi đó ở Hậu Giang, nước mặn từ cửa Trần Đề đã vào
đến xã Phú Hữu. Trên địa bàn Cà Mau, nước mặn từ sông ông Đốc đã xâm nhập sâu 65km. Nước
mặn từ sông Cái Lớn cũng xâm nhập sâu 65km đến thị xã Vị Thanh (Hậu Giang).
Tháng 2/2010, triều cường dâng cao, xâm nhập mặn sâu tới 35-70km vào vùng ngọt ổn định,
làm ảnh hưởng nhiều diện tích lúa đông xuân đang trong giai đoạn làm đòng, trổ bông của khu vực
ĐBSCL. Tại tỉnh Bạc Liêu, xâm nhập mặn đã ảnh hưởng đến 20.000ha lúa của huyện Hồng Dân.
Tại Trà Vinh, độ mặn so với cùng kỳ năm trước đã tăng lên gần gấp đôi (0,35% lên 0,67%); Bến
Tre, độ mặn lên đến 0,4% và ở Cà Mau có nơi đo được là 3%. Khi nước bị nhiễm độ mặn 0,4% thì
không thể dùng cho sản xuất, nuôi trồng được.
Ông Phạm Đình Đôn, Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường khu vực Tây Nam Bộ cho
rằng, trong vài chục năm tới, khi nước biển dâng cao, ĐBSCL sẽ phải đối mặt với tình trạng xâm
nhập mặn và ngập lũ hạ lưu sông Mêkông với quy mô lớn. ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất cả nước và
có thế mạnh về nuôi trồng thủy sản nên 2 lĩnh vực này sẽ chịu tác động mạnh nhất khi quá trình xâm
nhập mặn làm thay đổi môi trường đất và nước. Hệ sinh thái rừng ngập mặn cũng sẽ chịu tác động
xấu khi chế độ nước ngập sâu bị thay đổi do nước biển dâng cao. Quá trình xâm nhập mặn ở mức độ
cao có thể hủy diệt thảm thực vật và tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng tràm ở Cà Mau,
Kiên Giang...
Tóm lại, BĐKH sẽ tác động lên toàn bộ hệ sinh thái vốn rất nhạy cảm của Trái Đất, gây tác
động qua lại liên quan đến sự suy giảm chất lượng tự nhiên, kinh tế và xã hội. Vấn đề này làm thay
đổi cán cân thực phẩm trong sinh quyển, làm mất tính đa dạng sinh học, đất và rừng bị suy kiệt.
ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng rất rõ rệt, có thể phỏng đoán trong tương lai. Các báo cáo nghiên cứu cho
thấy vùng ĐBSCL đang và sẽ chịu những tác động nghiêm trọng do hiện tượng BĐKH - nước biển
dâng lên toàn bộ hệ sinh thái, cơ cấu canh tác nông nghiệp, cơ sở hạ tầng và các hoạt động xã hội -
sinh kế - văn hóa…
2.3. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu [2],[11]
0 P35’-106P
0 P7’30’’ kinh độ đông và 10P
0 P07’-10P
P30’ độ vĩ bắc. Vị trí địa lý được xác định: Phía Bắc
0 106P
Huyện Gò Công Đông là một trong 10 huyện, thị, thành thuộc tỉnh Tiền Giang, nằm ở tọa độ
giáp tỉnh Long An, phía Nam giáp huyện Tân Phú Đông, phía Tây giáp thị xã Gò Công và huyện
Gò Công Tây, phía Đông giáp biển Đông.
Huyện Gò Công Đông có 13 đơn vị hành chính, có vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế biển của tỉnh và cả nước. Toàn bộ phía Đông của huyện tiếp giáp với 32km bờ biển với
02 cửa sông lớn là Cửa Tiểu và cửa Soài Rạp là các cửa ngõ thông ra biển Đông, là điều kiện thuận
lợi để giao lưu với tỉnh bạn và quốc tế.
Đồng thời đây là nơi hội tụ nguồn tài nguyên thủy sản dồi dào phong phú. Bên cạnh đó, biển
và bờ biển là hướng phòng thủ chiến lược trong việc bảo vệ nền kinh tế- chính trị trong khu vực.
Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 26.768,16 ha, dân số 143.418 người.
Huyện Gò Công Đông có địa hình tương đối bằng phẳng, khuynh hướng thấp dần theo
hướng Bắc Nam và Tây Đông, đất phù sa cổ và phù sa ven biển chiếm phần lớn diện tích.. Đặc biệt
với 20km bờ biển với hàng ngàn ha bãi bồi rất thuận lợi trong việc nuôi trồng các loại thủy hải sản
như nghêu, tôm, cua và các loài đặc sản biển khác. Khí hậu Gò Công Đông nằm trong chế độ khí
0 tháng 12 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình hàng năm 27,9P
PC, lượng mưa trung bình hàng
hậu chung cả miền Tây Nam bộ, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5-11, mùa khô từ
năm 1.191mm.
Huyện Gò Công Đông với bờ biển dài 32km nằm kẹp giữa các cửa sông lớn là Soài Rạp
(sông Vàm Cỏ), cửa Tiểu, cửa Đại (sông Tiền). Sóng biển có độ cao cực đại (bình quân 1,25m và
tối đa 3m) vào các tháng 10 đến tháng 02 khi có ảnh hưởng rõ nét của gió Đông Bắc (gió chướng).
Ngoài ra, chế độ thủy triều khu vực biển Gò Công Đông chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều
biển Đông.Vùng ven biển, thuộc hệ thống các cửa sông giáp biển nên từ lâu đã thiết lập được hệ
thống rừng trồng ngập mặn với diện tích 2.028ha gồm các loại bần, đước, mắm, dừa nước, phi lao.
Thực vật dưới tán lá rừng ngập mặn rất phong phú gồm 75 loài thuộc 35 họ.
Khu vực ven biển được phù sa bồi đắp quanh năm, hiện quá trình bồi đắp đang hình thành
các cồn ven biển:
Cồn Vân Liễu - cồn Ông Mão : nằm tiếp giáp với vùng đất liền thuộc xã Tân Thành (Gò
Công Đông), có chiều dài 7km, rộng 5km với diện tích 4.055ha. Độ cao đường bình độ từ 0,6 đến -
6,0m, vùng ven bờ nổi lên khi triều kém.
Cồn Ngang : nằm tiếp giáp phía Đông cù lao Tân Thới thuộc xã Phú Tân (Gò Công Đông),
có chiều dài 5,5km, rộng 2,5km với diện tích 1.617ha. Độ cao dường bình độ từ -1,1 đến -0,6m, nổi
một phần diện tích khi triều kém. Hiện một số khu vực cao trên cồn đã trồng được phi lao, mắm ...
Cồn Vượt : nằm cách 1,5km về phía Đông Nam cồn Ngang, có chiều dài 10km, rộng 3km,
với diện tích 3.188ha. Độ cao đường bình độ từ -2,3 đến - 6,1m, ngập hoàn toàn.
Với cao trình phổ biến từ 0,8 và thấp dần theo hướng Đông Nam, ra đến biển Đông chỉ còn
0,4 - 0,6m Có hai vùng trũng cục bộ tại xã Thạnh Trị, Yên Luông, Bình Tân (Gò Công Tây) và Tân
Điền, Tân Thành (Gò Công Đông). Do tác động bồi lắng phù sa từ cửa Xoài Rạp đưa ra, khu vực
ven biển phía Bắc (Tân Trung, Tân Phước, Gia Thuận, Vàm Láng) có cao trình hơn hẳn khu vực
phía Nam .Trên địa bàn còn có rất nhiều giồng cát biển hình cánh cung có cao trình phổ biến từ 0,9 -
1,1m nổi hẳn lên trên các đồng bằng chung quanh.
Với điều kiện nằm giữa các cửa sông nên rất thuận lợi cho nuôi trồng và đánh bắt thủy hải
sản. Thủy sản nước lợ: gồm con giống và con non sinh sản và di chuyển vào sâu trong bờ, trữ
lượng hàng năm ước tính về tôm, cua, cá, sò, nghêu ... tại các vùng cửa sông là 156.000 tấn. Về hải
sản có tiềm năng khá dồi dào với trữ lượng hàng năm về sinh vật nổi lên đến 12.000 triệu tấn thực
vật phiêu sinh, 5,96 triệu tấn động vật phiêu sinh, 4,7 triệu tấn sinh vật đáy và hơn 1 triệu tấn cá.,
hàng năm cung cấp cho thị trường trên 20.000 tấn nghêu được nuôi tại khu vực ven biển Gò Công.
Trong những năm qua ngành đã sản xuất được nghêu giống nhân tạo, song cũng còn rất khiêm tốn.
Việc đầu tư mở rộng quy mô sản xuất nghêu giống tại Tân Thành là nhu cầu cấp thiết, không chỉ
phục vụ nhu cầu nuôi tại chỗ mà còn phát triển ra các vùng lân cận như Ba Tri, Bình Đại (Bến Tre),
Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh),….
Phát huy lợi thế của vùng kinh tế biển, cùng với chương trình ngọt hóa Gò Công đã khai thác
tiềm năng và phát triển kinh tế, cơ cấu giá trị tính theo giá trị thực tế năm 2007. Cụ thể:
- Khu vực I (nông-lâm-ngư) đạt 68,8%
- Khu vực II (công nghiệp-xây dựng) đạt 9,5%
- Khu vực III (thương mại-dịch vụ) đạt 21,7%
Huyện Gò Công Đông trước đây là một vùng đất nhiễm mặn phèn lâu đời, thường xuyên nên
hàng năm chỉ sản xuất được 01 vụ lúa mùa năng suất thấp, bấp bênh do đó đời sống nhân dân vô
cùng khó khăn, thiếu thốn. Sau vụ mùa nhân dân phải đi làm thuê mướn nơi khác để tìm nguồn thu
nhập thêm. Trước tình hình đó, được Trung ương và Tỉnh quan tâm đầu tư thực hiện dự án ngọt hóa
Gò Công đã tạo sự chuyển biến tột bậc cho vùng Gò Công, trong đó có huyện Gò Công Đông.
Sản xuất nông nghiệp đã phát triển ổn định, từ sản xuất chỉ 01 vụ/năm đến năm 2002 có
13.000ha sản xuất 03 vụ lúa/năm, 3.256ha sản xuất 02 vụ/năm. Năng suất lúa bình quân 4,5 tấn/ha.
Sản lượng lương thực 180.000 tấn, bình quân lương thực 960kg/đầu người. Riêng trong năm 2007,
tổng sản lượng lương thực 195.931 tấn, trong đó sản lượng lúa thơm giá trị cao chiếm 60%, sản
lượng lúa chất lượng cao chiếm 30%.
Từ thực tế độc canh cây lúa dần dần chuyển sang đa dạng hóa cơ cấu cây trồng. Sản xuất hoa
màu gia tăng với diện tích gieo trồng hàng năm 8.300ha. Kinh tế vườn từng bước phát triển với diện
tích 2.160ha (trong đó khoảng 700ha trồng cây sơ ri).
Phong trào chăn nuôi ổn định hàng năm duy trì đàn heo 44.012 con, gần 01 triệu con gia
cầm. Nuôi bò, dê đang có xu thế phát triển .
Sản xuất ngư nghiệp đang được quan tâm đầu tư có bước phát triển khởi sắc nhất là lĩnh vực
nuôi thủy sản. Đến năm 2008, huyện giữ vững diện tích nuôi thủy sản hàng năm là 3.566ha. Trong
đó nuôi tôm sú vẫn giữ vai trò chủ đạo với số lượng con giống thả nuôi gần 300 triệu con đã tạo
nguồn thu nhập đáng kể. Hoạt động đánh bắt hải sản giảm số phương tiện do nguồn lợi thủy sản ven
bờ cạn kiệt, ngư dân thiếu vốn tích lũy để đầu tư cải tạo, đóng mới phương tiện đánh bắt xa bờ.
Tổng sản lượng thủy hải sản thu hoạch hàng năm của huyện 55.140 tấn. Để khai thác tiềm năng
ngư nghiệp huyện đang tranh thủ cấp trên đầu tư để đưa vào khai thác các vùng dự án nuôi tôm Bắc
Gò Công, diện tích đất lúa ven đê năng suất thấp sang nuôi thủy sản
Kết luận chương 2
Biến đổi khí hậu toàn cầu đang là mối đe dọa hiện hữu đối với mọi quốc gia trên thế giới
trong đó có Việt Nam. Các công trình khoa học ở trong nước và thế giới trong những năm qua đã
tập trung xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu, tìm kiếm các giải pháp hạn chế tình trạng xấu đi
của khí hậu toàn cầu cũng như các giải pháp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu. Đã có một số tác
giả và công trình khoa học công bố kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến từng
lĩnh vực cụ thể. Về lĩnh vực tìm hiểu tác động của BĐKH đến sinh hoạt và sản xuất của người dân
vùng nông thôn, đây là một lĩnh vực nghiên cứu mới và có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi tầng lớp
dân cư nhưng đến nay vẫn có rất ít công trình khoa học được công bố. Đây chính là cơ sở quan
trọng để chúng tôi hình thành đề tài luận văn“Tác động của Biến đổi khí hậu đến sinh hoạt và sản
xuất của dân cư huyện Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang
Chương 3. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KHẢO SÁT
3.1. Khái quát địa bàn nghiên cứu - Mô tả mẫu:
Như đã được trình bày trong phần phương pháp nghiên cứu, đối tượng tham gia trả lời phỏng
vấn trong nghiên cứu này là nhân dân đang sinh sống tại huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
Địa bàn được chọn để khảo sát là các hộ dân cư đang sinh sống ở vùng ven biển, ở thị trấn và các
vùng nông thôn thuộc các xã Tân Thành, Vàm Láng, Kiểng Phước, Gia Thuận, thị trấn Tân Hoà.
Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang
Số lượng phiếu phát ra là 400 phiếu, số lượng phiếu thu về là 361 phiếu, ứng với tỉ lệ hồi đáp
là 90,25%.
Trong tổng cộng 361 phiếu hồi đáp, đối tượng trả lời phỏng vấn bao gồm: 130 nữ (tỷ lệ
36%), 231 nam (tỷ lệ 64%).
Bảng 3.1: Bảng mô tả mẫu phân theo giới tính và nghề nghiệp
Nghề nghiệp
Tổng cộng Nông dân Buôn bán Công chức, viên chức Ngư dân Công nhân Nội trợ Làm thuê
Nữ 71 27 19 1 4 8 0 130 Giới
tính Nam 157 20 22 19 9 0 4 231
228 47 41 20 13 8 4 361 Tổng cộng
63,2 13,0 11,4 5,5 3,6 2,2 1,1 100 Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ mẫu phân theo nghề nghiệp được thể hiện ở hình 3.2 cho thấy: 228 người (63,2%) là
nông dân; 47 người (13,0%) có nghề nghiệp buôn bán; 41 người là công chức, viên chức (11,4%);
20 người (5,5%) là ngư dân, 13 người (3,6%) là công nhân; 8 người (2,2%) là nội trợ và 4 người
(1,1%) là người làm thuê.
Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện cơ cấu mẫu khảo sát theo nghề nghiệp
1,1
2,2
3,6
Nông dân
Buôn bán
5,5
Công chức, viên chức
11,4
Ngư dân
13,0
63,2
Công nhân
Nội trợ
Làm thuê
Số lượng mẫu phân theo địa bàn cư trú và nhóm tuổi được thể hiện ở hình 3.3 cho thấy
12,5% mẫu khảo sát cư trú ở thị trấn; 64,8% sinh sống ở nông thôn và 22,7% cư trú ở vùng ven
biển.
Hình 3.3: Biểu đồ thể hiện cơ cấu mẫu khảo sát theo nơi cư trú
Thị trấn
12,5
22,7
Nông thôn
64,8
Vùng ven biển
Bảng 3.2: Bảng mô tả mẫu phân theo địa bàn cư trú và nhóm tuổi
Nơi cư trú
Tổng cộng Tỷ lệ (%) Thị trấn Nông thôn Vùng ven biển
Dưới 30 tuổi 0 0 1 1 0,3
Từ 30 đến 39 5 19 9 33 9,1
Từ 40 đến 49 29 170 51 250 69,3 Nhóm Tuổi Từ 50 đến 59 11 38 19 68 18,8
≥ 60 tuổi 0 7 2 9 2,5
45 234 82 361 100 Tổng cộng
64,8 100 12,5 22,7 Tỷ lệ (%)
Số lượng mẫu phân theo nhóm tuổi được thể hiện trong bảng 3.2 cho thấy, đa số mẫu khảo
sát trong độ tuổi từ 40 đến 49 với tổng cộng 250 người (tỷ lệ 69,3%); nhóm tuổi từ 50 đến 59 tuổi
chiếm 18,8%; từ 30 đến 39 tuổi chiếm 9,1%; còn lại nhóm tuổi dưới 30 và 60 tuổi trở lên chiếm tỷ
lệ không đáng kể.
Hình 3.4: Biểu đồ thể hiện cơ cấu mẫu khảo sát theo nhóm tuổi
0,3
2,5
Dưới 30 tuổi
9,1
18,8
Từ 30 đến 39
Từ 40 đến 49
69,3
Từ 50 đến 59
60 tuổi trở lên
3.2. Thống kê mô tả:
3.2.1: Nhận thức của nhân dân địa phương về BĐKH:
Tổng cộng 354/361 người chiếm tỷ lệ 98,1% cho rằng đã từng nghe nhắc đến về BĐKH, chỉ
một tỷ lệ không đáng kể (1,9%) cho rằng chưa từng nghe nói đến vấn đề BĐKH. Về nguồn cung
cấp thông tin cho nhân dân địa phương về BĐKH được thể hiện trong bảng 3.3 cho thấy: Các
phương tiện thông tin đại chúng vẫn là nguồn chính cung cấp thông tin cho nhân dân về BĐKH, cụ
thể 332 người (92,0%) cho rằng đã nhận thức về vấn đề BĐKH do Tivi cung cấp và 51,2% biết về
BĐKH qua Radio; Báo chí cũng là nguồn cung cấp thông tin cho nhân dân địa phương (41,8%);
Người thân, bạn bè cũng đóng vai trò quan trọng giúp nhân dân nhận thức về BĐKH; Tuy nhiên chỉ
có 79 người (chiếm tỷ lệ 21,9%) cho rằng được chính quyền địa phương thông tin về BĐKH; Đối
với nhân dân địa phương chỉ 11,4% biết về vấn đề BĐKH qua phương tiện internet.
Bảng 3.3: Nguồn cung cấp thông tin về BĐKH cho nhân dân địa phương
Nguồn cung cấp thông tin Số lượng Tỷ lệ (%)
332 92,0 TV (truyền hình)
185 51,2 Radio
160 44,3 Người thân, bạn bè
151 41,8 Báo chí
Chính quyền địa phương 79 21,9
Internet 41 11,4
Hình 3.5: Biểu đồ thể hiện các nguồn cung cấp thông tin về BĐKH
%
100
92.0
90
80
70
60
51.2
50
44.3
41.8
40
30
21.9
20
11.4
10
0
Radio
Báo chí
Internet
TV (truyền hình)
Người thân, bạn bè
Chính quyền địa phương
Về đánh
giá mức độ ảnh hưởng của BĐKH của nhân dân địa phương được thể hiện trong bảng 3.4 cho thấy:
Trên 58% mẫu khảo sát cho rằng BĐKH ít ảnh hưởng đến địa phương; 28,8% cho rằng mức độ ảnh
hưởng vừa phải và chỉ 9,7% cho rằng BĐKH ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và sinh hoạt
của nhân dân địa phương
Bảng 3.4: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của BĐKH
Mức độ ảnh hưởng Số lượng Tỷ lệ (%)
Không ảnh hưởng 7 1,9
Ít ảnh hưởng 210 58,2
Ảnh hưởng vừa phải 104 28,8
Ảnh hưởng nghiêm trọng 35 9,7
Không có ý kiến 5 1,4
Tổng cộng 361 100
Hình 3.6: Biểu đồ thể hiện đánh giá của nhân dân địa phương về mức độ tác động của BĐKH
1.9 1.4
ít ảnh hưởng
9.7
Ảnh hưởng vừa phải
Ảnh hưởng nghiêm trọng
28.8
58.2
Không ảnh hưởng
Không có ý kiến
Bảng 3.5: Thống kê mô tả đánh giá về mức độ tác động của BĐKH
Số lượng Min Max Độ lệch chuẩn Giá trị trung bình
Mức độ tác động của BĐKH 356 1 4 2.47 .697
Bảng thống kê mô tả đánh giá mức độ tác động của BĐKH cho thấy giá trị trung bình (M =
2,47), chứng tỏ nhân dân địa phương đánh giá BĐKH có tác động ở mức vừa phải đối với sinh hoạt
và sản xuất, sự đánh giá này tương đối đồng đều trong dân cư thể hiện ở độ lệch chuẩn rất thấp (SD
= 0,697).
3.2.2: Các lĩnh vực chịu tác động của BĐKH:
Theo đánh giá của nhân dân địa phương, sản xuất vẫn là lĩnh vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất
của BĐKH (61,2%), ngoài ra có 19,1% mẫu khảo sát cho rằng BĐKH ảnh hưởng đến nhiều mặt
trong sản xuất và đời sống, 10,8% cho rằng BĐKH ảnh hưởng đến sinh hoạt của nhân dân, ngoài ra
BĐKH cũng ảnh hưởng đến chổ ở và kinh doanh của nhân dân.
Bảng 3.6: Đánh giá các lĩnh vực chịu ảnh hưởng của BĐKH
Thứ tự Các lĩnh vực chịu ảnh hưởng Số lượng Tỷ lệ (%)
1 Sản xuất 221 61.2
2 Ảnh hưởng nhiều mặt 69 19.1
3 Sinh hoạt 39 10.8
4 Chổ ở 15 4.2
5 Kinh doanh 9 2.5
6 Không có ý kiến 8 2.2
Tổng cộng 361 100.0
Hình 3.7: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đánh giá các lĩnh vực chịu ảnh hưởng của BĐKH
%
70
61.2
60
50
40
30
19.1
20
10.8
10
4.2
2.5
2.2
0
Sản xuất
Sinh hoạt
Chổ ở
Kinh doanh
Ảnh hưởng nhiều mặt
Không có ý kiến
3.2.2.1: Tác động của BĐKH đến cuộc sống gia đình:
Theo đánh giá của nhân dân địa phương, mức độ tác động của BĐKH đến cuộc sống gia đình
được thể hiện trong bảng 3.7 cho thấy: 8,6% cho rằng BĐKH tác động rất nhiều đến cuộc sống gia
đình, 38,8% đánh giá BĐKH tác động nhiều đến cuộc sống gia đình và 19,1% đánh giá BĐKH tác
động vừa phải đến cuộc sống gia đình, tuy nhiên vẫn còn 27,1% cho rằng cuộc sống gia đình chịu
tác động ít của BĐKH.
Bảng 3.7: Mức độ tác động của BĐKH đến cuộc sống gia đình
Lĩnh vực Số lượng
Mức độ Chịu tác động rất nhiều 31 Tỷ lệ 8.6
Chịu tác động nhiều 140 38.8 Cuộc sống gia đình
Chịu tác động vừa phải 69 19.1
Chịu tác động ít 98 27.1
Không có ý kiến 23 6.4
Tổng cộng 361 100.0
3.2.2.2: Tác động của BĐKH đến sức khoẻ nhân dân:
Mức độ tác động của BĐKH đến sức khoẻ của nhân dân được thể hiện trong bảng 3.8 cho
thấy: Đa số nhân dân đánh giá BĐKH có tác động rất nhiều đến sức khoẻ (79,2%) và 9,4% cho rằng
BĐKH tác động nhiều đến sức khoẻ, chỉ có 4,7% đánh giá mức độ vừa phải và 3,6% cho rằng
BĐKH tác động ít đến sức khoẻ của cư dân địa phương.
Bảng 3.8: Mức độ tác động của BĐKH đến sức khoẻ
Lĩnh vực
Mức độ Chịu tác động rất nhiều Số lượng 286 Tỷ lệ 79.2
Chịu tác động nhiều 34 9.4
Chịu tác động vừa phải 17 4.7 Sức khoẻ Chịu tác động ít 13 3.6
Không có ý kiến 11 3.0
Tổng cộng 361 100.0
3.2.2.3: Tác động của BĐKH đến sản xuất:
Mức độ tác động của BĐKH đến sản xuất của nhân dân được thể hiện trong bảng 3.9 cho
thấy: Đa số nhân dân đánh giá BĐKH có tác động nhiều đến sản xuất (31,9%) và 5,0% cho rằng
BĐKH tác động rất nhiều đến sản xuất, trong khi đó có đến 39,1% đánh giá BĐKH có tác động vừa
phải và 17,2% cho rằng BĐKH ít tác động đến tình hình sản xuất của dân cư địa phương.
Bảng 3.9: Mức độ tác động của BĐKH đến công việc hàng ngày
Lĩnh vực
Mức độ Chịu tác động rất nhiều Số lượng 18 Tỷ lệ 5.0
Chịu tác động nhiều 115 31.9
Chịu tác động vừa phải 141 39.1 Sản xuất Chịu tác động ít 62 17.2
Không có ý kiến 25 6.9
Tổng cộng 361 100.0
3.2.2.4: Tác động của BĐKH đến thu nhập:
Mức độ tác động của BĐKH đến thu nhập của nhân dân được thể hiện trong bảng 3.10 cho
thấy: Đa số nhân dân đánh giá BĐKH có tác động ít đến thu nhập (44,3%) và 28,8% cho rằng
BĐKH chỉ tác động vừa phải đến thu nhập, trong khi đó chỉ có 7,5% đánh giá BĐKH có tác động
rất nhiều và 13,0% cho rằng BĐKH tác động nhiều đến thu nhập của dân cư địa phương.
Bảng 3.10: Mức độ tác động của BĐKH đến công việc thu nhập
Lĩnh vực Mức độ Số lượng Tỷ lệ
Chịu tác động rất nhiều 27 7.5
Chịu tác động nhiều 47 13.0
Chịu tác động vừa phải 104 28.8 Thu nhập Chịu tác động ít 160 44.3
Không có ý kiến 23 6.4
SL (người)
Tổng cộng 361 100.0
Hình 3.8.1: Biểu đồ thể hiện số lượng người đánh giá mức độ tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực
350
300
286
250
200
160
141
140
150
115
104
98
100
69
62
47
50
34
31
27
25
23
23
18
17
13
11
Mức độ
0
Chịu tác động rất nhiều
Chịu tác động nhiều
Chịu tác động vừa phải
Chịu tác động ít
Không có ý kiến
Cuộc sống gia đình
Sức khoẻ
Sản xuất
Thu nhập
Tỷ lệ (%)
90
Hình 3.8.2: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đánh giá mức độ tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực
79.2
80
70
60
50
44.3
39.1
38.8
40
31.9
28.8
30
27.1
19.1
20
17.2
13.0
9.4
8.6
7.5
10
6.9
6.4
6.4
5.0
4.7
3.6
3.0
Mức độ
0
Chịu tác động rất nhiều
Chịu tác động nhiều
Chịu tác động vừa phải
Chịu tác động ít
Không có ý kiến
Cuộc sống gia đình
Sức khoẻ
Thu nhập
Sản xuất
3.2.3: Các biểu hiện bất thường của khí hậu và thời tiết ở địa phương:
Bảng 3.11: Các biểu hiện bất thường về thời tiết và khí hậu ở địa phương
STT Biểu hiện Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
1 Nhiệt độ cao 308 85.3
2 Khô hạn 294 81.4
3 Nhiễm mặn 248 68.7
4 Nhiễm phèn 217 60.1
5 Bão 151 41.8
6 Triều cường 138 38.2
7 Lũ lụt 112 31.0
8 Xói lỡ bờ 44 12.2
9 Lốc xoáy 24 6.6
Theo đánh giá của nhân dân địa phương, trong những năm gần đây tình hình thời tiết, khí hậu
ở địa phương có nhiều biểu hiện bất thường, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt. Qua bảng
3.11 cho thấy: Nhiệt độ cao và tình trạng khô hạn là hai biểu hiện đáng quan tâm theo đánh giá của
trên 80% mẫu khảo sát, tình trạng nhiễm phèn, mặn cũng có những biểu hiện bất thường xảy ra ở
địa phương trong thời gian gần đây (theo đánh giá của trên 60% mẫu khảo sát), ngoài ra các biểu
hiện bất thường khác được nhắc đến là bão (41,8%), triều cường (38,2%), lũ lụt (31,0%), bên cạnh
đó hiện tượng xói lỡ và lốc xoáy cũng là những biểu hiện ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và sinh
hoạt của nhân dân địa phương.
Hình 3.9: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đánh giá các biểu hiện bất thường về thời tiết, khí hậu ở địa phương
%
90
85.3
81.4
80
68.7
70
60.1
60
50
41.8
38.2
40
31.0
30
20
12.2
6.6
10
0
Bão
Lũ lụt Xói lỡ bờ Lốc xoáy
Nhiệt độ cao
Khô hạn Nhiễm mặn
Nhiễm phèn
Triều cường
3.2.4: Tình hình khai thác và sử dụng nguồn nước:
3.2.4.1. Tình hình khai thác và sử dụng nguồn nước sinh hoạt:
Bảng 3.12: Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt ở địa phương
STT Nguồn cung cấp nước Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
1 Nước mưa 259 71.7
2 Nước sông, ao, hồ 121 33.5
3 Nước thủy cục 93 25.8
4 Nước kênh đào 39 10.8
5 Nước giếng khoan 12 3.3
Qua số liệu khảo sát cho thấy, nước mưa vẫn là nguồn chủ yếu cung cấp nước sinh hoạt cho
nhân dân địa phương (tỷ lệ 71,7%), nguyên nhân do tập quán sinh hoạt của cư dân địa phương cũng
giống như nhiều địa phương khác của Đồng bằng sông Cửu Long nước mưa vẫn là nguồn nước
uống chủ yếu, ngoài ra còn đáp ứng các nhu cầu khác về sinh hoạt, tuy nhiên do hệ thống bể chứa
dung tích nhỏ theo từng hộ gia đình nên nguồn nước ngọt phục vụ sinh hoạt và sản xuất rất khan
hiếm trong mùa khô; nguồn nước sông, ao hồ đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu
sinh hoạt hàng ngày (tắm, giặt) do nguồn nước giếng khoan khan hiếm vì tầng nông bị nhiễm mặn
và nguồn nước thủy cục chỉ mới được tỉnh đầu tư trong thời gian gần đây, đặc biệt việc xây dựng
nhà máy nước Đồng Tâm và hệ thống ống dẫn từ thành phố Mỹ Tho về Thị xã Gò Công dài khoảng
40 km là một trong những giải pháp góp phần cung cấp nguồn nước ngọt ổn định và đảm bảo chất
lượng phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp của các huyện phía Đông của tỉnh, trong đó có
huyện ven biển Gò Công Đông.
Hình 3.10: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ các nguồn cung cấp nước sinh hoạt ở địa phương
%
80
71.7
70
60
50
40
33.5
30
25.8
20
10.8
10
3.3
0
Nước mưa
Nước sông, ao, hồ Nước thủy cục
Nước kênh đào Nước giếng khoan
3.2.4.1. Tình hình thay đổi chất lượng nguồn nước sinh hoạt:
Bảng 3.13: Tình hình thay đổi chất lượng nguồn nước ở địa phương
STT Tình hình thay đổi Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
1 Tốt hơn 36 10.0
2 Bị nhiễm mặn 124 34.3
3 Bị nhiễm phèn 25 6.9
4 Bị ô nhiễm (nhiễm bẩn) 109 30.2
5 Vẫn như vậy 61 16.9
6 Ý kiến khác 6 1.7
Tổng cộng 361 100
Theo đánh giá của nhân dân địa phương nguồn nước sinh hoạt trong những năm gần đây có
nhiều thay đổi theo xu hướng xấu đi, tổng cộng có 124 người (34,2%) cho rằng nguồn nước bị
nhiễm mặn, 109 người (30,2%) cho rằng nguồn nước bị nhiễm bẩn, 6,9% cho rằng nguồn nước bị
nhiễm phèn; trong khi đó có 16,9% cho rằng nguồn nước vẫn như vậy không thay đổi và có 10,0%
cho rằng nguồn nước sinh hoạt có thay đổi theo xu hướng tốt hơn.
3.2.4.2. Tình hình xâm nhập mặn:
Bên cạnh sự khan hiếm nguồn nước ngọt, có 305/361 người (84,5%) cho rằng vấn đề xâm
nhập mặn cũng ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân địa phương. Trong đó 70,9%
mẫu khảo sát cho rằng tình hình xâm nhập mặn ở địa phương trong những năm gần đây có xu
hướng kéo dài hơn so với trước đây, có 18,3% cho rằng tình hình xâm nhập không thay đổi và chỉ
có 4,7% cho rằng thời gian xâm nhập mặn có thay đổi theo hướng rút ngắn lại so với thời gian trước
(Bảng 3.14).
Bảng 3.14: Tình hình xâm nhập mặn ở địa phương
STT Tình hình xâm nhập mặn Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
1 Rút ngắn lại 17 4.7
2 Không thay đổi 66 18.3
3 Kéo dài hơn 256 70.9
4 Không có ý kiến 22 6.1
Tổng cộng 361 100.0
Theo số liệu thống kê của Trung tâm Khí tượng thủy văn Tiền Giang, tình hình xâm nhập
mặn đo được tại Trạm Vàm Kênh (xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông) cho thấy: Thời gian xâm
nhập mặn tại huyện Gò Công Đông thường bắt đầu từ tháng II và kéo dài đến tháng VII hàng năm.
Bảng 3.15: Tình hình xâm nhập mặn từ năm 2000 – 2009 [17]
(Trạm Vàm Kênh – xã Tân Thành – huyện Gò Công Đông)
Tháng II III IV V VI VII
Năm Độ mặn (gam/lít)
2000 18,9 19,6 22,7 16,5 13,0 3,8
2001 18,7 26,2 23,0 19,6 15,1 8,9
2002 22,2 23,6 26,1 25,8 15,6 8,6
2003 25,4 27,1 21,3 22,9 13,9 12,4
2004 24,3 26,4 24,4 25,1 18,5 13,9
2005 25,9 29,8 29,7 21,0 19,8 10,3
2006 22,6 26,1 21,5 18,9 13,2 9,5
2007 22,6 27,8 27,9 22,3 15,2 9,6
2008 22,8 21,0 24,2 18,3 14,8 7,7
2009 19,7 22,1 27,0 16,8 8,6 5,5
- Tháng có độ mặn cao nhất trong năm thông thường diễn ra trong tháng III, tháng IV hàng
năm. Trong 10 năm (2001-2009), tháng có độ mặn cực đại là tháng III năm 2005 số liệu đo được là
29,8 gam/lít, trong khi vào năm 2001 độ mặn tháng cao nhất vào tháng IV là 22,7%.
- Tháng có độ mặn thấp nhất trong các tháng xâm nhập mặn là tháng VII hàng năm. Trong
10 năm (2001-2009), tháng có độ mặn cao nhất là tháng VII năm 2004 là 13,9 gam/lít, nguyên nhân
do năm 2004 là năm có lượng mưa thấp nhất trong dãy số liệu lượng mưa trung bình năm từ năm
2001 – 2009.
Cũng theo số liệu thống kê của Trung tâm Khí tượng thủy văn Tiền Giang, mùa mưa tại
huyện Gò Công Đông thường bắt đầu từ tháng IV hoặc tháng V và kết thúc vào tháng X hoặc tháng
XI hàng năm.
Bảng 3.16: Thời gian bắt đầu và kết thúc mùa mưa, lượng mưa trung bình năm từ năm
2000 – 2009 (Trạm Gò Công) [17]
Mùa mưa Năm Lượng mưa trung bình năm (mm) Bắt đầu Kết thúc
13-IV 2-XI 1.576 2000
14-V 10-XI 1.587 2001
11-V 3-XI 1.507 2002
9-V 25-X 1.158 2003
8-V 20-X 1.068 2004
12-V 5-XI 1.249 2005
16-V 13-X 1.257 2006
7-V 11-XI 1.651 2007
29-IV 4-XI 2.023 2008
26-IV 25-X 1.723 2009
- Thời gian bắt đầu mùa mưa ở địa phương cũng diễn biến thất thường, thời gian bắt đầu mùa
mưa sớm nhất là ngày 13/4/2000, thời gian bắt đầu mùa mưa muộn nhất là ngày 16/5/2006.
- Thời gian kết thúc mùa mưa sớm nhất là ngày 13/10/2006, thời gian kết thúc mùa mưa
muộn nhất là ngày 10/11/2001.
Trong 10 năm (2001-2009) lượng mưa trung bình hàng năm là 1.480 mm. Lương mưa năm
cao nhất là 2.023 mm (năm 2008), lượng mưa năm thấp nhất là 1.068 mm (2004). Lượng mưa trung
bình giữa các năm có sự chênh lệch, cùng với diễn biến bất thường thời gian bắt đầu và kết thúc
mùa mưa hàng năm, dẫn đến tình hình xâm nhập mặn cũng diễn biến phức tạp, tác động tiêu cực
nhiều mặt đến tình hình sản xuất và sinh hoạt của nhân dân địa phương.
Về ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến diện tích đất canh tác được thể hiện trong bảng 3.17
cho thấy: Hơn 70% mẫu khảo sát cho rằng tình hình xâm nhập mặn làm cho đất canh tác kém chất
lượng gây khó khăn cho sản xuất, có 4,7% cho rằng xâm nhập mặn làm cho diện tích đất canh tác bị
thu hẹp và 5,8% cho rằng ảnh hưởng xâm nhập mặn làm cho đất không canh tác được trong khi đó
chỉ có 9,7% cho rằng xâm nhập mặn không ảnh hưởng đến diện tích đất canh tác.
Bảng 3.17: Tình hình ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến diện tích đất canh tác
STT Ảnh hưởng của xâm nhập mặn Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
1 Không thay đổi 35 9.7
2 Không canh tác được 21 5.8
3 Kém chất lượng 255 70.6
4 Thu hẹp diện tích 17 4.7
5 Không có ý kiến 33 9.1
Tổng cộng 361 100.0
3.2.5. Các giải pháp ứng phó hiện tượng nước biển dâng
Những ý kiến của dân cư địa phương về các giải pháp góp phần ứng phó với hiện tượng nước
biển dâng được thể hiện trong bảng 3.18 cho thấy: Đắp đê ngăn nước biển là một giải pháp được
nhiều người đồng tình nhất (72,0%), chung sống với nước biển dâng cũng là một giải pháp được
4,2% người ủng hộ, và 1,4% đề xuất kết hợp nhiều biện pháp để chung sống với nước biển dâng,
trong khi 3,3% nghĩ rằng phải di dời đi nơi khác và có đến 19,1% dân cư địa phương vẫn chưa nghĩ
đến các giải pháp để ứng phó với hiện tượng nước biển dâng.
Bảng 3.18: Đề xuất các giải pháp ứng phó với hiện tượng nước biển dâng
STT Các giải pháp Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
1 Chung sống với nước biển dâng 15 4.2
2 Di dời đi nơi khác 12 3.3
3 Đắp đê ngăn nước biển 260 72.0
4 Kết hợp nhiều biện pháp 5 1.4
5 Chưa nghĩ đến 69 19.1
Tổng cộng 361 100
Hình 3.11: Biểu đồ thể hiện các đề xuất của nhân dân các biện pháp ứng phó với hiện tượng nước biển dâng
4.2
3.3
Chung sống với nước biển dâng
Di dời đi nơi khác
19.1
1.4
Đắp đê ngăn nước biển
Kết hợp nhiều biện pháp
72.0
Chưa nghĩ đến
3.2.6. Các lực lượng tìm các giải pháp ứng phó với sự tác động của BĐKH
Theo ý kiến của nhân dân địa phương việc đi tìm các giải pháp để ứng phó với sự tác động
của BĐKH là nhiệm vụ chung của tất cả mọi người (chiếm tỷ lệ 89,2%) bao gồm cả người dân vùng
ảnh hưởng, các nhà lãnh đạo và đặc biệt cần có sự tham gia của các nhà khoa học.
Bảng 3.19: Đề xuất các lực lượng tìm biện pháp ứng phó với BĐKH
STT Lực lượng tìm giải pháp Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Tất cả mọi người 322 89.2 1
Người dân vùng ảnh hưởng 2 0.6 2
Các nhà lãnh đạo 11 3.0 3
Các nhà khoa học 9 2.5 4
Không có ý kiến 17 4.7 5
Tổng cộng 361 100
Hình 3.12: Biểu đồ thể hiện đề xuất các lực lượng tìm các biện pháp ứng phó với BĐKH
2,5
3,0
0,6
4,7
Tất cả mọi người
Người dân vùng ảnh hưởng
Các nhà lãnh đạo
89,2
Các nhà khoa học
Không có ý kiến
3.4. Kiểm định sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH giữa các nhóm:
3.4.1. Sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH theo nhóm tuổi
Kết quả phân tích Anova cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thông kê đánh giá về
mức độ tác động của BĐKH giữa các nhóm tuổi. Do mức ý nghĩa sig. > 0,05 không thể bác bỏ giả
thuyết HROR “Không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi về sự đánh giá về mức độ tác động của
BĐKH đối với sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương”.
Bảng 3.20: Kết quả phân tích Anova theo nhóm tuổi
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
Sum of Squares df Mean Square F Sig.
Between Groups .482 3 .161 .328 .805
Within Groups 172.178 352 .489
Total 172.660 355
3.4.2. Sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH giữa các nhóm theo địa bàn cư trú:
Kết quả phân tích Anova cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đánh giá mức độ tác
động của BĐKH giữa các nhóm khác nhau theo nơi cứ trú. Do mức ý nghĩa sig. < 0,05 có thể bác
bỏ giả thuyết HROR “Không có sự khác biệt về sự đánh giá mức độ tác động của BĐKH giữa các nhóm
theo địa bàn cư trú.”
Bảng 3.21: Kết quả phân tích Anova theo địa bàn cư trú
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
Sum of Squares df Mean Square F Sig.
Between Groups 13.549 6.775 15.030 .000 2
Within Groups 159.111 .451 353
Total 172.660 355
Kết quả phân tích sâu Anova bằng phương pháp kiểm định Tamhane’s cho thấy có sự khác
biệt ý nghĩa giữa nhóm dân cư cư trú ở vùng ven biển và vùng nông thôn trong đánh giá mức độ tác
động của BĐKH. Kết quả thống kê mô tả cho thấy dân cư vùng ven biển đánh giá BĐKH tác động
đến sinh hoạt và sản xuất nghiêm trọng hơn nhóm dân cư vùng nông thôn, thể hiện ở giá trị trung
bình lần lượt là M = 2,80 và 2,33 (phụ lục 4).
Bảng 3.22: Kết quả kiểm định Tamhane’s
95% Confidence Interval (J) Nơi cư trú Sig. (I) Nơi cư trú Std. Error Mean Difference (I-J) Lower Bound Upper Bound
Thị trấn Nông thôn .244 .115 .109 -.04 .53
Vùng ven biển -.222 .141 .316 -.57 .12
Nông thôn Thị trấn -.244 .115 .109 -.53 .04
* -.467P
Vùng ven biển .100 .000 -.71 -.23
.222 .141 .316 -.12 Thị trấn .57
* .467P
Vùng ven biển .100 .000 .23 Nông thôn .71
Bảng 3.23: Thống kê mô tả đánh giá mức độ tác động của BĐKH của các nhóm dân cư theo địa bàn cư trú
N Mean SD Min Max Std. Error
95% Confidence Interval for Mean Upper Lower Bound Bound
Thị trấn 45 2.58 .723 .108 2.36 2.79 1 4
Nông thôn 231 2.33 .602 .040 2.26 2.41 1 4
Vùng ven biển 80 2.80 .818 .091 2.62 2.98 1 4
Tổng cộng 356 2.47 .697 .037 2.40 2.54 1 4
3.4.3. Sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH theo nghề nghiệp
Kết quả phân tích Anova cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đánh giá mức độ tác
động của BĐKH giữa các nhóm khác nhau theo nghề nghiệp. Do mức ý nghĩa sig. < 0,05 có thể bác
bỏ giả thuyết HROR “Không có sự khác biệt về sự đánh giá mức độ tác động của BĐKH giữa các nhóm
theo nghề nghiệp.”
Bảng 3.24: Kết quả phân tích Anova theo nghề nghiệp
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
Sum of Squares df Mean Square F Sig.
Between Groups 8.673 6 1.446 3.076 .006
Within Groups 163.987 349 .470
Total 172.660 355
Kết quả phân tích sâu Anova bằng phương pháp kiểm định Tukey HSD cho thấy có sự khác
biệt giữa ngư dân và nông dân trong đánh giá mức độ tác động của BĐKH với mức ý nghĩa sig.<
0,05. Kết quả thống kê mô tả cho thấy ngư dân đánh giá BĐKH tác động đến sinh hoạt và sản xuất
nghiêm trọng hơn nông dân, thể hiện ở giá trị trung bình lần lượt là M = 2,89 và 2,40) (Phụ lục 5).
Bảng 3.25: Kết quả kiểm định Tukey HSD
95% Confidence Interval (J) Nghề nghiệp Sig. (I) Nghề nghiệp Std. Error Mean Difference (I-J)
Ngư dân Công chức, viên chức Lower Bound -.28 Upper Bound .85 .285 .190 .746
Buôn bán .533 .186 .067 -.02 1.09
Công nhân .247 .918 -.45 1.01
Nông dân .279 * .497P .164 .041 .01 .98
Nội trợ .020 .289 1.000 -.84 .88
Làm thuê -.105 .377 1.000 -1.22 1.01
Bảng 3.26: Thống kê mô tả đánh giá mức độ tác động của BĐKH của các nhóm dân cư theo nghề nghiệp
Min Max N Mean Std. Deviation Std. Error 95% Confidence Interval for Mean Lower Bound Upper Bound
41 2.61 .737 .115 2.38 2.84 2 4
Công chức, viên chức
Buôn bán 47 2.36 .764 .111 2.14 2.59 1 4
Công nhân 13 2.62 .768 .213 2.15 3.08 2 4
Ngư dân 19 2.89 .809 .186 2.50 3.28 2 4
Nông dân 224 2.40 .641 .043 2.31 2.48 1 4
Nội trợ 8 2.88 .641 .227 2.34 3.41 2 4
Làm thuê 4 3.00 .816 .408 1.70 4.30 2 4
Tổng cộng 356 2.47 .697 .037 2.40 2.54 1 4
3.4.4. Sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH theo giới tính:
Kết quả phân tích Anova cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thông kê đánh giá về
mức độ tác động của BĐKH giữa hai nhóm nam và nữ. Do mức ý nghĩa sig. > 0,05 không thể bác
bỏ giả thuyết HROR “Không có sự khác biệt giữa nam và nữ về sự đánh giá về mức độ tác động của
BĐKH đối với sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương”.
Bảng 3.27: Kết quả phân tích Anova theo giới tính
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
Sum of Squares df Mean Square F Sig.
Between Groups .150 1 .150 .308 .579
Within Groups 172.510 354 .487
Total 172.660 355
Kết luận chương 3
Qua quá trình thu thập tài liệu và tiến hành khảo sát thực tế cuộc sống, sinh hoạt và sản xuất
của 400 người dân đang sinh sống trên địa bàn các xã thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang
và dựa trên kết quả phân tích chúng tôi rút ta đươc một số nhận định sau:
- Người dân bước đầu đã nhận thức được BĐKH là gì thông qua các phương tiện truyền
thông, qua báo chí, qua người thân , qua bạn bè, qua chính quyền địa phương …
- Thấy được các tác động của BĐKH và ảnh hưởng của BĐKH đến sinh hoạt, sản xuất và
cuộc sống với các diễn biến thất thường của thời tiết, các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, vấn đề xâm
nhập mặn, nguồn nước sinh hoạt, năng suất, cơ cấu mùa vụ, tình hình sức khoẻ, thu nhập….mà đối
tượng bị tổn thương nhiều nhất là người dân sinh sống vùng ven biển đặc biệt là người già, phụ nữ
và trẻ em….
- Về các giải pháp ứng phó và thích nghi với hiện tượng khan hiếm nguồn nước ngọt, xâm
nhập mặn và nước biển dâng, thì giải pháp được đồng tình, ủng hộ nhiều nhất là đắp đê ngăn nước
biển dâng đồng thời chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp nhằm thích ứng trong tình hình
mới.
- Đa số người dân đều nhận thức được rằng việc đi tìm các giải pháp ứng phó và thích nghi
với các tác động của BĐKH và bảo vệ môi trường là trách nhiệm của tất cả mọi người.
Dựa trên các kết quả khảo sát và các nhận định vừa nêu, chúng tôi xem đó là cơ sở để đề xuất
một số giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.
Chương 4. TÌM HIỂU NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BĐKH
4.1. Ứng phó với BĐKH trên thế giới.
Các giải pháp để ứng phó với BĐKH là rất phức tạp và khó thực hiện . Vì đây là hiện tượng
có tính toàn cầu nên đòi hỏi phải có sự chung tay tham gia của tất cả các nước, đặc biệt là các nước
phát triển. Nhiều hội nghị đã được tổ chức, các dự thảo, các quy định đã được đưa ra nhằm mục
đích xây dựng một thoả thuận chung giữa các nước để ứng phó với BĐKH.
Dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, một loạt báo báo về vấn đề này đã được trình bày, và
gần đây nhất là báo cáo IPCC 2007. Trong đó nguyên nhân, quan hệ dẫn tới các hậu quả của quá
trình khí hậu toàn cầu ấm lên về cơ bản đã được phác họa. Ngoài ra, nhiều cuộc hội đàm cấp lãnh
đạo nhiều quốc gia đã được khởi động để bàn tìm giải pháp đối phó, từ các hội nghị ở Rio de
Janeiro, Kyoto (1997), Copenhagen (2009) và Cancun (2010), nhưng đến hôm nay thì vẫn chưa đạt
được một thỏa thuận thống nhất hành động nào. Nhiều ý kiến do dự, băn khoăn không phải bởi
không nhận thức rõ về nguy cơ này mà bởi vì chưa chắc chắn với những thông tin hiện có. Thực tế,
người ta cũng chưa hiểu hết và làm rõ được tất cả, và cũng có thể là chưa biết đến khi nào, quy mô
về cường độ cũng như tốc độ diễn biến quá trình BĐKH, tính chất phức tạp của các tác động đi theo
và cản trở chính là xuất phát từ các lợi ích quốc gia riêng rẽ. Quá trình BĐKH đang có biểu hiện
diễn ra nhanh hơn so với những dự báo trước đây. Điều này thể hiện phần nào qua kết quả tính toán
khác nhau giữa các nhóm nghiên cứu. Vì vậy, cả thế giới đều lúng túng trước vấn đề phức tạp này
bởi nó còn quá mới mẻ, nhưng đều đồng lòng khẩn trương tìm ra lối thoát cho vấn đề. Các ý kiến
chung cũng đều cho rằng hoạt động gây phát thải của chúng ta là nguyên nhân chính dẫn đến sự gia
tăng quá mức của quá trình BĐKH.
Khí hậu nóng lên trên phạm vi toàn cầu là quá trình không thể đảo ngược và lâu dài. Theo
tính toán của Solomon [6] và cộng sự (2010) thì nếu có giải pháp nào kiểm soát ngay quá trình phát
thải thì cũng phải sau hàng thế kỷ mới có thể lặp lại thế quân bình nền nhiệt độ tự nhiên và nồng độ
COR2 R như trước thời kỳ cách mạng công nghiệp. Mặc dù có các nỗ lực tìm kiếm giải pháp nhưng cho
tới nay thì tính khả thi vẫn còn là câu hỏi lớn
BĐKH đã được phác họa trong nhiều kịch bản được công bố, nhưng ở đây mới thể hiện các
biến đổi trung bình được điều hòa trên phạm vi toàn cầu, trong đó không thể hiện được hết các vấn
đề chi tiết ở phạm vi khu vực. Vì vậy tác động của BĐKH ở phạm vi khu vực sẽ phức tạp hơn cũng
như cường độ ảnh hưởng nó đối con người và thiên nhiên cũng rộng lớn hơn so với các kịch bản dự
báo. Khuynh hướng theo dự báo của IPCC-2007 cho khu vực Đông Nam Á thì bão lũ sẽ dồn dập
làm dư thừa nước nhưng rồi lại kéo theo những chu kỳ khô hạn kéo dài. Nhưng các biến động này
cụ thể như thế nào trong tương lai thì vẫn còn là những câu hỏi lớn cần được tiếp tục nghiên cứu,
giải đáp. Nghiên cứu gần đây của Kendall và cộng sự (2008) về biến cố do mảng băng hà
Laurentide ở Bắc Mỹ bị vỡ và tan chảy nhanh vào khoảng 8,2 ngàn năm trước, đã gây nên tăng tốc
mực nước dâng toàn cầu cũng như đột biến khí hậu ở phạm vi toàn cầu. Nhưng tốc độ dâng ngập
nước này là không đều ở mọi nơi do hiệu ứng trọng lực và đàn hồi vỏ trái đất. Ở vùng châu Á đã có
thể tăng tới 105 % so với giá trị trung bình toàn cầu, trong khi ở Bắc Mỹ lại giảm đi. Vì lý do này
mà cộng đồng khoa học đang theo dõi chặt chẽ động thái các khối băng hà ở vùng cực cũng như
trên các đỉnh núi cao.
Đứng trước nguy cơ to lớn của BĐKH thì nhiều giải pháp toàn cục đã được kiến nghị, như
gom và chôn vùi lượng CO R2 R, hay dùng sunphat sắt để tích tụ COR2 R, nhưng tính khả thi và tác dụng
lâu dài của các giải pháp này thì được đánh giá là vẫn chưa chắc chắn. Nguồn phát thải – tác nhân
chính gây hiệu ứng nhà kính và ấm lên của khí hậu toàn cầu vẫn không hề sụt giảm và có thể đạt
đỉnh mới trong năm 2010
Vì vậy, một mặt cả cộng đồng quốc tế đều đang hiệp lực để tìm ra giải pháp có tính khả thi
cao để giảm thiếu tác động của BĐKH, thì đồng thời cũng luôn tìm kiếm con đường để sống thích
nghi với BĐKH. Bàn về sách lược ứng phó trước BĐKH, và qua tổng kết từ nhiều ý kiến thì theo
Prato (2008) chiến lược giảm nhẹ là chiến lược cần được xem xét ở tầm quốc gia, quốc tế, còn ở
phạm vi địa phương thì lại cần có chiến lược khác mới đạt hiệu quả. Đó là chiến lược thích ứng,
theo đó lợi dụng các lợi thế địa phương để giảm những bất lợi do BĐKH gây ra. Hiện tại người Hà
Lan và người Đan Mạch đang đi đầu về những giải pháp liên quan tới chiến lược thích ứng với
BĐKH.[6]
4.2. Ứng phó với BĐKH ở Việt Nam
Từ những phác họa của IPCC 2007[23] qua dạng các kịch bản về BĐKH trong thế kỷ 21 và
tác động của chúng, thì từ tháng 7 năm 2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu cho Chính
phủ chiến lược quốc gia về ứng phó với BĐKH. Trên cơ sở đó, các địa phương và các ngành đều
đang tiến hành xây dựng các kế hoạch ứng phó. Kế hoạch này được tiến hành trên nguyên tắc phát
triển bền vững, các hoạt động ứng phó với BĐKH phải được tiến hành có trọng tâm, trọng điểm,
ứng phó với những tác động cấp bách trước mắt và lâu dài và phải đảm bảo được hiệu quả về kinh
tế. Đây là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị, của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ
chức, của tất cả mọi người và cần được tiến hành với sự đồng thuận và quyết tâm cao, từ phạm vi
địa phương, vùng, quốc gia đến toàn cầu. Mục tiêu chiến lược của chương trình là đánh giá được
mức độ tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực, các ngành, các địa phương trong từng giai đoạn
và xây dựng được kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó hiệu quả với BĐKH cho từng giai
đoạn ngắn hạn, dài hạn nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước, tận dụng các cơ hội phát
triển theo hướng cacbon thấp và tham gia cùng cộng đồng quốc tế trong nổ lực giảm nhẹ BĐKH,
bảo vệ hệ thống khí hậu toàn cầu với các mục tiêu cụ thể. Đánh giá được mức độ biến đổi của khí
hậu Việt Nam do BĐKH toàn cầu và mức độ tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực, các ngành
và các địa phương. Xác định được các giải pháp ứng phó với BĐKH, tăng cường được các hoạt
động khoa học công nghệ nhằm xác lập các cơ sở khoa học và thực tiễn cho các giải pháp ứng phó
với BĐKH. Nâng cao được nhận thức, trách nhiệm tham gia của cộng đồng và phát triển nguồn
nhân lực. Tăng cường được sự hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ sự giúp đỡ, hổ trợ của quốc tế trong
ứng phó với BĐKH ; Tích hợp được ỵếu tố BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành và các địa phương. Xây dựng và triển khai được các kế hoạch
hành động của các bộ, ngành và địa phương ứng phó với BĐKH; triển khai được các dự án thí
điểm.
Trong ứng phó với BĐKH các giải pháp phải có tính tích hợp, hệ thống, đồng bộ, liên ngành,
liên vùng, kết hợp giữa toàn cầu và quốc gia, ưu tiên trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng giai
đoạn; cân nhắc đầy đủ trên cơ sở khoa học, hiệu quả kinh tế và tính đến các yếu tố rủi ro, bất định
của BĐKH, hài hòa giữa lợi ích các bên; kết hợp các giải pháp kỹ thuật và các giải pháp mang tính
xã hội, văn hóa; kết hợp giữa kiến thức khoa học và tri thức bản địa.
Trong Chiến lược quốc gia về BĐKH đến năm 2050 và tầm nhìn đến năm 2100, nhiệm vụ
cấp bách nhất là lập bản đồ ngập lụt tương ứng với các kịch bản về nước biển dâng, điều chỉnh quy
hoạch thủy lợi vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng; triển khai các giải pháp
chống xâm nhập mặn hiệu quả cho các vùng cửa sông để đảm bảo ổn định phát triển kinh tế, kết
hợp với củng cố nâng cấp hệ thống đê sông, đê biển ở các đoạn xung yếu nhất, các dự án chống
ngập cho các thành phố, đô thị lớn. Mặt khác, xây dựng hệ thống giám sát BĐKH và nước biển
dâng với độ chính xác cao, gắn với hệ thống thông tin địa lý, thông tin viễn thám thành một bản đồ
rủi ro thiên tai, rủi ro khí hậu và nước biển dâng phục vụ công tác hoạch định chính sách, các hoạt
động thích ứng từ Trung ương đến địa phương.Tập trung việc nghiên cứu xác định và từng bước
triển khai các giải pháp cụ thể để phòng chống hiệu quả thiên tai, lũ quét và sạt lở đất ở miền núi.
Cần đẩy mạnh hơn nữa tiến độ thực hiện các dự án trồng rừng, tái trồng rừng, khuyến khích các
doanh nghiệp đầu tư vào trồng rừng kinh tế. Hoàn thành xây dựng các chương trình chiến lược năng
lượng quốc gia trung và dài hạn và các chương trình đặc biệt cho các ngành quan trọng như than,
dầu khí, năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân nhằm đảm bảo cung cấp năng lượng ổn định và
phát triển năng lượng sạch về lâu dài. Thực hiện rà soát, điều chỉnh thích hợp, có cơ sở khoa học các
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội quốc gia, các bộ, ngành, địa
phương và hoàn thành vào năm 2015.[3]
Hiện đại hóa hệ thống quan trắc và công nghệ dự báo khí tượng thủy văn bảo đảm cảnh báo,
dự báo sớm các hiện tượng khí hậu cực đoan. Đến năm 2015 phát triển mạng lưới quan trắc khí
tượng thủy văn đồng bộ, có mật độ trạm tăng ít nhất 50% so với hiện nay và tự động hóa 75% số
trạm. Nâng thời hạn dự báo bão, áp thấp nhiệt đới lên 72 giờ, giảm 50% thiệt hại về người do các
hiện tượng khí hậu cực đoan gây ra so với trung bình năm 1990-2000. Để thích ứng với BĐKH,
việc đầu tiên là phải đảm bảo các nguồn lực tài chính. Theo đó, ngân sách nhà nước tăng mức đầu
tư cho công tác này, nhất là đầu tư cho các dự án ứng phó cấp bách được triển khai có trọng tâm,
trọng điểm đạt hiệu quả cao khắc phục tác động của BĐKH. Đi đôi với chú trọng thu hút nguồn vốn
từ hỗ trợ phát triển ODA, các cơ chế tài chính quốc tế phù hợp cho các dự án ứng phó với BĐKH,
nâng cao năng lực, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý. Xây dựng những các cơ chế
khuyến khích, huy động các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia cung cấp
tài chính cho ứng phó với BĐKH. Tăng cường sự tham gia của toàn hệ thống chính trị trong tổ chức
chỉ đạo, phối hợp liên ngành về thích ứng và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; hoàn thiện hệ thống
thể chế tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình xây dựng văn bản pháp luật, lập quy
hoạch, kế hoạch, quản lý và giám sát việc thực hiện Chương trình, dự án về BĐKH tại các địa
phương. Xây dựng các cơ chế khuyến khích, huy động các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và
ngoài nước tham gia cung cấp tài chính cho ứng phó với BĐKH.
Nâng cao năng lực, vị trí, vai trò của Việt Nam trong đàm phán quốc tế về BĐKH. Đẩy mạnh
hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới trong quá trình thực hiện Công ước khung của
Liên hợp quốc về BĐKH, Nghị định thư Kyoto và các thỏa thuận, hiệp định quốc tế khác có liên
quan; tích cực, chủ động, sáng tạo xây dựng các thỏa thuận, các hiệp định hợp tác quốc tế mới về
thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính....
4.3 Ứng phó với BĐKH ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
BĐKH đang và sẽ tác động mạnh mẽ tới Việt Nam, mà đặc biệt là khu vực ĐBSCL, hậu quả
của BĐKH sẽ càng trở nên nghiêm trọng hơn do ĐBSCL là vùng chuyên canh sản xuất lương thực -
thực phẩm lớn nhất của cả nước và khu vực Đông Nam Á. Chính vì vậy, việc tìm kiếm các giải
pháp để kịp thời ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL là vô cùng cấp thiết. Đã có rất nhiều giải pháp được
đưa ra, trong đó có những giải pháp được xem là cấp thiết và mang tính chiến lược nhất trong bối
cảnh BĐKH diễn biến phức tạp như hiện nay. Với những diễn biến hiện nay về BĐKH toàn cầu và
mực nước biển dâng, đòi hỏi các ban ngành, các lĩnh vực cần nghiên cứu triển khai, phát huy và
đào tạo nguồn nhân lực, quản lý nhà nước và hợp tác quốc tế nhằm ứng phó để giảm thiểu những
thiệt hại , bảo vệ tối đa thành quả lao động quá khứ và tiếp tục phát triển bền vững, một nhiệm vụ
được coi là có ý nghĩa sống còn đối với đất nước trong những thập kỷ tới và cần nhận thức đúng
mức.
ĐBSCL được hình thành vào khoảng 11.000 năm trở lại đây, có cao trình mặt đất tương đối
thấp. Trên nhiều vùng khá rộng như Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà
Mau…nhiều nơi cao trình chỉ cao 20-30cm. Khi mực nước biển dâng, hậu quả dễ thấy nhất là nhiều
vùng bị ngập, không chỉ có ngập tĩnh mà động lực biển vùng ven bờ và cửa sông, sóng vỗ khi tiếp
cận bờ sẽ sẽ tác động mạnh hơn lên đường bờ, bãi triều. Bờ biển bị xâm thực và cơ sở hạ tầng ven
biển bị đe doạ nhiều hơn. Ở các đồng bằng ven biển, độ ngập sẽ sâu hơn, thời gian ngập sẽ kéo dài
hơn. Xâm nhập mặn sẽ vào sâu hơn nguồn nước ngọt khan hiếm hơn. Chế độ thuỷ văn, thuỷ lực trên
từng địa bàn và trên cả đồng bằng sẽ có những thay đổi, khiến cho những động thái bồi lấp hoặc xói
mòn bờ sông, cù lao, cồn bãi, bồi lắng phù sa ở vùng cửa sông có nhiều thay đổi. Ứng phó với biển
dâng là một nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu về nhiều mặt kinh tế - xã hội và an ninh quốc
phòng. Có rất nhiều cách ứng phó nhưng không có cách ứng phó nào là duy nhất cho mọi đối tượng,
ở mọi nơi, mọi lúc. Vì vậy để ứng phó tốt nhất thì cần nắm rõ tình hình cụ thể của từng địa bàn, khả
năng bảo vệ có hay không, tính khả thi và hiệu quả tổng hợp kinh tế xã hội, văn hoá của phương án
ứng phó. Nhìn tổng thể khu vực ĐBSCL, có thể áp dụng một số giải pháp cụ thể như sau:
4.3.1. Nâng cao nhận thức của người dân
Làm cho họ nhận thức được tính tất yếu của việc phải ứng phó với BĐKH và biển dâng,
thấy được tác động mọi mặt của BĐKH từ tự nhiên đến kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng.
4.3.2. Xác định và tiến hành sớm những nội dung cần nghiên cứu
- Lập bản đồ địa hình tỉ lệ lớn của vùng ven biển, các vùng trũng ; các vùng địa mạo không
ổn định do phá rừng và do biển dâng.
- Phân định các tiểu vùng A, B, C của ĐBSCL theo các phương án biển dâng, mô phỏng các
tác động về tự nhiên, kinh tế, xã hội phục vụ cho việc ứng phó, trên từng địa bàn trong từng phương
án mực nước biển dâng.
- Phân vùng thuỷ văn, thuỷ lực các tiểu vùng theo các phương án mực nước biển dâng.
- Dự báo các công trình trong kết cấu hạ tầng bị đe doạ do biển dâng. Hợp lý hoá hệ thống
giao thông thuỷ bộ, kết hợp các nhiệm vụ xây dựng cụm, tuyến dân cư và thuỷ lợi.
- Nâng cao công nghệ hạn chế xâm thực bờ biển, công nghệ xây dựng trên nền đất yếu, bị
ngập nước ; sử dụng các vật liệu nhẹ, bền trong môi trường nước lợ và nước mặn.
- Nghiên cứu các giống cây con, đặc biệt các giống lúa có gien chịu mặn cao, thân cao, .…
- Thử nghiệm những hệ thống sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao và bền vững, phù
hợp với bối cảnh mới của từng tiểu vùng.
- Đề xuất những mô hình công nghiệp hoá trong bối cảnh mới (diện tích đất không bị ngập
ngày càng giảm, vấn đề khan hiếm nguồn nước ngọt…..) vì sự phát triển bền vững.
- Đề xuất các phương thức quần cư thích hợp với tập quán và hoàn cảnh mới. Ngoài phương
thức quần cư trong đê bao, trong cụm dân cư vượt lũ, cần nghiên cứu hiện đại hoá nhà sàn, thiết kế
các nhà nổi và khu dân cư nổi…
- Dự báo các luồng dịch chuyển dân cư, dịch chuyển cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động…từ đó
dự kiến các địa bàn có thể tái bố trí.
4.3.3. Phát huy và đào tạo nguồn nhân lực
Trong chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH và nước biển dâng, cần phát huy
đội ngũ cán bộ khoa học hiện có thông qua một chương trình khoa học và công nghệ đi từ dự báo,
đến mô phỏng và tìm các biện pháp thích hợp nhằm tích cực khắc phục các thách thức.
Cần thiết lập ở trường đại học các khoá, bộ môn đào tạo liên thông và liên kết từ hải dương
học, địa chất, động lực học ven biển và vùng cửa sông, toán ứng dụng và cơ học đi sâu về BĐKH và
biển dâng nhằm đào tạo một nguồn nhân lực lâu dài cho đất nước.
Đào tạo nguồn nhân lực thông qua giảng dạy và thông qua nghiên cứu thực hiện các đề tài
mà thực tế đặt ra.
4.3.4. Nâng cao năng lực quản lý
Xây dựng cơ sở dữ liệu (bản đồ, số liệu, ảnh vệ tinh phục vụ cho công tác ứng phó với
BĐKH và biển dâng) hoặc xây dựng danh mục các dữ liệu hiện có ở các cơ quan và quy chế sử
dụng chung các dữ liệu này.
Có chương trình bảo vệ và trồng rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển.
Thống kê số hộ và số dân hiện đang cư trú dọc theo ven biển, những nơi bị đe dọa xâm thực
và cần được bố trí đến nơi cư trú mới an toàn trên từng độ cao mà không làm tổn hại đến sự ổn định
của địa mạo.
Xác định tiềm năng các địa bàn cư trú mới, hoạch định mô hình canh tác và kết cấu hạ tầng.
Quản lý chặt chẽ việc khai thác và bảo vệ nguồn nước ngầm, nguồn nước ngọt.
Cần có sự phối hợp hành động liên ngành, liên vùng, phối hợp chặt chẽ từ trung ương đến địa
phương nhất là giữa ĐBSCL và Đông Nam Bộ để chủ động có lộ trình biến sự dịch chuyển bộ phận
nguồn lực một cách tự phát trở thành sự phân bố lại lực lượng sản xuất. Mọi quy hoạch cần được
đầu tư nghiêm túc, các công trình đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước phải đảm bảo được tính bền
vững và đạt hiệu quả tổng hợp cao.
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để kịp thời có thông tin, số liệu cập nhật thường xuyên liên quan
đến BĐKH và biển dâng ; hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác trong điều tra và nghiên
cứu những đề tài khoa học đặt ra cho cả khu vực và thế giới.
