Ấn chương Việt Nam - Ngọc Tỷ
Ngọc Tỷ là loại ấn được làm bằng ngọc với các mầu loại kc nhau, thường là bạch ngọc
bích ngc. Ngọc Tỷ thời Nguyễn chủ yếu được làm ở đời Minh Mệnh và Thiệu Tr, vì
chất liệu quí hiếm nên slượng Ngọc Tỷ ít hơn Kim Bảo T nhiều lần.
Không ch những hiện vật mà tư liệu Hán Nôm có đóng dấu Ngọc Tỷ thời Nguyễn cho
đến nay còn li quá ít, kho Châu bản triều Nguyễn phong phú đa dạng như vậy mà cũng
không có hình dấu Ngọc T nào. Do đó vic giới thiệu Ngọc Tỷ chúng tôi chỉ căn ctrên
các bộ chính sử, một số tư liệu có ghi về Kim ngọc Bảo Tỷ và chyếu dựa vào cuốn Cơ
mật viện túc trình, và bKhâm định Đi Nam hội đin sự lệ.
Ngọc Tỷ được coi là cnhất thời Nguyễn mà thực chất nó được làm từ thời vương triều
trước là Vn thọ vô cương 萬壽無彊. Đây là Ngọc T rất đẹp sắc xanh biếc, mặt dấu
khc 4 chữ Trin Vạn thọ vô cương. Ngọc Tỷ này do mt người đào đt đụng phi đem
dâng vua, Minh Mnh cùng triều thần mng rỡ, lp tức xuống chỉ cho dùng Ngc T này
đóng trên các ân chiếu cáo văn khánh tiết trong dịp lễ Vạn thọ, đồng thờing là nhân
dp lmừng thọ của nhà vua.
Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) nhà vua cho chạm khắc ấn ngọc khác bng ngọc trắng
với hình thnúm cm hình hai con rng, cao 9 phân vuông 2 tấc 1 phân, dày 1 tấc, mặt
du khắc 4 chữ Trin Hoàng đế chi t 皇帝之璽 (Ngc Tỷ của Hoàng đế). Ngọc T này
dùng đóng trên các chiếu văn ban trong dịp cải niên hiu, đại xá thiên hạ, ban ơn nhân
ngày lễ lớn cho toàn dân và ra ơn ban sắc thư cho ấn quan trong kinh ngoài tỉnh.
Năm Minh Mệnh thứ 18 (1837) nhân li có ngọc trắng, Minh Mnh sai làm Ngọc Tỷ,
núm chạm hình con rồng cuốn, cao 1 tấc 7 phân 1 ly, vuông 2 tấc 3 phân, dày 3 phân.
Mặt dấu khắc 4 chữ Trin Hành tại chi t 行在之 (Ngọc tỷ của nơi hành ti vua) dùng
đóng trên các bài huấn dụ hoặc sắc thư trong thời k tuần thú các địa phương ở hành tại
của vua.
Vào năm Minh Mệnh thứ 20 (1839) khi đổi quốc hiệu là “Đại Nam” lại được ngọc biếc
quý vua Minh Mnh xuống dụ cho khắc ấn ngọc, núm chạm hình rng, cao 2 tấc 4 phân
vuông 2 tấc 9 phân, dày 1 tấc 2 phân 3 ly. Mặt dấu khắc 6 chữ Trin Đại Nam thiên tchi
t 大南天子之璽 (Ngc Tỷ của Thiên tnước Đại Nam). Ngọc T này dùng đóng trên
các văn kiện ban sắc thư cho người nước ngoài, và khi vua đi tuần thú xem xét các địa
phương.
Năm 1841 Thiệu Tr lên ngôi, tuân thủ triệt để quy chế về Kim Ngọc Bảo Tỷ của vua
cha. Ngay năm này vào mùa đông tng 11 nhà vua sai đúc Kim Bảo bằng vàng mưi,
cao 1 tấc 4 ly, dày 3 phân 1 ly, núm ấn đúc hình rồng cuốn, khuôn dấu hình tn. Đường
kính dấu 1 tấc 4 ly, khắc 4 chữ Trin Thiệu tr thần hàn 紹治宸翰 (Văn từ ở cung vua
Thiệu Trị). Kim Bảo này ng đóng trên các chỉ dụ của vua viết bằng son.
Ba năm sau tức năm 1844, nhân có hai viên ngọc biếu Thiệu Tr cho chạm khắc 2 Ngọc
T đều núm hình 2 con rồng cuốn. Quả lớn cao hai tấc dầy 1 tấc, dấu hình vuông 2 tấc 4
phân bên trong khắc 6 chữ Triện Đại Nam hoàng đế chi t 大南皇帝之璽. Ngc Tỷ này
dùng đóng trên các văn kiện ban sắc thư cho người nước ngoài khi vua đi tuần thú
xem xét các địa phương.
Quả thứ hai nhỏ hơn, cao 1 tấc 6 phân 5 ly, dầy 8 phân, dấu vuông 1 tấc 8 phân 9 ly, khắc
4 chữ Triện Thần hàn chi t 宸翰之璽 y như Kim Bảo Thiệu Trị thần hàn ở trên, những
văn bản và chỉ dụ của vua viết bằng chữ son đều dùng Ngọc Tỷ này.
Ngọc Tỷ quí và lớn nhất triều Nguyễn là T Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc t
大南受天永命傳國璽. Sử cũ ghi li năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) có người dâng vua một
viên ngọc cực lớn,là sản vật của núi ngọc huyn Hòa Đin vùng đất Quảng. Thiệu Tr
mừng rỡ sai quan Hữu tư giũa thành Ngc Tỷ, một năm sau t xong. Núm ấn làm theo
hình rng uốn khúc, cao hơn 3 tấc 2 phân, vuông 2 tấc 1 phân, tổng số vuông cao làm
tnh quy tắc tượng trưng về thiên thành địa bình. Sau đó việc khắc chữ Triện vào Ngc
T cũng phải theo nghi lễ: chọn ngày tốt (15 tháng 3) vua Thiệu Trị thân làm lễ Đại tvà
khc 9 chữ Trin: Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ[174] lên mặt ấn ngọc. Lời
dụ sau của Thiệu Tr năm 1847 cho ta thấy được sự tồn tại của Ngọc Tỷ gắn bó mật thiết
với vương triều Nguyễn mang tính chất truyn quc kế thừa:
Nay gặp tiết Vạn thọ, Ngọc Tỷ đã làm xong, kính lấy mng 1 tháng này sm sửa l
nghi ta thân nâng Ngc T kính cáo tổ miếu, rồi kính để ở cung Càn thành, cùng n
truyn quốc đều long trọng, kéo dàinghiệp mở mang khó nhọc, gigìn cũng không
phải là dễ. Phải nghĩ lo theo, cố công tiếp nối. Phải cẩn thận từ trước để trọn vẹn về sau,
nên giữ đầy đặn mà được yên ổn, may ra sự nghiệp lớn lao giđược mãi mãi, mà truyền
cho con cháu mn đời thì tốt lắm !…”[175].
Ngọc Tỷ này được dùng đóng trên nhng bản sắc mệnh ban cho các nước như chư hầu,
những việc ban bố cho thiên hạ, nó được coi trọng và bảo vệ như Kim Bảo truyền quốc
Đại Việt quốc Nguyn chúa vĩnh trấn chi bảo.
Xin giới thiệu hình dấu mt Ngọc Tỷ trên văn bản Hán Nôm còn lưu giđến nay. Đó là
bản phúc thư của vua Tự Đức gửi cho Hoàng đế Pháp vào ngày 28 tháng 11 năm Tự Đức
thứ 12 (1859)[176]. Phn đầu trang giấy 2 chữ “Túc phục” 肅復 nghĩa là kính phúc
đáp. Dưới sát chữ “phục” là dấu Ngọc Tỷ hình vuông, bên trong dấu là 6 chữ Trin chia
làm 3 hàng Đại Nam hoàng đế chi t 大南皇帝之璽 (Ngọc Tỷ của Hoàng đế Đại Nam).
Tiếp bên dấu là các dòng ch“Đại Nam quốc hoàng đế - Túc phục - Đại phú lãng sa
quc hoàng đế…“ (Hoàng đế nước Đại Nam kính phúc đáp Hoàng đế nước Đại Pháp…).
(H.108 a, b)
Ngoài số Ngọc Tỷ quí trình bày ở trên, triều Nguyễn còn làm ra mt số Ngọc Tỷ khác
dùng ngoài ý nghĩa quốc gia trọng đại, số Ngọc Tỷ này được ghi trong Khâm định Đại
Nam hi điển sự lệ và Cơ mật viện túc trình:
Ấn ngọc biếc có 3 cái: Phong cương vạn cổ túy ngọc tỷ, Thiên địa tâm, Ký thọ vĩnh
xương. Ấn ngọc trắng 4 cái là: Khâm minh n tứ, Thể thiên hành kin, Tuân triết văn
minh và Khuê bích lưu quang. 6 ấn ngọc tốt là: Cu đạo hóa thành, Tân hựu nhật tân, Kỷ
vương tứ phương và Vân hán chương thiên[177].
Sách Cơ mật vin túc trình còn bổ sung số lượng Ngọc Tỷ mà chính sử không ghi. Đó là
hai Ngọc T của Hoàng đế Khải Định Khải Định hoàng đế ngọc t 啓定皇帝玉璽, Khải
Định hoàng đế chi t 啓定皇帝之璽.
Đời Thiệu Trị mt quả ấn tuy không phải là n ngọc ấn vàng, nhưng lại có ý nghĩa về
mặt lịch sử, đó là Bảo ấn Hoan phụng ngũ đại đồng đường nhất thống Thiệu Tr chi bảo.
Hiện nay Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Ni còn lưu giữ được nguyên vẹn Bảo ấn ngà này.
Ấn có ký hiệu Lsb - 62 - 78 chất liệu bằng ngà, núm trên chạm hình con rng ở thế đứng,
tn rng cuộn ln mây, nửa non phn dưới ấn làm theo khuôn tròn. Dấu hình tròn có
đường kính 10,8cm, viền vòng ngoài rng 5cm khắc hình lưỡng long chầu nhật nguyệt.
Vòng trong gồm 12 chữ Triện Hoan phng ngũ đại đồng đường nhất thống thiệu tr chi
bo 歡奉五大同堂一統紹治之寶. Nhân lngũ đại đồng đường năm 1846-1847, Thiệu
Trị cho làm Bảo ấn này để ghi lại niềm vui của nhà vua và cả vương triều. (H. 109 a,b)
Tự Đức lên ngôi cui năm 1847 vẫn ginguyên qui chế về Kim Ngc Bảo Tỷ của cha
ông mình. Ngay thời gian này nhà vua cho đúc ấn vàng Đại Nam hiệp k lịch chi bảo
大南協紀曆之寶[178] có hình thể hai đài chng, núm hình rng bò xổm, vuông 2 tấc 6
phân 1 ly, y 3 phân 2 ly làm theo mẫu ấn dấu làm lịch trước. Kim Bảo nàyng đóng
trên các bản lịch, bản chính c của vương triều.
Ở ngôi Hoàng đế, Tự Đức còn làm thêm một số Bảo ấn khác cũng được coi là có giá tr
bổ sung cho số lượng Kim Ngọc Bảo Tỷ thời Nguyễn, tiêu biểu là 2 Bảo ấn Tự Đức ngự
lãm chi bảo và TĐức thần hàn.
Chuyến công tác vào Huế năm 1989 chúng tôi được Ban Quản lý di tích Huế cho tham
quan chụp ảnh, in rập li số ấn trin ở các lăng tẩm và di tích c đô. Tại lăng Tự Đức còn
giữ được mt số ấn và hp đựng ấn, đặc biệt là ấn Tự Đức ngự lãm chi bảo vẫn còn bo
quản được nguyên vẹn. Chất liệu ấn bằng ngà quí, núm ấn hình rng đứng, mặt dấu hình
chnhật, toàn chiều cao là 6,8cm. Dấu hình chữ nhật cỡ 6,0x7,5cm, viền ngoài khắc họa
tiết lưỡng long chầu nguyệt, 6 chữ Trin bên trong: Tự Đức ngự lãm chi bảo
嗣德御覽之寶 xếp theo 3 hàng (Bảo của vua Tự Đức ngự lãm). Bảo ấn nàyng đóng
trên các văn bản mà Nội các dâng trình vua trực tiếp xem xét. (H. 110 a,b)