intTypePromotion=1

Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật

Chia sẻ: Trần Văn Lực | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:36

0
117
lượt xem
38
download

Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong thời đại ngày này nay internet đã rất trở nên quen thuộc và là một công cụ hữu ích để một đất nước giới thiệu hình ảnh hay đơn giản chỉ là một trang web cá nhân của một ai đó giới thiệu về mình. Tất cả đã kéo theo sự phát triển không ngừng của các ứng dụng web. Và dần dần khái niệm ứng dụng web đã trở nên phổ biến.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật

  1. Báo cáo Ứng dụng web và vấn đề bảo mật
  2. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu LỜI MỞ ĐẦU Trong thời đại ngày này nay internet đã rất trở nên quen thuộc và là một công cụ hữu ích để một đất nước giới thiệu hình ảnh hay đơn giản chỉ là một trang web cá nhân của một ai đó giới thiệu về mình. Tất cả đã kéo theo sự phát triển không ngừng của các ứng dụng web. Và dần dần khái niệm ứng dụng web đã trở nên phổ biến .Khi mà trên internet ,ứng dụng web đã trở lên phổ biến ,ứng dụng một cách rộng rãi thì các cuộc tấn công ứng dụng web cũng phát triển hết sức phức tạp. Điều này đã đặt ra vấn đề cấp thiết cần làm như thế nào để bào đảm an toàn thông tin cho ứng dụng web, thông tin của người sử dụng. Các khái niệm chuyên môn về ứng dụng web và tấn công ứng dụng web cũng dần trở nên phổ biến hơn trong các tài liệu chuyên ngành . Các công cụ hỗ trợ người lập trình web, người quản trị mạng cũng xuất hiện giúp tìm kiếm lỗ hổng của ứng dụng web nhưng nó không theo kịp sự phát triển nhanh đến mức chóng mặt theo xu hướng nhanh hơn đẹp hơn của các ứng dụng web, và tất nhiên nó không thể ngăn chặn hoàn toàn các cuộc tấn công ứng dụng web, khi mà các cuộc tấn công ngày càng đa dạng khai thác triệt để những lỗi của ứng dụng web, của người quản trị, hay người lập trình ứng dụng web. Thống kê cho thấy 75% cuộc tấn công internet là tấn công ứng dụng web,nó gây ra những thiệt hại vô cùng to lớn, vì vậy việc tìm hiểu về tấn công ứng dụng web là rất cần thiết nhằm có cách phòng chống tấn công và bảo mật ứng dụng web hiệu quả trở thành một yêu cầu cấp thiết… Do đây là một xu thế tất yếu của thời, nên việc tìm hiểu và nghiên cứu về ứng dụng web sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà lập trình web mới, hay các quản trị viên mới còn ít kinh nghiệm trong việc quản trị hệ thống mạng của mình, phòng tránh , hay khắc phục những lỗi của ứng dụng web. Bài tập lớn này được thực hiện nhằm mục đích giới thiệu rõ hơn về ứng dụng web nhằm tránh những nhầm lẫn và đồng thời tìm hiểu về những tấn công ứng dụng web phổ dụng nhằm có cách phòng chống ,bảo mật cho ứng dụng web hợp lý. MỤC LỤC SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 2
  3. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu LỜI MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG WEB ...................... 5 1. Khái niệm về ứng dụng web (website widget hay web application) ............... 5 2. Cấu trúc, chức năng, giao diện & nguyên tắc hoạt động cơ bản của ứng dụng web .................................................................................................................... 6 2.1 Cấu trúc cơ bản của một ứng dụng ........................................................... 6 2.2 Giao diện của một ứng dụng web ............................................................. 7 2.3 Chức năng cơ bản của các ứng dụng web ................................................. 7 2.4 Nguyên tắc hoạt động của một ứng dụng web .......................................... 8 2.5 Vấn đề bảo mật ứng dụng web ................................................................10 CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ CÁC THUẬT NGỮ VÀ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ..................................................................................................................12 1. Các khái niệm và thuật ngữ thường dùng ......................................................13 1.1 Các khái niệm chung về ứng dụng web ...................................................13 1.2 Thuật ngữ ,khái niệm về các công cụ liên quan đến ứng dụng web .........14 1.3 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến tấn công và bảo mật ứng dụng web ...............................................................................................................16 1.3.1 Khái niệm hacker .................................................................................16 1.3.2 HTTP Hearder ......................................................................................17 1.3.3 Session .................................................................................................17 1.3.4 Cookie ..................................................................................................18 CHƯƠNG 3: CÁC KỸ THUẬT TẤN CÔNG ỨNG DỤNG WEB CƠ BẢN .......18 I. LÝ THUYẾT.....................................................................................................18 1. Kiểm soát truy cập ( Web Access Control ) ...................................................18 2. Chiếm hữu phiên làm việc ( Session Management ) ......................................19 2.1 Ấn định phiên làm việc ( Session Fixation ) ............................................19 2.2 Đánh cắp phiên làm việc .........................................................................19 SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 3
  4. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu 3. Lợi dụng thiếu sót trong việc kiểm tra dữ liệu hợp lệ ( Input validation ) ......19 3.1 Kiểm tra tính đúng đắn của dữ liệu bằng ngôn ngữ phía trình duyệt ........19 3.2 Tràn bộ đệm ( Buffer OverFlow ) ............................................................19 3.3 Mã hóa URL ( URL Encoding ) ..............................................................19 3.4 Kí tự Meta ( Meta – characters sử dụng những ký tự đặc biệt ) ...............20 3.5 Vượt qua đường dẫn ( Path Traversal ) ....................................................20 3.6 Chèn mã lệnh thực thi trên trình duyệt nạn nhân ( Cross – Site Scripting) ......................................................................................................................20 3.7 Thêm câu lệnh hệ thống ( OS Command Injection ) ................................20 3.8 Kí tự rỗng ( Null Characters ) ..................................................................20 3.9 Chèn câu truy vấn SQL ( SQL Injection )................................................21 3.10 Ngôn ngữ phía máy chủ ( Server side includes )....................................21 3.11 Thao tác trên tham số truyền ( Parameter manipulation ).......................21 3.12 Từ chối dịch vụ ( DOS ) ........................................................................21 II. Các cách triển khai tấn công ứng dụng web ......................................................21 1. Thao tác trên tham số ....................................................................................21 1.1 Thao tác trên URL ...................................................................................22 1.2 Thao tác trên biến ẩn form.......................................................................22 1.2.1 Khái niệm .............................................................................................22 1.2.2 Một số biện pháp khắc phục .................................................................22 2. Kỹ thuật tấn công SQL Injection ...................................................................23 2.1 Kỹ thuật SQL Injection đơn giản nhất .....................................................23 2.2 Tấn công dựa vào câu lệnh Select ...........................................................24 2.3 Tấn công dựa vào lệnh Having ................................................................24 2.4 Tấn công dựa vào câu lệnh kết hợp Union ...............................................24 2.5 Tấn công dựa vào lệnh Insert ..................................................................25 2.6 Tấn công dựa vào Stored Procedure ........................................................25 3. Kỹ thuật tấn công gây tràn bộ đệm và từ chối dịch vụ ( Buffer overflow) .....25 SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 4
  5. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu 3.1 Khái niệm................................................................................................26 3.2 Các đối tượng bị ảnh hưởng bởi kiểu tấn công này ..................................26 3.3 Các kiểu tấn công Dos .............................................................................27 3.3.1 Kiểu tấn công thứ nhất .........................................................................27 3.3.2 Kiểu tấn công thứ hai ...........................................................................27 3.3.3 Kiểu tấn công vào tài nguyên hệ thống .................................................28 3.4 Cách phòng chống ...................................................................................28 CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU MỘT SỐ CÔNG CỤ THÔNG DỤNG TRONG KỸ THUẬT TẤN CÔNG VÀ BẢO MẬT ỨNG DỤNG WEB...................................29 1. Tool Scanning...........................................................................................29 2. Công cụ bắt gói tin....................................................................................31 3. Công cụ dùng để tấn công dos ứng dụng web ...........................................34 CHƯƠNG 4: PHẦN KẾT LUẬN .........................................................................35 TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................36 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG WEB 1. Khái niệm về ứng dụng web (website widget hay web application) Mang tính kỹ thuật nhiều hơn có thể giải thích các ứng dụng Web truy vấn máy chủ chứa nội dung (chủ yếu trên cơ sở dữ liệu lưu trữ nội dung) và tạo tài liệu Web động để phục vụ yêu cầu của máy khách (chính là người dùng website). Tài liệu được tạo trong kiểu định dạng tiêu chuẩn hỗ trợ trên tất cả mọi trình duyệt (như HTML, XHTML). SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 5
  6. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu JavaScript là một dạng script client-side cho phép yếu tố động có ở trên từng trang (như thay đổi ảnh mỗi lần người dùng di chuột tới). Trình duyệt Web chính là chìa khóa. Nó dịch và chạy tất cả script, lệnh… khi hiển thị trang web và nội dung được yêu cầu. Dưới góc độ chức năng, ứng dụng Web là các chương trình máy tính cho phép người dùng website đăng nhập, truy vấn vào ra dữ liệu qua mạng Internet trên trình duyệt Web yêu thích của họ. Dữ liệu sẽ được gửi tới người dùng trong trình duyệt theo kiểu thông tin động (trong một định dạng cụ thể, như với HTML thì dùng CSS) từ ứng dụng Web qua một Web Server. Để hiểu hết được ý nghĩa của khái niệm này chúng ta cùng đi sâu vào tìm hiểu tiếp mô hình cấu trúc chức năng và nhiệm vụ của ứng dụng web. 2. Cấu trúc, chức năng, giao diện & nguyên tắc hoạt động cơ bản của ứng dụng web 2.1 Cấu trúc cơ bản của một ứng dụng Mô hình của một ứng dụng web đơn giản chính là mô hìnhMVC (Model - View - Controller). Tầng Model: chứa các code connect tới database,truy vấn và thêm xóa sửa dữ liệu. Tầng View: chứa các code tạo giao diện tương tác với người dùng, dữ liệu được vẽ ra nhu thế nào Tầng Controller: chứa các code điều khiển dòng dữ liệu (flow control), gắn kết tầng Mode và tầng View lại với nhau. Ứng dụng được chia thành các layer như thế sẽ tăng tính reuse và dễ dàng mở rộng. Chẳng hạn nếu chúng ta muốn ứng dụng có thể truy xuất trên di dộng, chúng ta chỉ cần tạo một tầng view mới riêng cho di động, tầng model và controller không thay dổi. Hay nếu chúng ta muốn thay đổi database, việc đó cũng dễ dàng hơn, chỉ cần ta tạo tầng model mới, phần view và controller không bị ảnh hưởng. Mô hình thể hiện quan hệ của ba lớp trong ứng dụng web: SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 6
  7. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu Hình 1: Mô hình 3 tầng của một wungs dụng web Còn đây là mô hình của một dịch vụ ứng dụng web: Hình2. Mô hình dịch vụ ứng dụng web đơn giản 2.2 Giao diện của một ứng dụng web Giao diện web đặt ra rất ít giới hạn khả năng người dùng. Thông qua Java, JavaScript, DHTML, Flash và những công nghệ khác, những phương pháp chỉ ứng dụng mới có như vẽ trên màn hình, chơi nhạc, và dùng được bàn phím và chuột tất cả đều có thể thực hiện được. Những kỹ thuật thông thường như kéo thả cũng được hỗ trợ bởi những công nghệ trên. 2.3 Chức năng cơ bản của các ứng dụng web Ứng dụng web phổ biến nhờ vào sự có mặt vào bất cứ nơi đâu của một chương trình. Khả năng cập nhật và bảo trì ứng dụng Web mà không phải phân phối và cài đặt phần mềm trên hàng ngàn máy tính là lý do chính cho sự phổ biến của nó. Ứng dụng web được dùng để hiện thực Webmail, bán hàng trực tuyến, đấu giá trực tuyến, wiki, diễn đàn SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 7
  8. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu thảo luận, Weblog, MMORPG, Hệ quản trị quan hệ khách hàng và nhiều chức năng khác.. Tất cả dữ liệu như vậy cần phải được đóng gói, lưu trữ, xử lý và truyền vận theo một cách nào đó, có thể sử dụng ngay hoặc vào một ngày nào đó sau này. Các ứng dụng Web, trong lĩnh vực đăng ký, đệ trình, truy vấn, đăng nhập, bán hàng và hệ thống quản lý nội dung chính là các website widget cho phép thực hiện tất cả công việc mong muốn. Web chính là là yếu tố cơ bản giúp doanh nghiệp tăng cường hình ảnh trực tuyến của mình trên thế giới mạng, tạo ra và duy trì nhiều mối quan hệ đem lại lợi nhuận lâu dài với khách hàng tiềm năng và khách hàng hiện tại. Website ngày nay khác xa so với kiểu đồ họa và văn bản tĩnh của thế kỷ mười chín hay thời kỳ trước đó. Các trang Web hiện đại cho phép người dùng lấy xuống nội dung động cá nhân hóa theo thiết lập và tham chiếu riêng. Hơn nữa chúng cũng có thể chạy các script trên máy khách, có thể “thay đổi” trình duyệt Internet thành giao diện cho các ứng dụng như thư điện tử, phần mềm ánh xạ tương tác (Yahoo Mail, Google Maps). Quan trọng nhất là website hiện đại cho phép đóng gói, xử lý, lưu trữ và truyền tải dữ liệu khách hàng nhạy cảm (như thông tin cá nhân, mã số thẻ tín dụng, thông tin bảo mật xã hội …) có thể dùng ngay hoặc dùng định kỳ về sau. Và, điều này được thực hiện qua các ứng dụng Web. Đó có thể là thành phần webmail (thư điện tử), trang đăng nhập, chương trình hỗ trợ và mẫu yêu cầu sản phẩm hay hoạt động mua bán, hệ thống quản lý nội dung, phát triển website hiện đại, cung cấp cho các doanh nghiệp phương tiện cần thiết để liên lạc với khách hàng tương lai và khách hàng hiện tại. 2.4 Nguyên tắc hoạt động của một ứng dụng web Trong dạng tính toán chủ-khách trước đây, mỗi ứng dụng có chương trình khách riêng của nó sẽ phục vụ như giao diện người dùng và phải được cài đặt riêng rẽ trên mỗi máy tính cá nhân của người dùng. Sự nâng cấp phần máy chủ của ứng dụng sẽ cần nâng cấp tất cả máy khách đã được cài trên mỗi máy trạm người dùng, thêm vào đó là chi phí hỗ trợ và giảm năng suất. SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 8
  9. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu Ứng dụng web linh hoạt tạo ra một loạt các tài liệu Web ở định dạng chuẩn được hỗ trợ bởi những trình duyệt phổ biến như HTML/XHTML. Ngôn ngữ kịch bản phía người dùng ở dạng ngôn ngữ chuẩn như JavaScript thường được thêm vào để có thêm những yếu tố động trong giao diện người dùng. Nói chung, mỗi trang Web đơn lẻ được gửi tới người dùng như một tài liệu ổn định, nhưng thứ tự các trang có thể cung cấp cảm giác trực quan, khi những gì người dùng nhập vào sẽ được trả về thông qua thành phần mẫu Web được nhúng vào trong đánh dấu trang. Trong quá trình giao dịch đó, trình duyệt Web sẽ thông dịch và hiển thị trang, và hoạt động như một người dùng chung cho bất kỳ ứng dụng Web nào. Theo mô hình MVC (Model - View - Controller). Hình 3. Mô tả hoạt động của một ứng dụng web Các bước hoạt động của một ứng dụng web đơn giản: Bước 1: Browser tạo một HTTP Request gửi tới ứng dụng web. Bước 2: Controller chính của Struts là class ActionServlet sẽ bắt request này, phân tích URL của nó, và dựa vào file struts-config.xml để gửi request này tới Action class tương ứng. SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 9
  10. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu Bước 3: Action class là một class của Struts Framework. Ứng dụng của chúng tathường extends từ class này và viết code để sử lý những business tương ứng. Chẳng hạn ta sẽ có một LoginAction để xử lý việc user login, logout. Bước 4: Action class có thể truy xuất, cập nhật database nếu cần thiết. Bước 5: Khi Action class thực hiện việc xử lý business xong, nó sẽ gửi yêu cầu forward/redirect, cùng với dữ liệu (nếu có) về controller. Bước 6: Controller chuyển control đến trang JSP tương ứng ở tầng view. Nếu trang JSP này có sử dụng dữ liệu, controller sẽ cung cấp cho nó (đây chính là dữ liệu mà action đã tạo ra và đua cho controller. Bước 7: Sau khi trang JSP đã chuẩn bị xong, Controller tạo một HTTP Response gửi về cho browser, để browser hiển thị ra màn hình. 2.5 Vấn đề bảo mật ứng dụng web Khi mà ứng dụng web phát triển rất nhanh về mọi mặt, khả năng ứng dụng một cách rộng rãi thì vấn đề bảo mật cho ứng dụng web cũng được chú trọng hơn. Mặc dù không thể phủ nhận những cải tiến nâng cao đáng kể hiện nay, nhưng vấn đề về bảo mật trong ứng dụng Web vẫn không ngừng tăng lên. Nguyên nhân có thể xuất phát từ các đoạn mã không phù hợp. Nhiều điểm yếu nghiêm trọng hay các lỗ hổng cho phép hacker xâm nhập thẳng và truy cập vào cơ sở dữ liệu tách lấy dữ liệu nhạy cảm. Nhiều cơ sở dữ liệu chứa thông tin giá trị (như chi tiết cá nhân, thông tin tài chính) khiến chúng trở thành đích nhắm thường xuyên của hầu hết hacker. Mặc dù hoạt động tấn công phá hoại website doanh nghiệp vẫn diễn ra thường xuyên, nhưng bây giờ tin tặc thích tăng cường khả năng truy cập dữ liệu nhạy cảm nằm trên trình chủ chứa database hơn vì lợi nhuận khổng lồ từ các vụ mua bán dữ liệu đem lại. SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 10
  11. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu Hình 4: Mô hình hoạt động của một ứng dụng web Trong khung hoạt động mô tả ở trên, bạn có thể thấy thật dễ dàng cho một hacker truy cập nhanh chóng thông tin nằm trên cơ sở dữ liệu chỉ với một chút sáng tạo. Nếu may mắn hơn chúng có thể gặp lỗ hổng xuất phát từ sự cẩu thả hay lỗi người dùng trên các ứng dụng Web. Như đã nói, website phụ thuộc vào cơ sở dữ liệu để phân phối thông tin được yêu cầu cho người dùng. Nếu ứng dụng Web không an toàn (như có lỗ hổng, gặp phải một kiểu kỹ thuật hacking nào đó), toàn bộ cơ sở dữ liệu chứa thông tin nhạy cảm sẽ gặp nguy hiểm nghiệm trọng. Một số hacker có thể chèn mã độc hại vào ứng dụng Web có lỗ hổng để lừa đảo người dùng và dẫn họ tới website phishing. Kỹ thuật này được gọi là Cross-site Scripting, có thể được dùng ngay cả khi bản thân Web Server và nơi chứa cơ sở dữ liệu không có lỗ hổng nào. Một cuộc nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng 75% các cuộc tấn công mạng được thực hiện ở mức ứng dụng Web.Website và các ứng dụng Web liên quan luôn phải sẵn sàng 24/7 để cung cấp dịch vụ theo yêu cầu khách hàng, yêu cầu từ phía nhân viên, nhà cung cấp và nhiều người liên quan khác. ZF Tường lửa, SSL không thể bảo vệ ứng dụng Web trước mọi hoạt động hacking, đơn giản vì truy cập vào website phải để ở chế độ public để bất kỳ ai cũng có thể ghé SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 11
  12. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu thăm website được. Tất cả hệ thống cơ sở dữ liệu hiện đại (như Microsoft SQL Server, Oracle, MySQL) đều có thể truy cập qua một số cổng cụ thể (như cổng 80, 443). Nếu muốn, một người nào đó có thể kết nối trực tiếp tới cơ sở dữ liệu một cách hiệu quả khi vượt qua cơ chế bảo mật của hệ điều hành. Các cổng này để mở nhằm cho phép liên lạc với hoạt động giao thông mạng hợp pháp, và do đó cũng hình thành nên lỗ hổng lớn nguy hiểm. Các ứng dụng Web thường truy cập dữ liệu cuối như cơ sở dữ liệu khách hàng, điều khiển dữ liệu có giá trị và do đó rất khó để có thể tuyệt đối an toàn. Lúc này truy cập dữ liệu thường không kèm script cho phép đóng gói và truyền tải dữ liệu. Nếu một hacker nhận ra điểm yếu trong một script, anh ta có thể dễ dàng mở lại lưu lượng sang khu vực khác và chia lẻ bất hợp pháp chi tiết cá nhân người dùng, dù đôi khi không hề chủ tâm làm điều đó Hầu hết ứng dụng Web đều là tự tạo, do đó ít có được các kiểm tra trình độ hơn so với phần mềm cùng loại. Do đó các ứng dụng tùy biến thường dễ bị tấn công hơn. Có thể nói ứng dụng Web là một cổng vào (gateway) của cơ sở dữ liệu, nhất là các ứng dụng tùy biến. Chúng không được phát triển với mức bảo mật tốt nhất vì không phải qua các kiểm tra bảo mật thông thường. Nói chung, bạn cần trả lời câu hỏi: “Phần nào trên website chúng ta nghĩ là an toàn nhưng lại mở cửa cho các cuộc tấn công?” và “Dữ liệu nào chúng ta đem vào một ứng dụng khiến nó thực hiện một số điều không nên làm?”.Đó là công việc của phần mềm rà soát lỗ hổng Web. Hiện nay , hacker có rất nhiều cách tấn công một ứng dụng web từ các kĩ thuật cơ bản cho đến những kĩ thuật đòi hỏi kĩ thuật và công nghệ cao cao. Các công cụ(tool) hỗ trợ ra đời ngày càng nhiều , hỗ trợ rất nhiều cho người quản trị mạng , tìm ra những lỗ hổng để có bản vá lỗi kịp thời nhưng đồng thời nó cũng là một con dao hai lưỡi. Hacker có thể dùng những tool này để phát hiện những lỗ hổng của một ứng dụng web và từ đó sẽ có cách tấn công tương ứng vào lỗ hổng này gây ra rất nhiều tổn thất. CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ CÁC THUẬT NGỮ VÀ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 12
  13. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu 1. Các khái niệm và thuật ngữ thường dùng 1.1 Các khái niệm chung về ứng dụng web Web browser (trình duyệt web) là các ứng dụng phần mềm cho phép người dùng truy vấn dữ liệu và tương tác với nội dung nằm trên trang Web bên trong website. Trang Web là tĩnh; người dùng gửi yêu cầu một tài nguyên nào đó, và server sẽ trả về tài nguyên đó. Các trang Web không có gì hơn là một văn bản được định dạng và phân tán. Đối với các trình duyệt, thì các trang Web tĩnh không phải là các vấn đề khó khăn, và trang Web lúc đầu chỉ để thông tin về các sự kiện, địa chỉ, hay lịch làm việc qua Internet mà thôi, chưa có sự tương tác qua các trang Web. Web "ĐỘNG" là thuật ngữ được dùng để chỉ những website được hỗ trợ bởi một phần mềm cơ sở web, nói đúng hơn là một chương trình chạy được với giao thức http. Thực chất, website động có nghĩa là một website tĩnh được "ghép" với một phần mềm web (các modules ứng dụng cho Web). Với chương trình phần mềm này, người chủ website thực sự có quyền điều hành nó, chỉnh sửa và cập nhật thông tin trên website của mình mà không cần phải nhờ đến những người chuyên nghiệp. Tên miền (Domain name) là định danh của website trên Internet. Tên miền thường gắn kèm với tên công ty và thương hiệu của doanh nghiệp. Tên miền là duy nhất và được cấp phát cho chủ thể nào đăng ký trước. - Tên miền có hai loại: + Tên miền quốc tế dạng: www.tencongty.com (.net, .biz .org, .info...). + Tên miền quốc gia dạng: www.tencongty.com.vn (hoặc .net.vn, .biz.vn .org.vn, .gov.vn...) + Web hosting là nơi không gian trên máy chủ có cài dịch vụ Internet như ftp,www, nơi đó bạn có thể chứa nội dung trang web hay dữ liệu trên không gian đó. Lý do bạn phải thuê Web Hosting để chứa nội dung trang web, dịch vụ mail, ftp, vì những máy tính đó luôn có một địa chỉ cố định khi kết nối vào Internet (đó là địa chỉ IP) , còn như nếu bạn truy cập vào internet như thông thường hiện nay thông qua các IPS (Internet SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 13
  14. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu Service Provider - Nhà cung cấp dịch vụ Internet) thì địa chỉ IP trên máy bạn luôn bị thay đổi, do đó dữ liệu trên máy của bạn không thể truy cập được từ những máy khác trên Internet. 1.2 Thuật ngữ ,khái niệm về các công cụ liên quan đến ứng dụng web CGI: Giải pháp đầu tiên để làm các trang Web động là Common Gateway Interface (CGI). CGI cho phép tạo các chương trình chạy khi người dùng gửi các yêu cầu. Giả sử khi cần hiển thị các các mục để bán trên Web site – với một CGI script ta có thể truy nhập cơ sở dữ liệu sản phẩm và hiển thị kết quả. Sử dụng các form HTML đơn giản và các CGI script, có thể tạo các “cửa hàng” ảo cho phép bán sản phẩm cho khách hàng qua một trình duyệt. CGI script có thể được viết bằng một số ngôn ngữ từ Perl cho đến Visual Basic. Applet:Tháng 5/1995, John Gage của hãng Sun và Andressen (nay thuộc Netscape Communications Corporation) đã công bố một ngôn ngữ lập trình mới có tên Java. Netscape Navigator đã hỗ trợ ngôn ngữ mới này, và một con đường mới cho các trang Web động được mở ra, kỷ nguyên của applet bắt đầu. Applet cho phép các nhà phát triển viết các ứng dụng nhỏ nhúng vào trang Web. Khi người dùng sử dụng một trình duyệt hỗ trợ Java, họ có thể chạy các applet trong trình duyệt trên nền máy ảo Java Virtual Machine (JVM). Dù rằng applet làm được nhiều điều song nó cũng có một số nhược điểm: thường bị chặn bởi việc đọc và ghi các file hệ thống, không thể tải các thư viện, hoặc đôi khi không thể thực thi trên phía client. Bù lại những hạn chế trên, applet được chạy trên một mô hình bảo mật kiểu sandbox bảo vệ người dùng khỏi các đoạn mã nguy hiểm. Có những lúc applet được sử dụng rất nhiều, nhưng nó cũng có những vấn đề nảy sinh: đó là sự phụ thuộc vào máy ảo Java JVM, các applet chỉ thực thi khi có môi trường thích hợp được cài đặt phía client, hơn nữa tốc độ của các applet là tươngđối chậm vì thế applet không phải là giải pháp tối ưu cho Web động. JavaScript:Cùng thời gian này, Netscape đã tạo ra một ngôn ngữ kịch bản gọi là JavaScript. JavaScript được thiết kế để việc phát triển dễ dàng hơn cho các nhà thiết kế SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 14
  15. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu Web và các lập trình viên không thành thạo Java. (Microsoft cũng có một ngôn ngữ kịch bản gọi là VBScript). JavaScript ngay lập tức trở thành một phương pháp hiệu quả để tạo ra các trang Web động. Việc người ta coi các trang như là một đối tượng đã làm nảy sinh một khái niệm mới gọi là Document Object Model (DOM). Lúc đầu thì JavaScript và DOM có một sự kết hợp chặt chẽ nhưng sau đó chúng được phân tách. DOM hoàn toàn là cách biểu diễn hướng đối tượng của trang Web và nó có thể được sửa đổi với các ngôn ngữ kịch bản bất kỳ như JavaScript hay VBScript. Tổ chức World Wide Web Consortium (W3C) đã chuẩn hóa DOM, trong khi European Computer Manufacturers Association (ECMA) phê duyệt JavaScript dưới dạng đặc tả ECMAScript. JSP/Servlet, ASP và PHP:Cùng với Java, Sun đồng thời đưa ra một công nghệ mới gọi là servlet. Các đoạn mã Java sẽ không chạy phía client như với applet; chúng sẽ được chạy trên một ứng dụng phía server. Servlet cũng đồng thời phục vụ các CGI script. Servlet là một bước tiến lớn, nó đưa ra một thư viện hàm API trên Java và một thư viện hoàn chỉnh để thao tác trên giao thức HTTP. JavaServer Page (JSP) là một công nghệ lập trình Web của Sun, cùng với nó là một công nghệ khác của Microsoft - Active Server Pages (ASP), JSP là công nghệ đòi hỏi một trình chủ hiểu được Java. Microsoft đã nghiên cứu các nhược điểm của servlet và tạo ra ASP dễ dàng hơn để thiết kế các trang web động. Microsoft thêm các bộ công cụ rất mạnh và sự tích hợp rất hoàn hảo với các Web server. JSP và ASP có những nét tương đương vì chúng đều được thiết kế để phân tách qua trình xử lí khỏi quá trình biểu diễn. Có sự khác biệt về kỹ thuật, song cả hai đều cho phép các nhà thiết kế Web tập trung vào cách bố trí (layout) trong khi các nhà phát triển phần mềm thì tập trung vào các kỹ thuật lập trình logic. Flash:Năm 1996, FutureWave đã đưa ra sản phẩm FutureSplash Animator. Sau đó FutureWave thuộc sở hữu của Macromedia, và công ty này đưa ra sản phẩm Flash. Flash cho phép các nhà thiết kế tạo các ứng dụng hoạt họa và linh động. Flash không đòi hỏi SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 15
  16. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu các kỹ năng lập trình cao cấp và rất dễ học. Cũng giống như các nhiều giải pháp khác Flash yêu cầu phần mềm phía client. Chẳng hạn như gói Shockwave Player plug-in có thể được tích hợp trong một số hệ điều hành hay trình duyệt. DHTML:Khi Microsoft và Netscape đưa ra các version 4 của các trình duyệt của họ, thì các nhà phát triển Web có một lựa chọn mới: Dynamic HTML (DHTML). DHTML không phải là một chuẩn của W3C; nó giống một bộ công cụ thương mại hơn. Trong thực tế nó là một tập hợp gồm HTML, Cascading Style Sheets (CSS), JavaScript, và DOM. Tập hợp các công nghệ trên cho phép các nhà pháp triển sửa đổi nội dung và cấu trúc của một trang Web một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, DHTML yêu cầu sự hỗ trợ từ các trình duyệt. Mặc dù cả Internet Explorer và Netscape hỗ trợ DHTML, nhưng các thể hiện của chúng là khác nhau, các nhà phát triển cần phải biết được loại trình duyệt nào mà phía client dùng. DHTML thật sự là một bước tiến mới, nhưng nó vẫn cần một sự qui chuẩn để phát triển. Hiện nay DHTML vẫn đang trên con đường phát triển mạnh. XML:Kể từ khi ra đời vào giữa năm 1990, eXtensible Markup Language (XML) của W3C dẫn xuất của SGML đã trở nên rất phổ biến. XML có mặt ở khắp nơi, Microsoft Office 12 cũng sẽ hỗ trợ định dạng file XML.Ngày nay chúng ta có rất nhiều dạng dẫn xuất của XML cho các ứng dụng Web (tất nhiên là có cả XHTML): XUL của Mozilla; XAMJ, một sản phẩm mã nguồn mở trên nền Java; MXML từ Macromedia; và XAML của Microsoft. 1.3 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến tấn công và bảo mật ứng dụng web 1.3.1 Khái niệm hacker Khái niệm hacker có từ những 50, 60 của thế kỉ trước , và cho đến nay trải qua một thời gian phát triển khá dài hacker chia làm 4 loại: - Hacker mũ trắng: là những chuyên gia lập trình chuyên tìm các lỗi của phần mềm với mục đích sửa chữa, xây dựng hệ thống an toàn hơn. - Hacker mũ đen: đối lập với hacker mũ trắng, là những hacker phá hoại và trục lợi cho mình. SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 16
  17. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu - Hacker mũ xanh/samurai: là những chuyên gia lập trình tài năng, được các hãng như Microsoft mời về làm việc chuyên tìm lỗi cho phần mềm của họ. - Hacker mũ xám hay mũ nâu: là những người đôi khi làm công việc của hacker mũ trắng nhưng vẫn làm công việc của hacker mũ đen. - Dù tự nhận mình là giới nào, họ vẫn đang làm công việc xâm nhập hệ thống thông qua những lỗ hổng bảo mật. Vì vậy tôi sẽ sủ dụng thuật ngữ hacker để chỉ nhũng người tấn công ứng dụng web. 1.3.2 HTTP Hearder HTTP HEARDER là trường phần đầu chứa các thông số hoạt động của một yêu cầu HTTP giữa máy chủ và máy khách .Những thông tin trình khách gửi trình chủ gọi là HTTP requests(yêu cầu ),những thông tin trình chủ gửi cho trình khách gọi là HTTP responses(trả lời ). Các trường tiêu đề xác định đặc điểm khác nhau của việc chuyển dữ liệu được yêu cầu hoặc các dữ liệu được cung cấp trong thông điệp. HTTP Header có thể có nhiều dòng và thường bắt đầu với tên trường, chấm dứt với một ký tự đại tràng, tiếp theo là giá trị trường. Tên trường và các giá trị có thể là bất kỳ ứng dụng cụ thể chuỗi , nhưng tập lõi các lĩnh vực được chuẩn hóa bởi Internet Engineering Task . Một số tham số được sử dụng cả trong trình khách mà trình chủ. 1.3.3 Session HTTP là giao thức hướng đối tượng phi trạng thái, nó không lưu trữ trạng thái làm việc giữa trình chủ và trình khách . Điều này gây khó khăn cho việc quản lý một số ứng dụng web bởi vì trình chủ không biết rằng trước đó trình khách đã ở trạng thái nào. Để giải quyết vấn đề này , người ta đưa ra khái niệm SESSION(phiên làm việc) vào giao thức HTTP. SessionID là một chuỗi để chứng thực phiên làm việc . Một số trình chủ sẽ cấp phát session cho người dùng khi họ xem trang web trên trình chủ. - Để duy trì phiên làm việc sessionID thường được lưu trữ vào : + Biến trên URL SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 17
  18. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu + Biến ẩn from + Cookie - Phiên làm việc chỉ tồn tại trong khoảng thời gian cho phép, thời gian này được quy định tại trình chủ hoặc bởi ứng dụng thực thi.Trình chủ tự động giải phóng phiên làm việc để khôi phục tài nghuyên hệ thống. 1.3.4 Cookie Là một phần dữ liệu nhỏ có cấu trúc được chia sẻ giữa trình chủ và trình duyệt người dùng. Các cookie được lưu trũ dưới dạng những file dữ liệu nhỏ dạng text , được ứng dụng tạo ra để lưu trữ truy tìm nhận biết những người dùng đã ghé thăm trang web và những vùng họ đã ngang qua trang. Những thông tin nay có thể bao gôm thông tin người dùng, tài khoản, mật khẩu…cookie được trình duyệt của người dùng chấp nhận lưu trên đĩa cứng của mình . Nhiều trình duyệt không tự động lưu trữ cookie mà còn phụ thuộc vào người dùng có chấp nhận lưu nó hay không. Những lần truy cập sau vào trang web đó ứng ứng dụng có thể sử dụng lại những thông tin trong cookie(các thôgn tin tai khoản liên quan) mà người dùng không cần phải đăng nhập hay cung cấp thêm thông tin gì cả. Có nhiều cách phân loại cookie, phân loại theo đối tượng thiết lập của cookie.thì cookie chia làm 2 loại: Cookie của bên thứ nhất là cookie được thiết lập bởi tên miền trang web được liệt kê trong thanh địa chỉ. Cookie của bên thứ ba đến từ các nguồn tên miền khác có các mục, chẳng hạn như quảng cáo hoặc hình ảnh, được nhúng vào trang. CHƯƠNG 3: CÁC KỸ THUẬT TẤN CÔNG ỨNG DỤNG WEB CƠ BẢN I. LÝ THUYẾT 1. Kiểm soát truy cập ( Web Access Control ) Thâm nhập hệ thống qua cửa sau (Back door). Trong quá trình thiết kế ứng dụng, những người phát triển ứng dụng có thể càimột “cửa sau” (back door) để sau này có thể thâm nhập vào hệ thống một cách dễdàng. SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 18
  19. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu 2. Chiếm hữu phiên làm việc ( Session Management ) 2.1 Ấn định phiên làm việc ( Session Fixation ) Là kĩ thuật tấn công cho phép hacker mạo danh người dùng hợp lệ bằng cách gửi một session ID hợp lệ đến người dùng, sau khi người dùng đăng nhập vào hệ thống thành công, hacker sẽ dùng lại session ID đó và nghiễm nhiên trở thành người dùng hợp lệ. 2.2 Đánh cắp phiên làm việc Là kĩ thuật tấn công cho phép hacker mạodanh người dùng hợp lệ sau khi nạnnhân đã đăng nhập vào hệ thống bằng cách giải mã session ID của họ được lưu trữ trong cookie hay tham số URL, biến ẩn của form. 3. Lợi dụng thiếu sót trong việc kiểm tra dữ liệu hợp lệ ( Input validation ) Hacker lợidụng những ô nhập dữ liệu để gửi đi một đoạn mã bất kì khiến cho hệthống phải thực thi đoạn lệnh đó hay bị phá vỡ hoàn toàn. 3.1 Kiểm tra tính đúng đắn của dữ liệu bằng ngôn ngữ phía trình duyệt Do ngôn ngữ phía trình duyệt ( JavaScript, VBScript..) đuợc thực thi trên trình duyệt nên hacker có thể sửa đổi mã nguồn để có thể vô hiệu hóa sự kiểm tra. 3.2 Tràn bộ đệm ( Buffer OverFlow ) Một khối lượng dữ liệu được gửi cho ứng dụng vượt quá lượng dữ liệu được cấpphát khiến cho ứng dụng không thực thi được câu lệnh dự định kế tiếp mà thay vào đó phải thực thi một đoạn mã bất kì do hacker đưa vào hệ thống. Nghiêm trọng hơn nếu ứng dụng được cấu hình để thực thi với quyền root trên hệ thống. 3.3 Mã hóa URL ( URL Encoding ) Lợi dụng chuẩn mã hóa những kí tựđặc biệt trên URL mà hacker sẽ mã hoá tựđộng những kí tự bất hợp lệ-những kí tự bị kiểm tra bằng ngôn ngữ kịch bản-để vượt qua vòng kiểm soát này. SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 19
  20. Báo cáo: Ứng dụng web và vấn đề bảo mật GVHD: Trần Công Mậu 3.4 Kí tự Meta ( Meta – characters sử dụng những ký tự đặc biệt ) Hacker có thể chènthêm vào dữ liệu gửi những kí tự trong chuỗi câu lệnh như trong kĩ thuật XSS, ‘ -- trong SQL….để thực thi câu lệnh. 3.5 Vượt qua đường dẫn ( Path Traversal ) Là phương pháp lợi dụng đường dẫn truy xuất một tập tin trên URL để trả kết quả về cho trình duyệt mà hacker có thể lấy được nội dung tập tin bất kì trên hệ thống. 3.6 Chèn mã lệnh thực thi trên trình duyệt nạn nhân ( Cross – Site Scripting) Đây là kĩ thuật tấn công chủ yếu nhằm vào thông tin trên máy tính của người dùng hơn là vào hệ thống máy chủ. Bằng cách thêm một đoạn mã bất kì ( thường được lập trình bằng ngôn ngữ kịch bản như JavaScript, VBScript…), hacker có thể thực hiện việc đánh cắp thông tin quan trọng như cookie để từ đó trở thành người dùng hợp lệ của ứng dụng…dựa trên những thông tin đánh cắp này. Cross- Site scripting cũng là một kiểu tấn công “session hacking”. 3.7 Thêm câu lệnh hệ thống ( OS Command Injection ) Khả năng thực thi được những câu lệnh hệ thống hay những đoạn mã được thêmvào trong những tham số mà không có sự kiểm tra chặt chẽ như tham số của form, cookies, yêu cầu HTTP Header, và những dữ liệu nguy hiểm trong những tập tin được đưa lên trình chủ. Thành công trong kĩ thuật này giúp hacker có thể thực thi được những câu lệnh hệ thống với cùng quyền của trình chủ. 3.8 Kí tự rỗng ( Null Characters ) Lợi dụng chuỗi kí tự thường kết thúc bằng \0 mà hacker thường thêm vào để đánh lừa ứng dụng vì với những ứng dụng sử dụng chương trình dịch như C++ thì C++cho rằng \0 là dấu kết thúc chuỗi. SVTH: Trần Văn Lực – Lê Văn Hợp – Phan Văn Thắng Lớp K2 - CNTT 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2