4.4. Ứng phó với BĐKH ở huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang
Khu vực Gò Công Đông với cao trình phổ biến từ 0,8m và thấp dần theo hướng Đông Nam,
ra đến biển Đông chỉ còn 0,4 - 0,6m. Có hai vùng trũng cục bộ tại xã Tân Điền và Tân Thành. Do
tác động bồi lắng phù sa từ cửa Soài Rạp đưa ra, khu vực ven biển phía Bắc (Tân Trung, Tân
Phước, Gia Thuận, Vàm Láng) có cao trình hơn hẳn khu vực phía Nam .Trên địa bàn còn có rất
nhiều giồng cát biển hình cánh cung có cao trình phổ biến từ 0,9 - 1,1m nổi hẳn lên trên các đồng
bằng chung quanh là vùng có địa hình thấp, độ cao trung bình 2m trên mực nước biển, một số nơi
chỉ cao 0,5m. Do đó, các tác động từ BĐKH và nước biển dâng đang thực sự là mối đe dọa đối với
hệ sinh thái cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Khi lượng nước được cung cấp ít đi thì
lượng phù sa được bồi đắp hàng năm cũng sẽ giảm, nguồn lợi thuỷ sản và sinh vật phù du chắc chắn
cũng giảm đi đáng kể, sự biến đổi của gió chướng, triều cường, bão, dòng hải lưu… sẽ khiến tình
hình xâm nhập mặn càng trở nên phức tạp hơn, hiện tượng xói lở đường bờ cũng sẽ mạnh hơn so
với hiện nay. Hậu quả của hiện tượng này sẽ là: Đa dạng sinh học suy giảm do một số hệ sinh thái
rừng ngập mặn bị mất dần đi. Khi xâm nhập mặn đi vào sâu hơn và sớm hơn, thời gian canh tác hai,
ba vụ trong năm cũng không còn được như trước. Nhiều loại cây trồng khác cũng sẽ giảm cả về diện
tích và năng suất. Chi phí cho sản xuất lương thực sẽ tăng lên để đối phó với tình trạng nhiễm phèn,
nhiễm mặn trên diện rộng.. Tình trạng ngập mặn sẽ làm trầm trọng hơn vấn đề ô nhiễm nguồn nước
và cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất trong vùng.
Có thể nói, những hậu quả mà BĐKH gây ra đối với huyện Gò Công Đông là rất nghiêm
trọng nhất là vùng ven biển, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của vùng nếu không có sự ứng
phó kịp thời. Trong đó, vấn đề sinh hoạt và sản xuất của người dân cần phải được quan tâm nhiều
nhất vì đây là khu vực dễ bị tổn thương nhất khi BĐKH xảy ra. Việc đi tìm các giải pháp trong bối
cảnh BĐKH diễn biến phức tạp như hiện nay nhằm ứng phó, chung sống thích nghi, hạn chế tối đa
với những điều kiện bất lợi do BĐKH gây ra là cấp thiết. Các nhóm giải pháp có thể được áp dụng
phổ biến ở các lĩnh vực cụ thể như sau:
4.4.1. Nông nghiệp
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng các loại cây trồng có khả năng chịu hạn, chịu mặn để
tránh thời kỳ thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn được xem là giải pháp cấp bách.
Đối với cây lúa : nên dùng các giống lúa có khả năng thích nghi rộng cho năng suất cao, chịu
hạn và chịu mặn tốt. Cùng với xây dựng lịch thời vụ né hạn tránh mặn, cần khuyến khích người dân
ứng dụng nhanh những tiến bộ kỹ thuật thâm canh, chọn cơ cấu giống lúa phù hợp, đưa cây màu
xuống chân ruộng, nhân rộng những mô hình sản xuất tiết kiệm nước như : luân canh trồng lúa kết
hợp trồng màu hoặc chuyên canh màu... để tăng hiệu quả sản xuất. Có thể giảm diện tích lúa vụ
đông xuân lại, tăng diện tích tôm và thủy hải sản nước lợ và mặn. Vùng có nguy cơ nhiễm mặn nên
áp dụng hệ thống lúa - tôm, cần sử dụng giống lúa năng suất cao dưới 100 ngày, sau đó nuôi tôm.
Vùng ngọt không ngập sâu nên chuyển vụ hè thu sang thu đông với các giống lúa chất lượng cao,
rồi trồng màu giá trị cao trong vụ đông xuân
Đối với cây hoa màu : Nên sử dụng gốc ghép, áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác như
xử lý chất điều hoà sinh trưởng, cung cấp chất dinh dưỡng, phòng trừ sâu bệnh để tăng cường tính
chống chịu của cây trồng. Áp dụng các biện pháp che phủ líp, tưới nhỏ giọt để hạn chế ảnh hưởng
của khô hạn và lai tạo giống chịu nhiệt để chống chịu nhiệt độ cao. Phát triển trồng rau thuỷ canh
(trồng trong dung dịch) để chủ động được mùa vụ, đất đai canh tác.
Đối với cây ăn quả: Hầu hết các loài cây ăn quả đều không thích hợp với điều kiện ngập sâu
và nhiễm mặn, do vậy ngành trồng cây ăn quả sẽ gặp nhiều khó khăn do nước biển dâng. Cần sử
dụng phương pháp lai tạo chọn gốc ghép để tạo ra các giống cây ăn quả có khả năng chống chịu
hạn, chịu mặn như cây xoài và một số cây có múi như cam, quýt, bưởi. Hoàn thiện hợp lý các mô
hình VAC, RVAC nhằm tận dụng nguồn nước ngọt từ các ao, mương trong vườn để sử dụng trong
mùa khô, kết hợp nuôi trồng thủy sản. Đây được xem là một biện pháp hiệu quả để đảm bảo sản
xuất nông nghiệp trong điều kiện BĐKH. Tuy nhiên, để ứng phó với BĐKH người nông dân cũng
cần phải chú trọng các biện pháp kỹ thuật canh tác: Lên bờ bao để bảo vệ ở vùng trũng và tùy theo
điều kiện địa hình mà trồng các loại cây khác nhau. Nơi dễ bị ngập thì trồng cây tương đối chịu úng
như chanh gai, xoài, chuối, bưởi... Trên đất cao nên trồng các loài cây sợ nước như mít, đu đủ, na
(mãng cầu ta)... Vùng thấp trũng nên trồng các loại cây chịu úng tốt như khoai nước, củ ấu, rau
muống, rau nhút...
4.4.2. Lâm nghiệp
Nhằm đối phó với BĐKH gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống và sản xuất, cần triển khai
nhiều giải pháp tích cực trong đó đặc biệt quan tâm đầu tư mở rộng diện tích và bảo vệ, chăm sóc
rừng phòng hộ, rừng sinh thái, khuyến khích nhân dân tích cực trồng cây chắn sóng và chắn gió, bảo
vệ các tuyến đê bao, chống sạt lở.... đặc biệt là bảo vệ tuyến đê biển xung yếu ven biển Gò Công.
Nếu dải rừng ngập mặn ven biển hiện nay không được bảo vệ tốt thì dần dần sẽ bị đẩy lùi vào đất
liền, diện tích sẽ bị thu hẹp. Từ đó người dân sẽ đối mặt với giông bão khắc nghiệt hơn vì không
còn rừng để che chắn. Nhiệt độ gia tăng, lượng nước sụt giảm có thể gây cháy rừng, hệ sinh thái bị
phá hủy.
Tăng cường trồng rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển để hạn chế ảnh hưởng của thuỷ
triều vào sâu trong đất liền, tạo môi trường sống cho các loài thủy sản nuôi trồng và là nơi để nhiều
loài thủy sản tự nhiên sinh sôi nảy nở.
Tăng cường trồng mới, đồng thời cấm ngặt hiện tượng chặt phá, đào bới rừng để chuyển đổi
mục đích sử dụng. Để bảo vệ rừng phòng hộ bên trong, kiên quyết không cho đốn bỏ những mảng
rừng chết phía ngoài làm củi, bởi khi rừng chết bị triệt hạ, xu hướng rừng chết sẽ càng tiến sâu vào
đất liền khiến công tác trồng rừng tái sinh gặp khó khăn.
P là ngư trường giàu tôm cá, nguồn lợi thủy
2 Với diện tích mặt biển của huyện gần 12.000 kmP
4.4.3. Thuỷ sản
sản phong phú cùng với hàng chục ngàn ha đất cồn, bãi bồi cửa sông thuộc các xã: Tân Thành, Tân
Điền, Kiểng Phước, Vàm Láng... có điều kiện hết sức thuận lợi phát triển nuôi trồng thủy hải sản có
giá trị xuất khẩu cao như: nghêu, sò huyết, tôm sú, tôm thẻ, cá chẻm...
Để khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên này, cần chú trọng khuyếch trương đồng bộ hai
lợi thế đặc thù: nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản gắn với mở mang công nghiệp chế biến xuất
khẩu, tạo công ăn việc làm và an sinh xã hội, tăng nhanh nguồn hàng hóa dồi dào có giá trị cao
chiếm lĩnh thị trường trong ngoài nước.
Chú trọng nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu canh tác xen canh tôm – lúa hoặc cá – lúa, nghiên
cứu các giống thuỷ sản có thể phát triển lâu dài ở vùng nước lợ, tập trung các giải pháp bảo tồn và
khai thác hợp lí nghêu giống và sò huyết giống ở ven biển Gò Công. Đẩy mạnh qui trình sản xuất
nghêu giống bằng phương pháp nhân tạo nhằm chủ động nguồn con giống cho vùng nuôi tập trung.
- Triển khai các dự án nuôi trồng thủy sản lớn: Dự án nuôi thủy sản Bắc Gò Công, dự án nuôi
tôm Nam Gò Công, Dự án qui hoạch vùng giống nhuyễn thể hai mãnh võ...
4.4.4. Nguồn nước
Cần xây dựng, mở rộng diện tích các hồ, ao chứa nước ngọt để vừa phục vụ tưới tiêu vừa kết
hợp nuôi trồng thuỷ sản vừa có thể phát triển du lịch.. Đầu tư nâng cấp các công trình dẫn ngọt,
ngăn mặn trong dự án thuỷ lợi ngọt hóa Gò Công. Phát huy tốt mạng lưới đê bao và cống đập ngăn
mặn, trữ ngọt trong nội đồng phục vụ sản xuất để tăng mùa, chuyển vụ, đa dạng hóa cơ cấu cây
trồng.
Thường xuyên quan trắc diễn biến và dự báo xâm nhập mặn, phát huy vai trò các cống đập
đầu mối lấy nước ngọt trữ vào nội đồng như: Xuân Hòa, Vàm Giồng... phục vụ sản xuất.
Sớm tiến hành nghiên cứu dự án xây dựng tuyến đê biển Vũng Tàu – Gò Công (tuyến đê
biển này dài 32km, rộng 50m tổng kinh phí dự kiến khoảng 30 nghìn tỷ đồng) tạo ra một hồ chứa
nước rộng 56.000 ha có tác dụng điều tiết thủy triều dâng, trữ nước trong mùa mưa lũ, xử lý triệt để
vấn đề ngập úng do triều cường và mưa lớn tại TP. Hồ Chí Minh và ngăn chặn xâm nhập mặn tại
khu vực Gò Công, thoát lũ cho vùng Đồng Tháp Mười.
Ở vùng nông thôn, mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình có thể dùng những túi mềm dự trữ nước
mưa, ngoài việc góp phần ứng phó BĐKH thì nước mưa cũng chính là nguồn nước ngọt đuợc sử
dụng chủ yếu trong sinh hoạt của những tháng mùa khô.
4.4.5. Sinh hoạt sản xuất và đời sống của dân cư
Cần đảm bảo nguồn nước sạch cho sinh hoạt trong những tháng xâm nhập mặn kéo dài.
Nghiên cứu và thiết kế các công trình công cộng, nhà ở trong điều kiện bị ảnh hưởng của xâm nhập
mặn và nước biển dâng
Tăng cường nhận thức cho cộng đồng về BĐKH và chiến lược biện pháp thích ứng với
BĐKH. Mỗi cá nhân phải có ý thức trong việc bảo vệ môi trường, tiết kiệm nguồn năng lượng. Cần
tổ chức các lớp tập huấn, phổ biến rộng rãi cho nông dân, đưa các giống cây, con mới và nhanh
chóng triển khai các biện pháp ứng phó với BĐKH. Đầu tư thích đáng về vốn, cung cấp kinh phí
nhiều hơn cho việc nghiên cứu và thực thi các giải pháp ứng phó với BĐKH.
Với những diễn biến hiện nay về BĐKH toàn cầu và mực nước biển dâng, đòi hỏi các ban
ngành, các lĩnh vực cần nghiên cứu triển khai, phát huy và đào tạo nguồn nhân lực, quản lý nhà
nước và hợp tác quốc tế nhằm ứng phó để giảm thiểu những thiệt hại , bảo vệ tối đa thành quả lao
động quá khứ và tiếp tục phát triển bền vững, một nhiệm vụ được coi là có ý nghĩa sống còn đối với
đất nước trong những thập kỷ tới và cần nhận thức đúng mức.
KẾT LUẬN
1. Kết luận :
Tìm hiểu các tác động của BĐKH đến cuộc sống, sinh hoạt, sản xuất của người dân ĐBSCL
nói chung và của tỉnh Tiền Giang nói riêng trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội hiện nay là một nhiệm
vụ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của vùng và của cả nước, để từ đó có thể tìm
ra các giải pháp phù hợp nhằm thích ứng và đối phó một cách tích cực. Đối chiếu với mục đích,
nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã giải quyết được những vấn đề sau :
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn làm cơ sở nền tảng cho việc nghiên cứu đề tài
+ Hệ thống hoá và làm rõ hơn các cơ sở lí luận về BĐKH, nguyên nhân hình thành cũng như
tác động của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp, tài nguyên nước, tài nguyên biển, tài nguyên
rừng, cuộc sống dân cư và vấn đề tái định cư .
+ Thực trạng biến đổi khí hậu trên thế giới mà ảnh hưởng đầu tiên là tác động lên hầu hết các
thành phần môi trường và trước hết là làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng cao, mực nước biển dâng.
+ Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam với những tác động trước mắt và lâu dài làm ảnh
hưởng đến cuộc sống, sinh kế, tài nguyên thiên nhiên, cấu trúc xã hội, hạ tầng kỹ thuật và nền kinh
tế... mà đối tượng bị tổn thương nhiều nhất là nhóm người nghèo sinh sống ở vùng nông thôn, vùng
ven biển và khu vực miền núi.
- Tổng quan các tài liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan đến BĐKH trên thế giới
và ở Việt Nam.
- Khảo sát, điều tra tác động của BĐKH đến cuộc sống, sinh hoạt và sản xuất của 400 người
dân đang sinh sống tại các xã Tân Thành, Vàm Láng, Kiểng Phước, Gia Thuận, thị trấn Tân Hoà
thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Phân tích các tác động của BĐKH đến sinh hoạt và
sản xuất của dân cư ở huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
- Tìm hiểu các chiến lược ứng phó, thích nghi với BĐKH trên thế giới, ở Việt Nam, ở
ĐBSCL.
- Đề xuất một số giải pháp trong ứng phó, thích nghi và hạn chế những tác động của BĐKH
đến vấn đề sinh hoạt và sản xuất của dân cư huyên Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang.
2. Khuyến nghị :
Qua nghiên cứu và tiến hành điều tra khảo sát thực tế ở địa phương, chúng tôi xin nêu một số
đề xuất các khuyến nghị sau :
- Đối với các cấp lãnh đạo, các nhà khoa học
+ Xây dựng chương trình, mục tiêu quốc gia, hướng dẫn cụ thể cho các ngành, các địa
phương chủ động xây dựng chương trình phù hợp nhằm giảm nhẹ các tác động của BĐKH.
+ Đầu tư ngân sách nhà nước và phương tiện, cơ sở vật chất thích đáng cho các hoạt động
nghiên cứu về BĐKH.
+ Cần chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu, đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các đề tài khoa
học nghiên cứu về BĐKH.
+ Cần triển khai ngay từ bây giờ các hoạt động ứng phó với BĐKH và nên lồng ghép vào kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, các lĩnh vực, các địa phương...
+ Huy động sự tham gia rộng rãi và tích cực của các cấp Đảng, chính quyền, đoàn thể và của
toàn dân vào các hoạt động nghiên cứu, ứng phó và thích nghi với BĐKH.
+ Mở rộng hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ sự giúp đỡ về tài chính, công nghệ, kinh nghiệm
của các nước và các tổ chức quốc tế có liên quan.
- Đối với chính quyền địa phương :
+ Phải tranh thủ điều tra, nghiên cứu trên từng địa bàn bị đe dọa để chuẩn bị phương án ứng
phó tốt nhất.
+ Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin và nâng cao nhận thức của người dân
về BĐKH.
+ Phối hợp tốt với các trạm dự báo khí tượng, thuỷ văn. Cải tiến và nâng cao chất lượng dự
báo kịp thời các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, lũ, nắng nóng, hạn hán, tình hình xâm nhập
mặn kéo dài....
+ Việc qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với ổn định sản xuất, bảo vệ môi
trường.
+ Quy hoạch, phân vùng thuỷ văn, thuỷ lực nhằm duy trì sản xuất, đời sống bền vững. Xây
dựng hệ thống thuỷ lợi gắn liền với việc phát triển giao thông nông thôn để phát huy hiệu quả đồng
bộ.
+ Nghiên cứu, sản xuất, nhân rộng các giống cây con chịu mặn...
+ Tăng cường bảo vệ và mở rộng diện tích trồng rừng ngập mặn ; Quy hoạch nuôi trồng thuỷ
sản: nghêu, tôm, cá... ; Phát triển các khu bảo tồn sinh thái; Không quy hoạch khu định cư gần bờ
biển, cửa sông...
+ Cần phải xây dựng mới và nâng cấp hệ thông đê biển Gò Công
- Đối với người dân
+ Phải có ý thức và trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường, giữ gìn môi trường trong sạch.
+ Cần có những hành động thiết thực góp phần giảm nhẹ các tác động của BĐKH: Sử dụng
tiết kiệm nguồn năng lượng; Tăng cường sử dụng xe đạp, xe buýt thay cho xe gắn máy; Xây dựng
hầm biogas để tự sản xuất ga đun nấu và cung cấp nguồn năng lượng cho các thiết bị điện sử dụng
trong gia đình; Dùng bình nước nóng năng lượng mặt trời; Trồng hàng rào cây xanh, hoa, kiểng ở
gia đình và nơi công cộng....
+ Hạn chế sử dụng quá nhiều phân hoá học trong sản xuất nông nghiệp, tăng cường sử dụng
phân hữu cơ để tránh phát thải khí mêtan.
+ Hạn chế phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thuỷ sản.
+ Phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các nhà khoa học, các tổ chức đoàn thể...
trong chiến lược thích ứng với BĐKH và tìm ra biện pháp phòng ngừa, giảm nhẹ hậu quả của thiên
tai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt -
1. Lê Huy Bá, Nguyễn Thi Phú, Nguyễn Đức An (2009), Môi trường khí hậu thay đổi– Mối hiểm
hoạ của toàn cầu, Nxb ĐHQG TP. HCM.
2. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang (2005), Địa chí tỉnh Tiền Giang.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí
hậu, Hà Nội.
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam,
Hà Nội.
5. Nguyễn Khắc Hiếu (2008), Tổng quan về các kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu và kết quả Hội
nghị Liên Hợp Quốc về BĐKH ở Bali. Báo cáo tại Hội thảo BĐKH toàn cầu và ứng phó của
Việt Nam, Hà Nội 26-29/2/2008.
6. Đỗ Tuyết Khanh (2009), Khủng hoảng lương thực thế giới và nông nghiệp Việt Nam, Tạp chí
thời đại mới, số 17
7. Trần Đức Lương (2008), Hiểm họa của biến đổi khí hậu toàn cầu đối với Việt Nam và nhìn từ
Việt Nam. Báo cáo tại Hội thảo BĐKH toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam, Hà Nội,
26-29/2/2008.
8. Ngân hàng Thế giới (World Bank), Báo cáo phát triển thế giới 2010, Phát triển và biến đổi khí
hậu, Wasington, DC.
9. Nguyễn Đức Ngữ (2008), Biến đổi khí hậu và khô hạn, hoang mạc hóa. Hội thảo BĐKH toàn
cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam, Hà Nội.
10. Nguyễn Đức Ngữ (2008), Biến đổi khí hậu, Nxb Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội.
11. Phòng Thống kê Huyện Gò Công Đông, Niên giám thống kê Huyện Gò Công Đông năm 2009.
12. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tiền Giang (2011), Tài liệu Hội thảo chuyên đề “Rừng và
Biển”.
13. Sở Nông nghiệp và PTNT Tỉnh Tiền Giang (2008), Báo cáo kết quả công tác năm 2008 và kế
hoạch năm 2009 của ngành nông nghiệp.
14. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang (2011), Tài liệu Hội thảo chuyên đề “Rừng và
Biển”.
15. Sở Tài nguyên và Môi trường Tp. Cần Thơ (2010), Đánh giá Tác động của Biến đổi Khí hậu và
Tổn thương lên Thành phố Cần Thơ.
16. Nguyễn Ngọc Trân (2008), Ứng phó với biến đổi khí hậu và biển dâng ở ĐBSCL và Duyên hải
Miền Trung - Một số nhiệm vụ cần triển khai.
17. Trung tâm khí tượng thuỷ văn tỉnh Tiền Giang (2010), Bảng thống kê các hiện tượng khí tượng
thuỷ văn huyện Gò Công Đông từ 2000-2010
18. Lê Anh Tuấn (2009), Tác động của Biến đổi khí hậu lên hệ sinh thái và phát triển nông thôn
vùng đồng bằng sông Cửu Long, Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên , Viện Nghiên
cứu Biến đổi Khí hâu - Đại học Cần Thơ.
19. Lê Anh Tuấn (2009), Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL, Viện
Nghiên cứu Biến đổi Khí hâu - Đại học Cần Thơ.
20. Lê Anh Tuấn (2009), Tổng quan về nghiên cứu Biến đổi khí hậu và các hoạt động thích ứng ở
Miền nam Viêt Nam, Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hâu - Đại học Cần Thơ
21. IPCC (2007), Báo cáo của Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu.
22. UNESCO (2005), Thập kỉ giáo dục vì sự phát triển bền vững Liên Hợp Quốc 2005 / 2014,
UNESCO Việt Nam, Hà Nội.
23. UNDP(2007), Báo cáo phát triển con người 2007-2008.
24. UNFCCC (1992), Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu.
TIẾNG NƯỚC NGOÀI
25. Agence Française De Développement (AFD), AFD-Changement Climatique
26. Adaptation to climate change in coastal areas of the Mekong delta, Vietnam. GTZ, 2009.
27. ADB, (2009), The Economics of Climate change in Southeast Asia, A Regional Review.
28. Broecker W.S. (1975) – Climatic change – are we on brink of a pronounced global warming?
Science.
29. Paul.G Harris, Global warming and East Asia – The domestic and international politics of
climate change, Routledge, Taylor & Francis Group
30. S.Sonak, Community – based climate change adaptation in Vietnam : inter-linkages of
environment, disaster and human security, Kyoto University, Japan.
TÀI LIỆU KHÁC
31. Al
Gore, 8Thttp://vi.wikipedia.org/wiki/Al_Gore#K.C3.AAu_g.E1.BB.8Di_Quan_t.C3.A2m_.C4.91.
E1.BA.BFn_M.C3.B4i_tr.C6.B0.E1.BB.9Dng8T
32. Biến đổi khí hậu đe doạ Việt Nam, http://www.thichungbiendoikhihau.uniad.com.vn/bien-doi-
khi-hau/35-bien-doi-khi-hau.html
33. Biến đổi khí hậu và đa dạng sinh học Việt Nam
http://www.sinhhocvietnam.com/forum/archive/index.php?t-7499.html
34. Biến đổi khí hậu trên thế giới: Đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng nặng nhất,
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Moi-truong/444244/Bien-doi-khi-hau tren-the-gioi-Dong-
bang-song-Cuu-Long-chiu-anh-huong-nang-nhat.html
35. Biến đổi khí hậu với báo cáo của stern,
http://kinhtebien.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=150:bin-ng-khi-hu-vi-
bao-cao-ca-stern-pgs-ts-hoang-xuan-nhun-dch-va-gii-thiu&catid=76:him-ha-nc-
dang&Itemid=50
36. Các kỉ lục về khí tượng thủy văn Việt Nam, http://www.nchmf.gov.vn/web/vi-
VN/69/59/Default.aspx
37. 8TChủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, http://tintuc.vnn.vn/newsdetail/xa_hoi/80350/chu-dong-
ung-pho-voi-bien-doi-khi-hau.html 8T
38. Đồng bằng sông Cửu Long,
http://www.mekongdelta.com.vn/mekongdelta/news.asp?cate_id=28&sub_id=81&news_id=18
39. ĐBSCL12T: Nhanh chóng ứng phó và thích nghi với biến đổi khí
hậu, 12T 8Thttp://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&CateID=106&ID=90790&Code=V
WQKY907908T
40. ĐBSCL: Nhiều tuyến đê biển bị sạt lở nghiêmtrọng, http://vietbao.vn/Xa-hoi/DBSCL-Nhieu-
tuyen-de-bien-bi-sat-lo-nghiem-trong/20707796/157/
(-http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Moi-truong/444244/Bien-doi-khi-hau-tren-the-gioi-Dong-
bang-song-Cuu-Long-chiu-anh-huong-nang-nhat.html-3TThứBa, 28/06/2011)
41. Hậu lũ miền Trung : Nhìn lại những con số nhói
lòng, 8Thttp://thethaovanhoa.vn/132N20101021093815898T0/hau-lu-mien-trung-nhin-lai-nhung-
con-so-nhoi-long.htm8T
42. 8THuman Development Report 2007/2008 Climate Change and Human Development in
VietNam...8Twww.dwf.org/vietnam/phongchongbao/index.htm
43. Miền Tây đói lũ, 8Thttp://thethaovanhoa.vn/132N20101026091253785T138/mien-tay-doi-lu.htm8T
44. Mong manh đê biển Gò Công trước mùa bão tố
2009, 8Thttp://www.tiengiang.gov.vn/xemtin.asp?cap=3&id=10778&idcha=999 8T
45. Nỗi lo mất mùa nghêu ở Tiền Giang ,
http://www.nhandan.org.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/doi-
song/thongtinchung/noilomatmuangheuotiengiang-1.291233
46. Phát triển cây trồng thích nghi với biến đổi khí hậu http://www.festivalluagao.vn/newsdetail-
174-Phat-trien-cay-trong-thich-nghi-voi-xa-hoi/80350
47. Tác động biến đổi khí hậu ở các tỉnh đồng bằng sông Cưu Long,
http://www.agroviet.gov.vn/Pages/news_detail.aspx?NewsId=9878&Page=3
12T49. Thử tìm giải pháp “sống chung” với biến đổi khí hậu, 12T
8Thttp://www.kinhtenongthon.com.vn/Story/VandeSukien/2010/10/25328.html8T
48. Tan hoang rừng phòng hộ Gò Công, http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/79704.
50. Unite to combat climate change your planet needs, world environment day, 5 JUNE
2009,. 8Twww.unep.org/web/20098T,
51. Xem để thức tỉnh, http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/351583/Xem-de-thuc tinh.html
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Bản đồ các huyện phía Đông của tỉnh Tiền Giang
Phụ lục 2: BẢNG HỎI THU THẬP THÔNG TIN
Chúng tôi trân trọng gửi tới anh chị bảng hỏi về các vấn đề có liên quan đến “Biến đổi khí
hậu”. Các câu trả lời của anh chị sẽ giúp chúng tôi có được những thông tin quí báu để hoàn thành
đề tài nghiên cứu của mình. Các câu hỏi này không nhằm đánh giá anh chị trả lời “đúng” hay “sai”
mà chỉ nhằm tham khảo ý kiến của anh chị thôi, vì vậy xin anh chị hãy trả lời thật đúng những gì
mình nghĩ . Những thông tin mà các anh chị cung cấp chỉ được sử dụng cho luận văn và hoàn toàn
không nêu danh tánh của người trả lời.
I. THÔNG TIN CÁ NHÂN:
Đề nghị anh chị vui lòng cung cấp các thông tin cần thiết về bản thân và gia đình:
1. Họ và tên : ....................................................... ; Tuổi: ...................
2. Giới tính: Nam ; Nữ
3. Nghề nghiệp:
a. Nông dân ...........................
b. Ngư dân ............................
c. Công nhân...........................
d. Buôn bán.............................
e. Công chức, viên chức..........
f. Ngành nghề khác: (ghi rõ)...............................................................
4. Nơi cư trú:
a. Vùng ven biển........................
b. Nông thôn..............................
c. Thị trấn..................................
5. Tình trạng đất đai :
a. Anh, chị có đất canh tác riêng hay không?
Có ; Không
- Nếu không có đất, xin cho biết lý do:..............................................................
1
P, trong đó:
- Nếu có xin trả lời tiếp :
b. Tổng diện tích : .....................(công)P0F
b1. Diện tích đất trồng lúa/ rau/ màu ...........................(công)
b2. Đất nuôi trồng thủy sản: ...........................(công)
b3. Đất vườn cây ăn trái: ...........................(công)
b4. Đất rừng: ...........................(công)
b5. Đất khác (kể cả đất bỏ hoang): ...........................(công)
Lý do không sử dụng đất (nếu có): .............................................................................. 1 : 01 công = 1.000 m2
II. RỦI RO, THIÊN TAI VÀ ỨNG PHÓ
Đề nghị anh chị đọc kỹ và trả lời các câu hỏi sau bằng cách đánh dấu X vào ô thích hợp,
hoặc trả lời ngắn ở các câu hỏi tham khảo ý kiến dưới đây:
6. Anh chị đã từng nghe nói về Biến đổi khí hậu?
a. Có b. Không
7. Nếu có, xin anh (chị) cho biết nguồn thông tin về Biến đổi khí hậu được lấy từ: (có thể chọn
nhiều câu trả lời)
a. Báo chí b. Internet
c. Radio, d. Truyền hình
e. Người thân, bạn bè f. Chính quyền địa phương.
Các nguồn khác: (đề nghị ghi rõ) ……………………………………………
8. Địa phương của anh chị có nằm trong khu vực phải chịu tác động của biến đổi khí hậu không?
a. ảnh hưởng nghiêm trọng
b. ảnh hưởng vừa phải
c. ít ảnh hưởng
c. Không ảnh hưởng
9. Theo anh (chị) những lĩnh vực nào sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ Biến đổi khí hâu?
a. Sản xuất b. Sinh hoạt
c. Kinh doanh d. Nhà ở
10. Biến đổi khí hậu có tác động đến: (ghi theo thứ tự 1,2,3,4 từ quan trọng nhất đến ít quan trọng)
a. Cuộc sống của gia đình anh ,chị..
b. Sức khoẻ ………………………..
c. Công việc hàng ngày …………...
d. Thu nhập ……………………...
11. Nguồn thu nhập trong gia đình anh chị chủ yếu là: (đánh số theo thứ tự quan trọng, số 1 quan trong nhất)
a. Trồng trọt (làm lúa, rau, màu)……
b. Nuôi trồng, đánh bắt thủy sản…….
c. Chăn nuôi gia súc gia cầm………..
d. Tiểu thủ công nghiệp……………..
e. Chế biến nông thủy sản.....…………
f. Buôn bán, dịch vụ.........……………
Nguồn thu nhập khác (nếu có đề nghị kể ra)………………………...
12. Những năm gần đây thì tình hình thu nhập thường xuyên của anh, chị :
a. Tăng nhanh b. Tăng chậm
c. Ổn định d. Giảm
13. Với nguồn thu nhập đó anh (chị) cảm thấy:
a. Rất hài lòng b. Khá hài lòng
c. Hài lòng d. Chưa hài lòng
14. Những biểu hiện thường gặp về tình hình thời tiết ở địa phương của anh ,chị (có thể chọn nhiều biểu hiện bằng cách đánh dấu X vào ô thích hợp)
a. Nhiệt độ cao b. Khô hạn
c. Nhiễm phèn d. Nhiễm mặn
e. Lũ lụt f. Lốc xoáy
g. Bão h. Triều cường
i. Xói lỡ bờ k. Các bất thường khác .......................
15. Theo anh (chị) những thay đổi của thời tiết đã gây ra những căn bệnh thường gặp nào ở địa phương? ...................................................................................
…………………………………………….…………………………………………
16. Những căn bệnh này sẽ ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khoẻ của
a. Trẻ em b. Phụ nữ
c. Người già d. Tất cả mọi người
17. Những thay đổi của thời tiết làm cho lượng mưa trong năm 2010 có chiều hướng
a. Tăng b. Giảm
c. Không thay đổi d. Diễn biến thất thường
18. Các loài sinh vật chủ lực (thủy, hải sản) của địa phương cũng
a. Tăng sản lượng b. Ổn định c. Giảm sản lượng
19. Nguồn nước ngọt của địa phương thay đổi theo chiều hướng :
a. Tăng lên b. Ổn định c. Giảm đi
20. Gia đình anh (chị) nguồn nước ngọt đang sử dụng được lấy từ đâu:
a. Từ sông, ao, hồ b. Từ kênh đào
c. Từ giếng khoan d. Từ nước mưa
e. Nước của thủy cục f. Từ nguồn khác ……………
21. Những năm gần đây thì tổng lượng nước ngọt cung cấp cho địa phương anh (chị) có thay đổi không?
a. Có b. Không
22. Nếu có thay đổi thì anh (chị) hãy cho biết nguyên nhân vì sao :
………………………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………
23. Còn chất lượng nguồn nước thì như thế nào?
a. Vẫn như vậy b. Tốt hơn
c. Bị nhiễm phèn d. Bị nhiễm mặn
e. Bị ô nhiễm (nhiễm bẩn) f. Ý kiến khác: ........................
24. Nếu như nguồn nước ngọt sử dụng ngày càng khan hiếm thì anh (chị) sẽ tìm cách khắc phục bằng những biện pháp như thế nào?
.......................................................................................................................................
25. Ngoài việc khan hiếm nguồn nước ngọt thì vấn đề xâm nhập mặn (nguồn nước bị nhiễm mặn) có tác động đến sản xuất và sinh hoạt của anh (chị) không?
a. Có b. Không
26. Nếu có thì anh (chị) hãy cho biết thời gian bị nước mặn xâm nhập
Từ tháng ...... đến tháng ...........
27. So với những năm trước, thì gần đây thời gian xâm nhập mặn thường
a. Kéo dài hơn b. Vẫn như vậy d. Rút ngắn lại
28. Vấn đề xâm nhập mặn có làm cho đất canh tác của anh (chị) bị:
a. Thu hẹp diện tích b. Kém chất lượng
c. Không thay đổi d. Không thể canh tác được
29. Trong những thời gian bị xâm nhập mặn thì anh (chị) thường
a. Trồng: ............................................................................................................
b. Nuôi ...............................................................................................................
c. Không canh tác gì cả
30. Nếu nước mặn xâm nhập thường xuyên, quanh năm và kéo dài thì anh (chị) có thay đổi mô hình sản xuất không?
a. Có b. Không
31. Nếu có, anh chị chị định thay đổi như thế nào?
.......................................................................................................................................
32. Nếu như mực nước biển dâng cao 30 – 50 cm (từ 3 tấc đến 5 tấc), gây ngập lụt trên diện
rộng, theo anh (chị) biện pháp ứng phó bằng cách nào là hợp lý nhất?
a. Đắp đê ngăn nước biển b. Di dời đi nơi khác
c. Chung sống với nước biển dâng. d. Chưa nghĩ đến
Cách khác (ghi rõ) :..............................................................................................
33. Bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực, theo anh (chị): Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tích cực nào đến sản xuất và sinh hoạt của người dân địa phương?
(Nếu có đề nghị ghi rõ: .......................................................................................)
34. Theo anh chị việc đi tìm các biện pháp ứng phó với sự tác động của biến đổi khí hậu là nhiệm vụ của ai?
a. Các nhà nghiên cứu b. Các nhà lãnh đạo
c. Người dân của vùng bị ảnh hưởng d. Tất cả mọi người
35. Anh, chị có ý kiến gì thêm về Biến đổi khí hậu và tác động của hiện tượng này đến sản xuất và sinh hoạt của người dân địa phương:
……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Xin chân thành cám ơn anh (chị) đã cộng tác
Phụ lục 3: Kết quả phân tích Anova theo nhóm tuổi:
Descriptives
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
95% Confidence Interval for Mean
N Mean Std. Deviation Std. Error
Minimum Maximum
Lower Bound
Upper Bound
Từ 30 đến 39
33 2.45
.711
.124
2.20
2.71
1
4
Từ 40 đến 49 247 2.45
.690
.044
2.36
2.54
1
4
Từ 50 đến 59
67 2.54
.703
.086
2.37
2.71
1
4
60 tuổi trở lên
9 2.56
.882
.294
1.88
3.23
2
4
Total
356 2.47
.697
.037
2.40
2.54
1
4
Test of Homogeneity of Variances
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
Levene Statistic
df1
df2
Sig.
.551
3
352
.648
ANOVA
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
Sum of Squares
df
Mean Square
F
Sig.
Between Groups
.482
3
.161
.328
.805
Within Groups
172.178
352
.489
Total
172.660
355
Phụ lục 4: Kết quả phân tích Anova theo địa bàn cư trú:
Descriptives
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
95% Confidence Interval
for Mean
N Mean Std. Deviation Std. Error
Minimum Maximum
Lower Bound
Upper Bound
Thị trấn
45 2.58
.723
.108
2.36
2.79
1
4
Nông thôn
231 2.33
.602
.040
2.26
2.41
1
4
Vùng ven biển 80 2.80
.818
.091
2.62
2.98
1
4
356 2.47
.697
.037
2.40
2.54
1
4
Total
Test of Homogeneity of Variances
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
Levene Statistic
df1
df2
Sig.
8.114
2
353
.000
ANOVA
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
Sum of Squares
df
F
Sig.
Mean Square
13.549
2
6.775
.000
Between Groups
159.111
353
.451
Within Groups
15.030
172.660
355
Total
Multiple Comparisons
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH Tamhane
(J) Nơi cư trú Mean Difference (I-J) Std. Error Sig.
(I) Nơi cư trú
95% Confidence Interval Lower Bound Upper Bound
Thị trấn
Nông thôn
.244
.115 .109
-.04
.53
Vùng ven biển
-.222
.141 .316
-.57
.12
Nông thôn
Thị trấn
.115 .109
-.53
.04
Vùng ven biển
-.244 * -.467P
.100 .000
-.71
-.23
Vùng ven biển Thị trấn
.141 .316
-.12
.57
Nông thôn
.222 * .467P
.100 .000
.23
.71
*. The mean difference is significant at the 0.05 level.
Phụ lục 5: Kết quả phân tích Anova theo nghề nghiệp:
Descriptives
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
95% Confidence Interval for Mean
N Mean Std. Deviation Std. Error
Lower Bound
Upper Bound
Min Max
Công chức, viên chức 41 2.61
.737
.115
2.38
2.84
2
4
Buôn bán
47 2.36
.764
.111
2.14
2.59
1
4
Công nhân
13 2.62
.768
.213
2.15
3.08
2
4
Ngư dân
19 2.89
.809
.186
2.50
3.28
2
4
Nông dân
224 2.40
.641
.043
2.31
2.48
1
4
Nội trợ
8 2.88
.641
.227
2.34
3.41
2
4
Làm thuê
4 3.00
.816
.408
1.70
4.30
2
4
Total
356 2.47
.697
.037
2.40
2.54
1
4
Test of Homogeneity of Variances
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
Levene Statistic
df1
df2
Sig.
1.151
6
349
.332
ANOVA
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
Sum of Squares
df
Mean Square
F
Sig.
Between Groups
6
1.446
.006
8.673
Within Groups
349
.470
163.987
3.076
Total
355
172.660
Multiple Comparisons
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
Tukey HSD
95% Confidence Interval
(I) Nghề nghiệp (J) Nghề nghiệp
Mean Difference (I-J) Std. Error Sig.
Lower Bound Upper Bound
Ngư dân
Công chức, viên chức
.285
.190
.746
-.28
.85
Buôn bán
.533
.186
.067
-.02
1.09
Công nhân
.247
.918
-.45
1.01
Nông dân
.279 * .497P
.164
.041
.01
.98
Nội trợ
.020
.289 1.000
-.84
.88
Làm thuê
.377 1.000
-1.22
-.105
1.01
Nông dân
Công chức, viên chức
-.212
.116
.532
-.56
.13
Buôn bán
.036
.110 1.000
-.29
.36
Công nhân
.196
.923
-.80
.36
Ngư dân
-.218 * -.497P
.164
.041
-.98
-.01
Nội trợ
-.478
.247
.457
-1.21
.25
Làm thuê
-.603
.346
.588
-1.63
.42
*. The mean difference is significant at the 0.05 level.
Phụ lục 6: Kết quả phân tích Anova theo giới tính:
Descriptives
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
95% Confidence Interval for Mean
N Mean Std. Deviation Std. Error
Lower Bound
Upper Bound
Min Max
Nữ
129 2.44
.695
.061
2.32
2.56
1
4
Nam 227 2.48
.700
.046
2.39
2.58
1
4
Total 356 2.47
.697
.037
2.40
2.54
1
4
Test of Homogeneity of Variances
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
Levene Statistic
df1
df2
Sig.
.154
1
354
.695
ANOVA
Đánh giá mức độ tác động của BĐKH
Sum of Squares
df
Mean Square
F
Sig.
Between Groups
.150
1
.150
.308
.579
Within Groups
172.510
354
.487
Total
172.660
355
Phụ lục 7: Một số hình ảnh liên quan đến biến đổi khí hậu ở ĐBSCL
Hình 7.1: Sự thay đổi nhiệt độ lớn nhất trung bình thập niên 2030 so với thập niên 1980
Hình 7.2: Sự suy giảm tổng lượng mưa thập niên 2030 so với thập niên 1980
Hình 7.3: Diện tích ngập lũ sẽ mở rộng vào tương lai
Hình 7.4: Phỏng đoán sự thay đổi thời gian ngập vào thập niên 2030 so với thập niên 1980
Hình 7.5: Phạm vi ngập khu vực Đồng bằng sông Cửu Long theo kịch bản nước biển dâng 65 cm
Hình 7.6: Phạm vi ngập khu vực Đồng bằng sông Cửu Long theo kịch bản
nước biển dâng 75 cm
Hình 7.7: Phạm vi ngập khu vực Đồng bằng sông Cửu Long theo kịch bản
nước biển dâng 100 cm

