57
GIÁO DỤC VĂN HỌC NGH THUT CÁC DÂN TC THIU S
TRONG H THNG GIÁO DC PH THÔNG TÂY NGUYÊN
NNC. Linh Nga Niê kdam
10
VHNT truyn thng các dân tc thiu s Tây Nguyên , k c ti ch cộng cư, mt
kho tàng đồ s phong phú, đã được sưu tm nghiên cứu tương đối đầy đủ thông qua
các chương trình khoa học cấp nhà nước, cp B, cp tnh, thm chí cấp sở ( trường
ĐH, CĐ).Nhiều công trình đã xuất bn thành sách, phát hành v các thư vin. Tuy nhiên, s
tiếp cn của công chúng, đặc biệt đối vi thế h tr,không phi là vic d
Nhn thy vấn đề tạo điều kin cho lp tr các địa phương Tây Nguyên tìm hiểu VHNT
dân tc là vô cùng quan trng, nên B Giáo dc đã ban hành son tho các tài liu giáo dc
địa phương t tiu học đến trung hc ph thông. Trong các tài liu ging dy này nhiu
ni dung v VHNT, k c truyn thống đương đại. Tuy nhiên, các ni dung y chuyn ti
nhng gì? Bao nhiêu? Tài liệu để giáo viên và hc sinh tham kho đâu? Như thế nào? còn
là vấn đề phi bàn bạc và trao đổi.
T khóa: Giáo dục. Văn hc, Âm nhc dân gian
The traditional arts and culture of ethnic minorities in the Central Highlands, both
indigenous and communal, is a massive and rich treasure, which has been collected and
researched relatively fully through scientific programs. State level, ministerial level,
provincial level, even grassroots level (Universities and Colleges). Many works have been
published in books and distributed to libraries. However, public outreach, especially to the
younger generation, is not easy.
Realizing that creating conditions for young people in Central Highlands localities to
learn about national arts and culture is extremely important, the Ministry of Education has
issued and drafted local educational documents from primary to secondary schools. high
school. In these teaching materials there is a lot of content about Arts and Culture, both
traditional and contemporary. However, what does that content convey? How much? Where
are the documents for teachers and students to refer to? How? It is still a matter for
discussion and exchange.
Keywords: Education, Literature, Folk music
I. Khái quát v VHNT Tây Nguyên
Tây Nguyên , theo khái nim ca t chc Quc tế UNESCO khi ghi danh Không
gian VHCCTN là Di sản Văn hóa phi vật th đại din cho nhân loại”, chỉ bao gm 5 tnh Kon
Tum, Gia Lai, Đk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Vi 12 tc ngưi ti ch thuc 5 tnh này,
văn hóa nghệ thut truyn thống đã là một kho tàng khng l, vừa mang tính đng nht vùng
min, va mang tính riêng bit ca tộc người, thuc nền Văn minh Nương rẫy. Khác bit hn
vi nền Văn minh lúa nước của vùng đồng bng.
10
. Nhà nghiên cứu Văn hoá Tây Nguyên
58
Năm 1976, dân số y Nguyên gm 18 dân tộc anh em, trong đó đng bào n tc thiu
s ti ch là 853.820 người, chiếm 69,7% dân s. Cuối năm 2007, cư dân các tộc người thiu
s chiếm 33%. Đến nay, toàn vùng y nguyên theo tổng điều tra dân s năm 2019, ti
2.199 784 người DTTS ( chiếm t l 37.7%).Ch tính riêng Đắk Lắk, đã tới 49/53 DTTS
trong c nước đang cùng cộng cư . Văn học ngh thut truyn thng ca các dân tc cộng cư,
cũng không kém phần đa dạng.
Vic tìm hiu du ch lược nhng đặc điểm bản cũng sẽ cần đến khá nhiu
các công trình khoa hc. Việc đưa VHNT các DTTS vào chương trình giáo dục, để các thế
h sau không th ơ, thêm sự hiu biết v ci ngun, v mảnh đất con người ca quê
hương, là điều vô cùng quan trng và cn thiết.
Trước tiên, hãy điểm qua về nhng điều bản v nền VHNT độc đáo phong phú
của Văn minh Nương rẫy y.
1.1. V văn hóa truyn thng
1.1.1 Văn học truyn ming
Văn học dân gian truyn thng các dân tc thiu s y Nguyên, ch yếu văn học truyn
ming, bởi cho đến na cui thế k XX, thông qua các cha x đốc giáo và các nhân sĩ của
tộc người, mt s sc dân tiêu biểu như Bâhnar, Ê Đê, Jrai, K’Homi ch viết riêng
được xây dng t ch La Tinh và tiếng dân tộc. Trước năm 1975, tài liệu của các giáo sĩ, các
nhà khoa học Pháp như Comdominas, Jacques Dournes, Anne De Hautecloque, Dourisboure,
Hienri Maitre…hay trong nước như Cửu Long Giang & Toan Ánh, Nguyễn Đổng Chi…cho
chúng ta những cái nhìn tương đối tng quan v phong tc tập quán, văn hóa tc
người…Nhưng phần VHNT vn ch được c tác gi nói trên đề cp đến một cách lược.
Bởi đó không phải mc tiêu ca h. Ch sau m 1975, các công trình nghiên cứu v Văn
hóa y Nguyên như của Quang Nhơn, Ngô Đức Thnh, Ngc Thanh cùng các cng
sự, Đông Hải, Lưu Xuân Lý, các nhà khoa học địa phương y Nguyên…phn VHNT
truyn thng mới được đề cập đến chuyên sâu hơn.
Kho tàng văn học truyn ming y Nguyên rất đa dạng v ni dung, phong phú v th
loi, tc ngưi nào cũng có, bao gm:
-Dài hàng ngàn câu như các trường ca, s thi Hri, Hmon, Klei Khan, Yang Jao, Ót
n’Trong…( Dam San Ê Đê, Xing Chơ Ngă - Jrai, Rc & Set - hnar, Dăm Duông
Đăng, Kể dòng con cháu m Chep- Mnông…),gii v s ra đời của con người và đất tri,
nhng cuộc hành trình đi tìm đất sng, nhng cuc chiến tranh b lc, nhng câu chuyn tình
đẹp như huyền thoi, những ước đến cuc sng tốt đẹp hơn cho cộng đồng… . Hmon -
Bâhnar, Ót N’Drong- Mnông, Klei khan - Ê Đê…đều đã được công nhn di sản Văn hóa
cp Quc gia.
- Các b Lut tc ca các dân tộc Ê Đê, Mnông, Jrai, Bâhnar, K’Ho…quy định v l li
ng x, nhng ràng buc đ kết ni cộng đồng.
Nhng tác phẩm văn học truyn ming s thi - Tây Nguyên đầu tiên như Dam San, Xing
Nhã…đã được các nhà khoa học sưu tầm trong bà con các DTTS Tây Nguyên tp kết ra Bc
59
và dch t những năm 1960 ở Hà Ni; từng làm xôn xao dư luận bi v đẹp ca vần điệu, ni
dung dung lượng. Để rồi Dam San được đưa vào chương trình Giáo dục Đại hc sau
này là giáo dc ph thông.
-Ngắn như li nói vn ( tc ng, ca dao, thành ng v kinh nghim sn xuất, đối nhân x
thế, đấu tranh chống xâm lược, ca ngợi quê hương giàu đẹp, đối đáp, hát đố, giao duyên tình
yêu nam n, ng h cách mạng…). Lời nói vn của Ê Đê đã được công nhn Di sản văn
hóa cp Quc gia
- Truyn c tích thế s
- Đồng dao, ng ngôn…
Đã từng hàng ngàn đêm bên ánh lửa bp bùng ca nhà Rông, nhà dài, nhng câu chuyn
v các chàng dũng sĩ “ đầu đội khăn kép vai mang túi da ” hết lòng vì s bn vng ca buôn
làng. Các n tù trưởng xinh đẹp như hoa Plang một lòng gìn gi, bo tn phong tc tp quán
ca tộc người…làm say lòng bao người hết ngày dài lại đêm thâu”. Hay bên bếp la m
cúng quây qun bên váy m, th th nhng câu chuyn c tích v cái thin thng cái ác, nhng
con vt nh tinh khôn, to ln ngu ngốc… gieo những ước xa xôi vào m hn
con trẻ. Mong đưc cuc sống bình an, đủ đầy ca buôn làng. Nhng cuc phân x công
bng, phân minh theo lut tc, bài hc cho không ch lp tr mà còn c cộng đồng, bi s
gn kết tộc người.
C tích các dân tộc Tây Nguyên đã được sưu tầm các Nhà xut bn phát hành hàng
ngàn bản trong nước.
Văn học dân gian truyn ming cùng sống động, điểm cho đời sng tinh thn các
DTTS Tây Nguyên. UNESCO đã rt tinh tế khi gi các Ngh nhân của Tây Nguyên
Nhng báu vật nhân văn sống”.
1.1.2 V ngh thut diễn xưng
Sng bit lp gia rừng đại ngàn, người Tây Nguyên rt biết tìm ngun vui, s gii trí sau
nhng gi lao động mưu sinh. Ngh thut dân gian xut phát t tín ngưỡng tâm linh cúng
kiếng các v Yang linh thiêng, đi dần ra đi sng sinh hot cộng đồng, t mình chế tác nên h
thng các nhc c tre nứa, các làn điệu dân ca khi hát nói dàn tri t s mênh mông ( ưt,Tap
ta veo, Rnghe, Jun jơ…) khi nhp điệu sôi ni, lúc tr tình mượt mà v tình yêu đôi lứa ( arei,
jang jao, hri…).
- Các vũ điệu suang uyn chuyn ca các thiếu n (múa Tung tung da da Cơ Tu, Ru
mthuar, Tap Mnie Jrai, Chim Gr Ê Đê, Smơk - Bâhnar..); những bước nhy dũng mãnh,
ng tráng ca các chàng trai ( Pah hgơr, Khil, Kong Koh…).
-Du chng th thực hành đưc ngh đúc đồng, nhưng các bộ ching Lao, ching Kuor,
ching Joan, không ch phc v cho l tiết, còn làm cho cuc sng tr nên sôi động, rn
ràng thêm các vòng suang trong nhng ngày l hội mùa Ăn năm ung tháng , hay Khai ning
nơng – tháng ngh ngơi.
-Bng nhng nguyên vt liu sn có trong không gian rng suối, vưn ry, như tre, lồ ô,
đá sui, v bu, da di...sau y k c giây điện thoi, nhc c dân gian ca tt c các
60
DTTS ti ch Tây Nguyên đều đủ các nhóm h hơi, họ gõ, h dây gy, y kéo, màng
rung. Tuy hình dạng được chế tác đơn sơ, nhưng âm thanh cất lên vn vô cùng réo rt và đc
đáo. Những dàn ching chêng phi mua t bên ngoài về, qua đôi tai, đôi tay tuyt vi ca các
ngh nhân chân trn, bng tr nên cùng sống động với đời sng ca các buôn, bon, kon,
plei thông qua hàng âm dân nhc ca tc ngưi.
Bên cnh Không gian VHCCTN chung, là Di sản VHPVT đại din cho Nhân loi, thì các
nhc c và dân ca như: Cồng ba, ching năm Bâhnar, Tu; Nau Pring của Mnông; múa Tung
tung da da; Nói & hát của người Tu …cũng đã đưc công nhn Di sn VH cp
Quc gia
Ngh thut dân gian truyn thng y Nguyên gn với con người t khi còn trong bng
m được cầu cúng an thai, đến khi ct tiếng khóc chào đời đưc công nhn là mt thành viên
nh ca cộng đồng, đến tuổi trưởng thành, cưới hỏi cho ngưi tr, chúc sc khỏe ngưi
già, tn lúc t bit cõi trần đi về chn Mang Lung vi t tiên, ông bà.
1.2.Văn học ngh thut hin đi ( 1945 nay )
1.2.1 Văn học viết
Văn học viết y Nguyên k c văn xuôi thơ đi từ không đến có. Nếu quãng
thi gian t 1945 đến 1975, ch vài tác gi tp kết ra Bắc như Y Điêng Kpă dân
tộc Ê Đê, khởi thy t truyn ngắn Em ch b đội Wa H”, hay Mlô Y Cla Vi n tc Ê
Đê, với bài thơ nhớ quê hương “ Cô gái vót chông” (được nhạc sĩ Hoàng Hip ph thành bài
hát xanh mãi vi thi gian), nhà báo Nay vi mt vài bút gi ra t chiến trường Tây
Nguyên. Thì ch sau 1975, đặc bit là sang thế k XXI, đã hình thành đội ngũ tác giả , nhng
người t mi miền đất nước chọn Tây Nguyên làm quê hương thứ hai. Như các nhà thơ, nhà
văn Tạ Văn Sĩ, Lại Hữu Kim, Lê Văn Thiềng Kon Tum; Văn Công Hùng, Thu Loan, Phạm
Văn Long, Ch Anh Đào Gia Lai; Lê Tiến Dị, Đặng Canh, Nguyễn Liên, Đào Thu Hà
…ở Đăk Nông; Phm Quốc Ca, Đoàn Ngọc Trác, Nguyễn Thanh Hương, Chu Bá Nam,
Công, ng Thái Biu, Nguyn Thánh Ngã…ở Lâm Đồng; Đặng Bá Tiến, Phạm Doanh, Văn
Thảnh, Lê Vĩnh Tài, Nguyên Hương, Nguyệt Ánh…ở Đắk Lk.
Đặc bit những cây bút người DTTS : ngoài Nhà văn Y Điêng đi dn t truyn ngn
đến tiu thuyết (H’Giang, Chuyn bên b sông Hing, Ba anh em), Mlô Y Cla Vi ly thơ làm
phương tin tuyên truyn; còn thế h tr Đinh Su Giang, Y Vit Sa dân tộc Đăng,
Hoàng Thanh Hương – dân tc Mưng. Hoàng Nht Rla Yang dân tc Mnông. Viết nhanh
và nhiu nht là n nhà văn Kim Nhất n tộc Bâhnar…
Đông đảo n c các tác gi người dân tộc Ê Đê : H’Linh Niê, Niê Thanh Mai,
H’Trem Knul, H’ Siêu B.Yă, H’Xíu Hmok, H’ Phi La Niê, H’ Wê Ra Niê…Trong đó thơ của
H’Trem Knul truyện ngn của H’Siêu B.Yă mang âm ng s thi rt rt. H trưng
thành t các tri bồi ng sáng tác ca Hội VHNT Đắk Lk t cui thp k XX. Tt c đã
to nên một vườn hoa Văn học y Nguyên nhiều hương sắc; với đa dạng các th loại văn
xuôi ( tiu thuyết, truyn ngn, tản văn, bút ký văn học và báo chí), thơ ( k c trưng ca).
Đã có 5 tác gi người dân tộc Bâhnar, Ê Đê là Hi viên Hội nhà Văn VN
61
1.2.2 Ngh thut diễn ng
Ngay t sau khi cách mng Tháng Tám thành công, tại TN đã manh nha những hoạt động
ngh thuật như nhạc sĩ Nhật Lai sưu tầm và sáng tác hàng chc ca khúc da trên cht liu dân
ca TN (Đợi ch, Tiếng hát x Mnông Tibri…). Nhạc Kpă Púi, t 1950 đã các ca khúc
mang âm ng n ca Jrai ( Nh Cheo Reo, Đinh Năm ca). Các đội tuyên truyn dùng
dàn ching chêng , đàn T’rưng làm nhạc c, lấy dân ca đt li mi ( Dăm Thơi, Amiêt man,
Hoa Cheng Ret…), múa suang m phương tiện, tuyên truyn khp TN; ni bt lên vai trò
của ca sĩ - nhạc sĩ Rchăm Yơn vừa ca hát va sáng tác nhng ca khúc ngắn đậm cht dân ca,
tuyên truyn cho cách mng rt kp thi (Kêu gọi Thanh niên đi bộ đội, Giã lúa cho cách
mng, Diệt đồn ...)
Năm 1955, sau khi đất nước tm chia làm 2 min, ti Ni, tuyn chn trong s
nhng cán bộ, người dân các DTTS y Nguyên tp kết ra Bắc để thành lập Đoàn ca múa
Tây Nguyên, mang âm ng dân ca, dân nhạc, dân Tây nguyên gii thiu vi bn
trong ngoài nước. Âm nhc, múa y Nguyên được sưu tầm, chỉnh lý, để ri t đó hình
thành nhng tác phm ngh thut chuyên nghiệp đỉnh cao như nhạc không li, Nhạc vũ kịch
(Ngưi tạc tượng, Bên b Krông Pa), hàng trăm ca khúc được bn yêu nhạc ưa thích (Em
hoa Hoa Plang, Tây Nguyên bt khut, Mùa xuân em nh Tây Nguyên…), các tiết mc t
cht liu dân gian múa TN tr thành kinh điển ( Rong ching, Ca Tu, Bài ca chim Ưng…).
Cũng từ đó, đội ngũ nhng ngh chuyên nghiệp TN cũng đã dần hình thành, như các ca sĩ
H’Ben, Kim Nhớ, A Đam Đài Son, các nhạc sĩ Kpă Púi, Y Yơn, Ama Nô, A Nay Nhoan, Nay
Quách…các biên đạo Đài Hoa, Y Brơm, Y Khưu, Đinh Xuân La, Đinh Long Ta…Thi k
chng M Tây Nguyên hàng vài chc diễn viên người các DTTS va hát va múa va din
kch ca các đoàn B3, B5, Quân khu 5, phc v không ch khu Năm, Tây Nguyên, mà tới c
chiến khu y Ninh. Nhng bài ca, điu múa còn vang vng trong lòng dân ti tn y gi :
Chiến thắng Đak Tô, Tây Nguyên gii phóng, -Vui hi Rong ching, múa Chim Gr, múa Kon
Tuôr, Cư Ka dăm dra….
T nhng năm 1960 ngh thuật múa dân gian Ê Đê, Jrai, Bâhnar, Đăng, Tu…,
đã được các ngh sưu tm chnh lý, y dng thành h thống bản múa Tây Nguyên,
ging dy trong trường múa VN, sau này c các trường VHNT địa phương trong cả nước.
Sau 1975, ngh thut diễn xướng chuyên không chuyên y Nguyên ngày càng phát
triển. Tính đến 2023, chúng ta đã 4 Ngh Nhân dân, 9 Nghệ s ưu tú, khẳng định tài
năng của mình vi gii chuyên nghiệp. Các lĩnh vực âm nhạc, biên đạo, giáo dc và biu din
ngh thuật đều phát trin mnh m. hàng chc ngh thành viên của các hi chuyên
ngành như Hội Nhạc , Hi Ngh Múa VN…Ching chêng, dân ca y Nguyên đưc
truyn dạy trong các trường ph thông Gia Lai, Kon Tum, trong các buôn làng khp tnh
Đắk Lk. Kon Tum còn ph cp nhc c tre na ci tiến c các cơ sở lẫn trưng hc.
Ngh thut c hai khi dân gian và chuyên nghiệp TN đều đạt đưc nhng thành tích
đáng kể theo năm tháng. Cả 5 tỉnh TN đều h thng các CLB ngh thut Dân gian, các
Đoàn Ca múa dân tc chuyên nghiệp. Đặc biệt vài m gần đây, sự bùng n ca Du lịch, đã
khơi gợi cho ngh thut dân gian phát trin mnh m. Dân nhạc, dân vũ, dân ca đều được khai