BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ------------    ------------

NGUYỄN THỊ KIM THOA

TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ

HẬUĐẾN SINH HOẠT VÀ SẢN

XUẤT CỦA DÂN CƯHUYỆN GÒ

CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ------------------------- NGUYỄN THỊ KIM THOA

TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ

HẬU ĐẾN SINH HOẠT VÀ SẢN

XUẤT CỦA DÂN CƯ HUYỆN GÒ

CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG

Chuyên ngành: ĐỊA LÝ HỌC

Mã số: 60 31 95

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Thái Thị Ngọc Dư

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu trường Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh, Phòng

Khoa học Công nghệ và Sau đại học đã mọi điều kiện thuận lợi để khoá học được hoàn thành tốt

đẹp.

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Thái Thị Ngọc Dư, người đã tận tình hướng

dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể giảng viên trường Đại học Sư phạm TP. Hồ

Chí Minh đã tận tình giảng dạy, mở rộng kiến thức chuyên môn cho chúng tôi.

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu - quý thầy cô trường THPT Chuyên Tiền Giang đã

có nhiều giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn.

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Sở Tài nguyên - Môi trường, Sở Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn, Sở Khoa học - Công nghệ, Trung tâm Khí tượng thuỷ văn Tiền Giang, Uỷ ban

nhân dân huyện Gò Công Đông cùng dân cư các xã Tân Thành, Vàm Láng, Kiểng Phước, Gia

Thuận, thị trấn Tân Hoà thuộc địa bàn huyện Gò Công Đông đã có nhiều giúp đỡ và tạo điều kiện

thuận lợi cho tôi.

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn là chổ dựa tinh thần vững chắc, tạo điều

kiện cho tôi thực hiện tốt luận văn này.

Trong quá trình thực hiện đề tài vẫn còn nhiều sơ sót. Kính mong quý thầy cô góp ý để đề tài

được hoàn thiện hơn.

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Nguyễn Thị Kim Thoa

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: Nguyễn Thị Kim Thoa

Là học viên cao học Khoá 19 chuyên ngành Địa Lý học của trường Đại học Sư phạm Thành

phố Hồ Chí Minh niên khoá 2008-2011.

Tôi xin cam đoan đây là phần nghiên cứu do tôi thực hiện. Các số liệu, kết luận nghiên cứu

trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố ở các nghiên cứu khác.

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

Học viên

Nguyễn Thị Kim Thoa

MỤC LỤC

8TLỜI CẢM ƠN8T ................................................................................................................................. 1

8TLỜI CAM ĐOAN8T .......................................................................................................................... 2

8TMỤC LỤC8T ...................................................................................................................................... 3

8TDANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT8T .................................................................. 5

8TDANH MỤC CÁC BẢNG8T .............................................................................................................. 7

8TDANH MỤC CÁC HÌNH8T ............................................................................................................... 8

8TMỞ ĐẦU8T ......................................................................................................................................... 1

8T1. Lý do chọn đề tài8T ...................................................................................................................... 1

8T2. Mục đích nghiên cứu của đề tài8T ................................................................................................ 2

8T3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài8T .............................................................................................. 3

8T4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài8T ............................................................................. 3

8T4.1. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:8T .......................................................................................... 3

8T4.2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài:8T ....................................................................................... 3

8T5. Phương pháp nghiên cứu:8T ........................................................................................................ 3

8TChương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN8T ............................................................. 4

8T1.1. Cơ sở lý luận :8T ....................................................................................................................... 4

8T1.1.1 Khái niệm về BĐKH8T ....................................................................................................... 4

8T1.1.2. Nguyên nhân hình thành BĐKH8T ..................................................................................... 4

8T1.1.2.1. Hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người làm tăng lượng khí thải 8T...................... 4

8T1.1.2.2. Sự biến đổi của tự nhiên8T .......................................................................................... 5

8T1.1.3. Tác động của BĐKH8T ...................................................................................................... 6

8T1.1.3.1. Tác động của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực 8T .............. 6

8T1.1.3.2. Tác động của BĐKH đến cuộc sống dân cư và vấn đề tái định cư :8T ......................... 7

8T1.1.3.3. Đối với tài nguyên nước, tài nguyên biển8T ................................................................ 8

8T1.1.3.4. Đối với tài nguyên rừng và hệ sinh thái tự nhiên8T ................................................... 10

8T1.2. Cơ sở thực tiễn:8T ................................................................................................................... 15

8T1.2.1. BĐKH trên thế giới8T ...................................................................................................... 15

8T1.2.2. BĐKH ở Việt Nam [3]8T ................................................................................................. 15

8T1.2.2.1. Thực trạng BĐKH ở Việt Nam8T.............................................................................. 15

8T1.2.2.2. Nhận định xu thế BĐKH ở Việt Nam [3]8T ............................................................. 16

8T1.2.2.3. Nhận định về tác động tiềm tàng của BĐKH ở Việt Nam [3] 8T ................................ 16

8TChương 2. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BĐKH VÀ ĐỊA BÀN

8T2.1. Tổng quan tài liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan đến BĐKH:8T .......................... 19

8T2.2. Tổng quan tài liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan đến BĐKH ở ĐBSCL8T ........... 21

8T2.2.1. Tiểu vùng (A) nơi chịu ảnh hưởng nguồn chiếm ưu thế :8T .............................................. 21

8T2.2.2. Tiểu vùng (C) nơi ảnh hưởng biển chiếm ưu thế8T .......................................................... 22

8T2.2.3. Tiểu vùng chịu ảnh hưởng hỗn hợp biển và nguồn (B). 8T ................................................ 22

8T2.3. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu [2],[11] 8T ........................................................................... 26

8TChương 3. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KHẢO SÁT8T ....................................................................... 29

8T3.1. Khái quát địa bàn nghiên cứu - Mô tả mẫu:8T ......................................................................... 29

8T3.2. Thống kê mô tả:8T .................................................................................................................. 32

8T3.2.1: Nhận thức của nhân dân địa phương về BĐKH: 8T ........................................................... 32

8T3.2.2: Các lĩnh vực chịu tác động của BĐKH:8T ........................................................................ 34

8T3.2.2.1: Tác động của BĐKH đến cuộc sống gia đình: 8T ....................................................... 35

8T3.2.2.2: Tác động của BĐKH đến sức khoẻ nhân dân: 8T ....................................................... 36

8T3.2.2.4: Tác động của BĐKH đến thu nhập:8T ....................................................................... 37

8T3.2.3: Các biểu hiện bất thường của khí hậu và thời tiết ở địa phương:8T ................................... 38

8T3.2.4: Tình hình khai thác và sử dụng nguồn nước:8T ................................................................ 39

8T3.2.4.1. Tình hình khai thác và sử dụng nguồn nước sinh hoạt:8T .......................................... 39

8T3.2.4.1. Tình hình thay đổi chất lượng nguồn nước sinh hoạt:8T ............................................ 40

8T3.2.4.2. Tình hình xâm nhập mặn:8T ...................................................................................... 41 8T3.2.5. Các giải pháp ứng phó hiện tượng nước biển dâng8T ................................................... 44

8T3.2.6. Các lực lượng tìm các giải pháp ứng phó với sự tác động của BĐKH8T ........................... 45

8T3.4. Kiểm định sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH giữa các nhóm: 8T .................... 46

8T3.4.1. Sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH theo nhóm tuổi 8T .............................. 46

8T3.4.2. Sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH giữa các nhóm theo địa bàn cư trú: 8T 46

8T3.4.3. Sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH theo nghề nghiệp 8T........................... 47

8T3.4.4. Sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH theo giới tính:8T ............................... 48

8TChương 4. TÌM HIỂU NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI

NGHIÊN CỨU8T ............................................................................................................................. 19

8T4.1. Ứng phó với BĐKH trên thế giới.8T........................................................................................ 50

8T4.2. Ứng phó với BĐKH ở Việt Nam8T ......................................................................................... 51

8T4.3 Ứng phó với BĐKH ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long8T ...................................................... 53

8T4.3.1. Nâng cao nhận thức của người dân8T ............................................................................... 54

8T4.3.2. Xác định và tiến hành sớm những nội dung cần nghiên cứu 8T ......................................... 54

BĐKH8T ........................................................................................................................................... 50

8T4.3.3. Phát huy và đào tạo nguồn nhân lực8T ............................................................................. 55

8T4.3.4. Nâng cao năng lực quản lý8T ........................................................................................... 55

8T4.4. Ứng phó với BĐKH ở huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang8T ............................................ 56

8T4.4.1. Nông nghiệp8T ................................................................................................................ 57

8T4.4.2. Lâm nghiệp8T .................................................................................................................. 58

8T4.4.3. Thuỷ sản8T ...................................................................................................................... 58

8T4.4.4. Nguồn nước8T ................................................................................................................. 59

8T4.4.5. Sinh hoạt sản xuất và đời sống của dân cư8T .................................................................... 59

8TKẾT LUẬN8T ................................................................................................................................... 60

8T1. Kết luận :8T ............................................................................................................................... 60

8T2. Khuyến nghị :8T ......................................................................................................................... 60

8TTÀI LIỆU THAM KHẢO8T ............................................................................................................ 63

8TPHỤ LỤC8T...................................................................................................................................... 67

8TPhụ lục 1: Bản đồ các huyện phía Đông của tỉnh Tiền Giang8T .................................................... 67

8TPhụ lục 2: BẢNG HỎI THU THẬP THÔNG TIN8T .................................................................... 68

8TPhụ lục 3: Kết quả phân tích Anova theo nhóm tuổi:8T ................................................................ 73

8TPhụ lục 4: Kết quả phân tích Anova theo địa bàn cư trú: 8T .......................................................... 74

8TPhụ lục 5: Kết quả phân tích Anova theo nghề nghiệp:8T ............................................................. 75

8TPhụ lục 6: Kết quả phân tích Anova theo giới tính:8T ................................................................... 77

8TPhụ lục 7: Một số hình ảnh liên quan đến biến đổi khí hậu ở ĐBSCL8T ...................................... 77

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BĐKH : Biến đổi khí hậu

ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

: Đồng bằng sông Hồng ĐBSH

: Đa dạng sinh học. ĐDSH

: Sinh vật biến đổi gen GMO

: Trung tâm quản lý môi trường quốc tế ICEM

: Uỷ ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu IPCC

: Hỗ trợ phát triển ODA

: Đơn vị tính nồng độ phần tỉ ppb

: Đơn vị tính nồng độ phần triệu ppm

: Ruộng vườn ao chuồng RVAC

: Trung tâm START vùng Đông Nam Á (Đại học START

Chulalongkorn, Thái Lan)

STERN : Công trình nghiên cứu về Biến đổi khí hậu của tiến sĩ

Nicholas Stern- người Anh-chuyên gia kinh tế hàng đầu của

Ngân hàng Thế giới

UNDP : Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc

UNFCCC : Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu

: Vườn ao chuồng VAC

: Tổ chức Y tế Thế giới WHO

: Tổ chức khí tượng Thế giới WMO

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng Nội dung Trang

2.1 Thông báo Quốc gia về BĐKH ở Việt Nam 24

2.2 Kịch bản BĐKH các vùng của Việt Nam 25

2.3 Kịch bản nước biển dâng ở Việt Nam so với năm 1990 25

3.1 Bảng mô tả mẫu phân theo giới tính và nghề nghiệp. 38

3.2 Bảng mô tả mẫu phân theo địa bàn cư trú và nhóm tuổi. 39

3.3 Nguồn cung cấp thông tin về BĐKH 41

3.4 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của BĐKH 42

3.5 Thống kê mô tả đánh giá về mức độ tác động của BĐKH 42

3.6 Đánh giá các lĩnh vực chịu ảnh hưởng của BĐKH 43

3.7 Mức độ tác động của BĐKH đến cuộc sống gia đình. 44

3.8 Mức độ tác động của BĐKH đến sức khoẻ. 45

3.9 Mức độ tác động của BĐKH đến công việc hàng ngày. 45

3.10 Mức độ tác động của BĐKH đến công việc thu nhập. 46

3.11 Các biểu hiện bất thường về thời tiết và khí hậu ở địa phương 48

3.12 Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt ở địa phương 49

3.13 Tình hình thay đổi chất lượng nguồn nước ở địa phương 51

3.14 Tình hình xâm nhập mặn ở địa phương 52

3.15 Tình hình xâm nhập mặn từ năm 2000 – 2009 52

3.16 53 Thời gian bắt đầu và kết thúc mùa mưa, lượng mưa trung bình năm từ năm 2000 – 2009

3.17 Tình hình ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến diện tích đất canh tác 54

3.18 Đề xuất các giải pháp ứng phó với hiện tượng nước biển dâng 55

3.19 Đề xuất các lực lượng tìm biện pháp ứng phó với BĐKH 56

3.20 Kết quả phân tích Anova theo nhóm tuổi 58

3.21 Kết quả phân tích Anova theo địa bàn cư trú 58

3.22 Kết quả kiểm định Tamhane’s 59

Bảng Nội dung Trang

3.23 59 Thống kê mô tả đánh giá mức độ tác động của BĐKH của các nhóm dân cư theo địa bàn cư trú

3.24 Kết quả phân tích Anova theo nghề nghiệp 60

3.25 Kết quả kiểm định Tukey HSD 60

3.26 61 Thống kê mô tả đánh giá mức độ tác động của BĐKH của các nhóm dân cư theo nghề nghiệp

61 3.27 Kết quả phân tích Anova theo giới tính

DANH MỤC CÁC HÌNH

Nội dung Trang Hình

Tác động giữa BĐKH và suy giảm tài nguyên tự nhiên, kinh tế - xã hội 1.1 17

Chuỗi dây chuyền tác động của hiện tượng BĐKH – nước biển dâng lên hệ

18 1.2 sinh thái, sản xuất và đời sống

3.1 Bản đồ hành chính huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang 37

3.2 Biểu đồ thể hiện cơ cấu mẫu khảo sát theo nghề nghiệp 38

3.3 Biểu đồ thể hiện cơ cấu mẫu khảo sát theo nơi cư trú 39

3.4 Biểu đồ thể hiện cơ cấu mẫu khảo sát theo nhóm tuổi 40

3.5 Biểu đồ thể hiện các nguồn cung cấp thông tin về BĐKH 41

3.6 42 Biểu đồ thể hiện đánh giá của nhân dân địa phương về mức độ tác động của BĐKH

3.7 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đánh giá các lĩnh vực chịu ảnh hưởng của BĐKH 44

3.8.1 47 Biểu đồ thể hiện số lượng người đánh giá mức độ tác động của BĐKH đến các lĩnh vực

3.8.2 47 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đánh giá mức độ tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực

3.9 49 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đánh giá các biểu hiện bất thường về thời tiết, khí hậu ở địa phương

3.10 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ các nguồn cung cấp nước sinh hoạt tại địa phương 50

3.11 56 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đề xuất của nhân dân về các biện pháp ứng phó với nước biển dâng

3.12 57 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đề xuất các lực lượng tìm biện pháp ứng phó với mực biển dâng

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Vấn đề Trái Đất nóng lên, nước biển dâng và khí hậu đang biến đổi một cách khắc nghiệt đến

nay không còn là chuyện của thế giới, mà đang đe dọa trực tiếp đến Việt Nam: Lũ lụt, hạn hán, triều

cường, xâm nhập mặn ngày càng nặng nề hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn của con người và

cả nền kinh tế.

Theo bản báo cáo về phát triển con người 2007-2008 của UNDP[23], nếu nhiệt độ trên Trái

Đất tăng thêm 2 độ C, thì 22 triệu người ở Việt Nam sẽ mất nhà và 45% diện tích đất nông nghiệp ở

vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa lớn nhất của Việt Nam sẽ ngập chìm trong nước biển.

Ông Christophe Bahuet - Phó đại diện UNDP [23] tại Việt Nam - nhận định: BĐKH có thể

dẫn đến 5 nguy cơ lớn: Giảm năng suất nông nghiệp; gia tăng tình trạng thiếu nước; thời tiết cực

2 P, trong đó 18.066 kmP

P đất thuộc các

2 Theo thống kê, ĐBSCL có tổng diện tích 39.734 kmP

đoan gia tăng; các hệ sinh thái tan vỡ và bệnh tật gia tăng.

huyện ven biển [19]. Trong các thập kỷ gần đây, yếu tố khí tượng thuỷ văn tại ĐBSCL tiếp tục thay

đổi theo chiều hướng xấu. Các thiên tai như bão tố, lụt lội, xâm nhập mặn... xảy ra thường xuyên

hơn và khó dự đoán.

2 cần nước biển dâng lên vài mét, chúng ta sẽ mất đi một diện tích đất khoảng 15.000-20.000kmP

P tại

Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng thủy văn môi trường, ông Trần Thục cho biết: "Chỉ

ĐBSCL"[37].

ĐBSCL là vùng đất thấp ven biển của Việt Nam sẽ là khu vực bị tác hại nặng nề nhất do

BĐKH gây ra [19]. Trong các tháng mùa khô này, nhiều tỉnh vùng ĐBSCL đang bị nước biển xâm

nhập mặn sâu làm thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, nhiều khu vực đã thiếu nước ngọt phục vụ

sinh họat... Trước tình hình trên, nhiều địa phương trong khu vực ĐBSCL đã và đang đề ra nhiều

giải pháp để ứng phó và thích nghi do tác động của BĐKH.

Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, khẳng

định: “Ứng phó với mực nước biển dâng là một nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu về nhiều mặt:

kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng... chẳng những của ĐBSCL mà còn của cả nước. Các địa

phương phải tranh thủ điều tra, nghiên cứu trên từng địa bàn bị đe dọa để chuẩn bị phương án ứng

phó tốt nhất”[16]

Theo Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Đức Ngữ, Giám đốc Trung tâm Khí tượng Thủy văn và Môi

trường, để giảm nhẹ khả năng bị tổn hại do BĐKH gây ra, cần có sự điều chỉnh ở các hoạt động

kinh tế, xã hội... Các hoạt động ứng phó với BĐKH phải được triển khai ngay từ bây giờ và phải

được lồng ghép với kế hoạch của các ngành, lĩnh vực, địa phương...[9]

Các nhà khoa học cũng đề xuất một số giải pháp thủy lợi khả thi như: làm đê bao kết hợp hệ

thống cống và trạm bơm ở các vùng ven biển để tránh ngập lụt; xây dựng hồ chứa nước ngọt ngay

tại ĐBSCL trong các vùng ngập hay bán ngập để trữ nước, tránh tình trạng thiếu nước ngọt cho sinh

hoạt và sản xuất; ứng dụng công nghệ vật liệu mới vào xây dựng các công trình để giảm chi phí...

Để giảm nhẹ những hậu quả do BĐKH mang tới, các cấp chính quyền cần có những động thái mạnh

mẽ hơn: xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia; hướng dẫn cụ thể cho các ngành, các địa phương

chủ động xây dựng chương trình phù hợp; thiết lập cơ quan liên tỉnh của ĐBSCL để phối hợp xây

dựng chương trình ứng phó và hành động có hiệu quả không chỉ ở cấp địa phương mà trong toàn

vùng... Bên cạnh trách nhiệm và hành động của các nhà quản lý, nhà khoa học, mỗi người dân ở địa

phương cũng cần có ý thức và hành động thiết thực để góp phần giảm nhẹ các tác động của BĐKH.

Theo dự báo[44], trong vài chục năm tới, nước biển sẽ dâng cao làm ngập lụt phần lớn

ĐBSCL vốn đã bị ngập lụt hàng năm, dẫn đến mất nhiều đất nông nghiệp. Sẽ có từ 15.000 – 20.000

km2 đất thấp ven biển bị ngập hoàn toàn. Lưu lượng nước sông Mê kông giảm từ 2 – 24% trong

mùa khô, tăng từ 7- 15% vào mùa lũ. Hạn hán sẽ xuất hiện nhiều hơn. Nước lũ sẽ cao hơn tại các

tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, TP Cần Thơ, Hậu

Giang; thời gian ngập lũ tại đây sẽ kéo dài hơn hiện nay. Việc tiêu thoát nước mùa mưa lũ cũng khó

khăn. Suy giảm tài nguyên nước sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, nghề cá.

Quá trình xâm nhập mặn vào nội đồng sẽ sâu hơn, tập trung tại các tỉnh ven biển gồm Cà Mau, Bạc

Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Long An và nước ngọt sẽ khan hiếm.

Tỉnh Tiền Giang với 32 km bờ biển, lại án ngữ ba cửa biển lớn: Soài Rạp (sông Soài Rạp),

Cửa Tiểu và Cửa Đại (sông Tiền). Theo dự báo của Trung tâm Quốc tế về Quản lý Môi trường

(ICEM), tỉnh Tiền Giang sẽ là một trong mười tỉnh của cả nước bị ảnh hưởng nhiều nhất của

BĐKH. Trong 10 huyện (thành thị) của tỉnh Tiền Giang, huyện Gò Công Đông là huyện có chiều

dài bờ biển 32 km trông giống như một vành đai hướng ra biển Đông và là địa phương có tiềm năng

kinh tế biển lớn nhất tỉnh Tiền Giang. Cũng như các địa phương ven biển BĐKH sẽ ảnh hưởng trực

tiếp và tác động đến nhiều mặt liên quan đến sản xuất và đời sống của dân cư địa phương. Xuất phát

từ các lý do trên chúng tôi chọn đề tài luận văn “Tác động của Biến đổi khí hậu đến sinh hoạt và

sản xuất của người dân ở huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang”

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu này hướng đến những mục đích:

- Phân tích tác động của biến đổi khí hậu đến sinh hoạt và sản xuất của dân cư ở huyện Gò

Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

- Tìm hiểu những định hướng và các giải pháp nhằm hạn chế những tác động của BĐKH đến

vấn đề sinh hoạt và sản xuất của dân cư huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang

3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Môi trường tự nhiên của huyện Gò Công Đông đang đối mặt với vấn đề BĐKH như thế

nào?

- BĐKH đang và sẽ tác động như thế nào đến sinh hoạt và sản xuất của người dân huyện Gò

Công Đông, tỉnh Tiền Giang?

- Cần phải có những giải pháp gì để hạn chế những ảnh hưởng của BĐKH đến: Nông nghiệp,

đa dạng sinh học, vùng bờ biển, tài nguyên nước, tài nguyên rừng và tái định cư.

4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài

4.1. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

BĐKH sẽ tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, trong nghiên cứu này chúng

tôi tập trung phân tích ảnh hưởng của BĐKH trên 6 lĩnh vực chịu tác động nặng nề nhất của BĐKH,

đó là: Nông nghiệp, đa dạng sinh học, vùng bờ biển, tài nguyên nước, rừng và tái định cư.

4.2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

Cuộc sống sinh hoạt và sản xuất của cư dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

5. Phương pháp nghiên cứu:

5.1. Thu thập và phân tích tài liệu của các cơ quan ban ngành có liên quan.

5.2. Khảo sát thực địa, phỏng vấn các tầng lớp dân cư

5.3. Phân tích số liệu bằng các phần mềm SPSS.

5.4. Tổng hợp đánh giá.

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở lý luận :

1.1.1 Khái niệm về BĐKH

Theo GS TSKH Lê Huy Bá: "BĐKH là sự thay đổi đáng kể, lâu dài các thành phần khí hậu,

"khung" thời tiết từ bình thường vốn có lâu đời nay của một vùng cụ thể, sang một trạng thái thời

tiết mới, đạt các tiêu chí sinh thái khí hậu mới một cách khác hẳn, để rồi sau đó, dần dần đi vào ổn định mới".[1]

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam: “BĐKH là sự thay đổi của hệ thống khí hậu

gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên

nhân tự nhiên và nhân tạo”.[3]

Theo quan điểm của Tổ chức khí tượng thế giới (WMO), BĐKH là sự vận động bên trong hệ

thống khí hậu, do những thay đổi kết cấu hệ thống hoặc trong mối quan hệ tương tác giữa các thành

phần dưới tác động của ngoại lực hoặc do hoạt động của con người.

Sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong

một khoảng thời gian dài, thường là vài thập niên hoặc dài hơn. BĐKH có thể là do các quá trình tự

nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành

phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất.

Sự thay đổi về khí hậu do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động của con người cùng

với BĐKH do tự nhiên sẽ làm thay đổi cấu thành của khí quyển.

