intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Chiến dịch giải phóng tây nguyên

Chia sẻ: Duonghuu Tan | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:20

0
179
lượt xem
19
download

Chiến dịch giải phóng tây nguyên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo tài liệu 'chiến dịch giải phóng tây nguyên', khoa học xã hội, lịch sử văn hoá phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chiến dịch giải phóng tây nguyên

  1. A – PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Để có được cuộc sống độc lập, ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay nhân dân ta đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm, bi ến c ố, đã hi sinh bi ết bao xương máu…Chính vì thế là người dân nước Việt chúng tôi tự hào về những trang sử vàng của dân tộc ta. Khao khát tìm hiểu về lịch sử dân tộc đã dẫn đưa chúng tôi đến với chiến dịch Tây Nguyên một trong những bước ngoặt lớn trong lịch sử đấu tranh giữ nước của Việt Nam chúng ta. 2. Mục đích yêu cầu Hòa cùng không khí chào mừng 33 năm ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước, chúng tôi, những sinh viên trường ĐH Công Nghiệp dưới sự chỉ dẫn nhiệt tình của thầy Nguyễn Minh Tiến Khoa Mác Lênin đã nghiên cứu đề tài này nhằm trang bị cho chúng tôi vốn kiến thức về lịch sử dân tộc và phát huy truy ền th ống yêu n ước, đoàn kết của nhân dân ta. 3. Nội dung đề tài Tây Nguyên là một địa bàn chiến lược hết quan trọng, mà cả ta và địch đều cố gắng nắm giữ. Nhưng do nhận định sai lầm hướng tiến công của quân ta, địch chốt giữ ở đây một lực lượng mỏng, bố phòng có nhi ều cơ sở. Căn cứ vào đó, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1974, quyết định chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu trong năm 1975, mở chiến dịch quy mô lớn ở Tây Nguyên với trận then chốt mở màn Buôn Mê Thuột.Quân địch tập trung lực lượng mở cuộc phản công nhằm chiếm lại Buôn Mê Thuột.Nhưng các cuộc phản công của chúng đều bị đnh1 tan. Sau hai đòn đau ở Buôn Mê Thuột, quân địch mất tinh thần, hàng ngũ 1
  2. chúng rối loạn, từ đó làm nảy sinh nh ưg4 sai l ầm l ớn v ề chi ến lược.Ngày 16.3, quân ta được lệnh đánh chặn và truy kích địch trên đường chúng rút khỏi Tây Nguyên.Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi đã chuyển cuộc chiến chống Mĩ cứu nước sang giai đoạn mới :từ cuộc ti ến công chiến lược phát triển thành cuộc tổng tiến công chiến lược trên toàn chiến trường Miền Nam. B – NỘI DUNG 1. Hoàn cảnh lịch sử Sau hiệp định pari 1973, trong hoàn cảnh Miền Bắc trở lại hoà bình, b ọn xâm lược buộc phải rút khỏi nước ta làm cho so sánh l ực l ượng ở Mi ền Nam thay đổi có lợi cho cách mạng, Miền Bắc có thêm nh ững di ều ki ện thuận lợi để khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh sản xuất và ra sức chi viện cho tiền tuyến. Với Hiệp định Pari về Việt Nam, ta đã “đánh cho Mĩ cút” mà vẫn chưa “đánh cho ngụy nhào”. Mĩ còn duy trì được chính quyền tay sai ở Miền Nam, chúng lập ra bộ chỉ huy quân sự trá hình , tiếp tục viện trợ quân sự, kinh tế cho ngụy. Chúng huy đ ộng lực lượng tiếp tục chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” chống lại cách mạng. Mặc dù chúng ta thi hành nghiêm ch ỉnh Hiệp định, nh ưng do phía địch phá hoại trắng trợn, có hệ th ống, chúng ta bu ộc ph ải đ ấu tranh kiên quyết để bảo vệ hiệp định, bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được, tiếp tục đưa sự nghiệp chống Mĩ cứu nước đến thắng lợi. 2. Diễn biến 2.1. So sánh lực lượng trên chiến trường Tây Nguyên 2.1.1. Lực lượng trên chiến trường : Phương án tiến công chiến dịch Tây Nguyên của Quân ủy Trung ương Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) chỉ rõ: lấy Nam Tây Nguyên 2
  3. làm trận đột phá, và thị xã Ban Mê Thuột là trận then chốt. Để thực hiện chiến dịch, bên cạnhcác sư đoàn 320, 10, và 968 hiện đóng sẵn ở Tây Nguyên, cuối tháng 12 năm 1974, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam điều thêm 316 lên Tây Nguyên, đưa lực lượng của họ tại đây lên bốn sư đoàn, và các lữ đoàn, trung đoàn độc lập của bộ binh, pháo binh, thiết giáp, đặc công, phòng không, công binh ... Và ch ưa k ể sư đoàn 3 của quân khu 5 tại Bình Địnhđánh chia cắt đường 19 và tấn công sư đoàn 22 Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) không cho ứng cứu để phục vụ trực tiếp chiến dịch này.Tại Tây Nguyên, lực lượng phòng thủ của VNCH gồm có Sư đoàn 23 Bộ binh Việt Nam Cộng hòa (gồm 3 trung đoàn 44, 45, 53), bảy liên đoàn biệt động quân (tương đ ương 10 trung đoàn), 4 thiết đoàn, 1 sư đoàn không quân số 6, ngoài ra còn các tiểu đoàn bảo an đồn trú. Do phán đoán sai, cho rằng vùng Bắc Tây Nguyên là nơi sẽ bị đánh đầu tiên, nên hầu hết lực lượng của h ọ bố trí tại b ắc phần Tây Nguyên để bảo vệ các thị xã Pleiku và Kon Tum trong khi Nam phần với thị xã Ban Mê Thuột có vai trò trụ cột phòng thủ Tây Nguyên lại chỉ có sở chỉ huy Sư đoàn 23, một trung đoàn số 53, 3 liên đoàn bảo an, và một liên đoàn biệt động quân số 21.ính trên toàn mặt trận Tây Nguyên, so với lực lượng QLVNCH, lực lượng bộ binh QĐNDVN không hơn nhiều. Nhưng do phần lớn quân phòng thủ chốt tại phía Bắc trong khi quân tấn công tập trung ở phía Nam, nên tại điểm quy ết chiến Ban Mê Thuột, ưu thế của quân tấn công so với quân phòng thủ có tỉ lệ áp đảo: bộ binh 5:1, thiết giáp 2:1, pháo lớn 2:1 [2], cho họ khả năng thắng lợi chớp nhoáng không cho phép địch cầm cự lâu dài chờ quân ph ản kích ứng cứu. Và thực tế đã diễn ra như vậy. 2.1.2. Bố trí lực lượng trên chiến trường Kể đến là kế hoạch chuẩn bị trực-tiếp được tiến hàng vào ngày 21 tháng 1 năm 1975. Trong phần này, Bộ Tư Lệnh Chiến Dịch hoàn chỉnh thêm 3
  4. vài bước khác như tiếp tục các hoạt động nghi binh và tái ph ối trí các đơn vị theo từng vùng cho mỗi nhiệm vụ. Tại vùng hoạt động gần Ban Mê Thuột gồm có các thành phần sau đây: Sư Đoàn 316 , Trung Đoàn 95B , Trung Đoàn 24 (thiếu một tiểu đoàn) , Tiểu Đoàn 21 (thuộc Đoàn 559) Trung Đoàn Đặc Công 198 , Ti ểu Đoàn Đặc Công 27 , Trung Đoàn Thiết Giáp 273 (thiếu một tiểu đoàn) Trung Đoàn Pháo Binh 40 và 675 ,Trung Đoàn Phòng Không 232 và 234 Trung Đoàn Công Binh 7 và 575,Lực lượng vũ trang tỉnh Darlac.Tại vùng hoạt động gần Đức Lập, Quảng Đức, gồm có: Sư Ðoàn 10 (thiếu Trung Đoàn 24) , Trung Đoàn 271 , Một ti ểu đoàn pháo binh thuộc Trung Đoàn Pháo 40 , Tiểu Đoàn Đặc Công 14. Thêm vào đó, các vùng hoạt động chế ngự những quốc lộ trên vùng Tây Nguyên bao gồm các lực lượng như sau: Sư Đoàn 320 ph ụ trách m ặt trận đường 14, Sư Đoàn 3 (thiếu một trung đoàn) ở Bình Khê và Trung Đoàn 95A ở Lay Pon phụ trách mặt trận đường 19, Sư Đoàn 968 phụ trách mặt trận tấn công từ hướng Kontum và Pleiku (cộng với lực l ượng nhân dân vũ-trang trong hai tỉnh này) ,Trung Đoàn 25 phụ trách mặt trận đường 21.Ngày 23 tháng 2 năm 1975 Đại Tướng Văn Tiến Dũng, nguyên đại diện cho Bộ Tổng Tư Lệnh, đã chánh th ức phê chu ẩn k ế ho ạch c ủa Bộ Tư Lệnh Chiến Dịch Tây Nguyên. Đến đây, mọi công tác đã được chuẩn bị kỹ càng. Ngày 4 tháng 3, chiến dịch Tây Nguyên chính th ức b ắt đầu. Từ ngày 4 đến ngày 9 tháng 3, quân đội tổ chức cuộc nghi binh, khai triển đội hình, tạo điều kiện đánh Ban Mê Thuột. 2.2.Tiến công Buôn Ma Thuột 2.2.1. Đánh chiếm thị xã Buôn Mê Thuột, đòn điểm trúng huyệt làm đảo lộn thế trận 4
  5. Từ ngày 5 đến 8-3, sau khi quân giải phóng bǎm nát các tuy ến đ ường giao thông quân sự 19, 14, 21, thì các cǎn cứ địch ở Tây Nguyên lâm vào thế bị bao vây chia cắt. Báo Mỹ tuần tin tức 7-4-1975 nhận xét:" Trong cuộc chiến đấu này, chính bằng cách cắt đường sá mà Vi ệt c ộng đã gây ra nhiều tác hại nhất cho quân đội Nam Việt Nam" (quân nguỵ). Sau trận diệt chi khu quân sự và quận lỵ Thuần Mẫn thuộc Phú Bổn (ngày 8-3) nằm trên đường 14 ở quãng giữa Plây Cu và Buôn Mê Thuột, địch phán đoán rằng đối phương sẽ đánh Plây Cu. Những ngày này các chiến sĩ pháo binh tới tấp giội bão lửa xuống sân bay Cù Hanh nằm trong th ị xã Plây Cu. Địch vội vàng điều phần lớn sư đoàn 23 từ Buôn Mê Thu ột lên, cùng các liên đoàn quân biệt động, các trung đoàn thiết giáp hình thành một vành đai bảo vệ quanh Plây Cu, nơi đặt sở chỉ huy của quân đoàn 2.Trong lúc địch đang tập trung quân bảo vệ Plây Cu thì sáng ngày 10-3, quân và dân Tây Nguyên bất thần tiến công và nổi dậy ở th ị xã Buôn Mê Thuột. Sau hai ngày chiến đấu, đã nhanh chóng tiêu di ệt các c ǎn c ứ quân sự địch và làm chủ hoàn toàn thị xã Buôn Mê Thuột.Chiến thắng Buôn Mê Thuột thể hiện sự chỉ đạo tác chiến rất tài giỏi. Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng đã buộc địch phải tập trung lực lượng về để bảo vệ khu vực Plây Cu, điều sư đoàn 23 là sư đoàn ch ủ lực duy nhất ở Tây Nguyên rời khỏi Buôn Mê Thuột, tạo nên sơ hở lớn ở đây. Trận thắng tiêu diệt địch giải phóng Buôn Mê Thuột là đòn hiểm đúng huyệt, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ Tây Nguyên, khiến cho quân địch hết sức bất ngờ choáng váng, thế trận bị đảo lộn dẫn đ ến sụp đổ nhanh chóng. 2.2.2. Đập tan cuộc phản kích tiêu diệt sư đoàn 23 ngụy. 5
  6. Mất Buôn Mê Thuột. Địch hoang mang hoảng h ốt. Mỹ - Thi ệu l ệnh cho Phạm Vǎn Phú phải lấy lại Buôn Mê Thuột. Chúng cấp t ốc đ ẩy s ư đoàn 23 từ Plây Cu xuống Đắc Lắc, tǎng cường thêm trung đoàn thi ết giáp s ố 8, liên đoàn biệt động số 22. liên đoàn bảo an số 926 cùng nhi ều ti ểu đoàn bảo an khác. Chúng chọn Phước An trên đường 21 cách Buôn Mê Thuột 40km về phía đông làm bàn đạp ph ản kích. Buôn Mê Thu ột đã v ề tay cách mạng mà đài Sài Gòn vẫn ra rả :" Cuộc chi ến đ ấu còn ti ếp di ễn trên đường phố". Đây vừa là đòn tâm lý vừa là mưu đồ tái chiếm Buôn Mê Thuột của Mỹ - Thiệu.Bộ chỉ huy mặt trận Tây Nguyên hạ quy ết tâm đập tan cuộc phản kích tiêu diệt toàn bộ quân địch ở đây. Mệnh lệnh vừa truyền xuống, lập tức các đơn vị Quân giải phóng, áp sát đ ịch nhanh chóng đánh chiếm cǎn cứ trung đoàn 45 chi khu quân sự và quận lỵ Phước An, khống chế các điểm mà quân địch có thể làm bàn đạp phản kích.Với tinh thần kiên quyết tiến công, bộ đội giải phóng Tây Nguyên đã hạ quyết tâm nhanh, kịp thời cơ động lực lượng nhanh chóng đánh địch khi chúng dừng chân chưa vững. Các chiến sĩ giải phóng đã hình thành nhiều mũi, nhiều hướng áp đảo địch ngay từ lúc đầu, hình thành thế bao vây, chia cắt địch, vừa đánh quân địch ở ngoài công sự, v ừa ti ến công địch ở cǎn cứ. Do vậy, đã bẻ gẫy hoàn toàn kế hoạch phản kích của chúng. Từ 13 đến 16-3-1975, các chiến sĩ giải phóng đã chiến đấu rất dũng cảm, mưu trí, tiêu diệt sư đoàn 23 và toàn bộ quân địch ở Phước An, đập tan cuộc phản kích của chúng. Hãng Ap phải đưa tin: "Thất bại đầu tiên ở Tây Nguyên làm cho s ư đoàn 23 bị diệt chỉ còn 37 tên sống sót trong số 13.000 quân lính của sư đoàn này. Một liên đoàn biệt động quân gồm 1.600 người cũng chỉ còn lại 35 người sống sót". Chiến thắng ở Phước An đã khiến cho bọn địch còn l ại ở Tây Nguyên hoảng hốt khiếp đảm, buộc chúng phải đi đ ến một quy ết 6
  7. định bi đát là rút chạy khỏi toàn bộ các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Phú B ổn. (Phụ lục 1) 2.2.3. Chặn đánh địch tháo chạy trên đường số 7. Trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, ngày 27-3 bọn dịch còn Tây Nguyên hoảng hốt rút chạy khỏi Công Tum, Play Cu, theo đường số 7 qua Hậu Bổn về Tuy Hoà (Phú Yên). Bọn tháo chạy bao gồm 5 liên đoàn quân biệt động. Hai trung đoàn thiết giáp một số tiểu đoàn b ộ binh, pháo binh cùng toàn bộ lực lượng đia phương quân. Tên đại tá Phạm Duy Tất được Mỹ - Thiệu nhấc lên chuẩn tướng để chỉ huy việc rút ch ạy này. Các hãng thông tin và báo chí phương tây đã mô t ả :" Cuộc kéo ch ạy c ủa quân Sài Gòn kéo dài tới 300 km", "Đây là cuộc tháo chạy lớn nhất, hoảng hốt nhất trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam", " S ự ki ện rút chạy này chắc chắn sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần vốn đã th ấp kém của quân (nguỵ) Nam Việt Nam".Một lần nữa, bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng đã nắm chắc ý đồ địch "bỏ Tây Nguyên". Một số đơn vị đã được lệnh gấp rút hành quân chặn đánh địch. Thế là cuộc chiến đấu đánh địch tháo chạy trên đường số 7 đã diễn ra quy ết li ệt, liên tục trong 7 ngày từ 17 đến 23-3-1975, từ Hậu B ổn đến Phú Túc. Các lượng vũ trang nhân dân giải phóng diệt và làm tan rã hơn 7.000 tên, thu 740 xe quân sự và gần 100 đại bác.Đây là một trận đánh tiêu di ệt đ ịch trên đường giao thông quy mô lớn, phạm vi rộng, Các đơn vị lực lượng vũ trang giải phóng nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của Bộ chỉ huy, nhanh chóng vận động chặn đánh địch rút ch ạy. Các đ ơn vị đã xé đ ội hình chúng ra thành từng mảng để tiêu diệt. Thừa thắng, các chiến sĩ giải phóng diệt cả bọn địch ở thị xã Hậu Bổn, hỗ trợ nhân dân nổi dậy giải phóng toàn bộ tỉnh Phú Bổn.Địch hy vọng tháo chạy để bảo toàn lực lượng nhưng không thoát. Kế hoạch rút quân Tây Nguyên về co cụm ở ven biển miền Trung bị đập vỡ. Cuộc rút lui chiến lược mà Nguyễn Vǎn 7
  8. Thiệu gọi là "di tản chiến thuật" đã biến thành một cuộc tháo chạy hoảng loạn, dẫn tới một kết quả bi thảm là toàn bộ lực lượng quân nguỵ ở Tây Nguyên bị tiêu diệt và tan rã.Quân và dân Tây Nguyên đã phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, bất khuất, đồng loạt tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, đã quét sạch toàn bộ lực lượng quân sự, đập tan bộ máy kìm kẹp của địch giải phóng hoàn toàn 4 tỉnh Công Tum, Plây Cu, Đắc Lắc, Phú Bổn với hơn 60 vạn đồng bào các dân tộc. Quân và dân Tây Nguyên đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 12 vạn tên địch, tiêu diệt sư đoàn bộ binh số 23, 5 liên đoàn quân biệt động, 4 trung đoàn thi ết giáp, 8 tiểu đoàn pháo; diệt và làm tan rã 3 liên đoàn, 24 tiểu đoàn bảo an, 485 trung đội dân vệ, thu 1.250 xe quân sự, 110 đ ại bác, hàng v ạn t ấn vũ khí, đạn được và phương tiện chiến tranh. 2.3. Bước ngoặc phản chiến 1975. Buôn Ma Thuột, ngày 11/3/1975. Trận đánh mở màn cho cú điểm "tử huyệt" Tây Nguyên, là kết quả tính toán thận trọng và táo báo c ủa nh ững nhà lãnh đạo Việt NamMất căn cứ cơ bản trụ cột phòng th ủ cao nguyên mà trong tay không còn lực lượng dự bị cơ động nào khả dĩ nào để có thể xoay chuyển tình thế. Hai sư đoàn dự bị chiến lược là sư đoàn Dù và Thuỷ quân lục chiến là quá ít và chính h ọ cũng đang b ị uy hi ếp dính ch ặt ở quân khu 1 như các đơn vị đồn trú. Đến ngay nh ư việc trước đó khoảng 2 tháng mất tỉnh Phước Long cách Sài Gòn ch ỉ khoảng 100 km mà quân Ngụy quân cũng không còn lực lượng để tái chiếm. Quân đội Ngụy quân không còn lực lượng để chiến đấu dài hơi được nữa. Điều đó cho thấy tình thế rất bị bó buộc của quân đội Việt Nam Cộng hoà. Thêm nữa các lực lượng tại bắc Tây Nguyên đang chịu nguy cơ bị tấn công tiêu diệt, Tổng thống Ngụy quyền quyết định bỏ Tây Nguyên rút các lực lượng còn lại về cố thủ dải đồng bằng ven biển miền Trung. Tuyến hành quân sẽ là theo đường 14 từ Pleiku đi xuống phía nam sau đó 8
  9. rẽ vào đường 7 đã bỏ từ lâu và xuôi về thị xã Tuy Hoà t ỉnh Phú Yên. Mệnh lệnh này được ban ra bằng lời sau cuộc họp của Tổng th ống Nguyễn Văn Thiệu tại Nha Trang với Tổng Tham mưu trưởng và Tư lệnh quân khu 2. Đây sẽ là thảm hoạ chết người cho quân Ngụy. Quy ết định này có lẽ là hệ quả tất nhiên của tình trạng suy ki ệt l ực l ượng c ủa Ngụy quân lúc đó.(Phụ lục 2) Quân phòng thủ Bắc Tây Nguyên chỉ có 2-3 ngày để chuẩn bị cuộc hành quân. Thực tế cuộc hành quân này không có kế hoạch, không có yểm trợ và phó mặc tất cả vào sự may rủi của số ph ận. Một lực lượng quân hàng vạn người chuẩn bị trong 2-3 ngày, đi hàng trăm km không có yểm trợ với tinh thần chiến đấu xuống rất thấp sau khi Ban Mê Thu ột thất thủ, và đặc biệt họ đi cùng gia đình và dân chạy nạn tất cả đã làm cho cuộc hành quân thành đoàn xe cộ khổng lồ ùn tắc không đội hình, không tổ chức, không thể chỉ huy và chiến đấu được.Khi được tin quân Ngụy quân bỏ Tây Nguyên Bộ chỉ huy quân Quân Giải phóng t ại Tây Nguyên ra lệnh cho sư đoàn 320 đang phong toả đường 14 đu ổi theo. B ộ phận đi đầu của đơn vị này chạy đua, tắt núi đón đầu và kịp ch ặn đ ường tại bên ngoài thị xã Cheo Reo tỉnh Phú Bổn. Chỉ một lực lượng rất nhỏ quân Ngụy quân đi thoát còn toàn bộ đoàn quân và dân ch ạy nạn đã b ị tan rã không tổ chức lại được nữa.Kế hoạch di tản của Ngụy quân đã không cứu được lực lượng quân bố phòng Tây Nguyên, Tây Nguyên mất vào tay quân GPMN mà đặc biệt nó làm thành làn sóng hoảng loạn lan kh ắp mọi nơi làm tan rã tinh thần các binh sĩ trên toàn quốc. Quân đ ội Ng ụy quân bắt đầu tan rã nhanh chóng và sụp đổ. Tóm lại, chiến dịch Tây Nguyên kết thúc thắng lợi tạo đi ều ki ện cho quân và dân ta thừa thắng xông lên, chiến dịch nối tiếp chiến dịch. Sau chiến dịch Tây Nguyên là đến chiến dịch huế - Đà Nẵng và cu ối cùng là 9
  10. chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta quyết tâm giải phóng miền Nam thồng nhất đất nước trong mùa xuân này ( mùa Xuân năm 1975). 3.Kết quả và ý nghĩa lịch sử 3.1.Kết quả: Kết quả, ta đã gây thiệt hại và làm tan rã Quân Ðoàn 2/Quân Khu 2 của Việt Nam Cộng Hòa cùng một bộ phận cơ-động chiến lược của họ. Ta tiêu diệt Sư Ðoàn 22 và 23, Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù, 8 liên đoàn Bi ệt Ðộng Quân, một liên đoàn công binh, 4 thiết đoàn thiết giáp, 10 ti ểu đoàn pháo binh, đánh thiệt hại nặng Sư Ðoàn 6 Không Quân, gây thiệt hại và làm tan rã 7 tiểu khu, 26 chi khu, 50 tiểu đoàn và 51 đại đội Bảo An cùng toàn bộ lực lượng cảnh sát, dân vệ và phòng vệ dân s ự trong 7 tỉnh. Lo ại khỏi vòng chiến đấu hơn 20,000 lính VNCH, thu và phá h ủy 154 máy bay, 1,096 xe, 17,188 khẩu súng cùng toàn bộ các cơ sở hậu cần kỹ thuật của địch ở Tây Nguyên. Ta chiếm được 5 tỉnh: Kontum, Gia Lai, Darlac, Phú Bổn, và Quảng Đức. 3.2. Nguyên nhân thắng lợi Chiến thắng Tây Nguyên - Sức mạnh của tinh thần đoàn kết quân • dân đoàn kết dân tộc: Các dân tộc Việt Nam rất tự hào với truyền thống văn hóa và đ ấu tranh chống xâm lược rất lâu đời trong lịch sử của dân tộc.Trong suốt thời kì đấu tranh giải phóng dân tộc,Nhân dân Tây Nguyên đã kiên cường bất khuất cầm vũ khí phối hợp cùng với bộ đội đánh gi ặc gi ữ buôn làng và chính họ cũng là hậu phương vững chắc, tích cực sản xuất lương thực,đi dân công, làm đường, gùi đạn, đào hầm; cung cấp tình hình địch và dẫn đường cho bộ đội… Sự gắn bó với cách mạng, tình đoàn kết 10
  11. quân dân ở Tây Nguyên đã thấm sâu và trở thành niềm tự hào và nghĩa vụ của mỗi người dân không phân biệt già trẻ, gái trai. Tình cảm quân dân gắn bó đó đã trở thành một sức mạnh vô cùng to lớn đ ể quân và dân Tây Nguyên vượt qua muôn vàn khó khăn, từng bước đi từ thắng lợi này đ ến thắng lợi khác.Ba mươi năm kháng chiến cho ngày chiến th ắng 30/4/1975, là thời kỳ quân và dân cả nước cũng như quân dân Tây Nguyên chiến đấu rất oanh liệt, thắng lợi rất vẻ vang, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu. Đó là những bài học lịch sử về đường lối kháng chiến đúng đắn ‘toàn dân, toàn diện, lâu dài” do Đ ảng và H ồ Ch ủ Tịch đã đề ra; về phương hướng, phát triển đấu tranh từng bước từ th ấp đến cao, từ đấu tranh chính trị đến đấu tranh vũ trang; chăm lo xây d ựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng các đoàn thể nhân dân; phát động cuộc chiến tranh nhân dân 3 thứ quân; xây dựng hậu phương trực tiếp cho mỗi cấp, mỗi vùng; xây dựng căn cứ địa nhất là về chính trị, nâng cao giác ngộ quần chúng, đào tạo cán bộ địa phương và xây dựng Đảng bộ địa phương vững mạnh là vấn đề mấu chốt biến đường lối, chủ trương của Đảng thành hiện thực thắng lợi. Những bài học lịch sử về đoàn kết và phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc trong kháng chiến vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn to lớn trong sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốcMối quan hệ gắn bó nhân dân ba n ước Việt Nam ,Lào ,Campuchia đã có từ lâu tong lịch sử và được thử thách trong ngọn lửa cách mạng chống ẻ thù chung. Tinh th ần đoàn kết và liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc đã tạo ra sức mạnh to lớn cho các lực lượng cách mạng chung Đông Dương và cho lực lượng cách mạng từng nước ở Đông Dương. • Cuộc kháng chiến của nhân dân ta được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn, có hiệu quả của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ 11
  12. nghĩa khác, lại được sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc. • Sự lãnh đạo tài tình của Đảng và nhà nước .Kết h ợp với cách đánh phối hợp trong lẫn ngoài của quân ta . • Đó là toàn bộ những nhân tố tạo sức mạnh, bảo đảm cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn. 3.3.Ý nghĩa lịch sử Thắng lợi rất to lớn của Tây Nguyên là thắng lợi của sự chỉ đạo chiến lược, chiến dịch rất tài tình sáng tạo; thể hiện chất lượng chiến đấu cao, sức mạnh chiến đấu lớn của các lực lượng vũ trang giải phóng; là th ắng lợi của cả 3 mũi tiến công quân sự, nổi dậy của quần chúng và vận động binh sĩ địch; là kết quả của sự hiệp đồng chặt ch ẽ gi ữa các h ướng trong chiến dịch. Chiến thắng Tây Nguyên mở ra một cục diện hết sức tốt đẹp tạo nên thời cơ mới vô cùng thuận lợi cho quân và dân miền Nam xốc tới tiến công và nổi dậy thần tốc, mãnh liệt liên tiếp tiêu di ệt các l ực l ượng sừng sỏ của địch, giải phóng toàn bộ vùng đồng bằng ven bi ển chi ến lược miền Trung, lập nên thắng lợi cực kỳ to lớn của mi ền Nam anh hùng. C – KẾT LUẬN 1. Kết quả nghiên cứu : Hiểu được quá trình đấu tranh giành chính quyền của nhân dân • dưới sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn qua đó ra được nguyên nhân thắng lợi,bài học kinh nghiệm cho Đảng từng 12
  13. bước lớn mạnh đồng thời cũng rút ra được kinh nghiệm ,bài học của bản thân trong thời kì mới . • Thấy được sự gian nan vất vả ,sự hi sinh to lớn của ông ta cha để làm nên những trang sử hào hùng cho tổ quốc ,làm cho bản thân càng thêm tự hào khi mang trong mình dòng máu lạc hồng . • Mỗi bản thân tự nhủ ,tự phấn đấu trong thời kì mới để ti ếp bước cha ông trên con đường xây dựng Việt Nam xã h ội chủ nghĩa . • Ngoài ra làm tiểu luận theo nhóm làm cho từng thành viên trong nhóm có cơ hội tiếp xúc, hiểu nhau,đoàn kết , giúp đơ nhau trong học tập cũng như trong đời sống 2. Đề xuất và kiến nghị Là sinh viên học sinh đang ngồi dưới giảng đường Đại • học,chúng tôi có những kiến nghị nhỏ muốn góp phần thêm về việc gìn giữ đất nước ta trong giai đoạn hiện nay bằng cách : • Các trường học phải thường xuyên tổ chức cho học sinh sinh viên có những buổi học hay những buổi ngoại khóa tìm hiểu về lịch sử đất nước để có thể hiểu một cách rõ ràng và sâu s ắc phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân ta . Cho học sinh sinh viên tham gia các hoạt động đi thăm các vi ện • bảo tàng hay các di tích lịch sử năm xưa mà đất nước đã diễn ra cuộc đấu tranh oanh liệt và hào hùng .Nhằm giúp cho họ có kiến thức cơ bản về lịch sử Việt Nam, tránh tình trạng xuyên tạc lịch sử khi không nắm những thông tin chính xác và đặc biệt là tránh âm mưu chiến tranh của kẻ thù . 13
  14. Đồng thời khi làm bài tiểu luận thì chúng tôi muốn đưa ra ý • kiến của nhóm đó là : Về lý thuyết chúng ta cũng làm trong m ột giai đoạn lịch sử nào đó . Về thực hành chúng ta ti ến hành “mô hình hóa” về giai đoạn lịch sử mà chúng ta đảm nhận. Có như vậy mới kích thích được sự tò mò ,ham học của sinh viên , giúp sinh viên học tốt hơn . 14
  15. PHỤ LỤC : Phụ lục 1: Bảo vệ vùng giải phóng Nam Tây Nguyên( http://vi.wikipedia.org) Phụ lục 2 : Bước ngoặc phản chiến 1975 (http://vi.wikipedia.org) 15
  16. P h ụ lục 3: Trực thăng vũ trang với hỏa tiễn TOW ở Pleiku năm 1972 (http://vi.wikipedia.org) Phụ lục 4: xe quân đội và xe thường dân chen chúc di tản từ Tây Nguyên về Tuy Hòa ở vùng duyên hải. (http://vietnam.ictglobal.net) 16
  17. Phụ  lục 5 : Xe  địch bị  ta tiêu diệt  ở  Thạnh Hội (Sơn Hòa), tháng 3/1975 –  Ảnh: TƯ  LIỆU   (http://www.baophuyen.com.vn) Phụ lục 6: Binh sĩ sư đoàn 18 bắn cháy xe tăng của quân giải phóng ngày 11/4 giai đoạn đầu trận Xuân Lộc năm 1975 (http://vi.wikipedia.org) 17
  18. Phụ Lục 7: Du kích miền Nam diệt địch,thu xe bọc thép (http://hanoi.vnn.vn) Phụ lục 8: phản lực cơ F-100 Supersabre trên vùng trời Tuy Hòa Nguồn : http://vietnam.ictglobal.net 18
  19. TÀI LIỆU THAM KHẢO: Lịch sử Đảng công sản Việt Nam – Bộ Giáo Dục và Đào Tạo –  NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2005. Võ Nguyên Giáp . Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền  Nam, thống nhất đất nước . Nhà xuất bản quân đội nhân dân Thông tin, tranh ảnh qua mạng Internet:  http://vietnam.ictglobal.net  http://hanoi.vnn.vn  http://vietbao.vn/Phong-su  http://www.baophuyen.com.vn  http://vi.wikipedia.org  19
  20. MỤC LỤC Trang 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản