
Ấn chương Việt Nam - Những quy định làm ấn,
kiềm, Quan phòng, Đồ ký của tướng tá quân đội
thời Nguyễn
Ấn, kiềm, Quan Phòng, Đồ ký của các tướng tá quân
đội Nguyễn được làm ra trên cơ sở những quy chế
chung về chất liệu hình thể, kích cỡ, kiểu chữ khắc và
quyền sử dụng. Những quy chế này được ban hành và
thực thi chủ yếu ở đời Minh Mệnh và Thiệu Trị. Giai
đoạn này và tiếp sau đó, binh chế quân đội vẫn giữ
nguyên cơ cấu cũ nên quy chế về ấn triện tương đối
ổn định.
Khi lên ngôi Minh Mệnh rất chú trọng đến việc đúc
ấn và sử dụng ấn trong quân đội. Sử cũ ghi: “Minh
Mệnh năm đầu chỉ dụ: Chuẩn cho đúc các quả ấn
bằng đồng cho: Tả Thống chế quân Thị trung, Hữu
Thống chế quân Thị trung, Thống chế dinh Thần cơ

quân Thị nội, Thống chế dinh Huyền vũ quân Thị nội
đều vuông 1 tấc 7 phân 6 ly, dầy 3 phân 2 ly, núm
chạm con sư tử, dây đeo ấn màu xanh”[211].
Một loạt ấn, Quan phòng được làm tiếp theo - Chức
Giám Thần sách quân, Chưởng Tượng quân, Chưởng
Hậu quân được cấp Quan phòng bằng bạc núm hình
kì lân. Thống chế Ngũ dinh, phó tướng Ngũ quân,
Thống chế Kinh tượng dùng ấn chứ không dùng
Quan phòng chức vụ. Quan phòng của năm dinh
Thần sách, Đô thống chế và Thống chế 4 dinh: Thần
cơ, Tiên phong, Long vũ, Hổ oai cùng Quan phòng
của Tả Hữu Đô thống quân Vũ lâm đều làm núm
hình sư tử. Chức Tả, Hữu Thống chế, Chưởng Trung
quân, Tiền quân, chưởng Thủy quân, Thống chế các
quân, các dinh: Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu dùng
Quan phòng như trên. Chức quyền thự như “Thống
chế thự tướng quân” thì dùng Quan phòng bằng ngà,
kích thước bằng dấu của chức Chưởng Tiền quân

v.v…
Năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) nhà vua lại cho đúc ấn
đồng cho Phó tướng Ngũ quân: Trung, Tiền, Tả,
Hữu, Hậu núm ấn làm hình con hổ, khắc 6 chữ Triện
(Mỗ) quân phó tướng chi ấn và ban cấp một kiềm ấn
bằng ngà. Đồng thời chế tiếp Quan phòng chức vụ
cho các Phó tướng trên, cũng khắc 6 chữ Triện: (Mỗ)
quân phó tướng quan phòng. Sau đó đúc Quan phòng
bằng đồng, kiềm ấn bằng ngà cho các đơn vị Hùng
cự, Ngũ kích, các vệ cơ Tượng binh.
Năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) nhà vua lệnh chọn
ngày tốt để đúc ấn cho tướng lĩnh cao cấp. Ấn Thảo
nghịch đại tướng quân vuông 2 tấc 3 phân, dầy 6
phân 3 ly, ấn Thảo nghịch hữu tướng quân, ấn Thảo
nghịch tả tướng quân, ấn Bình nam tướng quân, các
ấn Trấn tây, An viễn và Phủ biên tướng quân đều làm
hai tầng, núm đúc hình con hổ, vuông 2 tấc 1 phân,

dầy 5 phân 4 ly. Mỗi ấn kèm một Kiềm ấn bằng ngà.
Riêng ấn Trấn tây tướng quân, ấn An viễn tướng
quân và Phủ biên tướng quân đến năm Minh Mệnh
thứ 15 (1834) được đúc một ấn nữa bằng bạc, hình
thức như cũ, cùng kiềm ấn giao cho Nội các giữ
phòng sử dụng[212].
Từ năm Minh Mệnh thứ 9 (1828) đến hết triều Minh
Mệnh nhà Nguyễn đã nhiều đợt cho chế tác ấn kiềm,
Quan phòng cho tướng tá các đơn vị như Thống chế
bốn dinh, Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu, Đô thống ngũ
quân; Đề đốc, Lãnh binh, Phó Lãnh binh các tỉnh;
Kinh kỳ Thủy sư Đô thống và Kinh kỳ Thủy sư Đô
đốc v.v…
Đời Thiệu Trị có bổ sung thêm số ít ấn triện, Quan
phòng như việc đặt chức chuyên viên Thống quản
của dinh Kỳ vũ và ban cấp cho một ấn Quan phòng
bằng đồng, một Kiềm ấn ngà để dùng. Chức Thống

quản cho xứ Thị vệ dùng ấn Quan phòng bằng bạc
khắc Thống quản thị vệ quan phòng.
Những đơn vị cấp cơ sở của quân đội như các Vệ nhỏ
thuộc quân Thần sách và hơn 100 Cơ chính quy cùng
Vệ, Cơ của các quân ở kinh, thành, dinh, trấn, (tỉnh)
đều được cấp một Đồ ký bằng đồng, núm ấn hình tay
quai (Vòng tròn) một kiềm ấn bằng gỗ để dùng. Các
hiệu Thuyền của Thủy quân như Nam Hưng, Phấn
Bằng, được cấp Đồ ký bằng ngà, khắc chữ Triện. Còn
hiệu Thuyền Ba Hải thì dùng Đồ ký ngà, khắc chữ
Chân.
Hiện tượng hai kiểu chữ Hán (Chữ Triện và chữ
Chân) cũng được khắc trong một quả ấn. Đó là Đồ ký
của các Vệ thuộc Kinh tượng và các ban Túc trực,
Thường trực của Cẩm y vệ, Đồ ký làm bằng đồng
mẫu giống như các Vệ, Cơ trên.