1.1.2. Nguyên nhân hình thành BĐKH

BĐKH là do nồng độ của khí hiệu ứng nhà kính tăng lên trong khí quyển ở mức độ cao, làm

cho Trái Đất ấm lên, nhiệt độ bề mặt Trái Đất nóng lên. Nhiệt độ trái đất nóng lên tạo ra các biến

đổi đối với các vấn đề thời tiết hiện nay. Theo báo cáo mới nhất của Liên Hiệp Quốc, nguyên nhân

của hiện tượng BĐKH 90% do con người gây ra, 10% là do tự nhiên.[24]

1.1.2.1. Hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người làm tăng lượng khí thải

BĐKH có nhiều nguyên nhân, trong đó đáng quan tâm và cần hạn chế là nguyên nhân do

hoạt động của con người gây ra. Đó là sự tăng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến

tăng hiệu ứng nhà kính. Đặc biệt quan trọng là khí điôxit cacbon (CO R2 R) được tạo thành do sử dụng

năng lượng từ nguyên liệu hóa thạch (dầu mỏ, than đá, khí tự nhiên...), phá rừng và chuyển đổi sử

dụng chất thải vào khí quyển.[24]

Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của Uỷ Ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC, 2007)[21],

hàm lượng khí COR2 R trong khí quyển năm 2005 đã vượt xa mức tự nhiên trong khoảng 650.000 năm

qua (180 – 280ppm) và đạt 379ppm (tăng gần 35%). Lượng phát thải khí COR2 R từ sử dụng nhiên liệu

hóa thạch đã tăng trung bình từ 6,4 tỉ tấn cacbon mỗi năm (trong những năm 1990) đến 7,2 tỉ tấn

cacbon mỗi năm (trong thời kỳ 2000-2005). Trong việc đánh giá hiệu ứng của khí nhà kính, có hai

vấn đề rất đáng lưu ý là hàm lượng khí mêtan (CH R4 R) trong khí quyển đã tăng từ 715ppb (trong thời

kỳ tiền công nghiệp) lên 1.732ppb trong những năm đầu thập kỷ 90 và đạt 1.774ppb năm 2005 (tăng

gần 148%). Hàm lượng khí ôxit nitơ (N R2 RO) trong khí quyển đã tăng từ 270ppb (trong thời kỳ tiền

công nghiệp) lên 319ppb vào năm 2005 (tăng khoảng 18%). Các khí mêtan và ôxit nitơ tăng chủ

yếu từ sản xuất nông nghiệp, đốt nguyên liệu hóa thạch, chôn lấp rác thải..

Việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch phát thải 70-90% lượng CO R2 R vào khí quyển; năng lượng

hóa thạch được sử dụng trong giao thông vận tải, chế tạo các thiết bị điện như: tủ lạnh, hệ thống

điều hòa nóng lạnh và các ứng dụng khác; lượng phát thải COR2 R tăng còn do hoạt động trong nông

nghiệp và khai thác rừng (kể cả cháy rừng), khai hoang và công nghiệp. Tóm lại, tiêu thụ năng

lượng do đốt các nguyên liệu hóa thạch đóng góp khoảng gần một nửa (46%) vào tiềm năng nóng

lên toàn cầu. Phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18% và hoạt động nông nghiệp tạo ra khoảng 9%

tổng số các khí thải, gây ra lượng bức xạ cưỡng bức làm nóng lên toàn cầu... Đây là những nguyên

nhân dẫn đến BĐKH do hoạt động của con người gây nên.

1.1.2.2. Sự biến đổi của tự nhiên

Nhiều quá trình trong và ngoài khí quyển được cho là có khả năng là những nguyên

nhân của những thay đổi khí hậu. Trong quá khứ, khí hậu Trái Đất đã nhiều lần biến đổi do tự

nhiên. Những thời kỳ băng hà xen lẫn những thời kỳ ấm lên của Trái Đất đã từng xảy ra cách đây

vài triệu năm. Thời kỳ băng hà cuối cùng xảy ra khoảng 18.000 năm trước Công nguyên. Trong thời

kỳ này, băng bao phủ phần lớn Bắc Mỹ, Bắc Âu và Bắc Á. Mực nước biển trung bình thấp hơn hiện

nay tới 120m. Thời kỳ băng hà này kết thúc khoảng 10.000-15.000 năm trước Công nguyên. Thời

kỳ tiểu băng hà gần đây nhất , xảy ra ở châu Âu vào giữa thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ thứ 19.

PC. Thập kỷ 1990

0 khoảng hơn 100 năm qua (1906-2005) nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên 0,7 P

BĐKH hiện nay tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu bắt đầu xảy ra từ giữa thế kỷ 19. Trong

là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ qua. Trong 11 năm (1995-2006) là những năm nóng nhất từ

khi có số liệu đo bằng công cụ hiện đại. Do nóng lên toàn cầu, băng, tuyết của các vùng cực của

Trái Đất và trên núi cao tan ra, nước của các đại dương ấm lên và giãn nở ra, làm mực nước biển

trung bình toàn cầu dâng lên trung bình 0,17m trong thế kỷ XX. Các thiên tai như mưa lớn, bão, lũ

lụt, lũ quét, nắng nóng, hạn hán, lốc xảy ra nhiều hơn, mạnh hơn, dị thường hơn. Số ngày lạnh, đêm

lạnh, băng giá ít hơn. Hiện tượng El Nino xảy ra nhiều hơn, kéo dài và mạnh hơn. Ngập lụt, xói lở

bờ biển, xâm nhập mặn, sạt lở đất xảy ra nhiều và mạnh mẽ hơn trước... Đây là những ảnh hưởng do

BĐKH gây ra, những ảnh hưởng này tác động rất lớn đến mọi mặt đời sống xã hội vì vậy các địa

phương, các cấp, các ngành cần phải tập trung ứng phó và tìm giải pháp hạn chế thiệt hại do BĐKH

gây ra.

1.1.3. Tác động của BĐKH

Theo kết quả đánh giá cho toàn cầu của Uỷ ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC, 2007) và

những nghiên cứu sơ bộ ban đầu của các nhà khoa học Việt Nam, tác động tiềm tàng của BĐKH đối

với nước ta là nghiêm trọng và cần được nghiên cứu sâu thêm. Sự gia tăng của các hiện tượng khí

hậu cực đoan và thiên tai, cả về tần số và cường độ do BĐKH là mối đe doạ thường xuyên, trước

mắt và lâu dài đối với tất cả các lĩnh vực, các vùng và các cộng đồng. Bão, lũ lụt, hạn hán, mưa lớn,

nắng nóng, tố lốc là thiên tai xảy ra hàng năm ở nhiều vùng trong cả nước, gây thiệt hại cho sản xuất

và đời sống.

BĐKH sẽ làm cho các thiên tai nói trên trở nên ác liệt hơn và có thể trở thành thảm hoạ, gây

rủi ro lớn cho phát triển kinh tế, xã hội hoặc xoá đi những thành quả nhiều năm của sự phát triển,

trong đó có những thành quả thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. Những khu vực được dự tính

chịu tác động lớn nhất của các hiện tượng khí hậu cực đoan nói trên là dải ven biển Trung Bộ, vùng

núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.

1.1.3.1. Tác động của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực

BĐKH có tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng

nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng. BĐKH ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng của gia súc, gia

cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm.

Với sự nóng lên trên phạm vi toàn lãnh thổ, thời gian thích nghi của cây trồng nhiệt đới mở

rộng và của cây trồng á nhiệt đới thì thu hẹp lại. Ranh giới của cây trồng nhiệt đới dịch chuyển về

phía vùng núi cao hơn và các vĩ độ cao ở phía Bắc, phạm vi thích nghi của cây trồng á nhiệt đới bị

thu hẹp thêm. BĐKH có khả năng làm tăng tần số, cường độ, tính biến động và tính cực đoan của

các hiện tượng thời tiết nguy hiểm . Tố, lốc, bão và các thiên tai liên quan đến nhiệt độ và mưa như

thời tiết khô nóng, lũ lụt, ngập úng hay hạn hán, rét hại, xâm nhập mặn, sâu bệnh, làm giảm năng

suất và sản lượng của cây trồng và vật nuôi.

BĐKH gây nguy cơ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, một phần đáng kể diện tích đất nông

nghiệp ở vùng đất thấp đồng bằng ven biển, Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long bị

ngập mặn do nước biển dâng, nếu không có các biện pháp ứng phó thích hợp. BĐKH và nông

nghiệp là hai qui trình tác động lẫn nhau ở mức toàn cầu. Đối với nhà nông, thời tiết đóng vai trò

quyết định cho thành công hay thất bại, được mùa hay mất mùa. Ngược lại, nông nghiệp cũng ảnh

hưởng lên khí hậu, vì thải ra các khí làm tăng hiệu ứng nhà kính như hơi nước, khí cacbon, mê tan

và ôxít nitơ. Sự phát quang, phá rừng để trồng trọt và hiện tượng hoang hoá hay sa mạc hoá đất đai

vì thâm canh cũng làm thay đổi mặt vỏ Trái Đất, và làm mất quân bình cán cân bức xạ nhiệt.

BĐKH ảnh hưởng đến toàn bộ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tại cuộc họp về

BĐKH do Liên hiệp quốc UNDP gần đây, ông Nguyễn Khắc Hiếu, Phó ban chỉ đạo thực hiện công

ước khí hậu và nghị định thư Kyoto của Việt Nam cũng cho rằng: 1T"Sinh kế của hàng chục triệu

người Việt Nam đang bị đe dọa với những ảnh hưởng của BĐKH. Vấn đề này và những hệ quả của

nó đang khiến cho cuộc sống người nghèo và những người cận nghèo Việt Nam ở vùng núi, vùng

biển, vùng đồng bằng bị đe dọa". [5]

BĐKH đã, đang và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nông nghiệp gồm thủy lợi, trồng trọt và chăn

nuôi BĐKH có tác động đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ

lây lan sâu bệnh hại cây trồng, hai vựa lúa lớn nhất là Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long là

những vùng đất thấp trong tương lai sẽ chịu ảnh hưởng lớn của BĐKH khi mực nước biển dâng cao

và chu trình thủy văn thay đổi. Khô hạn và sự thiếu hụt nguồn nước sẽ làm năng suất nông nghiệp

giảm sút. Nhiều loại dịch bệnh cây trồng của vùng khí hậu nóng Tây Nam Bộ sẽ có khả năng xâm

lấn vào đồng ruộng (rầy trắng, vàng lùn-lùn xoắn lá…); các giống cây trồng ưa nước sẽ không cho

năng suất và bị các loài ưa khô hạn thay thế, dẫn đến khủng hoảng các hệ sinh thái nông nghiệp bản

địa. Xu thế này tất yếu dẫn đến việc nông dân lạm dụng phân bón hóa học và hóa chất bảo vệ thực

vật, làm cho đất bị suy thoái và chất lượng nông sản không cao.

1.1.3.2. Tác động của BĐKH đến cuộc sống dân cư và vấn đề tái định cư :

Nhiệt độ tăng làm tăng tác động tiêu cực đối với sức khoẻ con người, dẫn đến gia tăng một số

nguy cơ đối với tuổi già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh. Tình trạng nóng lên làm thay

đổi cấu trúc mùa nhiệt hàng năm. Ở miền Bắc, mùa đông sẽ ấm lên, dẫn tới thay đổi đặc tính trong

nhịp sinh học của con người. BĐKH làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới: sốt rét, sốt

xuất huyết, làm tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn trùng, vật chủ mang

bệnh, làm tăng số lượng người bị bệnh nhiễm khuẩn dễ lây lan,…Thiên tai như bão, tố, nước dâng,

ngập lụt, hạn hán, mưa lớn và sạt lở đất v.v… gia tăng về cường độ và tần số làm tăng số người bị

thiệt mạng và ảnh hưởng gián tiếp đến sức khoẻ thông qua ô nhiễm môi trường, suy dinh dưỡng,

bệnh tật hoặc do những đổ vỡ của kế hoạch dân số, kinh tế - xã hội, cơ hội việc làm và thu nhập.

Những đối tượng dễ bị tổn thương nhất là những nông dân nghèo, các dân tộc thiểu số ở miền núi,

người già, trẻ em và phụ nữ.

BĐKH là nguy cơ gây suy thoái môi trường và suy giảm đa dạng sinh học và sự nhiễu loạn

hệ sinh thái sẽ là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh mới cho con người. BĐKH làm suy thoái tài

nguyên nước ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của nhân dân và hoạt động sản xuất của các ngành

kinh tế. BĐKH còn là nguyên nhân gây nên các biến động về di dân do mất nơi ở, mất đất canh tác

hoặc do bệnh tật và nghèo đói. Trong mấy năm gần đây biểu hiện của BĐKH đối với Việt Nam đã

rất rõ nét như mưa lũ thất thường, hạn hán ngày càng khắc nghiệt... Bắc Trung Bộ có nguy cơ gia

tăng bão lũ, trong khi vùng ven biển Nam Trung Bộ đang gia tăng độ khô hạn và có nguy cơ hạn

hán. Hậu quả của bão lũ, hạn hán trực tiếp gây chết người, dịch bệnh sau lũ, mùa màng mất mùa,

làm tăng tỷ lệ suy dinh dưỡng, giảm khả năng kháng bệnh.

Đồng thời, khi nhiệt độ toàn cầu ấm lên sẽ tạo điều kiện cho dịch bệnh cũ và dịch bệnh mới

phát triển mà con người khó có thể kiểm soát được. Trong báo cáo gần đây của Ủy ban Liên chính

phủ về BĐKH (IPPC) [21] đã khẳng định: Dưới tác động của nhiệt các căn bệnh đã gia tăng như:

sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não (truyền qua muỗi); các bệnh đường ruột (qua môi trường nước), các

bệnh suy dinh dưỡng, bệnh phổi... Những bệnh này đặc biệt ảnh hưởng lớn đến các vùng 8Tkinh tế 8T

kém phát triển, đông dân và có tỷ lệ đói nghèo cao.

Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm BĐKH sẽ làm khoảng 150.000

người chết và 5 triệu người bệnh. Trong bối cảnh đó, BĐKH sẽ làm cho hàng triệu người Việt Nam

mất nhà cửa, đói nghèo dịch bệnh gia tăng. Hiện tượng tị nạn môi trường sẽ xảy ra và kéo dài trên

diện rộng. Với đất đai đã có chủ sử dụng, đã quy hoạch, giao thông và thông tin thuận lợi, các dòng

dân di cư sẽ khác xa so với trước đây. Dòng người tị nạn xâm nhập dần vào các đô thị ít chịu ảnh

hưởng của BĐKH, tạo ra các khu dân cư kiểu “xóm liều, ổ chuột”, gia tăng lực lượng lao động giản

đơn, bán hàng rong, tạo thành các nhóm dân lang thang trong đô thị, góp phần nông thôn hoá đô thị

và làm cho quy hoạch các khu vực đô thị trở thành không thể kiểm soát được. Phụ nữ hoá quản trị

hộ gia đình tại các vùng chịu ảnh hưởng của BĐKH do 8Tđàn ông8T phải rời nhà đi kiếm sống trong thời

gian dài, tạo ra những hệ luỵ khó khắc phục về mặt giáo dục trẻ em, trật tự xã hội và kiểm soát các

bệnh xã hội như HIV-AIDS, LAO, STD[6]

Những thành công trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo có thể bị BĐKH làm sút giảm, thậm

chí có thể xóa sạch. Hơn thế nữa, việc di dân tái định cư cho các hộ gia đình là thách thức lớn không

chỉ vì quỹ đất lúc đó đã trở nên hạn hẹp, kinh phí lớn mà còn làm xáo trộn sinh kế của dân cư đang

cư trú ở vùng bờ, không ít trong số đó lại tái nghèo. Do vậy, BĐKH có tác động mạnh vào những

người nghèo đặc biệt là những người nông dân.

P lãnh hải và trên 3.000 hòn đảo gần bờ

2 Việt Nam có bờ biển dài 3.260km, hơn một triệu kmP

1.1.3.3. Đối với tài nguyên nước, tài nguyên biển

và hai quần đảo xa bờ, nhiều vùng đất thấp ven biển. Những vùng này hàng năm phải chịu ngập lụt

nặng nề trong mùa mưa và hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa khô. BĐKH và nước biển dâng sẽ

làm trầm trọng thêm tình trạng nói trên, làm tăng diện tích ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước ,

tăng xói lở bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nước sinh

hoạt, gây rủi ro lớn đối với các công trình xây dựng ven biển như đê biển, đường giao thông, bến

cảng, các nhà máy, các đô thị và khu dân cư ven biển. Mực nước biển dâng và nhiệt độ nước biển

tăng ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển và ven biển, gây nguy cơ đối với các rạn san hô và rừng ngập

mặn, ảnh hưởng xấu đến nền tảng sinh học cho các hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản ven

biển. Tất cả những điều trên đây đòi hỏi phải có đầu tư rất lớn để xây dựng và củng cố hệ thống đê

biển, nhằm ứng phó với mực nước biển dâng, phát triển hạ tầng kỹ thuật, di dời và xây dựng các

khu dân cư và đô thị có khả năng thích ứng cao với nước biển dâng.

Thiếu hụt nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt dẫn đến việc khai thác quá mức và không

thể kiểm soát môi trường của việc khai thác nước ngầm. Hiện tượng nhiễm mặn và ô nhiễm nước

ngầm gia tăng. Tài nguyên nước đang chịu thêm nguy cơ suy giảm do hạn hán ngày một tăng ở một

số vùng, mùa. Khó khăn này sẽ ảnh hưởng đến nông nghiệp, cung cấp nước ở nông thôn, thành thị

và sản xuất điện.Chế độ mưa thay đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọng vào mùa mưa, và hạn hán vào

mùa khô, gây khó khăn cho việc cấp nước và tăng mâu thuẫn trong sử dụng nước. Trên các sông lớn

như sông Hồng và sông Cửu Long, xu hướng giảm nhiều hơn đối với dòng chảy năm và dòng chảy

kiệt; xu thế tăng nhiều hơn đối với dòng chảy lũ.

BĐKH cũng đang tác động đến nuôi trồng thủy sản, trong đó nhiệt độ đóng vai trò quan

trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của sinh vật nói chung và các loài thủy - hải sản nói

riêng.

Hiện tượng nước biển dâng và ngập mặn gia tăng dẫn đến các hậu quả sau: Nước mặn lấn

sâu vào nội địa, làm mất nơi sinh sống thích hợp của một số loài thuỷ sản nước ngọt. Rừng ngập

mặn hiện có bị thu hẹp, ảnh hưởng đến nơi cư trú của một số loài thuỷ sản. Khả năng cố định chất

hữu cơ của hệ sinh thái rong biển giảm, dẫn đến giảm nguồn cung cấp sản phẩm quang hợp và chất

dinh dưỡng cho sinh vật đáy. Do vậy, chất lượng môi trường sống của nhiều loại thuỷ sản xấu đi. -

Nước biển dâng làm cho chế độ thuỷ lý, thuỷ hoá và thuỷ sinh xấu đi. Kết quả là các quần xã hiện

hữu thay đổi cấu trúc và thành phần, trữ lượng giảm sút.

Nhiệt độ tăng cũng dẫn đến một số hậu quả: Gây ra hiện tượng phân tầng nhiệt độ rõ rệt

trong thuỷ vực nước đứng, ảnh hưởng đến quá trình sinh sống của sinh vật. Một số loài di chuyển

lên phía Bắc hoặc xuống sâu hơn làm thay đổi cơ cấu phân bố thuỷ sinh vật theo chiều sâu. Quá

trình quang hoá và phân huỷ các chất hữu cơ nhanh hơn, ảnh hưởng đến nguồn thức ăn của sinh vật.

Các sinh vật tiêu tốn nhiều năng lượng hơn cho quá trình hô hấp cũng như các hoạt động sống khác

làm giảm năng suất và chất lượng thuỷ sản. Suy thoái và phá huỷ các rạn san hô, thay đổi quá trình

sinh lý, sinh hoá diễn ra trong mối quan hệ cộng sinh giữa san hô và tảo. Nhiệt độ tăng làm cho

nguồn thuỷ, hải sản bị phân tán. Các loài cá cận nhiệt đới có giá trị kinh tế cao bị giảm đi hoặc mất

hẳn. Cá ở các rạn san hô đa phần bị tiêu diệt.

Cường độ và lượng mưa lớn làm cho nồng độ muối giảm đi trong một thời gian dẫn đến sinh

vật nước lợ và ven bờ, đặc biệt là nhuyễn thể hai vỏ (nghêu, ngao, sò…) bị chết hàng loạt do không

chống chịu nổi với nồng độ muối thay đổi. Các loài thực vật nổi, mắt xích đầu tiên của chuỗi thức

ăn cho động vật nổi bị huỷ diệt, làm giảm mạnh động vật nổi, do đó làm giảm nguồn thức ăn chủ

yếu của các động vật tầng giữa và tầng trên.

Thay đổi nhiệt độ còn là điều kiện phát sinh của nhiều loài dịch bệnh xảy ra. Dịch bệnh xảy

ra và lan truyền rất nhanh và rộng, nên mức độ rủi ro rất lớn. Mực nước biển, nhiệt độ nước biển,

độ mặn, tốc độ và hướng gió, bề dày của lớp trầm tích sẽ ảnh hưởng lớn tới sinh vật sống trong đó,

ảnh hưởng đến nơi sinh sống, khả năng cung cấp thức ăn cho cá.

Xói lở bờ biển và nguy cơ ngập chìm vùng đất thấp ven bờ là một đe dọa nguy hiểm. Theo

kịch bản dâng cao mực nước biển Việt Nam [5], đến 2050 nước biển sẽ dâng cao thêm 33 cm, theo

quy luật động lực sóng, chiều rộng bãi biển cát bị xói lở sẽ là 330 m- 3300 m, nơi tập trung cơ sở

hạ tầng du lịch và nghề nuôi trồng và chế biến thủy sản, nơi cư trú của hàng vạn hộ gia đình sẽ bị

sóng phá hủy. Tình trạng còn có thể nguy hiểm hơn nếu mực nước biển dâng cao thêm 1,0 m theo

dự báo của các nhà khoa học Anh.

1.1.3.4. Đối với tài nguyên rừng và hệ sinh thái tự nhiên

BĐKH với sự tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa và nước biển dâng ảnh hưởng đến thảm

thực vật rừng và hệ sinh thái rừng theo nhiều chiều hướng khác nhau. Phân bố ranh giới các kiểu

rừng nguyên sinh cũng như rừng thứ sinh có thể dịch chuyển. Sinh thái bị nhiễu loạn dẫn đến nguồn

lợi đa dạng sinh học bị cắt giảm, điều này sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của một số

đông dân chúng dựa chủ yếu vào nông nghiệp và nguồn lợi tự nhiên.

Do BĐKH, hệ sinh thái rừng bị ảnh hưởng theo các chiều hướng khác nhau: Nước biển dâng

lên làm giảm diện tích rừng ngập mặn hiện có, tác động xấu đến rừng tràm và rừng trồng trên đất bị

nhiễm phèn ở các tỉnh Nam Bộ. Nhiệt độ cao kết hợp với ánh sáng dồi dào thúc đẩy quá trình quang

hợp dẫn đến tăng cường quá trình đồng hoá của cây xanh. Tuy vậy, chỉ số tăng trưởng sinh khối của

cây rừng có thể giảm do độ ẩm giảm. Nguy cơ tiệt chủng của động vật và thực vật gia tăng, một số

loài động, thực vật quý hiếm có thể bị suy kiệt. Nhiệt độ và mức độ khô hạn gia tăng làm tăng nguy

cơ cháy rừng, phát triển sâu bệnh, dịch bệnh…

Các khu sinh thái trống rỗng hoặc kiệt quệ do BĐKH, tạo tiền đề cho các loài ngoại lai có

khả năng thích nghi tốt hơn xâm nhập.Trong số đó, có thể có những loài cây trồng hay vật nuôi biến

đổi gen (GMO) chưa được kiểm định về tính an toàn sinh học, được người dân hay các công ty

giống vật nuôi cây trồng nhập vào mà cơ quan kiểm dịch động thực vật khó bề kiểm soát hết.

BĐKH đang ngày càng tác động đến các hệ sinh thái biển, làm giảm nguồn lợi cá biển. Hiện tượng

san hô chết hàng loạt trong những năm qua do một số nguyên nhân trong đó có nguyên nhân do

nhiệt độ ở các vùng biển đã tăng lên

Đa dạng sinh học là cơ sở quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của các quốc gia.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trước sự tác động của BĐKH toàn cầu, ĐDSH đã và đang bị

ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng. Theo Báo cáo triển vọng Môi trường toàn cầu của Liên Hợp

Quốc 2007, thì BĐKH đang gây ra tình trạng suy thoái môi trường trên phạm vi toàn cầu, đòi hỏi

thế giới phải hành động nhanh chóng hơn bao giờ hết. Đối với Việt Nam - một trong những nước

được dự báo sẽ bị ảnh hưởng nặng nề của BĐKH thì có lẽ vấn đề bảo vệ ĐDSH cần phải được quan

tâm triệt để.

Trong thiên nhiên, ÐDSH, nhất là các hệ sinh thái rừng nhiệt đới là nơi chủ yếu tích luỹ trở

lại nguồn khí COR2 Rphát thải ra, để tạo thành chất hữu cơ. Trong khi đó, chúng ta lại đã và đang chặt

phá rừng để phát triển nông nghiệp, mở rộng chăn nuôi, xây dựng nhà cửa, đô thị. Sự tàn phá rừng,

không những gây mất cân bằng sinh thái ở nước ta mà còn làm giảm khả năng hấp thụ CO R2 R và gián

tiếp làm tăng thêm lượng khí CO R2 R phát thải vào khí quyển, góp phần làm cho BÐKH toàn cầu tăng

nhanh. Như vậy, sự giảm sút ÐDSH, nhất là giảm sút diện tích rừng đã thúc đẩy sự gia tăng BÐKH

toàn cầu, nhưng ngược lại sự nóng lên toàn cầu cũng đã ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển

của các loài sinh vật và ÐDSH.

Ngoài những tư liệu về sự thay đổi nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển, Báo cáo của

Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH của Liên hợp quốc (IPCC) đã trình bày những kết quả nghiên cứu

tại sao nhiệt độ Trái Đất thay đổi đã ảnh hưởng đến khí hậu, các đặc điểm vật lý và diễn thế các đặc

PC

o Báo cáo cũng đã đưa ra kết luận là nhiệt độ Trái Đất trong thế kỷ XX đã tăng lên trung bình 0,7P

điểm đó của Trái Đất, đến nơi sống của các loài sinh vật và đến sự phát triển kinh tế của chúng ta.

làm cho nhiều vùng băng hà, diện tích phủ tuyết, vùng băng vĩnh cửu đã bị tan chảy, dẫn đến mực

nước biển dâng lên. Nhiều dấu hiệu đã cho thấy tác động của BĐKH đang ảnh hưởng ngày một sâu,

rộng đến các hệ sinh thái. Vùng phân bố của các loài đó thay đổi: nhiều loài cây, côn trùng, chim và

cá đã chuyển dịch lên phía Bắc và lên các vùng cao hơn; nhiều loài thực vật nở hoa sớm hơn, nhiều

loài chim đã bắt đầu mùa di cư sớm hơn, nhiều loài động vật đã vào mùa sinh sản sớm hơn, nhiều

loài côn trùng đã xuất hiện sớm hơn ở Bắc bán cầu, san hô bị chết trắng ngày càng nhiều. Như vậy,

các loài sinh vật muốn phát triển một cách bình thường cần phải có một môi trường sống phù hợp,

tương đối ổn định về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, đất đai, thức ăn, nguồn nước... và cộng đồng các

loài sinh vật trong nơi sống đó. Chỉ một trong những nhân tố của môi trường sống bị biến đổi, sự

phát triển của một loài sinh vật nào đó sẽ bị ảnh hưởng, thậm chí có thể bị diệt vong, tùy thuộc vào

mức độ biến đổi nhiều hay ít.

o o Đất sẽ tăng thêm từ 1,8P P C vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăng thêm 5 - 10%, băng ở hai P C đến 6,4P

Theo dự báo, nếu không có biện pháp hữu hiệu để giảm bớt lượng khí nhà kính, nhiệt độ Trái

cực và trên các núi cao sẽ tan chảy nhiều hơn, mực nước biển sẽ dâng lên khoảng 70 - 100 cm và tất

nhiên nhiều hiện tượng khí hậu cực đoan theo đó sẽ diễn ra với mức độ khó lường trước được cả về

tần số và mức độ. Nước biển dâng sẽ gây nên xói mòn bờ biển, ngập lụt vùng ven bờ, làm suy thoái

đất ngập nước, nước mặn xâm nhập, giết chết các loài thực vật, động vật nước ngọt. Tại những vùng

mà BÐKH làm tăng cường độ mưa, thì nước mưa sẽ làm tăng xói mòn đất, lũ lụt, sụt lở đất đá và có

thể gây ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng của các thuỷ vực, làm ô nhiễm nguồn nước. Tất cả

những hiện tượng đó đều ảnh hưởng đến các loài sinh vật và tài nguyên sinh vật, làm cho nhiều hệ

sinh thái bị suy thoái, gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế và xã hội, nhất là tại các nước nghèo

mà cuộc sống đa số người dân còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.

Hai vùng đồng bằng lớn và đồng bằng ven biển nước ta, trong đó có rừng ngập mặn và hệ

thống đất ngập nước rất giàu có về các loài sinh vật, là những hệ sinh thái rất nhạy cảm, dễ bị tổn

thương. Mực nước biển dâng lên cùng với cường độ của bão tố sẽ làm thay đổi thành phần của trầm

tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nước, làm suy thoái và đe dọa sự sống còn của rừng ngập mặn

và các loài sinh vật đa dạng trong đó. Khi mực nước biển dâng cao, khoảng một nửa trong số 68 khu

đất ngập nước có tầm quan trọng quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng; nước mặn sẽ xâm nhập sâu vào nội

địa, giết chết nhiều loài động, thực vật nước ngọt, ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt cho sinh hoạt và

hệ thống trồng trọt của nhiều vùng. 36 khu bảo tồn, trong đó có 8 vườn quốc gia, 11 khu dự trữ

thiên nhiên sẽ nằm trong khu vực bị ngập.

Hệ sinh thái biển sẽ bị tổn thương. Các rạn san hô là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật

biển quan trọng, là lá chắn chống xói mòn bờ biển và bảo vệ rừng ngập mặn sẽ bị suy thoái do nhiệt

độ nước biển tăng, đồng thời mưa nhiều làm cho nước bị ô nhiễm phù sa và có thể cả các hoá chất

nông nghiệp từ cửa sông đổ ra. Nhiệt độ tăng làm nguồn thủy, hải sản bị phân tán. Các loài cá nhiệt

đới (kém giá trị kinh tế trừ cá ngừ) tăng lên, các loài cá cận nhiệt đới giá trị kinh tế cao giảm.

Các thay đổi diễn ra trong các hệ thống vật lý, hệ sinh học và hệ thống kinh tế xã hội, đe dọa

sự phát triển, đe dọa cuộc sống của tất cả các loài, các hệ sinh thái. BĐKH, với các hệ quả của nó

như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, xói mòn và sụt lở đất sẽ thúc đẩy cho sự suy thoái ÐDSH nhanh hơn,

trầm trọng hơn, nhất là những hệ sinh thái rừng nhiệt đới không còn nguyên vẹn và một số loài

đang nguy cấp với số

lượng cá thể ít, cũng vì thế mà sẽ tăng nguy cơ diệt chủng của động thực vật, làm biến mất các

nguồn gen quí hiếm, bệnh dịch mới có thể phát sinh [24]

Ngoài ra BĐKH còn tác động đến các lĩnh vực khác: năng lượng, giao thông vận tải, công

nghiệp- xây dựng, văn hoá, thể thao, du lịch, thương mại và dịch vụ

Hình 1.1: Tác động giữa BĐKH và suy giảm tài nguyên tự nhiên, kinh tế - xã hội.

Hình 1.2. Chuỗi dây chuyền tác động của hiện tượng BĐKH – nước biển dâng lên hệ sinh thái,

sản xuất và đời sống

1.2. Cơ sở thực tiễn:

1.2.1. BĐKH trên thế giới

Ảnh hưởng đầu tiên của BĐKH là tác động lên hầu hết các thành phần môi trường mà trước

hết là làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng cao, mực nước biển dâng.

Sau nhiều năm bị phủ nhận vì áp lực của các kỹ nghệ khai thác nhiên liệu hóa thạch (than và

dầu hỏa), BĐKH đã trở thành một vấn đề "nóng" hiện nay của thế giới, ngày càng hiện rõ tính cấp

bách và được công nhận như một thực tế đe doạ sự tồn tại của loài người trên Trái đất. Những công

trình nghiên cứu trong suốt 20 năm của Nhóm chuyên gia liên chính phủ về BĐKH

(Intergovernmental Panel on Climate Change – IPCC), thuộc Tổ chức Khí tượng Thế giới (World

Meterological Organization – WMO), đã góp phần quan trọng làm thức tỉnh dư luận thế giới trước

hiện thực và các hệ quả của vấn đề này, và do đó đã được tôn vinh với giải Nobel hoà bình trao cho

IPCC năm 2007 [21]. .

Khí hậu biến đổi do Trái Đất bị hâm nóng vì hiệu ứng nhà kính tăng quá mức quân bình tự

nhiên khiến các sông băng trên các núi cao và nhất là vùng quanh năm băng giá ở Bắc và Nam Cực

tan dần, làm mặt biển dâng cao hơn, tới lúc nào đó sẽ ngập chìm và xoá khỏi bản đồ những hòn đảo

và những vùng đất thấp của một số nước. Ngoài ra, thời tiết cũng bị biến loạn, thiên tai xảy ra

thường xuyên hơn và với cường độ cao hơn, lụt lội và hạn hán kéo dài hơn, như thực tế một số

nước đã cho thấy. Do BĐKH, đất đai còn bị huỷ hoại vì sa mạc hoá, mặn hoá, xói mòn, ngập chìm

- tất cả những triệu chứng này đã bắt đầu hiện rõ - với viễn tượng rất đáng sợ của một hiện tượng

"tị nạn môi trường" với những luồng di dân khổng lồ, làm căng thẳng quan hệ giữa các nước.

Bên cạnh những nguy cơ của mưa gió trái mùa, thiên tai gây tác hại mùa màng, gây đói kém,

việc mặt biển dâng cao là một mối lo âu lớn, vì trong nhiều nước, những vùng ven biển bị đe doạ

trực tiếp thường là nơi tập trung đông đảo dân chúng và là những vùng kinh tế, văn hoá quan trọng.

1.2.2. BĐKH ở Việt Nam [3]

1.2.2.1. Thực trạng BĐKH ở Việt Nam

Theo số liệu quan trắc, biến đổi của các yếu tố khí hậu ở Việt Nam có những điểm đáng lưu

ý sau :

0 tăng lên 0,7P

PC. Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961-2000) cao hơn trung bình năm

- Nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1951-2000), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam đã

của 3 thập kỷ trước đó (1931-1960). Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991-2000 ở Hà Nội, Đà

Nẵng, TP.Hồ Chí Minh đều cao hơn nhiệt độ trung bình của thập kỷ 1931-1940 lần lượt là 0,8 ; 0,4

0 và 0,6 P

PC. Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ

0 1931-1940 là 0,8 – 1,3P

0 PC. PC và cao hơn thập kỷ 1991-2000 là 0,4 -0,5P

- Lượng mưa: Trên từng địa điểm thì xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình năm trong 9

thập kỷ qua (1911-2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau, có giai đoạn tăng

lên và có giai đoạn giảm xuống.

- Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các trạm Cửa Ông và

Hòn Dấu, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20cm phù hợp với xu thế chung của toàn

cầu.

- Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ gần đây

(cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI). Năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15-16 đợt không khí lạnh bằng

56 % trung bình nhiều năm, trong đó có 6/7 trường hợp có số đợt không khí lạnh trong mỗi tháng

mùa đông (XI-III) thấp dị thường (3/1990, 1/1993, 2/1994, 12/1994, 2/1997 và 11/1997). Một biểu

hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh BĐKH toàn cầu là đợt không khí lạnh gây rét

đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông

nghiệp.

- Bão: Trong những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quỹ đạo bão dịch

chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo di

chuyển dị thường hơn.

- Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ 1981-1990 và chỉ còn

gần một nửa (khoảng 15 ngày/năm) trong10 năm gần đây.

0 PC vào năm 2100. Nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3P

1.2.2.2. Nhận định xu thế BĐKH ở Việt Nam [3]

Lượng mưa có xu thế biến đổi không đồng đều giữa các vùng, có thể tăng từ 0 đến 10% vào

mùa mưa và giảm từ 0 đến 5% vào mùa khô. Tính biến động của mưa tăng lên.

Mực nước biển trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam có thể dâng lên 1m vào năm 2100.

1.2.2.3. Nhận định về tác động tiềm tàng của BĐKH ở Việt Nam [3]

Việt Nam đang đối mặt với nhiều tác động của BĐKH bao gồm tác động đến cuộc sống,

sinh kế, tài nguyên thiên nhiên, cấu trúc xã hội, hạ tầng kỹ thuật và nền kinh tế. Việt Nam được

đánh giá là một trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH và mực nước biển dâng. Để

ứng phó với BĐKH cần phải có những đầu tư thích đáng và nỗ lực của toàn xã hội.

Các số liệu và phân tích cho thấy BĐKH có những tác động tiềm tàng đến những lĩnh vực,

các địa phương và các cộng đồng khác nhau của Việt Nam. BĐKH làm tăng khả năng bị tổn

thương và tạo nguy cơ làm chậm hoặc đảo ngược quá trình phát triển. Những người nghèo nhất,

thường tập trung ở các vùng nông thôn, đặc biệt ở dải ven biển và các khu vực miền núi là đối

tượng chịu nguy cơ tổn thương lớn nhất do BĐKH.

Khả năng tổn thương cần được đánh giá đối với từng lĩnh vực, khu vực và cộng đồng, cả hiện

tại và tương lai. Khả năng tổn thương do BĐKH (bao gồm cả biến động khí hậu, nước biển dâng và

hiện tượng khí hậu cực đoan) đối với một hệ thống phụ thuộc vào tính chất, độ lớn, mức độ biến

động khí hậu và những áp lực do BĐKH mà hệ thống đó phải hứng chịu, tính nhạy cảm cũng như

năng lực thích ứng của hệ thống đó. Năng lực thích ứng của một hệ thống phụ thuộc vào đặc điểm

tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường của hệ thống đó. Tác động tổng hợp của BĐKH đối với hệ

thống càng lớn và năng lực thích ứng của hệ thống càng nhỏ thì khả năng tổn thương càng lớn.

Ở Việt Nam, những lĩnh vực/đối tượng được đánh giá là dễ bị tổn thương do BĐKH bao

gồm : nông nghiệp và an ninh lương thực, tài nguyên nước, sức khoẻ, nơi cư trú, nhất là ven biển và

miền núi

Các khu vực dễ bị tổn thương bao gồm dải ven biển (kể cả những đồng bằng, đặc biệt là

những vùng hàng năm thường chịu ảnh hưởng của bão, nước dâng do bão, lũ lụt), vùng núi, nhất là

những nơi thường xảy ra lũ quét, sạt lở đất

Có thể nói, về mặt tiêu cực, BĐKH làm tăng tính ác liệt của thiên tai, cả về cường độ lẫn tần

suất.

Các cộng đồng dễ bị tổn thương bao gồm : nông dân, ngư dân (nhất là ở những khu vực dễ bị

tổn thương), các dân tộc thiểu số ở miền núi, người già, phụ nữ, trẻ em và các tầng lớp nghèo nhất ở

các đô thị là những đối tượng ít có cơ hội lựa chọn

Kết luận chương 1

BĐKH là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất mà nền văn minh nhân loại từng đối mặt từ

trước đến nay

BĐKH đang gây ra tình trạng suy thoái môi trường trên phạm vi toàn cầu, đòi hỏi thế giới

phải hành động nhanh chóng hơn bao giờ hết, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là thế giới cần phải

hành động ngay chứ không thể chần chừ thêm nữa

BĐKH là một vấn đề phức hợp, vừa mang tính cấp bách trước mắt, vừa mang tính lâu dài,

tác động tới tất cả các lĩnh vực, từ tự nhiên đến kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn cầu. BĐKH, thực

chất là một vấn đề liên quan đến sự phát triển bền vững. Vì vậy, việc tìm hiểu các tác động và đề ra

các giải pháp ứng phó với BĐKH cần phải được tiến hành trong một Chương trình/Kế hoạch quốc

gia thống nhất và trong sự hợp tác chặt chẽ với cộng đồng quốc tế, để cùng bảo vệ ngôi nhà chung

của chúng ta.

Chương 2. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BĐKH VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan tài liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan đến BĐKH:

Để cung cấp một cái nhìn tổng thể về vấn đề được nghiên cứu, chúng tôi sẽ trình bày tóm tắt

một số khảo sát, bài báo, sách, tư liệu có liên quan.

BĐKH tác động nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, đe dọa cuộc sống toàn thể nhân loại

và mọi sự sống trên hành tinh. Đây là vấn đề được nước ta và các nước trên thế giới đặc biệt quan

tâm.

Trước những hiểm hoạ và thách thức đó, năm 1992 Công ước khung của Liên hiệp quốc về

BĐKH (UNFCCC)[24] đã được ký kết và có hiệu lực từ năm 1994. Mục tiêu của công ước là ổn

định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm

của con người đối với hệ thống khí hậu.

Nghị định thư Kyoto là một nghị định liên quan đến Chương trình khung về vấn đề BĐKH

Liên Hiệp Quốc với mục tiêu cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Công ước được thông

qua tại Hội nghị lần thứ 3 các bên tham gia Công ước, tổ chức tại Kyoto, Nhật Bản tháng 12 năm

1997.

Năm 2005, lần đầu tiên Chính phủ Anh đã thực hiện đánh giá một cách toàn diện các tác

động về mặt kinh tế của BĐKH. Báo cáo do nhà kinh tế lỗi lạc Lord Nicholas Stern làm trưởng

nhóm. Báo cáo Stern đã đưa ra kết quả phân tích sâu sắc và chi tiết về chi phí và các rủi ro của

BĐKH cũng như của việc giảm phát thải khí nhà kính đối với nền kinh tế toàn cầu. Báo các Stern

[35] đã nhấn mạnh rằng thông qua việc đầu tư tốt hơn cho công tác phòng, tránh, giảm nhẹ thiên

tai, cả về tài chính và đời sống, sẽ đem lại lợi ích về lâu dài.

Năm 2007, Nghiên cứu đánh giá do Giáo sư Garnaut, nhà khoa học hàng đầu của Australia

chủ trì và thực hiện trong khoảng 12 tháng. Nghiên cứu nhằm đánh giá các tác động của BĐKH đối

với nền kinh tế Australia và đề xuất chính sách trung và dài hạn cho sự phát triển bền vững. Đây là

nghiên cứu đánh giá toàn diện và chi tiết nhất về BĐKH ở Australia

Việt Nam đã phê chuẩn UNFCCC[24] tháng 11 năm 1994 và phê chuẩn Nghị định thư

Kyoto tháng 9 năm 2002. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đánh giá và hội thảo khoa học đã được

thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đối với Việt Nam và xác định mục tiêu quốc gia về

đối phó với BĐKH, xác định các biện pháp, chiến lược đối phó với BĐKH.

Hiện nay vẫn cần nhiều nghiên cứu hơn để phân tích tác động của BĐKH đối với các vùng

cụ thể và để xác định các vùng nào sẽ chịu tác động lớn nhất từ BĐKH. Tiến hành các nghiên cứu

khoa học một cách cẩn thận về BĐKH trước khi hoạch định chính sách sẽ giúp tiết kiệm thời gian

ngân sách cho việc phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai, phục vụ mục tiêu phát triển lâu dài và bền

vững.

Một số phác thảo kịch bản BĐKH ở Việt Nam đã được công bố tại Hội thảo BĐKH toàn cầu

và giải pháp ứng phó của Việt Nam tại Hà Nôi tháng 2/2008, được trình bày tóm tắt dưới đây.

Bảng 2.1. Thông báo Quốc gia về BĐKH ở Việt Nam (so với năm 1990)

Mực nước biển tăng thêm Năm (cm) Nhiệt độ tăng thêm 0 PC) ( P

0,3-0,5 9 2010

1,1-1,8 33 2050

1,5-2,5 45 2100

Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu, 2008. [5]

Bảng 2.2. Kịch bản BĐKH các vùng của Việt Nam

0 (nhiệt độ tăng thêm P

PC so với năm 1990)

Năm Tây Bắc Đông Bắc Tây nguyên Nam Bộ Đồng bằng Bắc Bộ Bắc Trung Bộ Nam Trung Bộ

2050 1,41 1,66 1,44 1,68 1,13 1,01 1,21

2100 3,49 4,38 3,71 3,88 2,77 2,39 2,80

Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu, 2008.[5]

Bảng 2.3. Kịch bản nước biển dâng ở Việt Nam so với năm 1990

Kịch bản / năm 2050 2100

A1F1 13,7 39,7

A2 12,5 33,1

A1B 13,3 31,5

B2 12,8 28,8

A1T 12,7 27,9

B1 13,4 26,9

Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu, 2008 [5]

0 PC, mực nước biển dâng cao thêm 37cm chưa tính đến sự tan băng mà chỉ tính đến sự dãn nở 2,8P

Tính trung bình của cả sáu kịch bản thì đến cuối thế kỷ XXI nhiệt đô có khả năng tăng thêm

nước đại dương. IPCC cũng dự báo rằng cuối thế kỷ 21 mực nước biển có thể tăng thêm tối đa 81

cm. Tuy nhiên các nhà khoa học Anh cho rằng con số đó chưa phản ánh đúng, nước biển cuối thế kỷ

21 có thể tăng thêm đến 163 cm, tức là gấp đôi số liệu dự báo của IPCC.

Xu thế chung của BĐKH ở Việt Nam:

- Nhiệt độ ở các vùng phía Bắc tăng nhanh hơn các vùng phía Nam

0 - Đến cuối thế kỷ 21 nhiệt độ có thể tăng thêm từ 4,0 đến 4,5P

PC theo kịch bản cao nhất và 2,0

PC theo kịch bản thấp nhất

0 đến 2,2P

- Nhiệt độ ở các vùng ven biển tăng chậm hơn các vùng sâu hơn trong lục địa

- Biên độ dâng cao mực nước biển ở nước ta là khá lớn theo tất cả các kịch bản, mặc dù vậy

vẫn chỉ là tương đương hoặc thấp hơn chút ít so với dự báo của IPCC năm 2007

- BĐKH kéo theo hiện tượng El Nino, làm giảm đến 20-25% lượng mưa ở khu vực miền

Trung - Tây Nguyên, gây ra hạn hán không chỉ phổ biến và kéo dài mà thậm chí còn gây khô hạn

thời đoạn ngay trong thời gian El Nino. Tác động này ở Nam Trung Bộ lớn hơn Bắc Trung Bộ, Bắc

Tây Nguyên lớn hơn Nam Tây Nguyên.[5]

2.2. Tổng quan tài liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan đến BĐKH ở ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do

nước biển dâng. Hai đồng bằng còn lại là đồng bằng sông Nile (Ai Cập) và đồng bằng sông Hằng

(Bangladesh).[33]

Dựa trên các kết quả điều tra cơ bản, ĐBSCL gồm có 3 tiểu vùng: tiểu vùng mà quá trình

sông chiếm ưu thế (A); tiểu vùng mà quá trình biển chiếm ưu thế là (C); tiểu vùng vừa chịu ảnh

hưởng của sông vừa chịu ảnh hưởng của biển là (B). Có thể dự báo định tính tác động của mực

nước biển dâng lên ba tiểu vùng như sau:

2.2.1. Tiểu vùng (A) nơi chịu ảnh hưởng nguồn chiếm ưu thế :

Đó là các tỉnh giáp biên giới Cam-pu-chia, là nơi hai nhánh sông Mêkông và sông Bassac đi

vào lãnh thổ Việt Nam và lũ sông Mêkông tràn bờ và tràn đồng vào khu vực ĐBSCL. Tiểu vùng

này chịu tác động về môi trường tự nhiên của mực biển dâng nhưng không mạnh như hai tiểu vùng

B và C. Do quá trình biển mạnh lên do biển dâng, ranh giới của tiểu vùng sẽ lùi dần về phía nguồn,

độ sâu ngập vào mùa lũ sẽ sâu hơn và thời gian ngập cũng kéo dài hơn. Quá trình bồi lở bờ sông,

cồn bãi hoạt động mạnh hơn.

Về mặt kinh tế - xã hội, khu vực I của nền kinh tế bị biến động nhưng việc khắc phục không

quá khó vì chủ yếu vẫn còn là các hệ canh tác nước ngọt. Cơ cấu mùa vụ, hệ thống canh tác có thể

xảy ra tại một số địa bàn và sự điều chỉnh các công trình thuỷ lợi ở những địa bàn này là cần thiết.

Khu vực II và khu vực III có thể nhận phần dịch chuyển đầu tư và phát triển đô thị từ hai vùng B và

C. Mật độ dân số và quá trình đô thị hoá chịu tác động từ sự dịch chuyển một phần dân cư, lao động

và các cơ sở kinh tế của hai vùng B và C.

