intTypePromotion=3

Giáo trình Tư pháp quốc tế: Phần 1

Chia sẻ: đơn Côi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:187

0
456
lượt xem
132
download

Giáo trình Tư pháp quốc tế: Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phần 1 cuốn giáo trình "Tư pháp quốc tế" trình bày các nội dung: Khái niệm về tư pháp quốc tế và nguồn của tư pháp quốc tế, lý luận chung về xung đột pháp luật, chủ thể của tư pháp quốc tế, quyền sở hữu, hợp đồng, thanh toán quốc tế, thừa kế. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Tư pháp quốc tế: Phần 1

  1. TRƯỜNG Đ Ạ I HỌC LU Ậ T HÀ NỘI GIÁO TRÌNH Tư PHÁP QUỐC TẾ N H À X U Ấ T. B Ả N C Ô N G A N N H Â N D Â N
  2. GIÁO TRÌNH Tư PHÁP QUỐC TÊ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  3. 80-2012/CXB/104-90/CAND Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  4. TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Giáo trình Tư PHÁP QUỐC TÊ NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN HÀ NỘI - 2012 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  5. C hủ biên TS. BÙI XUÂN N H ự T ập th ể tác giả 1.TS. BÙI XUÂN N H ự Chương I, II 2. PGS.TS. ĐOÀN NĂNG C hương III & TS. BÙI XUÂN N H ự 3. PGS.TS. NGUYỄN BÁ DIÊN Chương IV , V III, XIII 4. TS. NGUYỄN VĂN QUYEN Chương V II 5. TS. NGUYỄN HồNG BẮC Chương X 6. PGS.TS. HOÀNG PHUỚC HIỆP Chương XII & TS. NGUYÊN HỒNG BẮC 7. TS. NÔNG QUỐC BÌNH Chương V , VI, XI 8. TS. NGUYỄN THÁI MAI Chương IX Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  6. LỜI NÓI ĐẦU Nghiên cícu và học tập T ư pháp quốc t ế đòi hỏi sự kiên trì, dày công và cũng gập không ít khó khăn. Bởi lẽ, trước khi nghiên cihí và học tập môn T ư pháp quốc t ế học viên phải nắm khá vững các kiến thức về Lý luận nhà nước và pháp luật (nhất là hiệu lực của các quy phạm pháp luật trong không gian và then gian); kiến thức cơ bản của Công pháp quốc tế, Luật dân sự, Luật thương m ại, Luật hôn nhân và gia đình, Luật lao động và Luật tô' tụng dân sự. M ặt khác, Tư pháp quốc t ế là m ột ngành khoa học pháp lý còn rất mới, được hình thành cách đây không lâu không chỉ riêng ở nước ta mà cả ở các nước khác trên th ế giới. D o đó, nó có rất nhiêu quan điểm và quan niệm khác nhau. Cuốn giáo trình này, tập th ể tác giả chỉ dừng lại nghiên cihi các quan điểm cơ bản, khá chính thống về T ư pháp quốc t ế ở Việt Nam cũng như trên th ế giới, giới thiệu m ột cách cơ bản, có hệ thông cùa T ư pháp quốc t ế Việt Nam. G iáo trình này nhằm giúp sinh viên các trường đại học luật, các cán bộ pháp lý, nghiên cứu sinh và giáo viên luật dùng làm tài liệu học tập và tham khảo. Do điều kiện biên 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  7. soạn và thời gian nghiên cứu có hạn nên tài liệu không tránh khỏi những khiếm kh u yết nhất định. C húng tôi m ong nhận được s ự đóng góp, xâ y dựng b ổ ích củ a các bạn đe biên soạn lần sau hoàn thiện hơn, đ áp ứng tốt hơn lòng m ong m ỏi của các bạn. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. TRUỒNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  8. CHUƠNGI KHÁI NIỆM VỂ T ư PHÁP QUỐC TÊ VÀ NGUỔ N CỦA T ư PHÁP QUỐC TẾ I. KHÁI NIỆM VỀ TƯPHÁP QUỐC TẾ l ẻ Đối tư ợng điều ch ỉn h của T ư p h á p quốc tế Sự hợp tác quốc tế về mọi mặt giữa các quốc gia là hiện thực tất yếu khách quan trong mọi thời đại. Việc củng cố và tãng cường hợp tác giữa các quốc gia thể hiện trong quan hệ dưới nhiều hình thức và phương diện: giữa các quốc gia và đồng thời cũng như giữa công dân và pháp nhân của họ. Quan hệ quốc tế là tổng thể các quan hệ giữa các công dân và pháp nhân của các nước và giữa các nước với nhau. Mọi lĩnh vực quan hộ pháp lý giữa các quốc gia thuộc đối tượng điều chỉnh của Công pháp quốc tế. Còn các quan hệ pháp lý giữa công dân và pháp nhân phát sinh trong đời sống quốc tế thuộc lĩnh vực điều chỉnh của Tư pháp quốc tế. Các quan hệ giữa công dân và pháp nhân của các quốc gia trên th ế giới rất phong phú, đa dạng và cũng rất phức tạp. Chúng bao gồm những vấn đề như sau: - Năng lực pháp luật dân sự của thể nhân nước ngoài và pháp nhân nước ngoài; 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  9. - Các quan hệ pháp luật về sở hữu của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài và thậm chí của các quốc gia nước ngoài; - Các quan hệ hợp đồng kinh tế ngoại thương; - Các quan hệ pháp luật về tiền tộ và tín dụng; - Các quan hệ về quyền lác giả và quyền sở hữu công nghiệp; - Các quan hệ pháp luật về thừa kế; - Các quan hệ về hôn nhân và gia đình; - Các quan hệ vể lao động của người nước ngoài; - Các quan hệ tố tụng dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài... N hư vậy, với các loại đối tượng trên đây T ư pháp quốc tế là m ột ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật, m ặt khác trong khoa học phấp lý nói chung nó cũng lại là m ột ngành khoa học pháp lý độc lập m à đối tượng nghiên cứu của nó là lĩnh vực quan hệ pháp luật dân sự (theo nghĩa rộng )phát sinh trong đời sống quốc tế. Các quan hệ pháp luật dãn sự này luôn có đặc trưng là m ang "yếu t ố nước ngoài''. Y ếu tố nước ngoài đã được khẳng định m ột cách rất rõ ràng trong Đ iều 758 Bộ luật dân sự 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa V iệt N am như sau: "Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài lù quan hệ dân sự có ít nhất m ột trong các bên tham gia là c ơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người V iệt N am địnli cư à nước ngoài hoặc là cúc quan hệ dân sự giữa các bên tham gia lủ công dán. tó chức V iệt N am nhưng căn cứ đ ể xác lập, thay dổi, chấm cha quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, p h á t sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài". Điều này k h ẳna định rằng: T hứ nhất. Tư pháp quốc tế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  10. nghiên cứu các quan hộ pháp luật dân sự; Thứ hai, điểm quan trọng hơn để phân biệt rõ Tư pháp quốc tế với Luật dân sự và Công pháp quốc tế là Tư pháp quốc tế nghiên cứu chỉ nhóm quan hê pháp luật dân sự mang "tính chất quốc tê". Về "yếu tô' nước ngoài" trong khoa học Tư pháp quốc tế cũng đã có sự thừa nhận chung là có ba loại yếu tố nước ngoài (như Đ iều 758 Bộ luật dân sự 2005) m à m ột quan hệ pháp luật dân sự có sự hiện diện của một trong ba loại yếu tố nước ngoài đó thì là đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế. Đó là: Thứ nhất, có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoải hoặc người Việt Nam ở nước ngoài tham gia. Người nước ngoài là những người mang quốc tịch nước ngoài (không đồng thời mang quốc tịch Việt Nam) và người không quốc tịch. T hứ hai, khách thể của quan hệ đó ở nước ngoài. Ví dụ: Tài sản là đối tượng của quan hệ nằm ỏ nước ngoài (di sản thừa kế ở nước ngoài chẳng hạn). Thứ ba, sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài (ví dụ: hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau ớ Pháp ). Như vậy, đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là những quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ lao động, quan hệ thương mại và tô tụng dân sự có yếu tố nước ngoài. Nói gọn hơn đó là các quan hộ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. 2. Nội d u n g và bản ch ất p háp lý của T ư p h á p quốc tê Các quy phạm của Tư pháp quốc tế điều chinh các quan 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  11. hệ pháp luật dân sự, thương m ại, gia đình, lao động có yếu to nước ngoài (hay còn gọi là yếu tố quốc tế). Các quan hệ này là các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản, trong đó các quan hệ tài sản là chủ yếu. Đ ặc điểm của các quan hệ này là luôn vượt ra khỏi "biên giới" của quốc gia hay còn nói cách khác là nó luôn luôn liên quan đến m ột hoặc nhiều quốc gia khác. N hư vậy, nó phải liên quan hoặc phụ thuộc vào các quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia này. Đặc thù của Tư pháp quốc tế là điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, cho nên trong Tư pháp quốc tế cũng có quy phạm đặc thù để điều chỉnh các quan hệ này, đó là các quy phạm xung đột (các quy phạm xung đột sẽ được xem xét kỹ ở Chương lĩ). Q uy phạm xung đột không trực tiếp giải quyết các quan hệ cụ thể m à chỉ quy định nguyên tắc "chọn luật" của nước này hay nước kia được áp dụng để giải quyết m à thôi. V í dụ: M ột công ty A của H à Nội V iệt N am có quyền tham gia xuất nhập khẩu trực tiếp ký kết m ột hợp đồng mua xe gắn m áy (hai bánh) của m ột công ty B của N hật Bản. Hợp đồng được ký kết tại Singapo. Khi nhận hàng Công ty A phát hiện thấy hàng không đủ tiêu chuẩn chất lượng như trong hợp đồng đã thỏa thuận. Để giải quyết tranh chấp này thì luật nước nào sẽ được áp dụng để giải quyết. Trường hợp này vì hợp đồng được ký kết tại Singapo ncn Luật Singapo sẽ có thể được áp dụng để giải quyết (áp dụng nguyên tac luật nơi ký kết hợp đồng). Các quy phạm xung đột về kỹ thuật pháp lý m à nói thì nó là các quy phạm khá phức tạp của Tư pháp quốc tế. T ổn° thể các quy phạm xung đột được quốc gia ban hành, hay thỏa thuận và chấp nhận được gọi là luật xung đột. Tư pháp quốc 10 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  12. tế không chỉ bao gồm luật xung đột. Luật xung đột chỉ là m ột phần của Tư pháp quốc tế, mặc dù là phần phức tạp và có thể nói là rất "then chốt" của Tư pháp quốc tế. T ư pháp quốc t ế là tổng th ể các quv phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài. Như vậy, chính đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế (nhóm quan hệ xã hội mà Tư pháp quốc tế điều chỉnh) nó có ý nghĩa quyết định đến phương pháp điểu chỉnh của Tư pháp quốc tế. Có hai phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế, đó là: - Phương pháp thực chất; - Phương pháp xung đột. Cả hai phương pháp cùng được áp dụng đồng thời, nhưng trong những trường hợp nhất định thì chỉ cần áp dụng phương pháp thực chất nên có thể nói là nó có ưu thế hơn. Đây là các trường hợp mà quy phạm thực chất đã được nhất thể hóa trong các điều ước quốc tế. Trong quá trình hợp tác quốc tế về mọi mặt: kinh tế, thương mại, kỹ thuật, văn hóa, giao thông vận tải v.v. Các quốc gia đã nhất thể hóa được rất nhiều vấn đề và có thể nói rằng đây là quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế - xã hội giữa các nước. Các quốc gia không chỉ dừng ở việc nhất thể hóa các quy phạm thực chất m à còn thống nhất hóa các quy phạm xung đột trong các điều ước quốc tế. Trong khi các điều kiện về lịch sử, dân tộc, trình độ phát triển và lợi ích v.v. của các quốc gia còn khác biệt và thậm chí khác xa nhau thì việc nhất thể hóa các quy phạm thực chất là khó khăn, nhưng thống nhất hóa các quy phạm xung đột thì lại dễ hơn và cách này tỏ ra hữu hiệu và thực tế hơn. v ề mặt nào đó, ta có thể nói là 11 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  13. thống nhất hóa các quy phạm xung đột nó cũng góp phần củng cố cho việc nhất thể hóa các quy phạm thực chất. Ngoài ra còn phải kể đến loại quy phạm thực chất trong các vãn bản pháp lý trong nước điều ch ỉn h q uan hệ tư pháp quốc tế m ột cách trực tiếp (tức là không cần bất cứ m ột sự dẫn chiếu nào của quy phạm xung đột tới nó). C ác quy phạm này cũng là m ột phần của T ư pháp quốc tế. N ó là nhóm quy phạm ở các văn bản pháp quy củ a n h à nước điều chỉnh trực tiếp các quan hệ kinh tế đối ngoại hoặc các quan hệ hợp tác khoa học - kỹ thuật, văn h ó a giữa các tổ chức, đơn vị, cá nhân công dân V iệt N am với các b ên tương ứng của nước ngoài. V í dự'. Các quy định trong L uật đầu tư cũng cần nhấn m ạnh rằng nó là m ột nhóm quy phạm có tính chất riêng biệt và khô n g thể cho nó đồng nhất với các quy phạm dân sự và ở m ộ t m ức độ n hất định nào đó cho thấy sự khác biệt và ranh giới giữa Tư pháp q uốc tế với Luật dân sự. N hư vậy, trong thành phần cơ cấu của Tư pháp quốc tế bao gồm hai loại quy phạm : quy phạm xung đột và quy phạm thực chất cùng điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế nẩy sinh trong quá trình hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật văn hóa giữa các quốc gia và các quy phạm quy định các quyền dãn sự, hôn nhân gia đình, lao động thương m ại và tố tụng dân sự của người nước ngoài. Đ ây là nội d u n ° cơ bản của Tư pháp quốc tế và nó thể hiện đậm nét trong các đăc thù của ngành luật này. H iện nay về cơ sở lý luận cũng như thực tiễn Tư pháp quốc tế ở các quốc gia khác nhau còn có nhiều sự khác biét chẳng hạn như vấn đề đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế cũng chưa thể thống nhất. Số hó12a bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  14. V í dụ: Ở Séc và Slôvakia thì cho rằng Tư pháp quốc tế bao gồm các quy phạm xung đột và quy phạm thực chất. Còn một số luật gia ở Bungari lại cho rằng Tư pháp quốc tế chỉ gồm các quy phạm xung đột. Trung Quốc cũng giống như ở Bungari cho rằng Tư pháp quốc tế là điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tô' nước ngoài, nên chỉ nhìn nhận Tư pháp quốc tê' bao gồm các quy phạm xung đột hoặc luật xung đột. ở Balan, Tư pháp quốc tế được coi như luật xung đột nhưng lại thêm cả vấn đề tố tụng dân sự quốc tế nữa. Hungari cũng có quan điểm giống như ở Ba Lan. Ở Anh - M ỹ trong các giáo trình của các trường đại học và các tác phẩm chuyên khảo thì nhìn nhận các vấn đề xung đột pháp luật dưới góc độ của các vấn đề lựa chọn pháp luật (choice of law) và các vấn đề thẩm quyền (jurisdiction) của tòa án, tòa án Anh - M ỹ có thẩm quyền xét xử hay tòa án nước ngoài có thẩm quyền xét xử. Ở đây cũng cần lưu ý rằng các quan điểm này của Anh - Mỹ thường dẫn tới việc hạn chế việc áp dụng luật nước ngoài và tăng cường tới mức tối đa có thể được trong m ọi trường hợp để áp dụng luật Anh - Mỹ. Ở Pháp, quan điểm về Tư pháp quốc tế mang tính chất điển hình cho Châu Âu lục địa. Những vấn đề đầu tiên được quan tâm thích đáng là các quy phạm về quốc tịch (các quy chế vể quốc tịch Pháp - Nationalité), sau đó là địa vị pháp lý của người nước ngoài tại Pháp - Condition des étrangers. Các vấn đề này được nhìn nhận như là các quy phạm luật thực chất của Pháp như: xuất nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài; các quyền tài sản và các quyền khác của họ. Sau khi các vấn đề trẽn được nghiên cứu tổng thể mới tiếp tục xem xét vấn đề xung đột pháp luật (conflict des lois) và thẩm 13 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  15. quyền xét xử của tòa án (conflict de jurisdiction). Ở Đức, Tư pháp quốc tế được nghiên cứu như là m ột ngành luật xung đột, trong đó đề cập cả các vấn đề liên quan đến tố tụng dân sự quốc tế. Liên quan đến đối tượng điểu chỉnh của Tư pháp quốc tế cần phải được nhìn nhận về tên gọi của ngành luật cũng như ngành khoa học pháp luật này. T huật ngữ Tư pháp quốc tế (Private international law) được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1834 trong tác phẩm củ a luật g ia nổi tiếng người M ỹ Dj. Story. Trước đó người ta dùng thuật ngữ L u ật xung đột (Conflict o f Law) để thay cho Tư pháp quốc tế. Ở cấc quốc gia châu  u thuật ngữ trên được sử dụng vào những năm 40 của th ế kỷ 19 (D roit international privé - tiếng Pháp, Internationales Privatrecht - tiếng Đức). Ngày nay thuật ngữ này được thừa nhận trong rất nhiều ngôn ngữ, và Tư pháp quốc tế vừa được hiểu với tư cách là một ngành luật độc lập, vừa lại là m ột ngành khoa học pháp lý. Trong hệ thống pháp luật V iệt N am không chia ra làm "luật công" và "luật tư", cho nên thuật ngữ Tư pháp quổc tế được sử dụng theo quy ước m à thôi. II. NGUỒN CỦA TƯ PH Á P Quốc T Ế 1. Các loại nguồn của Tư pháp quốc tê Với nghĩa chung nhất thì nguồn của các quy phạm pháp luật là các điều kiện vật chất của đời sống xã hội. Còn riêng trong khoa học pháp lý thì nguồn của pháp luật là các hình thức chứa đựng và thể hiện các quy phạm pháp luật. N guồn của Tư pháp quốc tế có những đặc thù riêng biêt 14 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  16. nhất định của mình. Vì các quan hệ Tu pháp quốc tế rất đa dạng và phức tạp. Hiện nay, nguồn của Tư pháp quốc tế bao gồm các loại sau đây: 1. Luật pháp của mỗi quốc gia; 2. Điều ước quốc tế; 3. Thực tiễn tòa án và trọng tài (hay còn gọi là án lệ); 4. Tập quán. Thực tiễn cho thấy rằng mối tương quan và vị trí giữa các loại nguồn của Tư pháp quốc tế ở mỗi quốc gia là khác nhau. Tiếp đến là phụ thuộc vào các quan hệ pháp luật này hay kia được điểu chỉnh bằng các quy phạm pháp luật ở các loại nguồn khác nhau giữa các nước. Khoa học Tư pháp quốc tế Việt Nam đã được kiểm nghiệm trong những năm vừa qua cho thấy rằng đặc điểm cơ bản nguồn của Tư pháp quốc tế mang hai tính chất: T hứ nhất, nguồn của Tư pháp quốc tế là điều ước quốc tế và tập quán quốc tế, nó mang tính chất điều chỉnh quốc tế; T h ứ hai, nguồn của Tư pháp quốc tế là luật pháp của mỗi quốc gia, nó m ang tính chất điều chỉnh quốc nội (điều chỉnh chỉ trong nội bộ quốc gia). Hai tính chất này luôn thống nhất với nhau trong điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế - đó là các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, thương mại và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài (hay còn gọi là các quan hộ dân sự ‘theo nghĩa rộng’ m ang tính chất quốc tế). Về mối tương quan giữa hai tính chất trên đây của nguồn Tư pháp quốc tế thể hiện rất rõ tại Điều 759 về hiệu lực của Bộ luật dân sự nãm 2005 của nước ta: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN 15 http://www.lrc-tnu.edu.vn
  17. Khoản 1 quy định: C ác quy định của p h á p luật dân sự Cộng hoà x ã hội chủ nghĩa V iệt N am được áp dụng đối với các quan hệ dân sự có yếu t ố nước ngoài, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác. Khoản 2 quy định: T rong trường họp điều ước quốc tê mà Cộng hoà x ã hội chủ nghĩa Việt N a m là thành viên có quy định khác vén quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế. Vai trò điều chỉnh của điểu ước quốc tế các quan hệ tư pháp quốc tế ngày càng phát triển và có g iá trị thực tiễn rất lớn. Việc thống nhất hóa các quy phạm thực chất cũng như các quy phạm xung đột ngày càng được các quốc gia trên toàn thế giới cũng như ở các khu vực giành cho nó m ột sự quan tâm thích đáng. N ó chứng tỏ việc toàn cầu hóa kinh tế - xã hội giữa các quốc gia là m ột xu hướng phát triển tất yếu khách quan như m ột nhu cầu cần thiết và là yếu tố tích cực thúc đẩy sự phát triển tiến bộ xã hội loài người. 2. Luật pháp của mỗi quốc gia - nguồn của T ư pháp quốc tế Đ ây là loại nguồn khá phổ biến của Tư pháp quốc tế so với các loại nguồn khác. Luật pháp của m ỗi quốc gia (hay còn gọi là Luật quốc nội) - N guồn của Tư pháp quốc tể được hiểu là m ột hệ thống văn bản pháp quy (kể cả luât không thành văn) của m ột quốc gia bao gồm H iến pháp luật và các văn bản dưới luật cùng với những tập quán và án lệ, thực tiễn tư pháp. Ở các nước như: H ungari, Ba Lan, Áo, Thụy Sỹ. Séc Slovakia, Nam Tư v.v. ban hành trong hệ thống luật pháp của m ình Bộ luật tư pháp quốc tế. K hác với các nước này ơ 16 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  18. Việt Nam ta các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc te ichông nam ở m ột văn bản mà nằm rải rác ở các văn bản pháp quy khác nhau ở nhiều ngành pháp luật khác nhau của V iệt Nam. Hiến pháp năm 1992 là nguồn quan trọng nhất của Tư pháp quốc tế Việt Nam. Khác với các Hiến pháp trước đây, Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã ghi nhận rất nhiều nguyên tắc và quy phạm đặt nền tảng cho lĩnh vực Tư pháp quốc tế. Đây là những nhiệm vụ cũng như trách nhiệm cơ bản của Nhà nước ta trong việc tăng cường củng cố hòa bình và phát triển sâu, rộng sự hợp tác quốc tế về mọi mặt, thực hiện tốt chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là đa phương hóa và đa diện hóa hoạt động kinh tế đối ngoại nhằm củng cố vị trí của nước ta trên thế giới và khu vực. Trong Hiến pháp đã dành một số điều để quy định các nguyên tắc hoạt động đối ngoại. Đó là: Nhà nước thống nhất quản lý và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các hình thức quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi, bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước (Điều 24). Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và thông lộ quốc tế (Đ iều 25); Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Điều 75); người nước ngoài ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và luật pháp Việt Nam. được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam (Điều 81). Các nguyên tấc hiến định điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế trẽn được pháp điển hóa trong các luật và văn bản dưới luật sau đáy: Bộ luật dân sự năm 2005 (Phần VII); 17 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  19. Luật quốc tịch Cộng hòa xã hội chủ nghĩa V iệt N am năm 1998; Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Luật đầu tư nãm 2005; Luật thuế xuất khẩu, th u ế nhập khẩu năm 2005; Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989; Luật hàng hải V iệt Nam năm 2005; Luật hàng không dân dụng V iệt N am năm 2006; Luật thương mại V iệt N am năm 2005; Luật hải quan năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2005). Trong các văn bản pháp quy là nguồn của Tư pháp quốc tế V iệt N am phải kể đến các pháp lệnh do Uỷ ban thường vụ Q uốc hội ban hành, đó là: Pháp lệnh vể th u ế sử dụng tài nguyên thiên nhiên năm 1990; Pháp lệnh lãnh sự năm 1990; Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004; Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài tại Việt N am năm 2000; N goài các luật và các pháp lệnh cơ bản nêu trên Chính phủ V iệt N am đã ban hành hàng loạt các nghị định, quyết định, điểu lệ, quy c h ế v.v. nhằm quy định hoặc chi tiết hóa và hướng dẫn việc thi hành các luật và pháp lệnh cũng như giải quyết các vấn đề về đ ịa vị pháp lý của người nước ngoài, các vấn đề hoạt động ngoại thương, đầu tư của người nước ngoài, các vấn để hôn nhân gia đình, vấn đề quản lý ngoại tệ, thanh toán, tín đụng, ngân hàng của người nước ngoài tại V iệt Nam . Vị trí, vai trò và nhiệm vụ củ a các vãn bản này là hết sức quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ thực tiễn Tư pháp quốc tế ở nước ta hiện nay. Có thể dẫn m ột vài văn bản làm ví dụ như: Q uyết định số 122/CP ngày 25/4/1977 của Hội đồng chính phủ về chính sách đối với người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống ở Việt Nam; Nghị định của Chính phủ số 68/2002/NĐ-*CP ngày 10/07/2002 quy định về thủ tục kết hốn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhặn đỡ đầu giữa cỏno (Jan 18 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn
  20. Việt Nam và người nước ngoài; các Nghị định sô' 28/CP ngẩy 6/8/1991, Nghị định số 138/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/11/2006 quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tô' nước ngoài. Ở các nước tư bản phát triển thì các vãn bản pháp quy là nguồn của Tư pháp quốc tế có ý nghĩa và giá trị không bằng so với án lệ (hoặc thực tiễn tư pháp). Những quy phạm Tư pháp quốc tế được ghi nhận trong các văn bản pháp quy khác nhau, song các quy phạm đó không nhiều lắm. V í dụ: như ở Pháp trong Bộ luật đân sự năm 1804 (hay còn gọi là Bộ luật Napôlêông) có một số điều quy định vẻ quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài và ở m ột sô' văn bản pháp quy khác. Còn ở Cộng hòa liên bang Đức thì cho tới năm 1986 thi hành bộ luật dẫn về dân sự quy định một hộ thống các quy phạm xung đột (từ Điều 7 đến Điều 31), nhưng cũng còn rất nhiều vấn đề chưa được quy định mà trước hết và trên hết là lĩnh vực trái vụ. Từ 1/9/1986 Bộ luật vể tư pháp quốc tế bất đầu có hiệu lực (Bộ luật này được thông qua ngày 25/7/1986) nó thay thế cho các điều tương ứng trước đây trong Bộ luật dẫn về dân sự và rất nhiều điều khoản được bổ xung cho thiếu sót trước đây như: Các nghĩa vụ về hợp đồng, hình thức của hợp đồng, kết hôn và ly hôn có yếu tố nước ngoài các quyền của trẻ em trong quan hệ gia đình, giám hộ và trợ tá, quyền thừa kế, các quan hệ lao động và các vấn đề liên quan đến tố tụng dân sự quốc tế. Riêng ở Anh - Mỹ thì vấn đề pháp điển hóa của các viện, trường đại học và các khoa học gia pháp lý về án lệ và thực tiễn tư pháp lại có ý nghĩa thiết thực, ví dụ như ở Anh có Dicey xuất bản cuốn Luật xung đột (Coflict of Laws, 8th ed., 19 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN http://www.lrc-tnu.edu.vn

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản