Tiết niệu kết thạch
(sỏi hệ thống tiết niệu)
1. Đại cương:
- Sỏi hệ thống tiết niệu là chtinh thể rắn thành hòn hoặc khối xuất hiện trong hệ
thống tiết niệu. Căn cứ vào vtrí của các tinh thể rắn chắc (sỏi) trên đường tiết
niệu người ta phân biệt sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang sỏi niệu
đạo.
- Đặc điểm m sàng là: đau phần bụng dưới hoặc đau vùng lưng lan ra bụng, đái
ra máu, đái đục. Nếu như trở tắc cấp tính thì thđái ít hoặc niệu (không đái
được), thậm chí xuất hiện cơn đau quặn thận, chức năng thận thể bị suy giảm
cấp tính; điều trị nội khoa tương đối khó khăn, có khi phải mổ cấp cứu.
- Vđiều trị : theo YHHĐ, căn cứ vào tính chất hóa học khác nhau của viên sỏi
tiến hành các phương pháp điều trị bằng thuốc khác nhau. Nhưng một s
thuốc hiện nay trên m sàng thường có tác dụng không mong muốn nhất định, dễ
tái phát. Trong những m gần đây, người ta đã sản xuất những dụng cụ, máy tán
sỏi qua da bắn bằng siêu âm để làm tan sỏi. Vì vậy kết quả điều trị phần nâng
cao, tuy nhiên chi phí cao không phải i nào cũng áp dụng được. Trên thực
tế lâm sàng, điều trị bệnh này bng YHCT ngày ng coi trọng vì đã thu được
những hiệu quả nhất định. Do vậy, cần phải phát triển điều trị bằng phương pháp
YHCT.
- Quan niệm vbản chất bệnh : YHCT thường tả các chứng bệnh này trong
các phạm trù “sa lâm”, “thạch m”, “huyết m” yêu thống”. Thời kỳ đầu đa
phần thuộc thấp nhiệt, uẩn kết hạ tiêu, thấp nhiệt lâu ngày s sinh ra chứng thực
chuyển sang hư hoặc thực thác tạp. Việc dùng thuốc YHCT để điều trị niệu lạc
kết thạch hệ thống tiết niệu về phương diện nào đó đã tích lu được nhiều kinh
nghiệm phong phú, từ đó đã cải thiện được các triệu chứng của bệnh, không để
chức năng của thận bị suy giảm, giảm được tái phát.
2. chẩn đoán xác định theo YHhđ:
- Dựa vào các biểu hiện: có tiền sử đái ra sỏi, cơn đau quặn thận, sốt, đái máu đại
thể hoặc vi thể; đái buốt, đái dắt, đái đục, đái mủ.
- t nghim nước tiểu vi khuẩn niệu, tế bào mủ; định lượng can - xi niệu,
systin niệu, axit uric niệu và tồn cặn oxalat, phosphat... Nếu protein niệu là
viêm thận - bể thận.
- Chẩn đoán xác định phải chụp X quang và bxung bằng siêu âm: chụp thận
thường phát hiện sỏi cản quang; chụp thận tĩnh mạch (UIV) xác định vị trí sỏi,
phát hiện sỏi không cản quang, đánh giá được kích thước và chức năng bài tiết của
mỗi thận; chụp thận ngược dòng (UPR) chđược chỉ định khi thật cần thiết. Siêu
âm tiện lợi nhưng không rõ nét bằng X quang; sỏi niệu quản đoạn 1/3 giữa khó
phát hiện. Soi bàng quang khi có đái máu đại thể.
- Cần chẩn đoán các biến chứng của sỏi: đái máu đại thể, nhiễm khuẩn, viêm b
thận - thận cấp, bí đái, vô niệu và viêm bthận - thận mạn.
- Chẩn đoán phân biệt: các nốt vôi hoá, sỏi đường mật, viêm đại tràng mạn n
đau kiểu “quặn thận”.
3. Trung y chẩn liệu:
Sỏi hệ tiết niệu khi cơn đau quặn thận cấp tính thì triệu chứng chủ yếu là đái
máu, đái dắt, đái buốt là chính.
Thời kì đầu YHCT tả bệnh trong “huyết lâm”, “sa m”, “thạch m”. Nhưng
thời kỳ sau thì đau chyếu phần lưng dồn xuống dưới nên thuộc phạm trù
“yêu thống”.
Vbản chất của bệnh, theo biện chứng luận trcủa Trung y nói chung, thời kỳ có
cơn đau quặn thận cấp hoặc thời kỳ đầu thuộc thực chứng; đa phần thấp nhiệt,
uẩn kết ở hạ tiêu, sa thạch kết tụ, khí trệ bất lợi mà dẫn đến.
Trong điều trị, cần thanh nhiệt lợi thấp, thông lâm bài thạch, lợi khí, đạo. Nếu
bệnh để lâu, điều trị không kịp thời sẽ chuyển thành hư chứng, tổn thương chủ yếu
thư, thận hoặc biến thành chứng thực thác tạp. Nếu như tỳ thận hao
chính thì phải kiện tỳ ích thận, phải thông lâm tiêu thạch. Nếu như hư thực
thác tạp thì phải dựa vào hư thực nhiều hay ít để mà tiêu bản đồng trị hoặc công bổ
kiêm trị.
3.1. Nguyên nhân cơ chế bệnh sinh theo YHCT:
- Sỏi hệ thống tiết niệu hình thành do tại chthấp nhiệt hoặc ngoại cảm phải
phong tà, thấp tà, nhiệt tà hoặc ăn uống nhiều chất cay nóng, chất béo hoặc là tình
chí bất tiết, hoặc vui giận thất thường, lao thương quá đuất tụ thành thấp nhiệt
dẫn đến hođộc nội sinh, thấp nhiệt hạ trú bàng quang, hãn chưng n dịch, tạp
chất ngưng kết mà thành sỏi.
- Vtrí sỏi ở thận và bàng quang là chính, thường có ảnh hưởng đến can và tỳ, tính
chất của bệnh là chính hư tà thực.
Chính hư gồm có: khí hư, âm hư, dương hư, âm - dương lưỡng hư.
Tà thực gồm có: ngoại cảm phong thấp, nhiệt tà thấp nhiệt, khí trệ huyết ứ.
- chế bệnh sinh: chủ yếu vẫn là thấp nhiệt uẩn kết hạ tiêu, ng quang khí
hoá bất lợi. Nếu bệnh lâu ngày thì m hại dương khí, nhiệt hoá hoả thương âm,
hoặc âm thương cập khí mà dẫn đến tỳ thận lưỡng hư. Như vậy bệnh từ thực
chuyển sang hư, hư thực thác tạp.
3.2. Biện chứng phương trị.
3.2.1. Thể hạ tiêu thấp nhiệt.
Đa phần là bệnh thời kỳ đầu, n đau cấp tính, tiểu tiện nhiều lần, đái buốt, sốt,
nước tiểu vàng đỏ, tiểu tiện sáp trệ không thông khi đái ngắt quãng khi
đái ra sạn sỏi; lưng đau lan đến bụng dưới và vùng sinh dục; miệng đắng, nôn
khan hoặc nôn mửa, rêu lưỡi vàng nhờn; mạch hoạt sác.
- Phương pháp điều trị: thanh nhiệt li thấp - thôngm bài thạch.
- Phương thuốc thường dùng: “bát chính tán” gia gim:
Sa tiền tử 20g Biển xúc 20g
Cù mạch 12g Hoạt thạch 20g
Cam thảo tiêu 6g Đại hoàng 4g
Sơn chi 12g Đăng tâm thảo 8g.
- Gia giảm: