HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HOÀNG THU THỦY

Qu¸ tr×nh thùc hiÖn chÝnh s¸ch d©n téc cña §¶ng ë mét sè tØnh miÒn nói §«ng B¾c ViÖt Nam tõ n¨m 1996 ®Õn n¨m 2010

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2014

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HOÀNG THU THỦY

Qu¸ tr×nh thùc hiÖn chÝnh s¸ch d©n téc cña §¶ng

ë mét sè tØnh miÒn nói §«ng B¾c ViÖt Nam

tõ n¨m 1996 ®Õn n¨m 2010

Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

: 62 22 56 01

Mã số

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS, TS NGUYỄN BÌNH BAN

2. TS NGUYỄN DANH TIÊN

HÀ NỘI - 2014

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu

khoa học của riêng tôi trên cơ sở sưu tầm, đọc và phân

tích các tài liệu. Tất cả các tài liệu tham khảo, các tư

liệu, số liệu thống kê sử dụng trong Luận án là trung

thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

Nghiên cứu sinh

Hoàng Thu Thủy

MỤC LỤC

Trang

1

MỞ ĐẦU

9

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

22

Chương 1: QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM (TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000) 1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và chính sách dân tộc của Đảng

22

đối với vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam

1.2. Tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh

43

miền núi Đông Bắc

Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI

66

ĐÔNG BẮC VIỆT NAM (TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010) 2.1. Chính sách dân tộc của Đảng trong quá trình đẩy mạnh công

66

nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng miền núi Đông Bắc

2.2. Tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh

80

miền núi Đông Bắc

117 117 137

Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM VỀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010 3.1. Một số nhận xét 3.2. Một số kinh nghiệm

153

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN

156

ĐẾN LUẬN ÁN

157

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

169

PHỤ LỤC

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là quốc gia đa tộc người, với 54 thành phần dân tộc, trong đó miền

núi - vùng dân tộc thiểu số Việt Nam chiếm hơn 3/4 lãnh thổ, có hơn 1/3 số dân với

hơn 23 triệu người. Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm,

các dân tộc thiểu số đã gắn bó, đoàn kết, hòa nhập cùng dân tộc Kinh thành một kết

cấu thống nhất về mặt lãnh thổ, về mặt thể chế - hành chính, về mặt ý thức hệ quốc

gia - dân tộc, trong sự đa dạng về văn hóa tộc người. Nhận thức rõ vị trí, tầm quan

trọng của vấn đề dân tộc và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, trong quá trình

lãnh đạo cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc hoạch

định đường lối, chủ trương và chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương thực hiện

tốt chính sách dân tộc. Nhờ vậy, trong các giai đoạn cách mạng, Đảng Cộng sản

Việt Nam đã tập hợp đông đảo các tầng lớp, giai cấp tham gia vào nhiệm vụ giải

phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tạo nên sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết

toàn dân tộc, góp phần đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng dân

tộc, thống nhất Tổ quốc. Không chỉ giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc

lập dân tộc mà sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã tạo ra những thành

tựu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã

hội chủ nghĩa.

Qua hơn 25 năm đổi mới đất nước, kinh tế - xã hội ở những địa bàn có nhiều

dân tộc thiểu số sinh sống đã phát triển tương đối nhanh. Kế thừa truyền thống quý

báu của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết

toàn dân, đó là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng

(4/2001) khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí

chiến lược trong sự nghiệp cách mạng” [22, tr.127]. Thực hiện tốt chính sách các

dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, xây dựng kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất hàng hoá, chăm lo đời sống vật chất và

2

tinh thần, xoá đói giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu, phát huy bản sắc

văn hoá và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc.

Vùng Đông Bắc Việt Nam là một khu vực lịch sử - dân tộc học; gồm cả hệ

sinh thái rẻo cao, rẻo giữa và rẻo thấp; có nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng;

giàu bản sắc văn hoá, trong đó đóng vai trò chủ thể vùng là nhóm cư dân Tày -

Nùng. Thổ nhưỡng phục vụ cho phát triển nông - lâm nghiệp: rừng làm nguyên liệu

cho công nghiệp, là tấm lá chắn bảo vệ, che chở và nuôi dưỡng cho môi trường bền

vững. Thảm thực vật đa dạng phục vụ cho nghiên cứu và an ninh sinh kế tộc người.

Sông ngòi và tài nguyên nước phục vụ cho thuỷ điện; khoáng sản phục vụ cho phát

triển các ngành công nghiệp v.v... Do vậy, việc phát huy các thế mạnh của vùng

không chỉ có ý nghĩa kinh tế lớn, mà còn có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Tuy nhiên,

những tiềm năng ấy chưa được khai thác hiệu quả, thiếu tính bền vững. Bên cạnh

đó, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng được đẩy tới thì các dân tộc thiểu

số sống ở khu vực này càng bị thua thiệt về cơ hội phát triển, họ ít có khả năng tham

gia vào quá trình đó.

Vùng Đông Bắc là địa bàn cư trú của hàng chục dân tộc thiểu số (Tày, Nùng,

Thái, Mường, Dao, Mông…). Phần lớn các dân tộc thiểu số ở đây lại có quan hệ

đồng tộc về mặt lịch sử và văn hoá với các tộc người của quốc gia láng giềng.

Chính vì vậy, các dân tộc trong vùng và các dân tộc bên kia biên giới bên cạnh sự

“sơn thuỷ tương liên” còn có mối quan hệ “văn hoá tương đồng” [119, tr.9], thậm

chí cả quan hệ huyết thống. Các quan hệ đồng tộc xuyên biên giới (hôn nhân xuyên

biên giới, thăm thân xuyên biên giới, di chuyển lao động xuyên biên giới...) rất phổ

biến. Thậm chí, các học giả phương Tây gọi hiện tượng này là chủ nghĩa bản địa

xuyên quốc gia. Đông Bắc còn là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh,

chính trị, quốc phòng và quan hệ lân bang - khi vùng Đông Bắc có đường biên giới

dài hàng nghìn ki-lô-mét giáp với Trung Quốc cả trên đất liền, trên biển, trên không

và dưới lòng đất. Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi, dân tộc biên

giới là cơ sở đảm bảo giữ vững an ninh, quốc phòng của đất nước. Vì vậy, việc xây

dựng chính sách quản lý và phát triển đối với vùng biên giới, đa tộc người trở nên

vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với

3

Trung Quốc bên cạnh xu hướng tích cực (như: thúc đẩy giao thương kinh tế, giao

lưu văn hoá, tăng cường đối ngoại nhân dân, hình thành các khu kinh tế cửa khẩu...)

thì cũng nảy sinh hàng loạt vấn đề an ninh phi truyền thống phức tạp như: di dân

xuyên biên giới, buôn bán ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, buôn lậu hàng hoá,

ứng phó với hiểm họa dịch bệnh lây lan nhanh (người, động vật, thực vật), thảm

họa thủy điện và tranh chấp nguồn nước, các tổ chức ngoài nhà nước hoạt động

xuyên biên giới...

Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt

Nam đã có nhiều chính sách ưu tiên đầu tư cho các tỉnh miền núi Đông Bắc Việt

Nam. Nhờ vậy, đời sống nhân dân và bộ mặt nông thôn miền núi có sự thay đổi.

Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa tương xứng và chưa đáp ứng yêu cầu của nhân

dân, đặc biệt là các dân tộc thiểu số. Các tỉnh miền núi Đông Bắc vẫn là vùng

chậm phát triển; trình độ phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội còn một khoảng

cách lớn so với các khu vực khác trong cả nước. Sau một quá trình thực hiện

thành công các chương trình, dự án giảm nghèo cho vùng miền núi và dân tộc

thiểu số nói chung, đã đến lúc Đảng, Nhà nước phải có một hệ thống chính sách

mới phù hợp với xu thế và trình độ phát triển khi Việt Nam đã bước vào ngưỡng

của nước thu nhập trung bình thấp. Mặt khác, thực tiễn đã và đang nảy sinh

nhiều vấn đề cần được giải quyết như: vấn đề quan hệ dân tộc - quốc gia, dân

tộc - tộc người, di dân tự do, vấn đề đói nghèo, vấn đề bảo tồn và phát huy bản

sắc văn hoá tộc người… đòi hỏi chính sách dân tộc phải được xây dựng và vận

hành nhằm mang lại quyền bình đẳng thực sự cho các dân tộc. Muốn xây dựng

và hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc, cần có một nghiên cứu quy mô và

toàn diện về vùng dân tộc thiểu số nói chung cũng như ở vùng miền núi Đông

Bắc nói riêng. Qua đó, tổng kết, đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện chính sách

dân tộc của Đảng; đồng thời, nhận diện những ưu điểm, hạn chế và đúc kết kinh

nghiệm nhằm hoàn thiện chính sách dân tộc nói chung cũng như các chủ trương,

chính sách, giải pháp thực hiện chính sách dân tộc ở khu vực các tỉnh miền núi

Đông Bắc nước ta nói riêng.

4

Do đó, việc thực hiện đề tài “Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của

Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010” là

vấn đề khoa học có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.

2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án

2.1. Mục đích

- Làm sáng tỏ nhận thức khoa học về chính sách dân tộc của Đảng và quá

trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc

của Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010.

- Đánh giá những thành tựu, hạn chế của quá trình tổ chức thực hiện chính

sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến

năm 2010.

- Tổng kết một số kinh nghiệm chủ yếu về tổ chức thực hiện chính sách dân

tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc từ năm 1996 đến năm 2010 - gợi ý cho

tổng kết thực tiễn - lý luận 30 năm đổi mới.

2.2. Nhiệm vụ

Để đạt được những mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau:

- Phân tích các công trình nghiên cứu trước đây để xác định những cơ sở

phương pháp luận cần vận dụng trong thực hiện luận án, những vấn đề đã được giải

quyết có thể kế thừa và phát triển, những khoảng trống cần phải bổ khuyết.

- Khái quát những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình dân tộc

và dân cư ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam với ý nghĩa tạo nên đặc

tính vùng.

- Nghiên cứu, hệ thống hoá quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt

Nam về chính sách dân tộc ở vùng miền núi Đông Bắc từ năm 1996 đến năm 2010

nhằm góp phần làm rõ sự phát triển về nhận thức và sự chỉ đạo thực tiễn của Đảng

về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở địa bàn này.

- Phân tích quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số

tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam trong những năm 1996 - 2010.

- Đánh giá thành tựu và hạn chế của Đảng trong lãnh đạo thực hiện chính

sách dân tộc tại một số tỉnh vùng Đông Bắc nước ta từ năm 1996 đến năm 2010.

5

- Đúc kết một số kinh nghiệm cơ bản trong quá trình thực hiện chính

sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam từ năm

1996 đến năm 2010.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Các quan điểm, chủ trương, định hướng hợp thành chính sách dân tộc (theo

nghĩa rộng) của Đảng; sự thể chế hóa về mặt nhà nước ở cấp vĩ mô, cấp vùng và

cấp địa phương; các biện pháp thực thi chính sách dân tộc ở một số tỉnh vùng Đông

Bắc từ năm 1996 đến năm 2010.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Luận án nghiên cứu giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2010 -

đây là lúc mà Việt Nam chuyển sang thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội

nhập sâu hơn với khu vực và trên thế giới. Năm 2010 là mốc thời gian các Đảng bộ

tỉnh Đông Bắc kết thúc nhiệm kỳ của đảng bộ địa phương 2005 - 2010, có sự đánh

giá tổng kết thực hiện chính sách dân tộc của 5 năm và 10 năm trước đó.

- Về không gian - địa bàn: Vùng Đông Bắc được hiểu theo nhiều góc tiếp

cận khác nhau [Phụ lục 17], có thể là vùng văn hóa - lịch sử, vùng địa lý - sinh thái,

vùng tộc người, vùng thể chế. Trong phạm vi luận án này, vùng Đông Bắc được xác

định là không gian địa lý - tộc người, lấy Thủ đô Hà Nội làm điểm nhìn để xác định

tọa độ cho phương vị "đông bắc", lấy phạm vi các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà

Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang làm không gian chung cho

nghiên cứu cảnh quan cấp vùng, chọn các tỉnh biên giới Hà Giang, Cao Bằng, Lạng

Sơn, Quảng Ninh làm địa bàn khảo sát thực địa chủ yếu của luận án.

- Về nội dung:

+ Chính sách dân tộc có nội dung rất rộng, thể hiện trên tất cả các mặt chính

trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh,... Tuy nhiên, luận án chỉ giới hạn

ở năm nhóm chính sách chủ yếu: chính sách kinh tế (xoá đói giảm nghèo, phát triển

kinh tế); chính sách chăm lo phát triển trí lực và thể lực (giáo dục - đào tạo, y tế,

nâng cao đời sống vật chất); chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các

6

dân tộc; chính sách cán bộ dân tộc thiểu số; Xây dựng, củng cố nền quốc phòng

toàn dân và an ninh nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

+ Tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng gồm cả cấp trung ương,

địa phương (tỉnh, huyện, xã), cộng đồng (làng/bản), hộ gia đình và cá nhân; cả hệ

thống chính trị, doanh nghiệp và nhân dân; luận án chỉ tập trung vào khâu trọng tâm

là sự thể chế hóa về mặt nhà nước; các biện pháp lớn trong triển khai các chương

trình, dự án trọng điểm; các phong trào và mô hình điển hình kết hợp giữa ý đảng

với lòng dân.

4. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1. Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm

của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và chính sách dân tộc. Đặc biệt, luận án

bám sát đến các quan điểm biện chứng, khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể để

triển khai các ý tưởng nghiên cứu.

4.2. Nguồn tư liệu

- Tư liệu sơ cấp: Các số liệu, thông tin do tác giả thu thập thông qua các

phương pháp điều tra xã hội học, điền dã dân tộc học tại một số tỉnh miền núi

Đông Bắc.

- Tư liệu thứ cấp: Những số liệu, tài liệu, công trình nghiên cứu, sách chuyên

khảo đã công bố của các nhà nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, kể cả các luận

văn, luận án.

- Tư liệu cấp ba: Các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, X, XI và các

Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương từ khoá VIII đến khoá XI; các văn bản

pháp quy của Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành; các báo

cáo tổng kết của Uỷ ban Dân tộc và Miền núi, niên giám thống kê của Trung ương

và địa phương, các tác phẩm kinh điển liên quan đến luận án.

4.3. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp lịch sử và phương pháp logíc là hai phương pháp chính

được vận dụng, kết hợp để nghiên cứu tổng thể luận án cũng như triển khai các

7

nội dung cụ thể ở từng chương, tiết. Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số phương

pháp khác như: phương pháp tổng kết thực tiễn; phương pháp thống kê; phương

pháp so sánh; phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, tài liệu cấp ba; phương

pháp tổng hợp...

5. Đóng góp mới của luận án

- Về mặt tư liệu:

Hệ thống hóa, phát hiện và giải mã một số tư liệu mới về dân tộc và quá trình

thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam.

- Về mặt nhận thức:

+ Phân tích khoa học về một số chính sách dân tộc và thực thi chính sách

dân tộc của Đảng áp dụng ở cấp độ vùng, mang đặc điểm vùng và địa phương do

chế định của yếu tố địa lý, bản sắc tộc người, quan hệ Việt - Trung trong điều kiện

hội nhập.

+ Rút ra một số nhận xét, kết luận dựa trên tư liệu mới và thông tin mới được

phân tích, luận giải khoa học, đặc biệt là các nhận xét, kết luận về thực hiện chính

sách dân tộc gắn với nhóm cư dân Tày - Nùng, Mông - Dao, gắn với đặc thù các

tỉnh biên giới.

+ Tổng kết một số kinh nghiệm có ý nghĩa đóng góp vào tổng kết thực tiễn -

lý luận 30 năm đổi mới trên vấn đề dân tộc được xem xét ở cấp độ vùng và địa

phương một số tỉnh miền núi Đông Bắc.

- Về mặt thực tiễn:

+ Những kinh nghiệm được đúc kết giai đoạn 1996- 2010 có ý nghĩa tham

chiếu cho quá trình triển khai chính sách dân tộc ở vùng Đông Bắc trong giai đoạn

hiện nay.

+ Luận án có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy

về chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam ở các trường đại học, cao đẳng.

6. Ý nghĩa của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ hơn vai trò lãnh đạo của

Đảng; đồng thời, khẳng định quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng tại

8

vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nước có ý nghĩa quan trọng trong việc tổng kết một số kinh nghiệm lý

luận - thực tiễn 30 năm đổi mới trên vấn đề dân tộc được xem xét ở cấp độ vùng

và địa phương.

Luận án cung cấp thêm luận cứ khoa học và gợi mở một số suy nghĩ có thể

vận dụng vào thực tiễn thực hiện chính sách dân tộc ở vùng Đông Bắc trong giai

đoạn hiện nay.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận

án được kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết.

9

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án

Chính sách dân tộc: Theo định nghĩa trong Từ điển Bách khoa Việt Nam,

chính sách dân tộc là bộ phận cấu thành chính sách chung của một chính đảng hay

một nhà nước nhằm vạch ra những nguyên tắc, biện pháp đối xử và giải quyết vấn

đề dân tộc trong một nước [74].

Như vậy, nội dung chính sách dân tộc của Đảng phải tác động, làm biến đổi

thực sự bộ mặt kinh tế, xã hội, văn hoá của các vùng dân tộc và các dân tộc, từng

bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đưa các

vùng dân tộc từ trình độ sản xuất và đời sống thấp từng bước đi lên chủ nghĩa xã

hội, xây dựng và phát triển quan hệ dân tộc tốt đẹp trên nguyên tắc bình đẳng,

đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển. Tuy nhiên, đây là quá trình lâu dài,

gian khổ và hết sức phức tạp, đòi hỏi phải có sự chủ động, nhạy bén, sáng tạo

trong việc xác định con đường, biện pháp, hình thức, bước đi thích hợp đối với

từng vùng dân tộc.

Chính sách dân tộc của Đảng là chính sách chung đối với tất cả các dân tộc

sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Chính sách dân tộc hàm chứa nhiều nội dung, rất

đa dạng, phong phú như: các chính sách về phát triển kinh tế, chính sách phát triển

văn hoá, chính sách chính trị - xã hội, chính sách tôn giáo vùng đồng bào dân tộc

thiểu số v.v… Do đó, đề tài “Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở

một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010” là một vấn

đề có tính chất liên ngành, vừa là vấn đề chính trị, vừa là vấn đề kinh tế, văn hoá, xã

hội. Ở mức độ, góc độ nghiên cứu khác nhau, chính sách dân tộc cũng là đối tượng

nghiên cứu của các ngành sử học, dân tộc học, xã hội học,…

Trong quá trình khảo sát tư liệu, tác giả luận án nhận thấy vấn đề “Quá trình

thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam

từ năm 1996 đến năm 2010” được đề cập đến nhiều trong các công trình, bài viết,

song, có thể chia theo 04 nhóm như sau:

10

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về dân tộc và chính sách dân tộc ở

miền núi nói chung

Có nhiều công trình, bài viết của các tác giả nghiên cứu về dân tộc và

chính sách dân tộc, trong đó đề cập đến các vấn đề như dân số, đặc trưng văn

hoá, kinh tế… của 54 dân tộc trong cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam.

Những công trình tiêu biểu đề cập đến vấn đề này như: Cộng đồng quốc gia dân

tộc Việt Nam [117], Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam [11].

Đề cập tới vấn đề bình đẳng dân tộc có các công trình Bảo đảm bình đẳng và

tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện

nay [2], Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp của [76]. Các

công trình này đã khẳng định: “Thực hiện bình đẳng dân tộc là một nhu cầu rất to lớn

trong tiến trình phát triển của xã hội Việt Nam” [76, tr.7]. Đồng thời chỉ rõ, đó còn là

một nhân tố quan trọng đảm bảo cho xã hội Việt Nam ổn định và phát triển. Trên cơ

sở nêu rõ những nhận thức lý luận mới về dân tộc, quan hệ dân tộc và chính sách dân

tộc; đánh giá thực trạng tình hình kinh tế - xã hội và các quan hệ dân tộc; làm rõ

những thành tựu và yếu kém, khuyết điểm trong quá trình thực hiện chính sách dân

tộc, các tác giả của các nghiên cứu này đã nhận định: Những bất cập, hạn chế trong

việc giải quyết các quan hệ dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc đều có thể làm phát

sinh những mâu thuẫn, những xung đột dân tộc và giữa các tộc người trong quá trình

phát triển; gây tổn hại lớn tới khối đại đoàn kết dân tộc, cản trở và kìm hãm sự phát

triển của dân tộc và của từng tộc người; đồng thời, làm suy giảm và triệt tiêu nội lực,

động lực phát triển chung của đất nước, của quốc gia - dân tộc. Từ việc tổng kết thực

tiễn để phát hiện mâu thuẫn và tình huống, tác giả đã dự báo các xu hướng, đề xuất

các giải pháp và nêu lên những khuyến nghị về chính sách và các vấn đề có liên quan

tới sự phát triển của các tộc người, các quan hệ dân tộc, đoàn kết dân tộc ở nước ta.

Cũng theo tác giả các công trình này, cùng với đổi mới nhận thức, xây dựng hệ thống

chính trị và đào tạo nguồn nhân lực thì thực hiện tốt chính sách dân tộc trên các lĩnh

vực kinh tế, văn hoá, xã hội, được xem là giải pháp cơ bản để thực hiện công bằng,

bình đẳng trong phát triển vùng đa tộc người ở Việt Nam hiện nay.

11

Những kết quả nghiên cứu nêu trên góp phần tạo tiền đề, luận cứ khoa học

cho những quyết sách mới của Đảng và Nhà nước về vấn đề quan hệ dân tộc và

chính sách dân tộc hiện nay cũng như về sau.

Về giải quyết mối quan hệ dân tộc trong giai đoạn hiện nay có các công trình

nghiên cứu tiêu biểu như Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến

mối quan hệ dân tộc hiện nay [9]; Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và

quan hệ dân tộc ở Việt Nam [37]. Các công trình tiếp cận vấn đề chính sách dân tộc

từ lý luận phát triển của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phác hoạ

bức tranh tổng thể về xung đột dân tộc đang diễn ra trên thế giới; đồng thời, nêu lên

các bài học kinh nghiệm và phương hướng giải quyết để hạn chế những xung đột

tộc người. Đối với Việt Nam, các tác giả đã nêu lên thực trạng mối quan hệ dân tộc

ở nước ta hiện nay vẫn còn tiểm ẩn những yếu tố có thể gây mất ổn định, đồng thời

đề xuất một số khuyến nghị để thực hiện tốt đường lối, chính sách dân tộc của Đảng

trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Cuốn sách Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế xã hội ở miền

núi [26] đã dành một chương đánh giá vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách

dân tộc ở Việt Nam. Trên cơ sở khái quát thực trạng kinh tế - xã hội ở vùng dân

tộc thiểu số, tác giả đưa ra những nhận thức và quan điểm cơ bản về chính sách

dân tộc trong thời kỳ mới, trong đó khẳng định: phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở

để thực hiện chính sách dân tộc.

Phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số chính là khâu then chốt - giải pháp

có tính đột phá cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta nói chung, sự

phát triển của vùng đồng bào dân tộc thiểu số nước ta nói riêng - đó là nhận định

được rút ra từ cuốn sách Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số Việt

Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (Sách

chuyên khảo) [42]. Tác giả khẳng định: Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn chiến lược

về kinh tế - xã hội, môi trường, văn hoá, chính trị, an ninh, quốc phòng, tôn giáo,

dân tộc và quan hệ quốc tế của đất nước. Vùng dân tộc thiểu số chứa đựng nhiều

nguồn tài nguyên thiên nhiên, xã hội, lịch sử, văn hoá vô giá phục vụ cho sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tiềm năng và cơ hội phát triển của vùng

12

dân tộc thiểu số không chỉ mang ý nghĩa tự thân mà còn cho cả đất nước. Bên cạnh

đó, vùng dân tộc đang phải đương đầu với những thách thức to lớn về phát triển,

trước hết là thách thức về số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực. Trình độ

dân trí thấp, thiếu hiểu biết, thiếu thông tin của người dân tộc thiểu số chính là mảnh

đất màu mỡ cho các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc,

chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Với nhận thức đó, cuốn sách chuyên khảo đã trình

bày luận cứ lý thuyết và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số nước ta

đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong đó, nêu lên kinh

nghiệm phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số của một số nước trên thế giới

như Canada, Trung Quốc. Đồng thời, phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực

dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ đổi mới và rút ra nhận định quan trọng về vấn đề

phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số, đã đóng góp vào việc cung cấp luận cứ

và giải pháp cho phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số nước ta.

Tóm lại, có thể thống kê nhiều hơn nữa các công trình loại này, song đây là

những nghiên cứu tổng hợp, mang đến những nhận định khái quát về đặc điểm địa

lý, văn hoá xã hội, về thành phần dân tộc và sự phân bố các dân tộc thiểu số ở Việt

Nam. Từ đó, rút ra một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn về đời sống

của đồng bào các dân tộc thiểu số; đồng thời, đóng góp cơ sở khoa học cho việc

thực hiện tốt hơn chính sách bình đẳng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điểm

thống nhất cơ bản của các nghiên cứu này là tiếp cận, nhìn nhận, giải quyết vấn đề

dân tộc ở Việt Nam từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh. Tuy nhiên, khi kiến giải từng vấn đề cũng có những khác biệt. Những công

trình nghiên cứu trên cung cấp cơ sở lý thuyết, phương pháp luận và phần nào dữ

liệu để triển khai nghiên cứu luận án.

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về chính sách dân tộc của Đảng và

Nhà nước Việt Nam

Từ cuối những năm 1990 đến nay, chính sách dân tộc đã được các viện,

nhóm học giả trong và ngoài nước nghiên cứu như cuốn sách Vấn đề dân tộc và

định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại

hoá [120]. Tuy nhiên, công trình này không tránh khỏi những đánh giá mang tính

13

chủ quan ngay trong việc nhìn nhận một cách khách quan nhất kết quả thực hiện

chính sách dân tộc trong thời gian qua.

Chuyên khảo Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay

[40] một mặt, giúp người đọc nhìn nhận hệ thống về chính sách dân tộc của Đảng

và Nhà nước Việt Nam từ năm 1930 đến nay; mặt khác, thông qua khảo sát thực tế

tại vùng dân tộc như Tây Bắc, Tây Nguyên, đã rút ra những kết luận, làm rõ những

thành công và hạn chế trong quá trình hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc

của Đảng và Nhà nước Việt Nam, xác định những quan điểm, phương hướng lớn về

chính sách dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc trong thực tiễn nhằm đảm bảo công

bằng, bình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau cùng phát triển, đặc biệt là xử lý các

vấn đề bức xúc như: tranh chấp nguồn lợi, xung đột tộc người, vấn đề nghèo đói,

tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch... Qua công trình nghiên cứu, các

tác giả đã phân biệt khái niệm “dân tộc” với tính cách tộc người với khái niệm "dân

tộc" mang hàm nghĩa “quốc gia - dân tộc” [40, tr.250].

Chính sách dân tộc của Việt Nam trong những năm đổi mới đã hướng đến

can thiệp vào những vùng trọng điểm như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, đặc

biệt là trên các vấn đề: chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xoá đói giảm nghèo, đào tạo cán

bộ dân tộc thiểu số… Chuyên khảo: Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở miền

Trung, Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới [13] là một ví dụ. Đóng góp của tác giả đã

nhận diện đặc trưng Tây Nguyên với tính cách khu vực lịch sử - dân tộc học không

thể lầm lẫn với khu vực nào khác trên đất nước Việt Nam, với địa bàn cư trú truyền

thống của cư dân nói tiếng Malayo-polinesien và Môn-Khơme, trên cơ sở đó chỉ ra

những bất cập của chính sách khi chưa sát hợp với đặc điểm vùng và đặc điểm tộc

người. Điều đó dẫn đến không ít hệ lụy ở Tây Nguyên từ sau năm 1975, đáng chú ý

là các vấn đề xử lý không thỏa đáng vấn đề đất ở và đất canh tác cho các tộc người

bản địa, quản lý di cư tự do thiếu chặt chẽ, tình trạng phá rừng nghiêm trọng đe dọa

đến không gian sinh tồn và sinh kế tộc người... Các hạn chế đó đã bị các thế lực thù

địch lợi dụng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết tộc người, tạo nên các cuộc bạo loạn

chính trị, đỉnh điểm là năm 2001, mà đến nay tình hình Tây Nguyên đã "yên"

nhưng vẫn chưa "ổn". Tác giả còn rút ra một số kinh nghiệm từ cuộc đấu tranh

14

chống “diễn biến hòa bình” ở Tây Nguyên. Tuy nhiên, một hạn chế dễ nhận thấy ở

công trình này đó là tập trung nghiên cứu dựa trên các đặc điểm phân bố dân cư,

phát triển kinh tế, giao thông và mức sống…

Bàn về những xu hướng tác động đến quản lý phát triển xã hội các vùng dân

tộc thiểu số nước ta hiện nay, trong bài viết Những xu hướng tác động đến quản lý

phát triển xã hội các vùng dân tộc thiểu số nước ta [30], tác giả đã đề cập tới một số

xu hướng chủ yếu như: Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá, tự do hoá kinh tế; xu

hướng dân chủ hoá; xu hướng đan xen vấn đề dân tộc với tôn giáo; xu hướng đan

xen giữa xung đột xã hội với hợp tác xã hội trong quan hệ tộc người; xu hướng hợp

tác hóa lãnh thổ. Đồng thời, tác giả khẳng định: các xu hướng trên đang và sẽ tác

động đến quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc thiểu số Việt Nam trong thập niên

tới, bao gồm cả tích cực, tiêu cực và lưỡng cực. Vì vậy, các giải pháp hoàn thiện

chính sách quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc thiểu số trong đó đòi hỏi phải phát

huy mặt tích cực, hoá giải mặt tiêu cực, kiểm soát được các tác động lưỡng cực.

Luận án tiến sỹ Lịch sử: Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng

Cộng sản Việt Nam đối với đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long [48] đi

sâu nghiên cứu chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung và đối

với đồng bào Khmer nói riêng cũng như quá trình thực hiện tại vùng đồng bằng

sông Cửu Long. Nghiên cứu này đã nhận diện đặc trưng của vùng Tây Nam Bộ với

địa bàn cư trú lâu đời của người Khơ-me, làm rõ những đặc điểm quan hệ tộc người

nội vùng, liên vùng - xuyên biên giới với Campuchia, các yếu tố lịch sử, các đặc

điểm của hệ sinh thái châu thổ - sông nước... ảnh hưởng đến đời sống đồng bào. Vì

vậy, chính sách dân tộc không chỉ giải quyết những vấn đề của quyền bình đẳng tộc

người mà còn phải chú ý hóa giải các tác động bất lợi từ sự lợi dụng các vấn đề

Phật giáo Nam tông, vấn đề lãnh thổ lịch sử, vấn đề quan hệ tộc người xuyên biên

giới để thực hiện "diễn biến hòa bình", thúc đẩy chủ nghĩa giải lãnh thổ. Từ những

kết quả đạt được trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc trên các lĩnh vực kinh

tế, chính trị, văn hoá, xã hội, tác giả mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp để

thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc tại vùng đồng bào dân tộc Khơ-me.

15

Nhìn chung, các đề tài và các bài viết đã cung cấp một cách khách quan, toàn

diện tình hình thực hiện chính sách dân tộc ở các địa bàn nghiên cứu. Các công

trình, bài viết cho thấy, ngoài những chính sách quốc gia phục vụ như những hướng

dẫn và chiến lược chung cho phát triển, còn có những chính sách riêng cho các

vùng nhằm vào các khu vực địa lý cụ thể dựa trên những điều kiện riêng biệt của

từng vùng. Với nhận định, kết luận và bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá

trình nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp luận cứ khoa học để tiếp tục hoàn thiện các

giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc của Đảng trong tình hình mới.

Nhóm 3: Các công trình, đề tài nghiên cứu về vấn đề dân tộc, chính sách

dân tộc ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc

Tác giả cuốn sách Văn hoá dân tộc Nùng ở Cao Bằng [116] lần đầu tiên thực

hiện nghiên cứu chuyên biệt về toàn bộ hệ thống văn hoá dân tộc Nùng ở Cao Bằng.

Dựa vào những tài liệu có thể khai thác tại địa phương, tác giả đã khái quát những

nét chính về điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử hình thành tộc người. Qua đó, tác

giả đã làm rõ mối quan hệ cộng đồng làng bản, phong tục, tập quán, tôn giáo tín

ngưỡng, sự giao thoa văn hoá Nùng - Tày, Nùng - Hoa và đặc biệt là Nùng - Kinh

cùng với truyền thống yêu nước của các tộc người do những đặc điểm về địa lý, lịch

sử mang lại.

Chuyên khảo Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi

phía Bắc nước ta hiện nay [62] trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư

tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, đã đánh giá thực trạng số lượng, chất

lượng, cơ cấu của đội ngũ cán bộ, gồm cả cán bộ tuyến tỉnh, tuyến huyện và tuyến

xã, cả cán bộ hệ thống chính trị và viên chức các đơn vị sự nghiệp. Trên cơ sở đó đã

đưa ra một số giải pháp mang tính can thiệp chính sách để gia tăng về số lượng,

điều chỉnh về cơ cấu, đặc biệt là nâng cao chất lượng cán bộ. Các vấn đề được đề

cập sâu sắc là giải quyết cán bộ từ khâu tạo nguồn bằng mô hình đào tạo đặc thù

cho các dân tộc thiểu số, trong đó phát triển trường dân tộc nội trú và chính sách cử

tuyển được xem là một trọng tâm; điều chỉnh cơ cấu bằng các chính sách điều động,

luân chuyển, tăng cường cán bộ cần được coi trọng; thực hiện hỗ trợ trực tiếp cho

16

học sinh, con em các dân tộc trên cần bám sát điều kiện từng dân tộc, từng khu vực,

trong đó các dân tộc có dân số ít phải được đặc biệt ưu tiên.

Cuốn sách Phát triển bền vững văn hoá tộc người trong quá trình hội nhập ở

vùng Đông Bắc [60] đã làm rõ thực trạng và đánh giá mức độ bền vững về văn hoá

của các dân tộc thiểu số; đồng thời, xem xét tác động của hội nhập đến sự phát triển

bền vững. Trên cơ sở đó, các tác giả đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm

đảm bảo phát triển bền vững văn hoá các tộc người ở vùng Đông Bắc Việt Nam.

Những năm qua, tập quán di dân tự do, du canh du cư của nhiều dân tộc thiểu

số nói chung, vùng miền núi phía Bắc nói riêng vẫn tiếp tục diễn ra với nhiều diễn

biến phức tạp, tác động nhiều chiều. Đề cập đến vấn đề này có các cuốn sách: Di dân

tự do của đồng bào Tày, Nùng, H’mông, Dao từ Cao Bằng, Lạng Sơn vào ĐắkLắk

(1986 - 2000) [47] và Di cư của người Hmông từ đổi mới đến nay (Sách chuyên

khảo) [36]. Các tác giả đã phân tích cụ thể nguyên nhân của tình trạng di dân tự do

chủ yếu do đời sống kinh tế khó khăn, thiếu đất sản xuất và nước sinh hoạt, điều kiện

tự nhiên khắc nghiệt và giao thông đi lại khó khăn; điều kiện dịch vụ xã hội kém; bị

người khác lôi kéo; đoàn tụ với gia đình, gia tộc; do văn hoá, truyền thống…

Các tác giả cũng đánh giá: di dân tự do có tác động tích cực, đáng chú ý nhất

là những đóng góp vào công cuộc đưa cái mới, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, vật nuôi,

cây trồng và giảm nghèo ở cộng đồng dân tộc thiểu số, nhưng đồng thời cũng gây ra

rất nhiều tiêu cực như phá vỡ quy hoạch của nhiều vùng, khó khăn trong quản lý hộ

khẩu… Từ những phân tích đó, các tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị đối với

Nhà nước trong công tác điều tiết và ổn định di dân tự do nhằm phát huy mặt tích

cực, hạn chế mặt tiêu cực của di dân tự do.

Trong quá trình nghiên cứu các hướng xuất cư và nhập cư của di dân nội địa,

các tác giả chủ yếu tập trung trình bày về hướng xuất cư của nhóm H'mông, Dao,

Tày, Nùng từ một số địa phương cụ thể như Cao Bằng, Lạng Sơn, Tây Thanh Hoá

và Nghệ An vào Tây Nguyên. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa làm rõ được quá

trình di dân tự do trong toàn quốc của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Đông

Bắc. Đồng thời, còn nhiều vấn đề có liên quan đến việc di cư tự do của đồng bào

17

các dân tộc thiểu số chỉ mới được đặt ra ở dạng gợi mở cho các nghiên cứu tiếp theo

như di cư xuyên biên giới, di cư hôn nhân, di cư truyền giáo...

Kỷ yếu hội thảo Xoá đói giảm nghèo vấn đề và giải pháp ở vùng dân tộc thiểu

số phía Bắc Việt Nam [118] tập hợp nhiều bài viết liên quan đến các vấn đề về đói

nghèo, chuẩn nghèo, đánh giá và đưa ra các giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác xoá

đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam. Đáng chú ý là

các đánh giá về nguyên nhân của đói nghèo, gồm cả nguyên nhân do di tồn lịch sử, rào

cản của yếu tố địa lý - tự nhiên và tập quán canh tác... đã đe dọa đến sinh kế tộc người.

Ngoài ra, chính sách dân tộc chú trọng về hỗ trợ thay vì đầu tư phát triển cũng dễ gây

tâm lý ỷ lại, trông chờ của một bộ phận không nhỏ đồng bào các dân tộc thiểu số. Do

đó, một số tác giả khuyến nghị phải kết hợp cả chính sách hỗ trợ mang tính an sinh xã

hội với chính sách đầu tư phát triển, phải chuyển hóa được nguồn lực ưu tiên đầu tư

của nhà nước thành nội động lực cho quá trình tự phát triển của đồng bào các dân tộc.

Các công trình nghiên cứu trên đều khẳng định vai trò to lớn và sự đúng đắn,

nhất quán của Đảng trong việc đề ra và lãnh đạo thực hiện chính sách đối với các

dân tộc thiểu số trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong cách mạng xã hội

chủ nghĩa cũng như trong công cuộc đổi mới hiện nay.

Nhóm 4: Các nghiên cứu của người nước ngoài đề cập đến chính sách

dân tộc của Việt Nam nói chung và chính sách dân tộc đối với vùng Đông Bắc

Việt Nam nói riêng

Xuất phát từ những mục đích và động cơ khác nhau, nghiên cứu của người

nước ngoài về các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày càng được mở rộng, đi sâu tìm

hiểu trên nhiều lĩnh vực. Đáng chú ý là công trình nghiên cứu Chính sách dân tộc

của Đảng Cộng sản Việt Nam (Luận án Tiến sĩ) [34]. Nghiên cứu này không chỉ

quan tâm đến đặc điểm nhân chủng, văn hoá tộc người, mà hướng trọng tâm đến

các vấn đề thể chế, chính sách phát triển xã hội tộc người và quản lý phát triển tộc

người của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Luận án đã chỉ ra được những ưu điểm

trong chính sách phát triển tộc người của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trước đây,

nhờ đó, đã quy tụ, đoàn kết được các cộng đồng tộc người thiểu số trong sự nghiệp

cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

18

Công trình “Những xu hướng phát triển ở vùng núi phía Bắc Việt Nam”, Tập

1: Tổng quan và phân tích [38] đã dựa trên các khung phân tích mô hình, ứng dụng

vào trường hợp các tỉnh miền núi phía Bắc, đã đem đến cách nhìn khu vực về xã hội

tộc người gắn với hệ sinh thái gò đồi hoặc sơn nguyên. Hệ sinh thái đó với các quan

hệ tương tác với phát triển xã hội tộc người được phân tích, đánh giá khoa học. Các

lý thuyết phát triển được vận dụng vào đánh giá xu hướng vận động của không gian

xã hội tộc người ở miền núi phía Bắc.

Các báo cáo của Neil Jamieson [121], [122]... đã đưa các giải pháp riêng về

phát triển các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Điểm đáng ghi nhận trong các báo cáo

này là đã chỉ ra sự phân hóa ngay trong nội bộ các tộc người thiểu số, mà ở đó

nhóm các tộc người thiểu số có dân số ít được hưởng lợi từ các chính sách ưu tiên

của Nhà nước Việt Nam hoặc hỗ trợ thường xuất phát từ ý chí của nhà nước đối với

người dân, mà chú ý chưa đầy đủ đến phát huy năng lực nội sinh của bản thân

người dân tộc thiểu số để đảm bảo phát triển bền vững. Điều này đã gợi mở cách

tiếp cận chính sách dân tộc trong phát triển ở vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam.

Trong tiến trình cải cách, mở cửa phát triển kinh tế, chính sách dân tộc của

Trung Quốc đã có những thay đổi. Có thể thấy, một số vấn đề đổi mới trong thực

hiện chính sách dân tộc vùng biên cương của Trung Quốc được thể hiện bằng chính

sách cụ thể như: mở cửa biên giới, thực hiện chương trình “hưng biên, phú dân”,

chương trình giúp đỡ phát triển các dân tộc có dân số ít vùng biên giới… Để phục

vụ cho mục đích nghiên cứu đó, các dân tộc vùng biên giới phía Bắc Việt Nam, đặc

biệt là các dân tộc thiểu số Việt Nam ở giáp với hai tỉnh Quảng Tây và Vân Nam

(Trung Quốc) đã được các học giả Trung Quốc rất quan tâm, nhất là từ khi Trung

Quốc hoàn thành cơ bản tiến trình mở cửa các vùng dân tộc thiểu số vào năm 1994.

Trong đó, đáng chú ý là “Chính sách dân tộc của Việt Nam và ảnh hưởng của chính

sách đó đến khu vực dân tộc biên giới Trung Quốc” [32]; “Nghiên cứu so sánh

chính sách dân tộc của Việt Nam và Trung Quốc thời hiện đại” [27]. Thông qua

nghiên cứu, so sánh, các công trình đã làm rõ sự hình thành, phát triển chính sách

dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại; đồng thời tổng kết một số chính

sách và giải pháp hiệu quả trong việc vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo tồn và

19

phát huy văn hoá đa dạng, góp phần vào sự phát triển toàn diện vùng dân tộc thiểu

số biên giới của hai nước.

Nghiên cứu của các tác giả ở trong và ngoài nước đã cung cấp một số tư liệu,

thông tin, tri thức và cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu. Đây là nguồn tư liệu quý

giá được kế thừa khi triển khai nghiên cứu luận án này. Tuy vậy, đến nay vẫn chưa

có công trình chuyên biệt nghiên cứu chính sách dân tộc và thực hiện chính sách

dân tộc ở vùng Đông Bắc dưới góc nhìn tiến trình chính sách của đảng cầm quyền.

Mỗi công trình do xuất phát từ mục tiêu, phương pháp tiếp cận và giới hạn phạm vi

của nó nên chỉ giải quyết những nội dung nhất định. Đó là chưa kể các nghiên cứu

nước ngoài thường được dẫn dắt bởi triết lý phát triển ngoài mác-xít để xem xét

trường hợp Việt Nam, nên không ít xung đột với quan điểm của các nhà nghiên cứu

trong nước. Tác giả rất thận trọng trong khảo cứu những nghiên cứu dạng này, đáng

chú ý là các nghiên cứu tiếp cận dựa trên quyền của người bản địa, chủ nghĩa bản

địa xuyên quốc gia, chủ nghĩa lãnh thổ lịch sử, sinh thái xã hội luận... Hoặc đề cập

đến chính sách dân tộc cũng có sự khác biệt đáng kể về quan điểm của các nước vốn

là thuộc địa di dân có nhiều quan hệ phức tạp giữa thổ dân với dân nhập cư (như

trường hợp Úc, Mỹ, Canađa) khác với trường hợp Việt Nam, cho nên, mọi sự so sánh

chỉ để tham chiếu trên tinh thần khoa học có phê phán. Bởi vấn đề dân tộc nhiều khi

không còn thuần túy là chủ đề khoa học, mà thường bị lợi dụng để phục vụ cho các

mục đích chống phá của các thế lực thù địch được lồng ghép trong các phạm trù nhân

quyền - tộc người, nhân quyền - tôn giáo hoặc quyền của người bản địa.

2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Qua nghiên cứu, tìm hiểu các công trình khoa học liên quan đã được công

bố, có thể thấy, vấn đề dân tộc thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý. Trong các công

trình nói trên, vấn đề dân tộc được đề cập và nghiên cứu ở nhiều góc độ, dưới dạng

sách chuyên khảo, đề tài, bài viết tạp chí, hoặc luận văn, luận án. Một số công trình

nghiên cứu về quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở các tỉnh miền núi Đông Bắc

nói riêng và cả nước nói chung tiếp cận dưới góc độ lịch sử, dân tộc học, triết học,

chính trị học, xã hội học.

20

Đồng thời, qua tìm hiểu các công trình đó cho thấy, nghiên cứu về chính sách

dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc

còn một số "khoảng trống" sau đây cần phải được khỏa lấp trong các nghiên cứu

tiếp theo:

Một là: Vẫn chưa có một tổng kết đầy đủ, toàn diện về các bước phát

triển tư duy nhận thức của Đảng về thực hiện chính sách dân tộc ở cấp vùng,

nhất là các tư tưởng về "cùng phát triển" hay phát triển không loại trừ giữa các

tộc người, quan điểm phát triển tộc người gắn với phát triển vùng lãnh thổ trong

điều kiện hợp tác hóa lãnh thổ, quan điểm về phát triển khoa học công nghệ gắn

với phát huy tri thức bản địa tộc người, rồi các vấn đề khoa học tổ chức lãnh thổ,

chính sách công...

Hai là: Các nghiên cứu chính sách dân tộc của Đảng dưới góc độ lịch đại

còn rất ít, nếu có cũng chỉ rất khái lược, không đủ cắt nghĩa bối cảnh phát sinh,

định hình, định dạng, phát triển và kết thúc chu trình của một chính sách. Đặc

biệt, giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2010, khi Việt Nam chuyển sang thời kỳ

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì chuyển biến của xã hội tộc người chỉ

trong 15 năm có thể bằng hàng thế kỷ trước cộng lại, nhưng chúng được nhận

diện, đánh giá như thế nào trên bình diện cả nước cũng như từng vùng, từng tộc

người lại còn không ít "khoảng trống".

Ba là: Trong điều kiện một đảng cầm quyền thì các quan điểm, chủ trương,

định hướng lớn của Đảng là một bộ phận cấu thành của chính sách công (theo nghĩa

rộng) để nhà nước thể chế hóa thành chính sách can thiệp (chính sách công theo

nghĩa hẹp). Tuy nhiên, trên thực tế còn không ít quan điểm trái chiều nhau giữa các

nhà nghiên cứu do chi phối bởi cách tiếp cận chính sách công của các mô hình dân

chủ đa nguyên phương Tây hoặc chính sách của Đảng, Nhà nước theo mô hình Xô-

viết. Điều đó dẫn tới phân tách một cách máy móc đường lối, chủ trương của Đảng

với chính sách công của Nhà nước, không nhận diện được biến đổi về quan niệm

chính sách công của Đảng trong tiến trình đổi mới, không làm rõ được vai trò, vị trí

của Đảng trong các tiến trình chính sách cũng như không tìm được giải pháp nâng

21

cao chất lượng hoạch định chính sách dân tộc và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc

từ phía bản thân đảng cầm quyền.

Bốn là: Các nghiên cứu chính sách dân tộc của Đảng và thực hiện chính

sách dân tộc của Đảng ở cấp vùng và cấp địa phương vẫn là điểm yếu căn bản.

Một phần do Việt Nam theo đuổi mô hình nhà nước đơn nhất, không thiết lập thể

chế vùng, nên các chính sách thường hoạch định ở Trung ương, địa phương chỉ

tổ chức thực hiện mà không có thẩm quyền ban hành chính sách. Phần khác do

giới hạn về cách tiếp cận trong nghiên cứu. Tuy nhiên, trong thực tế, do tính tập

trung chính sách quá cao nên không bao quát được đầy đủ tính đặc thù, đa dạng

của từng vùng và địa phương, buộc các địa phương phải “vận dụng” dưới các

hình thức khác nhau, nếu đúng đắn thì đó là sáng tạo, nếu không đúng đắn lại

thúc đẩy chủ nghĩa địa phương dưới các hình thức khác nhau. Vì vậy, các nghiên

cứu, tổng kết, đánh giá chính sách ở cấp vùng và địa phương là vấn đề rất khó

khăn đối với các nhà nghiên cứu, càng khó khăn hơn đối với các địa phương

Đông Bắc.

Năm là: Mỗi công trình nghiên cứu ra đời trước đây đều xuất phát từ bối

cảnh, mục tiêu và giới hạn của nó, nên không thể cập nhật được các dữ liệu mới

phát sinh, không giải quyết các nhiệm vụ mà luận án đang theo đuổi. Do đó, việc

thực hiện luận án này nhằm góp phần khỏa lấp một số “khoảng trống” mà các

nghiên cứu trước đây không hoặc chưa đề cập về tổ chức thực hiện chính sách

dân tộc của Đảng ở vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam.

Những “khoảng trống” nêu trên đặt ra các tình huống khoa học mà đối

tượng nghiên cứu của luận án phải hướng tới góp phần giải quyết, đặc biệt là các

vấn đề thuộc phương diện nhận thức khoa học.

22

Chương 1 QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM (TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000)

1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC

CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI VÙNG MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

1.1.1. Một số khái niệm liên quan

“Dân tộc” là một khái niệm hết sức phức tạp, có nhiều cách hiểu và sử dụng

khác nhau. Nhìn chung, có thể hiểu theo hàm nghĩa “quốc gia - dân tộc” (như dân

tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa...) hoặc hàm nghĩa dân tộc - tộc người (như Kinh,

Thái, Mường...). Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: 1. Dân tộc (nation) hay

quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước,

thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của

nhiều bộ lạc hay liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng tộc người. Tính chất

của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau. 2. Dân tộc còn

đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người. Cộng đồng này có thể là một bộ

phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác

nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự

giác tộc người. Dân tộc - tộc người là cộng đồng người thường tự nhận mình bằng

một tên tự gọi, có tiếng nói chung, có phong tục tập quán chung [73].

“Dân tộc thiểu số” nước ta là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc

đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [6]. Với

cách hiểu này, có lúc, có nơi, nhất là trong những năm trước đây, “dân tộc thiểu số”

còn được gọi là “dân tộc ít người”. Khái niệm “dân tộc thiểu số”chỉ có ý nghĩa biểu

thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc, không xem xét trong phạm

vi một địa phương, không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các

dân tộc. Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều

hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch

sử của mỗi dân tộc.

23

“Tộc người bản địa” (hay còn gọi là thổ dân) thường được sử dụng trong

trường hợp các thuộc địa di dân trước đây, chỉ những tộc người sống trên các vùng

đất châu Mỹ, châu Úc trước khi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm chiếm và biến

các vùng còn ở trạng thái lãnh địa tiền nhà nước thành các quốc gia - dân tộc. Trong

trường hợp đó, người tại chỗ gọi là dân tộc bản địa, là thổ dân, còn người da trắng

nhập cư là thực dân. Còn đối với Việt Nam, trong quá trình lịch sử hàng ngàn năm

dựng nước và giữ nước, các tộc người đã cố kết, hòa nhập xã hội để hình thành nên

một cộng đồng thống nhất, gắn với cấu trúc lại lãnh thổ, để xây dựng quốc gia - dân

tộc Việt Nam, nên không có hình thái “dân tộc bản địa” kiểu như các nước vốn là

thuộc địa di dân.

“Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh

sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam [6].

Vấn đề dân tộc là vấn đề nổi lên cần giải quyết trên các lĩnh vực kinh tế,

chính trị, văn hoá, xã hội giữa các dân tộc nhằm thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn

trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Chính sách dân tộc là hệ thống chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà

nước, trên cơ sở căn cứ vào đường lối chính trị và tình hình thực tiễn của đất

nước, tác động vào tất cả các lĩnh vực của các dân tộc thiểu số, các vùng dân tộc

và có thể đối với từng tộc người nhằm thực hiện quyền bình bẳng giữa các dân

tộc về chính trị, kinh tế, văn hoá, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, giữ gìn và

phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, làm cho các dân tộc bình đẳng, đoàn kết,

tương trợ giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc; đảm bảo sự thống nhất của

quốc gia và dân tộc; giao lưu, hội nhập quốc tế. Chính sách dân tộc là một loại

chính sách công.

Chính sách dân tộc là một bộ phận hữu cơ nằm trong chính sách công của

Đảng và Nhà nước. Chính sách dân tộc là một loại chính sách tổng hợp, bao quát

trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại,

an ninh, quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái. Chính sách dân tộc đúng đắn

không những thúc đẩy kinh tế phát triển, đáp ứng nhu cầu vật chất, văn hóa của

24

đồng bào các dân tộc thiểu số, mà còn là một phương hướng tích cực nhất, chủ

động nhất, có hiệu quả nhất đối với các âm mưu, hoạt động chống phá, chia rẽ

khối đại đoàn kết dân tộc, củng cố thế trận an ninh - quốc phòng, bảo vệ chủ

quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

1.1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

* Điều kiện địa lý tự nhiên

Về vị trí địa lý:

Vùng Đông Bắc gồm 13 tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng

Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang,

Bắc Ninh, Quảng Ninh. Trong vùng địa lý rộng lớn trên, các tỉnh Hà Giang, Cao

Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh là tỉnh biên giới, vùng cao, được chọn làm địa bàn

khảo sát thực địa chủ yếu. Đây là địa bàn có đông dân tộc thiểu số sinh sống, có

tầm quan trọng chiến lược về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng và môi trường

sinh thái.

Diện tích tự nhiên của vùng là 29.100,6 km², nằm ở vị trí địa lý khoảng từ

21º đến 23º24 vĩ Bắc; và 102º đến 108º kinh Đông [35, tr.23]. Là vùng có vị trí địa -

chính trị đặc biệt quan trọng, có vai trò xung yếu về an ninh - quốc phòng, có đường

biên giới giáp với Trung Quốc dài 970,8 km (gồm 4 tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn,

Cao Bằng, Hà Giang). Phía Đông giáp với vịnh Bắc Bộ và thông ra biển Đông với

chiều dài 250 km thuộc 8 huyện của tỉnh Quảng Ninh. Miền núi Đông Bắc có

đường bộ và đường thuỷ thuận lợi tạo điều kiện giao lưu trực tiếp với đồng bằng

sông Hồng, giao lưu thông thương để phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại với

các nước trong khu vực, đặc biệt là với các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam

(Trung Quốc). Đối diện với bốn tỉnh này của nước ta là tỉnh Quảng Tây của Trung

Quốc đang thực hiện chiến lược “phú dân, hưng biên” với tốc độ phát triển nhanh

chóng, tạo nên các đô thị áp lực, các khu kinh tế mở, các đường vành đai biên giới,

1 "Một vành đai" là: vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ; "hai hành lang kinh tế" là: hành lang Côn Minh - Lào Cai

- Hà Nội - Hải Phòng và hành lang Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng.

các khu dân cư trù phú để phục vụ cho phát triển “hai hành lang, một vành đai kinh tế”1 và hình thành khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN.

25

Về khí hậu, thủy văn:

Miền núi Đông Bắc Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa

với hai mùa cơ bản: mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc (thường kéo

dài từ tháng 11 năm trước đến hết tháng 4 năm sau) và mùa hè chịu ảnh hưởng của

gió mùa đông nam (thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10). Nhiệt độ trung bình

trong năm từ 20ºC đến 22ºC. Do địa hình có nhiều núi cao và nhiều dãy núi uốn

theo hình cánh cung tạo đường cho gió mùa đông bắc xâm nhập sâu vào vùng này,

vì vậy, vùng núi cao của Đông Bắc có khí hậu á nhiệt đới, nhiệt độ trung bình hàng

năm thấp, có nơi thấp từ 5ºC đến 10ºC. Một số năm ở đây đã xuất hiện băng tuyết

phủ trên những đỉnh núi như Mẫu Sơn, cao nguyên Đồng Văn...

Miền núi Đông Bắc Việt Nam là vùng có nhiều sông, suối. Nhìn chung, các

dòng sông đều chảy theo hướng tây bắc - đông nam, rồi đổ ra biển Đông. Tuy

nhiên, có hai dòng sông là sông Kỳ Cùng (Lạng Sơn) và sông Bằng Giang (Cao

Bằng) chảy ngược lên phía Bắc sang Trung Quốc, đổ vào sông Tây Giang, rồi mới

đổ ra biển. Các dòng sông trong vùng có vị trí quan trọng đối với cuộc sống và sản

xuất của đồng bào các dân tộc nơi đây. Bên cạnh đó, còn tạo điều kiện thuận lợi cho

việc xây dựng các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ ở các địa phương.

Vùng Đông Bắc thường có mưa nhiều vào mùa hè, lượng mưa trung bình

trong năm từ 1.200 đến 1.800 mm. Mùa mưa thường kèm theo giông bão. Những

trận mưa lớn kéo dài thường gây lũ, lụt... làm ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất

của nhân dân, gây ách tắc giao thông cục bộ trong vùng.

Về thổ nhưỡng:

Đất feralit đỏ vàng chiếm tỷ lệ lớn về diện tích, thích hợp cho việc trồng

rừng và cây công nghiệp. Được tưới nước hoặc có đủ độ ẩm cần thiết, loại đất này

rất thích hợp với việc trồng cây công nghiệp, rau, quả, dược liệu cận nhiệt và ôn

đới. Trong cơ cấu đất sử dụng, đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng

lớn. Với địa hình phần lớn là sườn dốc, lại thường có mưa lớn vào mùa hè, việc

mở rộng mô hình nông - lâm nghiệp kết hợp trên cơ sở khai thác hợp lý nguồn đất

có tầm quan trọng đặc biệt, góp phần đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội

của vùng.

26

Về tài nguyên khoáng sản:

Đông Bắc Việt Nam là vùng đa dạng về tài nguyên (mỏ than, mỏ thiếc, mỏ

đồng, mỏ apatit...) với trữ lượng tương đối lớn. Khoáng sản có mặt ở hầu hết các

tỉnh trong vùng - điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp khai thác

và chế biến khoáng sản.

Về giao thông:

Vùng Đông Bắc có hệ thống đường giao thông gồm: đường bộ, đường sắt,

đường thuỷ khá thuận tiện. Tuy nhiên, hệ thống đường giao thông phát triển không

đồng đều giữa các vùng, giao thông ở vùng thấp phát triển hơn vùng cao. Các tỉnh

vùng cao biên giới là khó khăn nhất, đặc biệt như: Hà Giang, Cao Bằng. Do địa

hình và điều kiện tự nhiên thường có mưa lớn kéo theo lũ vào mùa hè nên giao

thông ở vùng cao vẫn gặp khó khăn vì bị sạt lở đường.

Vùng Đông Bắc Việt Nam xét về mặt địa lý là vùng có đầy đủ các yếu tố

mang đậm tính đại diện cho cả nước. Ở đây có núi cao, sông lớn, có vùng thấp,

vùng cao, có cánh đồng, có thung lũng, có biển, có biên giới quốc gia, là vùng

chuyển tiếp từ đồng bằng châu thổ sông Hồng lên vùng biên giới phía Bắc. Với đặc

điểm địa lý đặc trưng đó, vùng Đông Bắc có điều kiện tự nhiên, hệ sinh thái, hình

thái lãnh thổ mang đặc tính khu vực học rõ rệt. Đặc tính khu vực học về mặt địa - tự

nhiên trao cho vùng Đông Bắc chức năng lãnh thổ quan trọng đối với quá trình

dựng nước và giữ nước, nhất là vai trò lãnh thổ tiền tiêu trong quá trình chống Hán

hóa, rồi căn cứ khởi phát phong trào cách mạng giải phóng dân tộc đi tới Cách

mạng Tháng Tám năm 1945, căn cứ địa trong kháng chiến chống thực dân Pháp

xâm lược 1945 - 1954.

* Đặc điểm và hiện trạng kinh tế

Trước Cách mạng Tháng Tám, chế độ phìa-tạo là đặc trưng nổi bật của cư

dân Tày - Nùng, thực chất là các thiết chế xã hội tiền phong kiến. Canh tác lúa nước

ruộng thung lũng xen lẫn với canh tác nương rẫy rất phổ biến trong xã hội cư dân

Tày - Nùng. Tình trạng du danh, du cư vẫn phổ biến ở nhiều nơi. Thủ công nghiệp

và thương nghiệp đã định hình nhưng chỉ là loại hình kinh tế bổ trợ cho kinh tế

nông nghiệp. Đó cơ bản vẫn là nền kinh tế tự cung, tự cấp. Tri thức bản địa của tộc

27

người là nền tảng dẫn dắt xã hội. Chuyển biến kinh tế của Đông Bắc trước thời kỳ

đổi mới không lớn, thậm chí ngưng đọng trong điều kiện chiến tranh.

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (năm 1986), đặc biệt từ sau năm

1989, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm đẩy

nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc miền núi nói chung và miền núi

Đông Bắc Việt Nam nói riêng [3], [28], [43]. Nhờ vậy, tình hình kinh tế - xã hội của

vùng miền núi Đông Bắc đã có những bước phát triển và đạt được một số thành tựu

quan trọng: kinh tế tăng trưởng tương đối cao và ổn định. Giai đoạn 1991 - 1995,

GDP tăng bình quân hàng năm từ 6 - 7% trở lên, trong đó một số tỉnh tốc độ tăng

trưởng cao như: Tuyên Quang 10,97%, Lạng Sơn 10,95% [84, tr.1]. Cơ cấu kinh tế

vùng từng bước chuyển dịch theo chiều hướng tích cực: tăng dần tỷ trọng ngành

công nghiệp, tỷ trọng nông, lâm nghiệp giảm dần. Từ sản xuất mang tính tự cung,

tự cấp là chính, một số địa phương đã bước đầu hình thành vùng sản xuất hàng hoá,

có nơi xây dựng được mô hình sản xuất có hiệu quả. Kết cấu hạ tầng nông nghiệp,

nông thôn miền núi được chú trọng đầu tư. Nhiều tuyến đường lên miền núi và các

cửa khẩu biên giới được cải tạo và xây dựng mới, mở ra khả năng lưu thông hàng

hoá giữa miền xuôi với miền ngược và phát triển thương mại vùng biên giới. Đời

sống nhân dân từng bước được cải thiện. Tỷ lệ nghèo giảm từ 86,1% (năm 1993)

xuống còn 62% (năm 1998) [2, tr.202].

Vùng Đông Bắc với điều kiện miền núi, biên giới, có vị trí địa - chính trị

quan trọng, có nhiều dân tộc cùng cư trú lâu đời như: Tày, Nùng, Mông, Dao, Hoa,

Sán Dìu, Sán Chay... Bên cạnh đó, từ trước đến nay, cùng với các tỉnh khu vực Tây

Bắc, miền núi Đông Bắc được xác định là khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó

khăn nhất Việt Nam. Trong các tỉnh miền núi Đông Bắc, vẫn còn tỉnh có tỷ lệ xã

đặc biệt khó khăn rất cao: Cao Bằng: 82%, Hà Giang: 83,9% [62, tr.81].

Xác định miền núi Đông Bắc có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, Đảng

và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển

kinh tế - xã hội miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Đồng thời, tổ chức

đảng và chính quyền địa phương trong vùng cũng căn cứ vào thực tế để cụ thể hoá

chủ trương, chính sách, trong đó đề ra một số biện pháp cụ thể nhằm xây dựng cơ

28

cấu kinh tế miền núi, hải đảo theo hướng phát triển kinh tế hàng hoá, liên doanh,

liên kết, phát huy thế mạnh của vùng dân tộc, miền núi; thực hiện chính sách kinh tế

nhiều thành phần, đổi mới quản lý, giải phóng năng lực sản xuất của đồng bào.

Những giải pháp đó đã tháo gỡ phần nào khó khăn cho khu vực miền núi, vùng

đồng bào dân tộc thiểu số. Trong 10 năm đầu đổi mới (1986 - 1996), kinh tế miền

núi đã có bước tăng trưởng khá. Ở các tỉnh miền núi Đông Bắc, những năm 1991 -

1995, GDP tăng bình quân hàng năm từ 6 - 7% trở lên. Đời sống nhân dân trong

vùng ngày càng được cải thiện và nâng cao. Thu nhập bình quân đầu người/tháng

tăng từ 173,8 nghìn đồng năm 1996 lên 210 nghìn đồng năm 1999 (tăng 6,3%) [63].

Về cơ cấu kinh tế:

Trong những năm đầu đổi mới, cơ cấu kinh tế vùng Đông Bắc dịch chuyển

theo hướng tiến bộ. Trong GDP, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm dần

tỷ trọng nông, lâm nghiệp. Năm 1995, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng

20,6%, ngành nông - lâm - ngư nghiệp 46,3%, ngành dịch vụ 32,9%. Từ sản xuất

mang tính tự cung, tự cấp là chính, đến năm 1996, bước đầu miền núi Đông Bắc đã

hình thành được một số vùng sản xuất hàng hoá, một số nơi đã xây dựng được mô

hình sản xuất có hiệu quả. Tại tỉnh Lạng Sơn, nếu như năm 1990, tỷ trọng các

ngành trong nền kinh tế của tỉnh là: Nông - lâm nghiệp 63,7%; công nghiệp - xây

dựng chiếm 9,24%; dịch vụ chiếm 27,06%, thì đến năm 2009, tỷ trọng các ngành

kinh tế chuyển biến rõ rệt, trong đó: nông - lâm nghiệp 41,14%; công nghiệp - xây

dựng 20,46%, dịch vụ 38,39% [101].

Về sản xuất nông, lâm nghiệp:

Nông nghiệp: Thực hiện nhất quán chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà

nước đối với công tác dân tộc, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh miền núi Đông

Bắc đã xác định đúng mục tiêu là tập trung vào sản xuất nông nghiệp và phát triển

nông thôn, trong đó, khâu đột phá là chuyển dịch cơ cấu kinh tế cây trồng, vật nuôi

theo hướng sản xuất hàng hoá và hình thành các vùng chuyên canh trồng các cây

nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến, phát triển các ngành nghề truyền

thống nhằm sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá, tạo việc làm cho người lao động,

nâng cao thu nhập cho đồng bào các dân tộc.

29

Sản xuất lương thực đã được giải quyết theo quan điểm sản xuất hàng hoá,

tập trung thâm canh ở những vùng có điều kiện, đưa lương thực sản xuất tại chỗ

bình quân đầu người ngày một tăng lên. Năm 1990, bình quân lương thực đầu

người là 225 kg/năm tăng lên 275 kg/năm vào năm 1994. An ninh lương thực được

đảm bảo. Nổi bật nhất trong sản xuất lương thực là cây ngô, tăng cả diện tích và sản

lượng. Năm 1994, cả vùng Đông Bắc diện tích gieo trồng ngô đạt 229,4 nghìn ha.

Các tỉnh sản xuất ngô hàng đầu của vùng là Hà Giang 35,1 nghìn ha, Cao Bằng đạt

33,6 nghìn ha [65, tr.1080]. Ngoài lúa, ngô, các địa phương trong vùng đều trồng

thêm một số loại hoa màu lương thực như: sắn, khoai lang,...

Những nơi không đủ điều kiện sản xuất lương thực đã chuyển sang phát

huy các thế mạnh như trồng rừng, phát triển cây công nghiệp, chăn nuôi, trồng

cây ăn quả.

Trong cơ cấu cây công nghiệp, cây chè có vị trí đặc biệt, được coi là thế

mạnh của toàn vùng. Chè là cây công nghiệp rất thích hợp với thổ nhưỡng và khí

hậu của vùng, được nhân dân cả nước ưa chuộng, đồng thời, là mặt hàng nông sản

xuất khẩu sang thị trường Trung Đông, EU và Bắc Mỹ. Các tỉnh trồng chè quy mô

lớn là Tuyên Quang (4229 ha), Hà Giang (5269 ha) [65, tr.1084].

Cơ cấu thổ nhưỡng của vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam rất thích hợp với

việc trồng cây công nghiệp, hoa, các loại rau, quả, và dược liệu cận nhiệt đới, ôn

đới. Trong vùng đã hình thành một số vùng sản xuất tập trung: Cam (Hà Giang),

Quýt (Bắc Sơn - Lạng Sơn), hạt dẻ (Trùng Khánh - Cao Bằng), Mận, Lê (Bảo Lạc -

Cao Bằng)...

Chăn nuôi: Điều kiện tự nhiên thuận lợi, kết hợp nguồn màu lương thực

phong phú như cây ngô, khoai lang, các loại cây họ đậu, nhất là đậu tương, rất thích

hợp cho chăn nuôi, đặc biệt là đại gia súc. Đàn gia cầm cũng tăng lên đáng kể, góp

phần tăng thu nhập cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nghề nuôi ong, bò sữa, dê...

bắt đầu có xu hướng phát triển.

Lâm nghiệp: Diện tích đất nông - lâm nghiệp của cả vùng Đông Bắc rất lớn

(3.268,6 ha), với nhiều loại gỗ quý, hiếm. Trước đây, rừng bị suy giảm nghiêm

trọng cả về diện tích và trữ lượng. Trong 10 năm đầu thực hiện đường lối đổi mới

30

của Đảng, Nhà nước, đặc biệt, sau khi Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 327-

QĐ/TTg ngày 18 - 9 - 1992 về phủ xanh đất trống đồi núi trọc, rừng bãi bồi ven

biển và mặt nước gắn với phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế hộ

gia đình, các địa phương đã thực hiện chính sách giao đất, khoán rừng cho các hộ

gia đình và các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế. Đổi mới chính sách phát triển

rừng theo hướng trồng mới kết hợp với tái sinh và bảo vệ rừng đầu nguồn. Với

chính sách mới này đã góp phần bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường tự nhiên. Đến năm

1999, độ che phủ của rừng tại khu vực Đông Bắc đạt 38,9%. Nghề rừng từng bước

trở thành ngành kinh tế sinh thái, đem lại lợi ích kinh tế cho đồng bào các dân tộc

thiểu số và góp phần tạo nguồn sinh thuỷ cho các nhà máy thuỷ điện,...

Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:

Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về Một số chủ trương, chính sách

lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi đã xác định: Phát triển mạnh công nghiệp

chế biến và ngành nghề tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp nông thôn, trước hết là

công nghiệp chế biến nông sản, lâm sản, với quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, phù

hợp với khả năng đầu tư các hộ kinh doanh. Bảo vệ và phát triển những ngành nghề

truyền thống của đồng bào các dân tộc như dệt, thổ cẩm, thêu ren, đan lát...; mở

mang những ngành nghề mới, nhất là những nghề dùng nguyên liệu tại chỗ; tổ chức

rộng rãi khâu sơ chế nông - lâm sản ở các gia đình. Các cơ sở có trang bị kỹ thuật

hiện đại tập trung làm nhiệm vụ gia công chế biến tinh để nâng cao giá trị sản

phẩm; mở rộng kinh doanh theo hướng tổng hợp làm tốt dịch vụ ở cả khâu sản xuất

đặc biệt là ở khâu tiêu thụ.

Thực hiện chủ trương trên, ngành công nghiệp của vùng từ sản xuất mang

tính tự cấp, tự túc, sau 10 năm đổi mới đã có sự thay đổi rõ rệt, đa dạng về ngành

nghề, bao gồm công nghiệp năng lượng, công nghiệp khai thác, công nghiệp chế

biến, sản xuất hàng tiêu dùng... trong đó, một số sản phẩm công nghiệp đã vươn ra

thị trường ngoài vùng và xuất khẩu.

Nhờ những nỗ lực của các địa phương đã làm cho giá trị sản lượng công

nghiệp vùng miền núi Đông Bắc tăng trưởng khá. Năm 1995, giá trị sản lượng công

nghiệp toàn vùng đạt 6.179,2 tỷ đồng, năm 2000 đạt 10.657,7 tỷ đồng, trong đó tỉnh

31

Quảng Ninh luôn ở vị trí dẫn đầu toàn vùng (năm 1995 đạt 1.701,2 tỷ đồng; năm

2000 đạt 3.788,8 tỷ đồng).

Cùng với sự phát triển công nghiệp, nhiều ngành nghề thủ công truyền thống

của các dân tộc như nghề dệt thổ cẩm, nghề đan lát tre, nứa song mây, nghề rèn,

nghề trạm khắc trang sức bằng bạc... cũng dần dần được phục hồi và phát triển.

Xây dựng kết cấu hạ tầng

Bước vào thời kỳ đổi mới, thực hiện chủ trương của Đảng, các tỉnh trong

vùng đã tập trung phát triển mạnh kết cấu hạ tầng ở khu vực miền núi và vùng đồng

bào các dân tộc thiểu số sinh sống. Tính đến năm 2001, toàn vùng núi phía Bắc

(Đông Bắc và Tây Bắc), tỷ lệ xã có đường giao thông đến trung tâm xã đạt 97,3%,

trong đó có tỉnh đạt tỷ lệ 100%: Hà Giang, Quảng Ninh, Lạng Sơn; điện lưới quốc

gia đã đến được 100% thị xã, tỉnh lị các tỉnh, tốc độ tăng trưởng của toàn vùng

Đông Bắc đạt 69% [2, tr.139].

* Đặc điểm dân cư và hiện trạng xã hội

Bốn tỉnh miền núi Đông Bắc có dân số 3.109.223 người, trong đó, dân tộc

thiểu số là 1.847.838 người, chiếm 59,43% dân số toàn vùng [Phụ lục 1]. Là vùng

có nhiều dân tộc cùng cư trú lâu đời như: Tày, Nùng, Kinh, Mông, Dao, Sán Chay,

Thái, Giáy, Bố Y, Pà Thẻn, Hà Nhì, Phù Lá, Lô Lô, La Chí, Cờ Lao, Pu Péo,... các

dân tộc ở đây có đặc điểm riêng về ngôn ngữ, về số lượng dân cư và về sự phân bố.

Đặc điểm về sự phân bố dân cư: Các dân tộc thiểu số ở đây cư trú theo hình

thái xen cài, không phân khu thành lãnh thổ tộc người. Một số tỉnh có trên 10 tộc

người cư trú như: Hà Giang, Lạng Sơn. Phần lớn các huyện miền núi có 10 tộc

người cư trú như: Hà Giang có 9 huyện, Lạng Sơn có 5 huyện... Tuy nhiên, bên

cạnh đó, trong phạm vi tỉnh, vẫn tồn tại một số vùng cư trú tập trung như vùng đồng

bào Nùng ở Cao Bằng, Lạng Sơn; vùng đồng bào Mông ở các huyện vùng cao Hà

Giang; vùng đồng bào Cao Lan - Sán Chí ở các tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn. Trong

phạm vi huyện, xã, bản, xóm, sự quần cư theo tộc người vẫn nổi lên rõ nét.

Số lượng các dân tộc ở các tỉnh trong vùng phân bố không đều, như Cao

Bằng người dân tộc thiểu số là 477.994 người, chiếm 94,2% dân số toàn tỉnh, Hà

Giang là 628.568 người, chiếm 86,8%, Quảng Ninh là 133.194 người, chiếm 11,6%

32

[Phụ lục 1]. Ngay trong một tỉnh, số lượng dân cư trong các dân tộc cũng không

đều. Cụ thể, Cao Bằng, người dân tộc Tày là 207.805 người, chiếm 40,9%, dân tộc

Nùng là 157.607 người, chiếm 31%, dân tộc Cờ Lao là 02 người, chiếm 0,0004%,

dân tộc Hà Nhì là 03 người, chiếm 0,0006% [1].

Đặc điểm về ngôn ngữ dân tộc:

Ngôn ngữ của tất cả các dân tộc ở vùng Đông Bắc thuộc về hai ngữ hệ Nam

Á và Hán Tạng. Tương ứng với các hệ ngôn ngữ trên là dòng văn hoá của các dân

tộc thiểu số. Các dân tộc thiểu số vùng miền núi Đông Bắc có cuộc sống tinh thần

chịu ảnh hưởng nhiều bởi văn minh Trung Hoa cổ đại. Tuy nhiên, khi vào cư trú ở

Việt Nam, đồng bào có cuộc sống riêng của dân tộc mình và những nét riêng của

dân tộc ngày càng được củng cố. Đồng thời, các dân tộc sống ở trong vùng cũng có

quan hệ tiếp xúc, giao lưu văn hoá, dẫn đến hình thành bản sắc văn hoá vùng. Từ

nhiều năm nay, trong vùng đã hình thành hai thứ tiếng để giao tiếp, đó là tiếng Tày -

Nùng được dùng làm phương tiện giao tiếp cho các dân tộc vùng thấp và tiếng

Mông được dùng làm phương tiện giao tiếp chung cho các dân tộc ở vùng cao.

* Đặc điểm và hiện trạng văn hoá, giáo dục, y tế

Trong 10 năm (1986 - 1996), sự nghiệp giáo dục - đào tạo của vùng đã có

nhiều tiến bộ, hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú từ trung ương đến địa

phương được phát triển và củng cố.

Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được quan tâm. Các bệnh viện

tuyến tỉnh, các trạm y tế tuyến xã được đầu tư xây dựng và củng cố. Đời sống văn

hoá tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được nâng lên. Hầu hết

các thị trấn ở vùng núi dân tộc đã được trang bị đài tiếp sóng truyền hình, đài phát

thanh sóng ngắn. Nhiều lễ hội truyền thống được khôi phục và duy trì. Mạng lưới

bưu chính phát hành báo chí đã được xây dựng và phát triển. Các xã miền núi đã

được cung cấp báo Nhân dân, báo địa phương, báo Thiếu niên, báo Nhi đồng, 4/4

tỉnh miền núi có báo đọc trong ngày.

Khoa học công nghệ, văn hoá, giáo dục, y tế có nhiều tiến bộ. Tình hình

chính trị, an ninh, quốc phòng vùng đồng bào dân tộc được ổn định, khối đại đoàn

kết toàn dân tộc được củng cố.

33

Tuy nhiên, đến trước 1996, so với cả nước, miền núi Đông Bắc Việt Nam

vẫn là vùng có nhiều khó khăn. Tỷ lệ đói nghèo của các tỉnh này còn lớn so với cả

nước (tính cả vùng trung du và miền núi phía Bắc gồm 11 tỉnh, tỷ lệ đói nghèo là

18,98%, cao gấp 2,6 lần so với khu vực đồng bằng sông Hồng (7,22%). Sự chênh

lệch giàu nghèo giữa các dân tộc và các vùng còn khoảng cách lớn.

Chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục, y tế ở các tỉnh miền núi Đông Bắc

còn thấp so với yêu cầu và so với vùng đồng bằng. Qua 10 năm đổi mới giáo dục và

đào tạo (1986 - 1996), tuy số lượng học sinh có tăng lên, song chất lượng và hiệu

quả học tập của học sinh người dân tộc thiểu số nhìn chung là rất thấp. Tình trạng

học sinh bỏ học, lưu ban ở các trường phổ thông khá lớn, năm học 1998 - 1999 ở

Cao Bằng là 18,62%, Lạng Sơn là 17,1% [5, tr.26].

Tóm lại, trước khi chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại

hoá, với chủ trương chính sách ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội, các tỉnh miền núi

Đông Bắc đã và đang từng ngày có sự chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực.

Tuy nhiên, khó khăn thách thức đối với vùng vẫn rất lớn, đặt ra yêu cầu cần phải có

một chiến lược phát triển kinh tế - xã hội toàn diện nhằm phát huy mọi nguồn lực

nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số

trong vùng.

* Đặc điểm địa - chính trị - quốc phòng

Tại vùng Đông Bắc, bốn tỉnh có đường biên giới giáp với nước Cộng hoà

dân chủ nhân dân Trung Hoa, gồm cả biên giới trên đất liền, biên giới trên không,

biên giới trên biển và biên giới dưới lòng đất, đó là: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao

Bằng, Hà Giang. Trong những năm đầu đổi mới cũng là thời kỳ hai nước từng bước

bình thường hóa quan hệ, rồi đàm phán phân định biên giới trên bản đồ, rồi trên

thực địa (cắm mốc quốc giới) và phân định vùng đánh cá chung trên vịnh Bắc Bộ.

Đây là những vấn đề nhạy cảm, đụng chạm đến những vấn đề thiêng liêng của chủ

quyền quốc gia, đến tình cảm của người dân và trở thành một trọng điểm mà các thế

lực thù địch lợi dụng để chống phá. Mặt khác, bình thường hóa quan hệ giữa Việt

Nam - Trung Quốc từ năm 1990 cũng dẫn đến những diễn biến phức tạp, nhất là

tình trạng buôn lậu, di cư xuyên biên giới, kiểm dịch động - thực vật... Phía Trung

34

Quốc, để tạo ảnh hưởng của một nước lớn đối với các nước xung quanh, đã xây

dựng chiến lược “Phú dân, hưng biên” với sự đầu tư lớn, nhất là phát triển các đô trị

áp lực đối trọng, các khu kinh tế mở được trao các cơ chế thông thoáng, tổ chức lại

dân cư vùng biên giới, tiếp tục tạo nên các ảnh hưởng thông qua quyền lực “cứng”

và quyền lực “mềm” rất đa dạng...

Trước những diễn biến phức tạp ở khu vực biên giới, với sự gia tăng các loại

tội phạm, đảng bộ và chính quyền các địa phương đã có sự chỉ đạo sát sao nhằm giữ

vững trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới.

Là một trong những tỉnh có đường biên giới giáp Trung Quốc, tỉnh Lạng Sơn

luôn quan tâm, củng cố vùng biên giới, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống

vật chất và tinh thần cho đồng bào vùng biên cương. Ngày 7 tháng 10 năm 1993,

Ban thường vụ Tỉnh uỷ Lạng Sơn khoá XI ra Nghị quyết 03 BTV-TU Về củng cố,

xây dựng vùng biên giới vững mạnh toàn diện, trong đó nêu rõ quan điểm chỉ đạo:

đối với các huyện biên giới, cần quán triệt sâu sắc chính sách đối ngoại của Đảng và

Nhà nước ta, xây dựng biên giới Việt - Trung hoà bình, hữu nghị; giữ vững độc lập,

chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh quốc gia; kinh tế phát triển, đời sống

văn hoá lành mạnh, cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu cơ bản của nhiệm vụ bảo vệ biên

giới; có hệ thống chính trị vững mạnh, mỗi xã biên giới phải thực sự vững mạnh

toàn diện.

Thực hiện Nghị quyết 03 BTV-TU, trong 2 năm 1996-1997, tỉnh Lạng Sơn

đã hoàn thành việc tổ chức giao đường biên, mốc giới với chiều dài tuyến 253km và

82 cột mốc do nhân dân quản lý. Đồng thời, nhân dân đã kịp thời cung cấp 359

nguồn tin quan trọng, tham gia bắt giữ 67 vụ, 8.465 đối tượng xâm phạm an ninh

quốc gia, hàng nghìn lượt đấu tranh ngăn chặn việc xâm canh, lấn đất, bảo vệ được

đường biên mốc giới và giữ vững được hoà bình, hữu nghị giữa nhân dân hai bên

biên giới. Cùng với đó, việc sắp xếp lại dân cư và tổ chức đưa dân trở lại quê cũ làm

ăn cũng được các cấp chính quyền quan tâm và cơ bản hoàn thành trong năm 1997.

Tính đến năm 1997, 94/100 bản giáp biên gồm 2.811 hộ, 16.102 nhân khẩu đã trở

về làng bản cũ, đưa tổng số hộ tại một thị trấn và 20 xã biên giới lên 9.902 hộ,

55.054 nhân khẩu [98, tr.9].

35

Nắm vững quan điểm chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh khu vực miền núi Đông Bắc đã hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo thực hiện phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với giữ vững an ninh quốc phòng; chủ động phòng chống các loại tội phạm, đấu tranh ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm canh, xâm cư, bảo vệ vững chắc đường biên, mốc giới của Tổ quốc; tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ cuộc sống yên lành của nhân dân.

1.1.3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và chính sách

đối với các dân tộc vùng miền núi Đông Bắc trong những năm đầu đổi mới

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đại hội VI (12/1986) đã đưa ra những nhận thức

mới khắc phục quan niệm giản đơn trước đó khi nhìn nhận về vấn đề dân tộc:

Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc của mỗi dân tộc… Chống những thái độ, hành động biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và những biểu hiện của tư tưởng dân tộc hẹp hòi [17, tr.98].

Về chính sách dân tộc, Đại hội xác định:

Sự nghiệp đẩy mạnh ba cuộc cách mạng ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đòi hỏi tăng cường công tác nghiên cứu về dân tộc học và công tác điều tra xã hội học, hiểu biết đầy đủ những khác biệt cụ thể của từng vùng, từng dân tộc. Trên cơ sở đó, bổ sung, cụ thể hóa và thực hiện tốt

hơn chính sách dân tộc, tránh những sai lầm rập khuôn hoặc chủ quan áp đặt những hình thức tổ chức không phù hợp trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở những vùng dân tộc [17, tr.97]. Đại hội đã cụ thể hóa phương hướng phát triển kinh tế ở vùng dân tộc

thiểu số:

Đầu tư thêm và tập trung sự cố gắng của các ngành, các cấp, kết hợp với động viên tinh thần tự lực, tự cường của nhân dân các dân tộc để khai thác, bảo vệ và phát triển thế mạnh về kinh tế ở các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số cư trú. Đẩy mạnh công tác định canh, định cư, ổn định sản xuất và đời sống của đồng bào trước hết ở các vùng cao, biên giới, các vùng căn cứ cũ của cách mạng và kháng chiến [17, tr.97].

36

Cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội VI của Đảng về đổi mới thực hiện chính sách

dân tộc, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22/NQ-TW (ngày 27-11-1989) Về

những chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Đây là nghị

quyết quan trọng chi phối cơ bản chính sách, tình hình phát triển kinh tế - xã hội tạo

nên nét mới trong quốc sách phát triển vùng miền núi, dân tộc thiểu số so với các

chính sách trước đó. Nghị quyết khẳng định phát triển kinh tế - xã hội miền núi là

một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển kinh tế quốc dân. Trong quá trình

phát triển kinh tế - xã hội miền núi, Nhà nước cần cố gắng bố trí vốn đầu tư thích

đáng hơn cho miền núi, trước mắt tập trung đầu tư cho phát triển giao thông vận tải,

thông tin liên lạc, điện và nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư, phát

triển kinh tế hàng hoá kinh doanh có hiệu quả, từng bước tự tích luỹ để đầu tư xây

dựng và phát triển miền núi.

Để triển khai cụ thể các nội dung Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị,

Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 72- HĐBT ngày 13-3-1990 về một

số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi.

Điểm mới của Nghị quyết 22-NQ/TW và Quyết định 72-QĐ/CP là đã chú ý

đến vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nước thông qua việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc.

Ngày 2 tháng 11 năm 1993, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 525-TTg Về một

số chủ trương, biện pháp tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội miền núi nhằm thúc đẩy

việc tổ chức thực hiện Nghị quyết 22, Quyết định 72 và quán triệt tinh thần Nghị

quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá VII về Đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội

nông thôn. Chỉ thị 525 đã cụ thể hoá một lần nữa tinh thần của Nghị quyết 22,

Quyết định 72 và Nghị quyết Trung ương 5 đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở

miền núi và vùng dân tộc thiểu số. Chỉ thị đề cập tới một số nội dung cơ bản như:

chuyển dịch cơ cấu kinh tế mới của miền núi; bảo vệ rừng gắn với định canh định

cư; xây dựng cơ sở hạ tầng trong đó khẳng định giao thông vận tải là lĩnh vực quan

trọng nhất cần đặc biệt chú ý; bên cạnh đó, Chỉ thị còn nêu lên các nội dung về phát

triển giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, xã hội, phát triển thương mại miền núi.

37

Những tư tưởng đổi mới đó còn tiếp tục được thể hiện sâu sắc, cụ thể hoá ở

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được

thông qua tại Đại hội VII cùng với các văn kiện, nghị quyết đại hội. Nghị quyết Đại

hội VII chỉ rõ: Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây

dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp

của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Có chính sách

phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và

đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, đảm bảo cho đồng bào các dân tộc khai thác

được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp

xây dựng và bảo vệ đất nước. Tôn trọng tiếng nói và có chính sách đúng đắn về chữ

viết đối với các dân tộc. Đặc biệt có chính sách khắc phục tình trạng suy giảm dân

số đối với một số dân tộc ít người. Đây là lần đầu tiên chính sách phát triển kinh tế

hàng hóa vùng dân tộc thiểu số được đề cập trong điều kiện cụ thể lúc bấy giờ.

Quan điểm, tư tưởng thực hiện chính sách dân tộc được thể hiện rõ trong tinh

thần của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

(do Đại hội VII thông qua):

Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc,

tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh,

tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân

tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập

quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân

tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội

phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân

tộc thiểu số [18, tr.16].

Xuất phát từ vị trí quan trọng và tình hình đặc thù của vùng dân tộc Mông,

để thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, ngày 23-9-1994, Ban Bí thư đã ra

chỉ thị số 45-CT/TW về một số công tác ở vùng dân tộc Mông. Ngày 8-11-1995,

Ban Bí thư (khoá VII) đã ra Chỉ thị 62-CT/TW về công tác người Hoa trong tình

hình mới.

38

Thực hiện các nghị quyết, quyết định của Đảng và Nhà nước, đặc biệt Nghị

quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), lần thứ VII (1991), Nghị quyết 22-

NQ/TW của Bộ Chính trị về Một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế -

xã hội miền núi và Quyết định 72-QĐ/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 13-3-

1990 về Một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi,

kinh tế, xã hội vùng dân tộc miền núi Đông Bắc Việt Nam đã có bước phát triển

vững chắc; bộ mặt vùng dân tộc, miền núi có nhiều thay đổi; nền kinh tế tự nhiên,

tự cung, tự cấp từng bước chuyển sang nền kinh tế hàng hoá; đời sống văn hoá của

đồng bào được nâng cao; các giá trị văn hoá của đồng bào các dân tộc được bảo tồn

và phát huy; an ninh, chính trị ổn định; đời sống vật chất và tinh thần của người dân

từng bước được cải thiện. Điều đó tạo tiền đề cho thực hiện chính sách dân tộc

trong quá trình chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

1.1.4. Những chuyển biến tư duy nhận thức của Đảng về thực hiện chính

sách dân tộc ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, về vấn đề dân

tộc, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) của Đảng khẳng định:

Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới,

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng Luật dân tộc. Từ nay

đến năm 2000, bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, thực hiện

cho được 3 mục tiêu chủ yếu: xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định

và cải thiện được đời sống, sức khỏe của đồng bào các dân tộc, đồng bào

vùng cao, vùng biên giới; xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng

và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ

sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các

cấp trong sạch và vững mạnh [19, tr.125-126].

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) đã phát triển thêm 3 vấn

đề sau đây về phương diện lý luận, tạo cơ sở cho đổi mới nội dung và tiến trình

chính sách:

- Xác định nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo bao trùm cho chính sách dân tộc là:

bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công

39

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bình đẳng là 54 tộc người đều có quyền ngang

nhau trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đây là vấn đề bình

đẳng thuộc phạm trù nhân quyền và dân quyền, không bị lệ thuộc vào dân số lớn

hay dân số ít. Đoàn kết là gắn bó, cố kết thành một khối thống nhất để tạo nên sức

mạnh chung trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nó khác biệt

với hành động chia rẽ, xung đột, mà các thế lực thù địch thường lợi dụng để làm

suy yếu sức mạnh dân tộc. Tương trợ giữa các dân tộc là hoạt động hỗ trợ, tương

liên giữa dân tộc đa số với các dân tộc thiểu số, giữa dân tộc thiểu số với dân tộc đa

số, trong nội bộ các dân tộc thiểu số. Đó là quan hệ tương hỗ, không phải quan hệ

một chiều, trong đó các dân tộc thiểu số bao giờ cũng được chiếu cố, ưu tiên do

thiếu cơ hội phát triển khi gặp khó khăn của điều kiện địa lý, rào cản của ngôn ngữ

tộc người, thách thức của trình độ phát triển thấp hơn mặt bằng trình độ chung. Các

mặt tương trợ, ưu tiên, chiếu cố đó phải được thể chế hóa thành luật pháp, thành cơ

chế cụ thể trong phân bổ các nguồn lực cho phát triển, nhất là ở những mặt đảm bảo

cho đồng bào các dân tộc có cơ hội.

- Đặt ra yêu cầu phải thể chế hóa các quan điểm, tư tưởng thành luật pháp

- vấn đề cơ bản của chính sách, nhất là xây dựng Luật dân tộc. Chỉ có chuyển tải

được toàn bộ tư tưởng, quan điểm thành pháp luật thì mới bắt buộc thực thi trên

quy mô lớn, đảm bảo cho quyền của các dân tộc được ghi nhận về mặt lập hiến

và lập pháp.

- Đặt ra 3 mục tiêu cụ thể trên các lĩnh vực cơ bản của phát triển xã hội tộc

người, thực chất là ba trụ cột của vấn đề dân tộc: sinh kế và đời sống kinh tế tộc

người; dân trí - văn hóa - xã hội; hệ thống chính trị và nguồn nhân lực. Đảm bảo

cho các mục tiêu này trở thành hiện thực, đòi hỏi chính sách dân tộc không còn chỉ

là sự ghi nhận về mặt lập pháp, mà phải chuyển thành các chương trình, dự án với

phân bổ nguồn lực rõ ràng, xác định địa chỉ cần đến và đích cần đạt được. Đây là cơ

sở để từ sau năm 1996, nhà nước đã xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia

phát triển vùng dân tộc thiểu số nói chung, vùng Đông Bắc nói riêng.

Đại hội VIII của Đảng (6/1996) không chỉ nêu lên quan điểm chỉ đạo, mà

phương hướng, nhiệm vụ của 5 năm (1996 - 2000) còn xác định rõ mục tiêu, biện

40

pháp phát triển các vùng lãnh thổ, các chương trình trình kinh tế - xã hội. Điều đó

giúp cho các vùng lãnh thổ đều có cơ hội phát triển trên cơ sở khai thác thế mạnh,

tiềm năng vùng và thúc đẩy hợp tác mang tính liên vùng trong quá trình liên hợp

hóa lãnh thổ.

Định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi của Đại hội VIII là:

Miền núi và các vùng có nhiều khó khăn, trước hết những địa bàn xung

yếu, những khu căn cứ cách mạng, những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng

bào dân tộc ít người cần được ưu tiên đầu tư, tạo những điều kiện ban

đầu để khai thác được các lợi thế và nguồn lực tại chỗ, tăng sức thu hút

đầu tư, chất xám từ các nơi khác. Nhà nước dành viện trợ không hoàn lại

và vốn vay theo điều kiện ưu đãi của nước ngoài để đầu tư xây dựng kết

cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, trước hết là đường giao thông, mạng lưới

điện, giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ… Tích cực thực hiện chương

trình xoá đói, giảm nghèo, định canh định cư, thiết lập trật tự trong việc

di dân. Đặc biệt quan tâm nâng cao dân trí. Trong chỉ đạo điều hành phải

có quyết tâm cao và biện pháp mạnh mẽ để đưa miền núi đi lên, thu hẹp

dần tình trạng cách biệt với các vùng phát triển [19, tr.209-210]

Bên cạnh đó, Đại hội VIII còn xác định Chương trình phát triển kinh tế - xã

hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc:

Mục tiêu là: Khai thác mọi nguồn lực địa phương và huy động sức của cả

nước để tạo bước tiến nhanh hơn về kinh tế - xã hội, ổn định đời sống, cải thiện môi

trường, môi sinh; Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với tốc độ bằng hoặc cao hơn mức

bình quân chung cả nước; năm 2000 GDP bình quân đầu người đạt gấp đôi năm

1994; Các khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc đều phải có bước phát triển,

khu vực có điều kiện thuận lợi phải phát triển với tốc độ cao hơn để thúc đẩy, hỗ trợ

các khu vực khác cùng phát triển; Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát

triển xã hội - văn hoá, bảo đảm an ninh - quốc phòng, phấn đấu giảm bớt khoảng

cách giữa các vùng về mặt tiến bộ xã hội.

Để đạt mục tiêu nêu trên, nhiệm vụ đặt ra cho phát triển các lĩnh vực kinh tế -

xã hội được xác định là:

41

Công nghiệp:

Phát triển công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu. Sắp xếp và đầu

tư chiều sâu các cơ sở hiện có; Phát triển công nghiệp nhỏ, thủ công nghiệp ở

những vùng sâu, vùng xa, khuyến khích các nghề thủ công truyền thống; Xây

dựng các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, đẩy mạnh công tác thăm dò và khai

thác khoáng sản…

Nông - lâm nghiệp:

Giải quyết lương thực theo quan điểm kinh tế hàng hoá. Mở rộng diện tích

lương thực ở vùng có điều kiện thuỷ lợi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý đi đôi

với thâm canh tăng năng suất bằng áp dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, phân. Bảo

đảm tốc độ lương thực sản xuất tại chỗ hàng năm 3,4 - 4% và năm 2000 đạt bình

quân đầu người 250 - 280 kg. Mở rộng giao lưu với các vùng để bảo đảm an toàn

lương thực.

Đưa độ che phủ rừng vào năm 2000 trên 40%. Hình thành hệ thống rừng

phòng hộ đầu nguồn xung yếu và vùng nguyên liệu giấy, gỗ trụ mỏ.

Đưa diện tích cây công nghiệp dài ngày từ 179 nghìn ha năm 1994 lên gấp

đôi vào năm 2000, trong đó cao su 166 nghìn ha; cà phê 101 nghìn ha và chè 97

nghìn ha. Phát triển mạnh chăn nuôi, nhất là chăn nuôi đại gia súc.

Gắn phát triển lâm nghiệp với công tác định canh, định cư. Ổn định sản xuất

và đời sống của các hộ mới định canh, định cư. Tiếp tục đầu tư để hoàn thành các

dự án của Chương trình 327, ưu tiên hằng năm mở thêm 80 - 100 dự án cho vùng

đang còn du canh, du cư. Năm 2000 cơ bản hoàn thành công tác định canh, định cư

trong cả nước.

Kết cấu hạ tầng và dịch vụ:

Về giao thông, đầu tư nâng cấp các đường quốc lộ; tuyến đường dọc biên

giới và các tuyến đường đến các huyện, xã vùng cao. Gắn việc phân bố lại dân cư

với việc xây dựng đường xá để giao thông phục vụ tốt các điểm dân cư. Đến năm

2000, hầu hết các xã hoặc cụm xã đều có đường ô tô đến trung tâm.

Về năng lượng, năm 2000 có 100% huyện lỵ có điện và khoảng 60 -70% xã

có điện.

42

Về thuỷ lợi, đẩy mạnh công tác xây dựng các hồ chứa nước bảo đảm tưới

tiêu cho các vùng sản xuất lương thực và cây công nghiệp tập trung; cung cấp

nước cho công nghiệp và đô thị, kết hợp với phát điện nếu có điều kiện. Tiếp tục

thực hiện chương trình nước sạnh nông thôn, năm 2000 có 80% số dân được dùng

nước sạch.

Xây dựng và phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ để thúc đẩy và hỗ trợ vùng nông

thôn miền núi phát triển, đưa tỉ lệ dân đô thị từ 14% năm 1994 lên 18% năm 2000.

Hình thành các điểm thương mại cấp vùng, thị xã, huyện và cụm xã. Nhà nước trợ

giá một số mặt hàng cơ bản (muối iốt, dầu, giấy học sinh...). Khuyến khích các

thành phần kinh tế tham gia đầu tư và cung cấp hàng hoá trong vùng. Phấn đấu xuất

khẩu đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm 20 - 30%.

Bảo tồn và khai thác vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên và các di tích lịch sử để

phát triển du lịch.

Thực hiện chương trình phát thanh, truyền hình, chương trình phát triển

thông tin liên lạc; năm 2000 đạt 100% số huyện có trạm phát lại truyền hình, hầu

hết số xã có trạm điện thoại.

Phát triển mạng lưới y tế, giáo dục ở xã, bản: năm 2000 có 100% số xã có

trạm y tế, có sơ sở dược, bảo đảm cung cấp đủ các loại thuốc thông thường cho

nhân dân, có đủ phương tiện khám và chữa các loại bệnh thông thường; phổ cập

giáo dục tiểu học và xoá mù chữ cho những người trong độ tuổi. Mở rộng các hình

thức giáo dục, củng cố và phát triển các trường dân tộc nội trú, bán trú.

Giảm tỉ lệ nghèo vào năm 2000 xuống dưới 30% số hộ, không còn hộ đói.

Để đảm bảo cho mục tiêu, nhiệm vụ từ khả năng chuyển thành hiện thực, các

giải pháp mà Đại hội VIII xác định đã phân vùng thành ba khu vực I, II, III để xác

định được hướng tập trung nguồn lực, biện pháp tác động phù hợp:

Khu vực I: Cơ chế đầu tư ở đây chủ yếu là huy động từ cộng đồng và vốn

vay, tạo nên thị trường nội vùng và làm đầu mối giao lưu giữa miền núi với các

vùng khác trong cả nước; phát triển với nhịp độ cao hơn mức bình quân cả nước để

thúc đẩy sự phát triển của vùng.

43

Khu vực II: Cơ chế đầu tư đối với khu vực này là có sự hỗ trợ tích cực của

Nhà nước về hạ tầng, huy động vốn từ cộng đồng và vốn tín dụng. Xoá đói và định

canh, định cư 100%; giảm tỉ lệ nghèo xuống dưới 30% trước năm 2000.

Khu vực III: Mục tiêu của khu vực này đến năm 2000 là xoá đói, giảm

nghèo, đưa số hộ nghèo từ 70% hiện nay xuống dưới 40%; 100% định cư. Nhà

nước phải có biện pháp tập trung vốn ngân sách đầu tư theo chương trình tổng hợp

và có sự chỉ đạo chặt chẽ giúp cho khu vực này phát triển nhanh, giúp các tỉnh biên

giới phía Bắc trụ dân lại.

Vốn đầu tư ngân sách cho miền núi và vùng đồng bào dân tộc sẽ được tập

trung hỗ trợ xây dựng các cơ sở giao thông, điện, giống cây con, trường học, trạm y

tế, bệnh viện. Vốn tín dụng tập trung hỗ trợ phát triển nông - lâm nghiệp, xoá đói,

giảm nghèo.

Chương trình xóa đói, giảm nghèo do Đại hội VIII xác định cũng đề cập

nhiều nội dung liên quan đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới.

1.2. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT

SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC

1.2.1. Phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện đời sống vật

chất đồng bào các dân tộc thiểu số

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 22-NQTW của Bộ Chính trị, Quyết định số

72-HĐBT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh

tế - xã hội phù hợp với đặc thù của vùng dân tộc và miền núi, chuẩn bị tiền đề cùng

cả nước bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ngày 10-6-1996, Thủ

tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 393/TTg Về quy hoạch dân cư, tăng cường cơ sở hạ

tầng, sắp xếp sản xuất ở vùng dân tộc và miền núi. Chỉ thị nêu rõ: Các cấp, các

ngành, các địa phương cần xây dựng quy hoạch và bố trí dân cư, tập trung xây dựng

cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, sắp xếp lại sản xuất cho

phù hợp với điều kiện từng dân tộc, từng địa phương.

Nhằm tạo động lực thúc đẩy giao lưu hàng hoá giữa miền xuôi với miền

ngược, thực hiện chính sách phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng

bào dân tộc, ngày 10 tháng 12 năm 1995, Chính phủ ra Quyết định 7464/KTTH Về

44

chính sách trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng hoá lên miền núi và Nghị định số

20/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 1998 Về phát triển thương mại miền núi, hải

đảo và vùng dân tộc thiểu số. Chính phủ chủ trương thúc đẩy phát triển mạng lưới

thương mại ở các tỉnh, huyện, trung tâm cụm xã và khuyến khích mọi thành phần

kinh tế tham gia lưu thông hàng hoá hai chiều, nhằm tạo động lực phát triển cho

toàn vùng.

Nhận thức rõ vị trí chiến lược của vùng Đông Bắc, thực hiện chủ trương của

Đảng, ngày 6-1-1998, Chính phủ ra Quyết định số 02/1998/QĐ-TTg Về việc phê

duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông - Bắc giai đoạn từ

nay đến năm 2010 [Phụ lục 17]. Quyết định nêu rõ mục tiêu đến năm 2010 là: Phấn

đấu nhịp độ tăng trưởng GDP cả giai đoạn từ nay đến năm 2010 đạt khoảng trên

10%/năm; thực hiện cơ bản xóa đói trước năm 2000, giảm 30 - 40% hộ nghèo so

với năm 1998; năm 2010 cơ bản hoàn thành công tác định canh, định cư. Nâng cao

dân trí và thể lực của nhân dân; đảm bảo cuộc sống văn hóa, tinh thần ngày càng

cao và lối sống ngày càng văn minh trong nhân dân; khôi phục và cải thiện môi

trường; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền và toàn vẹn lãnh

thổ Quốc gia trên đất liền và vùng biển. Để thực hiện mục tiêu trên, Quyết định đề

ra những định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc:

- Về công nghiệp: xác định các ngành hoặc sản phẩm công nghiệp chủ lực,

trong đó một số là mũi nhọn dựa trên các lợi thế về nguyên liệu và thị trường.

- Về nông, lâm nghiệp: chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng

sản xuất hàng hoá, phù hợp với nhu cầu thị trường.

- Về thương nghiệp: Phát triển mạnh hệ thống các trung tâm thương mại, các

khu kinh tế cửa khẩu. Phát triển thương nghiệp vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng

hải đảo. Khuyến khích tối đa đối với các loại đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, dịch

vụ để khắc phục khoảng cách đối với các vùng khác.

- Về du lịch: Phát triển mạnh du lịch biển, xây dựng một số khu, cụm du lịch,

tuyến du lịch nội vùng, liên vùng và quốc tế.

- Về môi trường: Phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với bảo vệ môi trường,

phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, ưu tiên các khu vực rừng đầu nguồn.

45

Tiếp đó, ngày 31-7-1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số

135/1998/QĐ-TTg Về việc phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các

xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi, biên giới và vùng sâu

vùng xa. Chương trình 135 giai đoạn 1 (1998-2005) và giai đoạn 2 (2006-2010).

Quy mô gồm 50 tỉnh, 354 huyện, 1.946 xã khu vực III và 3.274 thôn, bản đặc

biệt khó khăn của xã khu vực II. Mục tiêu tổng quát của chương trình 135 là:

Tạo sự chuyển biến nhanh về sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường; cải thiện, nâng cao đời sống vật

chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn một

cách bền vững, giảm khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng

trong cả nước; phấn đấu đến năm 2010, cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo

xuống dưới 30%, trên 70% số hộ đạt mức thu nhập bình quân đầu người trên 3,5

triệu đồng/năm…

Về kinh tế, Chương trình 135 xác định: Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông,

lâm nghiệp, gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm để khai thác nguồn tài nguyên và

sử dụng lao động tại chỗ, tạo thêm nhiều cơ hội về việc làm và tăng thu nhập, ổn

định đời sống, từng bước phát triển sản xuất hàng hóa.

Theo Quyết định số 1232/1999/QĐ-TTg ngày 24-12-1999 của Thủ tướng

Chính phủ phê duyệt danh sách các xã đặc biệt khó khăn và biên giới thuộc phạm vi

Chương trình 135, khu vực miền núi Đông Bắc giáp biên giới Việt - Trung có 4

tỉnh, 361 xã thuộc phạm vi của chương trình [Phụ lục 8].

Với những chủ trương, chính sách trên cho thấy, Đảng và Nhà nước đã có

những định hướng quan trọng trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội vùng miền

núi, đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và khu vực miền núi Đông Bắc nói riêng

trong giai đoạn 1996 - 2001 để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

đất nước.

Sau 5 năm thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng

như sự hỗ trợ, đầu tư của các chương trình, dự án, tình hình kinh tế các tỉnh miền

núi Đông Bắc có sự phát triển, đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số

được nâng lên.

46

Về sản xuất nông, lâm nghiệp

Trong những năm đầu thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ

cấu kinh tế miền núi Đông Bắc có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ

trọng khu vực công nghiệp - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp

Trong sản xuất nông nghiệp, với chủ trương khai thác thế mạnh của vùng,

tập trung thích đáng nguồn lực cho các lĩnh vực, các địa bàn trọng điểm, đồng thời

với việc ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật về giống, cây trồng, vật nuôi,

tập trung đầu tư cho thuỷ lợi nên sản lượng lương thực ở khu vực đồng bào dân

tộc thiểu số đã được tăng lên. Lương thực bình quân đầu người từ 202,5kg/người

năm 1995 đã tăng lên 278,5 kg/ người năm 2000, nhiều địa phương đã tự túc được

lương thực. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số từ chỗ sản xuất nông, lâm nghiệp mang

nặng tính tự cung, tự cấp, du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy, năng suất lao

động thấp và phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên, đã từng bước chuyển sang

định canh định cư, vận dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ

cấu cây trồng, vật nuôi, bước đầu đã hình thành các mô hình sản xuất hàng hoá, làm

thay đổi cơ bản phương thức sản xuất truyền thống lạc hậu. Tại tỉnh Cao Bằng, thu

nhập bình quân lương thực tính theo đầu người hàng năm ở vùng đồng bào dân tộc

thiểu số tăng từ 180 kg năm 1994 lên gần 300 kg năm 2003. Sản xuất lương thực

phát triển góp phần ổn định đời sống của đồng bào, tạo điều kiện phát triển các

ngành nghề khác.

Cùng với trồng trọt, chăn nuôi được đẩy mạnh, phát triển mạnh cả về số

lượng và cơ cấu đàn, bước đầu hình thành các mô hình chăn nuôi theo hướng trang

trại vừa và nhỏ. Một số địa phương đã thí điểm mô hình trồng cỏ voi, nuôi bò “nhốt

chuồng” kết hợp chăn thả nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm trên địa bàn. Tính đến

năm 2001, vùng Đông Bắc đã hình thành được 9 trang trại lợn (hơn 100 con/trang

trại), và 6 trang trại gia cầm (hơn 200 con/trang trại). Mặc dù có lợi thế nhiều mặt

cho phát triển chăn nuôi, song ngành chăn nuôi của miền núi Đông Bắc vẫn chưa

thực sự phát triển, chỉ trên Duyên hải Bắc Trung Bộ và Tây Bắc.

Tận dụng lợi thế về điều kiện tự nhiên, đồng bào các dân tộc thiểu số đã tập

trung trồng các loại cây ăn quả, cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, bước đầu

47

hình thành một số vùng sản xuất cây ăn quả tập trung với diện tích rộng, sản lượng

lớn ở các địa phương như: vùng hồi ở Văn Quan, Bình Gia, Cao Lộc, Văn Lãng,

Tràng Định (Lạng Sơn): 19.000 ha, vùng na ở Chi Lăng (Lạng Sơn): 700 ha, vùng

vải thiều ở Hữu Lũng (Lạng Sơn): 4.491 ha... Đặc biệt, cây chè rất thích hợp với thổ

nhưỡng và khí hậu của vùng, đồng thời là mặt hàng nông sản xuất khẩu sang thị

trường các nước. Vì vậy, các vùng chuyên canh chè đã hình thành và phát triển

tương đối ổn định, diện tích, năng suất và sản lượng chè ngày một tăng lên. Một số

địa phương trồng chè với quy mô lớn. Đến năm 2003, toàn tỉnh Hà Giang có 14156

ha chè với sản lượng 27261 tấn/ha. Ngoài cây chè, các cây dược liệu như hồi, quế,

bạc hà, thảo quả, tam thất, sâm nam được trồng ở vùng núi. Trên cao nguyên Đồng

Văn - Lũng Cú (Hà Giang), diện tích tam thất, sâm nam và một số dược liệu quý

hiếm được quy hoạch, từng bước thích ứng với thị trường.

Về lâm nghiệp

Miền núi Đông Bắc là khu vực có diện tích rừng và đất rừng lớn. Thực hiện

Quyết định số 327/HĐBT ngày 15-9-1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về một

số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và

mặt đất, công tác giao đất, giao rừng được triển khai rộng rãi ở các tỉnh miền núi

Đông Bắc. Để phát huy thế mạnh đồi rừng, ngày 29-7-1998, Thủ tướng Chính phủ

ra Quyết định 661/QĐ-TTg Về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện

dự án trồng mới 5 triệu ha rừng .

Cụ thể hoá Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Đảng bộ và chính quyền

các địa phương khẳng định: phát triển nghề rừng theo hướng công nghiệp hoá, hiện

đại hoá; trồng rừng phải gắn với khoanh nuôi và bảo vệ rừng; phát triển rừng cần

gắn với công nghiệp chế biến sản phẩm của rừng; từng hộ gia đình chủ động khai

thác tiềm năng của kinh tế đồi rừng nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ xoá đói

giảm nghèo, từng bước vươn lên làm giàu từ nghề rừng; phát triển rừng phải gắn

với phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường

sinh thái. Đến năm 1999, Đông Bắc là vùng có nhiều rừng trồng nhất trong cả nước

(213.421 ha). Cùng với vùng Tây Nguyên và vùng Bắc Trung Bộ, đây là vùng có

trên 2 triệu ha rừng.

48

Trong số các tỉnh miền núi Đông Bắc, tại tỉnh Cao Bằng, nghề rừng đã có

bước phát triển theo xu hướng mới, từ khai thác tự nhiên là chủ yếu, nay được Nhà

nước cấp kinh phí và hỗ trợ về lương thực nên đồng bào các dân tộc đã chuyển sang

trồng, khoanh nuôi và bảo vệ để rừng có điều kiện tái sinh. Chính vì vậy, tỷ lệ che

phủ rừng tại Cao Bằng từ 14% năm 1984 lên 47% năm 1993 [81].

Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

Theo đánh giá của các chuyên gia, hầu hết các khoáng sản chiến lược (trừ

dầu khí) của nền công nghiệp nước ta: như than, sắt, đồng, kẽm, apatit... với trữ

lượng lớn đều tập trung ở vùng này. Tuy nhiên, việc khai thác đa số các mỏ đòi hỏi

phải có phương tiện hiện đại và chi phí cao. Giai đoạn 1996 - 2000, các tỉnh đã tập

trung đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, bổ sung thêm nhiều năng lực sản xuất

mới. Vì vậy, sản xuất công nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần làm thay

đổi đáng kể cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ, giảm

dần tỷ trọng nông - lâm nghiệp.

Nhờ những nỗ lực trên, sản xuất công nghiệp của miền núi Đông Bắc trong

giai đoạn này đã tăng trưởng khá. Năm 1995 giá trị sản lượng công nghiệp đạt

6179,2 tỷ đồng đến năm 2000 tăng lên 10.657,7 tỷ đồng. Dẫn đầu về giá trị sản xuất

công nghiệp của vùng là tỉnh Quảng Ninh (năm 2000 đạt 3.788,8 tỷ đồng, chiếm

33,83% tỷ trọng của vùng Đông Bắc).

Dịch vụ và du lịch

Khu vực miền núi Đông Bắc có mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt

khá phát triển. Quốc lộ 2 dài 312 km đi qua các thành phố công nghiệp và địa bàn

giàu khoáng sản, lâm sản và vùng chăn nuôi gia súc lớn; Quốc lộ 3 dài 382 km nối

liền vùng kim loại màu với Thái nguyên và Hà Nội; Quốc lộ 18 (ngang) đi qua

vùng sản xuất than đá và điện lực của vùng; Quốc lộ 4 (ngang) đi qua vùng cây ăn

quả, và nối liền với cửa khẩu Việt - Trung...; Đường 3A (13A) có ý nghĩa về mặt

kinh tế vùng trung du và quốc phòng; Tuyến đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng dài

123 km nối với ga Bằng Tường (Trung Quốc). Đây là tuyến đường sắt quan trọng

trong việc tạo ra các mối liên hệ qua một số khu vực kinh tế và quốc phòng xung

49

yếu Bắc Giang - Chi Lăng - Lạng Sơn. Ngoài ra, hệ thống cảng biển Quảng Ninh

hoạt động sôi động trong nền kinh tế mở, đặc biệt trong hoạt động xuất khẩu than.

Hệ thống giao thông thuận lợi không chỉ có ý nghĩa nội vùng mà còn có ý

nghĩa quan trọng trong việc đẩy mạnh giao thương hàng hoá, dịch vụ giữa nước ta

và các tỉnh phía Nam Trung Quốc.

Hệ thống thông tin liên lạc, điện thắp sáng phát triển rất nhanh chóng.

Năm 2000, tỉnh Quảng Ninh đã có 60% trung tâm xã miền núi được sử dụng

điện, 95% số xã có điện thoại, 55% số xã có điểm bưu điện văn hoá xã, 100% xã

có trạm y tế [59].

Do nhận thức rõ tầm quan trọng của việc duy trì và phát triển nền văn hoá

truyền thống của các dân tộc trong việc phát triển du lịch, thương mại, các địa

phương trong khu vực đã đầu tư, xây dựng, khôi phục một số giá trị văn hoá

truyền thống, tổ chức các lễ hội cổ truyền, tổ chức tốt các cuộc thi múa hát và trò

chơi dân gian truyền thống của các dân tộc trong “Ngày hội văn hoá, thể dục, thể

thao”. Đây là điều kiện thuận lợi để các giá trị văn hoá truyền thống của các dân

tộc được duy trì, đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch, thương

mại của toàn vùng.

Phát huy thế mạnh của tỉnh, ngày 16 tháng 6 năm 2000, Tỉnh uỷ Lạng Sơn

ra Nghị quyết 18-NQ/TU Về nhiệm vụ phát triển du lịch năm 2000 đến 2010.

Nghị quyết nhận định: Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới, có 2 cửa khẩu

quốc tế, 2 cửa khẩu quốc gia và các chợ đường biên; là tỉnh có các tuyến giao

thông đường bộ và đường sắt đi qua, nối liền với các tỉnh trong nước và với nước

ngoài. Nơi đây nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng; có nền văn

hoá đậm đà bản sắc dân tộc.

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, bình thường hoá quan hệ và

mở rộng giao lưu kinh tế với Trung Quốc, Lạng Sơn đã trở thành một trong những

trung tâm giao lưu kinh tế quan trọng của khu vực phía Bắc. Đó là tiềm năng thế

mạnh và cơ hội để Lạng Sơn khai thác phát triển ngành du lịch. Số lượt khách du

lịch và doanh thu từ du lịch tăng dần qua từng năm. Năm 1995, tỉnh Lạng Sơn đón

95.000 lượt khách, doanh thu đạt 49,5 đồng, đến năm 1999, số du khách đạt

50

148.000, doanh thu đạt 62 tỷ đồng. Du lịch phát triển đã tạo thêm việc làm, thu

nhập cho người lao động, các lĩnh vực khách sạn, nhà hàng phát triển; góp phần

thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.

Tuy nhiên, tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của vùng Đông

Bắc còn thấp, từ 30,9% năm 1995 nhích lên 33,9% năm 2002, thấp hơn trung bình

cả nước cùng thời kỳ là 44,1% và 38,5%.

Việc phát triển kinh tế cửa khẩu cũng đã tác động mạnh đến thị trường nội

địa, hoạt động du lịch và các dịch vụ khác. Vì vậy, các khu kinh tế cửa khẩu đã

được các địa phương quan tâm đầu tư xây dựng như: cửa khẩu Móng Cái, Tân

Thanh, cảng Cái Lân. Năm 1999, riêng khu vực cửa khẩu tỉnh Lạng Sơn tổng thu

ngân sách đạt 413 tỷ đồng.

Trong giai đoạn 1996 - 2000, cơ cấu kinh tế của các tỉnh miền núi Đông Bắc

có sự chuyển biến tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp, tăng

dần tỷ trọng khu vực công nghiệp, dịch vụ. Năm 2000, cơ cấu kinh tế của toàn vùng

miền núi phía Bắc là Nông, lâm, ngư nghiệp: 46,1%; Công nghiệp, xây dựng:

20,66%; Dịch vụ: 33,24%. Trong vùng, Quảng Ninh là tỉnh có sự chuyển dịch tích

cực nhất (Năm 1999: Nông, lâm, ngư nghiệp: 9,8%; Công nghiệp, xây dựng:

45,2%; Dịch vụ: 45,0%) [66].

Mặc dù vậy, so với tình hình chung của cả nước, tốc độ chuyển dịch cơ cấu

kinh tế của vùng vẫn còn khiêm tốn, quá trình phân công lao động theo ngành diễn

ra chậm, nền kinh tế vẫn trong tình trạng chậm phát triển.

Về xây dựng cơ sở hạ tầng

Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá,

hiện đại hoá, Đảng và Nhà nước xác định xây dựng kết cấu hạ tầng là điều kiện tiên

quyết thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Đối với các tỉnh miền núi nói chung, một

số tỉnh miền núi Đông Bắc nói riêng, nhiệm vụ đó càng trở nên cấp thiết nhằm góp

phần rút ngắn khoảng cách phát triển giữa miền núi và miền xuôi, giữa các vùng,

nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số [Phụ lục 5].

Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của vấn đề đó, Chính phủ, Thủ tướng

Chính phủ đã ra các Chỉ thị và ban hành các Quyết định nhằm đẩy mạnh xây dựng

51

kết cấu hạ tầng khu vực miền núi như: Ngày 10 tháng 6 năm 1996, Thủ tướng

Chính phủ ra Chỉ thị 393-CT/TTg Về quy hoạch dân cư, tăng cường cơ sở hạ tầng,

sắp xếp sản xuất ở vùng dân tộc và miền núi; Ngày 24 tháng 12 năm 1996, Thủ

tướng Chính phủ ra Quyết định số 960-QĐ/TTg Về định hướng dài hạn và kế hoạch

5 năm 1996-2000 phát triển kinh tế xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc; Ngày 13

tháng 01 năm 1997, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 35/QĐ-TTg Về chương

trình xây dựng trung tâm cụm xã. Đối với các xã đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng

sâu, vùng xa, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 135-QĐ/TTg ngày 31 tháng 7

năm 1998 Về chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng

đồng bào dân tộc miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa.

Được sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước qua các chương trình dự án với

phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, Nhà nước tạo công trình, nhân dân

đóng góp công sức và có việc làm, cơ sở hạ tầng nông thôn vùng đồng bào dân tộc

thiểu số được xây dựng tăng nhanh [Phụ lục 5].

Về giao thông: Hệ thống đường trục, đường liên tỉnh, liên huyện được nâng

cấp, tu bổ bảo đảm đi lại thông suốt cả mùa mưa và mùa khô. Cùng với sự hỗ trợ

của Nhà nước, nhân dân đã đóng góp hàng trăm tỷ đồng, huy động hàng triệu ngày

công để nâng cấp các tuyến đường giao thông nông thôn. Đến năm 2000, đường ô

tô đã vào đến 100% các trung tâm xã. Hệ thống đường quốc lộ 1A, 2, 3 từ thành

phố Hà Nội đến các tỉnh và tới các cửa khẩu quốc tế và quốc gia trên biên giới Việt

- Trung được nâng cấp, mở rộng.

Về điện thắp sáng: Mặc dù địa hình phức tạp, nhiều khó khăn trong thi công,

chi phí đầu tư lớn, nhưng với sự hỗ trợ của Trung ương, chính sách ưu tiên cấp điện

lưới phục vụ sản xuất, sinh hoạt của đồng bào các dân tộc thiểu số, các tỉnh miền

núi Đông Bắc đã tập trung phát triển nhanh mạng lưới điện ở miền núi, vùng sâu,

vùng xa, vùng cao biên giới, hải đảo. Đến năm 2000, điện lưới quốc gia đã đến

được với 100% thị xã, tỉnh lỵ của các tỉnh miền núi Đông Bắc. Đối với đồng bào

Mông ở Hà Giang, có trên 2 vạn hộ nghèo đã được hỗ trợ kéo điện đến tận nhà.

Điều này góp phần không nhỏ vào việc ổn định đời sống, định canh định cư, phát

triển sản xuất của đồng bào Mông.

52

Đối với các địa bàn vùng sâu, vùng xa điện lưới quốc gia chưa tới được, các

địa phương chủ động khuyến khích phát triển hệ thống thuỷ điện vừa và nhỏ đáp

ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của đồng bào. Điện về miền núi góp phần quan

trọng thúc đẩy sản xuất phát triển và cải thiện đời sống văn hoá, nâng cao dân trí

đồng bào các dân tộc thiểu số.

Vấn đề nước sạch cho đồng bào miền núi Đông Bắc, cũng như vùng cao,

miền núi của cả nước là vấn đề được sự quan tâm của Nhà nước. Trong giai đoạn

này, các tỉnh miền núi Đông Bắc nhận được sự đầu tư của Bộ xây dựng, chương

trình nước sạch của UNICEF và ngành thuỷ lợi. Với phương châm Nhà nước và

nhân dân cùng làm, chỉ tính riêng tại các huyện vùng cao Hà Giang, tỉnh đã hỗ trợ

xây dựng 129 công trình cấp nước tự chảy, hỗ trợ 3,1 vạn hộ vùng cao bằng xi

măng để dân tự xây bể, mỗi bể dung tích chứa 6m³. Nhờ vậy, đã cơ bản giải quyết

được tình trạng thiếu nước ăn vào mùa khô.

Về bưu chính viễn thông: Hệ thống bưu chính viễn thông ngày càng phát

triển và được hiện đại hoá một bước. Trong toàn vùng, tất cả các huyện, thị được

trang bị tổng đài điện tử và liên lạc qua tuyến cáp quang, vi ba số. Hệ thống thông

tin liên lạc đã vươn đến các xã vùng sâu, vùng xa, nhất là các xã biên giới, các đồn

biên phòng, đảm bảo thông tin thông suốt trong mọi tình huống.

Các cơ sở hạ tầng phúc lợi khác: như các trường dân tộc nội trú, trạm y tế,

trung tâm văn hoá xã, trạm phát thanh, truyền hình... với sự kết hợp của các chương

trình, dự án, đã được xây dựng kiên cố đến tuyến huyện, xã và nhiều thôn, bản.

1.2.2. Phát triển văn hoá, giáo dục, y tế

Về văn hoá

Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá VIII (tháng 7 năm

1998) ra Nghị quyết Về xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà

bản sắc dân tộc đã xác định văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục

tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư, chăm lo cho văn

hoá là đầu tư, chăm lo cho củng cố nền tảng của xã hội. Xây dựng phát triển kinh tế

phải gắn liền với mục tiêu phát triển văn hoá, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

53

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII, Đảng bộ, chính quyền các

địa phương vùng Đông Bắc đã cụ thể hoá Nghị quyết thành các chương trình hành

động và phổ biến rộng khắp tới cán bộ, đảng viên và nhân dân. Ngày 3 tháng 12

năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 39-CT/TTg về việc đẩy mạnh công tác

văn hoá - thông tin ở miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Chỉ thị khẳng

định: Để khai thác tiềm năng, đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở miền

núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, giảm dần sự chênh lệch về mức sống và

hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, cần đẩy mạnh công tác văn hóa - thông tin ở

miền núi và vùng các dân tộc thiểu số; gắn chặt nhiệm vụ phát triển văn hóa - thông

tin miền núi và vùng dân tộc thiểu số với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an

ninh, quốc phòng.

Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, trong những năm

1996-2000, công tác sưu tầm, bảo tồn, giới thiệu vốn văn hoá, nghệ thuật dân gian

được các cấp, các ngành và nhân dân các tỉnh miền núi Đông Bắc quan tâm.

Là cư dân nông nghiệp nên truyền thống văn hoá của các dân tộc nơi đây

phản ánh rõ nét bởi lối canh tác, thời vụ cây trồng và văn hoá nông nghiệp. Trong

văn hoá, có sự dung hợp, giao thoa văn hoá của các dân tộc anh em. Vì thế, kho

tàng văn hoá phi vật thể của các dân tộc thiểu số miền núi Đông Bắc hết sức phong

phú và đa dạng. Người Tày tự hào có làn điệu then, lượn cọi, lượn slương, lượn

phong thư mượt mà, sâu lắng. Người Nùng tự hào có sli, lượn nàng ới, hà lều.

Người Mông tự hào với khèn Mông, đàn môi, những điệu múa khèn tình tứ của trai

gái Mông vào các dịp lễ, tết, hội hè. Người Dao tự hào với páo dung, lễ cấp sắc

thấm đẫm màu huyền thoại. Người Hoa tự hào với nghệ thuật ẩm thực truyền

thống, ý thức giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc. Người Sán Chay tự hào

với hát sình cộ... Ngoài ra, mỗi dân tộc đều tự hào về các bài thuốc y học cổ truyền

của dân tộc mình, các ngành nghề thủ công truyền thống mang đậm bản sắc của

mỗi tộc người.

Về danh lam thắng cảnh, miền núi Đông Bắc có các danh lam thắng cảnh

đẹp như Vịnh Hạ Long, với nhiều đảo và những hang động đẹp kỳ thú, được

UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới; có Hồ Ba Bể - hồ tự nhiên nằm

54

ở phía Bắc của tỉnh Bắc Kạn; có thác Bản Giốc, hang Ngườm Ngao ở Cao Bằng; có

Vọng Phu Tô Thị bồng con chờ chồng, có chùa Tam Thanh, Nhị Thanh ở Lạng

Sơn... Đây là những thế mạnh của vùng nhằm thúc đẩy lĩnh vực du lịch, dịch vụ

phát triển.

Các hoạt động văn hoá, báo chí từng bước được cải tiến về nội dung và hình

thức, được tăng cường về cơ sở vật chất và phương tiện. Thông qua hoạt động văn

hoá và báo chí đã cung cấp kịp thời thông tin, nâng cao kiến thức và mức hưởng thụ

của nhân dân, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị. Tại các xã vùng cao biên giới, công

tác thông tin tuyên truyền được đẩy mạnh, nội dung và hình thức phong phú làm

cho dân dễ nghe, dễ hiểu. Các đồn biên phòng và một số xã đã được quan tâm đầu

tư lắp đặt máy điện thoại. 21 xã vùng cao biên giới của tỉnh Lạng Sơn, năm 1996, 4

xã có máy đàm thoại, năm 1997 phát triển lên 18 máy ở 12 xã, 21/21 xã đều có 5

loại báo: báo Nhân dân, Quân đội, Lạng Sơn, Thiếu niên, Nhi đồng. Ước khoảng

51% số hộ có máy thu thanh, đã góp phần tích cực vào việc nâng cao nhận thức về

đường lối, chính sách của Đảng trong nhân dân [98, tr.8].

Trên cơ sở chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiều bản làng đã

xây dựng được hương ước, quy ước phù hợp với phong tục, tập quán của địa

phương. Cùng với đó, các tỉnh cũng phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây

dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Thông qua các hoạt động văn hoá, thể thao

đã góp phần khơi dậy, giữ gìn, phát huy được những thuần phong, mỹ tục tốt đẹp,

bài trừ hủ tục lạc hậu trong đời sống văn hoá tinh thần của đồng bào các dân tộc

thiểu số.

Hệ thống thư viện công cộng đã bám sát nhiệm vụ trọng tâm của ngành.

Thường xuyên duy trì hoạt động để phục vụ đông đảo bạn đọc, phục vụ có hiệu quả

nhiệm vụ chính trị và góp phần nâng cao dân trí. Đáng chú ý, hệ thống thư viện cấp

huyện từng bước được củng cố. Số thư viện ở vùng Đông Bắc tăng từ 117 năm

1990 lên 134 thư viện năm 1999. Hệ thống thư viện huyện ở các tỉnh miền núi cũng

được quan tâm phát triển như Hà Giang tăng từ 8 thư viện năm 1990 lên 11 thư viện

năm 1999.

55

Về giáo dục - đào tạo và công tác cán bộ

Tháng 12 năm 1996, tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương

Khoá VIII đã ra Nghị quyết về Định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo

trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000.

Đề cập đến vấn đề giáo dục - đào tạo ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số,

vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, Nghị quyết chỉ rõ: Cần phát triển giáo

dục ở các vùng dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn, phấn đấu giảm chênh lệch về

phát triển giáo dục giữa các vùng lãnh thổ, xoá “điểm trắng” về giáo dục ở ấp, bản

miền núi, vùng sâu, vùng khó khăn. Mở thêm các trường dân tộc nội trú và các

trường bán trú ở cụm xã, các huyện, tạo nguồn cho các trường chuyên nghiệp và đại

học để đào tạo cán bộ cho các dân tộc, trước hết là giáo viên, cán bộ y tế, cán bộ

lãnh đạo và quản lý.

Thực hiện chủ trương trên, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đến

lớp, các địa phương đã mở rộng quy mô giáo dục bằng phát triển hệ thống các

trường dân tộc nội trú và trường bán trú dân nuôi. Ngay từ khi mới thành lập trường

bán trú dân nuôi, Đảng bộ và chính quyền các địa phương, các thầy, cô giáo đã có

những sáng tạo nhằm huy động tối đa các nguồn lực cần thiết phục vụ cho học sinh

như: đóng góp lương thực, xây dựng, tu sửa cơ sở vật chất, nhà lưu trú cho học sinh

sinh hoạt, tăng gia cải thiện đời sống cho học sinh nội trú dân nuôi.

Bên cạnh mô hình trường bán trú dân nuôi, hệ thống các trường dân tộc nội

trú cũng được quan tâm xây dựng và phát triển. Mỗi tỉnh trong khu vực đều có một

trường dân tộc nội trú cấp tỉnh. Ngoài ra, còn có các trường dân tộc nội trú cấp

huyện. Đặc biệt, đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp giáo dục - đào tạo của vùng

Đông Bắc có trường trung học phổ thông Vùng cao Việt Bắc. Nơi đây là cái nôi đào

tạo cán bộ người dân tộc thiểu số cho vùng và cả nước. Tổng kết 32 năm của trường

Trung học phổ thông Vùng cao Việt Bắc (1954-1986) đã cho thấy: 3.700 học sinh

dân tộc thiểu số được đào tạo hết phổ thông trung học thuộc 21 dân tộc thiểu số và

336 người được đào tạo bậc đại học, cao đẳng sư phạm, 224 người học Đại học

Nông nghiệp, 222 người học Đại học Y, 85 người học Đại học Bách khoa, 12 người

học Đại học Ngoại ngữ và 124 người tu nghiệp ở nước ngoài [5, tr.89].

56

Cơ sở vật chất phục vụ sự nghiệp giáo dục đào tạo cũng được quan tâm đầu

tư. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhất là các huyện nằm trong chương

trình 135 của Chính phủ, cơ sở vật chất cho dạy và học được nâng cao.

Để phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số, thực hiện chế độ cử tuyển chính

là một phương thức mang lại hiệu quả thiết thực nhất. Trong những năm 1996-

1999, cả khu vực miền núi phía Bắc đã cử tuyển 65 học sinh người dân tộc Kinh

(4,8%), và 1.352 học sinh dân tộc thiểu số/1.363 chỉ tiêu (đạt 98,8%). Một số tỉnh

tuyển vượt chỉ tiêu như Cao Bằng: 131%, trường phổ thông dân tộc Vùng cao Việt

Bắc: 468,2%. Tỉnh thực hiện cử tuyển đạt tỷ lệ thấp nhất so với chỉ tiêu giao là

Quảng Ninh, chỉ đạt 66,2%. Sau 15 năm thực hiện cử tuyển tại vùng miền núi phía

Bắc đã đào tạo được 7.583 học sinh dân tộc thiểu số/7.856 chỉ tiêu kế hoạch được

giao, đạt 96,5%. Đã có 26/30 dân tộc thiểu số đang sinh sống trong vùng có học

sinh được cử tuyển vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp.

Theo điều tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 87,2% sinh viên tốt nghiệp đã trở về quê

hương công tác đúng với ngành nghề được đào tạo [61].

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu

số đã phát triển không ngừng. Đội ngũ này đảm nhiệm các công tác lãnh đạo, quản

lý, chuyên môn nghiệp vụ từ cơ sở đến Trung ương. Riêng đội ngũ cán bộ lãnh đạo

người dân tộc vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam có bước trưởng thành khá rõ nét.

Chẳng hạn, trong số 160 bí thư và phó bí thư tỉnh, thành uỷ cả nước nhiệm kỳ 1996

- 2000, riêng tỉnh Lạng Sơn cả bí thư và hai phó bí thư tỉnh uỷ, tỉnh Hà Giang, bí

thư và 3 phó bí thư tỉnh uỷ đều là người dân tộc thiểu số.

Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, lực lượng cán bộ các

dân tộc thiểu số hiện nay còn nhiều bất cập. Nhìn chung, đội ngũ này còn thiếu về

số lượng, hạn chế về chất lượng.

Về trình độ học vấn của cán bộ: trong từng địa phương, sự chênh lệch về tỷ

lệ cán bộ chuyên môn kỹ thuật giữa các dân tộc khá lớn. Ở Lạng Sơn, cán bộ người

Việt chiếm 37,3% tổng số cán bộ chuyên môn kỹ thuật của tỉnh, trong khi tỷ lệ đó ở

cán bộ người Tày là 42,2%, người Nùng là 18,8%, người Hoa là 0,5%, người Mông

là 0,4%, người Dao là 0,3%, người Sán Chay là 0,1%, người các dân tộc khác 0,4%.

57

Bên cạnh đó, tình trạng thiếu cán bộ dân tộc thiểu số đến mức trầm trọng,

nhất là đối với hai dân tộc Mông và Dao. Chẳng hạn, ở Cao Bằng dân tộc Dao

chiếm 10,7% dân số, nhưng số cán bộ người Dao chỉ chiếm 3% trong tổng số cán

bộ các loại.

Ở cấp huyện, sự chênh lệch này càng lớn. Người Mông ở huyện Đồng Văn

(Hà Giang) chiếm tới 90% dân số, nhưng cán bộ người Mông chỉ chiếm tới 21%

tổng số cán bộ các loại của huyện. Người Dao ở Bảo Lạc (Cao Bằng) chiếm 17,2%

dân số, nhưng cán bộ của huyện là 2,4% [31].

Về y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Quyết định 135/1998/QĐ/TTg ngày 31-7-1998 của Thủ tướng Chính phủ

phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền

núi, vùng sâu, vùng xa, khi đề cập đến vấn đề y tế đã khẳng định: Đồng bào trong

vùng các xã đặc biệt khó khăn được hưởng chế độ chăm sóc sức khoẻ, chữa bệnh ở

các cơ sở y tế của nhà nước không mất tiền theo quy định tại Nghị định số 95/CP,

ngày 27 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ.

Trên cơ sở chỉ đạo của Chính phủ, các tỉnh triển khai thực hiện, giúp người

dân ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa sớm được hưởng chính sách ưu đãi của

Đảng và Nhà nước về các dịch vụ y tế, khám chữa bệnh.

Trong những năm 1996 - 2000, công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức

khoẻ ban đầu cho nhân dân các tỉnh miền núi Đông Bắc có bước tiến bộ nhất định.

Các cơ sở khám chữa bệnh được củng cố một bước về cơ sở vật chất, trang thiết bị

khám, chữa bệnh. Qua tiến hành khảo sát năm 1998, cả nước có khoảng 69.972 y,

bác sỹ người dân tộc thiểu số, bình quân cả nước 1 vạn dân có 3,44 bác sỹ. Riêng

vùng miền núi phía Bắc cứ 1 vạn dân có 3,19 y, bác sỹ [75, tr.525].

Riêng đối với 21 xã vùng cao biên giới tỉnh Lạng Sơn, thực hiện theo Quyết

định 29/QĐ-TTg ngày 18 tháng 1 năm 1996, công tác khám chữa bệnh cho nhân

dân được quan tâm. Cán bộ y tế xã được tuyển vào biên chế và có chính sách cụ thể

nên 21 xã biên giới đều có y sỹ, y tá phục vụ tại các trạm y tế xã. 21 xã biên giới đã

có 58 cán bộ trong đó có 34 y sỹ, 2 y tá và 2 nữ hộ sinh. Các thôn bản đều có nhân

58

viên y tá thôn bản làm nhiệm vụ hướng dẫn phòng chữa bệnh cho nhân dân nên đã

căn bản ngăn chặn được các dịch bệnh như sốt rét, bướu cổ... [98, tr.8].

1.2.3. Thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo Xoá đói, giảm nghèo là một trong những vấn đề xã hội được Đảng và Nhà

nước ta đặc biệt quan tâm. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng khẳng định: “Thực

hiện tốt chương trình xoá đói giảm nghèo, nhất là đối với vùng cǎn cứ cách mạng,

vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Xây dựng và phát triển quỹ xoá đói giảm nghèo

bằng nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước; quản lý chặt chẽ, đầu tư đúng đối tượng

và có hiệu quả” [19, tr.115].

Mục tiêu Đại hội VIII đặt ra trong 5 năm 1996 - 2000: Giảm tỉ lệ nghèo đói

trong tổng số hộ của cả nước từ 20 - 25% năm 1996 xuống còn khoảng 10% vào

năm 2000, bình quân giảm 300 nghìn hộ/năm. Trong 2 - 3 năm đầu của kế hoạch 5

năm, tập trung xoá về cơ bản nạn đói kinh niên.

Để đạt được mục tiêu trên, ngày 29 tháng 11 năm 1997, Bộ Chính trị ra Chị thị

số 23-CT/TW Về lãnh đạo thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo. Chỉ thị nêu lên một

số vấn đề cần giải quyết tốt: vấn đề ruộng đất; Phát động phong trào tiết kiệm; Có

chính sách và cơ chế khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống ở nông thôn,

mở mang tiểu, thủ công nghiệp, dịch vụ; Tăng cường hoạt động của thương nghiệp

quốc doanh ở thị trường nông thôn; Từng bước thực hiện chính sách miễn, giảm học

phí và cấp học bổng cho con em các hộ nghèo, nhất là con em đồng bào dân tộc ít

người; Thực hiện chính sách miễn, giảm phí khám, chữa bệnh cho người nghèo; từng

bước mở rộng hình thức cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế cho các hộ nghèo..

Thực hiện chủ trương xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, các tỉnh

miền núi Đông Bắc đã tập trung chỉ đạo xây dựng và triển khai các chính sách: 1)

Chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cho các xã vùng sâu, vùng xa,

vùng cao, biên giới, coi đây là điều kiện tiên quyết để xoá đói giảm nghèo ở các xã

này; 2) Chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp: hỗ trợ đất sản xuất, giao đất, giao

rừng, trợ giá đầu vào cho nông nghiệp, đào tạo nghề cho nông dân, chuyển giao

khoa học công nghệ trong sản xuất cho các hộ nông dân...; 3) Thực hiện chính sách

định canh, định cư, từng bước cải thiện mọi mặt đời sống cho đồng bào các dân tộc

59

vùng cao, vùng xa, vùng sâu; Chính sách y tế, giáo dục: thực hiện miễn phí hoặc

cấp học bổng cho con em các hộ nghèo, ưu tiên xét chọn con em các dân tộc thiểu

số thuộc hộ nghèo vào học tại các trường dân tộc nội trú. Cấp thẻ bảo hiểm y tế

cho người nghèo, các gia đình chính sách, xây dựng các cơ sở khám chữa bệnh

miễn phí cho người nghèo.

Cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, những năm 1996

- 2000, các tỉnh miền núi Đông Bắc đã nỗ lực trong công tác xoá đói, giảm nghèo

và đạt được một số chuyển biến tích cực.

Trong quá trình lãnh đạo thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo tại địa

phương, Đảng bộ, chính quyền các địa phương xác định: xoá đói, giảm nghèo là

nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và thường xuyên, cần tập trung giải quyết có hiệu

quả. Mục tiêu đặt ra cho 5 năm 1996 - 2000 là đến năm 2000 xoá xong hộ đói, xoá

cơ bản hộ nghèo (chỉ còn dưới 10%).

Chương trình xoá đói giảm nghèo đã trở thành một phong trào quần chúng

sâu rộng, thu hút sự quan tâm và tham gia tích cực của đông đảo nhân dân. Sau 5

năm được vay vốn để phát triển sản xuất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã có sự

chuyển biến tích cực, dịch vụ cho sản xuất và đời sống ngày càng phát triển, hàng

ngàn hộ khác đầu tư cho phát triển công nghiệp, dịch vụ buôn bán nhỏ và các

nghề khác.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án xoá đói giảm

nghèo đã nảy sinh một số hạn chế, cần phải khắc phục trong thời gian tới. Đồng

thời, cần phải kịp thời điều chỉnh chính sách nhằm phát huy hiệu quả của các chủ

trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện công bằng, bình đẳng giữa các

dân tộc. Dự án hỗ trợ dân tộc Pà Thẻn ở thôn Mỹ Bắc, xã Tân Trịnh, huyện Bắc

Quang, tỉnh Hà Giang là một ví dụ. Thực hiện dự án, chỉ có dân tộc Pà Thẻn với

368 hộ, 2478 nhân khẩu tại địa phương này được hưởng dự án, còn các dân tộc

khác cùng chung sống tại địa bàn, cũng có khó khăn như dân tộc Pà Thẻn, thậm chí

còn khó khăn hơn, nhưng không được thụ hưởng dự án. Đây là một hạn chế, ảnh

hưởng đến việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc tại địa phương.

60

Song song với chương trình xoá đói giảm nghèo, Đảng bộ các địa phương

rất quan tâm tới công tác định canh định cư, đồng thời, đề ra các giải pháp nhằm

khắc phục tình trạng du canh du cư. Thực tế cho thấy, đồng bào du canh, du cư

thường là người dân tộc Dao, Mông, cư trú ở vùng núi cao dọc biên giới các tỉnh

miền núi Đông Bắc, điều kiện sống, lao động sản xuất khó khăn. Hướng di cư có

thể là nội tỉnh hoặc di cư vào vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ. Từ 1980

đến 1997, chỉ tính riêng người của tỉnh Cao Bằng đã di cư đến Tây Nguyên và các

tỉnh khác lên tới 17.200 hộ, với trên 87.530 nhân khẩu.

Nguyên nhân cơ bản của tình trạng du canh du cư một phần do đời sống ở

nơi sở tại quá khó khăn, một số nơi thiếu đất canh tác, thiếu nước sinh hoạt, một

phần do tập quán canh tác của đồng bào...

Trước tình hình đó, Đảng bộ các địa phương đã ra Nghị quyết để giải quyết

tình trạng trên. Tỉnh uỷ Cao Bằng ra Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 05 tháng 5

năm 1997 về các giải pháp khắc phục tình trạng di cư tự do. Nghị quyết đã xác

định một số nhiệm vụ trọng tâm: Từng địa phương tổ chức định canh định cư theo

phương châm tại chỗ là chính, lấy địa bàn huyện để bố trí sắp xếp, lấy định canh

làm tiền đề để tổ chức định cư. Thực hiện các giải pháp kích cầu để kích thích sản

xuất các vùng này phát triển như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhất là về thuỷ lợi,

nước sạch, cho vay vốn trồng cây công nghiệp, cây đặc sản, chăn nuôi đại gia súc,

trợ giá, trợ cước vận chuyển các mặt hàng chính sách, thu mua các mặt hàng nông,

lâm sản.... Trong quá trình vận động định canh định cư, cần chú trọng phát triển

giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá và bảo vệ an ninh trật tự. Coi trọng công tác phát

triển Đảng, chú ý phát huy vai trò của già làng, trưởng bản trong việc tuyên

truyền, vận động nhân dân, ưu tiên, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu

số, nhất là ở các vùng định canh, định cư.

Nhờ sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền, các ngành, các cấp và các địa

phương trong toàn vùng, công tác định canh định cư đã đạt được kết quả rõ rệt.

Các hộ đã được ổn định đời sống, đẩy mạnh sản xuất, thâm canh, tăng vụ cho

năng suất cao, thu nhập ổn định, xoá bỏ phá rừng làm nương rẫy. Công tác định

61

canh định cư đã góp phần không nhỏ vào việc đẩy nhanh xoá đói giảm nghèo,

thực hiện mục tiêu đến năm 2000 xoá cơ bản hộ nghèo.

Tuy nhiên, tính đến năm 1999, số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê cho

thấy, trong 5 năm (1994 - 1999), hai vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ vẫn là

địa điểm chủ yếu thu hút các luồng di dân, vùng Đông Bắc là một trong những

vùng có mức xuất cư cao, năm 1999 là 25,6%. Trong đó, một số tỉnh có tỷ lệ suất

cư cao như Cao Bằng: 48,8%, Lạng Sơn: 31,2% (tỷ lệ nhập cư của hai tỉnh này

tương ứng là 8,5% và 11,6%) [47, tr.77]. Ở một số địa phương vẫn còn tồn tại tình

trạng du canh du cư, một số điểm định cư nhưng chưa vững chắc, đời sống đồng

bào du canh, du cư rất khó khăn, thiếu đói, bệnh tật, tỷ lệ mù chữ, thất học cao.

Lợi dụng trình độ dân trí thấp kém, các phần tử phản động đã truyền đạo trái phép,

tuyên truyền nhảm nhí, gây mất ổn định tại địa phương.

1.2.4. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân

vững mạnh

Miền núi phía Bắc là vùng xung yếu dọc tuyến biên giới Việt - Trung, có vị

trí chiến lược quan trọng về kinh tế - chính trị - xã hội, đặc biệt là an ninh - quốc

phòng của từng địa phương và quốc gia.

Trong thời kỳ đổi mới, thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, các thế

lực thù địch dùng nhiều thủ đoạn thâm độc tác động vào đồng bào các dân tộc

thiểu số. Lợi dụng trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp kém, lợi dụng các mối

quan hệ dân tộc qua lại biên giới, các thế lực thù địch lôi kéo, mua chuộc, lừa gạt,

gây chia rẽ, gây mất ổn định trong vùng đồng bào dân tộc, nhất là vùng đồng bào

dân tộc Mông. Đạo Tin lành đã thâm nhập vào cộng đồng người Mông dưới tên

gọi “Vàng Chứ”, và đồng bào Dao với tên gọi “Thìn Hùng”. Số người mới theo

đạo ngày càng tăng, chủ yếu là ở vùng sâu, vùng xa. Ở Hà Giang, năm 1992, đạo

Vàng Chứ trong vùng dân tộc Mông có ở 42 xã với 1.327 hộ = 7.958 người thì

đến năm 1997, tình hình truyền đạo trái pháp luật đã lan ra 9 huyện với 1.385 hộ =

8.597 khẩu. Sở dĩ có hiện tượng như vậy, một mặt do đồng bào các dân tộc thiểu

số nơi đây đời sống khó khăn, trình độ dân trí thấp kém, mặt khác, trên thực tế, ở

một số địa phương các cán bộ làm công tác dân tộc chưa thực sự tốt, chưa sâu sát

62

với dân. Lợi dụng sơ hở đó, các thế lực thù địch đã tuyên truyền, kích động nhân

dân bằng nhiều thủ đoạn tinh vi.

Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, cùng với việc đề ra và

quán triệt đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ, Đảng ta đã có sự đổi mới trong

nhận thức và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc, xây dựng và củng cố khối đại

đoàn kết các dân tộc, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng đặt ra.

Ngày 23 tháng 9 năm 1994, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số

45-CT/TW về một số công tác của người Mông để đấu tranh với những luận điệu

xuyên tạc của các thế lực thù địch. Chỉ thị nêu rõ: Để thực hiện tốt chính sách dân

tộc của Đảng nhằm ổn định tình hình chính trị nâng cao đời sống mọi mặt của dân

tộc Mông, các Đảng bộ địa phương cần tăng cường tuyên truyền giáo dục trong

đồng bào Mông về đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà

nước, tạo điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao đời sống mọi mặt trong vùng dân

tộc Mông.

Thực hiện chủ trương của Đảng, các Đảng bộ địa phương đã cụ thể hoá Chỉ

thị số 45-CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng như: Tỉnh uỷ Hà Giang ra

Chỉ thị 10/CT-TU ngày 20 tháng 10 năm 1997 về việc xoá mù chữ phổ cập tiểu

học, chống truyền đạo trái phép, Kế hoạch số 08/KH-TU chống truyền đạo trái

phép, di dịch cư tự do..., góp phần thúc đẩy giải quyết tốt công tác ở vùng dân tộc

Mông. Với các nội dung cơ bản được thể hiện thông qua các Nghị quyết, Chỉ thị,

Kế hoạch, các Đảng bộ địa phương đã phối hợp với các lực lượng đứng chân trên

địa bàn mở các đợt tuyên truyền, giáo dục, vận động về chủ trương, chính sách

của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là chính sách đại đoàn kết dân tộc của

Đảng. Phân công cán bộ cốt cán bám địa bàn, nắm chắc diễn biến tình hình, tổ

chức tuyên truyền, vận động nhân dân nêu cao cảnh giác không mắc mưu kẻ xấu

đi theo truyền đạo trái pháp luật, vận động những người do bị lừa gạt, ép buộc

theo đạo trái pháp luật tự giác bỏ đạo trở về sản xuất, ổn định đời sống.

Đầu những năm 2000, tình hình truyền đạo trái pháp luật trên địa bàn các

tỉnh miền núi Đông Bắc đã giảm. Chỉ tính riêng tại tỉnh Hà Giang, năm 1997 có

63

1.385 hộ = 8.597 người đến 2001 giảm xuống còn hơn 700 hộ với khoảng 2.500

người ở 21 xã trên địa bàn.

Bốn tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược về an ninh,

quốc phòng, có đường biên giới giáp với Trung Quốc. Vì vậy, nhiệm vụ bảo vệ chủ

quyền an ninh biên giới luôn được Đảng, Nhà nước, các cấp uỷ Đảng địa phương

quan tâm.

Trước tình hình biên giới có nhiều diễn biến phức tạp, hoạt động của các loại

tội phạm có chiều hướng gia tăng, đời sống mọi mặt của nhân dân biên giới thiếu

thốn, cơ sở hạ tầng thấp kém. Ngày 07 tháng 5 năm 1998, Tỉnh uỷ Lạng Sơn tiếp

tục ra Chỉ thị số 09-CT/TU về việc tăng cường quản lý, bảo vệ biên giới trong tình

hình mới.; Năm 1995, Tỉnh uỷ Cao Bằng ra Nghị quyết số 1023/NQ-TU về việc mở

cuộc vận động tập trung tăng cường công tác giải quyết một số vấn đề bức xúc về

kinh tế xã hội và bảo đảm an ninh trật tự ở huyện Bảo Lạc; Ngày 26 tháng 10 năm

1998, Tỉnh uỷ Cao Bằng ra Nghị quyết số 03-NQ/TU về tăng cường chỉ đạo xây

dựng và phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở các xã biên giới.

Các Nghị quyết nêu trên đều quán triệt sâu sắc chính sách đối ngoại của

Đảng và Nhà nước: Xây dựng biên giới Việt - Trung hoà bình, hữu nghị, tăng

cường quan hệ láng giềng thân thiện, hợp tác bình đẳng cùng có lợi giữa nhân dân

hai nước ở hai bên biên giới một cách có tổ chức, trật tự, phù hợp với pháp luật của

mỗi nước và hiệp định giữa hai nước; giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh

thổ, bảo đảm an ninh quốc gia; tập trung khai thác thế mạnh của các huyện biên

giới, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc

vùng biên; từng bước xoá đói, giảm nghèo, thực hiện có hiệu quả mục tiêu dân giàu

nước mạnh; có hệ thống chính trị vững mạnh. Mỗi xã biên giới phải thực sự vững

mạnh toàn diện.

Thực hiện chủ trương đó, nhiệm vụ đặt ra cho một số tỉnh miền núi Đông

Bắc có đường biên giới là: Quản lý, bảo vệ biên giới; tăng cường quan hệ hữu nghị

và hợp tác Việt - Trung; xây dựng vùng biên giới vững mạnh toàn diện.

Chủ trương và sự chỉ đạo tích cực của các cấp uỷ Đảng, chính quyền các địa

phương đã phát huy được vai trò nòng cốt của bộ đội biên phòng, dân quân các xã

64

biên giới, lực lượng dự bị động viên và phong trào của quần chúng nhân dân trong

quản lý bảo vệ biên giới; huy động được các nguồn lực để đầu tư phát triển kinh tế

xã hội, hỗ trợ giống, vốn, trồng cây giáp biên; xây dựng cơ sở hạ tầng như đường

giao thông, điện lưới, trụ sở làm việc, phương tiện giao thông; niềm tin của nhân

dân đối với Đảng được củng cố; cán bộ, chiến sỹ, nhân dân yên tâm bám trụ xây

dựng và bảo vệ biên giới, cơ bản chấm dứt tình trạng di dân tự do. Nhờ vậy, nền

biên phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được củng

cố, phong trào quần chúng nhân dân tự quản bảo vệ biên giới phát triển. Từ 1993

đến 1999, tỉnh Cao Bằng đã phát hiện trên 200 vụ gồm trên 3000 lượt bộ đội biên

phòng, công an, nhân dân Trung Quốc tuần tra, làm đường, xâm nhập phá hoại,

chôn mồ mả, xâm canh vào đất của ta. Các vụ việc xảy ra đều được phát hiện kịp

thời, xử lý kiên quyết, góp phần giữ vững chủ quyền biên giới lãnh thổ, không để

mất đất, xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị và hợp tác.

Tuy nhiên, một thực trạng mà Đảng bộ các địa phương cần quan tâm đó là,

đội ngũ cán bộ quân đội, công an người dân tộc thiểu số ở vùng núi, vùng biên

cương Tổ quốc là rất cần thiết song lại có xu hướng giảm. Theo thống kê trong quân

đội, hiện có khoảng 1,81% sĩ quan quân đội là con em các dân tộc thiểu số. Còn ở

riêng Hà Giang, Tuyên Quang thì số sĩ quan này giảm 10%. Thực tế này đòi hỏi các

cơ quan Trung ương và địa phương cần phối hợp bằng nhiều biện pháp hữu hiệu, để

phát triển đội ngũ cán bộ quân đội người dân tộc thiểu số cùng với cán bộ quân đội

người dân tộc Kinh làm tốt nhiệm vụ gìn giữ biên cương của Tổ quốc.

Tiểu kết chương 1

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới,

diện mạo miền núi Đông Bắc nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực. Đó là kết

quả của quá trình đổi mới tư duy về hoạch định chính sách dân tộc của Đảng với

gắn kết giữa phát triển tộc người với phát triển vùng. Thông qua việc thực hiện các

chương trình, dự án kinh tế - xã hội miền núi, đời sống của đồng bào các dân tộc

thiểu số đã được nâng lên, kết cấu hạ tầng được đầu tư, xây mới; văn hoá, giáo dục,

y tế được quan tâm; an ninh, quốc phòng được giữ vững. Những kết quả đạt được

65

một mặt thể hiện bản chất của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó là

chế độ của dân, do dân và vì dân, thực hiện công bằng, bình đẳng đối với các dân

tộc. Mặt khác, với những thành tựu đạt được tạo cơ sở để các dân tộc tiếp tục phát

huy nội lực để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình thực

hiện chính sách dân tộc của Đảng tại khu vực miền núi Đông Bắc vẫn còn một số

hạn chế, khó khăn, như thực hiện các chính sách xoá đói giảm nghèo, thực hiện

chính sách phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số, việc giải quyết các vấn đề dân

tộc và tôn giáo tại địa bàn. Thực tế cho thấy, bộ mặt nông thôn, miền núi đã có sự

khởi sắc, đời sống của đồng bào ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, đây lại là

vùng có thu nhập bình quân đầu người theo giá thực tế thấp nhất nước. Trong khi

thu nhập bình quân đầu người theo giá thực tế của cả nước năm 1999 là 295 nghìn

đồng, Tây Nguyên là 344,7 nghìn đồng thì vùng miền núi phía Bắc chỉ đạt 210

nghìn đồng [Phụ lục 4].

Đây là một thách thức đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân các dân tộc miền núi

Đông Bắc, yêu cầu cần phải có một hệ thống các giải pháp cụ thể, sát hợp với khu

vực và từng dân tộc trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng.

Có như vậy mới huy động được mọi nguồn lực, tập trung vốn, áp dụng khoa học -

kỹ thuật, phát triển kinh tế, văn hoá, đào tạo cán bộ, nâng cao dân trí, cải thiện mọi

mặt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc khu vực miền núi Đông

Bắc Việt Nam.

66

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM (TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010)

2.1. CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH

CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VÙNG MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC

2.1.1. Cơ hội và thách thức đối với việc thực hiện chính sách dân tộc của

Đảng ở vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI

Đầu thế kỷ XXI, vùng Đông Bắc nói riêng và nước ta nói chung đứng trước

cơ hội và thách thức đan xen, trong đó cơ hội rất lớn đối với phát triển, nhưng thách

thức cũng rất gay gắt.

* Cơ hội

Hòa bình, hợp tác trở thành xu hướng lớn trong quan hệ khu vực và quốc tế

tạo điều kiện cho các tỉnh biên giới có cơ hội thúc đẩy giao thương kinh tế, giao lưu

văn hóa, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tổ chức thực hiện chính sách dân

tộc ở các tỉnh Đông Bắc chịu tác động trực tiếp, toàn diện từ bối cảnh đó. Đặc biệt, từ

1990, Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ - cơ sở để xây dựng biên

giới hòa bình, hữu nghị sau nhiều năm chiến tranh, xung đột. Năm 1999, sau một quá

trình đàm phán, hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết Hiệp định biên giới.

Đến ngày 31/12/2008, hai bên đã phân giới khoảng 1.400 km biên giới, cắm 1.971

cột mốc, trong đó có 1.549 cột mốc chính và 422 cột mốc phụ. Toàn bộ 38 chốt quân

sự trên đường biên giới đều đã được dỡ bỏ. Ngày 25/12/2000, hai nước ký Hiệp định

Phân định vịnh Bắc Bộ xác định lãnh hải, biên giới trên biển, thềm lục địa và vùng

đặc quyền kinh tế. Đây là cơ sở pháp lý đảm bảo cho hợp tác giữa Việt Nam - Trung

Quốc được đẩy tới, môi trường hòa bình được giữ vững, chủ quyền lãnh thổ được

bảo vệ toàn vẹn. Đồng bào các dân tộc vùng biên giới được hưởng lợi trực tiếp từ môi

trường hòa bình, ổn định do các hiệp ước song phương tạo ra.

Toàn cầu hóa, khu vực hóa tạo ra khả năng liên kết khu vực và toàn cầu rộng

lớn, mà khu vực biên giới và các thành phố lớn luôn có điều kiện phát triển đi trước.

Đối với Việt Nam, vùng biên giới, mà cụ thể là biên giới phía Bắc, đã đi đầu trong

67

mở cửa, hội nhập với thế giới. Từ sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, xu thế liên kết

khu vực ngày càng hình thành rõ rệt, nhất là trong điều kiện Trung Quốc trỗi dậy

nhanh chóng. Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN từng bước hình

thành, mà điểm đầu tiên đảm bảo kết nối khu vực chính là vùng Đông Bắc của Việt

Nam. Giữa Trung Quốc và Việt Nam từng bước định hình "hai hành lang" và "một

vành đai" kinh tế nhằm gắn kết 3 tỉnh Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông của

Trung Quốc với các tỉnh phía Bắc Việt Nam trong một cấu trúc kinh tế tiểu khu

vực. Hành lang kinh tế (1: Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; 2: Nam Ninh

- Bằng Tường - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng) bao trọn toàn bộ vùng Đông Bắc

của Việt Nam. Vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ bao trùm ba thành phố địa khu của

tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc (Bắc Hải, Khâm Châu, Phòng Thành Cảng), 1 thành

phố cấp địa khu của tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc (Trạm Giang), toàn bộ tỉnh Hải

Nam và 10 tỉnh/thành của Việt Nam (Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam

Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị). Việt

Nam và Trung Quốc, mỗi nước theo đuổi mục tiêu riêng trong quá trình khu vực

hóa, nhưng việc hình thành "hai hành lang, một vành đai kinh tế" đã tạo cơ hội cho

các tỉnh Đông Bắc tham gia cấu trúc kinh tế khu vực, hội nhập với nền kinh tế mới

nổi Trung Quốc.

Cách mạng khoa học và công nghệ và việc ứng dụng thành tựu khoa học -

công nghệ đã góp phần quan trọng đảm bảo thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc

của Đảng. Đặc biệt, những thành tựu phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin

tạo điều kiện cho các quốc gia, các khu vực, các vùng lãnh thổ dù biệt lập cũng có

cơ hội chia sẻ thông tin, xích lại gần nhau hơn. Nếu như trước đây các vùng như

Tây Bắc, Đông Bắc được xem là khó khăn nhất cả nước, do biệt lập của yếu tố địa

lý, thì với sự phát triển vượt bậc của công nghệ viễn thông, công nghệ truyền hình,

kỹ thuật số... đã làm cho việc tuyên truyền thực hiện chính sách dân tộc của Đảng

được thuận lợi hơn, đảm bảo gắn kết các vùng ngoại vi, biên viễn với trung tâm

quyền lực. Các tuyến giao thông lớn được nâng cấp, các tuyến giao thông nội vùng,

nội tỉnh, nội huyện, nội xã được cải thiện cũng đã góp phần vào kết cấu hóa khu

vực, giảm dần tình trạng tách biệt lãnh thổ. Thành tựu khoa học và công nghệ được

68

ứng dụng cũng tạo cơ hội cho triển khai các chương trình, dự án phát triển kinh tế -

xã hội vùng dân tộc thiểu số, góp phần quan trọng đảm bảo thực hiện thành công

chính sách dân tộc của Đảng.

Đất nước sau 15 năm đổi mới đã có bước phát triển vượt bậc, nhờ đó có điều

kiện giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa thúc đẩy tăng cường kinh tế với thực hiện

tiến bộ và công bằng xã hội, trong đó thực hiện chính sách dân tộc là một bộ phận

cấu thành của mục tiêu phát triển. Thành tựu tăng trưởng kinh tế cao liên tục trong

nhiều năm đã giúp Đảng, Nhà nước có nguồn lực để đầu tư cho phát triển các dân tộc

thiểu số, bao gồm cả chính sách hỗ trợ và chính sách đầu tư. Chương trình 135-I và

135-II cùng hàng loạt chương trình mục tiêu quốc gia, dự án ra đời đều xuất phát từ

quan điểm của Đảng về thực hiện đoàn kết, bình đẳng, tương trợ nhau cùng phát triển

giữa các dân tộc, giảm dần sự phát triển cách biệt giữa các vùng miền.

Vùng Đông Bắc sau 15 năm đổi mới, 10 năm bình thường hóa quan hệ Việt -

Trung, 5 năm thực hiện đường lối đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đã đạt

được những thành tựu vượt bậc trên nhiều lĩnh vực để vừa có thể hấp thu tốt hơn

nguồn lực ưu tiên đầu tư của nhà nước, vừa có tích lũy từ nội bộ để tái đầu tư cho

phát triển. Hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố, khối đoàn kết các dân tộc được

giữ vững để tạo nên sức mạnh mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại

hoá. Vì thế, Đông Bắc không có các biến động phức tạp như Tây Nguyên, Tây Bắc,

Tây Nam Bộ, dù nhiều địa phương trong vùng vẫn rất khó khăn. Đội ngũ cán bộ các

dân tộc được phát triển cả về số lượng và nâng cao chất lượng. Nền kinh tế có nhiều

chuyển biến, nhất là hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa, các khu

kinh tế mở dọc biên giới, tạo điều kiện tốt hơn phát huy nội lực của đồng bào để thoát

dần sản xuất tự cung, tự cấp, năng động hóa tư duy kinh tế. Xóa đói giảm nghèo thu

được kết quả tích cực, đồng thời từng bước hình thành các chủ trang trại, nhà nông

chuyên nghiệp, chủ doanh nghiệp có vai trò động lực dẫn dắt kinh tế làng/bản, khu

vực. Sinh kế tộc người đã có bước cải thiện, các hiện tượng du canh, du cư giảm dần.

Kết cấu hạ tầng được cải thiện, nhất là đường giao thông đến thôn/bản. Bản sắc văn

hóa các dân tộc được giữ vững. Hệ sinh thái bước đầu ngăn chặn được mức suy thoái

kéo dài nhiều năm trước nhờ chính sách giao đất, giao rừng thu được kết quả tốt.

69

Điều đó đã tạo cơ hội mới cho Đảng thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc ở

các tỉnh Đông Bắc trong thời kỳ mới, đồng thời huy động nội lực của đồng bào giải

quyết những vấn đề tự thân của đời sống xã hội tộc người.

* Thách thức

Bên cạnh cơ hội lớn cho phát triển tộc người và thực hiện chính sách dân tộc

thì vùng Đông Bắc cũng đối diện với không ít thách thức.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc luôn mang tính hai mặt, bên cạnh tạo động lực

thúc đẩy kinh tế toàn cầu, khu vực, thì cũng tạo ra những áp lực đối với các nước

láng giềng, đặc biệt các nước có điều kiện bất đối xứng về quyền lực, trong đó vùng

biên giới luôn chịu áp lực trực tiếp. Chiến lược trỗi dậy của Trung Quốc lúc đầu ưu

tiên đầu tư phát triển duyên hải miền đông, sau 20 năm đạt được thành tựu vượt

bậc, đã chuyển sang đầu tư cho chiến lược "Đại khai phá miền Tây", thực hiện "Phú

dân, hưng biên". Chiến lược đó tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh của miền

Tây, vùng dân tộc thiểu số, khắc phục tình trạng phát triển cách biệt giữa miền

Đông và miền Tây. Tuy nhiên, trong đó cũng hàm chứa tham vọng, ý đồ của nước

lớn để tạo ra các năng lực gây ảnh hưởng, tạo áp lực đối với các nước láng giềng.

Với Việt Nam, Trung Quốc luôn tìm cách gây ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau,

thông qua vô vàn các công cụ, biện pháp "cứng" và "mềm". Việc đầu tư quy mô lớn

cho phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, quy hoạch phát triển các đô thị đường biên

mang tính áp lực, ưu tiên đầu tư cho người dân khu vực biên giới... đều nằm trong

mưu đồ tạo ra hình thái quyền lực bất đối xứng đối với các quốc gia láng giềng, gây

bất lợi cho Việt Nam. Đó là chưa kể những chính sách kinh tế - thương mại thiếu ổn

định, thay đổi thất thường, đột ngột, thường gây thua thiệt cho nền kinh tế và doanh

nghiệp Việt Nam. Do đó, mặt bất lợi trong quan hệ với Trung Quốc cũng rất lớn,

biểu hiện ở mức độ nhập siêu ngày càng cao, không tạo ra khả năng phát triển bền

vững cho các đối tác hợp tác. Các tỉnh biên giới phía Bắc là đối tượng phải gánh

chịu hậu quả nặng nề của những thách thức đó, mà trước hết là đồng bào dân tộc

thiểu số.

Trong bối cảnh nguy cơ xung đột vũ trang giảm dần thì khu vực biên giới

phía Bắc lại nổi lên nhiều mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Nổi bật nhất là tình

70

trạng buôn bán phụ nữ qua biên giới trong điều kiện Trung Quốc thực hiện chính

sách một con, mất cân bằng giới nghiêm trọng trong xã hội. Quan hệ hôn nhân liên

tộc xuyên biên giới rất phổ biến, gây nên nhiều hệ lụy cho an ninh và phát triển các

tỉnh biên giới. Theo số liệu thống kê, trong 8 huyện biên giới Trung Quốc giáp Việt

Nam có đến hơn 20.000 gia đình kết hôn qua biên giới trái phép [32, tr.11]. Các

hiện tượng lừa đảo, buôn người ngày càng tăng. Buôn lậu qua biên giới là vấn đề

nhức nhối, không chỉ làm thất thu cho nhà nước, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến

sản xuất nội địa. Di cư xuyên biên giới thường bị các thế lực thù địch lợi dụng để

chống phá, gây bất ổn. Di cư xuyên biên giới bao gồm từ di cư lao động, di cư hôn

nhân, di cư truyền giáo, trong đó di cư lao động ngày càng lớn, do nhu cầu lao động

bên này hay bên kia, trong đó dòng xuất cư từ các tỉnh biên giới Việt Nam sang

Trung Quốc lớn hơn, gây ra những đe dọa về an ninh. Bên cạnh đó, dòng nhập cư

từ Trung Quốc, rất phổ biến hình thức nhập cư bất hợp pháp, cũng gây khó khăn

cho quản lý người nhập cư. Ngoài ra, còn vô vàn các mối đe dọa an ninh phi truyền

thống khác từ phía Trung Quốc như tham vọng mở rộng ảnh hưởng khu vực đồng

nhân dân tệ với an ninh tài chính, làm tiền giả, buôn lậu ma túy, kiểm dịch động,

thực vật... mà đối phó rất khó khăn và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến thực

hiện chính sách dân tộc của Đảng ở vùng Đông Bắc.

Các thế lực thù địch ra sức lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá,

gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, cổ vũ cho chủ nghĩa ly khai. Từ trước đến nay,

các thế lực thù địch không bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá Việt Nam, tìm cách

phá hoại sự nghiệp đổi mới. Sau Chiến tranh lạnh, khi hòa bình trở thành xu thế chủ

đạo, chúng chuyển sang chống phá bằng biện pháp phi vũ trang là chính. Vấn đề

dân tộc, tôn giáo, nhân quyền trở thành tâm điểm trong chiến lược diễn biến hòa

bình. Đặc biệt, sau khi Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn về quyền

của người bản địa (13/9/2007), các quốc gia giải thích khác nhau về nội dung để

phục vụ cho các mưu đồ chính trị, nhất là các điều khoản quy định về quyền hiện

diện chính trị, quyền về lãnh thổ... Ở tuyến biên giới, lợi dụng địa bàn vùng sâu,

vùng biên giới, các thế lực thù địch sử dụng nhiều công cụ khác nhau để kích động

chủ nghĩa dân tộc cực đoan, ly khai. Chúng cổ vũ, xúi giục cho cái gọi là "Vương

71

quốc Mông". Chúng lợi dụng quan hệ họ hàng, thân thuộc giữa hai bên biên giới để

củng cố lực lượng, nắm tình hình, thâm nhập vào nội bộ ta cài cắm, phá hoại từ bên

trong. Lợi dụng chính sách tự do tôn giáo của Đảng, chúng cổ vũ cho truyền đạo

trái phép, xúi giục đồng bào từ bỏ tín ngưỡng truyền thống để theo đạo "Vàng

Chứ", "Thìn Hùng", mà thực chất là quay lưng với truyền thống dân tộc. Khi Hiệp

định biên giới Việt - Trung được ký kết, trên tuyến biên giới tại Đông Bắc có nhiều

điểm "nhạy cảm" (do lịch sử để lại phải đàm phán, thỏa hiệp, nhân nhượng giữa hai

bên) như Thác Bản Giốc, Hữu Nghị quan, cửa sông Bắc Luân... các thế lực thù địch

và cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc, kích động tình cảm dân tộc, phủ nhận

thành tựu đàm phán biên giới của Đảng, Nhà nước ta, gây phân tâm trong nhân dân.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, khoảng cách phát triển giữa các vùng,

các tộc người tiếp tục bị đẩy ra xa thêm, bất bình đẳng tộc người và bất công xã hội

ngày càng hiện hữu rõ rệt. Một nghịch lý trong kinh tế thị trường là càng phát triển

thì nguy cơ tụt hậu của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng bị xa thêm so với

mặt bằng trình độ chung. Bất công tự nhiên giữa các tộc người có mặt do điều kiện

địa lý, điểm xuất phát khác nhau, mặt khác do ngoại ứng tiêu cực của kinh tế thị

trường. Vì vậy, nhiều nơi đồng bào vẫn khó khăn. Ở Hà Giang, Cao Bằng, trên các

vùng núi đá cao, nhiều nơi đồng bào không có nước sinh hoạt, thiếu đất canh tác.

Tình trạng thất học, tái mù chữ, hôn nhân cận huyết, suy dinh dưỡng vẫn còn tồn tại

ở nhiều nơi, nhất là vùng sâu, vùng xa. Xây dựng đập thủy điện ở nhiều nơi đã gây

nên tình trạng phá rừng đầu nguồn, người dân mất các diện tích ruộng canh tác tốt

nhất ở các thung lũng, thiếu an toàn sinh kế... Đây là mảnh đất màu mỡ cho các thế

lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.

2.1.2. Chủ trương mới về chính sách dân tộc tại Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001)

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) đã tổng kết 5 năm

thực hiện đường lối Đại hội VIII và chỉ rõ:

Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược

trong sự nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình

đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển; xây dựng kết cấu

72

hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất hàng hoá, chăm lo đời sống

vật chất và tinh thần, xoá đói, giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn,

làm giàu và phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của các

dân tộc; thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và

miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây

là căn cứ cách mạng và kháng chiến. Tích cực thực hiện chính sách ưu

tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số. Động viên,

phát huy vai trò của những người tiêu biểu, có uy tín trong dân tộc và ở

địa phương. Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn,

dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm

dân tộc [22, tr.128].

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) tiếp tục khẳng định những

quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đại hội VIII, đồng thời bổ sung trên một số nhận

thức mới sau đây:

- Nếu như văn kiện Đảng trước đây thường nhấn mạnh đến yêu cầu rút ngắn

khoảng cách phát triển giữa miền núi với miền xuôi, giữa dân tộc đa số với dân tộc

thiểu số, thì Đại hội IX đã nhìn trên quan điểm biện chứng hơn khi đưa ra luận điểm

“cùng phát triển”. Cùng phát triển giữa các tộc người vừa thể hiện tư tưởng tiến bộ,

văn minh, hay còn gọi là quan điểm phát triển không loại trừ; vừa là cách tiếp cận

thực tế đối với quá trình phát triển. Hàm nghĩa của quan điểm này là thừa nhận tình

trạng phát triển không đồng đều giữa các bộ phận dân cư trong xã hội, nhưng Đảng,

Nhà nước không để tình trạng phát triển không đồng đều đó chuyển thành loại trừ

một nhóm dân cư nào đó khỏi quá trình phát triển. Tương trợ tộc người chính là

đảm bảo cho mọi nhóm dân cư, mọi tộc người đều có cơ hội cùng phát triển.

- Gắn phát triển tộc người với phát triển vùng (vùng miền núi, vùng căn cứ

kháng chiến, vùng khó khăn, vùng biên giới) là một quan điểm mới. Bởi vì, không

thể có phát triển tộc người, nếu không bắt đầu từ quy hoạch phát triển tổng thể đời

sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, kể cả bảo vệ môi trường sinh thái, của cả

vùng; không thể phát triển được tộc người thiểu số nếu không quan tâm thỏa đáng

mối quan hệ với tộc người đa số của vùng trong điều kiện hình thái cư trú đan xen;

73

không thể phát triển con người và xã hội tộc người nếu thoát ly điều kiện cư trú, sản

xuất, sinh sống do chế định bởi các yếu tố thiên tạo của vùng. Điều này đòi hỏi

chính sách dân tộc thường bao hàm trong ba loại hình: (i) chính sách phát triển cho

những đối tượng dân tộc riêng lẻ, thường ở những nhóm dân tộc đặc thù có dân số

ít; (ii) chính sách phát triển dân tộc gắn với chính sách phát triển ngành, lĩnh vực;

(iii) chính sách dân tộc gắn với chính sách phát triển bền vững vùng. Chuyển biến

nhận thức này đã dẫn dắt cho hàng hoạt chính sách quy hoạch phát triển kinh tế - xã

hội vùng, trong đó có quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc, mà đối

tượng hướng tới chủ yếu là đồng bào các dân tộc.

- Xác định vấn đề con người - nguồn nhân lực là một trong những chính sách

rất quan trọng đảm bảo cho phát triển bền vững, bao gồm cả nguồn nhân lực được

đào tạo mới và phát huy “người tiêu biểu, có uy tín” trong các dân tộc. Nguồn nhân

lực mới chỉ hình thành từ phát triển giáo dục và đào tạo, từ giáo dục bậc thấp đến

giáo dục bậc cao. “Người tiêu biểu, có uy tín” trong các dân tộc đó là những già

làng, trưởng bản, trí thức dân tộc. Uy tín, tri thức có được của họ là nhờ quá trình

tích lũy nghiệm sinh và trao truyền, thông qua thực hành và trí nhớ. Người ta

thường gọi đó là tri thức bản địa, phản ánh vốn hiểu biết trên các mặt địa lý - tự

nhiên, thổ nhưỡng, tiểu khí hậu, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm tổ chức xã hội,

chữa bệnh, bảo vệ bản/làng... mang hình thái tri thức tiền khoa học.

- Nhấn mạnh đến yêu cầu xây dựng đúng đắn ý thức hệ dân tộc trên hai

mặt: chống tư tưởng dân tộc lớn và chống dân tộc tự ti, hẹp hòi. Cả hai biểu hiện

đó đều dẫn đến chủ nghĩa dân tộc cực đoan, là mảnh đất màu mỡ để các thế lực

thù địch lợi dụng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động chủ nghĩa dân

tộc ly khai. Đây là sự trở lại tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, nhất là trong bối

cảnh vấn đề dân tộc bị lợi dụng và gây nên các biến động phức tạp ở các vùng Tây

Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ. Vì vậy, phải “nghiêm cấm lợi dụng các vấn đề

dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà

nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh

quốc gia” [22, tr.128].

74

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010) đã định hướng

quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi phía Bắc nói chung và vùng Đông

Bắc nói riêng như sau:

Phát triển công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, nông sản, lâm

sản, chú trọng chế biến xuất khẩu. Hình thành một số cơ sở công nghiệp

lớn theo tuyến đường 18 gắn với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Phát

triển nhanh các loại dịch vụ, chú trọng thương mại. Nâng cấp các tuyến

đường trục từ Hà Nội đi các tỉnh biên giới, hoàn thành các tuyến đường

vành đai biên giới và các đường nhánh. Phát triển thủy lợi nhỏ gắn với

thủy điện nhỏ, giải quyết việc cấp nước sinh hoạt và điện cho đồng bào

vùng cao. Phát triển các đô thị trung tâm, các đô thị gắn với khu công

nghiệp. Nâng cấp các cửa khẩu biên giới và phát triển kinh tế cửa khẩu.

Thực hiện tốt chính sách dân tộc, định canh, định cư vững chắc, ổn định

và cải thiện đời sống cho đồng bào dân tộc [22, tr.185-186].

Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2006 do Đại hội IX

thông qua đã chỉ rõ hơn quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng trung du và miền

núi phía Bắc, trong đó có vùng Đông Bắc:

- Phát huy thế mạnh về đất và rừng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng diện

tích cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc gắn với công nghiệp chế

biến. Phát triển mạnh kinh tế trang trại. Đối với những vùng có khả năng trồng cây

lương thực thì đầu tư thuỷ lợi nhỏ, đưa các loại giống mới phù hợp với điều kiện

sinh thái trong vùng để phát triển sản xuất lương thực tại chỗ, không phá rừng làm

nương rẫy sản xuất lương thực.

- Tái tạo vốn rừng kết hợp với phát triển các vùng rừng nguyên liệu công

nghiệp, gỗ trụ mỏ. Trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, đặc biệt trồng rừng

phòng hộ khu vực đầu nguồn sông Đà gắn với việc bảo vệ cảnh quan. Phát triển các

vùng cây công nghiệp tập trung, tạo ra khối lượng hàng hoá lớn như chè, cây ăn

quả, phát triển các vùng cây đặc sản, gỗ trụ mỏ,... Thực hiện chương trình xoá đói,

giảm nghèo, định canh định cư kết hợp với phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Chấm

dứt tình trạng phá rừng làm nương rẫy trồng lương thực và các cây khác.

75

- Phát triển công nghiệp chế biến lâm sản; công nghiệp vật liệu xây dựng;

khai thác và chế biến khoáng sản; xây dựng thuỷ điện quy mô lớn cung cấp cho

cả nước, đồng thời phát triển thuỷ điện nhỏ đáp ứng nhu cầu ở những vùng sâu,

vùng xa...; công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và tiểu thủ công nghiệp ở các đô

thị và nông thôn; công nghiệp luyện kim; chế tạo cơ khí; phân bón; hoá chất (...)

Cải tạo và mở rộng các khu vực tập trung công nghiệp hiện có, đồng thời hình

thành tuyến hành lang công nghiệp theo đường 18 gắn với vùng kinh tế trọng

điểm Bắc Bộ.

- Tập trung đầu tư nâng cấp các quốc lộ 6, 2, 3, 1, 70, 37, 4D, 279, 32, 42.

Khôi phục và nâng cấp các đường vành đai quốc lộ 4, N1, N2 để tạo ra mạng lưới

đường hoàn chỉnh cho cả vùng (...). Phát triển tuyến hành lang biên giới trên cơ sở

phát triển các đô thị gắn với kinh tế cửa khẩu, nâng cấp các đường giao thông tới

vùng biên quan trọng. Từng bước xây dựng các vùng biên giới đủ mạnh để giữ

vững biên cương, bảo đảm quốc phòng và an ninh.

- Phát triển nhanh các loại hình dịch vụ, trước hết là thương mại, phát triển

mạng bưu chính - viễn thông an toàn, thông suốt, cấp điện, cấp nước, xây dựng các

trung tâm cụm xã, các đô thị trung tâm gắn với các khu công nghiệp, nâng cấp các

cửa khẩu biên giới.

- Phát triển mạnh du lịch, chú trọng du lịch sinh thái, cảnh quan thiên nhiên

như hồ Ba Bể, hồ Thác Bà, hồ Núi Cốc, Sapa...; tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá

trong vùng gắn với phát triển du lịch.

- Có quy hoạch cụ thể để ổn định dân cư, định canh, định cư, nâng cao dân

trí, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc [22, tr.303-304].

Trong quá trình chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá,

chính sách dân tộc ở vùng Đông Bắc được quan tâm giải quyết trong tổng thể

đường lối, chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng, thể hiện trên

nhiều lĩnh vực rất tổng hợp. Đây chính là quán triệt quan điểm gắn phát triển tộc

người với phát triển vùng, thông qua một loạt chính sách tổng hợp từ chính trị, kinh

tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

76

2.1.3. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa

IX (2003) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) của Đảng về chính

sách dân tộc

Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Hội nghị Trung ương lần thứ

bảy khóa IX của Đảng ngày 12 - 03- 2003 đã ra Nghị quyết số 24-NQ/TW Về công

tác dân tộc.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá IX

khẳng định:

Vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc, công tác dân tộc và tôn giáo đều là

những vấn đề chính trị lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách

mạng của nước ta… tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững độc lập dân tộc và

thống nhất đất nước, bảo vệ và phát triển những thành quả của cách

mạng xã hội chủ nghĩa [23, tr.5].

Hội nghị đã chỉ ra 5 quan điểm cơ bản chỉ đạo công tác dân tộc trong thời

kỳ mới:

- Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài,

đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

- Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ,

giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội

chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

- Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc

phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết

vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng

nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát

huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trong sự

nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.

- Ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết,

tập trung vào phát triển giao thông và kết cấu hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai

77

thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững

môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực tự cường của đồng bào các

dân tộc, đồng thời tăng cường sự hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa

phương trong cả nước.

- Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn

Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị

[23, tr.34-35].

Trên cơ sở đánh giá những hạn chế, yếu kém trong công tác dân tộc, Nghị

quyết đề ra một số phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu:

- Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào

dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; trong những

năm trước mắt tập trung trợ giúp đồng bào nghèo, các dân tộc đặc biệt khó khăn,

giải quyết ngay những vấn đề bức xúc như: tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước

sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu; xây

dựng kết cấu hạ tầng khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và tranh chấp đất đai ở

vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Nguyên, Tây Bắc và vùng đồng bào

dân tộc Khơme Nam Bộ.

Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới.

Làm tốt công tác định canh, định cư và di dân xây dựng vùng kinh tế mới; công

tác quy hoạch, sắp xếp, phân bổ lại hợp lý dân cư, nguồn nhân lực theo hướng

công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững, gắn với bảo vệ an ninh,

quốc phòng.

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh,

truyền hình; tăng cường các hoạt động văn hóa thông tin, tuyên truyền hướng về cơ

sở; tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình

bằng tiếng dân tộc thiểu số, làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, gìn giữ và phát

huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hóa các dân tộc.

Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương

trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là

78

trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp; đẩy mạnh việc tổ chức các trường mẫu

giáo công lập; mở rộng việc dạy chữ dân tộc. Đa dạng hóa phát triển nhanh các loại

hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc, đưa chương trình dạy nghề vào

các trường dân tộc nội trú; tiếp tục thực hiện chính sách ưu tiên, cử tuyển dành cho

con em các dân tộc vào học tại các trường đại học và cao đẳng; mở thêm trường dự

bị dân tộc ở miền Trung, Tây Nguyên. Nghiên cứu tổ chức trường chuyên đào tạo,

bồi dưỡng trí thức và cán bộ người dân tộc thiểu số.

Tăng cường cơ sở khám, chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã, bản, thôn, ấp;

nâng cao hơn nữa công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số,

khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian.

- Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng dân tộc

thiểu số. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về kiện toàn, nâng cao

chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, kiên quyết khắc phục tình trạng xa dân của một số

cán bộ; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, luân

chuyển cán bộ. Đẩy mạnh phát triển đảng viên trong đồng bào dân tộc...

- Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, phát

huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch;

tăng cường công tác an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra

những điểm “nóng” về an ninh trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi. Tiếp tục

phát triển nhanh các khu kinh tế kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa. Thực

hiện tốt chính sách tín ngưỡng và tôn giáo ở vùng dân tộc và miền núi; kiên quyết

ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để phá hoại

khối đại đoàn kết toàn dân.

- Đổi mới nội dung, phương thức công tác dân tộc phù hợp với nhiệm vụ

trong tình hình mới [23, tr.37-39].

Cụ thể hóa đường lối Đại hội IX của Đảng, ngày 01 tháng 07 năm 2004,

Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 37/NQ-TW Về phương hướng phát triển

kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc

Bộ đến 2010.

79

Nghị quyết chỉ rõ: Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ có vị trí chiến lược

quan trọng, có tiềm năng lợi thế to lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội, quốc

phòng - an ninh, môi trường sinh thái của cả khu vực Bắc Bộ và của cả nước. Nhân

dân trong vùng có truyền thống đoàn kết trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước,

có quan hệ gắn bó và mật thiết với miền xuôi. Là nơi có nhiều cửa khẩu giao lưu

kinh tế với bên ngoài. Tuy nhiên, hiện nay vùng này vẫn là vùng nghèo, còn nhiều

khó khăn, thách thức, cần phải được phát triển nhanh và bền vững hơn nữa.

Nghị quyết đã xác định mục tiêu của vùng đến năm 2010: GDP bình quân

đầu người gấp 2,5 lần so với năm 2000. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng

công nghiệp hoá, hiện đại hoá với tỷ trọng GDP các ngành nông, lâm, ngư nghiệp

đạt khoảng 26%, ngành công nghiệp và xây dựng 34% và dịch vụ 40% trong tổng

GDP của vùng. Phấn đấu đến năm 2010, có 60 đến 70% số xã có bác sỹ, 100% số

trạm y tế xã, cơ sở y tế và phòng khám đa khoa khu vực được chuẩn hoá; 25-30 %

tổng lao động được đào tạo có kỹ thuật.

Đây là lần đầu tiên Bộ Chính trị ban hành nghị quyết chuyên đề về phương

hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và

miền núi Bắc Bộ. Nghị quyết thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước

đối với đồng bào các dân tộc, phản ánh tư duy quản trị và phát triển vùng trong quá

trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng

chung của nhân dân.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4/2006) tiếp tục khẳng định

và phát triển những quan điểm, tư tưởng đã định hình về chính sách dân tộc:

… Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức

là người dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và

miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào

dân tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi,

chia rẽ dân tộc [24, tr.122].

Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006 - 2010) của Đại hội X

đã chỉ rõ định hướng phát triển vùng miền núi phía Bắc là:

80

... Cần tập trung mọi nỗ lực phát triển kinh tế nhanh và bền vững, gắn

chặt với việc bảo đảm an ninh, quốc phòng. Phát triển mạnh thuỷ điện,

công nghiệp khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác có hiệu

quả quỹ đất trồng cây công nghiệp, cây ăn quả xuất khẩu và trồng rừng

nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến có công nghệ hiện đại. Phát

triển du lịch sinh thái và văn hóa dân tộc. Chú trọng mở rộng quan hệ

thương mại với các nước láng giềng. Phát triển hài hoà giữa các tiểu

vùng, giữa các tầng lớp dân cư và giữa đồng bào các dân tộc [24, tr.226].

Các quan điểm, chủ trương về chính sách dân tộc trên đây là cơ sở để Nhà

nước thể chế hóa thành chính sách can thiệp cụ thể và hệ thống chính trị các địa

phương tổ chức thực hiện.

2.2. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT

SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC

2.2.1. Thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về chính sách

dân tộc thành chương trình, dự án hỗ trợ và đầu tư phát triển vùng miền núi

Đông Bắc

Trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước đã có nhiều nỗ lực

thể chế hóa thành những chính sách can thiệp cụ thể đối với từng vùng, từng lĩnh

vực, từng đối tượng. Trong hệ thống các văn bản pháp luật của Nhà nước, chính

sách dân tộc được thể chế hoá trong Hiến pháp, các đạo luật, đặc biệt là nghị quyết,

nghị định, quyết định của Chính phủ. Trong đó, đáng chú ý là thể chế hóa thành các

chương trình hỗ trợ phát triển hoặc đầu tư phát triển. Trọng điểm từ năm 2001 đến

2010 là các chương trình sau đây:

Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân

tộc thiểu số (còn gọi là Chương trình 135) được tiếp tục thực hiện từ giai đoạn

trước (thường gọi là Chương trình 135-I và triển khai tiếp giai đoạn 2 (gọi là

Chương trình 135-II). Chương trình này do Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Việt Nam phê duyệt thực hiện có số hiệu văn bản là 135/1998/QĐ-TTg. Theo kế

hoạch ban đầu, chương trình sẽ kéo dài 7 năm và chia làm hai giai đoạn; giai đoạn

I từ năm ngân sách 1998 đến năm 2000 và giai đoạn II từ năm 2001 đến năm

81

2005. Tuy nhiên, đến năm 2006, Nhà nước Việt Nam quyết định kéo dài chương

trình này thêm 5 năm, được phản ánh trong Quyết định số 07/2006/QĐ-TTg ngày

10/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình Phát triển kinh

tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-20101.

Trong giai đoạn II (2006 - 2010), Chính phủ Việt Nam đã xác định có 1.946

xã và 3.149 thôn, buôn, làng, bản, xóm ấp đặc biệt khó khăn thuộc các xã khu vực

II thuộc 45 tỉnh, thành được đưa vào phạm vi của Chương trình 135. Mục tiêu đặt ra

được nâng lên cao hơn so với giai đoạn I: Tạo chuyển biến nhanh về sản xuất; Thúc

đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường;

Cải thiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân; Giảm khoảng cách

phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng trong nước; Đến năm 2010: Trên địa

bàn không có hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 30%.

Nội dung chính của Chương trình là:

1) Hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ

sản suất của đồng bào các dân tộc. Đào tạo cán bộ khuyến nông thôn, bản. Khuyến

nông, khuyến lâm, khuyến ngư. Xây dựng các mô hình sản xuất có hiệu quả, phát

triển công nghiệp chế biến bảo quản. Phát triển sản xuất: Kinh tế rừng, cây trồng có

năng suất cao, chăn nuôi gia súc, gia cầm có giá trị.

2) Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn.

Làm đường dân sinh từ thôn, bản đến trung tâm xã phù hợp với khả năng nguồn

vốn, công khai định mức hỗ trợ nhà nước. Xây dựng kiên cố hóa công trình thủy

lợi: Đập, kênh, mương cấp 1 - 2, trạm bơm, phục vụ tưới tiêu sản xuất nông nghiệp

và kết hợp cấp nước sinh hoạt. Làm hệ thống điện hạ thế đến thôn, bản; nơi ở chưa

có điện lưới làm các dạng năng lượng khác nếu điều kiện cho phép. Xây dựng các

công trình cấp nước sinh hoạt cho cộng đồng. Xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng

1 Các nhà nghiên cứu thường gọi tắt giai đoạn 1 (1998-2005) và Chương trình 135-I và giai đoạn 2 (2006 -2010) là

Chương trình 135-II.

thôn, bản (tùy theo phong tục tập quán) ở nơi cấp thiết.

82

3) Đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở, kiến thức kĩ năng quản lý điều hành xã

hội, nâng cao năng lực cộng đồng. Đào tạo nghề cho thanh niên 16 - 25 tuổi làm

việc tại các nông - lâm trường, công trường và xuất khẩu lao động.

4) Hỗ trợ các dịch vụ, nâng cao chất lượng giáo dục, đời sống dân cư hợp vệ

sinh giảm thiểu tác hại môi trường đến sức khỏe người dân. Tiếp cận các dịch vụ y

tế, bảo hiểm và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Ngày 07-12-2001, Chính phủ ban hành Quyết định số 186/2001/QĐ-TTg Về

việc phát triển kinh tế - xã hội 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc, thời kỳ

2001 - 2005, trong đó có các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lào Cai, Lai Châu, Hà

Giang, Sơn La, nhằm phát huy những tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý, khí hậu,

rừng, khoáng sản và tiềm năng con người trong khu vực, gắn phát triển kinh tế -

xã hội với thực hiện tốt các chính sách dân tộc, từng bước cải thiện và nâng cao

đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần

giữ vững an ninh, quốc phòng... Quyết định xác định mục tiêu cụ thể về kinh tế

đến 2005 là: Tổng sản phẩm bình quân đầu người tăng gấp 1,5 lần so với năm

2000. Từng bước phát triển kết cấu hạ tầng gắn với phát triển kinh tế hàng hoá

góp phần nâng cao đời sống của đồng bào, giảm dần khoảng cách với các vùng

khác trong cả nước.

Ngày 05-02-2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số

27/2008/QĐ-TTg Về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển

kinh tế - xã hội đối với các tỉnh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010.

Mục tiêu đặt ra đến năm 2010: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của vùng đạt

trên 12%; 100% số xã có điện thoại đến trung tâm xã, 70 - 75% dân số nông thôn

được dùng nước sinh hoạt, 90 - 95% số xã có điện lưới quốc gia, 80 - 90% số hộ

được dùng điện, bảo đảm hầu hết các hộ được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và

xem Truyền hình Việt Nam; Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 20% và đạt phổ cập

trung học cơ sở trên toàn vùng; Tăng cường công tác đào tạo nghề, phấn đấu nâng

tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 25 - 30% và 100% cán bộ xã được bồi dưỡng

chuyên môn, nghiệp vụ.

83

Ngày 27-12-2008, Chính phủ ra Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP về Chương

trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo. Mục tiêu cụ

thể đến năm 2010 là: Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 40%; cơ bản không còn hộ

dân ở nhà tạm; cơ bản hoàn thành việc giao đất, giao rừng; trợ cấp lương thực cho

người dân ở những nơi không có điều kiện tổ chức sản xuất, khu vực giáp biên giới

để bảo đảm đời sống. Tạo sự chuyển biến bước đầu trong sản xuất nông nghiệp,

lâm nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh

phát triển nông nghiệp, bảo vệ và phát triển rừng, đẩy mạnh một bước xây dựng kết

cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; tăng cường nghiên cứu và chuyển giao tiến

bộ khoa học - kỹ thuật, tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực; triển khai một

bước chương trình xây dựng nông thôn mới.

Đối với miền núi Đông Bắc, hai tỉnh Hà Giang, Cao Bằng (11 huyện) nằm

trong chương trình [Phụ lục 6].

Các nỗ lực thể chế hóa trên đây của Nhà nước, đặc biệt là Chính phủ, là

cơ sở để từng bước hiện thực hóa chính sách dân tộc của Đảng ở vùng miền núi

Đông Bắc.

2.2.2. Phát triển kinh tế, cải thiện đời sống các dân tộc thiểu số

* Phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa

Thế mạnh của miền núi Đông Bắc là nông - lâm nghiệp và thương mại,

dịch vụ du lịch, kinh tế cửa khẩu được quan tâm trong các chiến lược và chính

sách phát triển.

Tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng, thể chế quản lý Nhà nước, Đảng

bộ các tỉnh Đông Bắc đã lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc, tập trung phát triển

kinh tế theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa và phát

huy lợi thế so sánh của từng địa phương. Nhờ vậy, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng

trong GDP từ 20,6% năm 1990 lên 26,3% năm 2002; nông, lâm, ngư nghiệp giảm

tương đối từ 46,3% xuống 33,6%; dịch vụ tăng từ 32,9% lên 33,9%. Đến năm 2002,

GDP toàn vùng đạt 21.579 tỷ đồng, chiếm 4,05% GDP toàn quốc. Trong số các tỉnh

vùng Đông Bắc, Quảng Ninh là tỉnh có cơ cấu kinh tế dịch chuyển tích cực nhất.

Năm 2003, tỷ trọng nông, lâm, thuỷ sản chiếm dưới 10%, khu vực công nghiệp, xây

84

dựng, dịch vụ chiếm trên 90% nhờ lợi thế phát triển công nghiệp khai thác xuất

khẩu than, du lịch và kinh tế biển.

Trong sản xuất nông, lâm nghiệp:

Các tỉnh Đông Bắc tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản

xuất nông - lâm nghiệp, nhất là đưa các loại giống mới có năng suất cao vào sản

xuất, đồng thời, đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm. Nhờ vậy, sản lượng

lương thực tại khu vực miền núi từng bước tăng lên, trước hết là sản xuất lương

thực có hạt (lúa, ngô). Cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi từng bước được chuyển

dịch theo hướng sản xuất hàng hoá. Sản lượng lương thực toàn vùng tăng từ 278,5

kg/người năm 2000 lên 336,9 kg/người năm 2003. Bình quân lương thực đầu

người đạt trên 300 kg/người. Nhiều địa phương đã khuyến khích và có hỗ trợ rất

cụ thể nhằm tạo điều kiện giúp nhân dân làm ruộng bậc thang trồng lúa nước. Kết

hợp tri thức bản địa với du nhập kỹ thuật mới, năng suất lúa ruộng bậc thang ở hệ

sinh thái gò đồi tăng nhanh và ổn định, không kém năng suất lúa ruộng ở hệ sinh

thái thung lũng (huyện Hoàng Su Phì (Hà Giang) đạt năng suất 5 tấn/ha/vụ trên

ruộng bậc thang).

Nổi bật trong sản xuất lương thực có hạt là cây ngô. Nhờ đẩy mạnh sản xuất,

tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới nên sản lượng ngô vùng miền núi tăng lên

đáng kể. Việc tiếp nhận giống ngô chịu hạn với giá bán rẻ hơn 30% so với giống

của các công ty nước ngoài đã giúp người dân giảm chi phí đầu tư. Bước đầu đã

hình thành một số vùng chuyên canh ngô có quy mô tương đối lớn, được đầu tư

thâm canh ở một số tỉnh trong vùng. Diện tích gieo trồng năm 2006 đạt 236,6 ngàn

ha, tăng 15,8 ngàn ha (tăng 7,2%) so với năm 2005. Năm 2006, năng suất ngô trung

bình toàn vùng Đông Bắc đạt 30,7 tạ/ha. Các tỉnh có diện tích ngô lớn gồm có: Hà

Giang (44,2 ngàn ha), Cao Bằng (35,5 ngàn ha) [4]. Đây là hướng đi tích cực trong

chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng thâm canh tăng vụ, góp phần tăng sản

lượng lương thực vững chắc ở miền núi.

Ngoài lúa, ngô, các địa phương trong vùng đều trồng các cây hoa màu

lương thực như sắn (diện tích năm 2006 đạt 51,7 ngàn ha, tăng 2,3 ngàn ha so với

85

2005), đậu tương (diện tích năm 2006 đạt 50,2 ngàn ha, tăng 2,2 ngàn ha, tăng

4,7% so với 2005).

Trên cơ sở ổn định lương thực bằng con đường thâm canh, sản xuất hàng

hoá, các tỉnh Đông Bắc đã từng bước chuyển từ nền nông nghiệp tự nhiên, tự cung,

tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hoá, hình thành các vùng tập trung chuyên canh

mới, tạo cơ sở cho công nghiệp chế biến, nâng cao thu nhập của đồng bào.

Toàn vùng đã mở rộng cây công nghiệp với diện tích tăng gấp 2 lần so với

năm 1990. Một số vùng trồng cây công nghiệp có giá trị cao được hình thành như

vùng mía Tuyên Quang (diện tích gần 4000 ha), Cao Bằng (diện tích 2.500 ha) với

năng suất bình quân trên 50 tấn/ha, thu khoảng 12 triệu đồng/ha. Trong cơ cấu cây

công nghiệp, cây chè có vị trí đặc biệt, được coi là thế mạnh của vùng. Chè là cây

công nghiệp rất thích hợp với thổ nhưỡng và khí hậu của vùng, được nhân dân cả

nước ưa chuộng. Đây cũng là mặt hàng nông sản xuất khẩu sang thị trường Trung

Đông, EU, Bắc Mỹ. Diện tích toàn vùng năm 2006 khoảng 85,2 ngàn ha, tăng 3

ngàn ha (tăng 3,6%) so với năm trước, chiếm trên 70% diện tích chè cả nước. Trong

đó, diện tích chè kinh doanh khoảng 70,1 ngàn ha; diện tích chè trồng mới trong

năm 2006 đạt xấp xỉ 3.200 ha.

Ngoài cây chè, một số cây công nghiệp có giá trị như cà phê, bông cũng có

điều kiện phát triển.

Cùng với việc tập trung sản xuất các cây lương thực, công tác quy hoạch

vùng chuyên canh cũng được các địa phương chú trọng. Một số vùng khi có thị

trường tiêu thụ nông sản đã chuyển đổi diện tích đất trồng cây lương thực kém hiệu

quả sang trồng cây hàng hoá. Tỉnh Lạng Sơn chuyển từ trồng lúa xuân sang trồng

dưa hấu cho thu nhập từ 25 triệu đến 30 triệu đồng/ha, cao gấp 2 đến 3 lần so với

trồng lúa. Vì vậy, thu nhập và đời sống của đồng bào được tăng lên rõ rệt.

Ở các vùng núi giáp biên giới của Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang điều kiện

khí hậu rất thuận lợi cho việc trồng cây thảo dược (tam thất, đương quy, đỗ trọng,

hồi, thảo quả…); cây ăn quả như mận, đào, lê, hồng; cây công nghiệp ngắn ngày

như đỗ tương, lạc đạt 55.918 ha;... đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và xuất

khẩu sang Trung Quốc và các nước trong khu vực ASEAN.

86

Những kết quả đạt được trong nông nghiệp đã khẳng định sự đúng đắn của

Trung ương trong việc đầu tư các chương trình, dự án cùng với việc áp dụng các

tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng đối với vùng

Đông Bắc. Thành tựu đó đảm bảo an ninh lương thực cho toàn vùng, mặt khác, tạo

điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá, trao đổi kinh nghiệm sản xuất giữa

Đông Bắc với các vùng khác trong cả nước và các nước trong khu vực.

Trong ngành chăn nuôi

Chăn nuôi trong thời kỳ 2001 - 2010 phát triển mạnh cả về số lượng và cơ

cấu đàn gia súc, gia cầm. Hàng năm, tỷ lệ đàn trâu, bò, gia súc, gia cầm tăng từ 3%

đến 4%. Riêng tốc độ tăng đàn trâu tại Đông Bắc thời kỳ 2001- 2005 bình quân

9,73%, chiếm 41,97% tổng đàn trâu cả nước.

Với tiềm năng sẵn có về đất đai, kinh tế trang trại tại khu vực miền núi Đông

Bắc đã có những bước tiến khá mạnh mẽ. Năm 2000, nếu như toàn vùng mới có

763 trang trại thì đến năm 2006 đã có 1615 trang trại [67, tr.210]. Cùng với số

lượng, quy mô, vốn đầu tư, hiệu quả kinh tế của các trang trại cũng lớn hơn, hình

thức phong phú, đa dạng hơn. Số trang trại phân theo ngành hoạt động trên địa bàn

các tỉnh Đông Bắc cũng theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trang trại chăn

nuôi, nuôi trồng thuỷ sản ngày càng chiếm ưu thế. Năm 2006, trong tổng số 1615

trang trại toàn vùng thì có 166 trang trại chăn nuôi và 774 trang trại nuôi trồng thuỷ

sản (chiếm 58,2%) [67, tr.212].

Trong lĩnh vực lâm nghiệp

Nhằm thực hiện chủ trương “làm cho mỗi khu đất, mỗi cánh rừng, mỗi quả

đồi đều có người làm chủ”, các văn bản mới đã được ban hành: Nghị định số

163/1999/NĐ-CP ngày 16-11-1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm

nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích

lâm nghiệp; Quyết định số 178/QĐ-TTg ngày 12-11-2001 của Thủ tướng Chính

phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê,

nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp; Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29-7-1998

của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự

án trồng mới 5 triệu ha rừng. Các tỉnh cũng có chính sách khuyến khích mọi thành

87

phần kinh tế đầu tư kinh doanh lâm nghiệp, thực hiện xã hội hoá nghề rừng; khai

thác và phát huy thế mạnh kinh tế đồi rừng; đẩy mạnh công tác trồng rừng, khoanh

nuôi, tái sinh và bảo vệ rừng, chú trọng nâng cao chất lượng rừng; hoàn thành giao

đất giao rừng gắn với định canh định cư, từng bước giải quyết đất ở, đất sản xuất

cho hộ nông dân nghèo và đồng bào vùng cao thiếu đất; tăng cường các biện pháp

chống xói mòn, bảo vệ môi trường sinh thái.

Với chủ trương, chính sách trên, đến năm 2010, diện tích rừng vùng Đông

Bắc là 1501,5 nghìn ha, trong đó, rừng trồng tập trung toàn vùng đạt 41 nghìn ha,

sản lượng gỗ khai thác năm 2010 đạt 284,4 nghìn m³ [72, tr.386-396]. Bên cạnh

những thành tựu đạt được, trong quá trình phát triển lâm nghiệp còn một số hạn

chế: Tác động của ngành lâm nghiệp đối với xoá đói giảm nghèo còn hạn chế, chưa

tạo được nhiều việc làm, thu nhập của người làm nghề rừng còn thấp và chưa ổn

định. Đa số người dân miền núi chưa thể sống được bằng nghề rừng. Việc thực hiện

xã hội hoá lâm nghiệp chưa chuyển biến rõ rệt. Tiến độ giao đất, giao rừng chậm,

nhiều địa phương chưa mạnh dạn tổ chức giao rừng tự nhiên, rừng trồng cho dân,

đặc biệt là cho cộng đồng, hộ gia đình và tư nhân.

Trong sản xuất công nghiệp

Nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội tại khu vực miền núi phía Bắc phát triển,

ngày 7-12-2001, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 186 về phát triển kinh tế -

xã hội ở 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc thời kỳ 2001 - 2005. Đồng thời,

để tháo gỡ khó khăn về vốn, ngày 19-10-2004, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định

số 183-QĐ/TTg về cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương để đầu tư xây dựng kết

cấu hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã

hội khó khăn.

Những chủ trương, chính sách trên của Đảng và Nhà nước cùng với sự ra đời

của Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư... đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển công

nghiệp tại các tỉnh vùng Đông Bắc, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá,

hiện đại hoá đất nước. Đến năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế

toàn vùng đạt 85797,9 tỷ đồng, tăng 38% so với năm 2005 [72, tr.438].

88

Nhờ vai trò can thiệp của thể chế, các khu, cụm công nghiệp ở Đông Bắc đã

được hình thành. Các khu, cụm công nghiệp đã thu hút được nhiều doanh nghiệp,

dự án vào hoạt động. Nếu như năm 1996, số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào

vùng miền núi Đông Bắc chỉ có 31 dự án đến năm 2010 đã có 161 dự án [70,

tr.165]. Nhìn chung, các doanh nghiệp có dự án tại đây đều có vốn pháp định lớn,

kinh doanh ổn định, có trang thiết bị hiện đại, hàng hóa sản xuất ra chủ yếu để xuất

khẩu, phổ biến là hoạt động trong các ngành nghề như điện tử, máy tính, may mặc,

giày da, dịch vụ viễn thông…

Một trong những ngành công nghiệp truyền thống được xác định là mũi

nhọn của vùng đó là công nghiệp khai khoáng. Trong chiến lược khai thác khoáng

sản Việt Nam thời kỳ đến năm 2020, các chuyên gia đã đánh giá Trung du - miền

núi Bắc Bộ là địa bàn công nghiệp nặng quan trọng trên cơ sở khai thác các mỏ

khoáng sản quan trọng với trữ lượng lớn như: than, sắt, đồng, chì, kẽm, đất hiếm, đá

xây dựng... Mục tiêu đặt ra của ngành công nghiệp này được xác định là khai thác

các loại khoáng sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và xuất khẩu như: than

(Quảng Ninh), quặng sắt (Cao Bằng, Hà Giang)...

Với chủ trương và mục tiêu trên, các mỏ than tại Quảng Ninh được đầu tư kỹ

thuật và công nghệ mới để phục vụ khai thác, đáp ứng nhu cầu nhiên liệu của một

số nhà máy nhiệt điện (nhiệt điện Uông Bí - Quảng Ninh, Phả Lại - Hải Dương,

Cao Ngạn - Thái Nguyên, Nà Dương - Lạng Sơn). Ngoài ra, các mỏ than địa

phương cũng được khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu nhiên liệu cho công nghiệp xây

dựng địa phương và dùng làm chất đốt trong sinh hoạt. Tính từ năm 2005 đến 2009,

lượng than khai thác tại Quảng Ninh như sau: than nguyên khai là 203 triệu tấn,

lượng than tiêu thụ đạt 189 triệu tấn, tổng doanh thu đạt 202.340 tỷ đồng, trong đó

doanh thu từ than đạt 126.712 tỷ đồng [39].

Thuỷ điện được coi là một ngành công nghiệp mới của vùng, có những đóng

góp nhất định vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tận dụng lợi thế

nguồn thuỷ năng từ các hồ lớn, sông, suối, các nhà máy thuỷ điện cỡ lớn và nhiều

cơ sở thuỷ điện nhỏ được xây dựng trong vùng. Hệ thống các nhà máy thuỷ điện,

nhiệt điện được kết nối vào mạng lưới điện quốc gia, góp phần quan trọng vào cân

89

bằng cung cầu về năng lượng của cả nước, đặc biệt là đảm bảo nhu cầu năng lượng

cho vùng đồng bằng sông Hồng, trung du - miền núi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, tạo

cơ hội phát triển cho các ngành công nghiệp khác.

Các tỉnh Đông Bắc đều khuyến khích phát triển công nghiệp địa phương quy

mô vừa và nhỏ, ưu tiên công nghệ hiện đại, công nghệ sạch. Đây là một chủ trương

đúng nhằm khai thác các nguồn tài nguyên quy mô nhỏ, đáp ứng nhu cầu tại chỗ

của địa phương, tạo thêm việc làm, thu nhập cho người lao động, góp phần vào

chuyển đổi cơ cấu kinh tế toàn vùng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Một

số ngành công nghiệp địa phương được phát triển đó là: xi măng, cơ khí, vật liệu

xây dựng, chế biến chè, mộc gia dụng, mây tre đan, dệt may gia công xuất khẩu.

Phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ và kinh tế cửa khẩu

Về thương mại: Vùng Đông Bắc có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt

khá phát triển, nối các tỉnh với Thủ đô Hà Nội, cảng Hải Phòng và các cửa khẩu

biên giới. Để thúc đẩy phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào

dân tộc, ngày 31 tháng 3 năm 1998 Chính phủ ra Nghị định số 20/1998/NĐ-CP về

việc phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc. Nghị định

xác định: đầu tư phát triển mạng lưới thương mại ở tỉnh, huyện, trung tâm cụm xã,

xã và khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia lưu thông hàng hoá hai chiều,

nhằm tạo động lực cho sản xuất phát triển, trong đó các doanh nghiệp Nhà nước

phải nâng cao hiệu quả kinh doanh và phát huy vai trò nòng cốt. Đồng thời, phát

triển thêm các chợ phiên. Đầu tư xây dựng các cửa khẩu (quốc tế và địa phương),

khu kinh tế cửa khẩu, chợ biên giới và chợ trong khu kinh tế cửa khẩu. Đầu tư xây

dựng, nâng cấp một số trung tâm thương mại và chợ nội địa, gắn phát triển giao

thông với quy hoạch sắp xếp lại dân cư.

Đối với miền núi Đông Bắc nói chung, đặc biệt là những vùng chậm phát

triển, hoạt động của ngành nội thương có tầm quan trọng hàng đầu. Tuy nhiên, Nhà

nước vẫn duy trì mạng lưới thương mại quốc doanh để đảm bảo cung cấp các mặt

hàng trợ cước, trợ giá đặc biệt như: xăng, dầu, muối, thuốc chữa bệnh... cho vùng

cao, vùng khó khăn, biên giới. Hệ thống chợ miền núi đã hình thành đến các cụm

xã, các cụm bản, ngoài mục đích kích thích trao đổi hàng hoá, còn có ý nghĩa mở

90

rộng giao lưu văn hoá, xã hội. Hệ thống các chợ toàn vùng năm 2008 là 480 chợ

đến 2010 tăng lên 490 chợ [72, tr.483]. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu

dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế của vùng năm 2005 đạt 14847,6 tỷ đồng, đến năm

2010 tăng lên 40653,1 tỷ đồng [72, tr.481].

Với vị trí địa lý thuận lợi, vùng Đông Bắc đứng trước nhiều triển vọng do có

nhiều dự án kinh tế quan trọng: hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội -

Hải Phòng, kinh tế cửa khẩu biên giới trên đất liền và trên biển, các khu kinh tế cửa

khẩu Móng Cái, Lạng Sơn, cảng Cái Lân và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Kinh

tế mậu biên được đẩy mạnh, các hoạt động mua bán và trao đổi hàng hoá, trước hết

là nông, lâm, thuỷ sản với Trung Quốc.

Về phát triển kinh tế cửu khẩu: Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số

53/2001/QĐ-TTg (ngày 19-4-2001) về phát triển kinh tế cửa khẩu. Thực hiện các

quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế cửa khẩu, đồng thời với

vị trí địa lý thuận lợi, tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh đã trở thành thị trường trung

chuyển hàng hoá lớn giữa Việt Nam và Trung Quốc và qua Trung Quốc đi các nước

Đông - Tây Âu. Tính đến năm 2004, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có trên 350 doanh

nghiệp và tổ chức kinh tế của các nước thực hiện xuất nhập khẩu với thị trường

Trung Quốc qua các cửa khẩu của tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu qua tỉnh Lạng Sơn

năm 2008 đạt 1.498 triệu USD, tăng 41,7% so với năm 2007; trong đó, xuất khẩu

các mặt hàng địa phương đạt 33 triệu USD, tăng 15% so với năm 2007. Đây là tỉnh

giữ vị trí đầu tàu trong xuất khẩu của vùng miền núi Đông Bắc [60, tr.78].

Về du lịch: Chủ trương đối với phát triển du lịch đó là tập trung đầu tư theo

chiều sâu trung tâm du lịch hiện có, lựa chọn đầu tư mới ở những nơi có điều kiện,

khai thác thế mạnh về du lịch sinh thái, cảnh quan và di tích lịch sử cách mạng

trong vùng.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc duy trì và phát triển nền văn hoá

truyền thống của các dân tộc trong việc phát triển du lịch, các tỉnh trong vùng miền

núi Đông Bắc đã và đang đầu tư, khôi phục một số nét văn hoá truyền thống như: lễ

hội đền Mẫu Đồng Đăng (Lạng Sơn), lễ hội Lồng Tồng ở Bắc Kạn... Cùng với đó,

các di tích lịch sử gắn với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng

91

được gìn giữ, trở thành những khu di tích - lịch sử - văn hóa, điểm du lịch hấp dẫn

du khách như Pắc Bó (Cao Bằng), Tân Trào (Tuyên Quang)... Ngoài ra, các địa

phương đều có các danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: hồ Ba Bể (Bắc Kạn), thác

Bản Dốc (Cao Bằng), động Tam Thanh, Nhị Thanh (Lạng Sơn), vịnh Hạ Long

(Quảng Ninh),...

* Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu gắn với chuyển dịch cơ cấu

kinh tế, tổ chức lại xã hội ở vùng Đông Bắc

Triển khai thực hiện Chương trình 135 - I (1998 - 2005) ở vùng Đông Bắc,

theo tiêu chí "xã đặc biệt khó khăn", tại Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 24- 12-

1999, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 496 xã đặc biệt khó khăn và các xã biên

giới làm phạm vi của Chương trình 135, trong đó Hà Giang 128 xã, Cao Bằng 113

xã, Lạng Sơn 85 xã, Quảng Ninh 35 xã (trong đó 10 xã Trung ương đầu tư và 25 xã

địa phương đầu tư) [Phụ lục 8].

Chương trình 135-II (2006 - 2010), thực hiện theo Quyết định 164/2006/QĐ-

TTg (11-7-2006) của Thủ tướng Chính phủ, 4 tỉnh miền núi Đông Bắc có 313 xã

thuộc phạm vi chương trình, trong đó, Hà Giang 112 xã, Cao Bằng 106 xã, Lạng

Sơn 68 xã, Quảng Ninh 27 xã (19 xã địa phương đầu tư) [Phụ lục 9].

Sau một thời gian tích cực triển khai, các hợp phần của Chương trình 135

được thực hiện tại Đông Bắc đã đạt được những hiệu quả nhất định:

Dự án quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng

Tổng số vốn đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng ở các xã đặc biệt khó khăn,

vùng núi, vùng sâu, vùng xa miền núi Đông Bắc giai đoạn 1999 - 2005 là

1.278.840,84 triệu đồng. Chỉ tính riêng tỉnh Cao Bằng, từ 1999 đến 2005, chương

trình 135 đã huy động vốn đầu tư vào xây dựng kết cấu hạ tầng là 512.112 triệu

đồng [Phụ lục 12].

Thông qua Chương trình 135, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào

các dân tộc ở Đông Bắc đã có bước chuyển biến rõ nét. Nhờ kết cấu hạ tầng được

đầu tư, công tác khuyến nông, khuyến lâm được coi trọng, chuyển đổi cơ cấu cây

trồng, vật nuôi và hỗ trợ giống, phân bón... được đầu tư đến tận thôn bản, từng hộ

92

gia đình, đã tạo chỗ dựa vững chắc và là cơ hội cho hàng ngàn hộ dân tộc thiểu số

vùng đặc biệt khó khăn phát triển sản xuất, ổn định kinh tế, xoá đói giảm nghèo.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chương trình, việc huy động nội lực

trong dân còn thấp, nhất là tham gia lao động xây dựng công trình. Một số nơi

thực hiện nguyên tắc xã có công trình, dân có việc làm kết quả còn hạn chế. Công

trình giao thông và công trình cấp nước sinh hoạt ở một số địa phương chưa đạt

yêu cầu đặt ra.

Dự án xây dựng trung tâm cụm xã

Chương trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ năm 1997, tại Quyết

định số 35/TTg ngày 13-01-1997. Đến năm 2000, chương trình trở thành một dự án

thành phần của Chương trình 135 theo Quyết định số 138/2000-QĐ/TTg.

Tính đến năm 2005, với hơn 100 trung tâm cụm xã được xây dựng, tổng vốn

đầu tư trên toàn vùng là 261.649,76 triệu đồng [Phụ lục 12]. Tỉnh Hà Giang đã đầu

tư xây dựng 34 trung tâm cụm xã, 182 công trình với tổng nguồn vốn là 88.841,7

triệu đồng, trong đó, 11 công trình giao thông, 34 công trình trường học, 24 công

trình trạm xá xã, 25 công trình chợ trung tâm, 22 công trình trụ sở Uỷ ban nhân dân

xã, 20 công trình hệ thống cấp nước, 14 công trình san ủi, tạo mặt bằng trung tâm, 1

công trình hệ thống cấp điện, 31 công trình các hạng mục khác [90].

Ngoài ra, ở một số tỉnh còn thực hiện tốt việc lồng ghép các nguồn vốn đầu

tư chương trình. Tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện lồng ghép Chương trình 135 với các

chương trình: an ninh, quốc phòng, biên giới - hải đảo, kinh tế quốc phòng, vốn

phát triển giáo dục, y tế, giao thông, thuỷ lợi miền núi, nước sạch nông thôn, vốn tài

trợ của UNICEF kết hợp với sự đóng góp của dân đã xây dựng nhiều công trình

thiết yếu phục vụ dân sinh như công trình điện sinh hoạt, các tuyến đường giao

thông chính và tuyến đường biên giới Việt - Trung.

Dự án ổn định và phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với chế biến và

tiêu thụ sản phẩm

Đến năm 2005, số vốn được đầu tư cho dự án tại 4 tỉnh là 51.590,82 triệu

đồng [Phụ lục 12]. Nguồn vốn được hỗ trợ đúng đối tượng, đúng mục đích và phát

huy được hiệu quả, giúp nhân dân từng bước ổn định cuộc sống, chuyển dịch cơ cấu

93

cây trồng, vật nuôi và phát huy thế mạnh sẵn có của từng vùng, từng khu vực. Ở

Quảng Ninh, dự án tập trung vào các mô hình trồng lúa lai, gà thả vườn, lợn Móng

Cái, trợ cấp cây lâm nghiệp, cây trồng, vật nuôi, giống phân bón và hỗ trợ một số hộ

nông dân mua trang thiết bị sản xuất miến dong (huyện Bình Liêu)... nhằm khai

thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Ngoài ra, dự án còn hỗ trợ lãi suất vốn

vay cho các chương trình phát triển nông nghiệp cho các hộ dân vùng cao đặc biệt

khó khăn.

Dự án quy hoạch bố trí lại dân cư ở những nơi cần thiết

Dự án thành phần này trong những năm 1999 - 2002 chủ yếu tiếp tục thực

hiện ổn định dân cư. Từ 2002 đến 2005, việc quy hoạch bố trí lại dân cư, ổn định

dân cư, trong Chương trình 135 chủ yếu là tái định cư, ổn định dân cư biên giới, di

giãn dân một số vùng. Tại tỉnh Hà Giang, sau 7 năm thực hiện, dự án quy hoạch bố

trí lại dân cư đã thực hiện được 120 hộ với nguồn kinh phí đầu tư 7.400,9 triệu đồng

thực hiện chỉ tiêu di chuyển các hộ dân từ vùng cao núi đá xuống vùng thấp trong

tỉnh. Ngoài ra, dự án ổn định dân cư kinh tế mới (hạ sơn tại chỗ) thực hiện được

2.563 hộ, với kinh phí 4.279 triệu đồng; dự án ổn định sắp xếp dân cư biên giới đã

thực hiện được 380 hộ với nguồn kinh phí 2.967,2 triệu đồng [91].

Dự án đào tạo cán bộ xã

Nội dung chính đào tạo hàng năm đối với các cán bộ xã chủ yếu vào hướng

dẫn lập kế hoạch sản xuất cho các hộ gia đình và các xã theo từng mùa vụ trong

năm. Học tập quy trình kỹ thuật canh tác một số loại cây con chủ yếu để phục vụ

sản xuất, xoá đói giảm nghèo. Ngoài ra, còn một số nội dung phù hợp với đặc điểm

từng địa phương. Với nội dung đào tạo như trên, trong 7 năm thực hiện, dự án đã

đào tạo được trên 100.000 học viên, chủ yếu là các cán bộ lãnh đạo xã, cán bộ tổ

chức đoàn thể xã, trưởng xóm. Trình độ của đội ngũ cán bộ các xã thuộc chương

trình 135 được nâng lên. Tính đến 2005, riêng Lạng Sơn đã mở được 74 lớp với

4.311 lượt học viên tham dự [99].

Sau 7 năm thực hiện Chương trình 135 đã góp phần thúc đẩy phát triển sản

xuất, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi, tạo

94

điều kiện bảo đảm an ninh quốc phòng trên địa bàn các xã 135, tạo tiền đề quan

trọng cho phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tiếp theo.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện chương trình còn một số hạn chế: Một số chủ

đầu tư còn lúng túng, thiếu tính chủ động trong tổ chức thực hiện chương trình, đặc

biệt là nội dung dự án hỗ trợ và phát triển sản xuất và dự án đào tạo cán bộ. Chưa

tạo được chuyển biến mạnh mẽ về sản xuất, nhiều nơi còn mang tính tự cấp, tự túc

là chủ yếu, ý thức tổ chức sản xuất hàng hoá của nhân dân còn rất hạn chế. Nguồn

vốn hỗ trợ phục vụ cho công tác duy tu bảo dưỡng công trình chưa bảo đảm so với

nhu cầu thực tế. Đời sống nhân dân của các xã thuộc chương trình 135 còn nhiều

khó khăn, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao.

Trong giai đoạn 2006 - 2010, các địa phương đặt ra mục tiêu của Chương

trình 135 là tạo sự chuyển biến rõ rệt về sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời

sống nhân dân cho các xã đặc biệt khó khăn. Phấn đấu đến 2010, không còn hộ đói,

giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 30%.

Để đạt được mục tiêu trên, các địa phương đã chủ động đề ra các giải pháp,

trong đó, giải pháp cơ bản là phải chủ động lồng ghép các nguồn vốn theo tiêu chí

đảm bảo sự công bằng, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn đầu tư theo hướng kịp thời hơn;

lựa chọn các nội dung đầu tư, hỗ trợ dự án phát triển sản xuất tập trung vào hỗ trợ

con giống, thú y nhằm đẩy mạnh sản xuất, từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng

vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng giá trị thu nhập trên một diện tích đất

canh tác. Sau 5 năm thực hiện chương trình 135 giai đoạn II, 4 dự án với tổng số

vốn đã thực hiện là 2.128.138,405 triệu đồng đã đạt được một số kết quả:

Về dự án phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu.

Từ năm 2006 đến 2010, cả khu vực đã đầu tư 1.456.966 triệu đồng để xây

dựng các công trình hạ tầng cơ sở thiết yếu ở các xã đặc biệt khó khăn [Phụ lục 13].

Tại Lạng Sơn, số công trình được đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo nâng cấp trong

cả giai đoạn là 389 công trình giao thông, 58 công trình điện, 43 công trình trường

học, 20 công trình trạm y tế, 32 công trình nhà sinh hoạt cộng đồng, 23 công trình

thuỷ lợi, 23 công trình nước sạch, 9 công trình chợ với tổng số vốn là 294.750 triệu

đồng [102].

95

Về dự án hỗ trợ phát triển sản xuất

Cùng với việc tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như ở giai đoạn I, tại

giai đoạn II, Chương 135 đã có thêm hợp phần hỗ trợ sản xuất. Trong giai đoạn

2006 - 2010, với số vốn 341.026 triệu đồng được triển khai đến tận thôn, bản, đảm

bảo nguyên tắc công khai, dân chủ, hỗ trợ đúng đối tượng, đúng nội dung theo quy

định [Phụ lục 13]. Thực hiện hợp phần này, các địa phương đã hỗ trợ cung cấp một

số tư liệu sản xuất như cây, con giống, phân bón, máy móc nông cụ cho bà con phát

triển sản xuất, do đó, năng suất cây trồng, vật nuôi tăng lên; đây là cơ sở cơ bản

giúp bà con nâng cao thu nhập (đa số các xã đặc biệt khó khăn đạt thu nhập bình

quân trên 3,5 triệu đồng/người/năm); giảm tỷ lệ hộ nghèo trong vùng 135 trung bình

4 - 5%/năm.

Về dự án đào tạo cán bộ cơ sở và cộng đồng

Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xã chủ yếu tập trung đào tạo, bồi dưỡng

nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ xã, thôn, bản làm chủ đầu tư có đủ

năng lực đảm nhận sự phân cấp, phân quyền, tham gia quản lý, tổ chức thực hiện

các hoạt động của chương trình.

Thực tế triển khai cho thấy các kiến thức tập huấn đã phát huy tác dụng tốt

và được đông đảo người dân, cán bộ cơ sở đồng tình ủng hộ. Vì thế, trong 5 năm

thực hiện hợp phần với tổng số vốn 95.952,485 triệu đồng, đã thu hút hơn 300.000

lượt cán bộ cơ sở và cộng đồng dân cư tham gia, đào tạo nghề ngắn hạn cho hơn

13.000 thanh niên dân tộc thiểu số từ 16 đến 25 tuổi [Phụ lục 13].

Qua 4 năm thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II, nhìn chung các tỉnh đều

tuân thủ tốt các nguyên tắc đầu tư của Chương trình. Trong đó nguyên tắc: công

khai, dân chủ, thiết thực đối với đời sống người dân được đặt lên hàng đầu. Do đó,

khi triển khai xây dựng công trình, cộng đồng thôn bản được tham gia từ khâu lập

kế hoạch, lựa chọn công trình, ra quyết định, giám sát việc thực hiện và bàn giao

công trình. Đây chính là điểm mới trong Chương trình 135 giai đoạn II và cũng là

một trong những điểm thành công của chương trình. Đến năm 2010, kết thúc giai

đoạn II của chương trình 135, với sự nỗ lực của các địa phương, khu vực miền núi

Đông Bắc có 6 xã hoàn thành chương trình 135, đạt 1,92% [Phụ lục 10].

96

2.2.3. Đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm Các chính sách giảm nghèo ở miền núi Đông Bắc chịu sự chi phối về mặt tài

chính của các dự án lớn và chương trình mục tiêu quốc gia. Các hợp phần và tiểu

hợp phần của các chương trình này chiếm tới trên 40% số hoạt động và ngân sách

hỗ trợ cho các tỉnh miền núi Đông Bắc. Ngoài các chương trình chung, còn có dự

án hỗ trợ, phát triển dân tộc Pu Péo tại tỉnh Hà Giang (Quyết định số 238/QĐ-

UBDT) ngày 16-5-2005); hỗ trợ phát triển dân tộc thiểu số, hộ nghèo và cận nghèo,

hộ chính sách xã hội tại những vùng chưa nối mạng lưới điện quốc gia (Quyết định

289/2008/QĐ-TTg); hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi phía Bắc (Nghị

quyết số 37/NQ và Quyết định 27/2008/QĐ-TTg); chương trình tái định cư - Hỗ trợ

di dân đồng bào dân tộc thiểu số (Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg ngày 5-3-2007);

chương trình tái định cư - hỗ trợ di dân tại các xã biên giới với Trung Quốc (Quyết

định số 60/2005/QĐ-TTg ngày 24-3-2005); chính sách cho hộ đồng bào dân tộc

thiểu số khó khăn vay vốn phát triển sản xuất (Quyết định 32/2007/QĐ-TTg ngày

05-3-2007). Các hoạt động giảm nghèo ở miền núi Đông Bắc nhìn chung toàn diện,

bao trùm các lĩnh vực và yếu tố cần thiết, chú ý đến cả vùng nghèo và dân tộc kém

vị thế. Một số dự án được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của một số nhóm đối tượng

xã đặc biệt khó khăn, dân tộc đặc biệt khó khăn, dân tái định cư, dân cư trú khu vực

biên giới. Tuy nhiên, trên thực tế các tỉnh miền núi Đông Bắc và từng huyện có thể

điều chỉnh cho phù hợp tình hình của vùng hoặc địa phương.

Việc thực hiện chính sách giảm nghèo ở miền núi Đông Bắc tập trung vào

các biện pháp sau đây: 1) Hỗ trợ sản xuất nông nghiệp (khuyến nông, trợ giá đầu

vào cho nông nghiệp, đào tạo nông nghiệp, hỗ trợ đất sản xuất, hỗ trợ ngư nghiệp,

bảo vệ rừng, quản lý và khai thác rừng, vốn vay cho người nghèo để sản xuất); 2)

Hỗ trợ giáo dục (tiếp cận giáo dục, hỗ trợ học phí, hỗ trợ cho các trường nội trú,

chính sách về lương cho giáo viên ở vùng sâu, vùng xa); 3) Tiếp cận dịch vụ (tiếp

cận dịch vụ cấp nước sạch, tiếp cận dịch vụ điện); 4) Cơ sở hạ tầng (các loại công

trình cơ sở hạ tầng khác nhau, vận hành, bảo trì, duy tu, bảo dưỡng); 5) Hỗ trợ y tế

(dịch vụ y tế, cải thiện tình trạng vệ sinh, nâng cao an toàn vệ sinh chăn nuôi); 6)

Đào tạo và tăng cường năng lực (dạy nghề, đào tạo cán bộ để thực hiện chương

97

trình giảm nghèo, theo dõi và đánh giá giảm nghèo); 7) Trợ giá (trợ giá cước vận

chuyển một số mặt hàng tới các vùng sâu, vùng xa; trợ giá nhiên liệu cho đồng bào

dân tộc thiểu số; hỗ trợ trực tiếp về lương thực); 8) Hỗ trợ cho tái định cư và di dân,

hỗ trợ tiếp cận pháp lý, hỗ trợ nhà ở (vật liệu nhà ở, đất ở).

Theo chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010, tỷ lệ hộ nghèo ở vùng

miền núi, dân tộc Đông Bắc năm 2002 là 38,4%, thu nhập bình quân đầu người

/tháng là 268.8 [Phụ lục 16]. Tuy chưa phải là vùng nghèo nhất nước, nhưng đây

cũng là vùng có tỷ lệ tái nghèo cao, cá biệt có những huyện tỷ lệ hộ nghèo chiếm

trên 50% (Quản Bạ, Yên Minh (Hà Giang); Bảo Lâm, Bảo Lạc (Cao Bằng). Vì vậy,

Đảng bộ và nhân dân các dân tộc miền núi Đông Bắc cần có những giải pháp thích

hợp nhằm đẩy lùi đói nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển, hoà nhập với sự phát

triển chung của cả nước.

Để thực hiện quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân về xoá đói giảm nghèo, Thủ

tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 02/1998/QĐ-TTg ngày 06-01-1998 về việc

phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc giai đoạn

từ nay đến năm 2010. Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ mục tiêu phát triển của các tỉnh

Đông Bắc đến năm 2010: Phấn đấu duy trì nhịp độ tăng trưởng GDP đạt khoảng

10%/năm. Đảm bảo hài hoà quan hệ giữa phát triển nhanh, hiệu quả và lâu bền,

thực hiện cơ bản xoá đói trước năm 2000 và giảm 30% đến 40% hộ nghèo so với

năm 1998.

Nhằm đẩy nhanh công tác xoá đói giảm nghèo, các địa phương luôn quan

tâm tới công tác tập huấn, chuyển giao khoa học - kỹ thuật cho cán bộ khuyến nông,

khuyến lâm, cho các hộ nông dân, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời,

các tỉnh miền núi Đông Bắc đã đặt ra mục tiêu mỗi năm phải giải quyết việc làm

cho khoảng 1000 lao động.

Với mục tiêu đó, hàng năm, các chương trình, dự án hỗ trợ người dân về

máy móc sản xuất, về kỹ thuật chăm sóc cây trồng, vật nuôi, về vốn đã giúp đồng

bào tháo gỡ khó khăn, cải thiện đời sống, tạo việc làm và tăng thu nhập. Nhờ vậy, tỷ

lệ hộ nghèo ở vùng miền núi, dân tộc đã giảm từ 38,4% năm 2002 xuống còn

29,4% năm 2004. Sau 3 năm, vùng miền núi, dân tộc Đông Bắc giảm được 9% số

98

hộ nghèo, bình quân mỗi năm giảm được 1,8%. Nếu so sánh chung với cả nước, tỷ

lệ giảm nghèo của vùng Đông Bắc còn thấp nhưng nếu so với vùng Tây Bắc, tỷ lệ

giảm nghèo của vùng Đông Bắc có nhanh hơn [Phụ lục 16]. Cơ sở hạ tầng (điện,

đường, trường, trạm, nước sạch, hệ thống thuỷ lợi…) ở các xã đặc biệt khó khăn

được cải thiện đáng kể; đời sống nhân dân được nâng lên, hộ nghèo, hộ đồng bào

dân tộc thiểu số từng bước được tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ, chính sách xã

hội nhiều hơn.

Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc chưa vững

chắc, chưa đồng đều giữa các vùng trong khu vực, chưa đáp ứng được yêu cầu của

giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vì vậy, các xã đặc biệt khó khăn, vùng

đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo còn cao như: huyện Đồng Văn, Mèo Vạc,

Quản Bạ (Hà Giang) có 82 xã có tỷ lệ nghèo trên 50%; huyện Đình Lập, Bình Gia

(Lạng Sơn) có tỷ lệ nghèo trên 40%. Theo kết quả điều tra cho thấy, một trong

những nguyên nhân của đói nghèo là do thiếu kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, thiếu

đất sản xuất và vốn.

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xoá đói giảm nghèo đã đề ra mục tiêu

cụ thể đến năm 2010: Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 22% năm 2005 xuống còn

10 - 11% năm 2010 (trong 5 năm giảm 50% số hộ nghèo); Thu nhập của nhóm hộ

nghèo tăng 1,45 lần so với năm 2005. Phấn đấu 50% số xã đặc biệt khó khăn vùng

bãi ngang ven biển và hải đảo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn.

Trên cơ sở mục tiêu chung, Đảng bộ các địa phương đã ra các Nghị quyết

nhằm tăng cường sự chỉ đạo đối với công tác xoá đói giảm nghèo như: Nghị quyết

số 03-NQ/TU của Tỉnh uỷ Lạng Sơn (12- 7-2006) về đẩy mạnh công tác xoá đói

giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010; Nghị quyết số 12-NQ/TU của Tỉnh uỷ Hà

Giang (27- 6- 2008) về tăng cường lãnh đạo thực hiện chương trình giảm nghèo

bền vững từ nay đến năm 2010.

Hàng năm, nhằm đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo, các địa phương đã

bố trí ngân sách và lồng ghép các nguồn vốn, các chương trình, dự án để tập trung

hỗ trợ, khuyến khích người dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, đẩy mạnh

thâm canh, tăng vụ, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất.

99

Được hỗ trợ vay vốn theo Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg và Quyết định

126/QĐ-TTg, tại Cao Bằng, đến đầu năm 2010, toàn tỉnh có 2.384 hộ dân tộc thiểu

số nghèo được vay vốn với số tiền là 11.879 triệu đồng để phát triển sản xuất, chăn

nuôi trâu bò [83, tr.27].

Do nhận thức rõ, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo

là do thiếu đất sản xuất, các địa phương đã quan tâm đầu tư khai hoang, làm ruộng

nương, bậc thang, chuyển đổi diện tích trồng cây lương thực hiệu quả thấp sang

trồng cây dược liệu, trồng cỏ phục vụ phát triển sản xuất chăn nuôi. Đồng thời, từng

bước khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của địa phương. Phát huy lợi thế về

điều kiện tự nhiên thích hợp phát triển trồng cây dược liệu, năm 2007, tỉnh Hà

Giang thông qua các chương trình, dự án đã hỗ trợ trồng 11.583 ha cây sa mộc,

chuyển 5000 ha đất nông nghiệp sang trồng cỏ phục vụ chăn nuôi trâu, bò và trồng

các loại cây có giá trị kinh tế cao, 3.712 ha đất dốc được khai hoang thành nương

xếp đá và ruộng bậc thang [54, tr.12].

Trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách và nghị quyết về giảm

nghèo, nhiều đơn vị đã có cách làm hay, tích cực trong huy động nguồn lực phục vụ

công tác giảm nghèo và bước đầu đem lại hiệu quả. Cuộc vận động ngày “Vì người

nghèo” là một điển hình. Quỹ “vì người nghèo” đã nhận được sự quan tâm, hưởng

ứng tích cực của toàn xã hội, sự ủng hộ của các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp,

những tấm lòng hảo tâm trong và ngoài nước. Đạt hiệu quả cao trong phong trào

này là tỉnh Quảng Ninh. Trong 5 năm (2006 - 2010), Quỹ “vì người nghèo” các cấp

của tỉnh Quảng Ninh đã vận động được trên 25 tỷ đồng; trong đó cấp tỉnh 14 tỷ

đồng, cấp huyện và cấp xã trên 11 tỷ đồng. Riêng năm 2009, tỉnh đã vận động được

trên 12 tỷ đồng và đã hỗ trợ 11,5 tỷ đồng về nhà ở cho các hộ nghèo trên địa bàn

tỉnh [112].

Về vấn đề giải quyết việc làm

Tạo điều kiện cho người lao động, nhất là lực lượng thanh niên tìm kiếm

việc làm và tự tạo việc làm cho bản thân, các tỉnh chỉ đạo xây dựng các trường dạy

nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số với các chính sách ưu tiên, đãi ngộ nhằm thu

hút, tạo thuận lợi cho thanh niên dân tộc thiểu số được học nghề và có việc làm.

100

Cùng với sự phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội của các địa phương,

chương trình, dự án giảm nghèo, giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2010 được tổ

chức thực hiện có hiệu quả. Tỷ lệ hộ nghèo được hưởng lợi từ dự án, chính sách

giảm nghèo đạt mức cao. Toàn vùng có 68,1% số hộ dân tộc thiểu số được hưởng

lợi từ dự án, chính sách giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo chung của toàn vùng đã giảm

từ 28,5% năm 2002 xuống còn 19,03% năm 2010.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác xoá đói giảm nghèo và giải

quyết việc làm tại miền núi Đông Bắc vẫn còn một số hạn chế như: Công tác tuyên

truyền, nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc thiểu số về xoá đói giảm

nghèo, giải quyết việc làm có nơi, có lúc chưa được tiến hành thường xuyên, liên

tục, dẫn tới hiệu quả chưa cao. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ

tuổi năm 2010 của vùng miền núi Đông Bắc so với cả nước vẫn ở mức cao, 2,61%

(so với vùng phụ cận, Đồng bằng sông Hồng là 1,21%). Nhận thức của một bộ phận

người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa về xoá đói giảm

nghèo, giải quyết việc làm còn hạn chế. Một bộ phận người dân vẫn còn tư tưởng ỷ

lại, trông chờ vào sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước nên đã hạn chế phát huy nội lực

và sự nỗ lực vươn lên của bản thân người lao động.

Thực hiện các chính sách vay vốn ưu đãi, trợ giá, trợ cước và hỗ trợ trực

tiếp cho người dân

Thực hiện chủ trương của Đảng, trong lĩnh vực thương nghiệp và dịch vụ,

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/2002/NĐ-CP ngày 03-01-2002 của Chính

phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 20/1998/NĐ-CP của Chính

phủ về phát triển thương mại ở vùng miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc.

Trong giai đoạn 2006 - 2010, các tỉnh đã thực hiện những nội dung trợ cước

vận chuyển dầu hoả, trợ giá trợ cước vận chuyển muối i ốt, trợ giá, trợ cước vận

chuyển đối với các mặt hàng, trợ cước vận chuyển phân bón hoá học, trợ cước vận

chuyển tiêu thụ sản phẩm, trợ cước vận chuyển giống thuỷ sản, hỗ trợ xây dựng

trạm truyền thanh FM các xã khu vực III, hỗ trợ giá báo địa phương. Chỉ tính riêng

tại Hà Giang, trong giai đoạn 2006 - 2009, tổng kinh phí thực hiện trợ giá, trợ cước

là 43.143,3 triệu đồng, trong đó, hỗ trợ các mặt hàng chính sách xã hội là 2.064.586

101

triệu đồng, trợ giá cước muối iốt là 17.712,06 triệu đồng, trợ cước trạm truyền thanh

cấp xã là 600 triệu đồng… [97, tr.10].

Việc trợ giá, trợ cước vận chuyển giống cây trồng và trợ cước vận chuyển

phân bón tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức của đồng bào các dân tộc trong việc

sử dụng các loại giống mới có năng suất cao. Có thể coi đây là một cuộc cách mạng

trong sản xuất nông nghiệp ở nông thôn miền núi, đặc biệt là các xã vùng sâu, vùng

xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện trợ giá, trợ cước các mặt hàng thiết yếu phục

vụ đồng bào các dân tộc thiểu số còn gặp một số hạn chế như: Quy định giá bán lẻ

của địa phương chưa sát với thực tế dẫn đến tình trạng có lúc, có nơi mặt hàng

chính sách cao hơn giá thị trường tự do; công tác kiểm tra, giám sát khâu bán hàng

ở cơ sở chưa được thực hiện thường xuyên. Để khắc phục những hạn chế đó, ngày

07-8-2009, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg về chính

sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn. Đây là chính

sách chuyển đổi từ trợ giá, trợ cước vận chuyển sang hỗ trợ trực tiếp cho người dân

thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn. Trên cơ sở Quyết định 102/2009/QĐ-TTg, căn cứ

vào thực tế địa phương, các tỉnh đã đề ra các phương án hỗ trợ cụ thể có thể bằng

tiền mặt hoặc bằng hiện vật. Trong 2 năm (2009 - 2010), tỉnh Lạng Sơn đã hỗ trợ

cho 61xã đặc biệt khó khăn và 56 thôn đặc biệt khó khăn thuộc các xã khu vực II

với tổng kinh phí thực hiện là 11.108 triệu đồng.

Cùng với chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo cư trú ở các vùng đặc

biệt khó khăn, Chính phủ còn quan tâm, tạo điều kiện để đồng bào được vay vốn

phát triển sản xuất. Ngày 05-03-2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định

số 32/2007/QĐ-TTg về việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào

dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn. Theo Quyết định này, đối tượng được vay vốn là

hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn có đủ 3 tiêu chí: có mức thu nhập

bình quân đầu người dưới 60.000 đồng/tháng; tổng trị giá tài sản của hộ không quá

3 triệu đồng; có phương hướng sản xuất nhưng thiếu hoặc không có vốn sản xuất.

Thực hiện Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg, các địa phương đã tiến hành

bình xét công khai, dân chủ, đúng đối tượng ở cơ sở và lập danh sách theo từng xã.

102

Hàng năm, tiến hành rà soát lại để bổ sung và đưa ra khỏi danh sách những hộ

không còn thuộc đối tượng được vay vốn. Trong giai đoạn 2007 - 2010, tổng số hộ

dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn thuộc diện được thụ hưởng chính sách được vay

vốn phát triển sản xuất là 11.669 hộ với tổng số vốn 57.222 triệu đồng.

Nghị định số 20/1998/NĐ-CP, Nghị định số 02/2002/NĐ-CP và các Quyết

định số 102/2009/QĐ-TTg, Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg của Chính phủ thể hiện

sự quan tâm kịp thời của Đảng và Nhà nước đối với các dân tộc thiểu số, tạo thuận

lợi cho đồng bào đang sinh sống ở các vùng đặc biệt khó khăn có thêm điều kiện

phát triển, kinh tế hộ đồng bào nghèo được cải thiện và từng bước thoát nghèo, góp

phần phát triển kinh tế - xã hội, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, đảm

bảo an ninh, trật tự vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Chính sách hỗ trợ nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số.

Chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ

đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (chương trình 134)

Cụ thể hoá chủ trương của Đảng, ngày 20-7-2004, Thủ tướng Chính phủ ra

Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở,

nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là một Quyết định

quan trọng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào các

dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn trên địa bàn các tỉnh miền núi Đông Bắc

nói riêng và cả nước nói chung. Nội dung cơ bản của Quyết định 134/2004/QĐ-

TTg là hỗ trợ về đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt và nhà ở.

Thực hiện chủ trương trên, các tỉnh miền núi Đông Bắc căn cứ vào tình hình

cụ thể, thực tiễn của các địa phương để tiến hành thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản

xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào các dân tộc thiểu số nghèo, đời

sống khó khăn. Từ năm 2004 đến năm 2008, 2477 hộ dân được hỗ trợ đất ở, 38.391

hộ dân được hỗ trợ nhà ở, 20.136 hộ dân được hỗ trợ đất sản xuất, 23.958 hộ dân

được hỗ trợ xây bể nước hoặc mua téc nước, 862 công trình nước tập trung được

xây dựng [Phụ lục 14]. Kết quả trên đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh

thần cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn, từng bước

103

thoát khỏi nghèo đói, lạc hậu, nhất là về nhà ở, nước sinh hoạt, thúc đẩy kinh tế - xã

hội phát triển, củng cố an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện Chương trình

134 còn một số hạn chế: Chương trình 134 - hỗ trợ về đất ở, nhà ở, đất sản xuất,

nước sinh hoạt cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số đời sống khó khăn - là chương

trình với nhu cầu vốn lớn, tuy nhiên vốn đầu tư hỗ trợ của Trung ương có hạn, một

số định mức thấp, giá cả nguyên vật liệu tăng cao, do đó làm nhà và xây dựng các

công trình nước sinh hoạt phân tán gặp rất nhiều khó khăn. Việc triển khai chương

trình ở một số địa phương còn lúng túng, nhất là trong việc rà soát đối tượng còn

trùng lặp, bỏ sót hoặc không chính xác, dẫn đến khi thực hiện chương trình nhiều

mục tiêu phải điều chỉnh lại, nhất là đối tượng thụ hưởng chương trình. Việc quản

lý, tổ chức triển khai thực hiện còn nhiều hạn chế. Vì vậy, chính sách hỗ trợ đất sản

xuất theo Quyết định 134 của Thủ tướng Chính phủ được triển khai sớm tại khu vực

Đông Bắc nhưng do thiếu quỹ đất nên đạt mục tiêu thấp nhất so với các vùng trong

cả nước, chỉ đạt 34% số hộ và 38% về diện tích.

Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo

(Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ ngày 27 tháng 12 năm 2008)

Miền núi Đông Bắc có 2 tỉnh là Cao Bằng, Hà Giang với 11 huyện có tỷ lệ

hộ nghèo trên 50% được thụ hưởng Chương trình 30a [Phụ lục 6]. Xác định đây là

cơ hội để các huyện nghèo bứt phá nên ngay khi Nghị quyết 30a ra đời, các cấp, các

ngành từ tỉnh đến huyện của các địa phương đã tập trung triển khai các bước tiến

hành theo đúng chỉ đạo của Trung ương. Nguồn kinh phí thực hiện trong 2 năm

(2009-2010), tại địa bàn 6 huyện nghèo của tỉnh Hà Giang theo Nghị quyết 30a là

353.420 triệu đồng [95]; tại 5 huyện nghèo của tỉnh Cao Bằng là 275.381 triệu đồng

[82]. Từ đó, giúp người nghèo có việc làm, thêm thu nhập, giảm nghèo bền vững.

Chỉ tính riêng tại 6 huyện nghèo của tỉnh Hà Giang, từ nguồn kinh phí của chương

trình, trong 2 năm (2009-2010), đã tổ chức mở các lớp dạy sơ cấp nghề, dạy nghề

thường xuyên tại các xã, các trung tâm dạy nghề cho 3.095 người [95]. Cùng với

đó, việc xã hội hóa công tác xoá đói giảm nghèo cũng được quan tâm và thu hút

được nguồn lực đầu tư rất lớn từ các doanh nghiệp Nhà nước, tập đoàn, tổng công

104

ty, trong đó nổi bật là sự hỗ trợ của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương

Việt Nam; Ngân hàng Liên Việt, Tổng Công ty Vật tư Nông nghiệp Việt Nam,

Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam, ... Nhờ đó, Nghị quyết 30a của Chính phủ

được thực hiện đạt kết quả khả quan. Tính đến năm 2011, còn 6 huyện có số hộ

nghèo trên 50% là Mèo Vạc, Đồng Văn, Xí Mần (Hà Giang), Bảo Lâm, Bảo Lạc,

Thông Nông (Cao Bằng) [Phụ lục 7].

Bên cạnh những kết quả đã đạt được tại các địa phương, Nghị quyết 30a vẫn

bộc lộ một số hạn chế như mục tiêu đề ra quá cao, nguồn lực để đáp ứng là rất khó.

Thực tế tại Hà Giang cho thấy, để đầu tư đầy đủ công trình cơ sở hạ tầng, một đề án

của huyện cần 3000 tỷ đồng, trong khi đó năm 2009, ngân sách Nhà nước đầu tư

được 25 tỷ, năm 2010 được 20 tỷ- như vậy nguồn lực ngân sách Nhà nước chỉ đáp

ứng được một phần rất nhỏ của nhu cầu [119, tr.91].

Đẩy mạnh công tác quy hoạch, bố trí dân cư

Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 24 - 8 - 2006, Thủ tướng Chính phủ ra

Quyết định số 193/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình bố trí dân cư các vùng: thiên

tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, xung yếu và rất xung yếu của

rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng giai đoạn 2006 - 2010

và định hướng đến năm 2015. Tiếp đó, ngày 05-03-2007, Thủ tướng Chính phủ ra

Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh

định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2007 - 2010. Thực hiện Quyết

định 33/2007/QĐ-TTg, các địa phương đã tiến hành xây dựng các Dự án, tập trung

vào các nội dung: Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, khai hoang, mở rộng diện tích

đất canh tác, xây dựng nương rẫy cố định, trồng mới và bảo vệ rừng, hỗ trợ kinh phí

áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hỗ trợ cán bộ phát triển cộng

đồng… nhằm ổn định đời sống dân cư. Đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng

và Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số còn du canh, du

cư có nơi ở ổn định, có đầy đủ các điều kiện để phát triển sản xuất, nâng cao đời

sống vật chất và tinh thần của nhân dân, góp phần tích cực vào công tác xoá đói

giảm nghèo, giữ vững ổn định an ninh, chính trị vùng dân tộc và miền núi.

105

2.2.4. Nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc,

chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Phát triển giáo dục - đào tạo, nâng cao dân trí

Thực hiện chủ trương của Đảng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc các tỉnh

miền núi Đông Bắc luôn nỗ lực và đã đạt được các thành tựu trong phát triển giáo

dục và đào tạo.

Đầu tư cho giáo dục được tăng lên theo từng năm nhằm đáp ứng ngày một

tốt hơn công tác giáo dục - đào tạo tại các địa phương. Nếu như năm 2002 là

422.000 đồng/1người đi học/1 tháng thì đến năm 2010 là 1.758.000 đồng/1người đi

học/1 tháng. Đồng thời, các tỉnh thực hiện tốt chính sách miễn giảm học phí đối với

người học thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, người dân tộc thiểu số.

Tỷ lệ người được miễn giảm học phí và các khoản đóng góp năm 2008 là 51,8%

(dân tộc thiểu số: 21,4%; Vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn: 33,3%). Đến

năm 2010 tăng lên 52,7% (dân tộc thiểu số: 18,9%; vùng sâu, vùng xa, vùng đặc

biệt khó khăn: 39,7%%). Số trường ở 4 tỉnh miền núi Đông Bắc tăng từ 1.598

trường phổ thông với 26.472 lớp năm 2006 [67, tr.517-519] đến năm 2010 đã tăng

lên 1744 trường phổ thông với 25.309 lớp học [70, tr.627-629].

Cùng với hệ thống các trường công lập, được sự đầu tư của Trung ương và

địa phương, mạng lưới các trường dân tộc nội trú bao gồm 4 trường dân tộc nội trú

cấp tỉnh và các trường dân tộc nội trú cấp huyện. Ngoài ra, trường Phổ thông Vùng

cao Việt Bắc là trường dân tộc nội trú duy nhất của cả nước có 3 hệ đào tạo (Trung

học Phổ thông và Dự bị Đại học Dân tộc và Trung học cơ sở) với quy mô trên 1800

em/ năm thuộc 21 tỉnh với 29 dân tộc trên tổng số 53 dân tộc thiểu số cả nước. Bên

cạnh đó, mô hình trường nội trú dân nuôi cũng được hình thành và phát triển ở các

địa phương.

Với sự quan tâm chỉ đạo của Đảng bộ các địa phương, các cấp, các ngành và

sự nỗ lực của ngành giáo dục, đến 2010, các tỉnh đều đạt chuẩn giáo dục phổ cập

trung học cơ sở. Tính đến năm 2010 toàn vùng có 1744 trường phổ thông với

560.974 học sinh [70, tr.627-641], trong đó có 345.388 học sinh các cấp người dân

tộc thiểu số đến trường [70, tr.645].

106

Cùng với kết quả đạt được, trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách

phát triển giáo dục tại vùng miền núi Đông Bắc vẫn bộc lộ một số hạn chế: Năm

2010, tất cả các tỉnh đã đạt chuẩn giáo dục phổ cập trung học cơ sở, tuy nhiên, kết

quả đạt được chưa thực sự vững chắc. Chương trình phổ cập giáo dục tiểu học đã

hoàn thành cách đây 10 năm nhưng đến 2010 vẫn còn 3 tỉnh mới đạt phổ cập giáo

dục tiểu học nói chung, chưa đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Đó

là các tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng; Điều kiện dạy và học ở bậc học mầm non và phổ

thông các cấp còn thiếu thốn. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng bỏ học

của học sinh phổ thông trong những năm qua tuy có giảm nhưng vẫn chiếm tỷ lệ

khá cao. Thống kê cho thấy, năm học 2011 - 2012, 15 tỉnh miền núi phía Bắc có

9.790 học sinh bỏ học, trong đó nhiều nhất là bậc trung học phổ thông có 6.795,

trung học cơ sở có 2.682 (một số tỉnh có học sinh bỏ học nhiều của vùng này là:

Bắc Kạn và Hà Giang). Lực lượng lao động có trình độ đại học, cao đẳng của vùng

thấp so với cả nước, chỉ chiếm 1,2% trong khi trung bình cả nước là 12%. Đó là

nguyên nhân làm cho nhiều dự án kinh tế - xã hội nhằm đưa khoa học, kỹ thuật tiến

bộ vào phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, vùng dân tộc thiểu số không được triển

khai kịp thời và đạt hiệu quả như mong muốn.

Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào các dân tộc thiểu số:

Tháng 10-2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg

về chính sách chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo và người dân tộc thiểu số. Theo

Quyết định này, đối tượng thụ hưởng là người nghèo và người dân tộc thiểu số đều

được khám và chữa bệnh miễn phí ở các cơ sở y tế công.

Thực hiện Quyết định 139/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các địa

phương đã tiến hành cấp sổ khám, chữa bệnh và thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho các

đối tượng nghèo và người dân tộc thiểu số và nhân dân các xã 135. Tuy nhiên, chất

lượng dịch vụ y tế, đặc biệt tại tuyến xã còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân cơ bản là

do thiếu nhân lực cả về số lượng và năng lực của cán bộ, cơ sở vật chất và trang

thiết bị nghèo nàn, chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.

Nhằm thực hiện tốt hơn công tác khám chữa bệnh cho người nghèo, người

dân tộc thiểu số, ngày 23-3-2005, Bộ chính trị ra Nghị quyết số 46-NQ/TW về công

107

tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới. Cụ thể

hoá chủ trương trên, các tỉnh miền núi Đông Bắc đã tiến hành đầu tư xây dựng và

phát triển rộng khắp mạng lưới y tế từ tuyến tỉnh đến tuyến xã, đáp ứng nhu cầu

khám, chữa bệnh của nhân dân. Đến năm 2010, tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc-xin

cho trẻ em đạt trên 90%, 100% số xã đã có trạm xá xây dựng kiên cố hoặc nhà cấp

4, 100% xã có cán bộ y tá và tủ thuốc phục vụ cho hoạt động y tế. Các trung tâm y

tế huyện được xây dựng lại hoặc nâng cấp về trang thiết bị. Các chương trình mục

tiêu quốc gia, các dự án về y tế được triển khai đến tận thôn, xóm.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách y tế tại địa phương vẫn còn gặp rất

nhiều khó khăn: Việc xác định người nghèo chưa đầy đủ và chưa chính xác thông

tin dẫn đến tình trạng người nghèo chưa được cấp thẻ bảo hiểm y tế hoặc thẻ in

nhầm, thông tin không chính xác. Do vậy, mặc dù người nghèo, người dân tộc thiểu

số đã có thẻ bảo hiểm y tế nhưng vẫn không đi khám, chữa bệnh hoặc phải chi trả

tiền khi khám, chữa bệnh; đa số đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng

xa, đi lại khó khăn, cách xa trung tâm, xa các cơ sở y tế nên việc tiếp cận các dịch

vụ y tế còn gặp rất nhiều khó khăn.

Công tác bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số miền núi

Đông Bắc

Thực hiện các nghị quyết của Đảng, vấn đề bảo tồn và phát huy những giá

trị văn hoá trong các lễ hội dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số Đông Bắc

được đặt ra nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của các địa phương. Đồng thời,

với quan điểm, văn hoá góp phần phát triển kinh tế - xã hội, các địa phương đã

quan tâm đẩy mạnh công tác phát triển du lịch văn hoá nhằm vừa bảo tồn các giá

trị văn hoá, vừa góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần

của nhân dân.

Tại Hà Giang, thực hiện Nghị quyết 01-NQ/TU ngày 10-04-2006 của Ban

chấp hành Đảng bộ tỉnh về đẩy mạnh phát triển du lịch Hà Giang đến năm 2015 và

Chương trình hành động số 35/CTHĐ-UB ngày 14-8-2006 của Uỷ ban nhân dân

tỉnh về Xây dựng các làng văn hoá du lịch cộng đồng tại các huyện, các làng văn

hoá du lịch cộng đồng tại Hà Giang đã được đầu tư và thu hút được một lượng

108

khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, lưu trú. Theo thống kê, đến tháng

12-2007: Thôn Tha (xã Phương Độ - Thị xã Hà Giang) có 1,102 lượt khách, doanh

thu đạt 38,61 triệu đồng; thôn Tiến Thắng (xã Phương Thiện - thị xã Hà Giang) 625

lượt khách với doanh thu 28,75 triệu đồng; thôn Bục Bản (Yên Minh - Hà Giang)

thu hút hơn 2,251 lượt khách thu được 95,86 triệu đồng… [92, tr.4].

Về phương diện ngôn ngữ dân tộc: Để duy trì ngôn ngữ các dân tộc tại các

tỉnh, bên cạnh việc đẩy mạnh tuyên truyền ý thức bảo tồn, lưu giữ, phát triển ngôn

ngữ dân tộc, các địa phương đã có các biện pháp như: Dạy song ngữ (tiếng Việt và

tiếng dân tộc địa phương); đài phát thanh, truyền hình các tỉnh phát các chương

trình bằng các thứ tiếng Tày, Nùng, Dao, Mông… Các sáng tác thơ, ca, kịch, tiểu

phẩm bằng nhiều thứ tiếng Tày, Nùng, Dao, Mông được đăng tải trên các phương

tiện thông tin đại chúng và xuất hiện trên sân khấu ngày càng nhiều.

Về chính sách hưởng thụ văn hoá: Ngày 14-8-2003, Thủ tướng Chính phủ ra

Quyết định số 170/2003/QĐ-TTg về chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá, trong đó

đặc biệt ưu tiên cho nhân dân ở các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng

xa. Quyết định nêu rõ, chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa bao gồm: Biểu diễn

nghệ thuật, chiếu phim nhựa hoặc băng hình; thư viện; thông tin lưu động; triển

lãm; bảo tàng, di tích.

Cụ thể hoá Quyết định trên, công tác văn hoá thông tin được tăng cường: khu

vực miền núi Đông Bắc năm 2010 với 36 đơn vị với 05 rạp chiếu phim [70, tr.687].

Bên cạnh đó, thư viện được xây dựng và trang bị cơ sở vật chất để hoạt động. Đến

năm 2010, trên toàn vùng miền núi Đông Bắc có 52 thư viện, với 747 nghìn đầu

sách [70, tr.684].

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân

cư” là cuộc vận động rộng lớn mang tính chất toàn dân, toàn diện, toàn quốc đòi hỏi

phải có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của toàn bộ hệ thống chính trị trong quá trình

tổ chức, triển khai thực hiện. Trọng tâm của cuộc vận động này là xây dựng gương

người tốt, việc tốt, xây dựng gia đình và thôn bản, khối phố văn hoá. Chỉ tính riêng

Lạng Sơn, năm 2007, cả tỉnh có 86.080/156.224 hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá

(đạt 55%). Toàn tỉnh có 472/2.307 thôn, bản, khối phố đạt danh hiệu thôn, bản, khối

109

phố văn hoá (đạt 20,4%); có 994/1.302 cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hoá (đạt

76%) [60, tr.95].

Ngày 20-07-2006, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 975/2006/QĐ-

TTg về việc cấp một số loại báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi vùng

đặc biệt khó khăn. Quyết định nêu rõ: Nhà nước cấp không thu tiền một số loại báo,

tạp chí nhằm tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, phục vụ sự nghiệp phát

triển chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc

biệt khó khăn.

Thực hiện chủ trương trên, các hoạt động thông tin lưu động như chiếu bóng,

các hoạt động văn hoá được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Đối với các

xã vùng đặc biệt khó khăn, Nhà nước trang bị ti vi, tăng âm, loa đài… Kết hợp với

các hoạt động đó, Đài phát thanh truyền hình địa phương kết hợp với chương trình

VTV5- Đài truyền hình Việt Nam thường xuyên phát các bản tin bằng tiếng Mông,

Dao, Tày, Nùng để phục vụ đồng bào ở vùng sâu, vùng xa chưa thạo tiếng phổ

thông. Qua đó, góp phần là cho công tác tuyên truyền ngày càng thêm phong phú và

đạt hiệu quả thiết thực.

2.2.5. Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị tại cơ sở, đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số

Sau khi Nghị quyết số 17-NQ/TW về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ

thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn của Ban Chấp hành Trung ương khóa

IX ra đời, Đảng bộ, chính quyền các địa phương vùng Đông Bắc đã tổ chức các hội

nghị để phổ biến nội dung nghị quyết; đồng thời, bàn bạc, đề ra chương trình hành

động và các giải pháp tổ chức thực hiện nghị quyết. Thông qua việc học tập nghị

quyết, nhận thức của cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và

cán bộ đảng viên về vai trò, vị trí của hệ thống chính trị được nâng lên.

Tuy vậy, hệ thống chính trị vùng này vẫn còn những yếu kém và hạn chế

như: Hệ thống chính trị ở cơ sở tuy đã được kiện toàn, củng cố một bước song trình

độ, năng lực quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ xã còn nhiều hạn chế, công tác

phát triển Đảng ở một số cơ sở chưa được quan tâm. Bên cạnh đó, việc đào tạo, sử

dụng cán bộ trong hệ thống chính trị ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn bị

110

động; trình độ văn hóa, trình độ quản lý và năng lực điều hành công việc thực tiễn

của cán bộ cấp xã vùng dân tộc thiểu số miền núi còn nhiều hạn chế. Theo số liệu

thống kê của Tỉnh uỷ Lạng Sơn, năm 2004, trình độ văn hoá của đội ngũ cán bộ còn

thấp: Trong số 3847 cán bộ xã, phường, thị trấn, số có trình độ trung học phổ thông

1837 đồng chí (chiếm 47,75%), số có trình độ trung học cơ sở 1839 đồng chí

(chiếm 47,8%), số có trình độ tiểu học 171 đồng chí (4,45%). Trình độ chuyên môn,

có 60 đồng chí (chiếm 1,6%) có trình độ đại học, 22 đồng chí (chiếm 0,6%) có trình

độ cao đẳng, 798 đồng chí (chiếm 20%) có trình độ trung cấp chuyên môn. Trong

số cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn (Bí thư, Phó bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch

Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân) mới có 49,96% học hết trung học phổ thông;

15,74% có trình độ chuyên môn từ sơ cấp trở lên, trong đó trình độ đại học chỉ

chiếm 3,23% [57].

Nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn cán bộ dân tộc thiểu số phục vụ sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Nhà nước đã

quan tâm đầu tư xây dựng, phát triển hệ thống các trường dân tộc nội trú và các

trường thuộc hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức Nhà nước khác. Đến

năm 2010, tại 4 tỉnh miền núi Đông Bắc có 4 trường dân tộc nội trú cấp tỉnh và các

trường dân tộc nội trú cấp huyện. Ngoài ra, còn có trường phổ thông Vùng cao Việt

Bắc và trường Dự bị Đại học Việt trì. Đây là những cơ sở góp phần cơ bản đào tạo

đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.

Tuy nhiên, một đặc điểm dễ thấy ở các tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam đó

là số người dân tộc thiểu số luôn chiếm tỷ lệ lớn, trong khi đó, chỉ tiêu xét tuyển vào

các trường dân tộc nội trú lại có hạn. Vì vậy, một giải pháp cho vấn đề này đó là các

trường trung học phổ thông của địa phương đảm nhận vai trò đào tạo cán bộ để tạo

nguồn cán bộ.

Công tác cử tuyển học sinh người dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa cũng

luôn được Nhà nước quan tâm. Công tác xét tuyển diễn ra tại các tỉnh được thực

hiện theo Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14-11-2006 của Chính phủ quy định

chế độ cử tuyển vào các trường, cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung

cấp chuyên nghiệp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

111

Đối với những học sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách

mạng, vùng dân tộc thiểu số hoặc là người dân tộc thiểu số mà chưa đủ điều kiện

được xét tuyển vào học tại các trường Đại học, Cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp

thì khi tham gia thi tuyển sinh vào các trường này, Nhà nước thực hiện chính sách

ưu tiên theo đối tượng hoặc khu vực trong kỳ thi tuyển sinh Đại học và Cao đẳng

hàng năm. Những em thuộc diện ưu tiên có điểm đầu vào sẽ thấp hơn những em

không thuộc diện ưu tiên. Thực hiện chủ trương đó, trong 6 năm 2005- 2010, tỉnh

Lạng Sơn đã cử tuyển 251 chỉ tiêu được đào tạo tại 20 trường đại học [Phụ lục 15].

Trong quá trình đào tạo, học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số có thành

tích tốt trong học tập được cấp học bổng và trợ cấp xã hội theo Quyết định số

194/2001/QĐ-TTg ngày 21-12-2001 của Thủ tướng Chính phủ và được điều

chỉnh tại Quyết định số 82/2006/QĐ-TTg ngày 14-04-2006. Theo Quyết định này,

mức học bổng được điều chỉnh từ 160.000 đồng/người/tháng lên 280.000

đồng/người/tháng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2006.

Trong 5 năm (2006 - 2010), riêng tỉnh Hà Giang đã thực hiện chính sách

miễn giảm học phí, các khoản đóng góp cho 602.603 lượt học sinh; trợ cấp xã hội

và tiền ăn cho 177.672 lượt học sinh phổ thông dân tộc nội trú và bán trú dân nuôi;

cấp phát sách giáo khoa, vở viết, dụng cụ học tập miễn phí cho 469.470 lượt học

sinh [97, tr.11]. Các chính sách ưu tiên trong giáo dục đối với con em các dân tộc

thiểu số thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với nguồn cán bộ

dân tộc thiểu số. Đồng thời, tạo cơ hội lớn để hàng chục nghìn con em các dân tộc

thiểu số được vào học tại các trường Đại học và Cao đẳng, trở thành nguồn cán bộ

trên nhiều lĩnh vực.

Song song với công tác tạo nguồn cán bộ, các địa phương luôn tạo điều kiện

để đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên đối với đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. Ngày

07-01-2004, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 03/2004/QĐ-TTg về việc phê

duyệt định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị

trấn đến năm 2010. Quyết định 03/2004/QĐ-TTg xác định mục tiêu chung đến năm

2010 là: Xây dựng, chuẩn hóa và từng bước trẻ hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp

xã, đặc biệt là cán bộ chủ chốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất và

112

năng lực, bảo đảm đủ về số lượng, tiêu chuẩn, đồng bộ về cơ cấu, trình độ, tính kế

thừa giữa các thế hệ nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ

sở xã, phường, thị trấn.

Hệ thống chính trị ở cơ sở vùng biên giới được củng cố vững mạnh là yếu

tố cơ bản góp phần phát triển kinh tế - xã hội, từ đó tạo thêm lòng tin của nhân dân

đối với Đảng và Nhà nước, ngăn chặn có hiệu quả âm mưu phá hoại của kẻ thù,

bảo vệ vững chắc đường biên, mốc giới của Tổ quốc,củng cố an ninh, quốc phòng.

Chính vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ

hệ thống chính trị cơ sở, vùng cao, biên giới, cán bộ người dân tộc thiểu số được

các địa phương đặc biệt quan tâm. Tại tỉnh Hà Giang đã tiến hành đào tạo cao cấp

chính trị cho 445 học viên (228 học viên người dân tộc thiểu số), trường Chính trị

tỉnh Hà Giang đã mở 27 lớp trung cấp chính trị với tổng số 1.772 học viên (1.168

học viên)…

Về chuyên môn, tỉnh Hà Giang đã liên kết đào tạo bậc đại học cho 453 học

viên là cán bộ xã và cán bộ chưa có bằng đại học (369 học viên người dân tộc thiểu

số), cử cán bộ đi bồi dưỡng ngạch chuyên viên cao cấp với 65 học viên (11 học viên

người dân tộc thiểu số); cử đi bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính với tổng số 450

học viên (150 học viên người dân tộc thiểu số) [55].

Để mỗi cán bộ, công chức công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền

núi, vùng sâu, vùng xa đạt hiệu quả, ngày 09-11-2004, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ

thị số 38/2004/CT-TTg về việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số

đối với cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc, miền núi. Nhằm tạo nên sự

thống nhất trong nội dung, chương trình học tiếng dân tộc thiểu số, ngày 24-1-2006,

Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Quyết định số 03-QĐ/BGDĐT ban hành chương trình

khung dạy tiếng dân tộc thiểu số (có chữ viết) cho cán bộ, công chức công tác ở

vùng dân tộc thiểu số. Đây là điều kiện thuận lợi giúp cho các cán bộ vùng dân tộc

thiểu số công tác đạt hiệu quả cao hơn tại cơ sở.

Tuy nhiên, để cán bộ, giáo viên yên tâm công tác, Nhà nước cần có chính

sách đãi ngộ, ưu tiên đối với cán bộ người dân tộc thiểu số và người Kinh lên công

tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.

113

2.2.6. Xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân

vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Một trong những thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn

biến hoà bình” đó chính là truyền đạo trái phép bằng mọi con đường vào vùng

đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta. Để thực hiện âm mưu đó, chúng đã lợi dụng

những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của các cấp, các

ngành để tạo dựng và khoét sâu các mâu thuẫn. Bên cạnh đó, chúng sử dụng lợi

ích vật chất để lôi kéo bà con các dân tộc thiểu số theo đạo, chối bỏ truyền thống

văn hoá của dân tộc mình. Hiện tượng truyền đạo Tin Lành trái pháp luật xuất

hiện chủ yếu ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số Mông, Dao. Kẻ xấu lợi

dụng tuyên truyền, phát tán tài liệu xúi giục đồng bào theo đạo Tin Lành (Vàng

Chứ với người Mông và Thìn Hùng với người Dao). Ngoài ra, một số đồng bào

theo tà đạo Dương Văn Mình.

Hậu quả của việc truyền đạo trái pháp luật là làm cho tình hình lao động sản

xuất, tinh thần đồng bào bị ảnh hưởng, bản sắc văn hoá, truyền thống tốt đẹp bị xói

mòn, làm giảm lòng tin của nhân dân các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước. Theo

thống kê, chỉ trong năm 2002, đồng bào Mông theo đạo Tin Lành ở tỉnh Hà Giang

là 2.251 người, tại tỉnh Bắc Kạn là 11.519 người.

Trước tình hình trên, các địa phương đã chỉ đạo các cấp, các ngành phối hợp

chặt chẽ, đồng bộ, thực hiện bám dân, bám địa bàn trọng điểm, nắm chắc tình hình

cơ sở, thực hiện “ba cùng” với đồng bào. Tổ chức tập huấn, tuyên truyền, vận động

quần chúng nhân dân hiểu về quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính

sách pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Kiên quyết đấu tranh, ngăn

chặn, xử lý các đối tượng truyền đạo trái pháp luật. Vận động những người do bị

lừa gạt ép buộc theo đạo trái pháp luật tự giác bỏ đạo trở về lao động sản xuất, ổn

định cuộc sống. Các địa phương cũng tích cực xây dựng các chuyên mục truyền

hình bằng tiếng Mông, Dao với nội dung phản ánh trực tiếp sinh hoạt hàng ngày

của đồng bào, trong đó tập trung tuyên truyền gương làm kinh tế giỏi, các chương

trình văn nghệ bằng tiếng Mông, Dao, tổ chức các đội chiếu bóng lưu động, các

đoàn nghệ thuật phục vụ đồng bào. Thông qua các dịp lễ, Tết cổ truyền, các địa

114

phương vận động đồng bào tham gia các hoạt động vui chơi, văn hoá văn nghệ

nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền

đặc biệt quan tâm phát huy vai trò của người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc

thiểu số, phát huy vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở theo tinh thần của Chỉ thị số

06/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Qua đó, kịp thời ngăn chặn và giảm cơ

bản tình trạng di cư tự do, từng bước ngăn chặn việc truyền đạo trái pháp luật và

tình trạng phá rừng làm nương rẫy trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Cùng với công tác tuyên truyền, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân và lực lượng

chức năng các địa phương đã tích cực đấu tranh chống lại các hoạt động truyền đạo

trái pháp luật ở vùng đồng bào miền núi Đông Bắc.

Trước thực trạng ở một số huyện, xã, các hộ theo đạo Tin Lành trái pháp luật

treo thánh giá bằng vải có kích thước và quy cách giống nhau, tự tổ chức nhóm lễ

vào sáng chủ nhật hàng tuần, đọc kinh thánh và hát thánh ca, Tỉnh uỷ các địa

phương đã tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Tại tỉnh Hà Giang, với sự vào

cuộc tích cực của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân, các lực lượng chức năng và sự ủng hộ

của quần chúng nhân dân, số hộ đồng bào dân tộc Mông, Dao theo đạo Tin Lành

trái pháp luật đã giảm dần. Tính từ năm 2004 đến 2010, các lực lượng vũ trang của

tỉnh đã thực hiện 9 nghiệp vụ đấu tranh với hoạt động tuyên truyền trái pháp luật,

ngăn chặn 25 vụ tụ tập học đạo trái phép, thu giữ 350 tài liệu trái phép, 24 băng đĩa

hình có nội dung truyền đạo trái pháp luật, tuyên truyền thành lập “Vương quốc

Mông” [55].

Công tác phòng, chống đấu tranh chống các loại tội phạm, bảo vệ chủ quyền

an ninh biên giới được đẩy mạnh và thu được nhiều kết quả tích cực.

Vùng biên giới nước ta nói chung, tuyến biên giới của miền núi Đông Bắc

nói riêng có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, đối ngoại và an ninh quốc phòng.

Đây là nơi cư trú chủ yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, địa hình

phức tạp, hẻo lánh, thời tiết khắc nghiệt, cuộc sống mọi mặt của đồng bào rất khó

khăn, thiếu thốn, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu, đội ngũ cán bộ ở

thôn, bản vừa thiếu, vừa hạn chế về năng lực lãnh đạo, trình độ quản lý vận động

quần chúng. Cùng với đó, bọn buôn lậu qua biên giới, buôn bán phụ nữ trẻ em, bọn

115

lâm tặc, truyền đạo trái pháp luật, đặc biệt là các thế lực thù địch, phản động từng

ngày, từng giờ lợi dụng xâm nhập, kích động, lôi kéo đồng bào, tập hợp lực lượng

nhằm chống phá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Trước tình hình đó, thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị, các địa phương đã cụ thể hoá nghị quyết vào tình hình thực tiễn của địa phương và tổ chức thực hiện có hiệu quả.

Với quan điểm, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, công tác bảo vệ Tổ quốc được Đảng bộ, chính quyền các địa phương ở các tỉnh miền núi Đông Bắc xác định là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ đó, công tác vận động quần chúng nhân dân tham gia là một trong những việc làm quan trọng nhất. Nhận thức được điều này, trong những năm 2006 - 2010, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền các địa

phương, công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia bảo vệ Tổ quốc được đẩy mạnh. Đồng thời, kết hợp sự hỗ trợ đầu tư của Chính phủ, các bộ ngành Trung ương, nguồn ngân sách địa phương và phát huy nội lực của nhân dân, các địa phương đã tập trung ưu tiên đầu tư cho các xã biên giới. Đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng gắn với việc bảo vệ đường biên, cột mốc, xây dựng phong trào quần chúng như “Tổ an ninh tự quản thôn bản”, “phong trào thanh niên làm chủ đường biên”, trên tuyến biên giới; tăng cường xây dựng củng cố cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo. Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào ở vùng biên giới ngày càng được cải thiện theo hướng bền vững.

Tiểu kết chương 2

Nhờ các chính sách hỗ trợ, đầu tư của Trung ương và địa phương cùng sự nỗ

lực phấn đấu của bà con các dân tộc nên vùng đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều đổi

thay rõ nét. Một số vùng đã có những bước phát triển theo hướng hàng hóa, hình

thành những vùng chuyên canh, trang trại. Những nơi khó khăn đang được quy

hoạch, sắp xếp lại, hỗ trợ sản xuất, giúp đồng bào định canh, định cư ổn định cuộc

sống. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thay đổi rõ rệt. Giá trị văn hóa truyền thống các

dân tộc được bảo tồn và phát huy; Hệ thống trường, lớp học và trạm y tế ngày càng

được hoàn thiện.

116

Mặc dù kết quả đạt được là rất lớn, song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần tiếp

tục được khắc phục như: Các chính sách vẫn theo tư duy nhiệm kỳ, thiếu gắn kết giữa

các giải pháp ngắn hạn với trung hạn và dài hạn; nhiều chính sách đã kết thúc nhưng

mục tiêu chưa đạt do việc cấp vốn không đủ; nhiều chính sách còn chồng chéo, cách

thức đầu tư, hỗ trợ chưa hợp lý, chưa khuyến khích người dân tự vươn lên; việc phân

công chủ trì chỉ đạo thực hiện giữa các Bộ, ngành đối với một số chính sách chưa

chặt chẽ, hợp lý; công tác chỉ đạo, thực hiện ở một số địa phương còn lúng túng;…

Để nâng cao hơn nữa hiệu quả các chính sách hỗ trợ, đầu tư cho vùng dân tộc

thiểu số, Đảng và Nhà nước cần có những định hướng lớn như: Tập trung xây dựng

cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho vùng dân tộc và miền núi, nhất là các công trình

trọng điểm để phục vụ đời sống và sản xuất. Giải quyết tốt vấn đề đất ở, đất sản xuất,

nước sinh hoạt cho người dân vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn cũng như

tình trạng di dân tự do. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, đội ngũ cán bộ

làm công tác dân tộc từ Trung ương đến các địa phương. Nâng cao chất lượng giáo

dục và đào tạo, chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân, chất lượng nguồn nhân lực

để đảm bảo sự phát triển bền vững của vùng dân tộc và miền núi. Cần đảm bảo

nguồn lực đầu tư cho các chính sách đã được ban hành, tránh đầu tư dàn trải, lãng

phí; điều chỉnh lại cơ chế quản lý thực hiện chính sách dân tộc theo hướng xây dựng

chương trình, chính sách tổng hợp, đa mục tiêu, dài hạn.

117

Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM VỀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010

3.1. MỘT SỐ NHẬN XÉT 3.1.1. Thành tựu và nguyên nhân

3.1.1.1. Đánh giá thành tựu

Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”

giữa các dân tộc là mục tiêu và chính sách xuyên suốt, nhất quán của Đảng và Nhà

nước Việt Nam. Điều đó không chỉ xuất phát từ yêu cầu phải giữ vững khối đại

đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia mà chính là xuất phát

từ bản chất của chế độ của dân, do dân và vì dân.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, Đảng và Nhà nước

luôn coi trọng vấn đề phát huy nội lực của vùng đồng bào dân tộc thiểu số thông

qua các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư; đồng thời, huy động sự hợp tác, giúp đỡ

của các vùng khác, của nhân dân cả nước đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số

miền núi Đông Bắc Việt Nam.

Trong những năm 1996 - 2010, quá trình thực hiện chính sách dân tộc

của Đảng tại vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam đã đạt được một số ưu điểm

nổi bật sau:

Một là: Nhận thức của Đảng và các Đảng bộ địa phương về vị trí, vai trò

của chính sách dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc ngày càng rõ nét hơn,

ngày càng coi vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc là vấn đề “chiến lược, cơ bản, lâu

dài” của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước không chỉ vì lợi ích của các dân

tộc thiểu số, mà còn vì cộng đồng, vì cả nước; không những là vấn đề đối nội mà

còn liên quan tới cả đối ngoại. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước là chính

sách toàn diện, tác động đến tất cả các lĩnh vực chính trị - xã hội, kinh tế, quốc

phòng và môi trường sinh thái của cả nước.

118

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước

những cơ hội và thách thức mới, vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc đã có những

diễn biến phức tạp ở một số vùng, trong đó có vùng miền núi Đông Bắc Việt

Nam. Các thế lực thù địch tìm mọi cách chống phá cách mạng, phá hoại tình đoàn

kết, thống nhất giữa các dân tộc. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã kịp

thời hoạch định đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn vùng đồng

bào dân tộc.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định:

“Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn. Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết, tương

trợ” giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

nước” [19, tr.125].

Đại hội IX (2001), Đại hội X (2006) của Đảng một lần nữa khẳng định và

nhấn mạnh chủ trương coi vấn đề dân tộc có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự

nghiệp cách mạng Việt Nam.

Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong

sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam

bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng nhau

thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [24, tr.121].

Đại hội nêu định hướng:

Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm

nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá,

tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt

chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng

biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và

xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn

phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng. Củng cố và nâng cao

chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số;

động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc.

Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là

119

người dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền

núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân

tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ

dân tộc [24, tr.122].

Với định hướng này, chính sách dân tộc thực hiện trên các lĩnh vực phát triển

kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng được đẩy mạnh. Tại Đại hội XI

(2011), Đảng ta đã có thêm một bước phát triển tư duy quan trọng với việc chuyển

từ “cùng tiến bộ” [24, tr.121] sang “cùng phát triển” [25, tr.81], tức là đã có sự điều

chỉnh, mặc dù chỉ là cách diễn đạt, cho chuẩn xác và phù hợp hơn.

Điểm lại sự đổi mới tư duy trong quá trình hoạch định chính sách dân tộc của

Đảng trên đây, cho phép tác giả khẳng định: đây là một bước ngoặt đáng ghi nhận

của Đảng trong đổi mới tư duy, nhận thức về vai trò của chính sách dân tộc đối với

vùng dân tộc và miền núi.

Thực ra, chính sách dân tộc không phải đến giai đoạn 1996 - 2010 mới được

đặt ra, mà đã được quan tâm từ rất lâu. Từ khi ra đời đến nay, Đảng và Nhà nước Việt

Nam luôn xác định vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược của cách mạng trên nền tảng

chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong từng giai đoạn cách mạng,

vấn đề dân tộc được nhận thức và giải quyết theo các quan điểm cụ thể, phù hợp với

tình hình thực tiễn đặt ra. Từ Đại hội I đến Đại hội X của Đảng, vấn đề dân tộc luôn

được quan tâm và không thể thiếu trong định hướng quan điểm, đường lối giải quyết.

Giai đoạn 1996 - 2010, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã quan tâm nhiều hơn

đến lĩnh vực này. Điều đó được thể hiện trong nhiều văn bản đã được tác giả hệ

thống hoá ở chương 1, chương 2 của luận án. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ

bảy Ban chấp hành Trung ương khoá IX về công tác dân tộc nêu lên 5 quan điểm, 5

nhiệm vụ và 4 giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn công tác dân tộc trong thời kỳ mới.

Nghị quyết cho rằng “nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị, các

cấp, các ngành và toàn thể xã hội về vị trí, nhiệm vụ của công tác dân tộc” [23,

tr.41] là giải pháp quan trọng nhất. Những chủ trương, định hướng lớn của Đảng về

chính sách dân tộc đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các chương trình,

dự án nhằm phát triển kinh tế - xã hội tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên cả

120

nước nói chung và vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam nói riêng. Từ đó, mang lại

lợi ích thiết thực cho nhân dân các dân tộc, đảm bảo cho các tỉnh miền núi phát triển

bền vững trên cơ sở ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, củng cố

quốc phòng - an ninh.

Vấn đề bình đẳng dân tộc trở thành mối quan tâm hàng đầu và giữ vị trí

chiến lược trong tổng thể công tác dân tộc. Chính sách dân tộc của Đảng hướng tới

mục tiêu đảm bảo quyền bình đẳng và rút ngắn khoảng cách chênh lệch về sự phát

triển giữa đồng bào dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, giữa miền núi với miền xuôi.

Trong thực tế, các cấp, các ngành, các địa phương luôn coi trọng vấn đề bình đẳng

giữa các dân tộc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Hiện nay, trước tác động từ

mặt trái của nền kinh tế thị trường, khoảng cách giàu - nghèo, sự phân biệt giữa

miền núi - miền xuôi ngày càng thêm sâu sắc; nhu cầu bình đẳng trong phát triển

của mọi vùng, mọi dân tộc và mọi người dân đang là một thách thức; yêu cầu bảo

vệ môi trường, bản sắc văn hóa và những giá trị truyền thống ngày càng đặt ra cấp

bách; cạnh tranh nguồn lực cũng trở nên gay gắt hơn. Tình hình đó đặt ra yêu cầu

bức thiết cần phải đổi mới căn bản công tác hoạch định chính sách dân tộc nhằm

đáp ứng yêu cầu thực tiễn, hướng tới thực hiện quyền bình đẳng dân tộc một cách

toàn diện, tạo tiền đề để miền núi tiến kịp miền xuôi.

Trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở các tỉnh miền núi

Đông Bắc, Đảng đã có những đổi mới trong nhận thức về thực hiện nguyên tắc bình

đẳng dân tộc. Đó không chỉ đơn giản là sự công bằng, bình đẳng trong phân phối

thu nhập, lợi ích kinh tế mà còn là công bằng, bình đẳng về cơ hội phát triển kinh tế,

văn hóa, giáo dục đối với cá nhân, cộng đồng.

Đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn đổi mới, nhận thức của Đảng

về vấn đề dân tộc gắn với sự ổn định, phát triển bền vững của các tỉnh miền núi

Đông Bắc ngày càng được định hình rõ nét. Khi giải quyết vấn đề dân tộc, cũng như

đấu tranh chống sự chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch, đòi hỏi phải nhìn nhận

vấn đề dân tộc gắn chặt với tình hình chính trị, sự tồn tại, ổn định của quốc gia. Đặc

biệt, trong bối cảnh toàn cầu hoá với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng

thông tin, vấn đề dân tộc vượt qua khỏi phạm vi quốc gia và trở thành vấn đề quốc

121

tế. Tư tưởng dân tộc hẹp hòi, cực đoan đang kéo theo bạo lực gây ra những điểm

nóng trên thế giới, phá vỡ nhiều quốc gia. Do đó, khi giải quyết vấn đề dân tộc ở

miền núi Đông Bắc - nơi có đường biên giới kéo dài, nơi sinh sống chủ yếu của

đồng bào dân tộc thiếu số, phải chú ý đến công tác an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ

quyền biên giới lãnh thổ, chăm lo và phát huy tinh thần đoàn kết của đồng bào các

dân tộc vùng biên, phải “thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền

núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng, làm tốt công tác

định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới” [24, tr.122].

Có thể nói, vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo dễ cộng hưởng thành chủ đề

thời sự nóng bỏng trong đời sống chính trị - xã hội của mỗi quốc gia - dân tộc. Do

đó, Đảng phải nhận thức thấu đáo và giải quyết một cách đúng đắn, chuẩn xác vấn

đề này thông qua cơ chế, chính sách, vì lợi ích và quyền làm chủ của người dân, lợi

ích chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Hai là: Việc thực hiện chính sách dân tộc đã góp phần thúc đẩy kinh tế vùng

miền núi Đông Bắc phát triển

Việc thực hiện tốt chính sách dân tộc đã tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã

hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phát huy thế mạnh của miền núi, khai thác mọi

nguồn lực của từng địa phương, góp phần khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát

triển giữa các vùng, miền. Văn kiện Đại hội IX chỉ rõ, đối với trung du và miền núi

Bắc Bộ (Tây Bắc và Đông Bắc):

Phát triển mạnh cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, cây đặc sản,

chăn nuôi đại gia súc gắn với chế biến…

Phát triển công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, nông sản, lâm

sản, chú trọng chế biến xuất khẩu. Hình thành một số cơ sở công nghiệp

lớn theo tuyến đường 18 gắn với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Phát

triển nhanh các loại dịch vụ, chú trọng thương mại. Nâng cấp các tuyến

đường trục từ Hà Nội đi các tỉnh biên giới, hoàn thành các tuyến đường

vành đai biên giới và các đường nhánh. Phát triển thuỷ lợi nhỏ gắn với

thuỷ điện nhỏ, giải quyết việc cấp nước sinh hoạt và điện cho đồng bào

vùng cao [22, tr.185-186].

122

Kết quả tích cực nhất trên lĩnh vực kinh tế là góp phần chuyển dịch cơ cấu

kinh tế vùng dân tộc và miền núi theo hướng phát triển mạnh kinh tế hàng hoá, tăng

nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp trong cơ

cấu GDP.

Trong giai đoạn 2005 - 2008, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình toàn vùng

đạt 11,7%. Cơ cấu kinh tế vùng chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng

công nghiệp, dịch vụ; giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp. Năm 2010, tỷ trọng

ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 34,09%; công nghiệp - xây dựng chiếm

28,64%; dịch vụ chiếm 36,98%. Tính riêng tại tỉnh Lạng Sơn, năm 2008, tỷ trọng

ngành nông - lâm nghiệp chiếm 39,34%, công nghiệp - xây dựng chiếm 21,39%,

ngành dịch vụ chiếm 39,27% (so với năm 2000 là: 51,04%; 12,59%; 36,37%) [119,

tr.56-57]. Cơ cấu kinh tế vùng tiếp tục có sự chuyển dịch tương đối nhanh theo

hướng chuyển dịch từ sản xuất mang tính tự cấp tự túc sang hình thành một số vùng

sản xuất hàng hoá.

Thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, các tỉnh miền

núi Đông Bắc từng bước có sự điều chỉnh quan hệ sản xuất, cụ thể:

Đối với kinh tế Nhà nước: Các doanh nghiệp Nhà nước từng bước được sắp

xếp lại theo hướng tinh gọn và nâng cao hiệu quả hoạt động. Một số doanh nghiệp

đã thích ứng với cơ chế mới, vươn lên làm giàu, đóng góp vào ngân sách địa

phương và giải quyết việc làm cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số.

Đối với kinh tế tập thể: Các hợp tác xã đã hoàn thành thủ tục chuyển đổi theo

Luật hợp tác xã. Hầu hết các tỉnh đều có các hợp tác xã và xã viên là đồng bào dân

tộc tham gia. Ở các tỉnh như Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang…, đã có nhiều

hợp tác xã có 100% số xã viên là đồng bào dân tộc. Hợp tác xã nông, lâm nghiệp

Sơn Nam, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) thu hút 1.353 hộ/1.637 hộ tham gia

hợp tác xã, chiếm 83% số hộ toàn xã, trong đó có 40% là người dân tộc Sán Dìu,

Dao, tham gia và giải quyết việc làm cho 3.747 lao động. Với bản chất là tổ chức tự

trợ giúp và phát triển cộng đồng của người dân, gắn chặt với các địa bàn dân cư, các

hợp tác xã đã góp phần tạo ra việc làm, tăng thêm thu nhập, qua đó góp phần xoá

123

đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và văn hoá của đồng bào

vùng dân tộc và miền núi.

Đối với kinh tế tư nhân: Số lượng doanh nghiệp tư nhân ở các tỉnh miền núi

Đông Bắc tăng lên nhanh chóng sau khi có Luật doanh nghiệp ra đời. Năm 2010, số

cơ sở kinh tế cá thể sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp đã lên tới 118.053 cơ sở,

tăng hơn 2 lần so với năm 2000 [70, tr.282].

Đối với loại hình kinh tế trang trại: Loại hình kinh tế này phát triển nhanh

chóng cả về số lượng và quy mô. Đến năm 2010, toàn vùng đã có 2544 trang trại,

tăng 65,9% so với năm 2005. Đây cũng là khu vực kinh tế thu hút đông lao động

người dân tộc thiểu số, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào

địa phương [72, tr.309].

Cùng với việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kết cấu hạ tầng nông

nghiệp, nông thôn các tỉnh miền núi ngày càng được cải thiện.

Hệ thống đường giao thông liên tỉnh, liên huyện được nâng cấp. Hàng năm,

các tỉnh tiến hành bảo dưỡng, bảo đảm đi lại thuận tiện cả mùa khô và mùa mưa.

Nếu như năm 1990, mới có 35% số xã có đường giao thông đến trung tâm xã thì

đến 2001 tỷ lệ này đã đạt 97,3%, đặc biệt một số tỉnh đạt 100% như: Hà Giang,

Tuyên Quang, Quảng Ninh, Lạng Sơn [2, tr.139]. Sự phát triển của hệ thống giao

thông tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào tiếp cận thị trường, mở rộng giao lưu

văn hoá, giáo dục, y tế, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa miền núi và miền xuôi.

Một trong những thế mạnh của miền núi Đông Bắc được khai thác đúng

hướng là phát triển năng lượng. Tốc độ tăng trưởng ngành điện đạt 69%. Năm

2010, 100% tỉnh lỵ, thị xã, 98% số huyện, 64% số xã các địa phương đã có điện

lưới quốc gia [2, tr.139]. Bên cạnh đó, các địa phương cũng đẩy mạnh việc khai

thác thuỷ điện vừa và nhỏ, sử dụng năng lượng mặt trời… Hệ thống điện lưới về tận

thôn bản đã góp phần nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho đồng bào các dân

tộc, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh.

Để giảm bớt khó khăn trong sản xuất và sinh hoạt cho đồng bào, nhiều công

trình thuỷ lợi kết hợp thuỷ điện có quy mô vừa và nhỏ, kết hợp thuỷ lợi với giải

quyết nước sinh hoạt cho đồng bào đã được xây dựng. Những nơi có địa hình cao,

124

Nhà nước đã đầu tư thuỷ lợi nhỏ, đồng thời vận động đồng bào các dân tộc đào ao,

hồ để chủ động tưới tiêu, phục vụ sản xuất. Đối với Hà Giang - tỉnh có khó khăn

đặc biệt về nước sản xuất và nước sinh hoạt, Thủ tướng Chính phủ đã đầu tư xây

dựng 30 hồ treo tại 4 huyện vùng cao: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ.

Thông qua các chương trình, dự án, nhất là Chương trình 135, cơ sở vật chất

của vùng miền núi Đông Bắc được nâng lên rõ rệt. Hệ thống các trường, trạm được

xây dựng khang trang, thiết bị phục vụ hoạt động được đầu tư đồng bộ. Các trường

phổ thông dân tộc nội trú được đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho con

em các dân tộc thiểu số đến lớp.

Trong sản xuất nông, lâm nghiệp: Sự phát triển của kết cấu hạ tầng nông

nghiệp, nông thôn miền núi đã tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Với sự

đổi mới chính sách nông nghiệp, lâm nghiệp và tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa

học kỹ thuật vào sản xuất, bộ mặt nông thôn miền núi có sự thay đổi theo hướng

tích cực:

Về trồng trọt, với quan điểm tập trung khai thác tiềm năng ở khu vực có điều

kiện, những vùng sản xuất lương thực kém hiệu quả cần chuyển sang phát huy các

thế mạnh như trồng rừng, phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi.

Nhờ quan điểm đúng đắn trên, mặc dù diện tích đất nông nghiệp bị thu

hẹp nhưng sản xuất lương thực miền núi vẫn đảm bảo. Giá trị sản xuất nông

nghiệp năm 2010 tại 4 tỉnh miền núi Đông Bắc đạt 3825,1 tỷ đồng. Bình quân

lương thực đầu người tăng từ 289,1kg/năm năm 2000 lên 415 kg/năm năm 2010,

tăng 69,6% [72, tr.316].

Các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả tập trung được hình

thành với nhiều sản phẩm được xuất khẩu ra thị trường thế giới. Trên địa bàn các

tỉnh miền núi Đông Bắc, vùng sản xuất chè gắn với cơ sở chế biến, tập trung chủ

yếu ở tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng; sản xuất hồi ở tỉnh Lạng Sơn….

Bên cạnh đó, nhiều vùng cây ăn quả được hình thành và phát triển nhanh như cam

(Hà Giang, Tuyên Quang), quýt (Bắc Kạn), na (Lạng Sơn),…

Về chăn nuôi: Trước đây, chăn nuôi gia súc chủ yếu phục vụ cho nhu cầu

cung cấp sức kéo, đến năm 2010, nhiều địa phương đã phát triển theo hướng sản

125

xuất hàng hoá. Quy mô đàn gia súc có sự phát triển mạnh mẽ. Năm 2010, số lượng

đàn trâu là 486,7 nghìn con [72, tr.377], đàn bò là 300,7 nghìn con [72, tr.379]. Sản

lượng thực phẩm nhờ đó cũng tăng cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản không ngừng được mở rộng. Năm 2010 đạt

22 nghìn ha, trong đó, tỉnh Quảng Ninh có diện tích lớn nhất, đạt 19,1 nghìn ha. Giá

trị sản xuất thuỷ sản năm 2010 đạt 671,2 tỷ đồng [72, tr.410].

Lâm nghiệp: Nghề rừng được coi là một thế mạnh của toàn vùng. Trong thời

kỳ đổi mới, chính sách phát triển rừng được thực hiện theo hướng trồng mới, kết

hợp với tái sinh tự nhiên và chú trọng bảo vệ rừng đầu nguồn. Đến năm 2010, tổng

diện tích đất rừng toàn vùng là 1.501,5 nghìn ha, trong đó, trồng mới 69,5 nghìn ha,

tỷ lệ độ che phủ đạt 50% [72, tr.386]. Đây là hướng đi đúng, kết hợp bảo vệ đi đôi

với sản xuất hàng hoá từ rừng. Thực tế cho thấy, nhiều vùng dân cư đã có thể sống

bằng nghề rừng, trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng, khai thác lâm nghiệp để đổi lấy

lương thực và các sản phẩm hàng hoá khác.

Với kết quả đạt được ở miền núi Đông Bắc trên các lĩnh vực sản xuất nông,

lâm nghiệp, thuỷ sản chứng tỏ việc ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật,

giống, cây trồng mới vào sản xuất đã mang lại hiệu quả thiết thực, bước đầu tháo gỡ

những khó khăn trong vấn đề lương thực, bảo vệ và tăng độ che phủ của rừng, tăng

giá trị các sản phẩm hàng hoá.

Sản xuất công nghiệp: Đây là lĩnh vực được Đảng bộ, chính quyền các địa

phương rất quan tâm. Trên quan điểm, công nghiệp phát triển là cơ hội để thúc đẩy

sản xuất nông, lâm nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo tiền đề đẩy

mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn miền núi, tạo việc làm,

tăng thu nhập cho đồng bào, các tỉnh miền núi Đông Bắc đã tập trung đầu tư, phát

triển các ngành công nghiệp: công nghiệp khai thác, công nghiệp năng lượng, công

nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng. Giá trị sản xuất công

nghiệp năm 2010 đạt 85.797,9 tỷ đồng, trong đó, tỉnh Quảng Ninh đạt mức cao nhất

với 80.347,6 tỷ đồng [72, tr.438].

Về thủ công nghiệp: Bên cạnh việc chú trọng mở mang các ngành nghề truyền

thống như dệt thổ cẩm, đan lát tre, nứa, rèn, chạm khắc trang sức bằng bạc…, các địa

126

phương quan tâm đầu tư, mở rộng phát triển các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Đây là

hướng đi đúng, góp phần tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào các dân tộc

thiểu số trong vùng. Tuy nhiên, do năng lực sản xuất hạn chế, mẫu mã, chủng loại

chưa phong phú nên tốc độ phát triển các ngành thủ công nghiệp thấp.

Về thương mại, dịch vụ: Trong nền kinh tế tự cấp, tự túc, hệ thống chợ phiên

tại các địa phương đã tạo điều kiện cho người dân trao đổi về một số sản phẩm thiết

yếu như dầu hoả, muối ăn… Thông qua các chương trình, dự án, hệ thống chợ

phiên được đầu tư xây dựng, phát triển rộng khắp. Đó không chỉ là thị trường trao

đổi hàng hoá mà còn là nơi giao lưu tình cảm, sinh hoạt văn hoá của đồng bào các

dân tộc miền núi. Việc thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước vận chuyển phục vụ

đồng bào miền núi và vùng dân tộc thiểu số đã mang lại những kết quả quan trọng,

góp phần bình ổn giá cả thị trường khu vực và cả nước, giảm bớt khó khăn, cải

thiện đời sống đồng bào.

Phát huy thế mạnh đường biên giới dài, các địa phương đã đầu tư hàng trăm

tỷ đồng để xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ cho hoạt động thông thương ở trong

và ngoài nước. Nhờ vậy, hoạt động xuất, nhập khẩu tăng mạnh, đặc biệt là tỉnh

Lạng Sơn. Kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1996-

2000 đạt bình quân 391,8 triệu USD/năm, giai đoạn 2000- 2003 bình quân đạt 461

triệu USD/năm, chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của các tỉnh

biên giới phía Bắc với thị trường Trung Quốc [60, tr.78]. Có thể nói, phát triển kinh

tế cửa khẩu đã tác động mạnh đến thị trường nội địa cũng như hoạt động du lịch và

các ngành dịch vụ khác.

Miền núi Đông Bắc với nhiều cảnh đẹp tự nhiên nổi tiếng, sự đa dạng trong

văn hoá tộc người và mạng lưới giao thông thuận lợi đã tạo ra thế mạnh của vùng

trong phát triển du lịch. Ngoài ra, các địa phương có đường biên giới đã trở thành

điểm chung chuyển khách du lịch và giao lưu thương mại với Trung Quốc.

Ba là: Quá trình thực hiện chính sách dân tộc đã góp phần củng cố hệ thống

chính trị và an ninh - quốc phòng

Thực hiện quan điểm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là Nhà nước

của dân, do dân và vì dân, các dân tộc đều có quyền tham gia trực tiếp vào các cơ

127

quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức quần chúng. Thông qua hoạt động của Nhà

nước, đồng bào các dân tộc thiểu số phản ánh được nguyện vọng và những định

hướng phát triển của dân tộc mình. Trong thực tế, quyền bình đẳng giữa các dân tộc

đã được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Khối đại đoàn kết toàn

dân tộc tiếp tục được củng cố.

Sự bình đẳng về chính trị thể hiện trước hết ở việc đồng bào các dân tộc đã

thực hiện quyền tham chính của mình thông qua thực thi dân chủ đại diện và dân

chủ trực tiếp. Ở miền núi Đông Bắc, trong Hội đồng nhân dân các cấp, nhất là cấp

xã, đại biểu người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ lớn hơn và thường có khá đủ đại

biểu các dân tộc thiểu số tại địa phương. Trong vùng có ít nhất khoảng 50% cán

bộ cấp tỉnh, 60% cán bộ cấp huyện và một tỷ lệ đáng kể cán bộ cấp xã là người

dân tộc thiểu số. Tại tỉnh Quảng Ninh, mặc dù số dân người dân tộc thiểu số là

113.194 người, chỉ chiếm 11,6% dân số toàn tỉnh nhưng đội ngũ cán bộ người dân

tộc thiểu số công tác tại các cơ quan nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã luôn

được tăng cường. Việc xây dựng lực lượng cốt cán các Già làng, Trưởng bản,

Người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc được quan tâm đúng mức. Tính đến

năm 2009, toàn tỉnh có 3.676 đảng viên là người dân tộc thiểu số; Số lượng cấp uỷ

viên là 348 người, đạt 12,3%. Số lượng đại biểu người dân tộc thiểu số tham gia

Hội động nhân dân cấp huyện và Hội đồng nhân dân cấp xã là 799 người, đạt tỷ lệ

17,1%; Số lượng đoàn viên Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh người dân tộc

thiểu số là 7.116 người. Số lượng hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ người dân tộc

thiểu số là 18.117 người [106, tr.6].

Bình đẳng dân tộc cũng đặt ra yêu cầu thực hiện công bằng xã hội giữa các

tộc người, giữa miền núi và miền xuôi. Thông qua các chương trình, dự án của Nhà

nước và các tổ chức phi Chính phủ, các địa phương đã thực hiện chính sách ưu tiên

đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở vùng miền núi và dân tộc. Thực tế cho thấy, thực

hiện công bằng không có nghĩa là cào bằng, dàn đều, bình quân chủ nghĩa mà phải

quan tâm, chú ý đến đặc điểm, điều kiện phát triển riêng của mỗi vùng, miền để có

chính sách đầu tư hợp lý nhằm tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi cho các dân tộc thiểu

128

số đặc biệt khó khăn nhanh chóng hoà nhập cùng sự phát triển với cộng đồng các

dân tộc trong cả nước.

Miền núi Đông Bắc có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc

phòng. Đặc biệt, các thế lực thù địch luôn sử dụng khu vực biên giới, vùng núi để

xâm nhập, thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gây chia rẽ, phá hoại khối đại

đoàn kết dân tộc, tuyên truyền, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà

nước. Vì vậy, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng an ninh vùng biên

giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những chính sách được Đảng và

Nhà nước đặc biệt quan tâm trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc

tại các địa phương.

Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, các địa phương luôn

quan tâm tới công tác giữ vững ổn định chính trị, củng cố, tăng cường sức mạnh

quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra các vụ việc lớn. Khối đại đoàn

kết toàn dân tộc được củng cố. Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch được

phát hiện và ngăn chặn kịp thời. An ninh biên giới được đảm bảo, mối quan hệ giữa

các dân tộc ở biên giới Việt Nam - Trung Quốc được duy trì tốt đẹp. Đồng thời, các

địa phương cũng tăng cường quan hệ quân dân, thực hiện thế trận quốc phòng toàn

dân để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bốn là: Thực hiện tốt chính sách dân tộc tạo tiền đề thúc đẩy văn hoá - xã

hội các tỉnh miền núi Đông Bắc phát triển

Quá trình thực hiện chính sách dân tộc không những thúc đẩy kinh tế phát

triển, góp phần nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số, mà còn tạo

điều kiện phát triển văn hoá - xã hội như: giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khoẻ

cộng đồng, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc...

Về giáo dục đào tạo

Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Sự thịnh suy

của giáo dục có quan hệ trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã

hội của đất nước.

Thực tế tại các địa phương cho thấy, hầu hết các vùng đồng bào dân tộc thiểu

số, trình độ dân trí thấp là một trong những nguyên nhân cơ bản và chủ yếu nhất cản

129

trở sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Trong những năm 1996-2010, để thúc đẩy

phát triển kinh tế - xã hội tại vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số, Đảng và

Nhà nước đã triển khai nhiều chương trình, dự án. Tuy nhiên, trình độ học vấn thấp

của đồng bào đã hạn chế đến việc tiếp thu các kiến thức văn hoá và khoa học - kỹ

thuật hiện đại, giảm hiệu quả thực hiện các chương trình, dự án, ảnh hưởng không

nhỏ đến việc vận dụng chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn.

Để nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào, Chính phủ đã ban hành nhiều

chính sách như: miễn giảm học phí, cấp không giấy viết, sách giáo khoa, thực hiện

chính sách cử tuyển, ưu tiên điểm cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số, miền

núi khi thi vào các trường Đại học, chuyên nghiệp… Vì vậy, sự nghiệp giáo dục -

đào tạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Đông Bắc đã có bước tiến bộ vượt

bậc. Giáo dục mầm non đã phát triển sâu rộng từ các thị xã, thị trấn đến các vùng

nông thôn. Tại các thôn, bản đều có trường hoặc các lớp cấp I. Nhiều xã, cụm xã có

trường tiểu học và trung học cơ sở. Tất cả các huyện đều có trường trung học phổ

thông. Hệ thống các trường dân tộc nội trú từ Trung ương đến địa phương đã tạo

điều kiện cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa có thêm

nhiều cơ hội học tập. Hiện nay, toàn vùng có 6 trường dân tộc nội trú cấp tỉnh, một

số trường cấp huyện. Ngoài ra, để tạo thuận lợi cho con em các dân tộc thiểu số học

tập, mô hình trường nội trú, trường bán trú dân nuôi tại các xã và cụm xã được nhân

rộng ở nhiều địa phương. Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học tại các nhà trường

cũng được quan tâm đầu tư. Đến năm 2010, toàn vùng có 1744 trường phổ thông

với 560.974 học sinh [70, tr.627-641].

Bên cạnh hệ thống giáo dục quốc dân, Nhà nước đã có chính sách cử tuyển

đối với con em các dân tộc thiểu số. Đây chính là lực lượng cán bộ nguồn cho các

địa phương trong thời gian tới.

Một trong những yếu tố làm hạn chế sự phát triển giáo dục ở nhiều vùng dân

tộc là do ngôn ngữ bất đồng, nhiều trẻ em chưa thông thạo tiếng mẹ đẻ lại phải học

tiếng phổ thông, do đó hiệu quả học tập chưa cao. Nhằm khắc phục những khó khăn

đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên soạn 6 bộ sách và chương trình dạy 8 thứ chữ

dân tộc, trong đó có chữ của người Thái, người Mông ở vùng Đông Bắc. Với chủ

130

trương mới này, năm 2010 các tỉnh miền núi Đông Bắc đã thu hút 345.388 học sinh

các cấp người dân tộc thiểu số đến trường [70, tr.645].

Với chính sách đãi ngộ giáo viên của Đảng và Nhà nước, đội ngũ giáo viên

là người dân tộc thiểu số tại chỗ được tăng cường về số lượng, ngày càng đáp ứng

tốt hơn sự nghiệp giáo dục, đào tạo ở miền núi Đông Bắc. Năm 2010, tổng số giáo

viên toàn vùng là 43.118 người, trong đó số giáo viên dân tộc thiểu số 21.588 người

(chiếm 50,1%) [70, tr.640]. Trình độ của đội ngũ giáo viên các cấp học cũng ngày

càng được nâng cao. Tại Cao Bằng, theo thống kê năm 2010, tỷ lệ đạt chuẩn về

trình độ đào tạo của giáo viên các cấp học: mầm non 95%, tiểu học 98,9%, Trung

học cơ sở 98%, Trung học phổ thông 99% [14].

Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được quan tâm

Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và phát triển rộng khắp với 100% số xã

có cán bộ y tế, 100% số xã có trạm y tế; chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân,

công tác phòng, chống các bệnh sốt rét, bướu cổ, bệnh phong… được nâng cao. Số

trẻ em được tham gia chương trình tiêm chủng mở rộng đạt trên 95%. Thực hiện

chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cán bộ và nhân dân các xã đặc biệt

khó khăn được đi khám bệnh không mất tiền tại các cơ sở y tế Nhà nước, được

giảm một phần viện phí khi đi khám, chữa bệnh, người nghèo được cấp thẻ bảo

hiểm y tế. Các chương trình dân số - kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc trẻ em có

hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, phòng chống suy dinh dưỡng đang được triển khai và

phát huy hiệu quả. Đồng thời, công tác tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh tại vùng

đồng bào dân tộc thiểu số cũng được quan tâm.

Bản sắc văn hoá các dân tộc được bảo tồn và phát huy

Công tác văn hoá trong những năm đổi mới, đặc biệt từ sau Nghị quyết

Trung ương 5 khoá VIII của Đảng, có nhiều chuyển biến tích cực. Những giá trị

văn hoá tốt đẹp của các dân tộc được bảo tồn và phát huy, mức thụ hưởng văn hoá

của đồng bào các dân tộc Đông Bắc từng bước được nâng lên. Đội ngũ cán bộ làm

công tác văn hoá thông tin được quan tâm đào tạo.

Công tác sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu văn hoá dân tộc được tổ chức có hiệu

quả. Các địa phương đã thực hiện chủ trương khuyến khích các nghệ nhân truyền

131

nghề, đồng thời tiến hành phục dựng các lễ hội dân gian, các làn điệu dân ca dân tộc

Nùng, Tày, Mông, Dao,… Các sáng tác thơ, ca, kịch bằng ngôn ngữ Tày, Nùng, Dao,

Mông,… được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và xuất hiện trên sân

khấu ngày càng nhiều. Nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá trong chợ phiên, trong các

liên hoan ngày hội văn hoá các dân tộc được tổ chức thường xuyên.

Các địa phương cũng đã lập nhiều chương trình, dự án nhằm khôi phục,

trùng tu, tôn tạo và lưu giữ các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể. Với sự quan

tâm đó, các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đã trở thành những điểm du lịch

văn hoá thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc Đông Bắc ngày càng được nâng

lên. Hệ thống phát thanh truyền hình được mở rộng gắn với các tụ điểm văn hoá xã.

Các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình, đặc biệt là các chương trình

truyền hình bằng tiếng dân tộc, cấp báo chí cho các xã thuộc vùng sâu vùng xa được

triển khai đã đem lại hiệu quả thiết thực. Hoạt động giao lưu, văn hoá - thể thao -

thương mại - du lịch tại các địa phương có đường biên giới được tăng cường, góp

phần mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá.

3.1.1.2. Nguyên nhân của thành tựu

Một là, Đảng, Nhà nước đã nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của công

tác dân tộc vùng miền núi Đông Bắc trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nước.

Chính phủ đã ban hành một số chính sách nhằm đưa vùng miền núi Đông

Bắc trở thành một trong những vùng trọng điểm trong ưu tiên đầu tư phát triển

toàn diện trên các lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, phát huy

bản sắc dân tộc, bảo đảm an ninh quốc phòng, như: Quyết định số 02/1998/QĐ-

TTg, ngày 06-01-1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch

tổng thể phát triển kinh tế- xã hội vùng Đông Bắc giai đoạn từ nay đến năm 2010;

Quyết định số 186/2001/QĐ-TTg, ngày 07-12-2001 của Thủ tướng Chính phủ về

việc phát triển kinh tế - xã hội 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc, thời kỳ

2001- 2005; Quyết định số 27/2008/QĐ-TTg, ngày 05-02-2008 của Thủ tướng

Chính phủ về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế -

132

xã hội đối với các tỉnh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010. Đây là

điều kiện thuận lợi giúp các tỉnh miền núi Đông Bắc có bước phát triển mới. Đồng

thời, đó cũng là điều kiện để hệ thống chính trị cơ sở thực hiện tốt hơn chức năng

lãnh đạo và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tại

địa phương.

Hai là, hệ thống chính trị cơ sở đã có nhiều nỗ lực trong việc cụ thể hoá chủ

trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tại địa phương. Trong quá trình lãnh đạo,

chỉ đạo thực hiện, các địa phương luôn tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra,

giám sát việc thực hiện chính sách, thông qua đó, ngăn ngừa kịp thời, uốn nắn sai

lệch và phát hiện những vấn đề mới nảy sinh để chủ động giải quyết. Để thực hiện

tốt vai trò của hệ thống chính trị cơ sở, công tác cán bộ luôn được quan tâm đào tạo,

bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Ba là, nhận thức của đồng bào các dân tộc thiểu số về công tác dân tộc và

quan hệ dân tộc ngày càng được nâng lên. Đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng

hiểu rõ hơn trách nhiệm của bản thân trong việc đoàn kết, cùng nhau xây dựng và

bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, loại bỏ tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc

hẹp hòi, tư tưởng ban ơn, có thái độ chân thành, trọng thị, đoàn kết, thân ái, giúp đỡ

lẫn nhau giữa các dân tộc anh em.

3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân

3.1.2.1. Đánh giá hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện chính

sách dân tộc ở miền núi Đông Bắc còn một số hạn chế:

Thứ nhất: Ở một số địa phương, sự đầu tư của Nhà nước vào vùng đồng bào

dân tộc thiểu số còn dàn trải, chưa sát hợp đối tượng nên hiệu quả đầu tư thấp

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu là do thiếu vốn, thiếu

kiến thức và kinh nghiệm làm ăn, cơ sở hạ tầng yếu kém nên nền kinh tế vùng

đồng bào dân tộc thiểu số ở một số nơi còn mang tính tự cấp, tự túc. Đối với sản

xuất nông, lâm, ngư nghiệp, mặc dù đã chuyển sang nền kinh tế hàng hoá, sản

xuất tập trung, quy mô lớn. Song ở một số địa phương vẫn bộc lộ tính chất phân

tán, manh mún, tự cung, tự cấp, sản phẩm làm ra chưa nhiều, chưa chủ động được

133

đầu ra, giá thành sản phẩm không cao. Đối với sản xuất công nghiệp, mới chỉ

dừng lại chủ yếu ở ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến thô nên giá

trị sản phẩm không cao, khả năng cạnh tranh trên thị trường thấp. Các chương

trình, dự án, đặc biệt là chương trình 135 đã làm thay đổi bộ mặt miền núi, kết cấu

hạ tầng kỹ thuật đã được đầu tư, nâng cấp. Tuy nhiên, do đầu tư dàn trải, lãng phí,

thiếu trọng điểm, không nắm được đặc điểm của từng địa phương, từng vùng

khiến cho chất lượng công trình kém, gây khó khăn cho đời sống và sản xuất của

đồng bào.

Thông qua các chương trình, dự án, Nhà nước và các tổ chức quốc tế đã có

sự đầu tư trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng nhằm

mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi và miền xuôi, đẩy mạnh

công tác xoá đói giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, hiệu

quả mang lại còn thấp. Tỷ lệ đói nghèo còn cao, công tác xoá đói giảm nghèo

chưa vững chắc, nhiều nơi vẫn diễn ra hiện tượng tái nghèo, trong đó, tỉnh Hà

Giang nằm trong diện nghèo nhất nước. Chính sách chăm sóc sức khoẻ cho đồng

bào còn nhiều hạn chế, vấn đề khám chữa bệnh cho người nghèo chưa triệt để. Hệ

thống y tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều bất cập, số lượng bác sỹ trên

tỷ lệ dân cư còn thấp. Về công tác giáo dục, mặc dù được đầu tư về cơ sở hạ tầng

và trang thiết bị dạy - học nhưng vẫn còn thiếu thốn và lạc hậu. Sách tham khảo

còn thiếu chưa đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh.

Hiệu quả đào tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số của các trường dân tộc nội trú còn

thấp. Chất lượng dạy và học ở một số địa phương chưa cao, hiện tượng tái mù vẫn

còn diễn ra. Theo số liệu thống kê cho thấy, từ năm 2006-2010, huyện Lộc Bình

(Lạng Sơn), số giáo viên chưa đạt chuẩn tập trung ở cấp Mầm non: 10,8%, Trung

học cơ sở: 16,2%, tính trung bình cả bốn cấp học về số giáo viên chưa đạt chuẩn:

6,8%. Chất lượng đội ngũ giáo viên có ảnh hưởng trực tiếp tới việc học của học

sinh. Cấp học Mầm non, chất lượng giáo dục trẻ toàn diện, giỏi: 31,38%, chưa đạt

yêu cầu: 32,8%; học lực cấp Tiểu học, giỏi: 22,28%; yếu: 4,36%; Trung học cơ

sở, giỏi: 3,5%, yếu kém: 10,38%; cấp Trung học phổ thông và Giáo dục thường

xuyên, giỏi: 1,2%, yếu kém: 5,36% [119, tr.128].

134

Thứ hai: Chưa khai thác, phát huy tối đa những giá trị, truyền thống tốt đẹp

của đồng bào các dân tộc

Mặt trái của cơ chế thị trường làm nảy sinh những tác động tiêu cực đối với

nền văn hoá dân tộc. Tại các địa phương miền núi Đông Bắc, việc đầu tư cho văn

hoá thường chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng vốn đầu tư. Sở dĩ có hiện tượng

này vì nhiều nơi, nhiều cấp, nhiều ngành chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế, đấu

tranh chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch mà chưa chú trọng tới việc

nâng cao mức hưởng thụ văn hoá cho nhân dân. Việc hoạch định chủ trương về

giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc mới chỉ dừng lại ở những định hướng.

Chưa có phương hướng, giải pháp hữu hiệu để giữ gìn bản sắc văn hoá của các

dân tộc. Việc xây dựng các quy chế sinh hoạt văn hoá cộng đồng của Đảng còn

chậm. Tiêu chuẩn về danh hiệu “Làng văn hoá", “Tổ dân phố văn hoá" chủ yếu là

thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đảm bảo đoàn kết,

phát triển kinh tế - xã hội. Các yếu tố văn hoá tộc người chỉ được nhắc tới một

cách rất chung chung như: “có tụ điểm sinh hoạt văn hoá văn nghệ - thể dục - thể

thao, vui chơi giải trí ở cộng đồng, duy trì các sinh hoạt văn hoá, thể thao truyền

thống của dân tộc”, “thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc

tang…”. Việc đẩy mạnh giao lưu văn hoá với nước bạn bên cạnh những yếu tố

tích cực cũng xuất hiện những yếu tố tiêu cực trong giao lưu văn hoá quốc tế. Tại

Lạng Sơn, từ năm 2000 đến 2005, qua kiểm tra 750 điểm hoạt động văn hoá, đã

xử lý 324 trường hợp vi phạm, thu giữ và tiêu huỷ 1.799 băng video, 1.24 7.046

đĩa compac, băng cassette (trong đó có 1.601 đĩa hình đồi truỵ), 27.819 tranh ảnh

ngoài luồng… [60, tr 97].

Thứ ba: Phong tục tập quán lạc hậu, tình trạng di dân tự do của đồng bào

các dân tộc cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch đã ảnh hưởng đến hiệu

quả việc thực hiện chính sách dân tộc

Tình trạng du canh, du cư của đồng bào các dân tộc vẫn diễn ra, gây nhiều

khó khăn cho các địa phương. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, tỷ

suất xuất cư đi tỉnh khác của Cao Bằng là 48,8%, Lạng Sơn là 31,2% (rất cao so

với tỷ suất nhập cư, Cao Bằng là 8,5%, Lạng Sơn là 11,6%) [47, tr.77]. Trong đó,

135

số người di cư tự do chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số như Tày, Nùng,

Mông Dao. Trong những năm 1997- 1999, huyện Chi Lăng (Lạng Sơn) có khoảng

5000 khẩu di cư tự do thì 1015 khẩu thuộc dân tộc Nùng, huyện Cao Lộc (Lạng

Sơn) có khoảng 4000 khẩu di cư tự do thì dân tộc Nùng chiếm 70% [47, tr.88]. Sở

dĩ có tình trạng đó, một phần do tập quán canh tác của đồng bào còn lạc hậu, mặt

khác, do tác động của điều kiện môi trường sống ngày càng khó khăn đến việc

canh tác của đồng bào. Đồng bào di cư thường theo hai hướng, hoặc di cư nội

vùng từ tỉnh nọ sang tỉnh kia hoặc di cư vào Tây Nguyên. Việc di cư tự do của

một bộ phận đồng bào dẫn tới hiện tượng còn một số ít hộ chưa được thụ hưởng

các chính sách dân tộc; Do du canh du cư, việc thụ hưởng chính sách của đồng

bào gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, một số nơi chỗ ở của đồng bào còn tạm bợ,

đất sản xuất không có, phải tìm một khu đất mới để khai hoang nhưng rất manh

mún, thiếu nước sinh hoạt.

Chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước ta, trình độ dân trí thấp,

thiếu hiểu biết, thiếu thông tin của người dân tộc thiểu số chính là mảnh đất màu mỡ

cho các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc, chia rẽ khối

đại đoàn kết dân tộc. Nhiều phần tử phản động núp dưới danh nghĩa truyền giáo đã

lôi kéo đồng bào theo đạo Tin Lành, thực hiện âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết

dân tộc, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, gây mất ổn định

trật tự tại địa phương.

3.1.2.2. Nguyên nhân của hạn chế

Thứ nhất, miền núi Đông Bắc là địa bàn rộng, chia cắt, địa hình nhiều nơi

hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai,

lũ lụt. Đây là nguyên nhân khách quan dẫn đến tình trạng đói nghèo, lạc hậu, di

cư tự do.

Thứ hai, trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc

còn thấp, chủ yếu dựa nhiều vào tự nhiên; phương thức sản xuất và canh tác ở một

số nơi còn lạc hậu. Một bộ phận đồng bào có tâm lý ỷ lại vào sự trợ cấp của Nhà

nước. Điều này có ảnh hưởng không tốt đến công tác xoá đói giảm nghèo, nâng cao

đời sống của người dân.

136

Thứ ba, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vùng dân tộc,

miền núi đã thể hiện tầm chiến lược, tuy nhiên mục tiêu, nội dung của một số chính

sách bị chồng chéo trên cùng một địa bàn; có chính sách triển khai thực hiện không

phù hợp, chưa gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của từng

địa phương nhưng chậm được tổng kết đánh giá, điều chỉnh. Một số chính sách

không phù hợp với đặc điểm dân tộc về đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của vùng

và thiếu sự tham gia của cộng đồng. Chính vì vậy, hệ quả dễ nhận thấy nhất đó là

chính sách đã thực thi thiếu tính bền vững, tạo ra tính ỷ lại cho đối tượng được thụ

hưởng, hạn chế huy động các nguồn lực và phát huy nội lực của cộng đồng.

Thứ tư, tại một số địa phương, việc cụ thể hoá chủ trương, chính sách dân tộc

của Đảng và Nhà nước đôi khi còn chậm, triển khai thiếu cụ thể và đồng bộ, đơn

giản, thậm chí áp đặt làm hạn chế khả năng huy động tiềm năng nội lực của tộc

người và tính sáng tạo của đồng bào các dân tộc thiểu số. Công tác kiểm ra, giám

sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

chưa được tiến hành thường xuyên, nhất là sự tham gia trực tiếp của cộng đồng -

người được thụ hưởng và tác động bởi chính sách.

Thứ năm, hệ thống chính trị cơ sở còn bộc lộ một số yếu kém. Đội ngũ cán

bộ, đặc biệt là cán bộ người dân tộc thiểu số vừa thiếu, vừa yếu. Tỷ lệ cán bộ có

trình độ đại học, cao đẳng trở lên của toàn vùng miền núi phía Bắc chỉ chiếm

12,3%, thấp hơn nhiều so với các khu vực khác. Một số cán bộ công tác ở vùng

đồng bào dân tộc vừa yếu kém về trình độ, năng lực, lại không biết tiếng dân tộc,

thiếu am hiểu phong tục tập quán của đồng bào. Năng lực lãnh đạo, điều hành của

đội ngũ cán bộ, đảng viên cơ sở còn hạn chế về chuyên môn và năng lực công tác,

thiếu hiểu biết về văn hoá các dân tộc, coi chính sách dân tộc là “ban ơn”, giúp đỡ”,

“cứu trợ”, “bao cấp”, chưa cụ thể hoá chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng vào

tình hình thực tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Từ những thành tựu và hạn chế trên, vấn đề bức thiết đặt ra trong quá trình

lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc tại các tỉnh miền núi Đông Bắc là phải nghiên

cứu kỹ lưỡng những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng, từ đó kịp thời đề

ra những phương hướng, giải pháp đúng đắn nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh

137

của toàn vùng, từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa vùng miền núi dân

tộc Đông Bắc với các khu vực khác trong cả nước.

3.2. MỘT SỐ KINH NGHIỆM 3.2.1. Bám sát đặc điểm cấu trúc xã hội tộc người ở vùng miền núi Đông

Bắc để cụ thể hoá, vận dụng chủ trương, chính sách của Đảng cho phù hợp với

thực tiễn

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc phát triển

toàn diện vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Với chính sách dân tộc đúng đắn mà

nội dung cơ bản, có tính nguyên tắc là thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp

nhau cùng phát triển giữa các dân tộc đã được cụ thể hoá trong các nội dung về kinh

tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Hàng loạt các chính sách, chương trình, dự

án được thực hiện nhằm phát triển bền vững các vùng. Các chương trình xoá đói

giảm nghèo, hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn 135, chương trình xoá mù chữ và phổ

cập giáo dục tiểu học, chương trình trợ giá, trợ cước… được quan tâm. Bên cạnh

các chính sách chung, các chính sách, chương trình, dự án riêng cho vùng miền núi

Đông Bắc cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm nghiên cứu, hoạch định như:

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội vùng Đông Bắc đến năm 2010, Nghị

quyết số 37 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và đảm

bảo quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010…

Nhờ thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, các chương trình, dự án của

Đảng và Nhà nước, bộ mặt nông thôn miền núi nói chung, miền núi Đông Bắc nói

riêng đã có nhiều khởi sắc: Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần

tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp; đời sống vật

chất và tinh thần của đồng bào được nâng lên rõ rệt, kết cấu hạ tầng miền núi được

đầu tư, nâng cấp; sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá - xã hội có nhiều

chuyển biến tích cực, quốc phòng được giữ vững, an ninh - chính trị đảm bảo.

Tuy nhiên, cũng phải mạnh dạn đánh giá, các thành tựu phát triển miền núi

còn rất khiêm tốn, còn nhiều vấn đề đặt ra đang là thách thức rất lớn.

Đối với công tác giảm nghèo, trong 10 năm (1993 - 2002), miền núi Đông

Bắc đã đạt được thành tự to lớn. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 86,1% (1993) xuống còn

138

38,4% (2002). Tuy nhiên, thu nhập bình quân đầu người của vùng miền núi Đông

Bắc vẫn thấp so với cả nước, chỉ cao hơn vùng Tây Bắc. Năm 2003, thu nhập bình

quân đầu người của nhóm có thu nhập thấp nhất chỉ đạt 95.100 đồng/người/tháng.

Do vậy, hoạt động xoá đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế vẫn phải là hoạt động

ưu tiên trước hết đối với khu vực này.

Một đặc điểm dễ thấy là mật độ dân số ở miền núi thưa thớt, khoảng 50- 100

người/km². Vì vậy, có sự hạn chế về thị trường tại chỗ và về lao động, nhất là lao

động lành nghề. Theo thống kê về chất lượng lao động năm 1999 cho thấy, số lao

động có nghề nghiệp qua đào tạo là 467.449 người/4.195.227 người lao động, bằng

11% tổng số lao động ở vùng Đông Bắc. Tuy nhiên, trên thực tế, lực lượng lao động

có tay nghề chủ yếu là lao động ở các cơ quan hành chính, trong ngành giáo dục và

trong các cơ sở sản xuất công nghiệp, trong các nhà máy, hầm mỏ, khu gang thép.

Đối với ngành nông nghiệp và ở khu vực nông thôn, lực lượng lao động qua đào tạo

nghề còn hạn chế.

Miền núi Đông Bắc là vùng có nhiều dân tộc thiểu số cùng cư trú tạo nên sự

khác biệt, đa dạng về phương thức sản xuất, phong tục tập quán,… Tất cả điều này

tạo nên những nét độc đáo, đặc sắc, phong phú về văn hoá của đồng bào các dân

tộc. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi trong giao lưu, tiếp thu văn hoá, ngôn ngữ…

Bên cạnh những thuận lợi, những đặc điểm về tự nhiên, dân cư, văn hoá cũng gây

khó khăn, phức tạp trong quản lý kinh tế, văn hoá, đặc biệt là trong quản lý xã hội

tộc người. Những đặc điểm trên đây cũng biến đổi trước những tác động, thử thách

của quá trình toàn cầu hoá, của kinh tế thị trường.

Từ những đặc điểm đó, trong quá trình hoạch định chính sách dân tộc, cần

thể hiện tính thống nhất về nguyên tắc, nhưng đa dạng trong chủ trương và biện

pháp, chiếu cố đến từng vùng, từng tộc người.

Thực tế cho thấy, một loạt các chương trình khu vực liên quan đến các dân

tộc thiểu số đã được xây dựng như: Chỉ thị số 393-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Về Quy hoạch dân cư và tăng cường cơ sở hạ tầng, sắp xếp lại sản xuất ở vùng dân

tộc và miền núi (1996), Quyết định số 960-TTg của Thủ tướng Chính phủ Về định

hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm 1996-2000 phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh

139

miền núi phía Bắc (1996), Quyết định 186/2001/QĐ-TTg Về phát triển kinh tế - xã

hội ở 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc, thời kỳ 2001-2005 (2001),…

Thực hiện Quyết định 186/2001/QĐ-TTg với nhiều nội dung, căn cứ thực tế

địa phương, các Đảng bộ tỉnh đã vận dụng linh hoạt. Đối với Lai Châu, một tỉnh

nằm ở khu vực biên giới Tây Bắc là tỉnh có khó khăn về đất sản xuất, chương trình

186 thực hiện hỗ trợ tỉnh đầu tư 10.000ha; đối với vùng cao, núi đá Hà Giang, Cao

Bằng khó khăn về nước ăn được hỗ trợ 1,0 triệu đồng/hộ để xây bể chứa nước mưa

[119, tr.14].

Như vậy, có thể nói, điểm nổi bật trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà

nước Việt Nam những năm gần đây là dành sự ưu tiên cho đồng bào các dân tộc

thiểu số, nhất là các vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn ở vùng cao gồm một bộ

phận cư dân sinh sống ở vùng biên giới.

3.2.2. Xác định đúng trọng tâm, trọng điểm để đầu tư các nguồn lực, tạo

ra các bước phát triển đột phá

Các dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi Đông Bắc trừ một bộ phận sống ở

khu vực thành phố, trung du, còn phần lớn sinh sống ở miền núi, nơi có tiềm lực kinh

tế lớn, nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng bao gồm đất, rừng, khoáng sản, cây

công nghiệp, cây đặc sản, danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử. Tuy nhiên, trình độ

phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng này còn thấp, kinh tế hàng hóa ít phát triển, kinh

tế tự nhiên, tự cấp tự túc còn chiếm tỷ trọng lớn. Công tác định, canh định cư tuy đạt

một số thành tựu nhưng hiệu quả thấp và chưa vững chắc. Đời sống của đại bộ phận

dân cư vùng đồng bào dân tộc còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp.

Để thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, từng bước thu hẹp sự chênh

lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc thiểu số với đa số, giữa

miền núi với miền xuôi nhất thiết phải phát triển toàn diện cả kinh tế, chính trị, văn

hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, trong đó trọng tâm là phát triển kinh tế - xã hội

gắn với việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, quan tâm đúng mức đến việc

cải thiện đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của từng dân tộc.

Xuất phát từ những kinh nghiệm, khả năng và điều kiện vốn có của các tỉnh

miền núi và các dân tộc thiểu số, trong những năm trước mắt cũng như lâu dài các

140

ngành nông, lâm nghiệp cần phát triển mạnh, trên quy mô lớn. Tuy nghề rừng chưa

đủ điều kiện phát triển trên quy mô lớn, mang tính tổng hợp theo hướng thâm canh,

chuyên môn hóa. Nhưng trước mắt có thể đầu tư, cải tạo, tu bổ diện tích rừng trồng,

đảm bảo khai thác cho nhu cầu nguyên liệu, nhu cầu đời sống và một phần xuất

khẩu. Mở rộng việc giao đất, giao rừng cho hộ gia đình tự chủ kinh doanh, đặc biệt

là đất trống, đồi trọc không hạn chế về diện tích. Bên cạnh đó, các địa phương cũng

tăng cường kêu gọi sự đầu tư của các doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các

hộ gia đình trong việc kinh doanh nghề rừng.

Các cây công nghiệp dài ngày như cây chè cần được đầu tư phát triển trên

quy mô lớn nhằm tạo ra hàng hóa mũi nhọn phục vụ nhu cầu trong nước và xuất

khẩu. Một số cây đặc sản cũng cần được quan tâm phát triển mạnh như cam, quýt,

hồng, hạt dẻ... Các địa phương tiếp tục mở rộng diện tích trồng chè và các loại cây

đặc sản mũi nhọn nhằm đạt mục tiêu phủ xanh đất trống đồi trọc, tạo việc làm và

tăng thu nhập cho nhân dân các dân tộc trong vùng.

Bên cạnh việc phát triển công nghiệp chế biến phục vụ cho việc phát triển

sản xuất hàng hóa của các ngành nông, lâm nghiệp, cần đẩy mạnh ngành công

nghiệp khai thác khoáng sản, nhất là than đá, vật liệu xây dựng,... để giải quyết nhu

cầu nguyên liệu và năng lượng, một phần phục vụ xuất khẩu.

Như vậy, để phát huy mọi tiền năng, thế mạnh và huy động tối đa các nguồn

lực của địa phương các tỉnh miền núi Đông Bắc, một mặt, cần tập trung xây dựng

một nền sản xuất hàng hóa nông - lâm - công nghiệp, phá thế sản xuất tự cung tự

cấp. Mặt khác, cần đẩy mạnh hợp tác, liên doanh với các vùng trong toàn quốc, đặc

biệt đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh

và các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng để mở rộng giao lưu hàng hóa, tăng tích lũy

để tái mở rộng sản xuất và nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc trong vùng.

Đồng thời, phân công lại lao động căn cứ trên thế mạnh về các mặt tự nhiên, xã hội,

con người trong từng vùng, từng tỉnh. Kết hợp các yếu tố kinh tế - xã hội, khoa học

- kỹ thuật theo một chiến lược đúng đắn, một quy hoạch hợp lý để khai thác, phát

huy tiềm năng thế mạnh của các địa phương. Ngoài ngân sách của Trung ương, hết

sức coi trọng huy động vốn trong nhân dân. Bằng hình thức kết nghĩa giữa tỉnh với

141

tỉnh, có thể gọi vốn đầu tư của các tỉnh bạn, tranh thủ nhiều nguồn vốn đầu tư khác

có thể khai thác để phát huy thế mạnh của từng địa phương nhanh hơn. Vốn đầu tư

cần tập trung vào các khâu then chốt như: giao thông, thông tin liên lạc, điện, nguồn

nước cho sản xuất và đời sống. Xây dựng kết cấu hạ tầng gắn với bảo vệ và phát

triển kinh tế - xã hội. Đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng dân tộc

cần phát huy tính năng động, sáng tạo của đồng bào, tạo tiền đề để nhân dân vươn

lên khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh, chuyển sang kinh doanh có hiệu quả trên

chính vùng đất của mình.

Một thế mạnh của vùng cần được khai thác đó là buôn bán đường biên.

Vùng Đông Bắc vốn có truyền thống buôn bán đường biên giữa hai nước Việt Nam

và Trung Quốc. Trong những năm 1996 - 2010, mậu dịch đường biên, chính ngạch

và tiểu ngạch đều được tạo điều kiện lưu thông hàng hoá, không chỉ cho sản phẩm

của địa phương mà còn tạo cửa ngõ thông thương lớn cho hàng hoá của cả nước.

Kể từ năm 1991, khi mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc được bình thường

hoá đến năm 2010, Việt Nam đã mở 21 cửa khẩu thương mại chính thức tại khu

vực đường biên giới Việt – Trung, ngoài ra còn khai thông hàng chục con đường

nối liền các thôn xóm của cư dân vùng biên [32, tr.5].

Với vị trí địa lý thuận lợi, khu vực Đông Bắc trở thành thị trường trung

chuyển hàng hoá lớn giữa Việt Nam và Trung Quốc và qua Trung Quốc đi các nước

Đông - Tây Âu. Tại các khu vực cửa khẩu, các tỉnh đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để

xây dựng cơ sở hạ tầng và các cơ sở dịch vụ như bưu chính viễn thông, tài chính -

ngân hàng, kho bãi, các khu chợ vùng biên… Hệ thống giao thông tại khu vực này

cũng rất thuận lợi cho phát triển kinh tế với đường bộ và đường thuỷ. Năm 1996,

Chính phủ Việt Nam phê chuẩn chợ Móng Cái thành khu kinh tế mở, sau đó tiếp

tục có nhiều chính sách ưu đãi để khu chợ này mau chóng phát triển. Năm 1997,

Chính phủ Việt Nam phê chuẩn thành lập khu kinh tế Tân Thanh, Đồng Đăng, có

những chính sách ưu đãi đặc thù, thực hiện quản lí theo hình thức khu thương mại

tự do. Năm 2002, Chính phủ Việt Nam phê chuẩn nâng Lạng Sơn lên thành thành

phố trực thuộc tỉnh, năm 2003, lại nâng Tân Thanh, Đồng Đăng lên thành chợ trực

thuộc tỉnh [32, tr.10].

142

Phát huy thế mạnh này, việc trao đổi hàng hoá và giao lưu kinh tế ở các cửa

khẩu và chợ biên giới diễn ra rất sôi động. Tuy nhiên, các mặt hàng xuất khẩu của ta

sang Trung Quốc và các nước bạn phần lớn đều dưới dạng nguyên liệu thô hoặc

mới qua sơ chế nên giá trị thấp, hiệu quả kinh tế không cao, như: cao su, dầu dừa,

thuỷ hải sản đông lạnh và khô, hoa quả tươi và khô, bánh kẹo, đồ gỗ dân dụng, gỗ

mỹ nghệ… Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, vật tư, thiết bị phục vụ

cho sản xuất trong nước như gạch chịu lửa, than điện cực, công nghiệp giấy, công

nghệ xi măng, thuốc trừ sâu… Những năm gần đây, hàng nhập khẩu còn có ô tô

vận tải và máy móc. Chỉ tính riêng Lạng Sơn, kim ngạch xuất khẩu qua địa bàn tỉnh

năm 1997 tăng 20,4 lần năm 1990; giai đoạn 1996 - 2000, đạt bình quân 391,8 triệu

USD/ năm; giai đoạn 2000 - 2003, bình quân đạt 461 triệu USD/năm, chiếm

khoảng 50% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của các tỉnh biên giới phía Bắc với thị

trường Trung Quốc [60, tr.78].

Để khai thác được các thế mạnh của vùng, với sự hỗ trợ của Trung ương, các

địa phương đã thực hiện một số chương trình, dự án, một trong những chương trình

thực hiện có hiệu quả đó là chương trình 135.

Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân và sự

phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các địa phương, nguồn vốn đầu tư của

chương trình đúng đối tượng, đúng mục đích và đem lại hiệu quả nhiều mặt. Các

tỉnh miền núi Đông Bắc đã xây dựng được nhiều công trình phúc lợi công cộng

phục vụ sản xuất và đời sống đồng bào các dân tộc ở các bản làng vùng sâu, vùng

xa như: xây dựng các công trình đường giao thông, các công trình thủy lợi, các

công trình phúc lợi khác như lớp học, trạm xá, nhà văn hóa... Tuy nhiên, quan trọng

hơn là phải xây dựng được cơ chế, chính sách đầu tư thích hợp hỗ trợ các hộ nghèo

về đời sống sản xuất trong vùng dự án như: làm nhà, khai hoang, trồng cây lương

thực, chăn nuôi đại gia súc, làm chuồng trại, hỗ trợ đất đai sản xuất, giống cây trồng

vật nuôi, trang thiết bị chế biến nông sản,... theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

cơ cấu cây trồng vật nuôi, xóa bỏ dần sản xuất tự cấp tự túc, chuyển dần sang sản

xuất hàng hóa.

143

Ngoài ra, việc thực hiện một số chương trình, dự án khác đã góp phần xây

dựng cơ sở vật chất ở nông thôn miền núi, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi,

thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao năng lực thực hiện chính sách cho cán bộ

và nhân dân vùng dân tộc và miền núi, góp phần bảo vệ rừng và môi trường sinh

thái, xóa đói giảm nghèo, xây dựng lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà

nước, củng cố tình đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc và giữ gìn an ninh trật tự an

toàn xã hội.

3.2.3. Gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm an ninh, quốc phòng

vùng đồng bào dân tộc thiểu số là chủ trương nhất quán, xuyên suốt trong

lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc

Vùng biên giới bốn tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh giáp

với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa, là địa bàn gắn liền với việc giữ

vững an ninh và quyền chủ quyền về mặt lãnh thổ của Việt Nam. Song, điều này lại

phụ thuộc vào chính sách chính trị, kinh tế, văn hoá, môi trường của quốc gia, đồng

thời, còn bị chi phối, ảnh hưởng bởi các chính sách phát triển và tiềm lực kinh tế,

quốc phòng của quốc gia láng giềng. Trong số các yếu tố ảnh hưởng trên, chính

sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số có vai trò then chốt.

Chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với các tộc người vùng biên cương là cơ

sở đảm bảo an ninh, quốc phòng của quốc gia được vững mạnh, phục vụ sự nghiệp

bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, phát triển kinh tế - xã hội cũng góp phần giải quyết

tốt mối quan hệ giữa các dân tộc và nội bộ tộc người. Chính vì vậy, việc xây dựng

và phát triển các chính sách kinh tế - xã hội vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc

thiểu số là hết sức quan trọng đối với Việt Nam.

Nhận thức được điều này, trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước

Việt Nam luôn xác định, phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh.

Đây là hai nhiệm vụ chiến lược vô cùng quan trọng, không thể tách rời trong quá

trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong thời kỳ đổi mới, mối quan hệ biện chứng giữa hai lĩnh vực kinh tế - xã

hội với quốc phòng - an ninh đã được nhìn nhận khá toàn diện và sâu sắc. Mục tiêu

của sự kết hợp ấy là khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tổng hợp, thực

144

hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhằm đảm bảo

kinh tế - xã hội phát triển nhanh, bền vững và xây dựng, tăng cường quốc phòng -

an ninh. Vì vậy, tăng cường quốc phòng - an ninh đã trở thành một trong những

mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và ngược lại kinh tế - xã hội phát

triển sẽ đảm bảo quốc phòng - an ninh được củng cố vững chắc.

Quán triệt quan điểm của Đảng về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với

quốc phòng - an ninh, trong quá trình lãnh đạo nhân dân các dân tộc miền núi Đông

Bắc, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các tỉnh,

sự hướng dẫn giúp đỡ của Bộ chỉ huy Quân sự địa phương, nhân dân và lực lượng

vũ trang đã nỗ lực thực hiện có hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược: phát triển kinh tế

- xã hội và tăng cường quốc phòng - an ninh. Trong quá trình thực hiện hai nhiệm

vụ chiến lược, các địa phương xác định trước hết phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ

đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp; coi đó vừa là nguyên tắc,

vừa là giải pháp quyết định hiệu quả kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng

cường quốc phòng - an ninh trên địa bàn.

Theo đó, các địa phương chỉ đạo các cấp, các ngành chủ động nắm vững

định hướng chỉ đạo của Tỉnh và các Quân khu về kết hợp kinh tế với quốc phòng -

an ninh. Từ đó, đề ra chủ trương, biện pháp thực hiện một cách đúng đắn, phù

hợp. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo được cụ thể hóa bằng các chương trình, kế hoạch

hành động với những tiêu chí, mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể; gắn với trách nhiệm của

cá nhân và tổ chức… Đồng thời, chú trọng gắn lãnh đạo với tăng cường kiểm tra

việc thực hiện của chính quyền, đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội; phát huy

vai trò tham mưu của cơ quan quân sự, công an; tổ chức tốt việc sơ kết, tổng kết,

rút kinh nghiệm… Nhờ đó, việc phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường

quốc phòng - an ninh trên địa bàn các địa phương ngày càng chặt chẽ, hiệu quả và

đi vào chiều sâu.

Để tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động của các tổ chức, lực lượng

trong phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh, các địa

phương luôn chú trọng đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục

quốc phòng - an ninh cho các đối tượng, trước hết là cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ,

145

đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp cần nghiên cứu nắm chắc quan điểm và

những chủ trương, biện pháp xây dựng nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh

nhân dân trên cơ sở gắn với nền quốc phòng toàn dân, thông qua phong trào quần

chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Miền núi Đông Bắc là vùng có vị trí chiến lược quan trọng về phát triển kinh

tế - xã hội và an ninh quốc phòng. Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là những năm

gần đây, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hoà bình” nhằm gây

mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thủ đoạn mà các thế lực thù địch

thường sử dụng là lợi dụng sự cả tin, trình độ dân trí thấp của một bộ phận đồng bào

để đẩy mạnh hoạt động tôn giáo trái phép, tuyên truyền, bôi nhọ Đảng, Nhà nước,

làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ xã hội chủ nghĩa.

Do đó, một trong những nhiệm vụ đặt ra của công tác quốc phòng - an ninh là phải

tiếp tục phòng chống có hiệu quả âm mưu “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù

địch, giữ vững ổn định chính trị và trật tự và an toàn xã hội; chủ động tấn công kẻ

địch và các loại tội phạm, không để xảy ra đột biến bất ngờ, tạo điều kiện thuận lợi

để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Tăng cường sự lãnh

đạo của các cấp ủy đảng và vai trò quản lý, điều hành của chính quyền có hiệu quả;

phát huy tinh thần tích cực, tự giác của toàn Đảng bộ, toàn quân và mọi tầng lớp

nhân dân đối với công tác quốc phòng - an ninh. Chủ động nắm tình hình an ninh

trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, kịp thời phát hiện và xử lý các yếu tố xấu mới nảy

sinh, không để ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tăng

cường công tác phòng, chống các loại tội phạm công nghệ cao; kịp thời phát hiện,

ngăn chặn các hoạt động kích động, tập hợp công nhân đình công, lãn công của kẻ

xấu, tạo môi trường ổn định để phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế.

Việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng-

an ninh được các địa phương chỉ đạo thực hiện một cách toàn diện, cả về bề rộng

và chiều sâu. Theo đó, các tỉnh tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo

hướng sản xuất hàng hóa bền vững; khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh, tài

nguyên đất đai, tài nguyên rừng, nhân lực, vừa đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội;

đồng thời, huy động được nguồn lực tại chỗ cho tăng cường quốc phòng - an ninh,

146

nhất là trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng khi có tình huống xảy ra.

Thực tế những năm qua, vùng Đông Bắc từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo

hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tỷ trọng công nghiệp, xây dựng trong GDP

từ 20,6% năm 1990 lên 26,3% năm 2002; nông, lâm, ngư nghiệp giảm tương đối từ

46,3% xuống 33,6%; dịch vụ tăng từ 32,9% lên 33,8%. Đồng thời, thực hiện tốt

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội vùng Đông Bắc giai đoạn 1998 - 2010

của Thủ tướng Chính phủ. Tiếp tục xây dựng và phát triển các dự án, chương trình

phát triển kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới theo hướng công

nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn cân đối với phục vụ dân sinh và

quốc phòng - an ninh. Thực hiện tốt các đề án kinh tế - quốc phòng, lồng ghép

chương trình xóa đói, giảm nghèo, quân dân y kết hợp với phong trào “Toàn dân

đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư"; giải quyết kịp thời, có hiệu quả

mọi vấn đề phức tạp từ cơ sở; tận dụng lợi thế địa hình, phát triển trồng rừng, cải

tạo địa hình xây dựng thế trận phòng thủ, nhất là các cụm, tuyến dân cư vùng biên

giới; đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội tạo thế liên hoàn

trong công tác phòng thủ.

Phát triển thế mạnh của khu vực kinh tế cửa khẩu, có chính sách, bảo đảm

môi trường đầu tư, lưu thông hàng hóa thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi để thu

hút các thành phần kinh tế phát triển. Gắn quốc phòng - an ninh với xây dựng phát

triển khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng (Lạng Sơn), Tà Lùng, Trà Lĩnh (Cao Bằng),

Thanh Thuỷ (Hà Giang), Móng Cái (Quảng Ninh) và các chợ đường biên, tạo điều

kiện thuận lợi cho việc trao đổi, mua bán hàng hóa, giao lưu văn hóa, thông tin giữa

dân cư hai bên biên giới, góp phần tích cực ổn định tình hình trật tự an ninh biên

giới ngày càng tốt hơn.

Phát triển kinh tế làm tăng thêm nguồn lực quốc phòng - an ninh và quốc

phòng - an ninh được củng cố vững chắc sẽ tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã

hội. Xây dựng quốc phòng - an ninh vững mạnh trên cơ sở nền kinh tế của các địa

phương phát triển nhanh và bền vững; ngược lại, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và

bền vững thì phải trên cơ sở quốc phòng - an ninh vững chắc. Các cấp, các ngành và

các tầng lớp nhân dân cần tăng cường cảnh giác cách mạng, thống nhất ý chí và

147

hành động, ra sức phát triển kinh tế, giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức

xúc, củng cố mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, xây dựng thế trận

chiến tranh nhân dân, an ninh nhân dân và thế trận biên phòng, xây dựng các lực

lượng vũ trang vững mạnh, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, giữ vững ổn định

chính trị, sẵn sàng ứng phó mọi tình huống, tạo tiền đề vững chắc cho nhiệm vụ

phát triển kinh tế - xã hội.

3.2.4. Coi trọng nâng cao vai trò của hệ thống chính trị địa phương

trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc

Hệ thống chính trị cơ sở có vị trí quan trọng, là cơ quan lãnh đạo quần chúng

thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, hệ

thống chính trị ở cơ sở vùng dân tộc có vai trò quan trọng trong việc thực hiện dân

chủ và quyền làm chủ của quần chúng, thực hiện chức năng điều hành và quản lý xã

hội, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của đồng bào để phát triển kinh tế - xã hội.

Do vậy, việc xây dựng, củng cố tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể ở cơ sở là một

trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của toàn vùng.

Thực tiễn ở các địa phương miền núi Đông Bắc cho thấy, muốn xây dựng hệ

thống chính trị cơ sở vùng đồng bào dân tộc vững mạnh, điều có ý nghĩa quyết định

là công tác xây dựng Đảng. Xây dựng Đảng bộ vững mạnh ở các địa phương thể

hiện được trí tuệ của nhân dân các dân tộc miền núi, đại diện cho lợi ích và nguyện

vọng chính đáng của đồng bào các dân tộc, gắn bó với nhân dân, xứng đáng là hạt

nhân lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền núi và góp phần xây

dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước - đó là nhiệm vụ có tính chất cấp bách và then

chốt trong giai đoạn hiện nay.

Trong công tác phát triển Đảng, cần hướng vào các đối tượng trẻ tuổi, có

trình độ văn hóa, trưởng thành từ phong trào quần chúng. Tổ chức Đảng và đảng

viên phải sâu sát thực tiễn, am hiểu tình hình thực tế của địa phương, hiểu rõ tâm tư,

nguyện vọng, yêu cầu của quần chúng nhân dân, biết xác định trọng tâm lãnh đạo,

trọng tâm công tác trong từng thời điểm thích hợp.

Xây dựng tổ chức chính quyền cơ sở vững mạnh, thực sự là của dân, do

dân và vì dân, vươn lên đảm nhiệm công việc quản lý mọi mặt hoạt động của địa

148

phương, giúp nhân dân xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Tổ chức chính

quyền và cán bộ chính quyền vùng dân tộc cần phải được bồi dưỡng, đào tạo và tự

mình phải học tập, rèn luyện, có đủ năng lực, phẩm chất để hoàn thành nhiệm vụ,

được nhân dân tin tưởng. Mỗi cán bộ cần có trình độ nhất định về khoa học - kỹ

thuật, nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, nắm được phương thức lãnh đạo, quản

lý, điều hành; kịp thời định hướng cho đồng bào phát triển kinh tế - xã hội đúng

hướng, hiểu rõ về phong tục tập quán của đồng bào, vận dụng sáng tạo đường lối,

chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào điều kiện thực tế địa phương.

Quan tâm đến dân chủ hóa đời sống xã hội, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở

cơ sở, thực hiện trong thực tế quyền lực của nhân dân bằng những cơ chế được cụ

thể hóa rõ ràng, khắc phục các vi phạm trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ

sở, lối sống xa dân, quan liêu, mệnh lệnh với dân. Đây là điều kiện rất cần thiết để

nhân dân tích cực, chủ động tham gia xây dựng, thực hiện và giám sát việc thực

hiện các chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, an ninh -

quốc phòng ở địa phương.

Xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức của Mặt trận, các đoàn thể quần chúng

ở vùng dân tộc vững mạnh, phát huy vai trò của Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên Cộng

sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh... trong việc phát động các

phong trào giúp nhau làm kinh tế, xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, bảo vệ an

ninh Tổ quốc...

Làm tốt công tác cán bộ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện

và phát huy quyền làm chủ của các dân tộc thiểu số trên mọi lĩnh vực của đời sống

xã hội. Do vậy, yêu cầu đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc là yêu cầu vừa

cấp bách, vừa cơ bản lâu dài. Đây là nội dung lớn của chính sách dân tộc, là vấn đề

then chốt để thực hiện chính sách dân tộc ở địa phương. Phải chăm lo đào tạo cán

bộ dân tộc cho tất cả các lĩnh vực, xây dựng cốt cán trung thành, vững vàng về

chính trị, có phẩm chất năng lực thật sự, có uy tín lãnh đạo quần chúng. Công tác

cán bộ dân tộc có nhiều khó khăn phức tạp, do đó, phải có quy hoạch, tạo nguồn, có

chế độ đãi ngộ, hình thức đào tạo thích hợp, có quy chế tuyển sinh thích hợp với

149

từng dân tộc, quản lý và sử dụng tốt số cán bộ đã có và phải chú ý xây dựng đội ngũ

cán bộ ở cơ sở vì đội ngũ đó gắn liền với quần chúng.

Trong những năm 1996 - 2010, công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng cán

bộ là người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi Đông Bắc được các cấp ủy Đảng,

chính quyền quan tâm. Số lượng cán bộ ở từng dân tộc được phát triển theo hướng

tăng tương ứng với số dân và tương ứng với địa bàn phân bố dân cư của từng dân

tộc. Ưu tiên bổ sung cho đội ngũ cán bộ ở địa phương. Để có đội ngũ cán bộ có chất

lượng, đủ năng lực đảm đương chức phận của mình, nhất thiết phải thông qua đào

tạo cơ bản và đào tạo chuyên ngành. Có quy hoạch tổng thể trong khâu đào tạo, chú

ý đào tạo những ngành nghề cần thiết cho việc khai thác tiềm năng, thế mạnh, cho

sự phát triển bền vững của địa phương và của tộc người. Nhà nước thực hiện chế độ

ưu tiên trong quá trình đào tạo. Sau khi được đào tạo, bồi dưỡng, địa phương bố trí

sử dụng cán bộ dân tộc phù hợp để phát huy được vai trò, tác dụng tích cực của họ,

thường xuyên giúp đỡ để họ xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân. Với các cán bộ

là người dân tộc Kinh hiện đang công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng

sâu, vùng xa, Nhà nước và địa phương có chế độ đãi ngộ thích hợp, coi đó là sự

động viên để họ an tâm và đóng góp sức lực vào công việc hoạt động tại cơ sở.

Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ

cán bộ, Đảng bộ các địa phương miền núi Đông Bắc không ngừng chăm lo xây

dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào dân tộc. Vì vậy, hệ thống chính trị cơ

sở vùng đồng bào dân tộc từng bước được củng cố, kiện toàn. Các tổ chức Đảng

không ngừng được củng cố, trong sạch vững mạnh, thực hiện tốt chức năng lãnh

đạo của mình. Đội ngũ đảng viên vùng dân tộc được phát triển cả về số lượng và

chất lượng. Chính quyền kịp thời cụ thể hóa những chủ trương, đường lối của Đảng,

của cấp ủy, chú trọng nâng cao hiệu lực điều hành, quản lý tại cơ sở có sự chuyển

biến. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng luôn được củng cố, ngày càng

vững mạnh. Bộ máy Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng từng bước phát

huy tác dụng lãnh đạo, quản lý, điều hành, vận động đồng bào phát triển kinh tế - xã

hội, bảo đảm an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội.

150

3.2.5. Phải tạo mọi điều kiện để thu hút sự tham gia của đồng bào dân

tộc thiểu số tại chỗ trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách dân tộc

Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, để phát huy vai trò chủ thể của mình

trong việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc cần chú ý:

Trong quá trình cụ thể hoá chính sách dân tộc của Đảng thông qua các

chương trình, dự án, phải chú ý đến điều kiện kinh tế - xã hội và sự đa dạng của

từng vùng, từng dân tộc; chú trọng yếu tố đặc thù của từng dân tộc để có những

hình thức, bước đi và giải pháp hiệu quả, phù hợp với thực tiễn địa phương nhằm

phát huy vai trò chủ động, tích cực, làm chủ của đồng bào các dân tộc.

Để đạt được điều đó, một trong những yêu cầu đặt ra là phải rà soát, chỉnh

sửa, bổ sung chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng

đồng bào dân tộc thiểu số để làm căn cứ cho việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội

tại địa phương. Bên cạnh đó, phải tăng cường nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh

tế - xã hội các vùng, các dân tộc để cụ thể hóa các chính sách sao cho phù hợp với

thực tế địa phương.

Các cơ quan chuyên môn cần tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc tham

gia vào tất cả các quá trình từ thu thập thông tin cho việc hoạch định chính sách

đến việc tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá, thẩm định hiệu quả việc thực hiện

chính sách dân tộc và được hưởng lợi từ chính sách, nhất là đối với việc triển khai

thực hiện các dự án.

Trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc phải nhận thức rõ, chủ thể

thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta chính là đồng bào các dân

tộc. Sự giúp đỡ của Đảng và Nhà nước là cần thiết để rút ngắn khoảng cách chênh

lệch về mọi mặt giữa các dân tộc. Tuy nhiên, đó chỉ là sự giúp đỡ về vật chất, tinh

thần và nguồn lực, kỹ thuật. Còn chủ thể đích thực của quá trình đó là đồng bào

các dân tộc. Họ phải tự mình vươn lên, rút ngắn khoảng cách phát triển với các

dân tộc khác.

Thông qua nhiều hình thức đa dạng, phong phú để tăng cường giáo dục

chính trị, tư tưởng cho quần chúng nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số vùng

sâu, vùng xa; tăng cường bồi dưỡng, nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, khắc

151

phục tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước, vào xã hội; phát huy tinh thần tự lực, tự cường,

khai thác đến mức cao nhất mọi tiềm năng thế mạnh của đồng bào các dân tộc.

Bằng các phương pháp tuyên truyền, giúp đỡ về vật chất và tinh thần, đồng

bào các dân tộc nhận thức rõ: Muốn tiến bộ, phát triển, muốn xóa bỏ mọi cách biệt

giữa các dân tộc, bên cạnh sự giúp đỡ to lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân cả

nước, việc phát huy nội lực, phát huy tính chủ động, sáng tạo, ý chí tự lực, tự

cường của đồng bào các dân tộc thiểu số để phát triển sản xuất, xóa đói giảm

nghèo, củng cố hệ thống chính trị, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là yếu tố rất

quan trọng.

Với quan điểm đó, Đảng bộ các tỉnh miền núi Đông Bắc luôn xác định, các

chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số khi

triển khai thực hiện nhất thiết cần phải nhận được sự đồng tình hưởng ứng của

nhân dân các dân tộc, đảm bảo Quy chế dân chủ ở cơ sở; người dân được quyết

định, kiểm tra, giám sát đối với các chương trình liên quan trực tiếp đến đời sống

của họ. Việc lựa chọn đầu tư xây dựng các công trình phải do nhân dân công khai

bàn bạc và được Hội đồng nhân dân quyết định. Kinh nghiệm cho thấy, chương

trình, dự án nào nhân dân được tham gia bàn bạc ngay từ đầu thì sẽ huy động

nguồn lực tốt hơn, củng cố được niềm tin và sự hưởng ứng của người dân vào

chính sách đầu tư của Đảng và Nhà nước. Chương trình 135 là một ví dụ. Chương

trình 135 đã định hướng rất rõ trước hết phải phát huy nội lực của người dân, của

cộng đồng kết hợp với sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước nhằm thu hút nguồn lực về

lao động, đất đai và tài nguyên của địa phương. Sự đóng góp của cộng đồng đã

làm tăng cường sự tham gia và trách nhiệm trong việc cải thiện chất lượng, duy tu

bảo dưỡng và sử dụng hiệu quả các công trình ở địa phương.Việc áp dụng một

quy trình minh bạch có sự tham gia của người dân đã khuyến khích ý thức làm

chủ của người dân địa phương đối với công trình, đảm bảo tính bền vững lâu dài

trong sử dụng.

Sự tham gia của người dân - một tác nhân quan trọng cho sự thành công của

các chương trình, dự án được triển khai trên địa bàn các tỉnh miền núi Đông Bắc.

152

Tiểu kết chương 3

Chính sách dân tộc là hệ thống chính sách tổng hợp về kinh tế, văn hoá, xã

hội, an ninh, quốc phòng… thể hiện nguyên tắc, mục tiêu phát triển bình đẳng, đoàn

kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc trên đất nước Việt

Nam. Từ đó, gây ảnh hưởng tích cực cho việc thực hiện các mục tiêu khác của đất

nước. Đánh giá về chủ trương và những kết quả đã đạt được trong quá trình thực

hiện chính sách dân tộc tại vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1996 -

2010 của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tác giả luận án nhận thấy: Đảng Cộng sản

Việt Nam đã có những chủ trương đúng đắn trong việc thực hiện vai trò của mình

trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, coi

đây là vấn đề mang tính “chiến lược, cơ bản, lâu dài”, nhằm thúc đẩy phát triển

kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng, phục vụ cho mục tiêu công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đã có

những chủ trương, chính sách đúng đắn trong việc ngăn chặn những tác động tiêu

cực, những tác động không mong muốn của quá trình toàn cầu hoá, kinh tế thị

trường vào vùng dân tộc và miền núi. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính

sách dân tộc tại vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam, Đảng bộ và chính quyền địa

phương cũng gặp không ít khó khăn trong việc cụ thể hoá chủ trương của Đảng vào

thực tiễn do nhiều nguyên nhân khác nhau mà luận án này đã phân tích ở phần đánh

giá chung về hạn chế. Từ thực tế lãnh đạo việc thực hiện chính sách dân tộc, Đảng

Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam cần khẩn trương nghiên cứu, xác định

phương hướng, giải pháp đúng đắn, sát hợp với trình độ, tập quán của từng vùng,

từng địa phương, từng tộc người nhằm phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, xây

dựng vùng dân tộc thiểu số vững mạnh toàn diện. Đây vừa là yêu cầu cấp bách của

vùng dân tộc thiểu số miền núi, vừa là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng đối với sự

nghiệp cách mạng lâu dài của đất nước.

153

KẾT LUẬN

Chính sách dân tộc là một trong những vấn đề cơ bản và mang tính chiến

lược của cách mạng Việt Nam. Trong một quốc gia đa dân tộc, đây là vấn đề có ý

nghĩa sống còn. Chỉ trên cơ sở một chính sách dân tộc đúng đắn mới có thể giải

quyết được vấn đề dân tộc - một vấn đề được coi là phức tạp và nhạy cảm... Một

chính sách dân tộc đúng phải tác động làm biến đổi thực sự bộ mặt kinh tế, văn hoá,

xã hội của các vùng dân tộc và các dân tộc; từng bước cải thiện; nâng cao đời sống

vật chất và tinh thần của nhân dân. Suy đến cùng, việc thực hiện chính sách dân tộc

nhằm bảo đảm nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát

triển giữa các dân tộc.

Từ năm 1996 đến 2010, để thực hiện mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá,

hiện đại hoá đất nước, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước

đã có nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên phát triển miền núi, vùng dân tộc, đặc

biệt là Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ bảy, khoá IX về

công tác dân tộc và tôn giáo và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X

của Đảng. Bên cạnh đó, Chính phủ đã triển khai nhiều chương trình, dự án nhằm

đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế - xã hội miền núi tạo ra sự phát triển toàn

diện, bền vững các tỉnh miền núi, trong đó phát triển kinh tế là nền tảng, phát triển

văn hoá - xã hội là khâu đột phá.

Miền núi Đông Bắc Việt Nam là vùng có nguồn tài nguyên thiên nhiên, xã

hội, lịch sử, văn hoá vô giá cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước...

Là địa bàn cư trú của hàng chục dân tộc thiểu số (Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao,

Mông…). Đặc biệt, nơi đây có căn cứ địa Việt Bắc - cái nôi của cách mạng. Do

vậy, việc phát huy các thế mạnh của vùng không chỉ có ý nghĩa kinh tế lớn, mà còn

có ý nghĩa chính trị sâu sắc…

Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng tại vùng miền núi Đông

Bắc Việt Nam được thể hiện ở những nội dung cơ bản: Phát triển kinh tế, ổn định

dân cư đối với đồng bào các dân tộc thiểu số; đẩy mạnh công tác xoá đói giảm

nghèo và giải quyết việc làm; nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá

154

dân tộc, chăm sóc sức khoẻ nhân dân; xây dựng và củng cố hệ thống chính trị tại cơ

sở, đào tạo bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số; xây dựng, củng cố nền quốc

phòng toàn dân và an ninh nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng tại vùng miền núi Đông Bắc

Việt Nam đã mang lại những kết quả tốt đẹp. Chính sách dân tộc ngày càng chứng

minh được vai trò của mình trong hệ thống các chính sách quốc gia, đóng góp tích

cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nước.

Trong giai đoạn từ 1996 đến 2010, với việc cụ thể hoá chính sách dân tộc

của Đảng vào thực tiễn, được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước cũng như sự nỗ lực

vươn lên của đồng bào các dân tộc, miền núi Đông Bắc đã đạt được những kết quả

bước đầu nhưng quan trọng: Quyền bình đẳng dân tộc thể hiện ngày càng rõ trong

mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, hệ thống chính trị được xây dựng và củng cố; kết

cấu hạ tầng xã hội ngày càng được quan tâm đầu tư, đáp ứng bước đầu cho phát

triển kinh tế dân sinh; đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện và nâng

cao; chính trị ổn định và quốc phòng, an ninh được giữ vững.

Do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, khi triển khai chính sách dân

tộc của Đảng trên thực tế tại miền núi Đông Bắc đã gặp không ít khó khăn, hạn chế:

Những kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của vùng; nhận

thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền còn giản đơn về vấn đề dân tộc và chính

sách dân tộc; ở một số địa phương, sự đầu tư của Nhà nước vào vùng đồng bào dân

tộc thiểu số còn tràn lan, dàn trải và chưa sát hợp đối tượng nên hiệu quả đầu tư còn

thấp; chưa khai thác, phát huy tối đa những giá trị, truyền thống tốt đẹp của đồng

bào các dân tộc; phong tục tập quán lạc hậu, tình trạng di dân tự do cùng với sự

chống phá của các thế lực thù địch ở vùng đồng bào dân tộc miền núi. Tình trạng

trên không những làm cho các dân tộc thiểu số khó vươn lên hoà nhập cùng với sự

phát triển chung của cả nước, mà còn tạo ra khoảng cách phát triển giữa các dân

tộc, tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội, nhất là khi bị các thế

lực thù địch lợi dụng.

155

Qua quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng tại một số tỉnh miền

núi Đông Bắc, có thể đúc rút một số kinh nghiệm: 1) Bám sát đặc điểm cấu trúc xã

hội tộc người ở các tỉnh miền núi Đông Bắc để cụ thể hoá, vận dụng chính sách của

Đảng cho phù hợp với thực tiễn; 2) Xác định đúng trọng tâm, trọng điểm để đầu tư

các nguồn lực, tạo ra các bước phát triển đột phá; 3) Gắn phát triển kinh tế - xã hội

với bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng đồng bào dân tộc thiểu số là chủ trương nhất

quán, xuyên suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc; 4) Coi trọng

nâng cao vai trò của hệ thống chính trị địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện

chính sách dân tộc; 5) Phải tạo mọi điều kiện để thu hút sự tham gia của đồng bào

dân tộc thiểu số tại chỗ trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách dân tộc.

Thông qua quá trình nghiên cứu, tác giả luận án mạnh dạn nêu ra một số vấn

đề cần tập trung giải quyết trong thời gian tới: 1) Phải coi trọng và đầu tư mạnh mẽ,

quyết liệt, đủ tầm, đủ độ chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho vùng đồng bào

dân tộc thiểu số nhằm thu hẹp sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, xã hội, kể

cả sự chênh lệch giữa các dân tộc thiểu số; 2) Trong quá trình thực hiện chính sách,

cần phải phát huy ý thức tự lực, tự cường, vươn lên trong cộng đồng các dân tộc

thiểu số; phải khai thác được sáng kiến của cộng đồng dân cư, tri thức bản địa; 3)

Nâng cao chất lượng đội ngũ các nhà hoạch định, quản lý và tổ chức thực hiện

chính sách dân tộc.

Trong những năm trước mắt, để thực hiện chính sách dân tộc đạt kết quả,

Đảng và Nhà nước Việt Nam phải không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách dân

tộc; đồng thời, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của Đảng bộ, chính quyền địa

phương các cấp và sự chung tay của đồng bào các dân tộc thiểu số, đóng góp vào sự

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam: dân

giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

156

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Hoàng Thu Thuỷ (2010), Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo thực hiện chính

sách dân tộc từ năm 1997 đến nay, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 3.

2. Hoàng Thu Thuỷ (2012), Thành tựu và hạn chế trong thực hiện chính sách dân tộc của tỉnh Thái Nguyên thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và một số bài học kinh nghiệm, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, tập 100, số 12.

3. Hoàng Thu Thuỷ (2013), Tình hình đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số tỉnh Hà Giang trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, tập 112, số 12.

4. Hoàng Thu Thuỷ (2013), Công tác xóa đói giảm nghèo tại vùng miền núi Đông

Bắc Việt Nam giai đoạn 2001-2010, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 206.

5. Hoàng Thu Thuỷ (2014), Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở các tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đề tài khoa học và công nghệ cấp Đại học Thái Nguyên (mã số ĐH2012- TN04-04), Thái Nguyên.

157

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

* Tài liệu tiếng Việt

1. Ban Chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương (2010), Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ, Nxb Thống kê, Hà Nội, tháng 6.

2. Hoàng Chí Bảo (2009), Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

3. Bộ Chính trị (1989), Nghị quyết số 22/1989/NQ-TW ngày 27-12-1989 Về chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, http://www.na.gov.vn/sach_qh/chinhsachpl/phan1/p1_iv_7.html. 4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Cục Trồng trọt, Báo cáo sơ kết sản xuất trồng trọt năm 2006 và kế hoạch phát triển sản xuất trồng trọt năm 2007 các tỉnh vùng miền núi phía Bắc, Hà Nội.

5. Trịnh Quang Cảnh (2005), Phát huy vai trò đội ngũ trí thức các dân tộc thiểu số nước ta trong sự nghiệp cách mạng hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Chính phủ (2011), Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 về công tác dân tộc, http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-dinh/Nghi- dinh-05-2011-ND-CP-cong-tac-dan-toc-vb117534t11.aspx

7. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [Trực tuyến]. Địa chỉ: http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungquyhoachvung?_pi ref135_16042_135_16035_16035.strutsAction=ViewDetailAction.do&_p iref135_16042_135_16035_16

8. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam [Trực tuyến]. Địa chỉ:http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban ?class_id=1&mode=detail&document_id=45755.

9. Phan Hữu Dật (chủ biên) (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay (sách tham khảo), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

10. Hoàng Trọng Diên (2012), Kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, cận nghèo trên cả nước,

http://baodientu.chinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx? distributionid=133781

158

11. Khổng Diễn (1995), Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam, Nxb Khoa học

Xã hội, Hà Nội.

12. Donovan D., Rambo T.A, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997), Những xu hướng phát triển ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, Tập 1: Tổng quan và phân tích, Tập 2: Các nghiên cứu mẫu và bài học từ châu Á, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

13. Trương Minh Dục (2009), Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở miền Trung, Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội.

14. Đảng bộ tỉnh Cao Bằng (2010), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (Nhiệm kỳ 2010- 2015), số 01- BC/TU, Cao Bằng

15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ III, Nxb Sự thật, Hà Nội.

16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội.

17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.

18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ

quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội.

19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp

hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp

hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp

hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

159

25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XI, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

26. Bế Viết Đẳng (Chủ biên) (1996), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, Nxb Chính trị Quốc gia, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội.

27. Đằng Thành Đạt (2007), Nghiên cứu so sánh chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại, Luận án tiến sỹ Lịch sử, chuyên ngành Dân tộc học, Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.

28. Hội đồng Bộ trưởng (1990), Quyết định số 72/1990/QĐ-HĐBT ngày 13-3- 1990 Về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi, http://thuvienphapluat.vn/archive/Quyet-dinh-72-HDBT-chu- truong-cu-the-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-mien-nui-vb88753.aspx.

29. Hội đồng dân tộc của Quốc hội khoá X (2000), Chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước về dân tộc, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội. 30. Đoàn Minh Huấn (2010), "Những xu hướng tác động đến quản lý phát triển xã hội các vùng dân tộc thiểu số nước ta", Tạp chí Lý luận Chính trị, số 8. 31. Nguyễn Khôi (chủ nhiệm đề tài), Việc thực hiện chính sách dân tộc trên lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản lý cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay, http://www.na.gov.vn/sach_qh/chinhsachpl /phan4/p4_iv_3.html

32. Chu Kiện, Lưu Đông Nhiệm (2005), “Chính sách dân tộc của Việt Nam và ảnh hưởng của chính sách đó đến khu vực dân tộc biên giới Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu vấn đề dân tộc, số 1.

33. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 34. Moto F. (1989), Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam, Luận án

Tiến sĩ Lịch sử, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.

35. Hoàng Nam (2004), Văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc Việt Nam (Giáo

trình Đại học), Trường Đại học Văn hoá Hà Nội, Hà Nội.

36. Đậu Tuấn Nam (2013), Di cư của người Hmông từ đổi mới đến nay (Sách

chuyên khảo), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

160

37. Nguyễn Quốc Phẩm, Trịnh Quốc Tuấn (1999), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

38. Rambo T.A (1997), “Những xu hướng phát triển ở miền núi phía Bắc Việt Nam”, trong quyển Những xu hướng phát triển ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, tập 1, Tổng quan và phân tích, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

39. Nguyễn Thành Sơn, Bất cập ngành than, http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/

2010-05-13-bat-cap-nganh-than

40. Phan Xuân Sơn, Lưu Văn Quảng (2006), Những vấn đề cơ bản về chính sách

dân tộc ở nước ta hiện nay, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội.

41. Nguyễn Xuân Thắng (2002), Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc thời kỳ 1992 - 2000, Luận văn thạc sỹ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội.

42. Nguyễn Đăng Thành (2012), Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

43. Thủ tướng Chính phủ (1998), Quyết định 135/1998/QĐ-TTg ngày 31-7-1998 Về việc phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa, http://www.moj.gov.vn/vbpq/ Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=7608.

44. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 231/QĐ-TTg ngày 23-02-2012,

http://thuvienphapluat.vn/archive/Quyet-dinh/Quyet-dinh-231-QD-TTg-

sach-xa-hoan-thanh-muc-tieu-Chuong-trinh-135-vb135027t17.aspx.

45. Thư viện pháp luật [Trực tuyến]. Địa chỉ: http://thuvienphapluat.vn. 46. Thư viện pháp luật [Trực tuyến]. Địa chỉ: http://thuvienphapluat.vn/archive/

Quyet-dinh/Quyet-dinh-640-QD-LDTBXH-phe-duyet-Ket-qua-tong-dieu-

tra-ho-ngheo-vb124911t17.aspx

47. Nguyễn Bá Thuỷ (2004), Di dân tự do của đồng bào Tày, Nùng, H’mông, Dao từ Cao Bằng, Lạng Sơn vào ĐắkLắk (1986 - 2000), Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội.

161

48. Nguyễn Thanh Thuỷ (2001), Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Luận án tiến sĩ Lịch sử, Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam. 49. Tỉnh uỷ Cao Bằng (1997), Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về các giải pháp khắc phục tình trạng di cư tự do, số 01-NQ/TU, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Cao Bằng.

50. Tỉnh uỷ Cao Bằng (1998), Nghị quyết về tăng cường chỉ đạo xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở các xã biên giới, số 03- NQ/TU, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Cao Bằng.

51. Tỉnh uỷ Cao Bằng (1999), Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về tăng cường sự lãnh đạo công tác xoá đói giảm nghèo năm 1999 - 2000, số 967- NQ/TU, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Cao Bằng.

52. Tỉnh uỷ Cao Bằng (2001), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về chương trình xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2005, số 04-NQ/TU, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Cao Bằng.

53. Tỉnh uỷ Cao Bằng (2002), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành đảng bộ tỉnh khoá XV về qui hoạch tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ dân tộc ít người giai đoạn 2001 - 2010, số 08-NQ/TU, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Cao Bằng.

54. Tỉnh uỷ Hà Giang (2008), Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tăng cường lãnh đạo thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững từ nay đến năm 2010, số 12-NQ/TU, Hà Giang, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Hà Giang.

55. Tỉnh uỷ Hà Giang (2011), Báo cáo tổng kết 6 năm thực hiện Nghị quyết số 37/NQ-TW về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010, số -BC/TU, Hà Giang, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Hà Giang.

56. Tỉnh uỷ Lạng Sơn (2003), Chương trình hành động của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; về công tác dân tộc; về công tác tôn giáo, số 19- CTr/TU, Lạng Sơn, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Lạng Sơn.

162

57. Tỉnh uỷ Lạng Sơn (2004), Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Lạng Sơn, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Lạng Sơn.

58. Tỉnh uỷ Lạng Sơn (2010), Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện chính sách cử tuyển tỉnh Lạng Sơn, giai đoạn 2005 - 2010, số 13- BC/TU, Lạng Sơn, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Lạng Sơn.

59. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2001), Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội miền núi, hải đảo giai đoạn 2001 - 2005, số 07-NQ/TU, Quảng Ninh, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Quảng Ninh.

60. Vương Xuân Tình, Trần Hồng Hạnh (Đồng chủ biên) (2012), Phát triển bền vững văn hoá tộc người trong quá trình hội nhập ở vùng Đông Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

61. Lô Quốc Toản (2009), “Kết quả thực hiện chế độ cử tuyển ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 1990 đến năm 2005”, Dân tộc (Tạp chí Lý luận của Uỷ ban dân tộc), http://cema.gov.vn/modules.php?mid= 8803&name= Content&op=details#ixzz2meWm9pGz.

62. Lô Quốc Toản (2010), Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 63. Tổng cục Thống kê (1999), Chuyên đề phân tích, Phân tích Kết quả điều tra đời sống, kinh tế hộ gia đình năm 1999, http://www.gso. gov.vn/default.aspx?tabid=418&ItemID=2543

64. Tổng cục Thống kê, Chuyên đề phân tích, tình hình kinh tế - xã hội 10 năm 1991-2000, các lĩnh vực xã hội, http://www.gso.gov.vn/default. aspx?tabid=418&ItemID=1466.

65. Tổng cục Thống kê (2004), Số liệu thống kê Việt Nam thế kỷ XX, Quyển 3,

Nxb Thống kê, Hà Nội.

66. Tổng cục Thống kê (2005), Tư liệu kinh tế - xã hội 64 tỉnh và thành phố Việt

Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội.

67. Tổng cục Thống kê (2007), Niên giám thống kê 2006, Nxb Thống kê, Hà Nội. 68. Tổng cục Thống kê (2007), Chuyên đề phân tích, Tổng quan về chính sách

kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2007, www.gso.gov.vn

163

69. Tổng cục Thống kê (2010), Kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2010, Nxb

Thống kê, Hà Nội.

70. Tổng cục Thống kê (2011), Niên giám thống kê 2010, Nxb Thống kê, Hà Nội. 71. Tổng cục Thống kê (2011), Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam mười năm

2001-2010, Nxb Thống kê, Hà Nội.

72. Tổng cục Thống kê (2012), Niên giám thống kê 2011, Nxb Thống kê, Hà Nội. 73. Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (2014), Triết học. Địa chỉ:

http://daitudien.net/triet-hoc/triet-hoc-ve-dan-toc.html.

74. Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (2014), Chính trị học. Địa chỉ:

http://daitudien.net/chinh-tri-hoc/chinh-tri-hoc-ve-chinh-sach-dan-toc.html.

75. Bùi Xuân Trường (1998), “Một số vấn đề thực hiện chính sách dân tộc miền núi của Đảng và Nhà nước hiện nay”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Phân viện Hà Nội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

76. Trịnh Quốc Tuấn (Chủ biên) (1996), Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay -

Vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

77. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) (2009), Địa lý các vùng kinh tế Việt Nam, Nxb

Giáo dục Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.

78. Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (1996), Báo cáo về việc sơ kết cuộc vận động tập trung tăng cường công tác giải quyết một số vấn đề bức xúc về kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh - trật tự ở huyện Bảo Lạc (từ 07/3 đến 30/6/1996), số 384/UB-BC, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng.

79. Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2005), Báo cáo tổng kết 7 năm thực hiện chương trình 135 trên địa bàn tỉnh, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng.

80. Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2009), Báo cáo tổng kết 4 năm thực hiện Quyết định 134 giai đoạn 2004-2008 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng.

81. Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2009), Báo cáo tổng kết công tác dân tộc qua các thời kỳ cách mạng và phương hướng nhiệm vụ công tác dân tộc đến năm 2020, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng.

164

82. Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2010), Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 30a, Báo cáo sơ kết 2 năm thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ- CP tại 05 huyện nghèo tỉnh Cao Bằng, số /BC-BCĐNQ 30a, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng.

83. Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2010), Báo cáo tổng kết thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc giai đoạn 2006 - 2010 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng. 84. Uỷ ban Dân tộc và miền núi (1995), Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện các chủ trương chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi, Hà Nội, lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Hồ sơ 269 - Phông Uỷ ban dân tộc và miền núi.

85. Uỷ ban Dân tộc và miền núi (1996), Chương trình quốc gia hỗ trợ đồng bào các dân tộc đặc biệt khó khăn 1996-2010, Hà Nội, lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia III - Phông Uỷ ban dân tộc và miền núi.

86. Uỷ ban Dân tộc và miền núi (1997), Hệ thống các văn bản chính sách dân tộc và miền núi, tập II về kinh tế - xã hội, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 87. Uỷ ban Dân tộc, Viện Dân tộc (2009), Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội.

88. Uỷ ban Dân tộc [Trực tuyến]. Địa chỉ: http://cema.gov.vn/modules.php?

name=Doc&op=detaildoc&pid=18.

89. Uỷ ban Dân tộc [Trực tuyến]. Địa chỉ: http://cema.gov.vn/modules.php?

name=Doc&op=detaildoc&pid=1181#ixzz2mTD7RaMW.

90. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang, Ban chỉ đạo XĐGN-VL và 135 (2005), Báo cáo kết quả thực hiện chương trình 135 qua 7 năm (từ 1999 - 2005) và dự kiến các xã đã hoàn thành mục tiêu của chương trình để ra khỏi xã 135 tỉnh Hà Giang, số 03/BC- XĐGN135, Hà Giang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang.

91. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang, Sở Kế hoạch và Đầu tư (2006), Báo cáo kết quả thực hiện chương trình 135 qua 7 năm (từ 1999- 2005) và xác định các xã đã hoàn thành mục tiêu của chương trình để ra khỏi xã 135 tỉnh Hà Giang, số /BC-KHNN, Hà Giang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang.

165

92. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang (2008), Tài liệu hội thảo “Du lịch cộng đồng thực trạng và giải pháp phát triển bền vững”, Bắc Mê - Hà Giang, lưu tại Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang. 93. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang (2009), Báo cáo tổng kết 4 năm thực hiện Chương trình 134/TTg từ năm 2004-2008, Hà Giang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang.

94. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang (2009), Kỷ yếu Đại hội đại biểu các dân tộc

thiểu số tỉnh Hà Giang lần thứ I- năm 2009, Hà Giang.

95. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang (2010), Sở Lao động - Thương binh Xã hội, Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ năm 2009-2010 trên địa bàn tỉnh Hà Giang, số 136/BC-LĐTBXH, Hà Giang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang. 96. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang, Ban Dân tộc (2011), Báo cáo thực trạng học sinh người dân tộc thiểu số đi học theo chính sách cử tuyển từ 2000 đến 2010, số /BC-BDT, Hà Giang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang.

97. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang, Ban Dân tộc (2011), Báo cáo kết quả thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc giai đoạn 2006- 2010 trên địa bàn tỉnh Hà Giang, số /BC-BDT, Hà Giang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang.

98. Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Ban chỉ đạo dự án 21 xã biên giới (1998), Báo cáo về việc 2 năm (1996 - 1997) thực hiện dự án: ổn định phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng 21 xã vùng cao biên giới tỉnh Lạng Sơn, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn. 99. Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Ban chỉ đạo 134-135 (2006), Báo cáo kết quả thực hiện chương trình 135 giai đoạn 1999- 2005, số BC-BCĐ, Lạng Sơn, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

100.

Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2008), Báo cáo tổng kết 4 năm thực hiện Quyết định 134 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, số 249/ BC-UBND, Lạng Sơn, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

166

101. Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2009), Báo cáo tổng kết công tác dân tộc qua các thời kỳ cách mạng và phương hướng, nhiệm vụ công tác dân tộc đến năm 2020, Lạng Sơn, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

102. Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2011), Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II (2006- 2010) trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, số 95/BC- BDT, Lạng Sơn, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn. 103. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Sở Giáo dục - Đào tạo (2007), Báo cáo tóm tắt việc cử tuyển năm 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006 và thu nhận, tổng hợp hồ sơ đăng kí vào các trường Đại học theo chế độ cử tuyển năm 2007, số 1866/SGD&ĐT-GDCN&TX, Quảng Ninh, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

104. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2008), Quyết định về việc cử học sinh đi học đại học theo chế độ cử tuyển năm 2008, số 3460/QĐ-UBND, Quảng Ninh, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

105. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2008), Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Hạ Long, tháng 8, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

106. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2009), Báo cáo tình hình dân tộc, công tác dân tộc và phong trào thi đua yêu nước của đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ninh qua các thời kỳ cách mạng; phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ công tác dân tộc đến năm 2020, số BC-UBND, Quảng Ninh, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

107. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2009), Quyết định về việc cử học sinh đi học đại học theo chế độ cử tuyển năm 2009, số 3473/QĐ-UBND, Quảng Ninh, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

108. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2010), Báo cáo thực trạng kinh tế xã hội các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn và nhu cầu đầu tư hỗ trợ giai đoạn 2011 - 2015, số 22/BC-UBND, Hạ Long, tháng 4, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

167

109. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2010), Báo cáo về việc thực hiện xoá đói giảm nghèo qua Chương trình 135 giai đoạn II (2006 - 2010); việc quản lý, lồng ghép các Chương trình mục tiêu Quốc gia và các dự án liên quan trực tiếp đến xoá đói giảm nghèo trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn, số 04/BC-UBND, Hạ Long, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

110. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2010), Quyết định về việc cử học sinh đi học đại học theo chế độ cử tuyển năm 2010, số 3477/QĐ-UBND, Quảng Ninh, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

111. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Ban Dân tộc (2011), Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II và tình hình triển khai thực hiện một số chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh năm 2011, số 45/BC-BDT, Quảng Ninh, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. 112. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2011), Báo cáo Tổng kết đánh giá kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo giai đoạn 2006- 2010, số 52/BC- UBND, Quảng Ninh, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. 113. Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang, Ban Chỉ đạo chương trình 135 (2005), Báo cáo sơ kết 7 năm thực hiện Chương trình 135 tỉnh Tuyên Quang (1999- 2005), Tuyên Quang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang. 114. Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2009), Báo cáo tổng kết phong trào thi đua yêu nước của đồng bào các dân tộc thiểu số qua các thời kỳ cách mạng; kết quả thực hiện công tác dân tộc từ Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) đến nay và định hướng đến năm 2020, Tuyên Quang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang. 115. Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang, Ban Dân tộc (2011), Chuyên đề thực tiễn triển khai và những tác động trong việc thực hiện chủ trương của

Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác xoá đói, giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang,Tuyên Quang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

116. Đàm Thị Uyên (2010), Văn hóa dân tộc Nùng ở Cao Bằng, Nxb Văn hóa -

Thông tin, Hà Nội.

168

117. Đặng Nghiêm Vạn (2003), Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, Nxb Đại

học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.

118. Viện Dân tộc học, Ngân hàng Thế giới, Xoá đói giảm nghèo, vấn đề và giải pháp ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam (2004), Kỷ yếu hội thảo, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

119. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Dân tộc học (2013), Báo cáo kết quả thực hiện đề tài cấp bộ năm 2011 - 2012, Một số vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc trong phát triển bền vững các tỉnh biên giới Việt Nam (Báo cáo tổng hợp), Hà Nội, lưu tại thư viện Viện Dân tộc học.

120. Viện Nghiên cứu chính sách dân tộc và miền núi (2002), Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

* Tài liệu tiếng Anh

121. Jamieson N. (2000), Socio - economic Overview of the Northern Mountain

Region and the Project and Poverty Reduction in the Northern Mountain

Region of Vietnam, Concept Paper perpared for the World Bank,

Unpublished.

122. Jamieson N. (2000), Rethinking Approaches to Ethenic Minority Development, The Case of Vietnam, Concept Paper perpared for the World Bank, Unpublished.

169

PHỤ LỤC

170

Phụ lục 1

DÂN SỐ MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM NĂM 2009

Đơn vị tính: Người

Số dân theo đạo Dân số Dân tộc thiểu số Số dân Tỷ lệ % Số dân

Nguồn: Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương [1]

85.846.997 12.252.570 1.847.838 3.109.223 628.568 724.537 477.994 507.183 608.082 732.515 133.194 1.144.988 14,3 59,43 86,8 94,2 83,0 11,6 15.651.467 53.395 13.900 11.134 4.821 23.540 Tỷ lệ % 18,2 1,7 1,9 2,2 0,7 2,1 Toàn quốc Miền núi Đông Bắc Hà Giang Cao Bằng Lạng Sơn Quảng Ninh

Phụ lục 2 ĐỊA BÀN CƯ TRÚ CHỦ YẾU CỦA CÁC DÂN TỘC TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

Tỉnh

Hà Giang

Cao Bằng

Lạng Sơn

Quảng Ninh

X X

X X

X X X

X X

X X

X X

X X X X X X X

X

X

X

X

X X X X X X X X

Dân tộc Kinh Tày Nùng Mông Dao Sán Chay Giáy La Chí Phù Lá Lô Lô Bố Y Cơ Lao Ngái Pu Péo

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu Cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 [1]

171

Phụ lục 3 MỘT SỐ VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM (1996 - 2010)

Năm

1996

1998

Tên văn bản Chỉ thị 393 - TTg ngày 10/6/1996 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch dân cư, tăng cường cơ sở hạ tầng, sắp xếp sản xuất ở vùng dân tộc và miền núi Chỉ thị số 23-CT-/TW của Bộ Chính trị ngày 29/11/1997 về lãnh đạo thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo Quyết định số 02/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 06/1/1998 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội vùng Đông Bắc giai đoạn từ nay đến năm 2010 Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31/3/1998 của Chính phủ về phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa

1999

2001

2002

2003

2004

Chỉ thị số 39/1998/CT-TTg ngày 3/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác văn hoá - thông tin ở miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 24/12//1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các xã đặc biệt khó khăn và xã biên giới thuộc phạm vi Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa Quyết định số 53/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19/4/2001 về phát triển kinh tế cửa khẩu Quyết định số 186/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 07/12/2001 về việc phát triển kinh tế - xã hội 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc, thời kỳ 2001 - 2005 Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ tháng 10/2002 về chính sách chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo và người dân tộc thiểu số Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc Nghị quyết sô 37/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 01/7/2004 về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến 2010 Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số ngèo, đời sống khó khăn Chỉ thị số 38/2004/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 9/11/2004 về việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số đối với cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc, miền núi

172

2005

2006

2007

2008

2009

Quyết định số 60/2005/QĐ-TTg ngày 24/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạhc ổn định dân cư các xã biên giới Việt - Trung đến năm 2010 Quyết định số 267/2005/QĐ-TTg ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú Quyết định số 07/2006/QĐ-TTg ngày 10/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi giai đoạn 2006 - 2010 (Chương trình 135 giai đoạn II) Quyết định số 975/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/7/2006 về việc cấp một số loại báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi vùng đặc biệt khó khăn Quyết định số 193/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24//8/2006 về phê duyệt chương trình bố trí dân cư các vùng: Thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, xung yếu và rất xung yếu của rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2015 Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg ngày 5/2/2007 phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2007 - 2010 Quyết định số 112/2007/QĐ-TTg ngày 20/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ học bổng cho học sinh nghèo Quyết định số 27/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với các tỉnh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010 Quyết định số 289/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 18/3/2008 về các chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 07/8/2009 về chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn

Nguồn: Tổng hợp từ cuốn sách Hệ thống các văn bản chính sách dân tộc và miền núi, tập II về kinh tế - xã hội [86] và trang web: http://thuvienphapluat.vn [45]

173

Phụ lục 4 THU NHẬP BÌNH QUÂN MỘT NGƯỜI MỘT THÁNG PHÂN THEO ĐỊA PHƯƠNG, 1996 - 1999

Đơn vị tính: nghìn đồng

TT

1996

1999

Tỉnh

1999 so với 1996 (%) 125,53

1

223,3

280,3

2

174,1

212,4

122,0

3

194,7

252,8

129,8

4

Đồng Bằng sông Hồng Bắc Trung Bộ Duyên Hải Nam Trung Bộ Tây Nguyên

265,6

344,7

129,8

5

378,1

527,8

139,6

Đông Nam Bộ

242,3

342,1

141,2

6 7

173,80

210,00

120,83

142,73

198,70

139,21

185,93

230,50

123,97

186,96 299,02

243,00 353,00

129,97 118,05

Đồng Bằng Sông Cửu Long Tây Bắc và Đông Bắc Hà Giang Cao Bằng Lạng Sơn Quảng Ninh

Nguồn: Tổng cục Thống kê [65, tr.1909-1910]

Phụ lục 5 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA KẾT CẤU HẠ TẦNG CÁC XÃ KHU VỰC NÔNG THÔN MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM NĂM 1998, 1999, 2000

Đơn vị: xã

Điện

Trạm xá

Trường Tiểu học

Đường ô tô đến trung tâm xã

Trường Trung học cơ sở

1998

2000

1998

2000

1998

2000

1999

2000

1998

2000

124

135

141

178

174

174

90

114

178

178

83

126

135

159

177

175

111

113

173

175

129

155

206

206

194

206

146

146

145

145

100

104

125

126

132

133

108

108

133

133

Hà Giang Cao Bằng Lạng Sơn Quảng Ninh

Nguồn: Tổng cục Thống kê [65, tr.1013]

174

Phụ lục 6

DANH SÁCH 62 HUYỆN NGHÈO NHẤT TRÊN CẢ NƯỚC THEO NGHỊ QUYẾT 30a/2008/NQ-CP

Tên huyện

Tỉnh

Số huyện nghèo

Hà Giang

6

Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, Hoàng Su Phì, Xín Mần

5

Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thông Nông, Hà Quảng, Hạ Lang

Cao Bằng

Lào Cai

3

Si Ma Cai, Mường Khương, Bắc Hà

Yên Bái

2

Mù Cang Chải, Trạm Tấu

2

Bắc Kạn

Ba Bể, Pác Nặm

1

Bắc Giang

Sơn Đông

1

Phú Thọ

Tân Sơn

5

Sơn La

Sốp Cộp, Phù Yên, Bắc Yên, Mường La, Quỳnh Nhai

Lai Châu

5

Mường Tè, Phong Thổ, Sìn Hồ, Tân Yêu, Than Uyên

4

Điện Biên

Điện Biên Đông, Mường Nhé, Tủa Chùa, Mường Ảng

Thanh Hóa

7

Lang Chánh, Thường Xuân, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Như Xuân, Bá Thước

3

Nghệ An

Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong

1

Minh Hóa

Quảng Bình

1

Quảng Trị

Đa Krông

6

Quảng Ngãi

Sơn Hà, Trà Bồng, Sơn Tây, Minh Long, Tây Trà, Ba Tơ

3

Quảng Nam

Nam Trà My, Tây Giang, Phước Sơn

3

Bình Định

An Lão, Vĩnh Thanh, Vân Canh

1

Bác Ái

Ninh Thuận

Kon Tum

2

Tu Mơ Nông, Kon Plông

1

Lâm Đồng

Đam Rông

Nguồn: Uỷ ban Dân tộc [89]

175

Phụ lục 7 KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA HỘ NGHÈO, HỘ CẬN NGHÈO NĂM 2010 (Ban hành kèm theo Quyết định số 640/QĐ-LĐTBXH ngày 30 tháng 5 năm 2011 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)

Hộ nghèo Hộ cận nghèo STT Tỉnh/Thành phố Tổng số Tỷ lệ Tổng số Tỷ lệ

3.055.565 14,20 1,612,381 7,49 Cả nước

581.559 227.496 24,62 9,63 I Miền núi Đông Bắc

63.461 41,80 21.282 14,02 1 Hà Giang

63.404 34,83 20.666 11,35 2 Tuyên Quang

3 44.233 38,06 7.854 6,76 Cao Bằng

4 51.129 28,34 22.806 12,64

58.791 20,57 30.391 10,63 5 Lạng Sơn Thái Nguyên

78.389 19,61 35.385 8,85 6 Bắc Giang

61.042 20.127 14,18 43,00 7 Lào Cai

44.078 10.627 5,84 24,23 8 Yên Bái

71.431 35.194 10,02 20,34 9 Phú Thọ

23.050 7,68 11.280 3,76

22.551 32,13 11.884 16,93 10 Quảng Ninh 11 Bắc Kạn

236.365 39,16 80.118 13,27 II Miền núi Tây Bắc

88.949 38,13 33.551 14,38 12 Sơn La

51.644 50,01 8.617 8,35 13 Điện Biên

35.566 46,78 8.647 11,37 14 Lai Châu

60.206 31,51 29.303 15,34 15 Hòa Bình

409.823 8,30 261.586 5,30

18.975 7,21 14.069 5,35 III Đồng bằng sông Hồng 16 Bắc Ninh

27.612 11,05 17.651 7,06 17 Vĩnh Phúc

76.707 4,97 37.929 2,46 18 Hà Nội

31.948 6,55 24.489 5,02 19 Hải Phòng

176

Hộ nghèo Hộ cận nghèo STT Tỉnh/Thành phố Tổng số Tỷ lệ Tổng số Tỷ lệ

54.646 9,95 42.602 7,76 20 Nam Định

30.176 12,80 18.117 7,69 21 Hà Nam

54.227 10,99 33.038 6,70 22 Hải Dương

33.575 10,94 20.368 6,64 23 Hưng Yên

51.249 9,16 30.625 5,47 24 Thái Bình

30.708 12,40 22.698 9,17 25 Ninh Bình

578.007 22,68 343.370 13,47 IV Khu IV cũ

217.191 24,86 120.887 13,84 26 Thanh Hóa

167.499 23,35 92.395 12,88 27 Nghệ An

83.180 23,91 57.521 16,53 28 Hà Tĩnh

52.403 25,17 32.529 15,62 29 Quảng Bình

29.731 19,79 22.887 15,23 30 Quảng Trị

28.003 11,16 17.151 6,83 31 Thừa Thiên - Huế

10,82 17,26 208.833 333.250 V Duyên hải miền Trung

14.884 6,55 10.656 4,70 32 Đà Nẵng

90.109 24,18 52.265 14,02 33 Quảng Nam

74.606 23,74 31.166 9,92 34 Quảng Ngãi

61.711 16,31 33.900 8,96 35 Bình Định

45.606 19,46 33.473 14,28 36 Phú Yên

24.991 9,40 33.360 12,54 37 Khánh Hòa

21.343 15,48 14.013 10,16 38 Ninh Thuận

262.879 22,48 87.860 7,51 VI Tây Nguyên

79.417 27,56 17.038 5,91 39 Gia Lai

81.053 20,82 33.449 8,59 40 Đắk Lắk

33.674 29,25 8.063 7,00 41 Đắk Nông

34.157 33,36 7.988 7,80 42 Kon Tum

34.578 12,60 21.322 7,77 43 Lâm Đồng

177

Hộ nghèo Hộ cận nghèo STT Tỉnh/Thành phố Tổng số Tỷ lệ Tổng số Tỷ lệ

77.802 2,11 81.213 2,20 VII Đông Nam Bộ

157 0,01 18.627 1,02 44 TP.HCM

24.286 9,09 12.844 4,81 45 Bình Thuận

13.984 5,25 9.565 3,59 46 Tây Ninh

20.498 9,29 12.417 5,63 47 Bình Phước

115 0,05 172 0,07 48 Bình Dương

9.332 1,45 20.417 3,18 49 Đồng Nai

9.430 4,35 7.171 3,31 50 Bà Rịa-Vũng Tàu

575.880 13,48 321.905 7,53

VIII Đồng bằng sông Cửu Long 51 Long An 25.958 7,16 18.508 5,11

65.104 15,73 33.143 8,01 52 Đồng Tháp

48.622 9,28 28.571 5,45 53 An Giang

48.135 10,96 21.996 5,01 54 Tiền Giang

55.932 15,58 23.318 6,50 55 Bến Tre

27.242 10,23 16.423 6,17 56 Vĩnh Long

58.110 23,62 29.852 12,13 57 Trà Vinh

42.992 22,80 23.466 12,44 58 Hậu Giang

22.975 7,84 18.820 6,43 59 Cần Thơ

75.639 24,31 43.789 14,07 60 Sóc Trăng

34.973 8,84 24.932 6,30 61 Kiên Giang

36.054 18,64 21.944 11,35 62 Bạc Liêu

Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội [46]

34.144 12,14 17.143 6,09 63 Cà Mau

178

Phụ lục 8 DANH SÁCH CÁC XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN VÀ CÁC XÃ BIÊN GIỚI NĂM 2000 (CHƯƠNG TRÌNH 135 - GIAI ĐOẠN I) (Kèm theo Quyết định số 1232/1999/ QĐ-TTg ngày 24/12/1999)

Thuộc diện ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư

TT

Tỉnh

Ngân sách địa phương đầu tư

Các xã đặc biệt khó khăn 1.062

Các xã biên giới 144

124

284

Tổng

125

3

1 Hà Giang

106

7

84

2 Cao Bằng 3

51

Bắc Kạn Tuyên Quang

4

80

5

5

25

10

93

9

Lạng Sơn 6 Quảng Ninh Lai Châu 7

60

7

8

Sơn La

120

7

9

Lào Cai

61

10 Yên Bái

60

11 Hoà Bình

35

18

12 Bắc Giang 13 Thái Nguyên

40

14

Phú Thọ

2

3

3

15 Vĩnh Phúc 16 Hải Phòng 17 Ninh Bình

82

18 Thanh Hoá

99

1

14

3

25

19

5

18

2

19 Nghệ An 20 Hà Tĩnh 21 Quảng Bình 22 Quảng Trị 23 Thừa Thiên Huế

179

Thuộc diện ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư

TT

Tỉnh

Ngân sách địa phương đầu tư

Các xã biên giới

Các xã đặc biệt khó khăn 55

43

22

10

24 Quảng Nam 25 Quảng Ngãi 26 Bình Định 27

Phú Yên

28 Khánh Hoà

14

15

13

26

29 Ninh Thuận 30 Bình Thuận 31 Kon Tum

5

56

32 Gia Lai

33

5

35

22

7

25

33 Đắk Lắk 34 Lâm Đồng 35 Bình Phước 36 Trà Vinh

33

37

19

16

3

2

1

9

19

Sóc Trăng 38 Bạc Liêu 39 Đồng Nai 40 Vĩnh Long 41 Cần Thơ 42 Bình Dương 43 Bà Rịa Vũng Tàu 44 Tây Ninh

19

45 Long An

8

46 Đồng Tháp 47 An Giang

6

19

48 Kiên Giang

30

3

49 Cà Mau

15

Nguồn: Uỷ ban Dân tộc [88]

180

Phụ lục 9 TỔNG HỢP DANH SÁCH CÁC XÃ ĐĂC BIỆT KHÓ KHĂN VÀO DIỆN ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH 135 GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 (Ban hành kèm theo quyết định 164/2006/QĐ-TTg ngày 11 tháng 7 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ)

Phân loại vốn đầu tư

Ghi chú

TT

Tỉnh

Tổng số xã

Ngân sách địa phương đầu tư

Ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư 112

112

106 64

1 Hà Giang 2 Cao Bằng Lai Châu 3

106 64

59

59

4 Điện Biên

Bổ sung 9 xã chia tách

59

59

Sơn La

70

70

81

5 6 Bắc Kạn Lào Cai 7

81

27

Tuyên Quang

27

68 53

8 9 Lạng Sơn 10 Yên Bái

68 53

67

67

27

27

41

41

30

30

19

8 3 75

27 3 75

80

80

18 29

18 29

27

27

16

16

53

53

43

43

11 Hòa Bình 12 Bắc Giang 13 Thái Nguyên 14 Phú Thọ 15 Quảng Ninh 16 Vĩnh Phúc 17 Thanh Hoá 18 Nghệ An 19 Hà Tĩnh 20 Quảng Bình 21 Quảng Trị 22 Thừa Thiên Huế 23 Quảng Nam 24 Quảng Ngãi

181

Phân loại vốn đầu tư

Ghi chú

TT

Tỉnh

Tổng số xã

Ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư 0

Ngân sách địa phương đầu tư 5

5

17

17

11

11

13

13

12

12

25 Khánh Hòa 26 Bình Định 27 Phú Yên 28 Ninh Thuận 29 Bình Thuận 30 Kon Tum

48

48

31 Gia Lai

53

53

Bổ sung 1 xã chia tách

23

23

10

10

32

32

32 Đắk Lắk 33 Đắk Nông 34 Lâm Đồng 35 Bình Phước 36 Tây Ninh

20 15

20 15

25

25

38

38

14

14

2

0

2

37 Trà Vinh 38 Sóc Trăng 39 Bạc Liêu 40 Vĩnh Long 41 An Giang

11

5

6

42 Kiên Giang

5

22

27

Bổ sung 2 xã chia tách

19

19

5

5

43 Long An 44 Đồng Tháp 45 Cà Mau

9

0

9

1644

1581

63

Tổng cộng

Nguồn: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam [8]

182

Phụ lục 10 DANH SÁCH XÃ HOÀN THÀNH MỤC TIÊU CHƯƠNG TRÌNH 135 NĂM 2010 (Ban hành kèm theo Quyết định số 231/QĐ-TTg ngày 23 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ)

Phân loại ngân sách

TT

Tên xã

Tỉnh/Huyện

Tổng số cả nước Hà Giang

Địa phương 11 0

1

1. Vị Xuyên

Trung ương 60 3 x x x 0

2. Xín Mần Quảng Ninh

2

Ba Chẽ

3 x x x

71 3 Ngọc Linh Phong Quang Tả Nhìu 3 Đạp Thanh Thanh Lâm Thanh Sơn

Nguồn: Quyết định số 231/QĐ-TTg ngày 23 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ [44]

Phụ lục 11

TỶ LỆ DI CƯ GIỮA CÁC VÙNG TRONG 5 NĂM TRƯỚC THỜI ĐIỂM

TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ NĂM 1999 (1994 - 1999)

Tổng số dân từ 5 tuổi trở lên (người)

Tổng số Tr. đó: Nữ

TĐ: Nữ

Tỷ lệ di cư thuần tuý (%o) Tổng số

Tỷ lệ nhập cư (%o) Tổng số 69058547 35325092 29,0

TĐ: Nữ 28,3

Tỷ lệ xuất cư (%o) Tổng số 29,0

TĐ: Nữ 28,3

13592395 6995517

18,9

16,8

29,9

27,7 -11,0

-10,9

Cả nước Đồng bằng sông Hồng

9806289

4974857

13,4

12,5

25,6

23,0 -12,1

-10,6

1966849

986753

12,8

12,2

14,3

13,3

-1,5

-1,1

4587774

7,1

5,8

37,3

37,8 -30,2

-32,1

3013432

19,1

18,9

32,1

32,0 -13,1

-13,1

Đông Bắc Tây Bắc Bắc Trung Bộ 8948046 Duyên hải Nam Trung Bộ 5848801 2624553 Tây Nguyên

1302171

94,7

90,5

19,1

17,3

75,6

73,3

80,2

82,4

27,9

26,3

52,3

56,1

16,4

16,2

28,6

30,3 -12,2

-14,1

11490916 5879680 Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long 14780698 7584908

Nguồn: Tổng cục Thống kê [64, tr.1]

183

Phụ lục 12

KẾT QUẢ TỔNG HỢP CHƯƠNG TRÌNH 135 GIAI ĐOẠN 1999 - 2005

Đơn vị tính: Triệu đồng

Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

Hợp phần

TT

DA bố trí dân cư

DA hỗ trợ ổn định và phát triển sản xuất

DA Xây dựng kết cấu hạ tầng

DA xây dựng trung tâm cụm xã

DA đào tạo cán bộ xã

Tỉnh

Hà Giang(cid:13)

426.150

88.841,7

10.800

7.400,9

7.458,7

1

512.112

127.302

10.370

10.097,4

4.045

2

Cao Bằng(cid:13)

280.629

38.612

27.681

14.245

1.694

3

Lạng Sơn (cid:13)

59.949,84

6.894,06

2.739,82

6.320,07

784

4

Quảng Ninh(cid:13)

1.278.840,84

261.649,76

51.590,82

38.063,37

13.981,7

Tổng

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Uỷ Ban nhân dân các tỉnh Hà Giang [56],Cao Bằng [79], Lạng Sơn [99], Quảng Ninh [108]

Đơn vị tính: Triệu đồng

Phụ lục 13 KẾT QUẢ TỔNG HỢP CHƯƠNG TRÌNH 135 GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

Hợp phần

DA hỗ trợ phát

DA trợ giúp

STT

DA cơ sở hạ tầng

triển sản xuất

DA đào tạo cán bộ xã

pháp lý

Tỉnh

1

527.050

123.021

35.623,485

36.277,92

Cao Bằng

2

Hà Giang

528.572

121.650

35.365

115.137,7

3

294.750

70.030

17.935

62.278,3

Lạng Sơn

4

106.594

26.325

7.029

20.500

Quảng Ninh

1.456.966

341.026

95.952,485

234.193,92

Tổng

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Uỷ Ban nhân dân các tỉnh Cao Bằng [83], Hà Giang [97], Lạng Sơn [102], Quảng Ninh [111]

184

Phụ lục 14 KẾT QUẢ TỔNG HỢP CHƯƠNG TRÌNH 134 GIAI ĐOẠN 2004 - 2008 Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

Hợp phần

Hỗ trợ nước sinh hoạt

TT

Hỗ trợ nhà ở (Hộ)

Hỗ trợ đất ở (Hộ)

Hỗ trợ đất sản xuất (Hộ)

Phân tán (Công trình)

Tập trung (Công trình)

Tỉnh

1

10.911

561

433

506

810

Cao Bằng

2

Hà Giang

17.396

9.707

241

16.114

3

9.116

9.254

82

1.870

2.449

Lạng Sơn

4

968

4.436

106

101

763

Quảng Ninh

862

2.477

20.136

38.391

23.958

Tổng

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Uỷ Ban nhân dân các tỉnh Cao Bằng [80], Hà Giang [93], Lạng Sơn [100], Quảng Ninh [105]

Đơn vị tính: người

Phụ lục 15 THỰC TRẠNG HỌC SINH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐI HỌC THEO CHÍNH SÁCH CỬ TUYỂN Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM TỪ NĂM 2005 - 2010

Năm

TT

2005

2006

2007

2008

2009

2010

Tổng

Tỉnh

1

Hà Giang

57

57

60

61

57

114

406

2

39

40

50

52

40

30

251

Lạng Sơn

3

27

38

30

42

30

07

174

Quảng Ninh

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Uỷ ban nhân dân các tỉnh Hà Giang [96], Lạng Sơn [58], Quảng Ninh [103], [104], [107], [110]

185

Đơn vị tính: đồng/ tháng, %

Phụ lục 16 DIỄN BIẾN THU NHẬP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI/THÁNG Ở VÙNG MIỀN NÚI, DÂN TỘC

2002 Vùng 1999 2004/1999 2004

268.8 242.3 379.9 +56,8 Đông Bắc

197 177.6 265.7 +49,6 Tây Bắc

235.4 212.4 317.1 +49,3 Bắc Trung Bộ

Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2006 [67]

244 Tây Nguyên 344.7 390.2 +13,2

Đơn vị tính: %

DIỄN BIẾN TỶ LỆ HỘ NGHÈO Ở VÙNG MIỀN NÚI, DÂN TỘC

Vùng 2002 2004 2004/2002

38,4 29,4 -9,0 Đông Bắc

68,0 58,6 -9,4 Tây Bắc

43,9 31,9 -12,0 Bắc Trung Bắc

Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2006 [67]

Tây Nguyên 51,8 33,1 18,7

186

Phụ lục 17

CHÍNH PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/1998/QĐ-TTg

Hà Nội, ngày 06 tháng 01 năm 1998

QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ Về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc giai đoạn từ nay đến năm 2010

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Xét đề nghị của Chủ tịch Hội đồng thẩm định Nhà nước về các dự án đầu

tư tại công văn số 3202 BKH/HĐTĐ ngày 31 tháng 5 năm 1997.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc đến năm 2010 gồm 13 tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh với những nội dung chính như sau:

I. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU

1. Phấn đấu nhịp độ tăng trưởng GDP cả giai đoạn từ nay đến năm 2010 đạt khoảng trên 10%/năm, trong đó thời kỳ từ nay đến năm 2000 khoảng 10% để đạt mục tiêu GDP/người năm 2000 bằng khoảng 1,6 lần so với năm 1994 và năm 2010 bằng khoảng 2,5 lần so với năm 2000. Đảm bảo hài hòa quan hệ giữa phát triển nhanh, hiệu quả và lâu bền, thực hiện cơ bản xóa đói trước năm 2000, giảm 30 - 40% hộ nghèo so với hiện nay.

2. Sau năm 2000 hầu hết các tỉnh phấn đấu tự cân đối thu chi ngân sách trên địa bàn; tăng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. Đến năm 2000 tỷ lệ tích lũy đầu tư từ nội bộ nền kinh tế đạt khoảng 12 - 13% GDP và đến năm 2010 đạt khoảng 18 - 20% GDP.

187

3. Giá trị xuất khẩu tăng với nhịp độ 22 - 23%/năm trong cả giai đoạn từ nay đến năm 2010. Giá trị xuất khẩu của vùng Đông Bắc chiếm khoảng 4% so với cả nước vào năm 2010.

4. Năm 2010 cơ bản hoàn thành công tác định canh, định cư.

5. Nâng cao dân trí và thể lực của nhân dân; đảm bảo cuộc sống văn hóa, tinh thần ngày càng cao và lối sống ngày càng văn minh trong nhân dân. Giảm tối đa các bệnh dịch và các bệnh nguy hiểm như sốt rét, bướu cổ, trẻ em suy dinh dưỡng và các tệ nạn xã hội như mê tín, dị đoan, nghiện hút, tiêm chích ma túy, mại dâm...

6. Khôi phục và cải thiện môi trường; nâng tỷ lệ che phủ rừng trên diện tích tự nhiên từ 22,8% hiện nay lên 60% vào năm 2010 (tính cả cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả); bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái, nhất là ở các đô thị lớn, các khu công nghiệp tập trung, các hải cảng, khu du lịch.

7. Phối hợp với các lực lượng của Trung ương giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Quốc gia trên đất liền và vùng biển, góp phần tạo ra sự ổn định cần thiết cho quá trình phát triển của vùng và cả nước.

II. NHỮNG NHIỆM VỤ CHỦ YẾU VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

1. Về phát triển công nghiệp

- Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn từ nay đến năm

2010 khoảng 14 - 15%/ năm.

- Hình thành các ngành hoặc sản phẩm công nghiệp chủ lực, trong đó một số là mũi nhọn dựa trên các lợi thế về nguyên liệu và thị trường như: công nghiệp khai thác, tuyển quặng và tinh chế khoáng sản (than, sắt, kim loại mầu); công nghiệp vật liệu xây dựng; công nghiệp chế biến nông lâm, hải sản; công nghiệp luyện kim, chế tạo cơ khí; nhiệt điện và thủy điện vừa và nhỏ; công nghiệp phân bón, hóa chất; công nghiệp hàng tiêu dùng.

- Cải tạo và mở rộng các khu công nghiệp hiện có, đồng thời từng bước cải tạo các điều kiện về cơ sở hạ tầng để hình thành một số khu công nghiệp mới. Phát triển công nghiệp phải đi đôi với việc bảo vệ môi trường.

- Duy trì và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, đặc biệt là sản

xuất các sản phẩm mỹ nghệ có giá trị xuất khẩu cao.

188

2. Về phát triển nông nghiệp

- Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng nông nghiệp cả thời kỳ 1996 - 2010

khoảng 4%.

- Đổi mới cơ cấu nông nghiệp: chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa (giảm tỷ trọng cây lương thực, tăng tỷ trọng cây công nghiệp, cây ăn quả, rau thực phẩm); phát triển lương thực theo hướng thâm canh để giải quyết với mức cho phép nhu cầu tại chỗ. Phát triển mạnh các vùng cây tập trung tạo hàng hóa lớn. Chuyển đổi cơ cấu vật nuôi. Chú trọng phát triển các vùng cây đặc sản.

- Đổi mới hệ giống và tạo đủ giống cây trồng, vật nuôi, đi đôi với việc áp

dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, kể cả khâu sau thu hoạch.

3. Về phát triển lâm nghiệp - Phát triển lâm nghiệp theo hướng xã hội hóa, thực hiện chức năng bảo vệ

rừng đầu nguồn, trồng rừng mới và giữ gìn môi trường, sinh thái.

- Đổi mới giống cây trồng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với nhu

cầu của thị trường về lâm sản.

- Xây dựng các vùng nguyên liệu giấy, gỗ trụ mỏ, quế, hồi...

4. Các ngành dịch vụ

- Ngành Thương mại cần được phát triển mạnh để chuyển sang kinh tế hàng hóa. Đến năm 2000 GDP ngành Thương mại phấn đấu đạt tỷ trọng 9% so với tổng GDP và 21,6% so với GDP các ngành dịch vụ..., năm 2010 đạt 13% so với tổng GDP và 26% so với GDP với các ngành dịch vụ. Đẩy mạnh xuất khẩu qua biên giới Trung Quốc. Coi trọng nhập thiết bị máy móc vật tư cho sản xuất. Phát triển mạnh hệ thống các trung tâm thương mại, các khu kinh tế cửa khẩu. Phát triển thương nghiệp vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo. Khuyến khích tối đa đối với các loại đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để khắc phục khoảng cách đối với các vùng khác.

- Du lịch: Phát triển mạnh du lịch để nâng tỷ trọng đóng góp của ngành vào GDP của vùng đạt 6% năm 2000 và 10% năm 2010. Phát triển mạnh du lịch biển, xây dựng một số khu, cụm du lịch, tuyến du lịch nội vùng, liên vùng và quốc tế. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho ngành du lịch đồng thời tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý ngành du lịch.

- Phát triển các loại hình dịch vụ khác như vận tải quá cảnh, dịch vụ tài

chính, ngân hàng, chuyển giao công nghệ, thông tin liên lạc...

189

- Đẩy mạnh phát triển các vùng cửa khẩu, tạo cơ sở nâng cao khả năng

chuyển tải quá cảnh bằng đường sắt, đường bộ.

5. Về phát triển các lĩnh vực xã hội - Giáo dục - đào tạo: Ưu tiên phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng cao biên giới, hải đảo. Đa dạng hóa loại hình giáo dục nhằm thu hút ngày càng nhiều trẻ em đến tuổi đi học tới trường, lớp.

- Y tế: tăng cường điều kiện vật chất cho các cơ sở y tế đảm bảo chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám và chữa bệnh có chất lượng, giảm hẳn tình trạng suy dinh dưỡng ở bà mẹ và trẻ em. Đến năm 2000 khống chế được bệnh sốt rét, thanh toán bệnh bướu cổ, bệnh đần độn và các hậu quả do thiếu iốt. Trước năm 2010 hoàn thành xóa xã trắng về cơ sở y tế.

- Văn hóa thông tin - phát thanh truyền hình: thời kỳ từ nay đến năm 2000 phấn đấu các tỉnh trong vùng đều có trung tâm văn hóa hoặc trung tâm văn hóa - thể thao, có bảo tàng hoàn chỉnh, xây dựng đài phát thanh và truyền hình theo quy hoạch đã được Chính phủ phê duyệt.

Coi trọng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc, thời kỳ 2001 - 2010 phấn đấu đáp ứng các nhu cầu nghe, nhìn của nhân dân trong vùng ở mức độ trung bình so với cả nước.

6. Phát triển kết cấu hạ tầng Phát triển kết cấu hạ tầng then chốt phải được ưu tiên và đi trước một bước. Tập trung phát triển mạng lưới giao thông. Ngoài việc thực hiện chương trình giao thông năm 2000 của Bộ Giao thông vận tải, cần tiếp tục nâng cấp các Quốc lộ 2, Quốc lộ 3, Quốc lộ 1, Quốc lộ 70. Ngoài ra, trước năm 2005 khôi phục và nâng cấp các đường vành đai Quốc lộ 4, N1, N2 để tạo ra mạng lưới đường hoàn chỉnh cho cả vùng Đông - Bắc. Đến năm 2000 đạt 70% và năm 2010 đạt 90% số xã có điện. Từng bước xây dựng hệ thống thủy lợi cho sản xuất và hệ thống cấp nước cho các thành phố, thị xã, thị trấn, huyện lỵ, các khu công nghiệp, cấp nước sạch cho khu vực nông thôn, chú ý khu vực vùng cao đồng bào dân tộc. Phát triển mạng thông tin bưu chính - viễn thông đến năm 2000 phấn đấu đạt 75% và năm 2010 đạt 100% số xã có máy điện thoại.

7. Về môi trường Vấn đề môi trường phải được coi trọng song song với phát triển kinh tế - xã hội: phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, ưu tiên khu vực đầu nguồn, nơi có yêu cầu phòng hộ; chống ô nhiễm không khí, đất và nguồn nước, giữ gìn và bảo vệ

190

nghiêm ngặt môi trường khu vực ven biển, các đô thị, các trung tâm khu công nghiệp và khu vực khai thác than Quảng Ninh cũng như các khu vực khai thác khoáng sản khác.

8. Về an ninh - quốc phòng Củng cố, xây dựng phòng tuyến biên giới, bờ biển, hải đảo vững mạnh, thực hiện các Nghị quyết của Đảng về nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng - an ninh. Kết hợp với xây dựng kinh tế để thực hiện các nhiệm vụ chiến lược trên địa bàn vùng Đông - Bắc.

III. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Để thực hiện Quy hoạch phải có hệ thống biện pháp đồng bộ nhằm huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của vùng Đông - Bắc. Phải thể hiện và cụ thể hóa các phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu của Quy hoạch trong các kế hoạch 5 năm, hàng năm trên địa bàn từng tỉnh thuộc vùng Đông Bắc bằng các chương trình phát triển và các dự án đầu tư cụ thể. Các khu vực cần được ưu tiên phát triển là: Hệ thống đô thị, các tuyến hành lang kinh tế, hành lang biên giới, nông thôn (đặc biệt khu vực nông thôn vùng núi cao và hải đảo).

Đối với các tỉnh có biên giới Quốc gia, cần đẩy mạnh phát triển các khu vực cửa khẩu, xây dựng các cửa khẩu thành trung tâm giao lưu kinh tế và thương mại. Đồng thời cần quan tâm tới việc xây dựng cơ sở vật chất cho các đồn, trạm biên phòng để tạo điều kiện cho việc hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới. Cần nghiên cứu lồng ghép, phối hợp các chương trình mục tiêu đẩy mạnh phát triển các khu vực vùng cao, biên giới, các khu vực có khó khăn đặc biệt. Việc này cần phải được phối hợp chặt chẽ từ Trung ương đến các tỉnh để bảo đảm đồng bộ và tập trung, phát huy hiệu quả của các chương trình.

2. Cụ thể hóa các giải pháp về vốn, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và môi trường, mở rộng thị trường bằng các cơ chế chính sách phù hợp với các đặc điểm của vùng và đặc điểm của từng tỉnh để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định nhằm thực hiện tốt những mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã nêu trong Quy hoạch.

3. Trên cơ sở Quy hoạch tổng thể được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cần rà soát kỹ hệ thống các chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc, danh mục các dự án đầu tư và sắp xếp lại thứ tự ưu tiên cho hợp lý để đưa dần vào kế hoạch hàng năm của các tỉnh. Đối với các xã, huyện vùng cao biên

191

giới, vừa là vùng núi có nhiều khó khăn, vừa là vùng trọng điểm an ninh, cần có kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cụ thể để có giải pháp tập trung cao độ để tạo bước đi trong giai đoạn trước mắt và chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo.

Điều 2. Các Bộ, ngành ở Trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh vùng Đông Bắc phải có kế hoạch cụ thể 5 năm, hàng năm để tổ chức chỉ đạo thực hiện các chương trình, dự án trong phạm vi chỉ đạo của Bộ, ngành và tỉnh mình theo các mục tiêu và định hướng phát triển đã nêu trong Quyết định phê duyệt Quy hoạch này.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh vùng Đông Bắc có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành ở Trung ương trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình và các dự án đã đề ra.

Điều 3. Trong quá trình thực hiện Quy hoạch phát triển vùng Đông Bắc, Bộ Kế hoạch và Đầu tư kết hợp với các Bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh vùng Đông Bắc tiến hành tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm để bổ sung điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với Quy hoạch chung của cả nước.

Điều 4. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh thuộc vùng Đông Bắc và các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ (Đã ký)

Nguồn: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [7]

Phan Văn Khải