
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân,
đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam;
đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của
dân tộc.
Hệ thống tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay có bốn cấp từ
TW đến cơ sở, được xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong hệ
thống đó, tổ chức cơ sở Đảng (chi bộ cơ sở và đảng bộ cơ sở), là cấp cuối cùng
được lập ra ở các xã, phường, thị trấn, cơ quan, hợp tác xã, doanh nghiệp, đơn
vị sự nghiệp, đơn vị cơ sở trong quân đội, công an và các đơn vị khác.
Tổ chức cơ sở Đảng là một trong những khâu quan trọng trong hệ
thống tổ chức của Đảng, là hạt nhân chính trị lãnh đạo cơ sở. Tổ chức cơ sở
Đảng vừa là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng thành hành động cách mạng của đảng viên và quần chúng nhân
dân, vừa là nơi kiểm nghiệm, tập hợp những kinh nghiệm, sáng kiến, trí tuệ
của đảng viên và quần chúng nhân dân từ phong trào ở cơ sở để hình thành
nên đường lối, chính sách của Đảng; đồng thời cũng là nơi tiến hành các hoạt
động xây dựng nội bộ Đảng, lựa chọn, bồi dưỡng, rèn luyện, sàng lọc và kết
nạp đảng viên, đào tạo đội ngũ cán bộ nhằm bổ sung nguồn sinh lực mới, tăng
cường năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và bảo đảm sự kế thừa, phát triển liên
tục của Đảng. Thực tiễn phong phú, sinh động ở cơ sở là một trong những
nguồn trí tuệ cách mạng to lớn của Đảng.
Tổ chức cơ sở Đảng là nền tảng, là gốc rễ, là những đơn vị cơ bản,
những tế bào của Đảng. Do đó chất lượng của tổ chức cơ sở Đảng là một yếu
tố quan trọng tạo nên sức mạnh của Đảng và uy tín của Đảng trước quần
chúng nhân dân. Tổ chức cơ sở Đảng mạnh hay không mạnh, việc làm của tổ

2
chức cơ sở Đảng, đảng viên tốt hay không tốt đều có tác động mạnh mẽ đến
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng
công tác xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
tổ chức cơ sở Đảng, coi đó là một trong những nhiệm vụ thường xuyên và
quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ
rõ “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh, Đảng mạnh là do chi bộ mạnh,
chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt” [19, tr.92], “Chi bộ là nền móng của
Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc đều sẽ tốt” [19, 210], “Cần phải ra sức củng cố
các chi bộ, để tất cả các chi bộ trở nên thật sự là hạt nhân lãnh đạo của Đảng ở
mọi bộ, mọi ngành, mọi nghề, mọi nơi” [18, 271].
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đã
thu được những thành tựu to lớn, đất nước, xã hội, con người đều đổi mới.
Tuy nhiên trong công tác xây dựng Đảng, còn có mặt chưa đạt so với yêu cầu
nhiệm vụ đề ra: “Không ít tổ chức Đảng yếu kém, nhất là ở cơ sở, không làm
tròn vai trò hạt nhân chính trị và nền tảng của Đảng, không đủ sức giải quyết
những vấn đề phức tạp nảy sinh từ cơ sở, thậm chí có những tổ chức cơ sở
Đảng tê liệt, mất sức chiến đấu” [14, tr.263].
Những yếu kém của tổ chức cơ sở Đảng đã làm hạn chế năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu và uy tín của Đảng. Chính vì vậy công tác xây dựng, củng
cố tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu cùng chất lượng tổ chức cơ sở Đảng luôn luôn là một nhiệm vụ
chủ yếu trong công tác xây dựng Đảng - nhiệm vụ then chốt trong sự nghiệp
đổi mới hiện nay.
Từ một thành phố còn bộn bề khó khăn, đời sống của nhân dân còn
thấp, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Thành phố Đà Nẵng đã thực
hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, làm cho thành phố có những biến đổi mạnh
mẽ, sâu sắc về mọi mặt.

3
Một trong những nguyên nhân đem lại những thắng lợi của công cuộc đổi
mới 20 năm là do Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng đã coi trọng công tác xây dựng
Đảng, phát huy năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng.
Bên cạnh những thành công đó, nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở Đảng
của Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng cũng còn một số tồn tại đòi hỏi phải có sự
nghiên cứu, tổng hợp và rút ra những kinh nghiệm để giải quyết các vấn đề
đặt ra nhằm đưa công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng ở Thành phố Đà Nẵng
đạt được những kết quả cao hơn nữa.
Với những ý nghĩa khoa học thực tiễn đó và để thể hiện tấm lòng tri ân
đối với mảnh đất nơi tôi đang sinh sống và công tác, được sự khuyến khích
của thầy giáo hướng dẫn, tôi chọn đề tài: “Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng
lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở Đảng từ năm 1997 đến năm 2006” cho
luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Quá trình lãnh đạo của Đảng xây dựng tổ chức cơ sở Đảng đã có nhiều
nhà lãnh đạo và khoa học nghiên cứu ở những góc độ khác nhau. Vấn đề xây
dựng tổ chức cơ sở Đảng ở Thành phố Đà Nẵng cũng có nhiều tài liệu liên
quan. Có thể chia thành các nhóm, loại công trình như sau:
Nhóm thứ nhất là các công trình chung, tiêu biểu là các cuốn sách: Hồ
Chí Minh: Về xây dựng Đảng (Nxb. Sự thật, 1981); Phạm Ngọc Quang, Trần
Đình Nghiêm: Thời kỳ mới và sứ mệnh của Đảng (Nxb. Chính trị quốc gia,
2001); Nguyễn Phú Trọng: Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi mới
(Nxb. Chính trị quốc gia, 2000); Lê Huy Bảo: Điều lệ Đảng từ Đại hội đến
Đại hội (Nxb. Chính trị quốc gia, 2003); Nguyễn Trọng Phúc: Vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (Nxb. Chính trị quốc
gia, 2003); Nhiều tác giả: Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986
đến nay (Nxb. Chính trị quốc gia, 2006); Nhiều tác giả: Việt Nam 20 năm đổi
mới (Nxb. Chính trị quốc gia, 2006) v.v… Những tác phẩm nói trên chủ yếu
đề cập đến quan điểm, chủ trương, đường lối lãnh đạo xây dựng Đảng của

4
Đảng, trong đó có nội dung về lãnh đạo xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở
Đảng, một vấn đề mà luận văn kế thừa khi giải quyết đề tài.
Nhóm thứ hai là những sách chuyên luận, chuyên khảo về vấn đề xây
dựng tổ chức cơ sở Đảng như: Mạch Quang Thắng: Tư tưởng Hồ Chí Minh về
Đảng Cộng sản (Nxb. Chính trị quốc gia, 1995); Nguyễn Trọng Phúc: Tìm hiểu
Đảng Cộng sản Việt Nam qua các Đại hội và hội nghị TW (1930-2002) (Nxb.
Lao động, 2003); Nguyễn Hữu Tri, Nguyễn Thị Phương Hồng: Một số vấn đề
đổi mới tổ chức bộ máy Đảng Cộng sản Việt Nam (Nxb. Chính trị quốc gia,
2004); Bùi Đình Phong, Phạm Ngọc Anh: Công tác xây dựng Đảng trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước (Nxb. Lao động, 2006); Ngô Đăng Tri: Xây
dựng Đảng qua các thời kỳ cách mạng (1930-2006) in trong Một số chuyên đề
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập III (Nxb. Giáo dục, 2007) v.v… Nhóm
công trình này cung cấp cho đề tài tư liệu và sự nhìn nhận khái quát về xây
dựng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng, trong đó có tổ chức cơ sở Đảng.
Hiện nay chưa có một công trình khoa học cụ thể nào đi sâu nghiên cứu
về công công tác xây dựng Đảng tại Thành phố Đà Nẵng, nhất là trong thời
kỳ đổi mới. Những công trình trên góp phần cung cấp cơ sở phương pháp
luận chung, cách tiếp cận vấn đề, hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng
về công tác xây dựng Đảng, từ đó luận văn cố gắng làm rõ thêm những thành
tựu, hạn chế cũng như rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình xây
dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
- Phân tích quá trình xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ Thành
phố Đà Nẵng từ năm 1997 đến năm 2006.
* Nhiệm vụ:
- Sưu tầm, tổng hợp, hệ thống hóa tư liệu lịch sử về quá trình xây dựng,
củng cố tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng từ năm 1997
đến năm 2006.

5
- Hệ thống hóa các chủ trương, biện pháp và cách thức tổ chức thực
hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ Thành phố Đà
Nẵng từ năm 1997 đến năm 2006.
- Nêu lên những nhận xét, rút ra những kinh nghiệm và đặt ra những
vấn đề góp phần phục vụ công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch,
vững mạnh ở Thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Chủ trương, biện pháp lãnh đạo và kết quả của công tác tổ chức xây
dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng từ năm 1997 đến
năm 2006.
- Kết quả lãnh đạo nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ
Thành phố Đà Nẵng.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung nghiên cứu của luận văn là về quá trình lãnh đạo, chỉ đạo
xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ thành phố (chính trị, tư tưởng,
củng cố cơ sở Đảng, phát triển đảng viên, công tác cán bộ, công tác kiểm tra
và kỷ luật); tổng kết thành tựu, hạn chế, những kinh nghiệm trong xây dựng tổ
chức cơ sở Đảng ở Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng.
- Luận văn giới hạn thời gian nghiên cứu Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng
xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong 10 năm từ năm 1997 đến năm 2006.
- Không gian mà đề tài nghiên cứu là ở Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng.
5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu chủ yếu
* Cơ sở lý luận:
Chủ nghĩa Mác-Lênin về Đảng Cộng sản và tư tưởng Hồ Chí Minh về
Đảng Cộng sản Việt Nam.

