Lao sơ nhiễm – Phần 1
1. Đại cương
Lao sơ nhiễm bao gồm toàn bnhững biểu hiện về lâm sàng, sinh học và giải
phẫu bệnh của một cơ quan trong cơ thể sau lần đầu tiên tiếp xúc với vi khuẩn lao.
Những trường hợp không biểu hiện m sàng chcó thay đổi sinh học với
bằng chứng là phản ứng dương tính với Tuberculin thì được gọi là nhiễm lao
hay lao sơ nhiễm tiềm tàng.
Vi khuẩn lao thể m nhập vào thể bằng 3 đường: hấp, tiêu hoá hoặc
niêm mạc da. Tuỳ theo đường lây nhiễm bệnh mà biểu hiện lâm sàng khác nhau.
Những biểu hiện sinh học (chuyển phản ứng) và tổn thương cơ bản đầu tiên (phức
hợp nhiễm) là giống nhau. Vấn đề được trình bày chyếu lao nhiễm
phổi. nước ta lao nhiễm chưa được điều tra chính xác, ước tính là t10 đến
13 trên 100.000 trem. Khoảng 50% trẻ bị bệnh lao điều trị tại chuyên khoa lao
các tỉnh là lao sơ nhiễm .
2. Sinh bệnh học
2.1. Nguyên nhân
Vi khuẩn lao người là nguyên nhân chính gây bệnh lao nhiễm, trong đó
có cnhững chủng đơn kháng thuốc hoặc đa kháng thuốc.
Vi khuẩn lao bò gây bệnh với tỷ lệ thấp n. Trực khuẩn lao bò trong
sữa của những con bò bị lao vú.
Trực khuẩn kháng cồn kháng acid không điển hình cũng thể y bệnh,
nhất là ở trẻ có HIV/AIDS.
2.2. Đường lây bệnh
Vi khuẩn lao m nhập o cơ thể gây tổn thương nhiễm bằng ba con
đường.
Đường hấp: Do hít phải các giọt nước bọt chứa từ 1 đến 2 vi khuẩn
lao người bị lao phổi ho khạc bắn ra bên ngoài. Các git nước bọt này
vào đến tận phế nang giống như các dvật khác; vì phế quản gốc bên phải
dốc hơn nên tổn thương thường nằmthuỳ d−ới phổi phải.
Đường tiêu hoá: Lây nhim theo con đường này phần lớn là do uống phải
sữa t−ơi của những con bò blao chưa tiệt trùng hoặc tiệt trùng không
đúng nguyên tắc. Do nuốt phải vi khuẩn lao lẫn trong thức ăn, đồ uống khác.
Thđặc biệt lao nhiễm bẩm sinh, do thai nhi nuốt phải nước ối hoặc
dịch âm đạo có vi khuẩn lao do người mẹ bị lao nội mạc tử cung hoặc lao âm
đạo.
Đường da – niêm mạc: Lây nhiễm theo đường này hiếm gặp hơn, vi khuẩn
lao thxâm nhập vào những vùng da sây sát, chảy máu hoặc những vùng
niêm mạc mắt, họng... bị tổn thương.
2.3. Hình thành phức hợp sơ nhiễm và phản ứng dị ứng
Vi khuẩn lao gây tổn thương nhiễm những i xâm nhập: phế nang
phổi, niêm mạc ruột, tổ chức niêm mạc mắt, họng hoặc da hình thành loét sơ
nhiễm; sau đó theo đường bạch mạch vào các hạch khu vực, phát triển đây tạo
thành phức hợp sơ nhiễm.
Trong suốt quá trình trên, cơ thể huy động các thành phần chức năng bảo
vệ: đại thực bào, lympho T đến tiếp xúc với vi khuẩn lao, dần dần hình thành
những thay đổi sinh học tạo những phản ứng miễn dịch và d ứng. thể phát
hiện được bằng phản ứng Mantoux sau từ 2 đến 8 tuần kể từ khi trực khuẩn lao
xâm nhập.
Giai đoạn phản ứng âm tính được gọi giai đoạn tiền dị ứng. Giai đoạn
phản ứng dương tính gọi giai đoạn dứng. Khi phản ứng âm tính lần thử trước
trở thành dương tính lần thử sau được gọi là hiện t−ợng chuyển phản ứng.
2.4. Điều kiện thuận lợi
2.4.1. Tuổi ng nhnguy mắc lao nhiễm càng cao, nhất là những nước
bệnh lao còn nặng nề, nguồn lây lao còn nhiu, sức chống đỡ của trẻ nhỏ m do
h thống bảo vệ chưa hoàn chỉnh, do ảnh hưởng của các bệnh khác: suy dinh
d−ỡng, còi xương, các bệnh nhiễm khuẩn nhiễm virus khác. Tuổi thông thường
mắc bệnh lao sơ nhiễm là t1 đến 5 tuổi. các nước phát triển, bệnh lao không
đáng kể, nguồn lây ít, trẻ em được chăm sóc tốt nên tuổi mắc bệnh cao hơn, từ 8
12 tuổi. Rất ít gặp lao sơ nhiễm ở người lớn.
2.4.2. Nguồn lây rất quan trọng trong sự xuất hiện của lao sơ nhiễm.
Những người lao phổi tìm thấy trực khuẩn lao trong đờm bằng phương pháp
soi trực tiếp là nguồn lây nguy hiểm. Sự tiếp xúc gần gũi với nguồn lây cùng sống
trong một gia đình, đặc biệt là những người trực tiếp chăm sóc trẻ như người mẹ,
người bà bị lao sẽ làm cho trẻ dễ bị lao sơ nhiễm.
2.4.3. Trkhông tiêm vaccin BCG nguy mắc bệnh cao n trẻ đã tiêm. Tuy
nhiên trđã được tiêm vaccin tiếp xúc gần i với nguồn lây mạnh vẫn khả
năng lây bệnh. Hiệu quả bảo vệ của BCG khoảng 80%.