
Cổ trấn & khúc hành trình
TRUYỆN NGẮN CỦA TIẾN ĐẠT
Em đến cổ trấn, có cần phải băng qua dòng xoáy sông Hoang?
Em đến nơi rồi. Sờ tay cổng cổ trấn. Phía sau cổng bình phong xi măng rêu phong cũ kỹ.
Bình phong khắc hình cọp ngoác miệng nhe nanh nhọn hoắc nhưng đôi mắt u uẩn đến lạ.
Em tìm thấy những hàng chữ vừa tượng thanh vừa tượng hình loằng ngoằng phía sau dãy
cột cao. Người đàn ông da trâu từ đâu xuất hiện tiến đến bên em thì thầm, cô em về đây
mua đá cổ thạch hay săn bản viết tay Cổ thành hội của cụ Đào. Hai thứ ấy tui không có
trong tay nhưng tui biết nó nằm ở đâu và làm cách nào để sở hữu nó mà không bị chính
quyền tóm cổ. Tui lấy làm lạ, khuôn mặt nhân hậu cô em lại vướng vào vòng tiền bạc và
nguy cơ lao lý. Em nói, cháu không biết những thứ xa lạ và nguy hiểm. Cháu đến đây chỉ
để tìm lại dấu vết thời trai trẻ phiêu giạt của người thân. Có phải thằng trai làm thư ký
kiêm chạy vặt lăng xăng trong gánh hát cách đây mười tám năm? Cô bị nó lừa tình? Dạ
không, cháu và anh ấy chẳng ai lừa ai. Tâm nó tốt nhưng động, mê cái đẹp nhưng khổ
tình. Cô đọc được hết nó không?
Cổ trấn.
Buổi chiều.
Đàn bò chậm chạp len lỏi qua những con đường bụi mù.
Ngôi chùa nhỏ, cổ kính, xám xịt. Thầy trụ trì ngoài bảy mươi, độc cư từ thuở tóc để
chổm, sáng sớm bất kể mưa nắng gió bão xếp chân tọa thiền, vầng trán ánh màu vàng
nghệ, tác nhân chính giải vây nỗi u đặc luôn căng dày trên bốn mươi khuôn mặt gánh hát
tá túc quanh chùa.

Sông Hoang lười biếng chảy dù nó tiếp giáp một nhánh thượng nguồn sông Mê. Anh đã
ngồi tại cổ trấn những buổi chiều tuổi hai mươi, lứa tuổi ông chủ gánh hát khẳng định
đẹp và đáng sợ nhất đời người. Đẹp? Anh chưa trải nghiệm. Đáng sợ? Anh cũng không
thể đoán định được điều gì đáng sợ nhất đang chờ mình. Có thể cái chết, mà cũng có thể
lời phán xét của thầy bói mù núi Hạ khẳng định anh không có khả năng làm thằng đàn
ông yêu đương ra hồn khi có sự chứng kiến của cô đào dòng dõi hoàng tộc.
Tuổi mười tám anh phó mặc may rủi. Nhảy tàu ga nhỏ. Đặt chân xuống cổ trấn lúc cơn
mộng chưa tan. Anh buông cho thần số phận ban phát may mắn nhỏ giọt hoặc hình phạt
gán ghép thua thiệt. Thời điểm rời xa cổ trấn, anh thầm cười suy nghĩ nông cạn và sến
thời trai trẻ.
Ngày đầu tiên nơi cổ trấn, điều làm anh phân tâm là tất cả người quanh anh vẫn thản
nhiên sống và mơ đổi đời. Cha anh, từ góc đồng heo hút vẫn hàng đêm thở dài và đốt
nhang khắp góc sân cầu khấn sự an lành cho thằng con mơ mộng hão huyền. Ông ghét
nhịp phách trống chầu và nhạc trai đàng của đám thầy cúng và nhóm đào lẳng da phấn.
Cha anh đoán định thằng con đã khắc sâu vào tâm trí giấc mộng thành ông hoàng được
bu quanh bởi đám nịnh thần ton hót và dàn gái đẹp ngày đêm phấn son sắp hàng dâng
hiến trên sàn gỗ.
Những chuyến đi bất định dường như đã trở thành gien trong những người đàn ông nhà
anh. Ông nội, xuất thân giáo làng nghiêm cẩn và được bà con trong làng trọng dụng tuổi
hai mươi bỏ xứ đi biền biệt đến hai mươi năm sau quay về cùng hai người đàn bà và tám
đứa con nheo nhóc. Hai người đàn bà suốt ngày câm lặng, cuốc tỉa cấy gặt tất bật từ sáng
sớm đến tối mịt ngoài đồng Cỏ Lát xa. Họ thay phiên cách ngày ngủ cùng người đàn ông
họ yêu thương và kính trọng nhất trong căn buồng ọp ẹp, tối tăm, đặc quánh mùi rơm rạ
và mùi từ người đàn ông thân thể cong queo. Tám đứa con, trong đó có cha anh đã lớn
lên dưới sự đùm bọc của hai người đàn bà cam phận và sự dạy dỗ nghiệt ngã nhiều đòn
roi của người cha không đạt vận lớn sau chuỗi ngày biệt xứ. Cha anh, bước sang tuổi
mười tám lẳng lặng rời bỏ làng khi xung quanh rền tiếng bom đạn. Ông không thành
tướng hiên ngang bốn bề trận mạc như hy vọng mong manh của người cha mà lao vào

con đường tâm linh. Cũng chẳng đạt chánh quả như ngưỡng vọng cá nhân khi cạo đầu
xuống tóc. Có thể đó là giải pháp tốt nhất để không phải ôm súng lao vào lửa đạn, mà
cũng có thể vì sự vi diệu hoặc ám ảnh chân kinh nơi cửa chùa. Cha anh cấm mẹ anh nói
anh sinh nơi gốc cây bồ đề, và nguồn sữa mẹ anh có được từ sự ban phát của bà con mộ
đạo. Tuổi mười tám anh nhận ra sự hồi hộp của ông nội và cha anh khi họ phát hiện anh
cũng có ý định bỏ nhà đi khi tuổi trưởng thành. Những tiếng thở dài của mẹ làm anh
chùng chình, nhưng không đủ sức kéo anh ở lại. Tiếng thở dài của mẹ làm anh rơi nước
mắt trong đêm đầu tiên khó ngủ tại cổ trấn.
So đám đào, kép và các tay chơi nhạc cụ cùng đám chuyên lo thiết kế sân khấu gánh hát,
anh được liệt vào kẻ trung thành nhất của ông chủ. Vào ngày cuối tháng anh được ông
đèo trên chiếc 67 cà tàng băng qua những đám bụi mù cổ trấn đến thị trấn Mù Khơi
thưởng thức thịt chó và uống những ly rượu gạo mà ông chủ quán đôi mắt ti hí khoe thứ
hoàng tửu và mễ tửu mang về từ bên kia vùng biên chỉ dành riêng chiêu đãi khách quý,
bạn hiền. Say mềm, ông chủ gánh hát và chủ quán ôm vai bá cổ nghiêng đầu tay gõ nhịp
phách ầm ĩ xuống chiếc bàn nhựa xỉn màu cười hát nghêu ngao: Con cu bay bổng qua
sông/ Hỏi thăm em bậu có chồng hay chưa? Có chồng năm ngoái ngày xưa/ Năm nay
chồng chết nên chưa có chồng. Cuối cuộc rượu, hai lão nhớ lời Đào công trong Khuê Các
Anh Hùng, cùng chốc cheng với hai dòng nước.
Anh giết thời gian bằng những ngày dài mơ mộng ái tình cô đào hoàng tộc. Anh muốn
một lần nằm cạnh nghe cô hát ru (cũng như sau này anh từng mơ một lần duy nhất trong
đời nắm chặt bàn tay lạnh và hôn nhẹ lên vầng trán rộng của nàng). Khát vọng khám phá
phụ nữ thời trai trẻ của anh càng bùng lên những khi chứng kiến ông chủ chở đằng sau
chiếc 67 bao quà cho đào và nhân viên nữ gánh hát. Chính tay ông chủ gom xu-chiêng và
quần lót Tàu đủ màu sắc kích cỡ do cánh buôn đánh hàng từ bên kia vùng biên đem về đổ
lên vệ đường bán tính bằng ký tại phiên chợ thị trấn ngày cuối tuần cuối tháng. Tiếng
cười khúc khích của chị em từ đằng sau tấm phên ọp ẹp những khi tranh nhau quà tặng
của ông chủ làm anh mặc cảm sự bất tài của mình.

