intTypePromotion=3

Giáo trình Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non: Phần 2

Chia sẻ: Lê Thị Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:85

0
570
lượt xem
122
download

Giáo trình Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non: Phần 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phần 2 giáo trình trình bày các nội dung: Giáo án chương trình tạo hình; phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình ở trường mầm non; tổ chức cho trẻ làm quen với tác phẩm nghệ thuật tạo hình và phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ; tổ chức hoạt động vẽ cho trẻ lứa tuổi mầm non; tổ chức hoạt động nặn cho trẻ lứa tuổi mầm non; tổ chức hoạt động xé dán cho trẻ lứa tuổi mầm non; tổ chức hoạt động chắp ghép và trò chơi tạo hình cho trẻ lứa tuổi mầm non; theo dõi và đánh giá hoạt động tạo hình.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non: Phần 2

  1. Chương V Giáo án chương trình tạo hình ở trường mầm non Kế hoạch khung tổ chức hoạt động tạo hình và đánh giá kết quả hoạt động tạo hình cho trẻ lứa tuổi mầm non I. Phần chung Khi xây dựng chương trình hay lập kế hoạc dạy - học cho hoạt động tạo hình ở trường mầm non, các chuyên gia tâm lí học, giáo dục học, các nhà chuyên môn về tạo hình đã phối hợp nghiên cứu để có nội dung, phương pháp tổ chức hoạt động , , các thiết bị cần thiết, đồng thời cả đào tạo bồi dưỡng giáo viên nhằm làm cho dạy – học tạo hình có hiệu quả. 1. Những vấn đề cơ bản về chương trình hoạt động tạo hình Xây dựng chương trình hoạt động tạo hình ở trường mầm non dựa trên các cơ sở sau: - Đặc điểm sự phát triển và khả năng nhận thức của trẻ em ( Xem chuong I, học phần 1 ). Từ đó đề ra: + Mục tiêu giáo dục: hoạt động tạo hình nhằm phát triển những gì ở trẻ và phát triển như thế nào? + Nôi dung cơ bản của chương trình: những kiến thức, kĩ năng nào về hoạt động tạo hình của trẻ để đạt mục tiêu đã đề ra ( dạy trẻ kiến thức và kĩ năng nào ). + Sắp xếp nội dung theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp và lặp tại sao cho phù hợp với nhận thức, kĩ năng của trẻ ở các lứa tuổi. + Các phương pháp vận dụng trong hoạt động tạo hình có hiệu quả ( cách dạy, cách học ). + Cách tổ chức hoạt động tạo hình ( tổ chức các tiết học, môi trường giáo dục…)
  2. - Các điều kiện và phongw tiện thiết bị ( đảm bảo cho thực hiện chương trình có kết quả ) như: + Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên. + Cơ sở vật chất, thiết bị cho dạy – học: trường lớp, bàn ghế, tủ, đồ dùng dạy – học, tài liệu,…Ngoài chương trình còn quy định các hoạt động phục vụ dạy – học tạo hình như: tham quan, dã ngoại… 2. Kế hoạch khung tổ chức hoạt động tạo hình Từ chương trình chung, trường mần non và giáo viên còn lập kế hoạch hoạt động tạo hình một cách cụ thể, chi tiết có tính lâu dài, định hướng cho từng thời gian, đó là kế hoạch khung, Kế hoạch khung bao gồm: - Thời gian cho từng chủ đề, từng hoạt động. - Nội dung chương trình ( chủ điểm, chủ đề ). - Hình thức và phương pháp tổ chức: + Loại hình của hoạt động tạo hình ( vẽ, nặn,… ). + Hình thức thể hiện ( bài dạy trên lớp hay tham quan …). + Quy mô hoạt động ( trên tiết học hay theo nhóm ) + Môi trường hoạt động ( trong lớp hay ngoài lớp ). - Yêu cầu cần đạt : + Bồi dưỡng khả năng cảm nhận. + Cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng. + Bồi dưỡng khả năng tìm tòi, sáng tạo. + Nâng cao năng lực đánh giá, nhận xét cho trẻ. - Phối hợp hoạt động tạo hình với các hoạt động khác. Lưu ý: Phần chương trình và kế hoạch tổ chức hoạt động tạo hình giáo viên tham khảo ở chương trình cụ thể và các tài liệu khác để nắm được những vấn đề chung của hoạt động tạo hình. a) Kế hoạch khung tổ chức hoạt động tạo hình ( Có tính chất định hướng - kế hoạch dài hạn )
  3. Hình thức hoạt động Chú ý hoạt Bồi dưỡng khả năng đánh giá Bồi dường khả năng sáng tạo Bồi dưỡng khả năng thể hiện Nội Dung Hình thanh xúc cảm và các Môi trường hoạt động Thời (chủ Loại hình hoạt động Khả năng biểu cảm Cung cấp thông tin Hình thức thể hiện Quy mô nhóm trẻ với gian điểm, chủ đề hợp độngkhác ) Phối b) Kế hoạch khung tổ chức hoạt động tạo hình ( kế hoạch ngắn ) Phối hợp Hình Chủ đề Điều kiện với các Thời gian Nội dung thức tổ ( đề bài ) thiết bị hoạt động chức khác II. Giáo án hoạt động tạo hình 1.Khái niệm Trước đây, phần này họi là giáo án hay bài soạn – Khi có nội dung, giáo viên tìm cách trình bày nội dung đó thành văn bản sao cho có đầu có cuối ( có logic ) làm cơ sở cho giờ dạy để trẻ có thể hiểu và sau đó là thực hành được. - Giáo án có thể hiểu là văn bản chuẩn bị các cách thức, phương án dạy một bài của giáo viên. - Lập kế hoạch bài dạy. - Thiết kế bài dạy. Hiện nay các thuật ngữ trên đều được dùng ở các trường học. Chúng không có gì sai vì: giáo viên lên lớp là phải chuẩn bị bài dạy – biến cái chung chung thành cái cụ thể có trình tự trước sau; có chuẩn bị các phương tiện,
  4. thiết bị dạy học kèm theo để minh họa cho phần lời, có tổng kết….Vì thế chúng có dàn ý như nhau. - Tên bài. - Mục đích yêu cầu của bài. - Các bước lên lớp… Nhưng cách chuẩn bị nài dạy đôi khi chỉ thể hiện sự chủ động ở phía giáo viên. Khái niệm dạy – học ngày nay nhấn mạnh hơn vai trò của người học – người học là trung tâm, bởi suy cho cùng, kiến thức phải được người học tiếp nhận, bằng không thì mới chỉ có dạy mà chưa có học. Do đó soạn giáo án hoặc lập kế hoạch bài dạy, hay thiết kế bài dạy cần kĩ càng; đầu tư về nhiều mặt của giáo viên. 2. Giáo án hoạt động tạo hình Trình tự giáo án thường có: - Tên bài dạy. - Mục đích, yêu cầu: những gì người học cần đạt sau bài dạy được đề ra cụ thể hơn, như: + Kiến thức ( những kiến thức giáo viên cung cấp và trẻ cần đạt được ). + Kĩ năng ( trẻ làm được những gì, mức độ nào sau bài học ). + Thái độ ( những kiến thức, kĩ năng có được chẳng những hiểu và làm được các dạng bài tập theo quy định của chương trình, mà còn biến thành tình cảm, thái độ như thế nào trong cuộc sống đời thường. Ở đây chứa đựng nội dung giáo dục rất lớn). - Chuẩn bị + Đồ dùng dạy – học  Sự chuẩn bị của giáo viên: Giáo viên chuẩn bị những đồ dùng phục vụ cho bài học, như mầu vẽ tranh ảnh minh họa,…  Sự chuẩn bị của học sinh: Ở mẫu giáo, trẻ cũng nên được báo trước về các bài học: quan sát ( con mèo, quả, cây…tìm tranh ảnh…) từ đó nhắc và giúp trẻ chuẩn bị vật liệu, đồ dùng dạy – học. Có thể gia đình các em cộng tác cùng chuẩn bị hoặc giúp các em sưu tầm – đây là cách đánh động về sự chuẩn bị bài học cho trẻ em. + Phương pháp dạy – học: Các phương pháp chủ yếu được vận dụng trong bài dạy của giáo viên và phương pháp học của trẻ em. - Tổ chức hoạt động
  5. Trước đây, trong giáo án thường phân ra các bước một cách cứng nhắc, hết bước này sang bước khác. Hiện nay, ở giáo án có các hoạt động, đây là hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động của trẻ. Hai hoạt động này phải đồng hành, tránh được hiện tượng thầy nói – trò nghe; thầy đọc – trò chép; thầy hỏi – trò trả lời ( thường trả lời như sách hoặc như lời thầy dạy ). Cách dạy, cách học thụ động còn khá phổ biến ở nhiều nơi, ở tất cả các loại trường không riêng gì ở nước ta. Dạy – học thụ động cũng không phải là cách dạy – học truyền thống mà như mọt số người thường phê phán. Đó là cái nhìn không biện chứng, phủ định phương pháp dạy – học xưa của cha ông. Vì thế nói đổi mới phương pháp dạy – học là không thỏa đáng. Đúng hơn là đổi mới cách dạy của thầy, cách học của trò, chính là đổi mới cách vận dụng phương pháp dạy – học. Bởi phuong pháp dạy – học bản thân chúng ta không có tội lỗi, mà lõi lại chính là ở người vận dụng. Từ lỗi của người dạy, tất dẫn đến lỗi cảu hai người . Ví dụ ta học nấu ăn thì cách nấu ai cũng hiểu , nhưng có người nấu ngon, người nấu không ngon, thì đâu tại cách nấu, tại người nấu không biết vận dụng những quy định chung hay không hiểu cách nấu mà thôi. Giáo viên dạy tạo hình ở trường mầm non cần được ghi rõ ràng , chi tiết các hoạt động của giáo viên, của trẻ theo cột. Cột 1 ( bên trái )- Hoạt động của giáo viên Ở cột này ghi tóm tắt những công việc của giáo viên, gồm có: Hoạt động 1 + Giới thiệu nội dung bài thông qua các hình ảnh, phương tiện thiết bị nào? Ví dụ: tranh ảnh, vật thực, hình minh họa, băng, đĩa hình hoặc quan sát thiên nhiên… + Các câu hỏi gợi ý trẻ quan sát, nhận xét. + Ý tóm tắt nội dung… Mục đích của hoạt động 1  Tạo không khí học tập – gây hứng thú cho trẻ thông qua các hình ảnh đẹp của các phương tiện, thiết bị dạy – học.  Cung cấp kiến thức và kĩ năng – nội dung bài học và cách tiến hành làm bài tập. Hoạt động 2
  6. + Tổ chức trẻ hoạt động để hoàn thành nhiệm vụ của bài học, nhiệm vụ của giáo viên như sau:  Tổ chức cho trẻ em theo hình thức nào ( làm bài theo nhóm hay cá nhân ).  Sắp xếp vị trí cho các hoạt động ( ở bàn, ở nền lớp học, hoặc góc học tập hay ngoài sân trường…).  Gợi ý nguyên vật kiệu , đồ dùng học tập cần thiết phù hợp với các loại bài của cá nhân hay nhóm ( bút chì, bút dạ, sáp màu, giấy màu, hồ dán, đất nặn,…). + Quan sát hoạt động chung của trẻ  Gợi ý trẻ tìm nội dung, cách làm bài tập: tìm và sắp xếp hình ảnh, cách vẽ màu cho phù hợp với từng đối tượng ( yếu, trung bình, khá,…) ở mỗi bài cụ thể.  Bổ sung kiến thức cho trẻ .  Động viên khích lệ trẻ suy nghĩ, sáng tạo trong cách thể hiện hoặc mạnh dạn neu ý kiến riêng ở mỗi bài tập của mình.  Tìm sản phẩm chuẩn bị cho nhận xét, đánh giá kết quả học tập vào cuối bài dạy. Mục đích của hoạt động 2  Giúp trẻ đã hoàn thành nhiệm vụ.  Củng cố, bổ sung kiến thức và kĩ năng cần thiết. Hoạt động 3 + Tổ chức nhận xét, đánh giá kết quả học tập  Các hình thức tổ chức ( treo, dán, dính bài, bày sản phẩm ).  Sắp xếp nơi treo, bày, dán sản phẩm.  Câu hỏi gợi ý cho cá nhân hoặc cho nhóm nhận xét, đánh giá.  Bổ sung xếp loại, đánh giá sản phẩm động viên trẻ.  Tổng kết bài dạy, có thể tổ chức trò chơi.  Chọn sản phẩm đẹp để trưng bày hoặc làm đồ dùng dạy học. Mục đích của hoạt động 3:  Củng cố bổ sung kiến thức, kĩ năng.  Động viên, khích lệ trẻ học tập Cột 2 ( bên phải ) – Hoạt động của trẻ
  7. Ở cột này cần ghi tóm tắt các hoạt động của trẻ song phải ghi ngang hàng với hoạt động của giáo viên để dễ đối chiếu – Đây chính là các nhiệm vụ của trẻ trong giờ học ( trẻ phải hoạt động như thế nào? ). Không phải ghi “ hoạt động 1,2,3” nữa, ví dụ: + Quan sát, nhận xét + Trả lời câu hỏi + Làm bài tập ( trên bảng, trên giấy, xe, dán, chắp ghép hình….) cá nhân hoặc theo nhóm. + Trưng bày sản phẩm + Nhận xét xếp loại. + Tham gia trò chơi. + Mục đích các hoạt động của trẻ.  Tập quan sát, nhận xét.  Hiểu và biết vận dụng kiến thức, kĩ năng để hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu của bài.  Yêu thích cái đẹp và vận dụng vào cuộc sống của mình Sau đây là sơ đồ của giáo án hoạt động tạo hình. Hoạt động của giáo viên Hoạt động của trẻ Hoạt động 1:………………………. - - - - - - - Hoạt động 2…………………………. - - - - - - - Hoạt động 3…………………………. - - - - - - -
  8. III. Tổ chức đánh giá kết quả hoạt động tạo hình 1. Quan niệm đánh giá kết quả hoạt động tạo hình cũng là dạy và học. Tuy thời gian dành cho hoạt động này không nhiều nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với dạy và học tạo hình. Vì: - Qua đánh giá, giáo viên và trẻ thấy được một cách tổng quát kết quả dạy và học. Từ đó nhận ra những gì đạt được hoặc những thiếu sót về kiến thức, kĩ năng. - Có thể bổ sung hoặc làm phong phú thêm kiến thức tự nhận xét của giáo viên và trẻ. - Động viên, khích lệ tinh thần học tập chung tạo niềm tin cho trẻ hoạt động. 2.Tổ chức đánh giá Có nhiều cách tổ chức đánh giá kết quả hoạt động tạo hình. Ví dụ: a) Tổ chức - Chăng dây để treo, dính một số bài trên bảng hoặc bày sản phẩm ( có khá, trung bình, yếu mà giáo viên đã “ để ý” ở hoạt động 2 ). - Cho trẻ cầm bài ngang ngực, đứng trước lớp. - Chăng dây, treo bài xung quanh lớp cho trẻ tự xem. - Có thể tổ chức đánh giá khác nhau: theo nhóm, theo nội dung hoặc loại bài ( xé, dán, nặn,…). - Thông qua trò chơi tạo hình, sắm vai. b) Hướng dẫn đánh giá có thể là: - Giáo viên nêu câu hỏi gợi ý cho trẻ quan sát, nhận xét. - Yêu cầu trẻ tìm ra các bài hoặc sản phẩm mà mình thích, tự nhận xét và xếp loại theo ý riêng. - Giáo viên bổ sung và động viên khen ngợi trẻ. Lưu ý:  Các sản phẩm đẹp của trẻ cần lưu giữ để làm đồ dùng dạy – học và trưng bày ở góc lớp. Các bài vẽ xé, dán có thể trang trí ở lớp, ở hành lang của trường.  Sản phẩm tạo hình nên giới thiệu với cha mẹ trẻ vào các dịp thuận lợi.
  9. Hướng dẫn học tập chương V 1. Đọc tài liệu và tham luận. - Phần chung + Những vấn đề cơ bản về chương trình hoạt động tạo hình ở trường mầm non + Kế hoạch khung tổ chức hoạt động tạo hình - Giáo án hoạt động tạo hình + Khái niệm + Giáo án hoạt động tạo hình - Tổ chức đánh giá kết quả hoạt động tạo hình + Quan niệm + Cách tổ chức đánh giá 2. Soạn giáo án hoạt động tạo hình - Tham khảo giáo án của giáo viên mầm non - Soàn giáo án ( tự chọn nội dung và đối tượng ). - Chuẩn bị đồ dùng dạy – học và thiết bị cần thiết. Lưu ý: Không trùng bài trong nhóm 1. Thảo luận góp ý về: + Mục tiêu + Các hoạt động. + Đồ dùng dạy – học và thiết bị.
  10. Học phần II Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình ở trường mầm non Chương I Tổ chức cho trẻ làm quen với tác phẩm nghệ thuật tạo hình và phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ. I .Vai trò của tác phẩm nghệ thuật tạo hình trong giáo dục thẩm mĩ cho trẻ em 1. Tác phẩm nghệ thuật tạo hình 1.1. Các tác phẩm nghệ thuật tạo hình Tác phẩm nghệ thuật tạo hình bao gồm a) Tranh các thể loại ( hội họa đò họa ) - Tranh phong cảnh ( các vùng miền nông thôn, miền núi,….) - Tranh các hoạt động ( đề tài về sản xuất, chiến đấu, lễ hội….). - Tranh tĩnh vật ( vẽ các vật ở dạng tĩnh: hoa, quả,….) - Tranh chân dung ( vẽ người ). - Tranh các con vật ( ngựa, voi, trâu, chim….)/ - Tranh dân gian…. - Tranh được vẽ trên mặt phẳng ( giấy, vải, gỗ, tường,…) bằng nhiều chất liệu như sơn dầu, màu bột, màu nước,…và kĩ thuật thể hiện khác như: sơn mài ( vẽ sơn trên tấm vóc sau đó mài ), sơn khác ( khắc hình trên tấm vóc sau đó mới vẽ bằng sơn. Tranh còn được khắc trên bản gỗ, phiến đã, cao su, thạch cao…sau đó in bằng màu trên giấy ( đồ họa ). Dưới một tác phẩm hội hạo bao giờ cũng ghi:  Tên tác giả  Tên tác phẩm.  Thời gian hoàn thành  Chất liệu hoặc kĩ thuật thể hiện.
  11. Cách ghi chú thích có thể không ghi theo trật tự như trên. Ví dụ: Tô Ngọc Vân, thiếu nữ bên hoa huệ. Tranh sơn dầu, 1943, hoặc thiếu nữ bên hoa huệ, 1943; Tranh sơn dầu của Tô Ngọc Vân. Có khi người ta ghi theo kĩ thuật thể hiện. Ví dụ: Hoa loa kèn. Tranh khắc gỗ màu của Phạm Văn Đôn; kết nạp Đảng, 1963. Tranh sơn mài của Nguyễn Sáng… b) Tượng và phù điêu ( điêu khắc ) - Tượng bán thân và toàn thân ( tượng người và các con vật ). - Phù điêu – đắp nổi. - Tượng phù điêu tạo nên hình khối, được làm bằng nhiều chất liêuh như: đất, gỗ, thạch cao, xi măng, đồng…. c) Các công trình kiến trúc ( kiến trúc ) Kiến trúc đình chùa, nhà ở, các công trình công cộng, cầu cống… d) Sản phẩm mĩ thuật ứng dụng ( mĩ thuật ứng dụng ) Đồ vật trong cuộc sống hàng ngày, ô tô, vải, đò mây tre, gỗ, đồ chơi… 1.2. Sự hình thành các tác phẩm nghệ thuật tạo hình - Các tác phẩm nghệ thuật tạo hình đều bắt nguồn từ thực tế thiên nhiên và cuộc sống phong phú sinh động của loài người. con người thông minh và sáng tạo, họ không những chỉ thưởng thức cái hay, cái đẹp của thiên nhiên, mà còn biết “ đưa thiên nhiên vào cuộc sống thường ngày của mình”. Từ xa xưa con người đã vẽ, khắc, đẻo tường ở hang động – nơi trú thân. Những hình khắc, vẽ cỏ cây, hoa lá, con vật, con người của người nguyên thủy đến ngày nay vẫn có giá trị không chỉ về lịch sử mà còn về nghệ thuật tạo hình bởi tính thể hiện và sinh động của chúng. Như vậy,về mặt lịch sử, nghệ thuật tạo hình đã đi vào và trở thành một trong những nhu cầu của cuộc sống con người ngay từ thuở hoang sơ. - Con người phản ánh thiên nhiên và cuộc sống của mình vào các tác phẩm tạo hình bằng nhiều loại hình, nhiều chất liệu ( xem mục 1 ). Song các tác phẩm tạo hình không phải sao bản, sao chép nguyên mẫu ở thiên nhiên, từ cuộc sống. Các hình ảnh ngoài đời tuy đã đẹp về hình, về màu, song tạo nên tác phẩm còn phải suy nghĩ, chắt lọc để có các hình ảnh mang tính điển hình, phải sắp xếp sao cho tác phẩm thể hiện được ý tưởng của mình như buồn, vui, nhớ thương, căm giận, làm cho người thưởng thức hồi tưởng lại kỉ niêm nào đó của mình, của cộng đồng, của dân tộc mình. Như vậy, tác phẩm tạo hình đã mang tính sáng tạo vf điều đó phụ thuộc vào thế giới quan của tác
  12. giả. Do đó có những tác phẩm nghệ thuật tạo hình sống mãi với thời gian hay có thể nói là đã đi vào lòng người. Ở đâu cũng có, ví dụ: + Tượng:  Tượng Phật bà quan âm nghìn mắt, nghìn tay, (chùa Bút tháp Bắc Ninh, Việt Nam, thời Lê )  Vệ nữ mi-lô ( Hilap, thời cổ ).  Đavít ( Mi-ken-lăng-giơ, thời phục hưng, Italia ).  Tượng nhà mồ ( Các dân tộc Tây Nguyên )… + Tranh  Tranh dân gian Việt Nam ( Đông Hồ, Bắc Ninh và Hàng Trống, Hà Nội,…).  La-giô-công-đơ ( Lê-ô-na đơ vanh- xi. Thời phục hưng, Italia).  Thu vàng ( Lê- vi- tan. Thế kỉ XIX. Liên Bang Nga )… + Kiến trúc  Kim tự tháp Kê-ốp ( Thời kì Cổ Đại, Ai Cập ).  Tháp Chàm ( Ninh Thuận ); Cố đô Huế ( Thừa Thiên Huế ); Chùa Một Cột; Văn Miếu Quốc Tử Giám ( Thời Lí, Hà Nội ).  Ăng-co-Thom ( Thế kỉ XII, Campuchia ). + Mĩ thuậ ứng dụng Các đồ vật trong cuộc sống hàng ngày của con người từ xa xưa cho đến ngày nay đều có vẻ đẹp về kiểu dáng, màu sắc khác nhau và kĩ thuật chế tác tinh xảo:  Đồ gốm, sứ, gỗ.  Hoa trên vải, lụa… 2. Vai trò và mục đích của tác phẩm nghệ thuậ tạo hình đối với sự hình thành và bồi dưỡng thị hiếu thẩm mĩ cho trẻ. 2.1 Vai trò của tác phẩm nghệ thuật tạo hình với đời sống con người Ngoài nhu cầu về ăn, mặc, ở thì việc làm đẹp cũng là một nhu cầu thiết yếu của con người. Người ta không chỉ làm đẹp bản thân mà còn có nhu cầu về thưởng thức cái đẹp, thể hiện ở chỗ sửa sang nơi ăn, chốn ở cho gọn gang, đẹp đẽ, dùng những vật đẹp để trang trí nơi ở, nơi làm việc… Các tác phẩm nghệ thuật hoạt động tạo hình phản ánh sinh động cuộc sống xã hội. Đó là hình ảnh con người và mọi hoạt động như lao động, học
  13. tập, vui chơi, chiến đấu,…; con vật và cuộc sống của chúng; cỏ cây hoa trái; đất nước, mây trời – tất cả những gì gần gũi thân thương và cần thiết cho mọi người. Có thể nói, các tác phẩm nghệ thuật tạo hình là những hình ảnh thu nhỏ của thiên nhiên, cuộc sống và sinh hoạt muôn màu của xã hội. Chính vì thế mà chúng gắn bó và là món ăn tinh thần của con người. Cho nên, mọi gia đình, trường học, công sở,…đều có treo, bày các tác phẩm nghệ thuật tạo hình vào những nơi trang trọng vừa là trang trí cho căn phòng thêm đẹp, vừa là để thưởng thức làm cho tinh thần sảng khoái, bớt căng thẳng trong công việc đời thường. Tuy nhiên treo, đặt các tác phẩm nghệ thuật tạo hình chưa phải ai cũng hiểu, bởi cái đẹp của chúng sẽ được nhân lên khi hài hòa với môi trường. Ví du: tỉ lệ, kích thước ( to – nhỏ ); màu sắc, thể loại của tác phẩm…phải phù hợp với nơi chốn của nó, như : Tranh phong cảnh, tranh tĩnh vật thường treo ở phòng khách; ở phòng khánh tiết của các nơi công cộng thường treo tranh phong cảnh, tranh minh họa có kích thước lớn, nội dung có tính khái quát. Ở Viện bảo tang treo các tác phẩm đủ thể loại của nghệ thuật tạo hình. Tuy nhiên, treo các tác phẩm tạo hình còn phụ thuộc vào sở thích của mỗi người. Thói quen treo tranh thể hiện nhu cầu về văn hóa. Song chọn tác phẩm và treo, đặtở chỗ nào đẹp thì chưa hẳn ai cũng quan tâm. 2.2 Mục đích của tác phẩm nghệ thuật tạo hình với sự hình thành Vf bồi dưỡng thị hiếu thẩm mĩ cho trẻ Các tác phẩm nghệ thuật tạo hình là “ hiện thân” của cái đẹp đã được các họa sĩ, nghệ nhân đã chắt lọc từ cuộc sống mà trẻ đang sống thường ngày. Vì thế nội dung và hình ảnh ở các tác phẩm tạo hình ở trường mầm non còn có loại bài học xem và tập nhận xét tác phẩm tranh, tượng, các tác phẩm nghệ thuật với mục đích: - Tạo điều kiện cho các em tiếp nhận thêm kiến thức và kĩ năng tạo hình ở các tác phẩm, đó là: + Cách sắp xếp hình ảnh, họa tiết. + Cách tạo hình ( vẽ, nặn ). + Cách vẽ màu,… giúp các em làm các bài tập dễ dàng hơn. - Bồi dưỡng khả năng cảm nhận cái đẹp ở các hình ảnh, màu sắc đã được tác giả suy nghĩ, sáng tạo. - Bồi dưỡng tình cảm thông qua nhận biết cái đẹp ở các hình ảnh, màu sắc của tác phẩm. Từ đó góp phần giáo dục trẻ: + Tình yêu đất nước, con người..
  14. + Có trách nhiệm, có ý thức với cái đẹp, tôn trọng bảo vệ cái đẹp ở mọi nơi mọi chốn ( ở ngay quê hương mình ). Qua đây dần dần hình thành ở các em thị hiếu thẩm mĩ đúng đắn và luôn hành động vì cái đẹp, từ những hành vi nhỏ: ăn mặc gọn gàng ; sắp đặt nơi ăn chốn ở; lớp học, góc học tập ngăn nắp; biết chăm sóc cây trồng, vật nuôi ở trường, ở nhà; có ý thức giũ gìn cảnh quan nơi công cộng: không dẫm chân lên thảm cỏ, ngắt hoa, vứt rác bừa bãi… + Nhận biết và quý trọng nềm văn hóa dân tộc. II. Yêu cầu cơ bản về các tác phẩm nghệ thuật tạo hình cho trẻ Lựa chọn tác phẩm tạo hình cho trẻ cần đảm bảo các yêu cầu sau: 1. Tính thẩm mĩ Các tác phẩm cần đảm bảo tính thẩm mĩ ( phái đẹp ). Thể hiện ở: - Sắp xếp các hình ảnh chính, phụ rõ ràng. - Các hình ảnh tiêu biểu, gần gũi với trẻ em; - Màu sắc tươi sáng, có đậm nhạt phù hợp với nội dung. 2. Nội dung tác phẩm Nội dung phong phú gần gũi với sinh hoạt, học tập vui chơi, dễ hiểu với trẻ về kiến thức và tâm lí. Đồng thời tác phẩm phải có tính giáo dục, góp phần hình thành, phát triển ở trẻ phẩm chất đạo đức: yêu mến thiên nhiên, yêu mến lao động, con người….Ví dụ: - Tranh phong cảnh, tranh sinh hoạt, lễ hội, tranh chân dung, tranh truyện… - Các sản phẩm mĩ nghệ đẹp gắn liền với sinh hoạt hàng ngày. Lưu ý : giáo viên cần ưu tiên và chú ý lựa chọn các tác phẩm tạo hình có ở địa phương để trẻ em dễ dàng tiếp nhận hơn. 3. Hình thức diễn tả - Hình thức diễn tả rõ ràng, dễ hiểu ở các hình ảnh, màu sắc. Kích cỡ vừa tầm nhìn của trẻ. Nếu là các tác phẩm có kích cỡ nhỏ nên sưu tầm ở số lượng nhiều để cho các nhóm quan sát, tìm hiểu. - Các tác phẩm nghệ thuật tạo hình có thể lựa chọn cho trẻ em quan sát: + Vật thực: tượng nhỏ; các sản phẩm mĩ nghệ ( cái đĩa, cái bình, túi, khăn, áo…), các loại đò chơi.
  15. + Tranh, tượng ở viện bảo tàng, phòng tranh, ở công viên, quảng trường. + Tranh, anht phiên bản ( chụp và in ở họa báo, tạp chí…); các tập tranh, tượng, truyện tranh… Tuy nhiên, giáo viên có thể lựa chọn một trong các thể loại tạo hình như: hội họa, điêu khắc, sản phẩm mĩ nghệ cho nội dung bài dạy. Ngay như trong một thể loại, cũng có thể tập trung vào một loại. Ví dụ: tranh phong cảnh, tranh sinh hoạt; tượng chân dung hay tượng đài hoặc các con vật…Như vậy, sẽ tạo cho trẻ tập trung quan sát, nhận biết dễ dàng hơn không bị phân tán, tản mạn, hời hợt về nội dung. III. Các phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm nghệ thuật tạo hình 1.Hình thức trình bày tác phẩm Khi đã có nội dung, giáo viên cần lưu ý cách trình bày các tác phẩm để bài dạy có hiệu quả. 1.1. Đối với tranh ảnh - Nền của tranh, (nếu tranh nhỏ cần dán nền để thống nhất khuôn khổ với các tranh có kích cỡ lớn hơn ). - Vị trí của tranh: treo, dán trên bảng lớp hoặc xung quanh lớp học sao cho phù hợp với nội dung và trình tự bài dạy ( trước, sau ). Giáo viên cần chú ý đan xen giữa các tranh có màu đậm – nhạt, nóng- lạnh để tạo nên bố cục đẹp. Đồng thời giáo viên quan tâm đến tầm nhìn của trẻ: khi ngồi hoặc đứng xem tranh để có cách treo tranh cao hay thấp. 1.2. Đối với tượng - Đặt tượng ở vị trí thích hợp: có ánh sáng, cao – thấp, xa – gần như thế nào để trẻ dễ dàng quan sát khi ngồi xem hay đứng ngắm. - Nếu là tượng, đồ mĩ nghệ nhỏ nên đặt ở giữa lớp, trẻ em ngồi hoặc đứng xung quanh để quan sát. 2.Các hình thức cho trẻ xem tác phẩm nghệ thuật tạo hình Tùy theo nội dung bìa mà giáo viên có các tổ chức dạy – học khác nhau. Ví dụ: - Dạy – học trong lớp ( theo tiết học ) - Dạy – học trong lớp theo nhóm.
  16. - Dạy – học ở môi trường: ngoài sân trường, ở phòng tranh, bảo tàng, ở các di tích văn hóa; lích sử ( đình, chùa, danh lam thắng cảnh…) 3.Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm nghệ thuật tạo hình Để trẻ học loại bài này có hiệu quả giáo viên cần lưu ý; 1.3. Nắm vững mục đích của loại bài dạy Vì sao cần nắm vững mục đích của loại bài dạy này? Nếu giáo viên xa rời mục đích trên thì bài dạy sẽ không đạt được yêu cầu. Thực tế cho thấy: một số bộ phận giáo viên chưa chú ý đến khả năng tiếp nhận và cảm thụ cảu trẻ, thường đi quá đà, làm cho bài dạy phức tạp, trở nên khó và trẻ thiếu hào hứng khi xem tác phẩm. 1.4. Phương pháp hướng dẫn trẻ khai thác nội dung tác phẩm Để trẻ có thể học tập một cách sôi nổi, có hiệu quả ở loạt bài này, giáo viên cần: vận dụng những Phương pháp dạy – học chung và phối hợp nhip nhàng, linh hoạt phù hợp với cách quan sát, tiếp nhận của trẻ, đó là: - Phương pháp quan sát. - Phương pháp trực quan. - Phương pháp vấn đáp. Thực hiện tiến trình bài dạy một cách mềm dẻo, không nhất thiết dàn trải thời gian đều ở các hoạt động hoặc chỉ tiến hành một cách dạy. Kinh nghiệm cho thấy: để dạy loạt bài này có hiệu quả , giáo viên có thể tiến hành như sau: + Tạo hứng thú cho trẻ Ngay từ đầu tiết học, giáo viên tổ chức cho trẻ quan sát toàn cảnh tranh hoặc tượng của bài dạy, đã được trình bày đẹp, như “ xem triển lãm”, trẻ sẽ xôn xao, chỉ trỏ, khen chê, lớp học sôi động hẳn lên. Thời gian kéo dài khoảng 1-2 phút. - Sau khi trẻ đã quan sát chung, giáo viên có thể tiến hành bài dạy như sau: Chung cho cả lớp + Giáo viên nêu lên câu hỏi gợi ý trẻ quan sát, nhận xét theo trình tự nội dung. Ví dụ:  Tên tác phẩm?  Các hình ảnh?
  17.  Các hình ảnh chính, hình ảnh phụ?  Màu sắc nào có trong trang…? + Trẻ suy nghĩ trả lời theo cảm nhận riêng. + Giáo viên dựa vào nhận xét của trẻ để bổ sung làm cho bài phong phú hơn Theo nhóm ( tự nhiên ) + Giáo viên yêu cầu trẻ: Tìm tác phẩm mà mình thích nhất. Có thể hình thành các nhóm một cách tự phát: nhóm chỉ có 2-3 trẻ, nhóm có nhiều trẻ hơn, bởi trẻ có sở thích riêng. Sau khi đã ổn định xong các nhóm, giáo viên nêu câu hỏi: Vì sao nhóm thích bức tranh đó? Trẻ suy nghĩ trả lời theo cách cảm nhận riêng. Đa số trẻ chỉ trả lời ngắn gọn: Con thích vì nó đẹp hoặc hình vẽ đẹp, màu đẹp mà chưa nêu lên được nội dung. Giáo viên nêu gợi ý chung cho các nhóm theo các câu hỏi ở trên. Sau khi trẻ nhận xét, giáo viên có thể bổ sung ngay hoặc bổ sung ở cuối bài. Phân nhóm Giáo viên phân nhóm theo tổ, theo bàn…và nêu cau hỏi gợi ý cho trẻ nhận xét. Các cách tổ chức dạy – học đều có ưu điểm và hạn chế riêng. Ví dụ:  Cách dạy chung cho cả lớp nên dành cho các lớp đầu như: mẫu giáo bé và nhỡ. Vì trẻ ở độ tuổi này cần những câu hỏi hướng dẫn cụ thể mới có thể quan sát, trả lời được.  Cách dạy theo nhóm dành cho lớp mẫu giáo lớn là thích hợp, bởi trẻ đã làm quen với xem các sản phẩm tạo hình. Do đó cần có những câu hỏi khái quát có tính chất định hướng trước tạo cho trẻ có cách nhìn tổng thể, từ đó mới xem xét đến bộ phận, chi tiết. Lưu ý: Ngoài làm việc chung với nhóm, với lớp, giáo viên còn lắng nghe ý kiến của từng trẻ. Thực tế cho thấy, nhiều trẻ có những nhận xét vừa ngộ nghĩnh, vừa sát, rõ nội dung và ý mà người lớn không có được. - Khi tóm tắt, bổ sung, giáo viên nên dùng cách kể chuyện, không nên dùng cách trả lời từng câu hỏi gợi ý.
  18. - Nên khuyến khích trẻ kể về tác phẩm hơn là cưa đứt đục suốt từng câu hỏi. Trẻ nói về tác phẩm theo cảm nhận riêng, có thể không theo đúng trật tự câu hỏi gợi ý giáo viên. Hướng dẫn học chương I 1. Đọc tài liệu và thảo luận - vai trò của tác phẩm nghệ thuật tạo hình + Tác phẩm nghệ thuật tạo hình + Vai trò và mục đích của tác phẩm nghệ thuật tạo hình đối với việc hình thành và bồi dưỡng năng lực thẩm mĩ cho trẻ. - Yêu cầu cơ bản về tác phẩm nghệ thuật tạo hình của trẻ + Tính thẩm mĩ. + Nội dung tác phẩm. + Hình thức diễn tả. - - Các phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm nghệ thuật tạo hình + Hình thức trình bày. + Các phương thức cho trẻ xem tác phẩm nghệ thuật tạo hình + Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm nghệ thuật tạo hình 2. Soạn giáo án - Soạn một bài xem tranh hoặc tượng ( tùy chọn ) - Tổ chức cho trẻ xem. - Phân tích kết quả, dựa vào: + Bài soạn của giáo viên. + Chuẩn bị đồ dùng dạy – học và thiết bị cần thiết. + Phương pháp hướng dẫn của giáo viên. + Kết quả học tập của trẻ. + Đánh giá, xếp loại.
  19. -

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản