Đình nguyên Vương Hữu Phu với bài đình đối
Đình nguyên Vương Hữu Phu (1880-1941), còn có tên là Vương Đình Thy, huý
Vi T, sinh ngày mng 5 tháng chạp năm Canh Thìn (1880) ti thôn Long Vân,
Vân Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Ngh An, trong một gia đình có nhiều người đỗ
đạt. Thân ph cVương Danh Thân, cử nhân khoa Giáp Tý (1864), làm quan
đến chc Giám sát ng s. Anh rut là cVương Đình Trân (sau đổi là Vương
Đình Trác), đỗ Phó bng khoa Ất Mùi (1895), làm quan đến chc Tri ph. Thu v
thành niên, ông khác người vì tính khí ngang tàng, b cha kèm cp bt hc hành
ráo riết, v sau, cha gi cho theo hc vi cụ đầu x ni tiếng thi ấy là Đinh Văn
Uyn huyn Nghi Lc.
1. Vài nét v thân thế và con người Vương Hữu Phu
Đình ngun Vương Hữu Phu (1880-1941), còn tên Vương Đình Thy,
huý Vi T, sinh ngày mng 5 tháng chp m Canh Thìn (1880) ti thôn Long
Vân, xã n Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Ngh An, trong một gia đình nhiu
người đỗ đạt. Thân ph cVương Danh Thân, c nhân khoa Giáp Tý (1864),
làm quan đến chc Giám t ng s. Anh rut cVương Đình Trân (sau đổi là
Vương Đình Trác), đỗ Phó bng khoa Ất i (1895), làm quan đến chc Tri ph.
Thu vthành nn, ông khác ni tính khí ngang ng, b cha m cp bt
hc hành ráo riết, v sau, cha gi cho theo hc vi cđầu x ni tiếng thi y là
Đinh Văn Uyển huyn Nghi Lc. Vương Hữu Phu là bn tâm phúc vi nhà
hot đng cách mng ni tiếng sau y trong phong trào Đông du ca Phan Bi
Châu là Đng Thái Thân (có bit hiệu NHải). Ông Vương Đình Quang, con
trai th hai ca cụ, người đã từng m thư ký toà son cho báo Tiếng n ca c
Hunh Thúc Kng, k li theo lời ngưi anh h Vương Đình Viên c Phu
đã trn mđịnh xuất dương sang Nhật đ li mt bức thư, mẹ cho người
đuổi theo bo: “Hãy tr v chôn m ri y đi”. Vốn người con chiếu, nên
cụ đành trở v gp m, bà m bo: “Ch hiếu chưa xong nói chi đến ch trung!”.
Ông thân sinh của Vương Hữu Phu chđậu c nhân nên ly làm bun gia tc
mình chưa ai đỗ đại khoa và coi đó điu bt hiếu, suốt đời không quên. Đến khi
lâm chung vẫn ao ước điều này nên đã di chúc nói lên tâm s ca mình mong được
con cháu ni chí. Cha mt sm, nhưng nhờ m rt nghiêm khắc, chăm lo rèn
dạy, động viên nên cđã ý chí thi đậu đại khoa để tho lòng mong mi ca cha
m. Cđậu Á khoa (thhai) thi Hương, Hội nguyên (đậu đầu thi Hội) Đình
nguyên (đu kỳ thi Đình). Tuy đậu đạt cao nhưng cụ không mun ra m quan vi
mt triều đình đã mt ch quyn. Song chiu ý m mun con mình đã khoa (thi
đỗ) phi hon (làm quan) nên buc lòng c phi theo khoá hc ở trường Hu b
(trường đào tạo quan trường) Huế. trường này bn Pháp buc phi hc tiếng
Pháp, tiếng của nước thù đch, li phi học dưới sđiều khin ca các giáo
người Pháp. Đây một s nhn nhc ln trong thời gian 3 năm đối vi c. Nhà
trường phát cho mi hc vn mt khối lượng sách lớn, nhưng cụ không my khi
đụng đến các sách y. Tuy vy, do rt thông minh nên c vn hiu s dng
được tiếng Pháp. Mt lần giáo Le Breton hi mt u tiếng Pháp: “Aimez vous
le Francaise?” (Anh yêu c Pháp không?) C cũng đáp lại bng tiếng Pháp:
“J, aime bien mon Patrie!(Tôi ch yêu T quc tôi!). C Phan Võ, quê Nhân
Thành, Yên Thành (thân sinh giáo Phan Ngọc) đỗ Phó bng cùng khoa vi c,
nghe vy rt ly làm thích thú. C Phan từng khen: ông Vương Hữu Phu rt
thông minh, không hc bng mấy người chăm học, ch liếc qua bài v thuc
hết. Câu tr li ca c không m hài lòng người Pháp. thế, ra trường c bđẩy
vào m tri huyện Tân Định, mt huyn min núi thuc tnh Khánh Hoà, rng
thiêng nước độc, ai bđẩy đi làm quan đây coi như đi đày bit x. Làm quan bt
đắc dĩ nên mi ngày c ch làm mt bui, bui còn lại đi săn bn. Giữa lúc đó, c
b bệnh đau chân, phải nm bnh vin sut một năm, cuối cùng phi cắt đi 3 ngón
chân mi khỏi. Sau đó, cđược triu v Huế, lần lượt sung vào Quc s quán
Tàng c vin vi hàm Thđộc hc sĩ. Do đó, dân địa phương thường gi c Th
(theo phm hàm) hoc cĐình (theo đỗ đạt). Đến đây mùi làm quan đã tri, li
nhục hơn vinh nên cụ viết đơn từ chc. By gi c mi 40 tui. V nhà, c lp chí
học Đông y, vốn thông minh li quyết tâm cao, dày công nghiên cu nên chng
bao lâu cđã tr thành một lương y ni tiếng quê. C li có lòng nhân t, sn
sàng giúp đvô cho bệnh nhân nghèo nên nhiều người biết ơn ca ngợi. Vn
ghét Pháp, c không mun cho con hc theo khoa c, nên các con ch được c cho
phép hc hết bc tiu học để biết ch quc ng, nhưng sau đó các con cụ đu bng
con đường t học vươn lên. Người con c tr thành mt công chc v giao
thông công chánh, sau mt thời gian công tác, được thưởng hàm hàn lâm. Trong
khi nhiều gia đình người được hàm y thì m bò, giết ln ăn mừng, riêng nhà
c thì không. Những người quen biết đến chúc mng “quan hàn” thì c bo:
nhà đói, hắn đi làm kiếm ăn, hàn với chi! Xin con cứ kêu hn C Tiếu
như trước”. thế, ông vẫn được gi C Tiếu đến mãi v sau. Còn 2 người con
trai sinh sau (ông Dung ông Gin), c dy cho hc ch Hán ngh thuc nên
đều tr thành nhng thy thuốc Đông y giỏi, ông Dung mt sm, ông Gin làm
thy thuốc Đông y bnh vin Din Châu trong kháng chiến chng M, sau hoà
bình v công tác bnh viện Nam Đàn cho đến khi nghhưu, hiện nay đã hơn 90
tui. Sinh thi ch hiếu, c không tham gia hoạt động ch mạng được, sau khi
m mất đúng vào lúc cụ Phan Bi Châu b gic bắt và đem về giam lng Huế, c
sinh chán nn, sc kho li kém nên cđã ng ý cho 2 con là ông Tiếu (con c)
ông Quang (con thứ) theo ông Đng Thái Thuyến (là con chí sĩ Đặng Thái Thân)
đi ra nước ngoài hoạt động cách mạng, tuy nhiên sau đó ông Thuyến b Pháp bt,
chưa kịp đưa hai ông đi theo. Nam Đàn còn nhiu giai thoi v cnhư ăn
mc không chung hình thc, khi quá xunh xoàng d dãi. Hi cđang làm tri
huyện Tân Định, lúc đó ông Quang còn nh, một hôm được m mc cho bđồ
mi, hng chạy ra công đường, b c trng mt bảo đem đốt đi, bt phi thay
bđồ cũ sau đó trách clàm con. Sau này ông Quang mới hiu m s
ca cha bản thân người m quan lđã cm thy nhc nhã thì cu m con
quan còn nước hãnh din! C Chắt Đoàn Nam Giang, hi Pháp thuc làm
ngh kéo xe k chuyn li: “Tính căn mặc xunh xoàng không chi trau
tria. Đi ngoài đường đố ai biết là ông quan Đình nguyên. Hi cụ thi đỗ, dân huyn
c trống rước t tnh vlinh đình lắm nhưng khi qua Hữu Bit (tên cũ của Nam
Giang), dân làng mi cvào đình ngh, trong đình bày bin tiếp đón, nhưng
c t chi, ch ngh tạm ngoài nhà hàng. Khi ra đi c bo cun c đi cho mau.
Mt ln c thuê xe tôi t Vinh v Sa Nam. Qua Cng Cht, một người ăn mặc
rách rưới, chân băng bó, đi nhc, nói với tôi xin đi kèm. Vì kính trng c Đình, tôi
nói: “Chân anh hôi thối như thế không th ngi chung vi c lớn”. Nhưng cụ nói:
“Người ta đau cứ cho người ta đi, vả li ông cũng được thêm tiền”. Tôi đòi anh ta
phi tr 5 hào. Anh im lng, lưỡng l. Cnói: “Người ta nghèo kh ly 3 hào
thôi”. Tôi để anh ngi chung vi cụ. Đi đến chùa Sày(1), anh ta xung ch tr 1
hào và bảo: “Xin ông, tôi đi nhà thương(2) v hết c tin”. Tôi sng s chi mng
thm t thì c bảo: “Được ri, thiếu 2 hào ca ông, tôi tr cho”. Vđến Sa Nam
c tr thêm 2 hào nhưng tôi không nhn”. C Xuân thời trước cũng làm ngh kéo
xe thì k li: “Mt ln cđi xe tôi từ Vinh về, đến cầu Mưỡu(3) tri đổ mưa, cụ
phi ngh li nhà hàng. Tri tnh thì đã ti. Tôi kéo xe vđây (Nam Giang), mời
cụ đến my nhà giàu, nhà quan trong xã để nghỉ đêm cho tin. Tôi nghĩ nếu cđến
các nhà đó h s cm thy vinh dvà đón tiếp long trọng. Nhưng ckhông đồng ý
và đòi ngh li nhà tôi, mà nhà tôi thì nhà tranh vách đất không có ch nm cho ra
trò. C hi: “Có trứng không?” Tôi thưa: “Tht thì không nhưng trứng
thì có”. C bo nấu cơm hấp cho c qu trng. Khi dọn cơm, tôi vay
hàng xóm đĩa thịt tráng đĩa trứng. Nhưng cụ chăn cơm với qu trng hp bóc
ra dầm nước mm. Suốt đêm cụ ng trên chiếc chõng tre”.
C Vương Hữu Phu giáo dc con cái rất nghiêm. Do căm thù giặc Pháp, c
không ch không hp tác vi bn quan li Pháp còn cực đoan đến mc không
cho con cái được hc tiếng Pháp và mặc đồ y. Ông Vương Đình Quang k li
trong cun “Tiu truyện Vương Hữu Phu”: Mặc đã lớn, đi làm ăn xa, mỗi khi
v thăm gia đình, chúng tôi không bao gi quên mấy điều nghiêm cm: Không
được nói tiếng Pháp vi nhau và vi bạn bè; Không được mc Âu phc, chỉ đội
chiếc mũ như người Pháp thường dùng; Không được dùng các th hàng ca Pháp
như xà phòng thơm, nước hoa…”.
Tuy vy, các con cái cđều t hc thành tài, ngoài hai ông con c th hai,
ông Vương Tử Hu (con trai th ba) t học đỗ tài triết, sau Cách mng tháng
Tám gi chc Ch tch lâm thi huyện Nam Đàn, trong kháng chiến chng Pháp
làm hiệu trưởng trường thc Tân Dân Nam Đàn, một trường cp 2 nhiu
giáo viên hc sinh sau y ni tiếng như GSTS Nguyễn Văn Trương, GSVS
Đinh Ngọc Lân, GSVS Đào Vọng Đức…
2. Bài văn Đình đối
Khoa thi năm Canh Tut (1910), 4 tiến sĩ Vương Hữu Phu, Nguyn Sĩ
Giác (Thanh Trì - Đông, nay thuộc Hà Ni), Nguyn Hàm (Triu Phong -
Qung Tr), Bùi Hu Tu(Nam Đàn - Ngh An), như vậy 4 tiến sĩ thì riêng
Nam Đàn đã 2; Phó bảng 19 người, trong đó cụ Phan Võ, cHoàng Tăng
(thân sinh GS Hoàng Minh Giám), riêng NghAn 5 người. Khoa thi này v
vua tryêu nước Duy Tân ch trì nhưng bên cạnh đã s hin din của người
Pháp. Đề thi Đình đối vua ra gm 229 chữ, được dịch như sau:
“Tha mnh tri m vận, Hoàng đế chế sách rng: Tri sinh ra dân, t
người ni trội hơn đồng loại để làm vua, làm thy, vi trách nhim nhn biết sm
các vic. Tuy nhiên, không phi một người t mình thlàm được điều đó,
cn nhiều người đồng thi sinh ra hoc xen k nhau xut hin, cùng nhau sa
sang, cùng nhau khám phá, rồi đạo mi sáng t, giáo hoá mi hình thành, vua
dựa vào đây để cai tr, thy dựa vào đây để dy d. Shưng thịnh ca các đời
Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Thương, Chu(4) đều xut phát tđó vy. T khi nhà
Chu dời đô về phía đông, 5 k hùng lần lượt ni lên. By gi, s tài gii có
mười mấy người, nghĩa là v quy chđủ dùng cho một nước, phi do khí
vn mà khiến ra như thế chăng? Hoặc người nói, tTam đại(5) v sau, biết đạo
làm vua đại khái một vài người, còn biết đạo làm thy thì tuyt nhiên không có.
Xem Hán Văn đế(6) mt bc vua hiền, nhưng Giả Ngh(7) thì tài cán không được