
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
589
BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ GHÉP TẾ BÀO GỐC
ĐỒNG LOÀI NỬA THUẬN HỢP TRÊN NGƯỜI BỆNH BẠCH CẦU CẤP
DÒNG TUỶ TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC
Nguyễn Hiếu Thuận1, Huỳnh Nghĩa1,2,
Huỳnh Văn Mẫn2, Phù Chí Dũng2
TÓM TẮT71
Mục tiêu: Bạch cầu cấp dòng tuỷ (BCCDT)
là bệnh lý huyết học ác tính phổ biến thứ 2 ở trẻ
em, với gần 20% trường hợp tái phát sau điều trị
hoá trị liệu. Ghép tế bào gốc tạo máu, đặc biệt là
ghép nửa thuận hợp (ghép haplo) hiện được sử
dụng như một liệu pháp điều trị củng cố, phù hợp
cho những trẻ không có người cho thuận hợp
hoàn toàn. Nghiên cứu này nhằm đánh giá bước
đầu hiệu quả ghép haplo trên trẻ em bạch cầu cấp
dòng tuỷ được tiến hành tại bệnh viện Truyền
máu Huyết học. Đối tượng và phương
pháp: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca - hồi cứu
với 13 bệnh nhi BCCDT đạt lui bệnh hoàn toàn
(LBHT) sau hoá trị liệu, ghép haplo tại bệnh viện
Truyền máu Huyết học từ 01/2017 đến 12/2024.
Kết quả: Tất cả 13 bệnh nhi BCCDT được ghép
tế bào gốc từ máu ngoại vi, với 2 bệnh nhân nhận
tế bào gốc từ anh/chị/em ruột, 11 bệnh nhân nhận
tế bào gốc từ cha/mẹ. Trong số 13 bệnh nhi trên,
9 bệnh nhi đạt LBHT lần đầu, 4 bệnh nhi đạt
LBHT lần hai sau tái phát. Trong đó, có 2 bệnh
nhân tử vong liên quan đến ghép. Nghiên cứu
cho thấy 11/13 trường hợp mọc mảnh ghép. Thời
1Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh
2Bệnh viện Truyền máu Huyết học
Chịu trách nhiệm chính: Huỳnh Văn Mẫn
SĐT: 0975449818
Email: huynhvanman@yahoo.com
Ngày nhận bài: 30/04/2025
Ngày phản biện khoa học: 15/06/2025
Ngày duyệt bài: 30/07/2025
gian mọc bạch cầu hạt và tiểu cầu trung bình lần
lượt là 15 ngày và 30 ngày. Tất cả bệnh nhân đều
nhiễm trùng sau ghép. Với thời gian theo dõi
trung bình là 23 tháng (từ 2-70), thời gian sống
toàn bộ và thời gian sống không biến cố 2 năm
ước tính là 55% và 55%. Kết luận: Ghép tế bào
gốc đồng loại nửa thuận hợp là một trong những
phương pháp điều trị mới phù hợp và hiệu quả
cho bệnh nhi bạch cầu cấp dòng tuỷ.
Từ khoá: ghép tế bào gốc nửa thuận hợp,
bạch cầu cấp dòng tuỷ, trẻ em.
SUMMARY
INITIAL EVALUATION OF
EFFECTIVENESS OF HLA-
HAPLOIDENTICALSTEM CELL
TRANSPLANTATION FOR
PEDIATRIC ACUTE MYELOID
LEUKEMIA
IN BLOOD TRANSFUSION
HEMATOLOGY HOSPITAL
Background: Acute myeloid leukemia
(AML) is the second popular hematologic
malignancies in children, with 20% replased after
chemotherapy. Hematopoietic stem cell
transplantation (HSCT), especially HLA-
haploidentical stem cell transplantation (Haplo-
SCT) is a consolidation therapy for patients who
do not have HLA-matched donors. Objective:
This study aims to show the pilot results of haplo
HSCT in pediactric with AML that has been
conducted in the Blood Transfusion and
Hematology hospital (BTH). Subjects and
methods: A retrospective case series study was

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
590
conducted in 13 haploidentical transplant
pediatric AML patients who achieved completed
remission (CR) at the BTH hospital between
January 2017 and December 2024. Results: All
of 13 patients with AML received stem cell from
peripheral blood, eleven of them were
transplanted from their parents and two from
siblings. In 13 patients, nine patients achieved
CR1 and four achieved CR2. Two patients had
early death related to transplantation. Eleven
patients were engrafted. All the patients had
infection after transplantation. Median time to
neutrophil and platelet recovery was 15 days and
30 days. With a median follow-up of 23 months
(range 2-70), the estimated-2-years overall
survival and event-free survival was 55% and
55%. Conclusion: Haplo-SCT is a novel and
optimal therapy for transplantation indicated
pediatric patients with AML.
