BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
BÙI THÙY LINH
HUYÒN THO¹I TRONG TIÓU THUYÕT
CñA M¹C NG¤N
Chuyên ngành: Văn học nƣớc ngoài Mã số: 9220242
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1: PGS.TS. Nguyễn Thị Mai Chanh
2: TS. Nguyễn Thị Bích Dung
HÀ NỘI - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo độ chuẩn xác
cao. Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng. Tôi xin
hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Tác giả luận án
Bùi Thùy Linh
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới nhà khoa học PGS.TS.
Nguyễn Thị Mai Chanh, TS. Nguyễn Thị Bích Dung, những ngƣời đã tận tâm hƣớng
dẫn, chỉ bảo, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Văn học nƣớc
ngoài, cùng các thầy cô trong khoa Ngữ văn, phòng Sau Đại học, Trƣờng Đại học Sƣ
phạm Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại
trƣờng.
Ngoài ra, tôi cũng xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Trƣờng Đại học Sƣ
phạm Hà Nội 2 và các đồng nghiệp trong khoa Ngữ văn, nơi tôi công tác bấy lâu.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời tri ân đến gia đình, ngƣời thân, bạn bè luôn bên cạnh,
động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian qua để tôi có điều kiện thực hiện tốt đề tài khoa
học này!
Hà Nội, tháng 05 năm 2020 Tác giả luận án
Bùi Thùy Linh
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ....................................................................................................................... 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................................... 2
3. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................................. 3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................................................... 4
5. Đóng góp mới của luận án ....................................................................................................... 5
6. Cấu trúc luận án ....................................................................................................................... 5
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .......................................... 6
1.1. Tổng quan về huyền thoại .................................................................................................. 6
1.1.1. Định nghĩa về huyền thoại .................................................................................. 6
1.1.2. Vấn đề nghiên cứu huyền thoại từ lí thuyết văn học ........................................... 14
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn ............ 23
1.2.1. Các nghiên cứu tiếng Trung Quốc..................................................................... 23
1.2.2. Các nghiên cứu tiếng Anh ................................................................................ 29
1.2.3. Các nghiên cứu tiếng Việt ................................................................................ 33
Tiểu kết chƣơng 1 ............................................................................................................ 36
CHƯƠNG 2: CỘI NGUỒN HUYỀN THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT
MẠC NGÔN .................................................................................................. 37
2.1. Huyền thoại trong văn học và cao trào “tái huyền thoại” trong văn học
thế kỉ XX ................................................................................................................................... 37
2.2. Văn hóa dân gian và truyền thống hiếu kì trong văn học Trung Quốc ................... 43
2.3. Trải nghiệm cá nhân và quan niệm sáng tác của Mạc Ngôn ..................................... 49
Tiểu kết chƣơng 2 ............................................................................................................ 57
CHƢƠNG 3: CÁC HUYỀN THOẠI TIÊU BIỂU TRONG TIỂU THUYẾT
MẠC NGÔN ................................................................................................................... 58
3.1. Huyền thoại nghi lễ ............................................................................................................ 58
3.1.1. Nghi lễ Thụ pháp ............................................................................................. 59
3.1.2. Nghi lễ Hiến tế ................................................................................................. 68
3.1.3. Nghi lễ Ăn thịt ngƣời ....................................................................................... 75
3.2. Huyền thoại cổ mẫu .......................................................................................................... 80
3.2.1. Cổ mẫu Nƣớc .................................................................................................. 82
3.2.2. Cổ mẫu Mẹ...................................................................................................... 88
3.2.3. Cổ mẫu Anh hùng ............................................................................................ 98
Tiểu kết chƣơng 3 .......................................................................................................... 109
CHƢƠNG 4: PHƢƠNG THỨC HUYỀN THOẠI HÓA TRONG TIỂU
THUYẾT MẠC NGÔN ............................................................................................... 110
4.1. Phƣơng thức huyền thoại hóa trong văn học .............................................................. 110
4.2. Các phƣơng thức huyền thoại hóa tiêu biểu trong tiểu thuyết Mạc Ngôn........... 112
4.2.1. Phƣơng thức truyền kì ............................................................................................... 112
4.2.2. Phƣơng thức ―tầm căn‖ .................................................................................. 128
4.2.3. Phƣơng thức giải huyền thoại ............................................................................ 137
Tiểu kết chƣơng 4 .......................................................................................................... 146
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ ........................................ 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 152
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Mạc Ngôn là một trong những nhà văn Trung Quốc đƣơng đại nổi tiếng và có sức
sáng tạo sung mãn. Cùng với giải Nobel văn học (năm 2012), ông đƣợc đánh giá là tác giả
―có bút lực mạnh nhất Trung Quốc‖, ngƣời làm thay đổi diện mạo và cũng là niềm tự hào
của văn học Trung Quốc. Bằng sự kế thừa tinh hoa văn học thế giới, hợp nhất với văn học
truyền thống Trung Quốc và những sáng tạo, cảm nhận riêng, Mạc Ngôn đã hình thành nên
phong cách nghệ thuật hiện đại độc đáo, ―đƣợc các nhà phê bình quốc tế khen ngợi là nhà
văn có tầm vóc thế giới, có khả năng đƣợc xếp hạng là một nhà văn vĩ đại‖ [96;501]. Các
tác phẩm của ông đƣợc dịch ra nhiều thứ tiếng, thành ―cơn sốt sách‖ ở nhiều quốc gia và
nhận đƣợc sự quan tâm của đông đảo nhà nghiên cứu.
1.2. Trong sự nghiệp sáng tác với trên 200 tác phẩm thuộc nhiều thể loại (tiểu thuyết,
truyện ngắn, tản văn, kịch…) của Mạc Ngôn, tiểu thuyết gây tiếng vang lớn nhất, gặt hái
đƣợc nhiều thành tựu nhất. Một trong những yếu tố quan trọng làm nên sức hấp dẫn của
tiểu thuyết Mạc Ngôn nói riêng, tác phẩm của ông nói chung là huyền thoại. Tuy nhiên,
trong số rất nhiều công trình nghiên cứu về Mạc Ngôn ở trên thế giới và Việt Nam, góc độ
chủ yếu đƣợc đề cập đến là thi pháp học, tự sự học, xã hội học hay chính trị học... Vấn đề
huyền thoại chƣa nhận đƣợc sự quan tâm xác đáng. Tìm hiểu về huyền thoại trong tiểu
thuyết Mạc Ngôn là tìm hiểu thêm căn nguyên làm nên giá trị, sức sống mãnh liệt trong các
sáng tác của ông, đồng thời góp phần đề xuất, bổ sung một hƣớng nghiên cứu về tiểu thuyết
Mạc Ngôn nói riêng, sáng tác của nhà văn nói chung.
1.3. Mối quan hệ giữa huyền thoại và văn học đã sớm đƣợc các nhà nghiên cứu đề cập
đến. Tiến hành nghiên cứu huyền thoại qua một đối tƣợng xác định là văn học (trƣớc hết là
văn học dân gian, sau đó là văn học viết), các công trình đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết
giữa huyền thoại và văn học cũng nhƣ sự tái sản sinh huyền thoại trong các sáng tác văn
học thời đại mới - không chỉ ở việc cung cấp cho văn học những cổ mẫu huyền thoại mà
còn ở việc xem xét huyền thoại nhƣ một ―phƣơng thức nghệ thuật đang có xu hƣớng trở
thành một trong những kĩ thuật sáng tác của tiểu thuyết hiện đại‖ [4;378]. Lịch sử văn học
thế giới đã chứng kiến sự phát sáng trở lại của huyền thoại trong nền văn học phƣơng Tây
thế kỷ XIX (thế kỷ vốn đƣợc mệnh danh là thế kỉ của văn học chủ nghĩa hiện thực) và sức
2
ảnh hƣởng, lan tỏa rộng rãi của nó trên toàn thế giới giữa một thời đại ―kĩ trị‖ của thế kỷ
XX, XXI với sự lên ngôi của những sáng tác theo khuynh hƣớng ―huyền thoại hóa‖ nhƣ
tiểu thuyết của J. Joyce, Th. Mann, F. Kafka,… thơ của T. S. Eliot, W. B. Yeats,… kịch
của J. Anouih, C. Claudel… Điều này đã một lần nữa chứng tỏ sự trƣờng tồn của huyền
thoại với tƣ cách giá trị tinh thần đƣợc trầm tích qua thời gian. Chừng nào con ngƣời còn
giữ mối liên hệ với tổ tiên của mình, chừng nào vẫn còn những điều bí ẩn, trừu tƣợng của
cuộc sống con ngƣời mà khoa học kĩ thuật không thể giải thích đƣợc, chừng nào con ngƣời
còn nhu cầu ―hiếu kì‖ đối với hiện thực cuộc sống xung quanh; thì chừng đó vẫn còn huyền
thoại và những sáng tác huyền thoại. Tuy có một vị trí không thể thay thế trong tiến trình
lịch sử văn hóa, văn học nhƣng trên thực tế, việc nghiên cứu huyền thoại trong văn học vẫn
gặp rất nhiều khó khăn do sự đa nghĩa và quan niệm chƣa thống nhất về vấn đề này. Vì
vậy, nghiên cứu đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc tạo ra một diễn giải có
định hƣớng, có chủ đích lí thuyết rõ ràng về ―lí luận huyền thoại‖. Diễn giải này đƣợc
chứng minh sống động bằng trƣờng hợp tiêu biểu cho các sáng tác văn học theo khuynh
hƣớng huyền thoại là Mạc Ngôn.
1.4. Là một giảng viên đại học trực tiếp giảng dạy bộ môn văn học nƣớc ngoài,
mảng văn học phƣơng Đông, việc nghiên cứu về Mạc Ngôn, tác gia có vị trí quan
trọng trong nền văn học Trung Quốc đồ sộ là một cơ hội quí giá cho chúng tôi nâng
cao trình độ hiểu biết khoa học cũng nhƣ trình độ chuyên môn. Đề tài hi vọng sẽ trở
thành tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập văn học
Trung Quốc trong các nhà trƣờng ở Việt Nam, đồng thời tiếp tục góp phần vào việc
bồi dƣỡng tình yêu văn học nƣớc ngoài cho thế hệ trẻ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hƣớng đến những mục đích sau:
- Xác lập cách hiểu về ―huyền thoại‖ làm căn cứ để tiếp cận, nhận diện và kiến giải
về hệ huyền thoại trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn. Với kết quả nghiên cứu đó, chúng tôi hi
vọng cung cấp một cái nhìn mang tính khái quát đối với lí thuyết về huyền thoại và huyền
thoại trong văn học.
- Nghiên cứu đề tài, luận án nhằm khám phá, xác định những nét đặc sắc của huyền
thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn trong cái nhìn so sánh với huyền thoại chung của nhân
3
loại, huyền thoại truyền thống của Trung Quốc và những huyền thoại tƣơng tự ở các tác
giả khác, từ đó khẳng định vai trò, đóng góp của Mạc Ngôn đối với nền văn học đƣơng đại
Trung Quốc và thế giới.
- Xuất phát từ những nghiên cứu huyền thoại, huyền thoại trong sáng tác Mạc Ngôn
và đƣa ra những kiến giải riêng, luận án làm sáng tỏ chiều sâu tƣ tƣởng của nhà văn về
cuộc sống và con ngƣời. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là tài liệu tham khảo làm phong
phú thêm cho các nghiên cứu về Mạc Ngôn ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ những mục đích trên, luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Tổng quan các lí thuyết nghiên cứu tiêu biểu về huyền thoại, từ đó đƣa ra quan
niệm về huyền thoại mà chúng tôi lựa chọn sử dụng trong luận án.
- Tổng quan các công trình nghiên cứu về huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn
ở trong nƣớc và trên thế giới.
- Lí giải về cội nguồn làm nên huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn.
- Nhận diện, phân tích và lí giải những nét đặc thù của hệ huyền thoại trong tiểu
thuyết Mạc Ngôn.
3. Phạm vi nghiên cứu
3.1. Phạm vi nội dung nghiên cứu
Dựa trên lí thuyết về huyền thoại trong văn học, luận án giới hạn ở việc tìm hiểu cội
nguồn huyền thoại, hai huyền thoại tiêu biểu (huyền thoại nghi lễ, huyền thoại cổ mẫu) và
phƣơng thức xây dựng huyền thoại (phƣơng thức truyền kì, phƣơng thức ―tầm căn‖,
phƣơng thức giải huyền thoại) trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn.
3.2. Phạm vi tài liệu nghiên cứu
Phạm vi tài liệu nghiên cứu của luận án là 11 tiểu thuyết của Mạc Ngôn đã đƣợc
dịch và xuất bản tại Việt Nam, bao gồm: Cao lương đỏ (Lê Huy Tiêu dịch và giới thiệu,
NXB Phụ nữ, 2000), Báu vật của đời (Trần Đình Hiến dịch, NXB Văn nghệ, 2001), Đàn
hương hình (Trần Đình Hiến dịch, NXB Phụ nữ, 2002), Rừng xanh lá đỏ (Trần Đình Hiến
dịch, NXB Văn học, 2003), Cây tỏi nổi giận (Trần Đình Hiến dịch, NXB Văn học, 2003),
Tửu Quốc (Trần Đình Hiến dịch, NXB Hội nhà văn, 2004), Tổ tiên có màng chân (Thanh
Huệ, Bùi Việt Dƣơng dịch, NXB Văn học, 2006), Sống đọa thác đày (Trần Trung Hỷ dịch,
NXB Phụ nữ, 2007), Tứ thập nhất pháo (Trần Trung Hỷ dịch, NXB Văn nghệ, 2007),
4
Thập tam bộ (Trần Trung Hỷ dịch, NXB Văn nghệ, 2008), Ếch (Nguyên Trần dịch, NXB
Văn học, 2010).
Ngoài các tiểu thuyết trên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cũng tham khảo
những sáng tác của Mạc Ngôn ở các thể loại khác nhƣ truyện ngắn, tản văn, các bài trả lời
phỏng vấn, bài nói chuyện của nhà văn với độc giả.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Với hƣớng tiếp cận văn hóa học và thi pháp học, luận án vận dụng linh hoạt nhiều
phƣơng pháp, bao gồm các phƣơng pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học nói chung và
các phƣơng pháp nghiên cứu đặc thù. Trong đó, chúng tôi chú trọng các phƣơng pháp cụ
thể sau:
- Phương pháp phê bình huyền thoại: Đây là một phƣơng pháp luận nghiên cứu văn
học đặc thù sử dụng trong nghiên cứu về huyền thoại đã đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu
huyền thoại vận dụng. Dựa vào những học thuyết mới nhất về huyền thoại, chúng tôi tiến
hành khảo sát trên các văn bản, xác định các huyền thoại tiêu biểu trong tiểu thuyết Mạc
Ngôn. Từ đó, chúng tôi đi sâu tìm hiểu ý nghĩa, những nét đặc trƣng của chúng trong mối
quan hệ với hệ huyền thoại truyền thống và hiện đại cũng nhƣ cách thức Mạc Ngôn đã sáng
tạo nên hệ huyền thoại của mình trong các sáng tác.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Nghiên cứu liên ngành không phải là sự
cộng lại của các phƣơng pháp trong các ngành khoa học mà là sự tổng hợp tri thức của
nhiều lĩnh vực, nhiều ngành học, là quá trình liên kết, thiết lập các mối quan hệ qua lại, ảnh
hƣởng lẫn nhau giữa các phƣơng pháp. Huyền thoại là một vấn đề rộng, thuộc về nhiều lĩnh
vực nghiên cứu khác nhau. Vì vậy, phƣơng pháp này giúp chúng tôi có cái nhìn tổng thể,
toàn diện về huyền thoại nói chung, huyền thoại trong văn học nói riêng. Phƣơng pháp
cũng góp phần quan trọng trong việc giúp giải mã một cách thấu đáo hơn về các huyền
thoại trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, chúng tôi
tiến hành phân tích nhiều khía cạnh khác nhau của huyền thoại và những biểu hiện cụ thể
trong các tác phẩm của Mạc Ngôn, tìm ra mối liên kết của các huyền thoại cũng nhƣ cách
thức xây dựng chúng nhằm mang đến một cách hiểu đầy đủ và toàn diện hơn về vấn đề
nghiên cứu.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Phƣơng pháp này có ý nghĩa quan trọng trong
5
việc giúp chúng tôi xác định các huyền thoại tiêu biểu trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, sắp xếp
chúng thành hệ thống một cách logic và khoa học.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Việc so sánh huyền thoại của Mạc Ngôn với
các huyền thoại khác trong cả hai chiều đồng đại và lịch đại sẽ giúp chúng tôi có cái nhìn
toàn diện hơn về huyền thoại của Mạc Ngôn.
5. Đóng góp mới của luận án
- Luận án nghiên cứu một cách tập trung, có hệ thống về vấn đề huyền thoại trong
tiểu thuyết Mạc Ngôn. Phƣơng pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở
để tìm hiểu về huyền thoại trong toàn bộ sáng tác của nhà văn.
- Hệ thống lại và làm rõ hơn cơ sở lí thuyết của huyền thoại, huyền thoại trong văn
học, chỉ ra những tƣơng đồng và khác biệt nhất định trong cách hiểu về huyền thoại ở
Trung Quốc so với thế giới, chứng minh bằng một trƣờng hợp tác gia văn học cụ thể là
Mạc Ngôn, từ đó đóng góp thêm cho việc nghiên cứu về vấn đề huyền thoại nói chung.
- Cung cấp thêm một cách tiếp cận mở ra những giá trị mới của tiểu thuyết Mạc
Ngôn, góp phần khẳng định vị trí của nhà văn trong bản đồ văn học thế giới.
6. Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận án gồm 4 chƣơng:
CHƢƠNG 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
CHƢƠNG 2: Cội nguồn huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn
CHƢƠNG 3: Các huyền thoại tiêu biểu trong tiểu thuyết Mạc Ngôn
CHƢƠNG 4: Phƣơng thức huyền thoại hóa trong tiểu thuyết Mạc Ngôn
6
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nhận thức khoa học của giới nghiên cứu nói chung về huyền thoại đã xác nhận: sự
sáng tạo huyền thoại là hiện tƣợng quan trọng trong lịch sử văn hóa nhân loại. Trong các
cộng đồng xã hội nguyên thủy, hệ huyền thoại là công cụ, là phƣơng thức cơ bản của việc
hiểu biết thế giới; là câu trả lời đầu tiên, thứ nhất, phổ biến của nhân loại về nguồn gốc của
loài ngƣời và vũ trụ. Không những là một hình thái ý thức xã hội mang tính nguyên hợp, có
vai trò to lớn trong lịch sử hình thành các nền văn minh, cho tới nay huyền thoại với tƣ cách
là một kiểu tƣ duy vẫn không ngừng sản sinh ra nhiều sự kiện văn hóa có ý nghĩa trong đời
sống xã hội của các dân tộc. Cùng với lịch sử lâu đời, huyền thoại cũng đƣợc tiếp cận từ
nhiều góc độ khác nhau, mang đến những cách hiểu phong phú. Nội hàm thuật ngữ mang
hàm nghĩa rộng và có nội dung không ngừng thay đổi. Vì vậy, để làm rõ vấn đề huyền
thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, trƣớc hết chúng tôi tiến hành tổng quan lí luận về huyền
thoại; từ đó đƣa ra cách hiểu sử dụng trong luận án. Trên cơ sở lí luận đã xác định, chúng
tôi tổng quan các nghiên cứu về huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn. Những công
trình, tài liệu, bài báo nghiên cứu này đƣợc chúng tôi phân loại thành ba bộ phận: nghiên
cứu tiếng Anh; nghiên cứu tiếng Trung và nghiên cứu tiếng Việt.
1.1. Tổng quan về huyền thoại
1.1.1. Định nghĩa về huyền thoại
E. M. Meletinsky trong Thi pháp của huyền thoại đã dẫn lời của W. W. Douglas để
nói đến tình trạng huyền thoại đã trở thành ―một thuật ngữ gây tranh luận hơn là một thuật
ngữ phân tích‖ [44;26]. P. Brunel trong lời tựa cuốn Từ điển huyền thoại (NXB. Rocher,
1988) cũng đã nói đến ―sự mập mờ‖ chắc chắn ―không bao giờ xóa hết‖ trong cách hiểu về
huyền thoại ở các trƣờng phái khác nhau, tại những thời điểm khác nhau, cũng nhƣ sự khó
khăn của việc đƣa ra một định nghĩa chung. Xác định đƣợc điều đó, với nỗ lực xây dựng
cách hiểu thống nhất sử dụng trong luận án, chúng tôi sẽ tìm hiểu một số định nghĩa tiêu
biểu về huyền thoại trên thế giới, trong đó có Trung Quốc.
Ở Việt Nam, thuật ngữ ―myth‖ đƣợc dịch theo hai cách: ―huyền thoại‖ và ―thần
thoại‖. Trong khi đó, thần thoại cũng đƣợc coi là ―một thể loại văn học dân gian‖
[33;1646], một ―Thể loại truyện ra đời và phát triển sớm nhất trong lịch sử truyện kể dân
7
gian các dân tộc‖ [30;298]. Và trên thực tế thì huyền thoại đang có xu hƣớng trở thành một
thuật ngữ phổ biến bao hàm trong nó cả thần thoại nên trƣớc khi đi vào tìm hiểu định nghĩa
về huyền thoại (myth), để tránh sự nhầm lẫn, chúng tôi xin đƣợc thống nhất trong luận án
việc dịch thuật ngữ ―myth‖ là ―huyền thoại‖, rộng hơn thần thoại, và trong nhiều trƣờng
hợp bao trùm lên toàn bộ thần thoại (Thần thoại, trong cách hiểu của chúng tôi, là một thể
loại văn học dân gian).
Hầu hết các nhà nghiên cứu huyền thoại trên thế giới đều tìm đến nguồn gốc thuật
ngữ huyền thoại (myth) từ ngôn ngữ cổ Hy Lạp phiên âm theo ngữ hệ Latin: ―mythos‖. Từ
từ nguyên này, thuật ngữ ―myth‖ ngày nay có hai cách hiểu.
Ở cách hiểu thứ nhất, huyền thoại đƣợc sử dụng với ý nghĩa là một sai lầm, một
điều không có thật (―myth is false‖). Đó là ―một quan niệm sai lầm phổ biến‖ [116;6] ―một
sai lầm, một câu chuyện không đáng tin cậy hay một tín ngƣỡng‖ [91;163], ―một điều bịa
đặt của trí tƣởng tƣợng hoặc một niềm tin thông thƣờng đƣợc cho là không có cơ sở‖
[109;90]; là sự ―ảo tƣởng, giả dối, sự tuyên truyền dối trá, mang tính chất thần thánh hóa,
giáo điều‖, ―sự tin tƣởng, sự ƣớc lệ hay quan niệm về giá trị dƣới hình thức tƣởng tƣợng‖,
―sự biểu hiện của các phong tục xã hội và các giá trị mang tính chất thần thánh hóa, giáo
điều‖ [44;26]… Nhà sử học Hi Lạp cổ đại Hérodote đã phân biệt mythos với logos ở chỗ:
logos là những sự kiện có thể xác minh đƣợc bằng cứ chắc chắn, còn mythos là những
chuyện lan truyền trong dân gian không rõ thực hƣ. Platon từng có thái độ phủ nhận huyền
thoại vì cho rằng huyền thoại làm cho con ngƣời lầm đƣờng, lạc lối. Theo Albert A.
Anderson [90] và D. Wiles [120], thời Homer, một điểm khác biệt lớn để phân biệt giữa
mythos và logos là ―mythos thiếu sự phân biệt rõ ràng giữa đúng và sai‖ [90;61], ―thuật ngữ
mythos bao trùm hàng loạt các ý nghĩa từ sự giả dối không thể phủ nhận đến những câu
chuyện có ý nghĩa tôn giáo và tƣợng trƣng sâu sắc‖ [116;5]. Marx Muller thấy ―cội nguồn
huyền thoại trong sai lầm logic‖ [44;19]. R. Barthes trong khi đi vào lí giải huyền thoại từ
góc độ kí hiệu học đã cho rằng ―khái niệm huyền thoại nói lên những điều tƣởng là hiển
nhiên mà dối trá ấy; khi đó tôi hiểu từ ngữ này theo nghĩa truyền thống‖ [4;17]. Huyền
thoại vì biến những hiện tƣợng ngẫu nhiên mang tính lịch sử trong đời sống văn hóa thành
thiêng liêng, thần thánh, thành những chân lí không có gì để thắc mắc, nên ―làm con ngƣời
chúng ta mù quáng không thể nhìn nhận rõ điều kiện lịch sử của chính mình‖ [4;13]. Theo
Douglas Ayling, ―myth‖ trong thế kỷ XX đã đƣợc dùng với những nghĩa nhƣ ảo tƣởng, giả
8
dối, sự tuyên truyền dối trá. Từ đó mà xuất hiện khái niệm “giải huyền thoại” với ý nghĩa
xóa bỏ những niềm tin sai lầm để đƣa con ngƣời đến với hiện thực. Quan niệm này xuất
phát từ cách thức quan trọng mà huyền thoại đƣợc tạo nên: sự chia sẻ trong cộng đồng với
một niềm tin mãnh liệt, bất chấp tính thực - hƣ (Từ điển Văn học thế giới (Dictionary of
world literature) coi huyền thoại về cơ bản là khái niệm thuộc về tôn giáo). Đây cũng là
một cách hiểu theo nghĩa thông thƣờng, thƣờng gặp ở thời hiện đại: Huyền thoại chỉ là
huyền thoại. Trong luận án, chúng tôi không đi theo cách hiểu này nhƣng chú ý đến hai yếu
tố đặc trƣng của nó: những yếu tố thần bí siêu nhiên ―không rõ thực hƣ‖ và khả năng lan
truyền của chúng với một niềm tin mang tính cộng đồng.
Phổ biến và đƣợc thừa nhận, nghiên cứu rộng rãi hơn cả là cách hiểu thứ hai: huyền
thoại là “một câu chuyện” (story) hoặc “lời nói thuật lại” (report). Mythos là câu chuyện
hay tập hợp những câu chuyện có ý nghĩa quan trọng đối với một nền văn hóa, tôn giáo, xã
hội hoặc một nhóm ngƣời nào đó.
Albert A. Anderson chỉ ra rằng: Thuật ngữ mythos xuất hiện từ rất sớm trong các tác
phẩm của Homer và các nhà thơ khác thời đại Homer, mang nhiều nghĩa: hội thoại, kể
chuyện, nói chuyện, câu chuyện, chuỗi tƣờng thuật [90;61]. Aristotle trong Nghệ thuật thi
ca đã coi mythos là linh hồn của bi kịch nói riêng, của văn học nói chung. Mythos đƣợc
―định nghĩa nhƣ là ―cấu trúc của các sự kiện‖. Thƣờng đƣợc dịch là cốt truyện (plot)‖
[92;5]. Tuy nhiên, nhƣ Robert A. Segal trong Một sự giới thiệu ngắn gọn về huyền thoại
(Myth: A Very Short Introduction) khẳng định: các lí thuyết về huyền thoại có thể cũng lâu
đời nhƣ bản thân huyền thoại, chắc chắn ít nhất đã có từ thời Tiền Socrates; nhƣng chỉ đến
thời hiện đại, đặc biệt là từ nửa sau thế kỷ XIX mới có những học thuyết đƣợc coi là khoa
học, tức chỉ khi ấy mới có các chuyên ngành có khả năng đóng góp vào sự hình thành các lí
thuyết thực sự khoa học về huyền thoại.
Từ điển Bách khoa toàn thư Merriam-Webster về văn học (Merriam-Webster's
Encyclopedia of Literature) định nghĩa: huyền thoại là câu chuyện truyền thống bao gồm
các sự kiện mà vẻ bề ngoài là lịch sử nhƣng thƣờng ẩn chứa trong đó các nội dung siêu
nhiên, giải thích nguồn gốc của một nghi thức văn hóa hay một hiện tƣợng tự nhiên
[110;794]. Từ điển Kí hiệu học (Dictionary of Semiotics) định nghĩa huyền thoại nhƣ là
―một câu chuyện mang tính biểu tƣợng thƣờng liên quan đến các vị thần hoặc anh hùng;
cung cấp lời giải thích về một số hiện tƣợng phi thƣờng trong tự nhiên hoặc thực tế. Sử
9
dụng một hình thức tƣ duy logic khác, nó đại diện cho nỗ lực nắm bắt ―hình bóng mờ ảo‖
của kinh nghiệm nhân loại và cho phép tìm đến một sự giải thích thỏa đáng về sự tồn tại
của con ngƣời‖ [109;89]. Tƣơng tự, Từ điển Oxford giản lược về các thuật ngữ văn học
(The Concise Oxford Dictionary of Literary Terms) [91] cho rằng: huyền thoại là một câu
chuyện hay một chuỗi chuyện kể thô sơ thƣờng theo lối truyền thống và khuyết danh;
thông qua đó, một nền văn hóa nhất định giải thích về tập quán xã hội hoặc giải thích
nguồn gốc của con ngƣời và các hiện tƣợng tự nhiên, thƣờng là trong điều kiện siêu nhiên
và trí tƣởng tƣợng phong phú. Xuất phát từ quan niệm huyền thoại là một ―câu chuyện‖,
A.S. Kozlov trong Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở
Tây Âu và Hoa Kì thế kỷ 20 nhấn mạnh, đó là ―câu chuyện xa xƣa, là sự trần thuật nghệ
thuật không ý thức về những hiện tƣợng tự nhiên, sinh lí và xã hội thƣờng là khó hiểu đối
với con ngƣời thời cổ (nguồn gốc của vũ trụ, con ngƣời; công tích của các vị thần, các ông
vua và các anh hùng…‖ [35;375-376]…
Có thể thấy, các định nghĩa, quan niệm trên đều xuất phát từ một đối tƣợng là ―các
câu chuyện‖ thời kì xa xƣa, liên quan đến các vị thần linh, anh hùng và là cách lí giải mang
đầy màu sắc thần bí về vũ trụ, con ngƣời; vì thế, nó khó có thể trở thành một định nghĩa bao
trùm cho toàn bộ hệ huyền thoại đƣợc sản sinh trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Theo
chúng tôi, các định nghĩa này phù hợp để chỉ các huyền thoại cổ đại (hay chính là thần
thoại) - các huyền thoại mà E. M. Meletinsky gọi là ―huyền thoại nguyên thủy‖, là ―hình
thức cổ điển của huyền thoại‖ hơn là một định nghĩa cho huyền thoại nói chung. Đó là
những huyền thoại đã ổn định, đã thuộc về quá khứ mà để nghiên cứu về chúng, cần phải
làm công tác sƣu tầm, điền dã. Từ huyền thoại có thể coi là cội nguồn này, các huyền thoại
hậu cổ đại vẫn liên tục đƣợc sản sinh theo hình thức: vừa là sử dụng lại, tái tạo lại các
huyền thoại cổ đại, vừa là sáng tạo nên huyền thoại mới. Huyền thoại hiện đại là một giai
đoạn phát triển sau này của huyền thoại hậu cổ đại, gắn với thời kì hiện đại. Đó là kết quả
của sự tổng hợp giữa huyền thoại truyền thống vẫn luôn đƣợc bảo lƣu qua các thời kì, trong
một diện mạo mới (nói nhƣ C.Jung, đó là kí ức tập thể (vô thức tập thể) của chung nhân
loại, dân tộc, đƣợc truyền từ đời này sang đời khác) và những huyền thoại mới nảy sinh từ
những ―chấn động xã hội‖ (thái độ hoài nghi sẵn có đối với lịch sử, sự hƣ vô của con ngƣời,
cơn sốc của các cuộc chiến tranh, sự mong manh của nền tảng xã hội và sức mạnh của
những lực lƣợng hỗn loạn làm chao đảo nền văn minh…) thấm đƣợm các vết thƣơng mà
10
nó phải gánh chịu, chấp nhận và cả nỗi sợ hãi trƣớc tƣơng lai. Các huyền thoại cổ đại trên
thực tế xuất hiện trƣớc khi cá nhân đƣợc tách ra khỏi xã hội nay đƣợc dùng để phản ánh
thái độ ghẻ lạnh đối với xã hội và tình trạng cô đơn, bị lƣu đày của cá nhân. Nhắc đến
huyền thoại, chúng ta thƣờng nghĩ đến yếu tố siêu nhiên, thần bí. Tuy nhiên, huyền thoại
hiện đại không nhất thiết phải có sự xuất hiện của yếu tố thần linh, siêu nhiên, hoang
đƣờng, kì lạ… mà có thể đƣợc xây dựng bằng cách ―sáng tạo một thế giới khác với thế giới
của tự nhiên, một thế giới huyền thoại‖ [4;390], với những biểu tƣợng nghệ thuật đa nghĩa.
Đó là thế giới mà huyền thoại và hiện thực có mối quan hệ vừa tách biệt, vừa đồng nhất và
―cái mà ngƣời ta gọi là sự biến dạng của hiện thực, thật ra là hình ảnh có tính chất huyền
Robert A. Segal từ điểm gặp gỡ của các nhà nghiên cứu về huyền thoại ở các
thoại của hiện thực‖ [4;394].
chuyên ngành khác nhau đã đƣa ra định nghĩa về huyền thoại gồm các nội dung: thứ nhất,
huyền thoại là ―một truyện kể (hiểu rộng hơn là một niềm tin, một tín điều) về một điều
quan trọng, có ý nghĩa trong quá khứ, hiện tại và tƣơng lai‖ [116;4]; thứ hai, ―nhân vật
chính là những nhân cách - những nhân cách thần, ngƣời hay thậm chí là động vật‖ [116;5];
thứ ba, ―Để xác định một truyện kể là huyền thoại thì truyện đó phải diễn đạt một niềm tin
vững chắc trong tâm trí những ngƣời chia sẻ niềm tin ấy cho dù là câu chuyện ấy là có thực
hay không có thực‖ [116;6]. Định nghĩa này của Robert A. Segal đã giải quyết đƣợc về cơ
bản những vấn đề mà chúng tôi đặt ra từ hai cách hiểu trên. Theo chúng tôi, nó thể hiện
đƣợc các đặc trƣng cốt lõi của huyền thoại. Huyền thoại đầu tiên trong lịch sử nhân loại là
những câu chuyện thần thoại. Dù tiếp cận huyền thoại từ lí thuyết nào và nhằm mục đích gì
thì câu chuyện về các vị thần cũng là những ví dụ đầu tiên đƣợc nhắc đến. Trong xã hội
hiện đại, các huyền thoại cá nhân (huyền thoại về các nhân vật xuất chúng) hay các huyền
thoại xã hội (nhƣ ―huyền thoại làm giàu nhanh chóng‖ hay ―huyền thoại biên giới‖ của
Mỹ) cũng cần phải đƣợc minh họa bằng các câu chuyện. Huyền thoại trƣớc hết là một câu
chuyện nhƣng là câu chuyện có ý nghĩa quan trọng đƣợc chia sẻ trong tâm thức con ngƣời,
ở một cộng đồng dân cƣ trong các thời đại khác nhau - những câu chuyện mang ý nghĩa
biểu tƣợng sâu sắc. Nói rộng ra, nó chính là niềm tin, tín điều. Có thể thấy rõ điều này trong
hƣớng nghiên cứu về huyền thoại tiếp cận từ góc độ cổ mẫu của C. Jung, hay các nghiên
cứu liên quan đến nghi lễ của J. Frazer, ―trƣờng phái Cambirdge‖, B. Malinowski, M.
Eliade, N. Frye… Xác định nhân vật của huyền thoại là những nhân cách (thần thánh, con
11
ngƣời, động vật), định nghĩa đã mở rộng phạm vi nội hàm khái niệm huyền thoại, không
chỉ nằm trong câu chuyện thần thoại về các vị thần hoặc bán thần, câu chuyện về ngƣời anh
hùng; không chỉ mang màu sắc siêu nhiên, huyền bí gắn với thế giới thần linh, mà còn
đƣợc xây dựng nên từ những ―biến dạng của hiện thực‖ - những huyền thoại đƣợc tạo nên
từ một hiện thực bình thƣờng nhƣng đóng vai trò là ―những biểu tƣợng nghệ thuật đa
nghĩa‖ nhƣ kiểu của F. Kafka. Luận điểm thứ ba trong định nghĩa của Robert A. Segal,
theo nhƣ chúng tôi đã đề cập đến, là vấn đề có ý nghĩa then chốt trong phƣơng thức xây
dựng huyền thoại mọi thời đại: Chính niềm tin vững chắc và sự chia sẻ niềm tin một cách
rộng rãi trong cộng đồng về câu chuyện (dù là có thực hay không thực) đã góp phần biến
nó thành huyền thoại. Cộng đồng tạo ra nhu cầu về huyền thoại (ví dụ nhƣ mong muốn về
việc giải thích thế giới tự nhiên, vũ trụ trong xã hội cổ đại), tạo và tái tạo ra những nghĩa
mới cho huyền thoại, đồng thời tiếp tục duy trì nhu cầu ấy (ở việc chia sẻ niềm tin về huyền
thoại đó).
M. Eliade coi huyền thoại là một câu chuyện linh thiêng. E. M. Meletinsky khi phân
biệt giữa huyền thoại và truyện cổ tích cũng đã khẳng định về tính chất thiêng liêng và
―lòng tin vào tính chân xác‖ của các ―sự kiện huyền thoại‖ [44;356]. Nhà nghiên cứu Pháp
Daniel - Henri Pageaux thì cho rằng, huyền thoại là ―toàn bộ những gì mà một nền văn hóa
có và mong muốn biến chúng thành huyền thoại‖ [45;28], là những câu chuyện đã đƣợc
cộng đồng tán thành, trong đó ―các huyền thoại cổ đã gắn bó chặt chẽ với cộng đồng, và
đƣợc chấp nhận nhƣ một nền tảng tôn giáo, nhƣ một ngôn ngữ tƣợng trƣng‖; huyền thoại
hiện đại (Jeanne d’Arc, Napoléon, Ché Guévara…) ―cũng đã đem lại một giá trị đạo đức
cho cộng đồng và cộng đồng ấy ý thức về chính mình qua những câu chuyện này‖. Nhƣ
vậy, những ―câu chuyện này, từ một sản phẩm riêng đã trở thành tài sản chung‖ [44;35] của
cả cộng đồng. P. Brunel cũng khẳng định, nhân tố quan trọng để một nhân vật lịch sử trở
thành huyền thoại chính là ở ―khả năng xâm nhập của nó trong ý thức cộng đồng‖ [44;28].
Thời cổ đại, do đặc trƣng tƣ duy, ngƣời nguyên thủy chia sẻ với nhau niềm tin về các câu
chuyện huyền thoại một cách tự nhiên. Thế giới thần linh; sự thần bí, kì lạ, siêu thƣờng;
những tƣởng tƣợng về vũ trụ và con ngƣời…, tất cả đều đƣợc thừa nhận - không hoài nghi
- nhƣ một phần tất yếu trong cuộc sống của họ. Ở các giai đoạn sau, đặc biệt là trong đời
sống hiện đại, khi niềm tin không hoài nghi về tự nhiên, vũ trụ đã tỉ lệ nghịch với sự phát
triển của tƣ duy khoa học, thì những ―câu chuyện‖ cần có phƣơng thức riêng nhằm có đƣợc
12
sự chia sẻ từ cộng đồng để trở thành huyền thoại. Truyền kì là một hình thức tiêu biểu. Đây
cũng chính là phƣơng thức cơ bản để tạo nên huyền thoại trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn.
Bên cạnh cách hiểu xuất phát từ góc độ thuật ngữ, huyền thoại cũng đƣợc hiểu nhƣ
một hình thức tƣ duy đặc trƣng gắn với thời cổ đại. Đó là kiểu tƣ duy tiền logic, thần bí
mang tính ẩn dụ, biểu tƣợng mà chất liệu trực tiếp là những nhận thức cảm tính sơ giản cho
phép thông qua những tƣơng đồng và tƣơng kị của các thuộc tính cảm xúc để thực hiện quá
trình khái quát nhƣng không xa rời cái cụ thể. Các khái niệm trừu tƣợng phát triển rất yếu
ớt nên việc phân loại và phân tích logic đƣợc thực hiện một cách ―khá cồng kềnh‖ nhờ
những quan niệm trực quan cụ thể. Sự khác biệt của tƣ duy huyền thoại và tƣ duy khoa học
là ở chỗ, nếu nhƣ sự khái quát khoa học đƣợc đi từ cụ thể đến trừu tƣợng, từ nguyên nhân
đến kết quả, thì khái quát của huyền thoại sử dụng cái cụ thể và cái cá biệt với tƣ cách là
những kí hiệu sao cho tƣơng hợp với các thứ bậc nhân quả. Tiền đề của tƣ duy huyền thoại
với tƣ cách là một tƣ duy cổ đại là việc không tách con ngƣời ra khỏi tự nhiên, logic ra khỏi
cảm xúc, những đặc điểm khuếch tán của tƣ duy. Từ đây dẫn đến sự nhân hóa tự nhiên, so
sánh ẩn dụ, đồng nhất giữa tự nhiên và những vật thể văn hóa; có sự nhân cách hóa mọi vật,
hình dung cái tổng thể nhƣ là cái cụ thể, cảm tính, không phân biệt đối tƣợng và kí hiệu,
biểu tƣợng và mô hình, sự vật và ngôn từ… Hiểu huyền thoại nhƣ một ―hình thức tƣ duy
đặc thù của con ngƣời thời nguyên thủy, trong đó cái kì ảo che giấu những sự thật, đƣợc
bảo lƣu dƣới nhiều dạng thức của đời sống tinh thần nhiều nhóm cƣ dân trên thế giới và đi
vào văn học nghệ thuật‖ [33;668] cũng đồng nghĩa với việc chúng ta thừa nhận sự tồn tại
mang tính tất nhiên của tƣ duy huyền thoại trong giai đoạn này. Từ đó, những trang huyền
thoại đầu tiên của loài ngƣời đƣợc sinh ra cũng nhƣ một sự tất yếu. Cuộc đời của chúng là
cuộc đời của những ―huyền thoại cổ điển‖ tức những huyền thoại đã ổn định, đã xong xuôi,
thuộc về quá khứ. Chúng lƣu giữ những đặc trƣng riêng biệt có vai trò nhƣ những kí hiệu,
cung cấp cho các huyền thoại ra đời sau này. Nhƣ vậy, quá trình tái huyền thoại thực chất là
tạo nên huyền thoại một cách có ý thức từ đặc trƣng cổ điển của nó. Khi đó, tƣ duy huyền
thoại vốn là tất nhiên trong thời kì cổ đại trở thành những chỉ dẫn để xây dựng huyền thoại.
Hay nói cách khác, những đặc điểm của tƣ duy huyền thoại có xu hƣớng trở thành một
phần quan trọng của phƣơng thức tạo nên huyền thoại.
Mặc dù mang những mẫu số chung nhất định thuộc về tiềm thức nhân loại nhƣng ở
những khu vực văn hóa khác nhau, do sự khác biệt về lịch sử, địa lí, quan niệm… các
13
huyền thoại và cách hiểu về huyền thoại lại có điểm riêng biệt. Vì vậy, để phục vụ cho việc
tìm hiểu huyền thoại trong tác phẩm của một tác gia thuộc nền văn học đƣơng đại Trung
Quốc, chúng tôi nhận thấy cần thiết phải tìm hiểu quan niệm về huyền thoại trong giới
nghiên cứu Trung Quốc.
Tiếng Hán hiện đại vốn không có từ ―huyền thoại‖. Theo các nhà nghiên cứu Trung
Quốc, ―huyền thoại‖ là một thuật ngữ du nhập từ phƣơng Tây và giống nhƣ tình trạng
thƣờng gặp phải của giới học giả trên thế giới, việc nghiên cứu về huyền thoại cũng gặp
nhiều lúng túng, ngay từ mặt thuật ngữ. Trong Ẩn ý của huyền thoại và các phương pháp
của huyền thoại học [152], Điệp Thƣ Hiến đã chỉ ra: khi du nhập vào Trung Quốc, ―myth‖
- huyền thoại có hai cách phiên dịch và hiểu: dựa trên ý nghĩa: ―thần thoại‖ (神话) và dựa
trên âm đọc: ―Mí sī‖ (迷思). Cách thứ nhất đã dẫn đến khó khăn khi phải phân biệt giữa
―thần thoại‖ trong cách hiểu tƣơng đƣơng với huyền thoại và thần thoại trong tƣ cách là
một thể loại văn học. Trong các cuốn từ điển nhƣ Từ điển Hán ngữ hiện đại (Thƣơng vụ ấn
thƣ quán, Bắc Kinh, 1977), Đại từ điển Hán ngữ hiện đại (Nhà xuất bản Từ thƣ Thƣợng
Hải, 2006), Từ điển Tân Hoa (Thƣơng vụ ấn thƣ quán, Bắc Kinh, 2013)…, thần thoại đƣợc
định nghĩa: Phản ánh những câu chuyện và truyền thuyết nhằm lí giải khởi nguyên của con
ngƣời cổ đại, khởi nguồn của thế giới, hiện tƣợng tự nhiên và cuộc sống xã hội. Nó tuy
không phản ánh khoa học về hiện thực cuộc sống, nhƣng cũng đã biểu hiện cuộc đấu tranh
đối với thế lực tự nhiên và theo đuổi lí tƣởng của con ngƣời thời cổ đại. Đây là cách định
nghĩa về thần thoại nhƣ một thể loại văn học thời cổ đại. Và nhƣ chúng tôi đã trình bày ở
trên, thực chất đó là các huyền thoại cổ đại. Dùng thần thoại để diễn đạt nghĩa của ―myth‖,
giới nghiên cứu Trung Quốc (mà tiêu biểu là Điệp Thƣ Hiến) đã mở rộng khái niệm ―thần
thoại‖ (vốn ban đầu rất rõ ràng trong tƣ cách một thể loại văn học), thêm vào những biểu
đạt hàm nghĩa mới. Cách hiểu thứ hai hàm chỉ những câu chuyện, sự việc hoang đƣờng, kì
dị, khó giải thích, tạo ý nghĩ mê hoặc lòng ngƣời, tuy ít phổ biến hơn nhƣng đã gặp gỡ với
cách hiểu ―myth is false‖ của một số học giả phƣơng Tây. Ở đây, chúng ta bắt gặp sự ám
chỉ những suy nghĩ mê muội, không phân biệt đúng sai nhƣng đồng thời cũng thấy đằng
sau đó một niềm tin: dù là những điều hoang đƣờng, kì bí nhƣng nó vẫn mang ý nghĩa mê
hoặc lòng ngƣời, tức nó vẫn khiến con ngƣời tin vào đó.
Không chỉ đƣợc hiểu theo hai cách ở trên, do bản thân là một thuật ngữ du nhập và
nội hàm khái niệm lại có nhiều sự mơ hồ, nhiều đặc điểm có sự gặp gỡ với các từ cùng chỉ
14
về những điều hoang đƣờng, kì ảo, kì lạ trong cách hiểu của ngƣời Trung Quốc nhƣ ma ảo,
quỷ ảo, huyền ảo, ảo giác, hƣ ảo, truyền kì,… nên trong một số từ điển, huyền thoại còn
đƣợc định nghĩa tƣơng đƣơng với huyền ảo, hàm chỉ sự hƣ giả, mờ ảo, không chân thực
(nhƣ Đại từ điển Hán ngữ (NXB Đại từ điển Hán ngữ, 1991), Từ điển thông dụng Hán ngữ
hiện đại (NXB Giáo dục và Nghiên cứu Ngoại ngữ,1987), Từ điển đối chiếu từ phản nghĩa
từ đồng nghĩa (NXB Giáo dục Cát Lâm, 1987)…)
Tóm lại, từ các cách hiểu nêu trên, có thể khẳng định ―huyền thoại‖ là một thuật
ngữ xuất hiện từ thời xa xƣa có nội dung thay đổi không ngừng - một khái niệm mang hàm
nghĩa rộng và dễ gây tranh luận. Bởi vậy, việc đƣa ra một định nghĩa thống nhất là vô cùng
khó khăn. Trong hoàn cảnh đó, nói nhƣ nhà nghiên cứu Đào Ngọc Chƣơng: ―Nếu phải đƣa
ra một định nghĩa thì cái định nghĩa về huyền thoại kia hoặc chỉ là sự hệ thống theo cách
nào đấy những phƣơng diện đã đƣợc khảo sát rất kĩ của huyền thoại hoặc, nếu thực sự là
một đóng góp, thì phải xây dựng (hay là xuất phát) trên một cơ sở lí luận và thực tế mới về
huyền thoại‖. Đó là một ―việc làm hoặc có phần đơn giản và chẳng đem lại một hiệu quả
nào hoặc cực kì khó khăn‖ [14;13]. Đồng tình với quan niệm này, dựa trên việc khảo sát hệ
thống lí thuyết phong phú về huyền thoại, trong đó có các quan niệm của giới nghiên cứu
Trung Quốc, chúng tôi khái quát một số vấn đề cơ bản về huyền thoại nhƣ sau:
- Huyền thoại có thể là một câu chuyện, một niềm tin, một phƣơng thức tƣ duy
đƣợc chia sẻ trong một cộng đồng nào đó.
- Những vấn đề đƣợc đặt ra trong huyền thoại mang tính biểu trƣng, ý nghĩa sâu sắc
với cộng đồng.
- Trong huyền thoại các yếu tố hoang đƣờng, kì ảo, thần bí, huyền ảo thƣờng xuất
hiện nhƣ một đặc điểm nhận dạng mang tính phổ biến. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng
phải có các yếu tố trên mới là huyền thoại. Huyền thoại hiện đại có thể đƣợc tạo nên từ chất
liệu cuộc sống hiện thực, đời thƣờng, thông qua các phƣơng thức nghệ thuật đặc thù. Nhấn
mạnh đến sự chia sẻ rộng rãi trong cộng đồng với một niềm tin mãnh liệt trong huyền thoại,
chúng tôi cũng đồng thời cho rằng, đó là một cách thức phổ biến để tạo nên huyền thoại
mọi thời đại.
1.1.2. Vấn đề nghiên cứu huyền thoại từ lí thuyết văn học
Huyền thoại và văn học có mối quan hệ mật thiết với nhau. Những tác phẩm văn
học đầu tiên của nhân loại là thần thoại (hay chính là huyền thoại cổ xƣa của con ngƣời).
15
Huyền thoại là kho tàng đầu tiên cung cấp văn liệu, thi liệu cho nền văn học và tiếp tục
đóng vai trò hạt nhân quan trọng, là cơ sở tạo nên huyền thoại trong văn học. Huyền thoại
văn học bao gồm những huyền thoại đi vào văn chƣơng (không chỉ là các huyền thoại cổ
đại mà còn là các huyền thoại nảy sinh trong suốt tiến trình lịch sử), đƣợc văn chƣơng hoá
và những huyền thoại phát sinh từ văn chƣơng.
Cho đến nay, lí thuyết về huyền thoại mới chỉ là một bộ phận trong lí thuyết thuộc
các lĩnh vực khác nhau mà chƣa có hệ thống lí luận riêng. Hay nói cách khác, ―không có
việc nghiên cứu huyền thoại nhƣ là bản thân huyền thoại‖ [116;1]. Hệ thống lí thuyết
phong phú về huyền thoại, về cơ bản đƣợc các nhà nghiên cứu thống nhất ở một số trƣờng
phái, khuynh hƣớng tiêu biểu: Chủ nghĩa Nghi lễ và Chủ nghĩa Chức năng, Trƣờng phái
Xã hội học Pháp, các học thuyết về Biểu tƣợng, Lí thuyết Phân tâm học, Chủ nghĩa cấu
trúc, Trƣờng phái phê bình huyền thoại - nghi lễ trong nghiên cứu văn học. Tuy mục đích
và cách thức triển khai khác nhau, mang đến những kết luận riêng, nhƣng theo Robert A.
Sagel thì tính thống nhất của chúng là ở các vấn đề đƣợc đặt ra: vấn đề về nguồn gốc, chức
năng (huyền thoại đƣợc phát sinh thƣờng do đáp ứng một nhu cầu nào đó của con ngƣời và
chúng tồn tại do tiếp tục đáp ứng đƣợc những nhu cầu ấy) và chủ đề (một số lí thuyết chủ
trƣơng đọc huyền thoại theo nghĩa đen, ví dụ nhƣ huyền thoại về các vị thần linh; một số lí
thuyết khác chủ trƣơng qui chiếu thông qua biểu trƣng, có nghĩa có thể là bất cứ thứ gì, nhƣ
E. Cassier, R. Barthes) [116;3]. Trên thực tế, dù tiếp cận huyền thoại từ trƣờng phái,
khuynh hƣớng nào thì các nhà nghiên cứu đều phải tìm đến với các huyền thoại cổ đại
(đồng thời cũng là những tác phẩm văn chƣơng đầu tiên - thần thoại), vì vậy xét cho cùng,
việc nghiên cứu huyền thoại trong văn học bằng cách này hay cách khác, ít nhiều đều đƣợc
nói đến. Tìm hiểu về huyền thoại trong sáng tác văn học của một tác giả cụ thể, chúng tôi
chủ yếu dựa vào các quan niệm về huyền thoại trong văn học nhƣng cũng không thể tách
rời quan niệm về huyền thoại ở các lĩnh vực khác vì mối quan hệ ảnh hƣởng, tiếp thu lẫn
nhau giữa các quan niệm, trƣờng phái.
Thế kỉ XIX, trƣờng phái huyền thoại trong nghiên cứu văn học đã đƣợc nảy sinh
trên cơ sở học thuyết của J. Grimm và M. Muller. Tuy nhiên, để đặt ra cơ sở của việc hiểu
và giải thích khoa học nghiêm túc về huyền thoại trong văn học, nghiên cứu về huyền thoại
tập trung trong mối quan hệ với văn học thì phải kể đến Phê bình nghi lễ - huyền thoại -
trƣờng phái có thanh thế trong nghiên cứu văn học Anh, Mĩ thế kỷ XX. Nếu nhƣ các
16
nghiên cứu của J. Grimm và M. Muller trƣớc đó chủ yếu hƣớng đến việc tìm hiểu, lí giải
các hình thức sáng tác nghệ thuật cổ xƣa nhất, các sáng tác dân gian bằng cách phát hiện
các đề tài và motif huyền thoại; thì Phê bình nghi lễ - huyền thoại kì vọng nhiều hơn ở việc
lí giải huyền thoại trong toàn bộ nền văn học bao gồm cả văn học hiện đại. Tuy có nguy cơ
đi đến cực đoan (mở rộng khái niệm huyền thoại nhƣng lại có phần phiến diện khi đánh
đồng mọi truyền thống với huyền thoại) nhƣng sự ra đời của trƣờng phái này đã mang đến
những lí thuyết khoa học về huyền thoại trong văn học. Cơ sở phƣơng pháp luận Phê bình
huyền thoại - nghi lễ là ―ý tƣởng cho rằng thần thoại là nhân tố quyết định để hiểu toàn bộ
sản phẩm nghệ thuật của nhân loại xƣa và nay‖ [35;358]. Bằng cố gắng phát hiện huyền
thoại và đặc biệt là nghi lễ trong các sáng tác văn học, các nhà phê bình huyền thoại học
xem huyền thoại chẳng những nhƣ ngọn nguồn tự nhiên của sáng tác nghệ thuật mà còn
nhƣ ―máy phát xuyên lịch sử‖ của văn học, và luôn giữ trong nó những khung huyền thoại
trung tâm nhất định. Xuất phát điểm của trƣờng phái này là hai nhánh: Phê bình nghi lễ -
mở đầu trong các công trình của J. Frazer và Phê bình cổ mẫu - nảy sinh bởi các quan niệm
của C. Jung. Từ hai nhánh nghiên cứu này, nhiều công trình nghiên cứu và các nhà phê
bình huyền thoại có tên tuổi đã xuất hiện. Trong trƣờng phái Phê bình huyền thoại - nghi lễ,
nghiên cứu của N. Frye là tiêu biểu và có ý nghĩa hơn cả. Ảnh hƣởng bởi J. Frazer và C.
Jung, N. Frye khẳng định tính thống nhất tuyệt đối giữa huyền thoại và nghi lễ, giữa huyền
thoại và cổ mẫu. Kết hợp tiếp cận tiến hóa luận với các yếu tố của chủ nghĩa cấu trúc; sử
dụng rộng rãi các tiếp cận của S. Freud và C. Jung, N. Frye hình dung huyền thoại nhƣ một
hạt nhân mà từ đó phát triển ra toàn bộ văn học về sau. Nền văn học này sẽ trở về với khởi
nguyên của nó trên một vòng xoắn ốc nhất định. Và vì vậy, văn học của chủ nghĩa hiện đại
giống nhƣ một hệ thống thần thoại mới, mở rộng đến cực hạn những giới hạn tồn tại của
huyền thoại. Tiếp theo C. Jung, N. Frye cũng cho rằng cổ mẫu luôn xuất hiện trong sáng tác
của các nhà cổ điển và ―có xu hƣớng chung là tái sản sinh những định thức ấy‖ [35;373-
374]. Ý nghĩa của tổ hợp nghi lễ - huyền thoại trong ngọn nguồn nghệ thuật ngôn từ, cụ thể
là ý nghĩa của huyền thoại với tƣ cách là một hệ thống, một kho tàng các biểu tƣợng đối với
nghiên cứu văn học đƣợc đề cao. Thông qua các nghiên cứu, N. Frye xác định ―huyền thoại
trung tâm‖ trong sáng tác nghệ thuật là huyền thoại gắn với chu kì tự nhiên và huyền thoại
về ngƣời anh hùng với các cuộc phiêu lƣu. Tiếp nối N. Frye, John Vikery khẳng định:
huyền thoại không chỉ là chất liệu để văn học phát triển hay cội nguồn cảm hứng sáng tạo
17
của nghệ sĩ; năng lực nghệ thuật của huyền thoại còn nằm ở trong quá trình tƣ duy nhằm
đáp ứng nhu cầu nhất định của con ngƣời. Huyền thoại cung cấp khái niệm và kiểu mẫu
cho cả nhà văn lẫn nhà phê bình.
Vấn đề huyền thoại trong văn học cũng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu Nga chú
ý, góp phần mang đến một cái nhìn phong phú và toàn diện hơn. A. F. Losev là một
trong những chuyên gia xuất sắc về huyền thoại cổ đại và các lí thuyết liên quan.
Hai trong số các vấn đề quan trọng đƣợc A. F. Losev đặt ra, có ý nghĩa đối với quan
niệm của chúng tôi về huyền thoại là sức mạnh tự phát của cái thần kì và bản chất
biểu tƣợng của huyền thoại. Đáng chú ý trong nghiên cứu của O. M. Freidenberg là
tƣ tƣởng sâu sắc về những xu hƣớng chuyển hóa ngữ nghĩa của huyền thoại cổ đại.
Công trình nghiên cứu đầu tiên có liên quan trực tiếp nhất với thi pháp huyền thoại
là của M. Bakhtin: Sáng tác của Rabelais và văn hóa dân gian thời Trung đại và
Phục hung. Với công trình này, M. Bakhtin đã phân tích chi tiết ―tính biểu tƣợng
thực tại‖ của truyền thống carnaval và sự phát triển nó trong tác phẩm của Rabelais.
Thông qua ―văn hóa carnaval‖, ông chứng minh: nền văn hóa carnaval là mắt xích
trung gian giữa nghi lễ - huyền thoại nguyên thủy và văn học nghệ thuật. Sau M.
Bakhtin, E. M. Meletinsky trong cuốn Thi pháp của huyền thoại đã tiến hành xem
xét những lí thuyết quan trọng nhất về huyền thoại, các hình thức cổ điển của huyền
thoại, một số đặc điểm của sự quá độ từ huyền thoại lên văn học và thi pháp của sự
huyền thoại hóa trong văn học thế kỷ XX. Khẳng định tính chất nguyên hợp của tƣ
duy huyền thoại và chỉ ra xu hƣớng chức năng của huyền thoại (chức năng giải thích
và chuẩn nhận trật tự xã hội, chức năng phản ánh hiện thực thông qua các hình ảnh
tƣởng tƣợng, chức năng mô hình hóa), E. M. Meletinsky đã đƣa ra một số motif
huyền thoại tiêu biểu: Huyền thoại về bậc tiên tổ - đấng sáng tạo - anh hùng xã hội;
Huyền thoại suy nguyên luận; Huyền thoại về lịch biểu…
Cùng với việc du nhập khái niệm học thuật ―huyền thoại‖, theo học giả Dƣơng Lí
Huệ [129], bài viết Lịch sử hình thành nhân vật huyền thoại đăng trên báo Tân Dân năm
1903 của Tƣơng Quan Vân đƣợc xem là công trình đầu tiên ở Trung Quốc đề cập đến lí
thuyết huyền thoại. Từ đó đến nay, các công trình về huyền thoại xuất hiện khá nhiều, tập
trung ở việc dịch, xuất bản các nghiên cứu mới trên thế giới và vận dụng vào việc tìm hiểu
huyền thoại Trung Quốc cũng nhƣ huyền thoại trong các sáng tác văn học nói chung. Tuy
18
có lịch sử hình thành và phát triển không dài nhƣng hệ thống lí thuyết về huyền thoại ở
Trung Quốc về cơ bản đã bắt kịp và không có nhiều sự khác biệt so với phƣơng Tây. Vấn
đề này đƣợc các học giả Trung Quốc quan tâm ở tám góc độ và phƣơng thức lí giải: 1)
dùng ngôn ngữ học để giải thích (Trịnh Khải Long); 2) dùng nghi thức để giải thích (từ góc
độ hành vi, nghi thức tôn giáo mà xem xét nguồn gốc huyền thoại, tiêu biểu: Tiêu Binh,
Trƣơng Nham); 3) dựa trên hiện tƣợng tự nhiên để giải thích (dùng thiên văn, khí hậu, địa
lí, thực vật… các phƣơng diện tri thức mà giải thích, lấy hình thức biểu đạt ẩn dụ và ngụ
ngôn là khởi nguồn khoa học của huyền thoại, tiêu biểu: Đỗ Loan, Đỗ Nhi Vị, Ngô Ứng
Tƣờng); 4) dựa vào lịch sử (xem ngụ ngôn về những sự kiện lịch sử và nhân vật là có thật,
hay nói cách khác, xem huyền thoại là khởi nguồn của lịch sử cổ đại); 5) lí giải bằng tâm lí
học (mối quan hệ giữa huyền thoại với giấc mộng và những kí ức tập thể); 6) lí giải bằng
triết học (từ góc độ triết học giải thích những ẩn số trong huyền thoại, xem huyền thoại là
tiền thân của triết học); 7) áp dụng chủ nghĩa kết cấu (giải thích rõ huyền thoại, đồng thời từ
những huyền thoại đơn lẻ phát hiện ra những qui tắc phổ biến về kết cấu để nắm bắt đƣợc
tƣ duy logic của nhân loại); 8) áp dụng chủ nghĩa nữ tính (phê phán xã hội phụ quyền,
khẳng định địa vị của ngƣời phụ nữ từ thời nguyên thủy). Giống nhƣ ở phƣơng Tây, dù tiếp
cận huyền thoại từ góc độ nào thì các khuynh hƣớng nghiên cứu đều liên quan đến các câu
chuyện thần thoại - cũng chính là những sáng tác văn học đầu tiên, nên ít nhiều đều đề cập
đến mối quan hệ giữa huyền thoại và văn học. Ở Trung Quốc, tuy chƣa hình thành một
khuynh hƣớng, trƣờng phái nghiên cứu về huyền thoại trong văn học nhƣ trƣờng phái Phê
bình nghi lễ - huyền thoại ở Anh, Mĩ thế kỉ XX, nhƣng những vấn đề lí thuyết phong phú
về huyền thoại đã đƣợc vận dụng một cách linh hoạt và sinh động trong việc triển khai
nghiên cứu khoa học nhân văn, mà cụ thể là văn học.
Căn cứ trên các vấn đề cốt lõi về huyền thoại đã đƣợc tổng kết, có thể thấy, tuy việc
đề cập đến huyền thoại nhƣ một lí thuyết khoa học đến thế kỉ XX mới xuất hiện nhƣng các
quan niệm của giới nghiên cứu Trung Quốc về huyền thoại (hay các vấn đề đặc trƣng của
huyền thoại) trong văn học thì đã có lịch sử từ rất lâu đời. Thang Hiển Tổ, nhà biên kịch nổi
tiếng Trung Quốc cuối thời Minh trong Điểm hiệu Ngu sơ chí tự đã quan niệm ―kì tịch
hoang đản… độc chi sử nhân tâm khai thần thích‖ (Đọc những điều kì lạ hoang đƣờng làm
cho lòng ngƣời nhƣ thần tình rộng mở). Thông qua việc tập trung trình bày tính quan trọng
của sự kiện, tình tiết siêu hiện thực, ông đã cho thấy nhiệt tình của mình với những chuyện
19
―quái đản, kì lạ‖. Tuy là cái ―kì tịch hoang đản‖ không có trong đời thực, nhƣng cái kì dùng
để gửi gắm sự ―chân thú‖, gửi gắm cái ―tình‖ - một ―cái ―tình‖ có khả năng siêu việt cả giới
hạn của sự sống chết‖; một ―cái ―tình‖ dùng ―để thêu dệt nên một thế giới khác lí tƣởng
hơn, đẹp đẽ hơn, dùng nó để thay thế thế giới hiện thực đen tối đƣợc thống trị bằng cái ―lí‖
phản động‖ [CD76;128]. Thế giới lí tƣởng đó đã vƣợt qua khoảng cách về thời gian và địa
lí để gặp gỡ với quan niệm về một thế giới huyền thoại là thế giới thứ hai vừa tƣơng đồng
vừa khác biệt với thế giới hiện thực ở các nƣớc phƣơng Tây.
Trong Nhàn tình ngẫu kí, Lí Ngƣ - nhà hí kịch nổi tiếng đầu đời Thanh cho rằng,
một số tác phẩm trong lịch sử sở dĩ có thể lƣu truyền đƣợc ―là bởi vì tình tiết của nó rất
khác lạ độc đáo, chƣa đƣợc ngƣời nhìn thấy và lƣu truyền bao giờ‖ [CD76;120]. Thế nên
―phi kì bất truyền‖ - không kì không truyền. Thông qua đây, có thể thấy sự nhấn mạnh vào
hai yếu tố tạo nên truyền kì: ―kì‖ (sự kì lạ, khác lạ, mới mẻ, độc đáo) và ―truyền‖ (sự lƣu
truyền trong đời sống tâm thức cộng đồng). Vì vậy, cái ―kì‖ cũng đòi hỏi cái ―tân‖ - sự sáng
tạo mới mẻ của toàn bộ tác phẩm. Với quan niệm này, cái kì dịch chuyển sang phạm trù
hình thức, gặp gỡ với quan điểm ―bất kì nhi kì‖ của Khổng Thƣợng Nhậm - cũng là một
nhà hí kịch nổi tiếng đầu thời Thanh. ―Cái điều ―không li kì mà vẫn li kì‖ chính là từ trong
những sự kiện bình thƣờng rồi thông qua cấu tứ nghệ thuật xảo diệu, khơi gợi đƣợc những
chủ đề khác thƣờng rung động lòng ngƣời, viết nên đƣợc những hình tƣợng nhân vật mà
ngƣời đọc không bao giờ quên‖ [CD76;132]. Bàn về yếu tố ―kì‖, cả ba quan điểm của
Thang Hiển Tổ, Lí Ngƣ, Khổng Thƣợng Nhậm đã bổ sung, phát triển cho nhau, đồng thời
có sự gặp gỡ từ rất sớm với lí thuyết về huyền thoại trên thế giới. Có thể nói, chúng đã phản
ánh khá đầy đủ đặc trƣng của huyền thoại hiện đại: có thể có hoặc không có yếu tố siêu
nhiên hoang đƣờng, kì ảo; sự ―truyền‖, chia sẻ niềm tin trong cộng đồng và ―kĩ xảo‖ biến
cái ―bất kì‖ thành ―kì‖ nhƣ một phƣơng thức tạo nên huyền thoại.
Trung Quốc tiểu thuyết sử lược của Lỗ Tấn là một công trình tổng hợp về lịch sử
phát triển của văn xuôi tự sự Trung Quốc, thông qua đó, chúng ta cũng có thể tìm thấy quan
niệm của Lỗ Tấn về các vấn đề liên quan đến huyền thoại. Giống nhƣ các nhà nghiên cứu
về huyền thoại trên thế giới, Lỗ Tấn cho rằng, thần thoại ―không những là mầm mống của
tôn giáo, của mĩ thuật, mà còn là ngọn nguồn của văn chƣơng‖ [72;29], ―là mầm mống của
văn nghệ‖ [72;321), là ―khởi nguyên của tiểu thuyết‖ [72;315]. Ông bàn đến các thần thoại
với tƣ cách nhƣ một hình thức thể loại đầu tiên của văn chƣơng tự sự mang đặc trƣng riêng.
20
Ngƣời nguyên thủy giải thích về vũ trụ và sự biến hóa khác thƣờng của tạo vật bằng cách
―lấy một ―thần cách‖ hay một ngƣời tính cách nhƣ thần làm trung tâm, suy diễn ra mà kể
lại‖. Rồi chính với vị thần, việc thần (kì) đó, họ lại ―đem lòng tin tƣởng, kính sợ‖; ―ca ngợi
là uy linh, tôn thờ ở đền miếu, càng lâu càng hơn lên mà thành phức tạp thêm‖ [72;29].
Đồng thời, Lỗ Tấn cũng khẳng định: sự ―lƣu truyền‖ của huyền thoại đến đời sau nhƣng
―không khỏi có điều tô vẽ, trau dồi thêm, đến mất cái gốc gác cũ, nhƣ vậy thần thoại tuy
nhờ thơ ca mà ngời sáng thêm, mà lƣu truyền đƣợc, nhƣng cũng vì thế mà đổi khác đi, mà
tiêu tan mất‖ [72;29]. Đó cũng chính xác là quá trình lịch sử của huyền thoại từ thời cổ đại
đến nay. Trong một công trình khác, ông cũng đã có những quan niệm tƣơng đồng với
C.Jung (về vấn đề vô thức tập thể) khi cho rằng huyền thoại ―không để cuộc sống chúng ta
hòa đồng ngang bằng với thế giới hiện thực, nó cho ta liên tƣởng đến cuộc sống của những
ngƣời trƣớc đây, mặc dù chúng ta chƣa hoàn toàn hiểu biết về nó‖ [122;212].
Vƣơng Quốc Duy trong Tống Nguyên hí khúc sử cũng cho rằng: ―Huyền thoại
mang chúng ta đến với những yếu tố kì lạ, nhiều cảm giác kinh dị, lạ thƣờng‖ [145;50].
Trần Bình Nguyên trong Chuyển biến mô thức tự sự tiểu thuyết Trung Quốc khẳng định:
Huyền thoại mang ngôn ngữ huyền diệu để từ đó miêu tả những sự việc mà tƣởng chừng
nhƣ không thể phát sinh [131]…
Có thể thấy, ở mặt thuật ngữ và các lí thuyết khoa học, quan niệm về huyền thoại
của Trung Quốc cơ bản chịu ảnh hƣởng của phƣơng Tây. Tuy nhiên, cũng cần khẳng định
rằng, trƣớc khi đƣợc đặt vấn đề một cách trực tiếp dƣới dạng lí thuyết, huyền thoại và các
đặc trƣng của nó đã sớm có một lịch sử nghiên cứu lâu dài tại Trung Quốc. Bên cạnh sự
tƣơng đồng với quan niệm về huyền thoại trên thế giới, quan niệm của dân tộc này còn
mang những đặc trƣng riêng biệt gắn với truyền thống hiếu kì và sự cố kết bền vững của
nền văn hóa (đặc biệt là văn hóa dân gian) mang tính cộng đồng. Mạc Ngôn là một nhà văn
Trung Quốc nhƣng chịu ảnh hƣởng từ văn học phƣơng Tây đặc biệt là hai nhà văn lớn G.
Márquez và W. Faulkner, nên huyền thoại trong sáng tác của ông chính là một trong những
minh chứng đậm nét cho kiểu huyền thoại đƣợc sinh ra từ sự giao thoa Đông - Tây. Bởi
vậy, khi tìm hiểu về huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, việc kết hợp lí thuyết huyền
thoại Đông - Tây là điều cần thiết.
Giới hạn những lí thuyết về huyền thoại trong nghiên cứu văn học, tiêu biểu là
khuynh hƣớng Phê bình nghi lễ - huyền thoại nhƣng chúng tôi xác định: ―vấn đề ―huyền
21
thoại và văn học‖ dù có đƣợc giải thích rộng rãi đến đâu đi chăng nữa thì nó cũng đã và
đang đƣợc đề cập đến cả bên ngoài phạm vi trƣờng phái này‖ [44;152]. Phê bình nghi lễ -
huyền thoại không thể tách rời tiền đề Nhân loại học của J. Frazer và tiếp cận huyền thoại
từ Phân tâm học của C. Jung. Các công trình của O. M. Freidenberg, Ya. E. Golosovker rất
gần với cách tiếp cận cấu trúc - kí hiệu học của Lévi-Strauss. Sự nhấn mạnh đến vai trò của
biểu tƣợng trong các nghiên cứu của M. Bakhtin, A. F. Losev, E. M. Meletinsky cũng
chính là đặc trƣng của huyền thoại mà các học thuyết về biểu tƣợng (tiêu biểu là E. Cassier)
đã đề cập đến. Bản thân các lí thuyết về huyền thoại trong nghiên cứu văn học cũng còn
nhiều điều gây tranh luận, chẳng hạn nhƣ thuyết nhƣợc hóa của N. Frye (qui các thể loại
văn học vào các kiểu huyền thoại)... Từ những lí thuyết đã trình bày ở trên, chúng tôi khái
quát một số vấn đề về huyền thoại trong văn học nhƣ sau:
- Dựa vào thời điểm xuất hiện, huyền thoại văn học có thể đƣợc phân thành hai kiểu
loại: huyền thoại cổ đại và huyền thoại hậu cổ đại. Huyền thoại cổ đại là tập hợp những
câu chuyện kể về thời kì xa xƣa nhằm lí giải về nguồn gốc vũ trụ, con ngƣời hay các hiện
tƣợng của cuộc sống, trong đó thƣờng chứa đựng các yếu tố kì lạ, siêu nhiên, thần thánh
nhƣng đƣợc cộng đồng chia sẻ với một niềm tin mạnh mẽ. Huyền thoại cổ đại bao gồm
huyền thoại ―của các hình thái xã hội tồn tại trƣớc khi giai cấp xuất hiện (các quan niệm
trực tiếp)‖ - của tầng lớp quần chúng sáng tạo nên; và ―thần thoại của các giai cấp của nhà
nƣớc văn hóa cổ đại (các quan niệm gián tiếp)‖ [69;204] - đƣợc ghi chép lại không phải từ
chính những ngƣời sáng tạo ra chúng (tầng lớp bình dân), mà qua lăng kính của ngƣời tập
hợp, nhƣ thần thoại Hy Lạp, thần thoại Ấn Độ... Còn huyền thoại hậu cổ đại chỉ hai kiểu
huyền thoại ở các giai đoạn sau này trong lịch sử văn học nhân loại (so với giai đoạn huyền
thoại cổ đại) bao gồm: huyền thoại mới (các huyền thoại đƣợc nảy sinh sau này nhƣ huyền
thoại Ki Tô giáo, Phật giáo thời Trung cổ; huyền thoại cái cô đơn của G. Márquez trong
văn học hiện đại... Bản thân chúng lại tiếp tục trở thành những cổ mẫu huyền thoại cho các
giai đoạn kế sau) và huyền thoại tái sinh (mƣợn lại các motif huyền thoại đã có trƣớc đó
nhƣng trong một màu sắc mới, mang dấu ấn cá nhân và thời đại).
- Huyền thoại hậu cổ đại diễn tả quá trình tái huyền thoại ở nhiều góc độ khác nhau
trong tiến trình lịch sử văn học, tiêu biểu nhất là giai đoạn hình thành chủ nghĩa huyền thoại
với các huyền thoại hiện đại trong văn học hiện đại thế kỉ XX. Tái huyền thoại trong văn
học mang những đặc điểm:
22
+ Thứ nhất, nó thừa nhận mối quan hệ giữa huyền thoại - nghi lễ, huyền thoại - cổ
mẫu và sự xuất hiện một cách phổ biến của các nghi lễ huyền thoại, cổ mẫu huyền thoại
trong các sáng tác văn học; khẳng định tính biểu tƣợng là một đặc trƣng của huyền thoại; sự
lặp lại của những nguyên mẫu huyền thoại cơ bản dƣới dạng các ―mặt nạ‖ khác nhau‖; ―sự
thay thế độc đáo các nhân vật huyền thoại và nhân vật văn học‖[44;xxii]; sự tái tạo lại
những cấu trúc của tƣ duy thần thoại nguyên hợp (xóa bỏ mối liên hệ nhân quả, đem trùng
hợp một cách kì quái các không gian và thời gian khác nhau, tạo ra nhân vật song trùng,…)
hay tái hiện lại những tầng sinh hoạt, tâm thức và nghi lễ dân gian còn sống động các yếu tố
của thế giới quan thần thoại.
+ Thứ hai, huyền thoại trong văn chƣơng không chỉ và không nhất thiết phải mang
yếu tố thần bí, hoang đƣờng mà có thể ―bất kì nhi kì‖. Trong văn chƣơng hiện đại, các nhà
văn thƣờng xây dựng huyền thoại ―bằng những chất liệu của cuộc sống nhƣng đã làm cho
biến dạng đi và theo những qui luật khác với qui luật thông thƣờng‖ [4;396] - một ―thiên
nhiên thứ hai’, ―một thế giới riêng gợi lên mối tƣơng đồng với thế giới hiện thực, chứ
không đƣợc xây dựng theo nguyên tắc chân thực, cụ thể, lịch sử‖ [4;399]. Ở góc độ này,
huyền thoại đƣợc xem xét nhƣ một phƣơng thức nghệ thuật đang có xu hƣớng trở thành
một trong những kĩ thuật sáng tác của tiểu thuyết hiện đại, trở thành phƣơng tiện tƣởng
tƣợng, hƣ cấu nghệ thuật và cảm nhận về thế giới… Từ đây, cần đặt ra vấn đề tìm hiểu
những cách thức nào đã đƣợc các tác gia văn học sử dụng để tạo ra huyền thoại - tức đặt ra
vấn đề tìm hiểu về phƣơng thức xây dựng huyền thoại trong văn học.
- Về cơ bản, quan niệm về huyền thoại của giới nghiên cứu Trung Quốc có sự gặp
gỡ và ảnh hƣởng từ phƣơng Tây tuy nhiên cũng mang đặc trƣng riêng: sự đậm đặc của yếu
tố ―kì‖. Với đặc trƣng ―hiếu kì‖ suốt chiều dài lịch sử văn học, yếu tố ―kì‖ trở thành một
trong những vấn đề trung tâm của huyền thoại Trung Quốc: ―phi kì bất truyền‖ nhƣng cũng
là ―bất kì nhi kì‖ (cái kì - xảo, tức là cái khác lạ, xảo diệu về mặt hình thức). Vì vậy, huyền
thoại đƣợc tạo nên từ một phƣơng thức phổ biến là truyền kì. Đây cũng chính là phƣơng
thức chủ đạo đƣợc Mạc Ngôn sử dụng để tạo nên huyền thoại trong tiểu thuyết.
Nghiên cứu về Huyền thoại trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn là nghiên cứu về huyền
thoại hiện đại trong một quá trình tái huyền thoại cụ thể và sinh động. Với bối cảnh phong
phú của hệ thống lí thuyết nghiên cứu về huyền thoại, những kết luận trên sẽ là cơ sở để
chúng tôi triển khai các nội dung trong luận án.
23
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn
1.2.1. Các nghiên cứu tiếng Trung Quốc
Tại Trung Quốc, Mạc Ngôn là một trong những tác giả có vị trí quan trọng, đồng
thời cũng là đối tƣợng nghiên cứu yêu thích của nhiều học giả. Các nghiên cứu về nhà văn
rất phong phú, trong đó không thiếu công trình mang tính tranh luận. Ở phạm vi tài liệu về
Mạc Ngôn khảo sát đƣợc, chúng tôi nhận thấy, giới nghiên cứu quan tâm nhiều nhất ở góc
độ thi pháp học, tự sự học, xã hội học hay chính trị học. Vấn đề huyền thoại trong tiểu
thuyết chƣa đƣợc đề cập đến nhiều. Trong các công trình nghiên cứu về lịch sử văn học
đƣơng đại Trung Quốc, tiêu biểu nhƣ Lịch sử văn học đương đại Trung Quốc (Hồng Tử
Thành, NXB Đại học Bắc Kinh, 2011); Giáo trình văn học đương đại Trung Quốc (Trần
Tƣ Hòa, NXB Đại học Phúc Đán, 2005); Lịch sử văn học Trung Quốc thế kỷ XX (Nghiêm
Gia Viêm chủ biên, NXB Giáo dục Cao Đẳng, Bắc Kinh, 2010), Mạc Ngôn đƣợc nhận
diện là một trong những nhà văn thuộc trào lƣu ―văn học tầm căn‖, hoặc vừa là một tác giả
thuộc lớp nhà văn tiên phong đầu tiên, vừa là tác giả đại diện tiêu biểu cho dòng sáng tác
―tiểu thuyết tân lịch sử‖. Dù đƣợc xếp vào trào lƣu nào cũng có thể thấy nổi bật lên từ đánh
giá của các nhà nghiên cứu hai vấn đề: văn hóa dân gian truyền thống và những sáng tạo,
thử nghiệm mới về hình thức nghệ thuật (sự bùng nổ của thế giới cảm giác, phƣơng thức tự
sự độc đáo) giúp ông ―xây dựng nên một thế giới huyền thoại và thế giới sự vật có ý nghĩa
cá nhân hóa‖ [135;292]. Tuy đây là những nhận xét khái quát, mang tính chất định vị nhà
văn trong một trào lƣu văn học nhất định và không trực tiếp bàn đến vấn đề huyền thoại,
nhƣng thông qua đó, có thể tìm thấy một số đặc điểm cơ bản của huyền thoại trong tiểu
thuyết Mạc Ngôn. Do những phức tạp về mặt thuật ngữ và quan niệm nhƣ đã trình bày ở
trên, tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu về huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc
Ngôn, chúng tôi dựa vào những đặc trƣng cơ bản của huyền thoại đã đƣợc khái quát trong
phần lí thuyết. Từ đó, chúng tôi tìm thấy vấn đề liên quan đến đề tài chủ yếu trong các
nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, cái kì ảo, truyền kì, carnaval và cội nguồn dân
gian. Nhiều nhất vẫn là các nghiên cứu so sánh về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong tiểu
thuyết Mạc Ngôn.
Nghiên cứu tiêu biểu phải kể đến là Luận án tiến sĩ Chủ nghĩa hiện thực hư ảo trong
tiểu thuyết Mạc Ngôn của Đồng Quốc Tuấn (Đại học Lan Châu, 4/2014). Trong công trình
của mình, bằng việc đƣa ra cách hiểu về hai thuật ngữ ―Magic Realism‖ và ―hallucinatory‖
24
mà giới nghiên cứu trong và ngoài nƣớc sử dụng, Đồng Quốc Tuấn đã cắt nghĩa lí do tại
sao lại sử dụng thuật ngữ ―Chủ nghĩa hiện thực hƣ ảo‖. Khi đi vào Trung Quốc, thuật ngữ
―magic‖ có nghĩa là ma ảo, thần kì, đột biến, kĩ xảo, không thể suy nghĩ và bàn luận, không
bao hàm tính ảo tƣởng và tính ảo giác. ―Magic Realism‖ thông thƣờng đƣợc dịch thành
―chủ nghĩa hiện thực ma ảo‖. ―Hallucination‖ có hàm nghĩa là ―ảo giác‖, thƣờng dẫn đến
cách hiểu về ảo tƣởng chủ quan không chân thực. Chủ nghĩa hiện thực hƣ ảo có sự kết hợp
của Chủ nghĩa hiện thực ảo giác và Chủ nghĩa hiện thực ma ảo. Chủ nghĩa hiện thực hƣ ảo
của Mạc Ngôn chủ yếu là một loại nhận thức luận, có phƣơng thức biểu hiện rõ ràng ở
nghệ thuật tự sự tự do, biến ảo linh hoạt, gia tăng tính hƣ ảo của đối tƣợng tự thuật; ở hệ
thống nhân vật mang tính mâu thuẫn đặt trong những bối cảnh xã hội hỗn tạp, phi lí, hƣ vô
đặc trƣng cho chủ nghĩa hiện thực hƣ ảo, khác với cách miêu tả thông thƣờng, quen thuộc
trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nói về Chủ nghĩa hiện thực hƣ ảo, luận án đặc
biệt chú ý đến mối quan hệ giữa hiện thực với các yếu tố huyền thoại. Khẳng định đại bộ
phận tác phẩm Mạc Ngôn có những con ngƣời kì lạ, bí ẩn; có các câu chuyện truyền kì về
ma quỉ, các câu chuyện dân gian, tác giả đồng thời cũng chỉ ra rằng, ―cũng giống nhƣ hạt
nhân của Chủ nghĩa hiện thực ma ảo không phải là ma ảo‖, hạt nhân của Chủ nghĩa hiện
thực hƣ ảo trong tiểu thuyết không phải là cái hƣ ảo, huyền thoại mà chính là hiện thực‖
[160;47] - hiện thực đời sống và hiện thực tâm lí con ngƣời. Tuy nhiên đó là hiện thực ―có
tính đột phá và mở rộng‖, biến hóa và sáng tạo, nơi ―con ngƣời thông qua sức tƣởng tƣợng
thần kì mới có thể lí giải đƣợc sức mạnh vô hình của thiên nhiên và thế giới bên ngoài đối
với mình và giải quyết đƣợc các tình cảnh khốn cùng của hiện thực‖ [160;129]. Khẳng định
Chủ nghĩa hiện thực hƣ ảo là một loại phong cách mới, từ chƣơng 2 của luận án, Đồng
Quốc Tuấn quan tâm đến những biểu hiện của nó ở các phƣơng diện cụ thể: Phƣơng thức
tự sự; nhân vật trung tâm; lịch sử và phê phán hiện thực; tính dân tộc và tính nhân loại.
Nghiên cứu về huyền thoại, chúng tôi tuy cũng có những điểm gặp gỡ (nhƣ việc quan tâm
đến vấn đề truyền kì) nhƣng theo một hƣớng tiếp cận khác - hƣớng tiếp cận theo đúng đặc
trƣng mà các lí thuyết về huyền thoại đã đƣa ra.
Huyền thoại là một khái niệm rộng hơn, có những điểm giao thoa với chủ nghĩa
hiện thực huyền ảo nên không thể tìm hiểu chủ nghĩa hiện thực huyền ảo mà không đi qua
vùng đất của huyền thoại. Vì vậy có thể tìm thấy một số vấn đề quan trọng về huyền thoại
thông qua các nghiên cứu liên quan đến Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết
25
Mạc Ngôn. Trần Tƣ Hòa trong ―Tự thuật dân gian trong tiểu thuyết Mạc Ngôn những năm
gần đây‖ [134] cho rằng, làm nên chủ nghĩa hiện thực ma ảo trong tiểu thuyết Mạc Ngôn
trƣớc hết phải từ nền văn học chữ Hán, tức từ nền văn học truyền thống Trung Quốc mang
bản sắc riêng. Khẳng định ―Mạc ngôn đích thực là kì tài, quái tài đã xuất hiện trên văn đàn
thời kì mới của Trung Quốc‖ [134;242], Dƣơng Thủ Sâm cùng với Lan Tiểu Ninh, Hạ Lập
Hoa trong bài phỏng vấn, thảo luận ―Mạc Ngôn cùng với văn hóa truyền thống Trung
Quốc và phái hiện đại phƣơng Tây‖ đã thừa nhận những ảnh hƣởng của văn học phƣơng
Tây, đồng thời cho rằng có lẽ trải nghiệm cá nhân mới là cái đặc sắc nhất làm nên tác phẩm
Mạc Ngôn. Hà Ái Ái trong luận án tiến sĩ Thế giới của Mạc Ngôn và Mạc Ngôn của thế
giới (Đại học Tô Châu, 2013) đã dành hẳn hai trên ba phần trong luận án để bàn về yếu tố
―thế giới‖ trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn. Khẳng định ―sáng tạo của Mạc Ngôn đƣợc
đánh thức dƣới ảnh hƣởng của tƣ tƣởng phƣơng Tây‖ mà cụ thể là chủ nghĩa cấu trúc, văn
học phi lí, thủ pháp dòng ý thức,… luận án đã đi vào các cuộc ―đối thoại‖ văn chƣơng của
Mạc Ngôn với W. Faulkner, Kenzaburo Oe, M. Bakhtin về trí tƣởng tƣợng, lí thuyết đa
thanh, carnaval… Hoàng Xuân Phƣơng trong bài viết ―Phong cách hiện thực ma ảo trong
tiểu thuyết Mạc Ngôn‖ [161] khẳng định, trên cơ sở kế thừa chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
của Mĩ Latin, Mạc Ngôn đã kết hợp với những câu chuyện dân gian, lịch sử và xã hội
đƣơng đại để làm nên các tác phẩm vừa ―đầy không khí huyền bí, kì lạ, thô mộc nhƣng
thanh tao‖ vừa ―sống động màu sắc hiện thực‖ - ―một phép thuật phƣơng Đông độc đáo‖.
Đây cũng là đề tài yêu thích của các bài báo, luận án, luận văn ở Trung Quốc. Có thể kể
đến một số công trình tiêu biểu nhƣ: Phong cách hiện thực kỳ diệu trong tiểu thuyết của
Mạc Ngôn (Vƣơng Bảo Trung, Luận văn thạc sĩ, Đại học Hà Nam, 2008), ―Phân tích
phong cách hiện thực ma ảo trong Sống đọa thác đày của Mạc Ngôn‖ (Lí Thụ Xuân, Triệu
Lệ Lệ, Tạp chí Văn học trẻ , 2015), Về ảnh hưởng của G. Márquez đối với sự sáng tạo tiểu
thuyết của Mạc Ngôn (Tạ Văn Hƣng, Luận văn thạc sĩ Đại học Chiết Giang, 2015), Về biểu
hiện kì ảo của tiểu thuyết Mạc Ngôn (Lâm Ngọc, Luận văn thạc sĩ Đại học Hồ Nam,
2010)… Nhìn chung khi nói về Mạc Ngôn trong mối quan hệ so sánh với văn học thế giới,
đặc biệt là chủ nghĩa hiện thực huyền ảo phƣơng Tây và Mĩ Latin, các nhà nghiên cứu đã
chỉ ra mối liên hệ, sự tƣơng đồng và khác biệt, từ đó khẳng định: Sáng tác của Mạc Ngôn
đã hòa nhập nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại phƣơng Tây với tài nguyên văn hóa, văn học
truyền thống Trung Quốc để mở ra một không gian mới rộng lớn cho văn học Trung Quốc.
26
Tuy không nhiều và mới chỉ mang tính chất khái quát hoặc tập trung vào tác phẩm
cụ thể nhƣng các nghiên cứu về tiểu thuyết Mạc Ngôn từ góc độ truyền kì đã bàn luận đến
huyền thoại ở một số biểu hiện tiêu biểu. Có thể kể đến bài viết của Vƣơng Kim Thắng:
―Truyền kì: nguồn tự sự và đặc trƣng mĩ học trong tiểu thuyết Mạc Ngôn‖ đăng trên Tạp
chí Đường Đô (kì 1, quyển thứ 21, 2005) [133]. Từ nhận định khái quát: Tiểu thuyết Mạc
Ngôn toát lên hƣơng vị độc đáo của truyền thuyết dân gian, thấm đẫm tính truyền kì, tạo
nên một mô hình sáng tạo mới, tác giả đã chỉ ra vai trò của truyền kì trong sáng tác của
Mạc Ngôn: Truyền kì vừa là thể văn của tiểu thuyết, vừa là thủ pháp biểu hiện nghệ thuật,
lại là một hình thức sáng tạo, và cũng là phƣơng thức truyền đạt hình tƣợng văn học từ lập
trƣờng văn hóa dân gian đến tƣ tƣởng, thế giới nội tâm. Trong vai trò một thể văn, truyền kì
có thể phân thành hai loại: Tiểu thuyết ma quỉ thần tiên với lối tự sự khiến cho mọi chuyện
hiện ra trƣớc mắt nhƣ ―mắt thấy tai nghe‖ và tiểu thuyết viết về cái ―kì‖ của đời sống con
ngƣời. Là một phong cách mới lạ, truyền kì không tách rời khỏi ―cố ý làm cho lạ kì‖ (hữu ý
vi kì) trong cách thể hiện nghệ thuật. Quan niệm rằng cái ―truyền kì‖ theo đuổi chính là hai
chữ ―kì dị‖, tác giả khẳng định sự sáng tạo của Mạc Ngôn, khác biệt với tiểu thuyết bị
chính trị hóa, lịch sử hóa thời kì ông ở việc thêm vào yếu tố kì ảo, tƣởng tƣợng, lịch sử
truyền kì và những truyền thuyết dân gian; ―chủ đề kì dị mà không tầm thƣờng, cốt truyện
kì dị mà hiển thị đƣợc thế giới thực, tình tiết kì dị mà logic, bút pháp kì dị mà khéo léo, gợi
cảm hứng‖. Quan niệm này tiếp tục đƣợc khẳng định lại trong một bài viết khác của tác giả
mang tên ―Tính truyền kì và văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Mạc Ngôn‖ (Tạp chí Văn
học nghệ thuật, số 6, 2004) [132]. Kết luận của bài viết đã chỉ ra: Trong khi kế thừa tính
truyền kì, Mạc Ngôn đồng thời cũng phá vỡ phƣơng diện văn thể tiểu thuyết và hình thức
thể hiện nghệ thuật. Truyền kì đối với Mạc Ngôn là một hình thức vƣợt qua cái vốn có và
sáng tạo nên những cái mới. Quan Mai Kiện trong ―Truyền kì dân gian - Luận về quan
điểm văn học của Mạc Ngôn‖ (Bình luận tác gia đương đại, Kì 1 năm 2013) đã chỉ ra ba
yếu tố làm nên màu sắc kì ảo trong tiểu thuyết Mạc Ngôn: Các câu chuyện truyền kì dân
gian; trải nghiệm tuổi thơ ―nhiều biến cố trắc trở‖ và ―những tranh chấp đầy phức tạp của
cuộc sống hiện thực‖. Chu Hiển Bác thông qua bài viết ―Luận về hình tƣợng kì nữ dân gian
trong tiểu thuyết Mạc Ngôn‖ (Học báo học viện nữ tử Sơn Đông, kì 1- 1/2016) khẳng định
một trong những yếu tố quan trọng tạo nên tính truyền kì trong tiểu thuyết Mạc Ngôn là các
nhân vật kì nam, kì nữ dân gian ―không phải là những nhân vật ―quỉ mị tiên cô‖ nhƣ trong
Liêu Trai Chí Dị (Bồ Tùng Linh), mà là những con ngƣời bằng xƣơng bằng thịt‖, ―những
27
ngƣời đã tạo nên truyền thuyết từ cuộc đời của chính mình‖. Nhan Thủy Sinh, Đƣờng
Hồng Vệ trong ―Chủ nghĩa anh hùng trong tiểu thuyết Mạc Ngôn‖ (Học báo Học viện kĩ
thuật nghiệp vụ Ôn Châu, quyển 10 kì 2, 2010) tiếp tục khẳng định tài năng biến câu
chuyện lịch sử thành truyền kì, và ―dùng hình thức truyền kì để kể chuyện anh hùng‖
[151;68] của Mạc Ngôn. Nhờ đó mà nhân vật của ông đã vƣợt lên trên những khái niệm về
giai cấp, đảng phái, cách biệt với ý thức chính trị, trở thành ngƣời anh hùng của dân gian.
Tuy không bàn về tiểu thuyết nhƣng bài báo ―Từ tản văn xem xét sự sáng tạo truyền kì của
Mạc Ngôn (lấy ví dụ từ tản văn Bức tường biết hát)‖ (Tạp chí học viện Di Tân, kì 7, quyển
14, 2014) của Hùng Tiểu Cúc đã đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến huyền thoại, mang đến
cho chúng tôi những gợi ý thú vị. Trong bài viết của mình, tác giả cho rằng câu chuyện đầy
màu sắc truyền kì là một trong những đặc sắc quan trọng trong sáng tác của Mạc Ngôn:
―Không có truyền kì, không có Mạc Ngôn‖ [159;66]. Truyền kì trong tản văn Bức tường
biết hát đƣợc tác giả khai thác ở ba bình diện: tài năng xây dựng môi trƣờng truyền kì; sự
lựa chọn loại hình truyền kì; sức sáng tạo, tƣởng tƣợng trong truyền kì. Những biểu hiện
của truyền kì trong tản văn cũng chính là đặc điểm tiêu biểu của truyền kì trong tiểu thuyết
Mạc Ngôn. Khẳng định truyền kì dân gian là một đặc điểm nổi bật trong tiểu thuyết Mạc
Ngôn, các công trình cũng chú ý tới các yếu tố kì ảo, lạ thƣờng nhƣ một biểu hiện tiêu biểu
của truyền kì, đồng thời có những lí giải về cội nguồn của truyền kì. Đồng tình với quan
điểm của các nhà nghiên cứu Trung Quốc, tuy nhiên luận án của chúng tôi tập trung nhiều
hơn vào việc tìm hiểu truyền kì nhƣ một phƣơng thức xây dựng huyền thoại hữu hiệu và là
nét đặc trƣng nhất trong tiểu thuyết Mạc Ngôn.
Liên quan đến vấn đề huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn còn có các nghiên
cứu về carnaval. Theo đó, carnaval trở thành một thủ pháp quan trọng của nghệ thuật tự sự;
thể hiện ở các đặc trƣng tiêu biểu là không gian carnaval, nhân vật carnaval, ngôn ngữ
carnaval và thủ pháp carnaval (nghịch dị, mô phỏng, châm biếm, trào lộng). Đó là cách để
nhà văn thể hiện lập trƣờng dân gian, phá vỡ trật tự lí tính, lật đổ nguyên tắc thẩm mĩ và qui
phạm sáng tác truyền thống, chống lại luân lí đạo đức phong kiến và nền văn minh hiện đại
chứa đầy yếu tố bất công, phi lí; ―dùng cách viết huyên náo vui vẻ để viết về cái khổ nạn
trong cuộc sống hàng ngày, dùng hình thức bên ngoài đẹp đẽ để miêu tả những điều u buồn
ở cuộc sống nông thôn‖; ―dùng phƣơng thức cuồng hoan hóa để triển khai ra một thế giới
nông dân nguyên sắc ban đầu‖ [158;27]. Đây là một hƣớng bổ sung thêm cho các nghiên
cứu về huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn. Tuy nhiên, những công trình này chủ yếu
28
tập trung vào carnaval nhƣ một thủ pháp nghệ thuật đặc trƣng cho nghệ thuật tự sự, chứ
không phải nhƣ một trong những biểu hiện cho huyền thoại trong tiểu thuyết của nhà văn.
Bên cạnh các lĩnh vực nghiên cứu trên, nhiều công trình cũng chú ý đến việc lí giải
cội nguồn sáng tác nghệ thuật Mạc Ngôn mà thông qua đó, có thể thấy đƣợc ít nhiều về cội
nguồn huyền thoại. Công trình sớm nhất mang tính chất tổng hợp là cuốn Mạc Ngôn -
nghiên cứu và tư liệu của Dƣơng Dƣơng (NXB Nhân dân, Thiên Tân, 2005). Đây là cuốn
sách tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đăng tải trên các tờ
báo và tạp chí uy tín. Điểm gặp gỡ của hầu hết các bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề
huyền thoại trong cuốn sách này là sự thừa nhận yếu tố dân gian, lập trƣờng dân gian, ảnh
hƣởng của phƣơng Tây, của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mĩ Latin cùng với những trải
nghiệm cá nhân sinh động đã đƣa Mạc Ngôn trở thành một nhà văn thuộc bậc ―kì tài‖,
―quái tài‖ trong nền văn học Trung Quốc. Sau Mạc Ngôn - nghiên cứu và tư liệu, các vấn
đề đã đƣợc đề cập, đặc biệt là cội nguồn dân gian, vẫn tiếp tục đƣợc nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm. Trong luận án Sáng tác tiểu thuyết của Mạc Ngôn và truyền thống văn học dân
gian Trung Quốc (Đại học Sơn Đông, 2017), Trƣơng Tƣơng Quân từ ý tƣởng về ―bƣớc lùi
có ý thức‖ trong Đàn hương hình, đã khẳng định xu hƣớng trở về với truyền thống văn học
dân gian Trung Quốc - từ nội dung đến cấu trúc của Mạc Ngôn không chỉ là sự ảnh hƣởng
từ trong tiềm thức mà đã thiết lập thành một triết lí sáng tác. Tiêu biểu nhất là việc tận dụng
triệt để các câu chuyện dân gian ―làm tăng màu sắc huyền thoại cho tiểu thuyết‖, ―giúp thúc
đẩy sự phát triển của cốt truyện‖ và học tập nghệ thuật kể chuyện dân gian truyền thống. Lí
Hiểu Yến trong luận án Nghiên cứu về nguyên mẫu trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn (Đại
học Sƣ phạm Sơn Đông, 2016) tập trung vào vai trò của những nguyên mẫu đƣợc Mạc
Ngôn đƣa vào tác phẩm để xây dựng hình ảnh ngƣời anh hùng dân gian. Cùng với đó là
hàng loạt các nghiên cứu bàn về đặc trƣng ―hƣơng thổ‖, cội nguồn, màu sắc dân gian nhƣ
―Nghiên cứu tình cảm hƣơng thổ trong tiểu thuyết Mạc Ngôn‖ (Hoàng Chí Cƣơng, Tạp chí
Nghiên cứu Văn thể, tháng 9/2007), ―Bàn luận về lập trƣờng dân gian trong tiểu thuyết Mạc
Ngôn‖ (Tiêu Hội Sinh, Tạp chí Ân Đô học báo, kì thứ 4, 2008), ―Đi sâu nghiên cứu đặc
trƣng hƣơng thổ trong tiểu thuyết Mạc Ngôn‖ (Từ Đăng Hồng, Tạp chí Nghiên cứu Văn
nghệ, 2010), ―Đặc sắc ngôn ngữ dân gian - ngôn ngữ tiểu thuyết Mạc Ngôn‖ (Lô Văn
Bằng, Tạp chí Ngữ Văn hiện đại, 2013)...
Từ các công trình, chúng tôi thấy nổi lên các nội dung chính: sự kế thừa, ảnh hƣởng
của truyền thống dân gian; sự bùng nổ của thế giới cảm giác - khởi nguồn từ tuổi thơ đói rét
29
cùng cực; hiện thực xã hội đầy rẫy điều phức tạp, phi lí; ảnh hƣởng của văn học phƣơng
Tây nhƣ chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, tiểu thuyết dòng ý thức, chủ nghĩa tƣợng trƣng, chủ
nghĩa kết cấu; và sự sáng tạo riêng của Mạc Ngôn.
Tóm lại, trong phạm vi tài liệu tiếng Trung liên quan đến đề tài mà chúng tôi khảo
sát đƣợc, có thể nhận thấy sự gặp gỡ của các nhà nghiên cứu ở việc khẳng định sự xuất hiện
phong phú của yếu tố kì ảo, huyền diệu, mối quan hệ của yếu tố này với hiện thực và vai trò
của chúng trong tiểu thuyết Mạc Ngôn. Vấn đề này trong luận án đƣợc chúng tôi tiếp cận từ
lí thuyết về huyền thoại. ―Kì‖ trong tiểu thuyết Mạc Ngôn không chỉ là một phần biểu hiện
của huyền thoại mà còn là một phƣơng thức xây dựng huyền thoại. Bên cạnh yếu tố kì,
huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn còn là sự biến dạng hiện thực cuộc sống theo
những qui luật khác với qui luật thông thƣờng, gây nên cảm giác vừa bình thƣờng, lại vừa
phi lí, bất thƣờng; là khả năng xây dựng nên những biểu tƣợng nghệ thuật đa nghĩa; là sự
lặp lại của hàng loạt các cổ mẫu, nghi lễ huyền thoại mang tính nhân loại… Các vấn đề đó
tuy ít nhiều đã đƣợc đề cập đến nhƣng chƣa có sự nghiên cứu chuyên sâu. Trong đề tài
nghiên cứu của mình, chúng tôi sẽ cố gắng đi sâu vào những biểu hiện đặc trƣng của huyền
thoại, đồng thời chú ý đến một vấn đề chƣa đƣợc bàn luận: phƣơng thức xây dựng huyền
thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn.
1.2.2. Các nghiên cứu tiếng Anh
Với tài năng nghệ thuật độc đáo, Mạc Ngôn là một trong những tác giả Trung Quốc
đƣợc chào đón ở nhiều nƣớc trên thế giới. Nhiều nghiên cứu về Mạc Ngôn ở phƣơng Tây
đã đƣợc tiến hành từ trƣớc thời điểm ông đạt giải Nobel văn học và ngày càng phong phú
hơn sau khi ông đƣợc trao giải thƣởng. Phần lớn trong đó là các bài báo, bài giới thiệu về
tác giả, tác phẩm đƣợc đăng trên các tạp chí (nhiều tạp chí uy tín nhƣ World Literature
Today, The New York Times, The Times…). Bên cạnh đó, cũng có công trình tổng hợp các
nghiên cứu về Mạc Ngôn và công trình nghiên cứu chuyên sâu. Vấn đề huyền thoại trong
tiểu thuyết Mạc Ngôn tuy chƣa đƣợc nói đến một cách hệ thống nhƣng vẫn đƣợc khẳng
định trong những nhận định mang tính khái quát hoặc đƣợc nhận dạng nhƣ một đặc điểm
trong tác phẩm cụ thể của Mạc Ngôn.
Trƣớc hết, phải kể đến một số nghiên cứu của Kenny Kwok-kwan Ng. Xuất phát từ
luận văn Tường thuật huyền diệu, câu chuyện ngụ ngôn xã hội và tư tưởng nông dân: sự
mơ hồ của chủ nghĩa hiện thực trong tiểu thuyết Mạc Ngôn (Magical narrative, social
allegory, and peasant ideology: the problematics of realism in Mo Yan's novels, Hong
30
Kong University of Science and Technology, 1996), nhiều vấn đề liên quan đến huyền
thoại mà chúng tôi quan tâm đã đƣợc tác giả tiếp tục nói đến trong các bài nghiên cứu đăng
tải trên tạp chí nhƣ ―Hƣớng tới một cách giải thích ngụ ngôn: huyền thoại và các lớp giả
tƣởng trong Cao lương đỏ của Mạc Ngôn (―Toward an allegorical interpretation: myth and
class fantasy in Mo Yan's Red Sorghum‖, Tamkang Review (Taipei), Vol. 27, No. 3),
1997), ―Siêu tƣởng, nghi lễ ăn thịt ngƣời và phúng dụ chính trị trong Tửu Quốc của Mạc
Ngôn‖ (―Metafiction, Cannibalism, and Political Allegory: Wineland by Mo Yan‖, Journal
of Modern Literature in Chinese, vol. 1, no. 2, 1998); ―Chủ nghĩa hiện thực phê phán và tƣ
tƣởng nông dân trong Bài ca tỏi Thiên Đường của Mạc Ngôn‖ (―Critical Realism and
Peasant Ideology: The Garlic Ballads by Mo Yan‖, Chinese Culture (Taipei) , Vol. 39,
No.1, 1998)… Từ một số tác phẩm cụ thể ―có ý nghĩa biểu tƣợng cho ý thức hệ xã hội của
Trung Quốc thời kì hiện đại hóa trong tình trạng ―tiến thoái lƣỡng nan‖‖ nhƣ Cây tỏi nổi
giận, Gia tộc Cao lương đỏ, Tửu Quốc, trong các công trình của mình, Kenny Kwok-kwan
đã đi vào tìm hiểu về mối quan hệ giữa huyền thoại - lịch sử - văn bản; cố gắng để giải
thích nền tảng tƣ tƣởng, ý nghĩa biểu tƣợng và ý nghĩa văn hóa xã hội đằng sau lớp mặt nạ
của mô hình tƣờng thuật huyền thoại. Tác giả nhấn mạnh khả năng ―tạo nên huyền thoại‖
(mythmaking) của Mạc Ngôn thể hiện ở việc miêu tả một thế giới huyền ảo của những diễn
biến và những giấc mơ khác thƣờng nhƣ một sự đối lập với các sự kiện và logic của kiến
thức thông thƣờng; ở xu hƣớng giảm nhẹ chi tiết thực tế để phát minh ra một ―thế giới
khác‖. Nhà nghiên cứu cũng xem xét hình thức nghệ thuật độc đáo riêng của Mạc Ngôn
trong mối quan hệ với các kĩ thuật kể chuyện của W. Faulkner và G. Márquez… Sau cùng,
tác giả đặt ra vấn đề làm thế nào để có thể giải quyết mối quan hệ phức tạp giữa huyền
thoại và lịch sử, vì những câu chuyện huyền diệu rõ ràng vẫn có sự ―tham khảo những tài
liệu của quá khứ lịch sử‖. Tuy mới chỉ đề cập đến một số vấn đề của huyền thoại trong một
số tác phẩm cụ thể, nhƣng các nghiên cứu của Kenny Kwok-kwan cũng là một trong
những gợi ý cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu đề tài.
Cũng giống nhƣ ở Trung Quốc, nhiều nghiên cứu có xu hƣớng đặt tác phẩm của
Mạc Ngôn trong sự đối sánh với nền văn học thế giới, đặc biệt là chủ nghĩa hiện thực
huyền ảo phƣơng Tây và Mĩ Latin để chỉ ra điểm kế thừa, ảnh hƣởng cũng nhƣ những sáng
tạo của Mạc Ngôn - điều đã đƣợc Hội đồng Nobel khẳng định: ―Thông qua một hỗn hợp
tƣởng tƣợng và thực tế, ông đã tạo nên một thế giới gợi nhớ đến sự phức tạp trong các tác
phẩm của William Faulkner, Gabriel García Márquez và cội nguồn văn học dân gian và
31
văn học cổ điển Trung Quốc‖ [172]. M. Thomas Inge trong "Mạc Ngôn và William
Faulkner: ảnh hƣởng và hợp lƣu" (―Mo Yan and William Faulkner: Influences and
Confluences‖, The Faulkner Journal 6, 1990) cho rằng: Mạc Ngôn ―không chỉ đơn giản là
học tập Faulkner‖, phong cách của ông ―phức tạp nhƣ trong dòng chảy của ý thức‖, ―phản
ánh một tầm nhìn siêu thực‖ [103;18]. Điều này tiếp tục đƣợc khẳng định trong một bài báo
khác của ông mang tên ―Một phả hệ văn học: Faulkner, García Márquez và Mạc Ngôn‖
(―A Literary Genealogy: Faulkner, García Márquez, and Mo Yan‖, Moravian Journal of
Literature and Film 5, No. 1, 2014). X. Y. Wang trong ―Ảnh hƣởng của García Márquez
và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của Mạc Ngôn‖ (―García Márquez’s Impact and Mo
Yan’s Magical Realism‖, Studies in Literature and Language, Vol. 9, No. 3, 2014) đã chỉ
ra ảnh hƣởng của Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và García Márquez đối với các nhà văn
―tìm gốc‖ nhƣ Mạc Ngôn ở bốn khía cạnh. Thứ nhất: Tạo nên sự thay đổi cốt lõi trong tƣ
tƣởng về bản chất của con ngƣời: con ngƣời là yếu tố đầu tiên trong tất cả ý nghĩa văn hóa.
Thứ hai: Từ nền văn hóa Mĩ Latin, các nhà văn nhƣ Mạc Ngôn đến với trào lƣu ―root-
searching‖ - tìm gốc, mong muốn trở về với nền văn hóa truyền thống, ―thêm vào các yếu
tố tƣởng tƣợng, huyền thoại, văn học dân gian và tôn giáo truyền thống‖, giải thoát tiểu
thuyết ra khỏi khuôn khổ chính trị và luân lí đạo đức. Thứ ba: Việc xây dựng Đông Bắc
Cao Mật thành một vùng đất huyền thoại nhƣ Macondo của Márquez. Thứ tƣ: Màu sắc
―humor- đen‖ mà đối tƣợng ―cƣời ra nƣớc mắt‖ là sự bất biến của lòng tham con ngƣời, bất
chấp ảnh hƣởng của ý thức hệ. Khi bàn về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong tác phẩm
của Mạc Ngôn, X. Y. Wang khẳng định: ―Trong các tác phẩm của mình, Mạc Ngôn pha
trộn hiện thực và tƣởng tƣợng bằng việc sử dụng những huyền thoại dân tộc cổ đại, truyện
dân gian; kết hợp yếu tố phép thuật và hƣ cấu với thực tế và sự đơn giản hóa trong miêu tả‖
[118;215]. Nhờ đó, ông đã ―xây dựng chủ nghĩa hiện thực huyền ảo độc đáo của mình
mang đặc điểm phƣơng Đông với lối kể chuyện huyền ảo và khả năng hƣ cấu bí ẩn, siêu
việt‖ [118;216]. Trong ―Sự kế thừa của mất mát - tái tạo lại Chủ nghĩa hiện thực ảo giác
trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn‖ (―The Inheritance of Loss - Tracing Hallucinatory
Realism in Mo Yan’s Novels‖, English Language and Literature Studies; Vol. 5, No. 1;
2015), Văn Tĩnh Trai cho thấy ―Mạc Ngôn đã kết hợp sâu sắc cả Chủ nghĩa hiện thực
huyền ảo Mĩ Latin với tiếu thuyết đa thanh, dòng ý thức và ngôn ngữ carnaval trong văn
bản ―rực rỡ‖ của riêng ông‖ [121;127], làm nên một chủ nghĩa hiện thực huyền ảo mang ý
nghĩa quan trọng của riêng mình, của riêng Trung Hoa có phần ―vƣợt trội hơn so với Mĩ
32
Latin‖. Sự vƣợt trội này thể hiện ở hai khía cạnh: việc thể hiện dấu ấn quốc gia, dân tộc trên
văn bản, nhấn mạnh vấn đề tìm gốc hơn là hƣ cấu sự kiện, lịch sử và chiến lƣợc sáng tác
dựa trên những câu chuyện dân gian kì diệu Trung Quốc. Trong Một tiếng nói lật đổ từ
Trung Quốc - Thế giới hư cấu của Mạc Ngôn (A Subversive Voice in China: The Fictional
World of Mo Yan, Cambria Press, 2011), Shelley Wing Chan khẳng định: bên cạnh một
nhà văn tầm căn, một nhà văn hiện đại, hay một nhà văn của chủ nghĩa biểu hiện, Mạc
Ngôn cũng đƣợc coi là một nhà văn của chủ nghĩa hiện thực huyền diệu với những ―tác
phẩm không dễ dàng đóng khung‖ [94;4]. Các nghiên cứu liên quan đến chủ nghĩa hiện
thực huyền ảo trong tiểu thuyết Mạc Ngôn đã tiếp tục giúp chúng tôi khẳng định vai trò của
huyền thoại trong tiểu thuyết của ông.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu cho thấy cái nhìn khái quát về huyền thoại
trong sáng tác của Mạc Ngôn, còn có các công trình đề cập tới một số nội dung cụ thể của
huyền thoại. Chẳng hạn, các tác giả David Vƣơng Đức Vĩ với ―Thế giới văn chƣơng của
Mạc Ngôn‖ (―The Literary World of Mo Yan‖, World Literature Today, Vol. 74, No. 3,
2000); Howard Goldblatt với ―Thực phẩm bị cấm: ―Saturnicon‖ của Mạc Ngôn‖
(―Forbidden Food: “The Saturnicon” of Mo Yan”, World Literature Today, Vol.74, No. 3,
2000); Từ Tĩnh Chân, Vân Sở Thái với Một tiếng nói lật đổ từ Trung Quốc - Thế giới hư
cấu của Mạc Ngôn (A Subversive Voice in China: The Fictional World of Mo Yan,
Cambria Press, 2011)… đều quan tâm đến chủ đề ―ăn thịt ngƣời‖. Tuy nhiên, hƣớng tiếp
cận vấn đề ở đây chủ yếu là từ góc độ chính trị học, xã hội học với ý nghĩa ―giải phẫu nền
chính trị và xã hội của xã hội đƣơng đại‖ [98;481], nhằm nói lên "sự thịnh nộ và sự điên rồ
của xã hội tiêu dùng thời hiện đại‖ - một hỗn hợp méo mó những yếu tố tồi tệ nhất của hệ
thống chính trị tham nhũng và thị trƣờng tƣ bản‖ [97]; phản ánh sự hoài nghi, châm biếm
về bản tính của con ngƣời và sự lãng phí, tiêu cực trong ―xã hội tiêu dùng‖ nhƣ một biểu
tƣợng cho sự suy đồi của nền văn hóa [94]. David Vƣơng Đức Vĩ (―The Literary World of
Mo Yan‖, World Literature Today, Vol. 74, No. 3, 2000), Từ Tĩnh Chân (―Từ Phụ tính đến
Mẫu tính trong Cao lương đỏ và Báu vật của đời của Mạc Ngôn‖ (―From Fatherland to
Motherland: on Mo Yan’s Red sorghum and Big breasts and full hips‖, World Literature
Today, Vol. 74, No. 3, 2000) đều gặp nhau ở việc quan tâm đến motif ngƣời anh hùng, phụ
tính, mẫu tính, chỉ ra sự đặc biệt của Mạc Ngôn trong việc xây dựng ngƣời anh hùng bình
thƣờng, thậm chí tầm thƣờng nhƣng cũng phi thƣờng; cao cả mà vô cùng gần gũi; khiến
cho họ hiện lên ―trên một qui mô lớn hơn so với cuộc sống‖ [117;489]. Các nghiên cứu tuy
33
khẳng định nhân vật mang tính huyền thoại, song chƣa thực sự chú trọng lí giải cội nguồn
và quá trình tạo nên nhân vật huyền thoại.
Ngoài những nghiên cứu liên quan mật thiết đến đề tài luận án, chúng tôi nhận thấy
cũng cần phải kể đến công trình Mạc Ngôn trong bối cảnh: Người đạt giải Nobel và Người
kể chuyện toàn cầu (Mo Yan in Context: Nobel Laureate and Global Storyteller, Purdue
University Press, 2014) của Angelica Duran và Yuhan Huang. Đây là cuốn sách tập hợp
nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về Mạc Ngôn. Tập trung vào vấn đề so sánh
văn hóa với cái nhìn liên văn hóa và toàn cầu hóa, tuy không bàn luận nhiều về huyền thoại
nhƣng cuốn sách đã cung cấp cho chúng tôi một tầm bao quát rộng, phục vụ hữu ích cho
quá trình triển khai luận án.
Tóm lại, thông qua các nghiên cứu tiếng Anh mà chúng tôi khảo sát đƣợc, có
thể thấy Mạc Ngôn là một tác giả sớm đƣợc giới thiệu, nghiên cứu ở phƣơng Tây và
nhiều nƣớc trên thế giới. Cách tiếp cận ở các công trình này chủ yếu theo hƣớng so
sánh nhằm chỉ ra mối liên hệ của sáng tác Mạc Ngôn với nền văn học thế giới (tiêu
biểu nhất là khuynh hƣớng hiện thực huyền ảo) và những sáng tạo riêng, mang đậm
dấu ấn Trung Quốc của nhà văn. Vấn đề huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn tuy
chƣa đƣợc nghiên cứu chuyên sâu nhƣng đã có sự quan tâm nhất định. Do không
chủ đích tập trung vào vấn đề huyền thoại nên các nghiên cứu chỉ mang tính mảnh
đoạn, nhỏ lẻ, thể hiện ở một nội dung, đặc điểm trong một số tác phẩm cụ thể, chƣa
thể mang đến một cái nhìn tổng quan về huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn,
điều mà chúng tôi hƣớng tới khi thực hiện luận án này.
1.2.3. Các nghiên cứu tiếng Việt
Từ khi Cao lương đỏ, tác phẩm đầu tiên đƣợc dịch và giới thiệu tại Việt Nam xuất
hiện (2000), cho đến nay, những bài viết, công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Mạc Ngôn ở
Việt Nam ngày càng phong phú, đa dạng. Các bài giới thiệu, nghiên cứu của Lê Huy Tiêu,
Hồ Sỹ Hiệp, Nguyễn Khắc Phê, Đào Văn Lƣu, Nguyễn Thị Tịnh Thy… cùng với rất nhiều
luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp đã cung cấp cho độc giả cái nhìn nhiều chiều về tiểu
thuyết Mạc Ngôn nói riêng, sáng tác Mạc Ngôn nói chung. Tuy nhiên, phần lớn trong số đó
hoặc mang tính chất giới thiệu, điểm sách, hoặc hƣớng vào thi pháp học và tự sự học. Vấn
đề huyền thoại chủ yếu đƣợc nhận diện thông qua các nhận định mang tính khái quát hoặc
thông qua một số biểu hiện cụ thể, trong một số tác phẩm nhất định. Lê Huy Tiêu thấy ở
tiểu thuyết Mạc Ngôn khả năng tạo ra hệ thống sự kiện, nhân vật kì lạ, hấp dẫn, ―đậm đà
34
màu sắc nguyên sơ, man dại‖. Nguyễn Khắc Phê chỉ ra phép lạ mà Mạc Ngôn tạo nên ở tác
phẩm của mình ―chính là biết bày đặt ra những chuyện kì lạ ít ngƣời biết trên một cái
khung, cái nền không xa lạ. Theo cách nói chữ thì đó là phép lạ hóa, huyền thoại hóa hiện
thực‖ [63;79].
Tự sự kiểu Mạc Ngôn của Nguyễn Thị Tịnh Thy là công trình đầu tiên nghiên cứu
một cách toàn diện nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Mạc Ngôn. Đƣợc phát triển từ luận án
tiến sĩ, trong chuyên luận này, tác giả đã vận dụng hệ thống lí thuyết tự sự học, nghệ thuật
tự sự truyền thống của Trung Quốc, chỉ ra những đặc trƣng của tự sự ―kiểu Mạc Ngôn‖.
Vấn đề huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn đƣợc xem xét nhƣ là một trong những yếu
tố thuộc về sách lƣợc tự sự của tác giả, tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm. Trong chƣơng 5,
―Tổ chức kết cấu tự sự từ những gắn kết với ngƣời kể chuyện, điểm nhìn và phƣơng thức
dẫn chuyện‖, Nguyễn Thị Tịnh Thy đã chỉ ra kiểu kết cấu lồng ghép đƣợc nhìn từ đặc
trƣng ―hiếu kì‖ của tiểu thuyết Trung Quốc mà sự có mặt của truyền kì và tình tiết kì ảo với
tƣ cách là yếu tố ngoài cốt truyện, là thành phần xen ―ngoài việc mở rộng biên độ sự kiện,
văn hóa cho tác phẩm, ―dẫn dắt ngƣời đọc vào những ma trận tự sự với một sức cuốn hút
ảo diệu‖ [79;165]. Trong Chƣơng 6, tác giả quan tâm đến vai trò của nhãn quan kì ảo trong
việc ―thống lĩnh ngôn ngữ miêu tả khiến lời kể chuyện nhƣ đƣợc dày thêm, tròn đầy bởi
chất cảm giác và chất huyền thoại đan quyện trong từng biểu hiện tế vi nhất của thế giới
nghệ thuật tác phẩm‖ [79;204]. Nhãn quan kì ảo này đƣợc tìm hiểu ở hai khía cạnh: kì ảo
hóa ngôn ngữ miêu tả cảm giác và huyền thoại hóa ngôn ngữ miêu tả biểu tƣợng. Cùng với
đó, tác giả cũng tiến hành giải mã huyền thoại thông qua một số biểu tƣợng lớn của tiểu
thuyết Mạc Ngôn nhƣ cao lƣơng, bầu vú, ngọc trai, rƣợu, thịt, Miêu xoang, tiếng ếch, phấn.
Tính đến thời điểm hiện tại, đây là công trình nghiên cứu có qui mô lớn về tiểu thuyết Mạc
Ngôn, nhƣng do phạm vi nghiên cứu của tác giả là nghệ thuật tự sự nên huyền thoại và
phƣơng thức huyền thoại hóa chỉ đƣợc nhắc đến với tƣ cách là một trong những yếu tố góp
phần tạo nên phong cách ―tự sự kiểu Mạc Ngôn‖. Nói về huyền thoại nhƣng hƣớng tới tự
sự nên mới chỉ đƣợc đề cập đến trong vai trò một yếu tố tham gia vào việc kết cấu, tổ chức
cốt truyện, kì ảo hóa, huyền thoại hóa ngôn ngữ. Tuy vậy, những nghiên cứu này của
Nguyễn Thị Tịnh Thy đặc biệt là việc nhìn nhận huyền thoại nhƣ một phƣơng thức nghệ
thuật là một trong những gợi ý để chúng tôi đi vào tìm hiểu về huyền thoại trong tiểu thuyết
của Mạc Ngôn.
Gần đây nhất là luận án tiến sĩ Tiểu thuyết Mạc Ngôn từ góc nhìn liên văn hóa của
35
Tạ Thị Thủy (Trƣờng ĐHSP Hà Nội, 2016). Nghiên cứu Mạc Ngôn từ góc nhìn văn hóa,
tác giả đã chỉ ra biểu hiện của tính liên văn hóa trong tiểu thuyết Mạc Ngôn ở hai khía cạnh
quan trọng là biểu tƣợng và nhân vật. Vấn đề biểu tƣợng trong tiểu thuyết Mạc Ngôn đã
đƣợc đông đảo nhà nghiên cứu thừa nhận và nghiên cứu, tuy nhiên, có thể nói, đây là công
trình dụng công hơn cả trong việc phân tích các biểu tƣợng tiêu biểu (cao lƣơng, bầu vú,
ếch, giấc mơ) trong một phạm vi rộng (bao gồm chín tiểu thuyết). Một số kiểu nhân vật liên
văn hóa tiêu biểu đƣợc kể đến là nhân vật kì tài, nhân vật anh hùng, nhân vật hóa thân, đội
lốt và nhân vật ngƣời phụ nữ vừa nhuốm màu liêu trai, huyền hoặc, kì ảo, vừa mang dáng
dấp của nhân vật hiện đại cả về tƣ duy, suy nghĩ và hành động.
Tóm lại, đến với độc giả Việt Nam từ đầu những năm 2000, các tác phẩm của Mạc
Ngôn đã tạo nên một ―cơn sốt sách‖, kèm theo đó là khối lƣợng phong phú công trình
nghiên cứu về tác giả và tác phẩm. Hƣớng nghiên cứu Mạc Ngôn phổ biến ở Việt Nam,
nằm trong xu hƣớng chung của Trung Quốc và thế giới là về thi pháp học và tự sự học.
Vấn đề huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn đã đƣợc lƣu tâm, tuy nhiên mới chỉ hoặc
thấp thoáng trong các nhận định, nghiên cứu, hoặc tập trung vào một số yếu tố cụ thể (nhƣ
một số biểu tƣợng, yếu tố kì ảo), trong một số tác phẩm nhất định mà chƣa có công trình
nghiên cứu mang tính bao quát và chuyên sâu. Trên cơ sở kế thừa những thành tựu đi
trƣớc, luận án của chúng tôi sẽ tiếp tục khám phá sâu hơn về vấn đề này.
36
Tiểu kết chƣơng 1
Huyền thoại là một thuật ngữ xuất hiện từ thời xa xƣa, có nội dung không ngừng thay
đổi, mang hàm nghĩa rộng và dễ gây tranh luận. Trong khi tìm hiểu về huyền thoại từ các
lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là lĩnh vực văn học, chúng tôi đã mạnh dạn đƣa ra cách hiểu
của mình về huyền thoại. Với quan niệm về hai dạng huyền thoại (huyền thoại cổ đại và
huyền thoại hậu cổ đại) và việc đặt huyền thoại không chỉ trong mối quan hệ nội tại của tác
phẩm mà còn với vấn đề tiếp nhận, chúng tôi hi vọng sẽ mang đến cái nhìn tƣờng minh,
đầy đủ hơn về huyền thoại, từ đó làm căn cứ cho việc nghiên cứu vấn đề huyền thoại trong
tiểu thuyết Mạc Ngôn.
Huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, hoặc ít, hoặc
nhiều đã đƣợc giới nghiên cứu Trung Quốc và thế giới, trong đó có Việt Nam đề cập tới.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu nhìn chung vẫn dừng lại ở phạm vi hẹp (trong một tác phẩm cụ
thể hay một phƣơng diện nào đó của huyền thoại). Các vấn đề liên quan đƣợc tìm hiểu gần
nhƣ riêng lẻ, phục vụ cho một hƣớng nghiên cứu cụ thể mà chƣa có cái nhìn bao quát. Trên
cơ sở kế thừa có chọn lọc các công trình đi trƣớc, trong luận án này, chúng tôi cố gắng xây
dựng một cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề huyền thoại trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn,
không chỉ ở việc lấp đầy theo nội hàm khái niệm huyền thoại (nhƣ chúng tôi đã trình bày),
mà còn bao quát toàn bộ tiểu thuyết Mạc Ngôn; lí giải về cội nguồn của huyền thoại trong
sáng tác của ông; tìm ra các dạng huyền thoại tiêu biểu cũng nhƣ phƣơng thức xây dựng
huyền thoại. Luận án cũng kì vọng sẽ mang đến một hƣớng tiếp cận mới thú vị và có ý
nghĩa khoa học, góp phần vào việc nghiên cứu Mạc Ngôn nói riêng và văn học Trung
Quốc nói chung.
37
CHƢƠNG 2
CỘI NGUỒN HUYỀN THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN
―Bông hoa càng vƣơn cao về phía mặt trời thì rễ của nó càng ăn sâu vào lòng
đất‖ (F. Grim). Gốc rễ đã hút nƣớc và chất dinh dƣỡng cần thiết để cung cấp cho cây
phát triển, bởi vậy việc dành cho nó một vị trí quan trọng với thái độ trân trọng là
điều cần thiết. Huyền thoại đã có một lịch sử lâu dài từ thời cổ đại đến nay nhƣng
bản thân cách hiểu về nó còn nhiều phức tạp, nên việc tìm hiểu về huyền thoại trong
sáng tác của một tác gia cụ thể không thể tách rời cội nguồn sản sinh ra nó - vừa
mang tính nhân loại, lại vừa mang tính cá biệt. Để chứng minh việc chỉ ra các huyền
thoại và phƣơng thức xây dựng huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn là có cơ sở,
không mang tính võ đoán, chúng tôi tiến hành tìm hiểu về cội nguồn huyền thoại
trong tiểu thuyết của ông ở cả hai phƣơng diện khách quan và chủ quan. Từ đây,
chúng tôi nhận thấy, huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn nằm trong mạch nguồn
huyền thoại chƣa bao giờ đứt đoạn của lịch sử nhân loại nói chung, của văn học nói
riêng mà cao trào là quá trình ―tái huyền thoại‖ trong văn học thế kỉ XX, đồng thời
kế thừa truyền thống hiếu kì trong văn học Trung Quốc. Những trải nghiệm và quan
niệm riêng cũng góp phần làm nên một thế giới huyền thoại phong phú trong tiểu
thuyết của ông.
2.1. Huyền thoại trong văn học và cao trào “tái huyền thoại” trong văn học thế kỉ XX
Huyền thoại là hiện tƣợng trung tâm trong lịch sử văn hóa, mô hình đầu tiên của
mọi hệ tƣ tƣởng, cái nôi nguyên hợp của các loại hình văn hóa khác nhau, trong đó có văn
học. Nhƣ vậy có nghĩa là ngay từ khi sinh thành, huyền thoại và văn học đã có mối quan hệ
khăng khít với nhau. Trải qua lịch sử phát triển lâu dài, huyền thoại vẫn tiếp tục đƣợc bảo
lƣu trong văn học, vừa mang tính truyền thống, lại vừa có sự cách tân. Hình thức bảo lƣu
huyền thoại trong văn học đầu tiên là thần thoại. Truyện cổ tích, sử thi cổ đại thoát thai từ
huyền thoại. Tuy nhiên, đồng thời với việc tiến hành bảo lƣu huyền thoại, truyện cổ tích và
sử thi cũng đã có những bƣớc ―vƣợt qua huyền thoại‖, nên ―cùng với việc trực tiếp quay về
các huyền thoại cổ đại, truyền thống huyền thoại còn thƣờng xuyên đƣợc văn học viết tiếp
thu qua các kênh này‖ [44;378]. Văn học thời trung cổ bị chi phối bởi các huyền thoại tôn
giáo (huyền thoại Ki Tô giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Hồi giáo - do sự độc quyền của tôn
38
giáo), huyền thoại cổ đại bị đẩy ra vùng ngoại biên nhƣng vẫn đƣợc tiếp nhận theo lối
huyền sử hoặc ẩn dụ. Thời Phục hƣng, với xu hƣớng lấy con ngƣời làm trung tâm, thiên về
nguyên tắc lịch sử và tính chất phê phán trong tƣ duy, sự dịch chuyển chú ý sang thực tại đã
tạo ra tiền đề cho giải huyền thoại hóa. Tuy nhiên, dẫu có dịch chuyển đề tài thì huyền thoại
vẫn là một phần máu thịt của văn hóa, là thuộc tính phổ biến chung của văn học. Thế kỉ XV
- XVII, cội nguồn của huyền thoại là các hình tƣợng và motif của huyền thoại cổ đại và
huyền thoại trong Kinh Thánh. Thế kỉ XVIII, đặc biệt là thế kỉ XIX và một phần thế kỉ XX,
mối quan hệ của văn học và huyền thoại ở mức độ nhất định liên quan đến chủ nghĩa hiện
thực và chủ nghĩa lãng mạn. Tuy mang sự định hƣớng một cách có ý thức vào việc phản
ánh hiện thực trong những hình thức tƣơng hợp với đời sống, phủ định huyền thoại, nhƣng
chủ nghĩa hiện thực cũng không thể tách rời khỏi ―hơi ấm‖ của huyền thoại, bởi nói nhƣ E.
M. Meletinsky: ―Trong quá trình tiến hóa, sự thay thế một loại mô típ bằng những mô típ
khác khi cấu trúc còn khá bền vững sẽ dẫn đến những mô típ thay thế thƣờng bảo lƣu chức
năng của những mô típ bị thay thế‖ [44;386]. Đó chính là lí do mà trong cố gắng xây dựng
một Robinson (Robinson Crusoe) gắn với chủ nghĩa hiện thực đời thƣờng, D. Defoe cũng
đồng thời gợi nhớ đến hình ảnh ngƣời anh hùng văn hóa của huyền thoại mà cuộc phiêu
lƣu của nhân vật giống nhƣ những nghi lễ thụ pháp nguyên thủy, để trở nên dũng cảm hơn,
trƣởng thành hơn. Sự tƣơng phản trong sáng tác của Gogol (giữa một vùng Tiểu Nga huyền
ảo, hồn nhiên tỉnh lẻ với một Peterburg quan trƣờng, lạnh lẽo) chính là sự tƣơng phản Nam
- Bắc mang tính truyền thống - ẩn dụ đặc trƣng cho mô hình thế giới huyền thoại. Không
phủ định, thậm chí còn có một thái độ nhiệt thành đối với huyền thoại, các nhà lãng mạn
dùng huyền thoại để tạo ra không khí huyền bí, lạ lùng, kì diệu, siêu việt, đối lập với hiện
thực cuộc sống. Đôi khi, những cố gắng đó mang đến tính chất của một sự sáng tạo thi
pháp huyền thoại độc lập mà E. T. A. Hofman là một ví dụ tiêu biểu. Với những kinh
nghiệm huyền thoại hóa thứ văn chƣơng đời thƣờng, huyền thoại trong sáng tác của E. T.
A. Hofman có sự thẩm thấu tối đa giữa cái huyền ảo với cái đời thƣờng, mang đến cho cái
đời thƣờng màu sắc huyễn tƣởng, kì ảo, đồng thời cái kì ảo cũng đƣợc thể hiện dƣới dạng
hài hƣớc, dung tục. E. T. A. Hofman đƣợc coi là một trong những mắt xích quan trọng dẫn
đến chủ nghĩa huyền thoại trong tiểu thuyết thế kỉ XX.
Quá trình tái huyền thoại hóa đã diễn ra trong suốt tiến trình lịch sử văn học nhƣng
cao trào của nó là thế kỉ XX, một thế kỉ mà cùng với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật
39
diễn ra nhƣ vũ bão là sự khủng hoảng của nền văn hóa, gây nên tâm trạng thất vọng trong
chủ nghĩa duy lí thực chứng và chủ nghĩa tiến hóa, trong quan niệm tự do về tiến bộ xã hội
và thái độ hoài nghi, hƣ vô đối với lịch sử và cuộc sống. Giai đoạn này đã đƣợc E. M.
Meletinsky gọi tên là ―chủ nghĩa huyền thoại‖. Đặc trƣng của quá trình ―phục hƣng‖ mạnh
mẽ này không phải là sự tụng ca huyền thoại, mà là sự ―thừa nhận huyền thoại nhƣ một
nhân tố sống động vĩnh cửu vẫn thực hiện chức năng thực tiễn cả trong xã hội hiện đại‖;
―sự tách biệt trong bản thân huyền thoại mối quan hệ của nó với nghi lễ và quan niệm về sự
lặp lại vĩnh cửu‖; ―sự xích lại gần nhau, thậm chí đồng nhất huyền thoại - nghi lễ với hệ tƣ
tƣởng và tâm lí học cũng nhƣ với nghệ thuật‖ [44;24]. Chính vì vậy mà một đặc điểm rất
quan trọng của ―chủ nghĩa huyền thoại mới‖ thế kỉ XX là mối quan hệ chặt chẽ của nó với
tâm lí học phổ quát của tiềm thức (của giấc mơ, vô thức, dòng ý thức…). Sự xuất hiện của
hàng loạt các tên tuổi tiêu biểu sáng tác theo khuynh hƣớng huyền thoại nhƣ J. Joyce, Th.
Mann, W. Faulkner, G. Márquez, M. A. Asturias, F. Kafka, T. S. Eliot, W. B. Yeats, J.
Anouih, C. Claudel,… là minh chứng rõ nét cho điều đó. Sự bảo lƣu của truyền thống
huyền thoại qua thời gian đã chứng tỏ sức sống vĩnh cửu của nó, đồng thời cũng chỉ ra một
thực tế: huyền thoại là một vấn đề mang tầm nghĩa rộng (không chỉ trong ý nghĩa văn học
mà còn trong lịch sử, triết học, văn hóa, tôn giáo…), đóng vai trò là một yếu tố ảnh hƣởng,
tác động xuyên suốt đến các sáng tác văn học mọi thời kì hơn là gọi tên thành một trào lƣu,
một trƣờng phái hay một chủ nghĩa văn học với những cƣơng lĩnh nghệ thuật riêng, những
quan điểm cấu trúc thẩm mĩ thống nhất. Ngay cả khi E. M. Meletinsky nói về một ―chủ
nghĩa huyền thoại‖ trong thế kỉ XX, thì trên thực tế, nó cũng là cụm từ để chỉ tập hợp các
sáng tác theo khuynh hƣớng huyền thoại của các nhà văn thuộc các trƣờng phái khác nhau
mà thôi. Có thể thấy rất rõ điều này trong thực tế văn học thế kỉ XX: cao trào của quá trình
tái huyền thoại hóa đồng thời cũng là giai đoạn nở rộ của các dòng văn học, chủ nghĩa văn
học có mối quan hệ mật thiết với huyền thoại mà tiêu biểu nhất là Chủ nghĩa hiện thực
huyền ảo và dòng văn học phi lí. Các sáng tác hiện thực huyền ảo xuất hiện từ rất sớm và
không ngừng lan tỏa ra toàn thế giới, gắn bó mật thiết với những huyền thoại cổ xƣa của
ngƣời da đỏ Mĩ Latin, ngƣời da đen châu Phi, ngƣời da trắng châu Âu. Tuy nhiên, với thời
đại hoàng kim ở văn chƣơng Mĩ Latin vào nửa sau thế kỷ XX, chủ nghĩa hiện thực huyền
ảo cơ bản đƣợc xem là khuynh hƣớng văn học tiêu biểu Mĩ Latin. Trong thế giới thẩm mĩ
của văn học hiện thực huyền ảo thì ―những điều không có thực đƣợc đối xử nhƣ điều có
40
thực và bình thƣờng, ngƣợc lại‖; cốt truyện thƣờng đƣợc xây dựng dựa trên những trải
nghiệm thực, ―lại đƣợc kết cấu đan xen những điều kì lạ, hoang đƣờng, những yếu tố huyền
thoại, những nhân vật thần thoại, những bối cảnh dị thƣờng và những nhân vật, trông có vẻ
hợp lí, có thể xuất phát từ thế giới siêu thực, kết hợp với sự thực, với sự hƣ cấu tƣởng
tƣợng,…theo cách khó có thể chỉ ra đâu là thực và đâu là không thực‖ [10;33]. Cùng với
Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, Văn học phi lí là một hiện tƣợng văn học độc đáo của thế kỉ
XX. Đây là kết quả của cuộc khủng hoảng về nhiều mặt, một sự phản ứng của thời đại lịch
sử gắn với các tên tuổi nổi tiếng nhƣ F. Kafka, A. Camus, E. Ionesco, S. Beckett. Văn học
phi lí ―có nhiệm vụ nhận thức và mô tả cái hiện thực vô nghĩa, phi logic, phi lí tính, trái với
năng lực nhận thức của con ngƣời‖ [15;23] trong nội dung và hình thức nghệ thuật hết sức
độc đáo, mới mẻ. Ngƣời mở đƣờng cho loại hình văn học này là F. Kafka. Thông qua việc
tái tạo lại hiện thực bằng một thực tại có tính chất phi lí, siêu tƣởng, F. Kafka đã mang đến
những sự cải biến siêu tƣởng về thế giới đời thƣờng, khiến chúng trở nên biến dạng, kì
quái. Có thể nói, F. Kafka với những sáng tạo nghệ thuật đặc biệt của mình, đã xây dựng
nên huyền thoại về cái phi lí, trở thành một đại diện tiêu biểu cho dòng văn học phi lí.
Nói tất cả những điều trên, chúng tôi nhằm khẳng định: sự tồn tại của huyền thoại
trong mối quan hệ khăng khít với văn học trong tiến trình lịch sử văn học nhân loại là một
điều hiển nhiên (và có lẽ là vĩnh cửu, bởi khoa học và logic có phát triển đến đâu chăng nữa
thì những câu hỏi mang tính chất siêu hình nhƣ bí ẩn của sự sống và cái chết, số phận,…
vẫn là một vùng ngoại vi khó có thể lí giải một cách tận cùng). Là một nhà văn Trung Quốc
đƣơng đại, mang trong mình truyền thống phƣơng Đông, lại chịu ảnh hƣởng từ nhiều nhà
văn thuộc các trào lƣu sáng tác, dòng văn học mang đậm âm hƣởng huyền thoại, sự xuất
hiện của huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn mang tính tất yếu. Đó không chỉ là sự
xuất hiện nằm trong ―vô thức tập thể‖ theo cách nói của C. Jung (nhƣ chúng tôi đã nói đến
ở trên về con đƣờng đi của huyền thoại từ thời cổ đại đến nay) mà còn là sự tiếp thu một
cách có ý thức của nhà văn. Trong nhiều lần nói chuyện, trả lời phỏng vấn, trong các bài tạp
văn, bàn luận về văn học…, Mạc Ngôn đã không ngần ngại thừa nhận: ―Tôi đã bị ảnh
hƣởng sâu sắc bởi một số nhà văn phƣơng Tây, và rất hạnh phúc khi công khai thừa nhận
ảnh hƣởng đó… Trong tâm trí của tôi, bằng cách đọc các tác phẩm của ngƣời khác, một
nhà văn thực sự tham gia vào một cuộc đối thoại‖, trong đó ―nếu có sự gặp gỡ về tâm hồn,
một tình bạn suốt đời đƣợc sinh ra; nếu không, cũng là một cuộc chia tay thân thiện‖
41
[111;xv-xvi]. ―Nhà văn phƣơng Tây‖ đƣợc Mạc Ngôn nhắc đến nhiều nhất ở đây chính là
W. Faulkner và G. Márquez - những nhà văn có phƣơng thức, kĩ thuật sáng tác mang đậm
màu sắc của huyền thoại hiện đại.
W. Faulkner là một những tác giả tiêu biểu của văn học dòng ý thức đƣợc khởi
nguồn từ M. Proust, J. Joyce. Chính W. Faulkner đã là ngƣời mang đến cho Mạc Ngôn
nhiều gợi ý quan trọng trong sáng tác. Đầu tiên là sự gợi ý về khả năng của nhà văn ―không
chỉ có thể hƣ cấu ra nhân vật, hƣ cấu ra câu chuyện mà còn có thể hƣ cấu ra địa lí‖ [61;90].
Quận Yoknapatawpha của W. Faulkner đã mang đến cho Mạc Ngôn ý tƣởng xây dựng
vùng Đông Bắc Cao Mật quê hƣơng ông thành ―một nƣớc cộng hòa văn học do tôi sáng
lập ra, và tôi chính là quốc vƣơng của vƣơng quốc ấy‖ [61;93]. Quan trọng hơn cả, đó là ý
tƣởng về việc sử dụng một cộng đồng duy nhất nhƣ là một mô hình thu nhỏ thông qua đó
để xem xét toàn bộ xã hội. Từ đây, Đông Bắc Cao Mật đã không còn là một khái niệm địa
lí mà trở thành một ―khái niệm văn học‖, một ―hình ảnh thu nhỏ của Trung Quốc‖, một mô
hình thế giới nói chung có thể mang trong mình niềm vui và nỗi đau của toàn nhân loại -
một không gian huyền thoại mang tính biểu tƣợng sâu sắc. Nét tƣơng đồng về gia cảnh và
những trải nghiệm trong cuộc sống cũng nhƣ văn chƣơng của W. Faulkner, vƣợt qua
không - thời gian, đã mang đến cho Mạc Ngôn sự đồng cảm, sẻ chia và động viên sâu sắc.
Không chỉ mang đến ý tƣởng về một vƣơng quốc văn học riêng, những kĩ thuật của tiểu
thuyết dòng ý thức (đặc biệt là cuốn tiểu thuyết thành công nhất Âm thanh và cuồng nộ) của
W. Faulkner cũng đã ảnh hƣởng ít nhiều đến sáng tác của Mạc Ngôn. Với sự quan tâm đặc
biệt đến đời sống nội tâm, những bí ẩn trong thế giới tiềm thức, vô thức của con ngƣời, việc
phá vỡ kết cấu thông thƣờng, sự xáo trộn thời gian, không gian, tiểu thuyết dòng ý thức đã
tạo nên những ―tác phẩm bất hủ‖, miêu tả sâu sắc ―xung đột giữa linh hồn và thể xác‖
[173]. Dòng chảy ý thức bất tận ấy, chúng ta có thể bắt gặp trong nhiều nhân vật của Mạc
Ngôn nhƣ Kim Đồng (Báu vật của đời), Lâm Lam, ―tôi‖ (Rừng xanh lá đỏ), La Tiểu
Thông (Tứ thập nhất pháo), Tôn Mi Nƣơng, Triệu Giáp, Tiền Đinh (Đàn hương hình), Lí
Ngọc Thiền, Phƣơng Phú Quí, Trƣơng Xích Cầu, thầy giáo trong lồng sắt (Thập tam bộ),
Đinh Câu (Tửu Quốc)… Đặc biệt trong tiểu thuyết Mạc Ngôn cũng có sự phá vỡ cấu trúc
trần thuật truyền thống, sự xáo trộn các bình diện thời gian. Với sự đa dạng hóa ngƣời kể
chuyện, điểm nhìn và sự di chuyển điểm nhìn linh hoạt, Mạc Ngôn đã miêu tả dòng ý thức
của các nhân vật lúc đan xen, lúc hòa quyện vào nhau đầy ấn tƣợng.
42
Tên tuổi của G. Márquez gắn liền với Chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo. Vì vậy, nói
đến những ảnh hƣởng của nhà văn này đến Mạc Ngôn cũng có nghĩa là nói đến ảnh hƣởng
của Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo nói chung đến sáng tác của ông. Tuy nhiên, để có thể có
một cái nhìn chính xác, cần phải đặt sự ảnh hƣởng này trong mối quan hệ với Tiểu thuyết
tầm căn Trung Quốc. Ra đời vào khoảng những năm 80 của thế kỷ XX, cùng với sự du
nhập ồ ạt của nền văn hóa và văn học thế giới vào Trung Quốc thời kì sau cách mạng văn
hóa, Tiểu thuyết tầm căn chịu ảnh hƣởng của Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mĩ La Tinh ở
thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu nhƣ sự kết hợp kì diệu giữa miêu tả thần kì với phản ánh hiện
thực; xóa nhòa ranh giới giữa hiện thực với phi hiện thực; phá bỏ ranh giới về không - thời
gian trong một thế giới đầy biểu tƣợng, ẩn dụ, ám thị… Ảnh hƣởng đó xuất phát từ chính
sự tƣơng đồng vốn có trong truyền thống văn học hiếu kì của Trung Quốc. Có mối liên hệ
với G. Márquez và Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, nhƣng cái khác biệt của Mạc Ngôn là sự
nhấn mạnh đến việc ―tìm gốc‖ hơn là hƣ cấu sự kiện lịch sử, nhấn mạnh đến ―ý thức sinh
mệnh‖ bao gồm cả những thể nghiệm sinh mệnh về mặt bản năng và nhận thức sinh mệnh
một cách siêu nghiệm. Việc hƣớng ngòi bút về quê hƣơng, truyền thống văn học, huyền
thoại gốc cổ xƣa, lịch sử quê hƣơng và gia đình, những kí ức và vết thƣơng dân tộc, là minh
chứng rõ ràng cho sự sáng tạo khác biệt này. Nhƣ vậy, tiếp thu ảnh hƣởng của Chủ nghĩa
hiện thực huyền ảo, nhƣng sáng tác của Mạc Ngôn vẫn mang màu sắc riêng. Ý thức ―tìm
gốc‖ của Mạc Ngôn đƣợc thể hiện ở việc xây dựng nên những tình tiết kì ảo từ chất liệu
dân gian và văn hóa truyền thống Trung Hoa, làm sống dậy một thứ ―sinh mệnh dân gian
truyền thống‖. Nếu nhƣ G. Márquez đan cài giữa yếu tố hiện thực và hoang đƣờng, tự
nhiên và siêu nhiên, bình thƣờng và phi thƣờng tạo nên một không gian hiện thực - huyền
ảo khó phân định, phi lí nhƣng đƣợc chấp nhận nhƣ một hiện thực hiển nhiên (giống F.
Kafka); thì ở tiểu thuyết Mạc Ngôn, bên cạnh kiểu không gian nhƣ thế (không gian của Tửu
Quốc, Tổ tiên có màng chân) còn là kiểu không gian đƣợc tách biệt giữa thực - ảo, mang
đậm dấu ấn quan niệm về kì ảo của văn hóa Trung Quốc nói riêng, phƣơng Đông nói
chung. Trong Sống đọa thác đày, nhà văn không có ý định xóa nhòa đƣờng ranh giới giữa
thực và ảo, dƣơng gian và âm phủ mà đặt chúng song song cạnh nhau. Cách làm ấy có
phần giống với những câu chuyện liêu trai của Bồ Tùng Linh.
Tìm hiểu ảnh hƣởng của phƣơng Tây thông qua hai tác giả cụ thể là W. Faulkner và
G. Márquez, chúng tôi nhằm khẳng định: Đối với một nhà văn, những ―cuộc đối thoại‖
43
trong văn học nhƣ Mạc Ngôn từng nói luôn luôn diễn ra, theo nhiều cách khác nhau. Bên
cạnh hai tác giả trên, chúng ta còn có thể thấy trong tiểu thuyết Mạc Ngôn dấu vết trào lƣu
―Tân cảm giác‖ của chủ nghĩa hiện đại phƣơng Tây và Nhật Bản những năm 20, 30 của thế
kỷ XX; ảnh hƣởng học thuyết Phân tâm học của S. Freud, C. Jung, Nhân loại học của J. G.
Frazer; lí thuyết về Carnaval và tiểu thuyết đa thanh của M. Bakhtin... Mạc Ngôn nói nhiều
đến W. Faulkner và G. Márquez bởi đó là hai ―cuộc đối thoại‖ tiêu biểu có sự tác động lớn
nhất đến sự nghiệp văn học của ông, tạo nên ―cuộc gặp gỡ của tâm hồn‖, nảy sinh ra ―tình
bạn suốt đời‖ (Nhƣng cũng cần phải nói rõ rằng đó là cuộc gặp gỡ mang tính chất khơi gợi
kiểu ―nhân vật truyền cảm hứng‖ nên ông không bị ―mất đi tiếng nói‖ sau những cuộc ―đối
thoại‖). Còn chúng tôi tập trung vào tìm hiểu ảnh hƣởng của hai tác giả này đến Mạc Ngôn
vì đó không chỉ là hai tác giả cụ thể mà còn là đại diện cho trào lƣu, khuynh hƣớng sáng tác
tiêu biểu, có ảnh hƣởng sâu sắc hơn cả đến thế giới huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc
Ngôn. Giống nhƣ việc G. Márquez gọi E. Hemingway, W. Faulkner là thầy và bật dậy khỏi
giƣờng khi đọc những dòng đầu tiên truyện ngắn Biến dạng của F. Kafka, tự nhủ ―mình đã
không biết ngƣời ta đƣợc phép viết kiểu văn nhƣ thế. Nếu biết trƣớc thì tôi đã viết từ lâu
rồi‖ [10;104], Mạc Ngôn cũng nói tiểu thuyết của W. Faulkner và G. Márquez đã khiến cho
ông ―sực tỉnh‖: ―Thì ra tiểu thuyết cũng có thể nói nhăng nói cuội nhƣ thế, thì ra những
chuyện nhỏ nhặt nhất ở nông thôn cũng có thể đƣờng hoàng viết thành tiểu thuyết‖ [58;89].
Cách nói của Mạc Ngôn ám chỉ sâu sắc sự gợi mở về tƣ duy sáng tác, sự vƣợt thoát ra khỏi
những khuôn mẫu và định kiến có sẵn: ―Tác phẩm của các nhà văn phƣơng Tây đã mở
rộng luồng tƣ duy của tôi, khiến tôi ý thức đƣợc rằng, một nhà văn không nên chịu sự trói
buộc của những qui định đơn thuần‖ [61;362]. Nhà văn ―không cố ý bắt chƣớc cách kể
chuyện của các nhà văn nƣớc ngoài mà đi sâu nghiên cứu nội hàm trong tác phẩm của họ,
tìm hiểu phƣơng thức sống của họ và cách nhìn nhận của họ đối với ngƣời và thế giới‖
[61;108]. Từ sự tham khảo và kế thừa có chọn lọc, cùng với ―vốn riêng‖, Mạc Ngôn cuối
cùng đã hình thành phong cách nghệ thuật hiện đại của mình, hợp nhất với truyền thống
văn học Trung Quốc để trở thành một nhà văn lớn trên văn đàn thế giới.
2.2. Văn hóa dân gian và truyền thống hiếu kì trong văn học Trung Quốc
Sáng tác của Mạc Ngôn phản ánh sự trở về với một nền văn hóa dân gian truyền
thống Trung Quốc mang đậm màu sắc kì ảo, huyền thoại.
Cũng giống nhƣ bất kì dân tộc nào trên thế giới, huyền thoại trong văn học
44
Trung Quốc bắt đầu với những trang thần thoại. Hình thành trên một vùng đất đai
rộng lớn, với những nền văn hóa của các nhóm dân tộc lớn, lại không có ngƣời
chỉnh lí, sƣu tầm sớm nên thần thoại Trung Quốc không hình thành một hệ thống
hoàn chỉnh các vị thần nhƣ trong thần thoại Hi Lạp mà tƣơng đối rời rạc. Về cơ bản,
thần thoại Trung Quốc vẫn là những câu chuyện nhằm giải thích về các hiện tƣợng
tự nhiên và con ngƣời, nhƣ sự hình thành vũ trụ từ cõi hỗn mang, sự phân chia trời
đất, sự sáng tạo ra vạn vật trong đó có con ngƣời, nạn đại hồng thủy, cuộc chiến
chống lại quái vật, thế lực của cõi âm… Tuy vậy, nó vẫn mang những nét đặc trƣng
riêng biệt. Nếu nhƣ trong thần thoại Hi Lạp, thế giới các vị thần có sự ngăn cách với
con ngƣời (thế giới thần linh về cơ bản là của chƣ thần, loài ngƣời ít có cơ hội để trở
thành thần linh (hiếm hoi là trƣờng hợp của Hercules), mặc dù họ giống nhau về
tƣớng mạo) thì ở thần thoại Trung Quốc, ranh giới giữa ngƣời và thần không đƣợc
phân định rõ ràng, thần linh và con ngƣời có thể đổi chỗ cho nhau nhƣ trƣờng hợp
của năm vị Thiên đế cai quản vũ trụ (Phục Hi, Viêm Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc,
Hoàng Đế) đồng thời là ―ngũ đế‖ - năm vị vua thời viễn cổ đƣợc truyền thuyết lịch
sử ghi nhận. Phục Hi, Nữ Oa, Thần Nông (Viêm Đế) cũng đƣợc xem nhƣ những vị
vua của loài ngƣời từ trƣớc đó, gọi là ―Tam Hoàng‖. Có lẽ đây cũng chính là một
trong những nguyên nhân để E. M. Meletinsky khi đi vào so sánh thần thoại của các
dân tộc trên thế giới cho rằng: Nét đặc trƣng của thần thoại Trung Quốc ―là việc lịch
sử hóa nó, xem xét các nhân vật thần thoại (ví dụ nhƣ nhân vật huyền thoại Nghiêu)
nhƣ những nhà cầm quyền lịch sử của thời kì tối cổ, đồng thời có sự hiện diện của
những hiện thực lịch sử và sinh hoạt ở thời kì muộn hơn‖ [44;166-167]. Từ những
điều trên cũng có thể thấy đƣợc ―tính chất‖ đi vào lịch sử, đời sống, văn học của
huyền thoại Trung Quốc ngay từ khởi thủy. Màu sắc huyền thoại trong các tác phẩm
văn học kinh điển nhƣ Tây Du Kí (Ngô Thừa Ân), Thủy Hử (Thi Nại Am), Liêu trai
chí dị (Bồ Tùng Linh)… đã cho thấy sức sống mãnh liệt của huyền thoại trong văn
học. Trong nền văn học hiện đại, khuynh hƣớng ―tầm căn‖ thế kỉ XX cũng là một
minh chứng tiêu biểu. Tìm hiểu tiểu thuyết Mạc Ngôn, có thể dễ dàng nhận thấy
những cổ mẫu huyền thoại vốn phổ biến trong huyền thoại thế giới nói chung nhƣ
các huyền thoại nghi lễ (hiến tế, thờ cúng, thụ pháp,..), nạn đại hồng thủy, cổ mẫu
Mẹ, cổ mẫu anh hùng,… Tuy nhiên, điểm đặc biệt của huyền thoại Mạc Ngôn là ở
chỗ, ông có xu hƣớng trở về với các huyền thoại dân gian, trở về với sức sống của
sinh mệnh nguyên thủy đƣợc bảo lƣu trong dân gian, nằm ngoài đƣờng biên của lịch
45
sử hóa, chính trị hóa. Đặt trong truyền thống văn hóa Trung Quốc mang tính cố kết
rất lớn, và hoàn cảnh sáng tác đƣơng thời, điều đó làm nên cái riêng, sức hấp dẫn
trong huyền thoại của Mạc Ngôn đồng thời cũng khẳng định bản lĩnh sáng tạo của
nhà văn.
Mạc Ngôn sinh ra và lớn lên ở làng Bình An, xã Đại Lan, huyện Đông Bắc Cao
Mật, thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc - một vùng quê nghèo khổ vẫn còn bảo lƣu sâu sắc
nền văn hóa truyền thống. Vùng quê ấy, với tất cả những ái, ố, hỉ, nộ đã trở thành một gia
tài quí báu, cung cấp cho ông tƣ liệu sáng tác. Theo Mạc Ngôn, mỗi vùng đất (đặc biệt là
những vùng đất nghèo nàn lạc hậu nhƣ quê hƣơng ông) đều tồn tại rất nhiều câu chuyện.
―Những câu chuyện ấy thƣờng chia làm hai loại, một loại là chuyện yêu ma quỉ quái, một
loại là những ngƣời, những việc kì lạ‖ ([58;362]; ―Đối với nhà văn mà nói, đây chính là
một tài sản khổng lồ, là sự ban tặng đầy ân tình của quê nhà‖. Với ông, truyền thuyết và
truyện kể thuộc phạm trù văn hóa. ―Loại văn hóa phi điển tịch này chính là chiếc nôi chứa
đựng những khí chất đặc thù của một dân tộc, cũng là nhân tố quan trọng hình thành nên cá
tính của nhà văn‖ [59;379]. Không những vậy, quê hƣơng Mạc Ngôn lại chỉ cách huyện Tri
Xuyên, quê của Bồ Tùng Linh ba trăm dặm, khiến cho ―những chuyện về yêu ma quỉ quái
ở quê tôi đặc biệt nhiều, trong đó có rất nhiều chuyện xem ra không khác lắm với truyện
―Liêu Trai‖‖ [59;380]. Khi nói về quê hƣơng trong vai trò là cội nguồn sáng tác vô tận,
Mạc Ngôn đã không ngần ngại thừa nhận: Những câu chuyện yêu ma quỉ quái đƣợc nghe
thuở niên thiếu đã ảnh hƣởng đến ông không ít. Nó hun đúc trong ông lòng kính sợ đối với
tự nhiên, vũ trụ đồng thời ảnh hƣởng sâu sắc đến phƣơng thức cảm thụ thế giới. Cao Mật từ
một địa danh cụ thể trên bản đồ địa lí đã trở thành một ―khái niệm văn học‖, ―một khái
niệm mở chứ không phải một khái niệm đóng‖, một ―hình ảnh thu nhỏ của Trung Quốc‖.
Những câu chuyện đƣợc khơi nguồn từ mảnh đất ấy cũng chính là những câu chuyện của
dân tộc Trung Hoa suốt năm nghìn năm lịch sử. Để rồi từ đó, bằng tài năng của mình, Mạc
Ngôn đã biến ―nỗi đau khổ và niềm vui sƣớng ở đây trở thành nỗi đau khổ và niềm vui
sƣớng của toàn thể nhân loại‖ [61;94]. Hơn thế nữa, sáng tác văn học của Mạc Ngôn chủ
yếu dựa vào kí ức (phần lớn là kí ức tuổi thơ - thứ kí ức đã nhuốm đậm màu sắc của trí
tƣởng tƣợng) về mảnh đất nơi ông từng sinh ra, một ―cố hƣơng‖ mà ―phần nhiều là cảnh
mộng tồn tại trong hồi ức, nó lấy diện mạo chân thực của một giai đoạn lịch sử nào đó làm
căn cứ nhƣng trang điểm thêm vô số hoa lá cỏ cây và cũng giống nhƣ những ngƣời kể
chuyện xƣa, nhà văn thêu dệt chung quanh cố hƣơng trong mộng không biết bao nhiêu là
câu hoa lá để tăng tính hấp dẫn đối với độc giả‖ [59;384].
46
Sáng tác Mạc Ngôn cũng thể hiện một cách sâu sắc đời sống văn hóa, tín ngƣỡng,
phong tục (đặc biệt là đời sống tôn giáo, tín ngƣỡng dân gian) của vùng Đông Bắc Cao Mật
nói riêng, đất nƣớc Trung Quốc nói chung. Tôn giáo, tín ngƣỡng dân gian vốn luôn là thứ
tôn giáo linh hoạt nhất trong việc kết hợp, hòa quyện các tôn giáo, tín ngƣỡng khác nhau,
để làm nên một hỗn hợp tôn giáo mang tính chất dung hòa, đại chúng. Vì vậy, nó có sức
ảnh hƣởng rộng lớn và sức sống mãnh liệt. Cùng với sự phát triển thăng trầm của lịch sử
tôn giáo Trung Quốc, các tôn giáo dân gian truyền thống nhƣ thờ cúng trời, thờ cúng tổ
tiên, ngƣời anh hùng trong thần thoại và truyền thuyết, thờ cúng các lực lƣợng tự nhiên…
vẫn đƣợc bảo lƣu trong đời sống văn hóa Trung Quốc. Đƣa văn hóa tín ngƣỡng dân gian
vào trong tác phẩm, Mạc Ngôn đã chứng tỏ sự am hiểu của mình đối với văn hóa của làng
quê, của dân tộc. Đồng thời, đó cũng là minh chứng cho sự ảnh hƣởng của truyền thống
văn hóa dân gian lên tâm thức của Mạc Ngôn cũng nhƣ sáng tác văn học của ông. Đó cũng
là lí do mà trong rất nhiều công trình nghiên cứu về Mạc Ngôn, hƣớng nghiên cứu về cội
nguồn dân gian chiếm số lƣợng không nhỏ.
Một trong những biểu hiện quan trọng của sự trở về với nền văn hóa dân gian góp
phần làm nên huyền thoại của Mạc Ngôn chính là sự tiếp nối mạch nguồn truyền thống
hiếu kì. ―Kì‖ là đặc trƣng của huyền thoại. ―Hiếu kì‖ (chuộng lạ) là một sợi chỉ đỏ xuyên
suốt trong lịch sử văn học Trung Quốc từ lâu đời. Thơ ca Trung Quốc đã chứng kiến cuộc
du hành lên trời của Khuất Nguyên từ thời Chiến Quốc trong Li tao: ―Quay ra đạp gió rẽ
mây/ Cƣỡi rồng gióng phƣợng định ngày chơi xa/ Sớm Thƣơng - Ngô, chiều qua Huyền
Phố/ Ðến thần linh xa ngó cõi ngoài‖. Với cấu trúc chia làm hai phần rõ rệt, Li tao đã tạo
nên một thế giới đan cài giữa thực và ảo. Thế giới ảo đƣợc tạo nên từ thần thoại, truyền
thuyết; kết hợp với cái tráng lệ của thiên nhiên, vũ trụ; cái trong sáng, bay bổng của ngôn
ngữ và trí tƣởng tƣợng; trở thành đối cực của hiện thực tăm tối. Vì vậy, nó càng khoáng đạt,
kì vĩ bao nhiêu thì hiện thực phũ phàng càng khiến lòng ngƣời đau xót bấy nhiêu. Cuộc
viễn du thƣợng giới để tìm bạn lòng, mong ƣớc thực hiện lí tƣởng trở thành một điển hình
cho thơ ―du tiên kì mộng‖ nói riêng, các sáng tác ―du tiên‖ nói chung. Đời Đƣờng, ngoài
Thi Tiên Lí Bạch, Thi Phật Vƣơng Duy, Thi Thánh Đỗ Phủ còn có một Thi Quỉ Lí Hạ và
thơ ca đƣợc truyền tụng là ―Thi trung hữu quỉ‖ (Trong thơ có quỉ). Thơ Lí Hạ mang nặng
nỗi lòng về cõi âm mờ mịt, cõi dâu bể vô thƣờng, hƣớng đến thế giới kì ảo, cảnh tƣợng
quái dị với âm hồn, ma trâu, thần rắn vật vờ trong cõi u minh. Cái đẹp kì dị trong thơ ông vì
vậy cũng nhuốm màu huyền bí: ―Thu phần quỷ xƣớng Bảo gia thi/ Hận huyết thiên niên
thổ trung bích‖ (Trên nấm mộ mùa thu, tiếng quỷ ngâm nga thơ Bảo gia/ Giọt máu hận
47
ngàn năm ngấm vào đất và biến thành ngọc đá)... Đối với tiểu thuyết, từ truyền thống đến
đƣơng đại, ―hiếu kì‖ cũng là một đặc điểm xuyên suốt. ―Từ những mẩu chuyện vụn vặt nơi
―đầu đƣờng xó chợ‖ thời Tiên Tần, từ những tƣởng tƣợng diệu kì nhƣ ―cá côn hóa chim
bằng‖, ―Trang Chu mộng hồ điệp‖... trong sách Trang Tử, qua tiểu thuyết ―chí quái‖, ―chí
nhân‖ thời Lục triều, qua tiểu thuyết ―truyền kì‖ đời Đƣờng, ―thoại bản‖ thời Tống -
Nguyên, tiểu thuyết chƣơng hồi Minh - Thanh đến tiểu thuyết đƣơng đại, truyền thống
―hiếu kì‖ chƣa hề bị đứt đoạn. Ngay tên thể tài, tên tập truyện hay tên tác phẩm cũng
thƣờng thể hiện đặc điểm này với những yếu tố kì, quái, dị (đều có nghĩa là ―lạ‖)‖ [31;49].
Đây là một đặc trƣng thẩm mĩ tiêu biểu, bền vững trong nền văn hóa, văn học Trung Hoa.
Trải qua nhiều thăng trầm và chƣa bao giờ đứt đoạn, cùng với sự phát triển chƣa từng thấy
của tiểu thuyết Trung Quốc sau ―cải cách khai phóng‖ cuối thế kỷ XX, ―hiếu kì‖ đã có sự
trở lại ―ngoạn mục‖ trong sáng tác của các nhà tiểu thuyết Trung Quốc, đặc biệt là trong
trào lƣu Tiểu thuyết tiên phong, Tiểu thuyết tầm căn. Ở giai đoạn này, cái kì Trung Hoa
truyền thống đƣợc tiếp thêm sức mạnh từ những ảnh hƣởng của dòng văn học kì ảo, phi lí,
đặc biệt là cái kì trong chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, trở nên vô cùng đa dạng về nội dung
cũng nhƣ hình thức biểu hiện. Có thể thấy điều này qua sáng tác của các tác giả tiêu biểu
nhƣ: Tô Đồng, Cách Phi, Trát Tây Đạt Oa, Mạc Ngôn, Quách Kính Minh, Giả Bình Ao,
Mã Nguyên…
Sống trong một bầu khí quyển huyền thoại, Mạc Ngôn sớm đƣợc kết nối với truyền
thống hiếu kì của văn học dân tộc. Có thể thấy rõ điều này trong quan niệm của ông về hiếu
kì: Đối với nhà văn, hiếu kì vô cùng quan trọng. Tính hiếu kì sẽ mang đến những suy nghĩ
hiếu kì. Suy nghĩ mang tính hiếu kì mới mang đến những ý tƣởng kì lạ, từ đó sẽ làm nên sự
sáng tạo mới trong văn học. ―Nếu nhƣ không có những ngƣời lạ chuyện lạ thì thế giới này
chỉ là một vũng ao tù‖, và tất nhiên, cái hiếu kì phải đƣợc ―ném vào đấy những tình cảm
đầy ắp‖. Tác phẩm đầu tiên ―có sức hấp dẫn đặc biệt đối với một đứa trẻ suốt ngày chìm
đắm trong mơ mộng‖ [61;83], mở ra ―cuộc đời đọc sách‖ của Mạc Ngôn là Phong thần
diễn nghĩa, bộ tiểu thuyết đƣợc nhào nặn giữa tƣ liệu lịch sử với thần thoại, truyền thuyết,
tôn giáo, viết lại từ cuốn Vũ Vương phạt Trụ bình thoại đời Nguyên. Bộ sách nói về lịch sử
Trung Quốc ba ngàn năm trƣớc nhƣng thực ra là kể rất nhiều chuyện của kì nhân nhƣ ―mắt
của một ngƣời bị móc đi, từ hai hố mắt, mọc ra hai tay, tay lại mọc ra hai con mắt, hai con
mắt này có thể nhìn thấy vật ở dƣới đất cách ba thƣớc‖, có ngƣời ―có thể cho đầu mình rời
ra và hát trong không trung‖… [61;82-83]. Sử kí của Tƣ Mã Thiên thu hút Mạc Ngôn bởi
―tính hiếu kì‖. Với ông, tác phẩm là ―cái tài học kì lạ đầy một bụng của Thái sử công, mang
48
một phong cách kì lạ, chứa đầy một nỗi oan kì lạ, viết nên những chuyện lạ một đời của
những con ngƣời kì lạ, thực là một áng kì văn tỏa sáng muôn đời‖ [61;294]. Mạc
Ngôn cũng vô cùng ấn tƣợng với cái kì ảo trong tập Chuyện cũ viết lại của Lỗ Tấn
và cho rằng đó là ―một bộ sách kì lạ‖. Trong tập truyện đó, Đúc kiếm đƣợc ông xem
là ―truyện ngắn hay nhất của Lỗ Tấn và cũng là tác phẩm hay nhất của Trung Quốc‖
[61;303]. Đọc tác phẩm khi mới hơn chục tuổi nhƣng những ―rung động về mặt tâm
linh‖, ―hàm ý sâu sắc bên trong‖, ―những tƣợng trƣng phong phú‖ và cái ―ma lực kì
lạ‖ của truyện ngắn này đã trở thành một trong những ―kí ức kì ảo‖ sâu sắc của nhà
văn... Khi Cách mạng văn hóa nổ ra, mối quan hệ với sách vở bị chững lại, kho tàng
truyện kì ảo của Mạc Ngôn tiếp tục đƣợc mở rộng bởi những câu chuyện đƣợc ―đọc
bằng tai‖: ―Những câu chuyện mà thế hệ các ông bà tôi kể cơ bản là ma quỉ với yêu
tinh, còn chuyện của những ngƣời thuộc thế hệ cha mẹ tôi kể phần lớn đều là lịch sử,
tất nhiên, lịch sử họ kể đều là lịch sử đã đƣợc truyền kì hóa‖, là ―lịch sử truyền
miệng dân gian không có quan niệm giai cấp, nhƣng tràn đầy sùng bái đối với anh
hùng và cảm nhận về vận mệnh‖ [61;210-211]. Truyền kì lƣu truyền trong dân gian
và cái kì ảo trong văn học qua sự tiếp nối truyền thống hiếu kì của dân tộc Trung
Hoa đã để lại những dấu ấn sâu sắc, ảnh hƣởng đến thế giới nghệ thuật mang đậm
sắc màu kì ảo của nhà văn.
Mạc Ngôn từng khẳng định rằng mình đứng trên lập trƣờng dân gian để sáng
tác. Mà dân gian thì luôn là cái kho của những câu chuyện kì ảo. Tiểu thuyết của
ông vì vậy không thiếu yếu tố hoang đƣờng, kì ảo. Trong Báu vật của đời, Hàn
Chim có thể nói chuyện với chim, giao lƣu với sói. Lãnh Đệ, khi ngƣời yêu là Hàn
Chim bị bắt, nhƣ biến thành chim ―nghiêng đầu, gặm gặm vào vai‖, ―đầu quay đi đi
quay lại với một góc khá rộng, cổ linh hoạt nhƣ trục xoay‖, ―không những có thể
gặm vào vai mà có thể cúi xuống gặm hai đầu vú nho nhỏ‖ [48;159]. Nàng Tiên
chim Lãnh Đệ có thể chữa bệnh cứu ngƣời bằng những thức ăn của chim, giở phép
thần thông trừng phạt bọn lƣu manh. Rừng xanh lá đỏ có tiếng hát của ngọc trai; có
Bà Chúa Ngọc Trai linh thiêng và rộng lƣợng; có những nhân ngƣ thoắt ẩn, thoắt
hiện trong nƣớc. Sống đọa thác đày có chuyện luân hồi nghiệp báo, chuyện kiếp này
kiếp sau, ngƣời biến thành động vật, động vật biến thành ngƣời. Đàn hương hình có
chuyện nhìn thấy tƣớng tinh của con ngƣời là động vật; chuyện cái đầu ngƣời tử tù
bị chém đứt vẫn hào sảng hát. Ếch có câu chuyện thần bí về cuộc gặp gỡ với đàn ếch
vào đêm rằm tháng bảy, chuyện về tƣợng búp bê mang linh hồn; Tổ tiên có màng
49
chân là câu chuyện của một gia tộc ăn cỏ với những thế hệ có màng chân và tay…
Những cái ―kì‖ ấy xuất hiện hết sức tự nhiên trong tác phẩm, các nhân vật có thể
thấy hoặc không thấy chúng kì lạ, nhƣng đều chấp nhận một cách hiển nhiên, không
cần sự lí giải.
Có thể nói, một trong những yếu tố quan trọng làm nên thế giới mang đậm
sắc màu huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn là sự tiếp nối mạch nguồn truyền thống
văn hóa Trung Quốc. Cội nguồn này không chỉ cung cấp cho Mạc Ngôn nguồn tƣ liệu
huyền thoại phong phú mà còn ảnh hƣởng sâu sắc đến cách cảm thụ và biểu hiện thế giới
nghệ thuật kì ảo đầy sống động, hấp dẫn.
2.3. Trải nghiệm cá nhân và quan niệm sáng tác của Mạc Ngôn
Diễn từ đọc tại Viện Hàn lâm Thụy Điển trong buổi trao giải thƣởng Nobel
văn học năm 2012 của Mạc Ngôn có nhan đề là ―Ngƣời kể chuyện‖ - kể lại câu
chuyện của mình, của những ngƣời xung quanh mình, của quê hƣơng, đất nƣớc
mình. Cao lương đỏ lấy nguyên mẫu từ các thế hệ ông bà, cha mẹ nhà văn. Báu vật
của đời đƣợc gợi cảm hứng từ chính mẹ ông. Cây tỏi nổi giận là câu chuyện có thật
về một vụ nổi dậy của ngƣời nông dân trồng tỏi; bác sĩ sản khoa Vạn Tâm trong Ếch
là hình ảnh của bà cô làm bác sĩ của Mạc Ngôn… Bởi vậy nên có thể dễ dàng nhận
thấy dấu vết kí ức tuổi thơ trong tất cả các sáng tác của Mạc Ngôn, từ những câu
chuyện đời thƣờng vụn vặt nhƣ đi bắt cua đêm khuya, ăn than những ngày đói rách,
ăn trộm củ cải của công trƣờng, bị đứng phạt trƣớc tƣợng Mao Trạch Đông… đến
những chuyện mang tầm vóc dân tộc nhƣ Cách mạng văn hóa, Cải cách ruộng đất,
Cải cách mở cửa… Có hai dạng trải nghiệm có ý nghĩa quyết định đối với thế giới
huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn là trải nghiệm tuổi thơ và trải nghiệm từ xã
hội Trung Quốc hiện đại nhiều biến động. Quan niệm sáng tác của nhà văn cũng có
mối quan hệ mật thiết với những trải nghiệm này.
Tuổi thơ Mạc Ngôn gắn với hai chữ nghèo đói. Ông tâm sự rằng ―đói khát và
cô đơn là tài sản sáng tác của tôi‖ [61;96]. Sự thiếu thốn cùng cực về vật chất và
cuộc chiến để giành giật sự sống khiến cho những điều không tƣởng cũng có thể xảy
ra. Mạc Ngôn đã kể về những năm 60 của thế kỉ XX ở đất nƣớc Trung Quốc mà ông
và những đứa trẻ cùng trang lứa ―nhƣ một lũ chó đói đánh hơi mọi ngóc ngách trong
thôn để tìm những thứ có thể ăn đƣợc‖ [61;99]. Đói nghèo đã đặt Mạc Ngôn và
những ngƣời cùng thời ông vào trong lằn ranh giữa sự sống và cái chết, buộc họ phải
bằng mọi cách để sinh tồn. Chính cái đói đã giúp Mạc Ngôn có đƣợc sự thể nghiệm
50
vô cùng sâu sắc về sinh mệnh. Cùng với đói rét là nỗi cô đơn. Vì bỏ học từ rất nhỏ
nên phần lớn thời niên thiếu, Mạc Ngôn gắn với công việc chăn trâu ngoài đồng.
Nhờ đó, ông đã sớm thiết lập những cảm xúc rất tinh tế, nhạy cảm và mối liên hệ
mật thiết với thiên nhiên. Trong một thời gian dài, ông cho rằng ―động thực vật có
thể giao tiếp với con ngƣời‖ và chúng cũng có thể hiểu lời ông nói [174]. Giữa một
vùng đồng cỏ mênh mông, không có ai để trò chuyện, Mạc Ngôn đã ―bắt đầu học
cách chìm vào những suy tƣ‖ trong một trạng thái ―nửa mơ nửa tỉnh‖, học đƣợc cách
giao tiếp với thiên nhiên, lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên và hiểu đƣợc tâm tình
của nó. Trí tƣởng tƣợng trẻ thơ vốn đã phong phú, sinh động, nhuốm màu huyền
thoại, nay đƣợc đặt vào hoàn cảnh ấy, lại càng có cơ hội phát triển. Nhìn lại tuổi thơ
nghèo khó, đói rét của mình, Mạc Ngôn đã luôn trân trọng và coi đó nhƣ báu vật. Nó
không chỉ là nguồn đề tài, cảm hứng phong phú mà còn góp phần quan trọng hình
thành nên thế giới cảm giác, thế giới kinh nghiệm, cung cấp cho nhà văn một cách
cảm nhận riêng, ảnh hƣởng sâu sắc đến lối viết của ông sau này. Sự tƣơng thông với
thịt của La Tiểu Thông trong Tứ thập nhất pháo và sự tƣơng thông với bầu vú của
Kim Đồng trong Báu vật của đời là các ví dụ tiêu biểu. Cùng với trải nghiệm cuộc
sống đói khát và cô đơn, những câu chuyện truyền kì, ma quỉ đƣợc nghe rất nhiều
trong suốt thời kì ấu thơ đã để lại cho ông những ấn tƣợng sâu sắc. Từ đây, một
điểm nhìn đặc biệt, có ý nghĩa rất lớn xuất hiện trong tác phẩm của ông: điểm nhìn
trẻ thơ. Trong một lần trả lời phỏng vấn của YuSie Rundkvist Chou, ngay sau thời
điểm đạt giải Nobel văn học, Mạc Ngôn đã nói: ―Khi một ngƣời lớn nhìn vào mọi
thứ, anh ta không cảm thấy ngạc nhiên. Nhƣng với một đứa trẻ, đó là một cái nhìn từ
dƣới hƣớng lên. Nó nhìn thấy rất nhiều thứ mà ngƣời lớn không nhìn thấy‖ [174].
Điểm nhìn trẻ thơ, vì vậy, chứa đầy những điều kì vĩ, bí ẩn, mang dụng ý nghệ thuật
của nhà văn.
E. M. Meletinsky trong Thi pháp của huyền thoại đã viết: ―Thuộc tính chung
của huyền thoại là sự tái hiện những quan niệm chung nhất trong một hình thức cụ
thể, cảm tính‖ [44;xxi]. Bởi vậy, liên quan đến tƣ duy huyền thoại có hàng loạt đối
sánh đầy sức thuyết phục từ lĩnh vực tƣ duy trẻ em. Tiêu biểu nhất trong đó là đặc
điểm nhận thức mang tính cụ thể, trực quan, cảm tính. Bản tính của tƣ duy nguyên
thủy là ―sự phát triển hết sức yếu ớt các khái niệm trừu tƣợng‖ [44;214]. Chất liệu
trực tiếp của logic nguyên thủy là ―nhận thức cảm tính sơ giản cho phép thông qua
sự tƣơng đồng và tƣơng kị của các thuộc tính cảm xúc mà thực hiện quá trình khái
51
quát nhƣng không xa rời cái cụ thể‖ [44;215]. Chính vì vậy mà sự ―tiếp cận các đối
tƣợng dựa theo các tính chất phụ bên ngoài của chúng, theo sự tiếp giáp trong không
gian - thời gian có thể biến thành mối liên hệ nhân quả; còn nguồn gốc, ở một ý nhất
định, có thể thay thế cho bản chất‖ [44;215]. Đặc điểm rất đặc trƣng cho tƣ duy trẻ
thơ này dẫn tới đặc trƣng của huyền thoại: mô hình hóa thế giới xung quanh bằng
cách kể về nguồn gốc các bộ phận tạo nên thế giới ấy. Vì vậy, mới có một thế giới
huyền ảo nhƣ thế này trong trí tƣởng tƣợng của trẻ:
―Nếu mọi ngƣời biết đƣợc cung điện của nhà vua ở đâu, nó sẽ biến mất khỏi
không trung
Những bức tƣờng bằng bạc trắng và mái ngói lấp lánh vàng
Hoàng hậu sống trong cung điện có bảy cái sân, bà đeo đồ trang sức trị giá
bằng của cải bảy vƣơng quốc
Nhƣng con sẽ nói thầm vào tai mẹ, cung điện của nhà vua ở đâu.
Nó ở góc ban công nhà mình nơi đặt chậu cây tulsi.
Công chúa đang ngủ trên bờ biển xa của bảy biển không thể đến
Không có ai trên thế giới có thể tìm ra nàng ngoài con‖
(Xứ thần tiên - Tập thơ Trăng non - R.Tagore)
Và hình dung về thiên nhiên vũ trụ trong đôi mắt trẻ không khác là bao với
thế giới các vị thần trong thần thoại:
―Ông trời
Mặc áo giáp đen
Ra trận
Muôn nghìn cây mía
Múa gƣơm…‖ (Mưa - Trần Đăng Khoa)
Nhiều tác phẩm của Mạc Ngôn mƣợn điểm nhìn trẻ thơ để kể. Củ cải đỏ trong suốt (1985) đƣợc coi là tác phẩm mang tính đột phá đánh dấu vị trí của Mạc
Ngôn trên văn đàn, đồng thời cũng là tác phẩm xác lập những đặc trƣng trong sáng tác của ông, trong đó có điểm nhìn trẻ thơ. Trong thế giới ảo giác của cu Đen, chúng ta bắt gặp chính trải nghiệm mà Mạc Ngôn có đƣợc từ tuổi thơ gắn bó với thiên nhiên, từ cảm giác về ―vạn vật hữu linh‖ vốn đậm nét thuở nhỏ: ―Chiếc củ cải đỏ trong suốt, trong suốt lung linh. Trong suốt. Bao bọc bên ngoài màu vàng rầm rập là
một lớp nƣớc trắng nhƣ bạc, đƣờng cong của chiếc củ cải thanh thoát, từ cái vòng cung mĩ lệ đó, tỏa ra những vòng hào quang màu vàng. Những tia hào quang có
52
ngắn có dài, dài nhƣ râu hạt lúa mạch, ngắn nhƣ lông mi, tất cả màu vàng…‖
[60;96]. Cái nhìn ấy xuất phát từ trí tƣởng tƣợng phong phú của trẻ thơ nhƣng đƣợc
gia tăng thêm ảo giác ở mức cao độ. Điểm nhìn trẻ thơ của Kim Đồng khiến cho bầu vú trong Báu vật của đời trở nên sống động, muôn hình vạn trạng, lúc nhƣ đôi chim
bồ câu trắng mềm mại gù gù bên nhau, khi thì nhƣ bầu hồ lô sáng loáng, khi lại là củ
cải đỏ có cái đầu nhọn và phần thân phình to đột ngột. Trong Tứ thập nhất pháo,
dƣới cặp mắt của cậu bé La Tiểu Thông, thịt thì thầm, yêu thƣơng, rên rỉ, hoan lạc. Từ cặp mắt của ―tôi‖, tất cả những điều liên quan đến ―ông tôi‖, ―bà tôi‖ trong Cao
lương đỏ đều mang màu sắc truyền kì, lớn lao, vĩ đại. Günter Grass trong Cái trống
thiếc đã sử dụng con mắt của Oskar để nhìn lịch sử theo cách riêng - đúng bằng
chiều cao 94cm, một cái nhìn ―từ gần sát mặt đất, lia con - mắt - dao - mổ dọc theo
triền lịch sử nhƣ một tấm gƣơng làm méo hình. Oskar, dƣới bề ngoài của một đứa
trẻ mãi mãi lên ba, nhƣng với sự già dặn trí tuệ của ngƣời trƣởng thành, làm nảy ra
từ cái trống đồ chơi con nít một thế giới nhố nhăng, kệch cỡm và bí hiểm, một nhân
loại bất túc với thân phận ê chề vùi lấp dƣới những đổ nát của lịch sử‖ [27;11].
Nhƣng nếu nhƣ điểm nhìn của Oskar chú trọng đến tính chân thực của hiện thực, chú trọng đến việc phơi bày hiện thực - một hiện thực chỉ có thể đƣợc cảm nhận và
miêu tả một cách rõ ràng, chân thực nhất qua cặp mắt của trẻ thơ; thì điều mà Mạc
Ngôn chú ý lại là việc tận dụng triệt để sự hiếu kì, những cảm giác, ấn tƣợng, tƣởng
tƣợng phong phú mang đậm sắc màu huyền ảo từ điểm nhìn trẻ thơ để kiến tạo nên
thế giới nghệ thuật huyền thoại của riêng mình.
Cũng chính kí ức tuổi thơ và quan niệm về điểm nhìn trẻ thơ đã có ảnh hƣởng
đến một quan niệm khác trong sáng tác của Mạc Ngôn: quan niệm về hương vị tiểu
thuyết gắn với tầm quan trọng của trí tƣởng tƣợng. Mạc Ngôn thích những tiểu
thuyết có ―mùi vị‖. ―Những cuốn tiểu thuyết có mùi vị là những cuốn tiểu thuyết
hay. Những cuốn tiểu thuyết có mùi vị độc đáo riêng là những cuốn tiểu thuyết hay
nhất‖ [61;17]. Theo ông, có hai cách để tạo ra ―mùi vị‖ trong tiểu thuyết. Cách thứ
nhất: dùng bút pháp tả thực, dựa vào kinh nghiệm cá nhân để mang lại mùi vị cho vật thể, hay nói cách khác là dùng mùi vị để thể hiện vật thể mà nhà văn muốn miêu tả. Cách thứ hai là dựa vào sức tƣởng tƣợng của mình để mang mùi vị đến cho các vật thể không có mùi vị hoặc làm cho các vật thể có mùi vị mang một mùi vị khác. Ông đặc biệt ƣu ái cách thứ hai. Mạc Ngôn luôn luôn đề cao vai trò của trí tƣởng
tƣợng, xem đó ―là tố chất quan trọng nhất, đáng quí nhất của nhà văn‖ [61;318]. Trí tƣởng tƣợng giúp cho nhà văn sáng tạo ra những điều mới mẻ trên cơ sở những sự
53
vật đã có. Chính trí tƣởng tƣợng dẫn đƣờng cho nhà văn đến với thế giới mùi vị của
trái đất hoang sơ, của kí ức xa xăm, của hiện thực bộn bề. Cũng chính nó đòi hỏi nhà
văn phải huy động mọi giác quan của mình để có thể bắt kịp dòng chảy vô tận của cuộc sống. Một trong những ấn tƣợng sâu sắc mà W. Faulkner và G. Márquez để lại
cho Mạc Ngôn chính là thứ cảm giác về mùi vị đó. Tiểu thuyết của Mạc Ngôn cũng
thấm đẫm những mùi vị đặc trƣng, và trong nhiều trƣờng hợp, thứ mùi vị đặc biệt đó
mang đến cho không gian, nhân vật… một màu sắc bí ẩn, kì bí, nhuốm màu huyền thoại. Sức hút của mùi vị đã đến với Mạc Ngôn thông qua sự huy động của toàn bộ
các giác quan, tạo nên những thiên tiểu thuyết mang hơi thở, mùi vị, độ ẩm, âm
thanh và những tƣ tƣởng kì diệu, truyền tải qua hệ thống ngôn ngữ riêng. Theo Lê
Huy Tiêu, tiểu thuyết Mạc Ngôn không có cốt truyện hoàn chỉnh mà là một khung
truyện ―chứa đầy cảm giác‖ - thế giới cảm giác mang ―sắc thái chủ quan mãnh liệt‖
làm nên linh hồn cho các tác phẩm. Nhờ việc rót vào trong sự vật hiện tƣợng cảm
giác chủ quan, Mạc Ngôn đã biến những sự vật, hiện tƣợng, con ngƣời bình thƣờng
thành đặc biệt, thậm chí khác thƣờng; biến những cái khác thƣờng thành những cái
đặc biệt khác thƣờng.
Cốt lõi của cảm giác trong tác phẩm văn học, theo Mạc Ngôn, chính là cảm giác của
sự sống. Những tiểu thuyết không có cảm giác sự sống thì không thể đi vào lòng ngƣời.
Quan niệm này xuất phát từ tƣ tƣởng ―vạn vật hữu linh‖ rất phổ biến trong nền văn hóa
phƣơng Đông, đồng thời là sự chia sẻ của ông với G. Márquez rằng: Mọi thứ đều có cuộc
sống riêng của nó. Vấn đề là cần phải làm sống dậy cái linh hồn đó. Cảm giác sinh mệnh
siêu tự nhiên - sinh mệnh do trời ban bao trùm lên vạn vật, biến những vật không sinh
mệnh cũng trở nên có linh hồn, mang tải nhận thức, niềm vui và nỗi đau chung của nhân
loại. Rất nhiều hình ảnh mang tính biểu tƣợng trong tiểu thuyết Mạc Ngôn đƣợc xây dựng
từ thế giới cảm giác phong phú này. Cặp vú của bà mẹ Thƣợng Quan Lỗ Thị khi hạnh phúc
―nhảy tâng tâng trƣớc ngực nhƣ vẫy gọi, nhƣ trao đổi với tôi những thông tin thần bí. Hai
núm vú màu táo đỏ có lúc chụm vào nhau nhƣ đang thì thầm điều gì còn phần lớn thời gian
là nhún nhảy, vừa nhún nhảy vừa phát ra thành tiếng, chẳng khác đôi chim bồ câu gù gù bên nhau‖ [48;95]. Cũng có khi ―chúng vùng vẫy, chúng co lại, co tới mức không thể nhỏ hơn rồi đột nhiên lại nở phình ra, xù lông xù cánh khát vọng bay lên, bay tới những cánh đồng mênh mông, tới trời xanh làm bạn với những đám mây lững lờ trôi, tắm trong làn gió nhẹ, đƣợc ánh nắng mơn trớn, rên rỉ trong gió, cƣời vui dƣới nắng, rồi lặng lẽ rơi xuống, rơi
xuống một vực thẳm không đáy‖ [48;96]. Cây cao lƣơng là những sinh thể có hồn: cao lƣơng rên siết, cao lƣơng chảy máu, ―cao lƣơng khắp cánh đồng đều khóc thảm thiết‖
54
[47;68] dƣới gót giày quân xâm lƣợc Nhật. Cao lƣơng ―khắp nơi đứng lặng lẽ‖ khóc tang
ba trăm xác đồng bào nằm ngổn ngang. Cao lƣơng ―khoan dung dịu dàng nhƣ mẹ hiền‖
[47;137] đƣa tiễn những ngƣời anh hùng quả cảm về với đất mẹ… Ngọc trai thì rên rỉ cất tiếng khóc khi bị ngƣời ta bắt vào cấy ngọc. Nỗi đau của chúng hòa cùng niềm kiêu hãnh
cất lên thành bài hát ngọc trai dƣới ánh trăng… Thế giới cảm giác trong tiểu thuyết Mạc
Ngôn thƣờng đƣợc tạo nên từ sự kết hợp hài hòa của hai yếu tố: cảm giác chủ quan mang
tính thần bí và cảm giác trực quan tinh tế. Nhờ đó mà thế giới ấy đã vƣợt ra ngoài khả năng cảm nhận thông thƣờng của các giác quan: thị giác, khứu giác, thính giác, vị giác, xúc giác
để đến với linh giác - cảm giác của linh hồn.
Bên cạnh trải nghiệm tuổi thơ, những trải nghiệm đến từ hiện thực xã hội cũng là
một cội nguồn quan trọng trong tiểu thuyết Mạc Ngôn. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần
thứ 3 - cuộc cách mạng kĩ thuật số, kỉ nguyên của công nghệ thông tin - đã tạo nên một thế
giới phẳng, kết nối nhân loại trong thời đại toàn cầu hóa. Bên cạnh các giá trị tích cực lớn
lao không thể phủ nhận đối với lịch sử phát triển của loài ngƣời, cuộc cách mạng công
nghiệp và xu thế toàn cầu hóa cũng đặt ra cho con ngƣời những thách thức, gây nên bao hệ
lụy không nhỏ. Nhiều vấn đề (nhƣ chiến tranh, ô nhiễm môi trƣờng, nhập cƣ…) đã vƣợt lên trên phạm vi quốc gia, trở thành vấn đề của thế giới, đòi hỏi phải chung tay giải quyết.
Dƣới thời đại kĩ trị, thời đại của công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo, con ngƣời đứng
trƣớc nguy cơ bị chi phối bởi máy móc, đánh mất quyền kiểm soát đối với những vấn đề
của bản thân và xã hội. Nhân loại từ tƣ duy quyết định luận, duy ý chí chuyển sang một đại
dƣơng của những điều bất định, phi lí, không mang tính nhân quả đơn thuần và không thể
dự báo trƣớc. Trạng thái ―bất khả tri‖ tồn tại nhƣ một mâu thuẫn nhƣng đầy hợp lí. Con
ngƣời dần vƣợt qua cái ―bất khả tri‖ trong việc khám phá về các bí ẩn của tự nhiên, vũ trụ
thì lại phải đối diện với sự hoài nghi lí trí, hoài nghi các chân lí, hoài nghi các giá trị đƣợc
xem là vĩnh hằng, hoài nghi bản thể, sự tồn tại của chính mình. Đó là thái độ hoài nghi,
trạng thái hƣ vô mà không khoa học nào có thể mang lại câu trả lời thỏa đáng. Các đặc
trƣng thời đại đó đã thể hiện dấu ấn trong văn học ở nhiều trào lƣu, xu hƣớng nhƣ Chủ
nghĩa Đa đa, Tiểu thuyết Mới, Chủ nghĩa hiện sinh, khuynh hƣớng Hiện thực huyền ảo, Chủ nghĩa cực hạn; đánh dấu bƣớc thay đổi của ngƣời sáng tác về nhiều mặt trong đó có việc lựa chọn các phƣơng thức sáng tác phù hợp. Khuynh hƣớng huyền thoại hóa mà Mạc Ngôn theo đuổi cũng chính là một trong những sự lựa chọn nhƣ vậy.
Không chỉ xu hƣớng toàn cầu hóa, tình hình chính trị- xã hội Trung Quốc đƣơng
thời cũng trở thành những trải nghiệm có ý nghĩa quyết định cho sự xuất hiện của huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn. Nếu nhƣ thế kỉ XX là thời kì khủng hoảng của nền văn
55
hóa tƣ sản ở phƣơng Tây; thì ở Trung Quốc, đây cũng là một giai đoạn xã hội đầy biến
động. Mạc Ngôn sinh năm 1955, khi đất nƣớc Trung Quốc đang trên con đƣờng quá độ
sang Chủ nghĩa xã hội. Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, cùng với dân tộc mình, ông đã phải trải qua nạn đói khủng khiếp sau thất bại của cuộc cách mạng Đại nhảy
vọt (1958 - 1963). Sau Đại nhảy vọt là Cách mạng văn hóa (1966 - 1976). Mang danh là
đấu tranh với giai cấp tƣ sản trong lĩnh vực tƣ tƣởng để mang đến sự thay đổi diện mạo tinh
thần cho toàn bộ xã hội bằng hệ tƣ tƣởng mới của giai cấp vô sản, truy quét những ―tàn dƣ lạc hậu‖ của xã hội cũ, song cuộc cách mạng tác động lớn đến đời sống vật chất và tinh
thần của ngƣời dân Trung Quốc theo chiều hƣớng đi ngƣợc lại với sự mong đợi của họ:
trƣờng học bị đóng cửa; trí thức bị coi thƣờng, bị đƣa đi lao động nặng nhọc ở vùng nông
thôn; cảnh đấu tố, giết ngƣời diễn ra khắp nơi… Đây thực chất là ―thập niên động loạn‖,
―thập niên hạo kiếp‖ (mƣời năm hỗn loạn, mƣời năm thảm họa) của lịch sử đất nƣớc Trung
Quốc. Năm 1978, Trung Quốc bƣớc vào con đƣờng Cải cách mở cửa do Đặng Tiểu Bình
phát động. Cuộc cải cách mở cửa đã mang đến cho nền kinh tế xã hội nhiều thay đổi nhƣng
đồng thời cũng đặt dân tộc Trung Quốc trƣớc nguy cơ và thách thức mới, đặc biệt là nguy
cơ bị đánh mất mình trƣớc nền văn hóa tiêu dùng. Bằng những trải nghiệm thực tế của mình, Mạc Ngôn đã nhận ra rằng, nhân loại nói chung, dân tộc Trung Quốc nói riêng đang
đứng trƣớc một hiểm họa lớn khi mà khoa học kĩ thuật càng tiến bộ thì tham vọng của con
ngƣời càng bùng phát. Với dục vọng bị kích thích của con ngƣời, khoa học kĩ thuật đã phát
triển đi chệch quĩ đạo tích cực thông thƣờng, điên cuồng phát triển dƣới ngọn cờ của lợi
ích, lợi nhuận. Mạc Ngôn quan niệm rất rõ ràng về vị trí của con ngƣời giữa vũ trụ bao la,
và mối quan hệ của lịch sử quá khứ với thế giới hiện đại. ―Máu của lịch sử chảy trong mạch
máu của ngƣời đƣơng đại‖. Vì vậy, văn học không thể né tránh thực tại, một thứ thực tại
tồn tại nhiều điều phi lí đến không tƣởng nhƣ kiểu của F. Kafka, A. Camus. Mạc Ngôn nói
rằng sáng tác của ông đƣợc ―moi‖ ra từ chiếc bao tải rách Đông Bắc Cao Mật. Điều đó
không chỉ nói lên vai trò của tƣ liệu quê hƣơng mà còn là lời khẳng định của Mạc Ngôn về
sự quan tâm của ông đối với các vấn đề mang tính lịch sử - thời sự của đất nƣớc Trung
Quốc mà Đông Bắc Cao Mật chính là hình ảnh thu nhỏ. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rõ quan niệm về lịch sử, chính trị của Mạc Ngôn có sự khác biệt so với góc nhìn lịch sử thông thƣờng của các sử gia. Lịch sử, theo ông, ―với một ý nghĩa nào đó, chính là chuyện truyền kì‖ [58;290]. Cho rằng lịch sử là tập hợp rất nhiều những câu chuyện truyền kì, sự kiện lịch sử càng xa xƣa thì khoảng cách với sự chân thực lịch sử càng lớn nhƣng khoảng cách với
văn học càng gần, lịch sử mà Mạc Ngôn lựa chọn để đƣa vào trong tác phẩm của mình thƣờng là lịch sử đƣợc lƣu truyền trong dân gian. Mà lịch sử của dân gian là lịch sử của
56
những lời nói truyền kì. Đứng từ vị trí ngƣời dân thƣờng để viết, lịch sử dân gian đƣợc nhìn
từ góc độ siêu giai cấp và bằng con mắt đồng tình, xót thƣơng nên không phải là lịch sử
trong sách vở mà gần gũi với tính chân thực của lịch sử hơn. Trong lịch sử dân gian không có quan niệm giai cấp, cũng không có đấu tranh giai cấp, nhƣng cảm hứng vận mệnh và
chủ nghĩa sùng bái anh hùng thì rất sung mãn. Chỉ những ngƣời có sức mạnh phi thƣờng, ý
chí đặc biệt mới đƣợc đi vào lịch sử truyền miệng dân gian và không ngừng đƣợc lƣu
truyền. Thậm chí, ở đó còn không có quan niệm thực - hƣ về những câu chuyện lịch sử truyền kì. Chính sự lƣu truyền trong dân gian với sự chia sẻ một niềm tin mãnh liệt đã xóa
nhòa ranh giới giữa thực và hƣ, biến những câu chuyện lịch sử thành truyền kì và ngƣợc lại,
biến những câu chuyện truyền kì thành lịch sử. Ngƣời anh hùng trong tiểu thuyết Mạc
Ngôn là minh chứng tiêu biểu nhất cho quan niệm ―lịch sử là truyền kì‖ của ông. Đó là
những con ngƣời anh hùng cao thƣợng, đƣợc tôn sùng và có sức ảnh hƣởng lớn đến cộng
đồng, nhƣng đồng thời cũng là những ngƣời nông dân hết sức bình thƣờng, thậm chí ti tiện,
ích kỷ, đƣợc bao quanh bằng các câu chuyện truyền kì.
Cũng giống nhƣ tính chất hai mặt của thời đại toàn cầu hóa, giai đoạn lịch sử mà
Mạc Ngôn đang sống đặt con ngƣời, trong đó có nhà văn đối diện với nhiều vấn đề
―hậu hiện đại‖ nhƣng đồng thời cũng cung cấp nhiều tiền đề thuận lợi cho công việc
sáng tác. Công cuộc Cải cách mở cửa thập niên 80 của thế kỉ XX đã chấm dứt nửa thế
kỉ khép kín, cách biệt với thế giới văn minh phƣơng Tây, dấy lên phong trào du nhập tƣ
tƣởng và văn hóa phƣơng Tây vào Trung Quốc. Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng loạt
trƣờng phái lí luận, phê bình văn học nghệ thuật (Chủ nghĩa tƣợng trƣng, Phân tâm học,
Phê bình mới, Phê bình lịch sử, Chủ nghĩa hình thức Nga, Chủ nghĩa hậu hiện đại…) và
các sáng tác văn học của nhiều khuynh hƣớng (trong đó có khuynh hƣớng huyền thoại)
trên thế giới đƣợc dịch, quảng bá, cập nhật rộng rãi. Sự tiếp xúc này đã giúp nền văn
học hiện đại Trung Quốc sau thập niên 1980 phát triển mạnh mẽ, đặc biệt có nhiều đổi
mới về phƣơng diện hình thức nghệ thuật. Sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Trung
Quốc thời kì này đã cho thấy những ảnh hƣởng nhất định từ các trƣờng phái, khuynh
hƣớng văn học trên. Đây là điều đã đƣợc Mạc Ngôn không ít lần khẳng định. Chính
sách cởi mở, tƣ duy lí luận đổi mới. Trên cơ sở ấy, Mạc Ngôn đã sử dụng huyền thoại
nhƣ một phƣơng thức đặc biệt hữu hiệu để phản ánh hiện thực.
Đại bộ phận tác phẩm Mạc Ngôn có những câu chuyện kì lạ, con ngƣời kì lạ, mang
yếu tố bí ẩn, truyền kì. Từ kinh nghiệm, trải nghiệm của bản thân, ông đã xây dựng nên thế
giới sinh mệnh huyên náo vừa hài hƣớc, dí dỏm, yên bình, đồng thời cũng mang tính đột
57
phá, thần bí, cực đoan. Chính vì vậy, trong tiểu thuyết, bên cạnh những hình tƣợng nhân vật
có năng lực siêu nhiên, hành vi kì quái, cũng trộn lẫn những tính cách đa dạng hoặc tà ác,
gian manh; hoặc bình dị, ngây thơ, hồn nhiên… Tất cả làm nên một thế giới mang đầy màu
sắc biểu tƣợng, mà mỗi hình ảnh, mỗi câu chuyện đều mang tải trong nó nhiều lớp nghĩa
cần giải mã...
Tiểu kết chƣơng 2
Huyền thoại trong sáng tác văn chƣơng đƣợc hình thành từ nhiều yếu tố khác nhau,
vừa mang tính nhân loại, vừa mang tính chung cho khu vực địa lí, đất nƣớc nơi nhà văn
sinh sống, đồng thời cũng mang dấu ấn riêng của mỗi nhà văn. Dựa vào nhiều nguồn tƣ
liệu khác nhau, trong đó rất quan trọng là tạp văn, tùy bút, các bài nói chuyện, trả lời phỏng
vấn của Mạc Ngôn, luận án đã đi sâu tìm hiểu cội nguồn huyền thoại trong tiểu thuyết của
ông. Đây là một việc làm cần thiết, cung cấp cho chúng tôi cái nhìn toàn diện và thấu đáo
hơn về vấn đề nghiên cứu. Sự sáng tạo huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn trƣớc hết
nằm trong truyền thống huyền thoại của nhân loại đƣợc bảo lƣu qua các giai đoạn lịch sử.
Đó là sự trở về vừa có ý thức, lại vừa nằm trong dòng chảy của ―vô thức tập thể‖. Trong
văn học, huyền thoại thể hiện rõ sự trƣờng tồn của mình ở các dòng văn chƣơng kì ảo, văn
học phi lí hay chủ nghĩa hiện thực huyền ảo với các tác giả tiêu biểu mà bản thân Mạc
Ngôn cũng thừa nhận ít nhiều chịu ảnh hƣởng nhƣ W. Faulkner, G. Márquez, F. Kafka,...
Huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn cũng đƣợc tạo nên từ truyền thống văn hóa, văn
học Trung Quốc (đặc biệt là văn hóa, văn học dân gian) với một nét đặc trƣng là ―hiếu kì‖,
cùng với những trải nghiệm cá nhân, trải nghiệm xã hội và quan niệm sáng tác của riêng
ông. Thế giới huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn vì vậy, mang đến cho ngƣời đọc
cảm giác thân thuộc đồng thời cũng đầy mới mẻ, thôi thúc sự khám phá và lí giải.
Mạc Ngôn đã chia sẻ với độc giả về hai phƣơng pháp có thể tạo nên huyền thoại: Thứ
nhất là bằng cách tái sử dụng lại các câu chuyện cổ tích, ngụ ngôn, thần thoại từ di sản dân
gian truyền thống. Thứ hai, quan trọng hơn là sự ―tiểu thuyết hóa‖ lịch sử. Thông qua tài
năng của ngƣời kể chuyện Mạc Ngôn, các nhân vật lịch sử và tƣởng tƣợng, những sự kiện
thực và hƣ cấu đều có thể nâng tầm thành huyền thoại. Đây chính là quan niệm góp phần
làm nên mô hình huyền thoại trong tiểu thuyết của ông. Quan niệm này của nhà văn cùng
với lí thuyết về sự phân loại huyền thoại mà chúng tôi đã trình bày ở trên là cơ sở để chúng
tôi đi vào triển khai tìm hiểu các huyền thoại tiêu biểu và phƣơng thức xây dựng huyền
thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn ở chƣơng 3 và chƣơng 4.
58
CHƢƠNG 3
CÁC HUYỀN THOẠI TIÊU BIỂU TRONG TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN
Huyền thoại là một khái niệm vô cùng phức tạp với rất nhiều khuynh hƣớng, trƣờng
phái khác nhau, nên việc phân loại cũng không hề đơn giản. Tuy nhiên, nhƣ đã nói ở
chƣơng tổng quan, tìm hiểu về huyền thoại của một tác gia văn học, chúng tôi chủ yếu căn
cứ vào những nghiên cứu lí thuyết về huyền thoại đƣợc tiếp cận từ văn học. Từ góc độ tiếp
cận này, có thể thấy sự thừa nhận của một bộ phận lớn giới nghiên cứu về sự xuất hiện phổ
biến của hai kiểu huyền thoại: huyền thoại nghi lễ và huyền thoại cổ mẫu. Tất nhiên, đó là
―sự lặp lại có tính chất chu kì vĩnh cửu của những nguyên mẫu huyền thoại cơ bản dƣới
dạng các ―mặt nạ‖ khác nhau‖ mang dấu ấn cá nhân và thời đại rõ nét. Ở tiểu thuyết Mạc
Ngôn, chúng tôi cũng nhận thấy quá trình ―tái huyền thoại‖ diễn ra mạnh mẽ ở hai dạng
thức cơ bản trên. Với huyền thoại nghi lễ và huyền thoại cổ mẫu, Mạc Ngôn đã làm tái sinh
huyền thoại truyền thống, mang đến những ý nghĩa, màu sắc mới đậm dấu ấn cá nhân.
3.1. Huyền thoại nghi lễ
Mối quan hệ giữa huyền thoại và tôn giáo đã sớm đƣợc các nhà nghiên cứu bàn
luận đến, tiêu biểu là các nhà nghiên cứu theo Chủ nghĩa nghi lễ, Chủ nghĩa chức năng và
sau này là trƣờng phái Phê bình nghi lễ. J. Frazer- đại diện tiêu biểu nhất của Chủ nghĩa
nghi lễ- là ngƣời có nhiều đóng góp trong việc chuyển hƣớng nghiên cứu huyền thoại sang
nghi lễ. Bắt nguồn trực tiếp từ J. Frazer, ―trƣờng phái Cambirdge‖ đã lấy xuất phát điểm
nghiên cứu từ sự nổi trội của nghi lễ đối với huyền thoại, nhìn thấy trong các nghi lễ nguồn
gốc quan trọng nhất của sự phát triển huyền thoại. Ngƣời thực sự đổi mới quan niệm về
mối tƣơng quan giữa huyền thoại và nghi lễ, nói rộng ra, về vấn đề vai trò và vị trí của
huyền thoại trong văn hóa chính là B. Malinowski. Bằng những nghiên cứu điền dã trong
bối cảnh văn hóa thực tế của các bộ lạc nguyên thủy, B. Malinowski đã chứng minh rằng,
huyền thoại trong các xã hội cổ đại thực thi chức năng thực dụng với tƣ cách là công cụ giải
quyết các vấn đề gay cấn có liên quan đến sự bình an của cá nhân và xã hội, là công cụ duy
trì sự hòa hợp các nhân tố kinh tế, xã hội. Huyền thoại là lịch sử đƣợc kể lại, hay là một câu
chuyện có ý nghĩa phúng dụ, biểu tƣợng, đồng thời nó cũng đƣợc những ngƣời thổ dân duy
trì lâu dài với tƣ cách là một loại ―sấm truyền‖, một thực tại có ảnh hƣởng đến số phận con
ngƣời và thế giới…
59
Khó có thể đi đến kết luận về việc huyền thoại có trƣớc hay nghi lễ có trƣớc, nhƣng
nhƣ các nhà nghiên cứu trƣờng phái Nghi lễ - huyền thoại đã nói: ―về nguyên tắc, huyền
thoại và nghi lễ trong các nền văn học nguyên thủy và cổ đại hợp thành một thể thống nhất‖
[45;14] và mối liên hệ không phân tách đƣợc giữa huyền thoại và nghi lễ trong văn hóa
nguyên thủy là điều hiển nhiên. Tuy vậy, nói nhƣ thế không có nghĩa là mọi huyền thoại
đều có thể qui về nghi lễ hay mọi nghi lễ đều chứa đựng huyền thoại, mà chỉ có thể đƣa ra
một kết luận là ―huyền thoại trong những xã hội nguyên thủy có mối quan hệ gắn bó chặt
chẽ với ma thuật và nghi lễ, đồng thời làm phƣơng tiện duy trì trật tự tự nhiên, xã hội và
kiểm soát xã hội‖ [44;197]. ―Sự tái tạo huyền thoại trong những nghi lễ thƣờng xuyên đƣợc
lặp lại‖ [44;220] chính là một trong những phƣơng tiện thực hành để giữ gìn trật tự vũ trụ,
xã hội. Xuất phát từ nền văn hóa nguyên thủy, tổ hợp nghi lễ - huyền thoại có ý nghĩa quan
trọng trong ngọn nguồn nghệ thuật ngôn từ, cụ thể là ý nghĩa của huyền thoại với tƣ cách là
một hệ thống biểu tƣợng và kho tàng các biểu tƣợng đối với nghiên cứu văn học.
Nghiên cứu về huyền thoại trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn, chúng tôi nhận thấy sự
xuất hiện của các motif huyền thoại nghi lễ tiêu biểu vốn hình thành và gắn bó chặt chẽ với
đời sống văn hóa tinh thần của ngƣời nguyên thủy nói chung (trong đó có xã hội cổ đại
Trung Quốc): nghi lễ thụ pháp, nghi lễ hiến tế và nghi lễ ăn thịt người. Đây chính là minh
chứng cho sự xuất hiện của một số motif chung mang tính nhân loại vẫn tiếp tục trở đi trở
lại trong tâm thức con ngƣời cũng nhƣ trong nền văn học thế giới mà nhiều nhà nghiên cứu
huyền thoại trong đó có C. Jung đã từng khẳng định.
3.1.1. Nghi lễ Thụ pháp
Thụ pháp (initiation) xuất phát từ nghĩa của từ ―teleutai‖: làm chết ―nhƣng chết ở
đây có nghĩa là ra khỏi, là vƣợt qua một cánh cửa để bƣớc vào một nơi khác‖ [13;906]. Khi
―ngƣời thụ pháp bƣớc qua tấm màn lửa chia cắt cõi phàm với cõi thiêng. Y từ một thế giới
này bƣớc sang một thế giới khác và việc đó tạo cho y một sự biến đổi: y trở thành con
ngƣời khác‖ [13;906]. Các hình thức tiêu biểu của nghi lễ này bao gồm quá trình thử thách
sức chịu đựng thể xác (nhƣ một tiểu phẫu gây đau đớn), sự chiếm lĩnh trí tuệ thông suốt của
bộ tộc hay cả cái chết lâm thời mang tính tƣợng trƣng (nhƣ đặt xuống một cái huyệt, phủ
cành cây và rắc bột lên ngƣời để giống xác chết; nuốt ngƣời đƣợc thụ pháp sau đó nhổ ra
một quái vật; xuống âm phủ hay đến xứ sở của thần linh; đánh nhau với thần linh…), thông
qua đó thể hiện sự loại bỏ trạng thái cũ để sang sự khởi đầu mới, sự ra đời của một con
60
ngƣời mới mẻ. Trong xã hội nguyên thủy, nghi lễ thụ pháp đƣợc thực hiện để tách chàng
thiếu niên đã đến tuổi trƣởng thành ra khỏi nhóm phụ nữ chƣa trƣởng thành và trẻ em, đƣa
họ vào nhóm ngƣời lớn - trƣởng thành với đầy đủ trách nhiệm và quyền lợi của mình, và
biến các bé gái thành ngƣời phụ nữ hoặc sẵn sàng để trở thành phụ nữ. Có thể thấy, sự
trƣởng thành qua các nghi lễ thụ pháp đều đƣợc nhấn mạnh ở hai đặc điểm chính: sự
trƣởng thành về tình dục (nhƣ nghi lễ cắt bao qui đầu đối với các bé trai, cắt âm vật hay phá
bỏ trinh tiết đối với các bé gái hiện nay vẫn còn phổ biến ở nhiều khu vực trên thế giới, đặc
biệt là các bộ tộc ở châu Phi); và sự trƣởng thành về vị thế (khả năng tham gia vào các hoạt
động quan trọng của cộng đồng, có tiếng nói đƣợc công nhận trong cộng đồng và đƣợc
cộng đồng tôn trọng). Những ngƣời chịu lễ hình nhƣ thực sự bƣớc vào cái chết và hoàn
toàn tin tƣởng rằng họ đã chết đi sống lại. Điều này có ý nghĩa đánh dấu việc ngƣời thụ
pháp đã sẵn sàng để tham gia vào cộng đồng với tƣ cách và vị thế mới.
Là một trong những nghi lễ chuyển tiếp quan trọng và mẫu mực nhất, trong huyền
thoại cổ đại, nghi lễ thụ pháp thƣờng xuất hiện gắn với huyền thoại về các vị anh hùng
chinh phục thiên nhiên, anh hùng văn hóa. Cuộc hành trình của họ từ thế giới này sang thế
giới khác, vùng miền này sang vùng miền khác; những thử thách chết đi sống lại chính là
biểu tƣợng cho nghi lễ thụ pháp để họ trở thành ngƣời anh hùng đích thực của cộng đồng,
đủ sức gánh lấy những trách nhiệm mà cộng đồng giao phó và nhận lấy niềm tự hào, tôn
vinh từ chính cộng đồng. Mƣời hai chiến công của Hercules trong mƣời hai năm là mƣời
hai thử thách mang tính biểu tƣợng cho nghi lễ thụ pháp để Hercules tẩy rửa tội lỗi của
mình (giết chết gia đình trong cơn điên cuồng bị tạo nên từ sự trả thù của Hera) đồng thời
cũng là bƣớc chuyển Hercules từ kẻ phàm trần đoản mệnh thành một vị thƣợng đẳng phúc
thần bất tử. Ngay từ những trang đầu tiên của thần thoại Trung Quốc, câu chuyện về Bàn
Cổ, vị thần sáng tạo ra thế giới đã cho thấy hình ảnh của nghi lễ thụ pháp nguyên thủy. Làm
nổ tung quả trứng Hỗn mang, Bàn Cổ đã thực hiện bƣớc chuyển từ trạng thái khởi nguyên
(giống nhƣ sự hoài thai của con ngƣời) trở thành một vị thần khai thiên lập địa. Thi thể Bàn
cổ khi chết mang đến sự biến hóa vô cùng lớn lao: mọi bộ phận trên cơ thể biến thành vũ
trụ, vạn vật. Đó là cái chết mang ý nghĩa biểu tƣợng cho sự khai sinh mới. Tám mƣơi mốt
kiếp nạn mà thầy trò Đƣờng Tăng phải trải qua trong Tây du kí xét ở góc độ nào đó cũng
giống nhƣ một nghi lễ thụ pháp lớn trên con đƣờng tiệm ngộ Phật pháp…
Tiểu thuyết Mạc Ngôn cho thấy sự xuất hiện trong nhiều tác phẩm dáng dấp của
61
nghi lễ thụ pháp từng xuất hiện trong thời kì cổ đại ở những chi tiết, sự kiện mang ý nghĩa
biểu tƣợng, tạo nên bƣớc chuyển đặc biệt trong cuộc đời nhân vật. Nếu nhƣ nghi lễ thụ
pháp gắn với nhân vật anh hùng về cơ bản vẫn giữ nguyên đặc trƣng (điều này sẽ đƣợc
chúng tôi nói rõ hơn ở phần bàn về cổ mẫu anh hùng) thì với các nhân vật khác, ý nghĩa thụ
pháp đã có nhiều khác biệt: Sau thụ pháp, hiếm khi xuất hiện con ngƣời mới mẻ mang ý
nghĩa tích cực mà phần lớn là sự tha hóa, thất vọng, bất lực và cái chết vĩnh viễn. Đây cũng
là khía cạnh biểu hiện đặc biệt của nghi lễ thụ pháp trong tiểu thuyết Mạc Ngôn mà chúng
tôi quan tâm.
Tác phẩm đầu tiên mang đến hình dung rõ nét nhất về nghi lễ thụ pháp là câu
chuyện viết về cuộc đời của hai thầy giáo vật lí trƣờng Trung học số 8: Phƣơng Phú Quí và
Trƣơng Xích Cầu trong Thập tam bộ. Thầy giáo Phƣơng vì kiệt sức mà ngất đi trên bục
giảng. Tƣởng nhầm là thầy đã chết, những ngƣời xung quanh nhân đó phát động một cuộc
vận động có qui mô rộng lớn về việc quan tâm đến đời sống của giáo viên. Sự trở về của
thầy sẽ khiến cho sự kiện mang ý nghĩa cao cả đó trở thành trò cƣời. Vì vậy, không còn
cách nào khác, Phƣơng Phú Quí phải tiếp tục ―chết‖. Nhờ bàn tay của cô chuyên gia chỉnh
dung ngƣời chết Lí Ngọc Thiền, Phƣơng Phú Quí thay đổi dung mạo, biến thành Trƣơng
Xích Cầu để tiếp tục đƣợc sống. Còn thầy Trƣơng, nhân đó từ bỏ công việc giáo viên lao
lực để đi buôn, thỏa mong ƣớc kiếm tiền. Cuộc phẫu thuật thay đổi diện mạo đƣợc miêu tả
nhƣ một nghi lễ tôn giáo đầy trang trọng đã trở thành dấu mốc quan trọng thay đổi cuộc đời
của tất cả các nhân vật, cuốn họ vào cuộc thụ pháp bất hạnh. Nhân vật không ―trƣởng
thành‖ mà ngày càng bế tắc, tha hóa, cuối cùng là cái chết. Kiểu sống ―hồn Trƣơng Ba, da
hàng thịt‖ tƣởng chừng ổn thỏa nhƣng càng về sau lại càng mâu thuẫn. Phƣơng Phú Quí
sống nhờ khuôn mặt của Trƣơng Xích Cầu nhƣng không thể sống bằng cuộc đời của ngƣời
đồng nghiệp. Từ cái miệng mang mùi viêm lợi mãn tính đặc trƣng, anh ta vẫn nói bằng
giọng điệu quen thuộc của Phƣơng Phú Quí, lên lớp với niềm đam mê của Phƣơng Phú
Quí, vẫn bấn loạn lên với tiếng khóc than và mùi ―bò sữa Nga‖ quen thuộc, gợi tình của Đỗ
Tiểu Anh. Mặt khác, một cách đầy mâu thuẫn, anh ta cũng không thể nào chống lại cảm
giác muốn bắt chƣớc Trƣơng Xích Cầu để khẳng định sự sống của mình, không chống lại
đƣợc sức hấp dẫn của vợ bạn. Cuộc đấu tranh tƣ tƣởng của Phƣơng Phú Quí với ham muốn
tình dục trƣớc hai ngƣời phụ nữ đƣợc Mạc Ngôn miêu tả khá chi tiết nhƣ một thử thách về
bản năng, báo trƣớc khả năng tồn tại của Phƣơng Phú Quí. Bị cuốn vào khuôn miệng toát
62
ra một thứ mùi hấp dẫn kì lạ của Lí Ngọc Thiền, không còn nghe thấy tiếng khóc bên kia
bức vách, Phƣơng Phú Quí đã biến mình thành Trƣơng Xích Cầu. Nhƣng khi vội vàng đi
ra từ nhà Đỗ Tiểu Anh, rõ ràng là anh ta vẫn không thể thoát khỏi tiếng gọi của Phƣơng
Phú Quí. Không có chỗ cho hai con ngƣời trên cùng một thân xác. Phƣơng Phú Quí không
thể tồn tại vì anh ta không thể sống chỉ là một trong hai ngƣời đó. Anh ta đã thất bại trên
con đƣờng hồi sinh. Dù Phƣơng Phú Quí có hét lên hay van nài cô chuyên gia chỉnh dung
―Hãy trả lại gƣơng mặt Phƣơng Phú Quí lại cho tôi‖ [56;544] thì mọi sự cũng đã quá muộn
màng, không thể vãn hồi. ―Ngƣời chết cần quay về với vị trí của ngƣời chết, không đƣợc
can thiệp vào thế giới của ngƣời sống‖ [56;541]. Phƣơng Phú Quí dùng dao rạch nát gƣơng
mặt nhƣ một hành động quyết liệt để chối bỏ lớp mặt nạ đang mang. Anh ta đã quyết tâm
trút bỏ bộ đồng phục màu xanh vì ―trên thiên đƣờng ngƣời ta không cho phép những ngƣời
mặc đồng phục tồn tại‖ [56;438]. Nhƣng xót xa thay, dù có rạch thêm bao nhiêu nhát dao,
dù có cởi bộ đồng phục đang mặc, anh ta vẫn phải chết với thân phận của Trƣơng Xích
Cầu. Đến ngay cả quyền đƣợc chết đúng với tên tuổi của mình, Phƣơng Phú Quí cũng
không có. Cuộc thụ pháp ngỡ mở ra cuộc đời mới cho nhân vật, cuối cùng lại dẫn đến một
kết thúc bi kịch.
Nếu nhƣ Phƣơng Phú Quí sau cuộc phẫu thuật đánh mất cả gƣơng mặt lẫn thân
phận; thì Trƣơng Xích Cầu, tuy vẫn giữ nguyên khuôn mặt nhƣng lại không đƣợc sống
đúng với thân phận của mình. Đồng ý từ thầy giáo Trƣơng trở thành tay buôn thuốc lá
nhƣng tâm trạng của Trƣơng Xích Cầu trƣớc cảnh Phƣơng Phú Quí bƣớc ra khỏi nhà để
diễn vai của mình là một diễn biến thú vị. Đầu tiên, anh ta cảm thấy hụt hẫng vì Phƣơng
Phú Quí (lúc này đang trong vai Trƣơng Xích Cầu) thản nhiên kẹp mấy cuốn vở dƣới nách
đi ra cửa, ―chẳng hề ngoái lại‖, xem nhƣ anh ta không tồn tại. Tiếp theo là cảm giác choáng
váng và nỗi đau đột ngột khiến anh ta sụp đổ xuống ngạch cửa, lần thứ ba, vịn vào khung
cửa mới đứng dậy đƣợc khi nghe câu ―chào thầy Trƣơng‖ của một ngƣời đàn bà nói với
Phƣơng Phú Quí ngoài ngõ. Lần đầu tiên anh ta thấy sợ hãi vì phải ở nhà chờ đợi nhƣng lại
không thể bỏ đi. Ý thức về việc rời khỏi nhà kiếm tiền khiến anh ta ―hoảng loạn‖, ―tiến
thoái lƣỡng nan‖, ―bối rối tột cùng‖. Cùng với diễn biến tâm trạng đó, cảm giác đánh mất đi
bản thể của Trƣơng Xích Cầu ngày càng rõ ràng. Khi nhìn theo Phƣơng Phú Quí, anh ta
đang giữ quyền chủ động cho vị thế Trƣơng Xích Cầu. Nhƣng lời của ngƣời đàn bà đã
giáng một đòn đau chí mạng, đánh dấu việc từ đây anh ta đã vĩnh viễn không còn là
63
Trƣơng Xích Cầu nữa. Nỗi sợ hãi, hoang mang ập tới. Ấy là nỗi hoang mang của một
ngƣời không biết mình là ai và sẽ là ai trong cuộc đời. Cuộc chung đụng với ngƣời phụ nữ
bán hàng tạp hóa là một chi tiết có ý nghĩa dự báo về kết cục trong cuộc đời mới của
Trƣơng Xích Cầu. Khả năng tình dục vẫn luôn là một trong những yếu tố chứng tỏ sự
trƣởng thành của con ngƣời. Khi một chàng thanh niên tách mình ra khỏi đám trẻ em và
phụ nữ để gia nhập vào nhóm ngƣời lớn, cũng là lúc anh ta đã sẵn sàng với năng lực tình
dục của mình. Với Trƣơng Xích Cầu, tình dục trở thành cầu nối xác lập tƣ cách tồn tại mới.
Sự chung đụng thể xác của Trƣơng Xích Cầu khi anh ta bƣớc chân ra khỏi nhà với thân
phận mới giống nhƣ một thứ nghi lễ trƣởng thành mà Trƣơng Xích Cầu cần phải thực hiện.
Vƣợt qua nó, Trƣơng Xích Cầu mới có thể trở thành một con ngƣời mới đúng nhƣ kế
hoạch. Nếu nhƣ trƣớc đó, với Lí Ngọc Thiền, Trƣơng Xích Cầu cho rằng vì bị ám ảnh bởi
thứ mùi xác chết nên bất lực thì nay, anh ta cũng chỉ có thể mang lại cho cô chủ quán tràn
trề dục tính tiếng thở dài. Nghi lễ đã thất bại! Trƣơng Xích Cầu không thể làm một ngƣời
khác, anh ta muốn đƣợc quay trở lại đúng với cái tên của mình. Nhƣng đã muộn! Không
còn chút bóng dáng của một thầy giáo, anh ta giống nhƣ một tên lƣu manh, một kẻ khố
rách áo ôm, một anh bƣu điện lạc đƣờng, ―ngƣời quyên tiền vinh quang‖ cho cái chết của
―Trƣơng Xích Cầu‖, bố của Trƣơng Xích Cầu. Cũng giống nhƣ Phƣơng Phú Quí, cuối
cùng, dù anh ta có muốn vùng vẫy để trở lại là mình cũng không thể đƣợc nữa. ―Trƣơng
Xích Cầu‖ đã chết. Với cái chết này, Phƣơng Phú Quí trải qua hai lần chết. Với cái chết
này, Trƣơng Xích Cầu chuẩn bị bƣớc vào cái chết lần hai. Vết xe của Phƣơng Phú Quí đã
đƣợc Trƣơng Xích Cầu tiếp tục nối dài. Cuộc tái sinh mới, cuộc đời mới đã không đến với
con ngƣời tham gia cuộc thụ pháp. Xuyên suốt cuốn tiểu thuyết, cả Phƣơng Phú Quí và
Trƣơng Xích Cầu có khi đều đƣợc gọi là thầy giáo vật lí trƣờng Trung học số 8. Nhân vật
thầy giáo vật lí này còn có sự trộn lẫn, không thể phân biệt với nhân vật ngƣời kể chuyện
trong chuồng sắt đang ăn phấn. Nó cho thấy vòng quay luẩn quẩn và bế tắc: Dù có là ai thì
nỗi bất hạnh của họ cũng giống nhau và kết cục của họ cũng sẽ giống nhau.
Trong xã hội cổ đại, nghi lễ thụ pháp thƣờng gắn với sự trƣởng thành của ngƣời đàn
ông trong bộ tộc nhƣng cũng có những nghi lễ tƣơng tự để xác lập sự trƣởng thành (về tình
dục - chuẩn bị cho việc sinh đẻ và duy trì, phát triển nòi giống cho bộ lạc) của các bé gái.
Màu sắc của nghi lễ thụ pháp khá nhiều lần xuất hiện gắn liền với nhân vật nữ trong tác
phẩm của Mạc Ngôn. Tuy vậy, nó không dừng lại ở khởi nguyên (đánh dấu sự trƣởng
64
thành) mà có thể xuất hiện ở bất cứ giai đoạn nào trong cuộc đời nhân vật nữ, tạo nên
những bƣớc đột phá mới, những bƣớc chuyển quan trọng có ý nghĩa quyết định đến số
phận của họ có khi theo ý nghĩa tái sinh, nhƣng cũng có khi là dấu mốc để bƣớc vào quá
trình hủy diệt mãi mãi.
Ở Rừng xanh lá đỏ, ngƣời đọc bắt gặp hình ảnh nghi lễ này thông qua hai nhân vật
nữ: Lâm Lam, Trần Ngọc Trai và một nhân vật đặc biệt: trai ngọc. Trải qua nghi lễ thụ
pháp, con đƣờng ―trƣởng thành‖ của mỗi nhân vật tuy khác nhau nhƣng đều mang nỗi ám
ảnh sâu sắc. Hình ảnh ngọc trai xuất hiện xuyên suốt tác phẩm, trở thành một biểu tƣợng
mang nhiều ý nghĩa, gắn với hai nhân vật nữ Lâm Lam và Trần Ngọc Trai. Quá trình làm
ra trai ngọc đƣợc Mạc Ngôn cảm giác hóa để hóa thân vào tất cả những nỗi đau đớn của
trai ngọc cả về thể xác và tinh thần. Những con trai bị dùng ―lẹm‖ bắt mở miệng, ―dùng
kẹp lôi lƣỡi và chân trai ra, châm mấy lỗ thật sâu bằng chiếc kim rỗng ruột‖. ―Ngƣời ta nhét
những mẩu vỏ còn cạnh hoặc đã mài nhẵn vào trong lỗ châm, rút lẹm ra‖ [50;229]; ―Dƣới
biển, con trai ngọc gào khóc, cố đùn cái vật lạ ra khỏi ngƣời‖; ―Con trai chỉ có thể chọn một
trong hai cách, hoặc là chết, hoặc là sống, sống thì phải tiết ngọc dịch bao kín cái vật làm
cho nó khổ sở, bao thật tròn, thật trơn‖ ([50;230]. Ngọc trai là kết tinh của bảy trăm ngày
trai ngọc ―ngậm đắng nuốt cay‖, ―giật mình hốt hoảng‖. Những gì đã diễn ra đó giống nhƣ
một nghi thức đau đớn nhƣng quan trọng và cần thiết mà con trai phải trải qua để có thể
biến thành trai ngọc. Với việc bị đƣa miếng vỏ trai vào trong cơ thể, trai ngọc phải chịu
đựng nỗi đau đớn ―còn đau khổ hơn những cô gái trinh bị làm nhục‖ [50;230], hàng đêm
vọng lên từ đáy biển những tiếng rên rỉ xót xa. Nhƣng cũng với việc ấy, nó mới từ một con
trai bình thƣờng trở thành trai ngọc, mới có thể hoài thai ra những viên ngọc trai lấp lánh
ánh sáng của mặt trăng. Ấy là cái đẹp đƣợc kết tinh từ đau khổ. Và cũng vì đƣợc kết tinh từ
đau khổ nên nó càng ngời sáng hơn. Giống nhƣ một nghi lễ thụ pháp, việc đƣợc lựa chọn
để cấy mảnh vỏ trai trở thành một bƣớc ngoặt, một bƣớc chuyển biến quan trọng trong
vòng đời trai ngọc. Nó trở thành biểu tƣợng cho nỗi đau, nhƣng cũng là biểu tƣợng cho vẻ
đẹp thanh khiết vĩnh cửu với ―đứa con‖ trong trắng vô ngần… Hình ảnh ngọc trai có mối
quan hệ mật thiết với hai nhân vật nữ chính trong tác phẩm. Ngọc Trai, cái tên trùng với vật
báu đƣợc sinh ra từ biển cả, sinh ra từ những đau đớn của trai ngọc, mang vẻ đẹp trong
sáng, thanh thiết của những viên ngọc trai đẹp nhất và nỗi đau khổ của nàng cũng khiến
ngƣời ta nhớ đến nỗi đau đớn của con trai để hoài thai thành ngọc. Với Lâm Lam, ngọc trai
65
có một vị trí đặc biệt. Mỗi khi lòng thấy bất an hay đau khổ, cô lại coi ngọc trai là liều thuốc
trấn an tinh thần. Thói quen ngậm ngọc trai trong mồm, đặc biệt là viên ngọc trai đen quí
hiếm mỗi khi cần lấy lại sự bình tâm và sức mạnh của Lâm Lam sao giống với hình ảnh
con trai đang ngậm ngọc. Trai đau xót để làm ra ngọc, còn Lâm Lam, sau tất cả, cô trở
thành gì? Hình ảnh tƣơng đồng nhƣng lại tạo nên sự đối lập gay gắt tô đậm thêm số phận bi
kịch của ngƣời phụ nữ này.
Quá trình bị biến thành trai ngọc cũng nhƣ sự chuyển biến theo những cách khác
nhau sau khi bị cƣỡng hiếp của Lâm Lam và Trần Ngọc Trai đều mang màu sắc của những
―nghi lễ thụ pháp‖. Chỉ có điều, thụ pháp không còn dừng lại ở ý nghĩa ban đầu đƣợc chia
sẻ trong cộng đồng, đánh dấu sự trƣởng thành về mặt tình dục; mà là một hành động cƣỡng
bức xuất phát từ tội ác và sự xuống cấp nhân cách, đẩy ngƣời ―bị‖ thụ pháp vào bi kịch.
Lâm Lam sau khi bị chính bố chồng là Bí thƣ Địa ủy Tần cƣỡng bức thì trƣợt dài trên con
đƣờng sa đọa. Sau sự kiện đó, cô lao vào mối quan hệ bất chính với bố chồng nhƣ một con
thiêu thân. Những trận cuồng hoan diễn ra bất kể thời gian, địa điểm, ngay cả vào đêm hỏa
táng ngƣời chồng hờ, cũng là con trai của bí thƣ địa ủy Tần. Tình dục là thứ để Lâm Lam
thỏa mãn bản năng, là vũ khí để cô trả thù Mã Thúc, trả thù cuộc đời, nhƣng nó cũng đồng
thời là tiếng kêu cứu trong vô vọng. Lâm Lam điên cuồng trong những cuộc giao hoan
cũng chính là lúc cô quằn quại để thoát ra vũng bùn bế tắc của cuộc đời. Càng vùng vẫy, cô
càng lún sâu xuống bùn. Càng lún sâu xuống bùn, cô lại càng điên cuồng vùng vẫy, điên
cuồng làm tình. Sau sự thỏa mãn tham vọng, dục vọng là một thân thể rã rời, một tâm hồn
rệu rã, rách nát và nỗi cô đơn không thể lấp đầy. Nếu nhƣ Lâm Lam chấp nhận buông xuôi
theo dục vọng bản năng thì Ngọc Trai sau khi bị cƣỡng hiếp vẫn đƣợc chiêu tuyết về một
nhân cách sáng trong nhƣ ngọc: ―Chỉ cần trái tim cháu trong sạch là không gì có thể vấy
bẩn lên ngƣời cháu… từ nay cháu nhƣ một viên ngọc, sạch từ trong ra ngoài‖ [50;454].
Trần Ngọc Trai chính là phần trong sáng thánh thiện trƣớc kia mà Lâm Lam đã đánh mất.
Cho đến cuối cùng, dù trải qua biết bao dập vùi, cô vẫn giữ đƣợc phẩm chất tốt đẹp của
mình. Chỉ có điều, với những sự thật đau lòng trƣớc mắt (mẹ chồng, chồng bị bắt; chồng
chính là ngƣời đã cƣỡng hiếp mình và gây ra bao nhiêu tội ác khác), tƣơng lai của ngƣời
con gái ấy cũng thật mờ mịt, mong manh.
Trong Ếch, thụ pháp gắn với nhân vật bác sĩ sản khoa Vạn Tâm, đƣợc đặt trong một
sự kiện mang ý nghĩa biểu tƣợng sâu sắc: cuộc đụng độ kinh hoàng của Vạn Tâm với hàng
66
vạn con ếch vào đêm rằm tháng Bảy âm lịch. Nếu nhƣ trƣớc đó, Mạc Ngôn chủ yếu tập
trung vào việc miêu tả diễn biến liên quan đến công việc của Vạn Tâm ở hai thời điểm
quan trọng: trƣớc và trong khi thực hiện chính sách sinh đẻ có kế hoạch; thì đến đây, ngƣời
đọc mới có thể cảm nhận đƣợc hết những ẩn ức, những nỗi đau đớn, dằn vặt trong sâu thẳm
tâm hồn ngƣời phụ nữ này. Rằm tháng Bảy âm lịch, theo truyền thống của Trung Quốc và
nhiều quốc gia phƣơng Đông là ngày cửa địa ngục mở ra, âm cung xóa tội vong nhân, hồn
ngƣời chết cõi âm đƣợc về gặp ngƣời sống cõi dƣơng. Chính trong đêm đó, trên con đƣờng
trở về khu tập thể bệnh viện, một cách mơ hồ, đôi chân Vạn Tâm dẫn bà đến một vùng đất
hoang ẩm thấp, ngập tràn tiếng ếch kêu râm ran thành một dàn hợp xƣớng kì quái: ―Đêm
ấy tiếng ếch kêu lại giống nhƣ tiếng khóc, tiếng khóc của hàng nghìn, hàng vạn đứa hài nhi
cùng cất lên một lúc‖, ―trong tiếng kêu của ếch có sự oán hận, có sự rền rĩ… Hình nhƣ tinh
linh của hàng vạn đứa trẻ sơ sinh đã bị hại cũng lên tiếng khóc than cho số kiếp ngắn ngủi
của mình‖ [57;355], ―những tiếng kêu giận dữ, nhƣng cũng có những tiếng kêu thê thiết‖
[57;356]. Cùng nhau trở về trong đêm rằm tháng Bảy, phải chăng những con ếch là hàng
ngàn, hàng vạn vong hồn đứa trẻ bất hạnh chƣa kịp chào đời đang trở về đòi sự sống?
Những con ếch bao vây Vạn Tâm, ―những cái mồm sắc nhọn của chúng bắt đầu ngậm vào
da thịt cô‖, ―chúng thi nhau đái, thi nhau ỉa lên thân thể tôi, cũng có thể là có rất nhiều con
đang phóng ra tinh dịch‖, ―làn da bụng nhơn nhớt của chúng tiếp xúc với da thịt khiến tôi
có cảm giác rờn rợn, nhớp nhúa không thể nào chịu nổi‖ [57;357]. Vạn Tâm quỳ trên lớp
bùn dính nhƣ keo, bò về phía trƣớc nhƣ một con ếch khổng lồ, chiếc quần dày màu đen bị
mồm ếch xé nát không còn một mảnh vải. Thoát ra khỏi vùng đất hoang, bà đã cạn kiệt
không còn chút sức lực. Những gì diễn ra giống nhƣ một nghi lễ đau đớn nhƣng cần thiết
trên con đƣờng tìm đến với sự thanh thản tâm hồn Vạn Tâm. Những điều diễn ra là thực
hay ảo? Bao nhiêu phần là thực, bao nhiêu phần là ảo? - Chỉ có Vạn Tâm (và có thể là
Hách Đại Thủ) là ngƣời biết rõ nhất. Nhƣng có một điều rất thực là sự hữu hình của nỗi dằn
vặt đau đớn bấy lâu nay trong tâm thức Vạn Tâm. Dù có tự bào chữa, tự trấn an mình bằng
nhiệm vụ, bằng trách nhiệm, bằng lí tƣởng cách mạng thì từ trong vô thức, mặc cảm tội lỗi
về những việc đã làm luôn luôn ám ảnh Vạn Tâm. Cuộc đụng độ giống nhƣ một sự trừng
phạt, một nghi lễ tẩy rửa cần thiết mà Vạn Tâm mong muốn đƣợc trải qua và cần phải trải
qua. Sự kiện khủng khiếp đó là đỉnh điểm cho những nỗi niềm dồn nén bấy lâu nay trong
Vạn Tâm, làm thay đổi con ngƣời bà nhƣ ―một kì thay xƣơng đổi thịt‖ mà ngƣời ta vẫn
67
thƣờng nói đến trong truyền thuyết. Vạn Tâm ý thức đƣợc rằng, dù có thế nào đi nữa, dù có
bào chữa bằng cách nào đi nữa thì bà vẫn vừa là công thần, vừa là tội nhân. Công thần thì
sẽ đƣợc lƣu danh trong lòng hậu thế (nhƣ bức tƣợng Nƣơng Nƣơng - vị bồ tát bảo hộ cho
sự sinh đẻ trong miếu Nƣơng Nƣơng của vùng Đông Bắc Cao Mật tám phần giống Vạn
Tâm). Còn tội nhân thì phải tự mình chịu tội. Vạn Tâm trở thành vợ của Hách Đại Thủ, đại
sƣ nặn tƣợng dân gian, hàng ngày cùng với ông làm công việc vô cùng thần bí: nặn những
bức tƣợng hài nhi mang hình dáng của hai ngàn tám trăm đứa trẻ chƣa từng đƣợc sinh ra,
cho chúng một kiếp đầu thai mới. Quá trình nặn tƣợng bằng đất sét trong một trạng thái
thần bí phiêu diêu của vợ chồng Vạn Tâm - Hách Đại Thủ dễ khiến ngƣời ta nhớ đến sự
tích Nữ Oa sáng tạo loài ngƣời trong thần thoại Trung Hoa. Chỉ có điều, nếu nhƣ ở Nữ Oa
là sự tạo sinh thuần khiết thì với Vạn Tâm, đó là hành trình đau đớn, dằn vặt, mong muốn
mang đến sự tái sinh cho những kiếp ngƣời không đƣợc sinh ra làm ngƣời. Đoạn kết của vở
kịch mà Khoa Đẩu viết và cũng là đoạn kết của tác phẩm mang ý nghĩa biểu tƣợng sâu sắc.
Hành động treo mình trên chiếc thòng lọng của Vạn Tâm mang dáng dấp của một kẻ chịu
tội. Không chỉ là chịu tội cho mình, đó còn là sự chịu tội cho những sai lầm của cả một dân
tộc. Khi Vạn Tâm đã có đủ dũng cảm đƣơng đầu với hiện thực, dám thừa nhận mình là ―kẻ
có tội‖ xứng đáng bị trừng phạt, dày vò thì cũng là lúc con đƣờng trở về với cuộc sống của
bà đƣợc mở ra. Sau cái ―chết‖ ấy, Vạn Tâm đƣợc ―tái sinh‖… Khi dân tộc Trung Hoa dám
dũng cảm thừa nhận những thiếu khuyết của mình trong quá khứ, họ mới có thể vƣợt qua
bóng đen của quá khứ để lớn mạnh. Chẳng phải đó cũng chính là những điều mà Lỗ Tấn
trƣớc Mạc Ngôn gần một thế kỷ đã từng trăn trở? Tiếng nói nhận thức lại của Mạc Ngôn về
một thời kì lịch sử đầy vết thƣơng vì thế cũng nhƣ Lỗ Tấn, sẽ luôn mang tính thời sự.
Có sự kết nối với nghi lễ thụ pháp nhƣng tiểu thuyết Mạc Ngôn đã mang đến nhiều
sự khác biệt. Nếu nhƣ trong xã hội cổ đại, nghi lễ thụ pháp chủ yếu gắn liền với sự trƣởng
thành của ngƣời đƣợc thụ pháp, thì Mạc Ngôn đã mang ánh sáng thụ pháp đó đặt lên một
hệ thống nhân vật vô cùng phong phú từ ngƣời trẻ đến ngƣời già, từ đàn ông đến phụ nữ.
Tất cả họ, dù đã trƣởng thành hay chƣa, đều là những mảnh đời bất hạnh, khao khát sự thay
đổi, khao khát sự tái sinh trong khắc khoải và vô vọng. Con ngƣời nguyên thủy sau nghi lễ
thụ pháp tiếp tục đƣợc sống cuộc đời của mình, đƣợc sự thừa nhận của công xã; còn những
số phận tham gia vào nghi lễ thụ pháp của Mạc Ngôn nhƣ Phƣơng Phú Quí, Trƣơng Xích
Cầu có đƣợc sống cũng không phải bằng cuộc đời của mình nữa. Họ đã đánh mất (hay bị
68
cƣớp đi mất?) thân phận, sống mà không bằng chết, không thể sống nên phải tìm đến cái
chết. Cánh cửa mở ra con đƣờng trở về với cuộc đời đồng thời cũng là cánh cửa dẫn đến
địa ngục sâu thẳm, đen tối, dày vò, đau đớn và tàn lụi. Nghi lễ thụ pháp trong huyền thoại
cổ đại đƣa nhân vật thành ngƣời anh hùng; còn những nhân vật đƣợc (hoặc bị) thụ pháp
trong tiểu thuyết Mạc Ngôn cũng có trƣờng hợp trở thành anh hùng, cũng có trƣờng hợp
―trƣởng thành‖ hơn nhƣng đa phần đều biến thành những kẻ thất bại, tha hóa, những con
ngƣời đầy bi kịch. Nghi lễ thụ pháp trở thành biểu tƣợng cho cuộc sống hiện thực đầy bất
trắc và cám dỗ vẫn đang bám riết, vây chặt lấy những thân phận khốn khổ, mặc cho họ
vùng vẫy…
3.1.2. Nghi lễ Hiến tế
Hiến tế (sacrifice) ―là hành động làm cho một vật hoặc một ngƣời nào đó trở thành
thiêng liêng, nghĩa là làm cho cái đem dâng hiến, cho dù đó là của cải riêng hoặc cuộc sống
bản thân, cách biệt với ngƣời dâng hiến; đồng thời cũng cách biệt với cả nhân quần trần tục;
cách biệt với chính mình để đƣợc dâng cho Thần Linh, nhằm chứng tỏ sự lệ thuộc, sự phục
tùng, sự ăn năn hối lỗi hay tình yêu‖ [13;396]. Đây là một trong số những nghi lễ quan
trọng nhất đối với con ngƣời thời kì săn bắn - hái lƣợm, nhƣ một cố gắng thành khẩn để
xoa dịu các vị thần linh/ ma quỷ. Yêu cầu đầu tiên cần có của hiến tế là vật tế sinh. Vật tế
sinh đƣợc gửi lên các vị thần linh thông qua cây cầu nối là thầy tƣ tế - những ngƣời thực
hiện các nghi thức tế lễ và đƣợc coi là ―công cụ thực hiện sự dâng hiến‖ [13;397]. Là một
nghi lễ tôn giáo, việc hiến tế đƣợc đặt trong một không gian nghi lễ, thƣờng là không gian
cộng đồng. Vì ―Sự hiến tế gắn với ý tƣởng về một sự trao đổi ở cấp độ năng lƣợng sáng tạo
hoặc năng lƣợng tinh thần‖ [13;396] nên vật hiến tế đóng vai trò vô cùng quan trọng. Vật tế
sinh ―có tác dụng bảo vệ và làm trong sạch xã hội‖ [44;129]. ―Vật hiến tế càng quí bao
nhiêu thì năng lƣợng tinh thần đƣợc nhận lại càng lớn ấy nhiêu bất kể nó nhằm mục đích
tẩy uế hay cầu phúc‖ [13;396-397]. Hiến tế ngƣời đã từng diễn ra khá phổ biến từ thời cổ
đại. Những chứng tích khảo cổ học về nghi lễ tôn giáo này đƣợc tìm thấy ở các tộc ngƣời
Maya, ngƣời Aztec, ngƣời Inca, ngƣời Ai Cập cổ... Về sau, cùng với sự phát triển của xã
hội loài ngƣời, vật hiến tế dần đƣợc thay thế bằng các con vật. Nhƣng dù là con ngƣời hay
con vật thì để có giá trị thanh tẩy và thiêng liêng nhất, vật hiến tế thƣờng phải là sinh linh
thuần khiết (trẻ nhỏ, trinh nam, trinh nữ hay con vật non). Các nghiên cứu gần đây của các
nhà khoa học đến từ Úc và New Zealand đã chỉ ra rằng, hiến tế không chỉ là một nghi thức
69
thiêng liêng trong tín ngƣỡng nguyên thủy gắn với thuở ấu thơ của nền văn minh nhân loại
mà còn là một hình thức ―giúp củng cố quyền lực trong xã hội phân chia giai cấp‖ [175].
Nếu nhƣ thời cổ đại, để bày tỏ lòng tôn kính và trung thành tuyệt đối của thần linh, con
ngƣời phải lấy thân xác mình (sau này là các động vật hay đồ vật khác) làm vật hiến tế thần
linh với mong muốn vật hy sinh sẽ bảo vệ và mang lại đời sống yên bình; thì trong xã hội
có giai cấp, hiến tế vẫn là một hình thức phổ biến, với ―rất nhiều sự đan xen giữa vai trò của
tôn giáo và quyền lực chính trị‖ [175], hay nói cách khác, là cách mà các lực lƣợng chính
trị mƣợn một hình thức tôn giáo để củng cố quyền lực của giai cấp mình. Trong lịch sử
Trung Quốc, có thể thấy điều này qua nghi thức ―tuẫn táng‖ từng diễn ra phổ biến ở các
triều đại phong kiến.
Các câu chuyện hiến tế xuất hiện không ít trong Thần thoại Hi Lạp. Vua Minos đã
giam cầm Minotaur trong mê cung và ra lệnh cho ngƣời dân thành Aten phải hiến tế bảy
chàng trai trẻ và bảy thiếu nữ để cho quái vật nửa ngƣời nửa bò ăn thịt. Agamemnon vì
quên hiến tế cho nữ thần Artemis, khiến nữ thần nổi giận đã phải hiến tế con gái mình là
công chúa Iphigenia để xoa dịu cơn giận của nữ thần, giúp cho cuộc ra quân thuận buồm
xuôi gió. Trong Kinh Thánh, chúa Jesus đã hiến mạng sống của mình nơi ―giá chuộc‖. Sự
chết đi và hồi sinh trở lại của Ngài nhƣ một lễ hiến sinh vĩ đại để thức tỉnh, cứu chuộc loài
ngƣời. Tổ phụ Abraham - cha của những ngƣời tin vào Thiên Chúa đã hiến tế con trai mình
là Isaac và chiến thắng trong thử thách về đức tin của Chúa. Trong các tiểu thuyết của Mạc
Ngôn nhƣ Đàn hương hình, Tửu Quốc, Tứ thập nhất pháo, Thập tam bộ… hiến tế vừa
mang dáng dấp của nghi lễ nguyên thủy, đồng thời cũng biểu hiện nhiều lớp ý nghĩa mang
tính thời đại sâu sắc. Với đầy đủ những biểu hiện của một nghi lễ hiến tế: thầy tƣ tế, vật
hiến tế, ngƣời tham dự, không gian hiến tế, Đàn hương hình có thể đƣợc coi là một tác
phẩm tiêu biểu nhất cho motif huyền thoại này.
Trong Đàn hương hình, vai trò thầy tƣ tế đƣợc đặt vào tay Triệu Giáp. Triệu Giáp là
tay đao phủ nổi tiếng ở triều đại nhà Thanh, đƣợc đích danh Hoàng Thái Hậu ban chức
danh Trạng nguyên trong nghề đao phủ, thăng quan hàm Thất phẩm, ban chuỗi hạt bằng gỗ
đàn hƣơng; đƣợc vua ban ghế Thái sƣ. Pháp luật đƣợc xây dựng nhằm duy trì trật tự xã hội.
Để thực thi pháp luật, hình phạt là yếu tố cần thiết. Nhƣng một sự thật đau lòng là trong lịch
sử loài ngƣời nói chung, lịch sử dân tộc Trung Hoa nói riêng, đã có rất nhiều hình phạt mà
tính chất trừng phạt, răn đe bị chuyển xuống thứ yếu để nhƣờng chỗ cho mục đích mua vui,
70
hay củng cố quyền lực của kẻ đứng đầu. Thế nên cái nghề hành hình mới trở nên lắm công
phu, không chỉ là những qui tắc riêng trong ngành theo kiểu ―phú quí sinh lễ nghĩa‖ mà còn
để thỏa mãn nhãn quan của ngƣời chứng kiến. Trong bối cảnh ấy, Triệu Giáp không còn là
một tay đao phủ bình thƣờng nữa. Hắn đã biến thành một ―nghệ sĩ ― đang biểu diễn cho
quần chúng thứ ―nghệ thuật giết ngƣời‖ đáng sợ; một thầy tƣ tế đang tôn nghiêm và trang
trọng thực hiện những nghi lễ tôn giáo trong một buổi hiến tế mà vật tế sinh chính là tội
nhân. Cuộc hành hình Tiền Phi Hùng với án phạt ―lăng trì‖ đã cho thấy vai trò thầy tƣ tế ấy
của Triệu Giáp. Với cách miêu tả tỉ mỉ, chậm rãi, không bộc lộ một chút cảm xúc, Mạc
Ngôn để cuộc hành hình diễn ra nhƣ thƣớc phim quay chậm về một lễ hiến tế ngƣời mà vật
hiến tế là Tiền Phi Hùng. Vật hiến tế thật đẹp với ―cơ thể đàn ông cân đối, khỏe mạnh‖,
―mũi cao, miệng rộng, lông mày lƣỡi mác, mắt sáng nhƣ sao, ngực nở, bụng thon, da mịn
màu đồng điếu‖, đặc biệt trên khuôn mặt ―luôn mỉm cƣời châm biếm‖ [49;309-310]. Sau
phát vỗ mạnh vào tim, miếng thịt đầu tiên nhƣ đồng xu đƣợc khoanh lấy từ ngực bên phải
của Tiền Phi Hùng, giơ cao lên để ―tạ trời‖. Miếng thứ hai, bên ngực trái đƣợc vảy xuống
để tạ đất. Miếng thứ ba trên ngực quăng lên trời là miếng tạ quỷ thần… Miếng thứ năm
trăm, vết dao đâm trúng vào trái tim của ngƣời anh hùng quả cảm. Viên Thế Khải định
dùng cuộc ―hiến tế‖ để thị uy trƣớc ba quân, muốn Tiền Phi Hùng phải khuất phục với một
cái chết đau đớn nhƣng cuộc hành hình lại khiến cho Tiền Phi Hùng tỏa sáng. Mạc Ngôn
chỉ đóng vai trò là ngƣời quay phim, ghi lại những thƣớc phim chậm, nhƣng thông qua sự
vị nể của Triệu Giáp - tay đao phủ khét tiếng giết ngƣời không ghê tay, ngƣời ta cũng có
thể phần nào đoán ra đƣợc sức lay động của cái chết này.
Tuy đƣợc xây dựng trong vai trò của một thầy tƣ tế nhƣng ngay từ đầu, không nhƣ
trong hiến tế truyền thống, vị trí thầy tƣ tế của Triệu Giáp đã có sự khác biệt. Bốn mƣơi
năm trung thành với nghề, để đạt đƣợc đến trình độ siêu hạng, hắn đã phải đánh đổi nhiều
thứ: cắt đứt mối liên hệ với quê hƣơng, gia đình và cắt đứt đi cả những nhu cầu của một con
ngƣời bình thƣờng. Với kẻ mà ―tuy bộ tam sự còn nguyên nhƣng tâm đã chết‖ [49;472],
không cần tịnh thân nhƣ thái giám nhƣng thân đã tịnh hoàn toàn, tất cả lạc thú của hắn dồn
vào đôi bàn tay quái đản. Triệu Giáp đã dâng hiến cho nghề đao phủ cả cuộc đời, toàn bộ
những lạc thú, tài năng tâm huyết và sau này là đứa con trai độc nhất của mình. Triệu Giáp
chỉ thấy ở Tiền Phi Hùng, Tôn Bính việc ―dựng cờ tạo phản, vi phạm quốc pháp, dẫn đến
tranh chấp liệt cƣờng‖ [49;463], là loại dân bất trị cần phải trấn áp để bảo vệ kỷ cƣơng. Hắn
71
sống với niềm tự hào là đại diện cho sự tôn nghiêm của đất nƣớc, đại biểu cho tinh khí của
triều đình mà không biết rằng mình chỉ là một thứ công cụ giết ngƣời mua vui cho vua
chúa, mua vui cho quần chúng, trở thành bệ đỡ cho kẻ khác thăng quan tiến chức, thành
công cụ đàn áp cho bọn phát xít Đức xâm lƣợc. Vì vậy mà Triệu Giáp càng tự hào, cố gắng
tâm huyết với nghề đao phủ bao nhiêu, càng tài hoa bao nhiêu thì lại càng đáng thƣơng,
đáng trách bấy nhiêu. Niềm tin “Nghề này mà phát triển thì triều đình hƣng thịnh. Nghề
này mà tiêu điều thì khí số của triều đình cũng hết‖ [49;86] đã vạch trần sự mông muội, ấu
trĩ của Triệu Giáp cũng nhƣ rất nhiều ngƣời dân Trung Quốc đang xếp hàng suốt chiều dài
lịch sử để chờ xem những cuộc thị chúng. Đóng vai nhân vật thầy tƣ tế trong các cuộc hành
hình nhƣng Triệu Giáp cũng đã biến chính bản thân mình trở thành vật tế sinh cho triều đại
Mãn Thanh. Đáng tiếc, đó là sự dâng hiến trong ngu muội cho một triều đại mà khí số đã
hết, ―Thái hậu chuyên quyền, nhà vua bù nhìn, gà trống đẻ trứng, gà mái cầm canh, âm
dƣơng điên đảo, trắng đen lộn tùng phèo, tiểu nhân đắc chí, ma quỷ hành hoành‖ [49;138].
Đàn hƣơng hình - hình phạt Triệu Giáp cho rằng là tinh hoa ảo diệu mở mắt cho ngƣời
Đức, là một sự đãi ngộ với Tôn Bính còn hắn là nhân vật chính, là ngƣời cầm cƣơng, cuối
cùng lại biến thành buổi biểu diễn vĩ đại của Tôn Bính và những nghệ sĩ Miêu Xoang,
thành nơi phơi thây của hai bố con Triệu Giáp.
Với phát xít Đức và bè lũ tay sai Viên Thế Khải, Đàn hƣơng hình là ―một hình phạt
tân kì và tàn khốc, bắt phạm nhân đau khổ cùng cực nhƣng chƣa chết ngay‖ [49;158] có tác
dụng răn đe. Bọn chúng muốn dùng Đàn hƣơng hình để khi gia hình, ―phạm còn sống
đƣợc năm ngày‖ đủ đến ―ngày làm lễ thông xe đoạn đƣờng sắt Thanh Đảo - Cao Mật‖
[49;158], biến Tôn Bính thành vật tế sống cho ngày lễ. Với Tiền Đinh, Đàn hƣơng hình là
chiếc phao cứu sinh, tuy khá mong manh, cho mạng sống và tiền đồ. Với Triệu Giáp, Đàn
hƣơng hình là tinh hoa trong nghề đao phủ, mở mắt cho ngoại bang, là minh chứng sống
động cho tay nghề Trạng Nguyên, là vật hiến tế cuối cùng mà hắn trong vai trò của một
thầy tƣ tế dâng lên triều đình trƣớc khi gác đao. Đối với Tôn Bính và đám ăn mày, kép hát
cũng nhƣ quần chúng nhân dân Cao Mật, Đàn hƣơng hình là vở ruột thứ hai của kịch Miêu
Xoang, là vở diễn lớn cuối cùng trong cuộc đời Tôn Bính, cũng là vở diễn lớn cuối cùng
của những nghệ nhân Miêu Xoang đích thực. Công cuộc chuẩn bị cho cuộc hành hình và
thái độ của Triệu Giáp, Tiền Đinh, Tôn Bính khiến cho Đàn hƣơng hình hiện lên không
phải là một cuộc hành hình, mà trở thành một nghi lễ tôn giáo, một lễ hiến tế. Đài Thăng
72
Thiên ―dựng bằng gỗ thông đỏ, sừng sững nhƣ một vị thần khổng lồ, bất động trong cảnh
hoàng hôn (…) dáng kiêu hùng mây khói vờn quanh mỗi tầng‖ [49;478] biến thành sân
khấu lớn, thành không gian tế lễ hơn là nơi để thi hành án. Viên Thế Khải và phát xít Đức
muốn biến Tôn Bính thành vật hiến tế cho ngày lễ thông đƣờng sắt nhƣ một minh chứng
cho sự thắng thế của bọn chúng mà không ngờ rằng, khi Đàn hƣơng hình đƣợc thực thi, lễ
tế sinh không còn do chúng chủ trì nữa. Nghi lễ hiến tế đã kết thúc trƣớc khi bọn giặc Đức
định bắt đầu theo cách của chúng. Tôn Bính đã biến nó thành của mình, biến mình thành
vật hiến tế cho sự thức tỉnh của quê hƣơng Đông Bắc Cao Mật. Đài Thăng Thiên là nơi tổ
chức nghi lễ. Miêu Xoang là nhạc lễ. Buổi biểu diễn của Nghĩa miêu trên Đài Thăng Thiên
là một phần của nghi thức hành lễ. Giữa pháp trƣờng khí sát đằng đằng, Nghĩa miêu đầu
đội mũ lông mèo, khoác áo lông mèo, cất giọng ca bi thảm kể về cuộc đời Tôn Bính; ngƣời
xem, từ nha dịch đến dân chúng bỗng chốc đều hóa mèo, gào lên những tiếng ―mi-ao‖ đệm
theo lời hát. Hình phạt Đàn hƣơng hình không những không đạt đƣợc mục đích khuất phục
Tôn Bính, trấn áp dân chúng mà trái lại, càng khiến Tôn Bính tỏ rõ hơn khí chất anh hùng,
khiến cho quần chúng thêm nể phục. Kiên cƣờng chống lại cái chết trên cọc đàn hƣơng
trong bốn ngày, Tôn Bính trở thành một bức tƣợng đài vĩ đại của lòng yêu quê hƣơng và
tinh thần trung nghĩa. Lại đƣợc Nghĩa miêu tổ chức đám tang sống bằng Miêu Xoang, Tôn
Bính xem nhƣ đã hoàn thành tâm nguyện của mình. Tôn Bính muốn đƣợc chết. Chết để
đập tan âm mƣu của ngƣời Đức, biến chúng thành kẻ thất bại. Chết để thổi bùng lên ở
ngƣời dân Trung Hoa tình yêu nƣớc và lòng tự tôn dân tộc. ―Kịch… đến hồi kết!‖ [49;668].
Cặp mắt sáng bừng đón nhận mũi dao của Tiền Đinh, Tôn Bính đã mãn nguyện ra đi. Vở
hí kịch Miêu Xoang bi tráng cuối cùng đã hết nhƣng câu chuyện về ngƣời anh hùng Tôn
Bính cùng với âm điệu Miêu Xoang da diết thì vẫn còn đó, lƣu truyền trong dân gian.
Trong quá trình hiến sinh, vật hiến sinh đƣợc chuyển đến với thần linh thông qua
vai trò không thể thiếu của thầy tƣ tế. Đối tƣợng đƣợc hiến tế thì có thể nhiều nhƣng thông
thƣờng thì thầy tƣ tế chỉ có một. Đàn hương hình không nhƣ vậy! Vai trò thầy tƣ tế ban đầu
đƣợc đặt trọn trong tay Triệu Giáp, nhƣng khi mục đích hiến tế đã thay đổi, đối tƣợng đƣợc
hiến tế thay đổi, thầy tƣ tế cũng cần phải đổi vai. Từ lễ vật đƣợc dùng để tế sống cho ngƣời
Đức và Viên Thế Khải, Tôn Bính đã tự biến mình thành vật tế sinh cho quần chúng Cao
Mật và dân tộc Trung Hoa, thức tỉnh lòng yêu nƣớc và niềm tự hào dân tộc. Bàn tay vấy
máu lạnh lùng và mù quáng của Triệu Giáp sẽ làm ô uế vật tế. Để cho Tiền Đinh, vị quan
73
còn ít nhiều nhân cách, hoàn thành cuộc hiến tế có phần hợp lí hơn cả. Dƣới lƣỡi dao của
Tiền Đinh, mắt Tôn Bính ―bỗng rực sáng khiến khuôn mặt ông rạng rỡ lạ thƣờng, sáng hơn
cả vầng trăng‖ [49;668]. Nó là giây phút tỏa sáng cuối cùng nhƣng chói lọi của Tôn Bính,
là con đƣờng để dẫn Tiền Đinh quay trở về với quần chúng, với dân tộc. Nó phá vỡ kế
hoạch nham hiểm của bọn bán nƣớc và cƣớp nƣớc, đồng thời vang lên khúc ca bi tráng
đoàn kết và khích lệ quần chúng. Cũng trên đài Thăng Thiên, thầy tƣ tế Triệu Giáp cùng
với con trai là Giáp Con đã biến thành vật tế trong cuộc hiến sinh khác diễn ra trƣớc đó vài
khắc. Đó là vật tế cần thiết để xoa dịu nỗi đau và sự giận dữ trong lòng quần chúng. Cuộc
hiến tế đƣợc đặt vào tay Tôn Mi Nƣơng mà không phải Tiền Đinh hay một ai khác. Mi
Nƣơng xuất thân từ tầng lớp quần chúng, con của bậc tổ Miêu Xoang. Sau khi Tôn Bính bị
bắt để xử Đàn hƣơng hình, nàng trở thành con của ngƣời anh hùng bất khuất trong lòng dân
Cao Mật, là ngƣời phù hợp nhất để kết thúc cuộc đời tay đao phủ trung thành của triều đại
Mãn Thanh suy tàn. Đặt vai trò vị tƣ tế vào tay nàng, có lẽ, chính là lời ngầm khẳng định
của Mạc Ngôn về quá trình thức tỉnh của quần chúng (nhƣ con đƣờng từ một phụ nữ đa
tình có phần lẳng lơ thành ngƣời phụ nữ mang dáng dấp nhƣ một nữ hiệp khách của Tôn
Mi Nƣơng) và sức mạnh vĩ đại của họ. Xây dựng Đàn hƣơng hình nhƣ một nghi lễ hiến tế
lớn, Mạc Ngôn đã lột trần bộ mặt tàn nhẫn, giả tạo của bọn bán nƣớc và cƣớp nƣớc, đồng
thời dựng nên một đài tƣởng niệm về ngƣời anh hùng nông dân chân thực, gần gũi nhƣng
biết bao tôn kính.
Ở Tửu Quốc, hàng trăm, hàng ngàn đứa ―trẻ thịt‖ đang ngày ngày trở thành vật tế
cho thú ăn chơi sa đọa và mất hết nhân tính của một bộ phận không nhỏ trong thành phố
Rƣợu. Trẻ sơ sinh, trinh nam, trinh nữ vốn thƣờng hay đƣợc chọn làm vật tế ở xã hội cổ đại
vì sự thuần khiết của chúng. Với vật tế trong sạch đó, ngƣời cổ đại mong muốn sẽ làm vừa
lòng thần linh, nhờ đó sẽ đƣợc thần linh bảo vệ, giúp đỡ, che chở. Ý nghĩa thiêng liêng này
khiến cho sau khi đƣợc hiến tế, vật tế sẽ thuộc về thần linh, ―không thể chuyển nhƣợng
đƣợc nữa - vì vậy nó thƣờng đƣợc thiêu hay hủy đi‖ [13;396]. ―Hàng đặc chủng‖ trong Tửu
Quốc là những đứa trẻ thuộc loại một, mũm mĩm, đáng yêu, đƣợc kiểm tra kĩ càng bởi
trung tâm chuyên trách là Trạm thu mua đặc sản. Hiến tế bọn trẻ không ai khác chính là cha
mẹ, những ngƣời đã cất công chăm bẵm chúng kĩ lƣỡng, cất công ―bỏ vốn‖ nhiều tới ―một
tạ bánh đậu, mƣời cân cá giếc, bốn tạ củ cải…‖, cốt sao cho đứa trẻ đƣợc xếp vào hạng
một, vì xuống một hạng là ―mất đứt đi mƣời mấy đồng‖. Qua bàn tay đầu bếp chuyên
74
nghiệp ở Học viện Nấu nƣớng, chúng trở thành đặc sản. Trong ngày Kim Nguyên Bảo bán
con, hơn ba mƣơi ngƣời đã xếp hàng đứng chờ trƣớc cổng Trạm thu mua đặc sản là bấy
nhiêu đứa trẻ cũng đang chờ đƣợc hiến tế cho đồng tiền, cho sở thích thú tính của đồng
loại.
Hiến tế luôn đòi hỏi sự xuất hiện của hai yếu tố quan trọng là thầy tƣ tế và vật hiến
tế, nhƣng cũng có khi ở tiểu thuyết Mạc Ngôn có sự xuất hiện của vật tế mà thiếu vắng đi
vai trò của thầy tƣ tế, hay nói một cách đúng hơn, vật hiến tế đồng thời đóng luôn vai trò là
thầy tƣ tế. Nhiều nhân vật của ông, theo nhiều cách khác nhau, đã tự hiến tế mình cho dục
vọng, cho xã hội kim tiền. Lâm Lam (Rừng xanh lá đỏ), Đinh Câu, Dƣ Một Thƣớc (Tửu
Quốc)… là những nhân vật nhƣ vậy. Trinh sát viên ngoại hạng của Viện kiểm sát Đinh
Câu đƣợc lệnh về thành phố Rƣợu để điều tra vụ trọng án cán bộ, cầm đầu là Bộ trƣởng
Tuyên truyền Phan Kim Cƣơng ăn thịt trẻ con nhƣng cuối cùng cũng chỉ đắm chìm trong
rƣợu, thịt, tự biến mình thành một kẻ đồng phạm, một kẻ thất bại chết chìm trong bẩn thỉu.
Con đƣờng sa vào guồng quay của quyền lực và tình ái của Lâm Lam (Rừng xanh lá đỏ)
cũng là một quá trình tự hiến tế nhƣ vậy. Bƣớc ngoặt lớn nhất trong cuộc đời cô là cuộc
hôn nhân với Cƣờng - chàng ngốc to xác con trai của bí thƣ địa uy Tần. Tủi hổ trƣớc cảnh
chồng hai mƣơi tuổi đầu nhƣng chỉ nhƣ một đứa trẻ, chỉ biết ăn, vẽ nguệch ngoạc và đái
dầm khi ngủ, Lâm Lam đã từng muốn li hôn nhƣng không ngờ, công danh, chức tƣớc nhƣ
một thứ chất gây nghiện, đã trót bén mùi thì không thể rút chân ra. Vốn thông minh, sắc
sảo, từ khi trở thành con dâu - ngƣời tình bí thƣ địa ủy Tần, sự nghiệp của Lâm Lam lên
nhƣ diều gặp gió: ―Nơi quan trƣờng em thăng tiến càng nhanh, thái độ hằn học với gia đình
càng giảm. Quan thăng một bậc, hận giảm một nửa. Vinh dự do tổ chức mang lại càng
nhiều, tình cảm riêng tƣ càng không đáng kể‖ [50;530]. Cuộc hôn nhân sắp đặt dần biến cô
thiếu nữ xinh đẹp với cá tính mạnh mẽ, yêu ghét rõ ràng, chân thành và tốt bụng thành một
ngƣời đàn bà đầy tham vọng, dục vọng. Trong kết cục bi kịch của Lâm Lam có sự xô đẩy
của hoàn cảnh xã hội, nhƣng lớn nhất vẫn là do sự buông xuôi, trƣợt dài theo số phận. Nỗi
dày vò về một tình cảm tha thiết nhƣng rất đỗi mơ hồ với Mã Thúc có thể mang đến cho
ngƣời đọc phần nào sự cảm thông nhƣng rất khó để biện hộ cho quá trình tha hóa của cô.
Khi Lâm Lam điên cuồng làm tình; Lâm Lam để thỏa mãn tình yêu với ngọc trai mà sẵn
sàng nhận hối lộ hay lừa lọc, chiếm đoạt; Lâm Lam để cứu con mình khỏi vòng lao lí mà
sẵn sàng ―giết ngƣời bịt miệng‖,… cô đã trở thành vật tế cho xã hội kim tiền nhơ nhớp.
75
Là một nghi thức tôn giáo nhƣng ngay từ thời kì đầu tiên, hiến tế đã ẩn chứa trong
đó mầm mống của sự suy đồi. Dù với ý nghĩa nào đi nữa thì việc đánh đổi một ngƣời
(chúng tôi không muốn nói đến một ―mạng ngƣời‖ vì tại thời điểm đó, có quan niệm cho
rằng vật tế khi đƣợc gửi đến thần linh sẽ đƣợc hƣởng cuộc sống sung sƣớng hơn) lấy sự
bình an, sự ƣu ái, tình yêu thƣơng của thần linh cho một ngƣời hay một nhóm ngƣời khác
cũng đã là hành động xuất phát từ nhu cầu về lợi ích (dù nó đƣợc khoác chiếc áo cộng
đồng). Con Ngƣời Khổng Lồ Purusa trong Rig Veda khi sinh ra đã ―trùm khắp cả đông tây
trên Cõi Đất‖, ―là tất cả những gì đã có và sắp sinh‖ [21;72]. Vì vậy, để hình thành nên thế
giới, các vị thần đã hiến tế Con Ngƣời Khổng Lồ Purusa, giết con ngƣời làm lễ máu. ―Lễ
máu ấy bỗng biến thành giờ sinh của muôn loài‖ [21;72]. Agamemnon hiến tế Iphigenie,
hình thức thì tuân theo thần linh phán bảo, nhƣng mục đích là để giúp quân đội Hi Lạp xuất
chinh chiến đấu... Hiến tế vẫn xuất hiện phổ biến trong xã hội có giai cấp với mục đích
kiểm soát về mặt chính trị là biểu hiện rõ ràng nhất cho điều này. Hình thức nghi lễ những
tƣởng chỉ tồn tại trong xã hội cổ đại, giờ đây, theo những cách khác nhau lại hiện diện một
cách phổ biến trong sáng tác của Mạc Ngôn, đƣợc ông sử dụng để nói về những vấn đề
mang tính thời đại. Không còn ý nghĩa tôn giáo thần bí nhƣ ban đầu, nghi lễ hiến tế biểu
tƣợng cho sự nhỏ bé của kiếp ngƣời trƣớc những điều bất công, phi lí trong xã hội (bị hiến
tế), đồng thời cũng là biểu tƣợng cho sự tha hóa của con ngƣời trƣớc xã hội kim tiền (tự
hiến tế). Sáng tác của Mạc Ngôn vì vậy có ý nghĩa nhƣ một lời kêu cứu, cũng là một lời
cảnh tỉnh sâu sắc.
3.1.3. Nghi lễ Ăn thịt người
Theo V. IA. Propp, việc ăn thịt ngƣời trong nghi lễ là điều ―không có nghi ngờ gì
nữa‖ [66;321]. Nghi lễ ăn thịt ngƣời, trong nhiều trƣờng hợp không tách rời khỏi nghi lễ
thụ pháp và hiến tế. Trong tín ngƣỡng của ngƣời Aztec ở Trung Mĩ, những buổi tế lễ ngƣời
cầu xin thần linh diễn ra thƣờng xuyên hàng năm. Sau khi thực hiện nghi lễ hiến tế, vật tế lễ
sẽ trở thành bữa ăn của ngƣời trong bộ tộc. Trong khi nghiên cứu về ―Nhân vật truyện cổ
tích thần kì - Nguồn gốc hình tƣợng‖, M. Meletinsky cho rằng motif ngƣời dì ghẻ - phù
thủy ăn thịt ngƣời có nguồn gốc dân tộc học từ các quan niệm nguyên thủy của con ngƣời
thời đại thị tộc bộ lạc: ―Đối với ngƣời nguyên thủy thì ngƣời ở bộ lạc khác đƣợc coi là
những kẻ thù thực sự, những bọn ăn thịt, là những kẻ không những có bản chất hiếu chiến
mà còn mang tính chất ma quỷ, thù địch với bộ lạc này‖. Trong một số ngôn ngữ cổ xƣa, từ
76
―ngƣời bộ lạc khác‖ đồng nghĩa với từ ―ăn thịt ngƣời‖. Các nhà folklore học đã chỉ ra sự
phổ biến của motif này trong các truyện kể dân gian thuộc kiểu truyện mụ dì ghẻ - phù thủy
ăn thịt ngƣời phổ biến trên thế giới. Từ ý niệm và thực hành nguyên thủy, khi đi vào tác
phẩm văn học ở các thời kì khác nhau, khu vực khác nhau, motif sản sinh ra những ý nghĩa
và sắc thái mới - do có ―những khả năng dẫn đến sự thay đổi, chuyển hóa đã nằm sẵn trong
nó‖ (B.N. Putilov) [dẫn theo 176].
Ăn thịt ngƣời đã có lịch sử lâu đời ở đất nƣớc Trung Quốc. Nghiên cứu của nhà sử
học Key Ray Chong trong Ăn thịt người ở Trung Quốc (Cannibalism in China,
Hollowbrook Publishing, 1990) chỉ ra: ăn thịt ngƣời đƣợc thực hành vì những lợi ích về
cảm xúc, đạo đức và y học. Từ đây, nó trở thành một motif phổ biến trong văn học Trung
Quốc. Đầu thế kỷ XX, Lỗ Tấn đã từng dùng motif ăn thịt ngƣời để khái quát bản chất của
xã hội phong kiến Trung Quốc: ―Cái gọi là văn minh Trung Quốc kì thực chỉ là bữa tiệc thịt
ngƣời bày ra cho bọn giàu sang hƣởng thụ, mà cái gọi là nƣớc Trung Quốc kì thực chỉ là
cái bếp để sửa soạn bữa tiệc thịt ngƣời đó‖ [77;182]. Trong Nhật kí người điên, Lỗ Tấn đã
để cho ngƣời điên bị chứng bệnh ―bách hại cuồng‖ - ám ảnh về việc bị ăn thịt - viện dẫn từ
chính trong lịch sử đất nƣớc Trung Quốc ―cổ lai, việc ăn thịt ngƣời thƣờng lắm‖: Từ ―dịch
tử nhi thực‖, ―thực nhục tẩm bì‖ trong Tả truyện; Dịch Nha nấu thịt con cho Kiệt, Trụ ăn,
Từ Tích Lâm bị bọn tay chân Ân Minh moi gan nấu ăn đến chuyện tên đại ác bên thôn
Lang Sói sau khi bị đánh chết, bị ―moi tim gan, đem về rán mỡ ăn cho đƣợc can đảm‖, hay
chuyện ―ngƣời mắc bệnh lao lấy bánh bao chấm máu liếm‖ thời hiện tại. Họ dù vô tình,
hay cố ý cũng đã tự đặt mình vào trong hàng ngũ của những kẻ ―có truyền thống ăn thịt
ngƣời trên bốn nghìn năm‖. Dùng nỗi lo sợ bị ăn thịt của một ngƣời điên, Lỗ Tấn đã cất cao
tiếng nói rất ―tỉnh‖, vạch trần sự áp bức, bóc lột của lễ giáo, của xã hội phong kiến và sự
ngu muội, ấu trĩ đến tàn ác của con ngƣời trong xã hội ấy - xã hội nhƣ con thú săn mồi đói
khát luôn há chiếc mồm đầy răng nhọn và nồng nặc mùi máu tƣơi, sẵn sàng cắn xé biết bao
nhiêu ngƣời dân khốn khổ, những ngƣời hoặc bị ăn thịt, hoặc vì ngu muội mà can tâm tình
nguyện để cho bị ăn thịt. Tiếp nối Lỗ Tấn, các nhà văn đƣơng đại nhƣ Mạc Ngôn, Dƣ
Hoa… đã chứng minh sự luân hồi, biến đổi của hệ tƣ tƣởng ăn thịt ngƣời đã tràn ngập xã
hội Trung Quốc từ thời kì hiện đại. Đi từ nghi lễ ―ăn thịt ngƣời‖ trong lịch sử loài ngƣời
đến motif ăn thịt ngƣời trong lịch sử xã hội Trung Quốc; tiếp nối chủ đề truyền thống từ Lỗ
Tấn, Mạc Ngôn trở lại thƣờng xuyên chủ đề ăn thịt đồng loại từ tính chất riêng lẻ (truyện
77
ngắn Con rơi, Linh dược) đến thành cả một hệ thống (Tửu Quốc) hay đƣợc gợi ý theo thói
quen ăn uống của con ngƣời (Thập tam bộ, Tổ tiên có màng chân)... và mang đến những ý
nghĩa mới. Linh dược (Phạm Văn dịch từ bản tiếng Anh trích trong tuyển tập nhiều tác giả
Mao Chủ tịch sẽ không thích thú: Tiểu thuyết Trung Quốc ngày nay (Chairman Mao
Would Not Be Amused: Fiction from Today's China,1995) kể về cha con nhân vật ―tôi‖ đi
lấy mật của hai ngƣời đàn ông bị xử bắn trong một vụ hành quyết đƣợc tổ chức thời kì
Cách mạng văn hóa về làm thuốc chữa bệnh mù lòa cho mẹ, bà của mình. Truyện làm ta
một lần nữa nhớ đến Lỗ Tấn với Thuốc. Chiếc bánh bao chấm máu tội nhân chết chém mà
ông chủ quán trà Hoa Thuyên mang về có khác gì với hai chiếc mật ngƣời đƣợc thầy thuốc
gợi ý có thể thành linh dƣợc sáng mắt? Cuộc hành quyết diễn ra dƣới danh nghĩa ngọn cờ
Cách mạng văn hóa thực chất là cuộc tàn sát đồng loại. Đáng buồn hơn nữa, sau Lỗ Tấn
gần một thế kỷ, vẫn có những ngƣời có thể cầm lƣỡi dao thọc vào lồng ngực ngƣời khác vì
một niềm tin ngu muội: Chiếc mật ngƣời sẽ trở thành thuốc chữa bệnh. Ngƣời con trai tận
hiếu trở thành tên đồ tể, tranh giành xác chết với bầy chó hoang. Hành động ấy có khác gì
ăn thịt đồng loại? Và bà mẹ mù lòa sau khi vô tình nuốt mật đồng loại rồi liệu có ―sáng
mắt‖ ra đƣợc? Những đứa ―trẻ thịt‖ trong Tửu Quốc làm chúng ta nhớ đến lời kêu cứu
―Hãy cứu lấy trẻ em!‖ của Lỗ Tấn. Nhƣng nếu nhƣ bọn ăn thịt ngƣời thời Lỗ Tấn là giai
cấp thống trị ―hung dữ nhƣ sƣ tử, xảo quyệt nhƣ cáo, hèn nhát nhƣ thỏ‖ thì bọn ăn thịt
ngƣời trong Tửu Quốc còn ―dữ hơn sói, đáng sợ hơn hổ‖. Việc ăn thịt ngƣời trong Nhật kí
người điên tuy phổ biến nhƣng chƣa thành một trào lƣu, một thú chơi sang nhƣ trong Tửu
Quốc. Lỗ Tấn kêu cứu cho ―những đứa trẻ chƣa từng ăn thịt ngƣời‖ để chúng sẽ hoặc
không trở thành nạn nhân bị ăn thịt, hoặc không trở thành kẻ ăn thịt đồng loại mình; còn
những đứa trẻ trong Tửu Quốc thì hoặc không có cơ hội lớn lên để nhận đƣợc lời kêu cứu
ấy, hoặc bị đồng hóa, thành một phần của xã hội ăn thịt ngƣời.
Tửu Quốc đƣợc xây dựng bằng hình thức trao đổi thƣ, với việc đa dạng hóa điểm
nhìn, tác phẩm tạo nên nhiều tuyến truyện đan xen: thứ nhất: câu chuyện về chàng trinh sát
viên Đinh Câu - đây cũng chính là nội dung thiên tiểu thuyết Tửu Quốc của nhân vật nhà
văn Mạc Ngôn; thứ hai: câu chuyện trao đổi và gặp gỡ của nhân vật nhà văn Mạc Ngôn và
Tiến sĩ rƣợu Lí Một Gáo; thứ ba: các câu chuyện nằm trong các tác phẩm của Lí Một Gáo
gửi cho nhân vật nhà văn Mạc Ngôn: Rượu cồn, Trẻ thịt, Thần đồng, Phố lừa, Một thước
anh hào,... Tất cả các tuyến truyện này đều liên quan đến việc ăn thịt trẻ con với hai thái độ
78
đón nhận: một phía cho đó là điều bình thƣờng, những đứa trẻ chỉ là một thứ hàng hóa, một
thứ thức ăn nuôi lấy thịt (trẻ thịt), một thứ đặc sản; còn một phía coi đó là hành động phi
nhân tính.
Ở phía thứ nhất, ngƣời ta nhìn thấy bản chất cầm thú đáng ghê tởm của những kẻ ăn
thịt ngƣời. Chỉ có ở Tửu Quốc việc ăn thịt trẻ con mới đƣợc tổ chức một cách bài bản và
chuyên nghiệp đến vậy: có ―cơ sở sản xuất‖ trẻ thịt mà ―nhà sản xuất‖, không ai khác,
chính là cha mẹ chúng; có trung tâm thu mua là Trạm đặc sản; có khu nuôi béo trẻ thịt; có
Học viện nấu nƣớng để những đứa trẻ khi lên đĩa đƣợc thơm ngon nhất, và tất nhiên, có rất
nhiều thực khách cao cấp đang chờ để tận hƣởng. Những đứa trẻ ngay từ lúc hoài thai đã
đƣợc định danh là một món hàng. Bởi vậy mới có cảnh trao đổi mà nếu nhƣ không nhìn tận
mắt, nghe tận tai, ngƣời ta sẽ còn hoài nghi:
―- Đứa nhỏ này đẻ để bán cho Trạm đặc sản phải không?
Nguyên Bảo cổ họng tê buốt, lạc cả giọng. Cán bộ thu mua hỏi tiếp:
- Do vậy thằng nhỏ này không phải là ngƣời, đúng không?
- Đúng, nó không phải là ngƣời - Nguyên Bảo trả lời.
- Vì vậy anh bán cho Trạm là bán một loại hàng đặc biệt, đúng không?
- Đúng.
- Anh giao hàng cho chúng tôi, chúng tôi trả anh tiền, giá cả sòng phẳng, thuận mua
vừa bán, hàng đã trao không bao giờ đòi lại, đúng không?
- Đúng‖ [52;126 -127]
Đứa trẻ không phải là ngƣời. Nó là một món hàng. Đau xót thay tất cả những gì
ngƣời ta dành cho nó, từ khi sinh ra chỉ là để mong sao nó đạt đƣợc loại 1, tức là đƣợc
nhiều tiền hơn mà thôi. Có một tiếng thở dài, lƣu luyến của ngƣời mẹ, một thoáng chua xót
của ngƣời cha nhƣng đã nhanh chóng vỡ vụn trƣớc sự ―nhẹ cả ngƣời sau khi hoàn thành
công việc trọng đại‖, trƣớc sự ―xúc động đến nỗi suýt khóc‖ khi đứa trẻ đƣợc loại 1, trƣớc
hành động ―run lẩy bẩy cầm tiền lên, đếm qua quít, đầu mụ đi‖, ―nắm chặt tập tiền, hỏi nhƣ
khóc:- Tiền này là của em à?‖ [52;218]. Cha mẹ còn không coi núm ruột mình đẻ ra là con
ngƣời thì thử hỏi ai có thể coi nó là con ngƣời? Nhân tính đã bị băng hoại một cách không
thể cứu vãn! ―Thằng nhỏ ngồi xếp bằng tròn giữa mâm mạ vàng, ngƣời vàng hƣơm, mỡ
chảy thơm phức, nụ cƣời ngơ ngác trên khuôn mặt, hiền khô. Quanh ngƣời độn toàn rau
xanh và hoa xúp lơ‖ [52;129] đƣợc gọi với cái tên hoa mĩ: ―Kì lân dâng con‖ để cho những
79
Bộ trƣởng Phan Kim Cƣơng, những bí thƣ, giám đốc khu mỏ ―dùng đũa gắp cánh tay
thằng nhỏ đƣa lên miệng nhai ngấu nghiến‖, ―nhai cánh tay rau ráu‖ [52;142]; những cô
phục vụ ―ùa tới vây quanh bàn, ăn bốc, dùng tay nhét thức ăn vào miệng, rất thô bạo‖
[52;145], với tất cả sự thèm thuồng đƣợc tận hƣởng những gì còn lại của bữa tiệc thịt
ngƣời... Chuyện ăn thịt trẻ con đƣợc miêu tả trong tác phẩm của hai nhân vật nhà văn Lí
Một Gáo và Mạc Ngôn nhƣng qua các bức thƣ trao đổi giữa họ, Tiến sĩ rƣợu đã chứng
minh nó có thực: ―Ở thành phố rƣợu có một số cán bộ tha hóa biến chất, chuyện ăn thịt trẻ
con là hoàn toàn chính xác, nghe nói có ngƣời đang điều tra, một khi cháy nhà ra mặt
chuột, chắc chắn rung chuyển thế giới‖ [52;161]; ―Một số quan chức ở đây đã tha hoá cùng
cực, dám làm cái điều mà thế giới không dám: ăn thịt bé trai! Mẹ vợ trò nói cho trò biết
chuyện này. Bà bảo ở vùng ven thành phố Rƣợu có những thôn chuyên sản xuất trẻ con để
mổ thịt, dân làng coi chuyện đó rất bình thƣờng, họ bán trẻ thịt nhƣ bán lợn con, không hề
đau xót‖ [52;262]. Ngƣời ta không ăn thịt kẻ thù, ăn thịt trong thực hành nghi lễ (nhƣ thời
nguyên thủy), không ăn thịt ngƣời trong hoàn cảnh bất khả kháng (nhƣ trong Tả truyện),
cũng không ăn thịt ngƣời vì lòng ngu trung (nhƣ Dịch Nha nấu thịt con cho Kiệt Trụ), vì sự
mê muội (nhƣ trong Nhật kí người điên, Thuốc). Họ đã biến thành loài cầm thú. Họ còn dã
man hơn loài cầm thú. Cầm thú hiếm khi ăn thịt đồng loại, chúng ăn thịt loài khác để sinh
tồn. Còn con ngƣời ăn thịt chính đồng loại của mình chỉ là để thỏa mãn những cái mồm đã
nhờn ngấy cao lƣơng mĩ vị, nhƣ một thú chơi sang. Ăn thịt ngƣời không chỉ là một hiện
tƣợng mang tính cụ thể trong xã hội mà đã đƣợc ―xã hội hóa‖, thành dây chuyền. Những
đứa trẻ, những bé trai, đƣợc ―chăm nuôi‖, đƣợc kiểm tra kĩ càng đến mức vạch cả hậu môn,
lộn cả da bao qui đầu. Cả ngƣời sản xuất (cha mẹ) và ngƣời thƣởng thức (một số quan chức
đã tha hóa cùng cực - theo lời Mạc Ngôn) đều không coi đó là đồng loại của mình. Đứa trẻ
cũng chỉ có chỗ đứng ngang bằng với những lừa, lợn, dê, chó... đang ngày ngày đƣợc
ngƣời ta dắt đến những Phố Lừa, Phố Dê, Phố Lợn làm thịt mà thôi.
Ở phía thứ hai, sự xuất hiện của các nhân vật nhƣ trinh sát viên ngoại hạng Đinh
Câu, cậu bé vẩy cá, cô nữ xế, bà mẹ vợ Tiến sĩ rƣợu, ông lão trông coi nghĩa trang mang lại
hi vọng về tiếng nói công bằng, đƣa nhân tính trở lại với con ngƣời, trừng phạt kẻ tàn ác.
Với niềm căm hận ngùn ngụt tội ác ăn thịt trẻ con, những tƣởng khi đến Tửu Quốc, Đinh
Câu sẽ vào vai một ngƣời anh hùng, nhanh chóng phá án, giải cứu những đứa trẻ vô tội,
chấm dứt hành động phi nhân tính. Nào ngờ, ngay khi vừa mới bƣớc chân đến khu mỏ,
80
Đinh Câu bị cuốn vào cuộc ăn chơi trác táng, trở thành những kẻ đồng lõa ăn thịt ngƣời;
cuối cùng chết chìm trong hố nƣớc tập trung tất cả những cái bẩn thỉu nhất. Thằng tiểu yêu
mang dáng dấp của một hiệp sĩ áo đen, anh hùng nghĩa hiệp, sẵn sàng ra tay chống lại tội ác
phi nhân tính, cuối cùng biến mất trong sự lẫn lộn với một Dƣ Một Thƣớc ăn chơi sa đọa.
Nữ xế - ngƣời đàn bà bất hạnh bị ăn mất thịt con, ―năm lần mang thai, mỗi lần đến tháng
thứ năm đều bị lão (Phan Kim Cƣơng) đƣa đến bệnh viện phụ sản bắt đẻ non... Những đứa
trẻ đẻ non đều bị lão ăn mất...‖ [52;328] cũng chỉ là một phụ nữ sống kiếp nhân tình, cuối
cùng chết khi đang chìm trong hoan lạc. Mẹ vợ Tiến sĩ rƣợu, ngƣời mở cửa cho bọn trẻ thịt
chạy trốn, sau bị coi nhƣ một ngƣời điên, tối ngày đóng cửa, ngồi sau hai lớp rèm viết
những bức thƣ tố cáo bọn ăn thịt ngƣời không có hồi đáp. Ngƣời đàn ông coi nghĩa trang,
con ngƣời trƣợng nghĩa của thế hệ trƣớc, con ngƣời với sự khinh bỉ cái đống bầy nhầy vô
dụng đƣợc gọi là hậu sinh, sẵn sàng dùng súng trƣờng bắn chết hết bọn ăn thịt ngƣời, cuối
cùng cũng chỉ là một cái xác cho chuột gặm, nham nhở, không còn ra hình thù con ngƣời....
Lỗ Tấn xƣa viết về chuyện ăn thịt ngƣời để vạch trần ―bữa tiệc ăn thịt ngƣời‖. Sau
gần một thế kỷ, Mạc Ngôn lại tâm sự: "Tôi viết Tửu Quốc vì buồn về sự sa đọa của con
ngƣời, buồn cho một xã hội bị tha hóa, nơi mà ngƣời lớn chỉ biết nhậu nhẹt để rồi ăn hết
phần của trẻ con và... ăn luôn cả thịt trẻ con!" [177]. Với câu chuyện ngụ ngôn thời hiện đại
này, một lần nữa ông đã vạch trần bản chất ―ăn thịt ngƣời‖ của xã hội văn minh, nơi mà
con ngƣời vì lòng tham sẵn sàng làm tất cả, bất chấp nhân tính. Những đứa trẻ, thế hệ
tƣơng lai của đất nƣớc, cũng là những tâm hồn ngây thơ, thánh thiện nhất nay bị đƣa lên
bàn ăn, tội ác ấy càng khủng khiếp. Bộ máy ăn thịt ngƣời trong Tửu Quốc chính là hình ảnh
của một xã hội với những tệ nạn tham nhũng, quan liêu mà Mạc Ngôn đã đích danh hƣớng
đến khi viết tác phẩm. Ở đó, ngƣời lao động nghèo khổ hoặc vì hoàn cảnh ép buộc hoặc
can tâm tình nguyện biến mình thành một thứ mồi ngon cho bộ máy cai trị hút máu. Và
cũng trong xã hội đó, những đứa trẻ thánh thiện là nạn nhân nhƣng cũng có nguy cơ trở
thành tội nhân, thành kẻ khát máu. Mặc cảm nỗi đau vì là một kẻ có ―truyền thống ăn thịt
ngƣời trên bốn nghìn năm‖ đến Mạc Ngôn liệu có thể nào giải tỏa?
3.2. Huyền thoại cổ mẫu
Mặc dù mỗi dân tộc đều có một hệ huyền thoại riêng biệt nhƣng trong ý nghĩa
chung, huyền thoại mang tính phổ quát. Điều này thể hiện ở những motif và chủ đề giống
nhau có thể đƣợc tìm thấy trong nhiều hệ huyền thoại khác nhau, có khuynh hƣớng mang
81
một ý nghĩa chung, bất chấp khoảng cách về thời gian và địa lí. Nhà tâm lí học ngƣời Thụy
Sĩ C. Jung trong quá trình nghiên cứu về tâm lí đã nhận thấy hiện tƣợng: có sự xuất hiện
của những thuộc tính chung trong tâm lí con ngƣời, không bị chi phối bởi các yếu tố thời
đại hay chủng tộc. Chính lớp vô thức chung, mang tính tập thể, phổ quát đó đã khiến cho
những hình ảnh, motif, chủ đề thuộc các nền văn hóa khác nhau, của các tác giả có tuổi tác
và trình độ học vấn khác nhau nhƣng vẫn có sự giống nhau đến kì lạ. Từ đây, khái niệm
―vô thức tập thể‖ ra đời. Theo C. Jung, vô thức tập thể (collective unconscious) là phần sâu
nhất của tâm thần, phân biệt với vô thức cá nhân, mang tính quyết định đối với số phận cá
nhân cũng nhƣ xã hội. Vô thức tập thể là nơi lƣu trữ kinh nghiệm của chúng ta với tƣ cách
là một loài, mang tính có sẵn, tiên nghiệm, không tồn tại nhờ kinh nghiệm cá nhân, không
phụ thuộc vào môi trƣờng, hoàn cảnh.
Cấu thành nên vô thức tập thể là cổ mẫu (archétype), hay nói cánh khác, vô thức tập
thể chính là một vòng tròn bao quanh các cổ mẫu. Theo Jung, cổ mẫu là ―những cấu trúc
đồng nhất mà tất cả đều có‖, là đơn vị vận hành nên vô thức tập thể. Các cổ mẫu ―giống
nhƣ những nguyên mẫu của các tập hợp biểu tƣợng ăn sâu trong vô thức đến nỗi chúng trở
thành nhƣ một cấu trúc, nhƣ những kí tích‖ [13;xxi]. Thông qua những trải nghiệm của
cộng đồng đƣợc lƣu truyền bền vững qua thời gian, lớp trầm tích cổ mẫu đƣợc hình thành,
nằm trong kho vô thức của con ngƣời. Con ngƣời, bằng trải nghiệm cá nhân và cả trải
nghiệm có sẵn từ cộng đồng sẽ kích hoạt ―chiếc kén‖ vô thức để cổ mẫu đƣợc ―tung cánh‖
bay ra. Cổ mẫu mang tính phổ quát, có ý nghĩa chung cho tất cả mọi ngƣời không hạn chế
bởi thời đại hay chủng tộc nhƣng lại trải qua sự kích hoạt của cá nhân nên cũng dẫn đến
một quá trình mà Jung gọi là ―cá nhân hóa‖ (individuation). Tìm hiểu cổ mẫu vì vậy, sẽ
không chỉ ở những cổ mẫu chung trong tâm thức cộng đồng mà còn là quá trình giải mã
xem sự phóng chiếu của nó lên mỗi cá nhân. ―Tác phẩm văn chƣơng đầu tiên của nhân loại
cổ mẫu ngả bóng vào chính là huyền thoại, hay nói khác đi, khi đến với khu rừng hào
phóng rậm rịt huyền thoại, ngƣời đọc có nhiều hi vọng tìm thấy những cái cần tìm đã đƣợc
bảo chứng‖ (J.G.Frazer) [dẫn theo 46;170]; nhờ thế mà từ những cổ mẫu ―mẹ‖ ban đầu, sẽ
có vô số các cổ mẫu ―con‖ đƣợc hình thành.
Cùng với việc khẳng định cổ mẫu là ―những biểu trƣng mang tính phổ quát‖,
[100;184], Sổ tay phương pháp phê bình văn học (A Handbook of Critical Approaches to
Literature) đã tổng hợp và chỉ ra một số cổ mẫu tiêu biểu bao gồm: các hình ảnh (nƣớc,
82
mặt trời, các màu sắc, đƣờng tròn, các con số, Mẹ, ông già thông thái, khu vƣờn, cây cối, sa
mạc); các motif hoặc các dạng cổ mẫu (sự sáng tạo, sự bất tử, cổ mẫu ngƣời anh hùng) và
các cổ mẫu nhƣ là các thể loại gắn với huyền thoại nghi lễ (huyền thoại mùa xuân: hài kịch,
huyền thoại mùa hè: tiểu thuyết lãng mạn; huyền thoại mùa thu: bi kịch; huyền thoại mùa
đông: châm biếm). Tuy chƣa bao quát hết toàn bộ hệ thống cổ mẫu vô cùng phóng phú và
vẫn tiếp tục sản sinh ra các cổ mẫu con (nhƣ C. Jung từng nói) nhƣng có thể thấy, về cơ
bản, những cổ mẫu đƣợc đề cập đến cũng là những cổ mẫu đƣợc nhiều nhà nghiên cứu
huyền thoại thừa nhận. Trên cơ sở này, tìm hiểu tiểu thuyết Mạc Ngôn, chúng tôi cũng
nhận thấy xu hƣớng trở về với một số cổ mẫu nhƣ cổ mẫu Nƣớc (Tửu quốc, Báu vật của
đời, Rừng xanh lá đỏ, Cao lương đỏ, Tổ tiên có màng chân), cổ mẫu Mẹ (Báu vật của đời,
Ếch, Cao lương đỏ), cổ mẫu Anh hùng (Cao lương đỏ, Báu vật của đời, Đàn hương hình,
Cây tỏi nổi giận, Tửu Quốc), cổ mẫu Hành trình (Tửu Quốc, Đàn hương hình), cổ mẫu
Màu sắc (Cao lương đỏ, Sống đọa thác đày), Con số (Thập tam bộ, Tứ thập nhất pháo)…
Trong đó tiêu biểu nhất là cổ mẫu Nƣớc, cổ mẫu Mẹ và cổ mẫu Anh hùng.
3.2.1. Cổ mẫu Nƣớc
Cổ mẫu Nƣớc là một trong những cổ mẫu đầu tiên, quan trọng của huyền thoại. Ý
nghĩa tƣợng trƣng của cổ mẫu này tập trung ở ba khía cạnh: nguồn sống, phƣơng tiện thanh
tẩy, trung tâm tái sinh. Nhƣng vì nƣớc tồn tại trong trạng thái vận động, không có hình
dáng cố định và luôn ẩn chứa trong lòng nó nhiều điều bí ẩn nên mang tính chất hai mặt.
Nƣớc là ―vật chất khởi thủy‖, ―là khối vật chất chƣa phân hóa của số lƣợng vô cùng lớn
những khả năng diễn biến, chứa đựng toàn bộ cái tiềm tàng, cái phi hình, cái mầm mống
của mọi mầm mống, tất cả mọi hứa hẹn về sự phát triển, nhƣng cũng chứa đựng mọi mối
đe dọa bị tiêu tan‖ [13;709]. Nƣớc là ―bản chất của mọi vật‖, là ―lạch nguồn của mọi sự và
mọi hiện tồn‖, là nơi ấp nở ―Quả trứng vũ trụ‖, là ―dòng nƣớc hồi sức cho đời‖, mang lại
―sức mạnh‖, ―sự cao cả, niềm vui, cảnh mộng‖ (Thần thoại Ấn Độ), nhƣng nƣớc cũng gắn
với trận Đại hồng thủy trong huyền thoại của rất nhiều dân tộc trên thế giới. Nƣớc là nguồn
gốc, phƣơng tiện truyền tải sự sống, là sự ban phƣớc, thanh tẩy, tái sinh (đó là lí do những
nơi thờ cúng thƣờng tập trung xung quanh các nguồn nƣớc; nƣớc cũng giống nhƣ lửa,
thƣờng xuất hiện trong các nghi lễ tôn giáo nhƣ lễ rửa tội, ban phƣớc, thụ pháp), nhƣng
nƣớc cũng có thể tàn phá, nhấn chìm và nuốt chửng (nạn hồng thủy). Nƣớc cũng có thể là
một sức mạnh gây tai họa. Những dòng sông mang lại lợi ích nhƣng cũng có thể là nơi ẩn
83
náu của quái vật. Dòng nƣớc chảy trôi có tác dụng tẩy uế, rửa tội, tái sinh, nhƣng dòng
nƣớc cuộn sóng thì mang ý nghĩa của cái ác và sự hỗn độn. Nƣớc trừng trị những kẻ có tội,
nhƣng không làm hại ngƣời chính trực - họ không phải sợ ―những trận nƣớc dâng cao‖.
Trong trƣờng hợp đó, nƣớc là phƣơng tiện để thử tội. ―Nƣớc không phán xử mà những vật
ném xuống nƣớc tự phán xử‖ [13;713] (nhƣ điều thƣờng thấy trong motif huyền thoại về
trận Đại hồng thủy). Từ những trang thần thoại đầu tiên của ngƣời Trung Quốc, Nƣớc cũng
mang tính chất hai mặt nhƣ vậy. Bàn Cổ, vị thần sáng tạo thế giới là ngƣời đã biến máu
huyết của mình thành ―các dòng sông lớn nhỏ‖, gân mạch thành ―mạch nƣớc ngầm‖, mồ
hôi thành ―sƣơng và mƣa‖ tƣới mát vạn vật. Nữ Oa lấy bùn dƣới sông, vẩy ra khắp nơi trên
mặt đất mà tạo sinh ra loài ngƣời. Nhƣng cũng chính vì sự đe dọa của Nƣớc (nạn hồng
thủy) mà Nữ Oa phải dùng đá ngũ sắc để vá bầu trời. Thời vua Nghiêu, nạn hồng thủy kéo
dài suốt chín năm ròng cho đến khi Cổn liều mình lấy trộm ―tức nhƣỡng‖ của Thiên Đế.
Với nạn hồng thủy, Nƣớc trở thành biểu tƣợng cho quá trình đấu tranh của con ngƣời trƣớc
sức mạnh thiên nhiên. Tuy vậy, cũng giống nhƣ trong quan niệm truyền thống của các quốc
gia trên thế giới, trong văn hóa Trung Quốc, trung tâm của nƣớc vẫn là những phẩm tính
tích cực, là nguồn sống, là sự tái sinh. Nƣớc là yếu tố đầu tiên trong Ngũ hành, là cái khởi
sinh, khởi đầu của vạn vật trong vũ trụ. Trong quan niệm âm - dƣơng, Nƣớc là yếu tố quan
trọng của Bát quái, tƣợng trƣng cho tính âm. Nƣớc đi vào trong văn hóa, văn học với vô số
hình trạng và nhiều tầng ý nghĩa nhƣ bản chất linh hoạt của nó. Trong Hồng lâu mộng của
Tào Tuyết Cần, nhà văn đã kế thừa một cách trọn vẹn những phẩm tính tích cực của Nƣớc,
hòa nó làm một với một cổ mẫu kinh điển khác của nhân loại (cùng mang phẩm tính tƣợng
tự) là Mẫu tính. Nƣớc là biểu tƣợng của Mẫu tính, là nguồn gốc của nữ giới: ―Xƣơng thịt
của con gái là nƣớc kết thành‖, khiến cho ngƣời ta cảm thấy ―nhẹ nhàng, khoan khoái‖.
Nƣớc tƣợng trƣng cho cái đẹp sạch sẽ và tinh khiết mà chỉ có nữ giới mới có đƣợc. Giống
nhƣ sự vĩnh cửu của Nƣớc, vẻ đẹp của nữ tính cũng trƣờng cửu mãi cùng thời gian.
Kế thừa cổ mẫu cổ điển của huyền thoại, cổ mẫu Nƣớc trong tiểu thuyết Mạc Ngôn
cũng mang tính hai mặt. Từ cổ mẫu gốc, nhà văn tập trung vào ba dạng biến thể: Sữa, rượu
và máu. Trƣớc hết là cổ mẫu Nƣớc tồn tại ở dạng thức khởi thủy. Ở dạng thức tồn tại này,
Mạc Ngôn chủ yếu khai thác nƣớc trong nét nghĩa tích cực: là nguồn sống, thanh tẩy, tái
sinh. Trong Rừng xanh lá đỏ, sự tẩy uế cho Ngọc Trai sau khi bị bọn Đại Hổ làm nhục là
một ví dụ tiêu biểu. Trong cơn mê sảng suốt hơn ba ngày, Ngọc Trai mơ thấy Bà chúa
84
Ngọc Trai ―rút trong tay áo cành ôliu, phe phẩy trƣớc mặt‖, ―lập tức có những giọt nƣớc
mát rơi trên mặt cô, sảng khoái vô cùng, chẳng khác đại hạn gặp mƣa rào. Cô lập tức thấy
trong lòng bừng sáng, mọi vật trƣớc mắt đều sáng tỏ‖ [50;437]. Tỉnh dậy sau trận ốm, việc
đầu tiên Ngọc Trai làm là đến nhà già Vạn, nơi thờ cúng bức tranh Bà chúa Ngọc Trai. Tại
đó, những gáo nƣớc múc lên từ chiếc giếng cổ trong truyền thuyết đã giúp cho cô gột rửa
nỗi đau và sự ô uế: ―Bà chúa bảo ta tắm cho cháu, từ nay cháu nhƣ một viên ngọc, sạch từ
trong ra ngoài… Từ nay không một dơ bẩn nào có thể vấy lên ngƣời cháu‖ [50;454]. Nƣớc
đã thực hiện ý nghĩa thanh tẩy để chiêu tuyết cho tâm hồn thánh thiện của Ngọc Trai. Tuy
vậy, nó cũng chƣa thể là dòng nƣớc tái sinh, bởi sau đó, cuộc đời của Ngọc Trai vẫn nhuốm
sắc màu u tối. Cùng với ý nghĩa thanh tẩy, nƣớc còn là cội nguồn của sự sống, là nơi bao
bọc, chở che cho con ngƣời. Nƣớc là một phần cuộc sống ngƣời dân mò ngọc. Đó là nơi họ
tìm thấy những sản vật tuyệt đẹp mà tự nhiên ban tặng. Nƣớc bao bọc lấy Ngọc Trai và bé
Hải trong đêm hai chi em mò đƣợc trai ngọc Hắc Điệp với tất cả sự nhẹ nhàng, ấm áp.
Nƣớc làm lễ rửa tội, ban phƣớc cho chị em Ngọc Nữ, Kim Đồng; Nƣớc ―trong vắt‖, ―dịu
dàng, nghiêm túc‖, ―sáng bừng‖ bao bọc chị Tám Ngọc Nữ (Báu vật của đời) vào ngày chị
tự trầm vì không muốn trở thành gánh nặng cho gia đình. Nƣớc là nơi thăng hoa tình yêu
của đôi tình nhân có màng chân tay (Tổ tiên có màng chân). Cũng chính Nƣớc, là nơi
chứng kiến những tang thƣơng, dâu bể của con ngƣời. Trong Rừng xanh lá đỏ, biển lắng
nghe tiếng hát sung sƣớng và đau khổ của trai ngọc; biển chôn thây không biết bao nhiêu
ngƣời dân mò ngọc; biển giữ lại một chân của cha Ngọc Trai trong bụng cá; biển chứng
kiến những lồng trai ngọc mồ hôi nƣớc mắt của ngƣời lao động bị bọn cƣớp lấy đi; chứng
kiến cảnh chồng tƣơng lai của Ngọc Trai cũng vì mất 500 lồng trai trong một đêm mà trở
nên đáng thƣơng; chứng kiến cuộc đấu tranh tinh thần gay gắt, khốn khổ trong lòng anh ta
giữa tình yêu, nhân phẩm và sức cám dỗ của đồng tiền. Biển chứng nhân cho nụ hôn đẫm
nƣớc mắt trong đêm trăng và mối tình vô vọng của Lâm Lam - Mã Thúc. Nƣớc là mẹ hiền
nhƣng Nƣớc cũng đầy bí ẩn và hiểm nguy. Ấy là nét nghĩa từ khởi thủy mà Mạc Ngôn,
trong dòng chảy của vô thức tập thể đã kế thừa một cách tự nhiên.
Từ Nƣớc, các biến thể của cổ mẫu này cũng vẫn bảo lƣu tính chất hai mặt đó. Nếu
nhƣ bầu vú là ―phần quan trọng bậc nhất của bản nguyên nữ‖, thì Sữa trong ánh sáng của
mẫu gốc - nghi lễ thụ pháp là ―biểu tƣợng của sự bất tử‖ (Chevalier). Dòng sữa bắt nguồn
từ đặc tính sinh, đƣợc sinh ra để dƣỡng và rồi tái sinh cho sự sống. Trong Báu vật của đời,
85
đi liền với hình ảnh của bầu vú là sữa, thậm chí nó còn đƣợc tập trung khắc họa nhiều hơn
cả. Ở góc độ truyền thống, sữa hiện hữu cho sự dƣỡng, sự tái sinh. Không mang đến sự bất
tử nhƣ dòng sữa thần thánh của nữ thần Hera trong thần thoại Hi Lạp, nhƣng dòng sữa của
ngƣời phụ nữ nông thôn Lỗ Thị lại là nguồn sống của con cháu bà. Dòng sữa đƣợc sản sinh
ra từ tình yêu thƣơng vô bờ bến, nên dù trải qua biết bao đói khổ, nó vẫn luôn dồi dào, vô
tận và tiếp tục đƣợc sản sinh nếu con, cháu cần. Sữa mẹ đƣợc miêu tả ở nhiều trạng thái
khác nhau. Kim Đồng hoàn toàn sống bằng sữa mẹ đến năm bảy tuổi. Nỗi sợ hãi, đau đớn
vì phải xa rời dòng sữa của cậu ta còn lớn hơn cả nỗi sợ cái chết. Cũng dòng sữa ấy, Lỗ Thị
dùng để cƣu mang những đứa cháu ngoại, đem lại cho chúng sự sống. Bị chốc vú, không
có sữa để nuôi con, Lai Đệ đã phải bỏ con lại cho mẹ mình nuôi hộ. Bầu vú là sinh, là
dƣỡng nhƣng khi không còn duy trì đƣợc phẩm tính ấy, ngƣời phụ nữ cũng đứng trƣớc
nguy cơ mất đi quyền làm mẹ. Năm bốn mƣơi hai tuổi, vẫn là dòng sữa đã mang Kim
Đồng từ cõi chết trở về. Thứ mùi vị đánh thức cảm giác đầu tiên về sự sống, phả sinh khí
vào Kim Đồng là mùi sữa tƣơi. Giữa nó và Kim Đồng nhƣ có một thứ thần giao cách cảm
kì lạ mà nó càng đến gần với anh hơn trong trí tƣởng tƣợng thì cũng đã ở ngay bên cạnh
anh trong thực tại. Kim Đồng sà vào bầu vú của Kim Một Vú nhƣ tìm đến nguồn sống, tìm
về với mẹ (Anima trong tâm thức ngƣời nam), một cách hoàn toàn tự nhiên: ―Nhƣ con chó
con chƣa mở mắt, anh dƣớn ngƣời lên, giơ cặp môi nóng bỏng đón dƣới ngực chị. Không
chút do dự, chị vén áo để bầu vú đầy sữa, màu vàng mật nhƣ dƣa Ha-mi, thả xuống trƣớc
mặt anh (…) Anh uống cạn bầu sữa, và nhƣ trẻ nhỏ, anh đi vào giấc ngủ ngon lành, miệng
vẫn ngậm đầu vú. Chị dịu dàng vuốt mặt anh, khẽ kéo núm vú ra. Miệng anh chum chím,
màu hồng đã phảng phất trên gƣơng mặt vàng bủng‖ [48;628]. Không còn thấy màu sắc
giới tính và dục vọng, hành động của hai ngƣời vừa tự nhiên lại vừa nhƣ một nghi lễ hiến
dâng linh thiêng. Nó nhƣ một bức tranh về sự cứu rỗi, về sự tái sinh mà Kim Một Vú chính
là ngƣời mẹ của sự tái sinh ấy, hoàn toàn trong ý nghĩa thiêng liêng của nó. Sữa xuất hiện
không nhiều trong Ếch nhƣng truyền tải thông điệp ý nghĩa, gắn với hai nhân vật nữ tƣởng
đối lập mà lại tƣơng đồng của Tiểu sƣ tử và Trần My: một ngƣời không có khả năng ―sinh‖
(con) nhƣng lại có thể cấu thành yếu tố để dƣỡng; một ngƣời ―sinh‖ nhƣng lại không có cơ
hội để dƣỡng. Họ gặp nhau ở dòng sữa ngọt ngào, tràn trề hƣớng về đứa trẻ mà họ cùng
thƣơng yêu. Trong tác phẩm, Khoa Đẩu có kể một vở kịch về một gia đình gặp nạn, cô chị
gái mƣời tám tuổi đang còn là trinh nữ trong lúc cùng quẫn đã nhét bầu vú của mình cho
86
đứa em trai đang thời kì bú sữa, cuối cùng sữa cũng đã chảy ra. Viết về điều kì diệu ấy,
Mạc Ngôn đã tiếp tục dòng chảy của vô thức nhân loại để tụng ca dòng sữa nhƣ là một
phần tiêu biểu của Mẫu tính, dòng chảy vĩnh hằng từ bình minh lịch sử, tiềm ẩn trong mọi
ngƣời phụ nữ mang lại cho họ nghị lực sống (Trần My) và sự tái sinh (Tiểu sƣ tử).
Sữa là sự sống, sữa tái sinh, nhƣng mặt khác, cũng chính sữa đã hủy diệt phần nam
tính của Kim Đồng, biến anh ta trở thành một ngƣời đàn ông vô dụng cả theo nghĩa đen và
nghĩa bóng. Thế giới của Kim Đồng xoay quanh những bầu vú, sữa và cuộc đời anh ta
cũng gắn chặt với bầu vú, với sữa. Sự si mê bệnh hoạn làm cho Kim Đồng đánh mất đi bản
năng của một ngƣời đàn ông là làm tình; biến Kim Đồng thành một kẻ ích kỷ, sẵn sàng
giành giật, độc chiếm (với ngƣời chị song sinh đáng thƣơng); ích kỉ đến mức không hề ý
thức đƣợc việc mình tiếp tục bú sữa mẹ cũng chính là đang rút đi máu, hút đi xƣơng tủy
của mẹ; ngay cả khi đã trung niên vẫn sẵn sàng cƣớp đi dòng sữa của một đứa trẻ mới sinh
(con Kim Một Vú). Từ ý định ban đầu viết về một ngƣời đàn ông mắc chứng bệnh nghiện
sữa, ―bú mẹ đến bốn mƣơi tuổi, mẹ chết rồi lại bú sữa vợ, tranh ăn với cả con mình, ngƣời
vợ không chịu nổi đã li hôn, kết quả là ngƣời đàn ông đó chết đói‖ [61;144], ―lịch sử của
quê hƣơng Đông Bắc Cao Mật đã tham dự vào một cách không khách khí‖ biến thành câu
chuyện của Thƣợng Quan Kim Đồng, nhƣng ý nghĩa tƣợng trƣng ―rất sâu sắc‖ mà nhà văn
cảm nhận thì vẫn còn nguyên giá trị.
Một biến thể có vai trò quan trọng của Nƣớc là Rƣợu. Rƣợu trong tiểu thuyết Mạc
Ngôn cũng tồn tại ở hai sắc thái ý nghĩa đối lập. Trƣớc hết, Rƣợu tƣợng trƣng của sự sống
và sức sống mãnh liệt của ngƣời dân Cao Mật nói riêng, nhân dân Trung Quốc nói chung.
Rƣợu cao lƣơng cùng với cao lƣơng đỏ là hình ảnh mang tính biểu tƣợng xuyên suốt trong
Gia tộc cao lương đỏ. Rƣợu cao lƣơng với ―hƣơng thơm‖ và ―dƣ vị ngọt nhƣ mật ong‖
luôn gắn liền với sự vĩ đại của tổ tiên, của truyền thống. Đó là sức sống mãnh liệt, kiên
cƣờng, dám sống và dám chết của thế hệ ―ông bà tôi‖. Họ trƣởng thành từ rƣợu cao lƣơng.
Cách uống rƣợu của họ cũng giống nhƣ cách họ sống: chủ động, cuồng nhiệt, không sợ hãi
thách thức số phận, thách thức cuộc đời. Ý nghĩa sâu sắc của hình tƣợng này đƣợc thể hiện
qua mối quan hệ với máu. Có khi là rƣợu cao lƣơng hòa lẫn với máu. Máu, nƣớc mắt, rƣợu
cao lƣơng đã hòa làm một khi Đái Phƣợng Liên rửa khuôn mặt đầy máu của mình trong
chum rƣợu. Mặt bà ―hồng hào, thơm mùi rƣợu‖. Bà vái lạy chum rƣợu có máu ông La Hán
và vục tay uống. Từ khi có máu và nƣớc mắt, rƣợu không chỉ thể hiện sức sống tự nhiên,
87
đam mê mãnh liệt của con ngƣời; nó đã hòa vào đó cả niềm đau đớn, sự căm thù. Máu hòa
vào rƣợu, và rƣợu cũng hòa vào máu con ngƣời nơi đây. Vào giây phút từ giã cõi đời, ―từ
trong máu của bà, bố vẫn ngửi thấy mùi rƣợu cao lƣơng thơm nức‖. Thứ mùi cuối cùng mà
Đái Phƣợng Liên ngửi thấy là mùi rƣợu cao lƣơng. Dịch thể rƣợu - máu không tách rời đó
đã chảy trong huyết quản của những ngƣời nhƣ Đái Phƣợng Liên, Từ Chiếm Ngao - thế hệ
―ông bà tôi‖ dám yêu, dám sống hết mình nên đối diện với cái chết thật thanh thản: ―Tất cả
ƣu tƣ, đau khổ, vội vàng, chán nản đều rơi xuống cánh đồng cao lƣơng, đều nhƣ đá đánh
vào ngọn cao lƣơng, khi cao lƣơng đang bám rễ xuống đất đen, đơm hoa, kết hạt chua chát,
truyền từ đời này sang đời sau‖ [47;147].
Là biểu tƣợng trung tâm của tác phẩm, rƣợu trong Tửu quốc mang một ý nghĩa
hoàn toàn khác với linh hồn rƣợu cao lƣơng thời kì Cao lương đỏ. Rƣợu ―là chất bôi trơn
bộ máy nhà nƣớc, không rƣợu bộ máy nhà nƣớc không thể vận hành‖. Kẻ hám lợi thì pha
rƣợu cồn công nghiệp để thu tiền bất chính; ngƣời nghèo thì lấy chai cồn sát trùng, pha
loãng bằng nƣớc lã để uống. Nếu nhƣ rƣợu trong Cao lương đỏ thơm mùi cao lƣơng thì
rƣợu trong Tửu quốc nồng nặc mùi thứ dầu bôi trơn bộ máy nhà nƣớc quan liêu. Nếu nhƣ
rƣợu cao lƣơng hòa chung với máu để làm nên bài ca về sự ngay thẳng, sức sống kiên
cƣờng, bất khuất của con ngƣời thì rƣợu trong Tửu quốc kết hợp với thức nhắm là thịt trẻ
con, trở thành biểu tƣợng cho sự sa đọa, tha hóa, phi nhân tính của một bộ phận quan chức
nói riêng, của con ngƣời nói chung. Rƣợu trở thành kẻ thống trị, chảy tràn trong Tửu quốc,
làm nên thành phố rƣợu, vƣơng quốc rƣợu. ―Chất nƣớc trong vắt khẽ rung rinh, thơm ngào
ngạt, cực kì hấp dẫn‖ trở thành một biểu tƣợng cho sự cám dỗ và sa ngã. Nó khiến cho sự
tỉnh táo và quyết tâm vạch trần tội ác của trinh sát viên Đinh Câu đã bị lột bỏ từng bƣớc.
Nó là đƣờng dẫn đƣa đến các bữa tiệc ăn thịt ngƣời, các cuộc ăn chơi sa đọa ở những nơi
nhƣ quán Dƣ Một Thƣớc… Giữa một thế giới rƣợu rộng lớn mang những cái tên mĩ miều:
Rƣợu ―Lục nghị trùng điệp‖, rƣợu ―Thập lí bát hồng‖, rƣợu ―Nữ nhi hồng‖, ―Trạng nguyên
hồng‖, ―Bờm tía ngựa hồng‖, ―Ngƣời đẹp phƣơng Đông‖, rƣợu ―Bú Dù‖, rƣợu ―Mây
mƣa‖, trừ hai lần nói về tên tác phẩm Rượu cao lương, rƣợu cao lƣơng không hề đƣợc nhắc
đến. Bởi ngay từ cái tên bình dị của mình, nó đã không phù hợp để đặt vào thế giới sa đọa,
chuộng sự hào nhoáng và ô hợp đó. Chỉ có rƣợu cao lƣơng, loại rƣợu đƣợc làm ra từ loài
cây bình dị nhƣng có sức sống mạnh mẽ, biểu tƣợng cho con ngƣời đông Bắc Cao Mật mới
xứng đáng để bảo lƣu nét nghĩa truyền thống tích cực của Nƣớc. Còn rƣợu trong Tửu quốc,
88
thứ rƣợu pha cồn, thứ rƣợu bôi trơn bộ máy, thứ rƣợu dùng trong những bữa tiệc thịt ngƣời,
mãi mãi là một ―tai họa‖. Trong truyền thống, Nƣớc tiềm ẩn sức mạnh đe dọa và tàn phá
nhƣng nhƣ một phép ―thử tội‖ để trừng trị kẻ ác. Còn ở đây, Mạc Ngôn xây dựng cổ mẫu
Nƣớc và biến thể của nó ở hai trạng thái đối lập hoàn toàn. Nhấn mạnh đến nét nghĩa tích
cực của Nƣớc gắn với vẻ đẹp tâm hồn và sức sống mãnh liệt của con ngƣời, hƣớng đi này
của Mạc Ngôn tiếp tục thể hiện con đƣờng ―tầm căn‖ vẻ đẹp nguyên thủy của sinh mệnh
dân gian mà ông theo đuổi. Triệt để hóa nét nghĩa tiêu cực của Nƣớc, đẩy nó thêm ở cấp độ
mới thông qua biến thể Rƣợu, ông đã vạch trần màu sắc đen tối của một xã hội tiêu dùng
mà nhân tính bị tha hóa bởi đồng tiền và những cám dỗ bản năng.
Trở về với cổ mẫu Nƣớc, tiểu thuyết Mạc Ngôn vừa bảo lƣu những nét nghĩa trong
cổ mẫu truyền thống đồng thời cũng mang đến những biến thể với nhiều nét nghĩa mới.
Những biến thể này chứng minh cho sức tái sinh vạn biến của cổ mẫu cũng nhƣ ý nghĩa
biểu tƣợng lung linh màu sắc của chúng trong huyền thoại.
3.2.2. Cổ mẫu Mẹ
Cổ mẫu Mẹ trƣớc hết là ―tụng ca những phẩm tính huyền diệu của ngƣời mẹ, là tìm
về ―sự ngơi nghỉ, sự an toàn‖ và ―sự tái sinh‖ .―Mẹ‖ là ―tất cả những gì làm nên cõi ẩn náu
vĩ đại của loài ngƣời‖ [13;76]. Nói đến cổ mẫu Mẹ là nhắc đến phẩm tính sinh - dƣỡng cao
cả. Vì vậy, ngay từ khởi thủy, cổ mẫu này đã có sự gắn bó chặt chẽ với cổ mẫu Nƣớc, có
khi là một phần của cổ mẫu Nƣớc (thể hiện ở Sữa). Trong những trang huyền thoại đầu
tiên, hình ảnh Ngƣời Mẹ đã xuất hiện với tƣ cách của một Đấng sáng thế, cội nguồn của
vạn vật.
Thần thoại Hy Lạp hình dung Nữ thần Đất Mẹ Gaia - bà mẹ đất có bộ ngực vĩ đại -
vị ―cao tằng tổ mẫu‖ của loài ngƣời, là nơi cƣ ngụ, nuôi sống ngƣời trần thế, đồng thời cũng
là nơi an nghỉ của họ. Trong mƣời hai vị thần tối cao trên đỉnh Olympus, có tới sáu vị nữ
thần (Hera, Artemis, Athena, Aphrodite, Demeter, Hex) và mỗi ngƣời đều có vai trò đặc
biệt quan trọng trong việc bảo hộ cho cuộc sống con ngƣời. Ngƣời phụ nữ - nữ thần, nhƣ
bản năng, nhƣ một lẽ tự nhiên, đều mang trong mình, hoặc đều tƣợng trƣng cho đặc tính
sinh - dƣỡng thiêng liêng. Trong quan niệm thẩm mĩ của ngƣời Ấn Độ, ―mỗi ngƣời phụ nữ
là một nữ thần‖. Có một điều thú vị là ở đất nƣớc mà vị thế của ngƣời phụ nữ bị hạ thấp, thì
từ thời cổ đại, hình ảnh các vị nữ thần đã hiện lên song hành cùng với các vị nam thần,
thậm chí còn đƣợc coi nhƣ ngọn nguồn năng lƣợng của vạn vật trong đó có các nam thần
89
(phần nữ tính trong thần Siva). Họ là biểu tƣợng của nữ tính (Sarasvati, Lakshmi), biểu
tƣợng cho sự tái sinh (Pravati). Nữ thần Parvati mang năng lƣợng nữ (shakti), đƣợc xem là
hiện thân hoàn chỉnh của Adi Parashakti - nữ thần sáng thế tối cao. Bà là một trong những
vị thần mang đến năng lƣợng sống cho tất cả các sinh vật. Thân thể bà chính là năng lƣợng
nữ. Chính xác hơn, bà hiện diện trong mọi cơ thể sống dƣới dạng năng lƣợng. Trong 108
cái tên, Paravati đƣợc nhắc đến là một Ambika (ngƣời mẹ trìu mến); Kumari (trinh trắng),
Mataji (ngƣời mẹ đáng kính)… nhƣng cũng có lúc đáng sợ nhƣ nữ thần Kali. Kali đen đúa
với đôi mắt thứ ba trên trán và chuỗi đầu lâu đeo cổ tƣợng trƣng cho sự hủy diệt nhƣng là
hủy diệt để hoàn thành một chu trình vận động phát triển. Hủy diệt để sáng tạo ra cái mới.
Xét đến cùng đó là ý nghĩa hủy diệt để tái sinh. Trong thần thoại Trung Quốc, có một vị nữ
thần đƣợc sùng bái từ lâu đời, đƣợc coi là một trong những vị thần sáng tạo thế giới, thủy tổ
của loài ngƣời, vạn vật: Nữ Oa. Nữ Oa tạo những tƣợng đất sét, thổi dƣơng khí vào, những
bức tƣợng đó trở thành đàn ông; thổi âm khí vào, những bức tƣợng trông yếu mềm hơn,
thành đàn bà. Nữ Oa còn ban cho hai giới tính đó bộ sinh thực khí để sinh sản. Vì lẽ đó, bà
đƣợc coi là thủy tổ của loài ngƣời đồng thời nhƣ một Mai Thần (ngƣời giúp nam nữ tìm đối
tƣợng để kết duyên). Cũng chính Nữ Oa đã là ngƣời không quản ngại gian khổ đội đá vá
trời để cứu lấy sự sống của loài ngƣời - những đứa con do chính bà tạo ra, giúp sự sống trên
trần thế đƣợc hồi sinh. Về sau, bà trở thành nữ thần hộ mệnh trong hôn nhân.
Cổ mẫu Mẹ từ khi xuất hiện đã là biểu tƣợng cho ngọn nguồn khởi thủy, tạo tác của
vạn vật, mang tình yêu thƣơng và phẩm tính sinh - dƣỡng thiêng liêng. Cổ mẫu Mẹ biểu
tƣợng cho sự trù phú, thịnh vƣợng nhƣng đồng thời ngƣợc lại, cũng vì thế mà dễ dẫn đến
―nguy cơ bị o ép bởi môi trƣờng chặt hẹp, bị ngạt thở do sự kéo dài quá mức chức năng
ngƣời nuôi dƣỡng và dẫn dắt‖ [13;586]. Theo quan niệm của C. Jung, ngƣời mẹ là dạng
thức đầu tiên của anima mà mỗi con ngƣời sở nghiệm, tức là cái vô thức. ―Cái vô thức này
có hai mặt, một mặt xây dựng, một mặt phá hoại‖. Vì bản chất của vô thức là phi cá nhân
và lại có tính gốc nguồn, nên nó có ―ƣu thế tƣơng đối‖, ―có thể quay lại đối đầu và tiêu diệt
cái ý thức đã phát sinh ra từ nó; khi ấy, vô thức đóng vai trò ngƣời mẹ ăn thịt con, thờ ơ với
những cá thể và bị cuốn hút hoàn toàn vào chu trình mù quáng của vũ trụ‖ [13;588]. Vì vậy
mà cũng từ trong những trang thần thoại đầu tiên, ngƣời đƣợc coi là Đấng sáng thế vĩ đại
đó đồng thời là ngƣời phụ nữ - nguyên nhân của tội lỗi trên thế gian trong đó có tội lỗi của
ngƣời đàn ông. Nàng Pandora, ngƣời phụ nữ đầu tiên trong thần thoại Hy Lạp bị coi là
90
nguồn gốc của mọi tai ƣơng trên đời. Vì bản tính tò mò, nàng đã mở chiếc bình đậy kín
chứa đựng tất cả những tai họa và điều xấu xa khiến cho nó bay ra, lan tràn trên mặt đất.
Điều này cũng giống nhƣ câu chuyện về Adam và Eva với quả táo nhận thức và ―tội lỗi đầu
tiên‖. Vì xúi giục Adam ăn trái cấm mà Eva và mọi phụ nữ sau này bị coi là những ngƣời
mang tội lỗi đầu tiên, chịu trách nhiệm về sự sa ngã… Nhƣ vậy là bên cạnh yếu tố tích cực,
những ngƣời phụ nữ đầu tiên của nhân loại cũng đã là ―nạn nhân‖ của sự thiếu công bằng,
bị gán ghép là nguyên nhân khơi dậy ở con ngƣời dục vọng xấu xa, là ngọn nguồn của mọi
tai họa, mọi nỗi bất hạnh trong đời sống. Từ trong huyền thoại cổ đại, cổ mẫu Mẹ đã mang
trong mình những đặc tính sinh, dƣỡng, đồng thời vẫn lƣu giữ nét nghĩa là mầm mống tiềm
tàng của sự hủy diệt. Tuy nhiên, xét cho cùng đó là hủy diệt để đƣợc tái sinh - giống nhƣ
―tội lỗi đầu tiên‖ mà Eva mắc phải khiến Adam và Eva phải rời khỏi vƣờn địa đàng nhƣng
đã mang đến cho họ một thứ giá trị khác là nhận thức; nhƣ nàng Pandora vẫn kịp giữ lại
cho loài ngƣời hạt giống Hi vọng; nhƣ Mẹ Kali hủy diệt, tự tiêu diệt, uống máu độc của ác
quỷ để cái ác không bị tái sinh vô tận…
Cổ mẫu Mẹ với những đặc trƣng nhƣ vậy đã trở thành một biểu tƣợng không gì
thay thế đƣợc, nhƣ một hằng số chứa đựng những giá trị bất biến, vĩnh cửu sẽ còn xuất hiện
nhiều lần cùng với sự phát triển của lịch sử văn hóa nói chung, văn học nói riêng. Nói nhƣ
E. M. Meletinsky thì nó là một trong những nguyên mẫu cổ xƣa vẫn đƣợc tiếp tục hiển thị
ngay cả trong những cốt truyện mới. Cổ mẫu Mẹ trong tiểu thuyết Mạc Ngôn vừa bảo lƣu
những nét nghĩa của cổ mẫu huyền thoại đồng thời cũng đƣợc gửi gắm vào đó nhiều nét
nghĩa mới.
Báu vật của đời là tác phẩm tiêu biểu nhất cho thấy xu hƣớng trở về với cổ mẫu Mẹ,
cổ mẫu mang tính vĩnh cửu của nhân loại của Mạc Ngôn. Trong lời tự bạch, nhà văn chia
sẻ: ông viết tác phẩm nhƣ là một món quà tặng mẹ. Ý định viết đƣợc nung nấu từ rất lâu
nhƣng chỉ thực sự thành hình khi ông chứng kiến cảnh ngƣời phụ nữ cho hai đứa con bú ở
ga tàu điện ngầm Bắc Kinh, ―khuôn mặt gầy khô của chị bị ánh mặt trời chiếu vào bừng
sáng lên nhƣ một bức tƣợng đồng‖, ―trang nghiêm và thiêng liêng nhƣ Đức Mẹ đang chịu
tội‖. Ngay từ trƣớc khi đặt bút viết tiểu thuyết, Mạc Ngôn đã quyết định đặt tên tác phẩm là
Phong nhũ phì đồn. ―Phong nhũ và phì đồn, giải thích trên mặt chữ thì có nghĩa là mạnh
khỏe, bầu vú căng tròn và cặp mông núng nính, đó là cái thiêng liêng nhất của ngƣời phụ
nữ đồng thời cũng là vẻ đẹp để ngƣời ta chiêm ngƣỡng, trẻ con cũng thích, ngƣời lớn cũng
91
thích (…). Tôi lấy nó làm tên sách, dụng ý đầu tiên là ca ngợi ngƣời mẹ, hay nói cách khác
là ca ngợi ngƣời phụ nữ, ca ngợi khả năng sinh dƣỡng của họ. Nói sâu hơn nữa là có ý ca
ngợi trái đất của chúng ta, vì trái đất nhƣ ngƣời mẹ cũng là một kiểu so sánh thông thƣờng‖
[61;136-137]. Những lời chia sẻ của Mạc Ngôn về quá trình sáng tác đã cho thấy dấu ấn
của nguyên lí Tính Mẫu - một dòng chảy trong vô thức nhân loại - đậm nét trong tác phẩm
của ông. Nguyên lí Tính Mẫu đƣợc gửi gắm qua hàng loạt nhân vật nữ trong tác phẩm, mà
hình tƣợng trung tâm là Thƣợng Quan Lỗ Thị - ngƣời mẹ đau thƣơng mà vĩ đại, tiêu biểu
cho ngƣời phụ nữ Trung Quốc, đồng thời là hình ảnh nối dài của cổ mẫu Mẹ trong lịch sử
nhân loại. Ở ngƣời phụ nữ đó, ngƣời ta tìm thấy vẻ đẹp, tìm thấy sự hi sinh, lòng bao dung
độ lƣợng, thấy đƣợc số phận bất hạnh và cả bản lĩnh sống kiên cƣờng - sống để chống lại
những nỗi bất công vẫn đang giáng xuống đầu ngƣời phụ nữ Trung Quốc nói riêng, ngƣời
phụ nữ nhân loại nói chung, sống để đòi quyền đƣợc hạnh phúc. Lấy phải ngƣời chồng bất
lực, không có khả năng truyền giống, khát khao và bản năng làm mẹ của Lỗ Toàn Nhi
không vì thế mà bị dập tắt. Từ việc thụ động xin giống của ông chú Vu Bàn Vả, sau này,
chính Lỗ Thị đã chủ động tìm kiếm con cho mình. Chín ngƣời con, tám gái, một trai là con
của nhiều ngƣời đàn ông khác nhau nhƣng tình yêu thƣơng mà Lỗ Thị dành cho chúng thì
luôn dạt dào, vô bờ bến. Mỗi đứa con lớn lên có một số phận, con đƣờng đi khác nhau,
mang đến cho Lỗ Thị lo lắng, đau xót nhiều hơn niềm vui, nhƣng bao giờ bà cũng là bến
bờ, là chỗ dựa yên bình nhất của chúng. Không chỉ nuôi dạy chín đứa con, một tay bà còn
cƣu mang, chăm sóc cả tám đứa cháu ngoại, mỗi đứa cháu là một hoàn cảnh, một xuất thân
riêng. Trải qua biết bao biến cố thăng trầm, ngƣời mẹ ấy vẫn vƣợt lên tất cả để tồn tại, để
đòi lấy quyền đƣợc sống, quyền đƣợc hạnh phúc, để dang rộng vòng tay bao bọc, nuôi
dƣỡng, chở che đàn con, đàn cháu trƣớc bão táp cuộc đời. Ám ảnh nhất, và có lẽ cũng là
tiêu biểu nhất cho phẩm tính đau thƣơng và vĩ đại của ngƣời mẹ ấy là khi bà nôn ọe ra
những hạt đậu đã nuốt trộm tại xƣởng xay bột để cứu sống con cháu mình trong những
ngày đói khát: ―Mẹ quì gối xuống đất, hai tay vịn mép bồn, hai vai nhô lên, cổ vƣơn ra rồi
rụt lại, ôi cái đẹp đáng sợ, cái đẹp rùng rợn, ôi một hình ảnh trang nghiêm! Cùng với tiếng
nôn ọe nhƣ sấm, ngƣời mẹ lúc thì co rúm lại, lúc mềm oặt ra nhƣ nắm bùn nhão, cái thứ
lƣơng thực chết tiệt ấy quí nhƣ vàng ngọc châu báu, từng hạt từng hạt rơi xuống bồn (…)
mùi đậu hoản xộc vào mũi, mùi tanh tanh của máu nhƣ hàng loạt mũi tên xông thẳng vào
trái tim chị (Chị Tám Ngọc Nữ). Chị sắp sửa òa khóc thì gƣơng mặt mẹ tƣơi tắn nhƣ đóa
92
hoa quì dƣới ánh sáng mặt trời ghé sát chị và giọng mẹ nhƣ muốn vỡ ra: - Con ơi, mẹ con
ta đƣợc cứu sống rồi‖ [48;812,813]. Cảnh nôn ọe của Thƣợng Quan Lỗ Thị đƣợc Mạc
Ngôn mô tả một cách hết sức tỉ mỉ nhƣng nó không mang đến cảm giác ghê sợ. Trong
bóng đêm, sẽ còn sáng mãi lên trong tâm trí ngƣời đọc là dáng quì gối với cái cổ vƣơn dài
và nụ cƣời nhƣ đóa hoa quỳ dƣới ánh sáng mặt trời của bà. Những gì thuộc về bà mẹ nhà
Thƣợng Quan cũng là những gì thuộc về cổ mẫu Mẹ nói chung chỉ một đoạn văn đã có thể
gói ghém, nói lên tất cả.
Lấy tên tác phẩm là Oa (蛙- Ếch), trong từ ―thanh oa‖ (青蛙- con ếch) vốn đồng
âm với ―oa‖ (娃) trong ―oa oa‖ ( 娃娃 - em bé) và ―oa‖ ( 娲) trong Nữ Oa (女娲), Mạc
Ngôn với nhiều dụng ý thâm trầm, cũng đồng thời thừa nhận sự xuất hiện của cổ mẫu Mẹ -
―Nữ Oa tạo ra con người‖ [57;510]. Nhân vật trung tâm của Ếch là Vạn Tâm. Là nhân vật
nữ duy nhất của tác phẩm không xuất hiện với vai trò ngƣời mẹ nhƣng những đặc tính của
cổ mẫu Mẹ ở nhân vật này lại đậm nét hơn bất cứ nhân vật nữ - ngƣời mẹ nào trong tác
phẩm ở cả hai phẩm tính đối nghịch nhau: sinh - dƣỡng và hủy diệt. Hai phẩm tính này gắn
với sự vận động của tâm hồn và sự thay đổi vai trò của nhân vật dƣới tác động của chính
sách kế hoạch hóa gia đình kéo dài hơn ba mƣơi năm trên đất nƣớc Trung Quốc.
Tuy không ―mang nặng đẻ đau‖ nhƣng Vạn Tâm là mẹ đỡ cho hàng nghìn đứa trẻ
vùng Đông Bắc Cao Mật. Ở ngƣời phụ nữ chƣa từng sinh nở ấy, tất cả phẩm tính sinh -
dƣỡng của cổ mẫu Mẹ đƣợc thể hiện trên đôi bàn tay. Đôi bàn tay ―mang giữ sự sống‖
―xuân hạ thu đông đều mềm, đều mát‖, nhƣng là ―trong gấm có ẩn kim, trong nhu có
cƣơng‖, ―là trong ấm ngoài mát, giống nhƣ lụa quí, cái mát của loại lụa bảo vệ cho trân
châu bảo ngọc‖ [57;33]. Ngƣời phụ nữ bao bọc đứa con trong tử cung, còn Vạn Tâm bao
bọc hàng vạn đứa trẻ nhƣ những viên trân châu bảo ngọc trong đôi bàn tay mềm, mát nhƣ
lụa của mình. Hình ảnh ấy phảng phất dáng dấp của Nữ Oa xƣa không quản vất vả dùng
đôi tay mà tạo sinh ra loài ngƣời. Trong tác phẩm, nhiều lần nhân vật đƣợc nhắc đến nhƣ
một vị Bồ Tát sống có khả năng truyền sức mạnh cho sản phụ. Sự giống nhau đến bảy, tám
phần giữa vị Nƣơng Nƣơng - vị nữ thần phù hộ cho sự sinh đẻ đƣợc thờ trong miếu của
ngƣời dân Đông Bắc Cao Mật - với Vạn Tâm đã một lần nữa khẳng định thiên chức sinh -
dƣỡng thiêng liêng của ngƣời phụ nữ này. Ngƣời phụ nữ chƣa từng một lần làm mẹ trở
thành biểu hiện cao cả nhất của tính Mẫu. Với sự lựa chọn mang đầy dụng ý đó, Mạc Ngôn
dành cho nhân vật của mình lời ngợi ca, sự đồng cảm, lời thanh minh chân thành. Đó cũng
93
chính là niềm tin của ông về những phẩm tính tốt đẹp thiêng liêng của ngƣời phụ nữ trên
trái đất. Dù thế nào đi nữa, họ đƣợc sinh ra để làm Mẹ, để ban phát sự sống và tình yêu
thƣơng cho nhân loại.
Mẫu tính ở Vạn Tâm đƣợc hiện thực hóa trực tiếp ở hệ thống các nhân vật nữ trong
tác phẩm. Thời kì thực hiện chính sách sinh đẻ có kế hoạch của Trung Quốc thập niên 60
của thế kỷ XX, ngƣời phụ nữ có thể vì quan niệm truyền thống với áp lực sinh con trai nối
dõi tông đƣờng, vì tiền, vì tình yêu… mà có con. Nhƣng ngay khi đứa trẻ đến với họ, tình
mẫu tử thiêng liêng đã vƣợt lên trên tất cả. Họ có thể hi sinh mọi thứ để bao bọc sinh linh
bé nhỏ của mình. Vƣơng Mĩ Nhân vì bảo vệ con mà sẵn sàng quyên sinh, trốn chui trốn lủi
trong hầm tối. Vƣơng Đảm ngƣời nhỏ bé nhƣ một đứa trẻ có thể thúc mình đẻ non để đứa
trẻ đƣợc sinh ra, trở thành ―một sinh mệnh, là công dân của nƣớc Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa, sẽ đƣợc pháp luật ủng hộ‖ [57;287]; Trần My vì tiền cho cha chữa bệnh mà
đồng ý mang thai hộ, nhƣng khi đứa trẻ bắt đầu thành hình thì nó đã trở thành một phần
máu thịt của cô. Đứa trẻ đƣợc mang đi, cô rơi vào nỗi đau khổ cùng cực, lang thang khắp
nơi nhƣ một kẻ nửa điên nửa tỉnh, mong có thể cho con trai bú dòng sữa mát lành. Tiểu sƣ
tử vì khát khao một đứa con mà có những biểu hiện nhƣ một bà mẹ mang thai thực sự.
Thậm chí, bản năng làm mẹ còn mãnh liệt đến mức cả Khoa Đẩu và Tiểu sƣ tử đều tin
rằng, khi đứa trẻ đƣợc mang thai hộ sinh ra, bầu vú chƣa qua một lần sinh nở của cô cũng
có thể vì tình yêu thƣơng mà tiết ra sữa.
Đƣợc ngợi ca ở phẩm tính sinh - dƣỡng, ngƣời phụ nữ ngƣợc lại, cũng bị coi nhƣ là
nguyên nhân khơi dậy dục vọng xấu xa của con ngƣời (Eva), là ―ngọn nguồn của mọi tai
họa, mọi nỗi bất hạnh trong cuộc sống (Pandora). Đó là hệ quả của thời kì thị tộc phụ
quyền, khi mà ngƣời đàn ông nắm vai trò chủ đạo trong cuộc sống và có quyền năng định
đoạt số mệnh phụ nữ. Chính vì vậy, có thể nói, hình ảnh Mẹ không phải bao giờ cũng đƣợc
hiện lên với dáng vẻ toàn mĩ nhất. Ngay từ khi ra đời, phụ nữ đã là nạn nhân của bất công,
chịu nhiều thiệt thòi; gắn liền với đau thƣơng, mất mát. Ngợi ca vẻ đẹp của ngƣời phụ nữ
nhƣng Mạc Ngôn cũng chỉ ra một hiện thực đau lòng: không một ai trong số họ không phải
chịu bất hạnh. ―Phận đàn bà là phận hèn, không đánh không đƣợc! Phải đánh thì nó mới
biết điều‖ [48;797], câu nói đó của bà Lã trong Báu vật của đời đã khái quát đầy đủ những
bất hạnh của ngƣời phụ nữ Trung Quốc mà Lỗ Toàn Nhi là một ví dụ tiêu biểu. Lấy phải
ngƣời chồng nhƣ con la đực (không có khả năng sinh sản) nhƣng suốt ba năm, Thƣợng
94
Quan Lỗ Thị phải chịu sự đánh đập tàn nhẫn, mặc nhiên nhƣ lỗi của bà. Cực chẳng đã, phải
đi xin con từ ngƣời đàn ông khác song vì không đẻ đƣợc con trai nên ngƣời đàn bà ấy vẫn
bị đày đọa cả về thể chất lẫn tinh thần. ―Ngƣời chửa cửa mả‖. Vậy mà trong khi con lừa
đƣợc ba bốn ngƣời đỡ đẻ, đƣợc gọi thú y, Lỗ Thị phải cắn răng tự sinh con một mình. Ngay
sau khi sinh con gái, Lỗ Toàn Nhi đã bị bắt đi làm việc, bị đánh đập không thƣơng tiếc. Lần
sinh con gái thứ bảy, ―Thọ Hỉ xông vào buồng lật tã lên xem rồi ngã ngửa. Công việc đầu
tiên sau khi hết bàng hoàng là vớ lấy cái chày đập giặt quần áo, nhằm thẳng đầu vợ phang
một chày. Ngƣời - đàn - ông - không - bao - giờ - lớn này giận đến phát điên, anh ta kìm
kẹp lấy miếng sắt trong lò ấn vào giữa hai chân của vợ‖ [48;802-803]. Bị đày đọa là vậy
nhƣng khi ông chú dƣợng Vu Bàn Vả đến để ―hỏi tội‖ nhà Thƣợng Quan thì Lỗ Thị lại sợ
hãi can ngăn: ―Cháu ra khỏi nhà họ Vu là ngƣời của nhà Thƣợng Quan rồi, sống hay chết
chú đừng can thiệp vào…‖ [48;804]. Bố chồng, chồng chết, mẹ chồng bị điên, một mình
Lỗ Thị chèo chống đi qua biết bao đoạn đƣờng gian nan, những mong ―nhìn thấy cái ngày
con cháu mẹ mở mày mở mặt với đời‖ [48;480]. Vậy mà chín mƣơi lăm năm sống trong
cuộc đời, mắt bà đã phải chứng kiến biết bao tang thƣơng dâu bể; từng đứa con vƣợt ra
ngoài tầm kiểm soát; niềm hi vọng lớn lao là Thƣợng Quan Kim Đồng càng lớn càng vô
dụng chỉ biết ―đánh đu‖ trên bầu vú phụ nữ. Tay bà phải lần lƣợt chôn cất những đứa con,
đứa cháu. Đến khi chết, cái xác đáng thƣơng của bà còn bị ngƣời của chính phủ đến hạch
sách, đòi đào lên đi hỏa táng. Những ngƣời con gái trong gia đình Thƣợng Quan, số phận
cũng không bớt đau thƣơng hơn mẹ chúng: ngƣời thì bị chết vì bom đạn, ngƣời thì chết vì
bị xử tử hình, ngƣời thì chết vì bệnh tật mắc phải trong thời gian làm nghề gái điếm, ngƣời
thì chết vì bội thực, ngƣời thì chết vì gieo mình xuống núi, ngƣời thì chết vì tự trầm dƣới
lòng sông. Bà Lã, nhân vật nữ có thể tạm coi là phản diện vì sự đối xử tàn độc đối với Lỗ
Thị xét cho cùng cũng là một ngƣời đàn bà bất hạnh. Sống trong một gia đình mà đàn ông
toàn những kẻ ăn bám vô dụng, ―những con lừa không trƣởng thành‖, bà phải gồng mình
lên gánh vác tất cả. Cuộc sống vất vả đã tôi luyện cho bà một tâm hồn chai sạn. Định kiến
xã hội về giới đã đè nặng lên đôi vai khiến bà trở nên khắc nghiệt với chính mình và ngƣời
khác. Chính nó đã khiến cho bà không những chấp nhận sự bất công đối với bản thân mình
mà còn tàn nhẫn đặt nó lên đôi vai Lỗ Thị. Để rồi cuối cùng, số phận của bà cũng kết thúc
bằng những nhát chày oan nghiệt. Những định kiến về giới mà Ph. Enghen đã coi nhƣ ―sự
thất bại lịch sử lớn của giới phụ nữ‖ là một đặc tính của cổ mẫu Mẹ từ thời xa xƣa nhƣng rõ
95
ràng, đặt trong văn hóa Trung Quốc, nó đã đƣợc khắc họa đậm nét hơn hết.
Trong cổ mẫu Mẹ, bộ ngực - vú trong cái nhìn của biểu tƣợng học là trung tâm của
tái sinh. Nó là một thứ ―nữ quyền luận‖ về sự sống bất diệt, ―là phần quan trọng bậc nhất
của bản nguyên nữ‖. Hình ảnh cặp vú cũng trở thành trung tâm trong Báu vật của đời đúng
nhƣ tên gọi Phong nhũ phì đồn. Đó là bộ ngực của bà mẹ vĩ đại Thƣợng Quan Lỗ Thị, của
những cô gái con nhà Thƣợng Quan, và vô số những bộ ngực mà Kim Đồng - kẻ có niềm
say mê đặc biệt với bầu vú - đƣợc gặp, đƣợc ―trải nghiệm‖. Bầu vú đƣợc miêu tả trƣớc hết
ở vẻ đẹp phồn thực của nó. Cặp vú của Lỗ Thị là bầu hồ lô sáng loáng, là con chim bồ câu
trắng mềm mại, là củ cải đỏ có cái đầu nhọn và phần thân phình to đột ngột. Bầu vú của chị
ba Tiên Chim Lãnh Đệ thoát tục ―gọn ghẽ và lanh lợi; núm vú sống động nhƣ cái miệng
con nhím, hơi vểnh lên‖. Bầu vú của chị Năm Phán Đệ đầy tham vọng danh lợi thì ―đồ sộ
nặng trĩu‖, ―núm vú đỏ hồng‖. Bầu vú của chị Tám Ngọc Nữ thánh thiện là bầu vú trong
ngọc trắng ngà, ―làm sáng bừng mặt nƣớc‖… Tất nhiên, không thể không kể đến bầu vú
đầy tính nhục dục của Kim Một Vú ―nó nhƣ một quả núi đơn côi, nghễu nghện trên ngực
trái, nửa trên là bờ dốc thoai thoải, nửa dƣới là nửa quả cầu hơi chúc xuống‖, ―nóng bỏng
nhƣ da con gà trống bị bệnh đậu‖, ―khi mềm khi cứng nhƣ viên đạn bọc cao su‖. Trong con
mắt của ―chuyên gia Kim Đồng‖ cặp vú nào cũng xứng đáng đƣợc dành tình cảm, đƣợc
quan tâm: ―Tôi thấy cái đẹp của vú là một phạm trù rất rộng, không thể tùy tiện mà nói rằng
vú nào xấu, vú nào đẹp. Con nhím có khi cũng đẹp, lợn sữa cũng có khi đẹp‖. Những bầu
vú không chỉ đẹp, không chỉ mang lại sự sống, mang lại lạc thú, mà sâu xa hơn, đó còn là
sự sùng bái về mặt tâm linh, một thứ tôn giáo phồn thực nguyên thủy. Gắn với bầu vú -
―phần quan trọng bậc nhất của bản nguyên nữ‖ là sữa, trong ánh sáng của mẫu gốc - nghi lễ
thụ pháp là ―biểu tƣợng của sự bất tử‖. Đó cũng là một biến thể của cổ mẫu Nƣớc, biểu
hiện cho ý nghĩa của sự sống, sự tái sinh. Điều này đã đƣợc chúng tôi đề cập đến khi nói về
cổ mẫu Nƣớc. Cùng bầu vú, tử cung, sữa đặc trƣng cho khả năng sinh dƣỡng của Mẫu tính,
cũng đồng thời là biểu tƣợng cho bản năng tính dục. Tuy nhiên, nếu nhƣ trong cổ mẫu
nguyên thủy, vấn đề này đƣợc khai thác không phải ở khía cạnh bản thân nó mà đóng vai
nhƣ một tác nhân có hại, khiến cho ngƣời đàn ông sa ngã, thì Mạc Ngôn đã đòi lại cho
ngƣời phụ nữ quyền đƣợc sống với bản năng của mình. Bên cạnh ý nghĩa tƣợng trƣng cho
sự sinh sôi nảy nở phồn thực, câu chuyện về ―báu vật của đời‖ còn là câu chuyện về bản
năng tính dục của ngƣời phụ nữ. Ở đó, Mạc Ngôn chủ yếu xây dựng hình ảnh ngƣời phụ
96
nữ ở hai góc độ: ngƣời phụ nữ dám đi theo tiếng gọi của tình yêu, tình dục, dám sống đúng
với con ngƣời bản năng của mình; và ngƣời phụ nữ bị tình dục, bản năng làm cho mê muội.
Với ngƣời đàn ông đồng điệu về tâm hồn và thể xác, ngƣời phụ nữ của Mạc Ngôn có thể
vứt bỏ tất cả (lễ giáo, danh tiếng, nỗi sợ hãi…) để đi theo tiếng gọi tình yêu. Đó là Tôn Mi
Nƣơng và tình yêu nồng nhiệt với Tiền Đinh trong Đàn hương hình; là ngƣời con gái với
lớp màng chân, màng tay và cuộc tình oan trái trong Tổ tiên có màng chân; là mối tình của
Kim Cúc với Cao Mã trong Cây tỏi nổi giận… ―Bà tôi‖ từng là một ngƣời con gái phóng
khoáng, trên kiệu rƣớc về nhà chồng, dám xé tung tấm mảnh rèm che kiệu, nhìn ngắm bên
ngoài, hít thở mùi mồ hôi đàn ông quyến rũ mà khơi gợi lên sóng tình rạo rực. Cô gái ấy hai
đêm thức trắng với con dao trên tay, nhất quyết không chung đụng với ngƣời đàn ông mắc
bệnh kinh phong mà mình bị ép lấy làm chồng. Nhƣng cũng chính cô, đã trao thân cho một
phu kiệu mới quen biết trong cánh đồng cao lƣơng ngút ngàn, ngất ngây trong ngọn lửa
tình rạo rực. Tám chị em nhà Thƣợng Quan trong Báu vật của đời, mỗi ngƣời một tính
cách, mỗi ngƣời đi theo một con đƣờng khác nhau, tuy cuối cùng không thể tránh đƣợc kết
thúc bi thảm nhƣng nổi bật lên điểm chung ở họ là bản lĩnh dám sống chết với sự lựa chọn
của mình. Đó chính là sự phản kháng mãnh liệt của họ đối với xã hội Trung Quốc vốn
trọng nam khinh nữ. Cuối cùng, ngƣời làm nên lịch sử vẻ vang, oanh liệt nhƣng cũng đầy
đau thƣơng của dòng họ Thƣợng Quan là họ chứ không phải cậu con trai vàng ngọc Kim
Đồng. Đòi quyền bình đẳng về tình yêu, tình dục cho ngƣời phụ nữ nhƣng Mạc Ngôn cũng
không quên đƣa ra tiếng nói cảnh tỉnh. Ở khía cạnh này, ông đã khai thác một nét nghĩa
khác của cổ mẫu Mẹ (Mẹ Dữ, Mẹ Khủng Khiếp) mà nhiều nhà nghiên cứu huyền thoại đã
nhắc đến. Những cơn hoan lạc và sự trƣợt dài trên con đƣờng tha hóa của Lâm Lam trong
Rừng xanh lá đỏ là một ví dụ. Khi tình yêu và tình dục của ngƣời phụ nữ không còn dựa
trên tình cảm chân thành mà chỉ đơn thuần là sự thỏa mãn xác thịt, sự toan tính cá nhân thì
nó không còn đáng đƣợc ngợi ca và trân trọng. Có thể nói, dù ở khía cạnh nào đi chăng nữa
thì tiếng nói cuối cùng của Mạc Ngôn vẫn là tiếng nói nhằm mang đến quyền bình đẳng về
tình yêu và tình dục cho ngƣời phụ nữ. Tuy nhiên, cũng phải thấy một điều rằng, đôi khi, có
lẽ vì quá tập trung vào mục đích đó mà những miêu tả về tình dục của Mạc Ngôn có phần
―bỗ bã‖ đến mức không cần thiết, dẫn đến hiệu ứng ngƣợc. Tiết chế đƣợc những phần
không cần thiết đó, tiếng nói ngợi ca ngƣời phụ nữ - tiếp nối dòng chảy của nhân loại, sẽ trở
nên trọn vẹn hơn rất nhiều.
97
Cổ mẫu Mẹ trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn, tuy nét phẩm tính sinh - dƣỡng vẫn
đƣợc lƣu giữ nhƣng những biểu hiện của nó đã có ít nhiều biến đổi, gắn liền với một xã hội
hiện đại đầy rẫy hƣ vô, phi lí, còn con ngƣời thì ngày càng nhỏ bé, hoang mang, bất lực.
Bầu vú tái sinh sự sống, duy trì sự sống của Kim Đồng nhƣng cũng đƣa đến sự hủy diệt
phần nam tính trong ngƣời đàn ông này. Kim Đồng rõ ràng là một kẻ có tƣ chất thông
minh, lanh lợi, song mỗi khi cánh cửa tƣơng lai tƣơi sáng rộng mở, thì chính ―báu vật của
đời‖ lại đẩy anh ta rơi vào thảm cảnh. Khi là ngôi sao sáng của trƣờng trung học Đại Lan vì
tƣơng tƣ cô bé Nga Natasa (tất nhiên có cả bầu vú của cô) qua tấm ảnh, cậu trở nên điên
khùng phải thôi học, tiền đồ xán lạn cũng vụt mất. Sau này, dƣới sự trợ giúp của Tƣ Mã
Lƣơng, doanh nhân thành đạt kinh doanh ―nịt vú Thú một sừng‖ Kim Đồng cũng vì bầu vú
của Uông Ngân Chi mà trắng tay. Cùng với bầu vú - sữa, cổ mẫu Mẹ đi liền với tử cung, là
nơi mang giữ sự sống. ―Ý nghĩa tƣợng trƣng của tử cung gắn liền một cách hết sức phổ
biến với sự hiển lộ, sức sinh sản, thậm chí với cả sự tái sinh tinh thần‖ [13;969]. Thế nhƣng
trong Ếch, tử cung trở thành ―tội đồ‖ vì chứa trong nó những đứa trẻ không đƣợc phép sinh
ra. Tử cung trở thành mảnh đất chết vì mang nặng trong mình định kiến giới tính. Tử cung
rách nát sau những vết dao mổ. Và tử cung trống rỗng vì mầm sống, sự tái sinh trong nó đã
bị những cánh tay lạnh lùng tóm chặt, lôi tuột ra ngoài. …. Hai nghìn tám trăm đứa trẻ đã bị
ép đƣa ra khỏi tử cung của mẹ chúng, đứa lớn nhất tuổi thai đã sáu, bảy tháng. Đó mới là
con số của riêng Vạn Tâm trên mảnh đất Cao Mật. Số liệu sẽ là bao nhiêu trên toàn đất
nƣớc Trung Quốc rộng lớn? Trong xã hội nhiều bất trắc và phi lí này, liệu con ngƣời có thể
tìm đâu một nơi trú ẩn an toàn? Vấn đề về ―thân phận con ngƣời‖ chƣa bao giờ cũ ấy phải
chăng chính là những điều mà Mạc Ngôn luôn luôn trăn trở?
Nhƣ Nữ thần Parvati có lúc đƣợc hóa thân thành vị nữ thần Kali đen đúa và tàn ác,
cổ mẫu Mẹ trong huyền thoại cổ đại bên cạnh đặc tính sinh dƣỡng còn mang tính hủy diệt
nhƣng là sự hủy diệt để hoàn thành quá trình vận động nhƣ một chuỗi các mắt xích của
sáng tạo, duy trì, hủy diệt để rồi lại sáng tạo mới. Ếch của Mạc Ngôn không hoàn toàn nhƣ
vậy. Bác sĩ Vạn Tâm từng là vị Bồ Tát sống nhƣng cũng đồng thời là kẻ tội đồ đối với
ngƣời dân Cao Mật, bị lƣu đày trong nỗi ám ảnh quá khứ hãi hùng. Đôi bàn tay bà đỡ đẻ
cho hầu khắp phụ nữ Cao Mật nhƣng cũng chính chúng đã lấy đi mạng sống của hai nghìn
tám trăm sinh linh bé nhỏ. Đôi bàn tay tạo sinh trở thành đôi bàn tay hủy diệt. Hai nghìn
tám trăm sinh mệnh dù sau này có đƣợc hiện hình ở những con búp bê, trong một niềm tin
98
mang màu sắc huyền thoại rằng sẽ đầu thai vào kiếp khác vẫn mãi mãi là hai nghìn tám
trăm sinh mệnh đã từng chƣa bao giờ đƣợc sinh ra. Mẫu tính không còn chỗ khi đôi bàn tay
Bồ Tát đã biến thành đôi bàn tay hành pháp, đôi bàn tay ―dính đầy máu tƣơi‖ của một thời
kì lịch sử ―chỉ thừa nhận kết quả mà bỏ qua thủ đoạn‖ [57;242].
Không chỉ khác biệt huyền thoại cổ đại ở chỗ mang mặt trái hủy diệt, mà theo nghĩa
không tái sinh, cổ mẫu Mẹ còn đứng trƣớc nguy cơ tự diệt. Trong Ếch, công ty nuôi ếch
của Viên Tai thực chất là trung tâm đẻ thay, bên ngoài thì nuôi ếch nhƣng bên trong thì
nuôi những ngƣời phụ nữ đẻ thuê. Khi đứa trẻ đƣợc sinh ra trong vai trò của một mặt hàng
mua bán, những ngƣời phụ nữ - mẹ chúng cũng đã đồng thời bán đi vai trò làm mẹ, đánh
mất đi tính Mẫu vĩ đại mà tạo hóa trao tặng. Khả năng sinh sản của ngƣời phụ nữ vốn luôn
đƣợc gắn với biểu tƣợng phồn thực kiểu ―phong nhũ phì đồn‖ nhƣ trong Báu vật của đời
Mạc Ngôn từng ngợi ca. Vậy mà Vạn Tâm và Tiểu sƣ tử, hai ngƣời phụ nữ đƣợc miêu tả
với dáng vẻ phồn thực nhất, tƣởng chừng phải ―sinh năm đẻ bảy‖, ―con đàn cháu đống‖ lại
là những ngƣời hoặc không có cơ hội, hoặc không có khả năng sinh sản. ―Nỗi đau lớn nhất
của ngƣời đàn bà là không thể có con. Một ngƣời đàn bà mà không có con thì chƣa xứng
đáng đƣợc xem là đàn bà đúng nghĩa (…) Không có con, đàn bà sẽ trở nên sắt đá. Đàn bà
không sinh con thì sẽ già trƣớc tuổi‖ [57;289]. Với quan niệm phổ biến ấy, chẳng phải họ
đang bƣớc vào con đƣờng tự tiêu diệt Mẫu tính của mình hay sao? Lƣu giữ những phẩm
tính của cổ mẫu Mẹ từ truyền thống, đồng thời đặt nó trƣớc nguy cơ hủy diệt và tự diệt,
Mạc Ngôn đã tạo ra những lớp ý nghĩa mới cho một siêu kí hiệu cổ điển trong tâm thức
nhân loại.
Trở về với cổ mẫu Mẹ là trở về với ―tất cả những gì làm nên cõi ẩn náu vĩ đại của
loài ngƣời‖ để tìm thấy sự bình yên của thân xác và tâm hồn, tuy rằng trong xã hội hiện đại
đầy hƣ vô, điều ấy cũng thật mong manh. Cổ mẫu Mẹ trong ý nghĩa tạo sinh, nuôi dƣỡng
và hủy diệt đã tiếp tục mô hình về hình ảnh của một đấng khởi thủy đồng thời phái sinh
thêm những nét nghĩa mới, tạo nên sức hấp dẫn riêng cho những sáng tác viết về cổ mẫu
này của Mạc Ngôn.
3.2.3. Cổ mẫu Anh hùng
Một trong những huyền thoại lớn nhất trong lịch sử nhân loại; huyền thoại trung
tâm lƣu giữ trọn vẹn ý nghĩa của riêng mình ngay trong văn học (theo N.Frye) là huyền
thoại về ngƣời anh hùng. Đây cũng là một trong những nguyên mẫu cổ xƣa nhất, phổ biến
99
trong truyền thống truyện kể dân gian trên khắp thế giới. Ngƣời anh hùng - nhân vật trung
tâm của huyền thoại - thƣờng mang những đặc điểm về xuất thân, tên gọi, tính cách, hành
động… phản ánh tâm thức và niềm tin của cộng đồng, dân tộc nơi họ đƣợc ―sinh ra‖. Đó là
sự hiện thực hóa cho vẻ đẹp, ƣớc mơ, khát vọng khám phá và chinh phục của con ngƣời
đồng thời cũng là sự sùng kính của con ngƣời trƣớc thế giới thần linh, tự nhiên, vũ trụ. Sự
khác biệt về khoảng cách thời gian và địa lí có thể tạo nên nhiều hình mẫu anh hùng khác
nhau phù hợp với giá trị mà một cộng đồng xây dựng, nhƣng về cơ bản vẫn có sự gặp
nhau, tạo nên mô hình chung, với những motif cơ bản giống nhau. Điều đó đã đƣợc nhắc
đến trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà folklore nổi tiếng trên thế giới. E. M.
Meletinsky trong Thi pháp của huyền thoại đã chỉ ra rằng: ―các anh hùng sống và hành
động trong thời gian huyền thoại phù hợp với các sự kiện sáng tạo khởi thủy trong huyền
thoại cổ xƣa và có thể gọi họ là các Bậc tiên tổ - Đấng sáng tạo - những anh hùng văn hóa.
Quan niệm về ba phạm trù này đan kết nhau…‖ [44;232]. Theo nghĩa này, huyền thoại anh
hùng không còn giới hạn trong phạm vi khái niệm hẹp nhƣ về nguồn gốc xuất thân, hay
đơn thuần gắn với kì tích siêu nhiên. Ông tổ - đấng sáng tạo - anh hùng văn hóa không đơn
giản chỉ là một nhân vật huyền thoại có năng lực, mà là ―nhân vật huyền thoại tuyệt hảo‖ -
phù hợp về loại hình với quan niệm về thời kì sáng tạo đầu tiên trong huyền thoại. Sổ tay
phương pháp phê bình văn học (A Handbook of Critical Approaches to Literature) khi bàn
về cổ mẫu Anh hùng đã nhấn mạnh đến các nét nghĩa: ―Sự truy tìm‖ (ngƣời anh hùng thực
hiện cuộc hành trình dài, vƣợt qua những chƣớng ngại khó khăn để giải cứu vƣơng triều),
―sự khai tâm‖ (ngƣời anh hùng chịu một loạt những thử thách để đạt đến sự trƣởng thành
về mặt tinh thần) và ―cái thân tội chịu hiến tế‖ (ngƣời anh hùng - đồng nhất với phúc lợi
của cộng đồng - phải chết để chuộc tội của nhân dân, hồi phục đất để đƣợc phì nhiêu)
[100;164]. Với những đặc điểm đó, cổ mẫu anh hùng gắn bó chặt chẽ với các cổ mẫu con
nhƣ cổ mẫu hành trình, các motif huyền thoại truyền thống nhƣ thụ pháp, hiến tế - không
chỉ trong huyền thoại cổ đại mà còn xuất hiện trong huyền thoại giai đoạn sau này nhƣ
huyền thoại Kinh Thánh. Nhiều học giả tiêu biểu nhƣ Otto Rank, Lord Raglan, Joseph
Campbell dựa trên việc khảo sát hành trình của nhân vật anh hùng trong rất nhiều câu
chuyện thần thoại, tôn giáo trên khắp thế giới đã hệ thống thành những luận điểm chính
trong mô hình cổ mẫu về ngƣời anh hùng. Các công trình nghiên cứu đã chứng minh: có
một cấu trúc huyền thoại chung trong việc xây dựng ngƣời anh hùng và hành trình phiêu
100
lƣu của họ. Trong Huyền thoại về sự ra đời của người anh hùng (The myth of the birth of
the hero), Otto Rank dựa trên những ý tƣởng của S. Freud, đã thống kê 12 đặc điểm thƣờng
gặp trong các câu chuyện huyền thoại về ngƣời anh hùng. Lord Raglan, với công trình
Nhân vật người anh hùng: một nghiên cứu từ truyền thống, huyền thoại và kịch” (The
Hero: A Study in Tradition, Myth and Drama) cũng chỉ ra 22 đặc điểm chung thƣờng đƣợc
chia sẻ bởi các huyền thoại về ngƣời anh hùng trên thế giới. Mô hình tƣờng thuật đƣợc đề
xuất bởi hai nhà nghiên cứu tạo thành ―Rank - Raglan mythotype‖ - đƣợc coi là những chỉ
dẫn hữu ích cho việc nghiên cứu huyền thoại về ngƣời anh hùng. Một trong những nhà
nghiên cứu tiêu biểu phải kể đến là Joseph Campbell. Trong Anh hùng nghìn mặt (The
Hero with a Thousand Faces) [93], ông chia hành trình của ngƣời anh hùng thành ba chặng
(Khởi hành, thụ pháp và trở về) với 17 bƣớc. Chặng Khởi hành gồm 5 bƣớc: (1) Tiếng gọi
phiêu lƣu (tình huống, nguyên nhân bắt đầu cuộc phiêu lƣu: một thông điệp bí ẩn, một lời
mời, một thử thách); (2) Khƣớc từ tiếng gọi (ngƣời anh hùng ban đầu từ chối tiếng gọi vì
nhiều lí do khác nhau: ý thức về nghĩa vụ, sự sợ hãi, bất an, cảm giác không thỏa đáng,…);
(3) Trợ giúp siêu nhiên (Gặp gỡ ngƣời trợ giúp siêu nhiên trong vai trò cố vấn hoặc cung
cấp đồ vật thần kì); (4) Vƣợt qua ngƣỡng đầu tiên (Ngƣời anh hùng vƣợt qua ra khỏi vùng
đất (cuộc sống ban đầu) của mình và bƣớc vào thế giới bí ấn để bắt đầu cuộc phiêu lƣu); (5)
Bụng cá voi (Đại diện cho sự tách biệt cuối cùng khỏi thế giới ban đầu của bản thân ngƣời
anh hùng. Bƣớc vào giai đoạn này, anh ta đã sẵn sàng cho cuộc hành trình đầu tiên). Chặng
Thụ pháp gồm sáu bƣớc: (6) Con đƣờng thử thách (hàng loạt những thử thách mà ngƣời
anh hùng phải trải qua để bắt đầu biến đổi); (7) Gặp gỡ Nữ thần (Thử thách cuối cùng về
mặt tài năng của ngƣời anh hùng: giành đƣợc tình yêu, có đƣợc hôn nhân với Nữ thần); (8)
Ngƣời phụ nữ nhƣ là sự cám dỗ (Ngƣời anh hùng phải đối mặt với những cám dỗ (thƣờng
đƣợc đại diện bởi một ngƣời phụ nữ có thể khiến anh ta từ bỏ nhiệm vụ); (9) Chuộc tội cha
(Ngƣời anh hùng đối mặt với thử thách của chính mình, nỗi sợ hãi lớn nhất của chính mình,
đƣợc tạo nên bởi bất cứ điều gì nắm giữ sức mạnh tối thƣợng trong cuộc sống của anh ta
(thƣờng trong hình ảnh của một ngƣời cha); (10) Phong thần (trạng thái thiêng liêng mà
ngƣời anh hùng đạt đƣợc sau khi vƣợt qua những hạn chế của chính bản thân mình); (11)
Ân huệ cuối cùng (Những lợi ích hoặc ân huệ siêu việt (thuốc trƣờng sinh, cây bất tử…)
mà ngƣời anh hùng sau khi vƣợt qua thử thách đã có đƣợc). Chặng Trở về gồm 6 bƣớc:
(12) Từ chối trở về (sau khi nhiệm vụ đã hoàn thành, ngƣời anh hùng có thể không muốn
101
trở về thế giới bình thƣờng trƣớc kia của mình); (13) Chuyến bay thần kì (Ám chỉ sự quay
trở lại ngƣỡng đầu tiên của hành trình, chuẩn bị cho sự trở về); (14) Giải cứu từ bên ngoài
(ngƣời anh hùng có thể đƣợc đƣa trở về từ cuộc phiêu lƣu siêu nhiên của mình bằng sự trợ
giúp từ bên ngoài); (15) Vƣợt qua ngƣỡng trở về (Ngƣời anh hùng trở về nhƣng trong một
vị thế khác); (16) Bậc thầy của hai thế giới (Gắn với ngƣời anh hùng siêu việt, sau khi hoàn
thành hành trình, có năng lực cả ở hai thế giới); (17) Tự do sống (Làm chủ cuộc sống của
chính mình, vƣợt lên trên đƣợc nỗi sợ hãi về sự sống và cái chết). Ba chặng, mƣời bảy
bƣớc gắn với hành trình trở thành ngƣời anh hùng của một nhân vật huyền thoại: từ thế giới
bình thƣờng sang thế giới của các cuộc phiêu lƣu và cuối cùng lại trở về với thế giới ban
đầu trong một tâm thế khác. Trong hành trình đó, họ phải trải qua nhiều thử thách, cám dỗ.
Luôn có một thử thách lớn nhất, khó khăn nhất, có thể khiến ngƣời anh hùng phải đối diện
với cái chết nhƣng rồi cuối cùng họ cũng vƣợt qua và nhận đƣợc phần thƣởng xứng đáng.
Kết quả của cuộc hành trình thƣờng có ý nghĩa biểu tƣợng nhƣ một lần sinh mới (đôi khi,
ngƣời anh hùng phải trải qua cái chết và sự tái sinh thực sự), tái sinh trong một vị thế mới,
tìm đƣợc sức mạnh của bản thân và làm chủ bản thân mình. Việc cùng chia sẻ một cấu trúc
cơ bản nhƣ vậy đã tạo nên ―the hero’s journey‖ (hành trình của ngƣời anh hùng) -
―monomyth‖ (nguyên mẫu huyền thoại hay sự ―đơn điệu‖ của cấu trúc huyền thoại về
ngƣời anh hùng nói chung). Tuy vậy, sự ―chia sẻ‖ này diễn ra một cách linh hoạt bởi một
số huyền thoại có thể thay đổi trật tự giữa các bƣớc hoặc chỉ tập trung vào một số bƣớc
trong toàn bộ hành trình mà bỏ qua một số bƣớc khác. Vận dụng lí thuyết về ―the hero’s
journey‖, đặc biệt là lí thuyết của J. Campbell, chúng tôi nhận thấy, nhân vật anh hùng
trong tiểu thuyết Mạc Ngôn vừa tuân thủ, vừa phá vỡ cấu trúc của cổ mẫu này.
Nhân vật đầu tiên chia sẻ ―monomyth‖ của cổ mẫu anh hùng có thể kể đến là Tôn
Bính (Đàn hương hình). Tôn Bính vốn là một anh kép hát. Oai hùng với bộ râu dùng để
diễn trò nhƣng khi bộ râu bị vặt, ông ta nhƣ con mèo mất râu, sống an phận trong vai ông
chủ quán trà với ngƣời vợ và hai đứa con thơ. Đó là cuộc sống ban đầu của ngƣời anh
hùng, một cuộc sống bình thƣờng trong một thế giới bình thƣờng. Hệ thống hóa các sự kiện
gắn với nhân vật, chúng tôi thống kê đƣợc sự xuất hiện của một số bƣớc cơ bản thƣờng gặp
trong ―the hero’s journey‖ nhƣ sau:
(1) Vợ Tôn Bính bị quân Đức hạ nhục. Ông đã giết chết tên lính Đức, đứng ra bảo
vệ danh dự và tính mạng của vợ mình
102
(2) Sau khi giết chết tên lính Nhật, nỗi sợ hãi trào dâng trong lòng, Tôn Bính bỏ lại
vợ con, chạy trốn, sống chui lủi không dám về nhà
(4) Tôn Bính chống cây gậy gỗ táo ra khỏi rừng liễu, loạng choạng nhảy xuống
dòng sông Mã Tang khi chứng kiến vụ tàn sát hai mƣơi bảy sinh mạng (trong đó có vợ con
ông)
(5) Đƣợc bà con gom góp tiền, đến phủ Tào Châu gặp Nghĩa hòa quyền
(6) Các thử thách: Tập hợp đội quân Nghĩa hòa quyền (800 ngƣời); cuộc tấn công
trại lính Đức, cuộc chiến đấu chống lại quân Đức tại trấn Mã Tang; bị bắt vào trong ngục
(8) Đám ăn mày vào cƣớp phạm nhân đi và Út Sơn hóa trang thành Tôn Bính để
đánh tráo phạm nhân
(9) Cuộc hành hình bằng cọc đàn hƣơng
(10) Tôn Bính chết trên đài Thăng Thiên nhƣng đã trở thành một tấm gƣơng anh
hùng còn lƣu danh trong lịch sử Cao Mật
Nhƣ vậy, hành trình của ngƣời anh hùng Tôn Bính thể hiện ở 8/17 bƣớc, không có
chặng Trở về.
Trong Cao lương đỏ, các nhân vật anh hùng là ―ông tôi‖, ―bà tôi‖, ông La Hán cũng
có sự tƣơng đồng với các ―monomyth‖ mà J. Campbell đã đề cập đến. Trƣớc khi trở thành
ngƣời anh hùng, họ đều là những ngƣời bình thƣờng: ―bà tôi‖ là cô gái nông dân, ―ông tôi‖
là một phu khênh kiệu, ông La Hán là ngƣời làm công.
Đối với nhân vật ―ông tôi‖ - Từ Chiếm Ngao, có thể thống kê thấy các bƣớc sau:
(1) Cuộc gặp gỡ với Đái Phƣợng Liên khi khênh kiệu đƣa bà về nhà chồng
(4) Giết tên cƣớp đƣờng
(5) Bắt cóc Đái Phƣợng Liên và cùng nhau ân ái trong ruộng cao lƣơng
(6) Các thử thách: Chém Từ Đại Nha, phục kích bọn Nhật trên cầu
(8) Sống cùng Đái Phƣợng Liên nhƣ vợ chồng
(9) Cái chết của Đái Phƣợng Liên
(10) Trở thành ngƣời anh hùng kháng Nhật lƣu danh sử sách Cao Mật
(15) Trở về từ dãy núi hoang vùng Hốc-cai-đô (Nhật Bản)
Hành trình của Từ Chiếm Ngao gồm 8/17 bƣớc; có chặng Trở về.
Đối với nhân vật ―Bà tôi‖ - Đái Phƣợng Liên, có thể thống kê thấy các bƣớc sau:
(1) Ông La Hán bị bắt đi phu cùng hai con la
103
(4) Bôi máu của ông La Hán lên mặt, giả điên
(5) Uống rƣợu hòa lẫn máu của ông La Hán
(6) Các thử thách: Chứng kiến việc ông La Hán bị lột da, giải quyết mâu thuẫn giữa
Từ Chiếm Ngao và đội trƣởng Lãnh, tham gia vào việc phục kích giặc Nhật (đề xuất kế
hoạch dùng bừa chặn đƣờng tiến của địch; gánh bánh tráng tiếp tế cho đội du kích)
(10) Cái chết ―tắm gội trong sự ấm áp, thanh cao của ruộng cao lƣơng‖, hòa mình
vào vũ trụ rộng lớn
Hành trình của Đái Phƣợng Liên gồm 5/17 bƣớc, không có chặng Trở về.
Đối với nhân vật La Hán, có thể thống kê thấy các bƣớc sau:
(1) Lính Nhật bắt la nhà Đái Phƣợng Liên
(4) Dắt la ra khỏi sân, đi đến công trƣờng của bọn Nhật
(5) Dắt la qua cầu bắc qua sông Mặc Thủy để đi chuyển đá từ bờ Nam sang bờ Bắc
(6) Các thử thách: lao động tại công trƣờng làm cầu, bỏ trốn, cứu hai con la
(9) Bị trói vào cột buộc ngựa ở bãi nhốt lừa, ngựa, lột da thị chúng
(10) Xác ông La Hán biến mất, câu chuyện của ông biến thành một truyền thuyết
Hành trình của ông La Hán gồm 6/17 bƣớc, không có chặng Trở về.
Đặc biệt, không thể không kể đến trƣờng hợp nhân vật Đinh Câu trong Tửu quốc -
kiểu nhân vật ―giả anh hùng‖. Hành trình phá án của Đinh Câu đƣợc xây dựng có nhiều
điểm tƣơng đồng với hành trình của cổ mẫu anh hùng ở các bƣớc:
(1) Phong thƣ tố giác kí tên Tiếng Dân phản ánh việc ăn thịt trẻ con ở
thành phố Rƣợu
(4) Con đƣờng dẫn vào mỏ than La Sơn
(5) Con đƣờng từ cổng mỏ than La Sơn đến ngôi nhà gạch nằm giữa rừng hƣớng
dƣơng; hành lang trải thảm đỏ dẫn đến phòng ăn
(6) Các thử thách: tiệc rƣợu với giám đốc, bí thƣ khu mỏ và Phan Kim Cƣơng; cuộc
gặp với thằng Vảy Cá; cuộc gặp gỡ và làm tình với nữ tài xế
(8) Cám dỗ: rƣợu, thịt trẻ con, tình ái
(9) Cuộc chạy trốn; cái chết
Hành trình của Đinh Câu gồm 6/17 bƣớc; không có chặng Trở về.
Nhƣ vậy, có thể thấy sự đáp ứng một số bƣớc cơ bản trong ―monomyth‖ của J.
Campbell ở tiểu thuyết Mạc Ngôn. Tiếng gọi hành trình xuất phát từ một sự kiện nào đó
trong cuộc đời nhân vật nhƣng không phải là sự tình cờ, ngẫu nhiên mà đều là những tình
104
thế hiện thực nghiệt ngã. Nhân vật không từ chối cuộc gọi, không có ngƣời giúp đỡ đóng
vai trò nhƣ một cố vấn, không có sự trợ giúp thần kì nhƣng vẫn dấn thân vào cuộc phiêu
lƣu. Họ phải trải qua nhiều thử thách, trong đó thử thách mang tính đột phá, thử thách quan
trọng tạo nên sự chuyển biến thành ngƣời anh hùng thƣờng là cái chết của họ. Về cơ bản,
hầu hết nhân vật anh hùng của Mạc Ngôn không đi đến chặng thứ ba của cuộc hành trình
(chặng Trở về). Cùng với cái chết, nhân vật cũng hoàn thành hành trình phiêu lƣu của
mình, trở thành ngƣời anh hùng trong cộng đồng. Đỉnh cao tỏa sáng của nhân vật anh hùng
gắn liền với cái chết. Sự tái sinh của nhân vật không phải ở phục sinh mà là ở chỗ họ trở
thành biểu tƣợng tinh thần, lƣu danh trong truyền thuyết, trong sử sách, trong lòng ngƣời.
Chỉ đến khi Đàn hƣơng hình đƣợc dựng lên, ngƣời kép hát Tôn Bính mới rùng mình biến
thành anh hùng. Hành động hiên ngang trên pháp trƣờng của Tôn Bính là hành động của
ngƣời anh hùng đã hiểu hết ý nghĩa của sự sống - chết. Giữa pháp trƣờng, Tôn Bính cất lên
tiếng hát Miêu xoang mê hoặc lòng ngƣời. Đối diện với hình phạt gỗ đàn hƣơng, Tôn Bính
có một tâm thế bình thản đặc biệt. Kiên cƣờng trên cọc gỗ đàn hƣơng, ông đã tự biến mình
thành vật tế sinh cho mảnh đất Cao Mật, thức tỉnh lòng yêu nƣớc và tinh thần đấu tranh
quật cƣờng của nhân dân. Tha thiết mong đƣợc chết trƣớc ngày thông xe, ngƣời anh hùng
ấy một lần nữa muốn dùng cái chết của mình để đạp đổ âm mƣu thị chúng của quân cƣớp
nƣớc và bán nƣớc. Từ một ngƣời kép hát bình thƣờng, Tôn Bính đã trở thành ngƣời anh
hùng vĩ đại trong quần chúng nhân dân. Ngƣời anh hùng trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, nếu
có chặng Trở về, cũng không có đƣợc tâm thế, vị thế của một ngƣời anh hùng nhƣ trƣớc
nữa. Đối với ―ông tôi‖ - Từ Chiếm Ngao, đỉnh cao của huyền thoại anh hùng gắn với cuộc
phục kích giặc Nhật trên chiếc cầu bắc qua dòng sông Mặc Thủy. Sau cuộc chiến vinh
danh đó, Mạc Ngôn chuyển luôn cuộc đời nhân vật đến quãng thời gian trở về từ Hoccaido
(Nhật Bản). Lúc ấy, chỉ còn thấy hình ảnh của một ―ông tôi‖ mang trong mình ám ảnh về
kí ức (đặc biệt là cái chết của ―bà tôi‖) có phần đáng thƣơng. Hàn Chim (Báu vật của đời)
trở về sau khi lƣu lạc mƣời ba năm trong rừng Nhật Bản nhƣ một ngƣời anh hùng trong
lòng quần chúng đại diện cho tình yêu quê hƣơng, đất nƣớc nhƣng chẳng mấy chốc đã biến
thành kẻ mồm mép, hám danh. Đối với trƣờng hợp đặc biệt là nhân vật Đinh Câu, cấu trúc
hành trình đƣợc sử dụng hữu hiệu nhằm mục đích giễu nhại. Ý nghĩa tích cực gắn liền với
ngƣời anh hùng truyền thống đƣợc thay thế bằng hình ảnh thảm bại do không thể chống lại
đƣợc cám dỗ của kẻ đã ―khởi hành‖ để trở thành ngƣời anh hùng và lẽ ra đã có thể trở
thành anh hùng. Những sự tƣơng đồng và khác biệt trong hành trình của ngƣời anh hùng
105
vừa khẳng định tính phổ biến của cổ mẫu này đồng thời thể hiện rõ nét đặc điểm về văn
hóa, hiện thực lịch sử và dụng ý nghệ thuật của ngƣời sáng tạo. Chúng ta có thể thấy rõ hơn
điều này qua đặc điểm kép - hai mặt của nhân vật anh hùng và quan niệm về tập thể anh
hùng, anh hùng dân gian thể hiện trong tiểu thuyết Mạc Ngôn.
Xuất phát từ những nghiên cứu thực tế, E. M. Meletinsky chỉ ra rằng, do trong nhận
thức nguyên thủy không tách bạch giữa trí tuệ và mánh lới, pháp thuật, giữa sự lừa dối và
tính ngay thẳng cao thƣợng, giữa tổ chức xã hội và sự lộn xộn, nên nhân vật anh hùng
mang tính chất ―kép‖. Đó là những nhân vật hai mặt: ―anh hùng văn hóa (đấng sáng tạo) -
kẻ bịp bợm‖, ―anh hùng văn hóa tinh quái hoặc hài hƣớc - kẻ càn quấy trong huyền thoại‖
[44;253] (thể hiện ở việc ngƣời anh hùng để vƣợt qua đƣợc thử thách, đạt đƣợc mục đích
cao cả của mình, đôi khi phải dùng đến ―những xảo thuật khôn khéo, nhƣ một kẻ bịp bợm -
láu lỉnh điển hình trong huyền thoại (kẻ nói dối) [44;241]; hay trong dạng thức hai anh em
sinh đôi nhƣng trái ngƣợc nhau). Ngƣời anh hùng trong tiểu thuyết Mạc Ngôn không chỉ là
ngƣời anh hùng cá nhân mà còn là một tập thể anh hùng phần lớn xuất thân từ nông dân,
đƣợc xây dựng theo quan niệm ngƣời anh hùng của dân gian: cao thƣợng, đẹp đẽ nhƣng
cũng có ―nhân tính‖ bình thƣờng, cũng có những dục vọng mãnh liệt, đôi khi tầm thƣờng,
thậm chí ti tiện, đáng xấu hổ. Đây là sự kế thừa motif huyền thoại về ngƣời anh hùng ―kép‖
vốn đã xuất hiện trong huyền thoại truyền thống của các dân tộc trên thế giới, đồng thời
mang dáng dấp của những anh hùng nông dân Lƣơng Sơn Bạc từng xuất hiện trong Thủy
Hử của Thi Nại Am. Đặt trong mối tƣơng quan với các sáng tác về ngƣời anh hùng gắn với
ba chữ cao - đại - toàn, có sự điển hình hóa, mang ―thần tính‖ chứ không phải ―nhân tính‖
của văn học Trung Quốc những năm 60 - 70 của thế kỉ XX, sự song hành các nét tính cách,
phẩm chất đối lập là tiếng nói vạch trần hiện thực cuộc sống, đƣa cuộc sống trở về với tính
sinh động muôn màu muôn vẻ vốn có, thể hiện bản lĩnh sáng tạo độc lập của Mạc Ngôn.
Đồng thời, đây cũng là cách nhà văn khiến cho nhân vật ngƣời anh hùng của mình trở nên
đời thƣờng hơn, gần gũi và gắn bó hơn, nhƣng cũng không vì thế mà mất đi sức hấp dẫn.
―Ông tôi‖ - Tƣ lệnh Từ Chiếm Ngao trong Cao lương đỏ từng là một phu khênh
kiệu tai quái, là kẻ giết ngƣời, là tên thổ phỉ. Trở thành ngƣời anh hùng kháng Nhật, trở
thành ngƣời thủ lĩnh kiên cƣờng và quả cảm, giữa cánh đồng cao lƣơng bạt ngàn, ―ông tôi‖
cùng đồng đội của mình đã chiến đấu anh dũng; đối diện với sinh li tử biệt, vẫn kiên cƣờng
―Con ngoan của ta, hãy cùng cha diệt nối mấy thằng chó đẻ này đã‖. ―Bà tôi‖ trƣớc khi
thành nữ anh hùng từng là một ngƣời phụ nữ phong tình. Cuộc phục kích trên cầu đánh đổi
106
bằng sự hi sinh của nhiều ngƣời thuộc đội quân chống Nhật trong đó có ―bà tôi‖ đã giáng
cho giặc Nhật một đòn đau, tiêu diệt đƣợc một tên ―quan to‖. Đó là trận đánh khẳng định
tinh thần chiến đấu ngoan cƣờng của ngƣời dân Cao Mật, là mốc son chói lọi trong lịch sử
Cao Mật, đồng thời khắc sâu hình ảnh một ngƣời anh hùng Từ Chiếm Ngao ―Cầm dao,
cầm súng/ Đánh giặc bảo vệ quê hƣơng…‖ [47;107].
Tiêu biểu cho quan niệm về ngƣời anh hùng kép, mang tính chất hai mặt phải kể
đến nhân vật Tƣ Mã Khố trong Báu vật của đời. Tƣ Mã Khố vốn là cậu hai nhà Phúc Sinh
Đƣờng, một gia đình giàu có bậc nhất vùng Cao Mật, tính cách ngông nghênh, ngang tàng
nhƣng trong lòng luôn sục sôi tinh thần yêu nƣớc. Tƣ Mã Khố là một trong những ngƣời
đầu tiên đứng lên chống Nhật, đốt cầu, phá đƣờng ray ngăn tàu chở vũ khí Nhật. Gia đình
bị Nhật tàn sát, Tƣ Mã Khố gia nhập Quốc dân đảng, đóng công góp sức không nhỏ vào
việc đánh đuổi phát xít Nhật. Với bằng ấy công trạng, Tƣ Mã Khố xứng đáng là ngƣời anh
hùng của ngƣời dân Cao Mật. Nhƣng cũng ngƣời anh hùng đó, có tới bốn đời vợ, chuyện
trai gái thì không ai bằng. Ngay trong lúc ngồi cạnh vợ bốn là Chiêu Đệ, anh ta vẫn có thể
tranh thủ lợi dụng căn bệnh ―cuồng dâm‖ của Lai Đệ để quan hệ trai gái loạn luân với chị
vợ. Trong lúc trốn chui trốn lủi sự truy kích của đội quân Lỗ Lập Nhân trong nhà mồ, vẫn
kịp ân ái với Thôi Phƣợng Tiên. Chấp nhận đầu hàng Đảng Cộng sản để cứu vợ con, giây
phút cuối cùng của cuộc đời, Tƣ Mã Khố vẫn chứng tỏ rằng mình là một ngƣời anh hùng,
nhƣng đồng thời cũng là một ngƣời đàn ông đầy ham mê sắc dục. Các nhân vật mang màu
sắc anh hùng khác trong tiểu thuyết nhƣ Sa Nguyệt Lƣợng, Hàn Chim cũng đƣợc xây dựng
theo một quan niệm về anh hùng của dân gian mang tính hai mặt nhƣ vậy. Điều thú vị là
trong khi xây dựng hình tƣợng Tƣ Mã Khố nhƣ một ngƣời anh hùng, Mạc Ngôn lại đặt
trong sự đối kháng với một ngƣời đại diện cho Đảng Cộng Sản là Lỗ Lập Nhân. Từ đó cho
thấy lập trƣờng của Mạc Ngôn trong việc xây dựng ngƣời anh hùng: đó là ngƣời anh hùng
của dân gian, không phải ngƣời anh hùng của giai cấp - ngƣời anh hùng phi thƣờng và bình
thƣờng theo quan niệm của dân gian, vƣợt lên trên vấn đề về đảng phái.
Sự mập mờ giữa nhân vật ―thằng tiểu yêu‖ - ―thằng vảy cá‖ - Dƣ Một Thƣớc (Tửu
quốc) tạo nên một dạng thức khác của cổ mẫu anh hùng kép, anh hùng hai mặt. Do uống
nhầm phải thuốc của viện nghiên cứu thành phố Rƣợu nên từ 14 tuổi, ―thằng vảy cá‖ bị thu
nhỏ lại trong hình hài của đứa trẻ hai tuổi. Với hình hài đó, nó trở thành thủ lĩnh của bọn trẻ
thịt, lãnh đạo chúng đứng lên chống lại bọn ngƣời trong trung tâm nuôi trẻ thịt. Ở đứa trẻ
này, niềm căm phẫn đối với bọn ăn thịt không thiếu. Nhƣng đáng tiếc, sau cùng nó cũng đã
107
biến thành một đứa trẻ tàn độc và khát máu. Cảnh thằng tiểu yêu cùng với bọn trẻ móc mắt
và giết chết tên nhân viên trong trung tâm nuôi trẻ thịt là một cảnh để lại nhiều sức ám ảnh
về tính chất man rợ của nó. Bọn trẻ con, sau khi đƣợc ―tập dƣợt‖ qua lần giết ngƣời ấy cũng
đã trở nên tàn độc và sẵn sàng giết chóc. Nạn nhân - những đứa trẻ trong trẻo trƣớc đáng
thƣơng vì bị giết thịt nay còn đáng thƣơng hơn nữa vì đã bị tha hóa. Thằng tiểu yêu trốn
thoát khỏi trại nuôi trẻ thịt, hành tung bí ẩn, thoắt ẩn, thoắt hiện đe dọa đến cuộc sống của
những kẻ nhƣ Phan Kim Cƣơng, mang dáng dấp của những ―anh hùng nghĩa hiệp‖ tự mình
thực hiện công lí theo cách riêng. Nhƣng rồi, hi vọng ấy cũng nhanh chóng bị tan biến khi
thông qua những câu chuyện nửa hƣ nửa thực, mang đậm màu sắc huyền thoại, ngƣời ta
nhận thấy bóng dáng của nó trong Dƣ Một Thƣớc, kẻ tự nhận là bóng đen hàng đêm cƣỡi
con lừa đen trên phố Lừa.
Kế thừa cách tổ chức, xây dựng nhóm nhân vật, nhƣ ―ngũ hổ tƣớng‖ trong Tam
Quốc, một trăm linh tám anh hùng Lƣơng Sơn Bạc (Thủy Hử), bốn thày trò Đƣờng Tăng
(Tây du kí)…, trong tiểu thuyết Mạc Ngôn thƣờng xuất hiện một nhóm nhân vật anh hùng,
tạo nên một tập thể anh hùng. Mạc Ngôn không hề đao to búa lớn để tuyên truyền cho một
chủ nghĩa anh hùng nào cả. Với ông, tất cả những ngƣời căm ghét và dám đứng lên chống
lại cái xấu, cái ác thì đều xứng đáng trở thành ngƣời anh hùng. Phần lớn họ đều xuất phát là
ngƣời nông dân. Họ có thể vừa cao thƣợng, vừa ti tiện, thấp hèn. Có ngƣời trong số họ
bƣớc vào hành trình của ngƣời anh hùng từ động cơ cá nhân (trả thù riêng). Nhƣng cuối
cùng, họ đều đi từ con đƣờng riêng đến con đƣờng lợi ích chung của cộng đồng, của dân
tộc. ―Ai đánh đƣợc quân Nhật tức là đại anh hùng Trung Quốc‖ [47;56]. Trong Cao lương
đỏ, đó là cả một thế hệ ―ông bà tôi‖, ―cha mẹ tôi‖ dũng cảm, kiên cƣờng phá cầu, đốt xe,
tiêu diệt giặc Nhật. Trong Báu vật của đời là Tƣ Mã Đình, Sa Nguyệt Lƣợng, Tƣ Mã Khố,
Hàn Chim và những ngƣời nông dân tham gia đội quân chống Nhật. Trong Đàn hương
hình, bên cạnh Tôn Bính, những ngƣời anh hùng nhƣ Tiền Phi Hùng, sáu vị quân tử, đám
ăn mày trong đội quân của Tám Chu, nghĩa quân của kép hát đều là những tấm gƣơng sáng
của tinh thần yêu nƣớc và lòng quả cảm. Sáu vị quân tử đối diện với hình phạt chém ngang
lƣng vẫn ―nhẹ tựa lông hồng‖. Tiền Phi Hùng nuôi chí lớn trả thù mà chấp nhận dƣới
trƣớng của Viên Thế Khải, chịu hình phạt lăng trì năm trăm mảnh vẫn hiên ngang khiến
cho kẻ đao phủ lão luyện nhƣ Triệu Giáp phải run tay chùn gối. Ăn mày Tám Chu là ―một
trang hảo hán cắn sắt ngậm gang, đội trời đạp đất ở đời‖. Út Sơn ―một anh hùng vì đại
nghĩa mà tự hủy dung nhan, dấn thân vào chỗ chết, tấm gƣơng trung liệt sáng mãi muôn
108
đời [49;528]... Ngay cả quan huyện Tiền Đinh, kẻ vốn thuộc về bộ máy cai trị của nhà nƣớc
phong kiến Mãn Thanh, kẻ từng tham gia vào cuộc đàn áp nghĩa quân Nghĩa Hòa Quyền,
bắt giam Tôn Bính, lập đàn xử tử Đàn hƣơng hình, bản chất cũng là một con dân nặng lòng
vì vận mệnh của đất nƣớc. Với hành động giết chết Tôn Bính, phá tan âm mƣu hiến tế Tôn
Bính của quân Đức, Tiền Đinh đã đứng vào hàng ngũ của nhân dân Trung Hoa yêu nƣớc,
xứng đáng nhận đƣợc sự tôn trọng.
Các đặc trƣng của hình tƣợng ngƣời anh hùng ở tiểu thuyết Mạc Ngôn vừa là sự
khẳng định cho tính phổ quát của cổ mẫu anh hùng trong lịch sử nhân loại, đồng thời cũng
thể hiện quan niệm sáng tác trên lập trƣờng dân gian, vƣợt lên trên tiếng nói của đảng phái,
chính trị của ông. Trong quá trình xây dựng ngƣời anh hùng dân gian vừa bình thƣờng, vừa
phi thƣờng, để khắc họa tính chất đời thƣờng, thậm chí có phần tầm thƣờng, đôi chỗ Mạc
Ngôn có phần hơi thái quá (nhƣ đoạn hồi tƣởng của Tƣ Mã Khố trên pháp trƣờng khi nhìn
thấy anh trai Tƣ Mã Đình [52;485-486]). Tuy vậy, ngƣời anh hùng của ông, trên hết vẫn
mang đến cho ngƣời đọc một ấn tƣợng không thể nào quên, với nét riêng trong dòng chảy
cổ mẫu chung của nhân loại.
109
Tiểu kết chƣơng 3
Về cơ bản, huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn đƣợc xây dựng theo hình thức
tái sinh các huyền thoại đã có của nhân loại, mà tiêu biểu là huyền thoại - nghi lễ và huyền
thoại - cổ mẫu. Chỉ ra xu hƣớng trở về với các cổ mẫu huyền thoại truyền thống của nhân
loại, chúng tôi cũng đồng thời khẳng định: Mạc Ngôn không chỉ kế thừa phẩm tính của
huyền thoại truyền thống, mà còn tái sinh nó trong một bối cảnh mới. Sự trở về của Mạc
Ngôn với huyền thoại vừa nằm trong mạch nguồn của ―vô thức tập thể‖, vừa là những sáng
tạo mang đậm ý thức cá nhân nhà văn. Ông đã mƣợn chuyện xƣa để nói chuyện nay, mƣợn
huyền thoại để nói về những điều có thực. Nhờ thế, những sáng tác của Mạc Ngôn không
chỉ gói gọn trong câu chuyện của con ngƣời Trung Quốc, đất nƣớc Trung Quốc, mà đã mở
rộng ra thành câu chuyện của nhân loại: câu chuyện về đức tin và lòng vị tha, câu chuyện
của nhân tính và thú tính, câu chuyện về thân phận con ngƣời… Và từ đó, Mạc Ngôn trở
thành ―ngƣời kể chuyện toàn cầu‖…
110
CHƢƠNG 4
PHƢƠNG THỨC HUYỀN THOẠI HÓA TRONG TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN
Trong chƣơng 3, khi tìm hiểu về các huyền thoại tiêu biểu trong tiểu thuyết Mạc
Ngôn, chúng tôi cũng đã chỉ ra những điểm khác biệt, những nét nghĩa phái sinh của huyền
thoại Mạc Ngôn so với huyền thoại truyền thống. Điều này có liên quan đến các đặc trƣng
cội nguồn góp phần tạo nên huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn nhƣng quan trọng hơn
cả vẫn là do phƣơng thức nhà văn đã sử dụng để biến tác phẩm của mình thành những sáng
tác mang đậm sắc màu huyền thoại - một thế giới huyền thoại mang màu sắc riêng. Nổi bật
nhất ở các phƣơng thức huyền thoại hóa trong tiểu thuyết Mạc Ngôn là phƣơng thức truyền
kì, phƣơng thức tầm căn và phƣơng thức giải huyền thoại. Đây cũng chính là những nội
dung cơ bản mà chúng tôi sẽ triển khai trong chƣơng 4.
4.1. Phƣơng thức huyền thoại hóa trong văn học
Phƣơng thức là ―cách thức và phƣơng pháp tiến hành‖ (Hoàng Phê (2009), Từ điển
Tiếng Việt). Nhƣ vậy, có thể hiểu một cách đơn giản, phƣơng thức huyền thoại hóa trong
văn học là cách thức và phương pháp “trở thành hoặc làm cho trở thành” [62;577] huyền
thoại trong văn học. Nói cách khác, đó chính là phƣơng thức mà ngƣời sáng tác sử dụng để
biến những thứ mình mong muốn (nhân vật, cốt truyện, không gian, thời gian…) thành
huyền thoại. Nhà nghiên cứu Phùng Văn Tửu tuy không đƣa ra một định nghĩa trực tiếp
nhƣng qua bài viết ―Phƣơng thức huyền thoại trong sáng tác văn học‖ [4] cho thấy ông coi
phƣơng thức huyền thoại trong sáng tác văn học nhƣ ―một trong những kĩ thuật sáng tác
của tiểu thuyết hiện đại‖. Nếu nhƣ huyền thoại cổ đại luôn mang yếu tố siêu nhiên, hoang
đƣờng, thì huyền thoại hiện đại không nhất thiết phải có yếu tố hoang đƣờng mà đƣợc tạo
ra bằng cách ―sáng tạo một thế giới khác với thế giới tự nhiên, một thế giới huyền thoại‖
(R. Garaudy), đó là một ―thiên nhiên thứ hai‖ sử dụng ―những chất liệu của cuộc sống
nhƣng đã làm cho biến dạng đi và theo những qui luật khác với qui luật thông thƣờng‖.
Chính vì lẽ đó mà ―huyền thoại không đƣợc xác định bằng nội dung của thông điệp mà
bằng cách thức phát ra thông điệp‖ và để hiểu đƣợc cách thức đó thì cần phải ―đọc‖ đƣợc
mối quan hệ không dễ nhận diện giữa cái biểu đạt và cái đƣợc biểu đạt; tìm ra ý nghĩa biểu
tƣợng nằm ẩn sâu sau lớp vỏ ngôn từ; tìm ra cái ảo, cái kì, cái ―siêu hiện thực‖ nằm ngay
trong chính những cái hiện thực, bình thƣờng.
Cùng với cách thức trên, huyền thoại trong suốt tiến trình lịch sử văn học của nhân
111
loại còn đƣợc tạo nên từ một phƣơng thức phổ biến là sử dụng các motif huyền thoại từ
thời cổ đại (thƣờng là các motif trong thần thoại) theo nghĩa nguyên gốc hoặc tái sinh.
Trong Thi pháp của huyền thoại, E. M. Meletinsky đã chỉ ra: Văn học thời trung cổ bị chi
phối bởi huyền thoại Ki Tô nhƣng một phần huyền thoại thời cổ đại vẫn đƣợc tiếp nhận
theo lối huyền sử hoặc ẩn dụ; Thế kỷ XV - XVII là các hình tƣợng và motif của huyền
thoại cổ đại và huyền thoại trong Kinh thánh; Thế kỷ XVIII, đặc biệt là thế kỷ XIX và một
phần thế kỷ XX có xuất hiện hai kiểu quan hệ mới của văn học với huyền thoại. Kiểu thứ
nhất là sự từ chối có ý thức ―cốt truyện‖ và ―đề tài‖ truyền thống để chuyển đổi dứt khoát từ
―chủ nghĩa tƣợng trƣng‖ trung cổ sang việc bắt chƣớc tự nhiên, huyền thoại ngầm ẩn trong
sự phản ánh hiện thực ở những hình thức tƣơng hợp với đời sống. Kiểu thứ hai đó là những
cố gắng tự giác sử dụng huyền thoại một cách phi truyền thống, hoàn toàn không phải hình
thức mà là ―tinh thần của nó‖; Thế kỷ XX, ―chủ nghĩa huyền thoại‖ là một hiện tƣợng đặc
trƣng với tƣ cách một thủ pháp nghệ thuật (không chỉ trong việc sử dụng các motif huyền
thoại riêng rẽ) và tƣ cách một biện pháp cảm thụ thế giới đằng sau nó; gắn bó chặt chẽ với
tâm lí học phổ quát của tiềm thức.
F. Kafka là một trƣờng hợp tiêu biểu cho phƣơng thức sáng tác huyền thoại trong
nền văn chƣơng hiện đại, là một hiện tƣợng đặc trƣng cho những sáng tác nghệ thuật cả với
tƣ cách của một thủ pháp nghệ thuật và tƣ cách của một biện pháp cảm thụ thế giới. Bên
cạnh việc phục sinh những motif, cổ mẫu của phƣơng Tây nói riêng, của nhân loại nói
chung (nhƣ việc sử dụng cổ mẫu hành trình, motif mê cung, motif biến dạng (Biến dạng,
Lâu đài, Vụ án,…); sử dụng các huyền thoại rút ra từ thần thoại Hy Lạp (Poseidon, Sự im
lặng của Siren, Truyện của Prometheus)), F. Kafka còn rất tài tình trong việc xây dựng nên
một thế giới huyền thoại theo kiểu mới: không có yếu tố hoang đƣờng, kì ảo nhƣng vẫn
mang đậm sắc màu huyền thoại. Huyền thoại đƣợc tạo nên từ cuộc sống hiện thực bị ―biến
dạng‖ với đầy rẫy phi lí nhƣng đƣợc thừa nhận nhƣ những điều hiển nhiên bởi sự bất lực
của con ngƣời trƣớc số phận, trƣớc cuộc đời. Sự biến dạng thành con côn trùng khổng lồ
của Gregor Samsa (Biến dạng) là vô cùng kì lạ, siêu nhiên nhƣng bản thân anh ta và những
ngƣời xung quanh chẳng lấy gì làm lạ: không ai thắc mắc; ngƣời bị biến dạng cũng mặc
nhiên chấp nhận. Cái làm họ khó chịu chỉ là những bất tiện do hình hài côn trùng đó mang
lại. Biến dạng trong sáng tác F. Kafka trở thành hình ảnh mang tính biểu tƣợng sâu sắc cho
sự tha hóa của thân phận con ngƣời trong xã hội kĩ trị. Những khu phố, dãy nhà, căn phòng,
112
con ngƣời trong Vụ án đều bình thƣờng nhƣng lại đặt trong một chuỗi vận hành đầy bất
thƣờng, đè nén, đe dọa cuộc sống của con ngƣời; biến thành một mê cung dồn con ngƣời
vào con đƣờng bế tắc, không lối thoát. Cách làm bình thƣờng hóa những điều phi lí, quái dị
này của F. Kafka rất gần với kiểu tƣ duy huyền thoại nguyên thủy phổ biến trong thần
thoại. Chỉ có điều, ngƣời nguyên thủy sáng tạo nên những quyền lực huyền thoại bằng một
tƣ duy mang tính nguyên hợp để giải thích tự nhiên, chế ngự nỗi sợ hãi của mình trƣớc tự
nhiên; còn Kafka dùng nó để phản ánh sự bất lực, tha hóa của con ngƣời và sự hƣ vô, phi lí,
bất công của xã hội hiện đại.
Mạc Ngôn là tác giả lớn của nền văn học Trung Quốc đƣơng đại đứng trên lập
trƣờng sáng tác dân gian để sáng tác, đồng thời cũng chịu những ảnh hƣởng mạnh mẽ từ
nền văn học phƣơng Tây, nên huyền thoại trong tiểu thuyết của ông một mặt đƣợc tạo nên
từ phƣơng thức phổ biến là tái sinh các motif huyền thoại truyền thống (của nhân loại nói
chung, của Trung Quốc nói riêng); mặt khác mang dấu ấn riêng của nhà văn. Tìm hiểu
huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, chúng tôi không chỉ nghiên cứu các huyền thoại
đã đƣợc nhà văn tái sinh lại trong tác phẩm mà còn là cách thức ông tạo ra chúng.
4.2. Các phƣơng thức huyền thoại hóa tiêu biểu trong tiểu thuyết Mạc Ngôn
4.2.1. Phương thức truyền kì
―Truyền kì‖ đƣợc biết đến trƣớc hết trong vai trò của một thể loại văn học thịnh
hành ở đời Đƣờng hay hí khúc trƣờng thiên thịnh hành thời Minh, Thanh. Đồng thời, nó
cũng là khái niệm để chỉ ―những câu chuyện có tình tiết li kì, hành vi nhân vật siêu việt‖
[12;247]. Ở đây chúng tôi sử dụng thuật ngữ ―truyền kì‖ không phải nhƣ một thể loại văn
học mà trong vai trò của một phƣơng thức nghệ thuật, tức cách thức mà Mạc Ngôn sử dụng
đặc điểm của truyền kì để tạo nên huyền thoại. Quan niệm này xuất phát từ một đặc trƣng
nổi bật của huyền thoại mà chúng tôi đã xác định là sự chia sẻ trong cộng đồng với một
niềm tin mãnh liệt bất chấp hƣ - thực. Và không có phƣơng thức nào có thể làm tốt hơn là
truyền kì. Truyền kì rất tiêu biểu cho sáng tác huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, chịu
ảnh hƣởng đậm nét từ nền văn hóa truyền thống Trung Quốc. Tuy nhiên, chúng tôi nhận
thấy, khi đóng vai trò là một phƣơng thức nghệ thuật, nó cũng đã có những nét giao thoa
nhất định với những thủ pháp, phƣơng thức nghệ thuật trong sáng tác huyền thoại của các
tác gia trên thế giới mà tiêu biểu là Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, kĩ thuật sáng tác ―Dòng ý
thức‖ hay trào lƣu ―Tân cảm giác‖. Nhƣ vậy, phạm vi nghiên cứu truyền kì nhƣ một
113
phƣơng thức nghệ thuật đã đƣợc chúng tôi mở rộng, vƣợt ra ngoài một phƣơng thức nghệ
thuật cụ thể gắn trực tiếp với thể loại truyền kì trong văn học. Với tất cả những ý nghĩa này,
truyền kì trở thành phƣơng thức huyền thoại hóa chủ đạo trong tiểu thuyết Mạc Ngôn.
Trong vai trò của một phƣơng thức nghệ thuật, truyền kì trong tiểu thuyết Mạc
Ngôn trƣớc hết thể hiện ở việc sử dụng đậm đặc các yếu tố kì, ảo. Không chỉ tiếp nối
truyền thống hiếu kì vốn là ―đặc sản‖ của văn học Trung Quốc với ―Xuất nhi quí thực,
dụng nhi quí hƣ ― (Hƣớng ra ngoài thì phải coi trọng sự thực, dùng vào viết văn thì lại
chuộng việc hƣ cấu), ―dĩ hƣ nhi thực‖ (lấy cái giả để viết về cái thực), ―ảo trung hữu chân‖
(trong ảo có chân), yếu tố kì, ảo trong tiểu thuyết của ông còn mang màu sắc lạ hóa, huyền
ảo ảnh hƣởng từ phƣơng Tây và Mĩ Latin. Từ đây, Mạc Ngôn đã làm nên bút pháp ―thiên
mã hành không‖ của riêng mình. Ý tƣởng, suy nghĩ phong phú, văn chƣơng mang khí thế
hào sảng, không bị bó hẹp giống nhƣ ngựa trời lao nhƣ bay trên không trung. Các sáng tác
vì vậy không thiếu những ―kì cảnh‖, ―kì nhân‖, ―kì sự‖.
―Kì cảnh‖ là những không gian vừa hƣ vừa thực mang đậm màu sắc huyền ảo, nhƣ:
thế giới trần gian - địa phủ trong Sống đọa thác đày; không gian ảo mộng của những giấc
mơ, ảo giác nhiều vô kể ở các nhân vật trong Thập tam bộ, Tửu Quốc, Ếch, Rừng xanh lá
đỏ, Báu vật của đời… ―Kì cảnh‖ đƣợc tập trung vào trong hai không gian bao trùm lên
toàn bộ sáng tác của Mạc Ngôn: Đông Bắc Cao Mật - kiểu không gian thực bị ảo hóa và
Tửu Quốc - kiểu không gian ảo đƣợc làm nên từ những chi tiết hiện thực.
Ở hình thức thứ nhất, Mạc Ngôn có sự gặp gỡ với Giả Bình Ao. Mảnh đất
Đan Phƣợng, Thƣơng Châu, Thiểm Tây đã đi vào trong các sáng tác của Giả Bình
Ao, và trở thành một ―thƣơng hiệu‖ Thƣơng Châu của riêng nhà văn. Tuy nhiên, nếu
nhƣ Thƣơng Châu của Giả Bình Ao, trừ trƣờng hợp Hoài niệm sói, phần lớn hiện lên
một cách chân thực (từ Nôn nóng - là bức tranh vừa đẹp vừa sáng gắn với diện mạo,
cảnh quan, chứng tích lịch sử, nét đẹp văn hóa dân tộc; đến Phế đô, Bạch dạ, Thổ
môn, Cao Lão trang - là sự mâu thuẫn, xung đột văn hóa gay gắt giữa thành thị và
nông thôn); thì Mạc Ngôn biến không gian hiện thực trên bản đồ địa lí là Đông Bắc
Cao Mật trở thành không gian huyền thoại bằng cách trên nền hiện thực đó ―thỏa
sức sáng tạo, thỏa sức hƣ cấu, thỏa sức ―truyền kì‖, thêm thắt vô số những chi tiết,
sự kiện kì ảo. Hiện thực và huyền ảo đan xen, trộn lẫn với nhau. Do vậy, tuy tên là
một vùng đất có thật nhƣng Đông Bắc Cao Mật cũng có thể là bất cứ đâu trên thế
giới này - là một không gian huyền thoại. Đông Bắc Cao Mật huyền thoại ở khả
114
năng trở thành biểu tƣợng cho đất nƣớc Trung Quốc thu nhỏ, nơi khái quát cho tất
cả những hạnh phúc và đau khổ của con ngƣời; nơi chứa đựng huyền thoại về ngƣời
anh hùng dân gian và biết bao câu chuyện huyền ảo. Giống nhƣ đỉnh Olimpus,
Hymalaya trong niềm tin thần thoại là nơi trú ngụ của các vị thần linh mà trở thành
những đỉnh núi huyền thoại, Đông Bắc Cao Mật đã vƣợt ra khỏi đất nƣớc Trung
Quốc trong tƣ cách của một mảnh đất địa lí để trở thành một ―khái niệm mở‖ có thể
dung chứa những vấn đề chung của nhân loại.
Bối cảnh lịch sử của Sống đọa thác đày là hơn năm mƣơi năm (từ năm 1950 - 2001)
gắn liền với những dấu mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc Trung Hoa từ Cải cách ruộng
đất, Hợp tác xã, Cách mạng văn hóa, đến Cải cách mở cửa. Bối cảnh của Đàn hương hình
là triều đại Mãn Thanh gắn với những sự kiện có thật trong lịch sử Trung Quốc: nhƣ vụ án
Lục Vị Quân Tử thời hoàng đế Quang Tự; phong trào Nghĩa Hòa Đoàn (1899-1901); cuộc
nổi dậy của nhân dân các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, Quảng Đông, Tứ Xuyên chống lại việc
nhà Thanh quốc hữu hóa đƣờng sắt Xuyên - Hán, Việt - Hán để gán nợ cho Anh, Pháp,
Đức, Mĩ. Câu chuyện về cuộc đời của Vạn Tâm (Ếch) gắn với thời kì thực hiện chính sách
sinh đẻ có kế hoạch của chính phủ Trung Quốc thập niên 60 của thế kỷ XX. Thông qua số
phận của gia đình Thƣợng Quan Lỗ Thị (Báu vật của đời) có thể thấy đƣợc tất cả những sự
kiện trọng đại của Trung Quốc trong suốt thế kỷ XX, từ việc nƣớc Đức xâm chiếm Giao
Đông, phát xít Nhật xâm lƣợc Trung Hoa, chiến tranh Quốc - Cộng, cuộc đấu tranh chính
trị sau năm 1949 đến cuộc sống đƣơng thời của nền kinh tế thị trƣờng sau cải cách mở cửa.
Trên bối cảnh có thực đó, có khi Mạc Ngôn trực tiếp dựng nên những không gian huyền
ảo, kì lạ (không gian địa phủ trong Sống đọa thác đày; không gian đêm trăng rằm tháng bảy
và cuộc tấn công, rƣợt đuổi của ếch đối với Vạn Tâm trong Ếch; không gian giấc mộng hỗn
độn, lắp ghép, kì dị trong Tổ tiên có màng chân) nhƣng phần lớn là ông giữ nguyên nền
không gian hiện thực và đặt vào đó các nhân vật, chi tiết, sự kiện mang màu sắc kì ảo. Ngôi
miếu nơi sƣ cụ Lan trụ trì (Tứ thập nhất pháo) nằm sát với một con đƣờng lớn, ―hƣơng
khói lạnh tanh, mạng nhện giăng đầy trên cửa, mùi bụi bặm, mùi mốc, mùi thời gian rêu
phong lan tỏa khắp trong miếu‖ [55;8] là nơi tập hợp của biết bao con ngƣời kì lạ, bí ẩn về
hành tung: sƣ cụ Lan liệu có phải là lão Lan? Ngƣời đàn bà bí ẩn mặc áo xanh, mái tóc dắt
một đóa hoa hồng đỏ; ngƣời đàn bà mặc áo đỏ đến trong chiều mƣa là ai? Và bao trùm lên
tất cả: bốn mƣơi mốt pháo của La Tiểu Thông có bao nhiêu phần là thật, bao nhiêu phần là
tƣởng tƣợng khi mà bản thân Mạc Ngôn cũng khẳng định rằng ―ngƣời kể chuyện đã đem
115
tất cả những chuyện không hề chân thực biến thành chân thực‖ [55;738]. Khung cảnh trong
chuồng sắt của vƣờn thú (Thập tam bộ) là hiện thực nhƣng có nhân vật ngƣời - thú ngồi vắt
vẻo trên cành cây trong chuồng, say mê nhai phấn. Trên nền không gian hiện thực đó, ―kì
nhân‖ có câu chuyện ngƣời hóa thành chim (Báu vật của đời), ngƣời có thể biến thành trâu,
chó, lừa, khỉ, lợn, luân hồi qua mấy kiếp (Sống đọa thác đày); có chuyện ngƣời - vật bất
phân, ngƣời mang dáng dấp của động vật, sống trong lồng sắt và ngày ngày ăn phấn (Thập
tam bộ); ngƣời nhƣng có tƣớng tinh động vật, đầu ngƣời bị chém rơi xuống đất rồi nhƣng
vẫn có thể cất vang tiếng hát (Đàn hương hình)… Con ngƣời cũng có thể có những ―kì tài‖
đặc biệt. Thƣợng Quan Kim Đồng (Báu vật của đời) có thể tƣơng thông với bầu vú, nghe
thấy những tâm tƣ tình cảm của chúng. La Tiểu Thông (Tứ thập nhất pháo) có thể tƣơng
thông với thịt, nhìn thấy chúng nhảy múa, rên rỉ mời gọi, reo lên vui sƣớng trong miệng
mình… ―Kì sự‖ thì phát sinh từ ―kì nhân‖ và ―kì cảnh‖ mà nhiều vô kể…
Nếu nhƣ Đông Bắc Cao Mật là một không gian có thực nhƣng đƣợc huyền thoại
hóa, thì Tửu Quốc lại thuộc về sự hƣ cấu của Mạc Ngôn. Sự hƣ cấu nên Tửu Quốc phần
nào giống với ―linh sơn‖ của Cao Hành Kiện. Tuy nhiên, nếu nhƣ ―linh sơn‖ là vùng đất
giả tƣởng đƣợc tạo ra từ hành trình của tâm linh; thì Tửu Quốc là không gian ảo đƣợc tạo
nên từ những điều có thực - một hiện thực tàn nhẫn, khủng khiếp. Tửu Quốc là tên gọi của
tác phẩm. Tửu Quốc cũng là của tên của không gian diễn ra câu chuyện: Vƣơng quốc của
Rƣợu. Về lí do ra đời của vùng đất Tửu Quốc, Mạc Ngôn đã nói: ―Một nhà văn có thể là
một ngƣời nhu nhƣợc trong cuộc sống nhƣng lúc sáng tác thì cần phải có dũng khí khai
thiên mở địa, xƣng hùng xƣng bá. Việc gì tôi phải viết về Bắc Kinh, Thƣợng Hải mà nhiều
ngƣời đã viết? Tôi tự hƣ cấu ra một thành phố là đƣợc rồi‖ [58;180]; ―Thành phố tôi viết sẽ
là có một không hai và chƣa từng xuất hiện trên trái đất bao giờ, tƣơng lai cũng sẽ không có
[58;179]. Huyền thoại hiện đại đƣợc tạo ra từ chất liệu cuộc sống nhƣng đƣợc làm biến
dạng đi theo những qui luật khác với qui luật thông thƣờng, tạo nên ―một thế giới riêng gợi
lên mối tƣơng đồng với thế giới hiện thực, chứ không đƣợc xây dựng theo nguyên tắc chân
thực, cụ thể, lịch sử‖ [4;399]. Nhƣ vậy, theo quan niệm về huyền thoại hiện đại, ngay cái
tên Tửu Quốc đã mang màu sắc huyền thoại, đã có khả năng để trở thành một mô hình
huyền thoại.
Không ngại ngần thừa nhận Tửu Quốc là một không gian hƣ cấu nhƣng trong khi
sáng tạo không gian ấy, Mạc Ngôn lại không ngừng bổ sung cho nó yếu tố hiện thực khiến
cho mối quan hệ giữa thật - giả trở nên khó phân định. Giống nhƣ việc W. Faulkner vẽ bản
116
đồ của quận Yoknapatawpha, Mạc Ngôn cũng mang đến cho Tửu Quốc những chỉ dẫn địa
lí và lịch sử cụ thể. Tửu Quốc đƣợc xác định bằng những chỉ dẫn: Nằm ở mỏ than La Sơn,
ngoại vi thành phố, đƣờng vào đen nhẻm, đầy ổ gà và chặt ních những chiếc xe tải, xe lừa
kéo, than hai bên đƣờng chất thành từng đồng. Liền kề khu mỏ là một ―quảng trƣờng hình
trứng, xung quanh mọc đầy sa panh‖ [52;13]. Tửu Thành là thủ phủ, là thành phố trung
tâm, quan trọng nhất của Tửu Quốc, là nơi tập hợp tất cả những gì có trong Tửu Quốc. Từ
Tửu Thành, ngƣời ta có thể thấy hình ảnh của Tửu Quốc. Tửu Thành hiện lên chân thực
qua những dữ kiện lịch sử cụ thể. Các hiện vật tìm thấy ở di chỉ Nguyệt Quang Đôi, cuối
đời nhà Hạ đã cho thấy Tửu Thành là ―cội nguồn của văn hóa rƣợu Trung Hoa‖ có lịch sử
nấu rƣợu ít nhất đã ba nghìn năm. Đến đời Đông Hán, ngƣời ta tìm thấy các viên gạch tranh
mô tả lại cảnh nấu rƣợu, cảnh quán rƣợu và thƣởng rƣợu. Đầu đời Thanh, Tửu Thành xuất
hiện lò rƣợu Phúc Đại Đƣờng; Đời Thuận Trị triều Thanh có thƣơng lái nhỏ nổi tiếng về
rƣợu là Viên Dĩ. Cháu ba đời của ông ta, những năm Càn Long đã mở một lò rƣợu ở giếng
Con Gái bên miếu Bà Cô, lập nên Phúc Kiều Đƣờng... Không gian địa lí của Tửu Thành
cũng hiện lên với những chỉ dẫn sinh động. Đó là Ủy ban thị với sân chính quyền có đàn tế
rƣợu màu đen và cái cóng rƣợu bằng đá trắng; là trƣờng Đại học Chƣng cất rƣợu, là ―bảo
tàng rƣợu rộng mƣời hai quá rƣợu cổ‖, và ba nhà máy rƣợu cỡ lỡn mới đƣợc xây dựng.
Trong Tửu Thành có con sông Rƣợu Ngọt, có miếu Bà Cô, có giếng Con Gái. Từ truyện
Rượu cồn, chúng ta còn biết thêm rằng trong Tửu Thành còn có Học viện Nấu nƣớng; có
Trạm thu mua đặc sản, trung tâm nghiên cứu chế biến món ăn. Xung quanh Tửu Thành có
những thôn chuyên nuôi trẻ con để bán cho Trạm thu mua đặc sản. Trong truyện Phố Lừa,
bên cạnh Phố Lừa với những con đƣờng lát đá xanh có Phố Hƣơu, Phố Trâu, Phố Dê, hẻm
Ngựa, chợ Chó, chợ Mèo… và quán Dƣ Một Thƣớc - tụ điểm ăn chơi khét tiếng của Tửu
Quốc. Tửu Quốc cũng có những đảo yến, có núi Bạch Viên Lĩnh nơi ẩn chứa bí ẩn về một
loại rƣợu thƣợng hạng đƣợc làm ra từ loài khỉ. Tính chất chân thực của Tửu Quốc không
chỉ hiện lên trong những chỉ dẫn về địa lí, lịch sử cụ thể mà còn qua những chi tiết rất thực
hiện hữu trong cuộc sống đời thƣờng. Đó là chuyện ngƣời ta ―dùng cồn công nghiệp để
thay thế rƣợu cồn‖. Đó là chuyện lấy tổ yến phải đổi bằng máu và nƣớc mắt; là những nơi
nhƣ quán ăn Quán Dƣ Một Thƣớc, chốn tụ tập của tất cả những thói ăn chơi, sa đọa của
con ngƣời… Tựu chung lại, đó là hiện thực của sự tha hóa, biến chất của con ngƣời trong
sự đổi thay của xã hội. Tuy nhiên, ngay trong khi liên tục gia tăng những chi tiết chứng
minh cho tính chất chân thực của sự tồn tại một Tửu Quốc, Mạc Ngôn cũng liên tục bổ
117
sung những chi tiết kì ảo, những sự mập mờ cho cái không gian ấy. Tửu Quốc có khi đƣợc
trải rộng, nhƣng cũng có khi chỉ thu gọn lại trong một dãy nhà. Đƣờng dẫn đến Tửu Quốc
có khi là con đƣờng vào mỏ than bụi bặm đen đúa nhƣng cũng có thể là một hành lang sâu
hun hút. Tửu Quốc chỉ cách mỏ than một cánh cửa. Không gian của hiện thực và không
gian hƣ ảo cũng chỉ cách nhau một cánh cửa. Bên kia cánh cửa của mỏ than là ánh nắng
ngập tràn. Tòa nhà của bọn Phan Kim Cƣơng nằm giữa cánh đồng hoa hƣớng dƣơng thơ
mộng. Nơi đẹp đẽ, thanh bình nhất lại là nơi chứa đựng bí mật kinh hoàng nhất: những bữa
tiệc thịt trẻ con. Quận Yoknapatawpha của W. Faulkner tuy là một quận hƣ cấu nhƣng
đƣợc lấy cảm hứng từ quận Lafayette, Mississippi và quận hạt Oxford, Mississippi. W.
Faulkner thƣờng gọi Yoknapatawpha là "quận apocryphal của tôi‖. Làng Macondo của G.
Márquez là cái tên đến từ trong giấc mơ, đƣợc tạo nên từ những điểm tƣơng đồng với
Aracataca, nơi tác giả sinh sống nói riêng, mảnh đất Châu Mĩ Latin nói chung. Để tạo nên
một Tửu Quốc của riêng mình, Mạc Ngôn đã kết hợp tài tình giữa chất liệu thực tế và
tƣởng tƣợng, nhào nặn nó theo một cách riêng khiến nó hiện lên đầy chân thực nhƣng cũng
vô cùng hƣ ảo: ngƣời ta không biết Tửu Quốc nằm chính xác ở đâu nhƣng dƣờng nhƣ cũng
có thể thấy Tửu Quốc ở khắp mọi nơi, nhƣ chính cách mà Mạc Ngôn đã ―tung hỏa mù‖:
―Bất kể từ nơi nào của quả đất, bạn có thể ngồi máy bay, đi tàu thủy, cƣỡi lạc đà, thậm chí
cƣỡi lợn nái đến Tửu Thành‖ [52;503]. Mạc Ngôn sử dụng một phản đề: ―Mọi con đƣờng
đều dẫn đến La Mã, mọi rãnh nƣớc đều dẫn đến Tửu Thành‖ [52;503] để khái quát toàn bộ
bản chất Tửu Quốc. Tửu Quốc là vƣơng quốc của rƣợu nhƣng đồng thời nó cũng là vƣơng
quốc của sự tha hóa. Giống nhƣ một hố nƣớc thải là sự dồn tụ của các rãnh nƣớc thải bẩn
thỉu, Tửu Quốc là nơi tập trung tất cả những thói tật xấu xa của con ngƣời, là vƣơng quốc
của ăn chơi trụy lạc, vƣơng quốc của sự xuống cấp về mặt nhân tính. Vì vậy tất cả nơi nào
mà rƣợu là chất bôi trơn, nơi nào có sự tha hóa, sa ngã của con ngƣời thì nơi đó đều có thể
trở thành Tửu Quốc. Từ một tên riêng, Tửu Quốc đã biến thành một biểu tƣợng, biểu tƣợng
của cái ác, biểu tƣợng về sự phi nhân tính của con ngƣời trong xã hội hiện đại. Tuy có hai
cách thức khởi đầu khác nhau khi tạo dựng không gian nhƣng trong quá trình hoàn thiện về
hình hài, Mạc Ngôn đã sử dụng linh hoạt nhiều phƣơng thức để đƣa Đông Bắc Cao Mật và
Tửu Quốc đến điểm gặp nhau cuối cùng: một hỗn hợp không gian thực và ảo, mang đậm
màu sắc huyền thoại.
Cái kì - ảo trong tiểu thuyết Mạc Ngôn thể hiện một cách sinh động quan niệm về
cái kì và truyền kì trong văn học truyền thống Trung Quốc, vừa là ―phi kì bất truyền‖
118
nhƣng cũng có khi là ―phi kì nhi kì‖, tức cái kì đƣợc tạo nên từ những điều bình thƣờng,
đƣợc tạo nên từ kĩ xảo - cái kì về phƣơng thức nghệ thuật. Đây cũng là điểm gặp gỡ của
Mạc Ngôn với các nhà văn sáng tác theo phƣơng thức huyền thoại nổi tiếng trên thế giới
nhƣ W. Faulkner, G. Marquez, F. Kafka… Đầu tiên, đó là sự đa dạng về kết cấu truyện gắn
với sự phong phú về ngôi kể và sự luân chuyển điểm nhìn. Tửu Quốc (Tửu Quốc) đƣợc
hình thành từ sự đan xen của ba tuyến truyện. Thứ nhất là các câu chuyện Lí Một Gáo sáng
tác gửi nhân vật nhà văn Mạc Ngôn, trong đó có một câu chuyện dành riêng để viết về Tửu
Thành - thủ phủ của Tửu Quốc. Toàn bộ hình dung rõ nhất về Tửu Quốc với lịch sử cụ thể,
địa lí xác định cũng hiện lên ở đây. Tửu Quốc ở tuyến truyện thứ hai - câu chuyện về trinh
sát viên Đinh Câu - hòa nhập làm một với không gian trong tuyến truyện của Lí Một Gáo
và đƣợc xác thực lần cuối bằng sự xuất hiện của nhân vật nhà văn Mạc Ngôn tại Tửu Quốc
trong tuyến truyện thứ ba. Từ sự khẳng định của nhân vật nhà văn Mạc Ngôn: ―Tôi không
thể không công nhận, truyện nọ nối tiếp truyện kia của anh ta đã thay đổi tận gốc mô hình
của tiểu thuyết tôi. Lẽ ra Đinh Câu phải là một nhân vật tỏa sáng cho ngƣời đời thì lại trở
thành một tên nát rƣợu, đồ bị thịt! Tôi không làm sao viết tiếp câu chuyện về Đinh Câu, tìm
cho anh ta một kết cục khả dĩ, hơn là chết chìm trong nhà xí‖ [52;533]; có thể thấy, tuyến
truyện về trinh sát viên Đinh Câu là câu chuyện tiểu thuyết do nhân vật nhà văn Mạc Ngôn
sáng tác ra, song hành với chín câu chuyện của Lí Một Gáo. Tuyến truyện xoay quanh
nhân vật nhà văn Mạc Ngôn và Lí Một Gáo chính là tuyến truyện hiện tại, là tuyến truyện
―khung‖. Tửu Quốc trong sáng tác của hai nhà văn trong truyện chính là hình ảnh của một
Tửu Quốc có thật, đang chào đón nhân vật nhà văn Mạc Ngôn đến thăm và tham dự lễ hội
Rƣợu Bú Dù qui mô hoành tráng chuẩn bị diễn ra. Cây tỏi nổi giận đƣợc kết cấu gồm hai
phần: Lời hát của Khấu Mù đi theo dòng sự kiện chính trị và phần cốt truyện chính đi theo
dòng sự kiện cuộc đời nhân vật. Toàn bộ hai mƣơi chƣơng đều đƣợc bắt đầu bằng lời hát
xẩm của Khấu Mù. Có khi, đó là những lời ca da diết, đầy tự hào: ―Xin bà con lắng nghe
tui kể ngọn nguồn/ Về thiên đƣờng nơi hạ giới/ Đồng ruộng phì nhiêu hai mƣơi vạn mẫu/
Dòng sông xanh nƣớc chảy hiền hòa/ Đã nuôi dƣỡng nam thanh nữ tú/ Nổi danh thiên hạ
ngồng tỏi quê ta‖ [51;5]. Cũng có khi là lời tố cáo đanh thép: ―Tri phủ giết cả họ, tri huyện
giết cả nhà/ Các ông lớn không bao giờ nói giỡn/ Ông bảo trồng tỏi tôi liền trồng tỏi/ Ông
không mua tôi quẳng đi đâu?‖ [51;133]. Song song với mạch truyện chính, Mạc Ngôn đã
tạo nên một mạch truyện thứ hai qua lời hát của nhân vật ―mù‖ nhƣng ―thấu thị‖ này. Lời
hát là sự tƣờng thuật một cách chân thực về các sự kiện diễn ra trong mạch chính, bổ sung
119
những bình luận, nhận định chính xác mà ở ngôi kể thứ hai của mạch truyện chính không
thể đƣa vào nhƣng không vì thế mà đánh mất đi tính khách quan. Bằng những chú thích
cuối lời hát xẩm, Mạc Ngôn đã đồng thời đan cài hai mạch truyện vào nhau, bổ sung cho
nhau. Bi kịch của ngƣời dân trồng tỏi Thiên Đƣờng qua đó càng đƣợc khắc họa chân thực,
sâu sắc. Sống đọa thác đày đƣợc kết cấu theo kiểu vòng tròn. Tác phẩm mở đầu và kết thúc
bằng cùng một câu ―Câu chuyện của tôi bắt đầu từ ngày một tháng một năm một nghìn
chín trăm năm mƣơi‖ [54;11-814]. Tiêu đề của quyển cuối cùng là ―Kết cục và mở đầu‖.
Nó khiến cho ngƣời đọc cảm nhận đƣợc vòng luân hồi ―sống đọa thác đày‖ chƣa bao giờ là
kết thúc với các nhân vật. Thời gian và không gian liên tục luân chuyển cùng với sáu kiếp
đầu thai của Tây Môn Náo, quá khứ và hiện tại đan xen; hiện thực và hƣ ảo trộn lẫn, dƣơng
gian và địa phủ chỉ cách nhau trong vài bƣớc chân. Tổ tiên có màng chân là một tiểu thuyết
đƣợc kết cấu theo hình thức đặc biệt: giấc mộng lớn - giấc mộng không cần logic, đan xen,
hỗn loạn. Mỗi phần trong tác phẩm là một giấc mộng. Giấc mộng thứ nhất: Châu chấu đỏ;
Giấc mộng thứ hai: Mùi hƣơng hoa hồng; Giấc mộng thứ ba: Tổ tiên có màng chân; Giấc
mộng thứ tƣ: Báo thù; Giấc mộng thứ năm: Cô Hai đến ngay sau đó; Giấc mộng thứ sáu:
Vó ngựa giữa đầm lầy. ―Giấc mộng lớn‖ là sự tổng hợp của sáu ―giấc mộng con‖. Sáu
―giấc mộng con‖ lại chứa đựng trong nó vô số những giấc mộng khác nữa; càng về sau
càng trở nên hoang đƣờng kì bí… Sợi dây liên kết lúc đậm nét, lúc chỉ mảnh nhƣ một làn
khói chính là nỗi ám ảnh về nỗi cô đơn và những đôi bàn tay, chân có màng. Trong các kết
cấu truyện linh hoạt đó, ngƣời kể chuyện liên tục thay đổi; điểm nhìn trần thuật liên tục di
động làm tăng thêm tính hòa quyện, đan xen giữa thực và ảo, hiện thực và giấc mơ.
Chúng ta có thể bắt gặp các sáng tác theo kĩ thuật dòng ý thức qua những giấc mơ
dài, nhiều hơn cả là giấc mơ giữa đời thực (hay chính là những ảo giác?) của các nhân vật
trong tiểu thuyết. Giấc mơ là ―sự dồn nén tâm tình và sự thỏa mãn ƣớc vọng bằng tƣởng
tƣợng‖ [28;27], ―Ngƣời nằm mơ bị bao vây bởi những hình ảnh có vẻ lố lăng và mâu
thuẫn, ý niệm thời gian không còn, cái gì nhàm chán nhất cũng thể hiện ra vẻ quyến rũ hay
đáng sợ‖ [28;47]. Nhƣ ở trên chúng tôi đã phân tích, những giấc mơ của Kim Đồng là về
bầu vú. Nó thể hiện sự tôn thờ, niềm si mê, khát khao bầu vú của nhân vật này nhƣng đồng
thời cũng cho thấy nguy cơ triệt tiêu nam tính của anh ta. Trong Đàn hương hình, giấc mơ
của Mi Nƣơng xuất phát từ những dồn nén trong tình cảm với quan huyện Tiền Đinh; giấc
mơ của Giáp Con mang đậm màu sắc kì ảo, góp phần lột trần bản chất con ngƣời và xã hội.
Những giấc mơ chính là sự nối dài mong muốn, dục vọng và cả những đau khổ, ẩn ức của
120
con ngƣời trong đời sống thực tại. Mộng mị, đúng hơn là ảo giác mà nhân vật Đinh Câu
(Tửu Quốc) gặp phải nảy sinh từ một kẻ có ý chí và tâm thần không vững vàng, lại bị tác
động bởi chất kích thích là rƣợu. Giấc mơ của Cao Mã (Cây tỏi nổi giận) là những dự cảm
tiên đoán không lành về cái chết của Kim Cúc. Từ những giấc mơ trong Tổ tiên có màng
chân, chúng ta cảm nhận đƣợc sự hoang mang, bất lực, sợ hãi của nhân vật. Đó cũng là nỗi
hoang mang của ngƣời đọc khi lần theo mạch truyện. Và đọng lại cuối cùng là sự hoang
mang của mỗi con ngƣời trƣớc hành trình đi tìm câu trả lời về bản thể.
Bên cạnh cái kì ảo đƣợc tạo nên từ giấc mơ, thế giới nghệ thuật tràn đầy cảm giác
cũng mang đến cho tiểu thuyết Mạc Ngôn những trang viết ảo mộng. Từ những cảm giác
đầu tiên đƣợc khơi gợi lên trong nhân vật cu Đen của Củ cải đỏ trong suốt, nhà văn đã rất
thành công trong việc ―rót ấn tƣợng chủ quan của mình vào để tạo ra hiện trạng khác lạ‖
[85;107], ―làm cho bộ mặt cuộc sống mà tác giả mô tả không còn nguyên dạng nữa‖. Mộng
ảo và hiện thực, khoa học và đồng thoại, quá khứ và hiện tại hòa lẫn vào nhau, kết hợp lại
với nhau, liên quan đến nhau, tạo nên một thế giới hoàn chỉnh. Nhờ sự nắm bắt và thể
nghiệm cảm giác, những sự vật, hiện tƣợng dƣới ngòi bút của Mạc Ngôn cũng trở nên sinh
động, có tâm hồn, có cảm xúc, hành động. Sự giao lƣu giữa La Tiểu Thông với thịt trong
Tứ thập nhất pháo là một ví dụ tiêu biểu. Bằng cảm giác, Mạc Ngôn đã biến thịt thành một
sinh thể có hồn: thịt ―kêu la oai oái, dồn ép xô đẩy nhau‖, ―ủ ê khóc lóc dầm dề trong chảo‖
khi phải hứng trọn dòng nƣớc tiểu thô tục của Hoàng Bƣu [58;411]; thịt nhƣ ―con chim sẻ
đang giãy giụa‖, thịt ―kêu thƣơng rền rĩ‖, ―nép lại với nhau trong mâm nhƣ một bầy chim
yếu ớt cố tránh những móng vuốt diều hâu‖ [55;554]; thịt ―bị làm nhục‖, ―biến sắc‖, ―cố ý
bốc lên mùi hôi hám‖ [55;555] trƣớc những kẻ thô tục; thịt mang ―bộ dạng hƣng phấn‖, nói
ra những lời thì thầm ngọt ngào nhƣ mật [55;413]; thịt ―rên rỉ‖, thịt ―khóc lóc ai oán‖ chờ
đợi [55;418]; thịt ―rên lên hạnh phúc‖, ―run‖ [55;550] lên không phải vì sợ hãi mà là vì
hạnh phúc khi đƣợc La Tiểu Thông ăn… Việc ăn thịt của La Tiểu Thông nhờ cảm giác hóa
đã biến thành quá trình giao lƣu với thịt, nhƣ tình nhân, nhƣ tri kỉ. Có thể nói sự nắm bắt và
thể nghiệm cảm giác nói trên cũng chính là một biểu hiện cho thủ pháp lạ hóa của riêng
Mạc Ngôn, giúp ông biến sự vật thành những sinh thể có đời sống riêng biệt. Bên cạnh đó,
cũng có thể dễ dàng nhận thấy màu sắc hiện thực huyền ảo kiểu Mĩ Latin trong nhiều tiểu
thuyết của Mạc Ngôn nhƣ ăn thịt ngƣời trong Tửu Quốc, nhân ngƣ trong Rừng xanh lá
đỏ… Tiêu biểu nhất là Tổ tiên có màng chân. Cả sáu giấc mơ xuất hiện trong tác phẩm đều
nhuốm màu sắc huyền ảo. Trong ―Châu chấu đỏ‖ là sự xuất hiện của đội quân châu chấu
121
đỏ, của gia tộc ăn cỏ và những đôi tay, chân có màng. Trong ―Mùi hƣơng hoa hồng‖ là
bóng dáng của cô gái lang thang trong bụi hoa hồng với ―mùi hƣơng hoa hồng thơm nức
mũi‖. ―Tổ tiên có màng chân‖ có khu rừng lá phong đỏ kì bí; có lũ Tiểu Thoại Bì Tử, nhỏ
hơn con chuột cống, thân chuột, mặt mèo lại có thể nói tiếng ngƣời; có ngƣời chết rồi vẫn
đứng dậy đi lại, nói chuyện, ăn uống với ngƣời sống... Trong ―Báo thù‖ tôi bị bắn chết, linh
hồn vẫn đồng hành cùng hai anh em Đại Mao, Nhị Mao.... Trong ―Cô Hai đến ngay sau
đó‖ là hành tung bí ẩn của cô Hai, sự xuất hiện của Thiên và Địa, chuyện cắt thịt cụ bà trên
cầu... Trong ―Vó ngựa đầm lầy‖ là chuyện tình giữa ngƣời và ngựa, sự mập mờ giữa ngƣời
đàn ông đen đúa gầy guộc trong truyền thuyết và trong hiện thực… Cuộc hội thoại của
―ông nội‖ sau khi chết là một đoạn văn huyền ảo đậm nét nhƣ vậy:
―Trong bóng tối, ông nội mấp máy môi, nghe chừng rất là thèm ăn. Mẹ tôi nói:
- Bố đừng có chóp chép nữa, muốn ăn thì dậy ăn đi.
Ông nội uể oải dậy, bò đến trƣớc bàn ăn, ngại ngùng nói:
- Sống cả đời rồi mà ta chƣa từng ngửi thấy mùi thơm nhƣ thế này.
Mẹ tôi không vui nói:
- Bố, bố thật chẳng có trí nhớ gì cả. Loại bọ cạp núi này, bố ăn không đến hai trăm
thì cũng phải hơn một trăm cân. Lúc còn sống, bố cứ khen là hiếu tử hiền tôn. Vừa mới
chết cái đã quay mặt không nhận. Bố thử lôi ruột ra xem, chỉ sợ là còn cả ổ bọ cạp chƣa tiêu
hóa hết ấy chứ.
Ông nội mặt không một chút sắc khí. Ông nuốt hơn chục con bọ cạp, rồi chẳng nói
câu gì, đi vào trong bóng tối, chết tiếp lần nữa‖ [53;312].
Cũng trong Tổ tiên có màng chân, huyền thoại đƣợc tô đậm bằng yếu tố huyền ảo
thông qua những liên văn bản mang ―vô thức tập thể‖, màu sắc G. Márquez, G. Grass nhƣ
nạn châu chấu đỏ (nhƣ một biến thể của nạn hồng thủy); ―truyền thống kết hôn với ngƣời
ngay trong nội tộc dẫn đến sự suy yếu cho cả dòng họ‖ và những đứa trẻ sinh ra với những
chiếc màng ở chân tay‖ [53;67] (nhƣ ám ảnh về sự loạn luân và đứa trẻ mang đuôi lợn
trong Trăm năm cô đơn); đứa bé Thanh Cẩu với vóc dáng trẻ thơ nhƣng mang tâm hồn đầy
sỏi đá, gai nhọn và ngƣời cha phong lƣu (nhƣ Oska và câu chuyện về ngƣời mẹ của cậu
trong Cái trống thiếc). Một số motif huyền thoại Kinh Thánh cũng đƣợc Mạc Ngôn đan cài
vào tác phẩm mà tiêu biểu là cảnh hành hình Tôn Bính (Đàn hương hình). Hình ảnh Tôn
Bính trên Thăng Thiên Đài dễ khiến ngƣời ta liên tƣởng đến cảnh Đấng Cứu Thế bị đóng
đinh trên cây thập tự. Sự kiện đó không chỉ tƣơng đồng về hình thức (Tôn Bính, sau khi
122
đàn hƣơng đƣợc dựng lên, bị trói vào ―cây cột to bằng gỗ thông, đính ngang một tấm gỗ dài
ba thƣớc, giống nhƣ cây thập ác ở nhà thờ Bắc Quan‖ [49;610]), mà còn ở ý nghĩa cao cả
của nó. Giống nhƣ Đức Chúa Jesus toàn năng hoàn toàn có thể thoát khỏi án đóng đinh trên
cây thập tự, Tôn Bính cũng có cơ hội để không phải chịu án tử đàn hƣơng hình. Lần đầu
tiên là dƣới sự giúp đỡ, đánh tráo phạm nhân của hội ăn mày Tám Chu. Lần thứ hai là đánh
tráo thân phận với Út Sơn. Nhƣng cũng giống nhƣ chúa Jesus tình nguyện chịu tội, Tôn
Bính một mực tự mình nhận án đàn hƣơng. Bốn ngày bị treo trên đàn hƣơng hình là bốn
ngày thể hiện sức sống ngoan cƣờng, tinh thần quả cảm vĩ đại của Tôn Bính. ―Ông sống
thêm một ngày là thêm một ngày huyền thoại và bi tráng, là dấu ấn khắc thêm sâu trong
lòng mọi ngƣời, là thêm một trang đẫm máu trong lịch sử vùng Cao Mật và trong lịch sử
nhà Đại Thanh‖ [49;630-631]. Trên Đài Thăng Thiên cao lồng lộng, Tôn Bính đã dùng
chính đàn hƣơng hình để khơi dậy lòng yêu nƣớc và tự hào dân tộc của quần chúng, đánh
thức họ khỏi vòng mê muội dƣới sự đàn áp của phong kiến và phát xít.
Truyền kì trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, với tƣ cách là một phƣơng thức huyền thoại
hóa, bên cạnh yếu tố kì - ảo còn thấy xuất hiện dày đặc các câu chuyện truyền kì dân gian.
Chúng tồn tại ở hai dạng: truyền kì mang đậm màu sắc ―liêu trai chí dị‖ lấy từ trong kho
truyền kì của dân gian, và truyền kì truyền miệng về các nhân vật trong tác phẩm. Dạng đầu
tiên mang đến cho tác phẩm màu sắc hoang đƣờng, kì ảo - đặc trƣng của huyền thoại. Dạng
thứ hai có tác dụng phủ màu sắc li kì, huyền thoại lên nhân vật, góp phần huyền thoại hóa
nhân vật. Hai hình thức truyền kì này xuất hiện hầu hết ở các tác phẩm nhƣ huyền thoại về
Nàng tiên cáo, Nàng tiên chim, quỷ nhập tràng, Mã Sơn Nhân bắt ma, Trƣơng Thiên Tứ
dẫn độ ngƣời chết về quê, truyền kì về ngƣời anh hùng Hàn Chim, truyền kì về ngƣời anh
hùng Tƣ Mã Khố trong Báu vật của đời; truyền kì về con chim sẻ đi mƣời ba bƣớc, con khỉ
cái chờ chồng trên đảo hoang, ngƣời đàn bà quạt mồ chồng, ngƣời thay xƣơng đổi thịt
trong Thập tam bộ; truyền kì về hai con rận, cóc ở Gia Loan không biết kêu trong Cây tỏi
nổi giận; truyền kì về dòng sữa của ngƣời con gái còn trinh, ếch quấy rối ngƣời, kì nhân
Hách Đại Thủ, bà cô Vạn Tâm trong Ếch; truyền kì về thiếu niên vảy cá cƣỡi lừa đen, tửu
nga và thằng làm công ở quán rƣợu, về cậu thiếu niên si tình với cô gái gánh xiếc, truyền kì
về Rƣợu Vƣợn, Rƣợu Mây Mƣa, về Dƣ Một Thƣớc trong Tửu Quốc; truyền kì về Cửu
Hƣơng Nữ, Bà Hai trong Tổ tiên có màng chân,…
Kho truyền kì phong phú đƣợc tích lũy từ thuở nhỏ đã giúp Mạc Ngôn có thoải mái
tƣ liệu truyền kì dân gian để đƣa vào tác phẩm. Tất nhiên, sự lồng ghép các câu chuyện
123
truyền kì đó tuy thƣờng đƣợc Mạc Ngôn thể hiện theo hình thức của những câu chuyện tạt
ngang, nhân lí do gì đó mà nhớ lại nhƣng không phải vì thế mà mang tính tùy tiện và ngẫu
hứng. Ngoài việc đem đến cho tác phẩm màu sắc kì ảo, huyền thoại, mỗi câu chuyện
truyền kì đều truyền tải một ý nghĩa sâu xa, góp phần khắc họa sâu sắc hơn dụng ý nghệ
thuật của tác giả. Hình ảnh con chim sẻ đi mƣời ba bƣớc xuất hiện ba lần trong Thập tam
bộ: trong tiêu đề tác phẩm, trong câu chuyện truyền kì và trong diễn biến thực tế của câu
chuyện ở cuối tác phẩm mà truyền kì về mƣời ba bƣớc đi của con chim đóng vai trò then
chốt: ―Có một truyền thuyết rất đẹp thời xa xƣa kể rằng, con ngƣời chỉ cần nhìn thấy chim
sẻ đi từng bƣớc một là sẽ gặp vận số tốt lành. Nó đi một bƣớc, anh sẽ phát tài; bƣớc thứ hai,
anh sẽ thăng quan tiến chức; bƣớc thứ ba, anh sẽ có số đào hoa; bƣớc thứ tƣ, anh sẽ có sức
khỏe dồi dào; bƣớc thứ năm, anh có một tinh thần lúc nào cũng vui vẻ; bƣớc thứ sáu, anh
gặp thuận lợi trong mọi công việc; bƣớc thứ bảy, trí tuệ anh sẽ minh mẫn; bƣớc thứ tám, vợ
anh trung thành; bƣớc thứ chín, thanh danh anh vang khắp thiên hạ; bƣớc thứ mƣời, dung
mạo của anh trở nên đẹp đẽ; bƣớc thứ mƣời một, dung mạo vợ anh xinh đẹp; bƣớc thứ
mƣời hai, vợ anh và nhân tình của anh sẽ hòa thuận nhƣ chị em ruột. Nhƣng tuyệt đối
không đƣợc xem bƣớc thứ mƣời ba. Nếu anh nhìn nó bƣớc thứ mƣời ba, tất cả những điều
tốt đẹp trên đều biến thành ngƣợc lại và đổ xuống đầu anh‖ [56;559]. Tuy đến cuối cùng
mới xuất hiện nhƣng câu chuyện về bƣớc thứ mƣời ba của con chim sẻ lại gây cảm giác ám
ảnh ngay từ đầu với tiêu đề của tác phẩm. Nó nhƣ một lời khẳng định, bi kịch đến với
những nhân vật trong tác phẩm nhƣ Phƣơng Phú Quí, Trƣơng Xích Cầu, Lí Ngọc Thiền,…
là một định mệnh không thể nào thay đổi, là một kết cục tất yếu. Con ngƣời dù có cố gắng
đến đâu cũng không thể nào thoát khỏi vòng xoáy nghiệt ngã của nó. Dùng câu chuyện
mang màu sắc huyền thoại để khắc sâu định mệnh của nhân vật, Thập tam bộ đồng thời
cũng là tiếng nói phản ánh thực trạng giáo dục và số phận của ngƣời tri thức ở đất nƣớc
Trung Quốc những năm 80 của thế kỉ XX. Trong trƣờng hợp khác, truyền kì dân gian nhƣ
một đối sánh sinh động làm nổi bật nhân vật hoặc vấn đề đƣợc nêu trong tác phẩm mà
không cần phải miêu tả trực tiếp vào đối tƣợng. Cũng trong Thập tam bộ, truyền kì về câu
chuyện tình giữa ngƣời đàn ông lạc vào hoang đảo, con khỉ cái, cậu con trai sau này thành
trạng nguyên và bàn tay khỉ đã truyền tải sâu sắc sự giằng xé trong con ngƣời Phƣơng Phú
Quí giữa mong muốn đƣợc sống với trách nhiệm phải chết: ―Trong cái buổi sáng dài lê thê
ấy, tâm trạng của Phƣơng Phú Quí cũng rất giống tâm trạng của ngƣời đàn ông một tay ôm
con, một tay vung rìu, cũng giống với trạng nguyên ôm một bàn tay của khỉ đứng trƣớc thi
124
thể của khỉ mẹ. Đó là sự lựa chọn khó khăn, sống và chết song toàn là không thể‖ [56;209-
210]. Truyền kì về vụ xử kiện ngƣời đàn bà thông dâm và về ngƣời phụ nữ quạt mồ chồng
đã thể hiện một cách sắc nét cuộc đấu tranh khó khăn chống lại dục vọng trong con ngƣời
Đỗ Tiểu Anh sau khi chồng chết. Khi trí óc Đỗ Tiểu Anh cứ bị ám ảnh bởi câu chuyện
truyền kì về ngƣời đàn bà quạt mồ, ―giống nhƣ số mệnh, những hiểm họa của sự dâm loạn
đã gần kề‖ [56;278]. Ngay cả với những tác phẩm khai thác, tái hiện đề tài hiện thực mang
tính thời sự nhƣ Cây tỏi nổi giận, tác giả cũng ―cài cắm‖ vào đó những câu chuyện truyền
kì giàu ý nghĩa. Truyền kì về cóc ở Trƣơng Gia Loan không biết kêu và truyền kì về ―mồm
vàng răng ngọc‖ nhƣ một ám dụ cho hình ảnh của ngƣời nông dân trồng tỏi thấp cổ bé
họng, không thể nói và không đƣợc có tiếng nói, còn những kẻ làm quan nhƣ Trọng Vì
Dân nếu có nói ―ngựa mọc sừng, trâu có vảy, gà sống đẻ trứng, gà mái gáy sáng‖ [51;427]
thì cũng biến thành sự thật. Từ đó, nảy sinh ra huyền thoại ―đổi trắng thay đen‖ thời hiện
đại: sau khi đã ―kiểm tra tƣ tƣởng sâu sắc, nhận rõ sai lầm‖ và quyết tâm ―sửa chữa sai lầm,
khắc phục những khiếm khuyết trong công tác‖ [51;507], Nguyên Bí thƣ huyện ủy Kỷ
Nam Thành bị ―kỉ luật‖ bổ nhiệm làm Phó Bí thƣ huyện ủy kiêm Huyện trƣởng huyện
Nhạc Thành; Nguyên Huyện trƣởng Trọng Vì Dân đảm vụ chức vụ Phó Bí thƣ huyện ủy
kiêm Phó Huyện trƣởng huyện Tam Hà. Truyền kì về ngƣời con gái còn trinh vì thƣơng
em nhỏ mà có thể tiết ra sữa trong Ếch là một minh chứng cho sức mạnh của tính Mẫu.
Truyền kì về thiếu niên vảy cá, thằng làm công, cậu thiếu niên si tình trong Tửu Quốc có
tác dụng ―tung hỏa mù‖ đối với nhân vật, ―thật giả lẫn lộn, biến hóa khôn lƣờng‖, tạo nên
kiểu nhân vật kép: thiếu niên vảy cá - nhân vật phi thƣờng và Dƣ Một Thƣớc - gã lùn ăn
chơi phóng đãng…
Nếu nhƣ các câu chuyện truyền kì dân gian đƣợc sử dụng nhƣ một yếu tố ngoài cốt
truyện đƣợc Mạc Ngôn đặt xen vào trong cốt truyện chính; thì truyền kì về nhân vật lại chủ
yếu mƣợn phƣơng thức tạo nên truyền kì (lƣu truyền với một niềm tin cộng đồng mãnh liệt,
bất chấp thực - hƣ). Mỗi nhân vật mang màu sắc huyền thoại đều tồn tại xung quanh mình
một đến nhiều câu chuyện truyền kì, đƣợc lƣu truyền từ ngƣời này sang ngƣời khác (Tửu
Quốc, Báu vật của đời, Thập tam bộ, Tứ thập nhất pháo, Ếch) hoặc từ đời này sang đời
khác (Cao lương đỏ, Tổ tiên có màng chân); liên tục bổ sung cho nhân vật từ nhiều góc độ,
nhiều giọng kể, nhiều ngƣời kể khác nhau. Trong Tửu Quốc, nhân vật Dƣ Một Thƣớc đƣợc
bao quanh bởi vô số câu chuyện truyền kì: ba câu truyện truyền kì do hắn kể (ngƣời mặc đồ
đen cƣỡi lừa, tên làm công có tửu nga, cậu thiếu niên si tình); truyền kì về cậu thanh niên
125
vảy cá trong truyện ngắn của Lí Một Gáo, gã lùn chủ quán Dƣ Một Thƣớc trong tiểu thuyết
của nhân vật nhà văn Mạc Ngôn và Tổng giám đốc Dƣ Một Thƣớc. Truyền kì về Triệu
Giáp đƣợc tự thuật khi ―nói ngông‖, ―tự bạch‖; đƣợc tiếp tục bổ sung qua giọng kể của Tôn
Mi Nƣơng, Giáp Con… Tập hợp các câu chuyện đó lại, nhân vật đồng thời cũng đƣợc bao
quanh màu sắc huyền thoại. Cách tạo ra nhân vật huyền thoại theo kiểu truyền kì nhƣ vậy
đã đƣợc Mạc Ngôn nhiều lần nhắc đến trong tản văn, cuộc nói chuyện hay lời tự bạch.
Trong Tổ tiên có màng chân, ông cũng đã trực tiếp đề cập thông qua câu chuyện về bà Tƣ:
―Trong những ngƣời đã khuất trong gia tộc, bà Tƣ là nhân vật đƣợc trùm lên màu sắc thần
bí, truyền kì. Tôi nghi ngờ tính chân thực của những câu chuyện này, nhƣng tôi lại tin vào
tinh thần trung thực của những ngƣời nhƣ mẹ tôi‖ [53;119]. Cũng trong tác phẩm này, quá
trình tạo nên một Bà Hai huyền thoại là một minh chứng sống động và tiêu biểu, ―chúng
tôi‖ đã ―liên tục đính chính hình tƣợng Bà Hai trong truyền thuyết và dần dần xác lập hình
tƣợng bà Hai‖ của riêng mình:
―Không có ai nói bà đã từng cƣỡi ngựa ô, nhƣng trong kí ức của chúng ta, bà đang
cƣỡi con ngựa ô móng sắt, cái móng sắt của con ngựa lấp lánh phát sáng, cứ nhấp nháy
trong kí ức của chúng ta, có lúc giống nhƣ ánh sáng của vì sao lấp lánh trên trời, có lúc lại
lấp lánh nhƣ nƣớc trên sông‖ [53;524].
―Không ai nói với chúng tôi bà Hai khoác trên mình chiếc áo choàng lông tinh tinh
màu đỏ rất to, nhƣng chiếc áo choàng của bà luôn nhƣ một đám lửa rừng rực, cháy trong
linh hồn chúng tôi, cháy trong xƣơng tủy của chúng tôi. Đám lửa kia màu xanh‖ [53;525].
―Không ai nói rằng bà dùng súng bằng hai tay, chúng tôi chỉ toàn thấy thắt lƣng bà
giắt hai khẩu súng hoặc hai tay cầm súng‖ [53;525].
―Ngƣời trong nhà đều nói bà Hai thân hình mảnh khảnh, mặt hình trái xoan, mắt to,
nƣớc da đen xạm; nhƣng chúng tôi thƣờng nhìn thấy mặt bà trắng nhƣ cái đĩa bạc hoặc phết
một lớp bột, cánh tay tròn lẳn trắng nõn nà. Bà có đôi mắt phƣợng dài nhỏ. Bà là một thiếu
nữ nở nang tròn trĩnh‖ [53;525].
Bà Hai tồn tại trong những câu chuyện kể, trƣớc còn có hình hài, hành tung cụ thể
(đứa trẻ đƣợc sinh ra, có màng, bị bỏ rơi ở chùa nhƣng cuối cùng không bị thú hoang cắn
chết mà lại đƣợc một ngƣời đàn ông lạ mặt đem trả về nhà, nhờ bú chó mà sống nên có
cách hàng xử nhƣ loài chó; lúc mƣời tuổi, sau khi bắn sáu phát súng giết chết cha mình thì
bỏ đi biệt tích), sau trở thành nỗi ám ảnh thƣờng trực trong mỗi ngƣời thuộc gia tộc ăn cỏ.
Bà nhƣ một bóng ma, không có mặt nhƣng luôn hiện hữu đe dọa quay về báo thù. Bà đƣợc
126
tạo nên từ truyền thuyết. Câu chuyện về bà Hai đƣợc tạo nên qua khoảng cách từ hai lần kể:
―tôi‖ kể lại câu chuyện của ―cha tôi‖. Điều này cũng giống nhƣ câu chuyện về ―bà tôi‖ và
―ông tôi‖ trong Cao lương đỏ đƣợc kể lại bằng giọng kể của ―tôi‖ nhƣng lại qua lăng kính
của ―bố tôi‖. Từ ―tôi‖ đến ―cha tôi‖ đến thế hệ ―bà tôi‖, ―ông tôi‖ là cả một quãng thời gian
dài. Khoảng cách lịch sử và sự kính ngƣỡng đã tạo môi trƣờng cho truyền kì xuất hiện.
Trong các câu chuyện mang tính truyền kì, sự gia tăng của những yếu tố kì ảo lại tỷ
lệ thuận với niềm tin của nhân vật trong tác phẩm với đối tƣợng. Không ai biết Già Vạn
(Rừng xanh lá đỏ) bao nhiêu tuổi. ―Khi Ngọc Trai còn thò lò mũi xanh, già bảo già đã chín
mƣơi chín tuổi. Đến khi Ngọc Trai trở thành thanh nữ, già vẫn bảo già chín mƣơi chín tuổi.
Già không chịu vƣợt cái ngƣỡng một trăm. Dừng lại ở chín mƣơi chín, rồi không tăng thêm
tuổi nào nữa, với già, thời gian đã mất hết ý nghĩa‖ [50;439]. Câu chuyện Già Vạn là ai? Có
phải là ngƣời phụ nữ bên giếng nƣớc mà Thiên vƣơng Hồng Tú Toàn yêu say đắm? Hay là
con cháu, kết tinh của cuộc tình dữ dội ấy? Dựa trên logic thời gian, Già Vạn không thể là
cô gái chân to thắt hai bím tóc xinh đẹp đó. Nhƣng với niềm tin mãnh liệt của Ngọc Trai,
với mối liên hệ thần bí của Già Vạn và Bà Chúa Ngọc Trai, với tất cả những câu chuyện kì
ảo xoay quanh cuộc đời Già, ngƣời ta hoàn toàn có căn cứ để tin rằng cô gái năm xƣa đó
chính là Già. Và nhờ thế, Già Vạn không chỉ là một bà lão bình thƣờng, bà còn là một nhân
vật huyền thoại.
Ngƣời anh hùng trong tiểu thuyết Mạc Ngôn là minh chứng tiêu biểu cho quan
niệm ―lịch sử là truyền kì‖ của ông. Tất cả nhân vật anh hùng của Mạc Ngôn đều đƣợc tạo
nên nhờ những câu chuyện truyền kì với tình tiết kì ảo không ngừng đƣợc thêm thắt trong
quá trình lƣu truyền, để rồi cuối cùng họ trở thành ngƣời anh hùng mang sắc màu huyền
thoại. Nghệ thuật kể chuyện theo hình thức truyền kì với sự đa dạng hóa điểm nhìn và ngôi
kể nhƣ vậy cũng có vai trò quan trọng trong việc tạo nên tính chất hai mặt của cổ mẫu anh
hùng. Nếu nhƣ trong cái nhìn của Lỗ Lập Nhân và những ngƣời thuộc Đảng cộng sản, Tƣ
Mã Khố là kẻ đại diện cho tầng lớp địa chủ bóc lột nhân dân, độc ác và hèn hạ; thì qua lời
nói của một vài nhân vật quần chúng, tất cả đã bị đạp đổ. Trong cuộc đấu tố Tƣ Mã Khố và
gia đình Tƣ Mã, bà Quách, nhân chứng của vụ chôn sống ngƣời tàn ác cho rằng: ―Tƣ Mã
Khố là con ngƣời còn biết lẽ phải, nếu không có ông ta thì già đã bị thằng súc sinh Sƣ Tử
chôn sống rồi‖ [48;465]. Với Thƣợng Quan Lỗ Thị, ―anh ta là đồ đốn mạt, nhƣng cũng là
một trang hảo hán. Những ngƣời nhƣ vậy, trƣớc đây cứ khoảng mƣơi năm lại có một
ngƣời. Từ nay về sau chắc là tuyệt chủng‖ [48;480]. Tƣ Mã Khố hiện lên trong hình ảnh
127
của một ngƣời đàn ông ngang tàng, phóng túng, một trang hảo hán, một ngƣời anh hùng
kháng Nhật kiên cƣờng. Cũng có khi, để tạo cảm giác chân thực cho câu chuyện mang màu
sắc truyền kì của mình, Mạc Ngôn lại đƣa vào lời kể của các nhân vật có thực, đƣợc xem
nhƣ chứng nhân của lịch sử; đƣa vào những số liệu thống kê cụ thể tạo cảm giác đáng tin
tƣởng. Truyền kì về bà cô Vạn Tâm (Ếch) đƣợc kể qua giọng kể của một ngƣời cháu (có lẽ
ít nhiều sẽ mang tính chủ quan) nhƣng lại chi tiết hóa đến những con số chính xác cao độ:
―Từ ngày 4 tháng 4 năm 1953 đến ngày 3 tháng 12 năm 1957, cô tôi đã tiến hành 1621 ca
đỡ đẻ, đƣa ra với đời 1645 đứa trẻ‖ [57;41]. Câu chuyện luân hồi trong Sống đọa thác đày
gắn với những thông tin chính xác về mặt thời gian và một nhân vật Mạc Ngôn trong vai
trò chứng nhân. Những câu chuyện truyền kì nửa hƣ nửa thực về Dƣ Một Thƣớc lại đƣợc
lƣu lại trong cuốn Những chuyện lạ ở Tửu Quốc khiến ngƣời ta có cảm giác nó thực nhiều
hơn hƣ…
Mạc Ngôn đã từng chia sẻ với độc giả về hai cách để tạo nên huyền thoại
trong đó rất quan trọng là sự ―tiểu thuyết hóa lịch sử‖, mà thông qua tài năng của
ngƣời kể chuyện, các nhân vật lịch sử và tƣởng tƣợng, những sự kiện thực và hƣ cấu
đều có thể nâng tầm thành huyền thoại. ―Lịch sử, với một ý nghĩa nào đó, chính là
chuyện truyền kì‖, đó là cảm nhận và cũng là kết luận của Mạc Ngôn. Kết luận này
đã sớm đƣợc đúc rút từ kinh nghiệm thực tế của ông khi nghe những câu chuyện lịch
sử đƣợc kể lại từ các bậc ông bà, cha mẹ của mình cũng nhƣ thực tế những cuốn
sách viết về lịch sử mà tiêu biểu là Sử kí của Tƣ Mã Thiên. Theo quan niệm của ông,
―lịch sử mà ngày nay chúng ta đƣợc đọc đều là lịch sử đã đƣợc các nhà sử học, các
nhà văn và đông đảo quần chúng nhân dân ra sức thổi phồng, đều là những sản
phẩm có yêu, có ghét hoặc yêu ghét rất rõ ràng. Chúng ta nói rằng nhƣ vậy là đƣợc
đọc lịch sử, sao cho bằng hãy nói chúng ta đang đọc truyện truyền kì‖. Lịch sử trong
các bộ sách giáo khoa không đáng tin, lịch sử truyền qua miệng lƣỡi dân gian cũng
không đáng tin. Tuy nhiên ―đối với một nhà văn mà nói, đƣơng nhiên tôi sẽ muốn
dựa vào truyền kì lịch sử của dân gian và tiếp thu những tinh hoa từ đó. Vì một tác
phẩm văn học muốn làm xúc động lòng ngƣời thì phải kể những câu chuyện gây
chấn động hồn ngƣời, phải tạo ra những nhân vật có tính cách mới mẻ khác với
ngƣời bình thƣờng, những nhân vật nhƣ vậy dƣờng nhƣ không tồn tại trong cuộc
sống hiện thực, còn trong câu chuyện cha ông kể lại thì lại có rất nhiều‖ [61;211-
212]. Quan niệm đó khẳng định tƣ tƣởng của Mạc Ngôn: cuối cùng huyền thoại và
128
niềm tin là quan trọng hơn so với lịch sử và những gì thực sự xảy ra. Thiết nghĩ, đó
là những dẫn chứng quan trọng khẳng định vị trí của phƣơng thức truyền kì và mối
quan hệ giữa ngƣời kể chuyện - truyền kì - huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn.
4.2.2. Phương thức “tầm căn”
Theo Từ điển Hán Việt, ―tầm‖ (尋) nghĩa là tìm/ tìm kiếm, dựa vào; ―căn‖ (根)
nghĩa gốc là rễ cây. Về sau, ngƣời ta dùng ―căn‖ để nói về phần dƣới, gốc của vật thể, đồng
thời cũng có nghĩa là nguồn gốc, cơ sở, nền móng, nền tảng‖ [12;509]. ―Tầm căn‖ (尋根)
là tìm gốc rễ/ tìm nguồn gốc, tìm về cội nguồn [12;1598]. Khái niệm ―tầm căn‖ gắn với
dòng văn học ―tầm căn‖ xuất hiện ở Trung Quốc vào năm 1985. Do xuất phát từ quan niệm
cho rằng văn học đƣơng đại Trung Quốc đã bị phƣơng Tây hóa, bị văn hóa và văn học
phƣơng Tây đƣa đến nguy cơ bị lãng quên, làm tổn thƣơng sâu sắc đến lòng tự hào dân tộc
của những cây bút chân chính, tuyên ngôn của dòng văn học ―tầm căn‖ là: ―Văn học có gốc
rễ, gốc rễ của văn học cần phải ăn sâu vào mảnh đất của văn hóa truyền thống. Rễ không
sâu, cành lá khó mọc‖ [85;49]. Trào lƣu ―tiểu thuyết tầm căn‖ chủ trƣơng ―tìm về nguồn,
gốc rễ của văn học truyền thống mấy nghìn năm xa xƣa của dân tộc Trung Hoa‖ [32;120].
Đây là những sáng tác ―vƣợt lên trên bình diện chính trị xã hội, thâm nhập vào tầng sâu lịch
sử để tiến hành những suy ngẫm văn hóa và nhân loại học đối với sự sinh tồn dân gian của
Trung Quốc và tính cách dân tộc‖ (Hàn Thiếu Công, theo [68;268]). Nó ―bắt nguồn từ ý
nguyện đồng cảm của bản thân đối với thân phận dân tộc mình và tình cảm chủ nghĩa văn
hóa dân tộc‖ [68;270] nảy sinh trong bối cảnh chuyển đổi mang tính hiện đại mạnh mẽ của
xã hội Trung Quốc và sự giao lƣu văn hóa với phƣơng Tây. Hàn Thiếu Công, đại diện tiêu
biểu của dòng văn học tầm căn đã chia nền văn hóa truyền thống Trung Quốc thành hai bộ
phận: ―qui phạm‖ và ―bất qui phạm‖. Trong đó, ông giữ thái độ từ chối, phủ định với văn
hóa qui phạm, là thứ văn hóa thành thị gắn với tƣ tƣởng Nho gia và khẳng định văn hóa
―bất qui phạm‖ - những nét văn hóa đang tồn tại trong phong tục tập quán ở những vùng
làng quê thôn dã xa xôi, trong truyền thuyết, dã sử, tƣ tƣởng Đạo gia, Thiền tông. Từ quan
niệm này của Hàn Thiếu Công, nhà nghiên cứu Lê Huy Tiêu cho rằng, tiểu thuyết tầm căn
gồm hai nhánh chủ yếu: ―tầm căn nguyên thủy‖ và ―tầm căn truyền thống‖. Tầm căn
nguyên thủy là việc các nhà tiểu thuyết ―thƣờng thông qua miêu tả cuộc sống nguyên thủy,
hoặc bán nguyên thủy của các dân tộc ở vùng thảo nguyên, sa mạc, rừng sâu, để ca ngợi
sức sống bền bỉ của ngƣời xƣa‖ [85;50] nhƣ những tác phẩm đậm ―văn hóa Sở‖ của Hàn
129
Thiếu Công, ―văn hóa Ngô Việt‖ của Lí Kháng Dục, văn hóa Tần Hán của Giả Bình Ao,…
―Tầm căn truyền thống nặng về mô tả cuộc sống tâm linh của ngƣời dân‖. Với chủ trƣơng
tìm về cội nguồn truyền thống của văn hóa Trung Hoa, ―quán triệt trong sự ―đào luyện và
đánh bóng‖ ý thức tự ngã dân tộc‖ ―trên phƣơng diện văn học nghệ thuật, trên phƣơng diện
tinh thần tầng sâu và văn hóa vật chất của dân tộc‖, đồng thời cũng đƣợc quán triệt trên cơ
sở ―vƣợt thoát khỏi vùng đứt đoạn văn hóa‖, tiếp tục trở lại nguồn mạch văn hóa dân tộc‖
[68;270-271], nên dù đặt ra vấn đề tìm về với cội nguồn văn hóa của nhân loại nhƣng cái
ƣu trội hơn hẳn vẫn là ―ý thức tự ngã dân tộc‖ không chỉ trên phƣơng diện văn học nghệ
thuật mà còn trên phƣơng diện tầng sâu văn hóa vật chất và tinh thần của dân tộc - rất đặc
trƣng cho nền văn hóa Trung Quốc.
Đƣợc gợi ý từ khuynh hƣớng tiểu thuyết tầm căn trong văn học, nhƣng trong mục
này, chúng tôi sử dụng khái niệm tầm căn không phải nhƣ một trào lƣu tiểu thuyết mà nhƣ
một phƣơng thức nghệ thuật: phương thức tầm căn hay phương thức tạo nên huyền thoại
từ việc trở về với cội nguồn để sáng tạo nên tác phẩm. Cũng trên khuynh hƣớng trở về với
văn hóa truyền thống, nhƣng tinh thần tầm căn của Mạc Ngôn chủ yếu đi vào tầng sâu ý
thức sinh mệnh dân gian nguyên thủy, không chỉ của dân gian Trung Quốc mà còn là của
loài ngƣời nói chung. Điều đó khiến cho tinh thần tầm căn của ông vừa mang tính ―hƣớng
nội‖, vừa mang tính ―hƣớng ngoại‖.
Biểu hiện đầu tiên của phƣơng thức tầm căn trong tiểu thuyết Mạc Ngôn là tầm căn
về đề tài. Chúng tôi đã nói về các huyền thoại nghi lễ và các cổ mẫu huyền thoại có thể tìm
thấy trong tiểu thuyết Mạc Ngôn. Đó là sự trở về với cội nguồn chung của nhân loại vừa
theo con đƣờng ―vô thức tập thể‖, vừa mang tinh thần ―tầm căn‖ một cách có ý thức. Nhà
văn sử dụng phƣơng thức ―tầm căn‖ để tái sinh huyền thoại theo một ý nghĩa mới. Các biểu
hiện của nghi lễ thụ pháp, nhƣ: cái chết tạm thời (Phƣơng Phú Quí), sự thử thách về mặt thể
xác (cuộc phẫu thuật thay đổi hình dạng Phƣơng Phú Quí); cái chết - tái sinh mang ý nghĩa
chuyển tiếp (sự ―sống lại‖ của Phƣơng Phú Quí trong vai Trƣơng Xích Cầu và ngƣợc lại);
hành trình thử thách… đều xuất hiện trong Thập tam bộ, nhƣng về mặt ý nghĩa thì hoàn
toàn biến đổi: cũng là loại bỏ một trạng thái cũ để sang trạng thái mới, cũng là sự ra đời của
một con ngƣời mới mẻ, song là để bắt đầu những mối quan hệ rắc rối và một chuỗi bi kịch
liên tiếp. Trong Ếch, Vạn Tâm, giống nhƣ nhiều nhân vật khác trong tiểu thuyết Mạc Ngôn,
trải qua lễ thụ pháp chủ yếu với những nỗi đau, thử thách về mặt tinh thần. Sự việc ―chết đi
sống lại‖ của Vạn Tâm ở cuối tác phẩm không chỉ mang ý nghĩa thức tỉnh đối với nhân vật
130
mà còn là sự nhìn lại nghiêm khắc của dân tộc Trung Hoa về một thời kì lịch sử mà những
chấn thƣơng thể xác và tâm lí không bao giờ có thể xóa nhòa. Hành động cho đầu vào sợi
dây thòng lọng của Vạn Tâm nhƣ một nghi thức thanh tẩy mà nhân vật bắt buộc phải trải
qua để có thể bƣớc sang một trang mới trong cuộc đời, an lòng hơn, thanh thản hơn. Phục
sinh đối với Vạn Tâm không phải là sự sống lại đơn thuần mà là sự khai sinh ra một con
ngƣời mới. Với nghi lễ ăn thịt ngƣời, một mặt Mạc Ngôn sử dụng truyền thống châm biếm
của Lỗ Tấn và tự mình thực hiện sứ mệnh phê bình xã hội. Mặt khác, ông thể hiện sự nhất
quán trong quyết tâm phơi bày sự đạo đức giả của con ngƣời- động vật cao cấp mà ông tin
rằng, cũng không văn minh hơn loài vật. Thông qua motif ăn thịt ngƣời, ông đã thể hiện sự
hoài nghi, châm biếm về bản tính của con ngƣời và sự lãng phí, tiêu cực trong ―xã hội tiêu
dùng‖ - một hỗn hợp méo mó của những yếu tố tồi tệ nhất của hệ thống chính trị tham
nhũng và thị trƣờng tự do tƣ bản - nhƣ một biểu tƣợng cho sự suy đồi của nền văn hóa. Thử
nghiệm chiến lƣợc tƣờng thuật mới, ông đã phơi bày sự lẫn lộn giữa hiện thực và hƣ cấu,
bản thân và ngƣời khác, kẻ ăn thịt ngƣời và ngƣời bị ăn thịt, mô tả quá trình chuyển đổi từ
―cứu lấy trẻ em‖ (Lỗ Tấn) sang ―ăn thịt trẻ em‖, từ sự ―tự cứu rỗi‖ (Lỗ Tấn) đến câu
chuyện tự hủy hoại trong kỷ nguyên của nền kinh tế thị trƣờng Trung Quốc sau năm 1989.
Nếu nhƣ trong nguyên lí tính Mẫu, đặc tính sinh dƣỡng đƣợc đề cao; thì trong Báu vật của
đời, nó còn đi đôi với sự diệt mà hình ảnh của Thƣợng Quan Kim Đồng, đứa trẻ to xác,
ngƣời đàn ông không chịu lớn là minh chứng. Cổ mẫu anh hùng khi đi vào tác phẩm Mạc
Ngôn cũng nảy sinh những nét nghĩa mới, góp phần làm phong phú định nghĩa về ngƣời
anh hùng huyền thoại.
Với chủ trƣơng tìm về gốc rễ, cội nguồn của văn hóa truyền thống, đề tài, chủ đề
của văn học tầm căn là tất cả những gì thuộc về nền văn hóa truyền thống dân tộc, mà nói
nhƣ nhà văn Phùng Kí Tài, đó có thể là những danh thành, danh trấn, danh phố, danh tác,
cho đến những phần mộ của các danh nhân và cả những nhân vật chính trong các tác phẩm
nổi tiếng - những thứ đƣợc coi là di sản văn hóa, là kết tinh hội tụ của tinh hoa văn hóa dân
tộc. Kế thừa tinh thần tầm căn này, đề tài mà Mạc Ngôn tập trung hƣớng đến là dân gian và
văn hóa dân gian, hay nói chính xác hơn là sức sống dân gian nguyên thủy - thứ sinh mệnh
đã đƣợc truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mạc Ngôn cho rằng sức sống kiên cƣờng
nhất chính là sức sống của dân gian. Sức sống ấy hiện hình qua ngƣời nông dân, ngƣời lao
động quần chúng Trung Quốc biết bao thế hệ. Bị quăng quật trƣớc bão táp cuộc đời và bão
táp của lịch sử, họ vẫn bản lĩnh kiên cƣờng trƣớc hoàn cảnh, đối diện với sự sống và cái
131
chết bằng một triết lí xuyên suốt: ―có sống ắt có chết, chết thì dễ, sống mới khó, càng khó
càng phải sống! Càng không sợ chết lại càng phải cố mà sống‖ [48;480]. Từ đây, tác phẩm
của ông phần lớn viết về ngƣời nông dân, ngƣời lao động quần chúng với tất cả vẻ đẹp,
hạnh phúc và cả những ti tiện, bất hạnh của họ. Đó là ngƣời mẹ nông dân Lỗ Thị, là ngƣời
kép hát Tôn Bính; là cuộc sống của những ngƣời dân nuôi trai ngọc, là số phận của ngƣời
nông dân trồng tỏi,…
Gắn liền với dân gian, sức sống dân gian là văn hóa tín ngƣỡng dân gian. Trong
việc lập bàn thờ và sùng bái Tiên Chim ở Báu vật của đời, chúng ta thấy có dáng dấp của
tín ngƣỡng vật linh và Đạo thần tiên. Hình thức thờ cúng bái vật đƣợc tái hiện qua việc thờ
Nhục thần và Ngũ Thông thần trong Tứ thập nhất pháo, thờ thần châu chấu trong Tổ tiên
có màng chân, thờ Bà Chúa Ngọc Trai trong Rừng xanh lá đỏ. Tín ngƣỡng thờ tổ và nghi
lễ thờ tổ có thể bắt gặp trong việc thực hiện nghi thức tôn giáo trƣớc ông tổ Cao Đài - ông
tổ của nghề đao phủ trong Đàn hương hình. Các phong tục (hoặc hủ tục) truyền thống cũng
đƣợc tái hiện nhƣ tục bó chân trong Báu vật của đời, Đàn hương hình; cƣới hỏi trong Cao
lương đỏ; gả đổi trong Cây tỏi nổi giận. Sinh hoạt văn hóa dân gian cũng xuất hiện trong
tiểu thuyết Mạc Ngôn nhƣ Chợ Tuyết trong Báu vật của đời, Miêu Xoang trong Đàn
hương hình, hát xẩm trong Cây tỏi nổi giận. Tất cả đã phần nào khắc hoạ bức tranh đời
sống văn hóa - tâm linh phong phú của ngƣời dân Trung Quốc. Đàn hương hình với hí kịch
Miêu Xoang là một tác phẩm thể hiện rất rõ tinh thần tầm căn dân gian này của Mạc Ngôn.
Trong phần ―Viết thêm‖ của Đàn hương hình, Mạc Ngôn đã chia sẻ: ―Cách đây hai
mƣơi năm, khi tôi mới bƣớc vào con đƣờng sáng tác, có hai loại âm thanh luôn xuất hiện
bất chợt trong ý thức tôi. Chúng nhƣ hai con hồ li tinh đẹp mê hồn bám riết tôi, khiến tôi
rạo rực không yên là tiếng tàu hỏa chạy hàng trăm năm trên đƣờng sắt Giao - Tế và làn điệu
trầm bổng, ai oán thê lƣơng của hí kịch Miêu Xoang. Miêu Xoang đƣợc khai sinh từ trong
dân gian, từ những ngƣời bình dân, có thể chỉ là anh bán hàng rong, ngƣời ăn mày, anh kép
hát. Bên cạnh tài năng xuất chúng ―xuất khẩu thành chƣơng, đặt câu ghép vần, vừa giản dị
lại vừa dễ hiểu, vừa tao nhã lại vừa hào hoa‖ [49;565], còn có mặt nữa rất quan trọng, đó là
tình cảm chân thành của ngƣời hát. Đặc trƣng của hí kịch là sự kết hợp nhuần nhuyễn của
âm nhạc, thoại nói, diễn hát, vũ đạo, tạp kĩ… Đặc trƣng của hí kịch Miêu Xoang là hát đệm
của giọng mèo. Khơi gợi cảm hứng từ Miêu Xoang, Mạc Ngôn cũng đồng thời dùng hí
kịch Miêu Xoang để kết cấu nên tác phẩm, đặt Miêu Xoang vào trong lời kể chuyện, trong
lời nói của nhân vật. Toàn bộ các chƣơng trong hai phần Đầu Phụng và Đuôi Beo đều đƣợc
132
mở đầu bằng điệu Miêu Xoang. Các điệu hát Miêu Xoang là lời tự thuật, tự giới thiệu của
nhân vật và diễn biến trong câu chuyện - giống nhƣ các nhân vật của sân khấu dân gian
truyền thống khi xuất hiện hay hát, nói một đoạn tự giới thiệu về mình. Thông qua đoạn mở
đầu đó, ngƣời ta có thể phần nào hình dung, nắm bắt đƣợc câu chuyện sẽ diễn ra. Không
chỉ vậy, điệu hát chứa đựng những tình cảm chân thực của nhân vật còn có ý nghĩa sâu sắc
trong việc thể hiện tâm trạng và mang tính chất dự báo cho những điều sẽ xảy ra trong câu
chuyện. Ví nhƣ ở điệu Miêu xoang ―Đàn hƣơng hình - Đại bi điệu‖ trong chƣơng đầu tiên
mang tên ―Mi Nƣơng kể lể‖. Với điệu hát này, có thể hình dung tất cả các sắc thái tâm
trạng của Mi Nƣơng trƣớc sự kiện cha đẻ là Tôn Bính bị cha nuôi- cũng là nhân tình của
mình bắt xử tử, mà ngƣời xử án phạt Đàn hƣơng hình lại chính là cha chồng. ―Đàn hƣơng
hình - Nhã điệu‖ trong chƣơng mƣời tám ―Tri huyện trăn trối‖ là sự thức tỉnh thực sự của
quan huyện Tiền Đinh. Vị quan huyện này đã sớm có ý thức về một vƣơng triều Mãn
Thanh thối nát nhƣng vì lòng tận trung, vì con đƣờng danh lợi mà vẫn ở mãi trong vòng
luẩn quẩn của mũ áo. Khi gỗ đàn hƣơng, thứ gỗ ―chỉ mọc nơi rừng thẳm, hoa nở về thu tựa
tuyết hồng. Sừng sững thân cao mƣời tám trƣợng. Đàn anh của loài cây, ngƣời hùng của
rừng (…) dáng vẻ anh hào (…). Gỗ đàn hƣơng tạc tƣợng, làm hƣơng án. Tích thiện - âm
công để cho đời!‖ [49;613] trở thành ―cọc xiên tù phạm‖ là lúc cáo chung của một vƣơng
triều. Với đoạn mở đầu này, có thể nói hành động giết chết Tôn Bính của Tiền Đinh ở cuối
truyện đã đƣợc dự báo trƣớc.
Không chỉ đóng vai trò mở đầu trong phần lớn câu chuyện, Miêu Xoang còn đƣợc
đặt vào lời của các nhân vật trong tác phẩm. Mạc Ngôn nói rằng, để hợp với cách đọc có
tính quảng trƣờng, ông đã ―cố ý sử dụng nhiều văn vần, hí kịch‖, thủ pháp tự sự, để ―đạt
hiệu quả thông thoáng, khoa trƣơng và giàu hình ảnh‖. Đó chính là ―nghệ thuật vừa kể vừa
hát trong dân gian từng là cơ sở của tiểu thuyết‖ [49;677]. Nhân vật của ông vì vậy mở
miệng ra là hát Miêu Xoang hoặc nói điệu Miêu Xoang. Quan huyện Tiền Đinh lúc tự tình
cùng Mi Nƣơng cũng có thể ―đúng phách đúng nhịp mà hát‖. Tôn Bính giữa pháp trƣờng
bi tráng vẫn vút lên tiếng ca mƣợt mà: ―Ngắm trời cao gió thu vàng lồng lộng, nhìn đất dày
cây cỏ xanh rờn, ta đây vốn anh kiệt hóa thân, dựng cờ nghĩa thay trời hành dạo, cứu Trung
Hoa kiếp nạn trầm luân‖ [49;575]. Anh chàng Giáp Con giữa lúc đóng cọc đàn hƣơng hình
vẫn đều đặn hát đệm những tiếng ―mi-ao mi-ao mi-ao…‖. Khi không hát Miêu Xoang thì
lời nói của nhân vật cũng là những câu văn biền ngẫu, đăng đối, đọc lên nghe du dƣơng,
hấp dẫn: ―không có trời thì không có đất, không có trứng thì không có gà, không có tình tiết
133
thì không có kịch, không có cha thì không có con, quần áo có thể thay, nhƣng cha thì chỉ có
một, không thể đổi cha này lấy cha khác" [49;19-20]. Sự xuyên suốt của âm điệu Miêu
Xoang trở thành cao trào trong cảnh hành hình Tôn Bính. Giữa pháp trƣờng sát khí đằng
đằng, Nghĩa miêu đầu đội mũ lông mèo, khoác áo lông mèo cất giọng ca bi thảm kể về
cuộc đời Tôn Bính, ngƣời xem, từ nha dịch đến dân chúng bỗng chốc đều hóa mèo, gào lên
những tiếng ―mi-ao‖ đệm theo lời hát. Cuộc biểu diễn ―long trời lở đất‖ của Nghĩa miêu ở
pháp trƣờng chính là vở diễn Miêu Xoang vĩ đại và bi tráng nhất. Nó cũng là khúc cao trào
của tiểu thuyết. Với cuộc biểu diễn này, ngƣời biểu biễn, ngƣời trên pháp trƣờng, quần
chúng hòa làm một. Đó là ―đỉnh cao‖ của sự hòa quyện âm hƣởng dân gian với hí kịch
Miêu Xoang vào trong tác phẩm. Đến đây, Đàn hương hình không chỉ là một tiểu thuyết,
nó đã trở thành vở hí kịch Miêu Xoang hoành tráng của Mạc Ngôn, một vở hí kịch mà
đúng nhƣ ông đã nói: ―Có lẽ, tiểu thuyết này nên tìm ngƣời có chất giọng khàn đọc to lên
cho xung quanh nghe, đây là cách đọc bằng nghe, là cách toàn bộ con ngƣời tham dự vào
việc đọc‖ [49;677]. Và với vở hí kịch ấy, ngƣời anh hùng dân gian là Tôn Bính đã trở thành
một huyền thoại đi vào trong tâm thức của ngƣời dân Đông Bắc Cao Mật.
Bên cạnh tầm căn đề tài, việc kế thừa các bút pháp nghệ thuật kể chuyện truyền thống
cũng có ý nghĩa rất lớn trong tạo dựng huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn. Mạc Ngôn tự
nhận mình chỉ là một ―ngƣời kể chuyện‖ và vì kể chuyện mà đƣợc tặng giải thƣờng Nobel.
Một điểm rất nổi bật trong sáng tác của Mạc Ngôn là vai trò đậm nét, phong phú và sáng tạo
của nhân vật ngƣời kể chuyện với nhiều ngôi kể, giọng kể khác nhau. Và nhƣ đã đƣợc lấy làm
tiêu đề cho diễn từ Nobel văn học, bên cạnh hệ thống nhân vật của các tác phẩm, tiểu thuyết
Mạc Ngôn xuất hiện một nhân vật ―ngƣời kể chuyện‖ xuyên suốt ở nhiều dạng biểu hiện khác
nhau. Trong vai trò của một ngƣời ―thuyết thƣ hiện đại‖, nghệ thuật kể của ―ngƣời kể chuyện‖
vừa hiện đại vừa kế thừa lối kể của dân gian và văn học truyền thống Trung Quốc. Mạc Ngôn
học đƣợc ở phƣơng cách kể chuyện truyền kì của thế hệ cha ông mình và các ―thuyết thoại
nhân‖ cách mà ngƣời kể có thể mặc sức dùng vốn liếng của mình, hƣ cấu, sáng tạo, thêm bớt
để đạt đến mục đích cuối cùng là tạo nên câu chuyện hấp dẫn, sinh động và thu hút ngƣời nghe.
Từ một ―cuộc sống chân thực nào đó trong lịch sử làm căn cứ, song đã thêm thắt cho mình vô
vàn hoa cỏ, nhà văn cũng giống nhƣ biết bao những ngƣời kể chuyện truyền thuyết, để lôi cuốn
độc giả, họ đã không ngừng thêm cành lá cho quê hƣơng trong cõi mộng của mình‖ [58;366].
Cách kể chuyện theo phƣơng thức truyền kì mà chúng tôi đã nói ở mục trên là một biểu hiện
tiêu biểu cho hình thức tầm căn đó.
134
Cùng với việc học tập phƣơng thức kể chuyện dân gian, nhiều sáng tác của Mạc
Ngôn cũng cho thấy sự kế thừa văn học truyền thống Trung Quốc ở một số quan niệm sáng
tác và bút pháp nghệ thuật. Thế giới văn học mang đậm màu sắc dân gian, hƣơng thổ, tràn
ngập các câu ca dao, tục ngữ dƣờng nhƣ là sự thấm nhuần tƣ tƣởng ―nhai đàm hạng thuyết
tất hữu khả thái‖ (lời ăn tiếng nói nơi ngõ phố cũng có cái đáng thu lƣợm) từng đƣợc Tào
Thực đƣa ra. Sự xuất hiện với tần suất lớn các yếu tố kì - ảo, sự kết hợp hài hòa giữa hai
yếu tố thực và hƣ, huyền và chân nằm trong mạch nguồn truyền thống ―phi kì bất kì‖, ―phi
kì nhi kì‖, ―ảo trung hữu chân‖, ―dĩ hƣ nhi thực‖, ―xuất nhi quí thực, dụng nhi quí hƣ‖,
―thực hƣ tƣơng sinh‖. Nhiều tác phẩm của Mạc Ngôn cho thấy ảnh hƣởng bút pháp nghệ
thuật của tiểu thuyết chƣơng hồi Trung Quốc. Chẳng hạn, về bố cục, có thể kể đến Sống
đọa thác đày. Tác phẩm này gồm năm quyển. Ở bốn quyển đầu, trƣớc khi bắt đầu từng
chƣơng, Mạc Ngôn đều sử dụng hai câu thơ bảy chữ, có tác dụng tóm tắt toàn bộ diễn biến
quan trọng của sự kiện diễn ra trong đó. Trong cặp câu thơ mở đầu (thƣờng là cặp câu thơ
đối) có hai sự kiện đƣợc dự báo trƣớc. Đó là cách mở đầu và cũng là kiểu dự thuật của tiểu
thuyết chƣơng hồi. Tuy không ―tầm căn‖ hoàn toàn cách mở đầu nhƣ trong Sống đọa thác
đày, Đàn hương hình và Cây tỏi nổi giận cũng gợi cho ngƣời đọc những liên tƣởng tới hình
thức tiểu thuyết cổ điển này ở phần mở đầu là các điệu hí khúc và hát xẩm. Gắn với việc
tầm căn về phƣơng diện hình thức, Mạc Ngôn cũng kế thừa phƣơng thức dẫn chuyện của
tiểu thuyết chƣơng hồi. Truyền kì là thành phần lồng ghép sử dụng theo bút pháp ―dĩ tân
thấn chủ” (lấy khách làm nổi bật chủ lên), ―tân chủ tƣơng sấn‖ (cả chủ và khách cùng làm
nổi bật nhau lên), ―hoành vân đoạn lĩnh‖ (mây chắn ngang núi), tạo nên ―ma trận tự sự‖ có
―sức cuốn hút ảo diệu‖, ―khơi lại mạch ngầm để dòng suối tự sự của cả ngàn năm trƣớc vẫn
còn róc rách chảy trong tiểu thuyết của hôm nay‖ [78;173]. Không chỉ có giá trị về mặt tự
sự, các thủ pháp nghệ thuật còn có ý nghĩa huyền thoại hóa nhân vật trong tiểu thuyết Mạc
Ngôn. Bút pháp ―dĩ tân thấn chủ‖ có tác dụng trong việc huyền thoại hóa nhân vật. Thông
qua truyền kì về cậu bé làm công có tửu nga, cậu thiếu niên si tình, cậu thiếu niên Dƣ Một
Thƣớc và mối tình với cô gái động Hoa Hạnh (Tửu quốc), Dƣ Một Thƣớc - chủ quán rƣợu
trở thành một kì nhân có hành tung bí ẩn và tài năng kì lạ. Câu chuyện về sự trả thù của ếch
đêm trăng (Ếch) khiến cho những truyền kì xung quanh Vạn Tâm vốn đã phong phú, kì ảo
lại càng thêm kì ảo. Truyền kì về Miêu Xoang (Đàn hương hình) góp phần tô đậm tài năng
của ngƣời anh hùng kép hát Tôn Bính. Giấc mơ (cả riêng và chung) sinh động nhƣ những
tấm ảnh màu của thầy giáo vật lí trƣờng Trung học số 8 và cô chuyên gia chỉnh dung làm
135
nổi bật ám ảnh từ trong tâm thức của từng ngƣời. Với thầy giáo vật lí, đó là sự day dứt về
lƣơng tâm (vì đã không vƣợt đƣợc qua cám dỗ nhục dục với cô chuyên gia chỉnh dung),
nỗi lo sợ đánh mất bản thể (quan hệ tình ái trên danh nghĩa của ngƣời khác), và dự báo kết
cục (―trên thiên đƣờng ngƣời ta không cho phép những ngƣời mặc đồng phục tồn tại‖
[56;438]). Với cô chuyên gia chỉnh dung, đó là sự giải tỏa của những ẩn ức (đặc biệt là ẩn
ức tình dục) ―vừa hoan lạc vừa thống khổ‖. Đặt giấc mơ của thầy giáo vật lí và giấc mơ của
cô chỉnh dung cạnh nhau, Mạc Ngôn cũng đồng thời tiến hành cuộc hành trình thăm dò
giấc mơ, tiềm thức của hai ngƣời và nỗi thống khổ trong tâm hồn của họ. Và thực tế, khó
có thể nói ai thống khổ hơn ai. Đó là hiệu quả đƣợc tạo nên từ bút pháp ―tân chủ tƣơng
sấn‖. Lối kết cấu theo kiểu song hành hai phần với hai ngƣời kể chuyện khác nhau trong
Cây tỏi nổi giận cũng vậy. Câu chuyện đƣợc kể lại bởi Khấu Mù là theo dòng sự kiện. Câu
chuyện đƣợc kể bởi nhân vật ngƣời kể chuyện truyền thống hàm ẩn là theo dòng cuộc đời
nhân vật. Sự kiện làm nổi bật bi kịch cuộc đời. Cuộc đời là minh chứng cho sự kiện. Cả hai
cùng nhau tổng hợp nên bức tranh toàn vẹn về hiện thực cuộc sống. Trong Báu vật của đời,
thông qua việc cảm giác hóa, bầu vú trở thành một sinh thể có đời sống riêng, sống động,
trở thành một nhân vật đặc biệt. Bầu vú và bà mẹ Lỗ Thị luôn luôn song hành với nhau, hài
hòa vào nhau, tôn lên vẻ đẹp của nhau, hoàn thiện nhau đồng thời hoàn thiện nên vẻ đẹp
của nguyên lí tính Mẫu - cổ mẫu vĩnh hằng của nhân loại. Dự thuật cũng là một hình thức
thƣờng gặp trong tiểu thuyết Mạc Ngôn. Hình thức dự thuật vốn đƣợc sử dụng khá phổ
biến trong văn học truyền thống Trung Quốc. Bên cạnh kiểu dự thuật theo kết cấu chƣơng
hồi trong Sống đọa thác đày, trong quá trình cấu tứ nên tác phẩm, Mạc Ngôn thƣờng đan
cài các sự kiện mang tính chất tiên báo cho diễn biến tiếp theo hoặc kết cục của câu chuyện.
Sự kiện ngoại tình của Lam Giải Phóng, sự kiện lợn Điêu Tiểu Tam trở thành mƣu sĩ của
Lợn Mƣời Sáu, Lợn Mƣời Sáu chết trong khi cứu trẻ con nhà Tây Môn (Sống đọa thác
đày); sự kiện em gái, mẹ bị chết, bố bị bắt (Tứ thập nhất pháo)…, đều đƣợc dự đoán trƣớc.
Dự thuật kết hợp với bút pháp ―hồi hoàn đốc tỏa‖ móc nối trở đi trở lại mang đến hiệu quả
nghệ thuật cao. Có thể lấy Thập tam bộ làm ví dụ. Kết thúc bi kịch của nhân vật đã đƣợc dự
đoán ngay từ tiêu đề tác phẩm, và tiếp tục trở đi trở lại nhiều lần gắn với truyền kì về con
chim sẻ đi bƣớc một đến bƣớc thứ mƣời ba. Dự thuật trƣớc nhƣng không vì thế mà làm
mất đi mà thậm chí còn làm tăng thêm tính hấp dẫn của tác phẩm. Đó chính là tài năng của
Mạc Ngôn.
Với những biểu hiện cụ thể và sinh động nhƣ vậy, tầm căn thực sự là một phƣơng
136
thức nghệ thuật có ý nghĩa trong quá trình sáng tạo của Mạc Ngôn nói chung, quá trình xây
dựng huyền thoại trong tiểu thuyết của ông nói riêng. Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định
rằng, đó là một tinh thần ―tầm căn‖ tiến bộ, tầm căn theo cách thức riêng, để lại dấu ấn
riêng. Xét về nội dung, Mạc Ngôn ―tầm căn‖ nền văn hóa truyền thống Trung Quốc nhƣng
cũng ý thức rất rõ việc ―không chỉ cần phải biết đến văn hóa truyền thống mà còn phải
hƣớng nó tới sự hợp lí, phê phán và kế thừa‖ [17;19]. Giống nhƣ nhà văn Lỗ Tấn từng làm,
Mạc Ngôn cũng đã dùng ngòi bút của mình để phê phán những tƣ tƣởng truyền thống lạc
hậu, sự ngu muội, ấu trĩ vẫn còn tồn tại trong một bộ phận quần chúng Trung Quốc. Đó là
tƣ tƣởng bất bình đẳng giới, trọng nam khinh nữ trong Báu vật của đời; đó là những con
ngƣời ―thị chúng‖ trong Đàn hương hình, Sống đọa thác đày; là sự ấu trĩ, ngu muội đến tàn
nhẫn, mất hết nhân tính của những ngƣời nông dân nghèo khổ, sẵn sàng bán con để kiếm
tiền trong Tửu Quốc… Xét từ góc độ hình thức, việc tầm căn cho thấy tinh thần sáng tạo
của Mạc Ngôn, sự đan xen giữa truyền thống với hiện đại, giữa bút pháp sáng tác kiểu
Trung Quốc với nghệ thuật tiểu thuyết thế giới. Kế thừa ngƣời kể chuyện truyền thống và
ngƣời kể chuyện thuyết thƣ dân gian, bằng ngòi bút của mình, ông đã tạo ra kiểu nhân vật
người kể chuyện xuyên suốt có sự biến hóa muôn hình vạn trạng. Mỗi giấc mộng trong Tổ
tiên có màng chân đều đƣợc kể lại bằng một nhân vật ngƣời kể chuyện xƣng ―tôi‖ nhƣng
không ―tôi‖ nào giống ―tôi‖ nào cả. ―Tôi‖ ban đầu còn ít nhiều có thể xác minh lai lịch, có
tên họ cụ thể (―tôi‖ - Can Ba trong Châu chấu đỏ; ―tôi‖ - Kim Đậu trong (Mùi) Hương hoa
hồng (nức mũi)). Càng về sau, ―tôi‖ càng trở nên mơ hồ, đƣợc xác minh qua ngƣời khác
(―tôi‖ - bố Thanh Cẩu trong Tổ tiên có màng chân; ―tôi‖ - con của ―cha tôi‖ trong Cô Hai
đến ngay sau đó); thậm chí nhƣ một ảo ảnh ( ―tôi‖ trong Báo thù, Vó ngựa giữa đầm lầy).
―Tôi‖ hòa lẫn giữa thực và ảo; kể chuyện lúc tỉnh thì ít, mà trong trạng thái mơ màng, nửa
tỉnh nửa thức; nửa ngƣời nửa ma thì nhiều. Quyển một đến quyển bốn của Sống đọa thác
đày đƣợc luân phiên kể bởi hai ngƣời kể chuyện xƣng ―tôi‖: Lam Ngàn Năm Đầu To và
Lam Giải Phóng. Đặc biệt, sử dụng motif luân hồi, chuyển kiếp, Mạc Ngôn đã gắn nhân
vật kể chuyện Lam Ngàn Năm Đầu To với nhiều điểm nhìn khác nhau: điểm nhìn của Tây
Môn Náo, Tây Môn Lừa, Tây Môn Trâu, Tây Môn Lợn, Tây Môn Khỉ và điểm nhìn của
bản thân nhân vật. Hiện thực của mảnh đất Đông Bắc Cao Mật nói riêng, Trung Quốc nói
chung đƣợc nhìn qua cặp mắt của vật - ngƣời vừa bản năng lại vừa mang tình cảm, nhận
thức nên bị bóc trần ở nhiều góc độ, có ảo, có thực, có bi, có hài. Xuất hiện từ bốn quyển
đầu nhƣng chỉ trong vai trò của một nhân vật; đến quyển năm, Mạc Ngôn trở thành ngƣời
137
kể chuyện tác giả toàn tri, đƣa câu chuyện trở về với cách kể chuyện truyền thống. Ba
ngƣời kể chuyện này bổ sung cho nhau, lấp vào những chỗ khuyết mà ngƣời kể chuyện kia
để lại; ngƣời này làm chứng nhân cho câu chuyện của ngƣời kia biến câu chuyện luân hồi
mang màu sắc liêu trai thành một câu chuyện đƣợc kiểm chứng và trở nên chân thực.
Trong Thập tam bộ, ngƣời kể chuyện truyền thống xuất hiện trong vai trò ―chúng tôi‖, phân
biệt với ngƣời kể chuyện nhân vật xƣng ―tôi‖. ―Tôi‖ kể chuyện đƣợc đặt vào tay hầu hết
các nhân vật trong tác phẩm, đan xen giữa ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba tạo
thành một ngƣời kể chuyện khó xác định… Nếu nhƣ trong truyền thống, dự thuật thƣờng
thông qua các motif tiên báo (bói toán, tiên tri, điềm báo…), thì trong sáng tác của Mạc
Ngôn, dự thuật đƣợc tổ chức thành những chiến lƣợc cụ thể mà Nguyễn Thị Tịnh Thy gọi
là ―dự thuật kiểu Mạc Ngôn‖ với hai hình thức dự thuật đơn và dự thuật kép. Tất cả đã cho
thấy tinh thần ―tầm căn‖ tiến bộ của nhà văn.
Nhờ việc ―tầm căn‖ cội nguồn văn hóa, văn học của Trung Quốc nói riêng, nhân
loại nói chung, sáng tác của Mạc Ngôn đã vƣợt ra khỏi phạm vi Trung Quốc để vƣơn đến
tầm nhân loại, đƣợc thế giới công nhận. Với đặc điểm này, phƣơng thức tầm căn thực sự
trở thành một trong những con đƣờng huyền thoại hóa của tiểu thuyết Mạc Ngôn.
4.2.3. Phương thức giải huyền thoại
Có thể nói, huyền thoại trong sáng tác của Mạc Ngôn chủ yếu đƣợc tạo nên từ hai
phƣơng thức truyền kì và tầm căn, trong đó truyền kì là phƣơng thức chủ đạo, đƣợc áp
dụng xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Hai phƣơng thức này đã thể hiện những nét riêng trong
nghệ thuật huyền thoại hóa của Mạc Ngôn, là sự kết hợp giữa tài năng sáng tạo cá nhân,
những thủ pháp nghệ thuật truyền thống của Trung Quốc đồng thời có sự tiếp thu nhất định
từ thế giới. Bên cạnh hai phƣơng thức chủ yếu này, độc giả có thể bắt gặp một phƣơng thức
huyền thoại hóa cũng đƣợc sử dụng với tần suất tƣơng đối lớn là ―giải huyền thoại‖.
Vấn đề ―giải huyền thoại‖, nhƣ chúng tôi đã đề cập ở phần lí thuyết, trên thực tế xuất
phát từ quan niệm cho rằng huyền thoại là những điều dối trá, sai lầm, không có thật, mang lại
cho con ngƣời ta niềm tin mù quáng bất chấp đúng sai. R. Barthes trong Những huyền thoại,
bằng cách liệt kê hàng loạt các sự kiện trong thực tế đời sống, biến chúng thành huyền thoại
thông qua việc đặt vào trong một hệ thống siêu kí hiệu, đồng thời đã đƣa ra vấn đề giải huyền
thoại nhƣ là một kĩ thuật, một phƣơng pháp tạo ra sự thức tỉnh về mặt chính trị và xã hội, tẩy
rửa vầng hào quang huyền thoại, ―tính thiêng liêng thần bí giả tạo bao quanh những sự vật‖.
Cùng với sự hoài nghi trong triết học và đời sống, văn học hậu hiện đại cũng diễn ra sự hoài
138
nghi với các đại tự sự. Tâm thế hậu hiện đại với sự hoài nghi sâu sắc các đại tự sự đã ―giải trung
tâm‖, ―giải cấu trúc‖, ―giải thiêng‖ lịch sử, và ―mỉa mai trở thành một thuộc tính hậu hiện đại.
Với tính chất ―chuyên chở những câu chuyện mẫu, những ―tình huống mẫu‖ đồng thời là chất
liệu nghệ thuật dồi dào, huyền thoại thực chất là một biểu tƣợng nghệ thuật lớn. Trải qua thời
gian, những biểu tƣợng này luôn đƣợc làm mới. Một mặt, chúng vừa tạo ra quá trình ổn định
ngữ nghĩa trong tâm thức cộng đồng, nhƣng mặt khác chúng cũng bị biến đổi, bị giễu nhại,
thậm chí là tháo gỡ cấu trúc để phù hợp hơn với những ý tƣởng, biểu hiện mới của thời đại.
Song song với quá trình huyền thoại hóa luôn diễn ra quá trình giải huyền thoại, thậm chí là phá
vỡ huyền thoại của văn hóa đại chúng‖ [179]. Vấn đề giải huyền thoại không phải đến thời kì
hậu hiện đại mới xuất hiện nhƣng phải đến thời kì này, cùng với sự hoài nghi lí trí, hoài nghi
chân lí, hoài nghi các giá trị đƣợc xem là vĩnh hằng, nó mới đƣợc đặt ra một cách mạnh mẽ hơn
bao giờ hết, trở thành một mặt không thể thiếu trong huyền thoại hiện đại. Tìm hiểu phƣơng
thức huyền thoại hóa cũng đồng thời phải tìm hiểu về phƣơng thức giải huyền thoại trong tiểu
thuyết Mạc Ngôn.
Sống đọa thác đày, Ếch, Tửu quốc là những tác phẩm tiêu biểu cho xu hƣớng giải
huyền thoại lịch sử trong tiểu thuyết Mạc Ngôn. Tại đây, các giai đoạn và nhiều vấn đề lớn
của lịch sử đất nƣớc Trung Quốc đã đƣợc đƣa vào trang văn trong một cái nhìn ―phản tƣ‖
sâu sắc. Ếch đề cập đến giai đoạn Trung Quốc áp dụng chính sách kế hoạch hóa gia đình,
hạn chế mỗi cặp gia đình chỉ sinh một con. Gần 40 năm thực thi nghiêm khắc, chính sách
này đã có hiệu quả trong việc giảm thiểu tốc độ gia tăng dân số, nhƣng những hệ lụy mà nó
để lại cũng không hề nhỏ. Bằng chính sách sinh đẻ có kế hoạch, chính phủ Trung Quốc
mong muốn kiểm soát dân số để thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, chấp nhận ―hi sinh một thứ
nhân đạo nhỏ nhoi để đạt đƣợc một sự nhân đạo vĩ đại‖ [57;227] nhƣng những chấn
thƣơng tâm lí và thể xác của con ngƣời trong thời kì ấy sẽ không bao giờ có thể xóa nhòa.
Thông qua việc khắc họa bi kịch, số phận các nhân vật (Vƣơng Mĩ Nhân, Khoa Đẩu, Trần
Mi, Vƣơng Đảm…), Mạc Ngôn không ngần ngại vạch trần mặt trái, góc khuất của chế độ,
chính sách từng áp dụng ở đất nƣớc Trung Quốc. Tình cảm, thái độ của tác giả thể hiện qua
nhân vật trung tâm của tác phẩm - Vạn Tâm - cũng chính là cái nhìn của ông về giai đoạn
đó. Sống đọa thác đày phản ánh lịch sử đầy biến động của Trung Quốc trong vòng hơn 50
năm. Cũng giống nhƣ trong Ếch, tác giả thông qua sự song hành của hai cuộc đời Tây Môn
Náo và Lam Mặt Xanh, đã đặt ra nhiều vấn đề, trong đó có cả những phản đề về hàng loạt
các vấn đề lớn trong lịch sử Trung Quốc nhƣ cải cách ruộng đất, cách mạng văn hóa, cải
139
cách mở cửa, công xã và cá thể… Tửu Quốc vạch trần mặt trái đằng sau một đất nƣớc
Trung Quốc đang phát triển là sự đi xuống nghiêm trọng về mặt nhân cách và đạo đức của
một bộ phận lớn những kẻ quan liêu, tham nhũng.
Cùng với giải huyền thoại lịch sử là giải huyền thoại về ngƣời anh hùng- những con
ngƣời vừa mang phẩm chất của một trang hảo hán, dũng cảm, phi thƣờng, vừa đồng thời là
một con ngƣời bình thƣờng, thậm chí thấp hèn, bạc nhƣợc và ti tiện. ―Ông bà tôi‖, Tƣ Mã
Khố, Hàn Chim, Tôn Bính,… đều thuộc kiểu nhân vật nhƣ vậy. Đặc biệt, xây dựng theo
kiểu truyện giả trinh thám, trong tiểu thuyết Tửu Quốc, nhân vật Đinh Câu hiện lên là một
sự giễu nhại chủ nghĩa anh hùng - hiệp sĩ. Đinh Câu - ―trinh sát viên số một của viện kiểm
sát‖ - là một kẻ ―dùng chim phá án‖. Đinh Câu đến thành phố Rƣợu với một quyết tâm sôi
sục có thể vạch trần bè lũ ăn thịt ngƣời. Nhƣng rút cuộc, đó chỉ là một kẻ ―vừa yêu vừa ghét
cuộc sống‖, ―luôn dao động, không quyết đƣợc bề nào‖ [52;24]. Niềm hi vọng lớn (vì có
viên trinh sát viên ngoại hạng của viện kiểm sát điều tra) nên thất vọng càng nhiều (vì đó
rốt cuộc cũng chỉ là một kẻ chẳng ra gì). Đã có lúc, Đinh Câu chĩa súng thẳng vào mặt của
bọn Phan Kim Cƣơng, bí thƣ, giám đốc mỏ nhƣng rồi viên đạn lại bắn vào chính đầu thằng
nhỏ vàng ƣơm đang ngồi trên mâm, có nụ cƣời thiên thần kia. Bản thân nhu nhƣợc, hay
dao động nên phần lớn trong quá trình phá án, lí trí của Đinh Câu nhƣ con bƣớm chui khỏi
kén, bay lƣợn trên không trung, nhìn ngó cái thân xác hôi hám, bầy nhầy, nhếch nhác của
anh ta. Kẻ chĩa súng vào bọn ăn thịt ngƣời ngay sau đó cũng là kẻ ―cầm lên một miếng
cánh tay, nhắm mắt, đút vào miệng, ối trời ơi, những gai trên đầu lƣỡi nhảy cẫng lên hoan
hô, các cơ miệng liên tục co bóp, từ cổ họng thò ra một cánh tay bé xíu, vồ lấy miếng thịt
lôi vào‖ [52;143], là kẻ ―bỏ đũa, bất chấp dầu mỡ nhầy nhụa, cầm cả hai tay (nửa cánh tay
trẻ con - ngƣời viết) mà gặm‖ [52;144] - cũng là một kẻ ăn thịt ngƣời. Hiếm hoi, lí trí chui
trở lại vỏ kén, hừng hực ý chí phá án thì cũng là lúc anh ta bị cơn ghen tuông làm cho mù
quáng. Bắn chết Dƣ Một Thƣớc và nữ xế - ngƣời tình nguyện đồng hành, cũng là ngƣời
mang đến hi vọng có thể phơi bày chân tƣớng sự việc nhờ ―mọi chuyện lớn nhỏ trong Tửu
Quốc ngƣời này đều biết‖ - trong cơn ảo giác, kẻ truy bắt tội phạm lại trở thành kẻ phạm
tội. Tất cả hi vọng về một anh ―trinh sát viên ngoại hạng‖ cuối cùng chết chìm cùng với
―những thứ bẩn: rƣợu- thịt và thịt- rƣợu do ngƣời thành phố Rƣợu nôn oẹ ra đã lên men,
những chiếc bao cao su nổi lềnh bềnh‖, ―Các chất dơ bẩn không chút lịch sự, bịt miệng anh
lại, sức hút của trái đất kéo anh xuống, chỉ vài giây sau, những thứ thiêng liêng nhƣ lí
tƣởng, chính nghĩa, tôn nghiêm, vinh dự, tình yêu… chìm xuống đáy cùng với anh trinh sát
ngoại hạng nhiều nỗi truân chuyên‖ [52;527].
140
Không chỉ giải huyền thoại đối với lịch sử, ở tiểu thuyết Mạc Ngôn, chúng tôi còn
nhận thấy xu hƣớng giải huyền thoại Kinh Thánh, không phải nhằm mục đích tuyên truyền
hay thể hiện quan điểm tôn giáo mà chỉ nhƣ một phƣơng tiện để phơi bày hiện thực cuộc
sống và bi kịch của con ngƣời. Trong Tửu Quốc, thằng tiểu yêu là sự trộn lẫn giữa vai trò
của một Đấng Cứu Thế (tình nguyện chịu cảnh trẻ thịt để thức tỉnh và cứu giúp bọn trẻ) và
một quỷ Satan (thực hiện ý tƣởng của mình bằng một con đƣờng tàn bạo đầy máu). Trong
Trại nuôi trẻ thịt, nó đã ―khai sáng‖ cho lũ trẻ ngây thơ về bản chất ăn thịt ngƣời của xã hội
và phơi bày bản chất ấy ra ngoài ánh sáng: ―Chúng mày từ khi chào đời cho đến hôm nay
chƣa bao giờ là con ngƣời. Bố mẹ bay đã bán bọn bay nhƣ bán lợn, bán dê‖ [52;168]. Nó
trang bị cho bọn trẻ ý chí và sức mạnh để biến chúng thành những ―chiến sĩ‖, những ―trang
hảo hán dám đấu tranh dám giành thắng lợi‖ trƣớc ―bọn mƣu toan ăn thịt mình‖ [52;169]:
―Trong giờ phú nguy nan này, chúng ta phải lập tức trƣởng thành. Trong một đêm phải trở
thành anh hùng hảo hán đội trời đạp đất ở đời, không đƣợc khóc, không đƣợc rên rỉ. Muốn
không bị ăn thịt chúng ta phải đoàn kết thành một tập thể gang thép‖; ―Ta sẽ biến thành
những con nhím thép, lợn rừng thép, đâm nát mồm miệng môi lƣỡi loài thú dữ ăn thịt
ngƣời‖ [52;172]. Nhƣng tiếc rằng, con đƣờng khai sáng và đòi lại công bằng đó lại diễn ra
bằng máu, bằng chính cái cách mà chúng đang bị đối xử, và cũng man rợ không kém. Dƣới
bàn tay của thằng tiểu yêu, ông già đƣa cơm bị móc mắt, bóp cổ cho đến chết. Và rồi, dƣới
sự chỉ huy của thằng tiểu yêu, cả lũ trẻ ngây thơ bỗng nhiên biến thành những kẻ sát nhân
khát máu. Chúng hào hứng nhét đất vào cái mồm đang trào máu của ông già, chẳng mấy
chốc đã chôn vùi ông ta trong đống đất cát. ―Những thằng lỏi con đó sau khi làm lễ rửa tội
bằng cuộc chiến đấu tiêu diệt diều hâu, đứa nào đứa ấy trở nên dã man và gian giảo‖
[52;185], mang lại cho nhân vật mẹ vợ Lí Một Gáo cảm giác nhƣ dẫn lũ trẻ hung dữ ―chạy
trốn khỏi sào huyệt của bọn ma quỷ‖. ―Lễ rửa tội‖ trong Kinh Thánh là một nghi lễ thiêng
liêng biểu tƣợng cho sự thanh tẩy tội lỗi. Còn ở đây, ―lễ rửa tội‖ lại là một cách dùng để ám
dụ cho việc bƣớc chân vào tội lỗi. Những đứa trẻ ngây thơ nhƣ thiên sứ đã chính thức bƣớc
chân vào địa hạt của quỷ dữ và đang trên con đƣờng biến thành quỷ dữ. Với xu hƣớng ―giải
huyền thoại‖ theo cách riêng của mình, Mạc Ngôn thổi vào tác phẩm những vấn đề mới
nóng bỏng của nhân sinh và thời đại, truyền đến những thông điệp về nhân cách, phẩm giá
và số phận của con ngƣời đầy ý nghĩa.
Phƣơng thức giải huyền thoại tiêu biểu mà Mạc Ngôn sử dụng là carnaval hóa.
Carnaval hóa là khái niệm đƣợc khởi xƣớng bởi M. Bakhtin nhằm diễn tả sự ảnh hƣởng
của carnaval (từ nguyên chỉ lễ hội giả trang) đối với văn học. Khi đó, hiện tƣợng carnaval
141
có ý nghĩa rất rộng, nhƣ là tổng thể các lễ hội có nguồn gốc khác nhau mà điểm nổi bật là
niềm vui hội hè của nhân dân. Thông qua công trình Sáng tác của Francois Rabelais và
nền văn hóa dân gian trung cổ và phục hưng, M. Bakhtin nhấn mạnh bản chất của carnaval
là cái nghịch dị và trào tiếu. Đặc trƣng của nghịch dị là tính hƣ cấu tự do và tính hai chiều
(cái cao cả với cái tầm thƣờng, cái thiêng liêng với trần tục, thông thái với xuẩn ngốc, vĩ đại
với hèn mọn...) nhƣ sự không hoàn kết của thế giới. Đặc trƣng của trào tiếu là tiếng cƣời có
tính chất hai mặt: vừa vui nhộn vừa nghiêm túc, vừa phủ nhận vừa tiếp nhận. Nét đặc điểm
quan trọng nhất của carnaval hóa văn học là ―thi pháp thế giới lộn trái, tính lƣỡng diện của
thế giới nghệ thuật, tính đa phong cách và tính đối thoại đƣợc hiểu theo nghĩa rộng đƣợc
tạo ra nhờ sử dụng các hình thức và các thể loại phát ngôn khác nhau, trong đó có ngôn ngữ
đƣờng phố - thân mật, màu sắc hài hƣớc - giễu nhại mạnh mẽ, các trò chơi bằng những sơ
đồ văn học, đặt các nhân vật văn học vào những ngữ cảnh tu từ xa lạ, kết hợp những mô
hình trái ngƣợc‖ [180]. M. Meletinsky trong Thi pháp của huyền thoại cho rằng: ―sẽ không
thể hiểu đƣợc chủ nghĩa huyền thoại ở thế kỉ XX nếu nhƣ thiếu đi sự hài hƣớc và giễu nhại
tất yếu nảy sinh từ chính việc các nhà văn hiện đại quay về với huyền thoại cổ đại‖
[44;449]. Nếu trong văn hóa dân gian và văn học trung cổ, tiếp nối trực tiếp truyền thống
huyền thoại, carnaval giống nhƣ một ―lỗ thoát hơi‖ ở một thế giới có những qui định
nghiêm ngặt, một mô hình tổng quát bắt buộc tuân thủ về thế giới thì ―trong tiểu thuyết
huyền thoại hóa thế kỉ XX, sự giễu nhại và tính chất carnaval trái lại thể hiện một sự tự do
không hạn chế của nhà nghệ sĩ hiện đại đối với hệ biểu tƣợng truyền thống đã từ lâu mất
tính bắt buộc của chúng nhƣng hãy còn giữ đƣợc sự hấp dẫn với tƣ cách là phƣơng tiện ẩn
dụ hóa những yếu tố của ý thức hiện đại đƣợc các nhà văn tiếp nhận nhƣ là những yếu tố
vĩnh cửu và phổ quát‖ [44;50]. Tiểu thuyết Mạc Ngôn giải huyền thoại bằng nghịch dị và
tiếng cƣời trào tiếu qua ngôn ngữ và giọng điệu bỡn cợt, khoa trƣơng, giễu nhại, tạo nên
tiếng cƣời từ hài hƣớc đến châm biếm sâu cay.
Trƣớc hết, giọng điệu bỡn cợt đƣợc tạo nên từ sự trái ngƣợc về sắc thái của hai vế
trong một câu hoặc hai câu, hại đoạn văn liền kề nhau. Vế đầu, câu đầu, đoạn văn đầu đang
nói với một giọng văn nghiêm túc thì ngay lập tức sau đó lại chêm vào những câu bỡn cợt
hoặc ngƣợc lại, làm đảo chiều sắc thái của câu văn, đoạn văn. Trong Đàn hương hình¸ đoạn
văn nghiêm túc nói về việc làm đẹp đẽ của quan huyện Tiền Đinh: ―dầm dãi phong sƣơng
thâu đêm suốt sáng‖ gấp rút trong đêm đi kêu oan cho dân chúng Mã Tang đi liền với
những câu văn mang màu sắc bỡn cợt là một ví dụ: ―Hai ngƣời dìu quan huyện ngồi xuống
142
ghế đẩu bên bếp. Đít to mà ghế nhỏ nên quan huyện bị ngã chổng vó‖. Đối với ngƣời anh
hùng Tôn Bính là sự đối lập giữa vẻ oai hùng mang chất kịch khi trở về cùng đội quân
Nghĩa hòa quyền với dáng vẻ thực tế không khác gì một kép hát, thậm chí có phần đáng
thƣơng. Vị lãnh tụ khởi nghĩa ―cƣỡi con ngựa màu táo chín, đi trƣớc dẫn đƣờng. Hai chân
sau con ngựa bị trụi một vệt lông vì dây kéo miết vào, chỗ da trụi có màu đen. Cặp mông
gầy giơ xƣơng nhoe nhoét phân lỏng‖ [49;432]. Đội quân Nghĩa hòa quyền khi bắt đầu
xuất phát ―dòng máu căng lên trong huyết quản‖, ―tinh thần phấn chấn‖, ―nhảy nhót nhƣ hổ
báo sài lang‖, ―tƣ thế hùng dũng khác thƣờng‖, nhƣng đến gần khu lều trại của giặc thì ―lộn
xộn chẳng ra thể thống gì‖. Trong quyển ba ―Kiếp lợn hoan lạc‖ của Sống đọa thác đày,
Mạc Ngôn đã mƣợn lời của Lợn Mƣời Sáu để phát ngôn ra hàng loạt những câu bỡn cợt
kiểu nhƣ vậy: ―Cách mạng cải tạo xã hội, đàn bà cải tạo đàn ông‖ [54;275]. Đột ngột thay
đổi về giọng điệu, Mạc Ngôn đã tạo nên những bƣớc ngoặt bất ngờ so với mạch cảm xúc
và tầm đón đợi của ngƣời đọc, tạo nên những tràng cƣời sảng khoái nhƣng đằng sau lại ẩn
chứa nhiều tầng lớp ý nghĩa sâu cay.
Tiếng cƣời trào tiếu cũng đƣợc tạo nên từ sự nghịch dị giữa tính cách, địa vị ngƣời
nói và phát ngôn của họ. Đây là hình thức đƣợc Mạc Ngôn sử dụng khá phổ biến trong
khi giải huyền thoại hóa về lịch sử và nhân vật anh hùng. Trong Đàn hương hình, Mạc
Ngôn đã đặt vào miệng vua Hàm Phong những lời lẽ hết sức ―bình dân‖ khi quá tức giận
vì bị ăn trộm khẩu súng quí: ―Tên Mọt, Trẫm đ. vào tổ tông tám đời nhà ngƣơi. Nhà
ngƣơi dám vuốt râu cọp! To gan! Dám ăn cắp ngay trong nhà Trẫm! Phải cho ngƣơi biết
thế nào là lợi hại, để không uổng Trẫm ở ngôi vua‖ [49;61]. Những mệnh quan triều đình
nhƣ Viên Thế Khải, Tiền Đinh, đấng chăn chiên Malôa cũng không ngại ngần vung ra
những câu chửi tục tĩu. Ngƣời anh hùng bình dân của Mạc Ngôn có khi phát ngôn ra
những câu đầy nghĩa khí nhƣng cũng có khi nói ngôn ngữ thông tục, thô tục của ngƣời
bình dân. Ngay cả trong những lúc phong thái uy nghiêm nhất, ung dung đĩnh đạc nhất,
Mạc Ngôn vẫn không ngần ngại ―chêm‖ vào đó một vài câu bình luận hài hƣớc, để cho
nhân vật anh hùng buột miệng nói ra những câu nói hết sức bản năng. Tƣ Mã Khố lúc
trƣớc, trên đƣờng ra pháp trƣờng nghênh ngang ―vừa ngửi bông hoa vàng vừa bƣớc vào
cổng xép, miệng hát một đoạn trong bài ca chống Nhật, phong thái ung dung‖; thì lúc sau,
đến khi bị xử bắn, những tƣởng anh ta sẽ phải hô một câu khẩu hiệu bi tráng, nào ngờ:
―Một đạo hồng quang sáng rực trên đê, mùi đàn bà bao trùm lên tất cả. Tƣ Mã Khố la to:
- Ôi, đàn bà mới là những ngƣời tốt nhất trên đời‖… Bên cạnh đó, cũng có khi nhà văn để
cho những ngƣời nông dân chất phác nói những lời hoa mĩ, văn vẻ. Bố mẹ La Tiểu
143
Thông (Tứ thập nhất pháo) khi cãi nhau cũng dùng tục ngữ: ―Mẹ oán hận nói: Tôi chỉ là
―thợ mộc què tay, tự làm tự chịu‖ - Bố nói: Bà chớ đem lòng quân tử mà soi bụng tiểu
nhân‖; ―Bố nói: Không có gió thì sóng không gợn, có lửa mới có khói! ―Bố nói: Cô
không nên lấy bụng quân tử để đo kẻ tiểu nhân. Mẹ nói: Lòng tôi chẳng bậy, chẳng sợ quỉ
gõ cửa‖ [55;599]. Thông qua việc sử dụng ngôn ngữ, nhà văn khẳng định sự bình đẳng về
ngôn ngữ, đồng thời vạch trần bản chất cũng nhƣ thể hiện chân thực bản năng, đời sống
tinh thần, tâm tƣ của con ngƣời.
Trong nhiều trƣờng hợp, giọng điệu bỡn cợt đƣợc tạo nên từ sự đối lập giữa ý
nghĩa, vai trò sự kiện với thái độ của ngƣời tiếp nhận thể hiện qua các bình luận chêm xen
của nhân vật ngƣời kể chuyện ngôi thứ ba. Nếu nhƣ chỉ quan tâm đến riêng nội dung câu
chuyện về hành trình lƣu lạc của Hàn Chim (Báu vật của đời), chúng ta có thể hình dung về
dáng dấp của một ngƣời anh hùng đứng ở ranh giới của sự sống và cái chết vẫn dũng cảm
vƣợt qua biết bao khổ ải để trở về quê hƣơng. Ngƣời anh hùng ấy càng vĩ đại hơn khi mƣời
ba năm lƣu lạc đã nêu cao tinh thần yêu nƣớc kháng Nhật. Thế nhƣng, ngay trong khi xây
dựng hình tƣợng một ngƣời anh hùng nhƣ vậy, Mạc Ngôn cũng đồng thời ―giải huyền
thoại‖ bằng những đoạn văn mang tính chất giễu cợt. Khi Hàn Chim kể về cuộc đối thoại -
đối đầu của mình với sói, ―đám đông dƣới khán đài không nhịn đƣợc cƣời‖ [48;524]. Khi
anh ta kể chuyện đánh nhau với gấu, ―khiến những ngƣời từng đến Quan Đông ngờ ngợ.
Họ có đƣợc nghe chuyện nhƣ vậy với con gấu nhƣng ngƣời làm chuyện đó là một phụ nữ
xinh đẹp, mà con gấu thì thuộc loại thích trêu ghẹo phụ nữ. Hàn Chim đang nổi tiếng nên
họ đành để bụng, không ai dám bắt bẻ‖ [48;525]. Chỉ với ngần ấy thôi cũng khiến cho câu
chuyện của Hàn Chim trở nên không thật, những sự việc phi thƣờng mà anh ta từng trải
qua cũng trở nên không thật, và vì vậy, vai trò ngƣời anh hùng của Hàn Chim cũng đứng
trƣớc nguy cơ bị lung lay. Trong Rừng xanh lá đỏ, đối lập với sự thành kính của Ngọc Trai
trƣớc bức tranh Bà chúa Ngọc Trai là nhận xét của ngƣời kể chuyện: ―Trong tranh, thiếu
phụ béo tốt cằm hai ngấn, nheo cặp mắt lá răm, miệng phụng phịu, thần sắc ba phần nhân
từ, ba phần mỉa mai, ba phần nũng nịu, một phần không hiểu nên gọi là gì. Nhƣng đó là
cảm tƣởng của chúng ta, còn với Ngọc Trai, cô không đƣợc bình phẩm về tƣớng mạo Bà
chúa‖ [50;441]. Trong Đàn hương hình, tính chất hí kịch của phong trào Nghĩa hòa quyền
do Tôn Bính là chủ soái đã thể hiện ngay từ khi họ xuất đầu lộ diện. Nhìn tƣớng thuộc hạ
của Tôn Bính là Tôn Ngộ Không biểu diễn, ―mọi ngƣời rất buồn cƣời mà không dám
cƣời‖. Bát Giới thì ―kéo lê đinh ba, ngơ ngẩn cƣời khì với đám đông, y nhƣ anh ngố dung
đinh ba đảo phân‖ khiến cho ―dân chúng đã bắt đầu ngán, lại vừa buồn cƣời‖ sau không
144
nhịn đƣợc mà ―bật cƣời ha hả‖. Đội quân kháng Nhật vốn đang cần thể hiện uy danh, thông
qua những bình luận kiểu nhƣ vậy bỗng trở nên hài hƣớc.
Đối với huyền thoại Kinh Thánh trong Báu vật của đời, giọng điệu bỡn cợt đƣợc
tạo nên từ việc ghép yếu tố thiêng liêng với trần tục. Không ít lần trong tác phẩm xuất hiện
những chi tiết kiểu: vì ngấm nƣớc mƣa nên ―khuôn mặt Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng trở nên
ngắn ngủn, đần độn và nanh nọc‖ [48;7]; Tƣợng chúa Jesus bị đóng đinh câu rút đƣợc miêu
tả là ―một ngƣời đàn ông cởi trần tạc bằng gỗ táo bị đóng đinh trên giá. Do tài nghệ quá
kém hoặc do gỗ táo quá rắn, nên cái tƣợng không giống ngƣời chút nào‖; ―Phòng nguyện
còn để linh tinh những chiếc ghế băng, bám đầy bụi và phân chim‖ [48;100]; ―Chúa Giê-su
trên đầu toàn cứt chim‖ [48;105]. Hơn hết là thái độ bất kính, phỉ báng thần thánh của bọn
đội viên lính Hỏa Mai: ―Ngƣời này - Anh ta chỉ lên Chúa Giê-su bằng gỗ táo - sinh ra trong
chuồng ngựa. Lừa và ngựa rất gần gũi, chúa của anh đã mắc nợ con ngựa, cầm bằng mắc
nợ con lừa, chuồng ngựa có thể làm phòng sản thì tại sao giáo đƣờng không trở thành
chuồng lừa?‖ [48;104]. Nhà thờ mới trƣớc đó là nơi chứng kiến nghi lễ rửa tội thiêng liêng
và niềm hạnh phúc; thì ngay sau đó diễn ra cảnh Thƣợng Quan Lỗ Thị bị luân phiên làm
nhục, Đấng chăn chiên Ma-lôa ―nhào ra khỏi gác chuông, nhƣ một con chim khổng lồ gãy
cánh, rơi cắm đầu xuống đƣờng phố, óc tung tóe khắp mặt đất nhƣ bãi cứt chim mới ỉa‖
[48;106]. Nhà thờ không đƣợc chăm chút. Thiên Chúa không đƣợc kính ngƣỡng. Con
ngƣời không còn Đức tin. Không gian nhà thờ lẫn lộn giữa thật và giả, tốt và xấu, cao
thƣợng và ti tiện. Con ngƣời đã không còn nơi nƣơng tựa, cả trong đời sống thực tế lẫn đời
sống tinh thần: cuộc sống của họ hoặc không còn niềm tin, hoặc có niềm tin cũng không
tìm thấy nơi để bấu víu.
Ngôn ngữ, giọng điệu bỡn cợt kết hợp với các sự kiện, chi tiết mỉa mai, châm biếm,
giễu nhại mang đến sự nghịch dị và trào tiếu trong một phạm vi rộng, có khi bao trùm lên
toàn bộ tác phẩm. Trong Sống đọa thác đày, phong trào nuôi lợn và ―đại hội bàn về việc
nuôi lợn toàn vùng Đông Bắc Cao Mật‖ trở nên đầy châm biếm qua những lời hô hào của
Hồng Thái Nhạc: ―Mỗi con lợn là một quả bom ném vào bọn phản động đế quốc, cho nên
con lợn nái này sinh mƣời sáu con cũng chính là sản xuất ra mƣời sáu quả bom để tiêu diệt
bọn đế quốc phản động‖ [54;264]; và lời động viên của Lợn Mƣời Sáu: ―Vì chủ nghĩa xã
hội, vì con ngƣời, các bạn hãy lớn nhanh lên‖ [54;355]. Trong Thập tam bộ, cái chết bi
thƣơng ―bảo vệ tài sản quốc gia‖ trong vụ cháy ở xƣởng dệt thành phố là sự giễu nhại về
chủ nghĩa anh hùng và những kẻ ăn bám vào nó. Anh chàng trung úy, ngƣời yêu của cô
công nhân chết cháy - ―chồng của anh hùng cũng biến thành anh hùng‖, nhiệt tình ngày
145
đêm đến các nhiệm sở để ―báo cáo thành tích‖ của cô vợ tƣơng lai yểu mệnh. Từ việc
―không bao giờ dám thêm thắt‖, ―dùng sự thật gang thép‖ để chứng minh, những lời báo
cáo của anh ta ―ngày càng dài hơn, chau chuốt hơn, nói chung là ngày càng hoàn mĩ‖. Anh
ta nói ―trơn tru‖, ―ví nhƣ một cái máy cát xét‖, ―đến chỗ cần phải khóc, nƣớc mắt cũng tự
nhiên chảy ra, đến chỗ phải kêu lên ai oán thì những tiếng kêu phát ra từ cuống họng anh ta
một cách hết sức tự nhiên‖ [56;158]. Đƣa ra một sự thật ―nhân dân lúc nào cũng sùng bái
anh hùng. Không có anh hùng, quốc gia nguy vong; không có anh hùng, con ngƣời không
còn là con ngƣời‖ [56;159] nhƣng Mạc Ngôn lại dùng nó nhƣ một phản đề cho thói hƣ
danh, chạy theo phong trào, thành tích của con ngƣời: ―Bấy giờ mà có đơn vị, cơ quan nào
không mời anh hùng đến báo cáo những sự tích anh hùng, chắc chắn đơn vị, cơ quan ấy
cảm thấy hổ thẹn với đơn vị khác, chắc chắn sẽ gặp phiền phức‖ [56;158]. Niềm đau
thƣơng chân thành của các thầy giáo trƣờng Trung học số 8 về sự ra đi đột ngột của
Phƣơng Quí Quí vì sự xuất hiện của con ngỗng bị bơm nƣớc đang chảy nƣớc dãi ―trông
giống nhƣ trẻ con đang đái‖ mà chuyển hƣớng. Thầy giáo ―tự nhận mình là Trƣơng Xích
Cầu‖ liên tƣởng đến đứa trẻ nghịch ngợm bị giật vì đái vào dây điện, các thầy giáo thì ―ồ
lên vừa kinh ngạc, vừa thán phục‖ [56;303] vì chuyện ―ba quả trứng đá trong bụng‖ nó.
Cuộc phỏng vấn của phóng viên tờ nhật báo sau sự kiện Trƣơng Xích Cầu (thực chất là
Phƣơng Phú Quí) treo cổ trong phòng học với Lí Ngọc Thiền diễn ra một cách hết sức độc
đáo. Hình ảnh cô nhân viên chỉnh dung chỉ ―khoác chăn ngồi im‖, ―ngay cả tròng mắt cũng
chẳng hề di động‖ đƣợc đặt bên cạnh tác phong ―chuyên nghiệp‖ của anh chàng phóng
viên trong việc ―tự sáng tác‖ nội dung trả lời đầy xúc động [56;443-447] chính là sự mỉa
mai, châm biếm cái xã hội giả tạo, chuộng hƣ danh mà ở đó con ngƣời đánh mất đi tình
cảm chân thành.
Giải huyền thoại thông qua giễu nhại và trào tiếu đã trở thành một nét đặc sắc trong
tiểu thuyết Mạc Ngôn. Nhà văn dùng tiếng cƣời để phản ánh những vấn đề chân thực của
cuộc sống, cả ở các khía cạnh tƣơng đối nhạy cảm khiến cho nó đƣợc tiếp nhận một cách
vui vẻ hơn, và nhiều khi cũng sâu cay hơn. Tuy nhiên, trong một vài trƣờng hợp, vì quá
phóng túng trong giọng điệu bỡn cợt và ngòi bút giễu nhại, Mạc Ngôn đã có biểu hiện của
việc bƣớc phạm chân sang ranh giới mà M. Bakhtin gọi là dấu hiệu sự thoái hóa của văn
hóa trào tiếu trong thời đại ngày nay (việc sử dụng ngôn ngữ suồng sã nhƣ chửi tục, nguyền
rủa, giễu nhại,…không còn giữ đƣợc tính lƣỡng diện, đa chiều mà là sự phủ định sạch
trơn). Điều này cũng đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu (đặc biệt là các ý kiến phủ định Mạc
Ngôn) đề cập đến.
146
Tiểu kết chƣơng 4
Việc tìm hiểu các phƣơng thức huyền thoại giúp khắc sâu hơn nét đặc sắc của
huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, góp phần lí giải sự thành công trong việc tạo nên
một thế giới huyền thoại đậm nét của nhà văn. Tiêu biểu nhất trong phƣơng thức huyền
thoại hóa là truyền kì. Các biểu hiện tiêu biểu của phƣơng thức này không chỉ ở việc sử
dụng những yếu tố kì ảo để miêu tả những ―kì quan ảo cảnh‖, kì nhân, kì sự, mà còn ở việc
tác giả sử dụng rất nhiều các câu chuyện truyền kì dân gian và truyền kì về nhân vật.
Truyền kì giúp huyền thoại hóa không gian, huyền thoại hóa thời gian, huyền thoại hóa
nhân vật trong tiểu thuyết. Cũng giống nhƣ sự trở về với những cổ mẫu chung của nhân
loại trong vô thức tập thể, phƣơng thức tầm căn đã giúp Mạc Ngôn tiếp tục hoàn thiện đặc
trƣng dân gian trong huyền thoại của mình, mà ở đó ý thức ―tầm căn‖ sức sống sinh mệnh
dân gian là sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Với giải huyền thoại - một xu hƣớng sáng tạo huyền
thoại phổ biến trong văn chƣơng thế kỉ XX, Mạc Ngôn đã tạo nên tính đa chiều trong
huyền thoại của mình, trên cơ sở đó gợi ra nhiều vấn đề có ý nghĩa thời đại sâu sắc.
147
KẾT LUẬN
Là ―hiện tƣợng trung tâm trong lịch sử văn hóa‖, huyền thoại đồng thời cũng là
―một phƣơng tiện cổ xƣa để nhận thức thực tại xung quanh và bản chất con ngƣời‖. Ở hình
thức cổ xƣa nhất, huyền thoại với tƣ cách là ―cái nôi nguyên hợp của các loại hình văn hóa
khác nhau‖ đã bao gồm trong đó cả văn học. Ở các giai đoạn sau này, huyền thoại tiếp tục
đóng vai trò hạt nhân quan trọng, là cơ sở tạo nên huyền thoại trong văn học. Nghiên cứu
về huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, chúng tôi rút ra các kết luận ban đầu nhƣ sau:
1. Huyền thoại là một khái niệm mở, đƣợc nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau.
Xác định tiếp cận huyền thoại từ các lí thuyết về huyền thoại trong văn học, chúng tôi căn
cứ vào thời điểm xuất hiện để chia huyền thoại thành hai dạng: huyền thoại cổ đại và huyền
thoại hậu cổ đại. Huyền thoại cổ đại bao gồm các huyền thoại của các hình thái xã hội tồn
tại trƣớc khi có giai cấp và thần thoại. Do hình thức tƣ duy đặc thù, huyền thoại cổ đại
thƣờng gán cho vạn vật thần tính để giải thích, hiểu chúng. Con ngƣời vì thế mà gần gũi, tự
tin hơn trƣớc sức mạnh của tự nhiên, vũ trụ. Họ nhỏ bé nhƣng không cô đơn. Huyền thoại
hậu cổ đại, bao gồm các huyền thoại tái sinh và huyền thoại mới, cho thấy quá trình tái
huyền thoại diễn ra ở nhiều góc độ khác nhau. Điểm đáng lƣu ý là bên cạnh việc bảo lƣu,
kế thừa huyền thoại truyền thống, lặp lại ―có tính chất chu kì vĩnh cửu‖ các nguyên mẫu
huyền thoại dƣới các dạng ―mặt nạ‖ khác nhau, huyền thoại hậu cổ đại đồng thời cũng
mang màu sắc mới: nó đã trở thành một phƣơng thức nghệ thuật - phƣơng thức huyền
thoại. Trong các nghiên cứu về huyền thoại, quan trọng nhất với chúng tôi là lí thuyết của
trƣờng phái Phê bình Nghi lễ - huyền thoại với hai nhánh: huyền thoại nghi lễ và huyền
thoại cổ mẫu. Đây cũng là hai kiểu huyền thoại mà chúng tôi xác định đƣợc trong tiểu
thuyết Mạc Ngôn. Bên cạnh đó, các đặc trƣng khác của huyền thoại nhƣ yếu tố kì lạ, huyền
ảo, biểu tƣợng cũng đƣợc chúng tôi quan tâm.
Xác định cách hiểu thống nhất về huyền thoại sử dụng trong luận án, tiến hành tổng
quan các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc
Ngôn ở trong nƣớc và trên thế giới, chúng tôi nhận thấy vẫn còn nhiều khoảng trống cần
đƣợc tìm hiểu, khám phá.
2. Huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn đƣợc tạo nên từ nhiều cội nguồn khác
nhau. Thứ nhất, nó gắn với xu hƣớng sáng tạo huyền thoại của lịch sử loài ngƣời nói chung,
148
lịch sử văn học nói riêng, đặc biệt là cao trào tái huyền thoại hóa trong văn học thế kỉ XX.
Cao trào này, với sự ra đời của hàng loạt các tác giả sáng tác theo khuynh hƣớng huyền
thoại, đặc biệt là dòng Văn học phi lí và Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo nhƣ W. Faulkner và
G. Márquez, đã có những ảnh hƣởng nhất định đến sáng tác Mạc Ngôn. Thứ hai là cội
nguồn văn hóa dân gian Trung Quốc cũng nhƣ truyền thống ―hiếu kì‖ lâu đời của dân tộc
này. Thứ ba là các trải nghiệm cá nhân và trải nghiệm xã hội của bản thân tác giả. Tuổi thơ
đói khát, cô đơn; những đổi thay trong thời đại toàn cầu hóa; hiện thực, lịch sử đất nƣớc
Trung Quốc… tất cả đều ghi dấu ấn qua cách cảm nhận và phản ánh mang đậm sắc màu kì
ảo trong các thiên tiểu thuyết. Thứ tƣ là hệ thống các quan niệm sáng tác riêng của Mạc
Ngôn trong đó đóng vai trò quan trọng nhất là quan niệm ―lịch sử là truyền kì‖ và ―nhà văn
là ngƣời kể chuyện‖. Bằng cách này, Mạc Ngôn lựa chọn đƣa vào trong tác phẩm lịch sử
đƣợc lƣu truyền trong dân gian, tức lịch sử của những lời nói truyền kì. Quan niệm về tiểu
thuyết cần có hƣơng vị thể hiện sự quan tâm của Mạc Ngôn đến trí tƣởng tƣợng và tầm
quan trọng của thế giới cảm giác trong cảm nhận và miêu tả vạn vật. Nhờ đó, thế giới cảm
giác trong tác phẩm của ông đã vƣợt lên trên khả năng cảm nhận thông thƣờng của các giác
quan để đến với linh giác - cảm giác của linh hồn.
3. Hai kiểu huyền thoại tiêu biểu trong tiểu thuyết Mạc Ngôn là huyền thoại nghi lễ
và huyền thoại cổ mẫu. Các huyền thoại này đều là sự tái sinh huyền thoại của nhân loại
trong lớp ý nghĩa mới. Các huyền thoại nghi lễ xuất hiện trong tiểu thuyết Mạc Ngôn là
những motif huyền thoại tiêu biểu vốn đã hình thành từ trong nền văn hóa nguyên thủy, ở
nhiều khu vực văn hóa khác nhau trên thế giới, không phân biệt khoảng cách thời gian và
địa lí nhƣ nghi lễ thụ pháp, nghi lễ hiến tế và nghi lễ ăn thịt ngƣời. Tuy nhiên, tái tạo các
motif này, Mạc Ngôn đã mang đến cho chúng màu sắc mới mẻ. Tuy các cuộc thụ pháp
thƣờng mang biểu hiện tiêu biểu là sự thử thách về mặt thể xác, nhƣng ý nghĩa thụ pháp thì
đã thay đổi. Nhân vật trải qua thụ pháp không những không chuyển sang một trạng thái
khác, không trƣởng thành về mặt vị thế và tình dục, mà còn bị mất đi tiếng nói bản thể, bị
đánh mất hoặc bị cƣớp đi mất thân phận, sống mà không bằng chết. Trong nghi lễ, vật tế
sinh, thầy tƣ tế, không gian hiến tế, quần chúng tham gia cuộc hiến tế tuy xuất hiện nhƣng
luôn luôn có sự luân chuyển hết sức bất ngờ. Ăn thịt ngƣời là nghi lễ huyền thoại phổ biến
trong nền văn minh nhân loại, trong nhiều trƣờng hợp gắn liền với nghi lễ thụ pháp và hiến
tế. Đi từ nghi lễ ăn thịt ngƣời của nhân loại đến motif ăn thịt ngƣời trong lịch sử xã hội
149
Trung Quốc; tiếp nối Lỗ Tấn, sự trở về với nghi lễ ăn thịt ngƣời trong tiểu thuyết Mạc
Ngôn mang tính hệ thống và bao hàm nhiều tầng nghĩa mới, trở thành biểu tƣợng cho sự
tha hóa không thể cứu vãn của nhân tính, cho sự suy đồi của xã hội tiêu dùng dƣới những
ảnh hƣởng tiêu cực của nền kinh tế thị trƣờng.
Cùng với huyền thoại nghi lễ, các huyền thoại cổ mẫu cũng đã góp phần tạo nên
diện mạo thế giới huyền thoại trong sáng tác của Mạc Ngôn. Có thể thấy sự xuất hiện nhiều
cổ mẫu tiêu biểu của nhân loại, trong đó có các cổ mẫu lớn chứa đựng những giá trị bất
biến, xuất hiện nhiều lần cùng với sự phát triển của lịch sử văn hóa xã hội nói chung, văn
học nói riêng nhƣ cổ mẫu Nƣớc, cổ mẫu Mẹ, cổ mẫu Anh hùng. Vẫn bảo lƣu những nét
nghĩa truyền thống trong vai trò của nguồn sống, trung tâm tái sinh, cổ mẫu Nƣớc và cổ
mẫu Mẹ đồng thời cũng mang những biến thể, những nét nghĩa phái sinh (nguy cơ hủy diệt
và tự diệt - hủy diệt cái nó vốn sinh - dƣỡng và tự diệt chính khả năng sinh - dƣỡng của
mình...). Đi liền với cổ mẫu Anh hùng là cổ mẫu Hành trình. Với cổ mẫu Anh hùng, điểm
thú vị là Mạc Ngôn đã tạo nên một tập thể anh hùng thông qua kế thừa và sử dụng một
cách linh hoạt, hiệu quả hai motif: ngƣời anh hùng - ―nhân vật huyền thoại tuyệt hảo‖ và
ngƣời anh hùng ―kép‖ - ngƣời anh hùng mang tính hai mặt. Họ là những bức tƣợng đài mới
của nhà văn về ngƣời anh hùng dân gian: vừa phi thƣờng vừa bình thƣờng, thậm chí tầm
thƣờng, có sức sống lâu bền với thời gian.
Sự quay về với các huyền thoại nói trên, một cách ý thức hoặc không ý thức đã cho
thấy sức sống bền lâu và sinh động của các huyền thoại cũng nhƣ sự sáng tạo khác biệt của
Mạc Ngôn. Nhờ thế mà huyền thoại trong tiểu thuyết của ông vừa nằm trong mạch nguồn
huyền thoại chung của nhân loại lại vừa có những nét khác biệt, hòa nhập nhƣng không bị
hòa tan.
4. Kế thừa truyền thống huyền thoại của dân tộc và thế giới, nhƣng huyền thoại
trong tiểu thuyết Mạc Ngôn vẫn mang màu sắc riêng biệt nhờ phƣơng thức tạo ra huyền
thoại. Bên cạnh phƣơng thức phổ biến là tái sử dụng các motif huyền thoại truyền thống
(huyền thoại nghi lễ và huyền thoại cổ mẫu trong ―mặt nạ‖ mới), Mạc Ngôn còn sử dụng
các phƣơng thức đặc trƣng khác, trong đó tiêu biểu nhất là phƣơng thức truyền kì. Với vai
trò của một phƣơng thức nghệ thuật, truyền kì trong tiểu thuyết Mạc Ngôn đã vƣợt ra ngoài
phạm trù của một khái niệm về thể loại văn học, hay một phƣơng thức nghệ thuật cụ thể
gắn trực tiếp với thể loại, mà có những biểu hiện riêng: sử dụng đậm đặc các yếu tố kì, ảo,
150
tạo nên ―kì cảnh‖, ―kì nhân‖, ―kì sự‖; đa dạng hoá kết cấu cốt truyện gắn với sự gia tăng
ngôi kể và luân chuyển điểm nhìn trần thuật; vận dụng các kĩ thuật sáng tác huyền thoại
trên thế giới nhƣ dòng ý thức, thủ pháp nghệ thuật của Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo; sử
dụng dày đặc các câu chuyện truyền kì dân gian và cách thức truyền kì trong dân gian để
xây dựng huyền thoại về nhân vật. Cùng với truyền kì, phƣơng thức ―tầm căn‖ cũng có vai
trò lớn trong việc huyền thoại hóa tiểu thuyết Mạc Ngôn, thể hiện ở tầm căn đề tài (dân
gian và văn hóa tín ngƣỡng dân gian) và tầm căn các thủ pháp nghệ thuật truyền thống
(nghệ thuật kể chuyện dân gian, tiểu thuyết chƣơng hồi). Điều thú vị là, ngay khi xây dựng
nên thế giới huyền thoại của riêng mình, Mạc Ngôn cũng đồng thời sử dụng phƣơng thức
―giải huyền thoại‖, biến đổi, giễu nhại, thậm chí tháo gỡ các cấu trúc huyền thoại hiện có để
thêm vào những ý tƣởng mới, biểu hiện mới. Huyền thoại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn vì
vậy mang tính đa chiều, đa sắc.
5. Cho đến nay, các lí thuyết về huyền thoại mới chỉ là một bộ phận lí thuyết thuộc
nhiều lĩnh vực khác nhau mà chƣa có hệ thống lí luận riêng. Giới hạn lí thuyết về huyền
thoại trong nghiên cứu văn học, tiêu biểu là trƣờng phái Phê bình nghi lễ - huyền thoại
nhƣng chúng tôi cũng xác định rằng, vấn đề ―huyền thoại và văn học‖ dù có đƣợc ―giải
thích rộng rãi đến đâu đi chăng nữa thì nó cũng đã và đang đƣợc đề cập đến cả bên ngoài
phạm vi trƣờng phái này‖. Vì vậy, việc nghiên cứu về Huyền thoại trong tiểu thuyết của
Mạc Ngôn mới chỉ là một nghiên cứu về một trƣờng hợp ―huyền thoại hiện đại‖ trong một
quá trình tái huyền thoại hóa cụ thể và sinh động. Từ đây, đặt ra vấn đề có thể tiếp tục cắt
nghĩa về tiểu thuyết Mạc Ngôn cũng nhƣ toàn bộ sáng tác của ông thông qua việc mở rộng
và đi sâu nghiên cứu từ lí thuyết huyền thoại của các trƣờng phái, khuynh hƣớng nghiên
cứu khác. Hệ thống lí thuyết về huyền thoại đã đƣợc tổng quan trong luận án, chúng tôi
thiết nghĩ cũng có thể trở thành căn cứ để tìm hiểu về các sáng tác theo khuynh hƣớng
huyền thoại của các tác gia văn học đƣơng đại khác trên thế giới. Đó là những hƣớng mở
cần đƣợc tiếp tục quan tâm, tìm hiểu trong các công trình nghiên cứu tiếp theo.
151
DANH MỤC CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 1. Bùi Thùy Linh (2011), ―Bầu vú và nguyên lý tính mẫu trong Báu vật của đời‖,
Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 6 (154)/2014, trang 31-41.
2. Bùi Thùy Linh (2016), ―Động vật - ngƣời‖ - ký hiệu đặc biệt trong tiểu thuyết
Mạc Ngôn‖, Tuyển tập công trình nghiên cứu Ngữ Văn học, tập 2 (Kỷ yếu Hội
thảo Sau đại học, khoa Ngữ văn, trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội), NXB Đại học Sƣ phạm, trang 229-235.
3. Nguyễn Thị Mai Chanh, Bùi Thùy Linh (2016), ―Nhật ký người điên của Lỗ
Tấn và những tiếng kêu cứu‖, Tạp chí khoa học Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà
Nội, số 61 tháng 2/2016, trang 10-14.
4. Nguyễn Thị Mai Chanh, Bùi Thùy Linh (2017), ―Motif "ăn thịt ngƣời" trong
Tửu Quốc của Mạc Ngôn từ góc nhìn Liên văn bản‖, Tạp chí Nghiên cứu Văn
học, số 1 – 2017, trang 66-73, trang 66-73
5. Nguyễn Thị Mai Chanh, Bùi Thùy Linh (2017), ―Phƣơng thức huyền thoại hóa
nhân vật trong Tửu quốc của Mạc Ngôn‖, Tạp chí khoa học và công nghệ trƣờng Đại học Thái Nguyên, Tập 170, số 10 -2017, trang 9-14
6. Bùi Thùy Linh (2017), ―Hiến tế trong Đàn hương hình (Mạc Ngôn)‖, Tạp chí
khoa học trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2, số 51, tháng 10-2017, trang 90-
100
7. Bùi Thùy Linh (2018), ―Phương thức huyền thoại trong một số tiểu thuyết Mạc
Ngôn‖, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà
Nội 2.
8. Nguyễn Thị Mai Chanh, Bùi Thùy Linh (2018), ――Tầm căn‖ trong tiểu thuyết
Mạc Ngôn‖, Tạp chí Lý luận Phê bình Văn học - Nghệ thuật, tr.57-81
152
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
1. Nhuệ Anh (2006), “Mạc Ngôn: cá tính làm nên số phận‖, báo văn nghệ số (15),
tr.13.
2. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà
Nội.
3. Bakhtin M. (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, NXB Hội nhà văn, Hà Nội. 4. Barthes R. (2008), Những huyền thoại (Phùng Văn Tửu dịch), NXB Tri thức, Hà
Nội.
5. Trần Lê Bảo (2006), ―Thể nghiệm mộng ảo của các tác gia cổ đại Trung quốc‖, Tạp
chí Văn học (8), tr.3-17.
6. Trần Lê Bảo (2011), Giải mã văn học từ mã văn hóa, NXB ĐHQG Hà Nội. 7. Trần Lê Bảo (1998), ―Tiên thoại - một đặc sản văn hóa Trung Hoa‖, Tạp chí Văn hóa
dân gian, số (3), tr. 67 - 69.
8. Lê Huy Bắc (2006), ―Cái kì ảo và văn học huyễn ảo‖, Tạp chí Nghiên cứu văn học số
(8), tr. 33 - 44.
9. Lê Huy Bắc (2013), Văn học hậu hiện đại: Lý thuyết và tiếp nhận, NXB Đại học
Sƣ phạm.
10.
Lê Huy Bắc (2009), Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo & Gabriel García Márquez, NXB Giáo dục Việt Nam.
11. Bruhl L. (2008), Kinh nghiệm thần bí và biểu tượng ở người nguyên thủy (Ngô Bình
Lâm dịch), NXB Thế giới - Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội.
12. Phan Văn Các (chủ biên) (2013), Từ điển Hán Việt, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí
Minh.
13. Chevalier J., Gheerbrant A. (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB
Đà Nẵng. Đào Ngọc Chƣơng (2008), Phê bình huyền thoại, NXB Đại Học Quốc Gia, 14.
TP.HCM.
15. Nguyễn Văn Dân (2002), Văn học phi lí, NXB Văn hóa thông tin, Trung tâm Văn
hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội.
16. Chu Xuân Diên (2001), Văn hóa dân gian - Mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên
17.
cứu thể loại, NXB Giáo Dục, HCM. Đƣờng Đắc Dƣơng (chủ biên), (2003), Cội nguồn văn hóa Trung Hoa (Nguyễn Thị Thu Hiền dịch, Nhà xuất bản hội nhà văn.
153
18. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
19. Trần Xuân Đề (1998), Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, NXB Giáo dục, Hà Nội. 20. Trần Xuân Đề (2002), Lịch sử văn học Trung Quốc, Nhà xuất bản Giáo
dục, Hà Nội.
21. Cao Huy Đỉnh (2004), Tuyển tập Cao Huy Đỉnh, NXB Lao Động, Hà Nội. 22. Hà Minh Đức (chủ biên) (2003), Lý luận văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
23. Eliade M. (2018), Bàn về nguồn gốc các tôn giáo (Đoàn Văn Chúc, Đỗ Lai
Thúy dịch), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
24. Faulkner W. (2008), Âm thanh và cuồng nộ (Phan Đan, Phan Linh Lan dịch),
NXB Văn học, Hà Nội.
25. Frazer J.G. (2007), Cành vàng (Ngô Bình Lâm dịch), NXB Văn hóa - Thông tin,
Hà Nội.
26. Freud S. (2004), Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật (Đỗ Lai Thúy biên soạn),
NXB Văn hóa - thông tin, Hà Nội. Grass G. (2002), Cái trống thiếc (Dƣơng Tƣờng dịch), NXB Hội nhà văn, Hà Nội.
Jung C.G. (2007), Thăm dò tiềm thức (Vũ Đình Lƣu dịch), NXB Tri thức, Hà Nội.
Võ Hồng Hà (2002), “Yếu tố kỳ trong Tây Du Ký‖, Luận án tiến sĩ, Đại học Sƣ 27. 28. 29.
phạm Hà Nội.
30. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2007), Từ điển
Thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
31. Nguyễn Thị Bích Hải (2007), ―Truyền thống hiếu kỳ trong tiểu thuyết Trung Quốc‖,
Tạp chí Hán Nôm, Số 2 (81); tr. 48-52.
32. Hồ Sĩ Hiệp (2007), Một số vấn đề Văn học Trung Quốc đương đại, NXB Tổng hợp
Đồng Nai.
33. Đỗ Đức Hiểu (Chủ biên) (2004), Từ điển Văn học (Bộ mới), NXB Thế giới, Hà Nội. 34. Chƣơng Bồi Hoàn, Lạc Ngọc Minh (2000), Văn học sử Trung Quốc (Tập 1, 2, 3)
35.
(Phạm Công Đạt dịch), NXB Phụ nữ. Ilin I.P., Tzurganova. E.A. (2002), Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ 20 (Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại Nguyên Ân dịch), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
36.
Kafka F. (2003), Tuyển tập Franz Kafka, NXB Hội Nhà văn – Trung tâm Văn hóa Đông Tây.
154
37. Lƣu Hồng Khanh (2006), Tâm lí học chuyên sâu ý thức và những tầng sâu vô thức,
NXB Trẻ.
38. Lotman Iu.M. (2015), Kí hiệu học văn hóa (Lã Nguyên, Đỗ Hải Phong, Trần Đình
Sử dịch) NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
39. Nguyễn Văn Khỏa (2007), Thần thoại Hy Lạp, NXB Văn học, Hà Nội. 40. Huy Liên (2003), ―Wiliam Faulkner và những sáng tạo nghệ thuật của tiểu thuyết
Âm thanh và cuồng nộ‖, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 10, tr.37-44.
41. Bồ Tùng Linh (2006), Liêu trai chí dị (Trọn bộ) (Nguyễn Đức Lân dịch), NXB
Văn học, Hà Nội.
42. Phƣơng Lựu (1989), Tinh hoa lý luận văn học cổ điển Trung Quốc, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
43. Márquez G. G. (2011), Trăm năm cô đơn (Trung Đức, Đình Lợi, Quốc Dũng dịch),
NXB Văn học, Hà Nội.
44. Meletinsky E.M. (2004), Thi pháp của huyền thoại (Trần Nho Thìn - Song Mộc
dịch), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
45. Nhiều tác giả (2007), Huyền thoại và văn học, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ
Chí Minh.
46. Nhiều tác giả (2009), Nghiên cứu văn học Việt Nam, những khả năng và thách
thức, NXB Thế giới.
47. Mạc Ngôn (2000), Cao lương đỏ, (Lê Huy Tiêu dịch và giới thiệu), NXB Phụ
nữ, Hà Nội.
48. Mạc Ngôn (2001), Báu vật của đời (Trần Đình Hiến dịch), NXB Văn nghệ, Tp Hồ
Chí Minh.
49. Mạc Ngôn (2002), Đàn hương hình (Trần Đình Hiến dịch), NXB Phụ nữ, Hà Nội. 50. Mạc Ngôn (2003), Rừng xanh lá đỏ (Trần Đình Hiến dịch), NXB Văn học, Hà Nội. 51. Mạc Ngôn (2003), Cây tỏi nổi giận (Trần Đình Hiến dịch), NXB Văn học, Hà Nội. 52. Mạc Ngôn (2004), Tửu quốc (Trần Đình Hiến dịch), NXB Hội nhà văn, Hà Nội. 53.
Mạc Ngôn (2006), Tổ tiên có màng chân (Thanh Huệ, Bùi Việt Dƣơng dịch), NXB Văn học, Hà Nội.
54. Mạc Ngôn (2007), Sống đọa thác đày (Trần Trung Hỷ dịch), NXB Phụ nữ, Hà Nội. 55. Mạc Ngôn (2007), Tứ thập nhất pháo (Trần Trung Hỷ dịch), NXB Văn nghệ,
TP Hồ Chí Minh.
56. Mạc Ngôn (2008), Thập tam bộ (Trần Trung Hỷ dịch), NXB Văn nghệ, TP Hồ
Chí Minh.
155
57. Mạc Ngôn (2010), Ếch (Nguyên Trần dịch), NXB Văn học, Hà Nội. 58. Mạc Ngôn (2005), Tạp văn Mạc Ngôn (Võ Toán dịch), NXB Văn học, Hà Nội. 59. Mạc Ngôn (2008), Người tỉnh nói chuyện mộng du (Trần Trung Hỉ dịch), NXB Văn
học, Hà Nội.
60. Mạc Ngôn, Giả Bình Ao, Cao Hành Kiện (2004), Tập truyện Mạc Ngôn, Giả Bình
Ao, Cao Hành Kiện (Lê Bầu dịch), NXB Văn học, Hà Nội.
61. Lâm Kiến Phát, Vƣơng Nghiêu (2004), Mạc Ngôn và những lời tự bạch (Nguyễn Thị
Thại dịch), NXB Văn học, Hà Nội.
62. Hoàng Phê (chủ biên) (2008), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng. 63. Nguyễn Khắc Phê (2002), ―Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn qua hai
tiểu thuyết Báu vật của đời và Đàn hương hình”, Tạp chí Sông Hương, số 12, tr.77-
81.
64. Nguyễn Khắc Phi, Trƣơng Chính (1987), Lịch sử văn học Trung Quốc, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
65. Nguyễn Khắc Phi (2001), Mối quan hệ giữa văn học cổ Trung Quốc và văn học
Việt Nam qua cái nhìn so sánh, NXB Giáo dục, Hà Nội. Propp V. IA. (2003), Tuyển tập V.IA.Propp (Tập 1), (Chu Xuân Diên, Phạm Lan 66.
Hƣơng, Nguyễn Kim Loan, Phạm Bích Ngọc, Trần Minh Tâm, Đỗ Đức Thịnh,
Đỗ Lai Thúy dịch), NXB Văn hóa dân tộc - Tạp chí văn hóa nghệ thuật, Hà Nội. 67. Propp V. IA. (2004), Tuyển tập V.IA.Propp (Tập 2), (Chu Xuân Diên, Nguyễn Quang Lê, Nguyễn Thị Kim Loan, Trần Thị Phƣơng Phƣơng dịch), NXB Văn
hóa dân tộc - Tạp chí văn hóa nghệ thuật, Hà Nội.
68. Trần Minh Sơn (giới thiệu, tuyển chọn và dịch) (2004), Phê bình văn học Trung
Quốc đương đại, NXB Khoa học xã hội.
69. Phùng Quý Sơn (biên soạn), Trần Kiết Hùng (Hiệu đính) (1995), Đường đại truyền
kỳ - Chuyện truyền kỳ đời Đường, NXB Đồng Nai.
Storm R. (2003), Huyền thoại phương Đông, NXB Mỹ thuật, Hà Nội.
70. 71. 72.
Trần Đình Sử (1998), Giáo trình dẫn luận thi pháp học, NXB Giáo dục, Hà Nội. Lỗ Tấn (2002), Lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc (Lƣơng Duy Tâm dịch, Lƣơng Duy Thứ hiệu đính), NXB ĐHQG Hà Nội, Hà Nội.
73. Lỗ Tấn (2017), Chuyện cũ viết lại (Ngô Trần Trung Nghĩa dịch), NXB Văn
học, Hà Nội.
74. Lỗ Tấn (2007), AQ chính truyện (Trƣơng Chính dịch), NXB Hội nhà văn, Hà Nội. 75. Trần Quang Thái (2006), Chủ nghĩa hậu hiện đại, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.
156
76. Khâu Chấn Thanh (1994), Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc (Mai
Xuân Hải dịch), NXB Giáo dục, Hà Nội.
77. Lƣơng Duy Thứ (1998), Lỗ Tấn, Tác phẩm và tư liệu, NXB Giáo dục, Hà Nội. 78. Nguyễn Thị Tịnh Thy (2013), Tự sự kiểu Mạc Ngôn, NXB Văn học, Trung tâm Văn
hóa - Ngôn ngữ Đông Tây.
79. Nguyễn Thị Tịnh Thy (2007), ―Ngƣời kể chuyện trong tiểu thuyết Mạc Ngôn‖,
Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn, Đại học Sƣ phạm Huế.
80. Nguyễn Thị Tịnh Thy (2011), Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn,
Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội.
81. Tạ Thị Thủy (2017), Tiểu thuyết Mạc Ngôn từ góc nhìn liên văn hóa, Luận án tiến sĩ,
Trƣờng ĐHSP Hà Nội.
82. Lê Huy Tiêu (2004), Cảm nhận mới về văn hoá, văn học Trung Quốc, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội.
83. Lê Huy Tiêu (2006), ―Sự đổi mới thi pháp đƣơng đại Trung Quốc‖, Tạp chí Văn
học nước ngoài, số 2, tr. 154 - 162.
84. Lê Huy Tiêu (2003), ―Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn‖, Tạp chí
Văn học nước ngoài, số 4, tr.16-24.
85. Lê Huy Tiêu (2007), Tiểu thuyết Trung Quốc thời kỳ đổi mới, NXB Đại học Quốc
gia, Hà Nội.
86. Lê Huy Tiêu (2014), Đổi mới lý luận phê bình Văn học Trung Quốc thời kỳ đổi mới,
NXB ĐHQG Hà Nội.
87. Todorov T. (2008), Dẫn luận về văn chương kỳ ảo (Lê Hồng Sâm, Đặng Anh
Đào dịch), NXB Đại học Sƣ Phạm Hà Nội.
88. Tylor E. B. (2019), Văn hóa nguyên thủy (Huyền Giang dịch), NXB Văn hóa Tri
thức, Hà Nội.
89. Viện thông tin khoa học xã hội (1999), Văn học Mỹ Latin, NXB Thông tin khoa học
xã hội, Hà Nội.
TÀI LIỆU TIẾNG ANH 90. Anderson A. , Hicks S. V. , Witkowski L. (2004), “Mythos” and “Logos”': How to
Regain the Love of Wisdom, Rodopi, Amsterdam, New York.
91. Baldick C. (2001), The Concise Oxford Dictionary of Literary Terms, Oxford
University Pres, Oxford University Press Inc., New York.
92.
Bychkov O. L. , Fodor J. (Editor) (2016), Theological Aesthetics After Von Balthasar, Routledge, New York.
157
93. Campbell J (2004), The Hero With a Thousand Faces, Princeton University Press.
94. Chan S. W. (2011), A Subversive Voice in China: The Fictional World of Mo
Yan, Cambria Press.
95. Dimaano A. C. (2015), ―The 20th Century World of Mo Yan: A Corpus-Based
Approach‖, Chinese Studies Program Lecture Series, Ateneo de Manila
University, No. 2, pp. 32-45.
96. Duran A. , Huang Y. (2014), Mo Yan in Context: Nobel Laureate and Global
Storyteller, Purdue University Press , West Lafayette, Indiana.
Modern China, Duke University Press Books.
97. Gang Yue (1999), The Mouth That Begs: Hunger, Cannibalism, and the Politics of Eating in
98. Goldblatt H. (2000), ―Forbidden Food: ―The Saturnicon‖ of Mo Yan‖, World
Literature Today. Vol. 74, No. 3, pp. 477-485.
99. Goldblatt H. (2009), ―Mo Yan's Novels Are Wearing Me out: Nominating Statement
for the 2009 Newman Prize‖, World Literature Today, Vol. 83, No. 4, pp. 28-29.
100. Guerin W. , Labor E. , Lee M. , Reesman J. , Willingham J. (2006), A Handbook of
Critical Approaches to Literature, Oxford University Press.
101. Hawkins J. (Author), Fodor J. (Editor), Bychkov O. V. (Editor) (2016)
Theological Aesthetics After Von Balthasar, Routledge.
102. Huang A. C. Y. , Goldblatt H. (2009), ―Mo Yan as Humorist‖, World Literature
Today, Vol. 83, No. 4, pp. 32-37.
103. Inge M. T. (1990), ―Mo Yan and William Faulkner: Influences and
Confluences.‖ The Faulkner Journal 6. Pp. 15-24.
104. Inge, M. T. (2000). ―Mo Yan Through Western Eyes‖, World Literature Today,
Vol 74, No. 3, pp. 501-506.
105. Inge, M. T. (2014), ―A Literary Genealogy: Faulkner, García Márquez, and Mo
Yan‖, Moravian Journal of Literature and Film, Vol 5, pp. 5-12.
106. Leach J. (2011). ―The Real Mo Yan‖, Humanities, Vol.32, No.1, pp. 11-13.
107. Levinson D. , Ember M. (1996), The Encyclopaedia of Cultural Anthropology,
Henry Holt and Company, Inc., New York.
108. Liu Hongtao, Haiyan Lee (2009), ―Mo Yan's Fiction and the Chinese Nativist
Literary Tradition‖, World Literature Today, Vol.83, No.4, pp. 30-31.
109. Martin B., Ringham F. (2000), Dictionary of Semiotics, Cassell, London and
New York.
158
110. Merriam-Webster (1995), Merriam-Webster's Encyclopedia of Literature,
Incorporated, Publishers Springfiled, Massachusetts.
111. Mo Yan (2001) Shifu, You’ll Do Anything for a Laugh (translated by Howard
Goldblatt), Arcade, New York.
112. Ng, Kenny K. K. (1996), Magical narrative, social allegory, and peasant ideology: the problematics of realism in Mo Yan's novels, Thesis, Hong Kong University of Science and Technology.
113. Raglan L (2011), The Hero: A Study in Tradition, Myth and Drama, Dover
Publications.
114. Rank O (2011), The Myth of the Birth of the Hero: A Psychological Exploration
of Myth, Martino Fine Books.
115. Rong Cai (2003), ―Problematizing the Foreign Other: Mother, Father, and the Bastard in Mo Yan's "Large Breasts and Full Hips"‖, Modern China, Vol. 29,
No. 1, pp. 108-137.
116. Segal R. A. (2015), Myth: A Very Short Introduction, Oxford University Press. 117. Wang D. D. , Berry M. (2000), ―The Literary World of Mo Yan‖, World
Literature Today, Vol. 74, No. 3, pp. 487-494.
118. Wang X. Y. (2014), ―García Márquez’s Impact and Mo Yan’s Magical Realism‖, Studies in Literature and Language, Vol. 9, No. 3, pp. 214-217. 119. Wang D. D. (1993), From May Fourth to June Fourth: Fiction and Film in Twentieth-Century China, Cambridge, Harvard University Press, pp. 295-326. 120. Wiles D. (2000), Greek Theatre Performance: An Introduction, Cambridge
University Press.
121. Zhai W. (2015), ―The Inheritance of Loss—Tracing Hallucinatory Realism in Mo Yan’s Novels‖, English Language and Literature Studies; Vol. 5, No. 1, pp.
127-130.
TÀI LIỆU TIẾNG TRUNG
122. 鲁迅 (1973), 鲁迅全集, 鲁迅先生纪念委员会。
123. 鲍克怡 (1990), 同义词反义词对照词典,吉林教育出版社。
124. 傅兴岭 (1987) , 现代汉语通用词典,外语教育与研究出版社,北京。
125. 罗竹風 (1991) , 汉语大词典, 汉语大词典出版社。
126. 石昌渝 (1994 ), 小说,中国古代文体丛书,人民文学出版社。
127. 宁宗 (1995), 中国小说学通论,安徽教育出版社。
159
128. 魯迅 (1998), 中國小說史略, 上海古籍出版社 。
129. 杨利慧 (1999), ―中国神话学的现状与未来‖,文艺报。
130. 陈思和 (2002), 莫言近年小说的民间叙述,中国当代文学关键词十讲,上
海:复旦大学出版社。
131. 陈平原 (2003), 中国小说叙事模式转变 ,北京大学出版社。
132. 王金胜(2004)《民间文化与莫言小说的传奇性》,《文艺争鸣》2004
年第6期。
133. 王金胜(2005):传奇:莫言小说的叙事原料与美学特征(以―高粱红‖
短篇小说当典型)唐都研究,第1期,第21卷,2005年1月。
134. 杨洋(2005),莫言资料研究,中国当代作家研究丛书,天津人民出版
社。
135. 陈思和(2005),中国当代文学教程,复旦大学出版社,上海。
136. 程文超,郭冰茹 (主编)(2006), 中国当代小说叙事演变史,中国社会科
学出版社。
137. 周宾忠 (2006),莫言与福克纳比较研究,博士学位论文,武汉大学。
138. 周琳玉 (2006), 从《百年孤独》看魔幻现实主义及其对莫言的影响, 兰州
交通大学学报》 02期。
139. 张开艳(2006),论莫言小说適狂欢的叙事,硕士学位论文,广州师范
大学。
140. 李业根(2007),莫言小说中的―檀香刊化‖叙事研究,硕士学位论文,
南昌大学。
141. 黄志刚 (2007) , 莫言小说乡土感情研究, 文体研究 2007年9月,第57、第
58页。
142. 肖宇(2007 ,莫言小说的神幻叙事与生命意识, 硕士学位论文,湖南师
范大学,2007年4月。
143. 焦会生(2008,论莫言小说的民间立场,殷都学刊,第四期,第102 –
105页。
144. 王保中 (2008), 莫言小说的魔幻现实主义风格, 硕士学位论文, 河南大。
145. 王国维 – (2010), 宋元戏曲史,广西师范大学出版社。
160
146. 涂登宏(2010),莫言小说的乡土特征探讨,文艺探究,2010年5 月,
第33 – 34页。
147. 艳始生,唐宏伟(2010), 莫言小说的英雄主义 , 温州业务技术学院学报
– 2010 年6月 – 第2期,第10卷,第67 – 69页。
148. 严加炎(2010),20世纪中国文学历史 ,兰州大学高等教育出版社, 北京。
149. 林玉 (2010), 论莫言小说的怪诞表现形态 , 湖南师范大学 硕士论文。
150. 宏紫成(2011),中国当代文学历史,北京大学出版社,北京。
151. 孟文彬 (2012), 齐文化视野的文学创作及其审美风格:张炜与莫言, 文学与
艺术研究。
152. 叠书献 (2012) , 神话寓意和神话学方法 , 上海古籍出版社。
153. 王赫佳(2012), 论莫言小说的魔幻性与拉美魔幻现实主义,
内蒙古大学 。
154. 何媛媛 (2013), 莫言的世界和世界的莫言, 博士学位论文,苏州大学 。
155. 张艳梅 (2013), 历史文化视野中的莫言,山西大学学报(哲学社会科学报。
156. 卢云鹏(2013)莫言小说语言的民间特征研究,语言研究 ,119 – 120 页。
157. 关枚件(2013),民间传奇 – 论莫言的文学观点,当代作家评论 ,第1
期。85-91页。
158. 张若琳(2014),硕士文学论文,莫言小说中的―世界性因素‖---以―恶魔
性‖与―狂欢化‖为中心的讨论,现当代文学专业,宁夏大学。
159. 熊小菊(2014),以散文视察莫言的传奇创造,2014年7月,第7期,第
14卷,66-67 页。
160. 董国俊(2014), 莫言小说的虚幻现实主义, 博士学位论文, 兰州大学。
161. 黄春芳 (2014), 莫言小说的魔幻现实主义风格, 芒种, 2014年23期。
162. 巩晓悦(2014),论莫言小说的幻觉叙事,硕士学位论文,中国现当代
文学专业,华东大学。
163. 李牧春;赵丼丼 (2015), 浅析莫言《生死疲劳》的魔幻现实主义风格, 《青
年文学家》2015年第24期。
164. 谢文兴 (2015), 论马尔克斯对莫言小说创作的影响, 浙江师范大学, 硕士论
文。
161
165. 李晓燕 , (2016), 莫言小说人物原型研究, 山东师范大学 博士论文。
166. 周显博(2016),论莫言小说的民间奇女形象,山东女子学报 , 年1月,
第1期。
167. 郭荣荣 (2017), 论莫言小说的魔幻书写, 曲阜师范大学 ,硕士论文。
168. 于静 (2017), 论莫言小说的神秘色彩, 郑州大学, 硕士论文。
169. 张桌宜 (2017), 论莫言小说魔幻现实主义的呈现及意义, 广西师范学院 硕
士论文。
170. 张相宽 (2017), 莫言小说创作与中国口头文学传统, 山东大学。
171. 田秀平,杨赛楠,观察文学杂志,论莫言小说写作的乡土意识,北华航
天工业学院,107 – 108页。
TÀI LIỆU INTERNET 172. http://www.nobelprize.org/nobel_prizes/literature/laureates/2012/bio-bibl.html 173. https://www.nobelprize.org/nobel_prizes/literature/laureates/1949/faulkner-
speech.html
174. https://www.nobelprize.org/nobel_prizes/literature/laureates/2012/yan-interview-
text_en.html
175. https://www.theguardian.com/science/2016/apr/04/study-shows-human-sacrifice-
was-less-likely-in-more-equal-societies
176. http://reds.vn/index.php/nghe-thuat/van-hoc/6741-bien-doi-lich-su-va-su-tac-
dong-den-motif-truyen-ke-dan-gian
177. http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/gioi-sao/trong-nuoc/dich-gia-tran-dinh-hien-
nguoi-bi-mac-ngon-hop-hon-1878939.html
178. http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/li-luan-van-hoa-hoc/cac-binh-dien-cua-
van-hoa/47-phan-thu-hien-huyen-thoai-hoc-va-van-hoa-hoc.html
179. http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c377/n25898/Khuynh-huong-giai-huyen-
thoai-trong-van-xuoi-Viet-Nam-duong-dai-tu-1986-den-nay.html 180. https://languyensp.wordpress.com/2015/12/22/carnaval-hoa-van-hoc/