intTypePromotion=1

Hàm ý về chính sách và quy định trong việc kết nối nông dân chăn nuôi với các thị trường ở vùng sâu vùng xa

Chia sẻ: Nhadamne Nhadamne | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
15
lượt xem
0
download

Hàm ý về chính sách và quy định trong việc kết nối nông dân chăn nuôi với các thị trường ở vùng sâu vùng xa

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Các tỉnh Tây Bắc của Việt Nam có đặc điểm độ cao lớn, cơ sở hạ tầng kém phát triển và mật độ dân cư thưa thớt với các thành phần dân tộc đa dạng. Những đặc điểm văn hóa-xã hội ở đây ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hệ thống sản xuất và phong cách sống của người dân. Một phần do sự cô lập về địa lý và kinh tế, vùng Tây Bắc có tốc độ phát triển chậm cũng như tỷ lệ nghèo đói cao nhất trong cả nước. Điều này thực sự đòi hỏi các can thiệp phù hợp chú trọng đến sự thay đổi hành vi của các tác nhân quy mô nhỏ thông qua phát triển chuỗi giá trị tại địa phương (Baulch, Chuyen, Haughton, và Haughton, 2007; Donovan, Franzel, Cunha, Gyau và Mithöfer, 2015; Wells-Dang, 2012).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hàm ý về chính sách và quy định trong việc kết nối nông dân chăn nuôi với các thị trường ở vùng sâu vùng xa

Chủ đề 3: Chuỗi giá trị thực phẩm an toàn<br /> <br /> <br /> Hàm ý về chính sách và quy định trong việc kết nối nông dân<br /> chăn nuôi với các thị trường ở vùng sâu vùng xa<br /> <br /> Dương Nam Hà1,2, Phạm Văn Hùng1, Trần Thế Cường1, Ninh Xuân Trung1,<br /> Trần Văn Long1, Laurie Bonney2,3, Peter Lane2,3, Guillaume Duteurtre4,<br /> Stephen Ives5<br /> <br /> Cơ quan<br /> 1<br /> Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội,<br /> Việt Nam<br /> HỘI THẢO VỀ PHÁT TRIỂN TÂY BẮC<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 2<br /> Khoa Đất và Thực phẩm, Đại học Tasmania, Hobart, Australia<br /> 3<br /> Viện Nông nghiệp Tasmania (TIA), Đại học Tasmania, Hobart, Australia<br /> 4<br /> Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Pháp cho Phát triển Quốc tế (CIRAD), Pháp,<br /> UMR SELMET, S/C DRASEC, Hà Nội, Việt Nam<br /> 5<br /> Trường Cao đẳng thuộc Đại học Tasmania, Launceston, Tasmania 7250, Australia<br /> <br /> Tác giả đại diện<br /> Stephen.Ives@utas.edu.au<br /> <br /> Từ khóa<br /> 52<br /> Ảnh hưởng văn hóa-xã hội, Can thiệp cho phát triển, Chăn nuôi gia súc, Tác nhân<br /> quy mô nhỏ, Việt Nam<br /> <br /> Giới thiệu<br /> Các tỉnh Tây Bắc của Việt Nam có đặc điểm độ cao lớn, cơ sở hạ tầng kém<br /> phát triển và mật độ dân cư thưa thớt với các thành phần dân tộc đa<br /> dạng. Những đặc điểm văn hóa-xã hội ở đây ảnh hưởng mạnh mẽ đến<br /> các hệ thống sản xuất và phong cách sống của người dân. Một phần do<br /> sự cô lập về địa lý và kinh tế, vùng Tây Bắc có tốc độ phát triển chậm cũng<br /> như tỷ lệ nghèo đói cao nhất trong cả nước. Điều này thực sự đòi hỏi các<br /> can thiệp phù hợp chú trọng đến sự thay đổi hành vi của các tác nhân<br /> quy mô nhỏ thông qua phát triển chuỗi giá trị tại địa phương (Baulch,<br /> Chuyen, Haughton, và Haughton, 2007; Donovan, Franzel, Cunha, Gyau và<br /> Mithöfer, 2015; Wells-Dang, 2012). Vì vậy, cần nhiều nghiên cứu hơn về<br /> sự biến động của sinh kế nông thôn, động cơ để làm nông nghiệp và mối<br /> quan hệ giữa các yếu tố văn hóa-xã hội và các quyết định kinh tế (Firth,<br /> 1951), đặc biệt là bản chất của những động lực nhằm thúc đẩy các quyết<br /> định về sản xuất và thị trường của người nông dân (Emery và Flora, 2006;<br /> Harvey và Reed, 1996). Tuy nhiên, ở Việt Nam, có rất ít tài liệu về cách<br /> thực hiện cũng như các gợi ý về việc lồng ghép các yếu tố văn hóa-xã hội<br /> vào các can thiệp phát triển chuỗi giá trị, đặc biệt liên quan đến vùng cao<br /> Chủ đề 3: Chuỗi giá trị thực phẩm an toàn<br /> <br /> <br /> Tây Bắc (xem Friederichsen, 2004; Tugault-Lafleur và Turner, 2011; Turner,<br /> 2012; Wells-Dang, 2012). Thông qua nghiên cứu chuỗi giá trị bò thịt địa<br /> phương vùng Tây Bắc, báo cáo này là một nỗ lực khỏa lấp những khoảng<br /> trống kiến thức nhằm hỗ trợ việc thiết kế chính sách trong tương lai để<br /> tăng cường tính bao trùm thị trường cho các hộ nông dân quy mô nhỏ.<br /> <br /> Cách tiếp cận nghiên cứu<br /> Tiếp cận chuỗi giá trị (Kaplinsky và Morris, 2001) đã được áp dụng tại hai<br /> địa điểm nghiên cứu là tỉnh Sơn La và Điện Biên ở khu vực Tây Bắc Việt<br /> Nam. Bên cạnh khảo sát ban đầu với 186 nông dân trong 4 xã được chọn,<br /> một chuỗi các thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu đã được triển khai với<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> NÚI CƠ HỘI CHO PHÁT TRIỂN<br /> nhiều tác nhân khác nhau trong chuỗi (như các nhà thu mua, các lò giết<br /> mổ, các nhà bán lẻ, nhà hàng và người tiêu dùng) trong khu vực. Phân<br /> tích lợi ích-chi phí cũng được thực hiện với một số nông dân vào giai đoạn<br /> cuối của dự án nhằm đánh giá các can thiệp đã được tiến hành. Nghiên<br /> cứu cũng xem xét hành vi của các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ liên quan đến<br /> nhận thức về giá trị do có thể có liên quan đến văn hóa của họ (Harvey và<br /> Reed, 1996; Gasson, 1973). Những cách thực hành khác nhau của nông<br /> dân được phân tích qua các cách tiếp cận trên với giả định rằng các yếu tố<br /> văn hóa xã hội có tác động đáng kể tới các hộ chăn nuôi địa phương hơn<br /> là các động lực kinh tế đơn thuần. Hơn nữa, chúng tôi cũng sử dụng tiếp 53<br /> cận thể chế trong bối cảnh chuỗi giá trị (Kaplinsky và Morris, 2001) nhằm<br /> tìm hiểu nền tảng chính sách với các thể chế được hiểu là “qui định của<br /> cuộc chơi” và các tổ chức được hiểu là “những người chơi” (Aoki, 2007;<br /> North, 1990).<br /> <br /> Kết quả<br /> Một chuỗi giá trị địa phương ở vùng cao Tây Bắc thường liên quan tới<br /> nhiều hộ chăn nuôi nhỏ từ khâu sản xuất tới phân phối và tiêu thụ do tính<br /> chất địa hình phức tạp. Trong bối cảnh này, sự lấn át của một vài tác nhân<br /> trung gian trong chuỗi giá trị địa phương có thể dẫn đến những bất lợi về<br /> nông nghiệp và kinh tế-xã hội của các hộ chăn nuôi nhỏ do việc bất bình<br /> bẳng trong tiếp cận thị trường và thông tin, do đó, bất đối xứng về quyền<br /> lực. Mặt khác, các hộ chăn nuôi nhỏ lại là các chủ thể chăn nuôi chính<br /> trong khu vực. Tuy nhiên, sự tham gia không tích cực của họ trong chuỗi<br /> giá trị thể hiện ở việc bán gia súc không thường xuyên có thể hàm ý cả<br /> những động lực kinh tế hoặc phi kinh tế; và mặc dù những lý do này khác<br /> nhau giữa các nhóm dân tộc ở các địa bàn khác nhau, các động lực kinh tế<br /> vẫn đóng một vai trò quan trọng. Hiểu biết nhiều hơn về chuỗi giá trị địa<br /> phương với sự chú ý tới các yếu tố văn hóa-xã hội giúp dự án của chúng<br /> tôi thiết kế những hoạt động can thiệp về kỹ thuật và thị trường thích hợp<br /> nhằm cải thiện kết quả của chuỗi.<br /> Chủ đề 3: Chuỗi giá trị thực phẩm an toàn<br /> <br /> <br /> Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các hoạt động chăn nuôi bò thịt của<br /> nông dân tại các tỉnh đã được hỗ trợ bởi các nhà chức trách địa phương<br /> thông qua hai loại chính sách khác nhau được đưa ra ở cấp quốc gia: (i)<br /> chính sách phát triển chăn nuôi, và (ii) chính sách xóa đói giảm nghèo. Các<br /> chính sách cơ sở hạ tầng cũng đóng vai trò quan trọng nhằm hỗ trợ kinh<br /> doanh gia súc và thị trường thịt gia súc. Sở Nông nghiệp Phát triển Nông<br /> thôn (DARD) với các đơn vị trực thuộc và các dịch vụ hoạt động phân cấp<br /> tương tác với Ủy ban Nhân dân tỉnh và các trung tâm cấp tỉnh chịu trách<br /> nhiệm quản lý nông nghiệp và các chính sách phát triển chăn nuôi. Nghiên<br /> HỘI THẢO VỀ PHÁT TRIỂN TÂY BẮC<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> cứu cũng phát hiện hai nhóm thể chế có lẽ khá hữu ích cho việc phát triển<br /> chuỗi giá trị tại địa phương. Thứ nhất là các thể chế quản lý việc tiếp cận<br /> đồng cỏ tự nhiên dường như hạn chế việc thương mại hóa bò thịt. Thứ<br /> hai chăn nuôi theo hợp đồng có thể khuyến khích việc chăn nuôi và tiếp<br /> thị bò thịt, theo hình thức các doanh nghiệp tư nhân ký gửi gia súc cho<br /> nông dân.<br /> <br /> Thảo luận và kết luận<br /> Để phát triển chăn nuôi bò thịt ở vùng sâu vùng xa, các động lực kinh tế<br /> đóng vai trò quan trọng trong định hướng nhận thức của người nông dân<br /> 54 về chăn nuôi gia súc. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế từ các cách thực hành<br /> cần phải được trình diễn thử nghiệm thông qua những người nông dân<br /> nòng cốt của cộng đồng như trưởng bản. Những hộ khác sẽ dễ dàng chấp<br /> nhận hơn và tin tưởng vào động cơ thúc đẩy sự can thiệp và thay đổi hành<br /> vi bằng cách tham gia vào các nghiên cứu và quá trình phát triển. Hơn<br /> nữa, việc tập hợp người dân vào các nhóm sở thích cũng cần kết hợp biện<br /> pháp tiếp cận văn hóa-xã hội. Sự tham gia của các trưởng bản hoặc những<br /> người nông dân thực hành tốt sẽ giúp hình thành một nhóm nông dân lớn<br /> hơn cũng như tổ chức có hiệu quả hơn cho việc áp dụng và phổ biến kiến<br /> thức trong cộng đồng. Liên quan đến liên kết dọc giữa nông dân, các lò<br /> mổ và các nhà bán lẻ thông qua việc tạo lập mạng lưới và thương hiệu, rõ<br /> ràng là sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu và những người tham gia vào<br /> chuỗi là rất quan trọng trong phát triển chuỗi giá trị.<br /> <br /> Hiện vẫn còn nhiều tiềm năng để phát triển chăn nuôi và thị trường bò<br /> thịt tại khu vực Tây Bắc Việt Nam. Đa dạng hóa chăn nuôi bò thịt trong hệ<br /> thống nông hộ quy mô nhỏ cũng như tiến hành các can thiệp thích hợp<br /> chú trọng đến tiếp cận văn hóa-xã hội nên được xem là những nhiệm vụ<br /> chính của các nhà hoạch định chính sách nhằm cải thiện hiệu quả kinh tế<br /> trong chăn nuôi bò thịt cũng như nâng cấp toàn bộ chuỗi giá trị bò thịt<br /> dựa trên phát triển thị trường địa phương.<br /> Chủ đề 3: Chuỗi giá trị thực phẩm an toàn<br /> <br /> <br /> Tài liệu tham khảo<br /> 1. Aoki, M. (2007). Các thể chế nội sinh và sự thay đổi thể chế. Tạp chí kinh tế<br /> tổ chức, 3, 1-31.<br /> 2. Baulch, B., Chuyen, T. T. K., Haughton, D., & Haughton, J. (2007). Phát triển<br /> dân tộc thiểu số tại Việt nam. Tạp chí nghiên cứu phát triển , 43(7), 1151-<br /> 1176. doi:10.1080/02673030701526278<br /> 3. Donovan, J., Franzel, S., Cunha, M., Gyau, A., & Mithöfer, D. (2015). Hướng<br /> dẫn xây dựng chuỗi giá trị: rà soát so sánh. Tạp chí kinh doanh nông nghiệp<br /> ở những nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, 5(1), 2-23. doi: https://doi.<br /> org/10.1108/JADEE-07-2013-0025<br /> 4. Emery, M. & Flora, C. (2006). Phát triển xoắn ốc: lập bản đồ chuyển đổi cộng<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> NÚI CƠ HỘI CHO PHÁT TRIỂN<br /> đồng với khuôn khổ vốn cộng đồng. Phát triển cộng đồng , 37(1), 19-35.<br /> 5. Firth, R. (1951). Các yếu tố tổ chức xã hội. London: Watts.<br /> 6. Friederichsen, J. R. (2004). Sự tham gia của các hộ nông dân H’mông vào các<br /> nghiên cứu nông nghiệp tại vùng cao phía bắc Việt Nam. Báo cáo được trình<br /> bày tại Trans-KARST 2004, Hà Nội, Việt Nam.<br /> 7. Gasson, R. (1973). Mục tiêu và giá trị của người nông dân. Tạp chí kinh tế<br /> nông nghiệp 24(3), 521-542. doi:10.1111/j.1477-9552.1973.tb00952.x<br /> 8. Harvey, D.L. và Reed, M.H. (1996). Văn hóa nghèo đói: Phân tích tư tưởng.<br /> Những quan điểm xã hội học, 39(4), 465-495.<br /> 9. Kaplinsky, R., & Morris, M. (2001). Sổ tay nghiên cứu chuỗi giá trị. IDRC Ottawa. 55<br /> 10. North, D. (1990). Thể chế, thay đổi thể chế và hoạt động kinh tế: Nhà xuất<br /> bản đại học Cambridge.<br /> 11. Tugault-Lafleur, C., & Turner, S. (2011). Về Gạo và Gia vị: Sinh kế và sự đa<br /> dạng của người H’mông tại Miền núi phía Bắc Việt Nam. Trong J. Michaud<br /> & T. Forsyth (Eds.), Di chuyển miền núi : tính dân tộc và sinh kế tại vùng cao<br /> Trung Quốc, Việt Nam và Lào (tr. 100-122). Vancouver: Ấn phẩm Đại học<br /> British Columbia.<br /> 12. Turner, S. (2012). “Mãi mãi H’Mông”: Sinh kế dân tộc thiểu số H’Mông và<br /> chuyển đổi đất nông nghiệp tại vùng cao phía Bắc Việt Nam. Nhà địa lý<br /> chuyên nghiệp 64(4), 540-553. doi:10.1080/00330124.2011.611438<br /> 13. Wells-Dang A. (2012). Phát triển dân tộc thiểu số tại Việt Nam: Điều gì dẫn<br /> đến thành công? Tài liệu bối cảnh giới thiệu Đánh giá nghèo đói cấp chương<br /> trình 2012, tháng 5-2012, 45 p. http://www.ngocentre.org.vn/webfm_<br /> send/4084<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2