intTypePromotion=3

Ảnh hưởng của một số loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata Bleeker, 1852) giai đoạn cá hương

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
28
lượt xem
1
download

Ảnh hưởng của một số loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata Bleeker, 1852) giai đoạn cá hương

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá bống tượng giai đoạn cá hương được thực hiện trong 8 tuần. Cỡ cá sử dụng cho thí nghiệm là 1,08 ± 0,32g; 4,713 ± 0,374cm/con, cá được cho ăn 2 lần/ngày. Thí nghiệm được tiến hành với 3 nghiệm thức thức ăn là trùn chỉ, cá tạp và thức ăn chế biến, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần với mật độ 30 con/bể (100L). Kết quả thí nghiệm cho thấy thức ăn trùn chỉ có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống ở cá bống tượng giai đoạn cá hương.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ảnh hưởng của một số loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata Bleeker, 1852) giai đoạn cá hương

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 1/2017<br /> <br /> THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC<br /> <br /> ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI THỨC ĂN ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG<br /> VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ BỐNG TƯỢNG<br /> (Oxyeleotris marmorata Bleeker, 1852) GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG<br /> EFFECTS OF THREE DIFFERENT FEED TYPES ON GROWTH AND SURVIVAL RATE<br /> OF MARBLE GOBY (Oxyeleotris marmorata Bleeker, 1852) JUVENILES<br /> Phạm Thị Anh1<br /> Ngày nhận bài: 10/11/2015; Ngày phản biện thông qua: 08/6/2016; Ngày duyệt đăng: 10/3/2017<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá bống<br /> tượng giai đoạn cá hương được thực hiện trong 8 tuần. Cỡ cá sử dụng cho thí nghiệm là 1,08 ± 0,32g;<br /> 4,713 ± 0,374cm/con, cá được cho ăn 2 lần/ngày. Thí nghiệm được tiến hành với 3 nghiệm thức thức ăn là trùn<br /> chỉ, cá tạp và thức ăn chế biến, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần với mật độ 30 con/bể (100L). Kết quả thí<br /> nghiệm cho thấy thức ăn trùn chỉ có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống ở cá bống tượng giai đoạn<br /> cá hương. Cá cho ăn thức ăn trùn chỉ có tốc độ tăng trưởng cao nhất với khối lượng cá khi hết thúc thí nghiệm<br /> đạt giá trị trung bình là 1,97 ± 0,45(g); khối lượng cá gia tăng đạt 82,4 ± 4,21% và tỷ lệ sống đạt 86,67%.<br /> Không có sự sai khác về tỷ lệ sống giữa nghiệm thức trùn chỉ và cá tạp (86,67 ± 12,34% và 90 ± 5,77%), tuy<br /> nhiên có sự sai với nghiệm thức thức ăn chế biến.<br /> Từ khóa: cá bống tượng, thức ăn, tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng<br /> ABSTRACT<br /> Experiments on effects of several different foods on the growth and survival rate of marble goby fish were<br /> conducted during eight weeks. The mean weight and length of fish used for the experiments was 1.08 g ± 0.32g;<br /> 4.713 ± 0.374cm/fish respectively and they were fed twice daily. Three dietary treatments were applied<br /> including tubifex, trash fish and mixed diet, and each had three replicates (30 fish per tank). The results of<br /> this study showed that earthworm dietary treatment only affected growth and survival rate at late larval<br /> stages. The young marble goby fed on tubifex showed the highest growth at the end of the treatment:<br /> 1.97 ± 0.45 (g); weight gain: 82.4 ± 4.21% and the survival rate of 86,67%. Although the tubifex and trash fish<br /> treatment showed no differences in survival of the goby fish, they were significantly different from the mixed diet<br /> treatment.<br /> Keywords: goby fish, mixed diet, survival rate, growth rate<br /> 1. ĐẶT VẤN ĐẾ<br /> Cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata<br /> Bleeker, 1852) là loài đặc trưng của vùng nhiệt<br /> đới, chúng có thể thích nghi với cả môi trường<br /> nước ngọt và nước lợ (với độ mặn từ 4-15 ppt).<br /> <br /> 1<br /> <br /> Cá có sức sống cao, tương đối dễ nuôi và là<br /> một trong những loài cá nước ngọt có giá trị<br /> kinh tế cao. Trong năm 2006, cá bống tượng<br /> loại 1 (600-800 g/con) có giá lên tới 350.000<br /> đ/kg. Đến năm 2014, giá cá bống tượng trên<br /> <br /> Viện Nuôi trồng thủy sản- Trường Đại học Nha Trang<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 9<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> thị trường vẫn giữ ở mức 320.000 đ/kg, riêng<br /> ở Cà Mau giá cá bống tượng thương phẩm gia<br /> tăng mạnh, đạt mức 480.000 đến 490.000đ/kg<br /> đối với cá thương phẩm 600 - 800g/con, cá<br /> có kích thước lớn từ 1kg/con trở nên có giá<br /> 530.000 đ/kg [12, 13, 14].<br /> Cá bống tượng là loài có tốc độ tăng<br /> trưởng chậm, đặc biệt ở giai đoạn dưới 100g.<br /> Từ giai đoạn cá bột phải mất 2 - 3 tháng nuôi<br /> cá mới đạt chiều dài khoảng 3 - 4cm, muốn cá<br /> đạt kích thước 100 g/con thì cần thêm 4 - 5<br /> tháng nữa [1, 13].<br /> Hiện nay, đã có rất nhiều các cơ sở cho<br /> sinh sản nhân tạo thành công cá bống tượng<br /> và đạt được những kết quả nhất định [1, 4],<br /> tuy nhiên số lượng con giống vẫn chưa phục<br /> vụ đủ cho nhu cầu nuôi cá bống tượng của<br /> người dân. Tỷ lệ sống của cá bống tượng ở<br /> giai đoạn từ cá bột đến cá giống rất thấp, tỷ lệ<br /> sống của cá trong giai đoạn này thường dao<br /> động từ 25 đến 35% [1]. Nguyên nhân chính<br /> của tỷ lệ sống thấp đó là kích cỡ miệng của<br /> cá rất nhỏ từ 0,08 đến 0,2 mm [7], chúng chỉ<br /> ăn các loại động vật phù du có kích thước nhỏ<br /> và những loại mồi hiện diện trong tầm mắt<br /> chúng, chính vì vậy mà việc sản xuất giống<br /> gặp nhiều khó khăn trong việc bổ sung dinh<br /> dưỡng thức ăn cho cá.<br /> Có rất nhiều những nghiên cứu về dinh<br /> dưỡng và thức ăn cho cá bống tượng bột như<br /> <br /> Số 1/2017<br /> Amornsakun (2002, 2003), Abol-Munafi (2002,<br /> 2006), Dương Tấn Lộc (2002), Bùi Minh Tâm và<br /> Lê Như Xuân (1995)... tuy nhiên những nghiên<br /> cứu này chủ yếu chỉ tập trung trên cá bống<br /> tượng từ 0 đến 30 ngày tuổi, những nghiên<br /> cứu về thức ăn trên cá hương còn rất hạn chế.<br /> Theo Bùi Minh Tâm và Lê Như Xuân (1995),<br /> khi tiến hành thí nghiệm với các loại thức ăn<br /> khác nhau cho cá 30 ngày tuổi thì nghiệm thức<br /> cho ăn thức ăn trùn chỉ và nghiệm thức cho ăn<br /> thức ăn trùn chỉ kết hợp thức ăn viên cho tốc<br /> độ tăng trưởng cao nhất (1,141g lên 4,586g)<br /> sau 60 ngày theo dõi. Ngoài ra cũng theo các<br /> tác giả này khi theo dõi cá bống tượng hương<br /> 30 ngày tuổi đến 60 ngày thì thấy cá cho ăn cả<br /> ngày lẫn đêm cho tốc độ tăng trưởng cao hơn<br /> so với cá chỉ cho ăn ngày hoặc chỉ cho ăn đêm.<br /> II. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu<br /> Đối tượng nghiên cứu: Cá bống tượng<br /> (Oxyeleotris marmorata Bleeker, 1852), cá<br /> thí nghiệm được 2 tháng tuổi với khối lượng<br /> và kích thước trung bình là 1,08 ± 0,32g và<br /> 4,713 ± 0,373cm. Thí nghiệm được bố trí thực<br /> hiện tại Trại thực nghiệm Nuôi và sản xuất<br /> giống nước ngọt Ninh Phụng - Trường Đại học<br /> Nha Trang từ 2/3/2015 đến 2/5/2015.<br /> <br /> Hình 1. Cá bống tượng thí nghiệm và hệ thống bể nuôi<br /> <br /> 2. Phương pháp nghiên cứu<br /> 2.1. Bố trí thí nghiệm<br /> Thí nghiệm được bố trí với 3 nghiệm thức<br /> thức ăn (NTTA) khác nhau là trùn chỉ, thức ăn chế<br /> <br /> 10 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> biến và thức ăn cá tạp, mỗi nghiệm thức được<br /> lặp lại 3 lần. Thí nghiệm được bố trí trong các bể<br /> composit có thể tích 100L/bể, mật độ 30 cá thể/bể.<br /> Thí nghiệm được tiến hành trong 8 tuần.<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 1/2017<br /> <br /> 2.2. Thức ăn thí nghiệm<br /> Thức ăn chế biến: bao gồm 70% cá tạp xay<br /> nhuyễn + 30% bột đậu nành, vitamin premix,<br /> khoáng. Nguyên liệu được trộn đều, sau đó<br /> được hấp chín và để nguội trước khi cho ăn.<br /> Thức ăn cá tạp được băm nhỏ vừa kích cỡ<br /> miệng cá trước khi cho ăn.<br /> Thức ăn trùn chỉ là thức ăn sống, trước khi<br /> cho ăn tiến hành rửa qua nước muối 3 - 5 ppm<br /> trong vòng 5 phút, sau đó cho cá ăn.<br /> 2.3. Chăm sóc và quản lý<br /> Cá được cho ăn 2 lần/ngày vào 8 giờ sáng<br /> và 17 giờ chiều với khẩu phần 7 - 10% khối<br /> lượng thân. Tuy nhiên trong quá trình cho ăn<br /> thường xuyên phải theo dõi để điều chỉnh lượng<br /> thức ăn cho phù hợp. Sau khi ăn 1 giờ tiến hành<br /> siphon loại bỏ chất thải, thức ăn dư thừa và cấp<br /> lại lượng nước đã mất trong quá trình siphon.<br /> Các thông số môi trường như nhiệt độ, oxy, pH,<br /> NH3/NH4+ được kiểm tra đo đạc thường xuyên<br /> và duy trì ngưỡng thích nghi của cá. Khối lượng<br /> và chiều dài của cá được xác định sau khi kết<br /> thúc thí nghiệm. Kiểm tra tỷ lệ sống và quan sát<br /> tình trạng sức khỏe của cá.<br /> <br /> 3. Các chỉ tiêu theo dõi<br /> Khối lượng cá ban đầu (start weight, WS)<br /> <br /> được xác định khi bố trí thí nghiệm. Khi kết thúc<br /> thí nghiệm cân từng cá thể để xác định khối<br /> <br /> lượng cuối (End weight-WE). Các số liệu thu<br /> <br /> dùng để tính toán tỷ lệ sống (Survival rate-SR);<br /> <br /> mức gia tăng khối lượng (Weight Gain -WG);<br /> tốc độ tăng trưởng theo ngày (Daily Growth<br /> Rate-DGR; tốc độ tăng trưởng đặc biệt<br /> (Specific growth rate-SGR); hệ số chuyển hóa<br /> thức ăn (FCR).<br /> 4. Phương pháp xử lý số liệu<br /> Các giá trị trung bình và độ lệch chuẩn<br /> được xử lý trên chương trình Microsoft<br /> excel 2007. So sánh giá trị trung bình giữa các<br /> nghiệm thức dựa vào phép phân tích ANOVA<br /> và phép thử Turkey với mức ý nghĩa

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản