intTypePromotion=1
ADSENSE

Diễn ngôn lịch sử trong tiểu thuyết Mưa đỏ của Chu Lai nhìn từ biểu tượng

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

19
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết bước đầu khảo sát và đưa ra một số hướng nghĩa biểu trưng của biểu tượng “mưa đỏ”, “dòng sông”, “cái chết” và “bóng đêm” trong tiểu thuyết Mưa đỏ của Chu Lai. Những hướng nghĩa biểu trưng này phần nào thể hiện rõ nét cuộc chiến tranh của dân tộc qua cách nhìn của nhà văn, đồng thời thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người nghệ sĩ trong việc sử dụng biểu tượng để biểu đạt ý nghĩa trong tác phẩm văn học của mình.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Diễn ngôn lịch sử trong tiểu thuyết Mưa đỏ của Chu Lai nhìn từ biểu tượng

  1. KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN | 12/2019 DIỄN NGÔN LỊCH SỬ TRONG TIỂU THUYẾT MƯA ĐỎ CỦA CHU LAI NHÌN TỪ BIỂU TƯỢNG LƯU BẢO NGỌC*, PHẠM LÊ HUỲNH ANH Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế * Email: luubaongoc141@gmail.com Tóm tắt: Biểu tượng nghệ thuật luôn chiếm một vị trí quan trọng trong nghiên cứu văn học. Nó giúp người đọc dễ dàng tiếp cận với tác phẩm, dễ dàng nắm bắt thế giới nghệ thuật của nhà văn, và tất nhiên cũng sẽ dễ dàng hiểu một cách hoàn chỉnh nhất về thông điệp mà tác giả muốn gửi đến. Dựa trên cơ sở lý thuyết diễn ngôn và lý thuyết biểu tượng, bài báo bước đầu khảo sát và đưa ra một số hướng nghĩa biểu trưng của biểu tượng “mưa đỏ”, “dòng sông”, “cái chết” và “bóng đêm” trong tiểu thuyết Mưa đỏ của Chu Lai. Những hướng nghĩa biểu trưng này phần nào thể hiện rõ nét cuộc chiến tranh của dân tộc qua cách nhìn của nhà văn, đồng thời thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người nghệ sĩ trong việc sử dụng biểu tượng để biểu đạt ý nghĩa trong tác phẩm văn học của mình. Từ khóa: Diễn ngôn, biểu tượng, mưa đỏ, dòng sông, cái chết, bóng đêm. 1. MỞ ĐẦU Nghiên cứu về diễn ngôn từ lâu đã trở thành đề tài hấp dẫn được nhiều nhà khoa học thế giới quan tâm. Ở Việt Nam, từ những năm 60 của thế kỷ XX, sự chuyển biến trong đời sống xã hội, văn hóa thẩm mỹ, cùng những thay đổi nhất định trong định hướng văn học đã ảnh hưởng ít nhiều đến sự dịch chuyển và vận hành của diễn ngôn tiểu thuyết. Tinh thần đổi mới đã tạo được nguồn cảm hứng dạt dào, khơi gợi sự thức tỉnh của cái tôi nhà văn, truy tìm, suy vấn những cái mới trong sáng tạo nghệ thuật khi nói về đề tài lịch sử. Nghiên cứu diễn ngôn từ góc nhìn biểu tượng là một hướng đi mới, góp phần vào việc tìm hiểu, lí giải cách nhìn, cách hiểu, quan niệm của tác giả về các biểu tượng, cũng như lịch sử của dân tộc. 2. NỘI DUNG 2.1. Giới thuyết về diễn ngôn lịch sử và biểu tượng trong văn học 2.1.1. Diễn ngôn lịch sử Diễn ngôn lịch sử mang một ý nghĩa quan trọng không chỉ với hành trình sáng tạo của nhà văn mà còn chi phối tâm thế thưởng thức của độc giả. Lịch sử được cấu trúc như một diễn ngôn, nhà văn cần hơn bao giờ hết trí tưởng tượng và những thao tác “có tính nghệ thuật” trong khi phục hiện lịch sử. Lịch sử là sự diễn giải, là cách hình dung, là lối tự sự - diễn ngôn về lịch sử của chủ thể. Từ thực tiễn tiểu thuyết lịch sử sau 1986, chúng ta thấy có sự chuyển dịch mạnh mẽ của hình thái diễn ngôn so với giai đoạn trước đó: từ diễn ngôn mang tính khẳng định, chiêm bái, ngưỡng vọng sang diễn ngôn mang tính giả định, phân tích, luận giải, giải thiêng; từ diễn ngôn dân tộc, đạo lí, giai cấp sang diễn ngôn đời tư, thế sự, nhân văn; từ diễn ngôn lịch sử - đấu tranh sang diễn ngôn lịch sử - văn hóa phong tục. Chủ thể diễn ngôn cũng có sự thay đổi từ vị thế con người, chủ nhân của lịch sử đến con người, nạn nhân nhỏ bé mang bi kịch và hệ lụy lịch sử; từ vị thế con người bị giới hạn bởi kinh nghiệm cộng đồng đến con người thụ hưởng, đối thoại, đánh giá lại lịch sử bằng điểm nhìn và suy tư cá nhân. 25
  2. TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC HUẾ | HNKH 2019 2.1.2. Biểu tượng trong văn học Trong văn học, khái niệm biểu tượng cũng được xem xét từ nhiều khía cạnh, nhưng chủ yếu ở giá trị khái quát, tượng trưng. Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa về biểu tượng như sau: Trong nghĩa rộng, biểu tượng thể hiện đặc trưng “phản ánh cuộc sống bằng hình tượng của văn học nghệ thuật” [5, tr.27]. Văn học nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, phản ánh cả thế giới khách quan theo những nguyên tắc, phương thức, phương tiện riêng. Hình tượng - phương tiện phản ánh đời sống của văn học nghệ thuật vừa là sự tái hiện thế giới, đồng thời cũng là hiện tượng đầy tính ước lệ. Các tác giả đã lý giải: “Bằng hình tượng, nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng” [5, tr.27]. Như vậy, trong nghĩa rộng, khái niệm biểu tượng gần gũi với tính ước lệ trong văn học nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là “một phương thức chuyển nghĩa của lời nói,... có quan hệ gần gũi với ẩn dụ và hoán dụ” [5, tr.27], nó có khả năng truyền cảm lớn, gợi ra nhiều ý nghĩa cho người đọc, đồng thời nó cũng thể hiện quan niệm, tư tưởng hay một triết lí sâu xa nào đó của nhà văn, gửi gắm trong tác phẩm. Như vậy, biểu tượng văn học là các biểu tượng nghệ thuật cấu tạo lại thông qua tín hiệu ngôn ngữ trong văn học. Do đó, vai trò trước hết của biểu tượng là thể hiện tư tưởng, tình cảm cá nhân của tác giả, diễn đạt những nội dung tiềm ẩn trong tâm hồn. Nhà văn thường dụng công xây dựng những biểu tượng thẩm mỹ để tăng cường giá trị biểu đạt và chiều sâu ý nghĩa cho tác phẩm. Trong tiểu thuyết Mưa đỏ, Chu Lai đã sử dụng rất nhiều biểu tượng với những ý nghĩa sâu sắc khác nhau và chúng tôi nhận thấy rằng trong tác phẩm này xuất hiện bốn biểu tượng chủ yếu đó là biểu tượng “mưa đỏ”, “dòng sông”, “cái chết” và “bóng đêm”. Từ các khái niệm, cách hiểu về biểu tượng, chúng tôi đi vào tìm hiểu ý nghĩa của các biểu tượng đối với việc kiến tạo diễn ngôn lịch sử trong tiểu thuyết Mưa đỏ của Chu Lai. 2.2. Diễn ngôn lịch sử trong tiểu thuyết Mưa đỏ của Chu lai nhìn từ biểu tượng 2.2.1. Biểu tượng “mưa đỏ” Trong tác phẩm của mình, Chu Lai không để cho biểu tượng “mưa đỏ” xuất hiện trực tiếp mà để nó tự hình thành dựa trên biến thể của biểu tượng mưa kết hợp với sự khốc liệt của không gian lịch sử Thành cổ và dòng sông Thạch Hãn. Mãi cho đến gần cuối tác phẩm, nhà văn mới để cho biểu tượng ấy dần dần xuất hiện và xuất hiện một cách thật kinh hoàng: “Những hạt mưa đang biến thành màu đỏ. Mưa đỏ. Mưa máu...” [1, tr.326]. “Mưa đỏ” là hình ảnh tượng trưng cho máu xương của dân tộc, là tổn thất mà không có thứ gì có thể gây dựng lại. Cùng với lòng chảo Điện Biên trong kháng chiến chống Pháp, Thành cổ Quảng Trị cũng được ví như là cỗ máy xay thịt người thứ hai. Ở đây, có biết bao con người đã ngã xuống vì sự độc lập, tự do của dân tộc. Họ đều là những người con của Tổ quốc đã hiến thân mình, đã không ngại khó khăn gian khổ mà đương đầu với mưa bom, bão đạn. Để rồi khi nằm xuống, máu xương của họ ở lại với lòng đất mẹ bao dung. “Trời vẫn mưa... Những giọt mưa cũng đỏ như giọt máu. Cả dòng sông hòa máu. Máu dâng ngang trời.” [1, tr.214]. Màu đỏ của máu hòa vào nước mưa tạo nên một không gian kinh rợn, máu trên bờ và máu trên sông lênh láng đã tác động mạnh mẽ đến các giác quan của người đọc, cho thấy những tổn thất của cả hai bên chiến tuyến trong chiến dịch 81 ngày đêm. Biểu tượng “mưa đỏ” còn nói lên hiện thực chiến tranh tàn khốc. Mưa khiến cho chiến trường trở nên khốc liệt hơn bởi những hố bom hồ nước. Sự dữ dội của mùa mưa đã khiến cho những căn hầm phải ngập chìm trong nước, khiến cho tiểu đội của Tạ phải thay nhau nằm trên tấm sạp chẳng phải là rộng rãi gì. Mưa đổ xuống những xác chết làm cho không gian không những tanh nồng mùi máu mà còn khiến cho chiến sĩ kinh hồn vì khắp nơi đều lênh láng màu 26
  3. KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN | 12/2019 đỏ. Phải chiến đấu trong những ngày nắng đã khốn khổ đến nhường nào huống gì bây giờ lại còn thêm cả những trận mưa, “những giọt mưa ấy đã đẩy con người ở nơi đây vào một hoàn cảnh cay nghiệt khác không lường trước được.” [1, tr.212]. Qua bàn tay sáng tạo của Chu Lai, mưa lại trở thành một biểu tượng mới - biểu tượng khủng khiếp của chiến tranh. 2.2.2. Biểu tượng “dòng sông” Trong Mưa đỏ, biểu tượng “dòng sông” xuất hiện 145 lần dưới các tên gọi và biến thể khác nhau như: dòng nước, cột nước, quầng nước, sóng nước, mép sông, bìa sông, bến nước, đáy sông, mặt nước,... Các biến thể ấy nhằm bổ sung sắc thái ý nghĩa cho biểu tượng, làm cho biểu tượng hiện ra chân thực, rõ nét. Đầu tiên, biểu tượng “dòng sông” là chứng nhân lịch sử. Chu Lai đã đặt “dòng sông” của mình trong sự kiện 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ năm 1972. Và dòng sông ấy chính là dòng sông Thạch Hãn (Quảng Trị) nằm giữa Thành cổ với bên kia hậu phương. Nó đã chứng kiến sự đổi thay của lịch sử, những khổ đau mà nhân dân ta phải gánh chịu trong những cuộc chiến tranh. Dòng sông - nạn nhân của chiến tranh tàn khốc. Trong Mưa đỏ, dòng sông Thạch Hãn luôn nằm trong tầm ngắm của địch, bởi đây là mạch máu giao thông cốt yếu của ta. Chính vì vậy mà nó luôn phải chịu những trận mưa bom dữ dội, những trận pháo “nổ dựng đáy sông”, pháo “bắt đầu dựng cột nước giữa dòng... Cả khúc sông quặn xiết... máu, máu và chỉ thấy máu...” [1, tr.106]. Không có ngày nào dòng sông được yên bình, nó luôn phải quằn quại chịu đựng những màn bom, trận pháo dội thẳng vào thân mình. Hình ảnh ấy khiến cho nhà văn Chu Lai phải băn khoăn suy nghĩ để tìm từ diễn tả cho thích hợp “dòng sông lửa? không, chỉ đúng phần nào. Dòng sông chết? Cũng chưa chính xác. Có lẽ ba tiếng Dòng sông máu mới nói lên đầy đủ được cái hình hài quặn đau kinh hoàng của nó” [1, tr.184]. Tất cả đều cho thấy rằng, trong chiến tranh, không chỉ có con người phải chịu đau thương, mất mát mà thiên nhiên cũng phải chịu cảnh tan hoang, khói bụi. Ngoài ra, dòng sông trong tiểu thuyết Mưa đỏ còn ẩn chứa một ý nghĩa triết lí, chiêm nghiệm khác, đó là dòng chảy vô thường của đời sống với vô vàn những thăng trầm, những đổi thay bởi vì hơn bất kì một sự vật nào, dòng sông là thứ không ngừng chảy trôi, dòng sông là biểu tượng cho dòng đời. Lịch sử của đất nước cũng như dòng chảy của con sông, nó luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng để ứng phó với những gì xảy ra quanh nó. Và lịch sử Việt Nam cũng vậy, khi đế quốc Mỹ thực hiện chiến tranh thâu tóm miền Nam, nhân dân ta trên dưới một lòng quyết tâm chống Mỹ cứu nước, điều đó đồng nghĩa phải tạm gác lại những công việc hàng ngày để tâp trung cho chiến trường miền Nam ruột thịt. Đó là một sự đổi thay quan trọng. Khi chiến tranh qua đi, lịch sử cũng không được phép dừng lại, nó phải tiếp tục phát triển để vươn mình khỏi mất mát mà chiến tranh để lại, phải nỗ lực để đưa đất nước ra khỏi khó khăn, đói nghèo, xây dựng đất nước ngày một giàu mạnh hơn nữa để sánh vai với các cường quốc năm châu. Trong Mưa đỏ, dòng sông còn mang một quyền năng thần thánh. Là một biến thể của cổ mẫu biểu tượng nước, sông vừa là nguồn sống đồng thời cũng là sự chết chóc. Sông có thể đem lại nhiều lợi ích cho con người nhưng có thể nuốt chửng tất cả hoặc có thể nói rằng, chở thuyền đi hay nhấn chìm nó. Trong tiểu thuyết Mưa đỏ, biểu tượng dòng sông cũng mang tính hai mặt. Sông với ý nghĩa là nguồn sống đã trở thành mạch máu giao thông, là con đường tải quân, tải đạn phục vụ cho kháng chiến: “những đoàn quân xuôi sông, ngang sông bằng đủ các loại phương tiện” [1, tr.70]. Dòng sông dường như đã hòa mình vào dòng chảy của cuộc chiến, đã góp một phần công sức của mình để giành lại độc lập cho dân tộc. 27
  4. TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC HUẾ | HNKH 2019 Nhưng dòng sông cũng mang trong mình sự nguy hiểm bí ẩn, nó chất chứa những hiểm họa mà con người không thể ngờ tới. Chính dòng sông đã cuốn đi biết bao nhiêu chiến sĩ - những con người quên mình vì cuộc chiến. Và cũng chính dòng sông ấy đã “tràn qua khuôn mặt, tràn qua đôi mắt, tràn qua ... tràn qua ...” [1, tr.211] khiến cho Tú - thành viên nhỏ tuổi nhất của tiểu đội ra đi mãi mãi, chỉ để lại sự tiếc thương cho đồng đội. Điều đó cho chúng ta thấy rằng, con người quá nhỏ bé trong lòng mẹ thiên nhiên. Dòng sông ngăn cách tiền tuyến - hậu phương. Sông với các đặc tính dài, rộng, sâu… tạo sự ngăn cách tự nhiên giữa đôi bờ, giữa hai vùng địa lí. Do đó, sông mang ý nghĩa biểu trưng cho ranh giới, sự cách trở. Đó là sự cách trở giữa Thành cổ với bên kia hậu phương, khiến Cường và Hồng phải ngậm ngùi chia tay nhau vì nhiệm vụ còn dang dở, đất nước còn đang lâm nguy. Tuy nhiên, sự ngăn cách ấy không làm giảm đi tình yêu của hai người mà đó còn là động lực để hai người chiến đấu đến cùng. 2.2.3. Biểu tượng “cái chết” Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học), chết là mất khả năng sống, không còn biểu hiện của sự sống. Cái chết nói chung xưa nay vẫn là mối kinh hoàng, là nỗi sợ chính của con người. Bởi vậy trong văn chương, một cách trực tiếp hay gián tiếp, người ta vẫn viết nhiều về cái chết với những biểu hiện đa dạng, phong phú. Trong Mưa đỏ, để người đọc có thể hiểu sâu hơn về cái gọi là tiềm thức bên trong của con người đang phải chịu “vết thương” do chiến tranh mang lại, Chu Lai đã để cho biểu tượng “cái chết” xuất hiện trên dưới 83 lần với nhiều biến thể như: chết, hy sinh, đi, thương vong,... Mỗi lần xuất hiện nó lại mang những nét nghĩa riêng, khiến người đọc phải suy ngẫm. “Cái chết” là hiện thực tàn khốc của chiến tranh. Đến với Mưa đỏ, ta sẽ được cảm nhận rõ hơn về “cái chết”. Dù là phe ta hay phe địch đều phải chịu những tổn thất mất mát về con người. Trong cuộc chiến 81 ngày đêm, không có ngày nào là không có người chết hay bị thương, ngày nào cũng thấy cảnh “thân xác người trộn vào nhau, tung lên, rơi xuống, lập lờ” [1, tr.106] hay “xác chết rải quanh, có cái xác cũng ngún lửa” [1, tr.289]. Bằng những hình ảnh về “cái chết”, nhà văn Chu Lai đã cho chúng ta thấy rõ hiện thực khốc liệt của chiến tranh, cái hiện thực mà không ai muốn nhắc đến “mỗi ngày hy sinh một đại đội đủ” [1, tr.217]. Để cho chúng ta sâu sắc hơn về nỗi đau mất mát, Chu Lai còn để cái chết đến với những nhân vật của mình, những nhân vật mang tên. Đó là cái chết của Thanh khi bị địch bắn nát ngực, cái chết của Tú trên dòng sông tải thương, cái chết của Tạ, Hải, Sen, Bình, thủ trưởng Thành và cái chết của cả Cường và Quang, hai con người ở hai bên bờ chiến tuyến. Dù là cái chết vô danh hay hữu danh, dù ở bên này hay bên kia, đều khiến cho chúng ta phải ngậm ngùi, thương xót. Bởi nếu không có chiến tranh thì bây giờ, có lẽ họ đã được sống một cuộc sống yên bình, không khói đạn, không máu lửa. “Cái chết” luôn là sự ám ảnh của mỗi người, nhất là trong chiến tranh. Ở Mưa đỏ các nhân vật dù là ở bên này hay bên kia chiến tuyến đều luôn nhắc về cái chết với những ám ảnh riêng. Cái chết sẽ không trừa một ai và nó sẽ đến đưa họ đi bất cứ lúc nào. Và ai trong số họ cũng đều đã từng sợ hãi trước cái chết. Cường, một người chiến sĩ dũng cảm nhưng vẫn sợ hãi mà nói trong thư với mẹ rằng “anh hùng cũng sợ chết, thậm chí là sợ chết nhất” [1, tr.151]. Hay khi tên trung úy Phan Thái hỏi Hải rằng có sợ chết không thì Hải cũng thẳng thắn trả lời “là người, sao lại không sợ chết” [1, tr.296]. Và cái chết cũng ám ảnh lên cả Sen, người luôn hành động dứt khoát khi đối đầu với địch nhưng trước hình ảnh cái xác của bạn mình bị bom đạn hất trung lên trời anh bỗng trở nên điên loạn, không còn là người tiểu đội phó chính trực, gương mẫu như xưa mà trở thành một “con bệnh” ru rú trong góc hầm. Điều đó chứng tỏ, ám ảnh với cái chết chính là bản năng trong mỗi con người, vượt qua nó hay không là tùy vào bản lĩnh của từng cá nhân. 28
  5. KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN | 12/2019 “Cái chết” - Nỗi lo sợ cho người thân. Phải kể đến đầu tiên, chắc chắn là nỗi lo của những người mẹ, đó là mẹ Cường và mẹ Quang, hai người phụ nữ, tuy ở hai vùng miền, hai cách sống và đặc biệt là hai chiến tuyến nhưng ở trong họ luôn có chung một nỗi lo về những người con của mình, lo rằng con mình sẽ chết trong chiến trường ác liệt. Trong chiến tranh, luôn có hình ảnh những cô gái lo sợ người yêu của mình sẽ không bao giờ trở về. Và ở Mưa đỏ cũng vậy, khi Cường tạm biệt Hồng để trở về với chiến trường Thành cổ, Hồng đã thoảng thốt mà bảo với Cường rằng: “Em không cho anh chết đâu... Anh không được chết... Anh phải trở lại bên này sông với em...” [1, tr.233]. Đó dường như cũng là nỗi lo chung của những người con gái có người yêu nơi chiến trường. Hay là Tấn, người em út của tiểu đội, khi nhìn thấy Cường và Bình bị bom hất tung khỏi hầm, Tấn hoảng loạng, sợ hãi gọi “Anh Cường ơi... Anh Cường ơi! Tỉnh dậy đi... Anh Bình... Anh Bình ơi! Em không cho anh chết đâu... Chúng mình chỉ còn có ba anh em...” [1, tr.324]. Điều đó cho thấy, ở cái nơi chết chóc ấy vẫn nở ra một thứ tình cảm keo sơn khó đứt, tình đồng đội. Biểu tượng “cái chết” còn có ý nghĩa như một điều hiển nhiên. Có lẽ đã từng trải qua nhiều cuộc chiến nên đối với Tạ, cái chết không còn đáng sợ, đối với anh cái chết có thể ập đến lúc nào nên anh vui vẻ tiếp nhận nó. Suy nghĩ ấy thể hiện những lúc anh trò chuyện với đồng đội, với những người em của mình. Khi biết Hải gù là một học sinh giỏi văn, Tạ đã nói với Hải rằng: “Viết đi, viết lại tất cả những gì sắp trải qua, viết rõ thật vào,... nếu có chết, con cháu mấy đứa còn có cái để đọc, để hiểu cha anh chúng đã đánh nhau như thế nào.” [1, tr.42]. Lời nói ấy giường như là né tránh đi sự khốc liệt của chiến tranh nhưng đồng thời một phần cũng là khích lệ đồng đội không được bi quan trong cái trận chiến ác liệt này. Và khi cảm thấy mình sẽ ra đi trong trận đánh này, Tạ vội vã viết thư cho vợ, rằng: “Anh sắp đi đây. Lần này chắc anh sẽ đi xa mãi mãi. Vậy là anh không có dịp được gặp em và con nữa rồi.” [1, tr.277]. Càng đi sâu vào cuộc chiến, con người ta dường như đã quen, đã chịu đựng được sự mất mát nên khi đến gần với cái chết, họ lại dễ dàng chấp nhận nó. Hải cũng vậy, khi bị tên toán phó dụ dỗ đầu hàng, Hải đã cất lên giọng nói rắn rỏi trong loa phát thanh rằng: “Cường ơi! Bình ơi! Tấn ơi! Các đồng chí ơi!... Tôi đi đây, các bạn ở lại hãy nắm chắc tay súng!... Chiến thắng cuối cùng sẽ thuộc về chúng ta, những người lính bảo vệ Thành cổ. Vĩnh biệt...” [1, tr.311]. Cái chết của Hải đã chứng minh cho sự can trường, dũng cảm, dám đối đầu với địch để bảo vệ danh dự, tự do cho Tổ quốc. Biểu tượng “cái chết” trong tiểu thuyết Mưa đỏ còn là “cái chết” mang tầm quan trọng của lịch sử, đóng vai trò quan trọng góp phần vào chiến thắng của cuộc chiến. Đó là cái chết của anh lính thông tin khi đang làm nhiệm vụ nối lại đường dây liên lạc cho khu Thành cổ. Giữa cái khung cảnh bom đạn ác liệt và dòng chảy dữ dội, anh lính phải băng qua biết bao cái thây người, bị đánh văng ra, chìm nghỉm nhiều lần để tìm đầu giây bị đứt từ phía bên kia. “Tìm được, sợ tuột nữa, không còn cách nào khác, anh quyết định đưa hai đầu dây vào giữa hai hàm răng, nghiến chặt để tạo sự liền mạch, thành mối nối qua thân thể... Một trái pháo nổ gần, toàn thân anh tung lên, dập xuống nhưng răng vẫn không rời mối dây” [1, tr.186]. Nhờ sự hy sinh quên thân mình của anh mà đầu dây liên lạc được nối lại, chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về với tiểu đội của Cường. Đó là một chỉ thị hết sức quan trọng, “rất có thể đêm nay chúng sẽ cho thám kích luồn vào cắm cờ,... nếu cắm được cờ nó sẽ có thể rùm beng với thế giới rằng Thành cổ đã thuộc về chúng.” [1, tr.190]. Có thể thấy, chỉ thị ấy mang tính quyết định của cả một dân tộc, chỉ thị ấy nếu thành công sẽ tạo thế trên bàn đàm phán ngoại giao ở Paris và chỉ thị ấy cũng sẽ tạo đà thúc đẩy cuộc chiến tranh đi đến hồi kết. Vậy, nếu không có cái “cái chết” của anh lính thông tin thì liệu rằng đường dây liên lạc có được nối và chỉ thị ngăn chặn thám kích vào cắm cờ có được truyền về cho tiểu đội của Tạ, Cường, Sen, ... 29
  6. TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC HUẾ | HNKH 2019 Với sự hiểu biết, kinh nghiệm, quan điểm của mình, Chu Lai đã biến những “cái chết” trở thành biểu tượng riêng trong tác phẩm. Bằng biểu tượng “cái chết”, nhà văn muốn cho người đọc thấy được rõ nét hơn về chiến tranh, về những điều mà trong lịch sử không nhắc đến. Đồng thời, qua đó ông cũng cất lên tiếng nói tố cáo chiến tranh, tố cáo sự hủy diệt đang cướp đi sự sống của những người vô tội. 2.2.4. Biểu tượng “bóng đêm” Trong văn hoá Việt Nam, tiếp nối ý thức bóng đêm của nền văn hoá phương Đông, đêm là không gian và thời gian của cô đơn và nỗi buồn rầu. Văn học hiện đại sử dụng bóng đêm để tăng chiều sâu vô thức, khám phá cõi nội tâm thầm kín của con người. Điều này xuất phát từ tính dân chủ của nền văn học và khuynh hướng thể hiện mới của các cây bút say mê cách tân, dưới sự ảnh hưởng của nền tiểu thuyết phương Tây. Di chuyển bóng đêm từ bình diện văn hoá sang bình diện chủ thể, nhà văn đã gia công và tái tạo lại một số nét nghĩa, phục vụ cho ý đồ nghệ thuật và việc xây dựng hình tượng nghệ thuật. Đến với Mưa đỏ, Chu Lai đã để cho biểu tượng “bóng đêm” xuất hiện 68 lần và nó cũng trở thành một tín hiệu thẩm mĩ chứa đựng nhiều thông điệp quý giá. Bóng đêm trong Mưa đỏ là bóng đêm của hiện thực chiến tranh tàn khốc. Chiến tranh đã biến cái nghịch lí thành điều hiển nhiên và cần thiết. Khi đã bước vào cuộc chiến, con người ta phải chấp nhận một quy luật rằng: không có thời gian cố định. Thực tế chiến tranh đã cho thấy, mọi hoạt động quân sự phải chuyển về đêm để tránh sự quan sát và công phá của địch. Và trong Mưa đỏ cũng vậy, đại đội của Cường luôn phải nhận những nhiệm vụ trong đêm: “Lệnh cho đại đội ta đêm nay phải tiêu diệt được ban chỉ huy tiểu đoàn biệt động” [1, tr.338] hay “đêm nay tất cả sẽ rút sang bên kia sông” [1, tr.338]. Đêm là lúc thích hợp nhất, là lúc mà địch thường lơ là cảnh giác, chính vì vậy mà đêm là lúc bộ đội ta hành quân, cả “đội hình xuyên vào trời đêm” [1, tr.268], “Nửa đêm rồi. Trước cửa hầm cả tiểu đội đang đứng thành hàng” [1, tr.196]. Nhưng đêm luôn có những giới hạn không ai có thể phá vỡ đó chính là bóng tối. Các chiến sĩ phải hoạt động trong đêm khi mà bầu trời chỉ là một màn đen tăm tối, và không có thứ ánh sáng nào có thể dẫn lối cho quân ta ngoài ánh sáng của lí tưởng và sự dũng cảm. “Họ nương vào bóng tối dày đặc thận trọng luồn qua khúc tường thành... bò ra đường cái... Thân thể họ nhòa chìm vào cây cỏ, vào trời đêm, vào đất đai ẩm ướt” [1, tr.269]. Chiến tranh thật khắc nghiệt, thật khiến con người ta dễ bỏ cuộc, trốn chạy nhưng những người lính của chúng ta lại vượt qua được điều đó. Có thể nói, họ là những người con dũng cảm của đất nước, những người con đã quên mình để bảo vệ độc lập tự do cho dân tộc. Biểu tượng “bóng đêm” còn góp phần thể hiện nội tâm thầm kín của con người trong chiến tranh. Đêm là lúc tĩnh lặng nhất và đó cũng là thời gian khiến con người tĩnh lặng, quên đi những cảnh máu me, chết chóc trên chiến trường. Và đó cũng là khi họ trở về với con người bản năng, con người riêng của họ. Cường là sinh viên trường âm nhạc, cho nên anh rất nhạy cảm với âm thanh. Đêm là lúc anh thỏa sức sáng tác, hòa mình vào những nốt nhạc bay bổng. Nhưng từ khi bước vào chiến trường, vì nghe quá nhiều tiếng ồn của bom đạn, chứng kiến hết người này đến người kia ngã xuống nên về đêm, Cường dường như mơ hồ nghe được những âm thanh kì lạ “như một thanh âm bi thương và thao thiết nào đó khe khẽ vẳng lên, lan tỏa rồi thu lại lặn sâu, rất sâu vào trong người như một góc để dành, góc cất giữ những điều tinh lọc nhất để chờ dịp trào ra ...” [1, tr.278]. Có lẽ vì quá ám ảnh bởi những cái chết từ cả hai bên bờ chiến tuyến, những cái chết đều cùng chung dòng máu Việt Nam cho nên về đêm Cường mới nghe được những âm thanh kì lạ ấy, những âm thanh mà cậu cất giữ trong người. Bình, chàng sinh viên mĩ thuật, từ khi qua lại với người đàn bà “giàu có và hoang dâm” anh bắt đầu thấy sợ “sự quản lý như cai ngục quản lý phạm nhân, sợ sự ham muốn không biết 30
  7. KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN | 12/2019 thế nào là đủ, sợ mùi da thịt, sợ tiếng rên như con thú bị thương của bà, sợ hết”. Và căn bệnh mất ngủ của anh xuất hiện từ những đêm “truy hoan mang tính tra tấn ấy” [1, tr.158]. Điều ấy ảm ảnh đến anh ngay cả khi anh chia tay người đàn bà và bước vào cuộc chiến. Dường như Bình chỉ muốn lấy cái cớ nhập ngũ để quên đi người đàn bà đó nhưng có lẽ sức ám ảnh quá sâu nên đêm đêm anh vẫn không sao ngủ được bởi hình ảnh người đàn bà cứ quẩn quanh. Mẹ Cường - người phụ nữ rắn rỏi, mạnh mẽ, dù mang trong mình một nỗi lo về người con trai duy nhất còn sống sót nhưng bà vẫn bỏ qua một bên để hoàn thành công việc của mình, một công việc ngoại giao có liên quan trực tiếp đến vận mệnh của dân tộc. Dù khối lượng công việc có nhiều, có căng thẳng đến mấy thì đến đêm người mẹ vẫn không thôi nhớ về con, và khi cả thành Paris chìm trong giấc ngủ thì bà mới “có dịp rảnh rang để nghĩ đến con”, “mẹ cũng đang nghĩ về con đây. Mẹ biết con và bạn bè con ở đó đang gian khổ lắm, giá như không có hội nghị này mẹ cũng đã xin vào đó với con rồi. Vào đó mẹ có thể nấu cơm, giặt giũ, băng bó... làm gì cũng được miễn là được ở gần con, được chăm sóc con.” [1, tr.280]. Vì thế mà không thiếu những đêm “người mẹ cũng không ngủ”. Người mẹ nào cũng vậy, khi người con yêu thương của mình còn ở chôn chiến trường ngày nào thì ngày ấy người mẹ vẫn lo lắng không nguôi. Biểu tượng “bóng đêm” là cách mà Chu Lai lí giải cho người đọc hiểu hơn về đời sống nội tâm của nhân vật, những góc khuất mà ít ai nhắc đến của những con người ngày đêm vùi mình vào bom đạn, vùi mình vào cuộc chiến. Đồng thời qua đó, tác giả cũng cho thấy được những cảm nhận của mình về chiến tranh, về những khó khăn mà người lính phải vượt qua. 3. KẾT LUẬN Biểu tượng là một dạng kí hiệu đặc biệt, siêu ngôn ngữ ẩn chứa những tầng ý nghĩa phong phú, muôn màu về cuộc sống xung quanh. Con người không thể tách mình ra khỏi thế giới ấy. Vì thế biểu tượng luôn tồn tại trong tiềm thức mỗi cá nhân, cộng đồng dân tộc. Khám phá thế giới biểu tượng để đưa vào những sáng tác của mình, nhà văn đã góp phần vào quá trình phát triển các trào lưu văn học, các trường phái văn học trên thế giới từ xưa đến nay. Chu Lai đã tạo một khoảng trống nghệ thuật rộng lớn để bạn đọc thỏa sức tưởng tượng và suy ngẫm. Nghiên cứu biểu tượng trong văn học là con đường để ta hiểu sâu hơn và đầy đủ hơn về ý nghĩa của biểu tượng. Việc giải mã biểu tượng góp phần giúp hiểu được những giá trị riêng biệt, độc đáo mà tác giả đã chuyển tải vào trong tác phẩm. Biểu tượng còn góp phần quan trọng trong việc kiến tạo diễn ngôn lịch sử trong tác phẩm Mưa đỏ của Chu Lai. Nó như là phương tiện để nhà văn có thể chuyển tải những suy nghĩ, lời nói của mình, đồng thời, biểu tượng là nơi để nhà văn bộc lộ những quan điểm, cách nhìn của mình về cuộc chiến tranh một cách ẩn ý, ý tứ, bí hiểm nhất nhưng cũng sống động nhất. Nó hình thành cho người đọc cái nhìn rõ nét về chiến tranh từ góc nhìn của những con người đứng trong cuộc chiến - cái nhìn chủ quan. Chính vì vậy mà khi tiếp cận văn bản, người đọc sẽ được cảm nhận lịch sử từ cái nhìn chủ quan của nhà văn. Bởi lịch sử luôn được kiến tạo từ những cái nhìn chủ quan. Điều này đã khiến cho văn bản trở nên đặc sắc, hấp dẫn người đọc. Và đó cúng chính là thành công của nhà văn Chu Lai khi đã kiến tạo nên một diễn ngôn lịch sử mới mẻ cho người đọc. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Chu Lai (2015). Mưa đỏ, NXB Văn học, Hà Nội. [2] Đinh Hồng Hải (2014). Nghiên cứu biểu tượng-một số hướng tiếp cận lí thuyết, NXB Thế giới, Hà Nội. [3] Đoàn Tiến Lực (2016). Biểu tượng sông trong văn học Việt Nam, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, 28/6/2016, http://hdl.handle.net/123456789/8060. 31
  8. TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC HUẾ | HNKH 2019 [4] IU. M. Lotman (2015). Kí hiệu học văn hóa (Lã Nguyên, Đỗ Hải Phong, Trần Đình Sử dịch), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. [5] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2013). Từ điển Thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục. [6] Nguyễn Văn Hùng (2016). Những hình thái diễn ngôn mới trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau đổi mới, Tạp chí sông Hương, Số 326. [7] Nguyễn Hoàng Sáu (2016). Mưa đỏ - Sức hấp dẫn vẹn nguyên của một mảng đề tài lớn, Quân đội nhân dân Online, 29/04/2016. 32
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2