Đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai

Chia sẻ: phalinh2

Tình hình chính trị Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Pháp đã tiến hành một số cải cách về chính trị nhằm đối phó với những biến động có thể xảy ra ở thuộc địa và hỗ trợ đắc lực cho chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai

Đợt khai thác thuộc địa lần thứ
hai




1. Tình hình chính trị

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Pháp đã
tiến hành một số cải cách về chính trị nhằm đối phó
với những biến động có thể xảy ra ở thuộc địa và hỗ
trợ đắc lực cho chương trình khai thác thuộc địa lần
thứ hai. Mục tiêu của các cuộc cải cách nhỏ giọt đó
không gì hơn ngoài việc nới rộng nền tảng xã hội
( chế độ thuộc địa).

Các viên toàn quyền Pháp từ A. Xa rô, M. Lông đến
A. Va ren đã lần lượt ban hành những chính sách
theo hướng trên. Do đó, các viện dân biểu Bắc
Kỳ Trung Kỳ được thành lập, các phòng thương mại
và canh nông của những thành Phố lớn được mở rộng
cho người Việt tham gia. Năm 1928, thực dân Pháp
lập ra Đại hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương
với tư cách là cơ quan tư vấn về Vấn đề kinh tế, tài
chính trong Liên bang Đông Dương.

Trong khu vực nông thôn, thực dân Pháp tiến hành
"cải lương hương chính nhằm từng bước can thiệp
trực tiếp vào công việc nội bộ của làng xã, loại bỏ
dần tính chất tự trị của nó. Trên nguyên tắc, công
cuộc cải lương hương chính vẫn chấp nhận cơ chế
quản lý làng xã cổ truyền, nhưng trên một chừng mực
nào đó thực dân Pháp đã đạt được mục tiêu can thiệp
trực tiếp vào công việc làng xã bằng cách kiểm soát
nhân sự, tài chính của bộ máy làng xã.

Tóm lại, chính sách của thực dân Pháp trong thế kỷ
20 là nới rộng một số Quyền lực chính trị cho các
tầng lớp trên, tạo ra mảnh đất tốt cho chủ nghĩa Pháp-
Việt đề huề tạo sự ổn định chính trị để thu hút vốn
đầu tư vào Đông Dương nhằm thực hiện có hiệu quả
chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai 2.

2. Tình hình kinh tế

Là nước thắng trận, nhưng Pháp ra khỏi Chiến tranh
thế giới thứ nhất với 'những tổn thất lớn trên nhiều
lĩnh vực. Những vùng giàu có nhất nước Pháp, đặc
biệt các vùng công nghiệp phát triển, bị tàn phá nặng
nề; nhiều ngành công nghiệp bị đình trệ. Đồng thời,
nước Pháp trở thành con nợ lớn. Tổng số nợ
của 'nước Pháp đến năm 1920 đã lên tới 300 tỷ
phăng.

Tình hình trên đã thôi thúc chính quyền Pháp tìm
biện pháp vừa thúc đẩy nhanh nền sản xuất trong
nước, đồng thời đẩy mạnh khai thác thuộc địa, nhất
là 'Đông Dương, nhằm nhanh chóng hàn gắn vết
thương chiến tranh,'phục hồi Nền kinh tế và khôi
phục vị thế chính trị của nước Pháp trên trường quốc
tế.

" Về mục tiêu, giống như cuộc khai thác thuộc địa
lần trước, cuộc khai thác thuộc lần này vẫn theo đuổi
một ý đồ nham hiểm : bòn rút thuộc địa để làm giàu
cho 'chính quốc nhưng không cho thuộc địa có cơ hội
cạnh tranh với chính quốc.

Về thời gian, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai
được bắt đầu từ sau khi kết thức Chiến tranh thế giới
thứ nhất và chấm dứt trước cuộc tổng khủng
hoảng 'kinh tế thế giới , tức là từ năm 1919 đến năm
1929.

Vế cơ cấu đầu tư, đã có sự thay đổi căn bản, nếu như
trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất chủ yếu là vốn
của tư bản nhà nước, thì trong cuộc khai thác thuộc
địa này vốn đầu tư vủa tư bản tư nhân đứng vị trí
hàng đầu.
Về cường độ, cuộc khai thác thác thuộc địa lần thứ
hai diễn ra với một cường độ mạnh. Chỉ tính riêng
trong 6 năm (1924-1929), tổng số vốn đầu tư của tư
bản Pháp vào Đông Dương đã tăng gấp 6 lần so với
20 năm trước chiến tranh.

Về các lĩnh vực đầu tư, có sự thay đổi vị trí rất lớn.
Nếu như trong khai thác thuộc địa thứ nhất, khai
khoáng chiếm vị trí hàng đầu, thì trong cuộc khai
thác thuộc địa lần này vị trí đó thuộc về nông nghiệp.

Dưới tác động của công cuộc khai thác thuộc địa lần
thứ hai, cơ cấu và trình độ phát triển của nền kinh tế
Việt Nam tiếp tục có những bước chuyển biến theo
hướng hiện đại

Nông nghiệp là ngành được thực dân Pháp chủ
trương đầu tư !ớn nhất. Năm 1924, số vốn đầu tư vào
nông nghiệp là 52 triệu phăng, thì năm 1927 đã lên
tới 400 triệu phăng, chủ yếu chảy vào khu vực trồng
và khai thác cao su. Với số vốn đó và sự trợ lực của
chính sách ăn cướp ruộng đất, hàng trăm đồn điền,
có những đồn điền rộng tới vài nghìn ha, đã xuất
hiện. Các chủ đồn điền người Pháp và người Việt
khai thác triệt để phương thức canh tác và bóc lột
kiểu phong kiến và tiền tư sản.

Trong nông nghiệp, sự chuyển biến mạnh mẽ nhất là
sự chuyển đổi trong cơ cấu cây trồng. Ngoài những
đồn điền trồng lúa đã xuất hiện những đồn điền trồng
cao su, trồng chè, trồng cà phê, trồng hạt tiêu..., nghĩa
là các chủ đầu tư đã khai thác thế mạnh của miền đấtt
nhiệt đới. Trong kinh doanh cao su đã hình thành 3
tập đoàn lớn : Công ty đất đỏ, Công ty trồng cây
nhiệt đới và Công ty Mitsơlanh. Sản lượng mủ cao
su ngày một tăng. Năm 1929 đã xuất kho 10.00 tấn
mủ cao su.

Dù không cân đi và què quặt nhưng đã xuất hiện một
nền công nghiệp với hai bộ phận công nghiệp nặng
và công nghiệp nhẹ. Vào những năm 1920, địa hạt
này được tăng cường theo hai hướng chính : I) mở
rộng về quy mô, về cường độ các xí nghiệp, nhà máy
đã có từ trước; 2) xây dựng thêm những xí
nghiệp những công ty mới. Như vậy, so với thời kỳ
trước, ngành công nghiệp đã có bước tiến về chất.
Chẳng hạn, trong khai khoáng, đi đôi với việc thành
lập các công ty mới như Công ty than Hạ Long, Công
ty than và mỏ kim khí Đông Dương... đã xuất hiện
một số cơ sở chế biến quặng, đúc kim, thiếc ở
Quảng Yên, Hải Phòng, Cao Bằng - những loại hình
công nghiệp còn vắng bóng trước chiến tranh. Cùng
với sự điều chỉnh trong khu vực công nghiệp nặng,
khu vực công nghiệp nhẹ cũng trở nên sôi động hơn,
không chỉ tăng số lượng các nhà máy chế biến nông
sản tại chỗ, mà còn được nâng cấp, mở rộng quy mô
sản xuất .Nhà máy dệt Nam Định được xây dựng từ
những năm cuối thế kỷ XIX nay được mở rộng, nâng
cấp để trở thành một trung tâm dệt nổi tiếng trên toàn
liên bang với một tổ hợp nhà máy khép kín từ khâu
đầu đến khâu cuối.

Giao thông vận tải, một thành tố trong cơ sở hạ tầng,
đã được thực dân Pháp chủ yếu đầu tư xây dựng ngay
từ đầu, nay được tiếp tục đầu tư vốn và kỹ thuật
( hoàn tất những công trình đang dang dở và nâng cấp
một số phương tiện giao thông vận tải mới. Trên
tuyến đường sắt xuyên Việt, thực dân Pháp tiếp tục
xây dựng các đoạn Vinh - Đông Hà, Đồng Đăng - Na
Sầm(l) ; đến năm 1931 đã xây dựng được 2389 km
đường sắt trên đất Việt Nam. Đường bộ tiếp tục được
xây dựng, nhiều con đường quốc lộ và liên tỉnh đã
được rải đá cấp phối và tráng nhựa. Đến năm 1930,
Pháp đã mở được 15.000 km đường bộ, trong đó
1 khoảng 2.000 km đường rải nhựa. Nếu như đường
sắt, đường bộ có vị trí quan trọng trong kinh tế đối
nội, thì đường thủy đóng vai trò chủ đạo trong kinh tế
đối ngoại. Nó là phương tiện giao thông duy nhất lúc
đó nối nước ta với các nước bên ngoài. Vì thế, cùng
với quá trình hiện đại hóa các hải cảng đã có như
cảng Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng, Pháp cho xây
dựng các hải cảng mới như Hòn Gai, Bến Thủy...
Mạng lưới vận tải đường sông vùng châu thổ sông
Hồng và sông Cửu Long cũng được khai thác triệt để.

Thương nghiệp gồm ngoại thương và nội thương
cũng có những bước tiến mới. Xuất hiện các chợ lớn
như chợ Bến Thành (Sài Gòn), chợ Đông Ba
(Huế), chợ Đồng Xuân (Hà Nội). Ngoại thương là
lĩnh vực buôn bán mà Pháp độc quyền. Thực dân
Pháp dựng hàng rào thuế quan để bảo hộ hàng hóa
chính quốc bằng cách đánh thuế cao hàng hóa nước
ngoài, đặc biệt là hàng hóa Trung Quốc và Nhật Bản
đã hạn chế đến mức tối đa hàng ha của nước ngoài
nhập vào Đông Dương, tạo điều kiện tốt nhất cho
hàng hóa Pháp tràn ngập thị trường Việt Nam. Trước
chiến tranh, thị phần hàng hóa Pháp ở Đông Dương
chiếm 37%, cuối những năm 1920 đã lên tới 63%.
Đặc trưng của nền thương mại thuộc địa được phản
ánh rõ nét trong cơ cấu xuất nhập. Xuất chủ yếu là
những mặt hàng nguyên liệu, nông sản phẩm ; Nhập
chủ yếu là những mặt hàng công nghiệp, kỹ thuật,
những mặt hàng tiêu dùng cao cấp từ Pháp.

Bao trùm và chi phi toàn bộ đời sống kinh tế Đông
Dương là hệ thống ngân hàng, đứng đầu là Ngân
hàng Đông Dương. Ngân hàng Đông Dương, ngoài
chức năng được quyền phát hành giấy bạc, đã chỉ đạo
các ngân hàng hàng tỉnh ( 19 Nông phố Ngân hàng)
trong việc cho vay lãi , góp vốn thành lập các công
ty, các đồn điền, các nhà máy. Như vậy, dưới tác
động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, nền
kình tế Việt Nam tiếp tục chuyển biến sâu sắc thêm
theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực. Về hình thức đó là
một cơ cấu kinh tế thuộc địa, đã mang sắc thái hiện
đại nhưng thực đây chính là một cơ cấu kinh tế thuộc
địa mất cân đối , què quặt được biểu hiện rõ nét ở tỷ
lệ giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp, giữa
khu vực công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ và
giữa các vùng và các miền của đất nước.

3. Tình hình xã hội

Trên phương diện xã hội, dưới tác động của cuộc
khai thác thuộc địa lần thứ hai, xã hội Việt Nam tiếp
tục có sự phân hóa giai cấp sâu sắc và cùng với nó
là sự xuất hiện một hệ thống thành phố kiểu phương
Tây.

a) Sự phân hoá giai cấp

* Giai cấp đia chủ : Nét đặc trưng của xã hội thuộc
địa là sự cấu kết chặt chẽ giữa thực dân và giai cấp
địa chủ phong kiến bản xứ. Giai cấp địa chủ vì thế,
không những không bị thu hẹp lại, mà trái lại được
phát triển đủ mạnh để có thể trở thành nền tảng xã
hội của chế độ thuộc địa. Thế lực này được đo bằng
số ruộng đất tập trung trong tay họ. Ở Nam Kỳ, mức
độ tập trung ruộng đất cao hơn Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Trong giai cấp địa chủ đã xuất hiện sự phân tầng rõ
rệt : địa chủ nhỏ, địa chủ vừa và đại địa chủ. Nam Kỳ
là nơi tập trung nhiều đại địa chủ, có 2.449 đại địa
chủ sở hữu từ 100 - 500 ha và 244 đại địa chủ sở hữu
trên 500 ha. Nhìn chung, giai cấp địa chủ thời kỳ này
chiếm khoảng 7% cư dân nông thôn, nhưng đã nắm
trong tay một nửa diện tích canh tác. Đến năm 1939,
Việt Nam có khoảng 6.500 địa chủ sở hữu trên 50 ha
ruộng đất, trong đó Nam Kỳ có 6.200, Bắc Kỳ có 200
và Trung Kỳ có 100 người. Giai cấp “ngồi mát ăn bát
vàng" này đã tách khỏi quá trình sản xuất, sống bằng
việc phát canh thu tô (tô tiền, tô hiện vật và tô lao
dịch). Do sự nâng đỡ của chính quyền thực dân, giai
cấp địa chủ chiếm đại đa số trong cơ cấu chính quyền
làng xã (Hội đồng kỳ mục, Hội đồng tộc biểu, người
đứng đầu các xã, tổng và hàng thôn). Đồng thời, giai
cấp này còn có đại biểu của mình ở các cấp chính
quyền bên trên như các Viện Dân biểu, Hội đồng
quản hạt ... Rõ ràng, giai cấp địa chủ trở thành chỗ
dựa đáng tin cậy của chính quyền thực dân.

* Giai cấp nông dân là thành phần chiếm tuyệt đại
đa số (khoảng 90% trong xã hội Việt Nam. Trong quá
trình sản xuất, dưới tác động của chương trình khai
thác thuộc địa, giai cấp này đã chuyến biến sâu sắc và
có sự phân tầng rõ rệt : phú nông, trung nông, bần
nông và cố nông.

Phú nông là tầng lớp khá giả nhất trong giai cấp
nông dân, chiếm hữu một số ruộng đất tương đối khá
nhưng chưa đủ để trở thành địa chủ, cũng tham gia
bóc lột bằng thuê nhân công, tuy vẫn trực tiếp tham
gia vào quá trình sản xuất.

Trung nông là tầng lớp có đủ ruộng đất và công cụ
sản xuất để tiến hành sản xuất nuôi sống gia đình
mình; họ không bán sức lao động và cũng không có
khả năng tham gia bóc lột.

Bần nông là tầng lớp thiếu ruộng đất canh tác, thiếu
nông cụ. Để nuôi sống gia đình mình họ phải lĩnh
canh ruộng đất, thuê mướn nông cụ sản xuất và tiền
vốn.

Cố nông là tầng lớp "không tấc đất cắm dùi" nghèo
khổ nhất bần cùng nhất trong giai cấp nông dân.
Nguồn sống chủ yếu của họ là lĩnh canh ruộng đất,
đi làm thuê, đi ở cho nhà giàu.

Giai cấp nông dân là giai cấp bị bóc lột và áp bức
nặng nề nhất bi thuế khóa và thu phen tạp dịch. Cuộc
sống của họ hết sức bấp bênh. Một bộ phận trong số
họ bị bần cùng hóa. Đề duy trì sự tồn tại của gia đình,
họ phải ra thành phố, hầm mỏ để kiếm công ăn việc
làm. Một số người may mắn tìm được nơi bán sức lao
động, trở thành công nhân, số khác ít may mắn hơn..
quay trở về nông thôn, cam chịu cuộc sống cùng
quẫn, bế tắc.

* Giai công nhân Việt Nam ngày càng trở nên đông
đảo. Đến năm 1929, chỉ tính riêng công nhân trong
các doanh nghiệp của người Pháp đã là 221.050
người. Ngoài ra, có khoảng vài vạn công nhân lam
việc trong các doanh nghiệp của tư sản Việt Nam và
tư sản ngoại kiều, chưa kể số công nhân làm
theo mùa, theo thời vụ. Về số lượng, giai cấp công
nhân Việt Nam chiếm trên 1 % dân số .Tỷ lệ đó là
nhỏ bé, nhưng một nước thuộc địa con số đó cũng
rất đáng kể.

Nhìn trên tổng thể, công nhân được phân bố trên 2
vùng rõ rệt tuỳ theo điều kiện tự nhiên : miền Bắc tập
trung công nhân công nghiệp, miền Nam tập
trung công nhân nông nghiệp. Đại bộ phận công nhân
công nghiệp tập trung ở Hòn Gai, Hải Phòng, Hà Nội
, Nam Định, Vinh, Sài Gòn, Chợ Lớn.

Điều kiện sống và làm việc của công nhân rất cực
khổ. Họ phải làm việc trung bình từ 10 giờ đến 14
giờ / ngày với đồng lương rẻ mạt, thường xuyên
bị cúp phạp và bị đối xử bất nhân. Trước khi họ trở
thành công nhân, họ đã là người dân một nước nô lệ.
Vì thế, trong họ đã có sẵn mối thù dân tộc. Khi họ trở
thành công nhân, làm thuê cho một ông chủ nào đó,
bị giới chủ bóc lột, áp bức nặng nề, họ mang thêm
một mối thù thứ hai – mối thù giai cấp. Mối thù dân
tộc có trước thôi thúc mối thù giai cấp chín sớm. Do
vậy, giai cấp công nhân Việt Nam sớm giác ngộ ý
thức giai cấp và nhanh chóng vươn lên nắm lấy ngọn
cờ giải phóng dân tộc.

* Giai cấp tiểu tư sản

Cùng với sự gia tăng của cuộc khai thác thuộc địa,
sự xuất hiện hệ thống thành thị kiểu phương Tây và
nền giáo dục Pháp-Việt phát triển, giai cấp tiểu tư sản
ngày càng trở nên đông đảo. Nó được kết hợp một
cách lỏng lẻo bởi ba bộ phận: trí thứ, tiểu thương và
thợ thủ công. Điểm chung của họ là thi dân, sở hữu
một ít tư liệu sản xuất (vốn, chất xám).

Trí thức (trong đó có học sinh, sinh viên) là bộ phận
quan trọng nhất của giai cấp tiểu tư sản. Đến năn
1929, đội ngũ trí thức đã lên tới gần 40 vạn
người (12.000 giáo viên, 335.545 học sinh, 23.000
viên chức và hàng trăm sinh viên các trường đại học,
cao đẳng và dạy nghề).

Tiểu thương: Biên độ của đội ngũ này khá rộng, từ
người buôn thúng bán mẹtt đến những người có cửa
hàng, cửa hiệu nhưng vốn liếng (doanh só) chưa
đạt tới ngưỡng một nhà tư sản. Đội ngũ những người
buôn bán nhỏ có đóng thuế môn bài thường xuyên là
130.000 người.

Thợ thủ công: Vào giữa những năm 30 của thế kỷ
này, có khoảng 21,6 thợ thủ công chuyên nghiệp,
đông đảo nhất là Bắc Kỳ. So với hai bộ phận trên, bộ
phận này có đời sống bấp bênh nhất bởi với sự xuất
hiện các doanh nghiệp lớn đe doạ thủ công nghiệp
phá sản.

* Giai cấp tư sản

Tư sản Việt Nam,, sau chiến tranh, gặp những điều
kiện thuận lợi nên hoạt động kinh doanh của họ càng
trở nên sôi nổi hơn, đa dạng hơn. Họ kinh
doanh trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, từ xay xát,
nhuộm. dệt, in ấn, vận tải đến sản xuất nước mắm,
đường, xà phòng, sơn, đồ gốm v.v... Một số đã có
trong tay một sản nghiệp lớn như mỏ, đồn điền, công
ty vận tải sông biển, các công ty thương mại... Cuối
những năm 1920 tư sản Việt Nam đã gia tăng về số
lượng, đã đạt từ con số 20.000 người, chiếm khoảng
0,1% dân số cả nước. Tư sản Việt Nam đã từ một
tầng lớp trở thành một giai cấp xã hội thực sự sau
Chiến tranh thế giới thứ nhất. Do điều kiện kinh
doanh, giai cấp tư sản Việt Nam tự phân thành hai bộ
phận : tư sản mại bản và tư sản dân tộc.
Tư sản mại bản là một bộ phận những nhà đại lý cho
tư bản nước ngoài, những nhà thầu khoán và những
tư sản hùn vốn kinh doanh với tư sản Pháp và những
nhà doanh nghiệp có quan hệ buôn bán với nước
ngoài. Vì lợi ích kinh tế của bộ phận này gắn chặt với
lợi ích kinh tế của tư bản thực dân.

Ngoài bộ phận trên, phần lớn các nhà tư sản Việt
Nam đều là tư sản dân tộc. Họ có mặt trong hầu hết
các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt trong thương nghiệp.
Nhiều xí nghiệp kinh doanh của họ được mở rộng
quy mô sản xuất, đầu tư về kỹ thuật như xưởng sản
xuất sơn của Nguyễn Sơn Hà, công ty vận tải sông
biển của Bạch Thái Bưởi, xưởng dệt của Lê Phát
Vĩnh. Nhiều đồn điền ở Nam Kỳ rộng hàng nghìn
mẫu thu hút hàng trăm công nhân. Sau chiến tranh,
xuất hiện những cơ sở kinh doanh mới như Nhà máy
gạch Hưng Ký ở Đáp Cầu (Bắc Ninh), xí nghiệp dệt
Vĩnh An ở Huế. Lợi ích kinh tế của bộ phận tư sản
dân tộc không đồng nhất với lợi ích kinh tế của chính
quyền thực dân. Họ bị chèn ép từ nhiều phía, từ tư
sản Pháp đến các nhà tư sản ngoại kiều. Vì thế, để tồn
tại và phát triển, bộ phận này đã cố kết với nhau
trong kinh doanh và do đó ít nhiều họ có tinh thần
dân tộc.

Nhìn chung, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, giai
cấp tư sản Việt Nam lớn mạnh và trưởng thành. Đại
diện cho thế lực kinh tế của giai cấp xã hội đang lên
này là những nhà doanh nghiệp sáng giá như Trương
Văn Bền, Bạch Thái Bưởi;, Nguyễn Sơn Hà, Lê Phát
Vĩnh.

Dẫu vậy, giai cấp tư sản Việt Nam còn rất ít về số
lượng cũng như vốn liếng. Tổng số vốn kinh doanh
của họ chỉ bằng khoảng 5% số vốn của tư bản nước
ngoài. Tư sản Việt Nam chủ yếu kinh doanh trong
thương nghiệp, ít kinh doanh trong khu vực sản xuất.
Trên thương trường, giai cấp tư sản Việt Nam
lại đụng độ không cân sức với hai đối thủ : tư sản
Pháp và tư sản Hoa kiều.

b) Sự hình thành hệ thống đô thị kiểu phương Tây

Quá trình hình thành hệ thống thành thị kiểu phương
Tây ở nước ta gắn chặt với công cuc khai thác thuộc
địa lần thứ nhất, được đẩy mạnh và hoàn thiện trong
cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai. Trong những
năm 20 và 30 của thế kỷ này, một hệ thống thành thị
kiểu phương Tây đã hình thành với 3 cấp độ:
Thành phố cấp 1 : (Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng) ;
thành phố cấp 2: (Hải Dương, Nam Định, Vinh, Đà
Nẵng, Chợ Lớn) ; thành phố cấp 3 (những thị xã trực
thuộc tỉnh như Bắc Ninh, Hưng Yên, Đồng Hới...) và
dưới đó là hàng trăm thị trấn và thị tứ. Cùng với sự
lớn mạnh của các đô thị, số thị dân tăng nhanh. Năm
1928, thành phố Hà Nội đã có 130.000 dân, Huế -
41.600 dân, Sài Gòn - 125.000 dân, Cho đến những
năm 1930, dân số thành phố đã chiếm 8% - 10% dân
số cả nước.

Trong quá trình sinh tồn, thị dân đã tạo ra một lối
sống riêng, một phong tục tập quán riêng, vừa kế
thừa những giá trị truyền thống, nhưng đồng thời
cũng có những nét khác với lối sống của nông dân.
Một hệ thống thành thị phát triển, thị dân trở nên
đông đúc là những tiền đề, những điều kiện để tiếp
nhận văn hóa phương Tây. Từ đó, trong các dạng
thức sinh hoạt chính trị và văn hóa chúng ta mới có
các đảng phái chính trị, các nhà xuất bản, các dòng
báo chí, các thể loại văn học nghệ thuật mới như kịch
nói, điện ảnh .. xuất hiện những quan niệm mới về bố
trí không gian sống và nghỉ ngơi trong kiến trúc vv...
Tóm lại, với sự hình thành và hoàn thiện một hệ
thống thành thị kiểu phương Tây, trong xã hội Việt
Nam đã xuất hiện nền văn minh đô thị, một nền văn
minh tiên tiến thúc đẩy xã hội Việt Nam vươn lới.

4. Tình hình văn hóa tư tưởng
Cùng với sự đầu tư khai thác thuộc địa gia tăng sau
chiến tranh, đời sống kinh tế và xã hội nước ta có
những chuyển biến mạnh mẽ. Một nền kinh tế
với kiến trúc đa ngành đã xuất hiện. Một hệ thống đô
thị đã hình thành và phát triển. Một nền giáo dục
Pháp – Việt, sau nhiều lần cải cách và tìm kiếm
những mô hình hợp lý, đã phát huy tác dụng. Các cơ
sở in ấn, xuất bản đã xuất hiện ở các thành phố lớn.
Hàng loạt những tờ báo, tạp chí chữ Pháp và Quốc
ngữ đã ra đời. Đó chính là những tiền đề để tiếp nhận
những trào lưu tư tưởng mới, những thành tựu khoa
học - kỹ thuật, những loại hình vãn học – nghệ thuật
phương Tây tràn vào. Chính vì vậy, thập kỷ 20 trong
lịch sử nước ta được xem như là giai đoạn giao thoa,
đan xen giữa các giá trị văn hoá truyền thống và văn
hoá ngoại nhập, giữa nền văn hoá thực dân, nền văn
hoá chính thống và nền văn hoá mới, văn hoá tiến bộ,
cách mạng định hình. Đó chính là cuộc chiến đấu
không tuyên bố trên mặt trận văn hóa tư tưởng.
Chính quyền thực dân sớm có ý thức sử dụng văn hoá
như một thứ vũ khí được quảng bá cho tư tưởng
"Pháp – Việt đề huề", "Pháp - Nam hợp tác", đang
tạo ra một bầu không khí chính trị ổn định có lợi cho
việc gọi vốn đầu tư vào Đông Dương. Nhằm mục
đích đó Pháp đã cho phép Phạm Quỳnh ra tờ Nam
Phong tạp chí 1917) và cho lập Hội Khai trí Tiến
Đức (1919) để tập hợp lực lượng trong giới thượng
lưu. Trên các phương tiện thông tin đại chúng lúc đó
xuất hiện những bài viết của các học giả thân Pháp
tán dương chủ trương "Pháp-việt đề huề", trình bày
các chủ thuyết cai trị như thuyết "Trực trị" và thuyết
"Quân chủ lập hiến". Cùng với việc trên, báo chí
thực dân đã bắt đầu tung ra những bài viết bôi nhọ
chủ nghĩa cộng sản, lãnh tụ LêNin và Cách mạng
tháng Mười Nga. Nói một cách khác, trên bình diện
tư tưởng, báo chí thực dân đã tiến hành chủ nghĩa
chống cộng khi ở xứ này chưa có chủ nghĩa cộng sản,
thậm chí là mầm mống.

Đối lập với nền văn hoá thực dân, văn hoá nô dịch
đó là nền văn hoá mới tiến bộ, cách mạng. Khởi đầu
là dòng báo chí tiến bộ với tờ báo La Cloche
fêlée (Chuông rạn) và L’Annam (Nước Nam) của
Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường. Tiếp đó, xuất
hiện các Thư xã (Nhà xuất bản) Sài Gòn, Huế, Hà
Nội; nhờ đó mà các tác phẩm văn học mới được dân
thành thị đón nhận. Với sự xuất hiện tác phẩm Tố
Tâm của Hoàng Ngọc Phách (1925), lần đầu tiên
trên văn đàn nước ta, lối kết cấu theo chương hồi
được thay bằng lối kết cấu theo quy định luật tâm lý,
lễ giáo phong kiến bị đả kích, tự do cá nhân được đề
cao. Năm 1922 vở kịch nói đầu tiên Chén thuốc độc
của Vũ Đình Long được công diễn thành công tại
Nhà hát lớn Hà Nội. Tiếp đến, Nguyễn Hữu Kim với
Bạn và vợ, Vi Huyền Đắc với Hoàng Mộng Điệp,
Nam Xương với Chàng Ngốc(3). Có thể nói các tác
phẩm văn học sau chiến tranh đã hướng tới việc phê
phán xã hội đương thời bằng cách bóc trần cảnh lầm
than, tủi nhục của những người lao động, mô tả
những xung đột bi kịch giữa lễ giáo phong kiến đã lỗi
thời và tự do cá nhân tư sản ; đồng thời công khai bóc
lộ tình cảm yêu nước thương nòi. Tất cả những điều
đó là sư chuẩn bị cho nền văn học hiện thực phê phán
xuất hiện.

Nguồn: Nguyễn Quang Ngọc 2006, Chương IX –
Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến
năm 1930, Tiến trình Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Giáo
Dục, Tr.246 – 254.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản