LUẬN VĂN:
Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo
công tác phát triển khoa học và công ngh
từ năm 1996 đến năm 2005
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế đang có tác động ngày
càng sâu sắc và rộng khắp trên thế giới. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại
đã đang đẩy nhanh sự phát triển của lực ợng sản xuất, nâng cao năng suất lao động
làm chuyển biến mạnh m cấu kinh tế hội của mỗi quốc gia. Do vậy, nhiều
nước phát triển và đang phát triển đã chú trọng, ng cường đầu vào khoa học và công
nghệ, đồng thời tập trung xây dựng triển khai chiến lược và chính sách khoa học
công nghệ quốc gia.
Việt Nam Quá độ lên chủ nghĩa hội tmột nền sản xuất nhỏ, bỏ qua chế độ bản
chủ nghĩa…” [30, tr.61]. vậy, từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III (năm 1960),
Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã
hội, thực hiện cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật nhiệm vụ trung tâm trong suốt
thời kỳ quá độ.
Tiếp tục định hướng cho sự phát triển của khoa học và công nghệ, Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (6-1991) nêu rõ:
Khoa học công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự phát triển lực lượng sản
xuất và nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm chất lượng và tốc độ phát triển của
nền kinh tế. Các chiến lược khoa học và ng nghệ nhằm mc tiêu công nghiệp
a theo hướng hiện đại, vươn lên trình độ tn tiến của thế giới. Sdụnghiệu
quvà tăng nhanh tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước. Phát triển đồng
bộ khoa học hội, khoa học tự nhiên, khoa học kthuật đi đôi với phát triển
giáo dục văn hóa, nâng cao n t Khoa học công nghệ, giáo dục
đào tạo phải được xem quốc sáchng đầu [30, tr.134].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng
nêu lên 5 đặc điểm tình hình thế giới, trong đó xác định:
Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển nhanh với trình độ ngày
ng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền
kinh tế và đời sống hội. c ớc đều hội để phát triển. Tuy nhiên do
ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường thuộc vcác nước phát triển, khiến các
ớc chậm phát triển và đang phát triển đang đứng trước nhng tch thức to lớn
[19, tr.16].
Bên cạnh đó, Đại hội nêu rõ:
Phát triển khoa học công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh để thúc đẩy s
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nắm bắt các thành tựu khoa học
công nghệ chuyển giao vào Việt Nam. Bước đầu phát triển một số lĩnh vực
công nghệ cao về điện tử, thông tin, sinh học, vật liệu mới tđộng hoá.
Nâng tỉ lệ đổi mới thiết bị trong các ngành sản xuất mỗi m t10% trở lên.
Tranh thủ tối đa công nghệ tiến bộ, từng bước đưa công nghệ nước ta đạt tới
trung bình của khu vực. Tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu bảo vệ cải thiện
môi trường sinh thái [19, tr.37-38].
Nhận thức được vai trò to lớn của khoa học công nghệ đối với sự phát triển của đất
nước, sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra nhiều
Nghị quyết chuyên đề nhằm tăng cường phát triển công tác khoa học công nghệ
như Nghị quyết Hội nghị lần th2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII), Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX)…
Hải Phòng thành phố Cảng, đô thị loại 1 trung m cấp quốc gia. Trong nhiều
năm qua, thành phố không ngừng vươn lên phát triển về mọi lĩnh vực. Thực hiện đường
lối phát triển đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành
phố lần thứ XII xác định mục tiêu phát triển của thành phố đến năm 2010 là:
...xây dng Hải Phòng tr thành mt thành ph Cng văn minh, hin đi,
cửa chính thông ra bin và trung tâm công nghip, dch vụ, thu sn
min Bc, kinh tế, văn hoá, giáo dc - đào to; khoa học - công ngh,
s hạ tầng phát triển, quc phòng an ninh vng chắc, không ngừng
ng cao đi sng nhân dân [51, tr.223].
Như vậy, song song với sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, hội, an ninh quốc
phòng, công tác khoa học và công nghệ cũng được Đảng bộ thành phố chú trọng.
Với vị trí địa đặc điểm về điều kiện tự nhiên, dân số, nguồn lực, Hải Phòng lợi
thế đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá dịch vụ. Đặc
biệt với ưu thế cảng biển hiện nay và trong tương lai, thành phố giữ vai trò to lớn đối với
xuất khẩu của vùng Bắc Bộ, điều kiện tiếp nhận ứng dụng nhanh các thành tựu
khoa học công nghệ hiện đại. Như vậy, do sự quan tâm phát triển khoa học
công nghệ của Đảng bộ thành phố, cùng với ưu thế sẵn có, ngành khoa học công
nghệ Hải Phòng ngày càng sự khởi sắc, song cũng gặp kng ít những khó khăn, hạn
chế. Mặc Hải Phòng là nơi có tiềm năng chất xám khá dồi dào nhưng còn thiếu nguồn
nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao, nơi tiếp nhận nhanh những thành tựu
khoa học và công nghệ hiện đại nhưng những hoạt động khoa học và công nghệ chưa thực
sự là những quan tư vấn mạnh về khoa học và công nghệ, chưa thực sự là cầu nối giữa
khoa học và công nghệ với sản xuất đời sống...
Chính vì vậy, việc nghiên cứu, rút ra những kinh nghiệm về phát triển khoa học công
nghệ là vô cùng cần thiết, giúp chúng ta thấy được những thành tựu cũng như hạn chế
đưa ra các giải pháp cụ thể cho việc phát triển tiềm lực khoa học công nghệ Hải
Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và trong xu thế hội nhập quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vấn đề khoa học công
nghệ đã được Đảng ta coi trọng, từ đó đã trở thành vấn đề nghiên cứu của nhiều tác giả.
Nhằm cung cấp bức tranh toàn cảnh về khoa học và công nghệ Việt Nam trong giai đoạn
1996 – 2000, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã tiến hành tổ chức biên soạn
xuất bản một số sách: Khoa học Công nghệ Việt Nam 1996-2000, Nội, 2001;
Khoa học Công nghệ Việt Nam 2001, Nội, 2002; Khoa học Công nghệ Việt
Nam 2002, Nội, 2003; Khoa học Công nghệ Việt Nam 2003, Nội, 2004; Khoa
học và Công nghệ Việt Nam 2004, Hà Nội, 2005.
Nội dung cơ bản của các cuốn sách đề cập tới những chuyển biến thành tựu quan
trọng trong hoạt động khoa học và công nghệ từng năm. Đồng thời trình bày một cách
khái quát phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trong m tới. Từ đó gợi mở viễn cảnh
phát triển khoa học và công nghệ trong thời gian 5 năm tiếp theo.
Cùng nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả như: V.V. Đênixốp, Nguyễn Duy
Thông, Nguyễn Trọng Chuẩn, Cách mạng khoa học kỹ thuật công cuộc y dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Tiến bộ, 1986; Đặng Ngọc Dinh, Công nghệ năm 2000 đưa
con người về đâu; Nxb Khoa học và kthuật, Nội, 1992; Đình Cự, Khoa học
công nghệ - lực lượng sản xuất hàng đầu, Nxb Chính trị quốc gia Nội, 1996; PTS.
Danh Sơn, Quan hệ giữa phát triển khoa học và công nghvới phát triển kinh tế – xã hội
trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1999.v.v…
Bên cạnh đó, đã nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về khoa học công nghệ, trong
đó các tác giả tập trung vào việc nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ đối với
các ngành, các lĩnh vực khác nhau. Đồng thời, một số công trình nghiên cứu về sự lãnh
đạo của Đảng đối vi khoa học và công nghệ của cả nước và một số tỉnh như: Luận án
Tiến kinh tế của Nguyễn Đức Lợi nghiên cứu v"Vận dụng tiến bộ khoa học công
nghệ trong sự phát triển nông nghiệp nước ta", Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Nội, 2000; Luận văn thạc kinh tế của Cao Quang Xứng: "Tiến bộ khoa học
công nghệ tiến trình hình thành kinh tế tri thức Việt Nam", Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Nội, 2003; Luận Văn Thạc sĩ Lịch sử của Nguyễn Văn Vinh:
"Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lãnh đạo phát triển khoa học công nghệ từ 1986 đến
2002", Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nội, 2003; Gần đây nhất Luận
văn thạc Lịch sử của Nguyễn Thị Bích Liên nghiên cứu đề tài: "Đảng Cộng Sản Việt
Nam lãnh đạo phát triển khoa học công nghệ từ năm 1996 đến năm 2006", Học viện
Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008.
Cùng với các sách, luận văn, luận án nghiên cứu vkhoa học công nghệ, các tạp chí
nghiên cứu khoa học cũng nhiều bài viết bàn về vấn đề này như: "Tạo lập phát
triển thị trường khoa học – công nghệ ở nước ta" của tác giả Nguyễn Văn Tuấn, Tạp chí
luận Chính trị, số 11-2004; "Đóng góp của khoa học công nghệ vào nuôi trồng
thuỷ sản Việt Nam: thực trạng giải pháp" của Nguyễn ThHường, Tạp chí Lý luận
Chính trị, số 2-2005; "Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của khoa học đối
với sự phát triển kinh tế hội" của Ngô Ngọc Thắng, Tạp chí luận Chính trị, số