intTypePromotion=1

Biến cố bất lợi trên hệ hệ thần kinh trung ương ở bệnh nhân HIV/AIDS điều trị ARV bằng phác đồ có Efavirenz tại Hà Nội

Chia sẻ: Ni Ni | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
44
lượt xem
0
download

Biến cố bất lợi trên hệ hệ thần kinh trung ương ở bệnh nhân HIV/AIDS điều trị ARV bằng phác đồ có Efavirenz tại Hà Nội

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm xác định tần suất, đặc điểm và một số yếu tố liên quan đến xuất hiện biến cố bất lợi trên hệ thần kinh trung ương (TKTW) ở BN HIV/AIDS điều trị phác đồ có efavirenz (EFV). Đối tượng và phương pháp: 1.029 bệnh nhân (BN) bắt đầu điều trị phác đồ TDF/3TC/EFV tại 16 phòng khám ngoại trú ở Hà Nội.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Biến cố bất lợi trên hệ hệ thần kinh trung ương ở bệnh nhân HIV/AIDS điều trị ARV bằng phác đồ có Efavirenz tại Hà Nội

T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 8-2016<br /> <br /> BIẾN CỐ BẤT LỢI TRÊN HỆ HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG<br /> Ở BỆNH NHÂN HIV/AIDS ĐIỀU TRỊ ARV BẰNG PHÁC ĐỒ<br /> CÓ EFAVIRENZ TẠI HÀ NỘI<br /> Lã Thị Lan*; Nguyễn Viết Nhung**; Đinh Hồng Dương***<br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: xác định tần suất, đặc điểm và một số yếu tố liên quan đến xuất hiện biến cố bất<br /> lợi trên hệ thần kinh trung ương (TKTW) ở BN HIV/AIDS điều trị phác đồ có efavirenz (EFV).<br /> Đối tượng và phương pháp: 1.029 bệnh nhân (BN) bắt đầu điều trị phác đồ TDF/3TC/EFV tại 16<br /> phòng khám ngoại trú ở Hà Nội. Thiết kế nghiên cứu theo phương pháp thử nghiệm lâm sàng<br /> không đối chứng, biến cố bất lợi trên hệ TKTW được thu thập bằng phương pháp báo cáo tự<br /> nguyện có chủ đích theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới. Kết quả và kết luận: 55,2% BN<br /> xuất hiện biến cố bất lợi trên hệ TKTW sau dùng thuốc. Các triệu chứng ghi nhận nhiều nhất là:<br /> chóng mặt (36,1%), mệt mỏi (29,7%), cảm giác nóng bừng (19,8%), đau đầu (16,2%), mơ nhiều<br /> (15,7%) và mất ngủ (13,3%). Các triệu chứng thường xuất hiện sớm sau 1 - 2 tuần sử dụng<br /> thuốc, đa số ở mức độ nhẹ, trung bình và tự mất đi; 3,8% BN phải đổi thuốc. Phân tích mô hình<br /> Cox Proportional Hazard đa biến cho thấy các yếu tố liên quan tới việc ghi nhận được biến cố<br /> bất lợi trên hệ TKTW gồm tình trạng suy kiệt, mắc bệnh lao và điều trị phối hợp thuốc dự phòng<br /> lao của BN khi khởi trị.<br /> * Từ khóa: HIV/AIDS; Efavirenz; Biến cố bất lợi; Hệ thần kinh trung ương.<br /> <br /> Adverse Events on Central Neurvous System Related to Efavirenz<br /> Based Regimen of HIV/AIDS Out-Patients in Hanoi<br /> Summary<br /> Objectives: To describe the rate, distribution and risk factors of central nervous and mental<br /> health related adverse events (AEs) occured among HIV/AIDS out-patients treated with<br /> efavirenz-based regimen in Hanoi. Subjects and methods: This is one arm, no control,<br /> prospective clinical study of 1,029 HIV patients treated by TDF/3TC/EFV in 16 out-patient clinics<br /> in Hanoi. AEs were collected by Targeted Spontaneous Reporting method recommended by<br /> World Health Organization (WHO). Results and conclusions: 55.2% reported having central<br /> nervous symptoms after antiretrovirus (ARV) commencement. The most frequent reported<br /> symptoms included dizzy (36.1%), fatigue (29.7%), get hot on the face (19.8%), headache<br /> (16.2%), vivid dreams (15.7%), insomnia (13.3%). AEs often occurred during the first 1 - 2<br /> weeks after treatment initiation, were classified as minor or middle severity and were self-recovered.<br /> * Trung tâm Phòng, Chống HIV/AIDS Hà Nội<br /> ** Bệnh viện Phổi TW<br /> *** Học viện Quân y<br /> Người phản hồi (Corresponding): Lã Thị Lan (lanpachn@gmail.com)<br /> Ngày nhận bài: 27/06/2016; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 07/09/2016<br /> Ngày bài báo được đăng: 21/09/2016<br /> <br /> 130<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 8-2016<br /> Only 3.8% of AEs needed regimen shift. In multivariate analysis by Cox Proportional Hazard<br /> model, central nervous AEs was associated with being cachexia, having active tuberculosis and<br /> being on INH prophylaxis at the time of ARV commencement. Our findings suggest that central<br /> nervous AEs among patients on TDF/3TC/EFV regimens were common but not severe and<br /> immediate AEs monitoring after treatment initiation should be conducted, together with<br /> counseling on treatment continuation to patients who have AEs.<br /> * Key words: HIV/AIDS; Efavirenz; Adverse event; Central neurvous system.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Phác đồ tenofovir/lamivudine/efavirenz<br /> (TDF/3TC/EFV) được ưu tiên lựa chọn<br /> cho BN HIV/AIDS bắt đầu điều trị ARV kể<br /> từ sau khi Bộ Y tế ban hành Quyết định<br /> 4139/QĐ-BYT ngày 02 - 11 - 2011 về sửa<br /> đổi, bổ sung một số điều trong “Hướng<br /> dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS” năm<br /> 2009 [1]. Năm 2015, > 95% BN (1.350/1.388)<br /> mới điều trị của Hà Nội được chỉ định<br /> phác đồ TDF/3TC/EFV [3]. EFV là thuốc<br /> duy nhất trong nhóm ức chế men sao<br /> chép ngược không phải nucleosid, cũng<br /> là thuốc duy nhất trong phác đồ<br /> TDF/3TC/EFV gây phản ứng có hại trên<br /> hệ TKTW, nhưng tác dụng không mong<br /> muốn này còn ít được biết ở Việt Nam. Vì<br /> vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài này với<br /> mục tiêu: Phân tích tần suất, đặc điểm và<br /> một số yếu tố liên quan đến xuất hiện<br /> biến cố bất lợi trên hệ TKTW ở BN<br /> HIV/AIDS điều trị ngoại trú bằng phác đồ<br /> TDF/3TC/EFV.<br /> <br /> 5 - 2013 đến 30 - 7 - 2014, gồm BN mới<br /> điều trị ARV lần đầu (BN mới) và BN<br /> chuyển từ các phác đồ khác (BN cũ).<br /> - Tiêu chuẩn loại trừ:<br /> + BN từng được điều trị TDF và EFV<br /> trước đó.<br /> + BN có tiền sử bệnh tâm thần trước<br /> khi điều trị EFV.<br /> - Thời gian, địa điểm nghiên cứu:<br /> + Thời gian thu nhận BN: từ 15 - 5 2013 đến 30 - 7 - 2014.<br /> + Thời gian theo dõi: từ 15 - 5 - 2013<br /> đến 31 - 12 - 2015.<br /> + Địa điểm: 16/18 phòng khám ngoại<br /> trú ở Hà Nội đặt tại 11 trung tâm y tế<br /> huyện và 5 bệnh viện thành phố.<br /> 2. Phương pháp nghiên cứu.<br /> <br /> Toàn bộ BN HIV/AIDS người lớn (≥ 16<br /> tuổi) được chỉ định điều trị phác đồ<br /> TDF/3TC/EFV từ 15 - 5 - 2013 đến 30 - 7 2014 tại 16 cơ sở điều trị ARV ở Hà Nội.<br /> <br /> Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng<br /> không đối chứng [2]. Giám sát biến cố bất<br /> lợi (Adverse Event - AE) trên hệ TKTW<br /> bằng phương pháp báo cáo tự nguyện có<br /> chủ đích do WHO khuyến cáo [9]. Chủ<br /> động theo dõi biến cố bất lợi ngay sau khi<br /> dùng thuốc. Các biến cố bất lợi trên hệ<br /> TKTW được bác sỹ điều trị ghi nhận bằng<br /> cách hỏi trực tiếp BN thông qua bảng<br /> kiểm. Thời gian xuất hiện biến cố bất lợi<br /> trên hệ TKTW tính từ ngày bắt đầu điều<br /> trị đến ngày xuất hiện dấu hiệu đầu tiên<br /> trên hệ TKTW.<br /> <br /> - Tiêu chuẩn lựa chọn: toàn bộ BN bắt<br /> đầu điều trị phác đồ TDF/3TC/EFV từ 15 -<br /> <br /> Nhập liệu trên phần mềm Epidata 3.1,<br /> phân tích số liệu bằng phần mềm Stata<br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tượng nghiên cứu.<br /> <br /> 131<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 8-2016<br /> 13.0. Báo cáo tần suất (n) và tỷ lệ (%)<br /> gặp biến cố bất lợi qua kỹ thuật phân tích<br /> mô tả. Xác suất xuất hiện biến cố bất lợi<br /> lũy tích theo thời gian được phân tích<br /> theo phương pháp Kaplan Meier. Áp<br /> dụng mô hình Cox Proportional Hazard<br /> trong phân tích đơn và đa biến để xác<br /> định các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ suất<br /> <br /> xuất hiện biến cố bất lợi trên hệ TKTW.<br /> Các yếu tố có CI95% tỷ suất nguy cơ thô<br /> (CHR) < 1 hoặc > 1 và p < 0,05 trong mô<br /> hình đơn biến được đưa vào phân tích đa<br /> biến. Thực hiện phép rút từng biến không<br /> có ý nghĩa thống kê trong mô hình đa<br /> biến đến khi mô hình chỉ còn lại các biến<br /> có p < 0,05.<br /> <br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN<br /> 1.029 BN thỏa mãn điều kiện được chọn vào nghiên cứu; nam 69,6%; nữ 30,4%;<br /> tuổi trung bình 35 ± 8; 42,3% BN lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục; 53,3% lây qua<br /> tiêm chích ma túy; 48,5% BN có tình trạng suy giảm miễn dịch nặng với CD4 < 200 tế<br /> bào/mm3; 7,7% suy dinh dưỡng nặng; 84,3% BN mới và 15,7% BN cũ. Thời gian theo<br /> dõi trung bình 616 ± 238 ngày.<br /> Bảng 1: Tần suất, tỷ lệ gặp biến cố bất lợi trên hệ TKTW (n = 1.029).<br /> Dấu hiệu tâm thần kinh<br /> <br /> n<br /> <br /> Tỷ lệ %<br /> <br /> Khoảng tỷ lệ (CI95%)<br /> <br /> Gặp biến biến cố bất lợi trên hệ TKTW<br /> <br /> 568<br /> <br /> 55,2<br /> <br /> 52,1 - 58,3<br /> <br /> Các biểu hiện của biến cố bất lợi:<br /> Chóng mặt<br /> Mệt mỏi<br /> Nóng bừng<br /> Đau đầu<br /> Mơ nhiều, giấc mơ rõ ràng<br /> Mất ngủ<br /> Buồn nôn<br /> Ác mộng<br /> Lo lắng<br /> Dị cảm<br /> Giảm/mất tập trung<br /> Muốn tự tử<br /> Giảm/mất ham muốn tình dục<br /> Hoang tưởng<br /> Trầm cảm<br /> <br /> 371<br /> 306<br /> 204<br /> 167<br /> 162<br /> 137<br /> 136<br /> 67<br /> 59<br /> 34<br /> 33<br /> 1<br /> 10<br /> 16<br /> 2<br /> <br /> 36,1<br /> 29,7<br /> 19,8<br /> 16,2<br /> 15,7<br /> 13,3<br /> 13,2<br /> 6,5<br /> 5,7<br /> 3,3<br /> 3,2<br /> 0,1<br /> 1,0<br /> 1,6<br /> 0,2<br /> <br /> 33,3 - 39,3<br /> 27,1 - 32,8<br /> 17,5 - 22,5<br /> 14,1 - 18,7<br /> 13,6 - 18,2<br /> 11,3 - 15,6<br /> 11,3 - 15,5<br /> 5,1 - 8,2<br /> 4,4 - 07,4<br /> 2,3 - 4,6<br /> 2,2 - 4,5<br /> 0,002 - 0,5<br /> 0,5 - 1,8<br /> 0,9 - 2,5<br /> 0,02 - 0,7<br /> <br /> Khác<br /> <br /> 91<br /> <br /> 8,8<br /> <br /> 7,2 - 10,8<br /> <br /> Trung bình có 55,2% BN (52,1 - 58,3%) gặp biến cố bất lợi trên hệ TKTW. Các dấu<br /> hiệu được ghi nhận nhiều nhất là chóng mặt (36,1%), mệt mỏi (29,7%), cảm giác nóng<br /> bừng (19,8%), đau đầu (16,2%), mơ nhiều (15,7%), mất ngủ (13,3%), buồn nôn<br /> (13,2%). Một số dấu hiệu nặng như hoang tưởng (1,6%), có ý định tự tử (0,1%), trầm<br /> cảm (0,2%) cũng được ghi nhận. Tỷ lệ gặp biến cố bất lợi trong nghiên cứu của chúng<br /> tôi tương tự kết quả của Kenedi và CS (2011): tỷ lệ gặp biến cố bất lợi trên hệ TKTW<br /> 132<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 8-2016<br /> bao gồm cả những giấc mơ sống động, mất ngủ và thay đổi tâm trạng ở khoảng 50%<br /> BN khởi trị EFV [5]. Còn theo Sütterlin và CS (2010), tỷ lệ biến cố bất lợi trên TKTW<br /> trong các nghiên cứu dao động từ 40 - 70% [8]. Các dấu hiệu chúng tôi ghi nhận cũng<br /> tương đồng với báo cáo trong y văn cũng như nhiều nghiên cứu trước đó [4, 7].<br /> Bảng 2: Thời gian xuất hiện biến cố bất lợi kể từ khi khởi trị.<br /> n<br /> <br /> Tỷ lệ % (CI95%)<br /> (n = 568)<br /> <br /> Tỷ lệ % (CI95%)<br /> (n = 1.029)<br /> <br /> Ngày thứ 1 - 7 (tuần đầu)<br /> <br /> 354<br /> <br /> 62,4 (58,4 - 66,4)<br /> <br /> 34,4 (31,6 - 37,4)<br /> <br /> Từ ngày 8 - 14 (tuần thứ 2)<br /> <br /> 117<br /> <br /> 20,6 (17,3 - 24,1)<br /> <br /> 11,4 (9,5 - 13,5)<br /> <br /> Từ ngày 15 - 30<br /> <br /> 62<br /> <br /> 10,9 (8,5 - 13,8)<br /> <br /> 6,0 (4,7 - 7,7)<br /> <br /> Từ ngày 31 - 60<br /> <br /> 18<br /> <br /> 3,2 (1,9 - 4,9)<br /> <br /> 1,7 (1,0 - 2,8)<br /> <br /> Sau 60 ngày<br /> <br /> 17<br /> <br /> 3,0 (1,8 - 4,7)<br /> <br /> 0,6 (0,9 - 2,6)<br /> <br /> Thời gian xuất hiện biến cố bất lợi<br /> <br /> 62,4% biến cố bất lợi (58,4 - 66,4%) xuất hiện trong tuần đầu tiên và 20,6% (17,3 24,1%) xuất hiện trong tuần thứ 2; chỉ 3,2% (1,8 - 4,6%) biến cố bất lợi xuất hiện ở<br /> tháng thứ 2 và 3% (1,6 - 4,4%) xuất hiện sau 2 tháng.<br /> <br /> Hình 1: Xác suất gặp biến cố bất lợi trên hệ TKTW lũy tích theo thời gian.<br /> (*Ghi chú: Các đường dọc trục tung biểu diễn thời gian ở ngày thứ 7, 30, 60 và 90)<br /> Mô hình phân tích Kaplan Meier cho thấy: biến cố bất lợi trên hệ TKTW thường xuất<br /> hiện sớm trong vòng 1 tuần sau khi sử dụng thuốc. Từ tuần thứ 2 đến hết tháng đầu<br /> tiên, độ dốc của đồ thị giảm hơn tuần đầu tiên, khoảng 60% BN gặp biến cố bất lợi<br /> trong thời gian này. Từ tháng thứ 2, độ dốc của đồ thị giảm đáng kể, phản ánh rất hiếm<br /> BN gặp biến cố bất lợi trong thời gian này. Phát hiện của chúng tôi phù hợp với báo cáo<br /> của Kenedi và CS (2011): các biến cố bất lợi xuất hiện nhanh trong 1 - 3 ngày đầu,<br /> thường đạt đỉnh trong 2 tuần đầu điều trị [5]. Theo Gutierrez-Valencia (2009), 66% BN<br /> báo cáo xuất hiện biến cố bất lợi trong tuần đầu dùng thuốc [4].<br /> 133<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 8-2016<br /> Bảng 3: Phân loại mức độ xử trí và kết quả xử trí biến cố bất lợi trên hệ TKTW.<br /> Tần suất (n)<br /> <br /> Tỷ lệ (%)<br /> <br /> Mức độ 1<br /> <br /> 440<br /> <br /> 77,7<br /> <br /> Mức độ 2<br /> <br /> 90<br /> <br /> 15,9<br /> <br /> Mức độ 3<br /> <br /> 36<br /> <br /> 6,4<br /> <br /> Không xử trí gì<br /> <br /> 37<br /> <br /> 76,8<br /> <br /> Dừng hoặc đổi thuốc<br /> <br /> 39<br /> <br /> 6,9<br /> <br /> Xử trí khác<br /> <br /> 93<br /> <br /> 16,3<br /> <br /> Tử vong do biến cố bất lợi trên hệ TKTW<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> Tử vong do nguyên nhân khác<br /> <br /> 6<br /> <br /> 1,1<br /> <br /> Chưa hồi phục<br /> <br /> 5<br /> <br /> 0,9<br /> <br /> Phân loại mức độ nghiêm trọng của biến cố bất lợi (n = 566):<br /> <br /> Xử trí biến cố bất lợi (n = 568):<br /> <br /> Kết quả xử trí (n = 568):<br /> <br /> Đang hồi phục<br /> <br /> 36<br /> <br /> 6,3<br /> <br /> Hồi phục hoàn toàn không di chứng<br /> <br /> 500<br /> <br /> 87,9<br /> <br /> Phần lớn biến cố xảy ra ở mức độ<br /> nhẹ (77,7%) và trung bình (15,9%);<br /> 36 BN ở mức độ nặng (6,9%). Đa số BN<br /> (76,8%) vẫn duy trì phác đồ điều trị<br /> không phải xử trí gì, 16,3% BN được hỗ<br /> trợ các biện pháp như: tư vấn đổi giờ<br /> uống thuốc, uống nhiều nước, thuốc an<br /> thần và tăng tuần hoàn não...; 39 BN<br /> phải ngừng và đổi thuốc do biến cố nặng<br /> trên hệ TKTW, tỷ lệ ngừng và đổi thuốc<br /> 6,9% ở nhóm gặp biến cố bất lợi và<br /> 3,8% (39/1.029 BN) tổng số BN nghiên<br /> <br /> cứu. Phần lớn BN đã hồi phục hoàn toàn<br /> (87,9%). Theo Kenedi (2011), MunozMoreno và CS (2009), các biến cố bất lợi<br /> thường nhẹ, BN vẫn chịu đựng được, chỉ<br /> 4 - 10% BN phải ngừng và đổi thuốc ở<br /> các nghiên cứu [5, 6]. Tỷ lệ BN đổi thuốc<br /> trong nghiên cứu của chúng tôi ở mức<br /> thấp, có thể do việc đánh giá mức độ<br /> nghiêm trọng của biến cố bất lợi trên hệ<br /> TKTW là vấn đề khó đối với bác sỹ. Vì<br /> vậy, việc quyết định đổi phác đồ có thể<br /> dao động giữa các nghiên cứu.<br /> <br /> Bảng 4: Thời gian hồi phục hoàn toàn kể từ khi xuất hiện biến cố bất lợi.<br /> Thời gian<br /> <br /> Trung vị<br /> <br /> Tứ phân vị 25%<br /> <br /> Tứ phân vị 75%<br /> <br /> Thời gian xuất hiện biến cố bất lợi (ngày thứ)<br /> <br /> 3 (1 - 123)<br /> <br /> 2<br /> <br /> 8<br /> <br /> Thời gian hồi phục hoàn toàn (ngày thứ)<br /> <br /> 32 (4 - 247)<br /> <br /> 15<br /> <br /> 76<br /> <br /> Thời gian trung vị xuất hiện biến cố bất lợi là 3 ngày, tứ phân vị 25 và 75%: 2 và 8<br /> ngày. Thời gian hồi phục hoàn toàn biến cố bất lợi là 32 ngày, tứ phân vị 25% và 75%:<br /> 15 và 76 ngày.<br /> 134<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2