intTypePromotion=1
ADSENSE

Điện biên phủ Điểm hẹn lịch sử: phần 1 - nxb quân đội nhân dân

Chia sẻ: Nguyễn Thị Hiền Phúc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:136

44
lượt xem
5
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

phần 1 gồm các nội dung: cuộc họp ở tỉn keo, chỉ được thắng, đường ra mặt trận, quyết định khó khăn nhất, mường phăng,... mời các bạn cùng tham khảo chi tiết nội dung tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Điện biên phủ Điểm hẹn lịch sử: phần 1 - nxb quân đội nhân dân

Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử<br /> Đại Tướng Võ Nguyên Giáp <br /> Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com<br /> <br /> Chương 1: CUỘC HỌP Ở TỈN KEO<br /> <br /> Cuộc kháng chiến đã sang năm thứ tám. Hạ tuần tháng 5 năm 1953, tôi từ Sầm Nưa về tới<br /> khu căn cứ. Những trận mưa đầu mùa đã bắt đầu. Các đơn vị không được nghỉ ngơi, khẩn<br /> trương bắt tay vào cuộc luyện quân chuẩn bị cho một mùa khô mới: mùa khô 1953 - 1954.<br /> Sắp có một hiệp định ngừng bắn tại Triều Tiên. Hình thái chiến tranh trên bán đảo Triều<br /> Tiên khác hẳn với chiến tranh Việt Nam. Đây là cuộc đọ sức chủ yếu giữa lực lượng<br /> những quân đội chính quy, được trang bị vũ khí hiện đại, trên một đất nước không rộng<br /> nhưng có hệ thống đường sá tương đối phát triển. Nếu như cuộc kháng chiến của ta “lấy<br /> yếu đánh mạnh” thì ở Triều Tiên là “lấy mạnh đánh mạnh”. Chỉ một thời gian ngắn, quân<br /> đội Bắc Triều Tiên đã tiến xuống Hán Thành, giải phóng phần lớn đất đai ở miền Nam.<br /> Nhưng 80 ngày sau, khi quân can thiệp Mỹ đổ bộ lên Nhân Xuyên (In chon), thì quân đội<br /> Bắc Triều Tiên buộc phải nhanh chóng rút lui. Quân Mỹ không những có mặt bên trên vĩ<br /> tuyến 38 mà còn tiến tới sông áp Lục, đe dọa nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, buộc<br /> Giải phóng quân Trung Quốc phải can thiệp. Quân và dân Bắc Triều Tiên cùng với Chí<br /> nguyện quân Trung Quốc, được Liên Xô chi viện đã đẩy lùi quân Mỹ và nhiều nước đồng<br /> minh về bên kia vĩ tuyến 38. Hai năm qua, cuộc chiến tranh ở Triều Tiên diễn ra dưới hình<br /> thức chiến tranh đường hầm, những trận đấu pháo dọc vùng rừng núi vĩ tuyến 38, và<br /> những trận đánh nhau trên không. Qua nhiều lần đọ sức, Mỹ đã thấy pháo binh, xe tăng,<br /> máy bay hiện đại của mình không thể giành ưu thế trong cuộc đối đầu với sức mạnh quân<br /> sự của các nước xã hội chủ nghĩa, việc thiết lập thêm một tiền đồn thống cộng ở Đông Á<br /> là vô cùng khó khăn, buộc phải tìm cách kết thúc chiến tranh.<br /> Nhân dịp các cường quốc đang bàn giải pháp cho chiến tranh Triều Tiên, trong chính giới<br /> Pháp lại xuất hiện ý kiến về một cuộc điều đình. Ngày 18 tháng 7 năm 1953, An be Xa rô<br /> (Albert Sarraut), cựu toàn quyền Đông Dương, nói rõ đây là cơ hội tốt nhất lúc này để giải<br /> quyết vấn đề Đông Dương với người sẵn sàng điều đình nhất, nghĩa là với Hồ Chí Minh”.<br /> Số đông người Pháp từ lâu đã hiểu rõ nguyện vọng hòa bình thực sự của Chủ tịch Hồ Chí<br /> <br /> Minh. Nhưng đó là hòa bình trên cơ sở độc lập và thống nhất của Việt Nam mà giới cầm<br /> quyền Pháp trong những năm qua chưa thấy buộc phải chấp nhận.<br /> Pháp không còn đủ sức chịu đựng gánh nặng chiến tranh xâm lược đã quá kéo dài. Nhưng<br /> khác với chiến tranh Triều Tiên, chính quyền Pháp chưa thấy có gì đe dọa số phận quân<br /> viễn chinh đang làm chủ vùng trời, vùng biển, và hầu hết những thành phố lớn trên bán<br /> đảo Đông Dương. Nguy cơ sụp đổ hồi Đông Xuân 1950 - 1951 đã qua. Với sự giúp đỡ có<br /> hạn từ bên ngoài, “quân đoàn tác chiến” (corps de bataille) của đối phương sẽ không vượt<br /> qua con số 6 đại đoàn bộ binh đơn thuần. Quân viễn chinh vẫn không phải đương đầu với<br /> xe tăng, máy bay, tàu chiến, pháo cao xạ và pháo mặt đất hiện đại. Họ chỉ cần đối phó với<br /> chiến tranh du kích trên chiến trường đồng bằng, những đội quân nhỏ thường vội vã rút lui<br /> khi những binh đoàn cơ động xuất hiện. Sức mạnh của đối phương là tác chiến ở vùng<br /> rừng núi. Nhưng “chiến lược con nhín” cũng đã chứng tỏ hiệu quả Pháp vẫn còn nhiều khả<br /> năng tăng cường lực lượng bằng cách xây dựng quân đội các quốc gia liên kết, và bổ sung<br /> những trang bị hiện đại do Mỹ viện trợ. Giới cấm quyền Pháp đã hết hy vọng giành chiến<br /> thắng, nhưng vẫn tin còn đủ thời gian và điều kiện để tìm cách kết thúc có lợi, theo cái họ<br /> gọi là “lối thoát danh dự”. Mỹ không thể bỏ mặc Pháp ở Đông Dương. Ngày 13 tháng 7<br /> năm 1953, trong cuộc gặp ngoại trưởng Mỹ đa lét (John Foster Dulles) tại Oasinhtơn,<br /> Biđôn (Georges Bidault), bộ trưởng ngoại giao Pháp nói: “Chúng tôi không thể tiếp tục<br /> cuộc thập tự chinh một mình, tuy nhiên chúng tôi cũng không muốn ngừng lại bằng bất kể<br /> cách nào. Đặc biệt, không có điều đình trực tiếp với Hồ Chí Minh”. Nội các Pháp khủng<br /> hoảng liên miên. Những người kế tiếp lên cầm đầu vẫn thuộc phái hữu. <br /> Như chúng ta đã dự đoán, nếu tình hình Triều Tiên tạm ổn định, Mỹ sẽ dồn những nỗ lực<br /> chống cộng vào Đông Dương.<br /> Ngày 24 tháng 7 năm 1953, thủ tướng chính phủ bù nhìn Nguyễn Văn Tâm được Tổng<br /> thống Aixenhao (Dwight D. Eisenhower) mời sang Hoa Kỳ. Cuối tháng 7, Aixenhao quyết<br /> định dành 400 triệu đô la cho Đông Dương để “tổ chức một quân đội Việt Nam thực sự”.<br /> Pháp đề nghị Mỹ viện trợ 650 triệu đô la cho niên khóa 1953, và được chấp nhận 385<br /> triệu. Mỹ hứa năm 1954 sẽ tăng viện trợ cho Pháp tại Đông Dương lên gấp đôi. Mỹ cũng<br /> chuyển giao cho Pháp nhiều trang bị, vũ khí, trong đó có 123 máy bay và 212 tàu chiến<br /> các loại.<br /> Ngày 27 tháng 7 năm 1953, hiệp định ngừng bắn ở Triều Tiên được ký tại Bàn Môn Điếm.<br /> Hăng ri Nava (Hen ri Navarre) tới Sài Gòn ngày 19 tháng 5 năm 1953. Từ khi bật đầu<br /> chiến tranh, nước Pháp đã bẩy lần bổ nhiệm tổng chỉ huy đội quân viễn chinh. Tôi chỉ thị<br /> cho cơ quan tham mưu tìm hiểu ngay về viên tướng này. Chúng ta chỉ biết được rất ít.<br /> Nava là tướng bốn sao, 55 tuổi, nguyên tham mưu trưởng lục quân Pháp thuộc khối Bắc<br /> <br /> Đại Tây Dương đóng ở Trung âu Nava đã từng phụ trách công tác tình báo phản gián<br /> trong quân đội Pháp, và chỉ huy một sư đoàn thiết giáp. Báo chí hướng Tây ca ngợi Nava<br /> như một “danh tướng” có thể “uốn nắn lại tình hình Đông Dương”.<br /> Ngày 3 tháng 7, Nava trở lại Pa ri. Chỉ sau hơn một tháng nghiên cứu tình hình tại chỗ,<br /> Nava đã có một kế hoạch đệ trình trước Hội đồng Tham mưu trương và Hội đồng Quốc<br /> phòng tối cao Pháp. Lần đầu trong chiến tranh Đông Dương, một tổng chỉ huy có kế<br /> hoạch chiến lược về quân sự nhằm giành chiến thắng trong hai năm. Nava đã gây được ấn<br /> tượng tốt trong giới quân sự và chính trị Pháp. Trên báo chí Pháp lại xuất hiện từ ”,chiến<br /> thắng” đã biến mất cùng với Đờ Lát (De Lattre de Tassigny). Điều quan trọng hơn, kế<br /> hoạch Nava được Mỹ tán thành. NÓ chỉ gặp trở ngại khi bộ trưởng tài chính Phô (Edgar<br /> Faure) nêu ra việc thực thi kế hoạch phải chi ít nhất là 100 tỉ trăng. Một con số quá lớn ! Ở<br /> Hội đồng Tham mưu trưởng cũng như Hội đồng Quốc phòng, người ta bàn nên bớt cho<br /> Nava nhiệm vụ bảo vệ nước Lào đề ra trong kế hoạch, để giảm bớt chi tiêu. Thống chế<br /> Giăng (Juin), người phát ngôn của các tham mưu trưởng, nhấn mạnh: cần trao cho Bộ<br /> Ngoại giao yêu cầu Mỹ và Anh phải bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ của Lào, đồng thời lưu<br /> ý Liên Xô và Trung Quốc nguy cơ xung đột quốc tế có thể diễn ra nếu Lào bị xâm chiếm.<br /> Nava đề nghị chinh phủ có quyết định rõ ràng bằng văn bản. Điều đó liên quan đến trận<br /> Điện Biên Phủ, và sẽ làm tốn khá nhiều giấy mực sau này. <br /> Ngày 2 tháng 8 năm 1953, Nava trở lại Sài Gòn. Cục Quân báo được chỉ thị gấp rút tìm<br /> hiểu kế hoạch Nava.<br /> So với những tướng lĩnh Pháp mà ta đã từng gặp trong chiến tranh như Lơcléc (Leclerc),<br /> Đờ Lát… thì Nava là một tên tuổi mới ít gây ấn tượng. Nhưng Nava được đặc biệt chú ý<br /> vì gắn với một thời kỳ mới sau cuộc chiến Triều Tiên. Việt Nam đã trở thành nước thứ<br /> mười hai của phe xã hội chủ nghĩa, sẽ nổi lên như một điểm nóng duy nhất trong cuộc đối<br /> đấu giữa Đông và Tây. Mỹ chắc chắn sẽ ra sức giúp Pháp để cuối cùng, hất cẳng Pháp<br /> khỏi Đông Dương. <br /> Từ năm 1950, chủ nghĩa thực dân mới bắt đầu tranh giành ảnh hưởng với chủ nghĩa thực<br /> dân cũ ở vùng tạm bị chiếm. Một số phần tử cơ hội chính trị ngả theo Mỹ. Với việc trao<br /> “độc lập”, “chủ quyền” cho các quốc gia liên kết, xây dựng một “quân đội quốc gia” bằng<br /> tiền và vũ khí Mỹ nhằm mục tiêu chống cộng, Pháp đã đi vào quá trình chuyển giao Đông<br /> Dương cho Mỹ.<br /> Sau chiến dịch Tây Bắc, cuối năm 1952, bộ đội ta đã tập trung nghiên cứu đánh tập đoàn<br /> cứ điểm. Ta nhận thấy đây có thể là cách đối phó cuối cùng của địch trước một cuộc tiến<br /> công trên địa hình rừng núi. Nếu diệt được tập đoàn cứ điểm gồm một số tiểu đoàn quân<br /> tinh nhuệ của địch ta sẽ tạo nên bước chuyển biến mới trong chiến tranh. Bản chất chiến<br /> <br /> tranh xâm lược buộc quân địch phải phân tán lực lượng để thực hiện nhiệm vụ chiếm<br /> đóng. Một tập đoàn cứ điểm lớn bị tiêu diệt sẽ kéo theo sự phá sản của chiến lược “chiến<br /> tranh đồn binh” cổ điển của quân xâm lược.<br /> Tuy nhiên, muốn giải quyết một tập đoàn cứ điểm như Nà Sản, ngoài việc rèn luyện bộ<br /> đội, tìm ra chiến thuật thích hợp, cần phải có sự trợ lực của trọng pháo và pháo cao xạ để<br /> giảm nhẹ thương vong của bộ đội trong một trận đánh dài ngày. Trong quý I năm 1958,<br /> trung đoàn lựu pháo 105 ly do bạn trang bị và huấn luyện đã về nước. Việc ván chuyển<br /> trọng pháo từ Vân Nam về Việt Bắc phải dùng bè đi theo sông Hồng qua nhiều ghềnh<br /> thác. Trung đoàn cao xạ 37 ly đang được gấp rút chuẩn bị về nhân sự. Trận đánh Nà Sản<br /> chỉ có thể bắt đầu vào mùa khô năm nay. Chúng ta đặt hy vọng vào trận đánh này, trận<br /> đánh giải phóng hoàn toàn vùng rừng núi Tây Bắc. Có thể là trận đánh bản lề của chiến<br /> tranh.<br /> Ngày 17 tháng 7 năm 1953, trời vừa rạng sáng, hai tiểu đoàn dù Pháp bất thần nhảy xuống<br /> thị xã Lạng Sơn Sau đó một tiểu đoàn dù khác nhảy xuống Lộc Bình trên đường số 4.<br /> Những nơi này đều nằm sâu trong hậu phương ta. Ở thị xã Lạng Sơn, quân địch lùng sục<br /> vào một số kho vũ khí phá phách rỗi vội vã rút theo đường số 4. Tới Lộc Bình, chúng kết<br /> hợp với tiểu đoàn dù ở đây thành một binh đoàn, tiếp tục đi về phía bờ biển. Một đội quân<br /> cơ động đã tiến lên đón chúng ở Đình Lập với những xe vận tải. Từ đây chúng hành quân<br /> bằng cơ giới về Tiên Yên. Cuộc hành binh chớp nhoáng khiến lực lượng vũ trang ta không<br /> kịp phản ứng Mấy ngày sau, ta biết đây là cuộc hành binh Con nhạn (Hirondelle) do đại tá<br /> đuycuốcnô (Ducournau) chỉ huy. Hành động táo bạo của địch chứng tỏ chúng nắm chắc sự<br /> bố trí sơ khoáng của ta ở một tỉnh giáp giới với Trung Quốc đã được giải phóng trước đó<br /> ba năm.<br /> Ngày 12 tháng 8 năm 1953, tôi nhận được báo cáo quân địch đã rút khỏi Nà Sản. Một tin<br /> hoàn toàn bất ngờ! Toàn bộ quân địch rút bằng đường không cách đó ba ngày. địch đã<br /> khéo nghì binh đánh lừa ta. Thấy máy bay vận tải xuất hiện nhiều, bộ đội đóng chung<br /> quanh Nà Sản lại tưởng lầm địch tăng cường lực lượng để đối phó với cuộc tiến công sắp<br /> tới. Na va giành thắng lợi đầu tiên bằng một cuộc rút lui. Về sau chúng ta mới biết: tập<br /> đoàn cứ điểm Nà Sản không được duy trì vì qua chiến dịch Sầm Nưa, nó đã chứng tỏ<br /> không có khả năng ngăn chặn các đại đoàn chủ lực của ta tiến sang Thượng Lào.<br /> Nếu như đòn biệt kích của Na va nhắm vào Lạng Sơn chỉ nhắc ta đề cao cảnh giác, thì sau<br /> khi địch rút quân khỏi Nà Sản, Tổng quân ủy phải trao nhiệm vụ cho Bộ Tổng tham mưu<br /> nhìn lại toàn cục, nghiên cứu một kế hoạch mới cho mùa khô tới. Chủ trương vẫn là chủ<br /> động tiến công. Phương hướng có thể là giải phóng Lai Châu, tiến sang giải phóng<br /> Thượng Lào, nối liền vùng mới giải phóng với căn cứ địa Sấm Nưa. Ta tiếp tục nghiên<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2