intTypePromotion=4

William Shakespear and John Milton

Chia sẻ: Nguyen The Ky | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:15

0
128
lượt xem
22
download

William Shakespear and John Milton

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

William Shakespeare (rửa tội ngày 26 tháng 4 năm 1564 – 23 tháng 4 năm 1616) là nhà thơ và nhà soạn kịch người Anh lừng danh thế giới. Ông viết khoảng 38 vở kịch và nhiều loại thơ khác, đặc biệt là thơ sonnet). William Shakespeare sinh ra và lớn lên ở Stratford-upon-Avon, là con trai của John Shakepeare, một thợ làm găng tay và ủy viên hội đồng địa phương đến từ Snitterfield và Mary Arden, con gái của một chủ đất giàu có. Ngày sinh của ông thường được cho là vào ngày Thánh George- 23 tháng 4....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: William Shakespear and John Milton

  1. William Shakespeare William Shakespeare (rửa tội ngày 26 tháng 4 năm 1564 – 23 tháng 4 năm 1616) là nhà thơ và nhà soạn kịch người Anh lừng danh thế giới. Ông viết khoảng 38 vở kịch và nhiều loại thơ khác, đặc biệt là thơ sonnet). Tiểu sử William Shakespeare sinh ra và lớn lên ở Stratford-upon-Avon, là con trai của John Shakepeare, một thợ làm găng tay và ủy viên hội đồng địa phương đến từ Snitterfield và Mary Arden, con gái của một chủ đất giàu có. Ngày sinh của ông thường được cho là vào ngày Thánh George- 23 tháng 4. Mặc dù không còn những ghi chép về quãng đời đầu tiên của ông nhưng các nhà viết tiểu sử đồng ý rằng Shakespeare đã được giáo dục tại trường King's New ở Stratford cách nhà một phần tư dặm. Vào thời nữ hoàng Elizabeth, các trường dạy ngữ pháp có chất lượng không đồng nhất nhưng có một khung chương trình được quy định bởi luật pháp áp dụng trên toàn nước Anh, và trường cũng cung cấp chương trình giáo dục chuyên sâu về ngữ pháp La tinh và môn học về thời kỳ cổ đại. Đến năm 18 tuổi vì hoàn cảnh gia đình phải thôi học. Vào năm 18 tuổi, Shakespeare cưới Anne Hathaway, 26 tuổi. 6 tháng sau khi kết hôn, Anne sinh được một người con gái, Susanna, được rửa tội vào ngày 26 tháng 5 năm 1583. Cặp song sinh một trai Hamnet và một gái Judith được sinh ra hai năm sau đó và được rửa tội vào ngày 2 tháng 2 năm 1585.Hamnet mất vì một nguyên nhân không rõ vào năm 11 tuổi và được chôn vào ngày 11 tháng 8 năm 1596. Năm 1585, ông rời quê lên London đang lúc kịch trường ở London trong thời kỳ sôi nổi. Bước đầu ông xin làm chân giữ ngựa, soát vé ở cổng rạp hát. Sau đó làm nghề nhắc tuồng, thợ sửa bản in, dần dần lên làm diễn viên, đạo diễn và nhà viết kịch. Lợi nhuận thu từ rạp hát là nguồn sống suốt đời của ông. Khi đời sống đã khá, ông củng cố địa vị xã hội bằng cách mua một tước quý tộc nhỏ. Lúc ở London, ông được Bá tuớc Southampton giúp đỡ. Dưới mái nhà của bá tước, có một người Ý lưu vong là Giovani Florio. Ông này đã giúp Shakespeare hiểu biết thêm về văn học Phục Hưng của Ý và Pháp. Cuộc sống đang êm đềm thì xảy ra biến cố. Đó là vụ án Essex và Southampton (1601). Essex bị kết tội gây loạn chống triều đình Elizabeth I. Shakespeare cũng bị tình nghi có liên quan vì vở kịch Richard III được diễn ra một hôm trước đó. Essex bị chặt đầu, Southampton bị tù chung thân, còn Shakespeare trốn biệt[cần dẫn nguồn]. Năm 1603 Elizabeth qua đời, James VI của Scotland nối ngôi và trở thành James I của Anh; khi đó Bá tước Southampton được trả tự do và trọng dụng. Shakespeare xuất hiện trở lại với đoàn kịch của mình và được triều đình hậu đãi. 1
  2. Năm 1612 Shakespeare rời London sau 1/4 thế kỷ hoạt động sân khấu và trở về Stratford để sống những năm cuối đời. Ông mất ngày 23 tháng 4 năm 1616. Tác phẩm Trong đời mình, Shakespeare viết hơn 40 vở kịch, tất cả đều dưới dạng thơ, và được chia thành 3 loại: Tầm ảnh hưởng Cống hiến của Shakepeare in đậm dấu ấn lên sân khấu và văn chương các thế hệ sau. Ví như ông đã phát triển kịch nghệ cả về xây dựng nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ và thể loại. Cho tới trước vở Romeo và Juliet, lãng mạn không được xem là đề tài giá trị đối với bi kịch. Độc thoại đã từng được sử dụng chủ yếu để truyền đạt thông tin về nhân vật và sự kiện nhưng Shakespeare đã sử dụng nó để khám phá tâm trí nhân vật. Tác phẩm của Shakepeare ảnh hưởng sâu sắc tới thi ca thế hệ sau. Những nhà thơ trường phái lãng mạn đã nỗ lực để làm sống lại kịch thơ Shakespeare, dù đạt được rất ít thành công. Nhà phê bình Gorge Steiner phát biểu rằng tất cả các vở kịch thơ từ Coleridge đến Tennyson chỉ là những "phiên bản mờ nhạt viết dựa trên các chủ đề của Shakespeare". Shakespeare đã ảnh hưởng lên những nhà viết tiểu thuyết Thomas Hardy, William Faukner và Charles Dickens. Dickens thường trích dẫn Shakespeare, có thể rút ra 25 trong số các tựa tác phẩm của ông là lấy từ các tác phẩm của Shakespeare. Các bài Sonnet của Shakespeare Các bài Sonnet của Shakespeare, hay đơn giản là các bài Sonnet, là một bộ các bài thơ được viết dưới dạng sonnet (bài thơ có 14 câu có vần với nhau theo một kiểu cách xác định nào đó) bởi William Shakespeare về những đề tài như tình yêu, cái đẹp, chính trị, và cái chết. Có lẽ chúng đã được sáng tác trong một khoảng thời gian là vài năm. Tất cả 154 bài thơ đã xuất hiện trong một tuyển tập năm 1609, gồm 152 bài sonnet chưa từng được xuất bản trước đó và hai bài thơ, số 138 ("When my love swears that she is made of truth") và 144 (Two loves have I, of comfort and despair), đã được xuất bản trong một hợp tuyển năm 1599 có tựa đề The Passonate Pilgrim. Các bài sonnet đã được xuất bản dưới những điều kiện lịch sử không rõ ràng. Dù các tác phẩm này được viết bởi Shakespeare, không ai biết liệu nhà xuất bản, Thomas Thorpe, đã sử dụng một bản thảo được Shakespeare chấp thuận hay một bản sao không được ông cho phép. Hơn nữa, có một lời đề tặng bí ẩn ở phần đầu đề cập đến một "Ông M.H." nào đó như là "cha đẻ duy nhất" ("the onlie begetter") của những bài thơ được xuất bản bởi Thomas Thorpe, nhưng không ai rõ người này là ai. Lời đề tựa nói rằng nhà thơ này là người "Bất tử" ("Ever- living"), đây là cụm từ đã đổ thêm dầu vào cuộc tranh cãi về liệu Shakespeare có phải là tác giả của những bài sonnet này hay không vì nó thường đươc sử dụng để miêu tả người đã khuất (Chính Shakespeare đã dùng cụm từ này theo cách ấy trong Henry VI, phần 1 (IV, iii, 51- 2) miêu tả vua Henry V băng hà là "người sống mãi của trí nhớ" (that ever-living man of 2
  3. memory"). Những người tranh cãi về nguồn tác giả tin rằng cụm từ này chỉ ra rằng tác giả thật sự của những bài sonnet đã chết trước 1609, trong khi Shakespeare của Stratford sống đến tận năm 1616. Ngoài ra việc tên của Shakespeare được viết gạch nối ở trang tiêu đề và trên đầu mỗi trang khác của quyển sách đã làm phức tạp thêm sự không nhất trí này. Mười bảy bài sonnet đầu tiên được viết cho một người đàn ông trẻ tuổi, thúc giục anh cưới vợ và có con, và bằng cách đó, truyền vẻ đẹp của anh ta cho đời sau. Những bài này được gọi là các bài sonnet sinh sản. Tuy vậy phần lớn các bài từ 18-126 được viết cho một người đàn ông trẻ nhằm bày tỏ tình yêu mến của nhà thơ đến với anh ta. Sonnet 127-152 được sáng tác về một "người Phụ nữ Đen" để giãi bày lòng mến mộ của ông đối với cô. Hai bài sonnet 153- 154, mang tính phúng dụ. Khoảng 30 bài cuối được viết về một số vấn đề, như sự phản bội của chàng trai trẻ với người phụ nữ của nhà thơ, giải pháp của bản thân để kiểm soát dục vọng của chính mình, những phê bình về thế giới vân vân. William Shakespeare (1564-1616) là nhà thơ và nhà soạn kịch nổi tiếng người Anh. William Shakespeare Sự nghi ngờ luôn “ ám ảnh một kẻ tội lỗi. ” —William Shakespeare • Hãy nghe nhiều người nói, nhưng nói với ít người thôi. Listen to many, speak to a few. • Điều gì đã làm thì không thể rút lại được. What's done can't be undone. • Sự nghi ngờ luôn ám ảnh một kẻ tội lỗi. 3
  4. Suspicion always haunts the guilty mind. • Quá tốt thì lại thành ra xấu. An overflow of good converts to bad. • Anh ta xấu xa thì cũng do tự nhiên mà thôi. He is evil by his very nature. • Trái tim tôi cầu nguyện cho anh ta, mặc dù miệng tôi thì nguyền rủa. My heart prays for him, though my tongue do curse. • Thời gian là quan tòa phán xét mọi kẻ có tội. Time is the justice that examines all offenders. • Không có gì khuyến khích tội ác bằng lòng nhân từ. Nothing emboldens sin so much as mercy. • Những kẻ hay nói ít khi làm tốt. Talkers are no good doers. • Yêu mọi người, tin vài người, đừng xúc phạm tới ai hết. Love all, trust afew, do wrong to none. • Cho bạn mượn tiền thường mất cả tiền lẫn tình bạn. Loan opt loses both itself and friend. 4
  5. John Milton John Milton (9 tháng 12, 1608 – 8 tháng 11, 1674) là một nhà thơ, soạn giả, nhà bình luận văn học người Anh, một công chức của Khối thịnh vượng chung Anh. Ông nổi tiếng với bài thơ "Thiên đường đã mất" (Paradise Lost), "Thiên đường trở lại" (Paradise Regained) và Areopagitica - bài luận lên án sự kiểm duyệt. Cuộc đời John Milton sinh ngày 9 tháng 12 năm 1608 tại London trong một gia đình khá giả. Milton có được sự giáo dục rất tốt – đầu tiên là của gia đình, sau đó là ở Đại học Cambridge. Năm 1625 Milton vào học Đại học Cambridge và tốt nghiệp năm 1632 với bằng thạc sĩ văn chương (Master of Arts degree). Tiếp đó là thời gian 6 năm sống ở trang trại Horton (gần London) với quá trình tự học và hoàn thiện kiến thức về mọi mặt. Các năm 1637 – 1638 Milton đi du lịch Pháp, Ý, gặp gỡ, làm quen với Galileo Galilei, Hugo Grotius và những người nổi tiếng khác thời bấy giờ. Năm 1639 Milton trở về London. Thời kỳ từ 1639 – 1660 ông viết nhiều tác phẩm về chính trị, triết học và tôn giáo: Về cải cách ở Anh (Of Reformation in England), Suy nghĩ về sự lãnh đạo của nhà thờ (The Reason of Church Government, 1641-1642), Về chế độ giám mục quản lý nhà thờ (Of Prelatical Episcopacy), Về giáo dục (Tractate of Education,1644). Năm 1641 ông cưới vợ và người vợ này đã bỏ ông ra đi chưa đầy một năm sau đó. Thất bại trong hôn nhân đã giúp ông viết tác phẩm Về sự ly hôn (The Doctrine and Discipline of Divorce, 1643)… Ngoài các tác phẩm chính trị triết học và tôn giáo, thời kỳ này ông viết các tác phẩm thơ kịch như: L'Allegro (1631), Il Penseroso (1631), Comus (1634), Lycidas (1638)… Thời kỳ những năm 1660 – 1674 là những năm tháng tuổi già của Milton. Ông bị mù từ năm 1652 nên sự nghiệp chính trị cũng như tiền bạc đều gặp khó khăn. Thời kỳ này ông sống với người vợ thứ hai và hai cô con gái (người vợ đầu chỉ quay lại với ông một thời gian rồi chết sớm). Đối với Milton – đây là thời kỳ ông vô cùng cô đơn nhưng đồng thời cũng là thời kỳ mà tài năng văn học của ông phát triển rực rỡ nhất. Những tác phẩm lưu danh ông muôn thuở được viết ra ở thời kỳ này: Thiên đường đã mất (Paradise Lost), Thiên đường trở lại (Paradise Regained), Samson đấu sĩ (Samson Agonistes). John Milton mất ngày 8 tháng 11 năm 1674 tại London. Là cây đại thụ của văn học Anh và thế giới nhưng tác phẩm của John Milton hầu như chưa hề được dịch ra tiếng Việt. Chỉ gần đây, tác phẩm Thiên đường đã mất mới được Hồ Thượng Tuy chuyển ra tiếng Việt (chưa in thành sách). 5
  6. Thiên đường đã mất John Milton đọc Thiên đàng đã mất cho các cô con gái Thiên đường đã mất in năm 1667, Thiên đường trở lại và Samson đấu sĩ in năm 1670, 1671. Thiên đường đã mất là thiên sử thi tôn giáo về sự phẫn nộ của những thiên sứ bị đày và về sự sa ngã của con người. Không như những thiên anh hùng ca của Homer, các thiên sử thi thời trung cổ hay Thần khúc của Dante, Thiên đường đã mất không có sự sáng tạo tự do về ý tưởng của tác giả. Milton dựa theo cốt truyện của Kinh Thánh, ngoài ra các nhân vật trong tác phẩm, phần lớn, là những nhân vật thần thánh, không cho phép mô tả một cách hiện thực. Mặt khác, thiên thần và quỉ Satan, Adam và Eve cũng như các nhân vật khác của tác phẩm này đã có hình ảnh bất di bất dịch trong sự hình dung của đại chúng cùng như trong sự giáo dục theo Kinh Thánh – Milton lại là nhà thơ tuân thủ theo những luật lệ của Thanh giáo khắt khe. Những đặc điểm này thể hiện ở sự có ít những hình tượng, còn những nhân vật từ Kinh Thánh chỉ có vẻ như mô phỏng lại. Ý nghĩa vĩ đại của Thiên đường đã mất là ở bức tranh tâm lý của cuộc đấu tranh giữa trời và địa ngục. Dục vọng chính trị sục sôi trong con người Milton đã giúp cho ông tạo nên một hình ảnh quỉ Satan mà sự khát khao tự do của nó đã dẫn đến cái ác. Phần đầu của Thiên đường đã mất, nơi mà kẻ thù của Đấng sáng tạo tự hào về sự sa ngã của mình và xây dựng lên tòa lâu đài Pandemonium rồi đe dọa bầu trời – đấy là nguồn cảm hứng bất tận cho Lord Byron cũng như tất cả các nhà thơ lãng mạn khác về ma quỉ và lòng tin. Vẻ hùng tráng của Thanh giáo được thể hiện trong hình ảnh những linh hồn khao khát tự do, nguồn cảm xúc về một “thiên đường đã mất”, bức tranh vẽ thiên đường bằng thơ, tình yêu của những con người đầu tiên và việc họ bị đuổi khỏi thiên đàng cùng với chất nhạc trong thơ đã mang lại sự bất tử cho Thiên đường đã mất. Bạn đọc có thể xem nội dung tóm tắt của Thiên đường đã mất và phần trích dẫn ở mục từ Thiên đường đã mất. Thiên đường trở lại và Samson đấu sĩ Có nhiều người coi Thiên đường trở lại là phần kế tiếp của Thiên đường đã mất. Thực ra đây là một tác phẩm độc lập không hề có mối liên hệ gì với Thiên đường đã mất. Nếu Thiên đường đã mất là một thiên sử thi có độ lớn về không gian thì, ngược lại, Thiên đàng trở lại là một tác phẩm cô đặc trong một không gian hẹp hơn nhiều. Thiên đường trở lại mô tả câu chuyện những linh hồn ác cám dỗ Jesus Christ nhưng sự mô tả không thành công bằng Thiên đường đã mất. Samson đấu sĩ cũng giống như như Comus, là một thử nghiệm nữa của Milton trong thể loại kịch thơ, mặc dù đây là tác phẩm để đọc hơn là tác phẩm để dàn dựng trên sân khấu. Dù sao, Samson đấu sĩ là tác phẩm xứng đáng khép lại con đường văn học đầy vinh quang của John Milton. 6
  7. Trích Thiên đường đã mất THIÊN ĐƯỜNG ĐÃ MẤT PARADISE LOST Quyển Thứ nhất First Book Diễn giải The Argument Quyển thứ nhất trước hết tóm tắt chủ The First Book proposes, first in brief, the đề của tác phẩm: sự không nghe lời whole subject - Man's của Con Người, mà hậu quả là đánh mất thiên đàng – nơi cư trú của con disobedience, and the loss thereupon of Paradise, người; sau đấy chỉ ra nguyên nhân sa wherein he was placed: then touches the prime ca ngã: Con rắn, thực ra là quỉ Satan trong use of his fall - the Serpent, or rather Satan in the Serpent; who, revolting from God, and drawing to hình con rắn nổi loạn chống lại Chúa his side many legions of Angels, was, by the Trời và kéo theo nhiều Thiên thần, command of God, driven out of Heaven, with all his nhưng Chúa Trời ra lệnh đuổi nó cùng crew, into the great Deep. Which action passed bè lũ từ nước Trời xuống vực thẳm. over, the Poem hastes into the midst of things; Nói đến những sự kiện này, trường ca presenting Satan, with his Angels, now fallen into chuyển sang đề tài trung tâm - nói về Hell - described here not in the Centre (for heaven and earth may be supposed as yet not made, quỉ Satan và những thiên thần của nó certainly not yet accursed), but in a place of utter ở Địa ngục. Tiếp đến là sự mô tả Địa darkness, fitliest called Chaos. Here Satan, with his ngục không phải ở trung tâm quả đất Angels lying on the burning lake, thunderstruck and (trời và đất chưa được tạo ra, nghĩa là astonished after a certain space recovers, as from chưa có những lời nguyền rủa), mà ở confusion; calls up him who, next in order and trong bóng tối tuyệt đối gọi là Hỗn dignity, lay by him: they confer of their miserable mang. Satan và các thiên thần của nó fall. Satan awakens all his legions, who lay till then in the same manner confounded. They rise: their nằm trong hồ nước sôi, bị sét đánh, bị numbers; array of battle; their chief leaders named, sỉ nhục nhưng sau khi hoàn hồn nó gọi according to the idols known afterwards in Canaan những kẻ có giá trị và chức danh dưới and the countries adjoining. To these Satan directs nó, chúng trò chuyện về những nỗi his speech; comforts them with hope yet of khổ của mình. Satan đánh thức cả bọn regaining Heaven; but tells them, lastly, of a new khi chúng vẫn còn ở trong tình trạng world and new kind of creature to be created, đờ đẫn. Chúng leo lên, xếp thành hàng according to an ancient prophecy, or report, in Heaven - for that Angels were long before this ngũ; những kẻ dẫn đầu mang tên của visible creation was the opinion of many ancient những thần tượng mà sau đó nổi tiếng Fathers. To find out the truth of this prophecy, and ở Canaan và những quốc gia lân bang. what to determine thereon, he refers to a full 7
  8. Satan an ủi các chiến hữu bằng hy vọng giành lại Trời và nói về một thế council. What his associates thence attempt. giới mới và loài sinh vật mới, mà theo Pandemonium, the palace of Satan, rises, suddenly những lời tiên tri và truyền thuyết của built out of the Deep: the infernal Peers there sit in council. Nước Trời, thì sẽ được tạo ra – các Thiên thần, theo lời của các Cha già, Of Man's first disobedience, and the fruit được tạo nên rất lâu trước khi những sinh vật mà mắt nhìn thấy xuất hiện. Of that forbidden tree whose mortal taste Để áp dụng những lời tiên tri và đưa Brought death into the World, and all our ra hành động tiếp theo, Satan yêu cầu woe, lập một hội đồng và tất cả đồng ý. Từ trong bóng tối hiện ra Pandemonium – With loss of Eden, till one greater Man lâu đài của Satan. Quỉ sứ Địa ngục ngồi họp nhau ở đó. Restore us, and regain the blissful Seat, Về chuyện không nghe lời và về Sing, Heavenly Muse, that, on the secret top Thứ trái cấm đã mang về cái chết Of Oreb, or of Sinai, didst inspire Thiên đường dành cho con người đã That Shepherd who first taught the chosen mất seed Cho đến khi Con Người vĩ đại kia In the beginning how the heavens and earth Trả lại hạnh phúc sung sướng cho ta - Rose out of Chaos: or, if Sion hill Nàng Thơ hãy hát lên và hãy xuống Delight thee more, and Siloa's brook that đây flowed Từ miền Oreb, hay từ chốn Sinai Fast by the oracle of God, I thence Truyền cho người chăn chiên cảm SInvoke thy aid to my adventrous song, hứng That with no middle flight intends to soar Để từ đó mà truyền cho dân chúng Above the Aonian mount, while it pursues Về sự xuất hiện của mặt đất, bầu trời Things unattempted yet in prose or rhyme. Từ hỗn mang, và khi người say mê And chiefly Thou, O Spirit, that dost prefer Suối Siloa, đồi Sion vĩ đại Before all temples the upright heart and Lời tiên tri của Chúa Trời – ta gọi pure, Người giúp ta, và bài hát của ta Instruct me, for Thou know'st; Thou from 8
  9. Bay trên miền Aonia bao la the first Về những gì cao siêu ta hướng tới. Wast present, and, with mighty wings outspread, Nguyên vẹn trong văn và cả trong thơ. Dove-like sat'st brooding on the vast Abyss, Nhưng hỡi Linh hồn thần thánh, trước tiên And mad'st it pregnant: what in me is dark Người thích những con tim liêm khiết Illumine, what is low raise and support; cho đền – That, to the highth of this great argument, Hãy truyền dạy những tiên tri cao cả I may assert Eternal Providence, Người giống như chim bồ câu muôn thuở And justify the ways of God to men. Bay trên vực thẳm, cho nó nở hoa Say first - for Heaven hides nothing from thy view, Hãy rót ánh sáng vào bóng tối của ta Nor the deep tract of Hell - say first what Làm cho sáng ngời để ta có thể cause Tìm ra những điều hay và lý lẽ Moved our grand Parents, in that happy state, Để chứng minh cho một điều ơn huệ Favoured of Heaven so highly, to fall off Con đường của Người ta sẽ thanh minh From their Creator, and transgress his will Hãy mở cho ta cả Địa ngục, Thiên …………………………… Đường Trích từ Thiên đường đã mất Vì con mắt Người nhìn ra tất cả - Điều gì quyến rũ Ông Bà ta như thế Hai người hạnh phúc giữa chốn địa đàng Là ân huệ bất tận của Trời xanh Lại thả mình nghe theo điều dục vọng Xa Đấng Sáng tạo, vi phạm điều cấm đoán. 9
  10. …………………… John Milton (1608-1674), English poet, wrote what many consider to be one of the greatest epic poems in the English language, Paradise Lost (1667); England was in a great state of flux during his lifetime; Milton sided with the Puritans and Oliver Cromwell (1599-1658), rejected popular political and religious beliefs, adopted an anti-royalist stance against King Charles I, and joined the pamphlet wars, writing many polemics on the Church of England including "Of Reformation Touching Church Discipline in England" (1641) and "The Ready and Easy Way to Establish a Free Commonwealth" (1660). As George Saintsbury (1845-1933) states in The Cambridge History of English and American Literature (Vol. VII, 1907-21) "the inspirers of his pamphlets were furies rather than muses". Milton also wrote pamphlets on various political issues like free speech and the censorship exerted by Parliament as in "Areopagitica: A speech of Mr John Milton for the liberty of unlicensed printing to the Parliament of England" (1644). But today Milton is best remembered for his heroic epic verse retelling the story of Adam and Eve and the Fall. In his sympathetic portrayal of man's struggle with good and evil, "That, to the height of this great argument, I may assert Eternal Providence, And justify the ways of God to men." Milton has inspired countless works by artists, film makers, musicians, authors, and poets into the 21st Century including John Keats's "Endymion"; William Blake created illustrations for Paradise Lost and wrote Milton: a Poem (1804-10); Percy Bysshe Shelley writes "Milton stands alone in the age which he illumined." in his Preface to "The Revolt of Islam"; and Lord George Gordon Byron, in his Introduction and Dedication to Don Juan writes; If, fallen in evil days on evil tongues, Milton appealed to the Avenger, Time, If Time, the Avenger, execrates his wrongs, And makes the word "Miltonic" mean "Sublime," He deigned not to belie his soul in songs, Nor turn his very talent to a crime; He did not loathe the Sire to laud the Son, 10
  11. But closed the tyrant-hater he begun. John Milton was born on 9 December 1608 on Bread Street in London, England to Sarah Jeffrey (1572-1637) and John Milton (1562-1647), scrivener in legal and financial matters. He had an older sister Anne and younger brother Christopher. John was born with poor eyesight which increasingly worsened over time. A life-long student, his schooling started at home under tutor Thomas Young before he went to read the works of Homer and Virgil in Greek and Latin at St Paul's School in London. He entered Christ's College, Cambridge in 1625 with the intent to become a minister. However, upon graduation in 1632 with a Master of Arts degree, Milton was disenchanted with the Church, did not take his orders, and decided to further his studies in languages including Hebrew. He also learned French and Italian, countries he travelled through extensively in the late 1630s where he immersed himself in their history and culture, and met many prominent learned men of the time including Galileo Galilei (1564-1642). Upon his return to England from the continent in 1639 he moved to his parent's home in Horton, Buckinghamshire to focus on further study and writing. Some of his earliest pieces were metrical psalms and poems such as "On the Morning of Christ's Nativity" (1629), "An Epitaph on the Admirable Dramatic Poet William Shakespeare" (1630), and "Il Penseroso" (1631) and its companion piece "L'Allegro" (1631). He also wrote the masques Arcades (c.1630-4) and Comus (1634), and his eloquent elegy "Lycidas" (1637) to his friend and fellow pupil from Christ's College, Edward King, who had drowned while on a voyage to Ireland. Around this time Milton began teaching and joined the Presbyterian cause to reform the Church and wrote several pamphlets including "Of Reformation (1641), "The Reason of Church Government Urged Against Prelaty" (1642). Poems was published in 1645. In 1643 he married Mary Powell (1626-1652) with whom he would have three daughters and one son; Anne, Mary, John, and Deborah. It was a troublesome marriage and they were estranged for a time, causing Milton to pen "The Doctrine and Discipline of Divorce" (1644). In 1656 he married Catharine Woodcock who died two years later in childbirth along with Milton's fourth daughter, Catharine. In 1663 he married Elizabeth Minshull (1638-1727). In 1649, after the regicide of King Charles I, Milton was appointed Cromwell's Latin secretary of foreign affairs and wrote many pamphlets in defense of the Commonwealth. The intense work of translating and writing created much strain on his eyes and he resorted to a secretary. By 1652 he was entirely blind and relied on the assistance of Andrew Marvell (1621-1678), but it seems that Milton was not unduly grieved by his loss of sight. After the death of Cromwell and the Restoration of King Charles II in 1660 Milton retired from public life; as staunch defender of the Commonwealth, he first had to hide entirely from King Charles's loyalists and some of his books 11
  12. were burned. The Great Fire of London in 1666 destroyed the Bread Street house where he was born and that he had inherited from his father. During the plague years he left London for surrounding areas; his cottage in the village of Chalfont St Giles, Buckinghamshire and its gardens are now a museum housing many of his works. It was here that Milton prepared for publication Paradise Lost and Paradise Regained, which also includes his poetic drama wherein he reflects on his own life once again under the monarchy, Samson Agonistes (1671); Should Israel from Philistian yoke deliver!; Ask for this great Deliverer now, and find him Eyeless in Gaza at the mill with slaves, Himself in bonds under Philistian yoke. John Milton died on 12 November 1674 in Artillery Row, London, and now rests with his father in the church of St. Giles's, Cripplegate, London, England. His On Christian Doctrine was published in 1823. John Milton was born on December 9, 1608, in London, as the second child of John and Sara (neé Jeffrey). The family lived on Bread Street in Cheapside, near St. Paul's Cathedral. John Milton Sr. worked as a scrivener, a legal secretary whose duties included preparation and notarization of documents , as well as real estate transactions and moneylending. Milton's father was also a composer of church music, and Milton himself experienced a lifelong delight in music. The family's financial prosperity afforded Milton to be taught classical languages, first by private tutors at home, followed by entrance to St. Paul's School at age twelve, in 1620. In 1625, Milton was admitted to Christ's College, Cambridge. While Milton was a hardworking student, he was also argumentative to the extent that only a year later, in 1626, he got suspended 12
  13. after a dispute with his tutor, William Chappell. During his temporary return to London, Milton attended plays, and perhaps began his first forays into poetry. At his return to Cambridge, Milton was assigned a new tutor, Nathaniel Tovey. Life at Cambridge was still not easy on Milton; he felt he was disliked by many of his fellow students and he was dissatisfied with the curriculum. It was at Cambridge that he composed "On the Morning of Christ's Nativity" on December 25, 1629. In 1632, Milton took his M.A. cum laude at Cambridge, after which he retired to the family homes in London and Horton, Buckinghamshire, for years of private study and literary composition.1 His poem, "On Shakespeare", was published in the same year in the Second Folio. From this period hail also his "L'Allegro" and "Il Penseroso." Milton's Comus, a masque, was performed at Ludlow Castle in 1634, to be first published anonymously in 1637, music by the famed court composer Henry Lawes. In April 1637, Milton was nearing the end of his studies when his mother died and was buried at Horton. Only a few months later, in August, Milton's friend Edward King died as well, by drowning. In November, upon his memory, Milton composed the beautiful elegy, Lycidas. It was published in a memorial volume at Cambridge in 1638. As customary for young gentlemen of means, Milton set out for a tour of Europe in the spring of 1638. He met famed scholar Hugo Grotius in Paris, where he stayed briefly before continuing on to Italy. Milton arrived in Florence in the autumn, where he probably met with Galileo, who was then under house arrest by order of the Inquisition. In Rome, he was a guest of Cardinal Barberini, the Pope's nephew, and visited the Vatican Library. In Naples, Milton met Giovanni Batista, biographer of Torquato Tasso. Milton wrote Mansus in his honor. Upon reaching Geneva to visit with Calvinist theologian Giovanni Diodati, Milton found out about the death of his childhood friend, Charles Diodati in London. Milton's tour of Europe was cut short with rumors of impending civil war in England, and he returned home in July 1639. Shortly after, Milton composed Epitaphium Damonis, a Latin poem to the memory of his dearest friend. Milton settled down in London, where he began schooling his two nephews, later also taking in children of the better families. The Civil War was brewing — King Charles I invaded Scotland in 1639, and the Long Parliament was convened in 1640. Milton began writing pamphlets on political and religious matters; Of Reformation, Animadversions, and Of Prelatical Episcopacy were published in 1641, The Reason for Church Government in February, 1642. In the spring of 1642, Milton married Mary Powell, 17 years old to his 34, but the relationship was an unhappy one, and Mary left him to visit the family home briefly thereafter, and did not return. Matters were not improved when the Powells declared for the King in the Civil War which broke out in August. This prompted Milton to write his so-called 'Divorce Tracts' speaking 13
  14. for divorce on the grounds of incompatibility. In 1643, Milton published the Doctrine and Discipline of Divorce, which had its second, longer edition in early 1644. In 1644, Milton also published The Judgement of Martin Bucer Concerning Divorce. The 'Divorce Tracts' caused an uproar both in parliament and amidst the clergy, as well as with the general populace, which earned him the nickname "Milton the Divorcer."2 It is in reference to the attempted censorship of the same by the Stationers' Company, that Milton published his eloquent Areopagitica, an oration advocating freedom of the press, in late 1644.3 Milton had also had time to write a treatise Of Education, which prescribed a rigorous course of study for English youth. In 1645, Milton published Tetrachordon and Colasterion, and registered Poems of Mr. John Milton, Both English and Latin. Milton had made plans to remarry, when Mary Powell returned. The two seem to have reconciled, since their daughter Anne was born in 1646. The whole Powell clan moved in with the Miltons, because Royalists had been ousted from Oxford. The situation was not savory. The year 1647 saw the death of both Milton's father and his father-in-law. The Powells eventually moved out and the Miltons moved to the neighborhood of High Holborn, where their daughter Mary was born in 1648. It is probable that Milton witnessed the public execution of Charles I on January 30, 1649.4 Tenure of Kings and Magistrates was published two weeks later. In March, the Cromwellian government appointed Milton Secretary for Foreign Tongues and ordered him to write an answer to Charles I's purported Eikon Basilike ("Royal Image"). After publishing Observations on the Articles of Peace, Milton published Eikonoklastes ("Image Breaker") in October, 1649. In 1650, the Council of State ordered Milton to write a response to Salmasius' Defensio Regia — the Continental outcry against the English action ("Defense of Kingship"). Defensio pro populo Anglicano was published in February, 1651. Milton's first son, John, was born in March and the Miltons moved to Westminster. The year 1652 was one of many personal losses for Milton. In February, Milton lost his sight. This prompted him to write the sonnet "When I Consider How My Light is Spent." In May, 1652, Mary gave birth to a daughter, Deborah, and died a few days later. In June, one year-old John died. In 1654, Milton published Defensio Secunda, the response he had been ordered to write for Pierre du Moulin's Regii sanguinis clamor ("Clamor of the King's Blood"). Andrew Marvell had become his assistant, and he had aides to take dictation, to facilitate the carrying out of his duties as Secretary. In 1655, Defensio Pro Se ("Defense of Himself") was published. In 1656, Milton married Katherine Woodcock, but the happiness was short-lived. Milton's daughter Katherine was born in late 1657, but by early 1658, both mother and daughter had passed away. It is to the memory of Katherine Woodcock that Milton wrote the sonnet "Methought I saw my late espousèd saint." 14
  15. Lord Protector Oliver Cromwell died in October, 1658, and the days of the Commonwealth were coming to a close. In early 1659, Milton published A Treatise of Civil Power and Ready and Easy Way To Establish a Free Commonwealth. For his propaganda writings, Milton had to go into hiding, for fear of retribution from the followers of King Charles II. In June, 1659, both Defensio pro populo Anglicano and Eikonoklastes were publicly burned. In early autumn, Milton was arrested and thrown in prison, to be released by order of Parliament before Christmas. King Charles II was restored to the throne on May 30, 1660. In 1663, Milton remarried again, to Elizabeth Minshull, a match his daughters opposed. He spent his time tutoring students and finishing his life's work, the epic, Paradise Lost. Among the greatest works ever to be written in English, the feat is all the more remarkable for Milton's blindness — he would compose verse upon verse at night in his head and then dictate them from memory to his aides in the morning. Paradise Lost finally saw publication in 1667, in ten books. It was reissued in 1668 with a new title-page and additional materials. The book was met with instant success and amazement; even Dryden is reported to have said, "This man cuts us all out, and the ancients too."5 History of Britain was published in 1670; Paradise Regain'd and Samson Agonistes were published together in 1671. Of True Religion and Poems, &c. upon Several Occasions were published in 1673. In summer 1674, the second edition of Paradise Lost was published, in twelve books. Milton died peacefully of gout in November, 1674, and was buried in the church of St. Giles, Cripplegate. His funeral was attended by "his learned and great Friends in London, not without a friendly concourse of the Vulgar."6 A monument to Milton rests in Poets' Corner at Westminster Abbey. 15
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2