Keywords: HLA-haploidentical stem cell
transplantation, acute myeloid leukemia,
pediatrics.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bạch cầu cấp dòng tuỷ (BCCDT) là một
bệnh lý ác tính, đơn dòng của các tế bào hệ
tạo máu đầu dòng của hệ thống dòng tuỷ.
Bệnh được đặc trưng bởi (1) sự xuất hiện bất
thường của các tế bào non (dòng tuỷ) ở tuỷ
xương và (2) sự giảm sản xuất của các tế bào
máu bình thường [1]. Đây là bệnh lý ác tính
huyết học thường gặp thứ hai ở trẻ em, chiếm
tỉ lệ khoảng 20% trong các bệnh lý bạch cầu
ở trẻ em [2].
Hoá trị liệu tiêu chuẩn vẫn là phương
pháp điều trị đầu tay, với tỷ lệ đạt đáp ứng
80-90% [3]. Tuy nhiên, tỷ lệ tái phát tích luỹ
vẫn còn cao, dao động từ 25 – 35% trong các
nhóm phác đồ điều trị chính, dẫn đến nhu
cầu cải thiện hơn trong điều trị củng cố sau
tấn công [1]. Ghép tế bào gốc (TBG) tạo máu
đồng loài được sử dụng rộng rãi như làm một
liệu pháp điều trị sau lui bệnh. Ghép tế bào
gốc đồng loài nửa thuận hợp (ghép haplo)
được xem là một giải pháp cứu cánh cho
những bệnh nhân mắc bệnh lý huyết học ác
tính, đặc biệt là BCCDT. Ghép haplo ngày
nay trở thành một phương pháp ghép tế bào
gốc quan trọng nhằm thay thế cho những
trường hợp không tìm được nguồn tế bào gốc
phù hợp hoàn toàn HLA. Những kết quả tích
cực gần đây cũng cho thấy việc ghép haplo
cải thiện thời gian sống toàn bộ (OS), thời
gian sống không tái phát bệnh (RFS) cũng
như tỷ lệ tái phát tương tự như các loại ghép
tế bào gốc khác [4].
Ở Việt Nam, việc ghép tế bào gốc nói
chung cũng như ghép haplo nói riêng khá là
tốn kém để thực hiện. Hầu hết các bệnh nhân
đều mang ít nhất 1 HLA từ cha mẹ nên việc
ghép haplo giúp khắc phục trong việc giảm
thời gian cũng như chi phí tìm người cho
hoặc tìm tế bào gốc từ máu cuống rốn phù
hợp. Những năm qua, bệnh viện Truyền máu
Huyết học đã thực hiện nhiều ca ghép haplo
trên nhóm bệnh nhân BCCDT, đặc biệt là
trên đối tượng trẻ em. Chúng tôi thực hiện
nghiên cứu này nhằm bước đầu đánh giá hiệu
quả điều trị ghép haplo trên bệnh nhân
BCCDT trẻ em tại bệnh viện Truyền máu
Huyết học.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 13 bệnh nhi
mắc BCCDT đạt lui bệnh hoàn toàn sau hoá
trị liệu được ghép tế bào gốc đồng loài nửa
thuận hợp tại bệnh viện Truyền máu Huyết
học từ tháng 1/2017 đến tháng 12/2024.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả hàng loại ca,
hồi cứu
Phương pháp tiến hành
Lựa chọn người cho tế bào gốc: Người

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
591
cho tế bào gốc là cha, mẹ hoặc anh, chị, em
phù hợp HLA 5-9/10 so với người nhận, tổng
trạng ổn, người nhận và người cho có CMV-
IgG cùng dương hoặc cùng âm.
Thu thập tế bào gốc: Nhóm nghiên cứu
thực hiện thu thập tế bào gốc máu ngoại vi từ
người cho sau 3 ngày sử dụng G-CSF
10µg/kg/ngày tiêm dưới da. Lượng tế bào
gốc mục tiêu với số lượng CD34+ là 7x106 tế
bào/kg. Túi tế bào gốc sau khi thu thập sẽ
được xử lý và lưu trữ tại Ngân hàng Tế bào
gốc, Bệnh viện Truyền máu Huyết học.
Phác đồ điều kiện hoá: Bệnh nhân trước
khi ghép tế bào gốc được tiến hành điều kiện
hoá với một trong các phác đồ:
+ Bu/Flu/Cy liều thấp: Fludarabine
30mg/m2/ngày từ N-6 đến N-2, Busulfan
130mg/m2/ngày từ N-3 đến N-2,
Cyclophosphamide 14,5mg/kg/ngày từ N-6
đến N-5.
+ Flu/Mel: Fludarabine 30mg/m2/ngày
từ N-6 đến N-2, Melphalan 70mg/m2/ngày từ
N-3 đến N-2.
+ Thiotepa/Bu/Flu: Thiotepa 5mg/kg/
ngày vào N-5, Busulfan 4mg/kg/ngày từ N-4
đến N-3, Fludarabine 50mg/m2/ngày từ N-4
đến N-2.
Phòng ngừa GVHD: Theo phác đồ của
bệnh viện Truyền máu Huyết học, tất cả bệnh
nhân ghép tế bào gốc đồng loài nửa thuận
hợp đều được phòng ngừa GVHD sau ghép
với phác đồ sử dụng Cyclophosphamide sau
ghép (PT-Cy): Cyclophosphamide liều
50mg/kg/ngày vào N+3 và N+4, tiếp theo
sau đó là Tacrolimus từ N+5 đến 6 tháng sau
ghép với mục tiêu nồng độ Tacrolimus là 10-
15 mg/ml và Mycophenolate mofetil (MMF)
từ N+5 đến N+35.
Điều trị hỗ trợ sau ghép: Bệnh nhân
được sử dụng G-CSF 5 µg/kg/ngày từ N+5
cho đến khi số lượng Neutrophil > 500/µL
trong 2 ngày liên tiếp. Các bệnh nhân còn
được bổ sung kháng sinh dự phòng
(Ciprofloxacin), kháng nấm (Itraconazole),
kháng siêu vi (Acyclovir), bactrim dự phòng,
nằm phòng cách ly và được hỗ trợ truyền
hồng cầu lắng và tiểu cầu khi có chỉ định.
Đánh giá mọc mảnh ghép:
Ngày hồi phục bạch cầu hạt được định
nghĩa là ngày đầu tiên sau 3 ngày liên tiếp
không cần dùng G-CSF mà số lượng
Neutrophil > 500/µL.
Tiểu cầu hồi phục khi số lượng tiểu cầu >
20K/µL trong 2 ngày liên tiếp mà không cần
phải truyền tiểu cầu.
Đánh giá Chimerism được thực hiện vào
N+30 sau ghép: bệnh nhân được đánh giá là
mọc mảnh ghép tốt khi Chimerism đạt 95-
100% (complete chimerism), hỗn hợp khi
Chimerism 5-94% (mix chimerism), và
không mọc mảnh ghép khi Chimerism < 5%.
Đánh giá tuỷ đồ, tồn lưu tế bào ác tính
(nếu có) và chimerism mỗi 3-6 tháng kể từ
N+100.
Thời gian sống toàn bộ được định nghĩa
là thời gian từ lúc ghép tế bào gốc cho đến
khi bệnh nhân xảy ra biến cố hoặc mất dấu.
Thời gian sống toàn bộ được biểu diễn bằng
đường biểu diễn Kaplan – Meier.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm bệnh nhân trước ghép
Trong thời gian nghiên cứu, có 13 bệnh
nhi BCCDT được tiến hành ghép haplo.
Bệnh nhân nam giới chiếm phần lớn. Hầu hết
các bệnh nhân được nhận tế bào gốc từ
cha/mẹ. Có 1 trường hợp bất đồng nhóm
nhóm máu RhD giữa người cho/người nhận
loại bất đồng chính (major incompatibility).
Tất cả người cho và người nhận đều có
CMV-IgG dương tính. Đặc điểm của các
bệnh nhân trong nghiên cứu được mô tả ở
Bảng 1.

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
592
Bảng 1. Đặc điểm lâm sàng của người bệnh trước ghép (n=13)
Đặc điểm
Bệnh nhân (n, %)
Tuổi trung vị lúc ghép (giới hạn)
9 (1-15)
Tỉ lệ nam : nữ
9 : 4
Tình trạng bệnh lý trước ghép
CR1
9 (70%)
CR2
4 (30%)
Mối quan hệ giữa người cho và người nhận
Cha/mẹ - Con
11 (85%)
Anh/Chị - Em
2 (15%)
Bất tương hợp giới tính người cho/người nhận
6 (46%)
Bất đồng nhóm máu ABO
4 (31%)
Bất đồng chính (major uncompatibility)
2 (15%)
Bất đồng phụ (minor uncompatibility)
2 (15%)
Bất đồng nhóm máu RhD (bất đồng chính)
1 (8%)
CR1: đạt lui bệnh hoàn toàn lần đầu
CR2: đạt lui bệnh hoàn toàn lần hai sau tái phát
3.2. Đặc điểm mọc mảnh ghép
Trong nghiên cứu, có 2 bệnh nhân không
mọc mảnh ghép, được tiến hành ghép haplo
lần 2 và tử vong trong quá trình điều trị. Tất
cả 11 bệnh nhân còn lại đều mọc mảnh ghép.
Thời gian trung vị hồi phục bạch cầu hạt là
15 ngày (12 – 38), thời gian trung vị hồi
phục tiểu cầu là 30 ngày (10 – 35). Trong đó,
có 1 bệnh nhân không giảm tiểu cầu trong
suốt quá trình điều trị.
Hình 1. Đặc điểm mọc mảnh ghép
3.3. Đặc điểm biến chứng sau ghép
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả
bệnh nhân được phòng ngừa GVHD với phác
đồ có PT-Cy. Có 4 trường hợp xuất hiện
GVHD cấp, trong đó có 2 trường hợp GVHD
cấp mức độ nặng. Có 1 bệnh nhân ghi nhận
GVHD mạn ở da và miệng. Tất cả các bệnh
nhân đều sốt giảm bạch cầu hạt, trong đó 7
trường hợp nhiễm trùng có bằng chứng vi
sinh, với 4 trường hợp nhiễm tác nhân gram
dương và 3 trường hợp nhiễm gram âm. Có 2
bệnh nhân tử vong do nhiễm trùng nặng.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
593
11/13 trường hợp ghi nhận có tái hoạt CMV
sau ghép. Và trong nghiên cứu của chúng tôi,
có 6 bệnh nhân có biến chứng viêm bàng
quang xuất huyết sau ghép, với tất cả trường
hợp đều là nam giới.
Bảng 2. Các biến chứng sau ghép
Đặc điểm
Bệnh nhân (n=13)
GVHD cấp
Độ I-II
2 (15%)
Độ III-IV
2 (15%)
GVHD mạn
Độ I-II
1 (8%)
Nhiễm trùng sau ghép có bằng chứng vi sinh
7 (54%)
Tái hoạt CMV
11 (85%)
Viêm bàng quang xuất huyết
6 (46%)
GVHD (Graft versus host disease): bệnh mảnh ghép chống kí chủ
CMV: cytomegalovirus
3.4. Kết quả sau ghép
Đến thời điểm hiện tại, 4/13 bệnh nhi
BCCDT ghép tế bào gốc đồng loài nửa thuận
hợp đã tử vong và 1 trường hợp bị mất dấu
sau khi tái phát. Trong đó 2 bệnh nhân tử
vong trước khi mọc mảnh ghép và cả 2 đều
tử vong do sốc nhiễm trùng. 2 trường hợp tử
vong còn lại do bệnh tái phát sau ghép. Hiện
tại còn 8/13 (62%) bệnh nhân còn sống và
không tái phát, và vẫn đang được theo dõi
định kì tại phòng khám. Với thời gian theo
dõi trung bình là 23 tháng (2-70), thời gian
sống thêm toàn bộ (OS) và thời gian sống
không biến cố (EFS) 2 năm ước tính lần lượt
là 55% và 55%.
Hình 2. OS và EFS của nghiên cứu
IV. BÀN LUẬN
Thải ghép, GVHD, nhiễm trùng và tái
hoạt nhiễm siêu vi là những nguyên nhân
phổ biến dẫn đến việc ghép haplo không đạt
được hiệu quả như mong muốn. Với việc sử
dụng PT-Cy dự phòng GVHD đã góp phần
nào giúp cải thiện tình trạng trên và tránh
việc sử dụng ức chế miễn dịch kéo dài.