2.2.2. Tiểu vùng (C) nơi ảnh hưởng biển chiếm ưu thế

Đây là vùng duyên hải của các tỉnh giáp với biển Đông và vịnh Thái Lan. Tiểu vùng này chịu

tác động về môi trường tự nhiên của mực nước biển dâng trực tiếp nhất. Hệ sinh thái bãi triều và

rừng ngập mặn qua gánh chịu các tác động sẽ thể hiện vai trò ‘‘đệm’’ giảm sóng, phòng hộ và giữ

đất. Tình hình xói lở đường bờ sẽ mạnh hơn, tình hình bồi lắng ở các cửa sông sẽ thay đổi. Đường

ranh giới với tiểu vùng (B) sẽ bị dịch chuyển lên về phía nguồn, quy hoạch thuỷ lợi đê bao ven biển

cần phải tính toán lại với những tham số mới của phân vùng thuỷ văn thuỷ lực trong tiểu vùng.

Về mặt kinh tế - xã hội, khu vực I tại đây đã thích ứng từ trước với điều kiện ngập theo triều

và nhiễm mặn hầu như quanh năm, sẽ thay đổi theo hướng kinh tế nước mặn là chính. Vùng sản

xuất lúa sẽ bị co lai. Khu vực II, khu vực III và đời sống, sinh hoạt của người dân sẽ khó khăn hơn

do độ ngập tăng và khan hiếm nguồn nước ngọt. Nguồn nước ngọt tại đây chỉ trông chờ vào nước

mưa và nước ngầm. Đầu tư cho cơ sở hạ tầng để tôn cao và bảo vệ công trình sẽ tốn kém không ít.

Vì những lí do đó, một bộ phận dân cư có thể sẽ dịch chuyển ra ngoài tiểu vùng. Vấn đề lớn nhất

của tiểu vùng là bảo vệ các thành quả của lao động quá khứ.

2.2.3. Tiểu vùng chịu ảnh hưởng hỗn hợp biển và nguồn (B).

Đây là địa bàn thể hiện rõ rệt nhất sự giao thoa giữa hai quá trình sông và biển, với quá trình

biển mạnh lên. Tiểu vùng chịu sự tác động về môi trường tự nhiên mạnh dần theo hướng từ nguồn

ra biển. Diện tích của tiểu vùng bị thu hẹp lại. Ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội ở tiểu vùng này rất to

lớn do đây là vùng tập trung dân cư đô thị, có nhiều cơ sở kinh tế quan trọng, mà sinh hoạt và các

hoạt động kinh tế - xã hội cho tới nay đều dựa vào nguồn nước ngọt dồi dào hầu như quanh năm.

Đối với khu vực I, ở nột số địa bàn giáp với tiểu vùng (C), các hệ thống canh tác trên nền

nước ngọt như canh tác lúa, vườn cây ăn trái bị tác động về mặt năng suất, về diện tích canh tác ;

chăn nuôi gia súc gia cầm giảm mạnh ; diện tích nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt bị thu hẹp do bị

nước lợ và mặn lấn lên.

Khu vực II, khu vực III, đô thị và dân cư bị ảnh hưởng và có thể bị xáo trộn khá nhiều. Một

bộ phận sẽ dịch chuyển về tiểu vùng A hoặc ra ngoài vùng do thiếu nguồn nước ngọt, do ngập lụt

hoặc do xây dựng kết cấu hạ tầng cấp nước ngọt và chống ngập quá tốn kém. Cũng vì những lý do

này, sức thu hút đầu tư đã khó sẽ càng khó.

Nhìn tổng thể, kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ chịu sự tác động trên các

mặt :

Biến động trong sản xuất : Nếu không có giống mới chịu được mặn, kinh tế lúa và kinh tế

vườn sẽ giảm sút ; kinh tế biển sẽ tăng trưởng nhanh nhưng chưa chắc sẽ bù đắp lại hai sự sụt giảm

trên ; đầu tư trong lĩnh vực công thương nghiệp càng khó thu hút hơn.

Xây dựng kết cấu hạ tầng đã tốn kém càng tốn kém hơn.

Biến động về phân bố dân cư, đô thị và các trung tâm, cơ sở kinh tế sẽ diễn ra sự dịch chuyển

trong nội vùng và ra ngoài vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Những biến động về môi trường tự nhiên và về kinh tế - xã hội nêu lên trên đây sẽ ảnh hưởng

đến sự phát triển bền vững của Đồng bằng sông Cửu Long nếu không kịp thời có sự ứng phó thích

hợp. Cuộc sống của hàng chục triệu người dân sẽ gặp nhiều xáo trộn lớn ; Vai trò vựa lúa cả nước,

nguồn đóng góp quan trọng cho tổng kim ngạch xuất khẩu và ngân sách nhà nước mà Đồng bằng

sông Cửu Long đang đảm nhiệm sẽ chịu thách thức nghiêm trọng ; Nhiều khía cạnh về an ninh quốc

phòng sẽ được đặt ra, trước tiên là an ninh lương thực cho cả nước.

Nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế có uy tín đã xếp Việt Nam, đặc biệt là vùng

Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong nhóm quốc gia có nguy cơ tổn thương cao do tác động của

hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Năm 2009, Trung tâm START[20] vùng Đông Nam Á (Đại học Chulalongkorn, Thái Lan)

và Viện Nghiên cứu BĐKH – Đại học Cần Thơ đã phối hợp chạy mô hình khí hậu vùng PRECIS

với kịch bản A2 và B2, dựa vào chuỗi số liệu khí hậu giai đoạn 1980-2000 để phỏng đoán giai đoạn

2030-2040. Kết quả mô hình cho thấy nhiều khu vực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị các

0 - Nhiệt độ cao nhất trung bình trong mùa khô sẽ gia tăng từ 33 - 35P

0 PC lên 35 - 37P

PC

tác động sau:

- Lượng mưa đầu vụ Hè Thu (15/4 – 15/5) sẽ giảm chừng 10-20%

- Sự phân bố mưa tháng sẽ có khuynh hướng giảm vào đầu và giữa vụ Hè Thu nhưng gia

tăng một ít vào cuối mùa mưa.

- Tổng lượng mưa hàng năm sẽ giảm, đồng thời thời kỳ bắt đầu mùa mưa sẽ trễ hơn khoảng 2

tuần lễ.

- Xu thế lũ trong giai đoạn 2030 – 2040 sẽ khác đi so với hiện nay: diện tích bị ngập sẽ mở

rộng.

- Tình hình nhiệt độ gia tăng, mưa giảm, diện tích lũ mở rộng và mực nước biển dâng cao sẽ

tác động rất lớn đến hệ sinh thái và sản xuất nông nghiệp cũng như tạo ra các vấn đề khó khăn cho

sự phát triển kinh tế - xã hội khu vực.

0 - Nhiệt độ toàn cầu gia tăng 1P

0 PC trong giai đoạn 2010-2040 và 3 - 4P

PC trong giai đoạn 2070 –

Kết quả này tương đối phù hợp với mô hình của IPCC (2007) cho thấy:

2100.

- Lượng mưa trung bình trên thế giới sẽ giảm 20mm trong giai đoạn 2010-2040 nhưng gia

tăng 60mm trong giai đoạn 2070-2100.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa lớn nhất cả nước, không chỉ đáp ứng nhu cầu

lương thực cho thị trường và chiến lược an ninh lương thực trong nước mà còn góp phần đáng kể

vào kim ngạch xuất khẩu, đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu, đưa Việt Nam trở thành nước xuất

khẩu gạo nhất nhì thế giới.

Theo đánh giá của các chuyên gia khí tượng thủy văn, ĐBSCL sẽ là khu vực chịu tác hại

nặng nề nhất do BĐKH gây ra. Những năm gần đây, vào các tháng mùa khô, hầu hết các tỉnh

ĐBSCL đều bị nước mặn xâm nhập, gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất nông nghiệp, nhiều địa

phương rơi vào tình trạng thiếu nước ngọt sinh hoạt trầm trọng. Theo dự đoán của Chương trình

Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP)[23], tác động của BĐKH sẽ gây thiệt hại khoảng 17.000 tỷ

đồng/năm cho nước ta, đồng thời khiến 17 triệu người đứng trước nguy cơ không còn nhà cửa.

Trước đây, ĐBSCL ít gặp bão [33],[45]. Năm 1997, bão Linda đi qua khu vực này và năm

2006, đuôi bão Durian quét qua, gây thiệt hại nặng nề về người và của. Đáng lo ngại hơn, theo dự

báo của các chuyên gia, nếu mực nước biển dâng lên cao hơn so với hiện nay, hậu quả của các cơn

bão gây ra cho ĐBSCL còn khốc liệt hơn nhiều. TS. Nguyễn Hữu Chiếm, Khoa Môi trường và Tài

nguyên thiên nhiên (Trường Đại học Cần Thơ) khẳng định: “ĐBSCL đang chịu ảnh hưởng nặng nề

bởi BĐKH toàn cầu. Hiện đất đai của vùng đang bị bạc màu và đa dạng sinh học giảm mạnh; diện

tích đất bị xâm nhập mặn, khô hạn, nhiễm phèn ngày càng tăng cao. Toàn vùng ĐBSCL có khoảng

2,1 triệu hecta đất bị nhiễm mặn và 1,6 triệu hecta đất nhiễm phèn, khô hạn. Bên cạnh đó, nhiệt độ

không khí tăng cao cộng với tình trạng hạn hán bất thường, lũ lụt không theo quy luật khiến nhiều

loại dịch bệnh mới hình thành, gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất nông nghiệp”.Chỉ tính riêng các

đợt triều cường từ cuối năm 2008 đến đầu năm 2009, vùng ngoài đê bao của An Giang, Kiên Giang,

Hậu Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ đều bị ngập; nước sông dâng

cao khiến khoảng 70.000ha vườn cây ăn trái, hàng trăm kilômét đường nông thôn bị ngập sâu...

Đáng báo động là tình trạng ngập lụt không chỉ xảy ra vào mùa mưa mà còn diễn biến bất thường

trong mùa khô. Theo thông tin từ Viện Khoa học thủy lợi miền Nam, hiện nước mặn từ 6 cửa sông

thuộc hệ thống sông Mêkông đã xâm nhập sâu vào đất liền vùng ĐBSCL khoảng 70km. Tại Long

An, nước mặn từ Cửa Tiểu đã vào đến xã Thủy Tây (huyện Thạnh Hóa); tại Bến Tre, nước mặn từ

Cửa Đại vào đến xã Phú Túc (huyện Châu Thành); ở Trà Vinh, nước mặn từ cửa Hàm Luông đã vào

đến xã Long Thới (huyện Tiểu Cần); trong khi đó ở Hậu Giang, nước mặn từ cửa Trần Đề đã vào

đến xã Phú Hữu. Trên địa bàn Cà Mau, nước mặn từ sông ông Đốc đã xâm nhập sâu 65km. Nước

mặn từ sông Cái Lớn cũng xâm nhập sâu 65km đến thị xã Vị Thanh (Hậu Giang).

Tháng 2/2010, triều cường dâng cao, xâm nhập mặn sâu tới 35-70km vào vùng ngọt ổn định,

làm ảnh hưởng nhiều diện tích lúa đông xuân đang trong giai đoạn làm đòng, trổ bông của khu vực

ĐBSCL. Tại tỉnh Bạc Liêu, xâm nhập mặn đã ảnh hưởng đến 20.000ha lúa của huyện Hồng Dân.

Tại Trà Vinh, độ mặn so với cùng kỳ năm trước đã tăng lên gần gấp đôi (0,35% lên 0,67%); Bến

Tre, độ mặn lên đến 0,4% và ở Cà Mau có nơi đo được là 3%. Khi nước bị nhiễm độ mặn 0,4% thì

không thể dùng cho sản xuất, nuôi trồng được.

Ông Phạm Đình Đôn, Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường khu vực Tây Nam Bộ cho

rằng, trong vài chục năm tới, khi nước biển dâng cao, ĐBSCL sẽ phải đối mặt với tình trạng xâm

nhập mặn và ngập lũ hạ lưu sông Mêkông với quy mô lớn. ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất cả nước và

có thế mạnh về nuôi trồng thủy sản nên 2 lĩnh vực này sẽ chịu tác động mạnh nhất khi quá trình xâm

nhập mặn làm thay đổi môi trường đất và nước. Hệ sinh thái rừng ngập mặn cũng sẽ chịu tác động

xấu khi chế độ nước ngập sâu bị thay đổi do nước biển dâng cao. Quá trình xâm nhập mặn ở mức độ

cao có thể hủy diệt thảm thực vật và tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng tràm ở Cà Mau,

Kiên Giang...

Tóm lại, BĐKH sẽ tác động lên toàn bộ hệ sinh thái vốn rất nhạy cảm của Trái Đất, gây tác

động qua lại liên quan đến sự suy giảm chất lượng tự nhiên, kinh tế và xã hội. Vấn đề này làm thay

đổi cán cân thực phẩm trong sinh quyển, làm mất tính đa dạng sinh học, đất và rừng bị suy kiệt.

ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng rất rõ rệt, có thể phỏng đoán trong tương lai. Các báo cáo nghiên cứu cho

thấy vùng ĐBSCL đang và sẽ chịu những tác động nghiêm trọng do hiện tượng BĐKH - nước biển

dâng lên toàn bộ hệ sinh thái, cơ cấu canh tác nông nghiệp, cơ sở hạ tầng và các hoạt động xã hội -

sinh kế - văn hóa…

2.3. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu [2],[11]

0 P35’-106P

0 P7’30’’ kinh độ đông và 10P

0 P07’-10P

P30’ độ vĩ bắc. Vị trí địa lý được xác định: Phía Bắc

0 106P

Huyện Gò Công Đông là một trong 10 huyện, thị, thành thuộc tỉnh Tiền Giang, nằm ở tọa độ

giáp tỉnh Long An, phía Nam giáp huyện Tân Phú Đông, phía Tây giáp thị xã Gò Công và huyện

Gò Công Tây, phía Đông giáp biển Đông.

Huyện Gò Công Đông có 13 đơn vị hành chính, có vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát

triển kinh tế biển của tỉnh và cả nước. Toàn bộ phía Đông của huyện tiếp giáp với 32km bờ biển với

02 cửa sông lớn là Cửa Tiểu và cửa Soài Rạp là các cửa ngõ thông ra biển Đông, là điều kiện thuận

lợi để giao lưu với tỉnh bạn và quốc tế.

Đồng thời đây là nơi hội tụ nguồn tài nguyên thủy sản dồi dào phong phú. Bên cạnh đó, biển

và bờ biển là hướng phòng thủ chiến lược trong việc bảo vệ nền kinh tế- chính trị trong khu vực.

Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 26.768,16 ha, dân số 143.418 người.

Huyện Gò Công Đông có địa hình tương đối bằng phẳng, khuynh hướng thấp dần theo

hướng Bắc Nam và Tây Đông, đất phù sa cổ và phù sa ven biển chiếm phần lớn diện tích.. Đặc biệt

với 20km bờ biển với hàng ngàn ha bãi bồi rất thuận lợi trong việc nuôi trồng các loại thủy hải sản

như nghêu, tôm, cua và các loài đặc sản biển khác. Khí hậu Gò Công Đông nằm trong chế độ khí

0 tháng 12 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình hàng năm 27,9P

PC, lượng mưa trung bình hàng

hậu chung cả miền Tây Nam bộ, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5-11, mùa khô từ

năm 1.191mm.

Huyện Gò Công Đông với bờ biển dài 32km nằm kẹp giữa các cửa sông lớn là Soài Rạp

(sông Vàm Cỏ), cửa Tiểu, cửa Đại (sông Tiền). Sóng biển có độ cao cực đại (bình quân 1,25m và

tối đa 3m) vào các tháng 10 đến tháng 02 khi có ảnh hưởng rõ nét của gió Đông Bắc (gió chướng).

Ngoài ra, chế độ thủy triều khu vực biển Gò Công Đông chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều

biển Đông.Vùng ven biển, thuộc hệ thống các cửa sông giáp biển nên từ lâu đã thiết lập được hệ

thống rừng trồng ngập mặn với diện tích 2.028ha gồm các loại bần, đước, mắm, dừa nước, phi lao.

Thực vật dưới tán lá rừng ngập mặn rất phong phú gồm 75 loài thuộc 35 họ.

Khu vực ven biển được phù sa bồi đắp quanh năm, hiện quá trình bồi đắp đang hình thành

các cồn ven biển:

Cồn Vân Liễu - cồn Ông Mão : nằm tiếp giáp với vùng đất liền thuộc xã Tân Thành (Gò

Công Đông), có chiều dài 7km, rộng 5km với diện tích 4.055ha. Độ cao đường bình độ từ 0,6 đến -

6,0m, vùng ven bờ nổi lên khi triều kém.

Cồn Ngang : nằm tiếp giáp phía Đông cù lao Tân Thới thuộc xã Phú Tân (Gò Công Đông),

có chiều dài 5,5km, rộng 2,5km với diện tích 1.617ha. Độ cao dường bình độ từ -1,1 đến -0,6m, nổi

một phần diện tích khi triều kém. Hiện một số khu vực cao trên cồn đã trồng được phi lao, mắm ...

Cồn Vượt : nằm cách 1,5km về phía Đông Nam cồn Ngang, có chiều dài 10km, rộng 3km,

với diện tích 3.188ha. Độ cao đường bình độ từ -2,3 đến - 6,1m, ngập hoàn toàn.

Với cao trình phổ biến từ 0,8 và thấp dần theo hướng Đông Nam, ra đến biển Đông chỉ còn

0,4 - 0,6m Có hai vùng trũng cục bộ tại xã Thạnh Trị, Yên Luông, Bình Tân (Gò Công Tây) và Tân

Điền, Tân Thành (Gò Công Đông). Do tác động bồi lắng phù sa từ cửa Xoài Rạp đưa ra, khu vực

ven biển phía Bắc (Tân Trung, Tân Phước, Gia Thuận, Vàm Láng) có cao trình hơn hẳn khu vực

phía Nam .Trên địa bàn còn có rất nhiều giồng cát biển hình cánh cung có cao trình phổ biến từ 0,9 -

1,1m nổi hẳn lên trên các đồng bằng chung quanh.

Với điều kiện nằm giữa các cửa sông nên rất thuận lợi cho nuôi trồng và đánh bắt thủy hải

sản. Thủy sản nước lợ: gồm con giống và con non sinh sản và di chuyển vào sâu trong bờ, trữ

lượng hàng năm ước tính về tôm, cua, cá, sò, nghêu ... tại các vùng cửa sông là 156.000 tấn. Về hải

sản có tiềm năng khá dồi dào với trữ lượng hàng năm về sinh vật nổi lên đến 12.000 triệu tấn thực

vật phiêu sinh, 5,96 triệu tấn động vật phiêu sinh, 4,7 triệu tấn sinh vật đáy và hơn 1 triệu tấn cá.,

hàng năm cung cấp cho thị trường trên 20.000 tấn nghêu được nuôi tại khu vực ven biển Gò Công.

Trong những năm qua ngành đã sản xuất được nghêu giống nhân tạo, song cũng còn rất khiêm tốn.

Việc đầu tư mở rộng quy mô sản xuất nghêu giống tại Tân Thành là nhu cầu cấp thiết, không chỉ

phục vụ nhu cầu nuôi tại chỗ mà còn phát triển ra các vùng lân cận như Ba Tri, Bình Đại (Bến Tre),

Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh),….

Phát huy lợi thế của vùng kinh tế biển, cùng với chương trình ngọt hóa Gò Công đã khai thác

tiềm năng và phát triển kinh tế, cơ cấu giá trị tính theo giá trị thực tế năm 2007. Cụ thể:

- Khu vực I (nông-lâm-ngư) đạt 68,8%

- Khu vực II (công nghiệp-xây dựng) đạt 9,5%

- Khu vực III (thương mại-dịch vụ) đạt 21,7%

Huyện Gò Công Đông trước đây là một vùng đất nhiễm mặn phèn lâu đời, thường xuyên nên

hàng năm chỉ sản xuất được 01 vụ lúa mùa năng suất thấp, bấp bênh do đó đời sống nhân dân vô

cùng khó khăn, thiếu thốn. Sau vụ mùa nhân dân phải đi làm thuê mướn nơi khác để tìm nguồn thu

nhập thêm. Trước tình hình đó, được Trung ương và Tỉnh quan tâm đầu tư thực hiện dự án ngọt hóa

Gò Công đã tạo sự chuyển biến tột bậc cho vùng Gò Công, trong đó có huyện Gò Công Đông.

Sản xuất nông nghiệp đã phát triển ổn định, từ sản xuất chỉ 01 vụ/năm đến năm 2002 có

13.000ha sản xuất 03 vụ lúa/năm, 3.256ha sản xuất 02 vụ/năm. Năng suất lúa bình quân 4,5 tấn/ha.

Sản lượng lương thực 180.000 tấn, bình quân lương thực 960kg/đầu người. Riêng trong năm 2007,

tổng sản lượng lương thực 195.931 tấn, trong đó sản lượng lúa thơm giá trị cao chiếm 60%, sản

lượng lúa chất lượng cao chiếm 30%.

Từ thực tế độc canh cây lúa dần dần chuyển sang đa dạng hóa cơ cấu cây trồng. Sản xuất hoa

màu gia tăng với diện tích gieo trồng hàng năm 8.300ha. Kinh tế vườn từng bước phát triển với diện

tích 2.160ha (trong đó khoảng 700ha trồng cây sơ ri).

Phong trào chăn nuôi ổn định hàng năm duy trì đàn heo 44.012 con, gần 01 triệu con gia

cầm. Nuôi bò, dê đang có xu thế phát triển .

Sản xuất ngư nghiệp đang được quan tâm đầu tư có bước phát triển khởi sắc nhất là lĩnh vực

nuôi thủy sản. Đến năm 2008, huyện giữ vững diện tích nuôi thủy sản hàng năm là 3.566ha. Trong

đó nuôi tôm sú vẫn giữ vai trò chủ đạo với số lượng con giống thả nuôi gần 300 triệu con đã tạo

nguồn thu nhập đáng kể. Hoạt động đánh bắt hải sản giảm số phương tiện do nguồn lợi thủy sản ven

bờ cạn kiệt, ngư dân thiếu vốn tích lũy để đầu tư cải tạo, đóng mới phương tiện đánh bắt xa bờ.

Tổng sản lượng thủy hải sản thu hoạch hàng năm của huyện 55.140 tấn. Để khai thác tiềm năng

ngư nghiệp huyện đang tranh thủ cấp trên đầu tư để đưa vào khai thác các vùng dự án nuôi tôm Bắc

Gò Công, diện tích đất lúa ven đê năng suất thấp sang nuôi thủy sản

Kết luận chương 2

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang là mối đe dọa hiện hữu đối với mọi quốc gia trên thế giới

trong đó có Việt Nam. Các công trình khoa học ở trong nước và thế giới trong những năm qua đã

tập trung xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu, tìm kiếm các giải pháp hạn chế tình trạng xấu đi

của khí hậu toàn cầu cũng như các giải pháp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu. Đã có một số tác

giả và công trình khoa học công bố kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến từng

lĩnh vực cụ thể. Về lĩnh vực tìm hiểu tác động của BĐKH đến sinh hoạt và sản xuất của người dân

vùng nông thôn, đây là một lĩnh vực nghiên cứu mới và có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi tầng lớp

dân cư nhưng đến nay vẫn có rất ít công trình khoa học được công bố. Đây chính là cơ sở quan

trọng để chúng tôi hình thành đề tài luận văn“Tác động của Biến đổi khí hậu đến sinh hoạt và sản

xuất của dân cư huyện Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang

Chương 3. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KHẢO SÁT

3.1. Khái quát địa bàn nghiên cứu - Mô tả mẫu:

Như đã được trình bày trong phần phương pháp nghiên cứu, đối tượng tham gia trả lời phỏng

vấn trong nghiên cứu này là nhân dân đang sinh sống tại huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

Địa bàn được chọn để khảo sát là các hộ dân cư đang sinh sống ở vùng ven biển, ở thị trấn và các

vùng nông thôn thuộc các xã Tân Thành, Vàm Láng, Kiểng Phước, Gia Thuận, thị trấn Tân Hoà.

Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang

Số lượng phiếu phát ra là 400 phiếu, số lượng phiếu thu về là 361 phiếu, ứng với tỉ lệ hồi đáp

là 90,25%.

Trong tổng cộng 361 phiếu hồi đáp, đối tượng trả lời phỏng vấn bao gồm: 130 nữ (tỷ lệ

36%), 231 nam (tỷ lệ 64%).

Bảng 3.1: Bảng mô tả mẫu phân theo giới tính và nghề nghiệp

Nghề nghiệp

Tổng cộng Nông dân Buôn bán Công chức, viên chức Ngư dân Công nhân Nội trợ Làm thuê

Nữ 71 27 19 1 4 8 0 130 Giới

tính Nam 157 20 22 19 9 0 4 231

228 47 41 20 13 8 4 361 Tổng cộng

63,2 13,0 11,4 5,5 3,6 2,2 1,1 100 Tỷ lệ (%)

Tỷ lệ mẫu phân theo nghề nghiệp được thể hiện ở hình 3.2 cho thấy: 228 người (63,2%) là

nông dân; 47 người (13,0%) có nghề nghiệp buôn bán; 41 người là công chức, viên chức (11,4%);

20 người (5,5%) là ngư dân, 13 người (3,6%) là công nhân; 8 người (2,2%) là nội trợ và 4 người

(1,1%) là người làm thuê.

Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện cơ cấu mẫu khảo sát theo nghề nghiệp

1,1

2,2

3,6

Nông dân

Buôn bán

5,5

Công chức, viên chức

11,4

Ngư dân

13,0

63,2

Công nhân

Nội trợ

Làm thuê

Số lượng mẫu phân theo địa bàn cư trú và nhóm tuổi được thể hiện ở hình 3.3 cho thấy

12,5% mẫu khảo sát cư trú ở thị trấn; 64,8% sinh sống ở nông thôn và 22,7% cư trú ở vùng ven

biển.

Hình 3.3: Biểu đồ thể hiện cơ cấu mẫu khảo sát theo nơi cư trú

Thị trấn

12,5

22,7

Nông thôn

64,8

Vùng ven biển

Bảng 3.2: Bảng mô tả mẫu phân theo địa bàn cư trú và nhóm tuổi

Nơi cư trú

Tổng cộng Tỷ lệ (%) Thị trấn Nông thôn Vùng ven biển

Dưới 30 tuổi 0 0 1 1 0,3

Từ 30 đến 39 5 19 9 33 9,1

Từ 40 đến 49 29 170 51 250 69,3 Nhóm Tuổi Từ 50 đến 59 11 38 19 68 18,8

≥ 60 tuổi 0 7 2 9 2,5

45 234 82 361 100 Tổng cộng

64,8 100 12,5 22,7 Tỷ lệ (%)

Số lượng mẫu phân theo nhóm tuổi được thể hiện trong bảng 3.2 cho thấy, đa số mẫu khảo

sát trong độ tuổi từ 40 đến 49 với tổng cộng 250 người (tỷ lệ 69,3%); nhóm tuổi từ 50 đến 59 tuổi

chiếm 18,8%; từ 30 đến 39 tuổi chiếm 9,1%; còn lại nhóm tuổi dưới 30 và 60 tuổi trở lên chiếm tỷ

lệ không đáng kể.

Hình 3.4: Biểu đồ thể hiện cơ cấu mẫu khảo sát theo nhóm tuổi

0,3

2,5

Dưới 30 tuổi

9,1

18,8

Từ 30 đến 39

Từ 40 đến 49

69,3

Từ 50 đến 59

60 tuổi trở lên

3.2. Thống kê mô tả:

3.2.1: Nhận thức của nhân dân địa phương về BĐKH:

Tổng cộng 354/361 người chiếm tỷ lệ 98,1% cho rằng đã từng nghe nhắc đến về BĐKH, chỉ

một tỷ lệ không đáng kể (1,9%) cho rằng chưa từng nghe nói đến vấn đề BĐKH. Về nguồn cung

cấp thông tin cho nhân dân địa phương về BĐKH được thể hiện trong bảng 3.3 cho thấy: Các

phương tiện thông tin đại chúng vẫn là nguồn chính cung cấp thông tin cho nhân dân về BĐKH, cụ

thể 332 người (92,0%) cho rằng đã nhận thức về vấn đề BĐKH do Tivi cung cấp và 51,2% biết về

BĐKH qua Radio; Báo chí cũng là nguồn cung cấp thông tin cho nhân dân địa phương (41,8%);

Người thân, bạn bè cũng đóng vai trò quan trọng giúp nhân dân nhận thức về BĐKH; Tuy nhiên chỉ

có 79 người (chiếm tỷ lệ 21,9%) cho rằng được chính quyền địa phương thông tin về BĐKH; Đối

với nhân dân địa phương chỉ 11,4% biết về vấn đề BĐKH qua phương tiện internet.

Bảng 3.3: Nguồn cung cấp thông tin về BĐKH cho nhân dân địa phương

Nguồn cung cấp thông tin Số lượng Tỷ lệ (%)

332 92,0 TV (truyền hình)

185 51,2 Radio

160 44,3 Người thân, bạn bè

151 41,8 Báo chí

Chính quyền địa phương 79 21,9

Internet 41 11,4

Hình 3.5: Biểu đồ thể hiện các nguồn cung cấp thông tin về BĐKH

%

100

92.0

90

80

70

60

51.2

50

44.3

41.8

40

30

21.9

20

11.4

10

0

Radio

Báo chí

Internet

TV (truyền hình)

Người thân, bạn bè

Chính quyền địa phương

Về đánh

giá mức độ ảnh hưởng của BĐKH của nhân dân địa phương được thể hiện trong bảng 3.4 cho thấy:

Trên 58% mẫu khảo sát cho rằng BĐKH ít ảnh hưởng đến địa phương; 28,8% cho rằng mức độ ảnh

hưởng vừa phải và chỉ 9,7% cho rằng BĐKH ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và sinh hoạt

của nhân dân địa phương

Bảng 3.4: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của BĐKH

Mức độ ảnh hưởng Số lượng Tỷ lệ (%)

Không ảnh hưởng 7 1,9

Ít ảnh hưởng 210 58,2

Ảnh hưởng vừa phải 104 28,8

Ảnh hưởng nghiêm trọng 35 9,7

Không có ý kiến 5 1,4

Tổng cộng 361 100

Hình 3.6: Biểu đồ thể hiện đánh giá của nhân dân địa phương về mức độ tác động của BĐKH

1.9 1.4

ít ảnh hưởng

9.7

Ảnh hưởng vừa phải

Ảnh hưởng nghiêm trọng

28.8

58.2

Không ảnh hưởng

Không có ý kiến

Bảng 3.5: Thống kê mô tả đánh giá về mức độ tác động của BĐKH

Số lượng Min Max Độ lệch chuẩn Giá trị trung bình

Mức độ tác động của BĐKH 356 1 4 2.47 .697

Bảng thống kê mô tả đánh giá mức độ tác động của BĐKH cho thấy giá trị trung bình (M =

2,47), chứng tỏ nhân dân địa phương đánh giá BĐKH có tác động ở mức vừa phải đối với sinh hoạt

và sản xuất, sự đánh giá này tương đối đồng đều trong dân cư thể hiện ở độ lệch chuẩn rất thấp (SD

= 0,697).

3.2.2: Các lĩnh vực chịu tác động của BĐKH:

Theo đánh giá của nhân dân địa phương, sản xuất vẫn là lĩnh vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất

của BĐKH (61,2%), ngoài ra có 19,1% mẫu khảo sát cho rằng BĐKH ảnh hưởng đến nhiều mặt

trong sản xuất và đời sống, 10,8% cho rằng BĐKH ảnh hưởng đến sinh hoạt của nhân dân, ngoài ra

BĐKH cũng ảnh hưởng đến chổ ở và kinh doanh của nhân dân.

Bảng 3.6: Đánh giá các lĩnh vực chịu ảnh hưởng của BĐKH

Thứ tự Các lĩnh vực chịu ảnh hưởng Số lượng Tỷ lệ (%)

1 Sản xuất 221 61.2

2 Ảnh hưởng nhiều mặt 69 19.1

3 Sinh hoạt 39 10.8

4 Chổ ở 15 4.2

5 Kinh doanh 9 2.5

6 Không có ý kiến 8 2.2

Tổng cộng 361 100.0

Hình 3.7: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đánh giá các lĩnh vực chịu ảnh hưởng của BĐKH

%

70

61.2

60

50

40

30

19.1

20

10.8

10

4.2

2.5

2.2

0

Sản xuất

Sinh hoạt

Chổ ở

Kinh doanh

Ảnh hưởng nhiều mặt

Không có ý kiến

3.2.2.1: Tác động của BĐKH đến cuộc sống gia đình:

Theo đánh giá của nhân dân địa phương, mức độ tác động của BĐKH đến cuộc sống gia đình

được thể hiện trong bảng 3.7 cho thấy: 8,6% cho rằng BĐKH tác động rất nhiều đến cuộc sống gia

đình, 38,8% đánh giá BĐKH tác động nhiều đến cuộc sống gia đình và 19,1% đánh giá BĐKH tác

động vừa phải đến cuộc sống gia đình, tuy nhiên vẫn còn 27,1% cho rằng cuộc sống gia đình chịu

tác động ít của BĐKH.

Bảng 3.7: Mức độ tác động của BĐKH đến cuộc sống gia đình

Lĩnh vực Số lượng

Mức độ Chịu tác động rất nhiều 31 Tỷ lệ 8.6

Chịu tác động nhiều 140 38.8 Cuộc sống gia đình

Chịu tác động vừa phải 69 19.1

Chịu tác động ít 98 27.1

Không có ý kiến 23 6.4

Tổng cộng 361 100.0

3.2.2.2: Tác động của BĐKH đến sức khoẻ nhân dân:

Mức độ tác động của BĐKH đến sức khoẻ của nhân dân được thể hiện trong bảng 3.8 cho

thấy: Đa số nhân dân đánh giá BĐKH có tác động rất nhiều đến sức khoẻ (79,2%) và 9,4% cho rằng

BĐKH tác động nhiều đến sức khoẻ, chỉ có 4,7% đánh giá mức độ vừa phải và 3,6% cho rằng

BĐKH tác động ít đến sức khoẻ của cư dân địa phương.

Bảng 3.8: Mức độ tác động của BĐKH đến sức khoẻ

Lĩnh vực

Mức độ Chịu tác động rất nhiều Số lượng 286 Tỷ lệ 79.2

Chịu tác động nhiều 34 9.4

Chịu tác động vừa phải 17 4.7 Sức khoẻ Chịu tác động ít 13 3.6

Không có ý kiến 11 3.0

Tổng cộng 361 100.0

3.2.2.3: Tác động của BĐKH đến sản xuất:

Mức độ tác động của BĐKH đến sản xuất của nhân dân được thể hiện trong bảng 3.9 cho

thấy: Đa số nhân dân đánh giá BĐKH có tác động nhiều đến sản xuất (31,9%) và 5,0% cho rằng

BĐKH tác động rất nhiều đến sản xuất, trong khi đó có đến 39,1% đánh giá BĐKH có tác động vừa

phải và 17,2% cho rằng BĐKH ít tác động đến tình hình sản xuất của dân cư địa phương.

Bảng 3.9: Mức độ tác động của BĐKH đến công việc hàng ngày

Lĩnh vực

Mức độ Chịu tác động rất nhiều Số lượng 18 Tỷ lệ 5.0

Chịu tác động nhiều 115 31.9

Chịu tác động vừa phải 141 39.1 Sản xuất Chịu tác động ít 62 17.2

Không có ý kiến 25 6.9

Tổng cộng 361 100.0

3.2.2.4: Tác động của BĐKH đến thu nhập:

Mức độ tác động của BĐKH đến thu nhập của nhân dân được thể hiện trong bảng 3.10 cho

thấy: Đa số nhân dân đánh giá BĐKH có tác động ít đến thu nhập (44,3%) và 28,8% cho rằng

BĐKH chỉ tác động vừa phải đến thu nhập, trong khi đó chỉ có 7,5% đánh giá BĐKH có tác động

rất nhiều và 13,0% cho rằng BĐKH tác động nhiều đến thu nhập của dân cư địa phương.

Bảng 3.10: Mức độ tác động của BĐKH đến công việc thu nhập

Lĩnh vực Mức độ Số lượng Tỷ lệ

Chịu tác động rất nhiều 27 7.5

Chịu tác động nhiều 47 13.0

Chịu tác động vừa phải 104 28.8 Thu nhập Chịu tác động ít 160 44.3

Không có ý kiến 23 6.4

SL (người)

Tổng cộng 361 100.0

Hình 3.8.1: Biểu đồ thể hiện số lượng người đánh giá mức độ tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực

350

300

286

250

200

160

141

140

150

115

104

98

100

69

62

47

50

34

31

27

25

23

23

18

17

13

11

Mức độ

0

Chịu tác động rất nhiều

Chịu tác động nhiều

Chịu tác động vừa phải

Chịu tác động ít

Không có ý kiến

Cuộc sống gia đình

Sức khoẻ

Sản xuất

Thu nhập

Tỷ lệ (%)

90

Hình 3.8.2: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đánh giá mức độ tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực

79.2

80

70

60

50

44.3

39.1

38.8

40

31.9

28.8

30

27.1

19.1

20

17.2

13.0

9.4

8.6

7.5

10

6.9

6.4

6.4

5.0

4.7

3.6

3.0

Mức độ

0

Chịu tác động rất nhiều

Chịu tác động nhiều

Chịu tác động vừa phải

Chịu tác động ít

Không có ý kiến

Cuộc sống gia đình

Sức khoẻ

Thu nhập

Sản xuất

3.2.3: Các biểu hiện bất thường của khí hậu và thời tiết ở địa phương:

Bảng 3.11: Các biểu hiện bất thường về thời tiết và khí hậu ở địa phương

STT Biểu hiện Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

1 Nhiệt độ cao 308 85.3

2 Khô hạn 294 81.4

3 Nhiễm mặn 248 68.7

4 Nhiễm phèn 217 60.1

5 Bão 151 41.8

6 Triều cường 138 38.2

7 Lũ lụt 112 31.0

8 Xói lỡ bờ 44 12.2

9 Lốc xoáy 24 6.6

Theo đánh giá của nhân dân địa phương, trong những năm gần đây tình hình thời tiết, khí hậu

ở địa phương có nhiều biểu hiện bất thường, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt. Qua bảng

3.11 cho thấy: Nhiệt độ cao và tình trạng khô hạn là hai biểu hiện đáng quan tâm theo đánh giá của

trên 80% mẫu khảo sát, tình trạng nhiễm phèn, mặn cũng có những biểu hiện bất thường xảy ra ở

địa phương trong thời gian gần đây (theo đánh giá của trên 60% mẫu khảo sát), ngoài ra các biểu

hiện bất thường khác được nhắc đến là bão (41,8%), triều cường (38,2%), lũ lụt (31,0%), bên cạnh

đó hiện tượng xói lỡ và lốc xoáy cũng là những biểu hiện ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và sinh

hoạt của nhân dân địa phương.

Hình 3.9: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đánh giá các biểu hiện bất thường về thời tiết, khí hậu ở địa phương

%

90

85.3

81.4

80

68.7

70

60.1

60

50

41.8

38.2

40

31.0

30

20

12.2

6.6

10

0

Bão

Lũ lụt Xói lỡ bờ Lốc xoáy

Nhiệt độ cao

Khô hạn Nhiễm mặn

Nhiễm phèn

Triều cường

3.2.4: Tình hình khai thác và sử dụng nguồn nước:

3.2.4.1. Tình hình khai thác và sử dụng nguồn nước sinh hoạt:

Bảng 3.12: Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt ở địa phương

STT Nguồn cung cấp nước Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

1 Nước mưa 259 71.7

2 Nước sông, ao, hồ 121 33.5

3 Nước thủy cục 93 25.8

4 Nước kênh đào 39 10.8

5 Nước giếng khoan 12 3.3

Qua số liệu khảo sát cho thấy, nước mưa vẫn là nguồn chủ yếu cung cấp nước sinh hoạt cho

nhân dân địa phương (tỷ lệ 71,7%), nguyên nhân do tập quán sinh hoạt của cư dân địa phương cũng

giống như nhiều địa phương khác của Đồng bằng sông Cửu Long nước mưa vẫn là nguồn nước

uống chủ yếu, ngoài ra còn đáp ứng các nhu cầu khác về sinh hoạt, tuy nhiên do hệ thống bể chứa

dung tích nhỏ theo từng hộ gia đình nên nguồn nước ngọt phục vụ sinh hoạt và sản xuất rất khan

hiếm trong mùa khô; nguồn nước sông, ao hồ đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu

sinh hoạt hàng ngày (tắm, giặt) do nguồn nước giếng khoan khan hiếm vì tầng nông bị nhiễm mặn

và nguồn nước thủy cục chỉ mới được tỉnh đầu tư trong thời gian gần đây, đặc biệt việc xây dựng

nhà máy nước Đồng Tâm và hệ thống ống dẫn từ thành phố Mỹ Tho về Thị xã Gò Công dài khoảng

40 km là một trong những giải pháp góp phần cung cấp nguồn nước ngọt ổn định và đảm bảo chất

lượng phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp của các huyện phía Đông của tỉnh, trong đó có

huyện ven biển Gò Công Đông.

Hình 3.10: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ các nguồn cung cấp nước sinh hoạt ở địa phương

%

80

71.7

70

60

50

40

33.5

30

25.8

20

10.8

10

3.3

0

Nước mưa

Nước sông, ao, hồ Nước thủy cục

Nước kênh đào Nước giếng khoan

3.2.4.1. Tình hình thay đổi chất lượng nguồn nước sinh hoạt:

Bảng 3.13: Tình hình thay đổi chất lượng nguồn nước ở địa phương

STT Tình hình thay đổi Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

1 Tốt hơn 36 10.0

2 Bị nhiễm mặn 124 34.3

3 Bị nhiễm phèn 25 6.9

4 Bị ô nhiễm (nhiễm bẩn) 109 30.2

5 Vẫn như vậy 61 16.9

6 Ý kiến khác 6 1.7

Tổng cộng 361 100

Theo đánh giá của nhân dân địa phương nguồn nước sinh hoạt trong những năm gần đây có

nhiều thay đổi theo xu hướng xấu đi, tổng cộng có 124 người (34,2%) cho rằng nguồn nước bị

nhiễm mặn, 109 người (30,2%) cho rằng nguồn nước bị nhiễm bẩn, 6,9% cho rằng nguồn nước bị

nhiễm phèn; trong khi đó có 16,9% cho rằng nguồn nước vẫn như vậy không thay đổi và có 10,0%

cho rằng nguồn nước sinh hoạt có thay đổi theo xu hướng tốt hơn.

3.2.4.2. Tình hình xâm nhập mặn:

Bên cạnh sự khan hiếm nguồn nước ngọt, có 305/361 người (84,5%) cho rằng vấn đề xâm

nhập mặn cũng ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân địa phương. Trong đó 70,9%

mẫu khảo sát cho rằng tình hình xâm nhập mặn ở địa phương trong những năm gần đây có xu

hướng kéo dài hơn so với trước đây, có 18,3% cho rằng tình hình xâm nhập không thay đổi và chỉ

có 4,7% cho rằng thời gian xâm nhập mặn có thay đổi theo hướng rút ngắn lại so với thời gian trước

(Bảng 3.14).

Bảng 3.14: Tình hình xâm nhập mặn ở địa phương

STT Tình hình xâm nhập mặn Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

1 Rút ngắn lại 17 4.7

2 Không thay đổi 66 18.3

3 Kéo dài hơn 256 70.9

4 Không có ý kiến 22 6.1

Tổng cộng 361 100.0

Theo số liệu thống kê của Trung tâm Khí tượng thủy văn Tiền Giang, tình hình xâm nhập

mặn đo được tại Trạm Vàm Kênh (xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông) cho thấy: Thời gian xâm

nhập mặn tại huyện Gò Công Đông thường bắt đầu từ tháng II và kéo dài đến tháng VII hàng năm.

Bảng 3.15: Tình hình xâm nhập mặn từ năm 2000 – 2009 [17]

(Trạm Vàm Kênh – xã Tân Thành – huyện Gò Công Đông)

Tháng II III IV V VI VII

Năm Độ mặn (gam/lít)

2000 18,9 19,6 22,7 16,5 13,0 3,8

2001 18,7 26,2 23,0 19,6 15,1 8,9

2002 22,2 23,6 26,1 25,8 15,6 8,6

2003 25,4 27,1 21,3 22,9 13,9 12,4

2004 24,3 26,4 24,4 25,1 18,5 13,9

2005 25,9 29,8 29,7 21,0 19,8 10,3

2006 22,6 26,1 21,5 18,9 13,2 9,5

2007 22,6 27,8 27,9 22,3 15,2 9,6

2008 22,8 21,0 24,2 18,3 14,8 7,7

2009 19,7 22,1 27,0 16,8 8,6 5,5

- Tháng có độ mặn cao nhất trong năm thông thường diễn ra trong tháng III, tháng IV hàng

năm. Trong 10 năm (2001-2009), tháng có độ mặn cực đại là tháng III năm 2005 số liệu đo được là

29,8 gam/lít, trong khi vào năm 2001 độ mặn tháng cao nhất vào tháng IV là 22,7%.

- Tháng có độ mặn thấp nhất trong các tháng xâm nhập mặn là tháng VII hàng năm. Trong

10 năm (2001-2009), tháng có độ mặn cao nhất là tháng VII năm 2004 là 13,9 gam/lít, nguyên nhân

do năm 2004 là năm có lượng mưa thấp nhất trong dãy số liệu lượng mưa trung bình năm từ năm

2001 – 2009.

Cũng theo số liệu thống kê của Trung tâm Khí tượng thủy văn Tiền Giang, mùa mưa tại

huyện Gò Công Đông thường bắt đầu từ tháng IV hoặc tháng V và kết thúc vào tháng X hoặc tháng

XI hàng năm.

Bảng 3.16: Thời gian bắt đầu và kết thúc mùa mưa, lượng mưa trung bình năm từ năm

2000 – 2009 (Trạm Gò Công) [17]

Mùa mưa Năm Lượng mưa trung bình năm (mm) Bắt đầu Kết thúc

13-IV 2-XI 1.576 2000

14-V 10-XI 1.587 2001

11-V 3-XI 1.507 2002

9-V 25-X 1.158 2003

8-V 20-X 1.068 2004

12-V 5-XI 1.249 2005

16-V 13-X 1.257 2006

7-V 11-XI 1.651 2007

29-IV 4-XI 2.023 2008

26-IV 25-X 1.723 2009

- Thời gian bắt đầu mùa mưa ở địa phương cũng diễn biến thất thường, thời gian bắt đầu mùa

mưa sớm nhất là ngày 13/4/2000, thời gian bắt đầu mùa mưa muộn nhất là ngày 16/5/2006.

- Thời gian kết thúc mùa mưa sớm nhất là ngày 13/10/2006, thời gian kết thúc mùa mưa

muộn nhất là ngày 10/11/2001.

Trong 10 năm (2001-2009) lượng mưa trung bình hàng năm là 1.480 mm. Lương mưa năm

cao nhất là 2.023 mm (năm 2008), lượng mưa năm thấp nhất là 1.068 mm (2004). Lượng mưa trung

bình giữa các năm có sự chênh lệch, cùng với diễn biến bất thường thời gian bắt đầu và kết thúc

mùa mưa hàng năm, dẫn đến tình hình xâm nhập mặn cũng diễn biến phức tạp, tác động tiêu cực

nhiều mặt đến tình hình sản xuất và sinh hoạt của nhân dân địa phương.

Về ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến diện tích đất canh tác được thể hiện trong bảng 3.17

cho thấy: Hơn 70% mẫu khảo sát cho rằng tình hình xâm nhập mặn làm cho đất canh tác kém chất

lượng gây khó khăn cho sản xuất, có 4,7% cho rằng xâm nhập mặn làm cho diện tích đất canh tác bị

thu hẹp và 5,8% cho rằng ảnh hưởng xâm nhập mặn làm cho đất không canh tác được trong khi đó

chỉ có 9,7% cho rằng xâm nhập mặn không ảnh hưởng đến diện tích đất canh tác.

Bảng 3.17: Tình hình ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến diện tích đất canh tác

STT Ảnh hưởng của xâm nhập mặn Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

1 Không thay đổi 35 9.7

2 Không canh tác được 21 5.8

3 Kém chất lượng 255 70.6

4 Thu hẹp diện tích 17 4.7

5 Không có ý kiến 33 9.1

Tổng cộng 361 100.0

3.2.5. Các giải pháp ứng phó hiện tượng nước biển dâng

Những ý kiến của dân cư địa phương về các giải pháp góp phần ứng phó với hiện tượng nước

biển dâng được thể hiện trong bảng 3.18 cho thấy: Đắp đê ngăn nước biển là một giải pháp được

nhiều người đồng tình nhất (72,0%), chung sống với nước biển dâng cũng là một giải pháp được

4,2% người ủng hộ, và 1,4% đề xuất kết hợp nhiều biện pháp để chung sống với nước biển dâng,

trong khi 3,3% nghĩ rằng phải di dời đi nơi khác và có đến 19,1% dân cư địa phương vẫn chưa nghĩ

đến các giải pháp để ứng phó với hiện tượng nước biển dâng.

Bảng 3.18: Đề xuất các giải pháp ứng phó với hiện tượng nước biển dâng

STT Các giải pháp Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

1 Chung sống với nước biển dâng 15 4.2

2 Di dời đi nơi khác 12 3.3

3 Đắp đê ngăn nước biển 260 72.0

4 Kết hợp nhiều biện pháp 5 1.4

5 Chưa nghĩ đến 69 19.1

Tổng cộng 361 100

Hình 3.11: Biểu đồ thể hiện các đề xuất của nhân dân các biện pháp ứng phó với hiện tượng nước biển dâng

4.2

3.3

Chung sống với nước biển dâng

Di dời đi nơi khác

19.1

1.4

Đắp đê ngăn nước biển

Kết hợp nhiều biện pháp

72.0

Chưa nghĩ đến

3.2.6. Các lực lượng tìm các giải pháp ứng phó với sự tác động của BĐKH

Theo ý kiến của nhân dân địa phương việc đi tìm các giải pháp để ứng phó với sự tác động

của BĐKH là nhiệm vụ chung của tất cả mọi người (chiếm tỷ lệ 89,2%) bao gồm cả người dân vùng

ảnh hưởng, các nhà lãnh đạo và đặc biệt cần có sự tham gia của các nhà khoa học.

Bảng 3.19: Đề xuất các lực lượng tìm biện pháp ứng phó với BĐKH

STT Lực lượng tìm giải pháp Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

Tất cả mọi người 322 89.2 1

Người dân vùng ảnh hưởng 2 0.6 2

Các nhà lãnh đạo 11 3.0 3

Các nhà khoa học 9 2.5 4

Không có ý kiến 17 4.7 5

Tổng cộng 361 100

Hình 3.12: Biểu đồ thể hiện đề xuất các lực lượng tìm các biện pháp ứng phó với BĐKH

2,5

3,0

0,6

4,7

Tất cả mọi người

Người dân vùng ảnh hưởng

Các nhà lãnh đạo

89,2

Các nhà khoa học

Không có ý kiến

3.4. Kiểm định sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH giữa các nhóm:

3.4.1. Sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH theo nhóm tuổi

Kết quả phân tích Anova cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thông kê đánh giá về

mức độ tác động của BĐKH giữa các nhóm tuổi. Do mức ý nghĩa sig. > 0,05 không thể bác bỏ giả

thuyết HROR “Không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi về sự đánh giá về mức độ tác động của

BĐKH đối với sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương”.

Bảng 3.20: Kết quả phân tích Anova theo nhóm tuổi

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

Sum of Squares df Mean Square F Sig.

Between Groups .482 3 .161 .328 .805

Within Groups 172.178 352 .489

Total 172.660 355

3.4.2. Sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH giữa các nhóm theo địa bàn cư trú:

Kết quả phân tích Anova cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đánh giá mức độ tác

động của BĐKH giữa các nhóm khác nhau theo nơi cứ trú. Do mức ý nghĩa sig. < 0,05 có thể bác

bỏ giả thuyết HROR “Không có sự khác biệt về sự đánh giá mức độ tác động của BĐKH giữa các nhóm

theo địa bàn cư trú.”

Bảng 3.21: Kết quả phân tích Anova theo địa bàn cư trú

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

Sum of Squares df Mean Square F Sig.

Between Groups 13.549 6.775 15.030 .000 2

Within Groups 159.111 .451 353

Total 172.660 355

Kết quả phân tích sâu Anova bằng phương pháp kiểm định Tamhane’s cho thấy có sự khác

biệt ý nghĩa giữa nhóm dân cư cư trú ở vùng ven biển và vùng nông thôn trong đánh giá mức độ tác

động của BĐKH. Kết quả thống kê mô tả cho thấy dân cư vùng ven biển đánh giá BĐKH tác động

đến sinh hoạt và sản xuất nghiêm trọng hơn nhóm dân cư vùng nông thôn, thể hiện ở giá trị trung

bình lần lượt là M = 2,80 và 2,33 (phụ lục 4).

Bảng 3.22: Kết quả kiểm định Tamhane’s

95% Confidence Interval (J) Nơi cư trú Sig. (I) Nơi cư trú Std. Error Mean Difference (I-J) Lower Bound Upper Bound

Thị trấn Nông thôn .244 .115 .109 -.04 .53

Vùng ven biển -.222 .141 .316 -.57 .12

Nông thôn Thị trấn -.244 .115 .109 -.53 .04

* -.467P

Vùng ven biển .100 .000 -.71 -.23

.222 .141 .316 -.12 Thị trấn .57

* .467P

Vùng ven biển .100 .000 .23 Nông thôn .71

Bảng 3.23: Thống kê mô tả đánh giá mức độ tác động của BĐKH của các nhóm dân cư theo địa bàn cư trú

N Mean SD Min Max Std. Error

95% Confidence Interval for Mean Upper Lower Bound Bound

Thị trấn 45 2.58 .723 .108 2.36 2.79 1 4

Nông thôn 231 2.33 .602 .040 2.26 2.41 1 4

Vùng ven biển 80 2.80 .818 .091 2.62 2.98 1 4

Tổng cộng 356 2.47 .697 .037 2.40 2.54 1 4

3.4.3. Sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH theo nghề nghiệp

Kết quả phân tích Anova cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đánh giá mức độ tác

động của BĐKH giữa các nhóm khác nhau theo nghề nghiệp. Do mức ý nghĩa sig. < 0,05 có thể bác

bỏ giả thuyết HROR “Không có sự khác biệt về sự đánh giá mức độ tác động của BĐKH giữa các nhóm

theo nghề nghiệp.”

Bảng 3.24: Kết quả phân tích Anova theo nghề nghiệp

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

Sum of Squares df Mean Square F Sig.

Between Groups 8.673 6 1.446 3.076 .006

Within Groups 163.987 349 .470

Total 172.660 355

Kết quả phân tích sâu Anova bằng phương pháp kiểm định Tukey HSD cho thấy có sự khác

biệt giữa ngư dân và nông dân trong đánh giá mức độ tác động của BĐKH với mức ý nghĩa sig.<

0,05. Kết quả thống kê mô tả cho thấy ngư dân đánh giá BĐKH tác động đến sinh hoạt và sản xuất

nghiêm trọng hơn nông dân, thể hiện ở giá trị trung bình lần lượt là M = 2,89 và 2,40) (Phụ lục 5).

Bảng 3.25: Kết quả kiểm định Tukey HSD

95% Confidence Interval (J) Nghề nghiệp Sig. (I) Nghề nghiệp Std. Error Mean Difference (I-J)

Ngư dân Công chức, viên chức Lower Bound -.28 Upper Bound .85 .285 .190 .746

Buôn bán .533 .186 .067 -.02 1.09

Công nhân .247 .918 -.45 1.01

Nông dân .279 * .497P .164 .041 .01 .98

Nội trợ .020 .289 1.000 -.84 .88

Làm thuê -.105 .377 1.000 -1.22 1.01

Bảng 3.26: Thống kê mô tả đánh giá mức độ tác động của BĐKH của các nhóm dân cư theo nghề nghiệp

Min Max N Mean Std. Deviation Std. Error 95% Confidence Interval for Mean Lower Bound Upper Bound

41 2.61 .737 .115 2.38 2.84 2 4

Công chức, viên chức

Buôn bán 47 2.36 .764 .111 2.14 2.59 1 4

Công nhân 13 2.62 .768 .213 2.15 3.08 2 4

Ngư dân 19 2.89 .809 .186 2.50 3.28 2 4

Nông dân 224 2.40 .641 .043 2.31 2.48 1 4

Nội trợ 8 2.88 .641 .227 2.34 3.41 2 4

Làm thuê 4 3.00 .816 .408 1.70 4.30 2 4

Tổng cộng 356 2.47 .697 .037 2.40 2.54 1 4

3.4.4. Sự khác biệt đánh giá mức độ tác động của BĐKH theo giới tính:

Kết quả phân tích Anova cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thông kê đánh giá về

mức độ tác động của BĐKH giữa hai nhóm nam và nữ. Do mức ý nghĩa sig. > 0,05 không thể bác

bỏ giả thuyết HROR “Không có sự khác biệt giữa nam và nữ về sự đánh giá về mức độ tác động của

BĐKH đối với sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương”.

Bảng 3.27: Kết quả phân tích Anova theo giới tính

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

Sum of Squares df Mean Square F Sig.

Between Groups .150 1 .150 .308 .579

Within Groups 172.510 354 .487

Total 172.660 355

Kết luận chương 3

Qua quá trình thu thập tài liệu và tiến hành khảo sát thực tế cuộc sống, sinh hoạt và sản xuất

của 400 người dân đang sinh sống trên địa bàn các xã thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang

và dựa trên kết quả phân tích chúng tôi rút ta đươc một số nhận định sau:

- Người dân bước đầu đã nhận thức được BĐKH là gì thông qua các phương tiện truyền

thông, qua báo chí, qua người thân , qua bạn bè, qua chính quyền địa phương …

- Thấy được các tác động của BĐKH và ảnh hưởng của BĐKH đến sinh hoạt, sản xuất và

cuộc sống với các diễn biến thất thường của thời tiết, các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, vấn đề xâm

nhập mặn, nguồn nước sinh hoạt, năng suất, cơ cấu mùa vụ, tình hình sức khoẻ, thu nhập….mà đối

tượng bị tổn thương nhiều nhất là người dân sinh sống vùng ven biển đặc biệt là người già, phụ nữ

và trẻ em….

- Về các giải pháp ứng phó và thích nghi với hiện tượng khan hiếm nguồn nước ngọt, xâm

nhập mặn và nước biển dâng, thì giải pháp được đồng tình, ủng hộ nhiều nhất là đắp đê ngăn nước

biển dâng đồng thời chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp nhằm thích ứng trong tình hình

mới.

- Đa số người dân đều nhận thức được rằng việc đi tìm các giải pháp ứng phó và thích nghi

với các tác động của BĐKH và bảo vệ môi trường là trách nhiệm của tất cả mọi người.

Dựa trên các kết quả khảo sát và các nhận định vừa nêu, chúng tôi xem đó là cơ sở để đề xuất

một số giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

Chương 4. TÌM HIỂU NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BĐKH

4.1. Ứng phó với BĐKH trên thế giới.

Các giải pháp để ứng phó với BĐKH là rất phức tạp và khó thực hiện . Vì đây là hiện tượng

có tính toàn cầu nên đòi hỏi phải có sự chung tay tham gia của tất cả các nước, đặc biệt là các nước

phát triển. Nhiều hội nghị đã được tổ chức, các dự thảo, các quy định đã được đưa ra nhằm mục

đích xây dựng một thoả thuận chung giữa các nước để ứng phó với BĐKH.

Dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, một loạt báo báo về vấn đề này đã được trình bày, và

gần đây nhất là báo cáo IPCC 2007. Trong đó nguyên nhân, quan hệ dẫn tới các hậu quả của quá

trình khí hậu toàn cầu ấm lên về cơ bản đã được phác họa. Ngoài ra, nhiều cuộc hội đàm cấp lãnh

đạo nhiều quốc gia đã được khởi động để bàn tìm giải pháp đối phó, từ các hội nghị ở Rio de

Janeiro, Kyoto (1997), Copenhagen (2009) và Cancun (2010), nhưng đến hôm nay thì vẫn chưa đạt

được một thỏa thuận thống nhất hành động nào. Nhiều ý kiến do dự, băn khoăn không phải bởi

không nhận thức rõ về nguy cơ này mà bởi vì chưa chắc chắn với những thông tin hiện có. Thực tế,

người ta cũng chưa hiểu hết và làm rõ được tất cả, và cũng có thể là chưa biết đến khi nào, quy mô

về cường độ cũng như tốc độ diễn biến quá trình BĐKH, tính chất phức tạp của các tác động đi theo

và cản trở chính là xuất phát từ các lợi ích quốc gia riêng rẽ. Quá trình BĐKH đang có biểu hiện

diễn ra nhanh hơn so với những dự báo trước đây. Điều này thể hiện phần nào qua kết quả tính toán

khác nhau giữa các nhóm nghiên cứu. Vì vậy, cả thế giới đều lúng túng trước vấn đề phức tạp này

bởi nó còn quá mới mẻ, nhưng đều đồng lòng khẩn trương tìm ra lối thoát cho vấn đề. Các ý kiến

chung cũng đều cho rằng hoạt động gây phát thải của chúng ta là nguyên nhân chính dẫn đến sự gia

tăng quá mức của quá trình BĐKH.

Khí hậu nóng lên trên phạm vi toàn cầu là quá trình không thể đảo ngược và lâu dài. Theo

tính toán của Solomon [6] và cộng sự (2010) thì nếu có giải pháp nào kiểm soát ngay quá trình phát

thải thì cũng phải sau hàng thế kỷ mới có thể lặp lại thế quân bình nền nhiệt độ tự nhiên và nồng độ

COR2 R như trước thời kỳ cách mạng công nghiệp. Mặc dù có các nỗ lực tìm kiếm giải pháp nhưng cho

tới nay thì tính khả thi vẫn còn là câu hỏi lớn

BĐKH đã được phác họa trong nhiều kịch bản được công bố, nhưng ở đây mới thể hiện các

biến đổi trung bình được điều hòa trên phạm vi toàn cầu, trong đó không thể hiện được hết các vấn

đề chi tiết ở phạm vi khu vực. Vì vậy tác động của BĐKH ở phạm vi khu vực sẽ phức tạp hơn cũng

như cường độ ảnh hưởng nó đối con người và thiên nhiên cũng rộng lớn hơn so với các kịch bản dự

báo. Khuynh hướng theo dự báo của IPCC-2007 cho khu vực Đông Nam Á thì bão lũ sẽ dồn dập

làm dư thừa nước nhưng rồi lại kéo theo những chu kỳ khô hạn kéo dài. Nhưng các biến động này

cụ thể như thế nào trong tương lai thì vẫn còn là những câu hỏi lớn cần được tiếp tục nghiên cứu,

giải đáp. Nghiên cứu gần đây của Kendall và cộng sự (2008) về biến cố do mảng băng hà

Laurentide ở Bắc Mỹ bị vỡ và tan chảy nhanh vào khoảng 8,2 ngàn năm trước, đã gây nên tăng tốc

mực nước dâng toàn cầu cũng như đột biến khí hậu ở phạm vi toàn cầu. Nhưng tốc độ dâng ngập

nước này là không đều ở mọi nơi do hiệu ứng trọng lực và đàn hồi vỏ trái đất. Ở vùng châu Á đã có

thể tăng tới 105 % so với giá trị trung bình toàn cầu, trong khi ở Bắc Mỹ lại giảm đi. Vì lý do này

mà cộng đồng khoa học đang theo dõi chặt chẽ động thái các khối băng hà ở vùng cực cũng như

trên các đỉnh núi cao.

Đứng trước nguy cơ to lớn của BĐKH thì nhiều giải pháp toàn cục đã được kiến nghị, như

gom và chôn vùi lượng CO R2 R, hay dùng sunphat sắt để tích tụ COR2 R, nhưng tính khả thi và tác dụng

lâu dài của các giải pháp này thì được đánh giá là vẫn chưa chắc chắn. Nguồn phát thải – tác nhân

chính gây hiệu ứng nhà kính và ấm lên của khí hậu toàn cầu vẫn không hề sụt giảm và có thể đạt

đỉnh mới trong năm 2010

Vì vậy, một mặt cả cộng đồng quốc tế đều đang hiệp lực để tìm ra giải pháp có tính khả thi

cao để giảm thiếu tác động của BĐKH, thì đồng thời cũng luôn tìm kiếm con đường để sống thích

nghi với BĐKH. Bàn về sách lược ứng phó trước BĐKH, và qua tổng kết từ nhiều ý kiến thì theo

Prato (2008) chiến lược giảm nhẹ là chiến lược cần được xem xét ở tầm quốc gia, quốc tế, còn ở

phạm vi địa phương thì lại cần có chiến lược khác mới đạt hiệu quả. Đó là chiến lược thích ứng,

theo đó lợi dụng các lợi thế địa phương để giảm những bất lợi do BĐKH gây ra. Hiện tại người Hà

Lan và người Đan Mạch đang đi đầu về những giải pháp liên quan tới chiến lược thích ứng với

BĐKH.[6]

4.2. Ứng phó với BĐKH ở Việt Nam

Từ những phác họa của IPCC 2007[23] qua dạng các kịch bản về BĐKH trong thế kỷ 21 và

tác động của chúng, thì từ tháng 7 năm 2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu cho Chính

phủ chiến lược quốc gia về ứng phó với BĐKH. Trên cơ sở đó, các địa phương và các ngành đều

đang tiến hành xây dựng các kế hoạch ứng phó. Kế hoạch này được tiến hành trên nguyên tắc phát

triển bền vững, các hoạt động ứng phó với BĐKH phải được tiến hành có trọng tâm, trọng điểm,

ứng phó với những tác động cấp bách trước mắt và lâu dài và phải đảm bảo được hiệu quả về kinh

tế. Đây là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị, của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ

chức, của tất cả mọi người và cần được tiến hành với sự đồng thuận và quyết tâm cao, từ phạm vi

địa phương, vùng, quốc gia đến toàn cầu. Mục tiêu chiến lược của chương trình là đánh giá được

mức độ tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực, các ngành, các địa phương trong từng giai đoạn

và xây dựng được kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó hiệu quả với BĐKH cho từng giai

đoạn ngắn hạn, dài hạn nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước, tận dụng các cơ hội phát

triển theo hướng cacbon thấp và tham gia cùng cộng đồng quốc tế trong nổ lực giảm nhẹ BĐKH,

bảo vệ hệ thống khí hậu toàn cầu với các mục tiêu cụ thể. Đánh giá được mức độ biến đổi của khí

hậu Việt Nam do BĐKH toàn cầu và mức độ tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực, các ngành

và các địa phương. Xác định được các giải pháp ứng phó với BĐKH, tăng cường được các hoạt

động khoa học công nghệ nhằm xác lập các cơ sở khoa học và thực tiễn cho các giải pháp ứng phó

với BĐKH. Nâng cao được nhận thức, trách nhiệm tham gia của cộng đồng và phát triển nguồn

nhân lực. Tăng cường được sự hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ sự giúp đỡ, hổ trợ của quốc tế trong

ứng phó với BĐKH ; Tích hợp được ỵếu tố BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát

triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành và các địa phương. Xây dựng và triển khai được các kế hoạch

hành động của các bộ, ngành và địa phương ứng phó với BĐKH; triển khai được các dự án thí

điểm.

Trong ứng phó với BĐKH các giải pháp phải có tính tích hợp, hệ thống, đồng bộ, liên ngành,

liên vùng, kết hợp giữa toàn cầu và quốc gia, ưu tiên trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng giai

đoạn; cân nhắc đầy đủ trên cơ sở khoa học, hiệu quả kinh tế và tính đến các yếu tố rủi ro, bất định

của BĐKH, hài hòa giữa lợi ích các bên; kết hợp các giải pháp kỹ thuật và các giải pháp mang tính

xã hội, văn hóa; kết hợp giữa kiến thức khoa học và tri thức bản địa.

Trong Chiến lược quốc gia về BĐKH đến năm 2050 và tầm nhìn đến năm 2100, nhiệm vụ

cấp bách nhất là lập bản đồ ngập lụt tương ứng với các kịch bản về nước biển dâng, điều chỉnh quy

hoạch thủy lợi vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng; triển khai các giải pháp

chống xâm nhập mặn hiệu quả cho các vùng cửa sông để đảm bảo ổn định phát triển kinh tế, kết

hợp với củng cố nâng cấp hệ thống đê sông, đê biển ở các đoạn xung yếu nhất, các dự án chống

ngập cho các thành phố, đô thị lớn. Mặt khác, xây dựng hệ thống giám sát BĐKH và nước biển

dâng với độ chính xác cao, gắn với hệ thống thông tin địa lý, thông tin viễn thám thành một bản đồ

rủi ro thiên tai, rủi ro khí hậu và nước biển dâng phục vụ công tác hoạch định chính sách, các hoạt

động thích ứng từ Trung ương đến địa phương.Tập trung việc nghiên cứu xác định và từng bước

triển khai các giải pháp cụ thể để phòng chống hiệu quả thiên tai, lũ quét và sạt lở đất ở miền núi.

Cần đẩy mạnh hơn nữa tiến độ thực hiện các dự án trồng rừng, tái trồng rừng, khuyến khích các

doanh nghiệp đầu tư vào trồng rừng kinh tế. Hoàn thành xây dựng các chương trình chiến lược năng

lượng quốc gia trung và dài hạn và các chương trình đặc biệt cho các ngành quan trọng như than,

dầu khí, năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân nhằm đảm bảo cung cấp năng lượng ổn định và

phát triển năng lượng sạch về lâu dài. Thực hiện rà soát, điều chỉnh thích hợp, có cơ sở khoa học các

chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội quốc gia, các bộ, ngành, địa

phương và hoàn thành vào năm 2015.[3]

Hiện đại hóa hệ thống quan trắc và công nghệ dự báo khí tượng thủy văn bảo đảm cảnh báo,

dự báo sớm các hiện tượng khí hậu cực đoan. Đến năm 2015 phát triển mạng lưới quan trắc khí

tượng thủy văn đồng bộ, có mật độ trạm tăng ít nhất 50% so với hiện nay và tự động hóa 75% số

trạm. Nâng thời hạn dự báo bão, áp thấp nhiệt đới lên 72 giờ, giảm 50% thiệt hại về người do các

hiện tượng khí hậu cực đoan gây ra so với trung bình năm 1990-2000. Để thích ứng với BĐKH,

việc đầu tiên là phải đảm bảo các nguồn lực tài chính. Theo đó, ngân sách nhà nước tăng mức đầu

tư cho công tác này, nhất là đầu tư cho các dự án ứng phó cấp bách được triển khai có trọng tâm,

trọng điểm đạt hiệu quả cao khắc phục tác động của BĐKH. Đi đôi với chú trọng thu hút nguồn vốn

từ hỗ trợ phát triển ODA, các cơ chế tài chính quốc tế phù hợp cho các dự án ứng phó với BĐKH,

nâng cao năng lực, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý. Xây dựng những các cơ chế

khuyến khích, huy động các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia cung cấp

tài chính cho ứng phó với BĐKH. Tăng cường sự tham gia của toàn hệ thống chính trị trong tổ chức

chỉ đạo, phối hợp liên ngành về thích ứng và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; hoàn thiện hệ thống

thể chế tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình xây dựng văn bản pháp luật, lập quy

hoạch, kế hoạch, quản lý và giám sát việc thực hiện Chương trình, dự án về BĐKH tại các địa

phương. Xây dựng các cơ chế khuyến khích, huy động các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và

ngoài nước tham gia cung cấp tài chính cho ứng phó với BĐKH.

Nâng cao năng lực, vị trí, vai trò của Việt Nam trong đàm phán quốc tế về BĐKH. Đẩy mạnh

hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới trong quá trình thực hiện Công ước khung của

Liên hợp quốc về BĐKH, Nghị định thư Kyoto và các thỏa thuận, hiệp định quốc tế khác có liên

quan; tích cực, chủ động, sáng tạo xây dựng các thỏa thuận, các hiệp định hợp tác quốc tế mới về

thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính....

4.3 Ứng phó với BĐKH ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

BĐKH đang và sẽ tác động mạnh mẽ tới Việt Nam, mà đặc biệt là khu vực ĐBSCL, hậu quả

của BĐKH sẽ càng trở nên nghiêm trọng hơn do ĐBSCL là vùng chuyên canh sản xuất lương thực -

thực phẩm lớn nhất của cả nước và khu vực Đông Nam Á. Chính vì vậy, việc tìm kiếm các giải

pháp để kịp thời ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL là vô cùng cấp thiết. Đã có rất nhiều giải pháp được

đưa ra, trong đó có những giải pháp được xem là cấp thiết và mang tính chiến lược nhất trong bối

cảnh BĐKH diễn biến phức tạp như hiện nay. Với những diễn biến hiện nay về BĐKH toàn cầu và

mực nước biển dâng, đòi hỏi các ban ngành, các lĩnh vực cần nghiên cứu triển khai, phát huy và

đào tạo nguồn nhân lực, quản lý nhà nước và hợp tác quốc tế nhằm ứng phó để giảm thiểu những

thiệt hại , bảo vệ tối đa thành quả lao động quá khứ và tiếp tục phát triển bền vững, một nhiệm vụ

được coi là có ý nghĩa sống còn đối với đất nước trong những thập kỷ tới và cần nhận thức đúng

mức.

ĐBSCL được hình thành vào khoảng 11.000 năm trở lại đây, có cao trình mặt đất tương đối

thấp. Trên nhiều vùng khá rộng như Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà

Mau…nhiều nơi cao trình chỉ cao 20-30cm. Khi mực nước biển dâng, hậu quả dễ thấy nhất là nhiều

vùng bị ngập, không chỉ có ngập tĩnh mà động lực biển vùng ven bờ và cửa sông, sóng vỗ khi tiếp

cận bờ sẽ sẽ tác động mạnh hơn lên đường bờ, bãi triều. Bờ biển bị xâm thực và cơ sở hạ tầng ven

biển bị đe doạ nhiều hơn. Ở các đồng bằng ven biển, độ ngập sẽ sâu hơn, thời gian ngập sẽ kéo dài

hơn. Xâm nhập mặn sẽ vào sâu hơn nguồn nước ngọt khan hiếm hơn. Chế độ thuỷ văn, thuỷ lực trên

từng địa bàn và trên cả đồng bằng sẽ có những thay đổi, khiến cho những động thái bồi lấp hoặc xói

mòn bờ sông, cù lao, cồn bãi, bồi lắng phù sa ở vùng cửa sông có nhiều thay đổi. Ứng phó với biển

dâng là một nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu về nhiều mặt kinh tế - xã hội và an ninh quốc

phòng. Có rất nhiều cách ứng phó nhưng không có cách ứng phó nào là duy nhất cho mọi đối tượng,

ở mọi nơi, mọi lúc. Vì vậy để ứng phó tốt nhất thì cần nắm rõ tình hình cụ thể của từng địa bàn, khả

năng bảo vệ có hay không, tính khả thi và hiệu quả tổng hợp kinh tế xã hội, văn hoá của phương án

ứng phó. Nhìn tổng thể khu vực ĐBSCL, có thể áp dụng một số giải pháp cụ thể như sau:

4.3.1. Nâng cao nhận thức của người dân

Làm cho họ nhận thức được tính tất yếu của việc phải ứng phó với BĐKH và biển dâng,

thấy được tác động mọi mặt của BĐKH từ tự nhiên đến kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng.

4.3.2. Xác định và tiến hành sớm những nội dung cần nghiên cứu

- Lập bản đồ địa hình tỉ lệ lớn của vùng ven biển, các vùng trũng ; các vùng địa mạo không

ổn định do phá rừng và do biển dâng.

- Phân định các tiểu vùng A, B, C của ĐBSCL theo các phương án biển dâng, mô phỏng các

tác động về tự nhiên, kinh tế, xã hội phục vụ cho việc ứng phó, trên từng địa bàn trong từng phương

án mực nước biển dâng.

- Phân vùng thuỷ văn, thuỷ lực các tiểu vùng theo các phương án mực nước biển dâng.

- Dự báo các công trình trong kết cấu hạ tầng bị đe doạ do biển dâng. Hợp lý hoá hệ thống

giao thông thuỷ bộ, kết hợp các nhiệm vụ xây dựng cụm, tuyến dân cư và thuỷ lợi.

- Nâng cao công nghệ hạn chế xâm thực bờ biển, công nghệ xây dựng trên nền đất yếu, bị

ngập nước ; sử dụng các vật liệu nhẹ, bền trong môi trường nước lợ và nước mặn.

- Nghiên cứu các giống cây con, đặc biệt các giống lúa có gien chịu mặn cao, thân cao, .…

- Thử nghiệm những hệ thống sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao và bền vững, phù

hợp với bối cảnh mới của từng tiểu vùng.

- Đề xuất những mô hình công nghiệp hoá trong bối cảnh mới (diện tích đất không bị ngập

ngày càng giảm, vấn đề khan hiếm nguồn nước ngọt…..) vì sự phát triển bền vững.

- Đề xuất các phương thức quần cư thích hợp với tập quán và hoàn cảnh mới. Ngoài phương

thức quần cư trong đê bao, trong cụm dân cư vượt lũ, cần nghiên cứu hiện đại hoá nhà sàn, thiết kế

các nhà nổi và khu dân cư nổi…

- Dự báo các luồng dịch chuyển dân cư, dịch chuyển cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động…từ đó

dự kiến các địa bàn có thể tái bố trí.

4.3.3. Phát huy và đào tạo nguồn nhân lực

Trong chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH và nước biển dâng, cần phát huy

đội ngũ cán bộ khoa học hiện có thông qua một chương trình khoa học và công nghệ đi từ dự báo,

đến mô phỏng và tìm các biện pháp thích hợp nhằm tích cực khắc phục các thách thức.

Cần thiết lập ở trường đại học các khoá, bộ môn đào tạo liên thông và liên kết từ hải dương

học, địa chất, động lực học ven biển và vùng cửa sông, toán ứng dụng và cơ học đi sâu về BĐKH và

biển dâng nhằm đào tạo một nguồn nhân lực lâu dài cho đất nước.

Đào tạo nguồn nhân lực thông qua giảng dạy và thông qua nghiên cứu thực hiện các đề tài

mà thực tế đặt ra.

4.3.4. Nâng cao năng lực quản lý

Xây dựng cơ sở dữ liệu (bản đồ, số liệu, ảnh vệ tinh phục vụ cho công tác ứng phó với

BĐKH và biển dâng) hoặc xây dựng danh mục các dữ liệu hiện có ở các cơ quan và quy chế sử

dụng chung các dữ liệu này.

Có chương trình bảo vệ và trồng rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển.

Thống kê số hộ và số dân hiện đang cư trú dọc theo ven biển, những nơi bị đe dọa xâm thực

và cần được bố trí đến nơi cư trú mới an toàn trên từng độ cao mà không làm tổn hại đến sự ổn định

của địa mạo.

Xác định tiềm năng các địa bàn cư trú mới, hoạch định mô hình canh tác và kết cấu hạ tầng.

Quản lý chặt chẽ việc khai thác và bảo vệ nguồn nước ngầm, nguồn nước ngọt.

Cần có sự phối hợp hành động liên ngành, liên vùng, phối hợp chặt chẽ từ trung ương đến địa

phương nhất là giữa ĐBSCL và Đông Nam Bộ để chủ động có lộ trình biến sự dịch chuyển bộ phận

nguồn lực một cách tự phát trở thành sự phân bố lại lực lượng sản xuất. Mọi quy hoạch cần được

đầu tư nghiêm túc, các công trình đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước phải đảm bảo được tính bền

vững và đạt hiệu quả tổng hợp cao.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để kịp thời có thông tin, số liệu cập nhật thường xuyên liên quan

đến BĐKH và biển dâng ; hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác trong điều tra và nghiên

cứu những đề tài khoa học đặt ra cho cả khu vực và thế giới.

4.4. Ứng phó với BĐKH ở huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang

Khu vực Gò Công Đông với cao trình phổ biến từ 0,8m và thấp dần theo hướng Đông Nam,

ra đến biển Đông chỉ còn 0,4 - 0,6m. Có hai vùng trũng cục bộ tại xã Tân Điền và Tân Thành. Do

tác động bồi lắng phù sa từ cửa Soài Rạp đưa ra, khu vực ven biển phía Bắc (Tân Trung, Tân

Phước, Gia Thuận, Vàm Láng) có cao trình hơn hẳn khu vực phía Nam .Trên địa bàn còn có rất

nhiều giồng cát biển hình cánh cung có cao trình phổ biến từ 0,9 - 1,1m nổi hẳn lên trên các đồng

bằng chung quanh là vùng có địa hình thấp, độ cao trung bình 2m trên mực nước biển, một số nơi

chỉ cao 0,5m. Do đó, các tác động từ BĐKH và nước biển dâng đang thực sự là mối đe dọa đối với

hệ sinh thái cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Khi lượng nước được cung cấp ít đi thì

lượng phù sa được bồi đắp hàng năm cũng sẽ giảm, nguồn lợi thuỷ sản và sinh vật phù du chắc chắn

cũng giảm đi đáng kể, sự biến đổi của gió chướng, triều cường, bão, dòng hải lưu… sẽ khiến tình

hình xâm nhập mặn càng trở nên phức tạp hơn, hiện tượng xói lở đường bờ cũng sẽ mạnh hơn so

với hiện nay. Hậu quả của hiện tượng này sẽ là: Đa dạng sinh học suy giảm do một số hệ sinh thái

rừng ngập mặn bị mất dần đi. Khi xâm nhập mặn đi vào sâu hơn và sớm hơn, thời gian canh tác hai,

ba vụ trong năm cũng không còn được như trước. Nhiều loại cây trồng khác cũng sẽ giảm cả về diện

tích và năng suất. Chi phí cho sản xuất lương thực sẽ tăng lên để đối phó với tình trạng nhiễm phèn,

nhiễm mặn trên diện rộng.. Tình trạng ngập mặn sẽ làm trầm trọng hơn vấn đề ô nhiễm nguồn nước

và cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất trong vùng.

Có thể nói, những hậu quả mà BĐKH gây ra đối với huyện Gò Công Đông là rất nghiêm

trọng nhất là vùng ven biển, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của vùng nếu không có sự ứng

phó kịp thời. Trong đó, vấn đề sinh hoạt và sản xuất của người dân cần phải được quan tâm nhiều

nhất vì đây là khu vực dễ bị tổn thương nhất khi BĐKH xảy ra. Việc đi tìm các giải pháp trong bối

cảnh BĐKH diễn biến phức tạp như hiện nay nhằm ứng phó, chung sống thích nghi, hạn chế tối đa

với những điều kiện bất lợi do BĐKH gây ra là cấp thiết. Các nhóm giải pháp có thể được áp dụng

phổ biến ở các lĩnh vực cụ thể như sau:

4.4.1. Nông nghiệp

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng các loại cây trồng có khả năng chịu hạn, chịu mặn để

tránh thời kỳ thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn được xem là giải pháp cấp bách.

Đối với cây lúa : nên dùng các giống lúa có khả năng thích nghi rộng cho năng suất cao, chịu

hạn và chịu mặn tốt. Cùng với xây dựng lịch thời vụ né hạn tránh mặn, cần khuyến khích người dân

ứng dụng nhanh những tiến bộ kỹ thuật thâm canh, chọn cơ cấu giống lúa phù hợp, đưa cây màu

xuống chân ruộng, nhân rộng những mô hình sản xuất tiết kiệm nước như : luân canh trồng lúa kết

hợp trồng màu hoặc chuyên canh màu... để tăng hiệu quả sản xuất. Có thể giảm diện tích lúa vụ

đông xuân lại, tăng diện tích tôm và thủy hải sản nước lợ và mặn. Vùng có nguy cơ nhiễm mặn nên

áp dụng hệ thống lúa - tôm, cần sử dụng giống lúa năng suất cao dưới 100 ngày, sau đó nuôi tôm.

Vùng ngọt không ngập sâu nên chuyển vụ hè thu sang thu đông với các giống lúa chất lượng cao,

rồi trồng màu giá trị cao trong vụ đông xuân

Đối với cây hoa màu : Nên sử dụng gốc ghép, áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác như

xử lý chất điều hoà sinh trưởng, cung cấp chất dinh dưỡng, phòng trừ sâu bệnh để tăng cường tính

chống chịu của cây trồng. Áp dụng các biện pháp che phủ líp, tưới nhỏ giọt để hạn chế ảnh hưởng

của khô hạn và lai tạo giống chịu nhiệt để chống chịu nhiệt độ cao. Phát triển trồng rau thuỷ canh

(trồng trong dung dịch) để chủ động được mùa vụ, đất đai canh tác.

Đối với cây ăn quả: Hầu hết các loài cây ăn quả đều không thích hợp với điều kiện ngập sâu

và nhiễm mặn, do vậy ngành trồng cây ăn quả sẽ gặp nhiều khó khăn do nước biển dâng. Cần sử

dụng phương pháp lai tạo chọn gốc ghép để tạo ra các giống cây ăn quả có khả năng chống chịu

hạn, chịu mặn như cây xoài và một số cây có múi như cam, quýt, bưởi. Hoàn thiện hợp lý các mô

hình VAC, RVAC nhằm tận dụng nguồn nước ngọt từ các ao, mương trong vườn để sử dụng trong

mùa khô, kết hợp nuôi trồng thủy sản. Đây được xem là một biện pháp hiệu quả để đảm bảo sản

xuất nông nghiệp trong điều kiện BĐKH. Tuy nhiên, để ứng phó với BĐKH người nông dân cũng

cần phải chú trọng các biện pháp kỹ thuật canh tác: Lên bờ bao để bảo vệ ở vùng trũng và tùy theo

điều kiện địa hình mà trồng các loại cây khác nhau. Nơi dễ bị ngập thì trồng cây tương đối chịu úng

như chanh gai, xoài, chuối, bưởi... Trên đất cao nên trồng các loài cây sợ nước như mít, đu đủ, na

(mãng cầu ta)... Vùng thấp trũng nên trồng các loại cây chịu úng tốt như khoai nước, củ ấu, rau

muống, rau nhút...

4.4.2. Lâm nghiệp

Nhằm đối phó với BĐKH gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống và sản xuất, cần triển khai

nhiều giải pháp tích cực trong đó đặc biệt quan tâm đầu tư mở rộng diện tích và bảo vệ, chăm sóc

rừng phòng hộ, rừng sinh thái, khuyến khích nhân dân tích cực trồng cây chắn sóng và chắn gió, bảo

vệ các tuyến đê bao, chống sạt lở.... đặc biệt là bảo vệ tuyến đê biển xung yếu ven biển Gò Công.

Nếu dải rừng ngập mặn ven biển hiện nay không được bảo vệ tốt thì dần dần sẽ bị đẩy lùi vào đất

liền, diện tích sẽ bị thu hẹp. Từ đó người dân sẽ đối mặt với giông bão khắc nghiệt hơn vì không

còn rừng để che chắn. Nhiệt độ gia tăng, lượng nước sụt giảm có thể gây cháy rừng, hệ sinh thái bị

phá hủy.

Tăng cường trồng rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển để hạn chế ảnh hưởng của thuỷ

triều vào sâu trong đất liền, tạo môi trường sống cho các loài thủy sản nuôi trồng và là nơi để nhiều

loài thủy sản tự nhiên sinh sôi nảy nở.

Tăng cường trồng mới, đồng thời cấm ngặt hiện tượng chặt phá, đào bới rừng để chuyển đổi

mục đích sử dụng. Để bảo vệ rừng phòng hộ bên trong, kiên quyết không cho đốn bỏ những mảng

rừng chết phía ngoài làm củi, bởi khi rừng chết bị triệt hạ, xu hướng rừng chết sẽ càng tiến sâu vào

đất liền khiến công tác trồng rừng tái sinh gặp khó khăn.

P là ngư trường giàu tôm cá, nguồn lợi thủy

2 Với diện tích mặt biển của huyện gần 12.000 kmP

4.4.3. Thuỷ sản

sản phong phú cùng với hàng chục ngàn ha đất cồn, bãi bồi cửa sông thuộc các xã: Tân Thành, Tân

Điền, Kiểng Phước, Vàm Láng... có điều kiện hết sức thuận lợi phát triển nuôi trồng thủy hải sản có

giá trị xuất khẩu cao như: nghêu, sò huyết, tôm sú, tôm thẻ, cá chẻm...

Để khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên này, cần chú trọng khuyếch trương đồng bộ hai

lợi thế đặc thù: nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản gắn với mở mang công nghiệp chế biến xuất

khẩu, tạo công ăn việc làm và an sinh xã hội, tăng nhanh nguồn hàng hóa dồi dào có giá trị cao

chiếm lĩnh thị trường trong ngoài nước.

Chú trọng nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu canh tác xen canh tôm – lúa hoặc cá – lúa, nghiên

cứu các giống thuỷ sản có thể phát triển lâu dài ở vùng nước lợ, tập trung các giải pháp bảo tồn và

khai thác hợp lí nghêu giống và sò huyết giống ở ven biển Gò Công. Đẩy mạnh qui trình sản xuất

nghêu giống bằng phương pháp nhân tạo nhằm chủ động nguồn con giống cho vùng nuôi tập trung.

- Triển khai các dự án nuôi trồng thủy sản lớn: Dự án nuôi thủy sản Bắc Gò Công, dự án nuôi

tôm Nam Gò Công, Dự án qui hoạch vùng giống nhuyễn thể hai mãnh võ...

4.4.4. Nguồn nước

Cần xây dựng, mở rộng diện tích các hồ, ao chứa nước ngọt để vừa phục vụ tưới tiêu vừa kết

hợp nuôi trồng thuỷ sản vừa có thể phát triển du lịch.. Đầu tư nâng cấp các công trình dẫn ngọt,

ngăn mặn trong dự án thuỷ lợi ngọt hóa Gò Công. Phát huy tốt mạng lưới đê bao và cống đập ngăn

mặn, trữ ngọt trong nội đồng phục vụ sản xuất để tăng mùa, chuyển vụ, đa dạng hóa cơ cấu cây

trồng.

Thường xuyên quan trắc diễn biến và dự báo xâm nhập mặn, phát huy vai trò các cống đập

đầu mối lấy nước ngọt trữ vào nội đồng như: Xuân Hòa, Vàm Giồng... phục vụ sản xuất.

Sớm tiến hành nghiên cứu dự án xây dựng tuyến đê biển Vũng Tàu – Gò Công (tuyến đê

biển này dài 32km, rộng 50m tổng kinh phí dự kiến khoảng 30 nghìn tỷ đồng) tạo ra một hồ chứa

nước rộng 56.000 ha có tác dụng điều tiết thủy triều dâng, trữ nước trong mùa mưa lũ, xử lý triệt để

vấn đề ngập úng do triều cường và mưa lớn tại TP. Hồ Chí Minh và ngăn chặn xâm nhập mặn tại

khu vực Gò Công, thoát lũ cho vùng Đồng Tháp Mười.

Ở vùng nông thôn, mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình có thể dùng những túi mềm dự trữ nước

mưa, ngoài việc góp phần ứng phó BĐKH thì nước mưa cũng chính là nguồn nước ngọt đuợc sử

dụng chủ yếu trong sinh hoạt của những tháng mùa khô.

4.4.5. Sinh hoạt sản xuất và đời sống của dân cư

Cần đảm bảo nguồn nước sạch cho sinh hoạt trong những tháng xâm nhập mặn kéo dài.

Nghiên cứu và thiết kế các công trình công cộng, nhà ở trong điều kiện bị ảnh hưởng của xâm nhập

mặn và nước biển dâng

Tăng cường nhận thức cho cộng đồng về BĐKH và chiến lược biện pháp thích ứng với

BĐKH. Mỗi cá nhân phải có ý thức trong việc bảo vệ môi trường, tiết kiệm nguồn năng lượng. Cần

tổ chức các lớp tập huấn, phổ biến rộng rãi cho nông dân, đưa các giống cây, con mới và nhanh

chóng triển khai các biện pháp ứng phó với BĐKH. Đầu tư thích đáng về vốn, cung cấp kinh phí

nhiều hơn cho việc nghiên cứu và thực thi các giải pháp ứng phó với BĐKH.

Với những diễn biến hiện nay về BĐKH toàn cầu và mực nước biển dâng, đòi hỏi các ban

ngành, các lĩnh vực cần nghiên cứu triển khai, phát huy và đào tạo nguồn nhân lực, quản lý nhà

nước và hợp tác quốc tế nhằm ứng phó để giảm thiểu những thiệt hại , bảo vệ tối đa thành quả lao

động quá khứ và tiếp tục phát triển bền vững, một nhiệm vụ được coi là có ý nghĩa sống còn đối với

đất nước trong những thập kỷ tới và cần nhận thức đúng mức.

KẾT LUẬN

1. Kết luận :

Tìm hiểu các tác động của BĐKH đến cuộc sống, sinh hoạt, sản xuất của người dân ĐBSCL

nói chung và của tỉnh Tiền Giang nói riêng trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội hiện nay là một nhiệm

vụ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của vùng và của cả nước, để từ đó có thể tìm

ra các giải pháp phù hợp nhằm thích ứng và đối phó một cách tích cực. Đối chiếu với mục đích,

nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã giải quyết được những vấn đề sau :

- Nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn làm cơ sở nền tảng cho việc nghiên cứu đề tài

+ Hệ thống hoá và làm rõ hơn các cơ sở lí luận về BĐKH, nguyên nhân hình thành cũng như

tác động của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp, tài nguyên nước, tài nguyên biển, tài nguyên

rừng, cuộc sống dân cư và vấn đề tái định cư .

+ Thực trạng biến đổi khí hậu trên thế giới mà ảnh hưởng đầu tiên là tác động lên hầu hết các

thành phần môi trường và trước hết là làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng cao, mực nước biển dâng.

+ Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam với những tác động trước mắt và lâu dài làm ảnh

hưởng đến cuộc sống, sinh kế, tài nguyên thiên nhiên, cấu trúc xã hội, hạ tầng kỹ thuật và nền kinh

tế... mà đối tượng bị tổn thương nhiều nhất là nhóm người nghèo sinh sống ở vùng nông thôn, vùng

ven biển và khu vực miền núi.

- Tổng quan các tài liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan đến BĐKH trên thế giới

và ở Việt Nam.

- Khảo sát, điều tra tác động của BĐKH đến cuộc sống, sinh hoạt và sản xuất của 400 người

dân đang sinh sống tại các xã Tân Thành, Vàm Láng, Kiểng Phước, Gia Thuận, thị trấn Tân Hoà

thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Phân tích các tác động của BĐKH đến sinh hoạt và

sản xuất của dân cư ở huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

- Tìm hiểu các chiến lược ứng phó, thích nghi với BĐKH trên thế giới, ở Việt Nam, ở

ĐBSCL.

- Đề xuất một số giải pháp trong ứng phó, thích nghi và hạn chế những tác động của BĐKH

đến vấn đề sinh hoạt và sản xuất của dân cư huyên Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang.

2. Khuyến nghị :

Qua nghiên cứu và tiến hành điều tra khảo sát thực tế ở địa phương, chúng tôi xin nêu một số

đề xuất các khuyến nghị sau :

- Đối với các cấp lãnh đạo, các nhà khoa học

+ Xây dựng chương trình, mục tiêu quốc gia, hướng dẫn cụ thể cho các ngành, các địa

phương chủ động xây dựng chương trình phù hợp nhằm giảm nhẹ các tác động của BĐKH.

+ Đầu tư ngân sách nhà nước và phương tiện, cơ sở vật chất thích đáng cho các hoạt động

nghiên cứu về BĐKH.

+ Cần chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu, đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các đề tài khoa

học nghiên cứu về BĐKH.

+ Cần triển khai ngay từ bây giờ các hoạt động ứng phó với BĐKH và nên lồng ghép vào kế

hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, các lĩnh vực, các địa phương...

+ Huy động sự tham gia rộng rãi và tích cực của các cấp Đảng, chính quyền, đoàn thể và của

toàn dân vào các hoạt động nghiên cứu, ứng phó và thích nghi với BĐKH.

+ Mở rộng hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ sự giúp đỡ về tài chính, công nghệ, kinh nghiệm

của các nước và các tổ chức quốc tế có liên quan.

- Đối với chính quyền địa phương :

+ Phải tranh thủ điều tra, nghiên cứu trên từng địa bàn bị đe dọa để chuẩn bị phương án ứng

phó tốt nhất.

+ Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin và nâng cao nhận thức của người dân

về BĐKH.

+ Phối hợp tốt với các trạm dự báo khí tượng, thuỷ văn. Cải tiến và nâng cao chất lượng dự

báo kịp thời các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, lũ, nắng nóng, hạn hán, tình hình xâm nhập

mặn kéo dài....

+ Việc qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với ổn định sản xuất, bảo vệ môi

trường.

+ Quy hoạch, phân vùng thuỷ văn, thuỷ lực nhằm duy trì sản xuất, đời sống bền vững. Xây

dựng hệ thống thuỷ lợi gắn liền với việc phát triển giao thông nông thôn để phát huy hiệu quả đồng

bộ.

+ Nghiên cứu, sản xuất, nhân rộng các giống cây con chịu mặn...

+ Tăng cường bảo vệ và mở rộng diện tích trồng rừng ngập mặn ; Quy hoạch nuôi trồng thuỷ

sản: nghêu, tôm, cá... ; Phát triển các khu bảo tồn sinh thái; Không quy hoạch khu định cư gần bờ

biển, cửa sông...

+ Cần phải xây dựng mới và nâng cấp hệ thông đê biển Gò Công

- Đối với người dân

+ Phải có ý thức và trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường, giữ gìn môi trường trong sạch.

+ Cần có những hành động thiết thực góp phần giảm nhẹ các tác động của BĐKH: Sử dụng

tiết kiệm nguồn năng lượng; Tăng cường sử dụng xe đạp, xe buýt thay cho xe gắn máy; Xây dựng

hầm biogas để tự sản xuất ga đun nấu và cung cấp nguồn năng lượng cho các thiết bị điện sử dụng

trong gia đình; Dùng bình nước nóng năng lượng mặt trời; Trồng hàng rào cây xanh, hoa, kiểng ở

gia đình và nơi công cộng....

+ Hạn chế sử dụng quá nhiều phân hoá học trong sản xuất nông nghiệp, tăng cường sử dụng

phân hữu cơ để tránh phát thải khí mêtan.

+ Hạn chế phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thuỷ sản.

+ Phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các nhà khoa học, các tổ chức đoàn thể...

trong chiến lược thích ứng với BĐKH và tìm ra biện pháp phòng ngừa, giảm nhẹ hậu quả của thiên

tai.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt -

1. Lê Huy Bá, Nguyễn Thi Phú, Nguyễn Đức An (2009), Môi trường khí hậu thay đổi– Mối hiểm

hoạ của toàn cầu, Nxb ĐHQG TP. HCM.

2. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang (2005), Địa chí tỉnh Tiền Giang.

3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí

hậu, Hà Nội.

4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam,

Hà Nội.

5. Nguyễn Khắc Hiếu (2008), Tổng quan về các kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu và kết quả Hội

nghị Liên Hợp Quốc về BĐKH ở Bali. Báo cáo tại Hội thảo BĐKH toàn cầu và ứng phó của

Việt Nam, Hà Nội 26-29/2/2008.

6. Đỗ Tuyết Khanh (2009), Khủng hoảng lương thực thế giới và nông nghiệp Việt Nam, Tạp chí

thời đại mới, số 17

7. Trần Đức Lương (2008), Hiểm họa của biến đổi khí hậu toàn cầu đối với Việt Nam và nhìn từ

Việt Nam. Báo cáo tại Hội thảo BĐKH toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam, Hà Nội,

26-29/2/2008.

8. Ngân hàng Thế giới (World Bank), Báo cáo phát triển thế giới 2010, Phát triển và biến đổi khí

hậu, Wasington, DC.

9. Nguyễn Đức Ngữ (2008), Biến đổi khí hậu và khô hạn, hoang mạc hóa. Hội thảo BĐKH toàn

cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam, Hà Nội.

10. Nguyễn Đức Ngữ (2008), Biến đổi khí hậu, Nxb Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội.

11. Phòng Thống kê Huyện Gò Công Đông, Niên giám thống kê Huyện Gò Công Đông năm 2009.

12. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tiền Giang (2011), Tài liệu Hội thảo chuyên đề “Rừng và

Biển”.

13. Sở Nông nghiệp và PTNT Tỉnh Tiền Giang (2008), Báo cáo kết quả công tác năm 2008 và kế

hoạch năm 2009 của ngành nông nghiệp.

14. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang (2011), Tài liệu Hội thảo chuyên đề “Rừng và

Biển”.

15. Sở Tài nguyên và Môi trường Tp. Cần Thơ (2010), Đánh giá Tác động của Biến đổi Khí hậu và

Tổn thương lên Thành phố Cần Thơ.

16. Nguyễn Ngọc Trân (2008), Ứng phó với biến đổi khí hậu và biển dâng ở ĐBSCL và Duyên hải

Miền Trung - Một số nhiệm vụ cần triển khai.

17. Trung tâm khí tượng thuỷ văn tỉnh Tiền Giang (2010), Bảng thống kê các hiện tượng khí tượng

thuỷ văn huyện Gò Công Đông từ 2000-2010

18. Lê Anh Tuấn (2009), Tác động của Biến đổi khí hậu lên hệ sinh thái và phát triển nông thôn

vùng đồng bằng sông Cửu Long, Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên , Viện Nghiên

cứu Biến đổi Khí hâu - Đại học Cần Thơ.

19. Lê Anh Tuấn (2009), Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL, Viện

Nghiên cứu Biến đổi Khí hâu - Đại học Cần Thơ.

20. Lê Anh Tuấn (2009), Tổng quan về nghiên cứu Biến đổi khí hậu và các hoạt động thích ứng ở

Miền nam Viêt Nam, Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hâu - Đại học Cần Thơ

21. IPCC (2007), Báo cáo của Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu.

22. UNESCO (2005), Thập kỉ giáo dục vì sự phát triển bền vững Liên Hợp Quốc 2005 / 2014,

UNESCO Việt Nam, Hà Nội.

23. UNDP(2007), Báo cáo phát triển con người 2007-2008.

24. UNFCCC (1992), Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu.

TIẾNG NƯỚC NGOÀI

25. Agence Française De Développement (AFD), AFD-Changement Climatique

26. Adaptation to climate change in coastal areas of the Mekong delta, Vietnam. GTZ, 2009.

27. ADB, (2009), The Economics of Climate change in Southeast Asia, A Regional Review.

28. Broecker W.S. (1975) – Climatic change – are we on brink of a pronounced global warming?

Science.

29. Paul.G Harris, Global warming and East Asia – The domestic and international politics of

climate change, Routledge, Taylor & Francis Group

30. S.Sonak, Community – based climate change adaptation in Vietnam : inter-linkages of

environment, disaster and human security, Kyoto University, Japan.

TÀI LIỆU KHÁC

31. Al

Gore, 8Thttp://vi.wikipedia.org/wiki/Al_Gore#K.C3.AAu_g.E1.BB.8Di_Quan_t.C3.A2m_.C4.91.

E1.BA.BFn_M.C3.B4i_tr.C6.B0.E1.BB.9Dng8T

32. Biến đổi khí hậu đe doạ Việt Nam, http://www.thichungbiendoikhihau.uniad.com.vn/bien-doi-

khi-hau/35-bien-doi-khi-hau.html

33. Biến đổi khí hậu và đa dạng sinh học Việt Nam

http://www.sinhhocvietnam.com/forum/archive/index.php?t-7499.html

34. Biến đổi khí hậu trên thế giới: Đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng nặng nhất,

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Moi-truong/444244/Bien-doi-khi-hau tren-the-gioi-Dong-

bang-song-Cuu-Long-chiu-anh-huong-nang-nhat.html

35. Biến đổi khí hậu với báo cáo của stern,

http://kinhtebien.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=150:bin-ng-khi-hu-vi-

bao-cao-ca-stern-pgs-ts-hoang-xuan-nhun-dch-va-gii-thiu&catid=76:him-ha-nc-

dang&Itemid=50

36. Các kỉ lục về khí tượng thủy văn Việt Nam, http://www.nchmf.gov.vn/web/vi-

VN/69/59/Default.aspx

37. 8TChủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, http://tintuc.vnn.vn/newsdetail/xa_hoi/80350/chu-dong-

ung-pho-voi-bien-doi-khi-hau.html 8T

38. Đồng bằng sông Cửu Long,

http://www.mekongdelta.com.vn/mekongdelta/news.asp?cate_id=28&sub_id=81&news_id=18

39. ĐBSCL12T: Nhanh chóng ứng phó và thích nghi với biến đổi khí

hậu, 12T 8Thttp://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&CateID=106&ID=90790&Code=V

WQKY907908T

40. ĐBSCL: Nhiều tuyến đê biển bị sạt lở nghiêmtrọng, http://vietbao.vn/Xa-hoi/DBSCL-Nhieu-

tuyen-de-bien-bi-sat-lo-nghiem-trong/20707796/157/

(-http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Moi-truong/444244/Bien-doi-khi-hau-tren-the-gioi-Dong-

bang-song-Cuu-Long-chiu-anh-huong-nang-nhat.html-3TThứBa, 28/06/2011)

41. Hậu lũ miền Trung : Nhìn lại những con số nhói

lòng, 8Thttp://thethaovanhoa.vn/132N20101021093815898T0/hau-lu-mien-trung-nhin-lai-nhung-

con-so-nhoi-long.htm8T

42. 8THuman Development Report 2007/2008 Climate Change and Human Development in

VietNam...8Twww.dwf.org/vietnam/phongchongbao/index.htm

43. Miền Tây đói lũ, 8Thttp://thethaovanhoa.vn/132N20101026091253785T138/mien-tay-doi-lu.htm8T

44. Mong manh đê biển Gò Công trước mùa bão tố

2009, 8Thttp://www.tiengiang.gov.vn/xemtin.asp?cap=3&id=10778&idcha=999 8T

45. Nỗi lo mất mùa nghêu ở Tiền Giang ,

http://www.nhandan.org.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/doi-

song/thongtinchung/noilomatmuangheuotiengiang-1.291233

46. Phát triển cây trồng thích nghi với biến đổi khí hậu http://www.festivalluagao.vn/newsdetail-

174-Phat-trien-cay-trong-thich-nghi-voi-xa-hoi/80350

47. Tác động biến đổi khí hậu ở các tỉnh đồng bằng sông Cưu Long,

http://www.agroviet.gov.vn/Pages/news_detail.aspx?NewsId=9878&Page=3

12T49. Thử tìm giải pháp “sống chung” với biến đổi khí hậu, 12T

8Thttp://www.kinhtenongthon.com.vn/Story/VandeSukien/2010/10/25328.html8T

48. Tan hoang rừng phòng hộ Gò Công, http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/79704.

50. Unite to combat climate change your planet needs, world environment day, 5 JUNE

2009,. 8Twww.unep.org/web/20098T,

51. Xem để thức tỉnh, http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/351583/Xem-de-thuc tinh.html

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bản đồ các huyện phía Đông của tỉnh Tiền Giang

Phụ lục 2: BẢNG HỎI THU THẬP THÔNG TIN

Chúng tôi trân trọng gửi tới anh chị bảng hỏi về các vấn đề có liên quan đến “Biến đổi khí

hậu”. Các câu trả lời của anh chị sẽ giúp chúng tôi có được những thông tin quí báu để hoàn thành

đề tài nghiên cứu của mình. Các câu hỏi này không nhằm đánh giá anh chị trả lời “đúng” hay “sai”

mà chỉ nhằm tham khảo ý kiến của anh chị thôi, vì vậy xin anh chị hãy trả lời thật đúng những gì

mình nghĩ . Những thông tin mà các anh chị cung cấp chỉ được sử dụng cho luận văn và hoàn toàn

không nêu danh tánh của người trả lời.

I. THÔNG TIN CÁ NHÂN:

Đề nghị anh chị vui lòng cung cấp các thông tin cần thiết về bản thân và gia đình:

1. Họ và tên : ....................................................... ; Tuổi: ...................

2. Giới tính: Nam ; Nữ

3. Nghề nghiệp:

a. Nông dân ...........................

b. Ngư dân ............................

c. Công nhân...........................

d. Buôn bán.............................

e. Công chức, viên chức..........

f. Ngành nghề khác: (ghi rõ)...............................................................

4. Nơi cư trú:

a. Vùng ven biển........................

b. Nông thôn..............................

c. Thị trấn..................................

5. Tình trạng đất đai :

a. Anh, chị có đất canh tác riêng hay không?

Có ; Không

- Nếu không có đất, xin cho biết lý do:..............................................................

1

P, trong đó:

- Nếu có xin trả lời tiếp :

b. Tổng diện tích : .....................(công)P0F

b1. Diện tích đất trồng lúa/ rau/ màu ...........................(công)

b2. Đất nuôi trồng thủy sản: ...........................(công)

b3. Đất vườn cây ăn trái: ...........................(công)

b4. Đất rừng: ...........................(công)

b5. Đất khác (kể cả đất bỏ hoang): ...........................(công)

Lý do không sử dụng đất (nếu có): .............................................................................. 1 : 01 công = 1.000 m2

II. RỦI RO, THIÊN TAI VÀ ỨNG PHÓ

Đề nghị anh chị đọc kỹ và trả lời các câu hỏi sau bằng cách đánh dấu X vào ô thích hợp,

hoặc trả lời ngắn ở các câu hỏi tham khảo ý kiến dưới đây:

6. Anh chị đã từng nghe nói về Biến đổi khí hậu?

a. Có b. Không

7. Nếu có, xin anh (chị) cho biết nguồn thông tin về Biến đổi khí hậu được lấy từ: (có thể chọn

nhiều câu trả lời)

a. Báo chí b. Internet

c. Radio, d. Truyền hình

e. Người thân, bạn bè f. Chính quyền địa phương.

Các nguồn khác: (đề nghị ghi rõ) ……………………………………………

8. Địa phương của anh chị có nằm trong khu vực phải chịu tác động của biến đổi khí hậu không?

a. ảnh hưởng nghiêm trọng

b. ảnh hưởng vừa phải

c. ít ảnh hưởng

c. Không ảnh hưởng

9. Theo anh (chị) những lĩnh vực nào sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ Biến đổi khí hâu?

a. Sản xuất b. Sinh hoạt

c. Kinh doanh d. Nhà ở

10. Biến đổi khí hậu có tác động đến: (ghi theo thứ tự 1,2,3,4 từ quan trọng nhất đến ít quan trọng)

a. Cuộc sống của gia đình anh ,chị..

b. Sức khoẻ ………………………..

c. Công việc hàng ngày …………...

d. Thu nhập ……………………...

11. Nguồn thu nhập trong gia đình anh chị chủ yếu là: (đánh số theo thứ tự quan trọng, số 1 quan trong nhất)

a. Trồng trọt (làm lúa, rau, màu)……

b. Nuôi trồng, đánh bắt thủy sản…….

c. Chăn nuôi gia súc gia cầm………..

d. Tiểu thủ công nghiệp……………..

e. Chế biến nông thủy sản.....…………

f. Buôn bán, dịch vụ.........……………

Nguồn thu nhập khác (nếu có đề nghị kể ra)………………………...

12. Những năm gần đây thì tình hình thu nhập thường xuyên của anh, chị :

a. Tăng nhanh b. Tăng chậm

c. Ổn định d. Giảm

13. Với nguồn thu nhập đó anh (chị) cảm thấy:

a. Rất hài lòng b. Khá hài lòng

c. Hài lòng d. Chưa hài lòng

14. Những biểu hiện thường gặp về tình hình thời tiết ở địa phương của anh ,chị (có thể chọn nhiều biểu hiện bằng cách đánh dấu X vào ô thích hợp)

a. Nhiệt độ cao b. Khô hạn

c. Nhiễm phèn d. Nhiễm mặn

e. Lũ lụt f. Lốc xoáy

g. Bão h. Triều cường

i. Xói lỡ bờ k. Các bất thường khác .......................

15. Theo anh (chị) những thay đổi của thời tiết đã gây ra những căn bệnh thường gặp nào ở địa phương? ...................................................................................

…………………………………………….…………………………………………

16. Những căn bệnh này sẽ ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khoẻ của

a. Trẻ em b. Phụ nữ

c. Người già d. Tất cả mọi người

17. Những thay đổi của thời tiết làm cho lượng mưa trong năm 2010 có chiều hướng

a. Tăng b. Giảm

c. Không thay đổi d. Diễn biến thất thường

18. Các loài sinh vật chủ lực (thủy, hải sản) của địa phương cũng

a. Tăng sản lượng b. Ổn định c. Giảm sản lượng

19. Nguồn nước ngọt của địa phương thay đổi theo chiều hướng :

a. Tăng lên b. Ổn định c. Giảm đi

20. Gia đình anh (chị) nguồn nước ngọt đang sử dụng được lấy từ đâu:

a. Từ sông, ao, hồ b. Từ kênh đào

c. Từ giếng khoan d. Từ nước mưa

e. Nước của thủy cục f. Từ nguồn khác ……………

21. Những năm gần đây thì tổng lượng nước ngọt cung cấp cho địa phương anh (chị) có thay đổi không?

a. Có b. Không

22. Nếu có thay đổi thì anh (chị) hãy cho biết nguyên nhân vì sao :

………………………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………

23. Còn chất lượng nguồn nước thì như thế nào?

a. Vẫn như vậy b. Tốt hơn

c. Bị nhiễm phèn d. Bị nhiễm mặn

e. Bị ô nhiễm (nhiễm bẩn) f. Ý kiến khác: ........................

24. Nếu như nguồn nước ngọt sử dụng ngày càng khan hiếm thì anh (chị) sẽ tìm cách khắc phục bằng những biện pháp như thế nào?

.......................................................................................................................................

25. Ngoài việc khan hiếm nguồn nước ngọt thì vấn đề xâm nhập mặn (nguồn nước bị nhiễm mặn) có tác động đến sản xuất và sinh hoạt của anh (chị) không?

a. Có b. Không

26. Nếu có thì anh (chị) hãy cho biết thời gian bị nước mặn xâm nhập

Từ tháng ...... đến tháng ...........

27. So với những năm trước, thì gần đây thời gian xâm nhập mặn thường

a. Kéo dài hơn b. Vẫn như vậy d. Rút ngắn lại

28. Vấn đề xâm nhập mặn có làm cho đất canh tác của anh (chị) bị:

a. Thu hẹp diện tích b. Kém chất lượng

c. Không thay đổi d. Không thể canh tác được

29. Trong những thời gian bị xâm nhập mặn thì anh (chị) thường

a. Trồng: ............................................................................................................

b. Nuôi ...............................................................................................................

c. Không canh tác gì cả

30. Nếu nước mặn xâm nhập thường xuyên, quanh năm và kéo dài thì anh (chị) có thay đổi mô hình sản xuất không?

a. Có b. Không

31. Nếu có, anh chị chị định thay đổi như thế nào?

.......................................................................................................................................

32. Nếu như mực nước biển dâng cao 30 – 50 cm (từ 3 tấc đến 5 tấc), gây ngập lụt trên diện

rộng, theo anh (chị) biện pháp ứng phó bằng cách nào là hợp lý nhất?

a. Đắp đê ngăn nước biển b. Di dời đi nơi khác

c. Chung sống với nước biển dâng. d. Chưa nghĩ đến

Cách khác (ghi rõ) :..............................................................................................

33. Bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực, theo anh (chị): Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tích cực nào đến sản xuất và sinh hoạt của người dân địa phương?

(Nếu có đề nghị ghi rõ: .......................................................................................)

34. Theo anh chị việc đi tìm các biện pháp ứng phó với sự tác động của biến đổi khí hậu là nhiệm vụ của ai?

a. Các nhà nghiên cứu b. Các nhà lãnh đạo

c. Người dân của vùng bị ảnh hưởng d. Tất cả mọi người

35. Anh, chị có ý kiến gì thêm về Biến đổi khí hậu và tác động của hiện tượng này đến sản xuất và sinh hoạt của người dân địa phương:

……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

Xin chân thành cám ơn anh (chị) đã cộng tác

Phụ lục 3: Kết quả phân tích Anova theo nhóm tuổi:

Descriptives

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

95% Confidence Interval for Mean

N Mean Std. Deviation Std. Error

Minimum Maximum

Lower Bound

Upper Bound

Từ 30 đến 39

33 2.45

.711

.124

2.20

2.71

1

4

Từ 40 đến 49 247 2.45

.690

.044

2.36

2.54

1

4

Từ 50 đến 59

67 2.54

.703

.086

2.37

2.71

1

4

60 tuổi trở lên

9 2.56

.882

.294

1.88

3.23

2

4

Total

356 2.47

.697

.037

2.40

2.54

1

4

Test of Homogeneity of Variances

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

Levene Statistic

df1

df2

Sig.

.551

3

352

.648

ANOVA

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

Sum of Squares

df

Mean Square

F

Sig.

Between Groups

.482

3

.161

.328

.805

Within Groups

172.178

352

.489

Total

172.660

355

Phụ lục 4: Kết quả phân tích Anova theo địa bàn cư trú:

Descriptives

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

95% Confidence Interval

for Mean

N Mean Std. Deviation Std. Error

Minimum Maximum

Lower Bound

Upper Bound

Thị trấn

45 2.58

.723

.108

2.36

2.79

1

4

Nông thôn

231 2.33

.602

.040

2.26

2.41

1

4

Vùng ven biển 80 2.80

.818

.091

2.62

2.98

1

4

356 2.47

.697

.037

2.40

2.54

1

4

Total

Test of Homogeneity of Variances

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

Levene Statistic

df1

df2

Sig.

8.114

2

353

.000

ANOVA

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

Sum of Squares

df

F

Sig.

Mean Square

13.549

2

6.775

.000

Between Groups

159.111

353

.451

Within Groups

15.030

172.660

355

Total

Multiple Comparisons

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH Tamhane

(J) Nơi cư trú Mean Difference (I-J) Std. Error Sig.

(I) Nơi cư trú

95% Confidence Interval Lower Bound Upper Bound

Thị trấn

Nông thôn

.244

.115 .109

-.04

.53

Vùng ven biển

-.222

.141 .316

-.57

.12

Nông thôn

Thị trấn

.115 .109

-.53

.04

Vùng ven biển

-.244 * -.467P

.100 .000

-.71

-.23

Vùng ven biển Thị trấn

.141 .316

-.12

.57

Nông thôn

.222 * .467P

.100 .000

.23

.71

*. The mean difference is significant at the 0.05 level.

Phụ lục 5: Kết quả phân tích Anova theo nghề nghiệp:

Descriptives

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

95% Confidence Interval for Mean

N Mean Std. Deviation Std. Error

Lower Bound

Upper Bound

Min Max

Công chức, viên chức 41 2.61

.737

.115

2.38

2.84

2

4

Buôn bán

47 2.36

.764

.111

2.14

2.59

1

4

Công nhân

13 2.62

.768

.213

2.15

3.08

2

4

Ngư dân

19 2.89

.809

.186

2.50

3.28

2

4

Nông dân

224 2.40

.641

.043

2.31

2.48

1

4

Nội trợ

8 2.88

.641

.227

2.34

3.41

2

4

Làm thuê

4 3.00

.816

.408

1.70

4.30

2

4

Total

356 2.47

.697

.037

2.40

2.54

1

4

Test of Homogeneity of Variances

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

Levene Statistic

df1

df2

Sig.

1.151

6

349

.332

ANOVA

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

Sum of Squares

df

Mean Square

F

Sig.

Between Groups

6

1.446

.006

8.673

Within Groups

349

.470

163.987

3.076

Total

355

172.660

Multiple Comparisons

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

Tukey HSD

95% Confidence Interval

(I) Nghề nghiệp (J) Nghề nghiệp

Mean Difference (I-J) Std. Error Sig.

Lower Bound Upper Bound

Ngư dân

Công chức, viên chức

.285

.190

.746

-.28

.85

Buôn bán

.533

.186

.067

-.02

1.09

Công nhân

.247

.918

-.45

1.01

Nông dân

.279 * .497P

.164

.041

.01

.98

Nội trợ

.020

.289 1.000

-.84

.88

Làm thuê

.377 1.000

-1.22

-.105

1.01

Nông dân

Công chức, viên chức

-.212

.116

.532

-.56

.13

Buôn bán

.036

.110 1.000

-.29

.36

Công nhân

.196

.923

-.80

.36

Ngư dân

-.218 * -.497P

.164

.041

-.98

-.01

Nội trợ

-.478

.247

.457

-1.21

.25

Làm thuê

-.603

.346

.588

-1.63

.42

*. The mean difference is significant at the 0.05 level.

Phụ lục 6: Kết quả phân tích Anova theo giới tính:

Descriptives

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

95% Confidence Interval for Mean

N Mean Std. Deviation Std. Error

Lower Bound

Upper Bound

Min Max

Nữ

129 2.44

.695

.061

2.32

2.56

1

4

Nam 227 2.48

.700

.046

2.39

2.58

1

4

Total 356 2.47

.697

.037

2.40

2.54

1

4

Test of Homogeneity of Variances

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

Levene Statistic

df1

df2

Sig.

.154

1

354

.695

ANOVA

Đánh giá mức độ tác động của BĐKH

Sum of Squares

df

Mean Square

F

Sig.

Between Groups

.150

1

.150

.308

.579

Within Groups

172.510

354

.487

Total

172.660

355

Phụ lục 7: Một số hình ảnh liên quan đến biến đổi khí hậu ở ĐBSCL

Hình 7.1: Sự thay đổi nhiệt độ lớn nhất trung bình thập niên 2030 so với thập niên 1980

Hình 7.2: Sự suy giảm tổng lượng mưa thập niên 2030 so với thập niên 1980

Hình 7.3: Diện tích ngập lũ sẽ mở rộng vào tương lai

Hình 7.4: Phỏng đoán sự thay đổi thời gian ngập vào thập niên 2030 so với thập niên 1980

Hình 7.5: Phạm vi ngập khu vực Đồng bằng sông Cửu Long theo kịch bản nước biển dâng 65 cm

Hình 7.6: Phạm vi ngập khu vực Đồng bằng sông Cửu Long theo kịch bản

nước biển dâng 75 cm

Hình 7.7: Phạm vi ngập khu vực Đồng bằng sông Cửu Long theo kịch bản

nước biển dâng 100 cm

Hình 7.8: BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH TIỀN GIANG