15
TP CHÍ KHOA HC
Đào n Trưởng, Đinh Văn Luân (2023)
Khoa hc Xã hi
(31): 15 - 20
VỊ TRÍ, VAI TRÕ CỦA KHU TỰ TR TÂY BẮC TRONG CÔNG CUỘC
XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC
Đào Văn Trƣởng1, Đinh Văn Luân2
1Trường Đại hc Tây Bc
2Trường Đại hc Phòng cháy Cha cháy
Tóm tt: Khu t tr Tây Bc tin thân (Khu T tr Thái - Mèo) vai trò đóng góp quan
trng trong công cuc xây dng ch nghĩa hội min Bc (1955-1975). Trên s đó, bài viết
tp trung nghiên cứu quan đim, ch trương của Đảng, Chính ph, Ch tch H Chí Minh v vic
thành lp Khu t tr Tây Bc trong cách mng; tng kết, đánh giá v trí, vai trò đóng góp của
Khu t tr Tây Bc đối vi công cuc xây dng ch nghĩa xã hội giai đoạn 1955-1975.
T khóa: Cách mng, ch nghĩa xã hi, khu t tr, Tây Bc.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tây Bc mảnh đất giàu truyn thng
lch sử, văn hóa, nơi sinh sống ca nhiều đồng
bào dân tộc. Đây là vùng đất phên du cc Tây
ca T quc với đường biên gii quc gia tiếp
giáp vi các tnh Bc o khu vc Vân
Nam (Trung Quốc). Do đó, Tây Bắc v trí
chiến lược trong bo v độc lp, ch quyn an
ninh quc gia, thng nht, toàn vn lãnh th
ca T quc, m rộng giao lưu hợp tác quc
tế. Nhn thức được điều đó, trong sự nghip
cách mạng, Đảng, Nhà nước, Chính ph
Ch tch H Chí Minh hết sc coi trng v trí,
vai trò và tm quan trng ca khu vc Tây Bc
đối vi s nghip cách mng; luôn quan tâm,
tạo điều kiện cho đồng bào nhân dân các
dân tc y Bc phát huy truyn thống đoàn
kết, bình đẳng, tương thân, tương ái; khơi dậy
và phát huy tinh thần yêu nước, ý chí t lc, t
ng, tích cc, ch động, năng động, sáng
to của đồng bào và nhân dân các dân tc Tây
Bc trong công cuộc đấu tranh gii phóng dân
tc, trong s nghip xây dng bo v T
quc xã hi ch nghĩa.
Chính vy, sau chiến thắng Điện Biên
Ph (năm 1954); nhằm thc hin ch trương,
chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết ca
Đảng; chng lại âm mưu chia rẽ, y mất đoàn
kết dân tc, làm tht bại âm mưu tái lập “Xứ
Thái t trị” của các thế lực thù đch thân Pháp.
Ngày 29 tháng 4 năm 1955, Chủ tch H Chí
Minh đã ra Sc lnh s 230-SL V vic thành
lp Khu t tr Thái-Mèo tin thân ca Khu t
tr Tây Bắc. Đến ngày 27 tháng 10 năm 1962,
ti k hp th năm Quốc hội khóa II đã quyết
định đổi tên Khu t tr Thái - Mèo thành Khu
t tr Tây Bắc. Trong “Thư gửi đồng bào Khu
t tr Thái-Mèo” ngày 7 tháng 5 năm 1955,
Ch tch H Chí Minh viết: “Nay do Đảng đề
ngh Chính ph quyết định lp Khu t tr
Thái - Mèo. Mục đích lập Khu t tr Thái -
Mèo là: làm cho các dân tc anh em dn dn
t qun ly công vic của mình, đ mau
chóng phát trin kinh tế văn hoá của nh,
để thc hin các dân tộc bình đẳng v mi
mt...Khu t tr Thái - Mèo ca chúng ta ngày
nay dân ch, do nhân dân làm ch. khác
hn với “Xứ Thái t trị” giả hiu của địch
mục đích để chia r áp bc các dân
tộc”[4; tr.453]. Ngày 27 tháng 10 năm 1962,
Quc hi thông qua Ngh quyết đổi tên khu t
tr Thái Mèo thành khu t tr Tây Bc. S ra
đời ca Khu t tr Tây Bắc, đánh dấu bước
ngot lch s quan trọng đối vi s phát trin
ca khu vc Tây Bc; khẳng định v trí, vai trò
quan trng trong s nghip cách mng ti Vit
Nam.
2. NI DUNG
2.1. Khái quát quá trình ra đi ca Khu t tr
Tây Bc
Tây Bc khu vc thuc phía Tây Bc
ca Vit Nam, tài nguyên thiên nhiên
phong phú, v trí đa chính tr quan trng trong
bo v ch quyn an ninh quc gia, thng nht
toàn vn lãnh th ca T quc. Xét v mt v
trí địa lý, điều kin t nhiên, khu vc Tây Bc
bao gm 6 tnh: Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên,
Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, vi truyn thng
bn sắc văn hóa đa dạng, nơi sinh sống ca
hơn 20 dân tộc anh em như: Kinh, Thái,
16
ng, H'Mông, y, Nùng, Dao, Hoa, Lào,
Khơ Mú, Nhì...Do đó, trong sut chiu dài
lch s cách mng, Tây Bc có v trí, vai trò
cùng quan trọng, được Đảng, Chính ph
Ch tch H C Minh quan tâm. Riêng Ch
tch H Chí Minh đã trên 20 bài viết, thư,
điện gửi đồng o, cán b, chiến nhân
dân các dân tc Tây Bắc như: Thư gửi cán b
chiến chiến dch y Bắc (tháng 10 năm
1952); Thư gửi các chiến và dân công ở mt
trn y Bắc (tháng10 năm 1952); Thư gửi b
đội dân công mt trn y Bắc đồng
bằng (tháng 12 năm 1952); Bài nói tại Hi
ngh tng kết chiến dch y Bắc (năm 1953);
Thư gi quân dân Tây Bắc (năm 1953);
Thư khen ngợi b đội, dân công, thanh niên
xung phong đng bào y Bc đã chiến
thng v vang Đin Biên Ph (năm 1954);
Thư gửi đồng bào Khu T tr Thái Mèo (năm
1955); Thư gửi đồng bào Khu T tr Thái Mèo
nhân k nim một năm thành lập (ngày 7 tháng
5 năm 1956); Bài nói chuyện ti cuc mít tinh
Thun Châu (tỉnh Sơn La ngày 7 tháng 5
năm 1959); Bài nói chuyện vi nhân dân, b
đội, cán b tại Yên Châu (Sơn La ngày 8 tháng
5 năm 1959); Thư gửi đng bào, b đội n
b Tây Bắc (năm 1965); Thư khen quân
dân Yên Bái bắn rơi chiếc máy bay th 800
ca gic M trên min Bắc (năm 1965)…
Trong thi k xâm lược Vit Nam, thc
dân Pháp thc hiện chính sách “chia đ trị”,
“dùng người Việt đánh người Vit, ly chiến
tranh nuôi chiến tranh”, lợi dng vấn đ dân
tộc, văn hóa, tôn giáo, lãnh th gây chia r
khối đại đoàn kết toàn dân tc. Chúng lp ra
các khu vc t tr gi hiệu như “Xứ ng t
trị”, “Xứ Nùng t trị”; trong đó tại khu vc
Tây Bc chúng lập ra “Xứ Thái t trđể mua
chuc, d d, lôi o qun chúng tham gia;
nhm chia r các dân tc thiu s với người
Kinh, phá hoi khối đoàn kết dân tộc; ngăn
chn ảnh hưởng của Đng cách mng trong
quần chúng nhân dân, đặc biệt là đồng bào các
dân tc thiu s. Nhm phá tan âm mưu thâm
độc đó của thc dân Pháp, Trung ương Đng
Ch tch H Chí Minh đã quyết định m
Chiến dch Tây Bc (năm 1952) giải phóng
khu vc Tây Bc khi s cai tr tàn bo ca
thc dân Pháp. Sau thng li ca Chiến dch
Tây Bắc, ny 28 tháng 1 năm 1953, Ch tch
H Chí Minh đã Sc lnh s 134-SL V
vic thành lp Khu Tây Bc gm các tỉnh: Sơn
La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái. Trong đó quy
định: “Điều 1: Để cng c căn cứ địa y Bc
mi gii phóng, nay thiết lp Khu Tây Bc
gm các tnh o-cai, Yên-bái, Sơn-la Lai-
châu tách ra ngoài Liên khu Vit Bắc.”[6].
Khu Tây Bắc được thành lập (năm 1953)
thuộc khu địa giới các đơn vị kháng chiến
hành chính trong cuc kháng chiến chng thc
dân Pháp 1946-1954, góp phn quan trng vào
thng li ca chiến dch Đin Biên Ph năm
1954.
Sau chiến thắng Điện Biên Ph (năm 1954)
toàn b khu vc Tây Bắc được gii phóng, m
ra trang s mi trong quá trình hình thành
phát trin ca khu vc Tây Bắc. Đó thời k
độc lp, t do, hòa bình cùng nhân dân min
Bc xây dng ch nghĩa hội, tiếp tc thc
hin nhim v cách mng dân tc dân ch
nhân dân gii phóng hoàn toàn min Nam
thng nhất đất nước, ci to, xây dng ch
nghĩa hội min Bắc đưa cả nước đi lên
ch nghĩa hi. Tuy nhiên, sau gần 70 năm
cai tr, áp bc, bóc lt ca thc dân Pháp; khu
vc y Bc chu ảnh hưởng nng n bi
chính sách cai tr thâm độc, tàn bo ca chế độ
thc dân, phong kiến, hu qu ca chiến tranh
tàn phá làm cho cuc sng của đồng bào các
dân tc y Bc gp rt nhiều khó khăn, kinh
tế ch đạo nn nông nghip nghèo nàn, lc
hậu; trình độ dân trí còn thp, tình trng nghèo
đói, mù chữ, các h tc lc hu hết sc nghiêm
trng, tình hình an ninh chính tr phc tp, tình
trng chia r, mất đoàn kết trong qun chúng
nhân dân thường xuyên xy ra; li dng vn
đề dân tc, lãnh th, các thế lực thù địch, lc
ng th ph, bit kích, thám báo cùng các
phn t tay sai phản động ra sc chng phá
chính quyn cách mng. Chúng t chc nhiu
v “Xưng vua”, “Đón vua”, đòi tái lập “Xứ
Thái t trị” t thi Pháp thuc, gây mt n
định an ninh chính tr khu vc Tây Bắc đe da
trc tiếp đến an ninh quốc gia, độc lp, ch
quyn, thng nht toàn vn lãnh th ca T
quc. Mt khác, h thng chính quyn cách
mng mới được thành lp còn hết sc non tr,
chưa nhiu kinh nghim thc tế trong lãnh
đạo, t chc thc hiện “Năm 1955, toàn Khu
16 châu (huyn) thì 9 châu vn hoàn toàn
chưa thành lập được Chi b Đảng; trong tng
s 316 xã mi ch 39 xã thành lập được Chi
b đảng s (chiếm gn 8%); s ng đảng
viên ch chiếm 0,08% dân số; Đoàn thanh
niên, Hi ph n, Mt trn T quốc chưa được
hình thành. bit, mt s địa phương vùng
biên gii chính quyền sở non yếu đến mc
không kh năng tổ chức lãnh đo nhân
dân các dân tc phát trin sn xut, xây dng
cuc sng, ổn định xã hội”[2;3].
17
Trước tình hình trên, Đảng, Chính ph
Ch tch H Chí Minh ch trương thành lập
chính quyn khu t tr ti Tây Bc nhm làm
tht bại âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân
tc ca các thế lực thù địch; phát huy tinh thn
đoàn kết, tích cc, ch động của đồng bào
nhân dân các dân tc Tây Bc; khc phc hu
qu chiến tranh; ổn định cuc sng, tái thiết,
phát trin toàn din khu vc Tây Bc. Ngày 28
tháng 9 năm 1954, Bộ Chính tr Trung ương
Đảng đã ra Nghị quyết v vic thành lp Khu
t tr Thái-Mèo. Ngày 29 tháng 4 năm 1955,
thay mt Chính ph, Ch tch H CMinh đã
ký ban hành Sc lnh s 230-SL V vic thành
lp khu T tr Thái - Mèo với 4 Chương, 21
Điu. Trong đó, quy định chi tiết v tên Khu t
trị, địa giới, địa v hành chính; t chc chính
quyn Khu t tr; thc hin quyn li t tr v
chính tr, quân sự, văn hóa, kinh tế, tài chính;
nguyên tắc lãnh đạo ca Chính ph trung ương
đối vi Khu t trị…
Khẳng định sở, mục đích, ý nghĩa của
vic thành lp Khu t tr nhằm tăng cường
đoàn kết gia các dân tc tạo điều kin cho
các dân tc y bc tiến b mau chóng v
mi mặt, “Nay lập trong phạm vi nước Vit
Nam dân ch cng hoà khu vc t tr ca các
dân tc y bc, gi Khu t tr Thái
Mèo”[7]. Theo Chủ tch H Chí Minh, mc
đích chủ yếu ca vic thành lp Khu T tr
Thái - Mèo là: “Làm cho các dân tộc anh em
dn dn t qun lý ly mi công vic ca
mình, để mau chóng phát trin kinh tế văn
hoá của mình, để thc hin các dân tc bình
đẳng v mi mt. Khu t tr Thái Mèo là mt
b phận khăng khít trong đại gia đình Việt
Nam”[4; tr.453].
Khu t tr Thái - Mèo mt b phn ca
nước Vit Nam dân ch cng hoà. V mt v
trí không gian lãnh th: Phía Bc giáp vi
Trung Quc, phía y phía Nam giáp Lào,
phía Đông-Nam giáp vùng Mường Hoà Bình,
phía Đông y núi Phan-si-pan ngăn cách
vi các dân tc tp trung lưu vực sông Hng;
Khu t tr bao gồm 16 châu: “Mường-tè,
ng-lay, Sình-hồ, Điện-biên, Qunh-nhai,
Sông Mã, Tun-giáo, Thun-châu, Mường-la,
Mai-sơn, Yên-châu, Mc-châu, Phù-yên (tc
toàn b hai tỉnh Sơn La, Lai Châu), Phong-
th (Lao-cai), Than-Uyên, Văn-chn (Yên
Bái)”[7]. Chính quyền nhân dân khu t tr
phải tuân theo đường li, chính sách chung ca
nước Vit Nam dân ch cng hoà, qun
nhng vic trong khu t tr.
Ngày 27 tháng 10 năm 1962, Quốc hi
thông qua Ngh quyết đi tên khu t tr Thái
Mèo thành Khu t tr Tây Bc thành lp ba
tnh trong khu bao gm: Tnh Lai Châu gm 7
huyện: Điện Biên, Tuần Giáo, Mường Tè, Ta
Chùa, Mường Lay, Sình H Phong Th.
Tỉnh Sơn La gồm th Sơn La 7 huyện:
Qunh Mai, Thuận Châu, Mường La, Mai
Sơn, Sông Mã, Yên Châu, Mộc Châu. Tnh
Nghĩa Lộ gm 4 huyn: Than Uyên, Cang
Chải, Văn Chấn Phù Yên. Khu t tr lúc đó
din tích 67.300 km², vi s dân 438.000
người. Ngày 27 tháng 12 năm 1975, cùng vi
Khu t tr Vit Bc, Khu t tr Tây Bc gii
th kết thúc vai trò lch s sau hơn 20 năm tn
ti và phát trin.
Như vậy, vic thành lp Khu t try Bc
(tin thân Khu t tr Thái Mèo) mt ch
trương đúng đn, th hin s quan tâm ca
Đảng, Chính ph và Ch tch H Chí Minh đi
với đồng bào các dân tc Tây Bc; phù hp
với điều kiện, đặc điểm, nh hình thc tin hết
sức khó khăn, phức tp ca khu vc y Bc
khi đó; đồng thời ngăn chặn âm mưu chia rẽ
khối đại đoàn kết dân tc ca các thế lc thù
địch, đáp ng yêu cu lch s ca s nghip
cách mng nguyn vng của đông đảo nhân
dân các dân tc y Bc trong công cuc ci
to và xây dng ch nghĩa xã hội.
2.2. V trí, vai trò ca Khu t tr Tây Bc
trong công xây dng ch nghĩa xã hội
Sau năm 1975, thực hin ch trương thống
nhất đất nước v mặt Nhà nước, đưa c nước
đi lên chủ nghĩa hi, ti k hp th hai
Quc hội khóa V đã phê chuẩn ch trương xóa
b đơn vị hành chính cp khu ti các Khu t tr
hp nht 1 s tỉnh; trong đó vic xóa b
Khu t tr Tây Bc, Khu t tr Vit Bc.
Tri qua 20 năm y dựng phát trin,
Đảng b, chính quyn và nhân dân các dân tc
Khu t tr Tây Bắc đã đạt được nhiu thành
tu quan trọng, đóng góp vào thắng li trong
s nghip cách mng dân tc dân ch nhân
dân, công cuc xây dng ch nghĩa hội
min Bc; cùng vi nhân dân min Bc làm
tròn nghĩa vụ ca hậu phương lớn vi tin
tuyến ln; chi vin sc người, sc ca cho tin
tuyến min Nam, góp phn quan trng vào gii
phóng hoàn toàn min Nam; kết thúc cuc
kháng chiến chng M cứu nước sau 21 năm
(1954-1975) 30 năm chiến tranh gii phóng
dân tc (1945-1975). Trong đó, v trí, vai trò
đóng góp của Khu t tr Tây Bc đối vi
công cuc y dng ch nghĩa hội min
Bắc được th hin c th như sau:
Th nht, Khu t try Bắc ra đời gi vai
trò quan trng trong vic phát huy truyn
thống đoàn kết; tinh thần yêu nước, tích cc,
ch động, năng động, sáng to của đồng bào
các dân tc Tây Bc trong cuc cách mng dân
18
tc dân ch nhân n cũng như trong công
cuc xây dng ch nghĩa hi min Bc.
Như sinh thời, Ch tch H Chí Minh luôn kêu
gọi đồng bào, cán b, chiến s và nhân dân các
dân tc y Bc phát huy truyn thống đoàn
kết, tinh thần yêu nước ch nghĩa anh hùng
cách mng n lc c gng thc hin thng li
cuc cách mng dân tc dân ch nhân dân, xây
dng và phát triển quê hương Tây Bắc ngày
một giàu đẹp, văn minh, m no, t do, hnh
phúc “Kháng chiến nht định thng lợi, nhưng
phải trường k gian kh, t lc cánh sinh.
Đồng bào, b đội cán b ta Tây Bc phi
hăng hái tham gia công cuộc kháng chiến để
cùng đồng bào, b đội cán b toàn quc
đánh đuổi gic y, gic M và tranh lại độc
lp cho T quc, hạnh phúc cho nhân dân”[3;
tr.336].
Th hai, Khu t tr Tây Bắc ra đời góp
phn gi vng s ổn đnh v chính tr, xây
dựng được h thng chính quyn dân ch nhân
dân vng chắc trong đồng bào và nhân dân các
dân tc ti khu vc Tây Bc; to dng nim tin
vng chc của nhân dân vào Đảng, Chính ph,
vào s nghip cách mng dân tc dân ch
nhân dân, xây dng bo v T quc xã hi
ch nghĩa. Theo đó, h thng t chc chính
quyn Khu t tr Thái Mèo 3 cp gm: Cp
khu, cp châu cp (b cp tnh) tn ti
trong khong thi gian t năm 1955 đến cui
năm 1962. Từ cui 1962 tr đi, hệ thng chính
quyn Khu t tr gm 4 cp: cp Khu, cp tnh,
cp huyn, cấp xã. Trong đó, cấp xã đơn vị
hành chính thp nht. Chính quyn Khu t tr
t chc theo chế độ n ch tp trung. B y
chính quyn Khu t tr gm: Hội đồng nhân
dân U ban hành chính. Tu theo s cn
thiết s t chc các ngành chuyên môn giúp
vic. Thành phn Hội đồng nhân dân phi
đủ đại biu các dân tc; cn chiếu c đến các
dân tộc ít người khi bu c U ban hành chính.
Trong giai đoạn 1955-1975 “Khu t tr y
Bắc 17 đại biu Quc hội khóa V (trong đó
13 dân tc thiu s), b máy U ban hành
chính các cp: S cán b người daan tc chiếm
76 - 80% (s cán b n tộc 20 năm tăng từ
865 lên 9575 người, s trình độ trung hc,
đại học là 934 người trong s 8722 người), s
cán b lãnh đạo các cấp tăng từ 375 người
(năm 1955) lên 4324 người (năm 1974)”[8].
Thứ ba, Khu tự trị Tây Bắc ra đời vai
trò quan trọng trong tuyên truyền, vận động
đồng bào các dân tộc Tây Bắc y dựng chế
độ mới, thực hiện các quyền tự do, dân chủ.
Với vị trí địa chiến lược quan trọng về chính
trị an ninh quốc phòng. Thực dân Pháp và
đế quốc M cùng tay sai phản động ra sức
chống phá Đảng, Nhà nước sự nghiệp cách
mạng; chúng âm mưu tái lập cái gọi “Xứ
Thái tự trị” do thực dân Pháp lập ra trước đây.
Chúng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, văn
hóa, nhân quyền, lãnh thổ y chia rẽ khối đại
đoàn kết dân tộc; cài cắm gián điệp, tung biệt
kích, gây phỉ, tung tin đồn thất thiệt, tuyên
truyền, xuyên tạc phá hoại đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước. Sắc lệnh số 230-SL ngày 29/4/1955
Về việc thành lập Khu ttrị Thái - Mèo (tin
thân ca Khu tự trị y Bắc) quy định: “Khi
Tổng tuyển cử bầu Quốc hội nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà, nhân dân các dân tộc
trong Khu tự trị quyền bầu cử và ứng cử.
Người các dân tộc trong Khu tự trị tuỳ theo tài
đức của mình và sự tín nhiệm của nhân dân, có
thể tham gia các quan của khu tự trị, các
quan của Chính phủ Trung ương. Chính
quyền Khu tự trị quyền mở trường huấn
luyện, cử người đi học, v.v... để đào tạo cán bộ
chính trị, quân sự chuyên môn cần thiết cho
mọi mặt công tác trong khu tự trị. Dựa trên
luật pháp chung của nước nhà, căn cứ vào
tình hình đặc biệt địa phương, chính quyền
khu tự trị được quyền quy định những luật lệ
riêng. Những luật lệ riêng nay sau khi được
Chính phủ Trung ương thông qua mới thi
hành”[7].
Thứ tư, Khu tự trị Tây Bắc ra đời có vai trò
quan trọng trong việc nghiên cứu, định hình
phát triển nền kinh tế tập thể hội chủ nghĩa,
nền tài chính phù hợp với đặc điểm, điều kiện,
hoàn cảnh thực tiễn của địa phương. Sắc lệnh
số 230-SL ngày 29/4/1955 quy định: Dưới chế
độ tài chính thống nhất của nước nhà, chính
quyền khu tự trị được quyền quản nền tài
chính trong khu tự trị, tức là tự quản lý thu, chi
trong khu tự trị. Khu tự trị sẽ trích một phần
trong số thu của mình để đóng góp vào ngân
sách toàn quốc; lúc cần thiết Chính phủ Trung
ương sẽ trích một phần trong ngân ch toàn
quốc để trợ cấp cho Khu tự trị. Ngân sách
hàng năm của Khu tự trị do Chính phủ Trung
ương duyệt y. Dưới chế độ kinh tế theo kế
hoạch xây dựng kinh tế chung của nước nhà,
khu tự trị sẽ kế hoạch kinh tế riêng đphát
triển nền kinh tế của khu, hợp với hoàn cảnh
và điều kiện riêng của khu tự trị.
Trong 20 năm xây dựng, phát triển, nền
kinh tế tập thể hội chủ nghĩa tại Khu tự trị
Tây Bắc đã bước đầu hình thành đạt được
những kết quả tích cực. Từ năm 1954 thực
hiện cải cách dân chủ xóa bỏ chế độ bóc lột
cuông nhốc (hay chế độ Phìa Tạo), xóa bỏ
ruộng chức, chia ruộng cho nông dân lao động,
đã đưa 79% hộ nông dân vào hợp tác nông
19
nghiệp - 50% số hợp tác lập được kế hoạch
sản xuất hàng năm, thực hiện 3 khoán - những
hợp tác tiên tiến như Nậm Mùn, Bản Phủ
(Lai Châu), Púng Luông, Cao Đa (Nghĩa Lộ),
suối Lìn, Kim Chung (Sơn La)… “Năm 1975,
giá trị sản lượng nông nghiệp tăng 228%, bình
quân hàng năm tăng 16%, diện tích trồng lúa
tăng gấp 7 lần, diện tích hoa màu tăng 2 lần.
Toàn khu 195 hợp tác xã đạt trên 5 tấn
thóc/1 ha. Đã hình thành các vùng sản xuất
chuyên canh lớn như bò, chè Mộc Châu, Cam
Đường, vùng chè Văn Chấn, vùng lúa lợn
Điện Biên, vùng ngô Sản…Hàng năm khai
thác 28000 m3 gỗ, 2,5 triệu cây tre nứa,
7000m3 củi, 13 lâm trường, 50 hợp tác xã
nghề rừng. Cây chè cả khu có 5000ha thu 7000
- 8000 tấn/ năm. Về chăn nuôi: nếu như trước
thời điểm thành lập Khu tự trị y Bắc (năm
1954); toàn khu mới chỉ 63.000 con trâu,
28.000 con bò, 5000 ngựa, 137.000 lợn thì đến
năm 1975, toàn khu 140.000 trâu, 43.000
bò, 52.000 ngựa, 313.000 lợn. Hằng năm cung
cấp cho miền xuôi: 2000 con trâu, cày kéo,
trên 2000 tấn trâu bò thịt”[8].
Đảm bảo cung cấp cho 1 đầu người dân
được cung cấp hàng năm 6 kg muối; 4 mét vải,
3 kg dầu hỏa. Về công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, công nghiệp địa phương như sản xuất
điện, khí, vật liệu xây dựng, may mặc, chế
biến nông sản từng bước hình thành phát
triển: Nếu như năm 1955, toàn khu mới xây
dựng được một xí nghiệp đầu tiên nghiệp
khí Thuận Châu (Sơn La) với giá trị sản
lượng khoảng 7000đ/năm, (giá 1kg gạo 3
hào); 1 nhà máy thủy điện 24 KW, thì đến năm
1975, toàn khu đã xây dựng được 30 trạm thủy
điện nhỏ từ 5 50 KW, 250 điểm khí nhỏ,
sản xuất trên 40 loại sản phẩm đạt trị giá là 25
triệu đồng ( năm 1974). Hệ thống giao thông
được sửa chữa, nâng cấp, cải tạo, làm mới góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế - hội, thay
đổi diện mạo khu vực Tây Bắc so với trước.
Đã mở được hệ thống đường ô liên tỉnh,
xuống tới huyện gần 3000km[8]. Trong đó,
tỉnh Sơn La đã mở đường lên vùng cao Cò Mạ,
Nghĩa lộ mở đường lên Trạm Tấu, Lai Châu
mở đường lên Mường Tè, y hàng trăm cầu
cống lớn phục vụ nhu cầu đi lại, phát triển
kinh tế, sản xuất.
Thứ năm, Khu tự trị Tây Bắc ra đời vai
trò quan trọng trong việc động viên nhân dân
các dân tộc Tây Bắc xây dựng và phát triển lực
lượng quân sự tại địa phương thực hiện
nghĩa vụ quân sự với Nhà nước. Sắc lệnh số
230-SL ngày 29/4/1955 quy định: Dưới chế độ
quân sự thống nhất của nước nhà, chính quyền
Khu tự trị được tổ chức bộ đội địa phương,
dân quân du kích và công an Khu tự trị, để bảo
vệ an toàn của Khu tự trị giữ gìn trật tự
trong Khu. Bộ đội địa phương, dân quân du
kích công an Khu tự trị chủ yếu phải lấy
người các dân tộc của Khu tự trị tổ chức
nên. Bộ đội địa phương dân quân du kích
Khu tự trị những bộ phận trong Quân đội
nhân dân Việt Nam, thuộc quyền chỉ đạo tối
cao của Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh. Công an
Khu tự trị một bộ phận trong tổ chức công
an toàn quốc thuộc quyền chỉ đạo của Bộ
Công an. Theo báo cáo 20 năm hoạt động của
khu tự trị Tây Bắc, ngày 19-1-1976 của U
ban Hành chính khu: Lực chiến đấu, bộ đội địa
phương, dân quân du kích tại Khu tự trị Tây
Bắc không ngừng được củng cố, tăng cường,
sẵn sàng chiến đấu góp phần làm thất bại cuộc
chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên
chiến trường miền Bắc; chi viện sức người,
sức của cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước tại miền Nam “Toàn khu 82 xã trực
tiếp chiến đấu, 16 xã bắn rơi y bay Mỹ và
21 bắt sống giặc lái, sản xuất được giữ
vững, huy động 562000 lượt người với 95
nghìn mét khối vật liệu đá đảm bảo giao thông
phục vụ chiến đấu”[8].
Thứ sáu, Khu tự trị Tây Bắc ra đời vai
trò quan trọng trong việc nghiên cứu, bảo tồn,
phát huy giá trị sức mạnh văn a truyền
thống của đồng bào nhân dân c dân tộc
Tây Bắc; đẩy mạnh phát triển văn hóa, giáo
dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân góp
phần quan trọng thực hiện thắng lợi sự nghiệp
cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, xây
dựng chủ nghĩa xã hội tại miền Bắc. Sắc lệnh
số 230-SL ngày 29 tháng 4 năm 1955 quy
định: Mỗi dân tộc trong khu tự trị quyền tự
do tín ngưỡng quyền giữ gìn hoặc cải
thiện phong tục, tập quán của mình. Những cải
thiện về phong tục, tập quán một dân tộc
nào, đều phải căn cứ vào ý nguyện của đại đa
số nhân dân dân tộc đó ý kiến của những
người uy tín trong nhân dân. Tuyệt đối
không được mệnh lệnh cưỡng ép. Chữ Thái
chữ quốc ngữ đều dùng trong công việc hành
chính, tuyên truyền, giáo dục (trường hợp nào
chữ Thái tiện thì dùng chữ Thái; trường hợp
nào dùng chữ quốc ngữ tiện thì dùng chữ quốc
ngữ). Đối với các dân tộc không chữ riêng,
sẽ nghiên cứu cách phiên âm tiếng nói của các
dân tộc đó. Các dân tộc đều quyền dùng
tiếng nói chữ viết của dân tộc mình trong
mọi việc. Chính quyền Khu tự trị quyền lập
trường học, mở nhà thương, tổ chức những
quan văn hoá, hội, v.v... của các dân tộc
trong khu tự trị.