BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_________________________________________________
TRẦN ĐỨC KHOẢN XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN PHẦN “ĐIỆN HỌC” VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG GÓP PHẦN BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH KỸ THUẬT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_________________________________________________
TRẦN ĐỨC KHOẢN XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN PHẦN “ĐIỆN HỌC” VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG GÓP PHẦN BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH KỸ THUẬT
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật lý Mã số:
62.14.01.11
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS NGUYỄN QUANG LẠC 2. PGS.TS MAI VĂN TRINH
Nghệ An, 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện. Các
kết quả trình bày trong luận án là trung thực, có nguồn trích dẫn. Các kết quả
công bố chung đều được đồng nghiệp cho phép sử dụng đưa vào luận án.
Tác giả luận án
ii
MỤC LỤC Trang
LỜI CAM ĐOAN........................................................................................................ i MỤC LỤC.................................................................................................................. ii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT......................................................................... iv DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH TRONG LUẬN ÁN..........v MỞ ĐẦU.....................................................................................................................1 1. Lý do chọn đề tài................................................................................................... 1 2. Mục đích nghiên cứu............................................................................................. 3 3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................ 3 4. Giả thuyết khoa học .............................................................................................. 3 5. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................ 4 6. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................... 4 7. Đóng góp của luận án............................................................................................ 4 8. Cấu trúc của luận án.............................................................................................. 5 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .........................................6 1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài ........................................................................ 6 1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam .......................................................................... 9 1.3. Những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu .................................................... 13 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ..........................................................................................15 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN.............................16 2.1. Khái niệm tự học.............................................................................................. 16 2.2. Năng lực tự học................................................................................................ 21 2.3. Xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun......................................... 30 2.4. Vị trí của học phần Vật lý đại cương đối với sinh viên Đại học ngành kỹ thuật .........................................................................................................35 2.5. Mục tiêu dạy học Vật lý đại cương cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật ....................................................................................................................... 36 2.6. Tổ chức hoạt động dạy học ở Đại học.............................................................. 37 2.7. Đặc điểm tự học của sinh viên Đại học ............................................................ 41 2.8. Đặc điểm hoạt động nhận thức của sinh viên Đại học ngành kỹ thuật ............. 43 2.9. Xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật..................................................... 45 2.10. Thực trạng tự học Vật lý đại cương của sinh viên Đại học ngành kỹ thuật.. 50 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ..........................................................................................60 CHƯƠNG 3. XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN PHẦN “ĐIỆN HỌC” VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG ĐẠI HỌC NGÀNH KỸ THUẬT...............................................................................................................62 3.1. Vị trí, mục tiêu, nội dung của phần “Điện học” ............................................... 62
iii
học học phần Vật lí đại cương ......................................................................... P1
Phụ lục 2: Phiếu thăm dò ý kiến của giảng viên về hoạt động tự học Vật lí đại cương của
sinh viên Đại học ngành kỹ thuật .................................................................... P5
Phụ lục 3: Phiếu khảo sát ý kiến về việc tự học với tài liệu tự học có hướng dẫn theo
môđun ............................................................................................................. P8
Phụ lục 4: Phiếu khảo sát ý kiến về việc xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật ................................................................................................ P10
Phụ lục 5: Bảng kết quả điều tra thực trạng tự học Vật lý đại cương của sinh viên Đại học
ngành kỹ thuật ................................................................................................ P12 Phụ lục 6: Bảng kết quả thực nghiệm sư phạm ................................................................. P15 Phụ lục 7: Kế hoạch dạy học bài “Tương tác điện - Định luật Coulomb” .......................... P24 Phụ lục 8: Kế hoạch dạy học bài “Điện trường” ............................................................... P31 Phụ lục 9: Kế hoạch dạy học bài “Điện thế” ..................................................................... P38 Phụ lục 10: Đề kiểm tra số 1 ............................................................................................ P45 Phụ lục 11: Đề kiểm tra số 2 ............................................................................................ P48 Phụ lục 12: Đề kiểm tra số 3 ............................................................................................ P51 Phụ lục 13: Đề kiểm tra số 4 ............................................................................................ P55 Phụ lục 14: Một số hình ảnh thực nghiệm sư phạm .......................................................... P59 Phụ lục 15: Nội dung tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun kèm theo luận án Lưu
trong đĩa CD) .................................................................................................. P61
3.2. Xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun......................................... 68 3.3. Các hình thức sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun..................... 91 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ........................................................................................110 CHƯƠNG 4.THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ..............................................................112 4.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm ..................................................................... 112 4.2. Thời gian, địa điểm và đối tượng thực nghiệm sư phạm ................................ 112 4.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm ............................................................... 112 4.4. Công tác chuẩn bị thực nghiệm ...................................................................... 114 4.5. Nội dung thực nghiệm sư phạm ..................................................................... 115 4.6. Kết quả thực nghiệm sư phạm........................................................................ 116 4.7. Điều tra tính khả thi của tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trong việc góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kĩ thuật ................. 138 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 ........................................................................................143 KẾT LUẬN CHUNG ..............................................................................................144 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ................................................146 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................147 PHỤ LỤC ........................................................................................................................ P0 Phụ lục 1: Phiếu thăm dò ý kiến của sinh viên Đại học ngành kỹ thuật về hoạt động tự
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt Viết đầy đủ
Ban chấp hành Bộ Giáo dục và đào tạo Công nghệ thông tin Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Công nghệ Dạy học Đại học Đại học sư phạm Đại học kỹ thuật Đại học công nghiệp Đối chứng Đại học công nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh Giáo dục Giải quyết vấn đề Giáo dục học Giáo dục Đại học Giáo trình Giáo viên Giáo dục và đào tạo Hoạt động Kiểm tra đánh giá Khoa học Khoa học kỹ thuật Kỹ năng Kỹ thuật dạy học Kết quả học tập Năng lực tự học Ngành kỹ thuật Phương pháp Phương pháp dạy học Sinh viên Sinh viên Đại học Trung bình Tổ chức dạy học Trung học phổ thông Thực nghiệm Trắc nghiệm khách quan Thực nghiệm sư phạm Vật lý Vật lý đại cương BCH BGD&ĐT CNTT CHXHCN CN DH ĐH ĐHSP ĐHKT ĐHCN ĐC ĐHCN TP.HCM GD GQVĐ GDH GDĐH GT GV GD&ĐT HĐ KTĐG KH KHKT KN KTDH KQHT NLTH NKT PP PPDH SV SVĐH TB TCDH THPT TN TNKQ TNSP VL VLĐC
v
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH TRONG LUẬN ÁN Trang
Bảng Bảng 2.1: Tiêu chí đánh giá năng lực tự học của SV ..................................................29 Bảng 2.2: Bảng điều tra về hứng thú tự VLĐC của SV Đại học NKT .......................... 52 Bảng 2.3: Kết quả điều tra về nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả tự học ...............55 Bảng 2.4: Bảng điều tra về biện pháp để tự học có kết quả ........................................56 Bảng 2.5: Điều tra về các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tự học của SV theo
đánh giá của GV .......................................................................................58 Bảng 3.1: Phân bố số tiết phần “Điện học” của một số trường Đại học ......................67 Bảng 3.2: Hệ thông các môđun phần “Điện học” .......................................................72 Bảng 4.1: Lớp TN và ĐC vòng 1 .............................................................................116 Bảng 4.2: Thống kê kết quả học tập của SV nhóm TN và ĐC trước khi TNSP
vòng 1 ....................................................................................................117 Bảng 4.3: Phân bố điểm của nhóm TN và nhóm ĐC sau khi TNSP vòng 1..............119 Bảng 4.4: Phân bố tần suất luỹ tích hội tụ lùi sau khi TN vòng 1 .............................119 Bảng 4.5: Lớp TN và ĐC vòng 2 .............................................................................121 Bảng 4.6: Kết quả học tập của SV nhóm TN, ĐC trước khi TNSP vòng 2 ...............121 Bảng 4.7: Các chỉ số thống kê lớp TN và ĐC TNSP vòng 2.....................................122 Bảng 4.8: Kiểm nghiệm giả thiết E0.........................................................................122 Bảng 4.9: Kiểm nghiệm giả thiết H0 ........................................................................122 Bảng 4.10: Phân bố điểm của nhóm lớp TN và nhóm lớp ĐC sau khi TN vòng 2 ...125 Bảng 4.11: Phân bố tần suất luỹ tích hội tụ lùi của nhóm TN, ĐC sau TN vòng 2...126 Bảng 4.12: Tính điểm trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn sau TNSP vòng 2......127 Bảng 4.13: Thống kê với phép thử t - student ..........................................................127 Bảng 4.14: Kiểm nghiệm giả thiết thống kê E0.........................................................127 Bảng 4.15: Kiểm nghiệm giả thiết thống kê H0 ........................................................128 Bảng 4.16: Kết quả theo dõi năng lực tự học của SV Nguyễn Văn Đông .................130 Bảng 4.17: Kết quả theo dõi năng lực tự học của SV Trần Tuấn Anh ......................131 Bảng 4.18: Kết quả theo dõi năng lực tự học của SV Bùi Minh Nam.......................133 Bảng 4.19: Bảng kết quả theo dõi năng lực tự học của SV Nguyễn Quý Dương .....135 Bảng 4.20: Kết quả kiểm tra của nhóm SV(Nghiên cứu trường hợp) .......................137 Bảng 4.21: Kết quả đánh giá tài liệu theo môdun dạng văn bản của GV ..................139 Bảng 4.22: Kết quả đánh giá tài liệu theo môdun dạng số hóa của GV.....................139 Bảng 4.23: Ý kiến của GV về khả năng hỗ trợ dạy học của tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun và góp phần bồi dưỡng năng lực tự học của SV...................140
Bảng 4.24: Kết quả đánh giá tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun dạng văn bản
của SV....................................................................................................141 Bảng 4.25: Kết quả đánh giá tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun dạng số hóa của SV ..........................................................................................................142
Bảng P.2.1: Bảng điều tra nhận thức của SV về vai trò của VLĐC trong chương
trình đào tạo của mình ................................................................................P.12 Bảng P.2.2: Kết quả điều tra về thời gian tự học của SV Đại học NKT .........................P.12 Bảng P.2.3: Kết quả điều tra về mục đích tự học VLĐC của SV Đại học NKT .............P.12 Bảng P.2.4: Kết quả điều tra về nguồn tài liệu sử dụng cho tự học VLĐC của SV ................P.12 Bảng P.2.5: Thực trạng về các hoạt động tự học VLĐC của SV Đại học NKT ..............P.13 Bảng P.2.6: Kết quả điều tra về phương pháp được GV giới thiệu và sử dụng trong
tổ chức tự học cho SV Đại học NKT ..........................................................P.13 Bảng P.2.7: Điều tra về thực trạng tổ chức dạy VLĐC của GV .....................................P.14 Bảng P.4.1: Bảng tính các thông số thống kê TNSP vòng 1 ...........................................P.16 Bảng P.4.2: Bảng so sánh các thông số thống kê lớp TN và ĐC TNSP vòng 1 ..............P.17 Bảng P.4.3: Bảng kiểm nghiệm kết quả TN bằng phép thử t-Student ............................P.17 Bảng P.4.4: Bảng kiểm nghiệm giả thiết E0 ...................................................................P.17 Bảng P.4.5: Bảng kiểm nghiệm giả thiết H0 ..................................................................P.17 Bảng P.4.6: Bảng tính các thông số thống kê TNSP vòng 2 ...........................................P.18 Bảng P.4.7: Bảng tính các thông số thống kê sau TNSP vòng 2 ....................................P.19 Bảng P.4.8: Bảng tự đánh giá năng lực tự học của SV lớp ĐC trước và sau khi học
tập với tài liệu thông thường ......................................................................P.20
Bảng P.4.9: Bảng tự đánh giá năng lực tự học của SV lớp TN trước và sau khi học
tập với tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun ........................................P.22
vi
Sơ đồ Sơ đồ 2.1: Cấu trúc tổng quát của một môđun dạy học ..............................................32 Sơ đồ 3.1: Sinh viên tự học hoàn toàn một môđun .....................................................92 Sơ đồ 3.2: SV tự học hoàn toàn một đơn vị kiến thức (tiểu môđun) trong môđun ......92 Sơ đồ 3.3: Dạy học trên lớp học truyền thống khi có sự hỗ trợ của tài liệu tự học có
hướng dẫn theo môđun .............................................................................97
Hình Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện thực trạng nhận thức của SV về vai trò của VLĐC trong
chương trình đào tạo của SV Đại học NKT ...............................................51 Hình 2.2: Biểu đồ thể hiện về mục đích tự học VLĐC của SV Đại học NKT.............53 Hình 2.3: Biểu đồ thể hiện về nguồn tài liệu sử dụng cho tự học VLĐC ....................54 Hình 3.1: Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần điện trường tĩnh ...............87 Hình 3.2: Giới thiệu về môđun...................................................................................87 Hình 3.3: Thí nghiệm về điện trường tĩnh ..................................................................87 Hình 3.4: Hướng dẫn học tập một môđun ..................................................................88 Hình 3.5: Hướng dẫn học một tiểu môđun .................................................................88 Hình 3.6: Mục tiêu của môđun...................................................................................88 Hình 3.7: Điều kiện cần có để học môđun..................................................................88 Hình 3.8: Nội dung kiến thức của môđun...................................................................88 Hình 3.9: Bài tự kiểm tra kết thúc môđun ..................................................................88 Hình 3.10: Nội dung kiến thức của một tiểu môđun ...................................................88
vii
Hình 3.11: Một số ứng dụng của tiểu môđun .............................................................88 Hình 3.12: Hướng dẫn tự kiểm tra kiến thức vào tiểu môđun .....................................89 Hình 3.13: Bài tự kiểm tra kiến thức vào tiểu môđun .................................................89 Hình 3.14: Hướng dẫn đọc phần mục tiêu của tiểu môđun .........................................89 Hình 3.15: Xác định mục tiêu của tiểu môđun ...........................................................89 Hình 3.16: Câu hỏi hướng dẫn tự học ........................................................................89 Hình 3.17: Tài liệu Ebook..........................................................................................89 Hình 3.18: Các Slide tóm tắt nội dung kiến thức lý thuyết cơ bản của tiểu môđun .....90 Hình 3.19: Hướng dẫn làm bài kiểm tra lần 1 ............................................................90 Hình 3.20: Bài tự kiểm tra kiến thức lần 1 .................................................................90 Hình 3.21: Bài tập tự luận..........................................................................................90 Hình 3.22: Bài tập trắc nghiệm ..................................................................................90 Hình 3.23: Video hoạt động của đèn hình CRT ............................................................91 Hình 3.24: Giải thích hoạt động của đèn hình CRT .........................................................91 Hình 3.25: Hướng dẫn làm bài kiểm tra lần 2 ............................................................91 Hình 3.26: Bài tự kiểm tra kiến thức lần 2 .................................................................91 Hình 3.27: Website tự học Vật lý đại cương ..............................................................94 Hình 3.28: Hướng dẫn mở tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun được chứa trong
file flash ....................................................................................................94 Hình 3.29: Hướng dẫn mở rộng màn hình..................................................................95 Hình 3.30: Điều kiện để được học một tiểu môđun ....................................................95 Hình 3.31: Hướng dẫn đọc tài liệu tham khảo ............................................................95 Hình 3.32: Điểm và lời khuyên khi làm không đạt bài kiểm tra ...................................96 Hình 3.33: Điểm và lời khuyên khi làm đạt bài kiểm tra..............................................96 Hình 3.34: Lời nhắc nhở “Phải hoàn thành bài kiểm tra trước khi rời khỏi slide này” 96 Hình 3.35: Lời nhắc nhở “Bạn phải làm đạt yêu cầu bài kiểm tra này mới có thể
chuyển sang slide tiếp theo” ......................................................................96
Biểu đồ Biểu đồ 4.1: Đa giác đồ tần số về chất lượng học tập của nhóm TN và ĐC..............117 Biểu đồ 4.2: Đường biểu diễn tần suất luỹ tích hội tụ lùi sau khi TN vòng 1............120 Biểu đồ 4.3. Đường biểu diễn tần suất luỹ tích hội tụ lùi của nhóm TN và ĐC trong
đợt TNSP vòng 2.................................................................................126
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển nhảy vọt của khoa học và công nghệ có tác động đến mọi lĩnh
vực của xã hội, trong đó có GD&ĐT. Do đó, triết lý về giáo dục cho thế kỷ XXI có
những biến đổi to lớn, được thể hiện ở tư tưởng chủ đạo là “học thường xuyên suốt
đời” làm nền móng, dựa trên các mục tiêu tổng quát của việc học là: học để biết,
học để làm, học để chung sống cùng nhau và học để làm người (Learning to know,
learning to do, learning to live together, learning to be), hướng tới xây dựng một “xã hội học tập”[54, tr.8].
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng đã ghi: “Ưu tiên hàng đầu
cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Đổi mới chương trình, nội dung, phương
pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất
của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh
viên” [42].
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nêu rõ “Phát triển giáo
dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa”, “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển
khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư
phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo nhu cầu phát triển của
xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ
hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đẩy
mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập
suốt đời”. Theo đó, cần “thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất
lượng giáo dục, đào tạo. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học,
phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao giáo dục toàn diện, đặc biệt
coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối
sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách
nhiệm xã hội [3].
Nghị quyết chính phủ số 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo
dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 đã nêu: “Triển khai đổi mới phương
pháp đào tạo theo 3 tiêu chí: trang bị cách học, phát huy tính chủ động của người học;
sử dụng CNTT và truyền thông trong hoạt động dạy và học; khai thác các nguồn tư
2
liệu giáo dục mở và nguồn tư liệu trên mạng Internet. Lựa chọn, sử dụng các chương
trình, giáo trình tiên tiến của các nước”, “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang
chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến
thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong
nước và ở nước ngoài”[43].
Điều 40 của Luật Giáo dục nước CHXHCN Việt Nam, năm 2005, ghi rõ:
“Phương pháp đào tạo trình độ Cao đẳng, trình độ Đại học phải coi trọng việc bồi
dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy
sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên
cứu, thực nghiệm, ứng dụng”[38].
Hiện nay các trường Đại học đã chuyển từ hình thức đào tạo theo niên chế sang
hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ, đây là một trong những hình thức đổi mới mang
tầm chiến lược của giáo dục Đại học Việt Nam. Đào tạo theo học chế tín chỉ có đặc
điểm nổi bật như sau: 1. Thời lượng GV lên lớp trực tiếp giảng dạy SV ít, phần lớn
thời gian SV phải tự nghiên cứu; 2. Là hệ thống đào tạo mở, nội dung chương trình
theo tốc độ và khả năng của người học, đòi hỏi tính thích ứng cao, cập nhật thông tin
thường xuyên, liên tục; 3. Khối lượng kiến thức lớn, việc KTĐG cần được tiến hành
thường xuyên với các bài tập lớn, tiểu luận, khóa luận...; 4. Các PPDH được đa dạng
hóa như thảo luận, seminar, thực tập, thực tế,... cần được sử dụng nhiều. Dạy học theo
tín chỉ là một hình thức đào tạo mới đối với cả người dạy, người học và với các trường
Đại học ở Việt Nam. Hình thức dạy học theo tín chỉ, phát huy tính tích cực chủ động
của người học, nhưng việc tổ chức SV tự học theo học chế tín chỉ còn gặp những khó
khăn nhất định như: thời gian tự học; quản lý nội dung, chất lượng học tập; phương
thức tổ chức phù hợp... Từ những đặc điểm đó, để mang lại hiệu quả của từng học
phần, nếu không có sự đổi mới hình thức TCDH phù hợp với đặc điểm của tín chỉ.
Dẫn đến tình trạng chỉ thay đổi tên gọi của hình thức đào tạo, chứ không làm thay đổi
hoạt động dạy của GV và hoạt động học của SV. Vì vậy, rất cần phải nghiên cứu đưa
ra tài liệu hỗ trợ dạy học và hình thức TCDH theo tín chỉ đáp ứng thực tiễn dạy học
Đại học ở Việt Nam hiện nay. Tài liệu dạy học được biên soạn theo môđun là một
trong những loại học liệu có thể giúp cho việc TCDH theo hướng tăng cường tính tự
lực học tập của SV ở các trường CĐ và ĐH [99],[28].
Vật lý đại cương đối với SV Đại học ngành kỹ thuật là một học phần cơ bản.
Nó có nhiệm vụ trang bị cho SV những kiến thức và kỹ năng cơ bản về Vật lý ở bậc
3
Đại học để tiếp tục học tập, nghiên cứu các công nghệ kỹ thuật, đồng thời cũng góp
phần hình thành nhân cách người kỹ sư trong tương lai. Vì vậy, học phần yêu cầu SV
phải nắm vững những kiến thức, và kỹ năng thuộc chương trình để học tập các môn kỹ
thuật cơ sở và kỹ thuật chuyên ngành. Tuy nhiên thời gian dành cho môn học này rất
ít. Do đó, GV không đủ thời gian giảng hết cho SV ở trên lớp, nên SV phải chủ yếu tự
học ở nhà. Vì vậy, xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun học
phần VLĐC cho SV Đại học NKT thuật là rất cần thiết[33].
Vấn đề tự học cho SV, tự học có hướng dẫn, tự học có hướng dẫn theo tiếp cận
môđun đã có một số công trình nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn dạy học có tính
khả thi như: Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Thị Oanh, Phạm Văn Lâm, Nguyễn Thị Ngà,
Dương Huy Cẩn, Ngô Quang Sơn. Nhưng cho đến nay chưa có một luận án nào viết
về xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần “Điện học” Vật
lý đại cương cho SV Đại học NKT.
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Xây dựng và sử dụng tài liệu tự
học có hướng dẫn theo môđun phần “Điện học” Vật lý đại cương góp phần bồi
dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật” để làm nội dung
nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần “Điện học”- chương
trình Vật lý đại cương và đề xuất các hình thức sử dụng tài liệu đó nhằm góp phần bồi
dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật.
3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học học phần Vật lý đại cương của
sinh viên Đại học ngành kỹ thuật.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn
theo môđun phần “Điện học” Vật lý đại cương của sinh viên Đại học ngành kỹ thuật.
3.3. Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi đề tài, chúng tôi tập chung vào xây
dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần “Điện trường tĩnh”,
“Vật dẫn” của phần “Điện học” thuộc học phần Vật lý đại cương góp phần bồi dưỡng
năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần “Điện học”
và đề xuất được các hình thức sử dụng tài liệu, thì sẽ góp phần bồi dưỡng năng lực tự
4
học cho sinh viên, qua đó nâng cao chất lượng dạy học học phần Vật lý đại cương cho
sinh viên Đại học ngành kỹ thuật.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về tự học và năng lực tự học, hướng tiếp cận
môđun trong dạy học và kết quả của việc tiếp cận môđun trong dạy học trên thế giới
và ở Việt Nam.
5.2. Điều tra, khảo sát thực trạng tự học và bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh
viên Đại học ngành kỹ thuật; phân tích các nguyên nhân làm hạn chế chất lượng tự học.
5.3. Xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần “Điện học” thuộc
học phần Vật lý đại cương và đề xuất một số hình thức sử dụng tài liệu này góp phần
bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật.
5.4. Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi của tài liệu tự
học có hướng dẫn theo môđun và các hình thức sử dụng đã đề xuất.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thực hiện việc nghiên cứu các tư liệu về
lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý, tập trung vào vấn đề tự học và năng
lực tự học, đồng thời nghiên cứu hướng tiếp cận môđun trong dạy học.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Thiết kế và phát phiếu điều tra đối với
giảng viên và sinh viên để đánh giá thực trạng tự học của sinh viên, thực trạng tài liệu
hỗ trợ sinh viên tự học học phần Vật lý đại cương nhằm góp phần bồi dưỡng năng lực
tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật.
6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm ở một
số trường Đại học để đánh giá tính hiệu quả và khả thi của các nội dung được đề xuất
trong luận án.
6.4. Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm bằng thống kê toán học và bằng
phương pháp nghiên cứu trường hợp: Theo dõi, phân tích và đánh giá kết quả tự học
của một số sinh viên tham gia thực nghiệm sư phạm, để thấy rõ hiệu quả của các tác
động sư phạm đối với các đối tượng sinh viên yếu, trung bình, khá và giỏi.
7. Đóng góp của luận án
7.1. Đóng góp của luận án về mặt lí luận
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận về tự học, năng lực tự học, môđun, môđun
dạy học, tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun. Khẳng định vai trò quan trọng của
5
việc xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng năng lực
tự học đối với sinh viên Đại học ngành kỹ thuật hiện nay.
- Xây dựng được bộ tiêu chí để đánh giá tài liệu tự học có hướng dẫn theo
môđun góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật.
- Đề xuất phương hướng, quy trình và nguyên tắc xây dựng tài liệu tự học có
hướng dẫn theo môđun.
- Đề xuất các hình thức sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun, để
hỗ trợ sinh viên Đại học ngành kỹ thuật tự học học phần Vật lý đại cương có hiệu
quả, góp phần bồi dưỡng năng lực tự học, nâng cao chất lượng dạy học học phần Vật
lý đại cương.
7.2. Đóng góp của luận án về mặt thực tiễn
- Làm rõ các yếu tố thực tiễn qua kết quả điều tra, phân tích việc sử dụng tài
liệu tự học có hướng dẫn theo môđun, hỗ trợ sinh viên Đại học ngành kỹ thuật tự học
học phần Vật lý đại cương.
- Xây dựng được tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần “Điện trường
tĩnh” và “Vật dẫn”, đề xuất các hình thức sử dụng tài liệu theo hướng giúp sinh viên tự
học học phần Vật lý đại cương.
- Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần “Điện học” là dạng tư liệu mới
hỗ trợ có hiệu quả cho việc dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho Sinh
viên Đại học ngành kỹ thuật.
8. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án
gồm 4 chương:
Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của tài liệu tự học có hướng dẫn theo
môđun góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật
Chương 3. Xây dựng và sử dụng tài liệu theo môđun phần “Điện học” Vật
lý đại cương Đại học ngành kỹ thuật
Chương 4. Thực nghiệm sư phạm
6
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Xuất phát từ ý tưởng lấy người học làm trung tâm của các nhà nghiên cứu giáo
dục đã hình thành các tiếp cận giáo dục là cơ sở nền móng cho việc xây dựng chương
trình có cấu trúc môđun, và dạy học theo môđun sau này. Cách tiếp cận đó là: Nội
dung, chương trình cần hướng tới người học, tạo điều kiện cho người học tự giải quyết
được vấn đề học tập của họ, phù hợp với điều kiện, năng lực, sở trường, nhu cầu của
từng người học.
1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
- Trong thế kỷ XX, vào những năm 20 các chương trình có cấu trúc môđun đã
được sử dụng ở Mỹ, trong đào tạo bổ túc tức thời cho công nhân làm ở các dây chuyền
của các hãng sản xuất ôtô General motor, và Ford. Để đáp ứng công việc nhanh và
hiệu quả trong các dây chuyền sản xuất, công nhân được đào tạo cấp tốc trong các
khóa học ngắn (từ 2 đến 3 ngày). Người học được làm quen với mục tiêu công việc và
được đào tạo ngay tại dây chuyền với nội dung không thừa, không thiếu, nhằm đảm
nhận được một công việc cụ thể trong dây chuyền. Khi có sự thuyên chuyển vị trí làm
việc (nội dung công việc khác), người công nhân phải qua một khóa học ngắn hạn
tương tự. Phương pháp và hình thức đào tạo này đã nhanh chóng được phổ biến và áp
dụng rộng rãi ở Anh và một số nước Châu Âu, do tính thực dụng, tiết kiệm thời gian
và kinh phí đào tạo. Rất dễ nhận thấy đây là một kiểu đào tạo môđun đúng theo phong
cách Mỹ “thực chất, bộc trực và hiệu quả”[80].
Tại trung tâm giáo dục nghề nghiệp ở Viện ĐH Ohio của Mỹ, người ta đã sử
dụng hệ thống bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên, chương trình bổ túc
“năng lực cho GV” chương trình được cấu trúc từ 12 môđun đến 100 môđun[89].
Đặc điểm nổi bật của các chương trình có cấu trúc môđun ở Mỹ là nó được
phân tầng rất chặt chẽ, chủ yếu là 2 tầng với các “môđun” đơn vị đào tạo cơ bản và các
đơn vị thành phần là môđun bổ trợ.
- Ở Pháp, những khóa học có cấu trúc môđun được tổ chức trong thời gian sau
chiến tranh thế giới lần thứ II tại các vùng mỏ than. Nhưng nó khác ở chỗ công nhân
Mỹ được đào tạo nhằm đáp ứng cho dây chuyền sản xuất, còn ở Pháp nhằm giải
quyết công ăn việc làm cho công nhân mỏ, do tình trạng thất nghiệp tại các mỏ than,
7
nhưng trong cả 2 trường hợp các khóa học đều mang tính “trọn vẹn” và “tích hợp”
rất cao [26].
- Ở Thụy Điển, chương trình đào tạo công nhân khai thác gỗ được cấu trúc theo
trình tự và nội dung cơ bản qua các môđun đào tạo. Hệ thống đào tạo ở Thụy Điển
được đưa vào sử dụng từ những năm 50 của thế kỷ XX, nhưng cho đến nay vẫn chưa
hoàn thiện. Điều này cũng nói lên việc phân định giới hạn, và nội dung các môđun là
công việc rất phức tạp, nó quyết định hiệu quả của việc đào tạo theo môđun[85].
- Từ năm 1975, đào tạo môđun được áp dụng rộng rãi ở Australia. Nét nổi bật
của việc nghiên cứu, và ứng dụng môđun ở Australia là sự kế thừa, kết hợp các
chương trình đào tạo truyền thống, với các chương trình đào tạo theo môđun, cũng như
cách tổ chức đánh giá các chương trình đào tạo theo môđun. Việc nghiên cứu, đào tạo
nghề theo môđun tại Australia mang những nét đặc thù và quá trình vận dụng được
thực hiện một cách linh hoạt, tạo ra sự khác biệt giữa các bang khác nhau. Những công
trình công bố của M.O.Donnell và R.Meyer tại bang Victoria đã chứng tỏ sự khác biệt
này. Đóng góp của M.O.Donnell và R.Meyer trong các quan niệm và giải pháp về cấu
trúc chương trình có ý nghĩa rất quan trọng, đáng kể nhất là việc xây dựng chương
trình có cấu trúc môđun kết hợp với chương trình có cấu trúc truyền thống. Theo
M.O.Donnell, tính “trọn vẹn” chính là dấu hiệu bản chất của môđun đào tạo. Tính
“trọn vẹn” là “phần hồn” của một môđun, là tính chất có “ý nghĩa nhất” khi xem xét
các chương trình đào tạo được cấu trúc theo môđun. Các nghiên cứu của M.O.Donnell
đã làm phong phú lý luận về đào tạo theo môđun. Chúng ta biết rằng “phương pháp
tiếp cận theo người học”, “cá nhân hóa học tập” là một trong những điểm sáng lung
linh nhất của tiếp cận môđun trong đào tạo nghề và vốn nó đã mang lại nhiều cảm
hứng cho các nhà phát triển chương trình từ trước tới nay [78], [79].
- Ở Liên Xô (cũ) việc áp dụng phương thức đào tạo theo môđun, được Viện
khoa học dạy nghề nghiên cứu áp dụng thông qua nghiên cứu về các đơn vị kiến thức,
hoặc đã được trung tâm phương pháp Liên bang nghiên cứu bằng hình thức các “phiếu
công nghệ” trong các chương trình thực tập sản xuất, các phiếu lắp đặt [19].
- Ở nhiều nước khác như Nam Triều Tiên, Thái Lan, Philippin… cũng áp dụng
môđun đào tạo nghề.
8
- Gần đây, trong sự cải tổ bậc trung học, ở nhiều nước như Ấn Độ, Pakistan,
Thái Lan,… đã đưa các chương trình đào tạo nghề theo môđun vào kế hoạch dạy học
chính khóa ở các trường trung học phổ thông.
- Tổ chức lao động quốc tế ILO(International Labour Organization) đã xây
dựng cho mình một hệ thống đào tạo theo môđun hoàn chỉnh. Hệ thống này có ảnh
hưởng lớn đến chương trình đào tạo nghề của nhiều quốc gia, và là hệ thống có nhiều
thông tin nhất ở Việt Nam. Chương trình đào tạo theo môđun trong lĩnh vực đào tạo
ĐH gắn với hình thức đào tạo theo “hệ thống tín chỉ”. Hình thức đào tạo này bắt nguồn
từ khái niệm học tập của J.Deway, xem SV là nhân vật trung tâm, và họ cần được tự
thể nghiệm bản thân thông qua việc học tập phù hợp với những lợi ích cá nhân. Điều
này đòi hỏi phải làm cho các môđun có nội dung thực tiễn, có mối quan hệ rõ rệt với
thế giới hiện thực, người học phải được mở rộng khả năng trong việc lựa chọn phù hợp
và thiết thực [88].
- Hệ thống tín chỉ học tập xuất phát từ Viện ĐH Harvard, được Viện trưởng
Eliot thực hiện vào năm 1872. Chương trình đào tạo cổ điển cứng nhắc được thay thế
bởi sự lựa chọn rộng rãi các chương trình, các môn học đối với SV. Đào tạo theo hệ
thống tín chỉ đã phát triển rộng khắp, đặc biệt ở Mỹ. Thực tiễn thực hiện mô hình đào
tạo này cũng có những ưu điểm, và hạn chế nhất định. Đào tạo theo hệ thống tín chỉ có
ưu điểm là: Mang lại hiệu quả cao về phương diện quản lý, giảm giá thành đào tạo,
hiệu quả học tập cao và tạo ra tính mềm dẻo, khả năng thích ứng cao của các chương
trình đào tạo. Bên cạnh đó, hệ thống tín chỉ cũng bộc lộ những nhược điểm: Kiến thức
bị cắt vụn làm ảnh hưởng đến động cơ học tập của SV, SV nhìn mức độ học vấn quy
định cho một văn bằng như là sự tích lũy các tín chỉ học tập hơn là việc học tập vì lợi
ích cuối cùng của họ. Hạn chế này đã được khắc phục bằng sự khởi xướng hệ thống
“tín chỉ theo Môđun” của Khoa Giáo dục - Viện ĐH Massachusetts (Mỹ). Hệ thống tín
chỉ theo môđun, cho phép SV đạt được văn bằng ĐH qua việc tích lũy các loại tri thức
GD khác nhau, được đo lường bằng một đơn vị xác định. Tín chỉ theo môđun được cấp
cho SV thực hiện hoạt động học tập dưới sự điều khiển của giáo viên, nhưng cũng có
thể cấp cho các SV làm việc độc lập khi đã ký kết một “hợp đồng học tập cá nhân” với
giáo viên. Những nghiên cứu về hệ thống tín chỉ, hay tín chỉ theo môđun tập trung chủ
yếu vào phương diện quản lý, và xây dựng chương trình đào tạo. Do đó, nó thiếu
những chỉ dẫn đối với giáo viên khi họ tham gia vào quá trình phát triển chương trình
9
đào tạo. Mặc dù vậy, hệ thống tín chỉ đã rất phổ biến, và được áp dụng rộng rãi nhờ
những ưu điểm có hiệu quả đào tạo cao, có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao,
đạt hiệu quả về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo.
- Ở Đông Nam Á các nước như Thái Lan, Singapo... cũng đã tiếp thu, và vận
dụng kỹ thuật môđun hóa nội dung dạy học, và tổ chức đào tạo theo môđun.
- Hội nghị Quốc tế về “Triển khai áp dụng môđun trong đào tạo” được tổ chức
tháng 12 năm 1977 tại Băng Cốc (Thái Lan), và tháng 1 năm 1985 tại Pari (Pháp) đã
có khuyến nghị “Sử dụng môđun là thích hợp và cần thiết cho mọi đối tượng đào tạo.
Các nước không có nền kinh tế phát triển, đầu tư tổng thể cho giáo dục bị hạn chế nên
quan tâm tới đào tạo theo môđun. Không nên sa đà vào tranh cãi, duy danh thuật ngữ,
mà nên triển khai áp dụng và từ đó rút kinh nghiệm”[27].
- Đã có nhiều tài liệu biên soạn theo môđun như: “Khái niệm về môđun đào
tạo kỹ năng cần thiết” của Ban đào tạo nghề thuộc Văn phòng lao động quốc tế;
“Cẩm nang cho giáo viên về quản lý giáo dục” của tổ chức UNESCO khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương và một số sách, giáo trình VLĐC ở Mỹ cũng đã biện soạn
theo môđun [33].
Tóm lại, chương trình có cấu trúc môđun và phương pháp đào tạo theo môđun,
đã phát triển và ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Việc xây dựng cấu trúc
chương trình theo môđun ở mỗi quốc gia, trong từng lĩnh vực, và từng ngành nghề đã
có sự nghiên cứu, và ứng dụng một cách thận trọng trên cơ sở lý luận, và thực tiễn của
mỗi nước. Qua nghiên cứu cho thấy, quá trình tổ chức đào tạo nghề theo môđun ở các
nước đã có những hiệu quả nhất định.
1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Chương trình đào tạo theo môđun đã có mặt từ những năm 70 của thế kỷ XX
trong các chương trình của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam. Ở miền Bắc Việt Nam
chương trình đào tạo theo môđun du nhập muộn hơn một chút cùng với các kỹ thuật và
công nghệ mới chủ yếu từ các nước Đông Âu.
- Từ năm 1988, Viện Nhiên cứu ĐH và Giáo dục Chuyên nghiệp đã bắt đầu
nghiên cứu khả năng và điều kiện để áp dụng môđun dạy học trong đào tạo và tổ chức
đào tạo theo môđun. Đến năm 1989 đã công bố kết quả nghiên cứu của đề tài “Thí
sinh tự học”. Đề tài này mới chỉ phác thảo được khả năng tổ chức để SV học tập một
10
cách tự lực đạt tới mục tiêu đào tạo, đồng thời kiến nghị một số hình thức đào tạo trên
cơ sở SV tự học [33].
- Trong ngành y tế có một vài tài liệu đề cập sơ bộ lý luận về dạy học theo
môđun và thiết kế dạy học theo môđun như: “Sư phạm y học” NXB Y học - 1990;
“Học theo môđun” NXB Y học - 1992; Bệnh học đại cương - NXB Y học 1993[33].
- Người được coi là tiên phong nghiên cứu, và đã đưa ra khái niệm về môđun
dạy học là Nguyễn Ngọc Quang, qua những nghiên cứu về môđun dạy học, tuy không
nhiều nhưng đã đưa ra những cơ sở, giúp người đọc hình dung rõ nét, và ít nhiều có
được những kỹ thuật cơ bản để có thể môđun hóa những nội dung dạy học cụ thể. Từ
những nghiên cứu, ý tưởng của tác giả, những năm gần đây đã có các công trình
nghiên cứu, ứng dụng môđun dạy học trong giảng dạy đã được thực hiện. Năm 1993
Nguyễn Ngọc Quang cùng giảng viên Đặng Thị Oanh đã đề xuất biện pháp vận dụng
tiếp cận môđun vào việc đào tạo SV trường ĐHSP Hà Nội. Đó là nghiên cứu tình
huống mô phỏng hành vi, biên soạn theo tiếp cận môđun rèn luyện kỹ năng dạy học
cho SV[44],[48].
- Năm 1993, Nguyễn Minh Đường chủ biên cho ra cuốn “Môđun kỹ năng hành
nghề - phương pháp tiếp cận và biên soạn”. Đây là cuốn sách đầy đủ nhất về đào tạo
nghề theo môđun, từ quan niệm đến cách thức biên soạn, đã cung cấp cho người đọc
một cách có hệ thống về lý luận đào tạo nghề theo môđun. Thành công nhất của công
trình chính ở chỗ: lần đầu tiên các quan niệm của ILO đã được thể hiện qua các giải
pháp xây dựng cấu trúc chương trình trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Tuy nhiên, do
cuốn sách được biên soạn nhằm giúp cho đối tượng người học tiếp cận ngay chương
trình có cấu trúc môđun nên phần quan niệm và cơ sở lý luận về cấu trúc chưa được
các tác giả trình bày cặn kẽ [17].
- Năm 1995, tác giả Đỗ Huân bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ Khoa học
sư phạm - Tâm lý “Tiếp cận môđun trong xây dựng cấu trúc chương trình đào tạo
nghề”. Đây là luận án đầu tiên chọn vấn đề nghiên cứu về đào tạo nghề theo môđun,
tác giả đã xây dựng một lý luận về tiếp cận môđun trong xây dựng chương trình đào
tạo nghề trong điều kiện Việt Nam trên cơ sở triết học, tâm lý học sư phạm, lý luận
dạy học hiện đại. Tác giả đã chỉ ra những nội dung cơ bản của định hướng xây dựng
cấu trúc chương trình đào tạo nghề theo môđun và đề xuất quy trình xây dựng chương
trình có cấu tạo môđun trong lĩnh vực đào tạo nghề ở Việt Nam bao gồm 5 thành phần:
11
xác định nhu cầu làm việc; phân tích việc làm thành các nhiệm vụ, các kỹ năng thực
hiện cần thiết; xây dựng khả năng học tập của học sinh; xây dựng cấu trúc chương
trình mô đun; biên soạn nội dung môđun, từ đó đi đến kết luận “vấn đề tiếp cận môđun
trong xây dựng cấu trúc chương trình là vấn đề nghiên cứu có thực và cần thiết”. Như
vậy, dạy học theo môđun là một tiếp cận mới, mặc dù có nhiều triển vọng, song chưa
có nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm trong lĩnh vực này [27].
- Cũng năm 1995, Giảng viên Nguyễn Thị Oanh tiếp tục phát triển hướng
nghiên cứu của mình, và đã bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ Khoa học sư phạm
- Tâm lý: “Dùng bài toán tình huống mô phỏng rèn luyện kỹ năng thiết kế công nghệ
bài nghiên cứu tài liệu mới cho SV khoa hóa học ĐHSP”. Luận án đã nghiên cứu biên
soạn nội dung dạy học theo tiếp cận môđun. Theo tác giả để triển khai được một hệ
thống dạy học kiểu mới “hệ tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn” thì việc biên soạn và
tổ chức dạy học phải thực hiện theo tiếp cận môđun. Từ những đặc trưng cơ bản của
một môđun dạy học, cấu trúc của môđun dạy học, tác giả đã tiếp cận môđun để xây
dựng hệ thống kỹ năng thiết kế công nghệ bài dạy và rèn luyện kỹ năng dạy học cho
SV sư phạm hóa học. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm sư phạm cho thấy tài liệu biên
soạn theo phương pháp môđun dùng cho sinh viên tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn
cho phép SV phát huy các năng lực của bản thân. Tuy nhiên luận án chưa đưa ra các
phương hướng, nguyên tắc, quy trình biên soạn tài liệu và các hình thức sử dụng tài
liệu [44].
- Cũng theo hướng nghiên cứu này, năm 1995 Phạm Văn Lâm đã bảo vệ thành
công luận án Phó Tiến sĩ Khoa học sư phạm - Tâm lý với đề tài: “Nâng cao chất lượng
thực tập VLĐC ở trường ĐH kỹ thuật bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo
môđun”. Trong luận án tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận như: Các hệ thống dạy học;
Các hình thức tổ chức dạy học ở đại học; Cộng nghệ dạy học hiện đại; Môđun dạy
học; Phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun. Trong các hệ thống dạy học tác
giả đã tổng hợp và phân tích về hệ dạy học “tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn”. Còn
trong các hình thức dạy học ở đại học (Bài giảng, Xêmina,...) tác giả đã quan tâm đến
một hình thức mới đó là “hình thức tự học có hướng dẫn”, hình thức dạy học lấy tự
học là chính, với sự hướng dẫn của GV và tài liệu. Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận
về môđun, môđun dạy học, cấu trúc của môđun dạy học, phương pháp tự học có
hướng theo môđun, ưu nhược điểm của phương pháp tự học có hướng dẫn theo
12
môđun, nghiên cứu về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học VLĐC nói chung và
thực trạng dạy học thực tập VLĐC nói riêng, từ đó tác giả đã đưa đến nhận định ứng
dụng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun là một giải pháp để nâng cao chất
lượng thực tập VLĐC.
Từ nghiên cứu cơ sở lý luận về môđun dạy học, phương pháp tự học có hướng
dẫn theo môđun và thực tiễn dạy học thực tập VLĐC, tác giả đã thiết kế nội dung thực
tập VLĐC theo môđun, thiết kế phương pháp dạy học và đưa ra những điều kiện cần
thiết để dạy học thực tập VLĐC bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun.
Qua thực nghiệm sư phạm cho thấy: Phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun có
tính khả thi; SV chấp nhận và hứng thú học tập thực tập VLĐC hơn phương pháp cũ;
Chất lượng thực tập VLĐC được nâng lên; Khẳng định được khả năng ứng dụng mở
rộng của phương pháp dạy học này không những ở lĩnh vực thực tập VLĐC mà còn có
thể ứng dụng mở rộng ở một số lĩnh vực khác.
Tuy nhiên, ở nghiên cứu này tác giả đi sâu phân tích khả năng và triển vọng của
việc ứng dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học học phần thí
nghiệm VLĐC, còn bỏ ngỏ phần lý thuyết, bài tập VLĐC. Tác giả cũng chưa đi sâu
nghiên cứu về năng lực tự học, đặc điểm tự học của SV, đặc điểm hoạt động nhận thức
của SV Đại học NKT, tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng
năng lực tự học cho SV Đại học NKT như thế nào, và chưa xây dựng bảng tiêu chí
đánh giá năng lực tự học của SV, chưa đưa ra phương hướng, nguyên tắc, quy trình
chung để xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun [33].
Vấn đề tự học, tự học tiếp cận theo môđun, các năm gần đây cũng có một số tác
giả nghiên cứu và đề cập đến như:
- Năm 2009, Dương Huy Cẩn trong luận án Tiến sĩ Giáo dục học với đề tài:
“Tăng cường năng lực tự học cho SV hóa học ở trường ĐHSP bằng phương pháp tự
học có hướng dẫn theo môđun”. Luận án cũng đã nghiên cứu thực trạng vấn đề tự học
của SV, trên cơ sở đó đã đưa ra các biện pháp tăng cường năng lực tự học cho SV.
Một trong những biện pháp mà tác giả sử dụng đó là “Tự học bằng tài liệu tự học có
hướng dẫn theo môđun”. Qua kết quả thực nghiệm sư phạm cho phép khẳng định việc
nghiên cứu thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun và tổ chức dạy học bằng
tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun là phù hợp, thiết thực góp phần vào việc đổi
mới phương pháp dạy học ở Đại học. Tuy nhiên trong luận án tác giả chủ yếu đi sâu
13
nghiên cứu các biện pháp nhằm tăng cường năng lực tự học cho SV sư phạm Hóa học,
mà chưa đưa ra phương hướng, nguyên tắc, quy trình xây dựng tài liệu tự học có
hướng dẫn theo môđun cũng như các hình thức sử dụng tài liệu sao cho hiệu quả [11].
- Năm 2010, trong đề tài luận án Tiến sĩ Giáo dục học của Nguyễn Thị Ngà với
đề tài: “Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần kiến thức
cơ sở hóa học chung - chương trình THPT chuyên hóa học góp phần nâng cao năng
lực tự học cho học sinh”[41]. Tác giả cũng đã đi sâu nghiên cứu hệ dạy học “Tự học -
cá thể hóa - có hướng dẫn” là một hình thức dạy học hiện đại, đáp ứng được yêu cầu
nâng cao năng lực tự học của học sinh, trên cơ sở đó đưa ra cơ sở lý luận để biên soạn,
tổ chức nội dung dạy học theo tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun. Tác giả đã
đưa ra được nguyên tắc xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun cho đối
tượng là học sinh chuyên hóa. Qua thực nghiệm sư phạm cho thấy tài liệu tự học có
hướng dẫn theo môđun đã có tác dụng rõ rệt nâng cao hứng thú học tập, lòng tự tin của
học sinh vào khả năng học tập của bản thân, rèn luyện cho học sinh những kỹ năng TH
cơ bản. Tuy nhiên theo chúng tôi tác giả vẫn chưa đưa ra phương hướng, nguyên tắc,
quy trình chung để xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun.
Tóm lại nghiên cứu về môđun và môđun dạy học đã được nhiều nhà khoa học
nghiên cứu, tìm hiểu dưới các góc độ khác nhau, nhưng các tác giả đều có chung một
hướng khi nghiên cứu về môđun là làm rõ hơn bản chất, đặc trưng của môđun nhằm
phát huy hiệu quả của môđun trong quá trình đào tạo. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có
khung lý thuyết nào về tài liệu có hướng dẫn theo môđun được chấp nhận rộng rãi
trong điều kiện hiện nay; chưa có công trình nghiên cứu nào về việc xây dựng các tài
liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học cho SV đại học ngành kỹ thuật;
chưa có công trình nào trình bày đầy đủ và hệ thống về phát huy năng lực tự học của
SV trong việc sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun.
1.3. Những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu
Khi nghiên cứu, tìm hiểu về môđun các nhà khoa học đã có nhiều hướng đi và
cách tiếp cận khác nhau theo các mục đích riêng của mỗi người. Đặc biệt ở Việt Nam
mặc dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về môđun và môđun dạy học,
nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần được làm sáng tỏ hơn khi xây dựng và sử dụng các tài
liệu theo môđun trong việc bồi dưỡng năng lực tự học của SV.
14
Hiện nay, các trường ĐH trong cả nước đã chuyển toàn bộ từ đào tạo theo niên
chế, sang đào tạo theo tín chỉ. Từng trường ĐH được tự do biên soạn chương trình của
riêng mình, tuy nhiên việc biên soạn tài liệu dạy học theo chương trình này mới chỉ bắt
đầu, đa số tài liệu không khác gì so với hình thức đào tạo theo niên chế, ở một số học
phần mà SV tự học là chủ yếu thì với các tài liệu này SV tự học rất khó khăn.
Vì vậy, rất cần thiết phải có một tài liệu hướng dẫn tự học VLĐC dành cho SV
Đại học NKT để góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho SV, và nâng cao chất lượng
đào tạo. Nhưng cho đến nay, đối với chương trình VLĐC chỉ có duy nhất một đề tài
luận án của tác giả Phạm Văn Lâm viết về phương pháp tự học có hướng dẫn theo
môđun cho phần thực tập VLĐC ở trường ĐH kỹ thuật. Còn chưa có tác giả nào đề
cập, biên soạn và tổ chức nội dung dạy học theo tài liệu tự học có hướng dẫn theo
môđun với nội dung lý thuyết, bài tập VLĐC đối với SV Đại học NKT. Vậy theo
chúng tôi vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện như sau:
- Tìm hiểu đặc điểm hoạt động nhận thức Vật lý đại cương của sinh viên đại
học ngành kỹ thuật, cơ sở lý luận về phương pháp dạy học đại học theo tín chỉ để có
thể khai thác, sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun vào dạy học VLĐC.
- Xây dựng được bộ tiêu chí để đánh giá tài liệu tự học có hướng dẫn theo
môđun góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật.
- Đưa ra phương hướng, nguyên tắc, quy trình chung xây dựng tài liệu tự học có
hướng dẫn theo môđun.
- Xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun nhằm góp phần bồi dưỡng
năng lực tự học của SV Đại học nói chung và SV Đại học NKT nói riêng.
- Đề xuất các hình thức sử dụng tài liệu có hướng dẫn theo môđun sao cho phù
hợp với điều kiện dạy học hiện nay và nhằm góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho
SV nói chung và SV Đại học NKT nói riêng.
Đề tài “Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần
“Điện học” VLĐC góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành
kỹ thuật” là cấp thiết. Đề tài theo hướng nghiên cứu này cần được tổ chức triển khai
cho nhiều môn học ở các loại hình đào tạo, các chuyên ngành đào tạo khác nhau ở các
trường CĐ và ĐH.
15
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua nghiên cứu tổng quan về vấn đề nghiên cứu cho chúng ta thấy rằng, dạy
học theo hướng tiếp cận môđun đã được nhiều nước có nền giáo dục phát triển quan
tâm nghiên cứu, vận dụng và đã thu được kết quả tốt trong thực tiễn. Các công trình
nghiên cứu về môđun ở những nước này đã mở ra cho nền giáo dục hiện đại cách tiếp
cận mới trong dạy học nhằm phát huy tính độc lập, sáng tạo của người học, giúp người
học có hứng thú và hiệu quả học tập cao hơn.
Trong dạy học ở THPT và ĐH ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên
cứu biên soạn tài liệu, tổ chức dạy học theo hướng tăng cường khả năng tự học cho
HS, SV theo hướng tiếp cận môđun và cũng thu được những kết quả nhất định. Tuy
nhiên vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra khi nghiên cứu tìm hiểu về môđun đòi hỏi cần phải
tiếp tục làm sáng tỏ hơn trong các lý luận về mônđun, tự học theo môđun cũng như
việc xây dựng và sử dụng các tài liệu có hướng dẫn theo môđun nhằm phát huy năng
lực tự học cho người học.
16
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG
VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN
2.1. Khái niệm tự học
2.1.1. Một số quan điểm về tự học
Quan điểm về tự học đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra một số
định nghĩa dưới các góc độ khác nhau.
- Tác giả N.A.Rubakin cho rằng. Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh
nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối
quan hệ, cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh
thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo
của bản thân chủ thể [52]. Như vậy tác giả coi tự học là một hoạt động nhận thức độc
lập của cá nhân để tự tìm lấy tri thức.
- G.D.Sharma cho rằng: Một phương pháp dạy học hiệu quả, giúp cá nhân lĩnh
hội được những tri thức và kỹ năng khác nhau một cách thỏa đáng gọi là phương pháp
tự học [53]. Ở đây tác giả lại nhìn nhận tự học như là một phương pháp dạy học diễn
ra dưới sự hướng dẫn, tổ chức của người GV trong quá trình DH.
- Khi nghiên cứu những phương hướng tổ chức hoạt động TH cho SV các
trường quân sự dưới góc độ hình thức tổ chức tự học. Trịnh Quang Từ cho rằng: “Tự
học là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học bằng hoạt động của
chính mình, hướng tới những mục đích nhất định” [71, tr.21-22].
- Nguyễn Ngọc Bảo quan niệm: Tự học là việc người học có thể tự mình tìm ra
kiến thức, khai thác kiến thức bằng hành động của chính mình, tự thể hiện mình và
hợp tác với các bạn, tự tổ chức hoạt động học, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh
hoạt động học của mình [5].Với quan điểm này tác giả coi tự học là một hoạt động
hoàn toàn độc lập của bản thân người học, người học tự quyết định cách thức, phương
pháp học mà không cần đến sự giúp đỡ, điều khiển của GV.
- Lưu Xuân Mới quan niệm: Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá
nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân tiến hành ở trên
lớp, ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy
định. Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở ĐH có tính độc lập cao và
mang đậm nét sắc thái cá nhân nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học[39].
17
Theo tác giả, tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản, có tính độc lập cao và
mang đậm màu sắc cá nhân, nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học.
- Nguyễn Cảnh Toàn quan niệm: Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng
các năng lực trí tuệ(quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp...) và có khi cả cơ bắp (khi
phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân
sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, ý chí tiến thủ, không ngại
khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học...) để chiếm lĩnh một lĩnh vực
hiểu biết nào đó [64], [66]. Như vậy theo tác giả, tự học bao gồm nhiều thao tác, hành
động tích cực, tự chủ và có ý thức cao của bản thân người học, tự học là hoạt động
diễn ra ngoài giờ lên lớp và không có sự giáp mặt giữa thầy và trò.
- Theo Nguyễn Đình Thước, Hà Văn Hùng cho rằng: “Tự học là một hình thức
tổ chức dạy học cơ bản nhất ở Đại hoc. Đó là một hình thức hoạt động nhận thức của
cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học
tiến hành ở trên lớp hoặc ngoài lớp, hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa
quy định. Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học, nhưng nó có tính độc lập
cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân” [63, tr.53]. Ở quan điểm này các tác giả coi tự
học là một hình thức tổ chức dạy học ở ĐH và đánh giá cao về tính độc lập của bản
thân người học, nhưng vẫn có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học.
- Thái Duy Tuyên quan niệm: Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo... và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản
thân người học [68]. Ở đây tác giả lại nhìn nhận tự học dưới góc độ nhận thức của
người học, người học hoàn toàn độc lập để có thể chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ
xảo và cả kinh nghiệm lịch sử của xã hội.
- Theo Lê Khánh Bằng: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí
tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định” [6, tr.3]. Tác
giả trong quan điểm này lại coi tự học như là một biện pháp, cách thức để chiếm lĩnh
tri thức.
“Tự học có thể quan niệm như là một phương pháp dạy học bởi nó liên quan
trực tiếp tới cách thức giảng dạy của thầy và cách thức học tập của trò. Hiệu quả của
hoạt động tự học phụ thuộc không nhỏ vào phương pháp dạy học của GV” [57, tr.17].
Sự khác biệt về quan niệm tự học nêu trên của các tác giả là do các góc độ
nghiên cứu khác nhau về tự học. Có tác giả nghiên cứu tự học là một hoạt động hoàn
18
toàn độc lập, không có sự giúp đỡ của Thầy. Có tác giả lại nghiên cứu sự tự học là
hoạt động trong mối quan hệ thống nhất với hoạt động dạy.
Các tác giả tuy có những lập luận khác nhau trong quan niệm tự học, nhưng đều
có điểm chung khi nói về tự học là: Tự học là hình thức hoạt động nhận thức độc lập,
tích cực, tự giác ở mức độ cao; tự học là quá trình mà trong đó chủ thể người học tự
biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng các thao tác trí tuệ, chân tay,
nhờ cả ý chí, nghị lực và sự say mê của cá nhân; tự học là tự tìm tòi, tự đặt câu hỏi, tự
tìm hiểu để nắm được vấn đề, hiểu sâu hơn, thậm chí hiểu khác đi bằng cách sáng tạo,
đi đến một đáp số, một kết luận khác; tự học là tự mình tìm ra tri thức, tự biến đổi
mình, tự làm phong phú giá trị của mình thông qua các hành động cụ thể và bằng vốn
tri thức sẵn có, lòng ham học hỏi, ý chí quyết tâm của bản thân để đạt được mục đích
nhất định[8], [31], [53], [71].
Như vậy trong xã hội hiện nay với xu thế toàn cầu hóa, học tập suốt đời là yêu
cầu tồn tại của mỗi người và là cơ sở để hướng tới xây dựng một xã hội học tập. Đồng
thời nó cũng là chìa khoá nhằm vượt qua những thách thức của thời đại, với bốn mục
tiêu: “học để làm, học để biết, học để chung sống và học để làm người”. Quan niệm
“học tập suốt đời” sẽ giúp con người đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội thay đổi
ngày một. Điều mà “không thể thoả mãn những đòi hỏi đó được, nếu mỗi người không
học cách học” [2]. Trong đó, học cách học chính là học cách TH.
Tóm lại theo chúng tôi “Tự học là hình thức học tập mang đậm màu sắc cá nhân,
tự học là tự mình quyết định ý thức trách nhiệm đối với việc học, tự lựa chọn mục tiêu,
nội dung, các phương pháp học, tự tổ chức, xây dựng tiến trình học tập và tự kiểm tra,
nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và cả kinh nghiệm lịch sử của nhân loại. Tự học
có thể được hướng dẫn bởi GV, cũng có thể người học tự học trong quá trình dạy học có
hướng dẫn, người học có thể tự học một cách độc lập thông qua các tư liệu(tài liệu dạng
văn bản, dạng số hóa,...). Tự học là nền tảng để học tập suốt đời”.
2.1.2. Quá trình tự học
Theo Thái Duy Tuyên [67], Trần Bá Hoành [23] quá trình tự học bao gồm các
bước: 1. Hình thành động cơ tự học; 2. Lập kế hoạch học tập; 3. Thực hiện kế hoạch;
4. Tự kiểm tra việc thực hiện kế hoạch.
Từ các kết quả tự học của SV sẽ nảy sinh các động cơ tự học mới, làm khởi đầu
cho hoạt động tự học tiếp theo. Như vậy, quá trình tự học gồm nhiều quá trình đồng
hóa và điều ứng kế tiếp nhau.
19
Để đúc kết kinh nghiệm trong việc học, người học đánh giá mình đã đạt được
những mục tiêu đã đề ra ban đầu chưa và phương pháp thực hiện có hiệu quả không,
để qua đó họ tự điều chỉnh việc hoạch định và thực hiện kế hoạch học tập của mình, vì
thế, tự học có liên quan chặt chẽ với việc học thông qua HĐ phân tích hành động. Như
vậy, ta có thể thấy rằng tự học sẽ phát huy năng lực độc lập học tập của người học.
Hoạt động tự học có một số đặc trưng nổi bật: Tính độc lập cao; Động cơ tự học
có tính chất nội sinh; Có khả năng lựa chọn cao cả về nội dung, phương pháp, hình
thức tự học; Phương pháp tự học mang tính cá nhân rất cao [64]; Trong tự học, vai trò
người học được thể hiện ở việc: Tự quyết định lựa chọn mục tiêu học tập, lựa chọn các
nội dung tự học; Tự lựa chọn các hình thức, phương pháp tự học; Tự lựa chọn phương
thức đánh giá quá trình tự học của bản thân, để từ đó điều chỉnh tiến trình học tập với
ý thức trách nhiệm cao.
Như vậy, để việc tự học đạt được mục đích, GV có các biện pháp phù hợp để
SV tự quyết định việc lựa chọn mục tiêu học tập, tham gia các HĐ học tập và chủ
động xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình tự học của cá nhân với ý thức trách
nhiệm cao.
2.1.3. Các hình thức tự học
* Căn cứ vào mức độ độc lập của người học TH có thể diễn ra dưới các hình
thức tự học như sau [51]:
- Tự học độc lập không có sự hướng dẫn của thầy:
Với cách tự học này, người học hoàn toàn độc lập để hoàn thành các nhiệm vụ
học tập của mình, mà không có sự hướng dẫn điều khiển của Thầy. SV có thể tự học từ
giáo trình, từ các phần mềm, các tài liệu đã có, SV tự tìm hiểu, tự nghiên cứu để tiếp
cận và thu nhận kiến thức. Qua tự học, SV phát triển về tư duy, về phẩm chất để chiếm
lĩnh tri thức và thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của bản thân. Đây là hình thức tự học ở
mức độ cao, vì SV phải tự mình tổ chức toàn bộ hoạt động học trong quá trình chiếm
lĩnh tri thức.
- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Đây là hình thức tự học ngoài tính tự chủ của
người học, còn có những tác động khách quan mang tính định hướng, chỉ dẫn để việc
học tập mang kết quả cao(như bài học trong các tài liệu hướng dẫn của thầy…). Người
học trực tiếp làm việc với tài liệu hướng dẫn. Trong tài liệu trình bày mục tiêu, nội
dung, phương pháp xây dựng kiến thức, chỉ dẫn cách tra cứu để tìm kiếm, bổ sung
kiến thức. Ở hình thức tự học này, người học phải có tính tự giác và tính tích cực cao.
20
Hiệu quả của hoạt động học tập ở hình thức tự học này phụ thuộc vào vai trò tích cực,
chủ động hoàn thành các nhiệm vụ học tập của người học, thông qua tài liệu hướng
dẫn tự học.
- Tự học diễn ra dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo, điều khiển trực tiếp của thầy:
Đây là hình thức tự học diễn ra trực tiếp trên lớp, thông qua các bài giảng, với
hình thức tự học này, SV có nhiều thuận lợi hơn so với các hình thức tự học ở trên, GV
sẽ điều khiển và hướng dẫn SV, nhằm đạt được các mục tiêu của bài học. Kết quả tự
học của SV phụ thuộc vào mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa GV và SV. Trong
đó, sự hướng dẫn, tổ chức và chỉ đạo của thầy đóng vai trò quan trọng, yếu tố đóng vai
trò quyết định là tính tích cực, tự giác, năng lực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động tự
học của SV. Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của người thầy trong hình thức tự học này là
phải phát huy được tính tích cực, tính độc lập hoàn thành nhiệm vụ học tập của SV,
hình thành phương pháp tự học cho SV, để SV có khả năng tự học và hoàn thành
nhiệm vụ học tập.
* Căn cứ vào không gian tiến hành tự học có các hình thức tự học như sau
[56], [74], [25]:
- Tự học ở trên lớp: Là hình thức tự học mà trong đó, dưới sự hướng dẫn, tổ
chức, điều khiển của GV ở trên lớp, người học tự giác, tích cực tiến hành các hoạt
động để chiếm lĩnh tri thức, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo học tập theo mục đích,
mục tiêu dạy học đã đề ra. Hình thức tự học ở trên lớp có nhiều điểm tương đồng với
hình thức tự học có sự tổ chức, điều khiển trực tiếp của thầy.
- Tự học ở nhà: Là hình thức người học tiến hành các hoạt động độc lập ở nhà,
để hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu học tập đã đề ra. Hình thức này đòi hỏi người
học phải có tính tích cực, tự giác và phẩm chất ý chí cao độ vì lúc này, người học tiến
hành học tập mà không có sự giáp mặt trực tiếp với thầy. Đối với mỗi người học, học
tập ở nhà là một hình thức quan trọng và diễn ra thường xuyên, đó có thể là sự chuẩn
bị trước cho tiến trình học tập trên lớp hoặc là sự tiếp nối một cách có hệ thống và sâu
sắc việc học tập trên lớp với sự hướng dẫn của GV.
- Tự học trong trung tâm thư viện: Đây là một địa điểm được thiết kế đặc biệt
bao gồm một lượng lớn các trang thiết bị phục vụ cho cá nhân hoặc từng nhóm nhỏ
nghiên cứu những vấn đề độc lập trong quá trình học tập. Hình thức này có thể hỗ trợ
rất tốt cho việc tự học nhờ các trang thiết bị và tài liệu hữu ích, đa dạng.
21
Học ở thư viện là học với tài liệu, học không có thầy bên cạnh. Hình thức học
tập này đòi hỏi SV phải tự giác, tích cực huy động kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm tra
cứu và xử lý tài liệu để giải quyết vấn đề học tập đặt ra. Học ở thư viện giúp SV hình
thành thói quen và kỹ năng làm việc độc lập với sách, từ đó dần hình thành phẩm chất
và năng lực cần thiết để học tập suốt đời.
- Tự học thông qua các câu lạc bộ, hoạt động ngoại khóa, hoạt động nhóm...:
Với hình thức này, SV được gặp gỡ, tiếp xúc với bạn bè và những người có kinh
nghiệm để trao đổi, giao lưu, chia sẻ những khó khăn, băn khoăn trong học tập. Bên
cạnh đó, mỗi SV còn hình thành cho mình kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng hợp tác
với bạn bè để cùng tháo gỡ khó khăn, vượt qua những thách thức trong môi trường học
tập hiện đại.
* Căn cứ vào các phương tiện hỗ trợ tự học có các hình thức [53]:
- Tự học với sự hỗ trợ của máy tính và các phần mềm: Hình thức này thường
được triển khai bằng cách GV dựa trên những công cụ tin học, những phần mềm dạy
học để tạo ra các bài giảng tích hợp âm thanh và hình ảnh sinh động. Bài học được
phân phối đến người học qua đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm. Với cách này, vào bất kì
thời gian nào, ở đâu, người học cũng có thể mua và tự học được. Tuy nhiên, điểm hạn
chế của nó là thiếu hoặc rất ít có sự hướng dẫn của giảng viên.
- Tự học qua Website: Là hình thức tự học thông qua các phương tiện điện tử,
dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông. Hình thức này khắc phục được hạn chế
của việc tự học với sự hỗ trợ của máy tính và các phần mềm ở chỗ nó tạo ra sự tương tác
tích cực giữa người học với tài liệu học tập, người học với GV và người học với người
học thông qua các hình thức giao tiếp đồng bộ hoặc không đồng bộ trên mạng.
Như vậy, có rất nhiều hình thức khác nhau để người học có thể tự học, độc lập
chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo và hoàn thiện nhân cách bản thân.
2.2. Năng lực tự học
2.2.1. Kỹ năng và kỹ năng tự học
* Bàn về kỹ năng có nhiều quan niệm khác nhau:
V.A.Krutetxki cho rằng: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động, cái mà
con người lĩnh hội được” [33, tr.78]. Ở quan điểm này tác giả coi KN như một phương
thức để thực hiện một hành động nào đó, tác giả mới chỉ nhấn mạnh về mặt kỹ thuật
mà chưa quan tâm đến kết quả.
22
J.N.Richard với định nghĩa: Kỹ năng là hành vi thể hiện hành động ra bên ngoài
và chịu sự chi phối của cách cảm nhận và suy nghĩ của cá nhân[85]. Ở quan điểm này,
tác giả lại coi KN như một biểu hiện, một động tác thể hiện ra bên ngoài mà không
quan tâm nhiều đến mặt kỹ thuật, cũng như kết quả của nó.
Đặng Thành Hưng cho rằng: “Kỹ năng là một dạng hành động được thực hiện
tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học
- tâm lý khác của cá nhân(chủ thể có kỹ năng đó) như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính
tích cực cá nhân... để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức
độ thành công theo chuẩn, hay quy định” [31, tr.25-27]. Với quan điểm này tác giả đã
chỉ ra kỹ năng là một dạng của năng lực, là hành động có ý thức, tự giác để đạt được
kết quả theo những chuẩn mực.
Theo Đỗ Hương Trà: “Kỹ năng là tổ hợp những thao tác, cử chỉ phối hợp một
cách hợp lí, nhằm đảm bảo hành động đạt kết quả cao với sự tiêu hao năng lượng tinh
thần và cơ bắp ít nhất trong những điều kiện nhất định”. Kỹ năng là hành động có ý
thức, trong đó tiềm ẩn các biện pháp để đạt được mục đích. Biểu hiện của kỹ năng:
Tính đúng đắn khi thực hiện hành động; Chất lượng của các kết quả của hành động;
Tốc độ thực hiện và hiệu quả của hành động; Mức độ ít mệt mỏi khi thực hiện hành
động; Cách thức, phương thức tiến hành hành động. Kỹ năng càng thành thạo thì tốc
độ của hành động càng nhanh, độ chuẩn xác và chất lượng của hành động càng cao,
phương thức tiến hành càng đúng và càng ít mệt mỏi [69, tr.76].
Có nhiều quan niệm về kỹ năng, tuy nhiên các tác giả đều có chung một quan
điểm khi nói về kỹ năng đó là: kỹ năng là những thao tác, những hành động cụ thể,
tích cực của cá nhân dựa trên năng lực của bản thân để hoàn thành có kết quả công
việc đã đề ra.
Tóm lại theo chúng tôi: Kỹ năng là những hành động dựa trên cơ sở tri thức, ý
chí tích cực của cá nhân, để vận dụng những thức kiến thức thu được nhằm thực hiện
thành công một nhiệm vụ cụ thể.
Quan điểm về kỹ năng tự học cũng có các ý kiến của các tác giả như: Theo
Trần Thị Minh Hằng: “Kỹ năng tự học là những phương thức thể hiện hành động tự
học thích hợp, tương ứng với mục đích và những điều kiện hành động, hình thành kỹ
xảo đúng trong hoạt động tự học đảm bảo cho hoạt động tự học của SV đạt kết quả”
[21, tr.47].
23
Theo Ngô Quang Sơn: “Kỹ năng tự học bao gồm kỹ năng thu thập thông tin,
huy động vốn tri thức đã có, sử dụng các phương pháp nhận thức và các thao thác tư
duy để tự mình giải quyết được các nhiệm vụ học tập, chiếm lĩnh được tri thức mới,
hình thành năng lực” [51, tr.62].
* Kỹ năng tự học bộc lộ ra bên ngoài là biểu hiện của nhận thức tự học và thái
độ tự học. Kỹ năng tự học tùy theo trình tự công việc hay loại hình công việc bao gồm
nhiều loại khác nhau.
Các kỹ năng tự học bao gồm: [52]
- Đọc, nghiên cứu giáo trình và tài liệu học tập, chọn ra những tri thức cơ bản,
chủ yếu, sắp xếp, hệ thống hóa theo trình tự hợp lí, khoa học.
- Phát huy được những thuận lợi và hạn chế những mặt non yếu của bản thân
trong quá trình học ở lớp, ở nhà, ở thư viện, ở phòng thí nghiệm, ở cơ sở thực tế.
- Vận dụng các lợi thế và khắc phục các khó khăn, thích nghi với các điều kiện
học tập(cơ sở vật chất, phương tiện học tập, thời gian học tập…)
- Sử dụng linh hoạt các hình thức và phương pháp học tập cho phép đạt hiệu
quả học tập cao.
- Xây dựng kế hoạch học tập trong tuần, tháng, học kỳ, cả khóa học.
- Sử dụng có hiệu quả kỹ thuật đọc sách, nghe giảng, trao đổi, thảo luận, tranh
luận, xây dựng đề cương, viết báo cáo, thu thập và xử lí thông tin.
- Lắng nghe thông tin tri thức và giải thích tài liệu cho người khác.
- Phân tích, đánh giá và sử dụng các thông tin.
- Kiểm tra và đánh giá chất lượng tri thức và kỹ năng của bản thân và bạn học.
- Vận dụng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng.
2.2.2. Năng lực và năng lực tự học
* Năng lực
Khái niệm năng lực được hiểu dưới nhiều cách khác nhau:
F.E. Weinert cho rằng: “Năng lực là những kĩ năng, kĩ xảo học được, hoặc sẵn
có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động
cơ xã hội… và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [91, tr.12]. Ở quan điểm này tác giả chú
trọng tính thực hành của năng lực.
24
Howard Gardner khẳng định: “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt
động có kết quả và có thể đánh giá, hoặc đo được”[81, tr.11]. Tác giả lại đề cập đến tính định lượng của năng lực
Theo OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) cho rằng: “Năng lực là khả
năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp, và thực hiện thành công nhiệm vụ trong
một bối cảnh cụ thể ”[90]. Ở quan điểm này năng lực lại được xem xét dưới khía cạnh
là nội lực bên trong, là cái vốn có để thực hiện thành công nhiệm vụ.
Denys Tremblay, nhà tâm lý học người Pháp quan niệm rằng: “Năng lực là khả
năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy
động, và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn
đề của cuộc sống” [77, tr.12]. Tác giả cũng đề cập năng lực dưới góc độ là khả năng
vốn có, là việc sử dụng, vận dụng tri thức để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong
cuộc sống.
Ở Việt Nam, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực. Theo từ điển
tiếng việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên thì “Năng lực là khả năng,
điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó” [45,
tr.660].
Phạm Minh Hạc cho rằng: "Năng lực là một tổ hợp đặc điểm tâm lý của một
người, tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt
động nào đấy" [20, tr.145].
Theo Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn: “Năng lực là tổng hợp những
thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt
động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động
ấy” [58, tr.11].
Theo Nguyễn Văn Lê: “Năng lực (hay cũng có khi người ta gọi là khả năng, ví
dụ: Khả năng văn nghệ, thể thao, khả năng tính nhẩm…) là một sự kết hợp linh hoạt
và độc đáo nhiều đặc điểm tâm lý của một người, tạo thành những điều kiện chủ quan
thuận lợi giúp cho người đó tiếp thu dễ dàng, tập dượt nhanh chóng và hoàn thành hoạt
động đạt hiệu quả cao trong một lĩnh vực nào đó” [36, tr.7].
Năng lực luôn được xem xét trong mối quan hệ với hoạt động, hoặc quan hệ với
một đặc trưng tâm lý nhất định nào đó. Theo Đặng Thành Hưng [30, tr.25-27] thì NL có cấu trúc gồm ba bộ phận cơ bản : Tri thức về lĩnh vực hoạt động, hay quan hệ đó; Kỹ
năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử với quan hệ nào đó; Những điều kiện tâm
25
lý để tổ chức và thực hiện tri thức, kỹ năng trên trong một cơ cấu thống nhất và theo một
định hướng rõ ràng.
Năng lực của mỗi người một phần dựa trên cơ sở tư chất, nhưng điều chủ
yếu là năng lực hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con
người dưới sự tác động của rèn luyện, DH và giáo dục. Việc hình thành, và phát
triển các phẩm chất, nhân cách, là phương tiện có hiệu quả nhất để phát triển năng
lực [58, tr.90].
Dưới góc độ tâm lí học, năng lực được hiểu: Năng lực là một cấu tạo tâm lí phức
tạp, đó là một tổ hợp các thuộc tính cá nhân, phù hợp với các yêu cầu của một hoạt
động, và đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả.
Dưới góc độ GD học: Năng lực là sau khi được đào tạo, một người nào đó có khả
năng thực hiện những nhiệm vụ và công việc của nghề nghiệp chuyên môn. Nói đến
năng lực, là nói đến khả năng thực hiện thành công một hoạt động nào đó đảm bảo đúng
những tiêu chuẩn, và yêu cầu đặt ra, đó chính là năng lực thực hiện. Năng lực mang tính
cá nhân hoá, có thể hình thành, phát triển thông qua đào tạo, bồi dưỡng và tự trải nghiệm
thực tiễn [76].
Năng lực được biểu hiện ở nhiều trình độ khác nhau, nhưng thông thường người
ta phân chia một cách tương đối thành năng lực tái tạo và năng lực sáng tạo. Ở trình độ
tái tạo, chủ thể thường chỉ tiến hành hoạt động có kết quả khi làm theo mẫu có sẵn, tức
là đã có tình huống tương tự để làm theo. Khi có năng lực sáng tạo, chủ thể tiến hành
hoạt động theo cách thức mới với hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, trong tái tạo có ít nhiều
sáng tạo và trong sáng tạo không phải là không có những yếu tố tái tạo.
Có nhiều cách hiểu và cách diễn đạt khác nhau, nhưng các nhà khoa học đều
thống nhất ở một số điểm:
- Năng lực tồn tại và phát triển thông qua hoạt động; nói đến năng lực tức là gắn
với khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó của một cá nhân.
- Năng lực chỉ nảy sinh và quan sát được trong hoạt động giải quyết những yêu
cầu mới, do đó nó gắn liền với tính sáng tạo tuy có khác nhau về mức độ.
- Năng lực có thể rèn luyện để phát triển được.
- Với mỗi cá nhân khác nhau có các năng lực khác nhau.
- Cấu trúc của năng lực là tổ hợp nhiều kỹ năng hoặc nhiều NL thành phần, thực
hiện những hoạt động thành phần có liên hệ chặt chẽ với nhau.
26
*Năng lực tự học
Theo V.A. Cruchetxki: “Năng lực tự học là năng lực hết sức quan trọng, vì tự
học là chìa khoá tiếp nhận tri thức với quan niệm của thời đại là học suốt đời. Có năng
lực tự học mới có thể tự học suốt đời được. Năng lực tự học bao gồm tư duy tích cực,
độc lập, sáng tạo, năng lực hoạt động nhận thức độc lập, tự tiếp thu tri thức”[14, tr.88].
Theo Lê Hiển Dương: Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức
và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao[16].
Theo Trịnh Quốc Lập: Năng lực tự học được thể hiện qua việc chủ thể tự xác
định đúng đắn động cơ học tập cho mình, có khả năng tự quản lý việc học của mình,
có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học
tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình, để có thể độc lập làm việc và làm việc
hợp tác với người khác[35].
Năng lực tự học là năng lực hết sức quan trọng mà SV Đại học phải có, vì tự
học là chìa khóa tiến vào thế kỉ XXI, một thế kỉ với quan niệm học tập suốt đời, xã hội
học tập. Có năng lực tự học mới có thể tự học, mới có thể học suốt đời được. Vì vậy,
học tập ở trường ĐH, quan trọng nhất là học cách học [12], [64].
Như vậy theo chúng tôi, “Năng lực tự học là khả năng tự khám phá, phát hiện
những vấn đề, những kiến thức mới trong quá trình học tập, từ đó vận dụng kiến thức,
kỹ năng, kinh nghiệm đã có vào tình huống cụ thể để thực hiện có kết quả mục tiêu
học tập đã đề ra”.
Năng lực tự học của SV nói chung và SV Đại học NKT nói riêng là nhân tố
quan trọng trong quá trình học tập, rèn luyện, bởi có năng lực tự học SV mới có thể
hoàn toàn độc lập, chủ động, tích cực sáng tạo, tự tìm kiếm thông tin tri thức, đặc biệt
trong thời đại hiện nay sự phát triển mạnh mẽ của KHKT và CN với một lượng thông
tin tri thức lớn của nhân loại có từ sách, báo, các mạng xã hội, mà thời gian học tập
trên lớp thì có hạn, nếu bồi dưỡng cho SV năng lực tự học các em sẽ có thể tự tìm
kiếm, nhận thức, phát triển tri thức, SV sẽ có khả năng học tập ở mọi lúc, mọi nơi. Mặt
khác SV Đại học NKT là những kỹ sư tương lai của Đất nước, nếu có năng lực TH,
SV sẽ dễ dàng thực hiện tốt các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, có sự sáng tạo trong
nghiên cứu khoa học để trở thành những kĩ sư có chuyên môn giỏi.
2.2.3. Các năng lực thành phần của năng lực tự học
Trong các tư liệu về tự học, việc phân tích cấu trúc của NLTH chưa được đề
cập chi tiết, do đó đây là vấn đề còn mang tính mở, cần được nghiên cứu. Ở đây,
chúng tôi xem NLTH bao gồm các năng lực thành phần sau:
27
2.2.3.1. Năng lực xác định mục tiêu và nhiệm vụ học tập
Năng lực xác định được mục tiêu và nhiệm vụ học tập đòi hỏi SV phải biết
quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp các hiện tượng, sự vật mà mình tìm hiểu, từ đó
khái quát hóa nội dung, đề ra những nội dung kiến thức cần chiếm lĩnh trong mỗi phần
học cụ thể để thực hiện nhiệm vụ học tập đã đề ra. Việc thực hiện năng lực này thường
xuyên giúp SV phát triển tri thức, rèn luyện các kỹ năng tự học, tự nghiên cứu.
Để xác định được nhiệm vụ tự học, trước tiên người học phải có năng lực nhận
biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề học tập cụ thể. Đây là một trong những năng lực tiên
quyết có một ý nghĩa rất quan trọng bởi lượng thông tin tri thức thì khổng lồ, nếu
người học không có khả năng nhận biết, phát hiện vấn đề trọng tâm mình cần tìm hiểu
thì sẽ không xác định được các nhiệm vụ và mục tiêu đúng, phù hợp với năng lực học
tập của bản thân và hiệu quả của việc học sẽ không cao, SV chỉ lan man trong một
khối lượng tri thức lớn.
2.2.3.2. Năng lực lập kế hoạch học tập, và tiến hành học tập theo kế hoạch đã
vạch ra
Có năng lực lập kế hoạch thì việc tự học, tự nghiên cứu của SV sẽ rất khoa học.
Lập kế hoạch học tập cụ thể, xác định đúng nội dung, SV sẽ biết được trình tự công
việc cần làm, việc nào cần làm trước, việc phải làm sau, trong khoảng thời gian bao
lâu thì hoàn thành công việc. Trong năng lực lập kế hoạch tự học, SV phải xác định
được nội dung, phương tiện, thời gian tự học, đồng thời xây dựng các biện pháp, cách
thức tự học để thực hiện được nhiệm vụ học tập đề ra và phải luôn có sự điều chỉnh, bổ
sung kế hoạch khi có nhiệm vụ học tập mới.
Khi tiến hành việc học tập SV phải giải quyết các vấn đề học tập, SV phải có
năng lực giải quyết vấn đề. Theo Anderson [83] thì bản chất mọi hoạt động nhận thức
đều là quá trình GQVĐ. Mỗi quá trình GQVĐ đều sử dụng những thao tác trí tuệ và
hướng đến những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đều có thể được chia nhỏ
thành những mục tiêu thành phần. GQVĐ chính là quá trình thực hiện các thao tác trí
tuệ để chiếm lĩnh những mục tiêu thành phần và từ đó chiếm lĩnh mục tiêu cuối cùng.
Anderson nhấn mạnh vai trò của việc xác định và biểu đạt đúng vấn đề cần giải quyết.
Năng lực lập kế hoạch và thực hiện việc học tập bao gồm khả năng trình bày vấn đề,
28
xác định cách thức và lập kế hoạch giải quyết vấn đề, cách thu thập thông tin, qua các
thao tác nghe giảng, truy cập mạng Internet, đọc, ghi chép và xử lí thông tin liên quan
đến vấn đề cần được giải quyết, đề xuất các giải pháp và phối hợp các phương pháp
học sao cho đạt hiệu quả học tập cao nhất.
2.2.3.3. Năng lực vận dụng kiến thức trong học tập và thực tiễn
Kết quả học tập của SV phải được thể hiện ở chính trong thực tiễn quá trình học
tập và trong khả năng giải quyết các tình huống cụ thể. Trên cơ sở đó SV có thể áp
dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống, để giải thích các hiện tượng Vật lý
hoặc để học tập tốt những môn học của chuyên ngành, bằng cách đó năng lực vận
dụng kiến thức của SV được vững chắc và liên tục tăng lên.
2.2.3.4. Năng lực đánh giá và điều chỉnh việc học
Dạy học đề cao vai trò tự chủ động của SV, đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội,
kích thích, bắt buộc SV đánh giá và tự đánh giá. Nhờ năng lực tự đánh giá mà SV có
thể nhìn nhận, xem xét năng lực học tập của mình, SV biết được mặt mạnh, yếu của
bản thân mới có thể học tập tốt, có thể tự tin trong phát hiện, giải quyết vấn đề và áp
dụng kiến thức đã học [7], [12]. Như vậy rèn luyện cho SV năng lực đánh giá và tự
đánh giá là giúp các em tự nhận biết được điểm mạnh, điểm yếu của bản thân từ đó SV
sẽ luôn nỗ lực cố gắng phát triển những mặt mạnh và khắc phục những nhược điểm
yếu kém của mình từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc TH.
Năng lực điều chỉnh việc học là một trong những năng lực rất quan trọng và cần
thiết đối với một SV, khi có năng lực tự điều chỉnh việc học, tức là SV đã có thể tiến
hành hoạt động tự học một cách thành thạo, chủ động, tự giác cao trong quá trình TH,
SV đã tự phân tích ưu, nhược điểm của bản thân, SV đã tự thu thập, tổng hợp xử lí
thông tin liên quan đến môn học, tự đánh giá kết quả học tập, SV mạnh dạn và luôn
tìm tòi, sáng tạo trong học tập và đã biết chủ động, tích cực tự điều chỉnh kế hoạch học
tập, cải thiện phương pháp TH, nhằm nâng cao hiệu quả của TH.
2.2.4. Tiêu chí đánh giá các năng lực thành phần của năng lực tự học
Sau khi xác định được các năng lực thành phần của năng lực tự học, căn cứ vào
đặc điểm của SV Đại học NKT, chúng tôi thiết kế bảng tiêu chí đánh giá năng lực tự
học thông qua các năng lực thành phần NLTH của SV cụ thể như sau:
29
Bảng 2.1: Tiêu chí đánh giá năng lực tự học của SV
Kết quả đạt được
Tiêu chí cần đo
Tốt Khá TB Yếu
Các thành tố của năng lực tự học
Xác định được mục tiêu và nhiệm vụ học tập
Năng lực lập kế hoạch học tập, và tiến hành học tập theo kế hoạch đã vạch ra
Vận dụng kiến thức trong học tập và thực tiễn
Tự đánh giá và điều chỉnh việc học
Xác định mục tiêu môn học một cách tự giác, chủ động Xác định được nhiệm vụ học tập cụ thể và rõ ràng, chi tiết Xác định nhiệm vụ phù hợp với năng lực của bản thân Nhiệm vụ đề ra phải đảm bảo thời gian để hoàn thành Lập kế hoạch TH theo những mục tiêu cụ thể, rõ ràng Kế hoạch được lập đảm bảo được tự đánh giá thường xuyên Tìm kiếm và sử dụng tài liệu phục vụ môn học Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa nội dung học tập Tìm tòi, mở rộng và đào sâu tri thức môn học Tìm được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm trong vấn đề Phát hiện và trình bày các thắc mắc về môn học Tranh luận, phản bác, bảo vệ các ý kiến của cá nhân hoặc nhóm Phối hợp các phương pháp học tập Hợp tác chia sẻ trong học tập Hoàn thành nhiệm vụ học tập Vận dụng kiến thức các môn học liên quan để giải quyết các vấn đề của môn học. Vận dụng kiến thức lý thuyết để giải các bài tập cụ thể. Vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng Vật lý trong thực tiễn. Kiểm tra kết quả học tập của mình qua các bài tự kiểm tra Đánh giá kết quả học tập đạt được so với mục tiêu đã đề ra. Đánh giá kết quả học tập của mình thông qua nhận xét của GV Đánh giá kết quả học tập của mình thông qua phản hồi của các SV khác trong nhóm Phát huy những thế mạnh của bản thân trong học tập. Nhận ra và điều chỉnh những sai sót, khắc phục khó khăn trong học tập. Rút ra nhận xét về năng lực học tập của bản thân. Điều chỉnh kế hoạch TH của bản thân
30
Như vậy, bảng tiêu chí đánh giá năng lực tự học cho SV bao gồm các tiêu chí
cụ thể cần đo để có thể đánh giá một các khách quan các thành tố của năng lực tự học
cho SV, các tiêu chí này cũng là một trong những căn cứ để chúng tôi tiến hành xây
dựng tài liệu có hướng dẫn theo môđun.
2.3. Xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
2.3.1. Khái niệm về môđun và môđun dạy học
* Khái niệm môđun được hiểu theo các nghĩa sau, tùy theo lĩnh vực nghiên cứu
- Môđun có nguồn gốc từ thuật ngữ Latinh “modulus” với nghĩa đầu tiên là mực
thước, thước đo. Trong kiến trúc xây dựng La Mã nó được sử dụng như một đơn vị đo.
Nó được dùng để chỉ các bộ phận cấu thành của các thiết bị kỹ thuật có các chức năng
riêng biệt, có sự hỗ trợ và bổ sung cho nhau, không nhất thiết phải hoạt động độc lập.
Môđun mở ra khả năng cho việc phát triển, hoàn thiện và sửa chữa sản phẩm. Đặc
điểm căn bản của môđun là: tính độc lập tương đối, tính tiêu chuẩn hoá và tính lắp
lẫn[60].
- Theo từ điển Giáo dục học: môđun là một phân hệ tự chủ của một chương
trình học tập hoặc một giáo trình[18].
Thuật ngữ môđun được dùng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật như: kiến
trúc, kỹ thuật vũ khí, du hành vũ trụ... Theo tài liệu [73], [84], [87] đều có đặc tính
chung là:
- Môđun là một đơn vị, một khâu, một bộ phận có tính độc lập tương đối của
một hệ thống phức tạp có cấu trúc tổng thể.
- Môđun được chế tạo theo thể thức tiêu chuẩn hóa, thống nhất hóa, với hệ
thống các thông số xác định.
* Môđun dạy học
Môđun dạy học được chuyển hóa từ môđun trong kỹ thuật và có nguồn gốc từ
USA, lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1869 tại trường ĐH Harvard với mục tiêu:
tạo điều kiện cho SV có khả năng lựa chọn các học phần ở các chuyên ngành. Trong
quá trình phát triển có một số quan niệm về môđun dạy học như sau[60]:
- Môđun dạy học là một đơn vị học tập liên kết tất cả các yếu tố của các môn
học lý thuyết, kỹ năng, các kiến thức liên quan để tạo ra một trình độ.
- Môđun dạy học là một đơn vị học tập trọn vẹn, và có thể được thực hiện theo
cá nhân hoá, và theo một trình tự xác định trước để kết thúc môđun.
31
- Trong cuốn “Từ điển Bách khoa quốc tế về giáo dục” của nhóm G7 phát hành
năm 1985 [71], thuật ngữ “môđun dạy học” được định nghĩa như sau: Môđun dạy học
là một đơn vị hướng dẫn học tập độc lập, và tập trung chủ yếu vào một số mục tiêu
được xác định rõ ràng. Nội dung của môđun bao gồm các tài liệu và hướng dẫn cần
thiết để thực hiện mục tiêu đó. Giới hạn của một môđun chỉ có thể được xác định đối
với các chỉ tiêu được nêu rõ. Một môđun dạy học bao gồm các nội dung sau: Nêu rõ
mục đích; Các chỉ tiêu tiên quyết; Các nội dung hướng dẫn; Kiểm tra, chuẩn đoán
trước khóa học; Những người thực hiện môđun; Kiểm tra đánh giá sau khóa học; Đánh
giá môđun.
- Trong từ điển GDH đưa ra khái niệm: Môđun dạy học là đơn vị học tập thuộc
một chương trình đào tạo, một chương trình môn học, chứa đựng cả mục tiêu, nội
dung, phương pháp dạy học cùng với hệ thống công cụ đánh giá, điều khiển kết quả
học tập, tạo thành một thể hoàn chỉnh [18].
- Trong lĩnh vực đào tạo Đại học và giáo dục thường xuyên, để nhấn mạnh tính
chất hướng dẫn tự học của môđun dạy học người ta coi môđun là một tài liệu bao gồm
mọi điều kiện cần thiết cho một người học để họ đạt được mục tiêu dạy học bằng cách
tự học. Nhờ môđun dạy học, người học có thể tự lực vượt qua phần lớn nội dung học
tập, giáo viên chỉ giúp đỡ họ khi cần thiết[82].
- Cho đến nay định nghĩa được coi là đầy đủ và cụ thể nhất là định nghĩa của
L.D’Hainaut và của Nguyễn Ngọc Quang: Môđun dạy học là một đơn vị chương trình
dạy học tương đối độc lập, được cấu trúc một cách đặc biệt nhằm phục vụ cho người
học. Nó chứa đựng cả mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học và hệ
thống công cụ đánh giá kết quả lĩnh hội, gắn bó chặt chẽ với nhau thành một thể hoàn
chỉnh [47], [33].
2.3.2. Đặc trưng của môđun dạy học
Ngoài một số đặc trưng của môđun trong kỹ thuật, môđun dạy học còn có một
số đặc trưng khác. Môđun dạy học có các đặc trưng cơ bản sau đây [86], [33].
- Hàm chứa một tập hợp những tình huống dạy học, được tổ chức xung quanh
một chủ đề nội dung dạy học được xác định một cách tường minh.
- Có một hệ thống các mục tiêu dạy học được xác định một cách xác đáng, cụ
thể, rõ ràng, có tính khả thi, có thể quan sát được, đo lường được. Hệ thống mục tiêu
này sẽ định hướng quá trình dạy học.
32
- Có một hệ thống những test điều khiển quá trình dạy học nhằm đảm bảo sự
thống nhất hoạt động dạy, hoạt động học và kiểm tra, đánh giá để phân hóa con đường
lĩnh hội tiếp theo.
- Chứa đựng nhiều con đường lĩnh hội, theo những cách thức khác nhau để
chiếm lĩnh cùng một nội dung dạy học, đảm bảo cho người học tiến lên theo những
nhịp độ riêng để đi tới mục tiêu.
- Có tính độc lập tương đối xét về nội dung dạy học. Vì vậy, để học một môđun,
người học phải có những điều kiện tiên quyết về kiến thức, kỹ năng, thái độ. Học xong
một môđun, người học có khả năng ứng dụng những điều đã học được vào môi trường
hoạt động.
- Môđun dạy học có nhiều cấp độ: Môđun lớn, môđun thứ cấp, môđun nhỏ(tiểu
môđun). Một môđun lớn thường tương đương với số tiết học của một chương hoặc
một vài chương.
2.3.3. Chức năng của môđun dạy học
Theo [33], thì chức năng của môđun dạy học là:
- Mỗi môđun DH là phương tiện tự học hiệu nghiệm, vì nó chứa đựng với một
chủ đề dạy học xác định, lại được phân chia thành từng phần nhỏ (tiểu môđun), với hệ
thống mục tiêu chuyên biệt, và test đánh giá tương ứng. Sau khi học xong tiểu môđun
này người học tiến tới tiểu môđun tiếp theo và cứ thế mà hoàn thành được nhiệm vụ
học tập.
- Môđun dạy học có nhiều cấp độ. Ở môđun lớn và môđun dạy học thứ cấp
thường được dùng để thiết kế các chương trình dạy học. Ở các môđun nhỏ là tài liệu tự
học thuận tiện, có hiệu quả cho người học. Khái niệm môđun dạy học ngoài ý nghĩa là
một đơn vị chương trình dạy học, nó còn thể hiện đặc trưng của cách thiết kế và biên
soạn tài liệu dạy học, đóng góp vào việc cải tiến phương pháp dạy học.
2.3.4. Cấu trúc môđun dạy học
Theo L.D’Hainaut, một môđun dạy học gồm 3 bộ phận hợp thành: Hệ vào;
Hệ vào
Thân
Hệ ra
thân; hệ ra. Ba bộ phận này là một chỉnh thể thống nhất [86].
Sơ đồ 2.1: Cấu trúc tổng quát của một môđun dạy học
* Hệ vào của môđun
Mang ý nghĩa giới thiệu, tạo tình huống dạy học, nêu rõ hệ thống các mục tiêu
dạy học của môđun, nêu rõ điều kiện cần có để học môđun (về kiến thức Vật lý, về
33
kiến thức toán học, về tài liệu tham khảo...). Tùy theo mức độ kiến thức, người học sẽ
nhận được những khuyến cáo hữu ích dành cho họ.
* Thân của môđun
Là bộ phận chủ yếu của môđun. Nó chứa đựng đầy đủ nội dung dạy học, được
trình bày theo cấu trúc rất rõ ràng, kèm theo những chỉ dẫn cần thiết về phương pháp
học tập và cả phương tiện dạy học nhằm giúp người học tự chiếm lĩnh được nội dung,
hình thành kỹ năng tự học.
Thân môđun gồm một loạt các tiểu môđun (các đơn vị kiến thức) tương ứng với
từng mục tiêu cụ thể đã xác định ở hệ vào của môđun. Các tiểu môđun liên kết với
nhau bởi các test trung gian và đều cần một thời gian học tập nhất định.
Tiểu môđun gồm các phần:
- Bài kiểm tra kiến thức vào tiểu môđun: Bài kiểm tra này với mục đích kiểm
tra kiến thức cũ có liên quan đến tiểu môđun. Bài kiểm tra này yêu cầu phải đạt 80%
trở lên thì người học mới được tiếp tục nghiên cứu kiến thức của tiểu môđun. Nếu
không đạt người học sẽ nhận được lời khuyên nên nghiên cứu lại phần kiến thức (tiểu
môđun nào).
- Mục tiêu của tiểu môđun: Đây là phần cụ thể hóa nhiệm vụ học tập của một
đơn vị kiến thức.
- Hướng dẫn tự học: Bao gồm các câu hỏi mang tính chất định hướng học tập,
để SV trong quá trình tự học sẽ có mục tiêu trả lời các câu hỏi đó. Các câu hỏi của
phần này chủ yếu hỏi những kiến thức lý thuyết, được sắp xếp theo trình tự kiến thức
của tiểu môđun. Đồng thời có những hướng dẫn SV đọc những trang nào của tài liệu
tham khảo nào, để có thể trả lời được các câu hỏi đó.
- Nội dung lý thuyết cần nghiên cứu: Đây là phần hệ thống hóa toàn bộ lý
thuyết của tiểu môđun, để người học có thể tiện tra cứu, tham khảo và trả lời các câu
hỏi trong phần hướng dẫn tự học.
- Bài tự kiểm tra kiến thức lần 1: Bài kiểm tra này được thiết kế dưới dạng trắc
nghiệm, hoặc tự luận tùy vào nội dung của phần kiến thức. Nhưng nên thiết kế dưới
dạng trắc nghiệm để có thể bao quát được kiến thức, đồng thời cho phản hồi kết quả
nhanh. Với bài kiểm tra này thường có từ 10 - 15 câu, thời gian làm bài từ 10 - 15
phút, chủ yếu là các câu hỏi lý thuyết, bài tập định tính dạng cơ bản không quá khó để
làm người học hoang mang, mà chủ yếu nhằm kiểm tra kiến thức vừa tự học. Điểm bài
kiểm tra này yêu cầu người học phải đạt được từ 80% trở lên.
34
- Nội dung bài tập cần nghiên cứu: Phần này sẽ giúp người học vận dụng kiến
thức lý thuyết đã học. Ở nội dung bài tập có các phần: Dạng bài tập và phương pháp
giải; các bài tập dạng cơ bản; các bài tập dạng nâng cao; các bài tập tự luận và trắc
nghiệm tự ôn tập, Vật lý và ứng dụng; phần hướng dẫn giải hoặc gợi ý các bài tập ở
phần nội dung bài tập.
- Bài tự kiểm tra kiến thức lần 2: Cũng tương tự như bài kiểm tra kiến thức lần
1. Tuy nhiên, số câu hỏi và độ khó tăng lên để kiểm tra được toàn bộ kiến thức của tiểu
môđun như mục tiêu đã đặt ra. Yêu cầu đặt ra của bài tự kiểm tra lần này người học
phải đạt từ 70% trở lên mới đạt yêu cầu. Nếu người học không đạt yêu cầu phải quay
lại, học lại phần nội dung tự nghiên cứu, nếu đạt yêu cầu thì chuyển qua tiểu môđun
tiếp theo.
* Hệ ra của môđun
Hệ ra của môđun gồm một bài kiểm tra kết thúc, nhằm kiểm tra toàn bộ kiến
thức môđun và một chỉ dẫn để tiếp tục học tập tùy theo kết quả tự học môđun của
người học. Nếu đạt tất cả mục tiêu của môđun, người học chuyển sang môđun tiếp
theo. Nếu có thiếu sót khi thực hiện bài kiểm tra kết thúc, thì học lại những tiểu
môđun.
Tóm lại, có thể hiểu môđun dạy học là một kiểu tài liệu dạy học, nhằm chuyển
tải một đơn vị chương trình dạy học tương đối độc lập, được cấu trúc một cách đặc
biệt, chứa đựng cả mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và hệ thống công cụ đánh
giá, kết quả lĩnh hội, chúng gắn bó chặt chẽ với nhau.
2.3.5. Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun là một dạng tài liệu đặc biệt, nó vừa
mang đặc điểm chung như các tài liệu thông thường, nhằm mục đích cung cấp một
lượng thông tin tri thức cho người đọc, bên cạnh đó tài liệu tự học có hướng dẫn theo
môđun còn mang những đặc điểm riêng biệt. Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
được biên soạn theo cấu trúc của một môđun dạy học, trong tài liệu cung cấp nội dung
kiến thức có sự chọn lọc và trình bày rõ ràng những kiến thức cần thiết và nâng cao,
phục vụ cho nhiệm vụ học tập ở một bài học, một phần chương trình học cụ thể, điều
này giúp SV dễ dàng thu nhận được khối lượng kiến thức cần chiếm lĩnh, không bị
hiện tượng lan man, ngập trong khối lượng kiến thức khổng lồ như các tài liệu thông
thường, đồng thời còn xây dựng các tình huống, các vấn đề học tập, yêu cầu người học
phải giải quyết, cùng hệ thống các bài test kiểm tra sau mỗi phần, nếu đạt mới tiếp tục
35
học sang phần khác, chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung làm lại cho đến khi đạt
được. Trong tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun còn thể hiện được cả mục tiêu
SV cần phải có, và phải đạt cả về mặt kỹ năng, thái độ, giúp cho SV có một định
hướng cụ thể khi nghiên cứu tài liệu.
Như vậy tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun là một dạng tài liệu được
biên soạn theo hướng hướng dẫn hoạt động tự học cho người học, thông qua quá trình
học tập, nghiên cứu tài liệu, người học tự trang bị cho mình không những tri thức, mà
còn cả cách tiếp cận và con đường để chiếm lĩnh tri thức. Thông qua tài liệu tự học có
hướng dẫn theo môđun, người học biết mình cần phải học những gì, học như thế nào?
cũng như tự kiểm tra kết quả việc học của bản thân. Tài liệu tự học có hướng dẫn theo
môđun giúp người học chủ động, tích cực trong hoạt động học của mình, đồng thời có
thể học theo nhịp độ riêng, phù hợp với năng lực và quỹ thời gian riêng, giúp rèn
luyện, hình thành ngày càng vững chắc kỹ năng, năng lực tự học cũng như có thể tự
học suốt đời.
2.4. Vị trí của học phần Vật lý đại cương đối với sinh viên Đại học ngành
kỹ thuật
Trường ĐH là cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học, trong và bằng quá trình
đào tạo, người SV có được những kiến thức và kỹ năng cơ bản, hiện đại đáp ứng yêu
cầu xã hội.
- VLĐC đối với SV Đại học NKT hiện nay đã được xây dựng chương trình có
số tiết(số tín chỉ) giảng dạy của các trường, các ngành khác nhau, có sự khác nhau.
Học phần VLĐC ở các trường thường được giảng dạy vào học kỳ 1 và 2 của năm học
thứ nhất. SV Đại học NKT, khi học VLĐC sẽ nắm vững được bản chất các hiện tượng,
các quy luật vận động, các định luật, định lí đã được khoa học chứng minh. SV sẽ có
kiến thức sâu rộng làm cơ sở, áp dụng vào thực tiễn các chuyên ngành kỹ thuật, để có
thể tiếp cận tốt nền khoa học kỹ thuật hiện đại của nhân loại.
- Đối với SV Đại học NKT thì học phần VLĐC là một trong những học phần cơ
bản quan trọng. Năm 1994 Trường ĐH Bách khoa Hà Nội đã biên soạn chương trình
VLĐC cho các Trường ĐH kỹ thuật theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chương
trình này đã được hội đồng thẩm định khối ĐH đại cương và Viện Vật lý kỹ thuật
trường ĐH Bách Khoa Hà Nội thông qua. Chương trình I gồm 12 đơn vị học trình (có
10 đơn vị học trình lý thuyết và 2 đơn vị học trình thực tập VLĐC). Chương trình II
gồm 8 đơn vị học trình lý thuyết và 2 đơn vị học trình thực tập VLĐC [33, tr.29].
36
Học phần VLĐC đối với SV Đại học NKT kế thừa và phát triển môn Vật lý của
phổ thông. Sự kế thừa thể hiện trong cả nội dung và phương pháp dạy học. Học phần
VLĐC (cả lí thuyết, bài tập và thực hành) thường được giảng dạy trong học kỳ 1, 2,
khi SV còn chưa quen với phương pháp học tập ở ĐH. Kết quả dạy học này cả về kiến
thức, kỹ năng và thái độ sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến việc dạy học học phần cơ sở
ngành và chuyên ngành. Cần thiết phải có sự phối hợp giữa dạy học VLĐC với các
môn chuyên ngành.
2.5. Mục tiêu dạy học Vật lý đại cương cho sinh viên Đại học ngành
kỹ thuật
Theo luật Giáo dục Đại học số 08/2012/QH13 của Quốc hội [50], nêu rõ: Mục
tiêu chung của các trường ĐH là:
- Đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu
khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.
- Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kỹ năng thực hành
nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ
tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có năng lực sáng tạo và trách nhiệm
nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân.
Trên cơ sở mục tiêu chung của Quốc Hội đối với các trường ĐH, thì mỗi
trường, nhóm trường lại đề ra những mục tiêu cụ thể đối với ngành nghề mà khối
trường đào tạo.
Các trường ĐH có ngành kỹ thuật hiện nay có mục tiêu chung là đào tạo những
kỹ sư tương lai, là những người có bản lĩnh chính trị, đạo đức, học vấn và sức khoẻ
đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa và phát triển ngành công nghiệp hiện đại của Việt Nam.
SV Đại học NKT được trang bị những kiến thức cơ bản để phát triển toàn diện; có
phẩm chất chính trị, đạo đức; có sức khỏe đáp ứng yêu cầu bảo vệ tổ quốc và có kiến
thức, năng lực thực hành nghề nghiệp; tiếp thu tri thức khoa học tiên tiến, được rèn
luyện, nghiên cứu với các trang thiết bị hiện đại, được chuẩn bị kĩ năng nghề nghiệp
đạt chuẩn quốc gia và quốc tế, sẵn sàng thích ứng với sự phát triển của khoa học công
nghệ, và mỗi một ngành nghề riêng trong trường có ngành kỹ thuật lại được định
hướng bởi các mục tiêu cụ thể.
Mục tiêu đào tạo SV Đại học NKT đã chi phối mạnh mẽ đến hoạt động dạy và
học của GV, SV trong các nhà trường. Học phần VLĐC là môn học cơ bản của SV
Đại học NKT, mục tiêu dạy học VLĐC đối với SV Đại học NKT là dạy cho SV[33]:
37
+/ Nắm được những hiện tượng, khái niệm, định luật, lý thuyết Vật lý cơ bản và
các phương pháp nghiên cứu Vật lý ở trình độ đại học.
+/ Biết vận dụng những kiến thức, kỹ năng của môn Vật lý để học tập các môn
kỹ thuật cơ sở của chuyên ngành và kỹ thuật chuyên ngành.
+/ Rèn luyện tư duy nghiên cứu khoa học, con đường tìm kiếm chân lí mới dựa
trên cách thức mà các nhà khoa học đã trải qua.
+/ Tạo nền tảng vững chắc về kiến thức và kỹ năng cho SV tiếp tục học môn
Vật lý với tư cách là một chuyên ngành(khoa học và công nghệ Vật lý).
2.6. Tổ chức hoạt động dạy học ở Đại học
2.6.1. Hoạt động dạy học ở Đại học
Dạy đại học là một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù bao gồm:
mục đích và nhiệm vụ dạy học ở đại học, hoạt động của GV và SV, nội dung dạy học,
phương pháp, phương tiện dạy học, KQHT... Dạy học đại học đó là quá trình tổ chức,
điều khiển và tự tổ chức, tự điều khiển, trong đó người GV vừa là người thiết kế quy
trình dạy học, vừa góp phần thi công. Còn SV vừa thi công vừa thiết kế quy trình tự
học nhằm thực hiện tối ưu mục đích, nhiệm vụ dạy học ở đại học[24]. Theo quan niệm
đó thì dạy tức là giúp người học (chứ không làm thay người học) biết cách chọn, nhập
và xử lý thông tin lấy từ môi trường xung quanh [56]
Học đại học là hoạt động khám phá và lĩnh hội kiến thức trong đó SV là chủ
thể, kiến thức khoa học là đối tượng. Học là quá trình tự biến đổi mình và làm phong
phú mình bằng cách chọn, nhập và xử lý thông tin lấy từ môi trường xung quanh mình,
tự mình chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng và hình thành, biến đổi những tình cảm,
thái độ, hành vi của bản thân.
Dạy học đại học là một hệ thống được liên kết bởi 3 cực: kiến thức, SV và môi
trường học tập. Obanya (1998) xem nó là một quá trình đem lại sự thay đổi tích cực
trong người học [75]. Môi trường học tập ở đây là tập hợp các nguồn nhân lực, vật lực
có thể để thực hiện quá trình dạy học. Nó bao gồm nguồn con người như GV, học
viên, quản trị viên, nhân viên phục vụ; nguồn cơ sở vật chất như giảng đường, thư
viện, phòng thí nghiệm, các cơ sở vật chất khác; nguồn tư liệu gồm tài liệu giảng dạy,
thiết bị nghe nhìn...
Bản chất của hoạt động dạy học đại học là quá trình tổ chức, điều khiển của GV
giúp SV tự học, tự nhận thức, tự nghiên cứu nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học ở
38
đại học. Trong quá trình đó, SV vừa là đối tượng của hoạt động dạy vừa là chủ thể của
hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu.
Dạy học ở đại học chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường xung quanh như: văn hóa,
kinh tế, xã hội, nhà trường cả ở trong nước và quốc tế. Để kết quả dạy học đạt chất
lượng cao cần phải TCDH với nội dung, phương pháp, phương tiện đáp ứng mục tiêu,
yêu cầu chuẩn đầu ra, tiêu chuẩn nghề nghiệp và nhu cầu các nhà tuyển dụng lao động.
Mặt khác cần lựa chọn đúng PPDH, KTĐG, đầu tư phương tiện phù hợp để TCDH
theo hướng rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu [28].
Như vậy, hoạt động dạy học đại học là hoạt động giao tiếp đặc biệt giữa GV và
SV bao gồm mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá. Những
thành tố này được đặt trong mối quan hệ khăng khít phục vụ cho việc dạy và việc học.
Dưới ảnh hưởng của môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, khi tác động vào
dạy học chúng ta phải tác động vào chính những thành tố ở từng giai đoạn của quá
trình dạy học. Việc tác động này sẽ làm thay đổi tích cực người học nếu tác động đúng
lúc, đúng quy luật.
Thực hiện đổi mới trong đào tạo đại học, hiện nay ở các trường đại học đã
chuyển từ hình thức đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tin chỉ, vì vậy hình thức tổ
chức dạy học đại học cũng có những thay đổi cho phù hợp với hình thức đào tạo này.
* Hình thức tổ chức hoạt động dạy học theo tín chỉ [28]
+/ Hoạt động dạy học theo tín chỉ là hoạt động dạy học ở các trường đào tạo đại
học hay cao đẳng theo tín chỉ. Trong đó, GV đóng vai trò là người tổ chức hoạt động
nhận thức cho người học, định hướng mục tiêu học tập, hướng dẫn trợ giúp SV hoàn
thành khối lượng học tập (tín chỉ).
Bản chất của học theo tín chỉ là cá thể hóa việc học tập trong một nền giáo dục
đại học cho số đông với triết lí là tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của
quá trình đào tạo. Các triết lý làm nền tảng cho học theo tín chỉ là giáo dục hướng về
người học, phát huy tối đa khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học và đề cao vai
trò trách nhiệm của người học với KQHT của mình. Do mục tiêu cá thể hóa hoạt động
học tập, học chế tín chỉ có đặc điểm quan trọng nhất là làm sao cho mỗi người học có
thể học theo năng lực và điều kiện riêng của mình[56]. Đặc điểm này buộc người dạy
phải sử dụng PPDH và tổ chức HĐDH sao cho phát huy tối đa tính chủ động của
người học, giúp người học biết cách học để tự học
Theo Lê Công Triêm, hoạt động dạy học theo tín chỉ được tổ chức theo ba hình
thức: lên lớp, thực hành và tự học. Trong ba hình thức tổ chức dạy - học này có hai
39
hình thức đầu được tổ chức có sự tiếp xúc trực tiếp giữa GV và SV(GV giảng bài,
hướng dẫn, SV nghe giảng, thực hành, thực tập dưới sự hướng dẫn của GV...), hình
thức thứ ba không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa GV và SV nhưng GV phải giao nội
dung để SV tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành và có kiểm tra kết quả của SV. Ba
hình thức dạy- học này tương ứng với ba kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lý thuyết, giờ tín
chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học [70].
Hoạt động dạy học giờ tín chỉ lên lớp, do thời gian hạn chế GV không cần trình
bày hết cho SV tất cả nội dung kiên thức mà GV đang có. Điều quan trọng hơn là
hướng dẫn SV con đường tiếp cận tri thức mới, hướng dẫn nguồn tài liệu và cách thức
khai thác nguồn tài liệu đó, tức là hướng dẫn cho SV phương pháp tự học. GV phải đặt
người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy- học, tạo cho SV thói quen tự học, tự
khám phá kiến thức, có kỹ năng giải quyết vấn đề, tự chủ động thời gian hoàn thành
một học phần, một chương trình, điều đó khắc phục được việc học lệch, học tủ, dẫn
đến quay cóp trong kiểm tra và các kỳ thi [100].
Đối với giờ thực hành, HĐDH phải được tổ chức theo nguyên tắc thỏa thuận
giữa người dạy và người học để cả GV và SV đều tìm đến chân lý khoa học, chứ
không phải GV dạy cho SV chân lý đã có sẵn. GV cần vạch kế hoạch rõ ràng về nhiệm
vụ SV phải thực hiện, kết quả SV đạt được sau khi thí nghiệm, thực hành[22]. Dựa vào
đó SV phải tự tìm ra cách tiến hành thí nghiệm, tự xử lý kết quả, viết báo cáo kết quả.
Trong các quá trình đó, SV có thể gặp những khó khăn cần được giải đáp, GV hướng
dẫn ở mức độ vừa phải để SV tiếp tục hoàn thành.
Đối với việc tự học, theo quan niệm đào tạo của tín chỉ, để tiếp thu được một tín
chỉ SV ít nhất phải dành 30 giờ chuẩn bị cá nhân [4], tức là đảm bảo 1 giờ học trên lớp
cần ít nhất 2 giờ cá nhân ở nhà. Chính vì vậy, người học phải được tạo điều kiện để trở
thành người đàm phán tích cực và có hiệu quả với chính mình trong quá trình học tập
và với người dạy [101]. Do đó, trong quá trình tự học SV phải đóng vai trò là người tự
tổ chức học tập, tự tổ chức KQHT của bản thân. Để đạt kết quả tốt, SV phải tự lập kế
hoạch học tập cho từng phần và cho cả quá trình học tập của mình.
Theo Lâm Quang thiệp - tác giả đề án đào tạo theo học tín chỉ nhận xét: Để
chuyển sang học tín chỉ, yêu cầu hàng đầu lúc này là phải đổi mới phương pháp
dạy học theo 3C: GV chỉ hướng dẫn SV “cách học”, tăng cường hơn nữa quyền
“chủ động” của SV và khai thác tối đa ứng dụng “CNTT và truyền thông” vào nhà
trường [56].
40
2.6.2. Phương pháp dạy học ở đại học
PPDH là một khái niệm rất phức hợp, có nhiều bình diện, phương diện khác
nhau. Có thể nêu ra một số đặc điểm của PPDH như sau: [34, tr.18], [13, tr.27]
- PPDH định hướng thực hiện mục tiêu dạy học;
- PPDH là sự thống nhất của PP dạy và PP học;
- PPDH thực hiện thống nhất chức năng đào tạo và giáo dục;
- PPDH là sự thống nhất của lôgic nội dung và lôgic tâm lý nhận thức;
- PPDH có mặt bên trong và bên ngoài;
- PPDH là sự thống nhất của cách thức hành động và phương tiện dạy học.
Theo chúng tôi: “PPDH là hình thức và cách thức hoạt động giữa GV và SV
theo một trình tự nhất định, trong một môi trường dạy học, nhằm đạt được mục đích đã
đặt ra, phát huy năng lực của người học”.
Mỗi một phương pháp dạy học đều có những ưu và nhược điểm riêng phù hợp
với mục tiêu, nội dung và đối tượng người học. Theo [102] để lựa chọn PPDH đại học
cần dựa trên các tiêu chí:
Thứ nhất: Quan niệm việc dạy cách học và học cách học để tạo thói quen, niềm
say mê và khả năng học suốt đời là tiêu chí bao quát hàng đầu của việc dạy học ở đại
học. Mọi phương pháp dạy, phương pháp học, nội dung cần dạy, nội dung cần học đều
phải xuất phát từ đó. Trong chương trình đào tạo đại học nói chung phải chú trọng loại
kiến thức nền tảng chứ không phải loại kiến thức về một qui trình cụ thể. Vì vậy kỹ
năng cơ bản là công cụ để học suốt đời chứ không phải kỹ năng sử dụng một cái máy
cụ thể, kỹ năng thao tác một qui trình cụ thể. Ngoài ra, bằng cách khêu gợi sự tò mò,
bằng cách tạo sự hấp dẫn của tri thức và bằng tấm gương học tập của chính bản thân
mình, giảng viên cố gắng tạo nên niềm say mê học tập cho sinh viên.
Thứ hai, tính chủ động của người học là tiêu chí về phẩm chất quan trọng cần
tập trung phát huy khi dạy học ở đại học.
Các quan điểm sư phạm như: “Dạy học lấy người học làm trung tâm”; “Dạy
học tương tác”, “Công nghệ dạy học”,... đã được các nhà sư phạm trên thế giới và ở
nước ta bàn đến trong những năm gần đây, với mục tiêu là phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo trong hoạt động học tập của người học.
Cuối cùng, quan điểm về dạy học theo cách tiếp cận thông tin hay ứng dụng
công nghệ thông tin trong dạy học là tiêu chí về công cụ quan trọng cần triệt để khai
thác trong dạy học ở đại học.
41
Như vậy dựa vào mục tiêu, nội dung, đối tượng và các tiêu chí trên để GV có
thể đưa ra những PPDH tối ưu nhất sao cho kết quả học tập của SV đạt chất lượng cao.
Theo chúng tôi các phương pháp dạy học nên được sử dụng nhằm phát huy tính tích
cực, chủ động của SV trong dạy học học phần VLĐC gồm : PP đàm thoại; PP hoạt
động nhóm; PP giải quyết vấn đề; PP sêmina.
*/ Một số kỹ thuật dạy học trong dạy học học phần VLĐC
Theo từ điển Giáo dục học KTDH là tổng thể các phương pháp sư phạm của
nhà giáo dục để truyền thụ những kiến thức và giúp cho phát triển nhân cách người
học. Theo Benrnd Meier KTDH [34] là những biện pháp, cách thức, hành động nhỏ
của người dạy và người học trong các tình huống hành động của hoạt động dạy học
nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học
Kỹ thuật dạy học là một cấp độ của PPDH, thể hiện tính tích cực của PPDH, tác
động đến người học và quá trình học tập. Vì vậy, kỹ thuật dạy học có vai trò quan
trọng trong quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho SV như: tăng tính hấp dẫn, kích
thích sự tham gia tích cực, kích thích hứng thú học tập của SV; tăng cường trách
nhiệm cá nhân, tăng hiệu quả học tập cho SV; giúp tăng cường độ lao động học tập
cho SV, do đó nâng cao được nhịp độ nghiên cứu tài liệu; tạo điều kiện cho SV tự lực
chiếm lĩnh kỹ năng, kỹ xảo; làm giảm thời gian diễn giải, mô tả, gắn bài học với thực
tế đời sống. Tuy nhiên có nhiều kỹ thuật dạy học khác nhau GV cần phải kết hợp một
cách hợp lí các kỹ thuật dạy học tương thích với nội dung và tài liệu giảng dạy để nâng
cao hiệu quả việc dạy học đồng thời bồi dưỡng cho SV các kỹ năng học tập.
Trong dạy học VLĐC ở các trường đại học ngành kỹ thuật có thể sử dụng
những kỹ thuật dạy học sau: Kỹ thuật thảo luận nhóm; Kỹ thuật động não; Kỹ thuật bể
cá; Kỹ thuật mảnh ghép; Kỹ thuật khăn phủ bàn...
Khi sử dụng bất kỳ kỹ thuật dạy học nào, thì vấn đề cơ bản vẫn là làm cho
người học tích cực, tự lực nắm vững các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và hình thành thái
độ theo mục tiêu dạy học. Mặt khác thường phải ứng dụng đồng thời nhiều kỹ thuật,
nhiều phương pháp trong quá trình dạy học từng nội dung của học phần VLĐC nhằm
đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy - học.
2.7. Đặc điểm tự học của sinh viên Đại học
Tự học trong quá trình dạy học ở ĐH có nét đặc thù riêng biệt xuất phát từ đặc
điểm của quá trình dạy học ở ĐH ngày nay và từ đặc điểm tâm lí cơ bản của SVĐH.
Đây chính là một trong những căn cứ để chúng ta xây dựng và lựa chọn các biện pháp
42
nhằm đạt hiệu quả tối ưu trong quá trình tổ chức tự học cho SV nói chung và SV Đại
học NKT nói riêng.
Đặc điểm tâm lí cơ bản của SV Đại học [97]:
SV, những người có hoạt động chủ đạo là học tập để tiếp thu những kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp ở các trường ĐH. Một trong những đặc điểm tâm lý quan
trọng nhất ở lứa tuổi SV là sự phát triển tự ý thức. Nhờ có tự ý thức phát triển SV có
những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự
phát triển của bản thân phù hợp xu thế xã hội.
Nhờ khả năng tự đánh giá phát triển mà SV có thể nhìn nhận, xem xét năng lực
học tập của mình, kết quả học tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ, vào
phương pháp học tập của họ.
Một đặc điểm tâm lý nổi bật ở lứa tuổi này là tình cảm ổn định của SV, trong đó
phải đề cập đến tình cảm nghề nghiệp, một động lực giúp họ chăm chỉ, sáng tạo khi họ
thực sự yêu thích và đam mê với nghề lựa chọn.
Lứa tuổi SV có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các
lứa tuổi khác như tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí
tuệ phát triển, có nhu cầu và khát vọng thành đạt, nhiều ước mơ và thích trải nghiệm,
dám đối mặt với thử thách. Song do hạn chế về những kinh nghiệm sống, SV cũng có
hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới. Những yếu tố tâm lí này tác động chi
phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của SV
Trên cơ sở phân tích đặc điểm tâm lí của SVĐH, chúng ta nhận thấy hoạt động
tự học của SVĐH có nét đặc trưng như sau:
- Khác với học sinh phổ thông, SV là những người có tư duy nhận thức phát
triển ở mức độ cao, SV bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn
đề về cuộc sống, học tập, các em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt, các em
luôn ý thức được động cơ, mục đích học tập của mình, bên cạnh đó những kiến thức
mà SV chiếm lĩnh được chủ yếu liên quan tới lĩnh vực nghề nghiệp chuyên sâu vào
một lĩnh vực chuyên môn nhất định, vì vậy trong tự học của SV mang tính độc lập, tự
lực, tự giác, có tính sáng tạo trong việc tiếp thu tri thức, cũng như việc vận dụng tri thức
vào trong các tình huống cụ thể [25].
- Hoạt động tự học của SV là hoạt động căng thẳng về mức độ và cường độ, đòi
hỏi phải thực hiện khối lượng nhiệm vụ được giao tương đối lớn, SV trong quá trình tự
học phải thực sự nỗ lực và thể hiện ý chí quyết tâm. Trong hoạt động tự học SV bắt
43
đầu tự tìm kiếm tài liệu, tự tập dượt nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu khoa học. Chính vì
vậy, trong quá trình học tập SV phải luôn tích cực tư duy và có sự tập trung rất cao
mới có thể hoàn thành các nhiệm vụ học tập đề ra.
- Hoạt động tự học của SV được tiến hành ở từng cá nhân, mang tính độc lập.
SVĐH luôn luôn phải tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập của mình thông qua các
mối liên hệ ngược để kịp thời điều chỉnh phương pháp học cho phù hợp. Trong hoạt
động tự học, SV không chỉ thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội tri thức, những lý luận về môn
học, mà còn phải tự học để rèn luyện kỹ năng thực hành nghề nghiệp, tức là tự học để
hình thành và phát triển nhân cách của người kỹ sư tương lai.
- Hoạt động tự học của SV là hoạt động mang tính chất nghiên cứu, bởi thế SV
không chỉ tập trung học tri thức mà điều quan trọng là phải học cách học, học phương
pháp học. Học phương pháp, học cách học là bản thân mỗi SVĐH phải tự chăm lo
phát triển các năng lực hoạt động trí tuệ (định hướng, tư duy trừu tượng, tư duy lý luận
và ngôn ngữ khoa học, di chuyển các hành động trí tuệ, dự đoán khoa học, tổ chức
hoạt động trí óc một cách khoa học, vận dụng tri thức vào thực tiễn), đặc biệt là tư duy
khoa học, tư duy nghề nghiệp, phương pháp tự học, phương pháp nghiên cứu. Đây
cũng là điều mà cố thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc sinh thời đã luôn nhắc nhở: “Ở ĐH
điều chủ yếu là học phương pháp. Nếu anh tự vũ trang được một phương pháp vững
vàng thì nó sẽ phục vụ anh suốt đời, vì anh phải học mãi mãi”[64].
2.8. Đặc điểm hoạt động nhận thức của sinh viên Đại học ngành kỹ thuật
Hoạt động nhận thức của SV Đại học NKT có những điểm rất khác với nhận
thức của nhà khoa học, với SV ngành Vật lý và với học sinh phổ thông.
* So với nhà khoa học [40]
- Các nhà khoa học phải tìm ra kiến thức, những máy móc, thiết bị khoa học kỹ
thuật mới mà trước đây chưa ai nghiên cứu, thiết kế và ứng dụng; còn SV Đại học
NKT thì học những kiến thức khoa học mà loài người đã khám phá, đã chọn lọc cho
phù hợp với từng đối tượng và SV Đại học NKT tìm cách vận dụng những kiến thức
đó vào trong thực tế cuộc sống, phục vụ ngành nghề trong tương lai, qua đó rèn tư duy
sáng tạo, học cách suy nghĩ và làm việc của các nhà khoa học, tạo nền tảng kiến thức
vững chắc cho các môn khoa học chuyên ngành…
- Nhà khoa học có nhiều thời gian, thậm chí cả đời mình để khám phá một định
luật, xây dựng một giả thuyết nào đó; còn SV Đại học NKT thì chỉ mất thời gian rất
ngắn, chỉ trong vài tiết học trên lớp và thời gian tự học ở nhà, còn phải dành phần lớn
thời gian cho các môn học khác…
44
Với sự khác nhau đó, ta không hy vọng làm cho SV Đại học NKT nhờ áp dụng
phương pháp khoa học mà có được những sáng tạo lớn như nhà khoa học, mà chỉ
mong muốn SV làm quen với cách suy nghĩ, cách tư duy khoa học, tạo ra những yếu tố
ban đầu của hoạt động nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, nếu một số SV có lòng ham
mê khoa học, muốn tìm tòi khám phá thì có thể gia nhập vào một nhóm nghiên cứu
nào đó, dưới sự hướng dẫn của nhà khoa học có uy tín (có thể là GV trong trường,
hoặc những người làm công tác nghiên cứu trong các viện, các trung tâm…).
* So với SV ngành Vật lý và SV ngành khoa học cơ bản khác
- SV ngành Vật lý học VLĐC để nắm được các kiến thức khoa học Vật lý, trang
bị cho mình các kiến thức cơ bản chuyên ngành Vật lý, để có những hiểu biết phục vụ
cho mục đích học tập lĩnh vực mình được đào tạo. Còn SV Đại học NKT học VLĐC
để vận dụng các kiến thức Vật lý vào các môn cơ sở ngành, chuyên ngành kỹ thuật mà
mình theo học.
- SV ngành Vật lý khi học VLĐC với mục đích để trở thành một GV giảng dạy
Vật lý hay một chuyên gia chuyên nghiên cứu về Vật lý, vì vậy khi học họ không chỉ
học hết các phần của VLĐC, mà còn cần biết kiến thức Vật lý này vận dụng, áp dụng
vào đâu, phải biết lịch sử hình thành nó thế nào, học phương pháp giảng dạy, phương
pháp nghiên cứu Vật lý. Còn SV ngành kỹ thuật học VLĐC với tâm thế vận dụng, ứng
dụng để học tập và nghiên cứu vào các chuyên ngành học của mình, nên chỉ tập trung
sâu vào những phần có liên quan đến chuyên ngành của mình.
- SV ngành Vật lý khi học VLĐC với tâm thế là một môn học của chuyên
ngành, nên SV có động cơ học tập rõ ràng, trong quá trình học tập SV luôn chủ động
học tập và nghiên cứu để có thể nắm vững được những kiến thức Vật lý làm nền tảng
cho việc giảng dạy hoặc nghiên cứu sau này khi ra trường của bản thân. Còn SV Đại
học NKT học VLĐC được coi là một môn học cơ bản, lại học tập ở năm học thứ nhất
khi mà các em đang còn thiếu thông tin, và hiểu biết về chuyên ngành mà mình học,
dẫn đến chưa biết VLĐC sẽ ứng dụng, sử dụng như thế nào cho chuyên ngành học của
mình nên đa số SV thiếu hẳn động cơ, mục đích, hứng thú học tập VLĐC.
- Môi trường học tập VLĐC của SV ngành Vật lý có điều kiện thuận lợi hơn,
các em được học tập trong môi trường gồm nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu Vật lý ở
nhiều lĩnh vực khác nhau, tài liệu giáo trình phong phú hơn, thời gian đào tạo xuyên
suốt toàn bộ khóa học. Còn SV ngành kĩ thuật học tập VLĐC do tổ bộ môn Vật lý
thuộc Khoa khoa học cơ bản giảng dạy, SV ít có điều kiện tiếp xúc với các nhà khoa
45
học, nhà nghiên cứu Vật lý chuyên sâu, và thường chỉ học trong một khoảng thời gian
ngắn nhất định.
- Còn với SV ngành khoa học cơ bản khác, học VLĐC để biết được kiến thức
ngành mình đang theo học được sử dụng như thế nào trong Vật lý hay Vật lý giúp cho
họ học tập, nghiên cứu chuyên ngành của họ được tốt hơn. Như vậy, đối với SV ngành
khoa học cơ bản (không phải ngành Vật lý) và SV ngành kỹ thuật có điểm chung là
đều học VLĐC để học tập, nghiên cứu chuyên ngành của mình được tốt hơn. Nhưng
có điểm khác nhau cơ bản là: Với SV ngành khoa học cơ bản với tâm thế học để cho
phục vụ cho việc nghiên cứu, nên họ học kỹ và nắm rất chắc phần lý thuyết và vận
dụng kiến thức đã học; Còn với SV ngành kỹ thuật học VLĐC với mục đích để học tập
các môn cơ sở ngành, chuyên ngành và ứng dụng, vận dụng vào thực tế, nên phần cơ
sở lý thuyết thường bị xem nhẹ, mà chỉ chú ý đến các phần kiến thức, công thức có
liên quan, ứng dụng trong chuyên ngành của mình.
* So với học sinh phổ thông [40]
- Những kiến thức VLĐC mà SV Đại học NKT được học trong năm đầu tiên ở
trường ĐH ít nhiều đã có nền tảng từ Vật lí phổ thông. Tuy nhiên học sinh phổ thông
bị hạn chế về mặt kiến thức toán học cũng như tư duy, vì vậy có một số vấn đề, một số
công thức mà các em phải chấp nhận nhưng không rõ nguồn gốc từ đâu; còn với SV
Đại học NKT thì các kiến thức được chứng minh rõ ràng nhờ công cụ toán học và khả
năng áp dụng kiến thức vào thực tế được đòi hỏi cao hơn, có tầm nhìn rộng hơn, bao
quát hơn.
- SV Đại học NKT được tiếp cận với các GV, các nhà nghiên cứu trong các
trường đại học, các viện nghiên cứu dễ dàng hơn học sinh phổ thông, nguồn tài liệu
tham khảo trong các trường đại học cũng rất phong phú. Đó là điều kiện thuận lợi giúp
SV Đại học NKT bước đầu rèn luyện công tác nghiên cứu khoa học, trao dồi kỹ năng
giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra...
Như vậy, SV Đại học NKT với vai trò là những chuyên gia tương lai, được
trang bị kiến thức, kỹ năng và con đường tư duy khoa học. GV với vai trò là người
hướng dẫn, định hướng, đánh giá quá trình nhận thức khoa học, rèn luyện cho SV Đại
học NKT năng lực tự học tự nghiên cứu để có thể học tập suốt đời.
2.9. Xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi
dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật
Để bồi dưỡng năng lực tự học cho SV Đại học NKT đòi hỏi nhiều điều kiện:
Trình độ, năng lực của GV, cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học, quy trình đào tạo…
46
đồng thời việc bồi dưỡng năng lực tự học cho SV, cũng phải dựa trên ba yếu tố năng
lực đã nêu là: Tri thức về lĩnh vực hoạt động; kỹ năng tiến hành hoạt động; những điều
kiện tâm lý. Mặt khác cũng phải quan tâm đến các năng lực thành phần của năng lực
tự học, các năng lực này đan xen, nối tiếp nhau quyết định đến sự phát triển năng lực
tự học. Tài liệu có hướng dẫn theo môđun ngoài việc cung cấp lượng tri thức đến cho
người học, còn được biên soạn theo hướng định hướng, hướng dẫn người học tự lực
chiếm lĩnh tri thức, đồng thời góp phần bồi dưỡng các năng lực tự học cho SV. Cụ thể
việc xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng năng lực
tự học cho SV Đại học NKT cần đáp ứng được các mặt sau đây.
2.9.1. Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng năng
lực xác định mục tiêu và nhiệm học tập
Năng lực xác định nhiệm vụ và mục tiêu học tập là một trong những năng lực
quan trọng, đầu tiên cần có đối với việc TH. Khác với cách học có sự chỉ dẫn trực tiếp
của GV khi ở trên lớp, người học được GV định hướng, xác định rõ các nhiệm vụ học
tập và mục tiêu cụ thể. Tuy nhiên, khi tự học với các tài liệu thông thường, người học
rất khó khăn trong việc xác định mục tiêu và nhiệm vụ, bởi các tài liệu được biên soạn
theo hướng cung cấp tri thức hàn lâm, SV không biết mình phải bắt đầu nhiệm vụ học
tập từ đầu, nhiệm vụ nào là trọng tâm cần phải thực hiện, các mục tiêu nào để đạt được
nhiệm vụ đề ra, đồng thời khó khăn trong việc xác định các nhiệm vụ và mục tiêu phù
hợp với năng lực, trình độ của bản thân, vì vây khi TH, SV chỉ biết đọc, học toàn bộ
kiến thức trong tài liệu một cách dàn trải, không có trọng tâm, và sau khi kết thúc buổi
học, phần học, SV không có mục tiêu đặt ra trước để kiểm tra bản thân đã đạt kết quả
chưa? những phần kiến thức cơ bản, trọng tâm cần nắm vững kiến thức có đạt không?.
Nhưng khi TH với tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun SV sẽ khắc phục được các
hạn chế này, với ưu thế trong việc định hướng, hướng dẫn tự học, cấu trúc tài liệu TH
có hướng dẫn theo môđun ngay từ hệ vào đã giới thiệu với người học một cách khái
quát nhất về phần kiến thức của toàn môđun, nêu rõ điều kiện cần có để học môđun, vì
vậy khi TH SV sẽ có cách nhìn tổng quát về kiến thức cần chiếm lĩnh, SV tự nhận biết
và nắm bắt được những kiến thức mà bản thân cần có, cần phải chiếm lĩnh, biết kiến
thức nào là trọng tâm đòi hỏi phải nỗ lực cố gắng, cách thức chiếm lĩnh kiếm thức đó
ra sao, qua đó SV sẽ xác định được nhiệm vụ cần phải thực hiện trong quá trình TH
của mình. Trong tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun cũng đã chỉ ra các mục tiêu
chung cần đạt trong toàn bộ môđun, SV có thể tham khảo để tự xác định mục tiêu cụ
thể về kiến thức, kỹ năng cho từng tiểu môđun sao cho phù hợp với nhiệm vụ đã đặt ra
47
và phù hợp với năng lực, trình độ của bản thân, điều này tạo cho SV tâm thế sẵn sàng,
tự tin khi bắt đầu tự học, bởi các em được chuẩn bị về mặt tri thức, tư tưởng, tâm thế
và biết mình sẽ đạt được kết quả như thế nào nếu học qua được môđun đó, SV sẽ có
động cơ, hứng thú khi TH, dẫn đến kết quả TH cao hơn và tự rèn luyện, bồi dưỡng
được năng lực xác định nhiệm vụ và mục tiêu học tập.
2.9.2. Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng năng
lực xây dựng kế hoạch tự học và tiến hành tự học
Tự học với tài liệu TH có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng năng lực
xây dựng kế hoạch tự học, bởi khi học tập với tài liệu TH có hướng dẫn theo môđun
(đặc biệt là tài liệu môđun dạng số hóa) đòi hỏi SV phải có một kế hoạch học tập cụ
thể và khoa học. Vì trong các môđun có các tiểu môđun, trong các tiểu môđun ngoài
nội dung kiến thức cần phải chiếm lĩnh, còn có các bài test kiểm tra kiến thức tự học
của SV. Mỗi bài kiểm tra yêu cầu một khoảng thời gian nhất định phải hoàn thành
trước khi chuyển qua phần tiếp theo. Nếu SV không sắp xếp một khoảng thời gian
nhất định để hoàn thành tiểu môđun, mà dừng lại giữa chừng, thì lần học sau SV phải
làm lại từ đầu các bài tự kiểm tra.
Mặt khác khi dạy học có sự hỗ trợ của tài liệu TH có hướng dẫn theo môđun,
ngoài việc tự học theo cá nhân, SV còn phải làm việc theo nhóm, do đó SV phải lập
một kế hoạch học tập cụ thể để có thể hoàn thành nhiệm vụ tự học của cá nhân, lại có
thể khớp được với lịch làm việc của nhóm và thời gian học tập trên giảng đường.
Ví dụ: Kế hoạch tự học tiểu môđun:…
* Kế hoạch tự học của cá nhân: Tổng thời gian.....phút; Ngày....tháng...năm....
TT Nội dung
Phương tiện
Hình thức
Mục đích
Thời gian học
liệu
....phút
1.
TH với tài liệu số hóa
Ôn lại kiến thức cũ có liên quan
tự học có Tài hướng dẫn theo môđun, đồ dùng học tập...
liệu
tài
liệu
....phút
2.
Đọc theo mô đun
Kỹ
tự học có Tài hướng dẫn theo môđun, đồ dùng học tập, máy vi tính
Bài tự kiểm tra kiến thức vào tiểu môđun. Xác định mục tiêu của tiểu môđun(Kiến thức; năng)
liệu
.....phút
3.
tự học có Tài hướng dẫn theo môđun; Giáo trình, Tài liệu 1, 2...
Đọc, tra cứu, phân tích, tổng hợp các tài liệu tham khảo
Trả lời các câu hỏi hướng dẫn tự học nội dung lý thuyết
Xác định kiến thức trọng tâm sau khi tiểu học xong môđun phải nắm vững Nắm được nội dung lý thuyết cần nghiên cứu - Những kiến thức cũ đã biết - Những kiến thức mới cần phải học ...................
...................
...............
....................
......................
4.
48
* Kế hoạch thảo luận của nhóm:
Thời gian (ngày, giờ)
Những câu thắc mắc của nhóm
Hình thức (Trực tiếp, qua mạng...)
Địa điểm (Phòng học nhóm, KTX...)
....................
.....................
......................
Câu.....
Nội dung (Giải đáp các câu hỏi thắc mắc của nhóm) Câu 1:...... Câu 2:......
Tự học với tài liệu TH có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng cách học
cho SV. Khi tự học với tài liệu TH có hướng dẫn theo môđun, SV được đặt vào các
tình huống có vấn đề, làm xuất hiện trước SV mâu thuẫn nhận thức, kích thích SV có
nhu cầu muốn giải quyết vấn đề, để nắm bắt và giải thích các hiện tượng Vật lý đã đặt
ra. Ví dụ khi tự học về môđun “Điện trường tĩnh”, trước khi tự nghiên cứu nội dung
kiến thức phần học, SV được xem một thí nghiệm về điện trường tĩnh, thông qua các
hiện tượng quan sát được từ thí nghiệm sẽ tạo được tình huống có vấn đề, động cơ,
hứng thú tự học và ham muốn chiếm lĩnh tri thức, tìm cách thực hiện để lý giải và
chiếm lĩnh những kiến thức mâu thuẫn bên trong vấn đề.
Khi học tập với tài liệu TH có hướng dẫn theo môđun, để giải quyết vấn đề đặt
ra (tự học một môđun hay một tiểu môđun), với các câu hỏi mang tính chất định
hướng, các bài tập test kiểm tra lần 1, lần 2, các video thí nghiệm, SV sẽ phải tự thu
thập, xử lý thông tin, phải chủ động và tự lực vận dụng các kiến thức, kỹ năng sẵn có
của bản thân để đưa ra quyết định, trả lời các câu hỏi lý thuyết, giải các bài tập, các bài
tự kiểm tra, và bài tập tự ôn tập, từ đó từng bước giải quyết vấn đề đặt ra, điều này đòi
hỏi SV phải tự tìm ra cách học, phương pháp học phù hợp, để có thể chiếm lĩnh tri
thức một cách có hiệu quả nhất và nhanh nhất. Đây là điểm khác biệt của tài liệu tự
học có hướng dẫn theo môđun và các tài liệu truyền thống, với các tài liệu truyền
thống trong khi biên soạn ít có các câu hỏi định hướng, ít các bài tập test kiến thức
trong phần trình bày nội dung kiến thức, ít tạo ra được các tình huống học tập, và các
video thí nghiệm ở tài liệu, vì vậy cách học của SV chỉ đơn thuần là đọc tài liệu để
chiếm lĩnh phần kiến thức mà tài liệu đã trình bày vì vậy khó phát huy được các cách
học của người học.
Sử dụng tài liệu TH có hướng dẫn theo môđun trong học tập, đòi hỏi SV không
chỉ tập trung vào nghiên cứu tri thức, mà SV còn được học cách học, học phương pháp
học, được bồi dưỡng, rèn luyện các thao tác tư duy như: Tư duy hình tượng, tư duy
ngôn ngữ, tư duy kinh nghiệm, tư duy phân tích, tư duy tổng hợp... Bởi tự học với tài
liệu tự học có hướng dẫn theo môđun, với các câu hỏi định hướng được chia thành các
49
phần kiến thức nhỏ, SV phải tự phân tích các dữ kiện, liên tưởng, tưởng tượng, suy
luận để đưa ra quyết định đúng, và vận dụng các kiến thức lý thuyết vào giải các bài
tập, đây là cách rèn luyện các thao tác tư duy cho SV. Khi SV hoàn thành các yêu cầu
học tập của môđun, chính là sinh viên đã nắm được mục tiêu của môđun, SV đã giải
quyết được vấn đề cần nghiên cứu, tức SV đã biết tổng hợp kiến thức, khái quát được
vấn đề, năng lực tư duy được phát triển ở mức cao hơn và SV đã tự lĩnh hội được tri
thức, tự tìm được cách học phù hợp với bản thân, qua đó SV sẽ hứng thú hơn với việc
tự học. Khi kích thích được hứng thú tự học cho SV cũng là góp phần bồi dưỡng năng
lực tư duy, năng lực thực hiện cách học. Đây cũng là điểm cần lưu ý khi bồi dưỡng
NLTH cho SV.
Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun với cấu trúc biên soạn theo hướng có
mục tiêu cần đạt được cho môđun, có các câu hỏi, phần hướng dẫn học tập, sẽ rèn luyện,
bồi dưỡng cho SV cách xác định được mục tiêu, nhiệm vụ học tập cụ thể, chọn lọc các
kiến thức phù hợp với nội dung cần giải quyết. Qua tự học với tài liệu tự học có hướng
dẫn theo môđun, SV biết bổ sung những kiến thức tự học vào hệ thống tri thức của bản
thân, SV dần có thói quen của một nhà nghiên cứu khoa học, có thể tự đọc, tự học, tự
khám phá tri thức từ các nguồn tài liệu để đưa ra quyết định đúng. Điều này chính là
bồi dưỡng cho SV năng lực thực hiện cách học có hiệu quả.
Sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học, SV phải chủ
động, tự lực khắc phục khó khăn, sử dụng các kỹ năng, kiến thức của bản thân để
chiếm lĩnh tri thức và hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ học tập đề ra thông qua quá
trình tự học. Như vậy tự học với tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun, SV buộc
phải động não, suy nghĩ, hành động mới có thể giải quyết vấn đề học tập, qua đó SV
được rèn luyện, và bồi dưỡng năng lực tư duy, năng lực thực hiện cách học. Đây là
điểm khác biệt với kiểu dạy học truyền thụ một chiều, SV thụ động trong việc chiếm
lĩnh tri thức, và hạn chế trong phát triển năng lực tư duy, ít phát huy được năng lực tự
chiếm lĩnh tri thức và thực hiện cách học của bản thân người học
Mặt khác sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học, ngoài
việc tự học theo nhịp độ cá nhân, SV phải làm việc theo nhóm, vì vậy SV được bồi
dưỡng khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, phát huy tinh thần, ý
thức trách nhiệm với công việc được giao, thảo luận theo nhóm và học tập trên còn là
cơ hội cho SV chia sẻ, trình bày những kiến thức mà bản thân tự chiếm lĩnh, những
kiến thức còn thắc mắc, những kiến nghị, đề xuất với các SV khác và với GV.
50
2.9.3. Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng năng lực
vận dụng kiến thức cho sinh viên
Vật lý được sinh ra từ thực tiễn và nó cũng quay trở lại phục vụ cho thực tiễn
cuộc sống của chúng ta. Do đó trong quá trình dạy học VLĐC cần phải bồi dưỡng cho
SV năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của cuộc sống, làm cho môn học trở nên
hấp dẫn hơn, có ý nghĩa hơn.
Ngay từ hệ vào của môđun, SV đã được đọc phần giới thiệu về môđun và xem
clip về thí nghiệm. Phần này ngoài dụng ý giới thiệu khái quát về môđun thì đã có
những hiện tượng Vật lý, những ứng dụng kiến thức Vật lý vào trong đời sống và
trong khoa học và kĩ thuật. Nó vừa là tình huống có vấn đề để kích thích hứng thú học
tập của SV, nhưng đồng thời cũng là những câu hỏi đòi hỏi SV phải vận dụng kiến
thức nghiên cứu trong môđun để giải thích. Ngoài ra, khi tự học các tiểu môđun của
môđun, sau khi nghiên cứu phần lý thuyết, SV sẽ phải vận dụng kiến thức vừa học đó
vào các bài toán cụ thể(làm phần các bài tập cần nghiên cứu).
2.9.4. Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng năng
lực tự kiểm tra và tự đánh giá kết quả học tập của sinh viên
Trong tài liệu TH có hướng dẫn theo môđun được thiết kế có các bài tự kiểm tra
ở các phần nội dung kiến thức và bắt buộc SV phải làm các bài kiểm tra đến khi đạt
yêu cầu mới có thể chuyển qua nghiên cứu phần tiếp theo, điều này dần hình thành và
bồi dưỡng cho SV năng lực tự đánh giá quá trình TH và kết quả học tập của bản thân
để có những điều chỉnh kịp thời. Đây là điểm rất khác so với các tài liệu thông thường,
ở các tài liệu truyền thống chỉ được chú trọng nhiều đến đánh giá cuối cùng- đánh giá
tổng kết, nhưng trong tài liệu TH có hướng dẫn theo môđun với các loại bài tự kiểm
tra: Bài tự kiểm tra kiến thức vào tiểu môđun; Bài tự kiểm tra kiến thức lần 1,2 của
tiểu môđun; Bài tự kiểm tra kiến thức kết thúc môđun. Qua các bài tự kiểm tra SV biết
được năng lực của mình, để từ đó tự điều chỉnh hành vi, hoạt động học tập. Thông qua
hoạt động tự đánh giá, SV sẽ tích cực chủ động trong quá trình tự học, tự chiếm lĩnh tri
thức và góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho SV.
2.10. Thực trạng tự học Vật lý đại cương của sinh viên Đại học ngành
kỹ thuật
2.10.1. Khái quát về khảo sát thực trạng
* Về mục đích khảo sát thực trạng:
Đánh giá thực trạng tự học VLĐC của SV Đại học NKT và thực trạng tổ chức
tự học học phần VLĐC của GV làm cơ sở xác định hướng nghiên cứu của luận án.
51
* Đối tượng và địa bàn điều tra thực trạng:
Chúng tôi tiến hành điều tra khảo sát thực trạng tổ tự học môn VLĐC ở các
trường ĐH sau: ĐH Điện Lực, ĐH Công nghiệp Hà Nội, ĐHKT Công nghiệp Thái
Nguyên, ĐH Công nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh. Cụ thể chúng tôi đã tiến hành
khảo sát trên 486 SV và 32 cán bộ giảng viên giảng dạy môn VLĐC.
* Nội dung khảo sát:
- Thực trạng về hoạt động tự học môn VLĐC của SV Đại học NKT
- Thực trạng bồi dưỡng năng lực tự học môn VLĐC cho SV Đại học NKT.
* Phương pháp khảo sát:
Để tiến hành điều tra về thực trạng tự học VLĐC của SV Đại học NKT, chúng
tôi tiến hành theo các phương pháp như: Phương pháp quan sát, phỏng vấn (trao đổi
trực tiếp, nói chuyện với cán bộ GV, SV Đại học NKT về phương pháp tự học và các
tài liệu tự học), phát phiếu điều tra.
2.10.2. Kết quả khảo sát thực trạng
2.10.2.1. Thực trạng tự học học phần VLĐC của SV Đại học NKT
* Thực trạng nhận thức của SV về vai trò của VLĐC trong chương trình đào
Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện thực trạng nhận thức của SV về vai trò của VLĐC trong chương trình đào tạo của SV Đại học NKT
tạo của SV Đại học NKT
Qua khảo sát điều tra tìm hiểu chúng tôi nhận thấy đa số SV đều ý thức được
vai trò của VLĐC trong chương trình đào tạo của mình. Theo kết quả điều tra bảng
P.2.1 (Phụ lục 5) cho thấy phần đông SV nhận thức đúng được vai trò của môn VLĐC,
việc đánh giá đúng đắn về vai trò của VLĐC là điều kiện quan trọng và cần thiết để
SV có thể tiến hành tự học một cách dễ dàng và có hiệu quả
*Về mức độ nắm vững kiến thức Vật Lí
Qua điều tra khảo sát, trao đổi với các GV dạy Vật lí tại các trường ĐH ngành
kỹ thuật cho thấy: Mức độ nắm kiến thức của SV đối với môn Vật lí là còn yếu, qua
52
tìm hiểu chúng tôi nhận thấy có hai nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này: Thứ
nhất do thời học phổ thông SV chỉ chú trọng học phần kiến thức Vật lí lớp12 để tập
trung thi ĐH, còn các phần kiến thức VL thuộc chương trình lớp 10, 11 về phần cơ
học, trường tĩnh điện, từ trường, cảm ứng từ thì SV hầu như không còn nhớ gì. Thứ hai
là do điểm đầu vào của các SV trường Đại học NKT mà chúng tôi tiến hành điều tra có
điểm thi môn VL đều chỉ ở mức trung bình và khá chiếm 86%, trong đó có 1% là yếu
môn VL, những em này thuộc đối tượng dân tộc thiểu, vì vậy đây cũng là một khó
khăn khi SV tiến hành TH môn VLĐC
* Về hứng thú tự học VLĐC của SV Đại học NKT
Hứng thú học tập là một trong yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình tự
học. Khi có hứng thú SV sẽ cảm thấy say mê, yêu thích, muốn tìm hiểu, khám phá về
những kiến thức liên quan đến môn học.
Chúng tôi khảo sát, đánh giá về hứng thú của SV với tự học VLĐC bằng cách
sắp xếp thứ tự giảm dần về mức độ hứng thú với học phần VLĐC. Kết quả thu được
như sau:
Bảng 2.2: Bảng điều tra về hứng thú tự VLĐC của SV Đại học NKT
STT
Số ý kiến
Tỷ lệ %
Hứng thú
1
Rất hứng thú
50
10,3
2
Hứng thú
185
38,1
3
Bình thường
230
47,3
4
Ít hứng thú
21
4,3
Ở phần khảo sát nhận thức của SV về vai trò của VLĐC. Cho thấy đa số SV
đều ý thức được vai trò của môn học này, tuy nhiên khi điều tra về hứng thú tự học,
thì đa số SV chưa thực sự có hứng thú khi tự học VLĐC. Đây phải chăng là một
trong những nguyên nhân dẫn đến kết quả học tập môn VLĐC chưa cao. Chúng tôi
đã tiến hành trao đổi, trò chuyện trực tiếp với một số SV để tìm hiểu nguyên nhân tại
sao khi các em đã nhận thức rõ được vai trò, ý nghĩa của VLĐC trong chương trình
học của mình nhưng lại không có hứng thú với việc tự học này. Đa số SV đều có ý
kiến trả lời “Khi tìm hiểu về môn học chúng em đều nhận thức rõ được ý nghĩa của
môn VLĐC với chuyên ngành học của bản thân và việc học trên lớp dưới sự chỉ dẫn,
giảng giải của GV chúng em có thể tiếp thu được kiến thức bài học. Tuy nhiên khi
tiến hành tự học các em lại cảm thấy kiến thức mênh mông, rất khó và chưa có cách
học nào để có thể nắm và hiểu bài một cách hợp lí nhất”. Điều này khiến chúng tôi
53
những người trực tiếp giảng dạy luôn trăn trở, tự đặt câu hỏi làm cách nào để có thể
giúp SV tự học có hiệu quả.
* Về mục đích tự học VLĐC của SV Đại học NKT
Như vậy, kết quả thăm dò bảng P.2.2 (Phụ lục 5) cho thấy động cơ tự học chủ
yếu của SV là để có kết quả kiểm tra và thi tốt, điều này một phần lý giải tại sao SV
chỉ tự học với cường độ cao mỗi khi có kỳ kiểm tra, kỳ thi. SV chưa ý thức được một
cách rõ ràng tự học là để làm tăng vốn kiến thức và năng lực vận dụng kiến thức vào
thực tiễn của bản thân
Hình 2.2: Biểu đồ thể hiện về mục đích tự học VLĐC của SV Đại học NKT * Về thời gian tự học
Thời gian tự học cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tự học bởi trong
học tập, SV phải học nhiều môn. Mỗi môn có vị trí, tính chất, nội dung, khối lượng
thông tin khác nhau. Để tự học tốt, SV phải bố trí và quản lý thời gian hợp lý.
Kết quả điều tra bảng P2.3 (Phụ lục 5) cho thấy: Đa số SV đều cho rằng thời
gian mà các trường ĐH dành cho SV tự học, tự nghiên cứu là nhiều, nhưng thời gian
cho tự học trong ngày của SV phần đông chỉ dành 1- 2h cho việc tự học. Qua điều tra
chúng tôi nhận thấy phần lớn SV chưa có thói quen tự học thường xuyên, mà thường
chỉ tập trung học khi có kiểm tra giữa kỳ và thi hết học phần, việc học học phần VLĐC
ở lớp cũng như ở nhà của rất nhiều SV chỉ mang tính chất đối phó, bởi các em chưa có
hứng thú với môn học, chưa biết tự xây dựng kế hoạch học tập chi tiết và chưa tìm ra
phương pháp tự học có hiệu quả. Vì vậy mục tiêu đặt ra khi giảng dạy về kiến thức, về
kỹ năng, thái độ mà SV phải đạt được thường không đạt như mong muốn.
* Về nguồn tài liệu sử dụng cho tự học VLĐC
Ngoài các yếu tố từ bản thân người học như động cơ, hứng thú, các kỹ năng, thì
các yếu tố bên ngoài như cơ sở vật chất kỹ thuật, các phương tiện và thiết bị dạy học
có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tự học của SV. Để hoạt động tự học diễn ra
54
thuận lợi và có kết quả thì không thể thiếu được sự hỗ trợ cần thiết của các phương
Hình 2.3: Biểu đồ thể hiện về nguồn tài liệu sử dụng cho tự học VLĐC
tiện vật chất phục vụ hoạt động tự học.
Qua điều tra bảng P2.4 (Phụ lục 5) chúng tôi nhận thấy: Khi SV tiến hành hoạt
động tự học của mình, tài liệu dành cho hoạt động tự học đa phần(50%) các em đều sử
dụng tập ghi chép bài giảng trên lớp của thầy giảng, số khác có sử dụng các giáo trình
tài liệu tham khảo khác nhưng tỷ lệ ít(40%). Số SV sử dụng tài liệu hướng dẫn tự học
và giáo trình điện tử chỉ chiếm(4%). Theo phiếu điều tra cũng như phỏng vấn, trò
chuyện trực tiếp với SV, các em trao đổi rằng: “Bản thân vẫn chưa tìm và chưa được
giới thiệu về tài liệu hướng dẫn tự học”, hoặc một số em đã có sử dụng các tài liệu
hướng dẫn tự học, tuy nhiên trong cách hướng dẫn của các tài liệu tự học vẫn trình bày
một cách chung chung, chưa có sự chỉ dẫn cách học, chưa đưa ra các mục tiêu cụ thể,
cũng như chưa có các bài test để các em có thể tự kiểm tra kết quả tự học, vì vậy làm
cho các em dễ nảy sinh tâm lý chán nản khi tiến hành tự học và kết quả tự học của SV
chưa cao. Thực trạng trên là cơ sở để chúng tôi mạnh dạn tiến hành xây dựng tài liệu
tự học có hướng dẫn theo môđun cho SV nhằm góp phần bồi dưỡng năng lực tự học
của SV.
* Thực trạng về các công việc đã thực hiện trong tự học môn VLĐC của SV Đại
học NKT
Chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng về các công việc đã thực hiện trong tự
học môn VLĐC của SV Đại học NKT và thu được kết quả theo tỷ lệ phần % như bảng
P.2.5 (Phụ lục 5).
Như vậy các hoạt động mà SV thường sử dụng để tự học VLĐC đa phần là
các hoạt động quen thuộc, truyền thống như: Đọc và học thuộc kiến thức trong phạm
vi bài giảng. Các hoạt động này giúp SV học thuộc phần kiến thức bài học một cách
máy móc mà ít có sự suy nghĩ, liên hệ với thực tế, chỉ có ý nghĩa phục vụ cho việc
55
học và thi hết học phần VLĐC, chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo, cũng như
chưa rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo trong việc tự học, tự nghiên cứu, tự tìm kiếm tri
thức. Bởi vậy, khi hướng dẫn, tổ chức cho SV tự học người GV cần giúp SV kết hợp
nhiều phương pháp khác nhau thì chất lượng tự học môn VLĐC mới đạt kết quả như
mong muốn.
* Về phương pháp được GV giới thiệu và sử dụng trong tổ chức tự học VLĐC
cho SV
Kết quả khảo sát bảng P.2.6 (Phụ lục 5) cho thấy GV đã giới thiệu và sử dụng
nhiều phương pháp để SV có thể tiến hành hoạt động tự học, tuy nhiên mức độ có sự
khác nhau giữa các phương pháp được sử dụng và có sự khác nhau giữa các trường
ĐH. Trong các phương pháp trên, đa số GV đều thường xuyên giới thiệu đầy đủ giáo
trình, sách tham khảo; hay lựa chọn trọng tâm và giải thích cho SV hiểu, ở phương
pháp xây dựng những tình huống có vấn đề và hướng dẫn SV tự giải quyết; hay đưa ra
những chủ đề liên quan để cho SV tự nghiên cứu và trình bày trên lớp, thì các GV
thỉnh thoảng mới sử dụng. Theo trao đổi với SV, thậm chí có những GV chưa bao giờ
thiết kế các tài liệu hướng dẫn tự học cho SV hay thiết lập các Forum (diễn đàn) trên
mạng trao đổi các vấn đề liên quan đến học phần và PP tự học. Đây cũng chính là thực
trạng chung ở các trường ĐH, mặc dù hiện nay các trường ĐH đã chuyển từ đào tạo
theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ. Với cách thức đào tạo mới, nhưng GV vẫn còn
sử dụng các tài liệu, các giáo trình truyền thống để dạy học. Qua tìm hiểu thực trạng
trên, là cơ sở để chúng tôi mạnh dạn trong việc xây dựng tài liệu hướng dẫn tự học cho
SV, cũng như đưa ra và đề xuất một số hình thức sử dụng các tài liệu này nhằm góp
phần bồi dưỡng năng lực tự học của SV.
* Về nguyên nhân ảnh hưởng đến tự học VLĐC của SV Đại học NKT
Bảng 2.3: Kết quả điều tra về nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả tự học
STT
Các nguyên nhân ảnh hưởng
Số ý kiến
1 Nội dung khô khan, khó học 2 Do quan niệm VLĐC là môn cơ bản, không quan trọng 3 Thiếu giáo trình, tài liệu tham khảo
258/486 17/486 12/486
Tỷ lệ (%) 53,1 3,5 2,5
4
150/486
30,8
5
305/486
62,8
PP giảng dạy của GV chưa kích thích được hứng thú việc tự học của SV Bản thân chưa có PP tự học hiệu quả, chưa có ý chí vượt khó trong học tập
6 Chưa có tài liệu chuyên dùng hướng dẫn tự học VLĐC cho SV 7 Không có sự kiểm tra thường xuyên của GV 8 Các hình thức học tập còn đơn điệu
448/486 402/486 412/486
92,2 82,7 84,8
56
Khi được hỏi về những nguyên nhân nào ảnh hưởng đến việc tự học VLĐC thì đa
số (92,2%) SV cho rằng do chưa có một tài liệu chuyên dùng hướng dẫn tự học VLĐC
cho SV; trên 80% SV cho rằng các hình thức học tập còn đơn điệu, không có sự kiểm
tra thường xuyên của GV… Theo đánh giá của chúng tôi tài liệu học tập, giáo trình
tham khảo hiện nay không thiếu, mà thiếu tài liệu hướng dẫn phương pháp tự học và
tài liệu tổng hợp về kiến thức. Hiện nay có rất nhiều loại sách, tài liệu tham khảo đang
lưu hành trên thị trường, cùng với sự phổ biến rộng rãi của mạng internet, đã tạo ra
cho các em một nguồn cung cấp tài liệu khổng lồ. Nhưng cũng chính “biển” tài liệu to
lớn như vậy lại gây nhiều khó khăn cho SV trong việc phải tìm, lựa chọn, phân loại
sách để đọc, để nghiên cứu. Trong khi đó nhiều SV lại chưa có phương pháp tự học
hiệu quả, chưa có ý chí vượt khó trong học tập và chưa có các kỹ năng tự học như thế
nào với các tài liệu đã có để đạt hiệu quả cao. Đây chính là vấn đề đặt ra đòi hỏi GV
cần quan tâm, để định hướng cách dạy, cách học cho SV.
* Về biện pháp để tự học VLĐC cho SV Đại học NKT có hiệu quả
Bảng 2.4: Bảng điều tra về biện pháp để tự học có kết quả
Số ý
Tỷ
STT
Để tự học VLĐC đại cương có hiệu quả
kiến
lệ%
1
Dùng giáo trình và tài liệu tham khảo như hiện nay
47
9,6
Dùng giáo trình và tài liệu tham khảo như hiện nay, nhưng phải
2
372
76,6
có thêm tài liệu hướng dẫn tự học kèm theo
3
Chỉ cần dùng vở ghi chép trên lớp
39
8,0
4
Chỉ cần dùng giáo trình chính của trường biên soạn
28
5,8
Qua khảo sát điều tra, kết quả cho thấy: Với câu hỏi “Để tự học VLĐC có hiệu
quả” thì phần đông SV đều cho rằng: dùng giáo trình và tài liệu tham khảo như hiện
nay, nhưng có thêm tài liệu hướng dẫn tự học kèm theo sẽ giúp các em tự học tốt hơn,
bởi hiện tại dù vẫn đang tiến hành hoạt động tự học hàng ngày trong hoạt động học tập
của mình, nhưng vì không có một tài liệu hướng dẫn cho việc tự học nên khi tự học,
kết quả tự học chưa cao. Điều này cho thấy SV đang cần có sự hướng dẫn, giúp đỡ
trong việc tự học, đó chính là học cái gì, học như thế nào, làm sao để đạt được kiến
thức mình mong muốn trước khối lượng kiến thức rất lớn và rất nhiều nguồn thông tin.
Như vậy vấn đề đặt ra GV cần biên soạn tài liệu và phương pháp hướng dẫn tự học
phù hợp, nhằm định hướng cho SV cách thức để tiến hành hoạt động tự học, tự thu
thập kiến thức một cách chủ động và hiệu quả hơn.
57
2.10.2.2. Thực trạng bồi dưỡng năng lực tự học học phần Vật lý đại cương cho
sinh viên Đại học ngành kỹ thuật.
* Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc tổ chức tự học cho SV
Chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến của 32 GV giảng dạy môn VLĐC ở các
trường ĐH Công nghiệp Hà Nội, ĐH Điện Lực, ĐHKT Công nghiệp Thái Nguyên,
ĐHCN Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề này, kết quả thu được như sau: Đa số ý
kiến của GV cho rằng việc tổ chức tự học VLĐC cho SV Đại học NKT có ý nghĩa rất
quan trọng. Như vậy phần đông GV đều nhận thấy trong xu hướng giáo dục đào tạo
hiện nay thì việc tổ chức cho SV tự học có ý nghĩa rất quan trọng, phù hợp với hình
thức đào tạo theo tín chỉ, đồng thời rèn luyện cho SV năng lực tự học, tự nghiên cứu
suốt đời để SV có thể đáp ứng các đòi hỏi ngày càng cao và luôn thay đổi của xã hội
hiện đại.
* Thực trạng về tổ chức dạy VLĐC cho SV Đại học NKT của GV
Qua điều tra khảo sát bảng P.2.7 (Phụ lục 5) chúng tôi nhận thấy rằng: đa số các
GV đều nhận thức được vai trò của việc tổ chức tự học VLĐC cho SV Đại học NKT là
rất quan trọng, tuy nhiên trong quá trình giảng dạy, các GV lại chưa đưa ra các PP để
có thể hướng dẫn SV tự học, phần đông các GV vẫn sử dụng các phương pháp truyền
thống như: phương pháp thuyết trình, phương pháp giảng giải, phương pháp đàm
thoại.. khi dạy VLĐC và cho rằng việc tự học là của SV phải chủ động, việc giao chủ
đề cho SV và tổ chức cho SV seminar trong quá trình dạy học; việc giao bài tập, yêu
cầu SV tự học để hoàn thành chiếm tỉ lệ rất nhỏ, còn kiểm tra thỉnh thoảng mới được
GV thực hiện. Như vậy đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho việc tự
học của SV chưa đạt hiệu quả cao.
Ngoài ra khi điều tra về việc hướng dẫn tự học cho SV, kết quả thu được cho
thấy: Các GV thường hướng dẫn cho SV tự học VLĐC như: hướng dẫn SV đọc giáo
trình và các tài liệu tham khảo trước khi lên lớp, yêu cầu SV làm các bài tập trong giáo
trình chiếm đến 87%, các hoạt động như làm các dự án học tập theo chủ đề, hướng dẫn
SV tự học qua hệ thống internet, tự học qua diễn đàn trao đổi với GV và SV khác chỉ
chiếm một tỉ lệ rất nhỏ 4,7%, một số GV thỉnh thoảng mới hướng dẫn SV tự học qua
việc tìm kiếm các tài liệu tại thư viện. Như vậy, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy GV
chưa đề ra các yêu cầu cao cho SV khi tự học cũng như chưa hướng dẫn cho SV tìm ra
cách tự học đạt hiệu quả cao nhất, đa phần GV đều cho rằng việc tự học là việc của SV
phải chủ động.
58
* Thực trạng về các nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng việc tự học VLĐC
theo đánh giá của GV
Bảng 2.5: Điều tra về các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tự học
của SV theo đánh giá của GV
STT
Các nguyên nhân ảnh hưởng
Số ý kiến
Tỉ lệ %
Nội dung khô khan, không hấp dẫn
0/32
0,0
1
SV chưa ý thức được vai trò của tự học
2/32
6,2
2
Thiếu giáo trình, tài liệu tham khảo
0/32
0,0
3
Các phương pháp và hình thức dạy học chưa phù hợp
2/32
6,2
4
SV chưa có phương pháp tự học
29/32
90,6
5
Chưa có sự hướng dẫn tự học hiệu quả
3/32
9,3
6
Chưa có tài liệu hướng dẫn tự học cho SV
30/32
93,7
7
Phần lớn GV đều cho rằng có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tự
học học phần VLĐC của SV Đại học NKT như là: do SV chưa có phương pháp và
hình thức tự học phù hợp, chưa có sự hướng dẫn tự học có hiệu quả, tuy nhiên đa số
GV được hỏi đều có chung ý kiến là hiện tại chưa có tài liệu hướng dẫn tự học cho SV,
vì vậy trong quá trình tự học, SV sẽ rất khó học, đặc biệt trong thời đại công nghệ
thông tin bùng nổ, với lượng tri thức khổng lồ từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau mà
không phải tài liệu nào cũng được kiểm định, vì vậy chưa có tài liệu hướng dẫn tự học
là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tự học của SV chưa hiệu quả. Đây chính là băn
khoăn của các GV nói chung, cũng như chính bản thân tác giả trong suốt quá trình
khảo sát điều tra, để từ đó chúng tôi có thể mạnh dạn xây dựng tài liệu tự học cho SV
nhằm giúp cho các em SV có thể tiến hành hoạt động tự học có hiệu quả hơn.
* Thực trạng về việc bồi dưỡng năng lực tự học VLĐC cho SV Đại học NKT
Khi điều tra về thực trạng bồi dưỡng năng lực tự học VLĐC cho SV Đại học
NKT, các GV được phỏng vấn trực tiếp cũng như qua test phiếu điều tra đều có chung
một nhận định là việc bồi dưỡng năng lực tự học VLĐC cho SV là điều rất quan trọng,
một số GV có ý kiến “điều cần thiết nhất để nâng cao năng lực tự học vẫn là hình
thành cho SV động cơ, thái độ học tập đúng đắn, đồng thời bồi dưỡng cho SV các kỹ
năng tự học”, hay làm sao để bản thân mỗi SV nhận thấy được ý nghĩa, vai trò của học
phần với nghề nghiệp tương lai của mình, SV sẽ có động cơ để học tập. Chỉ trên cơ sở
nhận thức được tầm quan trọng của học phần, mỗi SV mới đặt ra quyết tâm, nghị lực,
ý chí để khắc phục khó khăn, trở ngại để vươn tới đỉnh cao của quá trình học tập và
59
phát triển được năng lực của bản thân để có thể tự học suốt đời. Như vậy, qua điều tra
chúng tôi nhận thấy việc định hướng, hướng dẫn và hình thành cho SV năng lực tự học
cho SV có một ý nghĩa rất quan trọng, được GV nhìn nhận, đánh giá cao. Tuy nhiên do
nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nên không phải GV nào trong quá trình
giảng dạy đều có thể lồng ghép được việc bồi dưỡng năng lực tự học cho SV.
Bên cạnh đó theo GV để nâng cao năng lực tự học còn cần quan tâm xây dựng
các tài liệu và PP hướng dẫn tự học mới mẻ, hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển
của xã hội và kích thích được hứng thú tự học của SV.
Hiện nay, tuy các trường ĐH có đào tạo SV Đại học NKT đã chuyển sang đào
tạo theo tín chỉ nhưng tài liệu, giáo trình thì không khác gì nhiều so với đào tạo theo
niên chế. Đây là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng dạy học,
dạy tự học cho SV. Vì vậy, cần biên soạn các tài liệu theo môđun cho các học phần nói
chung và học phần VLĐC nói riêng.
2.10.3. Kết luận chung về thực trạng tự học Vật lý đại cương của sinh viên
Đại học ngành kỹ thuật
1. SV Đại học NKT đa số có nhận thức đúng về vai trò của VLĐC đối với việc
đào tạo kỹ sư, về ý nghĩa của việc tự học VLĐC đối với SV Đại học NKT. Tuy nhiên,
đa số SV chưa thực sự có hứng thú khi tự học VLĐC, và không tự học VLĐC một
cách thường xuyên mà thường chỉ khi đến sát kỳ thi mới học.
2. Các cách thức tự học VLĐC của SV còn đơn điệu, đa phần là các cách thức
truyền thống. Về nguồn tài liệu dùng trong tự học, chủ yếu là tập ghi chép của thầy
trên lớp, thời gian dành cho tự học vẫn còn ít... đây là những nguyên nhân chủ quan
dẫn đến kết quả tự học chưa cao. Ngoài ra còn có những nguyên nhân khách quan dẫn
đến kết quả tự học của SV như chưa có các tài liệu chuyên dụng hướng dẫn tự học
VLĐC cho SV.
3. Qua điều tra chúng tôi nhận thấy việc định hướng, hướng dẫn và hình thành
cho SV năng lực tự học cho SV có một ý nghĩa rất quan trọng, được GV nhìn nhận,
đánh giá cao. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nên không
phải GV nào trong quá trình giảng dạy đều có thể lồng ghép được việc bồi dưỡng năng
lực tự học cho SV
4. Kết quả khảo sát cho thấý thiết kế và tổ chức tự học với tài liệu tự học có
hướng dẫn theo môđun học phần VLĐC cho SV Đại học NKT là phù hợp với điều
kiện các trường ĐH hiện nay.
60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Với nhiệm vụ làm sáng tỏ những căn cứ về mặt lý luận và thực tiễn cho việc
nghiên cứu của đề tài, chương 2 bao hàm các nội dung chính sau:
1. Về cơ sở lý luận:
- Chúng tôi hệ thống hóa, làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận liên quan đến tự
học, năng lực tự học, việc bồi dưỡng năng lực tự học cho SV Đại học NKT.
- Phân tích các năng lực thành phần của NLTH gồm: Năng lực xác định được
mục tiêu và nhiệm vụ học tập; Năng lực lập kế hoạch và tiến hành học tập theo kế
hoạch đã vạch ra; Năng lực vận dụng kiến thức; Năng lực đánh giá và tự đánh giá.
- Xây dựng các tiêu chí đánh giá năng lực tự học qua bốn năng lực thành phần
của năng lực tự học.
- Căn cứ vào yêu cầu trực tiếp của đề tài, chúng tôi tiến hành đi sâu nghiên cứu,
phân tích cơ sở lý luận về môđun, môđun dạy học, cấu trúc môđun dạy học, các đặc
trưng của môđun dạy học, tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun, để từ đó có cơ sở
xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun, và đưa ra các hình thức sử dụng để
góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho SV Đại học NKT.
- Chúng tôi tập trung nghiên cứu về mục tiêu đào tạo của các trường ĐH có đào
tạo các ngành kỹ thuật, mục tiêu dạy học VLĐC đối với SV Đại học NKT để làm căn
cứ khi nghiên cứu chương tiếp theo.
- So sánh đặc điểm hoạt động nhận thức của SV Đại học NKT với nhà khoa học,
SV ngành Vật lí, và với học sinh phổ thông.
2. Về cơ sở thực tiễn:
Qua điều tra thực trạng học tập và tự học của SV Đại học NKT, các nguyên
nhân làm ảnh hưởng đến kết quả tự học của SV, theo đánh giá của chính bản thân SV,
cũng như của GV các trường ĐH được điều tra, kết quả điều tra cho thấy đa phần SV
xác định được ý nghĩa của việc học tập học phần VLĐC trong chương trình học của
mình, tuy nhiên kết quả tự học lại chưa cao và có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả
tự học, nhưng phần đa ý kiến cho rằng SV chưa có phương pháp tự học hiệu quả và
đặc biệt chưa có tài liệu hướng dẫn tự học VLĐC cho SV. Vì vậy, rất cần một tài liệu
hướng dẫn tự học có sự chỉ dẫn để SV có thể tiến hành hoạt động tự học mang lại kết
quả cao.
61
3. Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy:
Qua phân tích, nhận định, đánh giá chúng tôi rút ra được những ý kiến riêng và
có những hướng nghiên cứu cụ thể nhằm phục vụ cho đề tài mình nghiên cứu.
Trong xã hội hiện nay phát huy năng lực tự học là một yếu tố rất cần thiết, bởi
tự học là hoạt động học hoàn toàn độc lập do bản thân cá nhân tự quyết định và có ý
nghĩa rất quan trọng, tự học để có thể tồn tại, tự học để có thể phát triển và tự học để
học suốt đời, làm thỏa mãn nhu cầu tồn tại của cá nhân trong xã hội hiện đại luôn luôn
biến đổi.
Môđun dạy học là một thuật ngữ chỉ một đơn vị chương trình dạy học tương đối
độc lập. Trong đó chứa đựng cả mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy
học và hệ thống công cụ đánh giá kết quả lĩnh hội. Để có thể tự học có chất lượng và
hiệu quả thì việc xây dựng và sử dụng các tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun là
rất cần thiết.
Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun là một dạng tài liệu có nhiều ưu điểm,
giúp SV tự học theo nhịp độ cá nhân, kích thích hứng thú tự học, bồi dưỡng năng lực
tự học của SV. Thông qua tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun SV có thể tự học
mọi lúc, mọi nơi, bởi tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun là một dạng tài liệu
được biên soạn có tính định hướng, hướng dẫn cho người học có thể hoàn toàn chủ
động, tích cực khai thác tri thức, khác xa so với cách biên soạn theo kiểu hàn lâm của
các tài liệu thông thường.
Đặc biệt việc sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun rất phù hợp với
hình thức đào tạo hiện nay ở các trường Đại học, đó là đào tạo theo tín chỉ, với thời
lượng lên lớp thì ít mà lượng tri thức GV cần truyền đạt và SV phải tiếp thu thì nhiều.
Sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun là một trong những phương pháp
khả thi để giải quyết khó khăn này.
Từ tìm hiểu, điều tra, phân tích các số liệu cho thấy sử dụng tài liệu tự học có
hướng dẫn theo môđun học phần VLĐC cho SV Đại học NKT là rất cần thiết cho việc
sẽ góp phần bồi dưỡng năng lực TH.
Các kết quả và nhận định rút ra được từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn
được trình bày trong chương 2 chính là cơ sở cho việc triển khai các nghiên cứu tiếp
theo của đề tài.
62
CHƯƠNG 3
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN
THEO MÔĐUN PHẦN “ĐIỆN HỌC” VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG
ĐẠI HỌC NGÀNH KỸ THUẬT
3.1. Vị trí, mục tiêu, nội dung của phần “Điện học”
3.1.1. Vị trí và tầm quan trọng của phần “Điện học”
- Nội dung phần “Điện học” SV được học sau khi học xong các phần “Cơ học”
và “Nhiệt học”. Đây là một trong những phần học khó, trừu tượng. Kết quả học tập
phần này ảnh hưởng rất nhiều đến việc học tập các phần tiếp theo của SV. Tuy nhiên ở
học phần này đa số SV mang một tâm lý ngại học, kiến thức nền tảng, cơ bản lại
không tốt. Vì những kiến thức cơ bản phần “Điện học” các em đã học ở chương trình
lớp 11, nhưng chương trình thi Đại học chủ yếu tập chung ở chương trình Vật lý lớp
12, nên khi học phần này các em đều có tâm lý “không thi, không học”.
- Nghiên cứu dạy học phần “Điện học” là tổ chức cho SV nghiên cứu, vận dụng
các kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng Vật lí trong thực tiễn có liên quan,
đồng thời để học tập tốt các học phần tiếp theo trong chương trình đào tạo.
3.1.2. Mục tiêu của phần “Điện học”
- Về kiến thức: SV phải nắm vững được những khái niệm, định luật, tính chất cơ
bản của điện trường tĩnh, vật dẫn cân bằng tĩnh điện, điện môi, từ trường tĩnh, dòng
điện không đổi, cảm ứng điện từ và của trường điện từ.
- Về kỹ năng: SV phải có được các kĩ năng:
+ Thu lượm thông tin từ quan sát, thí nghiệm, tài liệu,...
+ Xử lí thông tin bằng các bảng, biểu, đồ thị,…
+ Vận dụng thông tin để giải thích hiện tượng, giải các bài tập, giải thích các
nguyên tắc hoạt động của các thiết bị máy móc thường gặp trong đời sống.
- Về thái độ: SV có ý thức, thái độ nghiêm túc trong học tập, chuẩn bị tốt các
nội dung lí thuyết, bài tập và sưu tầm, tích lũy kinh nghiệm tự học, tự nghiên cứu để
học tập tốt các môn cơ sở ngành và chuyên ngành.
3.1.3. Nội dung của phần “Điện học”
Trong phần điện học, SV nghiên cứu một dạng chuyển động mới của vật chất,
đó là chuyển động của hạt mang điện (thành phần của mọi nguyên tử tạo nên các vật
thể). Phần điện học của VLĐC gồm các phần sau:
63
* Phần “Điện trường tĩnh”.
Thanh thủy tinh sau khi cọ xát vào lụa có thể hút được các mẩu giấy vụn. Để
giải thích hiện tượng này và nhiều hiện tượng khác trong tự nhiên, người ta đưa ra các
khái niệm điện tích, điện tích điểm, vật nhiễm điện… Dựa trên cấu tạo nguyên tử của
các chất, người ta nêu ra thuyết điện tử và định luật bảo toàn điện tích để giải thích sự
nhiễm điện của các vật, phân biệt vật dẫn điện, vật cách điện và chất bán dẫn. Phần
này nghiên cứu các tính chất và tương tác của các điện tích đứng yên. Định luật cơ bản
của phần điện trường tĩnh là định luật Coulomb về tương tác giữa hai điện tích điểm,
định luật này là cơ sở để tính lực tương tác giữa các vật mang điện. Để giải thích tương
tác giữa các điện tích thì người ta nêu ra khái niệm điện trường, tác dụng lực của điện
trường được đặc trưng qua véctơ cường độ điện trường. Nguyên lý chồng chất điện
trường cho phép giải quyết bài toán cơ bản của tĩnh điện là xác định véctơ cường độ
điện trường khi biết nguồn điện tích gây ra nó. Lưỡng cực điện là một khái niệm quan
trọng để giải thích hiện tượng phân cực điện môi. Để có hình ảnh trực quan về điện
trường thì phải dùng khái niệm đường sức điện trường, để khắc phục sự biến thiên
gián đoạn của đường sức điện trường khi qua mặt phân cách giữa các môi trường thì
(cid:1) phải đưa ra khái niệm véctơ cảm ứng điện D
. Định lý Ostrogratxki - Gauss về thông
lượng cảm ứng điện gửi qua mặt kín S bất kỳ, cho phép giải quyết các bài toán cơ bản
của tĩnh điện một cách đơn giản, đặc biệt là với các vật có phân bố đối xứng điện tích
(quả cầu mang điện, mặt phẳng rộng vô hạn mang điện đều…). Khi điện tích dịch
chuyển trong điện trường thì lực điện sinh công, công này không phụ thuộc dạng
đường cong dịch chuyển của điện tích, mà chỉ phục thuộc vào vị trí đầu và cuối dịch
chuyển, do đó điện trường là một một trường thế. Khả năng sinh công của lực điện
trường thể hiện qua thế năng của điện tích trong điện trường, thế năng này được đặc
trưng bởi một đại lượng vật lý là điện thế. Hiệu điện thế giữa hai điểm trong điện
trường bằng công của lực điện trường khi làm dịch chuyển một đơn vị điện tích giữa
hai điểm đó. Điện thế, hiệu điện thế là những khái niệm quen thuộc trong kỹ thuật và
trong đời sống. Điện trường được biểu diễn trực quan bằng các đường sức điện trường
hoặc bằng các mặt đẳng thế. Hệ thức liên hệ giữa điện trường và điện thế không những
cho phép xác định điện trường khi biết điện thế và ngược lại, mà còn cho phép xác
định hiệu điện thế giữa hai mặt phẳng song song vô hạn mang điện đều trái dấu (tụ
điện), điện thế của một quả cầu đồng chất mang điện [55].
* Phần “Vật dẫn”
Thế nào là vật dẫn điện và vật cách điện? Để phân biệt được hai khái niệm này
người ta định nghĩa vật dẫn điện (hay gọi là vật dẫn) là vật có chứa các điện tích tự do
64
và các điện tích này có thể dịch chuyển trong toàn bộ thể tích của vật. Sử dụng định lý
Ostrogratxki - Gauss(O-G), ta có thể chứng minh được các tính chất của vật dẫn cân
bằng tĩnh điện, nghiên cứu hiện tượng điện hưởng; hiểu được vai trò của chúng trong
Vật lý và kỹ thuật (màn điện, hiệu ứng mũi kim nhọn...). Khả năng tích điện của vật
dẫn đặc trưng bởi khái niệm điện dung và hiện tượng điện hưởng toàn phần là cơ sở
nghiên cứu tụ điện (một linh kiện không thể thiếu trong kỹ thuật điện), tùy mục đích
sử dụng các tụ điện có thể được ghép nối trực tiếp hoặc song song. Để thiếp lập một hệ
điện tích điểm thì phải tốn công đưa các điện tích đến gần nhau, công này biến thành
thế năng tương tác giữa các điện tích. Vì thế một hệ điện tích có năng lượng, do đó
điện trường có năng lượng và ta có thể tính được năng lượng đó [55].
* Phần “Điện môi”
Điện môi là những chất không dẫn điện. Theo Vật lý cổ điển, khác với kim loại
và chất điện phân, trong điện môi không có các hạt mang điện tự do. Khi đặt điện môi
trong điện trường ngoài thì điện môi bị phân cực, trên điện môi xuất hiện các điện tích
(điện tích liên kết). Về bản chất thì hiện tượng phân cực điện môi khác hẳn với hiện
tượng điện hưởng và được giải thích bởi tính chất điện của các phân tử cấu tạo nên điện
môi. Tương ứng với 2 loại phân tử điện môi tự phân cực và không tự phân cực thì có 2
quá trình phân cực điện môi. Mức độ phân cực điện môi được đặc trưng bởi véctơ từ
hóa. Hình chiếu của véctơ phân cực điện môi lên pháp tuyến với mặt giới hạn của điện
(cid:2)(cid:1) liên hệ này cho phép tính véctơ cường độ điện trường tổng hợp E
môi bằng mật độ điện mặt của các điện tích liên kết trên mặt giới hạn của điện môi. Mối
(cid:2)(cid:1) tổng véctơ cường độ điện trường phụ E
0: E0/ ε , ( ε là hằng số điện môi, đặc trưng cho tính chất điện của điện môi). Đường sức điện trường không đi liên tục qua mặt phân
cách giữa các lớp điện môi, còn đường cảm ứng điện thì đi liên tục qua mặt phân cách
này. Vì thế áp dụng định lý Ostrogratxki - Gauss để giải quyết các bài toán điện làm cho
bài toán trở nên đơn giản. Một số điện môi có tính chất đặc biệt có nhiều ứng dụng trong
kỹ thuật, đó là điện môi Secnhéc và điện môi cho hiệu ứng áp điện [55].
trong điện môi là
Dòng điện có ứng dụng rất lớn trong đời sống và trong khoa học kỹ thuật. Các
thiết bị điện tử chủ yếu dùng dòng điện một chiều (dòng điện không đổi). Trong môi
trường dẫn điện, các hạt điện tự do luôn luôn chuyển động nhiệt hỗ loạn. Dưới tác
dụng của điện trường ngoài chúng sẽ chuyển động có hướng, các hạt điện dương
chuyển động cùng chiều của véctơ cường độ điện trường, còn các hạt âm chuyển động
theo chiều ngược lại. Dòng các hạt chuyển động có hướng như vậy được gọi là dòng
* Phần “Dòng điện không đổi”
65
điện. Trong phần này sẽ nghiên cứu những định luật cơ bản của dòng điện có cường
trưng cơ bản của dòng điện (cường độ dòng điện, vectơ dòng điện), suất điện động của
nguồn điện để tạo ra và duy trì dòng điện, suất phản điện của máy thu điện là công cụ
biến điện năng thành các dạng năng lượng khác hữu ích. SV hiểu được cách thiết lập
các định luật cơ bản của dòng điện không đổi(định luật ôm, định luật Jonle - Lenz, các
độ không thay đổi theo thời gian. Từ việc nghiên cứu bản chất của dòng điện, các đặc
định luật Kirehoff) và biết vận dụng chúng để giải các bài toán về mạch điện không
đổi [55].
Các nam châm tương tác được với nhau, chúng ta nói do nam châm có từ tính
(hay tương tác giữa các nam châm là tương tác từ). Vậy bản chất của tương tác từ là
gì? Như chúng ta đã biết ở phần điện trường tĩnh, khi điện tích đứng yên sinh ra xung
quanh nó một điện trường, còn hạt điện chuyển động(dòng điện) sinh ra xung quanh
nó một trường gì không?. Khi xét tương tác giữa nam châm với dòng điện, tương tác
giữa các dòng điện với nhau ta có thể kết luận bản chất của tương tác từ chính là tương
tác của các dòng điện, tương tác này tuân theo định luật Ampere. Để giải thích tương
tác từ giữa các dòng điện thì người ta đưa ra khái niệm từ trường. Từ trường là dạng
* Phần “Từ trường tĩnh”
dòng điện này đến dòng điện khác, thuộc tính cơ bản của từ trường là tác dụng từ lực
lên bất cứ dòng điện nào đặt trong nó. Đại lượng đặc trưng cho từ trường là véctơ cảm
(cid:2)(cid:1) ứng từ B
, véctơ cảm ứng từ phụ thuộc vào môi trường chứa dòng điện. Để đặc trưng
cho từ trường do dòng điện sinh ra thì người ta dùng khái niệm véctơ cường độ từ
. Định luật Ampere là định luật về tương tác giữa các phân tử dòng điện, có
(cid:2)(cid:1) trường H
thể áp dụng nó để xác định lực tương tác giữa các dòng điện khi kết hợp nó với định
luật Biot- Savart - Laplce, nguyên lý chồng chất từ trường, cho phép ta xác định từ
trường của các dòng điện có hình dạng khác nhau hay gặp trong thực tế, từ trường của
hạt điện chuyển động. Để có hình ảnh trực quan về từ trường ta nêu khái niệm đường
sức từ, từ đó xây dựng khái niệm từ thông. Theo định lý Ostrogratxki - Gauss đối với
từ trường (định lý O-G đối với trừ trường) thì thông lượng cảm ứng từ qua mặt kín bất
kỳ bằng không. Định lý này nói lên tính chất xoáy của từ trường. Mối liên hệ giữa
véctơ cường độ từ trường và nguồn sinh ra nó được thể hiện qua định lí dòng điện toàn
phần, sử dụng định lý này có thể xác định được cường độ từ trường H của một số dòng
đặc biệt của vật chất xuất hiện quanh dòng điện, nó đóng vai trò truyền tương tác từ
điện có hình dạng khác nhau một cách đơn giản. Từ định luật Ampere chúng ta có thể
66
xác định được tương tác từ của các dòng điện, hay lực từ tác dụng lên một hạt mang
của hạt chuyển động trong từ trường (là cơ sở để giải thích hiện tượng bão từ, máy gia
tốc…) [55].
điện chuyển động trong từ trường, để từ đó có thể suy ra được tính chất chuyển động
Phần này sẽ nghiên cứu mối quan hệ giữa điện và từ. Trong phần trước chúng ta
* Phần “Cảm ứng điện từ”
ngược lại, từ trường có thể sinh ra dòng điện không? Câu hỏi này đã được nhà Vật lý
học Faraday có câu trả lời năm 1831. Bằng thực nghiệm ông chứng tỏ khi cho từ thông
gửi qua một mạch kín thay đổi thì trong mạch xuất hiện một dòng điện, dòng điện đó
đã thấy bất kì dòng điện nào cũng sinh ra xung quanh nó một từ trường. Vậy điều
được gọi là dòng điện cảm ứng. Và hiện tượng đó được gọi là hiện tượng cảm ứng
thuyết, nó đã cho ta thấy mối liên hệ khăng khít giữa từ trường và dòng điện, về mặt
thực nghiệm nó chỉ ra một phương pháp biến đổi cơ năng thành điện năng thông qua
sự biến đổi của từ trường. Nếu Faraday là người tìm ra mối quan hệ giữa từ và điện
(hiện tượng cảm ứng điện từ), thì sau này Lenx là người đưa ra được định luật cho
phép xác định được chiều của dòng điện cảm ứng. Từ đây một loạt hiện tượng vật lý
liên quan đã được giải thích và ứng dụng như: nguyên tắc để tạo ra dòng điện xoay
chiều; Dòng điện Fucô (tác hại và lợi ích); Hiện tượng tự cảm, hỗ cảm; Độ tự cảm của
điện từ. Hiện tượng cảm ứng điện từ có một tầm quan trọng đặc biệt, vì về mặt lý
Hiệu ứng bề mặt; Năng lượng của từ trường… [10].
ống dây (một phần tử sau này được ứng dụng rất nhiều trong kĩ thuật và đời sống);
Chúng ta đã biết các nam châm thì tương tác với nhau và tương tác đó gọi là
tương tác từ. Nhưng khi đưa một thỏi sắt lại gần cực của một thanh nam châm, thỏi sắt
sẽ bị hút. Điều đó có nghĩa là thỏi sắt đã bị từ hóa và trở thành một nam châm. Nhưng
nếu là thỏi nhôm, chúng ta quan sát bằng mắt thường không thấy thỏi nhôm bị hút.
Nhưng nếu treo một thỏi nhôm vào từ trường không đều của một nam châm điện
mạnh, thì thỏi nhôm cũng bị hút về phía có từ trường mạnh, tuy nhiên phải quan sát kĩ
mới thấy được. Thay thỏi nhôm bằng một miếng Bismut (Bi), ta lại thấy miếng Bi bị
* Phần “Vật liệu từ”
Bi đã bị từ hóa nhưng với mức độ và chiều khác nhau. Tùy theo mức độ từ hóa, người
ta phân biệt chất thuận từ, chất nghịch từ và sắt từ. Để giải thích được hiện tượng đó
chúng ta sẽ được nghiên cứu các đặc trưng của nguyên tử trong từ trường ngoài như:
đẩy ra khỏi nơi có từ trường mạnh (cũng bằng một lực rất yếu). Như vật sắt, nhôm và
67
mômen từ và mômen động lượng của nguyên tử; nguyên tử đặt trong từ trường ngoài;
hiệu ứng nghịch từ; từ trường tổng hợp trong chất nghịch từ và thuận từ. Các tính chất
của sắt từ như: Từ độ J của sắt từ không tỉ lệ thuận với cường độ từ trường H; Đội từ
thẩm tỉ đối µ…[10], [15]
Như chúng ta đã biết dòng điện sinh ra từ trường, và ngược lại từ trường biến
* Phần “Trường điện từ”
tương hỗ khăng khít. Đi sâu vào nghiên cứu mối quan hệ đó, Măcxoen đã phát hiện ra
rằng: Không phải chỉ dòng điện và từ trường, mà cơ bản là giữa điện trường và từ
trường có mối quan hệ khăng khít đó. Kết quả nghiên cứu này được tổng kết thành hai
luận điểm, gọi là luận điểm thứ nhất và luận điểm thứ hai của Măcxoen. Từ đó
Măcxoen đã xây dựng nên lý thuyết về trường điện từ, dạng thống nhất cả điện trường
và từ trường. Mối liên hệ đó được thể hiện qua các phương trình toán học: Phương
trình Măcxoen - Faraday về mối liên hệ giữa từ trường biến thiên và điện trường xoáy;
Phương trình Măcxoen - Ampere mô tả điện trường biến thiên cũng sinh ra từ trường
như dòng điện dẫn [10], [15].
Nội dung của phần “Điện học” được phân bố số tiết, áp dụng cho SV Đại học
NKT tại các trường Đại học cũng có khác nhau tùy theo từng trường:
đổi sinh ra dòng điện. Như vậy giữa dòng điện và từ trường có mối quan hệ biến đổi
Ví dụ: Phân bố số tiết cho từng phần của phần “Điện học”
Bảng 3.1: Phân bố số tiết phần “Điện học” của một số trường Đại học
Tổng số tiết lý thuyết và bài tập dạy trên lớp của trường
TT
Nội dung
ĐHCN TP.HCM
ĐHBK Hà Nội
ĐH CN Hà Nội
ĐH Vinh (Ngành Xây dựng)
ĐH Điện Lực HN
1 Điện trường tĩnh
8
9
HV CNBC Viễn Thông 10
ĐH KTCN Thái Nguyên 8
ĐH Trần Đại Nghĩa 12
10
6
5
Vật dẫn trong điện
2
4
3
6
0
0
4
8
trường tĩnh
3 Chất điện môi
0
3
3+1KT
0
0
0
0
0
4 Dòng điện không đổi
4
0
0
0
0
0
0
0
5 Từ trường tĩnh
8
11+1KT
10
10
5
5
8
16
6 Cảm ứng điện từ
4
4
5
0
3
2
4
8
7 Vật liệu Từ
0
3
4
0
0
0
0
0
8 Trường điện từ
2
3
3+1KT
0
0
2
0
8
30
37
43
20
14
14
24
52
Tổng số tiết
68
3.2. Xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
3.2.1. Các phương hướng chung để xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn
theo môđun
- Căn cứ triết lý về giáo dục của thế kỉ XXI đã có những tác động to lớn đến
giáo dục Đại học, với tư tưởng chủ đạo là học thường xuyên, học suốt đời, hướng tới
xây dựng một xã hội học tập.
- Căn cứ các nghị quyết của Đảng[3],[42], Luật Giáo dục[38] đặt ra yêu cầu đổi
mới phương pháp dạy học Đại học theo hướng dạy cách học, nhằm tăng cường tính
chủ động, tích cực tự học, tự nghiên cứu, sáng tạo của SV.
- Căn cứ vào cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn đã nghiên cứu ở chương 2.
Theo chúng tôi để xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trước hết
phải tuân thủ theo các phương hướng sau:
+ Một là: Căn cứ vào mục tiêu dạy học và đặc điểm nội dung kiến thức của học
phần.
+ Hai là: Phải xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý và trình độ nhận thức của SV.
+ Ba là: Tài liệu phải phối hợp logic khoa học và logic quá trình nhận thức.
+ Bốn là: Tài liệu phải có tác dụng hướng dẫn tự học.
+ Năm là: Hình thức xây dựng tài liệu phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố: Có lời
giới thiệu về môđun; có yêu cầu thực hiện; có nội dung cần thực hiện; có hình thức
kiểm tra đánh giá.
+ Sáu là: Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phải đảm bảo tính thẩm mỹ.
3.2.2. Nguyên tắc của việc xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
Giáo trình Vật lí đại cương là một trong những nguồn cung cấp kiến thức cơ
bản cho SV; là phương tiện để GV tổ chức hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất
lượng kiến thức, rèn luyện năng lực TH, tự lĩnh hội kiến thức cho SV.
Căn cứ theo phương hướng chung để xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn
theo môđun. Khi xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun chúng tôi đặc biệt
chú ý đến các nguyên tắc sau:
- Đảm bảo tính hệ thống: Tài liệu phải đảm bảo tính hệ thống và tính thống nhất
theo mục tiêu, chương trình của môn học. Trật tự sắp xếp bộ tài liệu này phù hợp với
việc khám phá kiến thức mới của SV.
- Đảm bảo tính khoa học: Tài liệu phải đảm bảo tính chân thực khoa học, chuẩn
mực về ngôn ngữ, thuật ngữ khoa học và ngữ pháp: dễ đọc, dễ hiểu, dễ tiếp thu. Trình
69
bày tinh gọn, cấu trúc rõ ràng, có hướng dẫn học tập, thể hiện rõ nội dung kiến thức
trọng tâm, gây được hứng thú học tập cho SV.
- Đảm bảo nội dung phù hợp với đối tượng học tập: Tài liệu phải đảm bảo nội
dung phù hợp với trình độ bậc học, thời lượng lên lớp, đảm bảo tính hệ thống của các
dạng bài tập. Tài liệu đảm bảo tính ổn định nội dung (kiến thức có tính chất nền tảng,
ít thay đổi); vừa đảm bảo tính cập nhật kiến thức (gọi là phần mềm, nếu cần, có thể
thay đổi).
- Đảm bảo về cấu trúc hợp lí: Tài liệu phải có cấu trúc phù hợp; có hệ thống các
ví dụ minh họa sinh động bằng hình ảnh, hình vẽ; các bài tập mẫu, các câu hỏi ôn tập,
khuyến khích hệ thống câu hỏi trắc nghiệm; các bài luyện tập kỹ năng cho từng phần,
từng chương, từng bài.
- Đảm bảo tính thẩm mỹ: Tài liệu phải có màu sắc, kích thước hợp lý, hài hòa,
rõ nét...
- Tài liệu đảm bảo khả năng sử dụng rộng rãi: Tài liệu xây dựng vừa có dạng
văn bản, vừa có ở dạng số hóa để thuận lợi cho người sử dụng. Tài liệu có thể dùng để
cho SV tự học hoàn toàn, hoặc để GV sử dụng hỗ trợ giảng dạy trên lớp học truyền
thống.
3.2.3. Quy trình xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
Quy trình xây dựng tài liệu là trình tự công việc, là sự cụ thể hóa thứ tự thực
hiện việc xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun. Theo chúng tôi việc xây
dựng tài liệu phải theo các bước sau:
- Bước 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận về: mục tiêu dạy học, phương pháp dạy
học, nội dung kiến thức, hình thức kiểm tra đánh giá, tìm hiểu đặc điểm nhận thức của
người học và mục đích sử dụng tài liệu để có những định hướng cơ bản nhằm phục vụ
cho việc viết tài liệu.
- Bước 2: Xác định nội dung dạy học, lập danh mục các môđun, các tiểu
môđun. Đây là bước quan trọng, dựa vào mục tiêu dạy học (về kiến thức, kỹ năng, thái
độ), hình thức tổ chức dạy học, hoạt động nhận thức, cấu trúc chương trình để phân
loại, xác định nội dung dạy học, và lập danh mục các muđun.
- Bước 3: Viết tài liệu: Thiết kế nội dung các môđun và tiểu môđun, cách thức
trình bày, bố cục nội dung, khi xây dựng tài liệu phải đảm bảo phù hợp với nội dung
chương trình dạy học, đối tượng dạy học, thời lượng trên lớp, thời lượng tự học ở nhà,
đảm bảo tính hệ thống của các dạng bài tập (nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận
70
dụng cao), chú trọng những kiến thức ứng dụng trong thực tiễn của đời sống và khoa
học kỹ thuật.
- Bước 4: Biên tập tài liệu và chỉnh lý tài liệu: Tài liệu sau khi được xây dựng
cần biên tập sao cho: Tài liệu thỏa mãn những mục đích, yêu cầu đã đề ra; Cấu trúc
đảm bảo tính thống nhất, cân đối; Hệ thống tri thức chính xác; Hệ thống phương pháp
đảm bảo giúp người học tự học.
- Bước 5: Thử nghiệm tài liệu: Cần phải đưa tài liệu vào thử nghiệm sử dụng
trong quá trình dạy học, để kiểm tra tính khả thi, hiệu quả của tài liệu và những bất cập
khi sử dụng.
- Bước 6: Hoàn thiện tài liệu: Tài liệu sau khi thử nghiệm sẽ được chỉnh sửa, bổ
sung nhiều lần để hoàn thiện tài liệu, phục vụ cho quá trình học tập của người học và
giảng dạy của GV.
3.2.4. Xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun dạng văn bản
3.2.4.1. So sánh tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun với tài liệu thông thường
- Với các tài liệu thông thường chủ yếu là cung cấp nội dung kiến thức mà
không đảm nhận chức năng hướng dẫn tự học, còn trong tài liệu tự học có hướng dẫn
theo môđun ngoài nhiệm vụ cung cấp nội dung kiến thức, còn có các hướng dẫn, các
mục tiêu, hệ thống các câu hỏi hướng dẫn tự học và trong từng tiểu môđun có: mục
tiêu, câu hỏi hướng dẫn tự học, nội dung kiến thức cần nghiên cứu, các bài tự kiểm tra.
Vì vậy, tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun giúp SV tự học một tiểu môđun dễ
dàng hơn tự học một nội dung trong tài liệu thông thường.
- Ở tài liệu thông thường không có mục tiêu của bài học, phần học, hoặc nếu có
thì mục tiêu cũng chung chung dẫn đến làm cho SV thường lan man trong khối lượng
kiến thức khổng lồ (đặc biệt là SV năm nhất còn nhiều hạn chế về kỹ năng tự học, tự
nghiên cứu). Còn đối với tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun thì mục tiêu của
từng môđun đã được đưa ra một cách rõ ràng làm cho việc tự học, tự kiểm tra đánh giá
của SV được thuận lợi hơn, có trọng tâm hơn.
- Với tài liệu thông thường khó thực hiện được quá trình dạy học theo kiểu phân
hóa, cá thể hóa, còn tài liệu theo môđun tạo điều kiện thuận lợi cho SV tự học theo
nhịp độ cá nhân, đảm bảo được kiểu dạy học phân hóa, cá thể hóa vì trong tài liệu tự
học có hướng dẫn theo môđun có các bài tự kiểm tra kiến thức, nên khi SV có thể tự
kiểm tra, nếu đạt thì chuyển qua học các đơn vị kiến thức tiếp theo.
71
- Trong tài liệu truyền thống thông thường việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự
học của SV gặp khó khăn hơn, vì ở tài liệu này sau khi kết thúc một chương mới có
các bài tập ôn tập, vận dụng kiến thức, vì vậy SV không biết tự kiểm tra kiến thức tự
học của mình như thế nào sau mỗi phần học, bài học. Với tài liệu tự học có hướng dẫn
theo môđun thì trong các bài học có các bài tự kiểm tra, qua mỗi bài tự kiểm tra kiến
thức SV biết mình đã nắm được đơn vị kiến thức đó chưa, từ đó có những điều chỉnh
kịp thời.
Như vậy, tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun giúp cho SV tự học chủ
động, cho phản hồi kịp thời, học theo nhịp độ cá nhân, đảm bảo tính vững chắc của
kiến thức, đồng thời góp phần bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho SV Đại
học NKT.
3.2.4.2. Xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun dạng văn bản
Theo chương trình khung của BGD&ĐT xây dựng cho SV Đại học NKT, các
trường ĐH đưa học phần VLĐC vào giảng dạy, và khi xây dựng đề cương chi tiết cho
học phần này, ở các trường ĐH có sự khác nhau (theo bảng phân phối số tiết ở trang
65). Mặc dù không có chương trình, giáo trình VLĐC thống nhất chung, tài liệu dùng
để giảng dạy VLĐC cho SV Đại học NKT được khai thác từ nhiều nguồn khác nhau,
không quy định cứng, nhưng các trường phải luôn đáp ứng yêu cầu chất lượng đào tạo
kĩ sư ngày càng cao. Mặt khác hiện nay các trường đã chuyển sang hình thức đào tạo
theo tín chỉ, thời lượng dành cho học phần VLĐC đã bị cắt giảm rất nhiều, dẫn đến
việc giảng dạy VLĐC của GV và việc học VLĐC của SV gặp nhiều khó khăn, thời
lượng dành cho học phần VLĐC ít, dẫn đến việc giảng dạy trên lớp của GV đa phần
mang tính chất thông báo kiến thức, còn SV thì lúng túng trong việc lĩnh hội kiến thức.
Để khắc phục những khó khăn trong việc dạy và học VLĐC của GV và SV,
chúng tôi xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun dựa trên phương hướng,
nguyên tắc và quy trình nêu đã ở trên. Trong luận án này, chúng tôi xây dựng tài liệu
tự học có hướng dẫn theo môđun phần “Điện học”. Phần “Điện học” được chia thành
các môđun tương ứng với các phần kiến thức (các chương). Trong các môđun lại
được chia thành các tiểu môđun, mỗi tiểu môđun được chia đảm bảo tính trọn vẹn và
độc lập tương đối của các đơn vị kiến thức trong môđun, có thời lượng tương ứng
khoảng từ 2 đến 3 tiết giảng dạy trên lớp, có nội dung phù hợp với đối tượng sử
dụng, tạo thành một chuỗi của một vấn đề chung giúp SV lĩnh hội được tốt vấn đề
cần nghiên cứu.
72
Bảng 3.2: Hệ thông các môđun phần “Điện học”
Tên môđun Điều kiện tiên quyết
Môđun 1: Điện trường tĩnh
Môđun 2: Vật dẫn Môđun 3: Điện môi Môđun 4: Dòng điện không đổi Môđun 5: Từ trường tĩnh Môđun 6: Cảm ứng điện từ Môđun 7: Vật liệu từ Môđun 8: Trường điện từ - Đã học VLĐC phần cơ học, nhiệt học - Đã học toán A1, A2 - Đã học môđun 1 - Đã học môđun 2 - Đã học toán A1, A2 - Đã học toán A1, A2 - Đã học môđun 5 - Đã học môđun 6 Đã học môđun 1 và môđun 5
Căn cứ chương trình chi tiếp của từng trường(Bảng ở trang 67) và để thuận lợi
trong quá trình sử dụng, trong luận án này chúng tôi chọn những phần SV Đại học
NKT ở các trường đều phải học bắt buộc để xây dựng. Chúng tôi đã xây dựng 2
môđun với 6 tiểu môđun đó là:
- Môđun 1: Điện trường tĩnh với các tiểu môđun
+ Tiểu môđun 1.1: Tương tác điện- Định luật Coulomb
+ Tiểu môđun 1.2: Điện trường
+ Tiểu môđun 1.3: Định lý Ostrogradski- Gauss(O-G)
+ Tiểu môđun 1.4: Điện Thế
- Môđun 2: Vật dẫn
+ Tiểu môđun 2.1: Vật dẫn cân bằng tĩnh điện
+ Tiểu môđun 2.2: Điện dung- tụ điện - năng lượng điện trường
Do hạn chế về dung lượng của luận án, ở ví dụ minh họa chúng tôi trình bày nội
dung môđun 1 “Điện trường tĩnh”, trong môđun 1 này chúng tôi chỉ trình bày tiểu
môđun 1.2 “Điện trường”.
MÔĐUN 1: ĐIỆN TRƯỜNG TĨNH
I. Giới thiệu về môđun: Môđun điện trường tĩnh là môđun đầu tiên của phần
“Điện học”, bởi vậy ở môđun này đưa ra rất nhiều khái niệm và định nghĩa quan trọng
để SV có thể tiếp tục học tập các đơn vị kiến thức tiếp theo của phần điện học. Sau khi
nghiên cứu xong môđun này SV có thể vận dụng kiến thức để giải thích hiện tượng,
giải các bài tập, giải thích các nguyên tắc hoạt động của các thiết bị máy móc thường
gặp trong đời sống (Ví dụ: Sơn tĩnh điện; Cách làm sạch không khí; Băng dính điện;
Kĩ thuật Photocopy, in Laze; Nguyên tắc nấu của lò vi sóng…).
73
II. Mục tiêu của môđun
* Kiến thức:
- Phát biểu được các khái niệm: Tương tác điện; vật nhiễm điện; điện tích; trung
hòa điện; điện tích nguyên tố; vật dẫn; điện môi; điện trường; lưỡng cực điện; thông
lượng cảm ứng điện(điện thông);
- Phát biểu được các định nghĩa: Cường độ điện trường; đường sức điện trường;
véctơ cảm ứng điện; đường cảm ứng điện; thế năng của điện tích trong điện trường;
điện thế; hiệu điện thế; mặt đẳng thế.
- Phát biểu được nội dung: định luật bảo toàn điện tích; thuyết electron; định
luật Coulomb; định lí O-G.
- Viết biểu thức của: định luật Coulomb; véctơ cường độ điện trường do một
điện tích điểm, hệ điện tích điểm phân bố liên tục hay một vật tích điện gây ra tại một
điểm; định lí O - G dạng tích phân, vi phân, phương trình Poátxông; công của lực tĩnh
điện, của lực điện trường; thế năng của điện tích trong điện trường; điện thế
- Viết được biểu thức của nguyên lí chồng chất điện trường
- Phát biểu được các tính chất của đường sức điện trường; tính chất thể của
trường tĩnh điện; mặt đẳng thế;
- Viết được hệ thức liên hệ và các kết luận giữa cường độ điện trường và
điện thế
* Kĩ năng:
- Biết các cách làm nhiễm điện cho vật
- Biết vận dụng thuyết electron để giải thích các hiện tượng nhiễm điện
- Biết áp dụng các công thức vào giải các bài toán cụ thể
- Biết vận dụng định lí O - G để xác định vectơ cường độ điện trường trong
trường hợp bài toán có tính đối xứng.
- Biết xác định tính chất của hạt chuyển động trong điện trường
- Biết vận dụng mối liên hệ giữa điện trường và điện thế để xác định được hiệu
điện thế: giữa hai mặt phẳng song song vô hạn mang điện đều, trái dấu; hai điểm trong
điện trường của một mặt cầu mang điện đều; hai điểm trong điện trường của một mặt
trụ thẳng dài vô hạn mang điện đều.
* Thái độ: Sinh viên có ý thức, thái độ nghiêm túc trong học tập, tự kiểm tra
đánh giá, chuẩn bị tốt các nội dung tự học, sưu tầm, tích lũy kinh nghiệm và ứng dụng
các kiến thức vào thực tiễn và trong khoa học kỹ thuật.
74
* Các năng lực chính được hình thành: Năng lực tự học; Năng lực giải
quyết vấn đề; Năng lực tự quản lí; Năng lực giao tiếp; Năng lực hợp tác; Năng lực sử
dụng công nghệ thông tin; Năng lực sử dụng ngôn ngữ; Năng lực tính toán; Năng lực
quan sát.
III. Điều kiện cần có để học môđun
* Về kiến thức vật lý: SV đã học phần cơ học và nhiệt học
* Về kiến thức toán học: Sinh viên phải học xong toán cao cấp A1 và A2
* Về tài liệu tham khảo
1. Tài liệu 1: Nguyễn Hữu Thọ (Chủ biên), Giáo trình Vật lí đại cương (Tập 2),
NXB ĐHCN TP.HCM
2. Tài liệu 2: Lương Duyên Bình, Dư Công Trí, Nguyễn Hữu Hồ, Vật lí đại
cương (Tập 2), NXB Giáo dục.
3. Tài liệu 3: Nguyễn Hữu Thọ, Bài tập vật lí (Tập 2: Điện - Từ), NXB Đại học
Quốc gia TP.HCM.
4. Tài liệu 4: Lương Duyên Bình, Nguyễn Quang Hậu, Giải bài tập và bài toán
cơ sở Vật lí (Tập 3)
IV. Các đơn vị kiến thức cần nghiên cứu. Gồm 04 tiểu môđun
Tiểu môđun 1.1: Tương tác điện - Định luật Coulomb; Tiểu môđun 1.2: Điện
trường; Tiểu môđun 1.3: Định lý O - G; Tiểu môđun 1.4: Điện thế
Trong môđun “Điện trường tĩnh” của luận án này chúng tôi chỉ giới thiệu tiểu
môđun 1.2 “Điện trường”. Còn các tiểu môđun còn lại được trình bày trong tài liệu tự
học có hướng dẫn theo môđun kèm theo luận án này.
Tiểu môđun 1.2: ĐIỆN TRƯỜNG
* Bạn có biết?
2. Nấu nướng bằng lò vi sóng? 1. Điều khiển các hạt mang điện chuyển
động như thế nào?
75
3. Máy gia tốc hạt? 4. Nguyên lý hoạt động của bóng đèn
hình CRT?
A. Xác định mục tiêu của tiểu môđun
* Về kiến thức:
* Về kĩ năng:
B. Nội dung lý thuyết cần nghiên cứu
1. Trả lời các câu hỏi kiến thức cơ bản
Câu 1: Điện trường là gì?
Câu 2: Cường độ điện trường là gì? Viết biểu thức véctơ cường độ điện trường.
Câu 3: Viết biểu thức nguyên lý chồng chất điện trường do nhiều điện tích
điểm gây ra tại một điểm?
do một điện tích điểm gây ra tại một
(cid:2)(cid:1) Câu 4: Biểu thức cường độ điện trường E
điểm?
2. Trả lời các câu hỏi kiến thức mới
Câu 5: Cường độ điện trường do hệ điện tích điểm phân bố liên tục, vật tích
điện gây ra tại một điểm?
Câu 6: Thế nào là lưỡng cực điện? Viết biểu thức của mômen lưỡng cực điện?
3. Hướng dẫn tự học phần lý thuyết: Để trả lời các câu hỏi trên SV có thể:
- Tham khảo các tài liệu như: SGK Vật lý 11; Tài liệu 1; Tài liệu 2…
- Tham khảo tiểu môđun 1.2 trong tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
dạng số hóa.
4. Đề tự kiểm tra kiến thức lần 1
(Đề gồm 10 câu dạng nhận biết- thời gian làm bài 10 phút)
76
Câu 1: Phát biểu về điện trường “Điện trường là vật chất bình thường bao quanh điện tích và gắn liền với điện tích. Điện trường tác dụng lực điện lên các điện tích
khác đặt trong nó”. Đúng hay sai.
A. Đúng B. Sai
Câu 2: Phát biểu nào sau đây là sai?
A. Véc tơ cường độ điện trường là đại lượng đặc trưng cho điện trường về
phương diện tác dụng lực.
B. Trong môi trường điện môi đẳng hướng có hằng số điện môi ε, cường độ
điện trường giảm ε lần so với trong chân không C. Đơn vị đo cường độ điện
trường là vôn trên mét (V/m).
D. Điện trường tĩnh là điện trường có cường độ điện trường không đổi tại mọi
điểm
Câu 3: Khi nói về đặc điểm của véc tơ cường độ điện trường gây bởi một điện tích
điểm Q tại điểm M. Phát biểu nào sau đây là Sai?
A. Có phương là đường thẳng QM.
B. Có chiều hướng ra xa Q nếu Q>0; hướng gần Q nếu Q<0.
C. Có độ lớn tỉ lệ nghịch với khoảng cách giữa Q và M.
D. Có điểm đặt tại M.
n
Câu 4: Chọn những đáp án đúng. Xét hệ n điện tích điểm phân bố rời rạc, mỗi điện
(cid:2)(cid:1) (cid:2)(cid:1) (cid:2)(cid:1) E ,E ...E 1 2
n
n
2
, tích Q1, Q2,…Qn gây ra vectơ cường độ điện trường tại điểm M lần lượt là
(cid:2)(cid:1) E
(cid:1) E
(cid:2)(cid:1) E
(cid:2)(cid:1) (cid:2)(cid:1) E E = 1
+ +
+
i
= ∑
i 1 =
n
E
A. B. thì theo nguyên lý chồng chất điện trường tổng hợp tại M là: (cid:2)(cid:1) ... E
i
= ∑ E
i 1 =
C. E =E1 + E2 +…+ En D.
Câu 5: Chọn đáp án đúng. Xét vật nhiễm điện có điện tích phân bố liên tục, ta
chia nó thành nhiều phần tử nhỏ mang điện tích dq coi như điện tích điểm. Cường độ
điện trường do cả vật gây ra tại M là:
(cid:2)(cid:1) E
(cid:1) r
(cid:2)(cid:1) E
=
=
dq 3 r
dq 3 r
A. B.
(cid:2)(cid:1) E
(cid:1) r
(cid:2)(cid:1) E
(cid:1) r
=
=
dq r
dq 2 r
k ε ∫ . Vat k ε ∫ . Vat
k ε ∫ . Vat k ε ∫ . Vat
D. C.
77
Chọn đáp án đúng. Gọi điện tích trên một đơn vị độ dài của sợi dây
Câu 6: mảnh dài L là mật độ điện dài λ , thì một vi phân độ dài dl chứa điện tích điểm
dq= λ dl. Khi đó dây L gây ra cường độ điện trường cách dl một đoạn r là:
(cid:2)(cid:1) E
(cid:1)l r
(cid:2)(cid:1) E
=
=
d λ 3 r
(cid:1)l d r 3 r
L
L
A. B.
(cid:2)(cid:1) E
(cid:1)l r
(cid:2)(cid:1) E
(cid:1)l r
=
=
d λ r
d λ 2 r
k ε ∫ . k ε ∫ .
k ε ∫ . k ε ∫ .
L
L
C. D.
Chọn đáp án đúng. Gọi điện tích trên một đơn vị diện tích của bề mặt
Câu 7: mỏng, diện tích S là mật độ điện mặt σ thì một vi phân diện tích dS chứa điện tích
điểm dq = σ .dS. Khi đó mặt S gây ra cường độ điện trường cách dS một đoạn r là:
(cid:2)(cid:1) E
(cid:1) r
(cid:2)(cid:1) E
(cid:1) r
=
=
dS σ 2 r
dS σ 3 r
A. B.
(cid:2)(cid:1) E
(cid:1) r
(cid:2)(cid:1) E
=
=
dS σ r
dS σ 2 r
k ε ∫ . (S) k ε ∫ . (S)
k ε ∫ . (S) k ε ∫ . (S)
C. D.
Chọn đáp án đúng. Gọi điện tích trong một đơn vị thể tích của vật đồng
Câu 8: nhất, thể tích τ là mật độ điện khối ρ thì một vi phân thể tích d τ chứa điện tích điểm
dq= ρ .d τ . Khi đó cả vật gây ra cường độ điện trường cách d τ một đoạn r là:
(cid:2)(cid:1) E
(cid:1) r
(cid:2)(cid:1) E
=
=
d ρ τ 3 r
d ρ τ 3 r
A. B.
(cid:2)(cid:1) E
(cid:1) r
(cid:2)(cid:1) E
(cid:1) r
=
=
d ρ τ 2 r
d ρ τ r
k ε ∫ . ( ) τ k ε ∫ . ( ) τ
k ε ∫ . ( ) τ k ε ∫ . ( ) τ
C. D.
Câu 9: Phát biểu định nghĩa lưỡng cực điện sau đây là đúng hay sai “Lưỡng cực điện
là hệ gồm hai điện tích điểm cùng độ lớn, trái dấu gắn với nhau, cách nhau một
khoảng l so với khoảng cách từ lưỡng cực điện tới những điểm đang xét của trường”.
A. Đúng B. Sai
Câu 10: Chọn đáp án Sai.
A. Đại lượng đặc trưng của lưỡng cực điện là vectơ mômen lưỡng cực điện hay
mômen điện:
(cid:1) l (Trong đó: q là trị số điện q .=
(cid:1) ep
B. Biểu thức của mô men lưỡng cực điện là
(cid:1) l là vectơ khoảng cách hướng từ +q đến -q)
tích;
C. Trong hệ SI, mô men điện được đo bằng (coulomb.met) hay kí hiệu (Cm).
78
D. Lưỡng cực điện có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu và ứng dụng các
hiện tượng điện, vì đa số phân tử là lưỡng cực điện.
Đáp án tự kiểm tra lần 1.
1B 2D 3C 4A B 5A 6A 7B 8A 9B 10B
C. Nội dung bài tập cần nghiên cứu
1. Phương pháp giải
- Nếu bài toán về điện trường do một điện tích điểm gây ra tại một điểm thì
(cid:1) E
(cid:1) r
=
k q 3 r ε
áp dụng ngay công thức:
- Nếu bài toán điện trường của hệ điện điểm q1, q2,…,qn thì:
(cid:2)(cid:2)(cid:1) (cid:2)(cid:2)(cid:1) (cid:2)(cid:2)(cid:1) E ,E ,...,E 2
n
1
+ Biểu diễn các véctơ lực do các điện tích q1, q2,…,qn gây ra tại một
n
điểm (Điện tích dương thì hướng ra xa điện tích, điện tích âm thì hướng vào điện tích).
(cid:2)(cid:2)(cid:1) E
(cid:2)(cid:2)(cid:1) ...E
(cid:2)(cid:2)(cid:1) E
+
+
=
(cid:2)(cid:2)(cid:1) (cid:2)(cid:1) E E = 1
2
n
i
∑
∑
i 1 =
(tổng + Áp dụng nguyên lí chồng chất lực điện
hợp theo quy tắc hình bình hành)
+ Áp dụng hệ thức lượng trong tam giác và dữ kiện của bài toán để giải ra kết
quả(chú ý đơn vị của các đại lượng).
- Nếu bài toán xác định điện trường do vật tích điện đều với điện tích Q gây
ra tại một điểm:
+ Vẽ hình
+ Chia vật tích điện thành những phần tử rất nhỏ: dl nếu vật dạng dài; dS nếu
vật dạng mặt; dV nếu vật dạng khối, mỗi phần này sẽ mang điện tích dQ.
(cid:2)(cid:1) + Viếu biểu thức lực dE (cid:2)(cid:1) dE
(cid:1) r
=
k dQ. 3 r ε
do phần tử điện tích dQ gây ra tại điểm đó:
Với: dQ = λ.dl = δ.dS = ρ.d τ
λ: mật độ điện tích dài
δ: mật độ điện tích mặt
ρ: mật độ điện tích khối
79
(cid:2)(cid:1) E
(cid:2)(cid:1) dE
(cid:1) r
=
=
∫
∫
dQ 3 r
k ε
vat
vat
+ Lấy tích phân cho toàn bộ vật mang điện ta được kết quả
2. Bài tập cơ bản(Dạng nhận biết và thông hiểu)
Bài 1: Hai điện tích điểm q1 = -5q; q2 = 2q cách nhau một đoạn d. Xác định điểm mà điện trường triệt tiêu.
d 2 5
2−
Đáp số: M cách q2 là
Bài 2: Hai điện tích điểm q1, q2 chưa xác định dấu và độ lớn, cách nhau một đoạn d trong không khí. Điện trường triệt tiêu tại điểm M trên đoạn thẳng nối chúng. Có thể
kết luận được gì về hai điện tích đó?
q
q
q 1
> ⇒ > ; Nếu r 1
r 2
2
q 1
< ⇒ < ; r 1
r 2
2
Đáp số:hai điện tích phải cùng dấu; Nếu
q
q 1
= ⇒ = r 2
r 1
2
Nếu
Bài 3: Lưỡng cực điện gồm hai điện tích điểm +q và -q cùng độ lớn, gắn với nhau,
cách nhau một đoạn l. Xác định véc tơ cường độ điện trường E tại điểm M trên đường
e
trung trực ở khá xa lưỡng cực điện.
E
= −
=
3
k.p 3 r
l q 4 r πε
Đáp số:
Bài 4: Hai viên bi nhỏ cùng kích thước, tích điện q1 > 0;q2 < 0 cách nhau một đoạn AB=d=2m trong không khí. Mỗi viên gây ra cường độ điện trường tại trung điểm M
của đoạn AB có độ lớn lần lượt là E1=150V/m; E2=300V/m.
ở M. vectơ a. Tính trị số q1;q2. b. Cho tiếp xúc nhau rồi trả về chỗ cũ. Xác định điện tích mới ở mỗi viên bi và (cid:2)(cid:2)(cid:1) 'E
16,67nC
27,44nC
(cid:2)(cid:2)(cid:1) 'E
= +
= −
1q
Đáp số: a. , ; b. =0
2q 3. Bài tập nâng cao(Dạng vận dụng và vận dụng cao)
Bài 5: Điện tích Q>0 phân bố đều trên vòng dây tròn tâm O, bán kính a, đặt trong không
khí.
(cid:2)(cid:1) a. Xác định vectơ E b. Trị số maxE ứng với h bằng bao nhiêu?
kQh
tại điểm M ở trên trục đối xứng của vòng dây, OM =h.
=
E
=
E ;b. max
2
2
2
2kQ 3 3.a
a
h
+
Đáp số: a.
(
)3/2
80
0λ > , ở không khí. Xác
Bài 6: Đoạn dây thẳng AB tích điện đều với mật độ điện dài
(cid:2)(cid:1) định vectơ E
tại:
1α và
2α .
a. Điểm O cách dây một đoạn h, nhìn AB dưới góc
b. Điểm M trên đường trung trực của dây, cách dây một đoạn h.
c. Điểm N rất gần dây (khoảng cách h rất ngắn so với độ dài AB)
α
2
Đáp số:
E
cos .d
(sin
sin
)
=
α α =
α
n
α + 1
2
a. ,
∫
k λ h
k λ h
−α 1
α
2
E
sin .d
(cos
cos
)
=
α α =
α
t
α − 1
2
∫
k λ h
k λ h
−α 1
;
E
E
E
.sin
E
E
.
=
+
E E =
=
α; c.
=
=
n
n
0
2 n
2 t
2k λ h
2k λ h
; b.
Bài 7: Đĩa tròn phẳng, tâm O, bán kính a tích điện đều, mật độ điện mặt +σ . Xác định
(cid:2)(cid:1) vectơ cường độ điện trường E
trên trục xuyên tâm O, vuông góc với đĩa, cách O một
h
đoạn h. Suy ra trường hợp ở sát mặt đĩa.
E
(1
)
E
=
−
=
2
2
σ 2 ε
σ 2 ε
0
0
a
h
+
Đáp số: ;đĩa là mặt phẳng rất rộng.Thay h=0 vào được .
Bài 8: Một mặt hình bán cầu tích điện đều, mật độ điện tích mặt δ. Xác định cường độ
R
điện trường tại tâm O của bán cầu.
k
E
dE
k
=
=
=
=
) Đáp số: (với
∫
∫
4
4
1 πε
.dh h.2 πσ 2 R ε
σ εε
0
0
0
4. Bài tập ứng dụng vào thực tiễn
Bài 9: Nêu nguyên lý hoạt động của bóng đèn hình CRT?
Bài 10: Nấu nướng bằng lò vi sóng?
Bài 11: Tìm hiểu nguyên lý hoạt động của máy gia tốc hạt?
5. Hướng dẫn tự học phần bài tập: Để trả lời các câu hỏi trên SV có thể:
- Tham khảo các tài liệu : Tài liệu 3; Tài liệu 4; Mạng Internet…
- Tham khảo tiểu môđun 1.2 trong tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
dạng số hóa.
6. Đề tự kiểm tra kiến thức lần 2(Đề gồm 10 câu - thời gian làm bài 20 phút.)
Ký hiệu: TH: Thông hiểu; VD: Vận dụng; VDC: Vận dụng cao
81
Câu 1: (TH)Phân tử lưỡng cực gồm hai ion hoá trị, trái dấu, cách nhau một đoạn l =
(cid:1) ep
10mm. Vectơ mômen điện của nó có trị số:
A. 1,6.10-27C B.1,6.10-27Cm C. 1,6.10-27C/m D.3,2.10-18 C/m2
do một lưỡng cực điện có
(cid:2)(cid:1) Câu 2: (TH)Trong chân không, xét đặc điểm của vectơ E
(cid:1) ep
mômen điện gây ra tại mặt phẳng trung trực của nó, cách trục một đoạn r khá lớn
(cid:2)(cid:1) so với kích thước l của nó. Biểu thức vectơ E
.
(cid:1) p
(cid:1) p
(cid:1) p
(cid:1) p
−
−
e
e
e
e
k 2 r
k 3 r
k r
k 3 r
A. B. C. D.
Câu 3: (VD)Trong không khí có sợi dây thẳng, rất dài tích điện đều, mật độ điện dài λ .
(cid:2)(cid:1) Xét vectơ E
9 − =-6.10 C / m
λ
ở cách dây một đoạn x. Nếu ; x = 20 cm thì độ lớn E là:
A. 540 V/m B. 135 C/m C. 270 V/m D. 1,35 kV/m
o
180
Câu 4: (VD)Trong không khí có đoạn dây mảnh AB hình vòng cung, góc mở
02 α <
, bán kính R, tích điện đều, mật độ điện dài λ . Cung AB có tâm O ở gốc
−
o
hệ tọa độ Oxy, trung điểm M trên trục Ox, tọa độ xM >0. Xét vectơ cường độ điện
(cid:2)(cid:1) 0E
30
14 6.10 C / m
λ =
α = 0
trường tại O. Thay số: R = 20cm, , . Độ lớn EO là:
A. 13,5.10-4 C/m2 C. 2,7.10-3 V/m B. 2,7. 3 .10-4 V/m D. 13,5.10-4 C/m2
Câu 5: (VDC) Điện tích Q phân bố đều trên vòng dây tròn tâm O, bán kính a, trong
(cid:2)(cid:1) không khí. Xét vectơ cường độ điện trường E vuông góc với mặt phẳng vòng dây. Nếu M E≡ thì độ lớn E là:
ở điểm M nằm trên trục ∆ xuyên tâm O,
2
kQ 2 R
2kQ 2 R
kQ 2 2.R
A. B. C. 0 D.
(cid:2)(cid:1) không khí. Xét vectơ cường độ điện trường E
Câu 6: (VD) Điện tích Q phân bố đều trên vòng dây tròn tâm O, bán kính a, trong
ở điểm M nằm trên trục ∆ xuyên tâm O,
vuông góc với mặt phẳng vòng dây. Trị cực đại của E là:
2
2
2
2kq 3 3.a
kq 3 3.a
2kq 3 3.a
3kq 2 3.a
B. C. D. A.
Câu 7: (VDC)Ở không khí có đĩa tròn phẳng, bán kính a, tích điện đều, mật độ điện
(cid:2)(cid:1) mặt σ . Xét vectơ cường độ điện trường E
ở điểm M trên trục ∆ xuyên tâm O, vuông
góc với mặt phẳng đĩa, MO = x. Độ lớn E là:
x
x
82
2
2
2
2
σ 2
σ 2 ε
1 +
1 −
0
a
x
a
x
+
+
x
x
A. B.
2
2
2
2
σ ε
σ 2 ε
1 −
1 −
0
0
a
x
a
x
−
+
C. D.
Câu 8: (TH) Ở môi trường hằng số điện môi ε có mặt phẳng rất rộng tích điện đều,
(cid:2)(cid:1) mật độ điện mặt σ > 0. Xét đặc điểm vectơ E
ở sát mặt phẳng đó. Độ lớn E.
.
2σ ε
2σ εε
0
σ 02 ε
0
A. C. B. D.
σ 2 εε 0 Câu 9: (VD)Lỗ thủng tròn tâm O, bán kính a ở giữa mặt phẳng rất rộng tích điện đều, mật độ σ > 0, trong không khí. Xét độ lớn E tại điểm M trên trục ∆ xuyên tâm O, vuông góc với mặt phẳng, cách O một đoạn h. Khi: a=20cm, σ =+8,86.10-10C/m2; h=5cm thì giá trị của E là
A. 12,1V/m B. 1,84.10-4C/m2 C. 2,94.10-3 V/m D.2,65Cm
Câu 10: (VDC) Ống trụ tròn, mỏng, rất dài, bán kính a, trục ∆ trong không khí, tích điện đều với mật độ điện dài λ > 0. Tính độ lớn cường độ điện trường E tại nơi cách
λ

