VĂN MẪU LỚP 11
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC – KHÚC TRÁNG CA CỦA NHỮNG
NGƯỜI THẤT THẾ NHƯNG VẪN HIÊN NGANG
“Chết hết”, người đời thường nói vậy. cuối cùng ai cũng phải chết. Nhưng
những cái chết "không một tiếng vang", lại những cái chết để “tiếng thơm muôn
thuở”. Người nghĩa cần Giuộc năm xưa đứng dậy chống Pháp đã lựa chọn cái chết thật
đẹp: “Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác ưng
đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ”. thể nói toàn bộ bài Văn tế
nghĩa Cần Giuộc "khúc ca của những người thất thế nhưng vẫn hiên ngang” Phạm
Văn Đồng).
Thế là đã hơn một thế kỉ trôi qua. Cuộc khởi nghĩa của những người nông dân
Cần Giuộc đã thất bại. Họ phải nxuống giữa chiến trường trong cảnh "da ngựa
bọc thây, xác phàm vội bỏ”Họ những ni thất thế, đúng như vậy. Nhưng bài văn tế
nghĩa sĩ Cần Guộc của Nguyễn Đình Chiểu đã làm họ “sống lại" trong những hình tượng
đầy khí phách hiên ngang. Những tấm gương đại nghĩa vằng vặc như
răng sao ấy đã tạo cho i Văn tế âm hưởngcủa một khúc ca bi tráng. Người nghĩa
quân Cần Giuộc vốn chỉ những nông dân hiền lành, quanh năm: “Cui cút m ăn, toan
lo nghèo khó, chưa quen cung ngựa đâu tới trưng nhung… ". Ấy thế mà khi giặc đến h
liền trở thành những dũng sĩ.họ, nhà thơ nhấn mạnh tinh thần hoàn toàn tnguyện, tự
giác:
Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;
Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi chuyến này dốc ra tay bô hổ
Trong khi triều đình khiếp nhược, chỉ tính bài nhượng bộ, đầu hàng thọ đã t
động đứng dậy Tinh thần: “Mến nghĩa lùm quân chiêu mộ" của những người dân cày này
thật đáng khâm phục. Cuộc chiến đấu của họ tất nhiên đầy khó khan: Lực lượng địch,
ta quá chênh lệch, thiếu kỹ thuật quân sự, thiếu quân trang, vũ khí. Đoàn nghĩa quân nông
dân chán đất nghèo khổ, lam lũ này gần như đi thẳng đến chiến trường tnhững Lúp lều
rách nát và những luống cày của họ, không cờ reo, trống giục, không mũ nón, không giáp
trụ, cùng chẳng gươm giáo, cung tên…
Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu bầu ngòi
Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gỗ
Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi”, “gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay.
Thế mà họ đã làm cho kẻ thù thất điên bát đảo, khiến cho “mã tà ma ní hồn kinh”
Sức mạnh của hkhông khác ngoài sức mạnh tinh thần. Họ đã lấy gan vàng dvới
dạn sát, lấy lòng căm hờn chống lại "tàu thiếc, tàu đồng" Nguyễn Đình Chiểu không quên
họ những nông dân "Mùi tinh chiên vấy đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét
cỗ". Người dân y vốn hiền lành, nhưng một khi ng yêu nước họ được khơi dậy t
sức mạnh căm thù trờ nên thật dữ dội:
Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem ống khỏi chạy đen si, muốn ra cắn cố
Lòng m thù ấy đã đem đến cho họ sdũng cảm sức mạnh phi thường. kẻ
đâm ngang, người chém ngược", họ tả xuug hữu đột, tung hoành ngang dọc như chỗ
không nời: "Đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không”, "xô cửa xông vào, Liều mình
như chẳng cỏ”.
Nguyễn Đình Chiểu đã ca ngợi những nghĩa nông dân bằng những hình tượng
thật chói lọi những lời văn thật trang trọng, đẹp đẽ. Nhưng ông không che giấu sự thật
đau lòng. Bài văn còn lời ai điếu, tiếng khóc của Đồ Chiểu trước sthất thế i
chốt của nghĩa quân Cần Giuộc. Cái chết của họ khiến cho con người,đất trời, cây c
cũng phải động lòng:
Đoái sông Cần Giuộc: cỏ cậy mấy dặm sầu giăng,
Nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai hàng lụy nhỏ.
Lắng nghe trong lời văn của Đồ Chiểu như có tiếng khóc, tiếng nấc nghẹn
ngào:
Ôi thôi thôi!
Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;
đồn Lang Sa một khác đùng trá hờn, tui phận hạc trôi theo dòng nước đổ.
Đau đớn bấy!Mẹ già ngồi khóc trẻ,, ngọn đèn khuyaleo lét trong lều; não nùng
thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ
Cái bi bao trùm lên cả đoạn thơ, nhưng cái bi đây không phải cái bi bi
tráng. Đây nỗi đau lớn Tổ quốc, vì nhân dân. Đau mà không khiến người ta nản
lòng, thối chí, bi mà giục giã mọi nời đứng dậy hiên ngang cuộc khởi nghĩa đã thất bại.
Nhiều nghĩa quân đã phải ngã xuống. Nhưng chết vinh con hơn sống nhục:
Thà thác đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn chịu chữ
đầu Tây, ở với mun di rất khổ.
Chết như thế thì chết cũng như còn, "danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen”,
''tiếng hay trái muôn đời ai cũng mộ”. Chết nthế để lại tấm gương chói lọ, sức
động viên lớn đối với cuộc chiến đấu sẽ còn tiếp tục:
Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh
Ca ngợi người anh hùng chống Mĩ, Nguyễn Văn Trỗi, nhà thơ Tố Hữu viết
Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hóa thành bất tử.
(Hãy nhớ lấy lời tôi)
Đó cũng cái chốt của những nghĩa cần Giuộc, những con người thất thế
nhưng vẫn hiên ngang" được phản ánh trong bài Văn tế bi tráng của Nguyễn Đình Chiểu.
cảm ơn nhà thơ mù Đồ Chiểu đã bằng tấm lòng và tài năng nghệ thuật để làm sống dậy cả
một thời bi thương oanh liệt. Ông đã bất tử hóa những người đã khuất, tạc dựng họ
thành một cụm tượng đài bền vững cao đẹp trong thơ cũng như trong lòng người đọc
mãi mãi về sau.