
Đặc điểm từ vựng trong ca
từ cải lương
ThS Đỗ Dũng

Trước nay, các tác giả kịch bản Cải lương cũng như những nhà nghiên
cứu về Cải lương chỉ khảo sát về nguồn gốc và lịch sử phát triển, hình thức cấu
trúc kịch bản, thủ pháp dàn dựng… chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc
điểm ngôn ngữ hoặc đặc điểm từ vựng trong ca từ Cải lương. Bài viết này, xem
như bước đầu nghiên cứu một số vấn đề về đặc điểm từ vựng trong ca từ Cải
lương; nhằm góp phần tôn vinh những thành tựu của các tác giả Cải lương tiền
bối đã xây thành; và tạo tiền đề cho những công trình nghiên cứu sau này làm
rõ vấn đề từ vựng trong ca từ Cải lương nói chung, cung cấp cho các tác giả
kịch bản Cải lương sau này có vốn tri thức trong xây dựng ca từ; cũng nhằm
góp phần gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt trong loại hình nghệ thuật truyền
thống này.
Vấn đề từ và từ vựng
Muốn nhận diện từ và từ vựng không đơn giả chút nào, cho dù chỉ trong
phạm vi ngôn ngữ tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ đơn lập. Trong các loại ca từ

như ca khúc, dân ca, hát ru, Vọng cổ, kịch hát dân tộc…; từ và tiếng lại càng nhọc
nhằn cho sự xác định ranh giới hơn, nếu không tìm thấy đặc điểm của chúng.
Từ là một đơn vị ngôn ngữ có tổng thể hữu cơ, có tính toàn khối chuyên biểu
thị thực tế khách quan, bao gồm các đặc trưng về ngữ âm, các thuộc tính ngữ
nghĩa và ngữ pháp, có thể tồn tại tách rời nhau và được tái hiện trong các lời nói
khác nhau; là đơn vị lớn nhất trong hệ thống ngôn ngữ: chứa đựng trong lòng nó
những đơn vị của các cấp độ dưới nó; là đơn vị có sẵn, cố định, bắt buộc (có tính
chất xã hội); là đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống ngôn ngữ: độc lập về ý nghĩa và
hình thức, tạo nên các đơn vị cú pháp: cụm từ và câu [13, 394].
Từ vựng được hiểu, là một tập hợp tất cả các từ và đơn vị tương đương với
từ trong ngôn ngữ. Đơn vị tương đương với từ là những cụm từ cố định, cái mà
người ta vẫn hay gọi là các thành ngữ, quán ngữ, như: Tốt gỗ hơn tốt sơn, Chứng
nào tật nấy, Đẹp mặt nở mày…
Trong cấu tạo ca từ của Cải lương, từ ngữ và âm nhạc là hai thành phần cơ
bản nhất; hai thành phần này luôn có quan hệ gắn bó với nhau để tạo thành một
sản phẩm âm thanh trọn vẹn, cả về mặt nội dung và hình thức. Đó là sự tương
đồng về mặt âm thanh của từ và âm thanh của nhạc. Nói khác đi, ca từ Cải lương
được hình thành từ từ ngữ và âm nhạc, chúng có chung một âm thanh. Ví dụ: tình,
người, đời, trời, thời… là những vỏ ngữ âm tương đồng với vỏ âm thanh của nhạc:
hò, xề, xàng, xừ, cồng… của nhạc Cải lương
Phân loại từ xét theo kiểu cấu tạo từ trong ca từ Cải lương
- Từ đơn (simple word)
Từ đơn là từ chỉ có một hình vị chính tố tạo nên. Nói rõ hơn, từ đơn là từ chỉ
có cấu tạo bằng một hình vị. Ví dụ: tôi, nhà, hoa, vui, buồn, gà, ngựa, đi, chạy,

đẹp, vì, nếu, đã…; mà từ đơn trong tiếng Việt thông thường tương đương với một
âm tiết.
Từ đơn trong ca từ Cải lương xuất hiện đều khắp ở các thể điệu trong kịch
bản. Ngoài những đặc điểm về nghĩa; vai trò của từ đơn rất quan trọng đối với ca
từ Cải lương, không chỉ với tư cách là một từ có khả năng hoạt động độc lập, mà
còn có chức năng làm chuẩn cho các loại nhịp ở các thể điệu của ca từ. Sự quan
trọng của nó gần như bao hàm một chức năng tổng hợp của một đơn vị ca từ, vừa
thực hiện chức năng một đơn vị của ngôn ngữ, lại vừa hiện thực hóa một đơn vị ca
từ trong cấu trúc các thể điệu của âm nhạc Cải lương. Bên cạnh đó, nó còn có nét
khu biệt trong âm nhạc, đó là đóng vai trò làm âm giai; và chính âm giai này là tín
hiệu cho người biểu đạt ca từ làm chuẩn hơi điệu.Ví dụ, từ “nay” có khả năng làm
âm giai ở các thể điệu: Lưu thủy trường, Tây Thi, Nam Ai, Phụng hoàng, Văn
Thiên Tường…; từ “đời” có thể làm âm giai ở: Vọng cổ, Xang xừ líu, Xàng xê,
Lưu thủy trường…
Từ đơn trong ca từ Cải lương có chức năng làm chuẩn cho các loại nhịp: 2,
4, 8, 16, 32; có nghĩa là mỗi loại nhịp, khuôn nhịp, câu nhịp ở các thể điệu thì hầu
hết từ đơn biểu thị ở nhịp chính.
Ví dụ:
Văn Thiên Tường - lớp 1(nhịp 8)
Từ tám tháng nay, một bóng lẻ loi,

Bâng khuâng hồn mộng luống tỉnh say,
Chớ cô chỉ ở trong cảnh của tôi,
Thì cô cũng ứa lệ châu mày,
Nằm mà đợi tin nhau mòn mỏi tháng lại ngày.
Tôi nào có tội tình gì, mà đày đoạ tôi cho cam…
( NSND Nguyễn Thành Châu. Kịch bản Vợ và tình)
Trong thể điệu Văn Thiên Tường trên, từ “nay” là âm giai, còn các từ đơn
khác (in đậm) là từ đơn làm chuẩn mỗi nhịp trong lòng câu và lòng bản. Như vậy,
rõ ràng là từ đơn của một đơn vị ca từ có chức năng rộng và vai trò của chúng
quan trọng trong ca từ Cải lương.
- Từ ghép (compound word)
Từ ghép là sự kết hợp của hai hoặc hơn hai chính tố. Cũng có thể nói gọn, từ
ghép là từ chứa hai tiếng hoặc hơn hai từ tố. Nói cách khác, từ ghép là một tổ hợp
ghép các tiếng lại, mà giữa các tiếng đó có quan hệ với nhau về nghĩa. Căn cứ tính
chất này, từ ghép tiếng Việt có thể phân loại như sau:
+ Từ ghép đẳng lập là những từ ghép mà giữa hai từ tố có quan hệ đẳng lập.
Vì mỗi từ đơn đều có nghĩa độc lập, không một từ nào lệ thuộc từ nào.
Từ ghép đẳng lập trong ca từ cũng khá phổ biến trong các thể điệu Cải
lương. Ngoài đặc điểm về chức năng của một đơn vị ca từ như từ đơn, nó khu biệt
với từ đơn ở chỗ, nó có thể hoán vị âm tiết của nó để thích hợp với nốt nhạc chính

