intTypePromotion=1

Hiệu quả sử dụng Androgel bôi da trên bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm có đáp ứng buồng trứng kém

Chia sẻ: Ni Ni | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
58
lượt xem
1
download

Hiệu quả sử dụng Androgel bôi da trên bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm có đáp ứng buồng trứng kém

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng androgel bôi da trước kích thích buồng trứng (KTBT) ở BN thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON). Bài viết mô tả tiến cứu 110 BN đáp ứng buồng trứng kém làm TTTON có so sánh giữa 2 nhóm có và không dùng androgel qua các chỉ số: lượng noãn thu được sau chọc hút, số noãn trưởng thành, tỷ lệ thụ tinh, số lượng phôi, tỷ lệ có thai, tỷ lệ phôi làm tổ.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hiệu quả sử dụng Androgel bôi da trên bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm có đáp ứng buồng trứng kém

T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 4-2017<br /> <br /> HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ANDROGEL BÔI DA<br /> TRÊN BỆNH NHÂN THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM<br /> CÓ ĐÁP ỨNG BUỒNG TRỨNG KÉM<br /> Đoàn Thị Hằng*; Nguyễn Thị Mai**; Quản Hoàng Lâm*<br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: đánh giá hiệu quả sử dụng androgel bôi da trước kích thích buồng trứng (KTBT) ở<br /> BN thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON). Đối tượng và phương pháp: mô tả tiến cứu 110 BN đáp<br /> ứng buồng trứng kém làm TTTON có so sánh giữa 2 nhóm có và không dùng androgel qua các<br /> chỉ số: lượng noãn thu được sau chọc hút, số noãn trưởng thành, tỷ lệ thụ tinh, số lượng phôi,<br /> tỷ lệ có thai, tỷ lệ phôi làm tổ. Kết quả: số noãn sau chọc hút, số lượng phôi, tỷ lệ có thai, tỷ lệ<br /> phôi làm tổ của nhóm dùng androgel trước KTBT cao hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng. Kết<br /> luận: sử dụng androgel bôi da trước khi KTBT có thể cải thiện được khả năng đáp ứng buồng<br /> trứng ở BN đáp ứng buồng trứng kém làm TTTON.<br /> * Từ khóa: Thụ tinh ống nghiệm; Đáp ứng buồng trứng kém; Androgel.<br /> <br /> The Effectiveness of Androgel for Poor Responders Undergoing<br /> In vitro Fertilization<br /> Summary<br /> Objectives: To investigate the effectiveness of transdermal androgel before using controlled<br /> ovarian stimulation on 110 poor responder undergoing in vitro fertilization (IVF). Subjects and<br /> methods: A prospective, descriptive study was conducted on 110 poor responder undergoing<br /> IVF to compare the group of patients who used testosterone gel and the group of those who did<br /> not in terms of the following indicators: the number of oocytes retrieved, MII oocytes, rate of<br /> fertilization, number of embryos, rate of pregnancy, and rate of embryo implantation. Results:<br /> The number of oocytes retrieved, number of embryos, rate of pregnancy and rate of embryo<br /> implantation of the group of patients using transdermal androgel before controlled ovarian<br /> stimulation were found higher than those of the control group, with statistical significance.<br /> Conclusion: The use of androgel before stimulating ovarian can improve the responsiveness of<br /> poor responders when undergoing IVF.<br /> * Key words: In vitro fertilization; Poor responder; Androgel.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Thụ tinh ống nghiệm là phương pháp<br /> hỗ trợ sinh sản hiệu quả hiện nay với tỷ<br /> <br /> lệ thành công 35 - 40% [3, 4]. Trong quá<br /> trình KTBT, đáp ứng kém là một khó<br /> khăn có thể xảy ra chiếm 9 - 24% [1, 2]<br /> tổng số những trường hợp làm TTTON.<br /> <br /> * Học viện Quân y<br /> ** Bệnh viện Đa khoa Phú Thọ<br /> Người phản hồi (Corresponding): Đoàn Thị Hằng (hangdt166@gmail.com)<br /> Ngày nhận bài: 13/01/2017; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 08/03/2017<br /> Ngày bài báo được đăng: 22/03/2017<br /> <br /> 69<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 4-2017<br /> Điều trị đáp ứng kém là thách thức lớn<br /> của ngành hỗ trợ sinh sản, nhiều phương<br /> án khắc phục đã đưa ra, song chưa<br /> phương án nào khả thi. Hiện nay, bổ<br /> sung androgen là phương án rất được<br /> quan tâm. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra<br /> andogen kích thích giai đoạn sớm của<br /> phát triển nang trứng, tăng sự đáp ứng<br /> của buồng trứng với FSH, từ đó làm tăng<br /> số trứng, số phôi thu được, gia tăng tỷ lệ<br /> có thai. Hiện nay, trên thế giới đã có<br /> nhiều nghiên cứu chứng tỏ hiệu quả cải<br /> thiện đáp ứng kém của androgen. Tuy<br /> nhiên, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu<br /> nào về vấn đề này. Vì vậy, chúng tôi thực<br /> hiện nghiên cứu này với mục tiêu: Đánh<br /> giá số lượng noãn thu được sau chọc hút,<br /> số noãn trưởng thành, tỷ lệ thụ tinh, số<br /> lượng phôi, tỷ lệ có thai, tỷ lệ phôi làm tổ<br /> của BN đáp ứng buồng trứng kém sử<br /> dụng androgel bôi da trước KTBT.<br /> ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tượng nghiên cứu.<br /> 110 BN có tiền sử hoặc nguy cơ đáp<br /> ứng buồng trứng kém được chia ngẫu<br /> nhiên thành 2 nhóm:<br /> - Nhóm 1: 55 BN sử dụng androgel 1%<br /> bôi da trước khi KTBT.<br /> - Nhóm 2: 55 BN không sử dụng<br /> androgel 1% bôi da trước khi KTBT.<br /> * Tiêu chuẩn lựa chọn: tiền sử đáp ứng<br /> kém, nguy cơ đáp ứng kém (AFC < 5 - 7<br /> nang hoặc AMH ≤ 1,26 ng/ml).<br /> <br /> Thành phần: testosterone 50 mg, là<br /> testosterone tự nhiên, 100% sinh học giống<br /> hệt testosterone do cơ thể sản xuất ra.<br /> Quy cách đóng gói: hộp 30 gói, mỗi gói<br /> 5 g gel có chứa 50 mg testosterone.<br /> - Cách sử dụng thuốc:<br /> + Vị trí bôi thuốc: mặt trong cánh tay<br /> (đảm bảo da khô, sạch, không tổn<br /> thương), nếu vùng da mặt trong cánh tay<br /> không đạt yêu cầu có thể bôi vùng vai<br /> hoặc bụng.<br /> + Thời điểm bôi thuốc: buổi tối, sau khi<br /> tắm xong.<br /> + Liều lượng: 1/4 gói thuốc tương<br /> đương 12,5 mg testosterone.<br /> + Cách bôi thuốc: lấy toàn bộ thuốc<br /> dạng gel ra xilanh, sau đó lấy 1/4 bôi vào<br /> da vùng mặt trong cánh tay, 3/4 còn lại bỏ<br /> đi. Để khô tự nhiên 3 - 5 phút trước khi<br /> mặc quần áo. Rửa tay sau khi bôi thuốc.<br /> Lưu ý: không để vùng da bôi thuốc tiếp<br /> xúc với người khác.<br /> 2. Phương pháp nghiên cứu.<br /> * Thiết kế nghiên cứu: mô tả tiến cứu<br /> có so sánh (giữa 2 nhóm có và không sử<br /> dụng androgel 1% bôi da trước khi KTBT).<br /> * Chọn mẫu nghiên cứu:<br /> BN có tiền sử hoặc nguy cơ đáp ứng<br /> buồng trứng kém, chia ngẫu nhiên thành<br /> 2 nhóm:<br /> + Nhóm 1: dùng androgel trước KTBT.<br /> + Nhóm 2: không dùng androgel trước<br /> đáp ứng buồng trứng.<br /> <br /> * Tiêu chuẩn loại trừ: BN có bệnh lý<br /> toàn thân, bệnh lý tử cung, buồng trứng<br /> và những trường hợp xin noãn.<br /> <br /> BN nhóm 1 bôi da 12,5 mg androgel<br /> 1%/ngày từ ngày 6 chu kỳ kinh trước đến<br /> ngày 2 của chu kỳ kinh KTBT, nhóm 2<br /> không sử dụng androgel.<br /> <br /> * Thông tin thuốc androgen 1% và cách<br /> sử dụng: thuốc androgel 1% do Công ty<br /> Besins Healthcare (Bỉ) sản xuất.<br /> <br /> Sau đó, BN của 2 nhóm được KTBT<br /> theo phác đồ GnRH antagonits. Theo dõi<br /> nang noãn BN được trên siêu âm từ ngày<br /> <br /> 70<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 4-2017<br /> 6 FSH, khi trên siêu âm có ≥ 2 nang có<br /> kích thước ≥ 17 mm thì cho thuốc kích<br /> thích rụng trứng hCG (human chorionic<br /> gonandotropin) (pregnyl, organon 5.000 hoặc<br /> 10.000 IU). Lấy noãn bằng phương pháp<br /> chọc hút dưới hướng dẫn siêu âm vào<br /> khoảng giờ thứ 35 - 40 sau khi tiêm hCG.<br /> * Chỉ tiêu nghiên cứu:<br /> - Số nang trứng > 14 mm ở ngày cho<br /> hCG.<br /> - Số nang trứng trên > 17 mm ở ngày<br /> cho hCG.<br /> - Số noãn chọc hút được.<br /> - Số noãn MII.<br /> - Số noãn thụ tinh.<br /> - Số phôi, chất lượng phôi.<br /> - Số phôi chuyển.<br /> - Tỷ lệ có thai sinh hóa.<br /> - Tỷ lệ thai lâm sàng.<br /> - Tỷ lệ phôi làm tổ.<br /> <br /> * Xác định tỷ lệ có thai và tỷ lệ làm tổ<br /> sau chuyển phôi:<br /> BN sau khi chuyển phôi 14 ngày đều<br /> được hẹn đến thử lượng β-hCG trong máu:<br /> + Thai sinh hoá: sau chuyển phôi 14<br /> ngày có thử β-hCG > 25 mIU/ml.<br /> + Thai lâm sàng: sau 4 - 5 tuần chuyển<br /> phôi, siêu âm thấy túi ối trong buồng tử<br /> cung.<br /> + Tỷ lệ làm tổ của phôi được tính bằng<br /> tổng số phôi làm tổ trên tổng số phôi<br /> chuyển vào tử cung.<br /> * Xử lý số liệu: xử lý số liệu nghiên cứu<br /> bằng phần mềm SPSS 18.0 for Window<br /> và thuật toán thống kê y học. Các biến<br /> liên tục được biểu diễn dưới dạng số<br /> trung bình, độ lệch chuẩn (SD). So sánh<br /> biến định lượng bằng kiểm định t-student.<br /> So sánh biến định tính bằng kiểm định χ2.<br /> Giá trị p < 0,05 được coi có ý nghĩa thống<br /> kê.<br /> <br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> Từ 09 - 2015 đến 6 - 2016, 110 BN đủ tiêu chuẩn lựa chọn đưa vào đối tượng<br /> nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu được tổng hợp theo các bảng số liệu sau:<br /> Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của hai nhóm BN.<br /> Chỉ tiêu<br /> <br /> Kết quả ( X ± SD)<br /> <br /> p<br /> <br /> Nhóm 1 (n = 55)<br /> <br /> Nhóm 2 (n = 55)<br /> <br /> Tuổi trung bình<br /> <br /> 38,7 ± 3,42<br /> <br /> 39,4 ± 2,96<br /> <br /> 0,25<br /> <br /> Thời gian vô sinh (năm)<br /> <br /> 6,8 ± 3,91<br /> <br /> 7,1 ± 3,52<br /> <br /> 0,67<br /> <br /> AMH (ng/ml)<br /> <br /> 0,82 ± 0,46<br /> <br /> 0,86 ± 0,54<br /> <br /> 0,13<br /> <br /> FSH (mIU/ml)<br /> <br /> 10,5 ± 7,1<br /> <br /> 9,8 ± 3,7<br /> <br /> 0,35<br /> <br /> LH (mIU/ml)<br /> <br /> 5,6 ± 1,3<br /> <br /> 4,8 ± 2,2<br /> <br /> 0,22<br /> <br /> 43,5 ± 20,6<br /> <br /> 38,1 ± 22,3<br /> <br /> 0,46<br /> <br /> AFC (antral folicle count - số lượng nang<br /> trứng thứ cấp (nang)<br /> <br /> 5,6 ± 2,9<br /> <br /> 6,2 ± 1,7<br /> <br /> 0,17<br /> <br /> Số ngày tiêm FSH<br /> <br /> 9,3 ± 0,7<br /> <br /> 9,5 ± 0,6<br /> <br /> 0,11<br /> <br /> Tổng liều FSH (mIU/ml)<br /> <br /> 2897 ± 341,6<br /> <br /> 2932 ± 362,1<br /> <br /> 0,41<br /> <br /> Liều FSH trung bình (mIU/ml)<br /> <br /> 283,5 ± 78,9<br /> <br /> 292,6 ± 76,4<br /> <br /> 0,54<br /> <br /> 11,2 ± 2,1<br /> <br /> 10,7 ± 2,8<br /> <br /> 0,29<br /> <br /> E2 (pg/ml)<br /> <br /> Niêm mạc tử cung ngày cho hCG<br /> <br /> 71<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 4-2017<br /> Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của 2 nhóm nghiên cứu không có sự khác biệt,<br /> chứng tỏ việc chọn đối tượng nghiên cứu 2 nhóm khá tương đồng về tuổi, thời gian vô<br /> sinh, các xét nghiệm nội tiết cơ bản, số lượng nang thứ cấp, số ngày tiêm FSH, tổng<br /> liều FSH, liều FSH trung bình, niêm mạc tử cung ở ngày tiêm hCG.<br /> Bảng 2: Số lượng nang noãn trên siêu âm ngày tiêm hCG.<br /> Chỉ tiêu<br /> <br /> Kết quả ( X ± SD)<br /> <br /> p<br /> <br /> Nhóm 1 (n = 55)<br /> <br /> Nhóm 2 (n = 55)<br /> <br /> Số nang 14 - < 17 mm<br /> <br /> 2,1 ± 1,9<br /> <br /> 1,9 ± 2,0<br /> <br /> 0,59<br /> <br /> Số nang ≥ 17 mm<br /> <br /> 4,5 ± 1,7<br /> <br /> 2,6 ± 2,1<br /> <br /> 0,00<br /> <br /> Số lượng nang noãn trung bình ở cả 2 phân loại 14 - < 17 mm và ≥ 17 mm ở nhóm<br /> 1 đều cao hơn nhóm 2: 2,1 ± 1,9 và 4,5 ± 1,7 so với 1,9 ± 2,0 và 2,6 ± 2,1. Trong đó,<br /> số nang ≥ 17 mm ở nhóm 1 cao hơn nhóm 2 có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.<br /> Bảng 3: Phân loại noãn trưởng thành.<br /> Kết quả n (%)<br /> <br /> Chỉ tiêu<br /> <br /> p<br /> <br /> Nhóm 1<br /> <br /> Nhóm 2<br /> <br /> MII (metaphase II)<br /> <br /> 225 (89,6)<br /> <br /> 145 (81,9)<br /> <br /> 0,02<br /> <br /> MI (metaphase I)<br /> <br /> 21 (8,4)<br /> <br /> 25 (14,1)<br /> <br /> 0,04<br /> <br /> GV (germinal vesicle)<br /> <br /> 5 (2,0)<br /> <br /> 7 (4,0)<br /> <br /> 0,35<br /> <br /> 251<br /> <br /> 177<br /> <br /> -<br /> <br /> Tổng<br /> <br /> Số lượng noãn MII chiếm nhiều nhất ở cả 2 nhóm với 225 noãn (89,6%) ở nhóm 1<br /> và 145 noãn (89,9%) ở nhóm 2. Số noãn MI ở nhóm 1 là 21 (8,4%), nhóm 2: 25<br /> (14,1%). Số lượng noãn MII, MI ở nhóm 1 cao hơn nhóm 2 có ý nghĩa thống kê<br /> (p < 0,05). Số lượng noãn GV ít nhất với 5 noãn (2%) ở nhóm 1 và 7 noãn (4%) ở<br /> nhóm 2. Tuy nhiên, sự khác biệt về số lượng noãn GV ở 2 nhóm không có ý nghĩa<br /> thống kê với p > 0,05.<br /> Bảng 4: Kết quả chu kỳ TTTON.<br /> Kết quả ( X ± SD)<br /> <br /> Chỉ tiêu<br /> <br /> p<br /> <br /> Nhóm 1 (n = 55)<br /> <br /> Nhóm 2 (n = 55)<br /> <br /> Số noãn sau chọc hút<br /> <br /> 4,5 ± 1,6<br /> <br /> 3,1 ± 1,1<br /> <br /> 0,005<br /> <br /> Số phôi thu được<br /> <br /> 3,8 ± 1,6<br /> <br /> 2,5 ± 1,1<br /> <br /> 0,005<br /> <br /> Số phôi chuyển<br /> <br /> 2,6 ± 0,7<br /> <br /> 2,2 ± 0,8<br /> <br /> 0,005<br /> <br /> Số phôi đông<br /> <br /> 1,1 ± 0,3<br /> <br /> 0,5 ± 0,3<br /> <br /> 0,005<br /> <br /> Sự khác biệt giữa 2 nhóm về số noãn sau chọc hút, số phôi thu được, số phôi<br /> chuyển và số phôi đông có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.<br /> 72<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 4-2017<br /> Bảng 5: Kết quả đáp ứng buồng trứng của chu kỳ KTBT.<br /> Đặc điểm đáp ứng<br /> buồng trứng<br /> <br /> Nhóm 1 (n = 55)<br /> <br /> Nhóm 2 (n = 55)<br /> <br /> p<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> Tỷ lệ hủy chu kỳ<br /> <br /> 0/55<br /> <br /> 0<br /> <br /> 3/55<br /> <br /> 5,5<br /> <br /> 0,23<br /> <br /> Tỷ lệ chu kỳ có phôi chuyển<br /> <br /> 55/55<br /> <br /> 100<br /> <br /> 52/55<br /> <br /> 94,5<br /> <br /> 0,23<br /> <br /> Tỷ lệ phôi làm tổ<br /> <br /> 21/149<br /> <br /> 14,1<br /> <br /> 9/147<br /> <br /> 6,1<br /> <br /> 0,04<br /> <br /> Tỷ lệ thai sinh hóa<br /> <br /> 12/55<br /> <br /> 21,8<br /> <br /> 5/52<br /> <br /> 9,6<br /> <br /> 0,09<br /> <br /> Tỷ lệ thai lâm sàng<br /> <br /> 12/55<br /> <br /> 21,8<br /> <br /> 4/52<br /> <br /> 7,7<br /> <br /> 0,04<br /> <br /> Không có trường hợp nào phải hủy chu kỳ ở nhóm 1, trong khi đó nhóm 2 có 3 BN<br /> (5,5%) phải hủy chu kỳ do không có noãn hoặc noãn không tạo phôi. Điều đó đồng<br /> nghĩa với nhóm 1 vẫn giữ được 55 chu kỳ (100%) có phôi chuyển, trong khi nhóm 2<br /> chỉ còn 52 chu kỳ (94,5%). Tỷ lệ phôi làm tổ ở nhóm 1 có 21/149 phôi (14,1%) được<br /> chuyển, còn nhóm 2 là 9/147 phôi chuyển (6,1%). Tỷ lệ thai sinh hóa ở nhóm 1 là 12<br /> trường hợp (21,8%), nhóm 2 là 5 trường hợp (9,6%). Tỷ lệ thai lâm sàng ở nhóm 1 vẫn<br /> giữ nguyên 12 trường hợp (20%), nhưng nhóm 2 chỉ còn 4 trường hợp (7,7%), do 1 trường<br /> hợp không thấy túi thai, sau đó hCG giảm dần về mức bình thường không có thai.<br /> Nhóm 1 và nhóm 2 không có sự khác biệt về tỷ lệ hủy chu kỳ, tỷ lệ chu kỳ có phôi<br /> chuyển và thai sinh hóa, p > 0,05 . Trong khi đó, tỷ lệ phôi làm tổ và tỷ lệ thai lâm sàng<br /> nhóm 1 cao hơn nhóm 2 có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).<br /> BÀN LUẬN<br /> Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả<br /> của androgel bôi da đến noãn, phôi và kết<br /> quả TTTON của nhóm BN có đáp ứng<br /> buồng trứng kém. Vì vậy, các đặc điểm<br /> của đối tượng nghiên cứu được ưu tiên<br /> lựa chọn ngẫu nhiên sẽ là những đặc<br /> điểm có ảnh hưởng đến đáp ứng của<br /> buồng trứng: tuổi BN, nguyên nhân vô<br /> sinh, xét nghiệm AMH, FSH, LH, E2,<br /> siêu âm đếm số nang thứ cấp (AFC)<br /> ngày 2 của chu kỳ kinh, tổng liều FSH,<br /> liều FSH trung bình, độ dày niêm mạc tử<br /> cung ngày cho hCG. Với phương pháp<br /> chọn mẫu ngẫu nhiên, nghiên cứu đã<br /> đảm bảo được tính đồng nhất của hai<br /> nhóm về đặc điểm lâm sàng và xét<br /> nghiệm trước khi tiến hành can thiệp, với<br /> p > 0,05 (bảng 1).<br /> <br /> Kết quả chu kỳ KTBT ở hai nhóm BN<br /> trong nghiên cứu được đánh giá bao<br /> gồm: số nang noãn trên siêu âm vào ngày<br /> tiêm hCG, số noãn thu được sau chọc<br /> hút, tỷ lệ noãn trưởng thành, số phôi thu<br /> được, số phôi chuyển và số phôi đông<br /> của nhóm dùng androgel bôi da trước<br /> KTBT (nhóm I) đều cho kết quả tốt hơn<br /> so với nhóm không dùng (nhóm II). Kết<br /> quả về đáp ứng buồng trứng, tỷ lệ có thai,<br /> tỷ lệ phôi làm tổ của nhóm I cao hơn có ý<br /> nghĩa thống kê so với nhóm II (bảng 5).<br /> Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương<br /> đồng với một số nghiên cứu khác như:<br /> Balasch J và CS (2006) nghiên cứu trên<br /> BN có tiền sử đáp ứng kém, nhưng có<br /> nồng độ FSH cơ bản bình thường: 25 BN<br /> được dùng testoterone qua da liều<br /> 20 µg/kg/ngày, 5 ngày trước khi dùng FSH.<br /> 73<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản