
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA: ĐỊA LÝ_DU LICH
--- ---
BÀI TẬP NHÓM
Xung đột văn hóa giữa
công nghiêp và nông nghiễp
GVHD: Th.s Phạm Thị Thúy
Nguyệt
Nhóm: Góc nhỏ
Lớp: Địa lý_du lịch k30

I.Khái niệm
1. Công nghiệp là gì?
Công nghiệp, là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật
chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ
hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn,
được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật.
2. Nông nghiệp là gì?
Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ, sợi
và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi
đàn gia súc (nuôi trong nhà). Công việc nông nghiệp cũng được biết đến bởi những
người nông dân.
II. Đặc điểm
1.Văn hoá nông nghiệp
Các quốc gia gốc nông nghiệp chủ yếu dựa vào nông nghiệp là chính. Việt Nam có
vị trí địa lý nằm ở góc tận cùng phía Đông-Nam Châu Á nên Việt Nam thuộc loại
hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình. Tất cả những đặc trưng của loại
hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt đều được thể hiện rất rõ nét trong đặc
trưng văn hóa. Mà Việt Nam cũng có những đặc trưng đó.
a.Về cư dân :
Chủ yếu sinh sống bằng nghề nông là chủ yếu

Trong cách ứng xử với tự nhiên, do nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định
cư để chờ cây cối lớn lên, đơm hoa, kết trái và thu hoạch, từ đó ưa thích lối sống
ổn định, cho rằng” An cư lạc nghiệp” .
Do sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên cư dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và
ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên. Người Việt Nam mở miệng ra là nói “ nhờ
trời”, “lạy trời”…
Các tín ngưỡng và lễ hội sung bái tự nhiên rất phổ biến ở các tộc người trên khắp
mọi vùng đât nước.
Vì nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc vào
nhiều yếu tố thiên nhiên như : thời tiết, nước, khí hậu,... “ trông trời, trông đất,
trông mây; trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm…” nên về mặt nhận thức,
hình thành nên lối tư duy tổng hợp- biện chứng, nặng về kinh nghiệm chủ quan
cảm tính: sống lâu lên lão làng, trăm hay không bằng tay quen… Người làm nông
quan tâm không phải là từng yếu tố riêng lẻ mà là những mối quan hệ giữa chúng.
Người Việt tích lũy được một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan
hệ này: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa
cau thì đau mùa lúa; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì
râm…
b. Về mặt tổ chức cộng đồng,
Lối sống cố định lâu dài nên tạo ra những mối quan hệ tình cảm thân thiết, gắn bó,
hình thành nên lối sống Trọng tình.. Nhưng cũng từ đây hình thành lối sống tự trị,
khép kín, hướng nội.

Thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ. Trong ngôi nhà của người Việt rất coi
trọng gian bếp, thể hiện sự coi trọng phụ nữ. Người Việt coi: Nhất vợ nhì trời;
Lệnh ông không bằng cồng bà… Người phụ nữ cũng được xem là người có vai trò
quyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu; Con dại cái mang…
Sự gắn bó cộng đồng tạo nên lối sống trọng tình nghĩa: Lá lành đùm lá rách; Bầu
ơi thương lấy bí cùng…; các quan hệ ứng xử thường đặt lý cao hơn tình: Một bồ
cái lý không bằng một tí cái tình…
Lối tư duy tổng hợp – biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông
nghiệp cộng với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đên lối sống linh hoạt, luôn thay đổi
để thích hợp với từng hoàn cảnh: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo
cà sa, đi với ma mặc áo giấy; … Mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu
hiện ở tật co giãn giờ giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật, tệ đi “ cửa sau” để giải
quyết công việc( Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế).
Vì sống theo tình cảm nên mọi người phải biết tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân
chủ với nhau. Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lý coi trọng
cộng đồng, coi trọng tập thể. Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể,
luôn có tập thể sau lưng.
Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt
còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những không có
chiến tranh tôn giáo mà mọi tôn giáo đều được tiếp nhận. Đối phó với các cuộc
chiến tranh xâm lược người Việt Nam luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa.
Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
trồng trọt đều được thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống, phương thức tư
duy, lối ứng xử của người Việt truyền thống.

2. Văn hóa công nghiệp
a. Cư dân:
Sống chủ yếu bằng các công việc gắn liền với công nghệ kĩ thuật tiên tiến hiện
đại.
Trong cách cư xử với tự nhiên, do tính chất công việc đòi hỏi phải am hiều công
nghệ phải hiểu biết rộng và tính cách muốn đi tìm hiểu các điểm mới trên thế giới
đã hình thành lối sống không ổn định, con người có khuynh hướng thay đổi vị trí
nơi ở do yêu cầu của công việc hay do quan niệm đến những vùng đất mới thì sẽ có
nhiều cơ hội để phát triển hơn trong thời buổi cạnh tranh này.
Văn hóa công nghiệp làm cho con người phụ thuộc vào máy móc công nghệ hơn
là bản thân mình và tự nhiên và dường như điều đó đã làm họ mất dần đi sự giao
hòa giữa con người với thiên nhiên.
Và vì thế sẽ không xuất hiện them các tín ngưỡng thờ vạn vật hay thờ các hiện
tượng tự nhiên.
Vì phải làm việc với máy móc và yêu cầu cao nên hình thành con người ý thức, tác
phong làm việc khoa học, hợp lý, giải quyết công việc kịp thời chính xác, khách
quan, đúng pháp luật, cái lí đặt trên cái tình.
b.Về mặt tổ chức cộng đồng
Lối sống ít ổn định lâu dài đã làm mai một dần mối quan hệ tình cảm than thiết,
gắn bó trong cộng đồng.Mặc dù vậy nhưng lối sống trọng tình nghĩa vẫn còn tồn
tại trong cuộc sống. Nhưng con người hiện đại văn minh hơn với lối sống cởi mở,
hướng ngoại để tiếp thu những điều hay mới mẻ trong xã hội.

