HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HOÀNG THU THỦY
Qu¸ tr×nh thùc hiÖn chÝnh s¸ch d©n téc cña §¶ng ë mét sè tØnh miÒn nói §«ng B¾c ViÖt Nam tõ n¨m 1996 ®Õn n¨m 2010
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2014
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HOÀNG THU THỦY
Qu¸ tr×nh thùc hiÖn chÝnh s¸ch d©n téc cña §¶ng
ë mét sè tØnh miÒn nói §«ng B¾c ViÖt Nam
tõ n¨m 1996 ®Õn n¨m 2010
Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
: 62 22 56 01
Mã số
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS, TS NGUYỄN BÌNH BAN
2. TS NGUYỄN DANH TIÊN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi trên cơ sở sưu tầm, đọc và phân
tích các tài liệu. Tất cả các tài liệu tham khảo, các tư
liệu, số liệu thống kê sử dụng trong Luận án là trung
thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Nghiên cứu sinh
Hoàng Thu Thủy
MỤC LỤC
Trang
1
MỞ ĐẦU
9
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
22
Chương 1: QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM (TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000) 1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và chính sách dân tộc của Đảng
22
đối với vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam
1.2. Tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh
43
miền núi Đông Bắc
Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI
66
ĐÔNG BẮC VIỆT NAM (TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010) 2.1. Chính sách dân tộc của Đảng trong quá trình đẩy mạnh công
66
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng miền núi Đông Bắc
2.2. Tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh
80
miền núi Đông Bắc
117 117 137
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM VỀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010 3.1. Một số nhận xét 3.2. Một số kinh nghiệm
153
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
156
ĐẾN LUẬN ÁN
157
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
169
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là quốc gia đa tộc người, với 54 thành phần dân tộc, trong đó miền
núi - vùng dân tộc thiểu số Việt Nam chiếm hơn 3/4 lãnh thổ, có hơn 1/3 số dân với
hơn 23 triệu người. Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm,
các dân tộc thiểu số đã gắn bó, đoàn kết, hòa nhập cùng dân tộc Kinh thành một kết
cấu thống nhất về mặt lãnh thổ, về mặt thể chế - hành chính, về mặt ý thức hệ quốc
gia - dân tộc, trong sự đa dạng về văn hóa tộc người. Nhận thức rõ vị trí, tầm quan
trọng của vấn đề dân tộc và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, trong quá trình
lãnh đạo cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc hoạch
định đường lối, chủ trương và chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương thực hiện
tốt chính sách dân tộc. Nhờ vậy, trong các giai đoạn cách mạng, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã tập hợp đông đảo các tầng lớp, giai cấp tham gia vào nhiệm vụ giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tạo nên sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, góp phần đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng dân
tộc, thống nhất Tổ quốc. Không chỉ giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc
lập dân tộc mà sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã tạo ra những thành
tựu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa.
Qua hơn 25 năm đổi mới đất nước, kinh tế - xã hội ở những địa bàn có nhiều
dân tộc thiểu số sinh sống đã phát triển tương đối nhanh. Kế thừa truyền thống quý
báu của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết
toàn dân, đó là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
(4/2001) khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí
chiến lược trong sự nghiệp cách mạng” [22, tr.127]. Thực hiện tốt chính sách các
dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, xây dựng kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất hàng hoá, chăm lo đời sống vật chất và
2
tinh thần, xoá đói giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu, phát huy bản sắc
văn hoá và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc.
Vùng Đông Bắc Việt Nam là một khu vực lịch sử - dân tộc học; gồm cả hệ
sinh thái rẻo cao, rẻo giữa và rẻo thấp; có nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng;
giàu bản sắc văn hoá, trong đó đóng vai trò chủ thể vùng là nhóm cư dân Tày -
Nùng. Thổ nhưỡng phục vụ cho phát triển nông - lâm nghiệp: rừng làm nguyên liệu
cho công nghiệp, là tấm lá chắn bảo vệ, che chở và nuôi dưỡng cho môi trường bền
vững. Thảm thực vật đa dạng phục vụ cho nghiên cứu và an ninh sinh kế tộc người.
Sông ngòi và tài nguyên nước phục vụ cho thuỷ điện; khoáng sản phục vụ cho phát
triển các ngành công nghiệp v.v... Do vậy, việc phát huy các thế mạnh của vùng
không chỉ có ý nghĩa kinh tế lớn, mà còn có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Tuy nhiên,
những tiềm năng ấy chưa được khai thác hiệu quả, thiếu tính bền vững. Bên cạnh
đó, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng được đẩy tới thì các dân tộc thiểu
số sống ở khu vực này càng bị thua thiệt về cơ hội phát triển, họ ít có khả năng tham
gia vào quá trình đó.
Vùng Đông Bắc là địa bàn cư trú của hàng chục dân tộc thiểu số (Tày, Nùng,
Thái, Mường, Dao, Mông…). Phần lớn các dân tộc thiểu số ở đây lại có quan hệ
đồng tộc về mặt lịch sử và văn hoá với các tộc người của quốc gia láng giềng.
Chính vì vậy, các dân tộc trong vùng và các dân tộc bên kia biên giới bên cạnh sự
“sơn thuỷ tương liên” còn có mối quan hệ “văn hoá tương đồng” [119, tr.9], thậm
chí cả quan hệ huyết thống. Các quan hệ đồng tộc xuyên biên giới (hôn nhân xuyên
biên giới, thăm thân xuyên biên giới, di chuyển lao động xuyên biên giới...) rất phổ
biến. Thậm chí, các học giả phương Tây gọi hiện tượng này là chủ nghĩa bản địa
xuyên quốc gia. Đông Bắc còn là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh,
chính trị, quốc phòng và quan hệ lân bang - khi vùng Đông Bắc có đường biên giới
dài hàng nghìn ki-lô-mét giáp với Trung Quốc cả trên đất liền, trên biển, trên không
và dưới lòng đất. Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi, dân tộc biên
giới là cơ sở đảm bảo giữ vững an ninh, quốc phòng của đất nước. Vì vậy, việc xây
dựng chính sách quản lý và phát triển đối với vùng biên giới, đa tộc người trở nên
vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với
3
Trung Quốc bên cạnh xu hướng tích cực (như: thúc đẩy giao thương kinh tế, giao
lưu văn hoá, tăng cường đối ngoại nhân dân, hình thành các khu kinh tế cửa khẩu...)
thì cũng nảy sinh hàng loạt vấn đề an ninh phi truyền thống phức tạp như: di dân
xuyên biên giới, buôn bán ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, buôn lậu hàng hoá,
ứng phó với hiểm họa dịch bệnh lây lan nhanh (người, động vật, thực vật), thảm
họa thủy điện và tranh chấp nguồn nước, các tổ chức ngoài nhà nước hoạt động
xuyên biên giới...
Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt
Nam đã có nhiều chính sách ưu tiên đầu tư cho các tỉnh miền núi Đông Bắc Việt
Nam. Nhờ vậy, đời sống nhân dân và bộ mặt nông thôn miền núi có sự thay đổi.
Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa tương xứng và chưa đáp ứng yêu cầu của nhân
dân, đặc biệt là các dân tộc thiểu số. Các tỉnh miền núi Đông Bắc vẫn là vùng
chậm phát triển; trình độ phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội còn một khoảng
cách lớn so với các khu vực khác trong cả nước. Sau một quá trình thực hiện
thành công các chương trình, dự án giảm nghèo cho vùng miền núi và dân tộc
thiểu số nói chung, đã đến lúc Đảng, Nhà nước phải có một hệ thống chính sách
mới phù hợp với xu thế và trình độ phát triển khi Việt Nam đã bước vào ngưỡng
của nước thu nhập trung bình thấp. Mặt khác, thực tiễn đã và đang nảy sinh
nhiều vấn đề cần được giải quyết như: vấn đề quan hệ dân tộc - quốc gia, dân
tộc - tộc người, di dân tự do, vấn đề đói nghèo, vấn đề bảo tồn và phát huy bản
sắc văn hoá tộc người… đòi hỏi chính sách dân tộc phải được xây dựng và vận
hành nhằm mang lại quyền bình đẳng thực sự cho các dân tộc. Muốn xây dựng
và hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc, cần có một nghiên cứu quy mô và
toàn diện về vùng dân tộc thiểu số nói chung cũng như ở vùng miền núi Đông
Bắc nói riêng. Qua đó, tổng kết, đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện chính sách
dân tộc của Đảng; đồng thời, nhận diện những ưu điểm, hạn chế và đúc kết kinh
nghiệm nhằm hoàn thiện chính sách dân tộc nói chung cũng như các chủ trương,
chính sách, giải pháp thực hiện chính sách dân tộc ở khu vực các tỉnh miền núi
Đông Bắc nước ta nói riêng.
4
Do đó, việc thực hiện đề tài “Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của
Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010” là
vấn đề khoa học có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích
- Làm sáng tỏ nhận thức khoa học về chính sách dân tộc của Đảng và quá
trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc
của Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010.
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế của quá trình tổ chức thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến
năm 2010.
- Tổng kết một số kinh nghiệm chủ yếu về tổ chức thực hiện chính sách dân
tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc từ năm 1996 đến năm 2010 - gợi ý cho
tổng kết thực tiễn - lý luận 30 năm đổi mới.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt được những mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
- Phân tích các công trình nghiên cứu trước đây để xác định những cơ sở
phương pháp luận cần vận dụng trong thực hiện luận án, những vấn đề đã được giải
quyết có thể kế thừa và phát triển, những khoảng trống cần phải bổ khuyết.
- Khái quát những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình dân tộc
và dân cư ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam với ý nghĩa tạo nên đặc
tính vùng.
- Nghiên cứu, hệ thống hoá quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt
Nam về chính sách dân tộc ở vùng miền núi Đông Bắc từ năm 1996 đến năm 2010
nhằm góp phần làm rõ sự phát triển về nhận thức và sự chỉ đạo thực tiễn của Đảng
về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở địa bàn này.
- Phân tích quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số
tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam trong những năm 1996 - 2010.
- Đánh giá thành tựu và hạn chế của Đảng trong lãnh đạo thực hiện chính
sách dân tộc tại một số tỉnh vùng Đông Bắc nước ta từ năm 1996 đến năm 2010.
5
- Đúc kết một số kinh nghiệm cơ bản trong quá trình thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam từ năm
1996 đến năm 2010.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các quan điểm, chủ trương, định hướng hợp thành chính sách dân tộc (theo
nghĩa rộng) của Đảng; sự thể chế hóa về mặt nhà nước ở cấp vĩ mô, cấp vùng và
cấp địa phương; các biện pháp thực thi chính sách dân tộc ở một số tỉnh vùng Đông
Bắc từ năm 1996 đến năm 2010.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận án nghiên cứu giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2010 -
đây là lúc mà Việt Nam chuyển sang thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội
nhập sâu hơn với khu vực và trên thế giới. Năm 2010 là mốc thời gian các Đảng bộ
tỉnh Đông Bắc kết thúc nhiệm kỳ của đảng bộ địa phương 2005 - 2010, có sự đánh
giá tổng kết thực hiện chính sách dân tộc của 5 năm và 10 năm trước đó.
- Về không gian - địa bàn: Vùng Đông Bắc được hiểu theo nhiều góc tiếp
cận khác nhau [Phụ lục 17], có thể là vùng văn hóa - lịch sử, vùng địa lý - sinh thái,
vùng tộc người, vùng thể chế. Trong phạm vi luận án này, vùng Đông Bắc được xác
định là không gian địa lý - tộc người, lấy Thủ đô Hà Nội làm điểm nhìn để xác định
tọa độ cho phương vị "đông bắc", lấy phạm vi các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà
Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang làm không gian chung cho
nghiên cứu cảnh quan cấp vùng, chọn các tỉnh biên giới Hà Giang, Cao Bằng, Lạng
Sơn, Quảng Ninh làm địa bàn khảo sát thực địa chủ yếu của luận án.
- Về nội dung:
+ Chính sách dân tộc có nội dung rất rộng, thể hiện trên tất cả các mặt chính
trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh,... Tuy nhiên, luận án chỉ giới hạn
ở năm nhóm chính sách chủ yếu: chính sách kinh tế (xoá đói giảm nghèo, phát triển
kinh tế); chính sách chăm lo phát triển trí lực và thể lực (giáo dục - đào tạo, y tế,
nâng cao đời sống vật chất); chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các
6
dân tộc; chính sách cán bộ dân tộc thiểu số; Xây dựng, củng cố nền quốc phòng
toàn dân và an ninh nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
+ Tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng gồm cả cấp trung ương,
địa phương (tỉnh, huyện, xã), cộng đồng (làng/bản), hộ gia đình và cá nhân; cả hệ
thống chính trị, doanh nghiệp và nhân dân; luận án chỉ tập trung vào khâu trọng tâm
là sự thể chế hóa về mặt nhà nước; các biện pháp lớn trong triển khai các chương
trình, dự án trọng điểm; các phong trào và mô hình điển hình kết hợp giữa ý đảng
với lòng dân.
4. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và chính sách dân tộc. Đặc biệt, luận án
bám sát đến các quan điểm biện chứng, khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể để
triển khai các ý tưởng nghiên cứu.
4.2. Nguồn tư liệu
- Tư liệu sơ cấp: Các số liệu, thông tin do tác giả thu thập thông qua các
phương pháp điều tra xã hội học, điền dã dân tộc học tại một số tỉnh miền núi
Đông Bắc.
- Tư liệu thứ cấp: Những số liệu, tài liệu, công trình nghiên cứu, sách chuyên
khảo đã công bố của các nhà nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, kể cả các luận
văn, luận án.
- Tư liệu cấp ba: Các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, X, XI và các
Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương từ khoá VIII đến khoá XI; các văn bản
pháp quy của Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành; các báo
cáo tổng kết của Uỷ ban Dân tộc và Miền núi, niên giám thống kê của Trung ương
và địa phương, các tác phẩm kinh điển liên quan đến luận án.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logíc là hai phương pháp chính
được vận dụng, kết hợp để nghiên cứu tổng thể luận án cũng như triển khai các
7
nội dung cụ thể ở từng chương, tiết. Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số phương
pháp khác như: phương pháp tổng kết thực tiễn; phương pháp thống kê; phương
pháp so sánh; phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, tài liệu cấp ba; phương
pháp tổng hợp...
5. Đóng góp mới của luận án
- Về mặt tư liệu:
Hệ thống hóa, phát hiện và giải mã một số tư liệu mới về dân tộc và quá trình
thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam.
- Về mặt nhận thức:
+ Phân tích khoa học về một số chính sách dân tộc và thực thi chính sách
dân tộc của Đảng áp dụng ở cấp độ vùng, mang đặc điểm vùng và địa phương do
chế định của yếu tố địa lý, bản sắc tộc người, quan hệ Việt - Trung trong điều kiện
hội nhập.
+ Rút ra một số nhận xét, kết luận dựa trên tư liệu mới và thông tin mới được
phân tích, luận giải khoa học, đặc biệt là các nhận xét, kết luận về thực hiện chính
sách dân tộc gắn với nhóm cư dân Tày - Nùng, Mông - Dao, gắn với đặc thù các
tỉnh biên giới.
+ Tổng kết một số kinh nghiệm có ý nghĩa đóng góp vào tổng kết thực tiễn -
lý luận 30 năm đổi mới trên vấn đề dân tộc được xem xét ở cấp độ vùng và địa
phương một số tỉnh miền núi Đông Bắc.
- Về mặt thực tiễn:
+ Những kinh nghiệm được đúc kết giai đoạn 1996- 2010 có ý nghĩa tham
chiếu cho quá trình triển khai chính sách dân tộc ở vùng Đông Bắc trong giai đoạn
hiện nay.
+ Luận án có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy
về chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam ở các trường đại học, cao đẳng.
6. Ý nghĩa của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ hơn vai trò lãnh đạo của
Đảng; đồng thời, khẳng định quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng tại
8
vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước có ý nghĩa quan trọng trong việc tổng kết một số kinh nghiệm lý
luận - thực tiễn 30 năm đổi mới trên vấn đề dân tộc được xem xét ở cấp độ vùng
và địa phương.
Luận án cung cấp thêm luận cứ khoa học và gợi mở một số suy nghĩ có thể
vận dụng vào thực tiễn thực hiện chính sách dân tộc ở vùng Đông Bắc trong giai
đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án được kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết.
9
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
Chính sách dân tộc: Theo định nghĩa trong Từ điển Bách khoa Việt Nam,
chính sách dân tộc là bộ phận cấu thành chính sách chung của một chính đảng hay
một nhà nước nhằm vạch ra những nguyên tắc, biện pháp đối xử và giải quyết vấn
đề dân tộc trong một nước [74].
Như vậy, nội dung chính sách dân tộc của Đảng phải tác động, làm biến đổi
thực sự bộ mặt kinh tế, xã hội, văn hoá của các vùng dân tộc và các dân tộc, từng
bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đưa các
vùng dân tộc từ trình độ sản xuất và đời sống thấp từng bước đi lên chủ nghĩa xã
hội, xây dựng và phát triển quan hệ dân tộc tốt đẹp trên nguyên tắc bình đẳng,
đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển. Tuy nhiên, đây là quá trình lâu dài,
gian khổ và hết sức phức tạp, đòi hỏi phải có sự chủ động, nhạy bén, sáng tạo
trong việc xác định con đường, biện pháp, hình thức, bước đi thích hợp đối với
từng vùng dân tộc.
Chính sách dân tộc của Đảng là chính sách chung đối với tất cả các dân tộc
sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Chính sách dân tộc hàm chứa nhiều nội dung, rất
đa dạng, phong phú như: các chính sách về phát triển kinh tế, chính sách phát triển
văn hoá, chính sách chính trị - xã hội, chính sách tôn giáo vùng đồng bào dân tộc
thiểu số v.v… Do đó, đề tài “Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở
một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010” là một vấn
đề có tính chất liên ngành, vừa là vấn đề chính trị, vừa là vấn đề kinh tế, văn hoá, xã
hội. Ở mức độ, góc độ nghiên cứu khác nhau, chính sách dân tộc cũng là đối tượng
nghiên cứu của các ngành sử học, dân tộc học, xã hội học,…
Trong quá trình khảo sát tư liệu, tác giả luận án nhận thấy vấn đề “Quá trình
thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam
từ năm 1996 đến năm 2010” được đề cập đến nhiều trong các công trình, bài viết,
song, có thể chia theo 04 nhóm như sau:
10
Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về dân tộc và chính sách dân tộc ở
miền núi nói chung
Có nhiều công trình, bài viết của các tác giả nghiên cứu về dân tộc và
chính sách dân tộc, trong đó đề cập đến các vấn đề như dân số, đặc trưng văn
hoá, kinh tế… của 54 dân tộc trong cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam.
Những công trình tiêu biểu đề cập đến vấn đề này như: Cộng đồng quốc gia dân
tộc Việt Nam [117], Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam [11].
Đề cập tới vấn đề bình đẳng dân tộc có các công trình Bảo đảm bình đẳng và
tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện
nay [2], Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp của [76]. Các
công trình này đã khẳng định: “Thực hiện bình đẳng dân tộc là một nhu cầu rất to lớn
trong tiến trình phát triển của xã hội Việt Nam” [76, tr.7]. Đồng thời chỉ rõ, đó còn là
một nhân tố quan trọng đảm bảo cho xã hội Việt Nam ổn định và phát triển. Trên cơ
sở nêu rõ những nhận thức lý luận mới về dân tộc, quan hệ dân tộc và chính sách dân
tộc; đánh giá thực trạng tình hình kinh tế - xã hội và các quan hệ dân tộc; làm rõ
những thành tựu và yếu kém, khuyết điểm trong quá trình thực hiện chính sách dân
tộc, các tác giả của các nghiên cứu này đã nhận định: Những bất cập, hạn chế trong
việc giải quyết các quan hệ dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc đều có thể làm phát
sinh những mâu thuẫn, những xung đột dân tộc và giữa các tộc người trong quá trình
phát triển; gây tổn hại lớn tới khối đại đoàn kết dân tộc, cản trở và kìm hãm sự phát
triển của dân tộc và của từng tộc người; đồng thời, làm suy giảm và triệt tiêu nội lực,
động lực phát triển chung của đất nước, của quốc gia - dân tộc. Từ việc tổng kết thực
tiễn để phát hiện mâu thuẫn và tình huống, tác giả đã dự báo các xu hướng, đề xuất
các giải pháp và nêu lên những khuyến nghị về chính sách và các vấn đề có liên quan
tới sự phát triển của các tộc người, các quan hệ dân tộc, đoàn kết dân tộc ở nước ta.
Cũng theo tác giả các công trình này, cùng với đổi mới nhận thức, xây dựng hệ thống
chính trị và đào tạo nguồn nhân lực thì thực hiện tốt chính sách dân tộc trên các lĩnh
vực kinh tế, văn hoá, xã hội, được xem là giải pháp cơ bản để thực hiện công bằng,
bình đẳng trong phát triển vùng đa tộc người ở Việt Nam hiện nay.
11
Những kết quả nghiên cứu nêu trên góp phần tạo tiền đề, luận cứ khoa học
cho những quyết sách mới của Đảng và Nhà nước về vấn đề quan hệ dân tộc và
chính sách dân tộc hiện nay cũng như về sau.
Về giải quyết mối quan hệ dân tộc trong giai đoạn hiện nay có các công trình
nghiên cứu tiêu biểu như Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến
mối quan hệ dân tộc hiện nay [9]; Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và
quan hệ dân tộc ở Việt Nam [37]. Các công trình tiếp cận vấn đề chính sách dân tộc
từ lý luận phát triển của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phác hoạ
bức tranh tổng thể về xung đột dân tộc đang diễn ra trên thế giới; đồng thời, nêu lên
các bài học kinh nghiệm và phương hướng giải quyết để hạn chế những xung đột
tộc người. Đối với Việt Nam, các tác giả đã nêu lên thực trạng mối quan hệ dân tộc
ở nước ta hiện nay vẫn còn tiểm ẩn những yếu tố có thể gây mất ổn định, đồng thời
đề xuất một số khuyến nghị để thực hiện tốt đường lối, chính sách dân tộc của Đảng
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Cuốn sách Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế xã hội ở miền
núi [26] đã dành một chương đánh giá vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách
dân tộc ở Việt Nam. Trên cơ sở khái quát thực trạng kinh tế - xã hội ở vùng dân
tộc thiểu số, tác giả đưa ra những nhận thức và quan điểm cơ bản về chính sách
dân tộc trong thời kỳ mới, trong đó khẳng định: phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở
để thực hiện chính sách dân tộc.
Phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số chính là khâu then chốt - giải pháp
có tính đột phá cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta nói chung, sự
phát triển của vùng đồng bào dân tộc thiểu số nước ta nói riêng - đó là nhận định
được rút ra từ cuốn sách Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số Việt
Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (Sách
chuyên khảo) [42]. Tác giả khẳng định: Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn chiến lược
về kinh tế - xã hội, môi trường, văn hoá, chính trị, an ninh, quốc phòng, tôn giáo,
dân tộc và quan hệ quốc tế của đất nước. Vùng dân tộc thiểu số chứa đựng nhiều
nguồn tài nguyên thiên nhiên, xã hội, lịch sử, văn hoá vô giá phục vụ cho sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tiềm năng và cơ hội phát triển của vùng
12
dân tộc thiểu số không chỉ mang ý nghĩa tự thân mà còn cho cả đất nước. Bên cạnh
đó, vùng dân tộc đang phải đương đầu với những thách thức to lớn về phát triển,
trước hết là thách thức về số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực. Trình độ
dân trí thấp, thiếu hiểu biết, thiếu thông tin của người dân tộc thiểu số chính là mảnh
đất màu mỡ cho các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc,
chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Với nhận thức đó, cuốn sách chuyên khảo đã trình
bày luận cứ lý thuyết và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số nước ta
đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong đó, nêu lên kinh
nghiệm phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số của một số nước trên thế giới
như Canada, Trung Quốc. Đồng thời, phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực
dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ đổi mới và rút ra nhận định quan trọng về vấn đề
phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số, đã đóng góp vào việc cung cấp luận cứ
và giải pháp cho phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số nước ta.
Tóm lại, có thể thống kê nhiều hơn nữa các công trình loại này, song đây là
những nghiên cứu tổng hợp, mang đến những nhận định khái quát về đặc điểm địa
lý, văn hoá xã hội, về thành phần dân tộc và sự phân bố các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam. Từ đó, rút ra một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn về đời sống
của đồng bào các dân tộc thiểu số; đồng thời, đóng góp cơ sở khoa học cho việc
thực hiện tốt hơn chính sách bình đẳng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điểm
thống nhất cơ bản của các nghiên cứu này là tiếp cận, nhìn nhận, giải quyết vấn đề
dân tộc ở Việt Nam từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh. Tuy nhiên, khi kiến giải từng vấn đề cũng có những khác biệt. Những công
trình nghiên cứu trên cung cấp cơ sở lý thuyết, phương pháp luận và phần nào dữ
liệu để triển khai nghiên cứu luận án.
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về chính sách dân tộc của Đảng và
Nhà nước Việt Nam
Từ cuối những năm 1990 đến nay, chính sách dân tộc đã được các viện,
nhóm học giả trong và ngoài nước nghiên cứu như cuốn sách Vấn đề dân tộc và
định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá [120]. Tuy nhiên, công trình này không tránh khỏi những đánh giá mang tính
13
chủ quan ngay trong việc nhìn nhận một cách khách quan nhất kết quả thực hiện
chính sách dân tộc trong thời gian qua.
Chuyên khảo Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay
[40] một mặt, giúp người đọc nhìn nhận hệ thống về chính sách dân tộc của Đảng
và Nhà nước Việt Nam từ năm 1930 đến nay; mặt khác, thông qua khảo sát thực tế
tại vùng dân tộc như Tây Bắc, Tây Nguyên, đã rút ra những kết luận, làm rõ những
thành công và hạn chế trong quá trình hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng và Nhà nước Việt Nam, xác định những quan điểm, phương hướng lớn về
chính sách dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc trong thực tiễn nhằm đảm bảo công
bằng, bình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau cùng phát triển, đặc biệt là xử lý các
vấn đề bức xúc như: tranh chấp nguồn lợi, xung đột tộc người, vấn đề nghèo đói,
tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch... Qua công trình nghiên cứu, các
tác giả đã phân biệt khái niệm “dân tộc” với tính cách tộc người với khái niệm "dân
tộc" mang hàm nghĩa “quốc gia - dân tộc” [40, tr.250].
Chính sách dân tộc của Việt Nam trong những năm đổi mới đã hướng đến
can thiệp vào những vùng trọng điểm như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, đặc
biệt là trên các vấn đề: chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xoá đói giảm nghèo, đào tạo cán
bộ dân tộc thiểu số… Chuyên khảo: Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở miền
Trung, Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới [13] là một ví dụ. Đóng góp của tác giả đã
nhận diện đặc trưng Tây Nguyên với tính cách khu vực lịch sử - dân tộc học không
thể lầm lẫn với khu vực nào khác trên đất nước Việt Nam, với địa bàn cư trú truyền
thống của cư dân nói tiếng Malayo-polinesien và Môn-Khơme, trên cơ sở đó chỉ ra
những bất cập của chính sách khi chưa sát hợp với đặc điểm vùng và đặc điểm tộc
người. Điều đó dẫn đến không ít hệ lụy ở Tây Nguyên từ sau năm 1975, đáng chú ý
là các vấn đề xử lý không thỏa đáng vấn đề đất ở và đất canh tác cho các tộc người
bản địa, quản lý di cư tự do thiếu chặt chẽ, tình trạng phá rừng nghiêm trọng đe dọa
đến không gian sinh tồn và sinh kế tộc người... Các hạn chế đó đã bị các thế lực thù
địch lợi dụng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết tộc người, tạo nên các cuộc bạo loạn
chính trị, đỉnh điểm là năm 2001, mà đến nay tình hình Tây Nguyên đã "yên"
nhưng vẫn chưa "ổn". Tác giả còn rút ra một số kinh nghiệm từ cuộc đấu tranh
14
chống “diễn biến hòa bình” ở Tây Nguyên. Tuy nhiên, một hạn chế dễ nhận thấy ở
công trình này đó là tập trung nghiên cứu dựa trên các đặc điểm phân bố dân cư,
phát triển kinh tế, giao thông và mức sống…
Bàn về những xu hướng tác động đến quản lý phát triển xã hội các vùng dân
tộc thiểu số nước ta hiện nay, trong bài viết Những xu hướng tác động đến quản lý
phát triển xã hội các vùng dân tộc thiểu số nước ta [30], tác giả đã đề cập tới một số
xu hướng chủ yếu như: Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá, tự do hoá kinh tế; xu
hướng dân chủ hoá; xu hướng đan xen vấn đề dân tộc với tôn giáo; xu hướng đan
xen giữa xung đột xã hội với hợp tác xã hội trong quan hệ tộc người; xu hướng hợp
tác hóa lãnh thổ. Đồng thời, tác giả khẳng định: các xu hướng trên đang và sẽ tác
động đến quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc thiểu số Việt Nam trong thập niên
tới, bao gồm cả tích cực, tiêu cực và lưỡng cực. Vì vậy, các giải pháp hoàn thiện
chính sách quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc thiểu số trong đó đòi hỏi phải phát
huy mặt tích cực, hoá giải mặt tiêu cực, kiểm soát được các tác động lưỡng cực.
Luận án tiến sỹ Lịch sử: Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng
Cộng sản Việt Nam đối với đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long [48] đi
sâu nghiên cứu chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung và đối
với đồng bào Khmer nói riêng cũng như quá trình thực hiện tại vùng đồng bằng
sông Cửu Long. Nghiên cứu này đã nhận diện đặc trưng của vùng Tây Nam Bộ với
địa bàn cư trú lâu đời của người Khơ-me, làm rõ những đặc điểm quan hệ tộc người
nội vùng, liên vùng - xuyên biên giới với Campuchia, các yếu tố lịch sử, các đặc
điểm của hệ sinh thái châu thổ - sông nước... ảnh hưởng đến đời sống đồng bào. Vì
vậy, chính sách dân tộc không chỉ giải quyết những vấn đề của quyền bình đẳng tộc
người mà còn phải chú ý hóa giải các tác động bất lợi từ sự lợi dụng các vấn đề
Phật giáo Nam tông, vấn đề lãnh thổ lịch sử, vấn đề quan hệ tộc người xuyên biên
giới để thực hiện "diễn biến hòa bình", thúc đẩy chủ nghĩa giải lãnh thổ. Từ những
kết quả đạt được trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc trên các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội, tác giả mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp để
thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc tại vùng đồng bào dân tộc Khơ-me.
15
Nhìn chung, các đề tài và các bài viết đã cung cấp một cách khách quan, toàn
diện tình hình thực hiện chính sách dân tộc ở các địa bàn nghiên cứu. Các công
trình, bài viết cho thấy, ngoài những chính sách quốc gia phục vụ như những hướng
dẫn và chiến lược chung cho phát triển, còn có những chính sách riêng cho các
vùng nhằm vào các khu vực địa lý cụ thể dựa trên những điều kiện riêng biệt của
từng vùng. Với nhận định, kết luận và bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá
trình nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp luận cứ khoa học để tiếp tục hoàn thiện các
giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc của Đảng trong tình hình mới.
Nhóm 3: Các công trình, đề tài nghiên cứu về vấn đề dân tộc, chính sách
dân tộc ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc
Tác giả cuốn sách Văn hoá dân tộc Nùng ở Cao Bằng [116] lần đầu tiên thực
hiện nghiên cứu chuyên biệt về toàn bộ hệ thống văn hoá dân tộc Nùng ở Cao Bằng.
Dựa vào những tài liệu có thể khai thác tại địa phương, tác giả đã khái quát những
nét chính về điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử hình thành tộc người. Qua đó, tác
giả đã làm rõ mối quan hệ cộng đồng làng bản, phong tục, tập quán, tôn giáo tín
ngưỡng, sự giao thoa văn hoá Nùng - Tày, Nùng - Hoa và đặc biệt là Nùng - Kinh
cùng với truyền thống yêu nước của các tộc người do những đặc điểm về địa lý, lịch
sử mang lại.
Chuyên khảo Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi
phía Bắc nước ta hiện nay [62] trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, đã đánh giá thực trạng số lượng, chất
lượng, cơ cấu của đội ngũ cán bộ, gồm cả cán bộ tuyến tỉnh, tuyến huyện và tuyến
xã, cả cán bộ hệ thống chính trị và viên chức các đơn vị sự nghiệp. Trên cơ sở đó đã
đưa ra một số giải pháp mang tính can thiệp chính sách để gia tăng về số lượng,
điều chỉnh về cơ cấu, đặc biệt là nâng cao chất lượng cán bộ. Các vấn đề được đề
cập sâu sắc là giải quyết cán bộ từ khâu tạo nguồn bằng mô hình đào tạo đặc thù
cho các dân tộc thiểu số, trong đó phát triển trường dân tộc nội trú và chính sách cử
tuyển được xem là một trọng tâm; điều chỉnh cơ cấu bằng các chính sách điều động,
luân chuyển, tăng cường cán bộ cần được coi trọng; thực hiện hỗ trợ trực tiếp cho
16
học sinh, con em các dân tộc trên cần bám sát điều kiện từng dân tộc, từng khu vực,
trong đó các dân tộc có dân số ít phải được đặc biệt ưu tiên.
Cuốn sách Phát triển bền vững văn hoá tộc người trong quá trình hội nhập ở
vùng Đông Bắc [60] đã làm rõ thực trạng và đánh giá mức độ bền vững về văn hoá
của các dân tộc thiểu số; đồng thời, xem xét tác động của hội nhập đến sự phát triển
bền vững. Trên cơ sở đó, các tác giả đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm
đảm bảo phát triển bền vững văn hoá các tộc người ở vùng Đông Bắc Việt Nam.
Những năm qua, tập quán di dân tự do, du canh du cư của nhiều dân tộc thiểu
số nói chung, vùng miền núi phía Bắc nói riêng vẫn tiếp tục diễn ra với nhiều diễn
biến phức tạp, tác động nhiều chiều. Đề cập đến vấn đề này có các cuốn sách: Di dân
tự do của đồng bào Tày, Nùng, H’mông, Dao từ Cao Bằng, Lạng Sơn vào ĐắkLắk
(1986 - 2000) [47] và Di cư của người Hmông từ đổi mới đến nay (Sách chuyên
khảo) [36]. Các tác giả đã phân tích cụ thể nguyên nhân của tình trạng di dân tự do
chủ yếu do đời sống kinh tế khó khăn, thiếu đất sản xuất và nước sinh hoạt, điều kiện
tự nhiên khắc nghiệt và giao thông đi lại khó khăn; điều kiện dịch vụ xã hội kém; bị
người khác lôi kéo; đoàn tụ với gia đình, gia tộc; do văn hoá, truyền thống…
Các tác giả cũng đánh giá: di dân tự do có tác động tích cực, đáng chú ý nhất
là những đóng góp vào công cuộc đưa cái mới, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, vật nuôi,
cây trồng và giảm nghèo ở cộng đồng dân tộc thiểu số, nhưng đồng thời cũng gây ra
rất nhiều tiêu cực như phá vỡ quy hoạch của nhiều vùng, khó khăn trong quản lý hộ
khẩu… Từ những phân tích đó, các tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị đối với
Nhà nước trong công tác điều tiết và ổn định di dân tự do nhằm phát huy mặt tích
cực, hạn chế mặt tiêu cực của di dân tự do.
Trong quá trình nghiên cứu các hướng xuất cư và nhập cư của di dân nội địa,
các tác giả chủ yếu tập trung trình bày về hướng xuất cư của nhóm H'mông, Dao,
Tày, Nùng từ một số địa phương cụ thể như Cao Bằng, Lạng Sơn, Tây Thanh Hoá
và Nghệ An vào Tây Nguyên. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa làm rõ được quá
trình di dân tự do trong toàn quốc của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Đông
Bắc. Đồng thời, còn nhiều vấn đề có liên quan đến việc di cư tự do của đồng bào
17
các dân tộc thiểu số chỉ mới được đặt ra ở dạng gợi mở cho các nghiên cứu tiếp theo
như di cư xuyên biên giới, di cư hôn nhân, di cư truyền giáo...
Kỷ yếu hội thảo Xoá đói giảm nghèo vấn đề và giải pháp ở vùng dân tộc thiểu
số phía Bắc Việt Nam [118] tập hợp nhiều bài viết liên quan đến các vấn đề về đói
nghèo, chuẩn nghèo, đánh giá và đưa ra các giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác xoá
đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam. Đáng chú ý là
các đánh giá về nguyên nhân của đói nghèo, gồm cả nguyên nhân do di tồn lịch sử, rào
cản của yếu tố địa lý - tự nhiên và tập quán canh tác... đã đe dọa đến sinh kế tộc người.
Ngoài ra, chính sách dân tộc chú trọng về hỗ trợ thay vì đầu tư phát triển cũng dễ gây
tâm lý ỷ lại, trông chờ của một bộ phận không nhỏ đồng bào các dân tộc thiểu số. Do
đó, một số tác giả khuyến nghị phải kết hợp cả chính sách hỗ trợ mang tính an sinh xã
hội với chính sách đầu tư phát triển, phải chuyển hóa được nguồn lực ưu tiên đầu tư
của nhà nước thành nội động lực cho quá trình tự phát triển của đồng bào các dân tộc.
Các công trình nghiên cứu trên đều khẳng định vai trò to lớn và sự đúng đắn,
nhất quán của Đảng trong việc đề ra và lãnh đạo thực hiện chính sách đối với các
dân tộc thiểu số trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong cách mạng xã hội
chủ nghĩa cũng như trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Nhóm 4: Các nghiên cứu của người nước ngoài đề cập đến chính sách
dân tộc của Việt Nam nói chung và chính sách dân tộc đối với vùng Đông Bắc
Việt Nam nói riêng
Xuất phát từ những mục đích và động cơ khác nhau, nghiên cứu của người
nước ngoài về các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày càng được mở rộng, đi sâu tìm
hiểu trên nhiều lĩnh vực. Đáng chú ý là công trình nghiên cứu Chính sách dân tộc
của Đảng Cộng sản Việt Nam (Luận án Tiến sĩ) [34]. Nghiên cứu này không chỉ
quan tâm đến đặc điểm nhân chủng, văn hoá tộc người, mà hướng trọng tâm đến
các vấn đề thể chế, chính sách phát triển xã hội tộc người và quản lý phát triển tộc
người của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Luận án đã chỉ ra được những ưu điểm
trong chính sách phát triển tộc người của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trước đây,
nhờ đó, đã quy tụ, đoàn kết được các cộng đồng tộc người thiểu số trong sự nghiệp
cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
18
Công trình “Những xu hướng phát triển ở vùng núi phía Bắc Việt Nam”, Tập
1: Tổng quan và phân tích [38] đã dựa trên các khung phân tích mô hình, ứng dụng
vào trường hợp các tỉnh miền núi phía Bắc, đã đem đến cách nhìn khu vực về xã hội
tộc người gắn với hệ sinh thái gò đồi hoặc sơn nguyên. Hệ sinh thái đó với các quan
hệ tương tác với phát triển xã hội tộc người được phân tích, đánh giá khoa học. Các
lý thuyết phát triển được vận dụng vào đánh giá xu hướng vận động của không gian
xã hội tộc người ở miền núi phía Bắc.
Các báo cáo của Neil Jamieson [121], [122]... đã đưa các giải pháp riêng về
phát triển các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Điểm đáng ghi nhận trong các báo cáo
này là đã chỉ ra sự phân hóa ngay trong nội bộ các tộc người thiểu số, mà ở đó
nhóm các tộc người thiểu số có dân số ít được hưởng lợi từ các chính sách ưu tiên
của Nhà nước Việt Nam hoặc hỗ trợ thường xuất phát từ ý chí của nhà nước đối với
người dân, mà chú ý chưa đầy đủ đến phát huy năng lực nội sinh của bản thân
người dân tộc thiểu số để đảm bảo phát triển bền vững. Điều này đã gợi mở cách
tiếp cận chính sách dân tộc trong phát triển ở vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam.
Trong tiến trình cải cách, mở cửa phát triển kinh tế, chính sách dân tộc của
Trung Quốc đã có những thay đổi. Có thể thấy, một số vấn đề đổi mới trong thực
hiện chính sách dân tộc vùng biên cương của Trung Quốc được thể hiện bằng chính
sách cụ thể như: mở cửa biên giới, thực hiện chương trình “hưng biên, phú dân”,
chương trình giúp đỡ phát triển các dân tộc có dân số ít vùng biên giới… Để phục
vụ cho mục đích nghiên cứu đó, các dân tộc vùng biên giới phía Bắc Việt Nam, đặc
biệt là các dân tộc thiểu số Việt Nam ở giáp với hai tỉnh Quảng Tây và Vân Nam
(Trung Quốc) đã được các học giả Trung Quốc rất quan tâm, nhất là từ khi Trung
Quốc hoàn thành cơ bản tiến trình mở cửa các vùng dân tộc thiểu số vào năm 1994.
Trong đó, đáng chú ý là “Chính sách dân tộc của Việt Nam và ảnh hưởng của chính
sách đó đến khu vực dân tộc biên giới Trung Quốc” [32]; “Nghiên cứu so sánh
chính sách dân tộc của Việt Nam và Trung Quốc thời hiện đại” [27]. Thông qua
nghiên cứu, so sánh, các công trình đã làm rõ sự hình thành, phát triển chính sách
dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại; đồng thời tổng kết một số chính
sách và giải pháp hiệu quả trong việc vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo tồn và
19
phát huy văn hoá đa dạng, góp phần vào sự phát triển toàn diện vùng dân tộc thiểu
số biên giới của hai nước.
Nghiên cứu của các tác giả ở trong và ngoài nước đã cung cấp một số tư liệu,
thông tin, tri thức và cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu. Đây là nguồn tư liệu quý
giá được kế thừa khi triển khai nghiên cứu luận án này. Tuy vậy, đến nay vẫn chưa
có công trình chuyên biệt nghiên cứu chính sách dân tộc và thực hiện chính sách
dân tộc ở vùng Đông Bắc dưới góc nhìn tiến trình chính sách của đảng cầm quyền.
Mỗi công trình do xuất phát từ mục tiêu, phương pháp tiếp cận và giới hạn phạm vi
của nó nên chỉ giải quyết những nội dung nhất định. Đó là chưa kể các nghiên cứu
nước ngoài thường được dẫn dắt bởi triết lý phát triển ngoài mác-xít để xem xét
trường hợp Việt Nam, nên không ít xung đột với quan điểm của các nhà nghiên cứu
trong nước. Tác giả rất thận trọng trong khảo cứu những nghiên cứu dạng này, đáng
chú ý là các nghiên cứu tiếp cận dựa trên quyền của người bản địa, chủ nghĩa bản
địa xuyên quốc gia, chủ nghĩa lãnh thổ lịch sử, sinh thái xã hội luận... Hoặc đề cập
đến chính sách dân tộc cũng có sự khác biệt đáng kể về quan điểm của các nước vốn
là thuộc địa di dân có nhiều quan hệ phức tạp giữa thổ dân với dân nhập cư (như
trường hợp Úc, Mỹ, Canađa) khác với trường hợp Việt Nam, cho nên, mọi sự so sánh
chỉ để tham chiếu trên tinh thần khoa học có phê phán. Bởi vấn đề dân tộc nhiều khi
không còn thuần túy là chủ đề khoa học, mà thường bị lợi dụng để phục vụ cho các
mục đích chống phá của các thế lực thù địch được lồng ghép trong các phạm trù nhân
quyền - tộc người, nhân quyền - tôn giáo hoặc quyền của người bản địa.
2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Qua nghiên cứu, tìm hiểu các công trình khoa học liên quan đã được công
bố, có thể thấy, vấn đề dân tộc thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý. Trong các công
trình nói trên, vấn đề dân tộc được đề cập và nghiên cứu ở nhiều góc độ, dưới dạng
sách chuyên khảo, đề tài, bài viết tạp chí, hoặc luận văn, luận án. Một số công trình
nghiên cứu về quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở các tỉnh miền núi Đông Bắc
nói riêng và cả nước nói chung tiếp cận dưới góc độ lịch sử, dân tộc học, triết học,
chính trị học, xã hội học.
20
Đồng thời, qua tìm hiểu các công trình đó cho thấy, nghiên cứu về chính sách
dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc
còn một số "khoảng trống" sau đây cần phải được khỏa lấp trong các nghiên cứu
tiếp theo:
Một là: Vẫn chưa có một tổng kết đầy đủ, toàn diện về các bước phát
triển tư duy nhận thức của Đảng về thực hiện chính sách dân tộc ở cấp vùng,
nhất là các tư tưởng về "cùng phát triển" hay phát triển không loại trừ giữa các
tộc người, quan điểm phát triển tộc người gắn với phát triển vùng lãnh thổ trong
điều kiện hợp tác hóa lãnh thổ, quan điểm về phát triển khoa học công nghệ gắn
với phát huy tri thức bản địa tộc người, rồi các vấn đề khoa học tổ chức lãnh thổ,
chính sách công...
Hai là: Các nghiên cứu chính sách dân tộc của Đảng dưới góc độ lịch đại
còn rất ít, nếu có cũng chỉ rất khái lược, không đủ cắt nghĩa bối cảnh phát sinh,
định hình, định dạng, phát triển và kết thúc chu trình của một chính sách. Đặc
biệt, giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2010, khi Việt Nam chuyển sang thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì chuyển biến của xã hội tộc người chỉ
trong 15 năm có thể bằng hàng thế kỷ trước cộng lại, nhưng chúng được nhận
diện, đánh giá như thế nào trên bình diện cả nước cũng như từng vùng, từng tộc
người lại còn không ít "khoảng trống".
Ba là: Trong điều kiện một đảng cầm quyền thì các quan điểm, chủ trương,
định hướng lớn của Đảng là một bộ phận cấu thành của chính sách công (theo nghĩa
rộng) để nhà nước thể chế hóa thành chính sách can thiệp (chính sách công theo
nghĩa hẹp). Tuy nhiên, trên thực tế còn không ít quan điểm trái chiều nhau giữa các
nhà nghiên cứu do chi phối bởi cách tiếp cận chính sách công của các mô hình dân
chủ đa nguyên phương Tây hoặc chính sách của Đảng, Nhà nước theo mô hình Xô-
viết. Điều đó dẫn tới phân tách một cách máy móc đường lối, chủ trương của Đảng
với chính sách công của Nhà nước, không nhận diện được biến đổi về quan niệm
chính sách công của Đảng trong tiến trình đổi mới, không làm rõ được vai trò, vị trí
của Đảng trong các tiến trình chính sách cũng như không tìm được giải pháp nâng
21
cao chất lượng hoạch định chính sách dân tộc và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc
từ phía bản thân đảng cầm quyền.
Bốn là: Các nghiên cứu chính sách dân tộc của Đảng và thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng ở cấp vùng và cấp địa phương vẫn là điểm yếu căn bản.
Một phần do Việt Nam theo đuổi mô hình nhà nước đơn nhất, không thiết lập thể
chế vùng, nên các chính sách thường hoạch định ở Trung ương, địa phương chỉ
tổ chức thực hiện mà không có thẩm quyền ban hành chính sách. Phần khác do
giới hạn về cách tiếp cận trong nghiên cứu. Tuy nhiên, trong thực tế, do tính tập
trung chính sách quá cao nên không bao quát được đầy đủ tính đặc thù, đa dạng
của từng vùng và địa phương, buộc các địa phương phải “vận dụng” dưới các
hình thức khác nhau, nếu đúng đắn thì đó là sáng tạo, nếu không đúng đắn lại
thúc đẩy chủ nghĩa địa phương dưới các hình thức khác nhau. Vì vậy, các nghiên
cứu, tổng kết, đánh giá chính sách ở cấp vùng và địa phương là vấn đề rất khó
khăn đối với các nhà nghiên cứu, càng khó khăn hơn đối với các địa phương
Đông Bắc.
Năm là: Mỗi công trình nghiên cứu ra đời trước đây đều xuất phát từ bối
cảnh, mục tiêu và giới hạn của nó, nên không thể cập nhật được các dữ liệu mới
phát sinh, không giải quyết các nhiệm vụ mà luận án đang theo đuổi. Do đó, việc
thực hiện luận án này nhằm góp phần khỏa lấp một số “khoảng trống” mà các
nghiên cứu trước đây không hoặc chưa đề cập về tổ chức thực hiện chính sách
dân tộc của Đảng ở vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam.
Những “khoảng trống” nêu trên đặt ra các tình huống khoa học mà đối
tượng nghiên cứu của luận án phải hướng tới góp phần giải quyết, đặc biệt là các
vấn đề thuộc phương diện nhận thức khoa học.
22
Chương 1 QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM (TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000)
1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI VÙNG MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM
1.1.1. Một số khái niệm liên quan
“Dân tộc” là một khái niệm hết sức phức tạp, có nhiều cách hiểu và sử dụng
khác nhau. Nhìn chung, có thể hiểu theo hàm nghĩa “quốc gia - dân tộc” (như dân
tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa...) hoặc hàm nghĩa dân tộc - tộc người (như Kinh,
Thái, Mường...). Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: 1. Dân tộc (nation) hay
quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước,
thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của
nhiều bộ lạc hay liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng tộc người. Tính chất
của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau. 2. Dân tộc còn
đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người. Cộng đồng này có thể là một bộ
phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác
nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự
giác tộc người. Dân tộc - tộc người là cộng đồng người thường tự nhận mình bằng
một tên tự gọi, có tiếng nói chung, có phong tục tập quán chung [73].
“Dân tộc thiểu số” nước ta là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc
đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [6]. Với
cách hiểu này, có lúc, có nơi, nhất là trong những năm trước đây, “dân tộc thiểu số”
còn được gọi là “dân tộc ít người”. Khái niệm “dân tộc thiểu số”chỉ có ý nghĩa biểu
thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc, không xem xét trong phạm
vi một địa phương, không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các
dân tộc. Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều
hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch
sử của mỗi dân tộc.
23
“Tộc người bản địa” (hay còn gọi là thổ dân) thường được sử dụng trong
trường hợp các thuộc địa di dân trước đây, chỉ những tộc người sống trên các vùng
đất châu Mỹ, châu Úc trước khi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm chiếm và biến
các vùng còn ở trạng thái lãnh địa tiền nhà nước thành các quốc gia - dân tộc. Trong
trường hợp đó, người tại chỗ gọi là dân tộc bản địa, là thổ dân, còn người da trắng
nhập cư là thực dân. Còn đối với Việt Nam, trong quá trình lịch sử hàng ngàn năm
dựng nước và giữ nước, các tộc người đã cố kết, hòa nhập xã hội để hình thành nên
một cộng đồng thống nhất, gắn với cấu trúc lại lãnh thổ, để xây dựng quốc gia - dân
tộc Việt Nam, nên không có hình thái “dân tộc bản địa” kiểu như các nước vốn là
thuộc địa di dân.
“Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh
sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam [6].
Vấn đề dân tộc là vấn đề nổi lên cần giải quyết trên các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội giữa các dân tộc nhằm thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn
trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
Chính sách dân tộc là hệ thống chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà
nước, trên cơ sở căn cứ vào đường lối chính trị và tình hình thực tiễn của đất
nước, tác động vào tất cả các lĩnh vực của các dân tộc thiểu số, các vùng dân tộc
và có thể đối với từng tộc người nhằm thực hiện quyền bình bẳng giữa các dân
tộc về chính trị, kinh tế, văn hoá, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, làm cho các dân tộc bình đẳng, đoàn kết,
tương trợ giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc; đảm bảo sự thống nhất của
quốc gia và dân tộc; giao lưu, hội nhập quốc tế. Chính sách dân tộc là một loại
chính sách công.
Chính sách dân tộc là một bộ phận hữu cơ nằm trong chính sách công của
Đảng và Nhà nước. Chính sách dân tộc là một loại chính sách tổng hợp, bao quát
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại,
an ninh, quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái. Chính sách dân tộc đúng đắn
không những thúc đẩy kinh tế phát triển, đáp ứng nhu cầu vật chất, văn hóa của
24
đồng bào các dân tộc thiểu số, mà còn là một phương hướng tích cực nhất, chủ
động nhất, có hiệu quả nhất đối với các âm mưu, hoạt động chống phá, chia rẽ
khối đại đoàn kết dân tộc, củng cố thế trận an ninh - quốc phòng, bảo vệ chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
* Điều kiện địa lý tự nhiên
Về vị trí địa lý:
Vùng Đông Bắc gồm 13 tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng
Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang,
Bắc Ninh, Quảng Ninh. Trong vùng địa lý rộng lớn trên, các tỉnh Hà Giang, Cao
Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh là tỉnh biên giới, vùng cao, được chọn làm địa bàn
khảo sát thực địa chủ yếu. Đây là địa bàn có đông dân tộc thiểu số sinh sống, có
tầm quan trọng chiến lược về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng và môi trường
sinh thái.
Diện tích tự nhiên của vùng là 29.100,6 km², nằm ở vị trí địa lý khoảng từ
21º đến 23º24 vĩ Bắc; và 102º đến 108º kinh Đông [35, tr.23]. Là vùng có vị trí địa -
chính trị đặc biệt quan trọng, có vai trò xung yếu về an ninh - quốc phòng, có đường
biên giới giáp với Trung Quốc dài 970,8 km (gồm 4 tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn,
Cao Bằng, Hà Giang). Phía Đông giáp với vịnh Bắc Bộ và thông ra biển Đông với
chiều dài 250 km thuộc 8 huyện của tỉnh Quảng Ninh. Miền núi Đông Bắc có
đường bộ và đường thuỷ thuận lợi tạo điều kiện giao lưu trực tiếp với đồng bằng
sông Hồng, giao lưu thông thương để phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại với
các nước trong khu vực, đặc biệt là với các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam
(Trung Quốc). Đối diện với bốn tỉnh này của nước ta là tỉnh Quảng Tây của Trung
Quốc đang thực hiện chiến lược “phú dân, hưng biên” với tốc độ phát triển nhanh
chóng, tạo nên các đô thị áp lực, các khu kinh tế mở, các đường vành đai biên giới,
1 "Một vành đai" là: vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ; "hai hành lang kinh tế" là: hành lang Côn Minh - Lào Cai
- Hà Nội - Hải Phòng và hành lang Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng.
các khu dân cư trù phú để phục vụ cho phát triển “hai hành lang, một vành đai kinh tế”1 và hình thành khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN.
25
Về khí hậu, thủy văn:
Miền núi Đông Bắc Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa
với hai mùa cơ bản: mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc (thường kéo
dài từ tháng 11 năm trước đến hết tháng 4 năm sau) và mùa hè chịu ảnh hưởng của
gió mùa đông nam (thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10). Nhiệt độ trung bình
trong năm từ 20ºC đến 22ºC. Do địa hình có nhiều núi cao và nhiều dãy núi uốn
theo hình cánh cung tạo đường cho gió mùa đông bắc xâm nhập sâu vào vùng này,
vì vậy, vùng núi cao của Đông Bắc có khí hậu á nhiệt đới, nhiệt độ trung bình hàng
năm thấp, có nơi thấp từ 5ºC đến 10ºC. Một số năm ở đây đã xuất hiện băng tuyết
phủ trên những đỉnh núi như Mẫu Sơn, cao nguyên Đồng Văn...
Miền núi Đông Bắc Việt Nam là vùng có nhiều sông, suối. Nhìn chung, các
dòng sông đều chảy theo hướng tây bắc - đông nam, rồi đổ ra biển Đông. Tuy
nhiên, có hai dòng sông là sông Kỳ Cùng (Lạng Sơn) và sông Bằng Giang (Cao
Bằng) chảy ngược lên phía Bắc sang Trung Quốc, đổ vào sông Tây Giang, rồi mới
đổ ra biển. Các dòng sông trong vùng có vị trí quan trọng đối với cuộc sống và sản
xuất của đồng bào các dân tộc nơi đây. Bên cạnh đó, còn tạo điều kiện thuận lợi cho
việc xây dựng các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ ở các địa phương.
Vùng Đông Bắc thường có mưa nhiều vào mùa hè, lượng mưa trung bình
trong năm từ 1.200 đến 1.800 mm. Mùa mưa thường kèm theo giông bão. Những
trận mưa lớn kéo dài thường gây lũ, lụt... làm ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất
của nhân dân, gây ách tắc giao thông cục bộ trong vùng.
Về thổ nhưỡng:
Đất feralit đỏ vàng chiếm tỷ lệ lớn về diện tích, thích hợp cho việc trồng
rừng và cây công nghiệp. Được tưới nước hoặc có đủ độ ẩm cần thiết, loại đất này
rất thích hợp với việc trồng cây công nghiệp, rau, quả, dược liệu cận nhiệt và ôn
đới. Trong cơ cấu đất sử dụng, đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng
lớn. Với địa hình phần lớn là sườn dốc, lại thường có mưa lớn vào mùa hè, việc
mở rộng mô hình nông - lâm nghiệp kết hợp trên cơ sở khai thác hợp lý nguồn đất
có tầm quan trọng đặc biệt, góp phần đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội
của vùng.
26
Về tài nguyên khoáng sản:
Đông Bắc Việt Nam là vùng đa dạng về tài nguyên (mỏ than, mỏ thiếc, mỏ
đồng, mỏ apatit...) với trữ lượng tương đối lớn. Khoáng sản có mặt ở hầu hết các
tỉnh trong vùng - điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp khai thác
và chế biến khoáng sản.
Về giao thông:
Vùng Đông Bắc có hệ thống đường giao thông gồm: đường bộ, đường sắt,
đường thuỷ khá thuận tiện. Tuy nhiên, hệ thống đường giao thông phát triển không
đồng đều giữa các vùng, giao thông ở vùng thấp phát triển hơn vùng cao. Các tỉnh
vùng cao biên giới là khó khăn nhất, đặc biệt như: Hà Giang, Cao Bằng. Do địa
hình và điều kiện tự nhiên thường có mưa lớn kéo theo lũ vào mùa hè nên giao
thông ở vùng cao vẫn gặp khó khăn vì bị sạt lở đường.
Vùng Đông Bắc Việt Nam xét về mặt địa lý là vùng có đầy đủ các yếu tố
mang đậm tính đại diện cho cả nước. Ở đây có núi cao, sông lớn, có vùng thấp,
vùng cao, có cánh đồng, có thung lũng, có biển, có biên giới quốc gia, là vùng
chuyển tiếp từ đồng bằng châu thổ sông Hồng lên vùng biên giới phía Bắc. Với đặc
điểm địa lý đặc trưng đó, vùng Đông Bắc có điều kiện tự nhiên, hệ sinh thái, hình
thái lãnh thổ mang đặc tính khu vực học rõ rệt. Đặc tính khu vực học về mặt địa - tự
nhiên trao cho vùng Đông Bắc chức năng lãnh thổ quan trọng đối với quá trình
dựng nước và giữ nước, nhất là vai trò lãnh thổ tiền tiêu trong quá trình chống Hán
hóa, rồi căn cứ khởi phát phong trào cách mạng giải phóng dân tộc đi tới Cách
mạng Tháng Tám năm 1945, căn cứ địa trong kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược 1945 - 1954.
* Đặc điểm và hiện trạng kinh tế
Trước Cách mạng Tháng Tám, chế độ phìa-tạo là đặc trưng nổi bật của cư
dân Tày - Nùng, thực chất là các thiết chế xã hội tiền phong kiến. Canh tác lúa nước
ruộng thung lũng xen lẫn với canh tác nương rẫy rất phổ biến trong xã hội cư dân
Tày - Nùng. Tình trạng du danh, du cư vẫn phổ biến ở nhiều nơi. Thủ công nghiệp
và thương nghiệp đã định hình nhưng chỉ là loại hình kinh tế bổ trợ cho kinh tế
nông nghiệp. Đó cơ bản vẫn là nền kinh tế tự cung, tự cấp. Tri thức bản địa của tộc
27
người là nền tảng dẫn dắt xã hội. Chuyển biến kinh tế của Đông Bắc trước thời kỳ
đổi mới không lớn, thậm chí ngưng đọng trong điều kiện chiến tranh.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (năm 1986), đặc biệt từ sau năm
1989, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm đẩy
nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc miền núi nói chung và miền núi
Đông Bắc Việt Nam nói riêng [3], [28], [43]. Nhờ vậy, tình hình kinh tế - xã hội của
vùng miền núi Đông Bắc đã có những bước phát triển và đạt được một số thành tựu
quan trọng: kinh tế tăng trưởng tương đối cao và ổn định. Giai đoạn 1991 - 1995,
GDP tăng bình quân hàng năm từ 6 - 7% trở lên, trong đó một số tỉnh tốc độ tăng
trưởng cao như: Tuyên Quang 10,97%, Lạng Sơn 10,95% [84, tr.1]. Cơ cấu kinh tế
vùng từng bước chuyển dịch theo chiều hướng tích cực: tăng dần tỷ trọng ngành
công nghiệp, tỷ trọng nông, lâm nghiệp giảm dần. Từ sản xuất mang tính tự cung,
tự cấp là chính, một số địa phương đã bước đầu hình thành vùng sản xuất hàng hoá,
có nơi xây dựng được mô hình sản xuất có hiệu quả. Kết cấu hạ tầng nông nghiệp,
nông thôn miền núi được chú trọng đầu tư. Nhiều tuyến đường lên miền núi và các
cửa khẩu biên giới được cải tạo và xây dựng mới, mở ra khả năng lưu thông hàng
hoá giữa miền xuôi với miền ngược và phát triển thương mại vùng biên giới. Đời
sống nhân dân từng bước được cải thiện. Tỷ lệ nghèo giảm từ 86,1% (năm 1993)
xuống còn 62% (năm 1998) [2, tr.202].
Vùng Đông Bắc với điều kiện miền núi, biên giới, có vị trí địa - chính trị
quan trọng, có nhiều dân tộc cùng cư trú lâu đời như: Tày, Nùng, Mông, Dao, Hoa,
Sán Dìu, Sán Chay... Bên cạnh đó, từ trước đến nay, cùng với các tỉnh khu vực Tây
Bắc, miền núi Đông Bắc được xác định là khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn nhất Việt Nam. Trong các tỉnh miền núi Đông Bắc, vẫn còn tỉnh có tỷ lệ xã
đặc biệt khó khăn rất cao: Cao Bằng: 82%, Hà Giang: 83,9% [62, tr.81].
Xác định miền núi Đông Bắc có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, Đảng
và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển
kinh tế - xã hội miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Đồng thời, tổ chức
đảng và chính quyền địa phương trong vùng cũng căn cứ vào thực tế để cụ thể hoá
chủ trương, chính sách, trong đó đề ra một số biện pháp cụ thể nhằm xây dựng cơ
28
cấu kinh tế miền núi, hải đảo theo hướng phát triển kinh tế hàng hoá, liên doanh,
liên kết, phát huy thế mạnh của vùng dân tộc, miền núi; thực hiện chính sách kinh tế
nhiều thành phần, đổi mới quản lý, giải phóng năng lực sản xuất của đồng bào.
Những giải pháp đó đã tháo gỡ phần nào khó khăn cho khu vực miền núi, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số. Trong 10 năm đầu đổi mới (1986 - 1996), kinh tế miền
núi đã có bước tăng trưởng khá. Ở các tỉnh miền núi Đông Bắc, những năm 1991 -
1995, GDP tăng bình quân hàng năm từ 6 - 7% trở lên. Đời sống nhân dân trong
vùng ngày càng được cải thiện và nâng cao. Thu nhập bình quân đầu người/tháng
tăng từ 173,8 nghìn đồng năm 1996 lên 210 nghìn đồng năm 1999 (tăng 6,3%) [63].
Về cơ cấu kinh tế:
Trong những năm đầu đổi mới, cơ cấu kinh tế vùng Đông Bắc dịch chuyển
theo hướng tiến bộ. Trong GDP, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm dần
tỷ trọng nông, lâm nghiệp. Năm 1995, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng
20,6%, ngành nông - lâm - ngư nghiệp 46,3%, ngành dịch vụ 32,9%. Từ sản xuất
mang tính tự cung, tự cấp là chính, đến năm 1996, bước đầu miền núi Đông Bắc đã
hình thành được một số vùng sản xuất hàng hoá, một số nơi đã xây dựng được mô
hình sản xuất có hiệu quả. Tại tỉnh Lạng Sơn, nếu như năm 1990, tỷ trọng các
ngành trong nền kinh tế của tỉnh là: Nông - lâm nghiệp 63,7%; công nghiệp - xây
dựng chiếm 9,24%; dịch vụ chiếm 27,06%, thì đến năm 2009, tỷ trọng các ngành
kinh tế chuyển biến rõ rệt, trong đó: nông - lâm nghiệp 41,14%; công nghiệp - xây
dựng 20,46%, dịch vụ 38,39% [101].
Về sản xuất nông, lâm nghiệp:
Nông nghiệp: Thực hiện nhất quán chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước đối với công tác dân tộc, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh miền núi Đông
Bắc đã xác định đúng mục tiêu là tập trung vào sản xuất nông nghiệp và phát triển
nông thôn, trong đó, khâu đột phá là chuyển dịch cơ cấu kinh tế cây trồng, vật nuôi
theo hướng sản xuất hàng hoá và hình thành các vùng chuyên canh trồng các cây
nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến, phát triển các ngành nghề truyền
thống nhằm sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá, tạo việc làm cho người lao động,
nâng cao thu nhập cho đồng bào các dân tộc.
29
Sản xuất lương thực đã được giải quyết theo quan điểm sản xuất hàng hoá,
tập trung thâm canh ở những vùng có điều kiện, đưa lương thực sản xuất tại chỗ
bình quân đầu người ngày một tăng lên. Năm 1990, bình quân lương thực đầu
người là 225 kg/năm tăng lên 275 kg/năm vào năm 1994. An ninh lương thực được
đảm bảo. Nổi bật nhất trong sản xuất lương thực là cây ngô, tăng cả diện tích và sản
lượng. Năm 1994, cả vùng Đông Bắc diện tích gieo trồng ngô đạt 229,4 nghìn ha.
Các tỉnh sản xuất ngô hàng đầu của vùng là Hà Giang 35,1 nghìn ha, Cao Bằng đạt
33,6 nghìn ha [65, tr.1080]. Ngoài lúa, ngô, các địa phương trong vùng đều trồng
thêm một số loại hoa màu lương thực như: sắn, khoai lang,...
Những nơi không đủ điều kiện sản xuất lương thực đã chuyển sang phát
huy các thế mạnh như trồng rừng, phát triển cây công nghiệp, chăn nuôi, trồng
cây ăn quả.
Trong cơ cấu cây công nghiệp, cây chè có vị trí đặc biệt, được coi là thế
mạnh của toàn vùng. Chè là cây công nghiệp rất thích hợp với thổ nhưỡng và khí
hậu của vùng, được nhân dân cả nước ưa chuộng, đồng thời, là mặt hàng nông sản
xuất khẩu sang thị trường Trung Đông, EU và Bắc Mỹ. Các tỉnh trồng chè quy mô
lớn là Tuyên Quang (4229 ha), Hà Giang (5269 ha) [65, tr.1084].
Cơ cấu thổ nhưỡng của vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam rất thích hợp với
việc trồng cây công nghiệp, hoa, các loại rau, quả, và dược liệu cận nhiệt đới, ôn
đới. Trong vùng đã hình thành một số vùng sản xuất tập trung: Cam (Hà Giang),
Quýt (Bắc Sơn - Lạng Sơn), hạt dẻ (Trùng Khánh - Cao Bằng), Mận, Lê (Bảo Lạc -
Cao Bằng)...
Chăn nuôi: Điều kiện tự nhiên thuận lợi, kết hợp nguồn màu lương thực
phong phú như cây ngô, khoai lang, các loại cây họ đậu, nhất là đậu tương, rất thích
hợp cho chăn nuôi, đặc biệt là đại gia súc. Đàn gia cầm cũng tăng lên đáng kể, góp
phần tăng thu nhập cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nghề nuôi ong, bò sữa, dê...
bắt đầu có xu hướng phát triển.
Lâm nghiệp: Diện tích đất nông - lâm nghiệp của cả vùng Đông Bắc rất lớn
(3.268,6 ha), với nhiều loại gỗ quý, hiếm. Trước đây, rừng bị suy giảm nghiêm
trọng cả về diện tích và trữ lượng. Trong 10 năm đầu thực hiện đường lối đổi mới
30
của Đảng, Nhà nước, đặc biệt, sau khi Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 327-
QĐ/TTg ngày 18 - 9 - 1992 về phủ xanh đất trống đồi núi trọc, rừng bãi bồi ven
biển và mặt nước gắn với phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế hộ
gia đình, các địa phương đã thực hiện chính sách giao đất, khoán rừng cho các hộ
gia đình và các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế. Đổi mới chính sách phát triển
rừng theo hướng trồng mới kết hợp với tái sinh và bảo vệ rừng đầu nguồn. Với
chính sách mới này đã góp phần bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường tự nhiên. Đến năm
1999, độ che phủ của rừng tại khu vực Đông Bắc đạt 38,9%. Nghề rừng từng bước
trở thành ngành kinh tế sinh thái, đem lại lợi ích kinh tế cho đồng bào các dân tộc
thiểu số và góp phần tạo nguồn sinh thuỷ cho các nhà máy thuỷ điện,...
Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về Một số chủ trương, chính sách
lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi đã xác định: Phát triển mạnh công nghiệp
chế biến và ngành nghề tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp nông thôn, trước hết là
công nghiệp chế biến nông sản, lâm sản, với quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, phù
hợp với khả năng đầu tư các hộ kinh doanh. Bảo vệ và phát triển những ngành nghề
truyền thống của đồng bào các dân tộc như dệt, thổ cẩm, thêu ren, đan lát...; mở
mang những ngành nghề mới, nhất là những nghề dùng nguyên liệu tại chỗ; tổ chức
rộng rãi khâu sơ chế nông - lâm sản ở các gia đình. Các cơ sở có trang bị kỹ thuật
hiện đại tập trung làm nhiệm vụ gia công chế biến tinh để nâng cao giá trị sản
phẩm; mở rộng kinh doanh theo hướng tổng hợp làm tốt dịch vụ ở cả khâu sản xuất
đặc biệt là ở khâu tiêu thụ.
Thực hiện chủ trương trên, ngành công nghiệp của vùng từ sản xuất mang
tính tự cấp, tự túc, sau 10 năm đổi mới đã có sự thay đổi rõ rệt, đa dạng về ngành
nghề, bao gồm công nghiệp năng lượng, công nghiệp khai thác, công nghiệp chế
biến, sản xuất hàng tiêu dùng... trong đó, một số sản phẩm công nghiệp đã vươn ra
thị trường ngoài vùng và xuất khẩu.
Nhờ những nỗ lực của các địa phương đã làm cho giá trị sản lượng công
nghiệp vùng miền núi Đông Bắc tăng trưởng khá. Năm 1995, giá trị sản lượng công
nghiệp toàn vùng đạt 6.179,2 tỷ đồng, năm 2000 đạt 10.657,7 tỷ đồng, trong đó tỉnh
31
Quảng Ninh luôn ở vị trí dẫn đầu toàn vùng (năm 1995 đạt 1.701,2 tỷ đồng; năm
2000 đạt 3.788,8 tỷ đồng).
Cùng với sự phát triển công nghiệp, nhiều ngành nghề thủ công truyền thống
của các dân tộc như nghề dệt thổ cẩm, nghề đan lát tre, nứa song mây, nghề rèn,
nghề trạm khắc trang sức bằng bạc... cũng dần dần được phục hồi và phát triển.
Xây dựng kết cấu hạ tầng
Bước vào thời kỳ đổi mới, thực hiện chủ trương của Đảng, các tỉnh trong
vùng đã tập trung phát triển mạnh kết cấu hạ tầng ở khu vực miền núi và vùng đồng
bào các dân tộc thiểu số sinh sống. Tính đến năm 2001, toàn vùng núi phía Bắc
(Đông Bắc và Tây Bắc), tỷ lệ xã có đường giao thông đến trung tâm xã đạt 97,3%,
trong đó có tỉnh đạt tỷ lệ 100%: Hà Giang, Quảng Ninh, Lạng Sơn; điện lưới quốc
gia đã đến được 100% thị xã, tỉnh lị các tỉnh, tốc độ tăng trưởng của toàn vùng
Đông Bắc đạt 69% [2, tr.139].
* Đặc điểm dân cư và hiện trạng xã hội
Bốn tỉnh miền núi Đông Bắc có dân số 3.109.223 người, trong đó, dân tộc
thiểu số là 1.847.838 người, chiếm 59,43% dân số toàn vùng [Phụ lục 1]. Là vùng
có nhiều dân tộc cùng cư trú lâu đời như: Tày, Nùng, Kinh, Mông, Dao, Sán Chay,
Thái, Giáy, Bố Y, Pà Thẻn, Hà Nhì, Phù Lá, Lô Lô, La Chí, Cờ Lao, Pu Péo,... các
dân tộc ở đây có đặc điểm riêng về ngôn ngữ, về số lượng dân cư và về sự phân bố.
Đặc điểm về sự phân bố dân cư: Các dân tộc thiểu số ở đây cư trú theo hình
thái xen cài, không phân khu thành lãnh thổ tộc người. Một số tỉnh có trên 10 tộc
người cư trú như: Hà Giang, Lạng Sơn. Phần lớn các huyện miền núi có 10 tộc
người cư trú như: Hà Giang có 9 huyện, Lạng Sơn có 5 huyện... Tuy nhiên, bên
cạnh đó, trong phạm vi tỉnh, vẫn tồn tại một số vùng cư trú tập trung như vùng đồng
bào Nùng ở Cao Bằng, Lạng Sơn; vùng đồng bào Mông ở các huyện vùng cao Hà
Giang; vùng đồng bào Cao Lan - Sán Chí ở các tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn. Trong
phạm vi huyện, xã, bản, xóm, sự quần cư theo tộc người vẫn nổi lên rõ nét.
Số lượng các dân tộc ở các tỉnh trong vùng phân bố không đều, như Cao
Bằng người dân tộc thiểu số là 477.994 người, chiếm 94,2% dân số toàn tỉnh, Hà
Giang là 628.568 người, chiếm 86,8%, Quảng Ninh là 133.194 người, chiếm 11,6%
32
[Phụ lục 1]. Ngay trong một tỉnh, số lượng dân cư trong các dân tộc cũng không
đều. Cụ thể, Cao Bằng, người dân tộc Tày là 207.805 người, chiếm 40,9%, dân tộc
Nùng là 157.607 người, chiếm 31%, dân tộc Cờ Lao là 02 người, chiếm 0,0004%,
dân tộc Hà Nhì là 03 người, chiếm 0,0006% [1].
Đặc điểm về ngôn ngữ dân tộc:
Ngôn ngữ của tất cả các dân tộc ở vùng Đông Bắc thuộc về hai ngữ hệ Nam
Á và Hán Tạng. Tương ứng với các hệ ngôn ngữ trên là dòng văn hoá của các dân
tộc thiểu số. Các dân tộc thiểu số vùng miền núi Đông Bắc có cuộc sống tinh thần
chịu ảnh hưởng nhiều bởi văn minh Trung Hoa cổ đại. Tuy nhiên, khi vào cư trú ở
Việt Nam, đồng bào có cuộc sống riêng của dân tộc mình và những nét riêng của
dân tộc ngày càng được củng cố. Đồng thời, các dân tộc sống ở trong vùng cũng có
quan hệ tiếp xúc, giao lưu văn hoá, dẫn đến hình thành bản sắc văn hoá vùng. Từ
nhiều năm nay, trong vùng đã hình thành hai thứ tiếng để giao tiếp, đó là tiếng Tày -
Nùng được dùng làm phương tiện giao tiếp cho các dân tộc vùng thấp và tiếng
Mông được dùng làm phương tiện giao tiếp chung cho các dân tộc ở vùng cao.
* Đặc điểm và hiện trạng văn hoá, giáo dục, y tế
Trong 10 năm (1986 - 1996), sự nghiệp giáo dục - đào tạo của vùng đã có
nhiều tiến bộ, hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú từ trung ương đến địa
phương được phát triển và củng cố.
Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được quan tâm. Các bệnh viện
tuyến tỉnh, các trạm y tế tuyến xã được đầu tư xây dựng và củng cố. Đời sống văn
hoá tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được nâng lên. Hầu hết
các thị trấn ở vùng núi dân tộc đã được trang bị đài tiếp sóng truyền hình, đài phát
thanh sóng ngắn. Nhiều lễ hội truyền thống được khôi phục và duy trì. Mạng lưới
bưu chính phát hành báo chí đã được xây dựng và phát triển. Các xã miền núi đã
được cung cấp báo Nhân dân, báo địa phương, báo Thiếu niên, báo Nhi đồng, 4/4
tỉnh miền núi có báo đọc trong ngày.
Khoa học công nghệ, văn hoá, giáo dục, y tế có nhiều tiến bộ. Tình hình
chính trị, an ninh, quốc phòng vùng đồng bào dân tộc được ổn định, khối đại đoàn
kết toàn dân tộc được củng cố.
33
Tuy nhiên, đến trước 1996, so với cả nước, miền núi Đông Bắc Việt Nam
vẫn là vùng có nhiều khó khăn. Tỷ lệ đói nghèo của các tỉnh này còn lớn so với cả
nước (tính cả vùng trung du và miền núi phía Bắc gồm 11 tỉnh, tỷ lệ đói nghèo là
18,98%, cao gấp 2,6 lần so với khu vực đồng bằng sông Hồng (7,22%). Sự chênh
lệch giàu nghèo giữa các dân tộc và các vùng còn khoảng cách lớn.
Chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục, y tế ở các tỉnh miền núi Đông Bắc
còn thấp so với yêu cầu và so với vùng đồng bằng. Qua 10 năm đổi mới giáo dục và
đào tạo (1986 - 1996), tuy số lượng học sinh có tăng lên, song chất lượng và hiệu
quả học tập của học sinh người dân tộc thiểu số nhìn chung là rất thấp. Tình trạng
học sinh bỏ học, lưu ban ở các trường phổ thông khá lớn, năm học 1998 - 1999 ở
Cao Bằng là 18,62%, Lạng Sơn là 17,1% [5, tr.26].
Tóm lại, trước khi chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, với chủ trương chính sách ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội, các tỉnh miền núi
Đông Bắc đã và đang từng ngày có sự chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực.
Tuy nhiên, khó khăn thách thức đối với vùng vẫn rất lớn, đặt ra yêu cầu cần phải có
một chiến lược phát triển kinh tế - xã hội toàn diện nhằm phát huy mọi nguồn lực
nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số
trong vùng.
* Đặc điểm địa - chính trị - quốc phòng
Tại vùng Đông Bắc, bốn tỉnh có đường biên giới giáp với nước Cộng hoà
dân chủ nhân dân Trung Hoa, gồm cả biên giới trên đất liền, biên giới trên không,
biên giới trên biển và biên giới dưới lòng đất, đó là: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao
Bằng, Hà Giang. Trong những năm đầu đổi mới cũng là thời kỳ hai nước từng bước
bình thường hóa quan hệ, rồi đàm phán phân định biên giới trên bản đồ, rồi trên
thực địa (cắm mốc quốc giới) và phân định vùng đánh cá chung trên vịnh Bắc Bộ.
Đây là những vấn đề nhạy cảm, đụng chạm đến những vấn đề thiêng liêng của chủ
quyền quốc gia, đến tình cảm của người dân và trở thành một trọng điểm mà các thế
lực thù địch lợi dụng để chống phá. Mặt khác, bình thường hóa quan hệ giữa Việt
Nam - Trung Quốc từ năm 1990 cũng dẫn đến những diễn biến phức tạp, nhất là
tình trạng buôn lậu, di cư xuyên biên giới, kiểm dịch động - thực vật... Phía Trung
34
Quốc, để tạo ảnh hưởng của một nước lớn đối với các nước xung quanh, đã xây
dựng chiến lược “Phú dân, hưng biên” với sự đầu tư lớn, nhất là phát triển các đô trị
áp lực đối trọng, các khu kinh tế mở được trao các cơ chế thông thoáng, tổ chức lại
dân cư vùng biên giới, tiếp tục tạo nên các ảnh hưởng thông qua quyền lực “cứng”
và quyền lực “mềm” rất đa dạng...
Trước những diễn biến phức tạp ở khu vực biên giới, với sự gia tăng các loại
tội phạm, đảng bộ và chính quyền các địa phương đã có sự chỉ đạo sát sao nhằm giữ
vững trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới.
Là một trong những tỉnh có đường biên giới giáp Trung Quốc, tỉnh Lạng Sơn
luôn quan tâm, củng cố vùng biên giới, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần cho đồng bào vùng biên cương. Ngày 7 tháng 10 năm 1993,
Ban thường vụ Tỉnh uỷ Lạng Sơn khoá XI ra Nghị quyết 03 BTV-TU Về củng cố,
xây dựng vùng biên giới vững mạnh toàn diện, trong đó nêu rõ quan điểm chỉ đạo:
đối với các huyện biên giới, cần quán triệt sâu sắc chính sách đối ngoại của Đảng và
Nhà nước ta, xây dựng biên giới Việt - Trung hoà bình, hữu nghị; giữ vững độc lập,
chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh quốc gia; kinh tế phát triển, đời sống
văn hoá lành mạnh, cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu cơ bản của nhiệm vụ bảo vệ biên
giới; có hệ thống chính trị vững mạnh, mỗi xã biên giới phải thực sự vững mạnh
toàn diện.
Thực hiện Nghị quyết 03 BTV-TU, trong 2 năm 1996-1997, tỉnh Lạng Sơn
đã hoàn thành việc tổ chức giao đường biên, mốc giới với chiều dài tuyến 253km và
82 cột mốc do nhân dân quản lý. Đồng thời, nhân dân đã kịp thời cung cấp 359
nguồn tin quan trọng, tham gia bắt giữ 67 vụ, 8.465 đối tượng xâm phạm an ninh
quốc gia, hàng nghìn lượt đấu tranh ngăn chặn việc xâm canh, lấn đất, bảo vệ được
đường biên mốc giới và giữ vững được hoà bình, hữu nghị giữa nhân dân hai bên
biên giới. Cùng với đó, việc sắp xếp lại dân cư và tổ chức đưa dân trở lại quê cũ làm
ăn cũng được các cấp chính quyền quan tâm và cơ bản hoàn thành trong năm 1997.
Tính đến năm 1997, 94/100 bản giáp biên gồm 2.811 hộ, 16.102 nhân khẩu đã trở
về làng bản cũ, đưa tổng số hộ tại một thị trấn và 20 xã biên giới lên 9.902 hộ,
55.054 nhân khẩu [98, tr.9].
35
Nắm vững quan điểm chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh khu vực miền núi Đông Bắc đã hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo thực hiện phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với giữ vững an ninh quốc phòng; chủ động phòng chống các loại tội phạm, đấu tranh ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm canh, xâm cư, bảo vệ vững chắc đường biên, mốc giới của Tổ quốc; tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ cuộc sống yên lành của nhân dân.
1.1.3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và chính sách
đối với các dân tộc vùng miền núi Đông Bắc trong những năm đầu đổi mới
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đại hội VI (12/1986) đã đưa ra những nhận thức
mới khắc phục quan niệm giản đơn trước đó khi nhìn nhận về vấn đề dân tộc:
Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc của mỗi dân tộc… Chống những thái độ, hành động biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và những biểu hiện của tư tưởng dân tộc hẹp hòi [17, tr.98].
Về chính sách dân tộc, Đại hội xác định:
Sự nghiệp đẩy mạnh ba cuộc cách mạng ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đòi hỏi tăng cường công tác nghiên cứu về dân tộc học và công tác điều tra xã hội học, hiểu biết đầy đủ những khác biệt cụ thể của từng vùng, từng dân tộc. Trên cơ sở đó, bổ sung, cụ thể hóa và thực hiện tốt
hơn chính sách dân tộc, tránh những sai lầm rập khuôn hoặc chủ quan áp đặt những hình thức tổ chức không phù hợp trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở những vùng dân tộc [17, tr.97]. Đại hội đã cụ thể hóa phương hướng phát triển kinh tế ở vùng dân tộc
thiểu số:
Đầu tư thêm và tập trung sự cố gắng của các ngành, các cấp, kết hợp với động viên tinh thần tự lực, tự cường của nhân dân các dân tộc để khai thác, bảo vệ và phát triển thế mạnh về kinh tế ở các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số cư trú. Đẩy mạnh công tác định canh, định cư, ổn định sản xuất và đời sống của đồng bào trước hết ở các vùng cao, biên giới, các vùng căn cứ cũ của cách mạng và kháng chiến [17, tr.97].
36
Cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội VI của Đảng về đổi mới thực hiện chính sách
dân tộc, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22/NQ-TW (ngày 27-11-1989) Về
những chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Đây là nghị
quyết quan trọng chi phối cơ bản chính sách, tình hình phát triển kinh tế - xã hội tạo
nên nét mới trong quốc sách phát triển vùng miền núi, dân tộc thiểu số so với các
chính sách trước đó. Nghị quyết khẳng định phát triển kinh tế - xã hội miền núi là
một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển kinh tế quốc dân. Trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội miền núi, Nhà nước cần cố gắng bố trí vốn đầu tư thích
đáng hơn cho miền núi, trước mắt tập trung đầu tư cho phát triển giao thông vận tải,
thông tin liên lạc, điện và nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư, phát
triển kinh tế hàng hoá kinh doanh có hiệu quả, từng bước tự tích luỹ để đầu tư xây
dựng và phát triển miền núi.
Để triển khai cụ thể các nội dung Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị,
Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 72- HĐBT ngày 13-3-1990 về một
số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi.
Điểm mới của Nghị quyết 22-NQ/TW và Quyết định 72-QĐ/CP là đã chú ý
đến vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước thông qua việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc.
Ngày 2 tháng 11 năm 1993, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 525-TTg Về một
số chủ trương, biện pháp tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội miền núi nhằm thúc đẩy
việc tổ chức thực hiện Nghị quyết 22, Quyết định 72 và quán triệt tinh thần Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá VII về Đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội
nông thôn. Chỉ thị 525 đã cụ thể hoá một lần nữa tinh thần của Nghị quyết 22,
Quyết định 72 và Nghị quyết Trung ương 5 đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở
miền núi và vùng dân tộc thiểu số. Chỉ thị đề cập tới một số nội dung cơ bản như:
chuyển dịch cơ cấu kinh tế mới của miền núi; bảo vệ rừng gắn với định canh định
cư; xây dựng cơ sở hạ tầng trong đó khẳng định giao thông vận tải là lĩnh vực quan
trọng nhất cần đặc biệt chú ý; bên cạnh đó, Chỉ thị còn nêu lên các nội dung về phát
triển giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, xã hội, phát triển thương mại miền núi.
37
Những tư tưởng đổi mới đó còn tiếp tục được thể hiện sâu sắc, cụ thể hoá ở
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được
thông qua tại Đại hội VII cùng với các văn kiện, nghị quyết đại hội. Nghị quyết Đại
hội VII chỉ rõ: Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây
dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp
của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Có chính sách
phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và
đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, đảm bảo cho đồng bào các dân tộc khai thác
được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ đất nước. Tôn trọng tiếng nói và có chính sách đúng đắn về chữ
viết đối với các dân tộc. Đặc biệt có chính sách khắc phục tình trạng suy giảm dân
số đối với một số dân tộc ít người. Đây là lần đầu tiên chính sách phát triển kinh tế
hàng hóa vùng dân tộc thiểu số được đề cập trong điều kiện cụ thể lúc bấy giờ.
Quan điểm, tư tưởng thực hiện chính sách dân tộc được thể hiện rõ trong tinh
thần của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(do Đại hội VII thông qua):
Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc,
tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh,
tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập
quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân
tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội
phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân
tộc thiểu số [18, tr.16].
Xuất phát từ vị trí quan trọng và tình hình đặc thù của vùng dân tộc Mông,
để thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, ngày 23-9-1994, Ban Bí thư đã ra
chỉ thị số 45-CT/TW về một số công tác ở vùng dân tộc Mông. Ngày 8-11-1995,
Ban Bí thư (khoá VII) đã ra Chỉ thị 62-CT/TW về công tác người Hoa trong tình
hình mới.
38
Thực hiện các nghị quyết, quyết định của Đảng và Nhà nước, đặc biệt Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), lần thứ VII (1991), Nghị quyết 22-
NQ/TW của Bộ Chính trị về Một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế -
xã hội miền núi và Quyết định 72-QĐ/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 13-3-
1990 về Một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi,
kinh tế, xã hội vùng dân tộc miền núi Đông Bắc Việt Nam đã có bước phát triển
vững chắc; bộ mặt vùng dân tộc, miền núi có nhiều thay đổi; nền kinh tế tự nhiên,
tự cung, tự cấp từng bước chuyển sang nền kinh tế hàng hoá; đời sống văn hoá của
đồng bào được nâng cao; các giá trị văn hoá của đồng bào các dân tộc được bảo tồn
và phát huy; an ninh, chính trị ổn định; đời sống vật chất và tinh thần của người dân
từng bước được cải thiện. Điều đó tạo tiền đề cho thực hiện chính sách dân tộc
trong quá trình chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
1.1.4. Những chuyển biến tư duy nhận thức của Đảng về thực hiện chính
sách dân tộc ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, về vấn đề dân
tộc, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) của Đảng khẳng định:
Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng Luật dân tộc. Từ nay
đến năm 2000, bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, thực hiện
cho được 3 mục tiêu chủ yếu: xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định
và cải thiện được đời sống, sức khỏe của đồng bào các dân tộc, đồng bào
vùng cao, vùng biên giới; xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng
và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ
sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các
cấp trong sạch và vững mạnh [19, tr.125-126].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) đã phát triển thêm 3 vấn
đề sau đây về phương diện lý luận, tạo cơ sở cho đổi mới nội dung và tiến trình
chính sách:
- Xác định nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo bao trùm cho chính sách dân tộc là:
bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công
39
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bình đẳng là 54 tộc người đều có quyền ngang
nhau trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đây là vấn đề bình
đẳng thuộc phạm trù nhân quyền và dân quyền, không bị lệ thuộc vào dân số lớn
hay dân số ít. Đoàn kết là gắn bó, cố kết thành một khối thống nhất để tạo nên sức
mạnh chung trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nó khác biệt
với hành động chia rẽ, xung đột, mà các thế lực thù địch thường lợi dụng để làm
suy yếu sức mạnh dân tộc. Tương trợ giữa các dân tộc là hoạt động hỗ trợ, tương
liên giữa dân tộc đa số với các dân tộc thiểu số, giữa dân tộc thiểu số với dân tộc đa
số, trong nội bộ các dân tộc thiểu số. Đó là quan hệ tương hỗ, không phải quan hệ
một chiều, trong đó các dân tộc thiểu số bao giờ cũng được chiếu cố, ưu tiên do
thiếu cơ hội phát triển khi gặp khó khăn của điều kiện địa lý, rào cản của ngôn ngữ
tộc người, thách thức của trình độ phát triển thấp hơn mặt bằng trình độ chung. Các
mặt tương trợ, ưu tiên, chiếu cố đó phải được thể chế hóa thành luật pháp, thành cơ
chế cụ thể trong phân bổ các nguồn lực cho phát triển, nhất là ở những mặt đảm bảo
cho đồng bào các dân tộc có cơ hội.
- Đặt ra yêu cầu phải thể chế hóa các quan điểm, tư tưởng thành luật pháp
- vấn đề cơ bản của chính sách, nhất là xây dựng Luật dân tộc. Chỉ có chuyển tải
được toàn bộ tư tưởng, quan điểm thành pháp luật thì mới bắt buộc thực thi trên
quy mô lớn, đảm bảo cho quyền của các dân tộc được ghi nhận về mặt lập hiến
và lập pháp.
- Đặt ra 3 mục tiêu cụ thể trên các lĩnh vực cơ bản của phát triển xã hội tộc
người, thực chất là ba trụ cột của vấn đề dân tộc: sinh kế và đời sống kinh tế tộc
người; dân trí - văn hóa - xã hội; hệ thống chính trị và nguồn nhân lực. Đảm bảo
cho các mục tiêu này trở thành hiện thực, đòi hỏi chính sách dân tộc không còn chỉ
là sự ghi nhận về mặt lập pháp, mà phải chuyển thành các chương trình, dự án với
phân bổ nguồn lực rõ ràng, xác định địa chỉ cần đến và đích cần đạt được. Đây là cơ
sở để từ sau năm 1996, nhà nước đã xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia
phát triển vùng dân tộc thiểu số nói chung, vùng Đông Bắc nói riêng.
Đại hội VIII của Đảng (6/1996) không chỉ nêu lên quan điểm chỉ đạo, mà
phương hướng, nhiệm vụ của 5 năm (1996 - 2000) còn xác định rõ mục tiêu, biện
40
pháp phát triển các vùng lãnh thổ, các chương trình trình kinh tế - xã hội. Điều đó
giúp cho các vùng lãnh thổ đều có cơ hội phát triển trên cơ sở khai thác thế mạnh,
tiềm năng vùng và thúc đẩy hợp tác mang tính liên vùng trong quá trình liên hợp
hóa lãnh thổ.
Định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi của Đại hội VIII là:
Miền núi và các vùng có nhiều khó khăn, trước hết những địa bàn xung
yếu, những khu căn cứ cách mạng, những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng
bào dân tộc ít người cần được ưu tiên đầu tư, tạo những điều kiện ban
đầu để khai thác được các lợi thế và nguồn lực tại chỗ, tăng sức thu hút
đầu tư, chất xám từ các nơi khác. Nhà nước dành viện trợ không hoàn lại
và vốn vay theo điều kiện ưu đãi của nước ngoài để đầu tư xây dựng kết
cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, trước hết là đường giao thông, mạng lưới
điện, giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ… Tích cực thực hiện chương
trình xoá đói, giảm nghèo, định canh định cư, thiết lập trật tự trong việc
di dân. Đặc biệt quan tâm nâng cao dân trí. Trong chỉ đạo điều hành phải
có quyết tâm cao và biện pháp mạnh mẽ để đưa miền núi đi lên, thu hẹp
dần tình trạng cách biệt với các vùng phát triển [19, tr.209-210]
Bên cạnh đó, Đại hội VIII còn xác định Chương trình phát triển kinh tế - xã
hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc:
Mục tiêu là: Khai thác mọi nguồn lực địa phương và huy động sức của cả
nước để tạo bước tiến nhanh hơn về kinh tế - xã hội, ổn định đời sống, cải thiện môi
trường, môi sinh; Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với tốc độ bằng hoặc cao hơn mức
bình quân chung cả nước; năm 2000 GDP bình quân đầu người đạt gấp đôi năm
1994; Các khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc đều phải có bước phát triển,
khu vực có điều kiện thuận lợi phải phát triển với tốc độ cao hơn để thúc đẩy, hỗ trợ
các khu vực khác cùng phát triển; Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát
triển xã hội - văn hoá, bảo đảm an ninh - quốc phòng, phấn đấu giảm bớt khoảng
cách giữa các vùng về mặt tiến bộ xã hội.
Để đạt mục tiêu nêu trên, nhiệm vụ đặt ra cho phát triển các lĩnh vực kinh tế -
xã hội được xác định là:
41
Công nghiệp:
Phát triển công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu. Sắp xếp và đầu
tư chiều sâu các cơ sở hiện có; Phát triển công nghiệp nhỏ, thủ công nghiệp ở
những vùng sâu, vùng xa, khuyến khích các nghề thủ công truyền thống; Xây
dựng các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, đẩy mạnh công tác thăm dò và khai
thác khoáng sản…
Nông - lâm nghiệp:
Giải quyết lương thực theo quan điểm kinh tế hàng hoá. Mở rộng diện tích
lương thực ở vùng có điều kiện thuỷ lợi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý đi đôi
với thâm canh tăng năng suất bằng áp dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, phân. Bảo
đảm tốc độ lương thực sản xuất tại chỗ hàng năm 3,4 - 4% và năm 2000 đạt bình
quân đầu người 250 - 280 kg. Mở rộng giao lưu với các vùng để bảo đảm an toàn
lương thực.
Đưa độ che phủ rừng vào năm 2000 trên 40%. Hình thành hệ thống rừng
phòng hộ đầu nguồn xung yếu và vùng nguyên liệu giấy, gỗ trụ mỏ.
Đưa diện tích cây công nghiệp dài ngày từ 179 nghìn ha năm 1994 lên gấp
đôi vào năm 2000, trong đó cao su 166 nghìn ha; cà phê 101 nghìn ha và chè 97
nghìn ha. Phát triển mạnh chăn nuôi, nhất là chăn nuôi đại gia súc.
Gắn phát triển lâm nghiệp với công tác định canh, định cư. Ổn định sản xuất
và đời sống của các hộ mới định canh, định cư. Tiếp tục đầu tư để hoàn thành các
dự án của Chương trình 327, ưu tiên hằng năm mở thêm 80 - 100 dự án cho vùng
đang còn du canh, du cư. Năm 2000 cơ bản hoàn thành công tác định canh, định cư
trong cả nước.
Kết cấu hạ tầng và dịch vụ:
Về giao thông, đầu tư nâng cấp các đường quốc lộ; tuyến đường dọc biên
giới và các tuyến đường đến các huyện, xã vùng cao. Gắn việc phân bố lại dân cư
với việc xây dựng đường xá để giao thông phục vụ tốt các điểm dân cư. Đến năm
2000, hầu hết các xã hoặc cụm xã đều có đường ô tô đến trung tâm.
Về năng lượng, năm 2000 có 100% huyện lỵ có điện và khoảng 60 -70% xã
có điện.
42
Về thuỷ lợi, đẩy mạnh công tác xây dựng các hồ chứa nước bảo đảm tưới
tiêu cho các vùng sản xuất lương thực và cây công nghiệp tập trung; cung cấp
nước cho công nghiệp và đô thị, kết hợp với phát điện nếu có điều kiện. Tiếp tục
thực hiện chương trình nước sạnh nông thôn, năm 2000 có 80% số dân được dùng
nước sạch.
Xây dựng và phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ để thúc đẩy và hỗ trợ vùng nông
thôn miền núi phát triển, đưa tỉ lệ dân đô thị từ 14% năm 1994 lên 18% năm 2000.
Hình thành các điểm thương mại cấp vùng, thị xã, huyện và cụm xã. Nhà nước trợ
giá một số mặt hàng cơ bản (muối iốt, dầu, giấy học sinh...). Khuyến khích các
thành phần kinh tế tham gia đầu tư và cung cấp hàng hoá trong vùng. Phấn đấu xuất
khẩu đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm 20 - 30%.
Bảo tồn và khai thác vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên và các di tích lịch sử để
phát triển du lịch.
Thực hiện chương trình phát thanh, truyền hình, chương trình phát triển
thông tin liên lạc; năm 2000 đạt 100% số huyện có trạm phát lại truyền hình, hầu
hết số xã có trạm điện thoại.
Phát triển mạng lưới y tế, giáo dục ở xã, bản: năm 2000 có 100% số xã có
trạm y tế, có sơ sở dược, bảo đảm cung cấp đủ các loại thuốc thông thường cho
nhân dân, có đủ phương tiện khám và chữa các loại bệnh thông thường; phổ cập
giáo dục tiểu học và xoá mù chữ cho những người trong độ tuổi. Mở rộng các hình
thức giáo dục, củng cố và phát triển các trường dân tộc nội trú, bán trú.
Giảm tỉ lệ nghèo vào năm 2000 xuống dưới 30% số hộ, không còn hộ đói.
Để đảm bảo cho mục tiêu, nhiệm vụ từ khả năng chuyển thành hiện thực, các
giải pháp mà Đại hội VIII xác định đã phân vùng thành ba khu vực I, II, III để xác
định được hướng tập trung nguồn lực, biện pháp tác động phù hợp:
Khu vực I: Cơ chế đầu tư ở đây chủ yếu là huy động từ cộng đồng và vốn
vay, tạo nên thị trường nội vùng và làm đầu mối giao lưu giữa miền núi với các
vùng khác trong cả nước; phát triển với nhịp độ cao hơn mức bình quân cả nước để
thúc đẩy sự phát triển của vùng.
43
Khu vực II: Cơ chế đầu tư đối với khu vực này là có sự hỗ trợ tích cực của
Nhà nước về hạ tầng, huy động vốn từ cộng đồng và vốn tín dụng. Xoá đói và định
canh, định cư 100%; giảm tỉ lệ nghèo xuống dưới 30% trước năm 2000.
Khu vực III: Mục tiêu của khu vực này đến năm 2000 là xoá đói, giảm
nghèo, đưa số hộ nghèo từ 70% hiện nay xuống dưới 40%; 100% định cư. Nhà
nước phải có biện pháp tập trung vốn ngân sách đầu tư theo chương trình tổng hợp
và có sự chỉ đạo chặt chẽ giúp cho khu vực này phát triển nhanh, giúp các tỉnh biên
giới phía Bắc trụ dân lại.
Vốn đầu tư ngân sách cho miền núi và vùng đồng bào dân tộc sẽ được tập
trung hỗ trợ xây dựng các cơ sở giao thông, điện, giống cây con, trường học, trạm y
tế, bệnh viện. Vốn tín dụng tập trung hỗ trợ phát triển nông - lâm nghiệp, xoá đói,
giảm nghèo.
Chương trình xóa đói, giảm nghèo do Đại hội VIII xác định cũng đề cập
nhiều nội dung liên quan đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới.
1.2. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT
SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC
1.2.1. Phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện đời sống vật
chất đồng bào các dân tộc thiểu số
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 22-NQTW của Bộ Chính trị, Quyết định số
72-HĐBT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh
tế - xã hội phù hợp với đặc thù của vùng dân tộc và miền núi, chuẩn bị tiền đề cùng
cả nước bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ngày 10-6-1996, Thủ
tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 393/TTg Về quy hoạch dân cư, tăng cường cơ sở hạ
tầng, sắp xếp sản xuất ở vùng dân tộc và miền núi. Chỉ thị nêu rõ: Các cấp, các
ngành, các địa phương cần xây dựng quy hoạch và bố trí dân cư, tập trung xây dựng
cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, sắp xếp lại sản xuất cho
phù hợp với điều kiện từng dân tộc, từng địa phương.
Nhằm tạo động lực thúc đẩy giao lưu hàng hoá giữa miền xuôi với miền
ngược, thực hiện chính sách phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng
bào dân tộc, ngày 10 tháng 12 năm 1995, Chính phủ ra Quyết định 7464/KTTH Về
44
chính sách trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng hoá lên miền núi và Nghị định số
20/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 1998 Về phát triển thương mại miền núi, hải
đảo và vùng dân tộc thiểu số. Chính phủ chủ trương thúc đẩy phát triển mạng lưới
thương mại ở các tỉnh, huyện, trung tâm cụm xã và khuyến khích mọi thành phần
kinh tế tham gia lưu thông hàng hoá hai chiều, nhằm tạo động lực phát triển cho
toàn vùng.
Nhận thức rõ vị trí chiến lược của vùng Đông Bắc, thực hiện chủ trương của
Đảng, ngày 6-1-1998, Chính phủ ra Quyết định số 02/1998/QĐ-TTg Về việc phê
duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông - Bắc giai đoạn từ
nay đến năm 2010 [Phụ lục 17]. Quyết định nêu rõ mục tiêu đến năm 2010 là: Phấn
đấu nhịp độ tăng trưởng GDP cả giai đoạn từ nay đến năm 2010 đạt khoảng trên
10%/năm; thực hiện cơ bản xóa đói trước năm 2000, giảm 30 - 40% hộ nghèo so
với năm 1998; năm 2010 cơ bản hoàn thành công tác định canh, định cư. Nâng cao
dân trí và thể lực của nhân dân; đảm bảo cuộc sống văn hóa, tinh thần ngày càng
cao và lối sống ngày càng văn minh trong nhân dân; khôi phục và cải thiện môi
trường; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ Quốc gia trên đất liền và vùng biển. Để thực hiện mục tiêu trên, Quyết định đề
ra những định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc:
- Về công nghiệp: xác định các ngành hoặc sản phẩm công nghiệp chủ lực,
trong đó một số là mũi nhọn dựa trên các lợi thế về nguyên liệu và thị trường.
- Về nông, lâm nghiệp: chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng
sản xuất hàng hoá, phù hợp với nhu cầu thị trường.
- Về thương nghiệp: Phát triển mạnh hệ thống các trung tâm thương mại, các
khu kinh tế cửa khẩu. Phát triển thương nghiệp vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng
hải đảo. Khuyến khích tối đa đối với các loại đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ để khắc phục khoảng cách đối với các vùng khác.
- Về du lịch: Phát triển mạnh du lịch biển, xây dựng một số khu, cụm du lịch,
tuyến du lịch nội vùng, liên vùng và quốc tế.
- Về môi trường: Phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với bảo vệ môi trường,
phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, ưu tiên các khu vực rừng đầu nguồn.
45
Tiếp đó, ngày 31-7-1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
135/1998/QĐ-TTg Về việc phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các
xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi, biên giới và vùng sâu
vùng xa. Chương trình 135 giai đoạn 1 (1998-2005) và giai đoạn 2 (2006-2010).
Quy mô gồm 50 tỉnh, 354 huyện, 1.946 xã khu vực III và 3.274 thôn, bản đặc
biệt khó khăn của xã khu vực II. Mục tiêu tổng quát của chương trình 135 là:
Tạo sự chuyển biến nhanh về sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường; cải thiện, nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn một
cách bền vững, giảm khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng
trong cả nước; phấn đấu đến năm 2010, cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo
xuống dưới 30%, trên 70% số hộ đạt mức thu nhập bình quân đầu người trên 3,5
triệu đồng/năm…
Về kinh tế, Chương trình 135 xác định: Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông,
lâm nghiệp, gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm để khai thác nguồn tài nguyên và
sử dụng lao động tại chỗ, tạo thêm nhiều cơ hội về việc làm và tăng thu nhập, ổn
định đời sống, từng bước phát triển sản xuất hàng hóa.
Theo Quyết định số 1232/1999/QĐ-TTg ngày 24-12-1999 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt danh sách các xã đặc biệt khó khăn và biên giới thuộc phạm vi
Chương trình 135, khu vực miền núi Đông Bắc giáp biên giới Việt - Trung có 4
tỉnh, 361 xã thuộc phạm vi của chương trình [Phụ lục 8].
Với những chủ trương, chính sách trên cho thấy, Đảng và Nhà nước đã có
những định hướng quan trọng trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội vùng miền
núi, đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và khu vực miền núi Đông Bắc nói riêng
trong giai đoạn 1996 - 2001 để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
Sau 5 năm thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng
như sự hỗ trợ, đầu tư của các chương trình, dự án, tình hình kinh tế các tỉnh miền
núi Đông Bắc có sự phát triển, đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số
được nâng lên.
46
Về sản xuất nông, lâm nghiệp
Trong những năm đầu thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ
cấu kinh tế miền núi Đông Bắc có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ
trọng khu vực công nghiệp - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp
Trong sản xuất nông nghiệp, với chủ trương khai thác thế mạnh của vùng,
tập trung thích đáng nguồn lực cho các lĩnh vực, các địa bàn trọng điểm, đồng thời
với việc ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật về giống, cây trồng, vật nuôi,
tập trung đầu tư cho thuỷ lợi nên sản lượng lương thực ở khu vực đồng bào dân
tộc thiểu số đã được tăng lên. Lương thực bình quân đầu người từ 202,5kg/người
năm 1995 đã tăng lên 278,5 kg/ người năm 2000, nhiều địa phương đã tự túc được
lương thực. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số từ chỗ sản xuất nông, lâm nghiệp mang
nặng tính tự cung, tự cấp, du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy, năng suất lao
động thấp và phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên, đã từng bước chuyển sang
định canh định cư, vận dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ
cấu cây trồng, vật nuôi, bước đầu đã hình thành các mô hình sản xuất hàng hoá, làm
thay đổi cơ bản phương thức sản xuất truyền thống lạc hậu. Tại tỉnh Cao Bằng, thu
nhập bình quân lương thực tính theo đầu người hàng năm ở vùng đồng bào dân tộc
thiểu số tăng từ 180 kg năm 1994 lên gần 300 kg năm 2003. Sản xuất lương thực
phát triển góp phần ổn định đời sống của đồng bào, tạo điều kiện phát triển các
ngành nghề khác.
Cùng với trồng trọt, chăn nuôi được đẩy mạnh, phát triển mạnh cả về số
lượng và cơ cấu đàn, bước đầu hình thành các mô hình chăn nuôi theo hướng trang
trại vừa và nhỏ. Một số địa phương đã thí điểm mô hình trồng cỏ voi, nuôi bò “nhốt
chuồng” kết hợp chăn thả nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm trên địa bàn. Tính đến
năm 2001, vùng Đông Bắc đã hình thành được 9 trang trại lợn (hơn 100 con/trang
trại), và 6 trang trại gia cầm (hơn 200 con/trang trại). Mặc dù có lợi thế nhiều mặt
cho phát triển chăn nuôi, song ngành chăn nuôi của miền núi Đông Bắc vẫn chưa
thực sự phát triển, chỉ trên Duyên hải Bắc Trung Bộ và Tây Bắc.
Tận dụng lợi thế về điều kiện tự nhiên, đồng bào các dân tộc thiểu số đã tập
trung trồng các loại cây ăn quả, cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, bước đầu
47
hình thành một số vùng sản xuất cây ăn quả tập trung với diện tích rộng, sản lượng
lớn ở các địa phương như: vùng hồi ở Văn Quan, Bình Gia, Cao Lộc, Văn Lãng,
Tràng Định (Lạng Sơn): 19.000 ha, vùng na ở Chi Lăng (Lạng Sơn): 700 ha, vùng
vải thiều ở Hữu Lũng (Lạng Sơn): 4.491 ha... Đặc biệt, cây chè rất thích hợp với thổ
nhưỡng và khí hậu của vùng, đồng thời là mặt hàng nông sản xuất khẩu sang thị
trường các nước. Vì vậy, các vùng chuyên canh chè đã hình thành và phát triển
tương đối ổn định, diện tích, năng suất và sản lượng chè ngày một tăng lên. Một số
địa phương trồng chè với quy mô lớn. Đến năm 2003, toàn tỉnh Hà Giang có 14156
ha chè với sản lượng 27261 tấn/ha. Ngoài cây chè, các cây dược liệu như hồi, quế,
bạc hà, thảo quả, tam thất, sâm nam được trồng ở vùng núi. Trên cao nguyên Đồng
Văn - Lũng Cú (Hà Giang), diện tích tam thất, sâm nam và một số dược liệu quý
hiếm được quy hoạch, từng bước thích ứng với thị trường.
Về lâm nghiệp
Miền núi Đông Bắc là khu vực có diện tích rừng và đất rừng lớn. Thực hiện
Quyết định số 327/HĐBT ngày 15-9-1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về một
số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và
mặt đất, công tác giao đất, giao rừng được triển khai rộng rãi ở các tỉnh miền núi
Đông Bắc. Để phát huy thế mạnh đồi rừng, ngày 29-7-1998, Thủ tướng Chính phủ
ra Quyết định 661/QĐ-TTg Về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện
dự án trồng mới 5 triệu ha rừng .
Cụ thể hoá Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Đảng bộ và chính quyền
các địa phương khẳng định: phát triển nghề rừng theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá; trồng rừng phải gắn với khoanh nuôi và bảo vệ rừng; phát triển rừng cần
gắn với công nghiệp chế biến sản phẩm của rừng; từng hộ gia đình chủ động khai
thác tiềm năng của kinh tế đồi rừng nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ xoá đói
giảm nghèo, từng bước vươn lên làm giàu từ nghề rừng; phát triển rừng phải gắn
với phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường
sinh thái. Đến năm 1999, Đông Bắc là vùng có nhiều rừng trồng nhất trong cả nước
(213.421 ha). Cùng với vùng Tây Nguyên và vùng Bắc Trung Bộ, đây là vùng có
trên 2 triệu ha rừng.
48
Trong số các tỉnh miền núi Đông Bắc, tại tỉnh Cao Bằng, nghề rừng đã có
bước phát triển theo xu hướng mới, từ khai thác tự nhiên là chủ yếu, nay được Nhà
nước cấp kinh phí và hỗ trợ về lương thực nên đồng bào các dân tộc đã chuyển sang
trồng, khoanh nuôi và bảo vệ để rừng có điều kiện tái sinh. Chính vì vậy, tỷ lệ che
phủ rừng tại Cao Bằng từ 14% năm 1984 lên 47% năm 1993 [81].
Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Theo đánh giá của các chuyên gia, hầu hết các khoáng sản chiến lược (trừ
dầu khí) của nền công nghiệp nước ta: như than, sắt, đồng, kẽm, apatit... với trữ
lượng lớn đều tập trung ở vùng này. Tuy nhiên, việc khai thác đa số các mỏ đòi hỏi
phải có phương tiện hiện đại và chi phí cao. Giai đoạn 1996 - 2000, các tỉnh đã tập
trung đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, bổ sung thêm nhiều năng lực sản xuất
mới. Vì vậy, sản xuất công nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần làm thay
đổi đáng kể cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ, giảm
dần tỷ trọng nông - lâm nghiệp.
Nhờ những nỗ lực trên, sản xuất công nghiệp của miền núi Đông Bắc trong
giai đoạn này đã tăng trưởng khá. Năm 1995 giá trị sản lượng công nghiệp đạt
6179,2 tỷ đồng đến năm 2000 tăng lên 10.657,7 tỷ đồng. Dẫn đầu về giá trị sản xuất
công nghiệp của vùng là tỉnh Quảng Ninh (năm 2000 đạt 3.788,8 tỷ đồng, chiếm
33,83% tỷ trọng của vùng Đông Bắc).
Dịch vụ và du lịch
Khu vực miền núi Đông Bắc có mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt
khá phát triển. Quốc lộ 2 dài 312 km đi qua các thành phố công nghiệp và địa bàn
giàu khoáng sản, lâm sản và vùng chăn nuôi gia súc lớn; Quốc lộ 3 dài 382 km nối
liền vùng kim loại màu với Thái nguyên và Hà Nội; Quốc lộ 18 (ngang) đi qua
vùng sản xuất than đá và điện lực của vùng; Quốc lộ 4 (ngang) đi qua vùng cây ăn
quả, và nối liền với cửa khẩu Việt - Trung...; Đường 3A (13A) có ý nghĩa về mặt
kinh tế vùng trung du và quốc phòng; Tuyến đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng dài
123 km nối với ga Bằng Tường (Trung Quốc). Đây là tuyến đường sắt quan trọng
trong việc tạo ra các mối liên hệ qua một số khu vực kinh tế và quốc phòng xung
49
yếu Bắc Giang - Chi Lăng - Lạng Sơn. Ngoài ra, hệ thống cảng biển Quảng Ninh
hoạt động sôi động trong nền kinh tế mở, đặc biệt trong hoạt động xuất khẩu than.
Hệ thống giao thông thuận lợi không chỉ có ý nghĩa nội vùng mà còn có ý
nghĩa quan trọng trong việc đẩy mạnh giao thương hàng hoá, dịch vụ giữa nước ta
và các tỉnh phía Nam Trung Quốc.
Hệ thống thông tin liên lạc, điện thắp sáng phát triển rất nhanh chóng.
Năm 2000, tỉnh Quảng Ninh đã có 60% trung tâm xã miền núi được sử dụng
điện, 95% số xã có điện thoại, 55% số xã có điểm bưu điện văn hoá xã, 100% xã
có trạm y tế [59].
Do nhận thức rõ tầm quan trọng của việc duy trì và phát triển nền văn hoá
truyền thống của các dân tộc trong việc phát triển du lịch, thương mại, các địa
phương trong khu vực đã đầu tư, xây dựng, khôi phục một số giá trị văn hoá
truyền thống, tổ chức các lễ hội cổ truyền, tổ chức tốt các cuộc thi múa hát và trò
chơi dân gian truyền thống của các dân tộc trong “Ngày hội văn hoá, thể dục, thể
thao”. Đây là điều kiện thuận lợi để các giá trị văn hoá truyền thống của các dân
tộc được duy trì, đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch, thương
mại của toàn vùng.
Phát huy thế mạnh của tỉnh, ngày 16 tháng 6 năm 2000, Tỉnh uỷ Lạng Sơn
ra Nghị quyết 18-NQ/TU Về nhiệm vụ phát triển du lịch năm 2000 đến 2010.
Nghị quyết nhận định: Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới, có 2 cửa khẩu
quốc tế, 2 cửa khẩu quốc gia và các chợ đường biên; là tỉnh có các tuyến giao
thông đường bộ và đường sắt đi qua, nối liền với các tỉnh trong nước và với nước
ngoài. Nơi đây nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng; có nền văn
hoá đậm đà bản sắc dân tộc.
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, bình thường hoá quan hệ và
mở rộng giao lưu kinh tế với Trung Quốc, Lạng Sơn đã trở thành một trong những
trung tâm giao lưu kinh tế quan trọng của khu vực phía Bắc. Đó là tiềm năng thế
mạnh và cơ hội để Lạng Sơn khai thác phát triển ngành du lịch. Số lượt khách du
lịch và doanh thu từ du lịch tăng dần qua từng năm. Năm 1995, tỉnh Lạng Sơn đón
95.000 lượt khách, doanh thu đạt 49,5 đồng, đến năm 1999, số du khách đạt
50
148.000, doanh thu đạt 62 tỷ đồng. Du lịch phát triển đã tạo thêm việc làm, thu
nhập cho người lao động, các lĩnh vực khách sạn, nhà hàng phát triển; góp phần
thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Tuy nhiên, tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của vùng Đông
Bắc còn thấp, từ 30,9% năm 1995 nhích lên 33,9% năm 2002, thấp hơn trung bình
cả nước cùng thời kỳ là 44,1% và 38,5%.
Việc phát triển kinh tế cửa khẩu cũng đã tác động mạnh đến thị trường nội
địa, hoạt động du lịch và các dịch vụ khác. Vì vậy, các khu kinh tế cửa khẩu đã
được các địa phương quan tâm đầu tư xây dựng như: cửa khẩu Móng Cái, Tân
Thanh, cảng Cái Lân. Năm 1999, riêng khu vực cửa khẩu tỉnh Lạng Sơn tổng thu
ngân sách đạt 413 tỷ đồng.
Trong giai đoạn 1996 - 2000, cơ cấu kinh tế của các tỉnh miền núi Đông Bắc
có sự chuyển biến tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp, tăng
dần tỷ trọng khu vực công nghiệp, dịch vụ. Năm 2000, cơ cấu kinh tế của toàn vùng
miền núi phía Bắc là Nông, lâm, ngư nghiệp: 46,1%; Công nghiệp, xây dựng:
20,66%; Dịch vụ: 33,24%. Trong vùng, Quảng Ninh là tỉnh có sự chuyển dịch tích
cực nhất (Năm 1999: Nông, lâm, ngư nghiệp: 9,8%; Công nghiệp, xây dựng:
45,2%; Dịch vụ: 45,0%) [66].
Mặc dù vậy, so với tình hình chung của cả nước, tốc độ chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của vùng vẫn còn khiêm tốn, quá trình phân công lao động theo ngành diễn
ra chậm, nền kinh tế vẫn trong tình trạng chậm phát triển.
Về xây dựng cơ sở hạ tầng
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, Đảng và Nhà nước xác định xây dựng kết cấu hạ tầng là điều kiện tiên
quyết thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Đối với các tỉnh miền núi nói chung, một
số tỉnh miền núi Đông Bắc nói riêng, nhiệm vụ đó càng trở nên cấp thiết nhằm góp
phần rút ngắn khoảng cách phát triển giữa miền núi và miền xuôi, giữa các vùng,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số [Phụ lục 5].
Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của vấn đề đó, Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ đã ra các Chỉ thị và ban hành các Quyết định nhằm đẩy mạnh xây dựng
51
kết cấu hạ tầng khu vực miền núi như: Ngày 10 tháng 6 năm 1996, Thủ tướng
Chính phủ ra Chỉ thị 393-CT/TTg Về quy hoạch dân cư, tăng cường cơ sở hạ tầng,
sắp xếp sản xuất ở vùng dân tộc và miền núi; Ngày 24 tháng 12 năm 1996, Thủ
tướng Chính phủ ra Quyết định số 960-QĐ/TTg Về định hướng dài hạn và kế hoạch
5 năm 1996-2000 phát triển kinh tế xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc; Ngày 13
tháng 01 năm 1997, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 35/QĐ-TTg Về chương
trình xây dựng trung tâm cụm xã. Đối với các xã đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng
sâu, vùng xa, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 135-QĐ/TTg ngày 31 tháng 7
năm 1998 Về chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng
đồng bào dân tộc miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa.
Được sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước qua các chương trình dự án với
phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, Nhà nước tạo công trình, nhân dân
đóng góp công sức và có việc làm, cơ sở hạ tầng nông thôn vùng đồng bào dân tộc
thiểu số được xây dựng tăng nhanh [Phụ lục 5].
Về giao thông: Hệ thống đường trục, đường liên tỉnh, liên huyện được nâng
cấp, tu bổ bảo đảm đi lại thông suốt cả mùa mưa và mùa khô. Cùng với sự hỗ trợ
của Nhà nước, nhân dân đã đóng góp hàng trăm tỷ đồng, huy động hàng triệu ngày
công để nâng cấp các tuyến đường giao thông nông thôn. Đến năm 2000, đường ô
tô đã vào đến 100% các trung tâm xã. Hệ thống đường quốc lộ 1A, 2, 3 từ thành
phố Hà Nội đến các tỉnh và tới các cửa khẩu quốc tế và quốc gia trên biên giới Việt
- Trung được nâng cấp, mở rộng.
Về điện thắp sáng: Mặc dù địa hình phức tạp, nhiều khó khăn trong thi công,
chi phí đầu tư lớn, nhưng với sự hỗ trợ của Trung ương, chính sách ưu tiên cấp điện
lưới phục vụ sản xuất, sinh hoạt của đồng bào các dân tộc thiểu số, các tỉnh miền
núi Đông Bắc đã tập trung phát triển nhanh mạng lưới điện ở miền núi, vùng sâu,
vùng xa, vùng cao biên giới, hải đảo. Đến năm 2000, điện lưới quốc gia đã đến
được với 100% thị xã, tỉnh lỵ của các tỉnh miền núi Đông Bắc. Đối với đồng bào
Mông ở Hà Giang, có trên 2 vạn hộ nghèo đã được hỗ trợ kéo điện đến tận nhà.
Điều này góp phần không nhỏ vào việc ổn định đời sống, định canh định cư, phát
triển sản xuất của đồng bào Mông.
52
Đối với các địa bàn vùng sâu, vùng xa điện lưới quốc gia chưa tới được, các
địa phương chủ động khuyến khích phát triển hệ thống thuỷ điện vừa và nhỏ đáp
ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của đồng bào. Điện về miền núi góp phần quan
trọng thúc đẩy sản xuất phát triển và cải thiện đời sống văn hoá, nâng cao dân trí
đồng bào các dân tộc thiểu số.
Vấn đề nước sạch cho đồng bào miền núi Đông Bắc, cũng như vùng cao,
miền núi của cả nước là vấn đề được sự quan tâm của Nhà nước. Trong giai đoạn
này, các tỉnh miền núi Đông Bắc nhận được sự đầu tư của Bộ xây dựng, chương
trình nước sạch của UNICEF và ngành thuỷ lợi. Với phương châm Nhà nước và
nhân dân cùng làm, chỉ tính riêng tại các huyện vùng cao Hà Giang, tỉnh đã hỗ trợ
xây dựng 129 công trình cấp nước tự chảy, hỗ trợ 3,1 vạn hộ vùng cao bằng xi
măng để dân tự xây bể, mỗi bể dung tích chứa 6m³. Nhờ vậy, đã cơ bản giải quyết
được tình trạng thiếu nước ăn vào mùa khô.
Về bưu chính viễn thông: Hệ thống bưu chính viễn thông ngày càng phát
triển và được hiện đại hoá một bước. Trong toàn vùng, tất cả các huyện, thị được
trang bị tổng đài điện tử và liên lạc qua tuyến cáp quang, vi ba số. Hệ thống thông
tin liên lạc đã vươn đến các xã vùng sâu, vùng xa, nhất là các xã biên giới, các đồn
biên phòng, đảm bảo thông tin thông suốt trong mọi tình huống.
Các cơ sở hạ tầng phúc lợi khác: như các trường dân tộc nội trú, trạm y tế,
trung tâm văn hoá xã, trạm phát thanh, truyền hình... với sự kết hợp của các chương
trình, dự án, đã được xây dựng kiên cố đến tuyến huyện, xã và nhiều thôn, bản.
1.2.2. Phát triển văn hoá, giáo dục, y tế
Về văn hoá
Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá VIII (tháng 7 năm
1998) ra Nghị quyết Về xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc đã xác định văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục
tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư, chăm lo cho văn
hoá là đầu tư, chăm lo cho củng cố nền tảng của xã hội. Xây dựng phát triển kinh tế
phải gắn liền với mục tiêu phát triển văn hoá, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
53
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII, Đảng bộ, chính quyền các
địa phương vùng Đông Bắc đã cụ thể hoá Nghị quyết thành các chương trình hành
động và phổ biến rộng khắp tới cán bộ, đảng viên và nhân dân. Ngày 3 tháng 12
năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 39-CT/TTg về việc đẩy mạnh công tác
văn hoá - thông tin ở miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Chỉ thị khẳng
định: Để khai thác tiềm năng, đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở miền
núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, giảm dần sự chênh lệch về mức sống và
hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, cần đẩy mạnh công tác văn hóa - thông tin ở
miền núi và vùng các dân tộc thiểu số; gắn chặt nhiệm vụ phát triển văn hóa - thông
tin miền núi và vùng dân tộc thiểu số với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an
ninh, quốc phòng.
Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, trong những năm
1996-2000, công tác sưu tầm, bảo tồn, giới thiệu vốn văn hoá, nghệ thuật dân gian
được các cấp, các ngành và nhân dân các tỉnh miền núi Đông Bắc quan tâm.
Là cư dân nông nghiệp nên truyền thống văn hoá của các dân tộc nơi đây
phản ánh rõ nét bởi lối canh tác, thời vụ cây trồng và văn hoá nông nghiệp. Trong
văn hoá, có sự dung hợp, giao thoa văn hoá của các dân tộc anh em. Vì thế, kho
tàng văn hoá phi vật thể của các dân tộc thiểu số miền núi Đông Bắc hết sức phong
phú và đa dạng. Người Tày tự hào có làn điệu then, lượn cọi, lượn slương, lượn
phong thư mượt mà, sâu lắng. Người Nùng tự hào có sli, lượn nàng ới, hà lều.
Người Mông tự hào với khèn Mông, đàn môi, những điệu múa khèn tình tứ của trai
gái Mông vào các dịp lễ, tết, hội hè. Người Dao tự hào với páo dung, lễ cấp sắc
thấm đẫm màu huyền thoại. Người Hoa tự hào với nghệ thuật ẩm thực truyền
thống, ý thức giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc. Người Sán Chay tự hào
với hát sình cộ... Ngoài ra, mỗi dân tộc đều tự hào về các bài thuốc y học cổ truyền
của dân tộc mình, các ngành nghề thủ công truyền thống mang đậm bản sắc của
mỗi tộc người.
Về danh lam thắng cảnh, miền núi Đông Bắc có các danh lam thắng cảnh
đẹp như Vịnh Hạ Long, với nhiều đảo và những hang động đẹp kỳ thú, được
UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới; có Hồ Ba Bể - hồ tự nhiên nằm
54
ở phía Bắc của tỉnh Bắc Kạn; có thác Bản Giốc, hang Ngườm Ngao ở Cao Bằng; có
Vọng Phu Tô Thị bồng con chờ chồng, có chùa Tam Thanh, Nhị Thanh ở Lạng
Sơn... Đây là những thế mạnh của vùng nhằm thúc đẩy lĩnh vực du lịch, dịch vụ
phát triển.
Các hoạt động văn hoá, báo chí từng bước được cải tiến về nội dung và hình
thức, được tăng cường về cơ sở vật chất và phương tiện. Thông qua hoạt động văn
hoá và báo chí đã cung cấp kịp thời thông tin, nâng cao kiến thức và mức hưởng thụ
của nhân dân, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị. Tại các xã vùng cao biên giới, công
tác thông tin tuyên truyền được đẩy mạnh, nội dung và hình thức phong phú làm
cho dân dễ nghe, dễ hiểu. Các đồn biên phòng và một số xã đã được quan tâm đầu
tư lắp đặt máy điện thoại. 21 xã vùng cao biên giới của tỉnh Lạng Sơn, năm 1996, 4
xã có máy đàm thoại, năm 1997 phát triển lên 18 máy ở 12 xã, 21/21 xã đều có 5
loại báo: báo Nhân dân, Quân đội, Lạng Sơn, Thiếu niên, Nhi đồng. Ước khoảng
51% số hộ có máy thu thanh, đã góp phần tích cực vào việc nâng cao nhận thức về
đường lối, chính sách của Đảng trong nhân dân [98, tr.8].
Trên cơ sở chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiều bản làng đã
xây dựng được hương ước, quy ước phù hợp với phong tục, tập quán của địa
phương. Cùng với đó, các tỉnh cũng phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Thông qua các hoạt động văn hoá, thể thao
đã góp phần khơi dậy, giữ gìn, phát huy được những thuần phong, mỹ tục tốt đẹp,
bài trừ hủ tục lạc hậu trong đời sống văn hoá tinh thần của đồng bào các dân tộc
thiểu số.
Hệ thống thư viện công cộng đã bám sát nhiệm vụ trọng tâm của ngành.
Thường xuyên duy trì hoạt động để phục vụ đông đảo bạn đọc, phục vụ có hiệu quả
nhiệm vụ chính trị và góp phần nâng cao dân trí. Đáng chú ý, hệ thống thư viện cấp
huyện từng bước được củng cố. Số thư viện ở vùng Đông Bắc tăng từ 117 năm
1990 lên 134 thư viện năm 1999. Hệ thống thư viện huyện ở các tỉnh miền núi cũng
được quan tâm phát triển như Hà Giang tăng từ 8 thư viện năm 1990 lên 11 thư viện
năm 1999.
55
Về giáo dục - đào tạo và công tác cán bộ
Tháng 12 năm 1996, tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương
Khoá VIII đã ra Nghị quyết về Định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000.
Đề cập đến vấn đề giáo dục - đào tạo ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, Nghị quyết chỉ rõ: Cần phát triển giáo
dục ở các vùng dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn, phấn đấu giảm chênh lệch về
phát triển giáo dục giữa các vùng lãnh thổ, xoá “điểm trắng” về giáo dục ở ấp, bản
miền núi, vùng sâu, vùng khó khăn. Mở thêm các trường dân tộc nội trú và các
trường bán trú ở cụm xã, các huyện, tạo nguồn cho các trường chuyên nghiệp và đại
học để đào tạo cán bộ cho các dân tộc, trước hết là giáo viên, cán bộ y tế, cán bộ
lãnh đạo và quản lý.
Thực hiện chủ trương trên, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đến
lớp, các địa phương đã mở rộng quy mô giáo dục bằng phát triển hệ thống các
trường dân tộc nội trú và trường bán trú dân nuôi. Ngay từ khi mới thành lập trường
bán trú dân nuôi, Đảng bộ và chính quyền các địa phương, các thầy, cô giáo đã có
những sáng tạo nhằm huy động tối đa các nguồn lực cần thiết phục vụ cho học sinh
như: đóng góp lương thực, xây dựng, tu sửa cơ sở vật chất, nhà lưu trú cho học sinh
sinh hoạt, tăng gia cải thiện đời sống cho học sinh nội trú dân nuôi.
Bên cạnh mô hình trường bán trú dân nuôi, hệ thống các trường dân tộc nội
trú cũng được quan tâm xây dựng và phát triển. Mỗi tỉnh trong khu vực đều có một
trường dân tộc nội trú cấp tỉnh. Ngoài ra, còn có các trường dân tộc nội trú cấp
huyện. Đặc biệt, đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp giáo dục - đào tạo của vùng
Đông Bắc có trường trung học phổ thông Vùng cao Việt Bắc. Nơi đây là cái nôi đào
tạo cán bộ người dân tộc thiểu số cho vùng và cả nước. Tổng kết 32 năm của trường
Trung học phổ thông Vùng cao Việt Bắc (1954-1986) đã cho thấy: 3.700 học sinh
dân tộc thiểu số được đào tạo hết phổ thông trung học thuộc 21 dân tộc thiểu số và
336 người được đào tạo bậc đại học, cao đẳng sư phạm, 224 người học Đại học
Nông nghiệp, 222 người học Đại học Y, 85 người học Đại học Bách khoa, 12 người
học Đại học Ngoại ngữ và 124 người tu nghiệp ở nước ngoài [5, tr.89].
56
Cơ sở vật chất phục vụ sự nghiệp giáo dục đào tạo cũng được quan tâm đầu
tư. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhất là các huyện nằm trong chương
trình 135 của Chính phủ, cơ sở vật chất cho dạy và học được nâng cao.
Để phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số, thực hiện chế độ cử tuyển chính
là một phương thức mang lại hiệu quả thiết thực nhất. Trong những năm 1996-
1999, cả khu vực miền núi phía Bắc đã cử tuyển 65 học sinh người dân tộc Kinh
(4,8%), và 1.352 học sinh dân tộc thiểu số/1.363 chỉ tiêu (đạt 98,8%). Một số tỉnh
tuyển vượt chỉ tiêu như Cao Bằng: 131%, trường phổ thông dân tộc Vùng cao Việt
Bắc: 468,2%. Tỉnh thực hiện cử tuyển đạt tỷ lệ thấp nhất so với chỉ tiêu giao là
Quảng Ninh, chỉ đạt 66,2%. Sau 15 năm thực hiện cử tuyển tại vùng miền núi phía
Bắc đã đào tạo được 7.583 học sinh dân tộc thiểu số/7.856 chỉ tiêu kế hoạch được
giao, đạt 96,5%. Đã có 26/30 dân tộc thiểu số đang sinh sống trong vùng có học
sinh được cử tuyển vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp.
Theo điều tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 87,2% sinh viên tốt nghiệp đã trở về quê
hương công tác đúng với ngành nghề được đào tạo [61].
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu
số đã phát triển không ngừng. Đội ngũ này đảm nhiệm các công tác lãnh đạo, quản
lý, chuyên môn nghiệp vụ từ cơ sở đến Trung ương. Riêng đội ngũ cán bộ lãnh đạo
người dân tộc vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam có bước trưởng thành khá rõ nét.
Chẳng hạn, trong số 160 bí thư và phó bí thư tỉnh, thành uỷ cả nước nhiệm kỳ 1996
- 2000, riêng tỉnh Lạng Sơn cả bí thư và hai phó bí thư tỉnh uỷ, tỉnh Hà Giang, bí
thư và 3 phó bí thư tỉnh uỷ đều là người dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, lực lượng cán bộ các
dân tộc thiểu số hiện nay còn nhiều bất cập. Nhìn chung, đội ngũ này còn thiếu về
số lượng, hạn chế về chất lượng.
Về trình độ học vấn của cán bộ: trong từng địa phương, sự chênh lệch về tỷ
lệ cán bộ chuyên môn kỹ thuật giữa các dân tộc khá lớn. Ở Lạng Sơn, cán bộ người
Việt chiếm 37,3% tổng số cán bộ chuyên môn kỹ thuật của tỉnh, trong khi tỷ lệ đó ở
cán bộ người Tày là 42,2%, người Nùng là 18,8%, người Hoa là 0,5%, người Mông
là 0,4%, người Dao là 0,3%, người Sán Chay là 0,1%, người các dân tộc khác 0,4%.
57
Bên cạnh đó, tình trạng thiếu cán bộ dân tộc thiểu số đến mức trầm trọng,
nhất là đối với hai dân tộc Mông và Dao. Chẳng hạn, ở Cao Bằng dân tộc Dao
chiếm 10,7% dân số, nhưng số cán bộ người Dao chỉ chiếm 3% trong tổng số cán
bộ các loại.
Ở cấp huyện, sự chênh lệch này càng lớn. Người Mông ở huyện Đồng Văn
(Hà Giang) chiếm tới 90% dân số, nhưng cán bộ người Mông chỉ chiếm tới 21%
tổng số cán bộ các loại của huyện. Người Dao ở Bảo Lạc (Cao Bằng) chiếm 17,2%
dân số, nhưng cán bộ của huyện là 2,4% [31].
Về y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân
Quyết định 135/1998/QĐ/TTg ngày 31-7-1998 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền
núi, vùng sâu, vùng xa, khi đề cập đến vấn đề y tế đã khẳng định: Đồng bào trong
vùng các xã đặc biệt khó khăn được hưởng chế độ chăm sóc sức khoẻ, chữa bệnh ở
các cơ sở y tế của nhà nước không mất tiền theo quy định tại Nghị định số 95/CP,
ngày 27 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ.
Trên cơ sở chỉ đạo của Chính phủ, các tỉnh triển khai thực hiện, giúp người
dân ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa sớm được hưởng chính sách ưu đãi của
Đảng và Nhà nước về các dịch vụ y tế, khám chữa bệnh.
Trong những năm 1996 - 2000, công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức
khoẻ ban đầu cho nhân dân các tỉnh miền núi Đông Bắc có bước tiến bộ nhất định.
Các cơ sở khám chữa bệnh được củng cố một bước về cơ sở vật chất, trang thiết bị
khám, chữa bệnh. Qua tiến hành khảo sát năm 1998, cả nước có khoảng 69.972 y,
bác sỹ người dân tộc thiểu số, bình quân cả nước 1 vạn dân có 3,44 bác sỹ. Riêng
vùng miền núi phía Bắc cứ 1 vạn dân có 3,19 y, bác sỹ [75, tr.525].
Riêng đối với 21 xã vùng cao biên giới tỉnh Lạng Sơn, thực hiện theo Quyết
định 29/QĐ-TTg ngày 18 tháng 1 năm 1996, công tác khám chữa bệnh cho nhân
dân được quan tâm. Cán bộ y tế xã được tuyển vào biên chế và có chính sách cụ thể
nên 21 xã biên giới đều có y sỹ, y tá phục vụ tại các trạm y tế xã. 21 xã biên giới đã
có 58 cán bộ trong đó có 34 y sỹ, 2 y tá và 2 nữ hộ sinh. Các thôn bản đều có nhân
58
viên y tá thôn bản làm nhiệm vụ hướng dẫn phòng chữa bệnh cho nhân dân nên đã
căn bản ngăn chặn được các dịch bệnh như sốt rét, bướu cổ... [98, tr.8].
1.2.3. Thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo Xoá đói, giảm nghèo là một trong những vấn đề xã hội được Đảng và Nhà
nước ta đặc biệt quan tâm. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng khẳng định: “Thực
hiện tốt chương trình xoá đói giảm nghèo, nhất là đối với vùng cǎn cứ cách mạng,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Xây dựng và phát triển quỹ xoá đói giảm nghèo
bằng nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước; quản lý chặt chẽ, đầu tư đúng đối tượng
và có hiệu quả” [19, tr.115].
Mục tiêu Đại hội VIII đặt ra trong 5 năm 1996 - 2000: Giảm tỉ lệ nghèo đói
trong tổng số hộ của cả nước từ 20 - 25% năm 1996 xuống còn khoảng 10% vào
năm 2000, bình quân giảm 300 nghìn hộ/năm. Trong 2 - 3 năm đầu của kế hoạch 5
năm, tập trung xoá về cơ bản nạn đói kinh niên.
Để đạt được mục tiêu trên, ngày 29 tháng 11 năm 1997, Bộ Chính trị ra Chị thị
số 23-CT/TW Về lãnh đạo thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo. Chỉ thị nêu lên một
số vấn đề cần giải quyết tốt: vấn đề ruộng đất; Phát động phong trào tiết kiệm; Có
chính sách và cơ chế khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống ở nông thôn,
mở mang tiểu, thủ công nghiệp, dịch vụ; Tăng cường hoạt động của thương nghiệp
quốc doanh ở thị trường nông thôn; Từng bước thực hiện chính sách miễn, giảm học
phí và cấp học bổng cho con em các hộ nghèo, nhất là con em đồng bào dân tộc ít
người; Thực hiện chính sách miễn, giảm phí khám, chữa bệnh cho người nghèo; từng
bước mở rộng hình thức cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế cho các hộ nghèo..
Thực hiện chủ trương xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, các tỉnh
miền núi Đông Bắc đã tập trung chỉ đạo xây dựng và triển khai các chính sách: 1)
Chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cho các xã vùng sâu, vùng xa,
vùng cao, biên giới, coi đây là điều kiện tiên quyết để xoá đói giảm nghèo ở các xã
này; 2) Chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp: hỗ trợ đất sản xuất, giao đất, giao
rừng, trợ giá đầu vào cho nông nghiệp, đào tạo nghề cho nông dân, chuyển giao
khoa học công nghệ trong sản xuất cho các hộ nông dân...; 3) Thực hiện chính sách
định canh, định cư, từng bước cải thiện mọi mặt đời sống cho đồng bào các dân tộc
59
vùng cao, vùng xa, vùng sâu; Chính sách y tế, giáo dục: thực hiện miễn phí hoặc
cấp học bổng cho con em các hộ nghèo, ưu tiên xét chọn con em các dân tộc thiểu
số thuộc hộ nghèo vào học tại các trường dân tộc nội trú. Cấp thẻ bảo hiểm y tế
cho người nghèo, các gia đình chính sách, xây dựng các cơ sở khám chữa bệnh
miễn phí cho người nghèo.
Cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, những năm 1996
- 2000, các tỉnh miền núi Đông Bắc đã nỗ lực trong công tác xoá đói, giảm nghèo
và đạt được một số chuyển biến tích cực.
Trong quá trình lãnh đạo thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo tại địa
phương, Đảng bộ, chính quyền các địa phương xác định: xoá đói, giảm nghèo là
nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và thường xuyên, cần tập trung giải quyết có hiệu
quả. Mục tiêu đặt ra cho 5 năm 1996 - 2000 là đến năm 2000 xoá xong hộ đói, xoá
cơ bản hộ nghèo (chỉ còn dưới 10%).
Chương trình xoá đói giảm nghèo đã trở thành một phong trào quần chúng
sâu rộng, thu hút sự quan tâm và tham gia tích cực của đông đảo nhân dân. Sau 5
năm được vay vốn để phát triển sản xuất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã có sự
chuyển biến tích cực, dịch vụ cho sản xuất và đời sống ngày càng phát triển, hàng
ngàn hộ khác đầu tư cho phát triển công nghiệp, dịch vụ buôn bán nhỏ và các
nghề khác.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án xoá đói giảm
nghèo đã nảy sinh một số hạn chế, cần phải khắc phục trong thời gian tới. Đồng
thời, cần phải kịp thời điều chỉnh chính sách nhằm phát huy hiệu quả của các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện công bằng, bình đẳng giữa các
dân tộc. Dự án hỗ trợ dân tộc Pà Thẻn ở thôn Mỹ Bắc, xã Tân Trịnh, huyện Bắc
Quang, tỉnh Hà Giang là một ví dụ. Thực hiện dự án, chỉ có dân tộc Pà Thẻn với
368 hộ, 2478 nhân khẩu tại địa phương này được hưởng dự án, còn các dân tộc
khác cùng chung sống tại địa bàn, cũng có khó khăn như dân tộc Pà Thẻn, thậm chí
còn khó khăn hơn, nhưng không được thụ hưởng dự án. Đây là một hạn chế, ảnh
hưởng đến việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc tại địa phương.
60
Song song với chương trình xoá đói giảm nghèo, Đảng bộ các địa phương
rất quan tâm tới công tác định canh định cư, đồng thời, đề ra các giải pháp nhằm
khắc phục tình trạng du canh du cư. Thực tế cho thấy, đồng bào du canh, du cư
thường là người dân tộc Dao, Mông, cư trú ở vùng núi cao dọc biên giới các tỉnh
miền núi Đông Bắc, điều kiện sống, lao động sản xuất khó khăn. Hướng di cư có
thể là nội tỉnh hoặc di cư vào vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ. Từ 1980
đến 1997, chỉ tính riêng người của tỉnh Cao Bằng đã di cư đến Tây Nguyên và các
tỉnh khác lên tới 17.200 hộ, với trên 87.530 nhân khẩu.
Nguyên nhân cơ bản của tình trạng du canh du cư một phần do đời sống ở
nơi sở tại quá khó khăn, một số nơi thiếu đất canh tác, thiếu nước sinh hoạt, một
phần do tập quán canh tác của đồng bào...
Trước tình hình đó, Đảng bộ các địa phương đã ra Nghị quyết để giải quyết
tình trạng trên. Tỉnh uỷ Cao Bằng ra Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 05 tháng 5
năm 1997 về các giải pháp khắc phục tình trạng di cư tự do. Nghị quyết đã xác
định một số nhiệm vụ trọng tâm: Từng địa phương tổ chức định canh định cư theo
phương châm tại chỗ là chính, lấy địa bàn huyện để bố trí sắp xếp, lấy định canh
làm tiền đề để tổ chức định cư. Thực hiện các giải pháp kích cầu để kích thích sản
xuất các vùng này phát triển như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhất là về thuỷ lợi,
nước sạch, cho vay vốn trồng cây công nghiệp, cây đặc sản, chăn nuôi đại gia súc,
trợ giá, trợ cước vận chuyển các mặt hàng chính sách, thu mua các mặt hàng nông,
lâm sản.... Trong quá trình vận động định canh định cư, cần chú trọng phát triển
giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá và bảo vệ an ninh trật tự. Coi trọng công tác phát
triển Đảng, chú ý phát huy vai trò của già làng, trưởng bản trong việc tuyên
truyền, vận động nhân dân, ưu tiên, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu
số, nhất là ở các vùng định canh, định cư.
Nhờ sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền, các ngành, các cấp và các địa
phương trong toàn vùng, công tác định canh định cư đã đạt được kết quả rõ rệt.
Các hộ đã được ổn định đời sống, đẩy mạnh sản xuất, thâm canh, tăng vụ cho
năng suất cao, thu nhập ổn định, xoá bỏ phá rừng làm nương rẫy. Công tác định
61
canh định cư đã góp phần không nhỏ vào việc đẩy nhanh xoá đói giảm nghèo,
thực hiện mục tiêu đến năm 2000 xoá cơ bản hộ nghèo.
Tuy nhiên, tính đến năm 1999, số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê cho
thấy, trong 5 năm (1994 - 1999), hai vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ vẫn là
địa điểm chủ yếu thu hút các luồng di dân, vùng Đông Bắc là một trong những
vùng có mức xuất cư cao, năm 1999 là 25,6%. Trong đó, một số tỉnh có tỷ lệ suất
cư cao như Cao Bằng: 48,8%, Lạng Sơn: 31,2% (tỷ lệ nhập cư của hai tỉnh này
tương ứng là 8,5% và 11,6%) [47, tr.77]. Ở một số địa phương vẫn còn tồn tại tình
trạng du canh du cư, một số điểm định cư nhưng chưa vững chắc, đời sống đồng
bào du canh, du cư rất khó khăn, thiếu đói, bệnh tật, tỷ lệ mù chữ, thất học cao.
Lợi dụng trình độ dân trí thấp kém, các phần tử phản động đã truyền đạo trái phép,
tuyên truyền nhảm nhí, gây mất ổn định tại địa phương.
1.2.4. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân
vững mạnh
Miền núi phía Bắc là vùng xung yếu dọc tuyến biên giới Việt - Trung, có vị
trí chiến lược quan trọng về kinh tế - chính trị - xã hội, đặc biệt là an ninh - quốc
phòng của từng địa phương và quốc gia.
Trong thời kỳ đổi mới, thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, các thế
lực thù địch dùng nhiều thủ đoạn thâm độc tác động vào đồng bào các dân tộc
thiểu số. Lợi dụng trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp kém, lợi dụng các mối
quan hệ dân tộc qua lại biên giới, các thế lực thù địch lôi kéo, mua chuộc, lừa gạt,
gây chia rẽ, gây mất ổn định trong vùng đồng bào dân tộc, nhất là vùng đồng bào
dân tộc Mông. Đạo Tin lành đã thâm nhập vào cộng đồng người Mông dưới tên
gọi “Vàng Chứ”, và đồng bào Dao với tên gọi “Thìn Hùng”. Số người mới theo
đạo ngày càng tăng, chủ yếu là ở vùng sâu, vùng xa. Ở Hà Giang, năm 1992, đạo
Vàng Chứ trong vùng dân tộc Mông có ở 42 xã với 1.327 hộ = 7.958 người thì
đến năm 1997, tình hình truyền đạo trái pháp luật đã lan ra 9 huyện với 1.385 hộ =
8.597 khẩu. Sở dĩ có hiện tượng như vậy, một mặt do đồng bào các dân tộc thiểu
số nơi đây đời sống khó khăn, trình độ dân trí thấp kém, mặt khác, trên thực tế, ở
một số địa phương các cán bộ làm công tác dân tộc chưa thực sự tốt, chưa sâu sát
62
với dân. Lợi dụng sơ hở đó, các thế lực thù địch đã tuyên truyền, kích động nhân
dân bằng nhiều thủ đoạn tinh vi.
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, cùng với việc đề ra và
quán triệt đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ, Đảng ta đã có sự đổi mới trong
nhận thức và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc, xây dựng và củng cố khối đại
đoàn kết các dân tộc, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng đặt ra.
Ngày 23 tháng 9 năm 1994, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số
45-CT/TW về một số công tác của người Mông để đấu tranh với những luận điệu
xuyên tạc của các thế lực thù địch. Chỉ thị nêu rõ: Để thực hiện tốt chính sách dân
tộc của Đảng nhằm ổn định tình hình chính trị nâng cao đời sống mọi mặt của dân
tộc Mông, các Đảng bộ địa phương cần tăng cường tuyên truyền giáo dục trong
đồng bào Mông về đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà
nước, tạo điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao đời sống mọi mặt trong vùng dân
tộc Mông.
Thực hiện chủ trương của Đảng, các Đảng bộ địa phương đã cụ thể hoá Chỉ
thị số 45-CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng như: Tỉnh uỷ Hà Giang ra
Chỉ thị 10/CT-TU ngày 20 tháng 10 năm 1997 về việc xoá mù chữ phổ cập tiểu
học, chống truyền đạo trái phép, Kế hoạch số 08/KH-TU chống truyền đạo trái
phép, di dịch cư tự do..., góp phần thúc đẩy giải quyết tốt công tác ở vùng dân tộc
Mông. Với các nội dung cơ bản được thể hiện thông qua các Nghị quyết, Chỉ thị,
Kế hoạch, các Đảng bộ địa phương đã phối hợp với các lực lượng đứng chân trên
địa bàn mở các đợt tuyên truyền, giáo dục, vận động về chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là chính sách đại đoàn kết dân tộc của
Đảng. Phân công cán bộ cốt cán bám địa bàn, nắm chắc diễn biến tình hình, tổ
chức tuyên truyền, vận động nhân dân nêu cao cảnh giác không mắc mưu kẻ xấu
đi theo truyền đạo trái pháp luật, vận động những người do bị lừa gạt, ép buộc
theo đạo trái pháp luật tự giác bỏ đạo trở về sản xuất, ổn định đời sống.
Đầu những năm 2000, tình hình truyền đạo trái pháp luật trên địa bàn các
tỉnh miền núi Đông Bắc đã giảm. Chỉ tính riêng tại tỉnh Hà Giang, năm 1997 có
63
1.385 hộ = 8.597 người đến 2001 giảm xuống còn hơn 700 hộ với khoảng 2.500
người ở 21 xã trên địa bàn.
Bốn tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược về an ninh,
quốc phòng, có đường biên giới giáp với Trung Quốc. Vì vậy, nhiệm vụ bảo vệ chủ
quyền an ninh biên giới luôn được Đảng, Nhà nước, các cấp uỷ Đảng địa phương
quan tâm.
Trước tình hình biên giới có nhiều diễn biến phức tạp, hoạt động của các loại
tội phạm có chiều hướng gia tăng, đời sống mọi mặt của nhân dân biên giới thiếu
thốn, cơ sở hạ tầng thấp kém. Ngày 07 tháng 5 năm 1998, Tỉnh uỷ Lạng Sơn tiếp
tục ra Chỉ thị số 09-CT/TU về việc tăng cường quản lý, bảo vệ biên giới trong tình
hình mới.; Năm 1995, Tỉnh uỷ Cao Bằng ra Nghị quyết số 1023/NQ-TU về việc mở
cuộc vận động tập trung tăng cường công tác giải quyết một số vấn đề bức xúc về
kinh tế xã hội và bảo đảm an ninh trật tự ở huyện Bảo Lạc; Ngày 26 tháng 10 năm
1998, Tỉnh uỷ Cao Bằng ra Nghị quyết số 03-NQ/TU về tăng cường chỉ đạo xây
dựng và phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở các xã biên giới.
Các Nghị quyết nêu trên đều quán triệt sâu sắc chính sách đối ngoại của
Đảng và Nhà nước: Xây dựng biên giới Việt - Trung hoà bình, hữu nghị, tăng
cường quan hệ láng giềng thân thiện, hợp tác bình đẳng cùng có lợi giữa nhân dân
hai nước ở hai bên biên giới một cách có tổ chức, trật tự, phù hợp với pháp luật của
mỗi nước và hiệp định giữa hai nước; giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh
thổ, bảo đảm an ninh quốc gia; tập trung khai thác thế mạnh của các huyện biên
giới, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc
vùng biên; từng bước xoá đói, giảm nghèo, thực hiện có hiệu quả mục tiêu dân giàu
nước mạnh; có hệ thống chính trị vững mạnh. Mỗi xã biên giới phải thực sự vững
mạnh toàn diện.
Thực hiện chủ trương đó, nhiệm vụ đặt ra cho một số tỉnh miền núi Đông
Bắc có đường biên giới là: Quản lý, bảo vệ biên giới; tăng cường quan hệ hữu nghị
và hợp tác Việt - Trung; xây dựng vùng biên giới vững mạnh toàn diện.
Chủ trương và sự chỉ đạo tích cực của các cấp uỷ Đảng, chính quyền các địa
phương đã phát huy được vai trò nòng cốt của bộ đội biên phòng, dân quân các xã
64
biên giới, lực lượng dự bị động viên và phong trào của quần chúng nhân dân trong
quản lý bảo vệ biên giới; huy động được các nguồn lực để đầu tư phát triển kinh tế
xã hội, hỗ trợ giống, vốn, trồng cây giáp biên; xây dựng cơ sở hạ tầng như đường
giao thông, điện lưới, trụ sở làm việc, phương tiện giao thông; niềm tin của nhân
dân đối với Đảng được củng cố; cán bộ, chiến sỹ, nhân dân yên tâm bám trụ xây
dựng và bảo vệ biên giới, cơ bản chấm dứt tình trạng di dân tự do. Nhờ vậy, nền
biên phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được củng
cố, phong trào quần chúng nhân dân tự quản bảo vệ biên giới phát triển. Từ 1993
đến 1999, tỉnh Cao Bằng đã phát hiện trên 200 vụ gồm trên 3000 lượt bộ đội biên
phòng, công an, nhân dân Trung Quốc tuần tra, làm đường, xâm nhập phá hoại,
chôn mồ mả, xâm canh vào đất của ta. Các vụ việc xảy ra đều được phát hiện kịp
thời, xử lý kiên quyết, góp phần giữ vững chủ quyền biên giới lãnh thổ, không để
mất đất, xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị và hợp tác.
Tuy nhiên, một thực trạng mà Đảng bộ các địa phương cần quan tâm đó là,
đội ngũ cán bộ quân đội, công an người dân tộc thiểu số ở vùng núi, vùng biên
cương Tổ quốc là rất cần thiết song lại có xu hướng giảm. Theo thống kê trong quân
đội, hiện có khoảng 1,81% sĩ quan quân đội là con em các dân tộc thiểu số. Còn ở
riêng Hà Giang, Tuyên Quang thì số sĩ quan này giảm 10%. Thực tế này đòi hỏi các
cơ quan Trung ương và địa phương cần phối hợp bằng nhiều biện pháp hữu hiệu, để
phát triển đội ngũ cán bộ quân đội người dân tộc thiểu số cùng với cán bộ quân đội
người dân tộc Kinh làm tốt nhiệm vụ gìn giữ biên cương của Tổ quốc.
Tiểu kết chương 1
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới,
diện mạo miền núi Đông Bắc nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực. Đó là kết
quả của quá trình đổi mới tư duy về hoạch định chính sách dân tộc của Đảng với
gắn kết giữa phát triển tộc người với phát triển vùng. Thông qua việc thực hiện các
chương trình, dự án kinh tế - xã hội miền núi, đời sống của đồng bào các dân tộc
thiểu số đã được nâng lên, kết cấu hạ tầng được đầu tư, xây mới; văn hoá, giáo dục,
y tế được quan tâm; an ninh, quốc phòng được giữ vững. Những kết quả đạt được
65
một mặt thể hiện bản chất của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó là
chế độ của dân, do dân và vì dân, thực hiện công bằng, bình đẳng đối với các dân
tộc. Mặt khác, với những thành tựu đạt được tạo cơ sở để các dân tộc tiếp tục phát
huy nội lực để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình thực
hiện chính sách dân tộc của Đảng tại khu vực miền núi Đông Bắc vẫn còn một số
hạn chế, khó khăn, như thực hiện các chính sách xoá đói giảm nghèo, thực hiện
chính sách phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số, việc giải quyết các vấn đề dân
tộc và tôn giáo tại địa bàn. Thực tế cho thấy, bộ mặt nông thôn, miền núi đã có sự
khởi sắc, đời sống của đồng bào ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, đây lại là
vùng có thu nhập bình quân đầu người theo giá thực tế thấp nhất nước. Trong khi
thu nhập bình quân đầu người theo giá thực tế của cả nước năm 1999 là 295 nghìn
đồng, Tây Nguyên là 344,7 nghìn đồng thì vùng miền núi phía Bắc chỉ đạt 210
nghìn đồng [Phụ lục 4].
Đây là một thách thức đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân các dân tộc miền núi
Đông Bắc, yêu cầu cần phải có một hệ thống các giải pháp cụ thể, sát hợp với khu
vực và từng dân tộc trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng.
Có như vậy mới huy động được mọi nguồn lực, tập trung vốn, áp dụng khoa học -
kỹ thuật, phát triển kinh tế, văn hoá, đào tạo cán bộ, nâng cao dân trí, cải thiện mọi
mặt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc khu vực miền núi Đông
Bắc Việt Nam.
66
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM (TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010)
2.1. CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VÙNG MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC
2.1.1. Cơ hội và thách thức đối với việc thực hiện chính sách dân tộc của
Đảng ở vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI
Đầu thế kỷ XXI, vùng Đông Bắc nói riêng và nước ta nói chung đứng trước
cơ hội và thách thức đan xen, trong đó cơ hội rất lớn đối với phát triển, nhưng thách
thức cũng rất gay gắt.
* Cơ hội
Hòa bình, hợp tác trở thành xu hướng lớn trong quan hệ khu vực và quốc tế
tạo điều kiện cho các tỉnh biên giới có cơ hội thúc đẩy giao thương kinh tế, giao lưu
văn hóa, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tổ chức thực hiện chính sách dân
tộc ở các tỉnh Đông Bắc chịu tác động trực tiếp, toàn diện từ bối cảnh đó. Đặc biệt, từ
1990, Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ - cơ sở để xây dựng biên
giới hòa bình, hữu nghị sau nhiều năm chiến tranh, xung đột. Năm 1999, sau một quá
trình đàm phán, hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết Hiệp định biên giới.
Đến ngày 31/12/2008, hai bên đã phân giới khoảng 1.400 km biên giới, cắm 1.971
cột mốc, trong đó có 1.549 cột mốc chính và 422 cột mốc phụ. Toàn bộ 38 chốt quân
sự trên đường biên giới đều đã được dỡ bỏ. Ngày 25/12/2000, hai nước ký Hiệp định
Phân định vịnh Bắc Bộ xác định lãnh hải, biên giới trên biển, thềm lục địa và vùng
đặc quyền kinh tế. Đây là cơ sở pháp lý đảm bảo cho hợp tác giữa Việt Nam - Trung
Quốc được đẩy tới, môi trường hòa bình được giữ vững, chủ quyền lãnh thổ được
bảo vệ toàn vẹn. Đồng bào các dân tộc vùng biên giới được hưởng lợi trực tiếp từ môi
trường hòa bình, ổn định do các hiệp ước song phương tạo ra.
Toàn cầu hóa, khu vực hóa tạo ra khả năng liên kết khu vực và toàn cầu rộng
lớn, mà khu vực biên giới và các thành phố lớn luôn có điều kiện phát triển đi trước.
Đối với Việt Nam, vùng biên giới, mà cụ thể là biên giới phía Bắc, đã đi đầu trong
67
mở cửa, hội nhập với thế giới. Từ sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, xu thế liên kết
khu vực ngày càng hình thành rõ rệt, nhất là trong điều kiện Trung Quốc trỗi dậy
nhanh chóng. Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN từng bước hình
thành, mà điểm đầu tiên đảm bảo kết nối khu vực chính là vùng Đông Bắc của Việt
Nam. Giữa Trung Quốc và Việt Nam từng bước định hình "hai hành lang" và "một
vành đai" kinh tế nhằm gắn kết 3 tỉnh Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông của
Trung Quốc với các tỉnh phía Bắc Việt Nam trong một cấu trúc kinh tế tiểu khu
vực. Hành lang kinh tế (1: Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; 2: Nam Ninh
- Bằng Tường - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng) bao trọn toàn bộ vùng Đông Bắc
của Việt Nam. Vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ bao trùm ba thành phố địa khu của
tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc (Bắc Hải, Khâm Châu, Phòng Thành Cảng), 1 thành
phố cấp địa khu của tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc (Trạm Giang), toàn bộ tỉnh Hải
Nam và 10 tỉnh/thành của Việt Nam (Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam
Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị). Việt
Nam và Trung Quốc, mỗi nước theo đuổi mục tiêu riêng trong quá trình khu vực
hóa, nhưng việc hình thành "hai hành lang, một vành đai kinh tế" đã tạo cơ hội cho
các tỉnh Đông Bắc tham gia cấu trúc kinh tế khu vực, hội nhập với nền kinh tế mới
nổi Trung Quốc.
Cách mạng khoa học và công nghệ và việc ứng dụng thành tựu khoa học -
công nghệ đã góp phần quan trọng đảm bảo thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc
của Đảng. Đặc biệt, những thành tựu phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin
tạo điều kiện cho các quốc gia, các khu vực, các vùng lãnh thổ dù biệt lập cũng có
cơ hội chia sẻ thông tin, xích lại gần nhau hơn. Nếu như trước đây các vùng như
Tây Bắc, Đông Bắc được xem là khó khăn nhất cả nước, do biệt lập của yếu tố địa
lý, thì với sự phát triển vượt bậc của công nghệ viễn thông, công nghệ truyền hình,
kỹ thuật số... đã làm cho việc tuyên truyền thực hiện chính sách dân tộc của Đảng
được thuận lợi hơn, đảm bảo gắn kết các vùng ngoại vi, biên viễn với trung tâm
quyền lực. Các tuyến giao thông lớn được nâng cấp, các tuyến giao thông nội vùng,
nội tỉnh, nội huyện, nội xã được cải thiện cũng đã góp phần vào kết cấu hóa khu
vực, giảm dần tình trạng tách biệt lãnh thổ. Thành tựu khoa học và công nghệ được
68
ứng dụng cũng tạo cơ hội cho triển khai các chương trình, dự án phát triển kinh tế -
xã hội vùng dân tộc thiểu số, góp phần quan trọng đảm bảo thực hiện thành công
chính sách dân tộc của Đảng.
Đất nước sau 15 năm đổi mới đã có bước phát triển vượt bậc, nhờ đó có điều
kiện giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa thúc đẩy tăng cường kinh tế với thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội, trong đó thực hiện chính sách dân tộc là một bộ phận
cấu thành của mục tiêu phát triển. Thành tựu tăng trưởng kinh tế cao liên tục trong
nhiều năm đã giúp Đảng, Nhà nước có nguồn lực để đầu tư cho phát triển các dân tộc
thiểu số, bao gồm cả chính sách hỗ trợ và chính sách đầu tư. Chương trình 135-I và
135-II cùng hàng loạt chương trình mục tiêu quốc gia, dự án ra đời đều xuất phát từ
quan điểm của Đảng về thực hiện đoàn kết, bình đẳng, tương trợ nhau cùng phát triển
giữa các dân tộc, giảm dần sự phát triển cách biệt giữa các vùng miền.
Vùng Đông Bắc sau 15 năm đổi mới, 10 năm bình thường hóa quan hệ Việt -
Trung, 5 năm thực hiện đường lối đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đã đạt
được những thành tựu vượt bậc trên nhiều lĩnh vực để vừa có thể hấp thu tốt hơn
nguồn lực ưu tiên đầu tư của nhà nước, vừa có tích lũy từ nội bộ để tái đầu tư cho
phát triển. Hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố, khối đoàn kết các dân tộc được
giữ vững để tạo nên sức mạnh mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Vì thế, Đông Bắc không có các biến động phức tạp như Tây Nguyên, Tây Bắc,
Tây Nam Bộ, dù nhiều địa phương trong vùng vẫn rất khó khăn. Đội ngũ cán bộ các
dân tộc được phát triển cả về số lượng và nâng cao chất lượng. Nền kinh tế có nhiều
chuyển biến, nhất là hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa, các khu
kinh tế mở dọc biên giới, tạo điều kiện tốt hơn phát huy nội lực của đồng bào để thoát
dần sản xuất tự cung, tự cấp, năng động hóa tư duy kinh tế. Xóa đói giảm nghèo thu
được kết quả tích cực, đồng thời từng bước hình thành các chủ trang trại, nhà nông
chuyên nghiệp, chủ doanh nghiệp có vai trò động lực dẫn dắt kinh tế làng/bản, khu
vực. Sinh kế tộc người đã có bước cải thiện, các hiện tượng du canh, du cư giảm dần.
Kết cấu hạ tầng được cải thiện, nhất là đường giao thông đến thôn/bản. Bản sắc văn
hóa các dân tộc được giữ vững. Hệ sinh thái bước đầu ngăn chặn được mức suy thoái
kéo dài nhiều năm trước nhờ chính sách giao đất, giao rừng thu được kết quả tốt.
69
Điều đó đã tạo cơ hội mới cho Đảng thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc ở
các tỉnh Đông Bắc trong thời kỳ mới, đồng thời huy động nội lực của đồng bào giải
quyết những vấn đề tự thân của đời sống xã hội tộc người.
* Thách thức
Bên cạnh cơ hội lớn cho phát triển tộc người và thực hiện chính sách dân tộc
thì vùng Đông Bắc cũng đối diện với không ít thách thức.
Sự trỗi dậy của Trung Quốc luôn mang tính hai mặt, bên cạnh tạo động lực
thúc đẩy kinh tế toàn cầu, khu vực, thì cũng tạo ra những áp lực đối với các nước
láng giềng, đặc biệt các nước có điều kiện bất đối xứng về quyền lực, trong đó vùng
biên giới luôn chịu áp lực trực tiếp. Chiến lược trỗi dậy của Trung Quốc lúc đầu ưu
tiên đầu tư phát triển duyên hải miền đông, sau 20 năm đạt được thành tựu vượt
bậc, đã chuyển sang đầu tư cho chiến lược "Đại khai phá miền Tây", thực hiện "Phú
dân, hưng biên". Chiến lược đó tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh của miền
Tây, vùng dân tộc thiểu số, khắc phục tình trạng phát triển cách biệt giữa miền
Đông và miền Tây. Tuy nhiên, trong đó cũng hàm chứa tham vọng, ý đồ của nước
lớn để tạo ra các năng lực gây ảnh hưởng, tạo áp lực đối với các nước láng giềng.
Với Việt Nam, Trung Quốc luôn tìm cách gây ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau,
thông qua vô vàn các công cụ, biện pháp "cứng" và "mềm". Việc đầu tư quy mô lớn
cho phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, quy hoạch phát triển các đô thị đường biên
mang tính áp lực, ưu tiên đầu tư cho người dân khu vực biên giới... đều nằm trong
mưu đồ tạo ra hình thái quyền lực bất đối xứng đối với các quốc gia láng giềng, gây
bất lợi cho Việt Nam. Đó là chưa kể những chính sách kinh tế - thương mại thiếu ổn
định, thay đổi thất thường, đột ngột, thường gây thua thiệt cho nền kinh tế và doanh
nghiệp Việt Nam. Do đó, mặt bất lợi trong quan hệ với Trung Quốc cũng rất lớn,
biểu hiện ở mức độ nhập siêu ngày càng cao, không tạo ra khả năng phát triển bền
vững cho các đối tác hợp tác. Các tỉnh biên giới phía Bắc là đối tượng phải gánh
chịu hậu quả nặng nề của những thách thức đó, mà trước hết là đồng bào dân tộc
thiểu số.
Trong bối cảnh nguy cơ xung đột vũ trang giảm dần thì khu vực biên giới
phía Bắc lại nổi lên nhiều mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Nổi bật nhất là tình
70
trạng buôn bán phụ nữ qua biên giới trong điều kiện Trung Quốc thực hiện chính
sách một con, mất cân bằng giới nghiêm trọng trong xã hội. Quan hệ hôn nhân liên
tộc xuyên biên giới rất phổ biến, gây nên nhiều hệ lụy cho an ninh và phát triển các
tỉnh biên giới. Theo số liệu thống kê, trong 8 huyện biên giới Trung Quốc giáp Việt
Nam có đến hơn 20.000 gia đình kết hôn qua biên giới trái phép [32, tr.11]. Các
hiện tượng lừa đảo, buôn người ngày càng tăng. Buôn lậu qua biên giới là vấn đề
nhức nhối, không chỉ làm thất thu cho nhà nước, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến
sản xuất nội địa. Di cư xuyên biên giới thường bị các thế lực thù địch lợi dụng để
chống phá, gây bất ổn. Di cư xuyên biên giới bao gồm từ di cư lao động, di cư hôn
nhân, di cư truyền giáo, trong đó di cư lao động ngày càng lớn, do nhu cầu lao động
bên này hay bên kia, trong đó dòng xuất cư từ các tỉnh biên giới Việt Nam sang
Trung Quốc lớn hơn, gây ra những đe dọa về an ninh. Bên cạnh đó, dòng nhập cư
từ Trung Quốc, rất phổ biến hình thức nhập cư bất hợp pháp, cũng gây khó khăn
cho quản lý người nhập cư. Ngoài ra, còn vô vàn các mối đe dọa an ninh phi truyền
thống khác từ phía Trung Quốc như tham vọng mở rộng ảnh hưởng khu vực đồng
nhân dân tệ với an ninh tài chính, làm tiền giả, buôn lậu ma túy, kiểm dịch động,
thực vật... mà đối phó rất khó khăn và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến thực
hiện chính sách dân tộc của Đảng ở vùng Đông Bắc.
Các thế lực thù địch ra sức lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá,
gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, cổ vũ cho chủ nghĩa ly khai. Từ trước đến nay,
các thế lực thù địch không bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá Việt Nam, tìm cách
phá hoại sự nghiệp đổi mới. Sau Chiến tranh lạnh, khi hòa bình trở thành xu thế chủ
đạo, chúng chuyển sang chống phá bằng biện pháp phi vũ trang là chính. Vấn đề
dân tộc, tôn giáo, nhân quyền trở thành tâm điểm trong chiến lược diễn biến hòa
bình. Đặc biệt, sau khi Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn về quyền
của người bản địa (13/9/2007), các quốc gia giải thích khác nhau về nội dung để
phục vụ cho các mưu đồ chính trị, nhất là các điều khoản quy định về quyền hiện
diện chính trị, quyền về lãnh thổ... Ở tuyến biên giới, lợi dụng địa bàn vùng sâu,
vùng biên giới, các thế lực thù địch sử dụng nhiều công cụ khác nhau để kích động
chủ nghĩa dân tộc cực đoan, ly khai. Chúng cổ vũ, xúi giục cho cái gọi là "Vương
71
quốc Mông". Chúng lợi dụng quan hệ họ hàng, thân thuộc giữa hai bên biên giới để
củng cố lực lượng, nắm tình hình, thâm nhập vào nội bộ ta cài cắm, phá hoại từ bên
trong. Lợi dụng chính sách tự do tôn giáo của Đảng, chúng cổ vũ cho truyền đạo
trái phép, xúi giục đồng bào từ bỏ tín ngưỡng truyền thống để theo đạo "Vàng
Chứ", "Thìn Hùng", mà thực chất là quay lưng với truyền thống dân tộc. Khi Hiệp
định biên giới Việt - Trung được ký kết, trên tuyến biên giới tại Đông Bắc có nhiều
điểm "nhạy cảm" (do lịch sử để lại phải đàm phán, thỏa hiệp, nhân nhượng giữa hai
bên) như Thác Bản Giốc, Hữu Nghị quan, cửa sông Bắc Luân... các thế lực thù địch
và cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc, kích động tình cảm dân tộc, phủ nhận
thành tựu đàm phán biên giới của Đảng, Nhà nước ta, gây phân tâm trong nhân dân.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, khoảng cách phát triển giữa các vùng,
các tộc người tiếp tục bị đẩy ra xa thêm, bất bình đẳng tộc người và bất công xã hội
ngày càng hiện hữu rõ rệt. Một nghịch lý trong kinh tế thị trường là càng phát triển
thì nguy cơ tụt hậu của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng bị xa thêm so với
mặt bằng trình độ chung. Bất công tự nhiên giữa các tộc người có mặt do điều kiện
địa lý, điểm xuất phát khác nhau, mặt khác do ngoại ứng tiêu cực của kinh tế thị
trường. Vì vậy, nhiều nơi đồng bào vẫn khó khăn. Ở Hà Giang, Cao Bằng, trên các
vùng núi đá cao, nhiều nơi đồng bào không có nước sinh hoạt, thiếu đất canh tác.
Tình trạng thất học, tái mù chữ, hôn nhân cận huyết, suy dinh dưỡng vẫn còn tồn tại
ở nhiều nơi, nhất là vùng sâu, vùng xa. Xây dựng đập thủy điện ở nhiều nơi đã gây
nên tình trạng phá rừng đầu nguồn, người dân mất các diện tích ruộng canh tác tốt
nhất ở các thung lũng, thiếu an toàn sinh kế... Đây là mảnh đất màu mỡ cho các thế
lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.
2.1.2. Chủ trương mới về chính sách dân tộc tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) đã tổng kết 5 năm
thực hiện đường lối Đại hội VIII và chỉ rõ:
Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược
trong sự nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình
đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển; xây dựng kết cấu
72
hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất hàng hoá, chăm lo đời sống
vật chất và tinh thần, xoá đói, giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn,
làm giàu và phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của các
dân tộc; thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và
miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây
là căn cứ cách mạng và kháng chiến. Tích cực thực hiện chính sách ưu
tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số. Động viên,
phát huy vai trò của những người tiêu biểu, có uy tín trong dân tộc và ở
địa phương. Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn,
dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm
dân tộc [22, tr.128].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) tiếp tục khẳng định những
quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đại hội VIII, đồng thời bổ sung trên một số nhận
thức mới sau đây:
- Nếu như văn kiện Đảng trước đây thường nhấn mạnh đến yêu cầu rút ngắn
khoảng cách phát triển giữa miền núi với miền xuôi, giữa dân tộc đa số với dân tộc
thiểu số, thì Đại hội IX đã nhìn trên quan điểm biện chứng hơn khi đưa ra luận điểm
“cùng phát triển”. Cùng phát triển giữa các tộc người vừa thể hiện tư tưởng tiến bộ,
văn minh, hay còn gọi là quan điểm phát triển không loại trừ; vừa là cách tiếp cận
thực tế đối với quá trình phát triển. Hàm nghĩa của quan điểm này là thừa nhận tình
trạng phát triển không đồng đều giữa các bộ phận dân cư trong xã hội, nhưng Đảng,
Nhà nước không để tình trạng phát triển không đồng đều đó chuyển thành loại trừ
một nhóm dân cư nào đó khỏi quá trình phát triển. Tương trợ tộc người chính là
đảm bảo cho mọi nhóm dân cư, mọi tộc người đều có cơ hội cùng phát triển.
- Gắn phát triển tộc người với phát triển vùng (vùng miền núi, vùng căn cứ
kháng chiến, vùng khó khăn, vùng biên giới) là một quan điểm mới. Bởi vì, không
thể có phát triển tộc người, nếu không bắt đầu từ quy hoạch phát triển tổng thể đời
sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, kể cả bảo vệ môi trường sinh thái, của cả
vùng; không thể phát triển được tộc người thiểu số nếu không quan tâm thỏa đáng
mối quan hệ với tộc người đa số của vùng trong điều kiện hình thái cư trú đan xen;
73
không thể phát triển con người và xã hội tộc người nếu thoát ly điều kiện cư trú, sản
xuất, sinh sống do chế định bởi các yếu tố thiên tạo của vùng. Điều này đòi hỏi
chính sách dân tộc thường bao hàm trong ba loại hình: (i) chính sách phát triển cho
những đối tượng dân tộc riêng lẻ, thường ở những nhóm dân tộc đặc thù có dân số
ít; (ii) chính sách phát triển dân tộc gắn với chính sách phát triển ngành, lĩnh vực;
(iii) chính sách dân tộc gắn với chính sách phát triển bền vững vùng. Chuyển biến
nhận thức này đã dẫn dắt cho hàng hoạt chính sách quy hoạch phát triển kinh tế - xã
hội vùng, trong đó có quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc, mà đối
tượng hướng tới chủ yếu là đồng bào các dân tộc.
- Xác định vấn đề con người - nguồn nhân lực là một trong những chính sách
rất quan trọng đảm bảo cho phát triển bền vững, bao gồm cả nguồn nhân lực được
đào tạo mới và phát huy “người tiêu biểu, có uy tín” trong các dân tộc. Nguồn nhân
lực mới chỉ hình thành từ phát triển giáo dục và đào tạo, từ giáo dục bậc thấp đến
giáo dục bậc cao. “Người tiêu biểu, có uy tín” trong các dân tộc đó là những già
làng, trưởng bản, trí thức dân tộc. Uy tín, tri thức có được của họ là nhờ quá trình
tích lũy nghiệm sinh và trao truyền, thông qua thực hành và trí nhớ. Người ta
thường gọi đó là tri thức bản địa, phản ánh vốn hiểu biết trên các mặt địa lý - tự
nhiên, thổ nhưỡng, tiểu khí hậu, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm tổ chức xã hội,
chữa bệnh, bảo vệ bản/làng... mang hình thái tri thức tiền khoa học.
- Nhấn mạnh đến yêu cầu xây dựng đúng đắn ý thức hệ dân tộc trên hai
mặt: chống tư tưởng dân tộc lớn và chống dân tộc tự ti, hẹp hòi. Cả hai biểu hiện
đó đều dẫn đến chủ nghĩa dân tộc cực đoan, là mảnh đất màu mỡ để các thế lực
thù địch lợi dụng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động chủ nghĩa dân
tộc ly khai. Đây là sự trở lại tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, nhất là trong bối
cảnh vấn đề dân tộc bị lợi dụng và gây nên các biến động phức tạp ở các vùng Tây
Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ. Vì vậy, phải “nghiêm cấm lợi dụng các vấn đề
dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà
nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh
quốc gia” [22, tr.128].
74
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010) đã định hướng
quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi phía Bắc nói chung và vùng Đông
Bắc nói riêng như sau:
Phát triển công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, nông sản, lâm
sản, chú trọng chế biến xuất khẩu. Hình thành một số cơ sở công nghiệp
lớn theo tuyến đường 18 gắn với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Phát
triển nhanh các loại dịch vụ, chú trọng thương mại. Nâng cấp các tuyến
đường trục từ Hà Nội đi các tỉnh biên giới, hoàn thành các tuyến đường
vành đai biên giới và các đường nhánh. Phát triển thủy lợi nhỏ gắn với
thủy điện nhỏ, giải quyết việc cấp nước sinh hoạt và điện cho đồng bào
vùng cao. Phát triển các đô thị trung tâm, các đô thị gắn với khu công
nghiệp. Nâng cấp các cửa khẩu biên giới và phát triển kinh tế cửa khẩu.
Thực hiện tốt chính sách dân tộc, định canh, định cư vững chắc, ổn định
và cải thiện đời sống cho đồng bào dân tộc [22, tr.185-186].
Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2006 do Đại hội IX
thông qua đã chỉ rõ hơn quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng trung du và miền
núi phía Bắc, trong đó có vùng Đông Bắc:
- Phát huy thế mạnh về đất và rừng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng diện
tích cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc gắn với công nghiệp chế
biến. Phát triển mạnh kinh tế trang trại. Đối với những vùng có khả năng trồng cây
lương thực thì đầu tư thuỷ lợi nhỏ, đưa các loại giống mới phù hợp với điều kiện
sinh thái trong vùng để phát triển sản xuất lương thực tại chỗ, không phá rừng làm
nương rẫy sản xuất lương thực.
- Tái tạo vốn rừng kết hợp với phát triển các vùng rừng nguyên liệu công
nghiệp, gỗ trụ mỏ. Trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, đặc biệt trồng rừng
phòng hộ khu vực đầu nguồn sông Đà gắn với việc bảo vệ cảnh quan. Phát triển các
vùng cây công nghiệp tập trung, tạo ra khối lượng hàng hoá lớn như chè, cây ăn
quả, phát triển các vùng cây đặc sản, gỗ trụ mỏ,... Thực hiện chương trình xoá đói,
giảm nghèo, định canh định cư kết hợp với phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Chấm
dứt tình trạng phá rừng làm nương rẫy trồng lương thực và các cây khác.
75
- Phát triển công nghiệp chế biến lâm sản; công nghiệp vật liệu xây dựng;
khai thác và chế biến khoáng sản; xây dựng thuỷ điện quy mô lớn cung cấp cho
cả nước, đồng thời phát triển thuỷ điện nhỏ đáp ứng nhu cầu ở những vùng sâu,
vùng xa...; công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và tiểu thủ công nghiệp ở các đô
thị và nông thôn; công nghiệp luyện kim; chế tạo cơ khí; phân bón; hoá chất (...)
Cải tạo và mở rộng các khu vực tập trung công nghiệp hiện có, đồng thời hình
thành tuyến hành lang công nghiệp theo đường 18 gắn với vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ.
- Tập trung đầu tư nâng cấp các quốc lộ 6, 2, 3, 1, 70, 37, 4D, 279, 32, 42.
Khôi phục và nâng cấp các đường vành đai quốc lộ 4, N1, N2 để tạo ra mạng lưới
đường hoàn chỉnh cho cả vùng (...). Phát triển tuyến hành lang biên giới trên cơ sở
phát triển các đô thị gắn với kinh tế cửa khẩu, nâng cấp các đường giao thông tới
vùng biên quan trọng. Từng bước xây dựng các vùng biên giới đủ mạnh để giữ
vững biên cương, bảo đảm quốc phòng và an ninh.
- Phát triển nhanh các loại hình dịch vụ, trước hết là thương mại, phát triển
mạng bưu chính - viễn thông an toàn, thông suốt, cấp điện, cấp nước, xây dựng các
trung tâm cụm xã, các đô thị trung tâm gắn với các khu công nghiệp, nâng cấp các
cửa khẩu biên giới.
- Phát triển mạnh du lịch, chú trọng du lịch sinh thái, cảnh quan thiên nhiên
như hồ Ba Bể, hồ Thác Bà, hồ Núi Cốc, Sapa...; tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá
trong vùng gắn với phát triển du lịch.
- Có quy hoạch cụ thể để ổn định dân cư, định canh, định cư, nâng cao dân
trí, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc [22, tr.303-304].
Trong quá trình chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
chính sách dân tộc ở vùng Đông Bắc được quan tâm giải quyết trong tổng thể
đường lối, chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng, thể hiện trên
nhiều lĩnh vực rất tổng hợp. Đây chính là quán triệt quan điểm gắn phát triển tộc
người với phát triển vùng, thông qua một loạt chính sách tổng hợp từ chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
76
2.1.3. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa
IX (2003) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) của Đảng về chính
sách dân tộc
Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Hội nghị Trung ương lần thứ
bảy khóa IX của Đảng ngày 12 - 03- 2003 đã ra Nghị quyết số 24-NQ/TW Về công
tác dân tộc.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá IX
khẳng định:
Vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc, công tác dân tộc và tôn giáo đều là
những vấn đề chính trị lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách
mạng của nước ta… tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững độc lập dân tộc và
thống nhất đất nước, bảo vệ và phát triển những thành quả của cách
mạng xã hội chủ nghĩa [23, tr.5].
Hội nghị đã chỉ ra 5 quan điểm cơ bản chỉ đạo công tác dân tộc trong thời
kỳ mới:
- Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài,
đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.
- Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ,
giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.
- Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc
phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết
vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng
nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát
huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trong sự
nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.
- Ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết,
tập trung vào phát triển giao thông và kết cấu hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai
77
thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững
môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực tự cường của đồng bào các
dân tộc, đồng thời tăng cường sự hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa
phương trong cả nước.
- Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị
[23, tr.34-35].
Trên cơ sở đánh giá những hạn chế, yếu kém trong công tác dân tộc, Nghị
quyết đề ra một số phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu:
- Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào
dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; trong những
năm trước mắt tập trung trợ giúp đồng bào nghèo, các dân tộc đặc biệt khó khăn,
giải quyết ngay những vấn đề bức xúc như: tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước
sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu; xây
dựng kết cấu hạ tầng khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và tranh chấp đất đai ở
vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Nguyên, Tây Bắc và vùng đồng bào
dân tộc Khơme Nam Bộ.
Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới.
Làm tốt công tác định canh, định cư và di dân xây dựng vùng kinh tế mới; công
tác quy hoạch, sắp xếp, phân bổ lại hợp lý dân cư, nguồn nhân lực theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững, gắn với bảo vệ an ninh,
quốc phòng.
- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh,
truyền hình; tăng cường các hoạt động văn hóa thông tin, tuyên truyền hướng về cơ
sở; tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình
bằng tiếng dân tộc thiểu số, làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, gìn giữ và phát
huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hóa các dân tộc.
Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương
trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là
78
trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp; đẩy mạnh việc tổ chức các trường mẫu
giáo công lập; mở rộng việc dạy chữ dân tộc. Đa dạng hóa phát triển nhanh các loại
hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc, đưa chương trình dạy nghề vào
các trường dân tộc nội trú; tiếp tục thực hiện chính sách ưu tiên, cử tuyển dành cho
con em các dân tộc vào học tại các trường đại học và cao đẳng; mở thêm trường dự
bị dân tộc ở miền Trung, Tây Nguyên. Nghiên cứu tổ chức trường chuyên đào tạo,
bồi dưỡng trí thức và cán bộ người dân tộc thiểu số.
Tăng cường cơ sở khám, chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã, bản, thôn, ấp;
nâng cao hơn nữa công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số,
khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian.
- Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng dân tộc
thiểu số. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về kiện toàn, nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, kiên quyết khắc phục tình trạng xa dân của một số
cán bộ; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, luân
chuyển cán bộ. Đẩy mạnh phát triển đảng viên trong đồng bào dân tộc...
- Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, phát
huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch;
tăng cường công tác an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra
những điểm “nóng” về an ninh trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi. Tiếp tục
phát triển nhanh các khu kinh tế kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa. Thực
hiện tốt chính sách tín ngưỡng và tôn giáo ở vùng dân tộc và miền núi; kiên quyết
ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để phá hoại
khối đại đoàn kết toàn dân.
- Đổi mới nội dung, phương thức công tác dân tộc phù hợp với nhiệm vụ
trong tình hình mới [23, tr.37-39].
Cụ thể hóa đường lối Đại hội IX của Đảng, ngày 01 tháng 07 năm 2004,
Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 37/NQ-TW Về phương hướng phát triển
kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc
Bộ đến 2010.
79
Nghị quyết chỉ rõ: Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ có vị trí chiến lược
quan trọng, có tiềm năng lợi thế to lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội, quốc
phòng - an ninh, môi trường sinh thái của cả khu vực Bắc Bộ và của cả nước. Nhân
dân trong vùng có truyền thống đoàn kết trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước,
có quan hệ gắn bó và mật thiết với miền xuôi. Là nơi có nhiều cửa khẩu giao lưu
kinh tế với bên ngoài. Tuy nhiên, hiện nay vùng này vẫn là vùng nghèo, còn nhiều
khó khăn, thách thức, cần phải được phát triển nhanh và bền vững hơn nữa.
Nghị quyết đã xác định mục tiêu của vùng đến năm 2010: GDP bình quân
đầu người gấp 2,5 lần so với năm 2000. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá với tỷ trọng GDP các ngành nông, lâm, ngư nghiệp
đạt khoảng 26%, ngành công nghiệp và xây dựng 34% và dịch vụ 40% trong tổng
GDP của vùng. Phấn đấu đến năm 2010, có 60 đến 70% số xã có bác sỹ, 100% số
trạm y tế xã, cơ sở y tế và phòng khám đa khoa khu vực được chuẩn hoá; 25-30 %
tổng lao động được đào tạo có kỹ thuật.
Đây là lần đầu tiên Bộ Chính trị ban hành nghị quyết chuyên đề về phương
hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và
miền núi Bắc Bộ. Nghị quyết thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước
đối với đồng bào các dân tộc, phản ánh tư duy quản trị và phát triển vùng trong quá
trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng
chung của nhân dân.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4/2006) tiếp tục khẳng định
và phát triển những quan điểm, tư tưởng đã định hình về chính sách dân tộc:
… Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức
là người dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và
miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào
dân tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi,
chia rẽ dân tộc [24, tr.122].
Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006 - 2010) của Đại hội X
đã chỉ rõ định hướng phát triển vùng miền núi phía Bắc là:
80
... Cần tập trung mọi nỗ lực phát triển kinh tế nhanh và bền vững, gắn
chặt với việc bảo đảm an ninh, quốc phòng. Phát triển mạnh thuỷ điện,
công nghiệp khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác có hiệu
quả quỹ đất trồng cây công nghiệp, cây ăn quả xuất khẩu và trồng rừng
nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến có công nghệ hiện đại. Phát
triển du lịch sinh thái và văn hóa dân tộc. Chú trọng mở rộng quan hệ
thương mại với các nước láng giềng. Phát triển hài hoà giữa các tiểu
vùng, giữa các tầng lớp dân cư và giữa đồng bào các dân tộc [24, tr.226].
Các quan điểm, chủ trương về chính sách dân tộc trên đây là cơ sở để Nhà
nước thể chế hóa thành chính sách can thiệp cụ thể và hệ thống chính trị các địa
phương tổ chức thực hiện.
2.2. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT
SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC
2.2.1. Thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về chính sách
dân tộc thành chương trình, dự án hỗ trợ và đầu tư phát triển vùng miền núi
Đông Bắc
Trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước đã có nhiều nỗ lực
thể chế hóa thành những chính sách can thiệp cụ thể đối với từng vùng, từng lĩnh
vực, từng đối tượng. Trong hệ thống các văn bản pháp luật của Nhà nước, chính
sách dân tộc được thể chế hoá trong Hiến pháp, các đạo luật, đặc biệt là nghị quyết,
nghị định, quyết định của Chính phủ. Trong đó, đáng chú ý là thể chế hóa thành các
chương trình hỗ trợ phát triển hoặc đầu tư phát triển. Trọng điểm từ năm 2001 đến
2010 là các chương trình sau đây:
Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân
tộc thiểu số (còn gọi là Chương trình 135) được tiếp tục thực hiện từ giai đoạn
trước (thường gọi là Chương trình 135-I và triển khai tiếp giai đoạn 2 (gọi là
Chương trình 135-II). Chương trình này do Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Việt Nam phê duyệt thực hiện có số hiệu văn bản là 135/1998/QĐ-TTg. Theo kế
hoạch ban đầu, chương trình sẽ kéo dài 7 năm và chia làm hai giai đoạn; giai đoạn
I từ năm ngân sách 1998 đến năm 2000 và giai đoạn II từ năm 2001 đến năm
81
2005. Tuy nhiên, đến năm 2006, Nhà nước Việt Nam quyết định kéo dài chương
trình này thêm 5 năm, được phản ánh trong Quyết định số 07/2006/QĐ-TTg ngày
10/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình Phát triển kinh
tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-20101.
Trong giai đoạn II (2006 - 2010), Chính phủ Việt Nam đã xác định có 1.946
xã và 3.149 thôn, buôn, làng, bản, xóm ấp đặc biệt khó khăn thuộc các xã khu vực
II thuộc 45 tỉnh, thành được đưa vào phạm vi của Chương trình 135. Mục tiêu đặt ra
được nâng lên cao hơn so với giai đoạn I: Tạo chuyển biến nhanh về sản xuất; Thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường;
Cải thiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân; Giảm khoảng cách
phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng trong nước; Đến năm 2010: Trên địa
bàn không có hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 30%.
Nội dung chính của Chương trình là:
1) Hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ
sản suất của đồng bào các dân tộc. Đào tạo cán bộ khuyến nông thôn, bản. Khuyến
nông, khuyến lâm, khuyến ngư. Xây dựng các mô hình sản xuất có hiệu quả, phát
triển công nghiệp chế biến bảo quản. Phát triển sản xuất: Kinh tế rừng, cây trồng có
năng suất cao, chăn nuôi gia súc, gia cầm có giá trị.
2) Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn.
Làm đường dân sinh từ thôn, bản đến trung tâm xã phù hợp với khả năng nguồn
vốn, công khai định mức hỗ trợ nhà nước. Xây dựng kiên cố hóa công trình thủy
lợi: Đập, kênh, mương cấp 1 - 2, trạm bơm, phục vụ tưới tiêu sản xuất nông nghiệp
và kết hợp cấp nước sinh hoạt. Làm hệ thống điện hạ thế đến thôn, bản; nơi ở chưa
có điện lưới làm các dạng năng lượng khác nếu điều kiện cho phép. Xây dựng các
công trình cấp nước sinh hoạt cho cộng đồng. Xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng
1 Các nhà nghiên cứu thường gọi tắt giai đoạn 1 (1998-2005) và Chương trình 135-I và giai đoạn 2 (2006 -2010) là
Chương trình 135-II.
thôn, bản (tùy theo phong tục tập quán) ở nơi cấp thiết.
82
3) Đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở, kiến thức kĩ năng quản lý điều hành xã
hội, nâng cao năng lực cộng đồng. Đào tạo nghề cho thanh niên 16 - 25 tuổi làm
việc tại các nông - lâm trường, công trường và xuất khẩu lao động.
4) Hỗ trợ các dịch vụ, nâng cao chất lượng giáo dục, đời sống dân cư hợp vệ
sinh giảm thiểu tác hại môi trường đến sức khỏe người dân. Tiếp cận các dịch vụ y
tế, bảo hiểm và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Ngày 07-12-2001, Chính phủ ban hành Quyết định số 186/2001/QĐ-TTg Về
việc phát triển kinh tế - xã hội 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc, thời kỳ
2001 - 2005, trong đó có các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lào Cai, Lai Châu, Hà
Giang, Sơn La, nhằm phát huy những tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý, khí hậu,
rừng, khoáng sản và tiềm năng con người trong khu vực, gắn phát triển kinh tế -
xã hội với thực hiện tốt các chính sách dân tộc, từng bước cải thiện và nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần
giữ vững an ninh, quốc phòng... Quyết định xác định mục tiêu cụ thể về kinh tế
đến 2005 là: Tổng sản phẩm bình quân đầu người tăng gấp 1,5 lần so với năm
2000. Từng bước phát triển kết cấu hạ tầng gắn với phát triển kinh tế hàng hoá
góp phần nâng cao đời sống của đồng bào, giảm dần khoảng cách với các vùng
khác trong cả nước.
Ngày 05-02-2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
27/2008/QĐ-TTg Về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển
kinh tế - xã hội đối với các tỉnh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010.
Mục tiêu đặt ra đến năm 2010: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của vùng đạt
trên 12%; 100% số xã có điện thoại đến trung tâm xã, 70 - 75% dân số nông thôn
được dùng nước sinh hoạt, 90 - 95% số xã có điện lưới quốc gia, 80 - 90% số hộ
được dùng điện, bảo đảm hầu hết các hộ được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và
xem Truyền hình Việt Nam; Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 20% và đạt phổ cập
trung học cơ sở trên toàn vùng; Tăng cường công tác đào tạo nghề, phấn đấu nâng
tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 25 - 30% và 100% cán bộ xã được bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ.
83
Ngày 27-12-2008, Chính phủ ra Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP về Chương
trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo. Mục tiêu cụ
thể đến năm 2010 là: Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 40%; cơ bản không còn hộ
dân ở nhà tạm; cơ bản hoàn thành việc giao đất, giao rừng; trợ cấp lương thực cho
người dân ở những nơi không có điều kiện tổ chức sản xuất, khu vực giáp biên giới
để bảo đảm đời sống. Tạo sự chuyển biến bước đầu trong sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh
phát triển nông nghiệp, bảo vệ và phát triển rừng, đẩy mạnh một bước xây dựng kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; tăng cường nghiên cứu và chuyển giao tiến
bộ khoa học - kỹ thuật, tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực; triển khai một
bước chương trình xây dựng nông thôn mới.
Đối với miền núi Đông Bắc, hai tỉnh Hà Giang, Cao Bằng (11 huyện) nằm
trong chương trình [Phụ lục 6].
Các nỗ lực thể chế hóa trên đây của Nhà nước, đặc biệt là Chính phủ, là
cơ sở để từng bước hiện thực hóa chính sách dân tộc của Đảng ở vùng miền núi
Đông Bắc.
2.2.2. Phát triển kinh tế, cải thiện đời sống các dân tộc thiểu số
* Phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa
Thế mạnh của miền núi Đông Bắc là nông - lâm nghiệp và thương mại,
dịch vụ du lịch, kinh tế cửa khẩu được quan tâm trong các chiến lược và chính
sách phát triển.
Tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng, thể chế quản lý Nhà nước, Đảng
bộ các tỉnh Đông Bắc đã lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc, tập trung phát triển
kinh tế theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa và phát
huy lợi thế so sánh của từng địa phương. Nhờ vậy, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng
trong GDP từ 20,6% năm 1990 lên 26,3% năm 2002; nông, lâm, ngư nghiệp giảm
tương đối từ 46,3% xuống 33,6%; dịch vụ tăng từ 32,9% lên 33,9%. Đến năm 2002,
GDP toàn vùng đạt 21.579 tỷ đồng, chiếm 4,05% GDP toàn quốc. Trong số các tỉnh
vùng Đông Bắc, Quảng Ninh là tỉnh có cơ cấu kinh tế dịch chuyển tích cực nhất.
Năm 2003, tỷ trọng nông, lâm, thuỷ sản chiếm dưới 10%, khu vực công nghiệp, xây
84
dựng, dịch vụ chiếm trên 90% nhờ lợi thế phát triển công nghiệp khai thác xuất
khẩu than, du lịch và kinh tế biển.
Trong sản xuất nông, lâm nghiệp:
Các tỉnh Đông Bắc tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản
xuất nông - lâm nghiệp, nhất là đưa các loại giống mới có năng suất cao vào sản
xuất, đồng thời, đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm. Nhờ vậy, sản lượng
lương thực tại khu vực miền núi từng bước tăng lên, trước hết là sản xuất lương
thực có hạt (lúa, ngô). Cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi từng bước được chuyển
dịch theo hướng sản xuất hàng hoá. Sản lượng lương thực toàn vùng tăng từ 278,5
kg/người năm 2000 lên 336,9 kg/người năm 2003. Bình quân lương thực đầu
người đạt trên 300 kg/người. Nhiều địa phương đã khuyến khích và có hỗ trợ rất
cụ thể nhằm tạo điều kiện giúp nhân dân làm ruộng bậc thang trồng lúa nước. Kết
hợp tri thức bản địa với du nhập kỹ thuật mới, năng suất lúa ruộng bậc thang ở hệ
sinh thái gò đồi tăng nhanh và ổn định, không kém năng suất lúa ruộng ở hệ sinh
thái thung lũng (huyện Hoàng Su Phì (Hà Giang) đạt năng suất 5 tấn/ha/vụ trên
ruộng bậc thang).
Nổi bật trong sản xuất lương thực có hạt là cây ngô. Nhờ đẩy mạnh sản xuất,
tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới nên sản lượng ngô vùng miền núi tăng lên
đáng kể. Việc tiếp nhận giống ngô chịu hạn với giá bán rẻ hơn 30% so với giống
của các công ty nước ngoài đã giúp người dân giảm chi phí đầu tư. Bước đầu đã
hình thành một số vùng chuyên canh ngô có quy mô tương đối lớn, được đầu tư
thâm canh ở một số tỉnh trong vùng. Diện tích gieo trồng năm 2006 đạt 236,6 ngàn
ha, tăng 15,8 ngàn ha (tăng 7,2%) so với năm 2005. Năm 2006, năng suất ngô trung
bình toàn vùng Đông Bắc đạt 30,7 tạ/ha. Các tỉnh có diện tích ngô lớn gồm có: Hà
Giang (44,2 ngàn ha), Cao Bằng (35,5 ngàn ha) [4]. Đây là hướng đi tích cực trong
chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng thâm canh tăng vụ, góp phần tăng sản
lượng lương thực vững chắc ở miền núi.
Ngoài lúa, ngô, các địa phương trong vùng đều trồng các cây hoa màu
lương thực như sắn (diện tích năm 2006 đạt 51,7 ngàn ha, tăng 2,3 ngàn ha so với
85
2005), đậu tương (diện tích năm 2006 đạt 50,2 ngàn ha, tăng 2,2 ngàn ha, tăng
4,7% so với 2005).
Trên cơ sở ổn định lương thực bằng con đường thâm canh, sản xuất hàng
hoá, các tỉnh Đông Bắc đã từng bước chuyển từ nền nông nghiệp tự nhiên, tự cung,
tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hoá, hình thành các vùng tập trung chuyên canh
mới, tạo cơ sở cho công nghiệp chế biến, nâng cao thu nhập của đồng bào.
Toàn vùng đã mở rộng cây công nghiệp với diện tích tăng gấp 2 lần so với
năm 1990. Một số vùng trồng cây công nghiệp có giá trị cao được hình thành như
vùng mía Tuyên Quang (diện tích gần 4000 ha), Cao Bằng (diện tích 2.500 ha) với
năng suất bình quân trên 50 tấn/ha, thu khoảng 12 triệu đồng/ha. Trong cơ cấu cây
công nghiệp, cây chè có vị trí đặc biệt, được coi là thế mạnh của vùng. Chè là cây
công nghiệp rất thích hợp với thổ nhưỡng và khí hậu của vùng, được nhân dân cả
nước ưa chuộng. Đây cũng là mặt hàng nông sản xuất khẩu sang thị trường Trung
Đông, EU, Bắc Mỹ. Diện tích toàn vùng năm 2006 khoảng 85,2 ngàn ha, tăng 3
ngàn ha (tăng 3,6%) so với năm trước, chiếm trên 70% diện tích chè cả nước. Trong
đó, diện tích chè kinh doanh khoảng 70,1 ngàn ha; diện tích chè trồng mới trong
năm 2006 đạt xấp xỉ 3.200 ha.
Ngoài cây chè, một số cây công nghiệp có giá trị như cà phê, bông cũng có
điều kiện phát triển.
Cùng với việc tập trung sản xuất các cây lương thực, công tác quy hoạch
vùng chuyên canh cũng được các địa phương chú trọng. Một số vùng khi có thị
trường tiêu thụ nông sản đã chuyển đổi diện tích đất trồng cây lương thực kém hiệu
quả sang trồng cây hàng hoá. Tỉnh Lạng Sơn chuyển từ trồng lúa xuân sang trồng
dưa hấu cho thu nhập từ 25 triệu đến 30 triệu đồng/ha, cao gấp 2 đến 3 lần so với
trồng lúa. Vì vậy, thu nhập và đời sống của đồng bào được tăng lên rõ rệt.
Ở các vùng núi giáp biên giới của Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang điều kiện
khí hậu rất thuận lợi cho việc trồng cây thảo dược (tam thất, đương quy, đỗ trọng,
hồi, thảo quả…); cây ăn quả như mận, đào, lê, hồng; cây công nghiệp ngắn ngày
như đỗ tương, lạc đạt 55.918 ha;... đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và xuất
khẩu sang Trung Quốc và các nước trong khu vực ASEAN.
86
Những kết quả đạt được trong nông nghiệp đã khẳng định sự đúng đắn của
Trung ương trong việc đầu tư các chương trình, dự án cùng với việc áp dụng các
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng đối với vùng
Đông Bắc. Thành tựu đó đảm bảo an ninh lương thực cho toàn vùng, mặt khác, tạo
điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá, trao đổi kinh nghiệm sản xuất giữa
Đông Bắc với các vùng khác trong cả nước và các nước trong khu vực.
Trong ngành chăn nuôi
Chăn nuôi trong thời kỳ 2001 - 2010 phát triển mạnh cả về số lượng và cơ
cấu đàn gia súc, gia cầm. Hàng năm, tỷ lệ đàn trâu, bò, gia súc, gia cầm tăng từ 3%
đến 4%. Riêng tốc độ tăng đàn trâu tại Đông Bắc thời kỳ 2001- 2005 bình quân
9,73%, chiếm 41,97% tổng đàn trâu cả nước.
Với tiềm năng sẵn có về đất đai, kinh tế trang trại tại khu vực miền núi Đông
Bắc đã có những bước tiến khá mạnh mẽ. Năm 2000, nếu như toàn vùng mới có
763 trang trại thì đến năm 2006 đã có 1615 trang trại [67, tr.210]. Cùng với số
lượng, quy mô, vốn đầu tư, hiệu quả kinh tế của các trang trại cũng lớn hơn, hình
thức phong phú, đa dạng hơn. Số trang trại phân theo ngành hoạt động trên địa bàn
các tỉnh Đông Bắc cũng theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trang trại chăn
nuôi, nuôi trồng thuỷ sản ngày càng chiếm ưu thế. Năm 2006, trong tổng số 1615
trang trại toàn vùng thì có 166 trang trại chăn nuôi và 774 trang trại nuôi trồng thuỷ
sản (chiếm 58,2%) [67, tr.212].
Trong lĩnh vực lâm nghiệp
Nhằm thực hiện chủ trương “làm cho mỗi khu đất, mỗi cánh rừng, mỗi quả
đồi đều có người làm chủ”, các văn bản mới đã được ban hành: Nghị định số
163/1999/NĐ-CP ngày 16-11-1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm
nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích
lâm nghiệp; Quyết định số 178/QĐ-TTg ngày 12-11-2001 của Thủ tướng Chính
phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê,
nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp; Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29-7-1998
của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự
án trồng mới 5 triệu ha rừng. Các tỉnh cũng có chính sách khuyến khích mọi thành
87
phần kinh tế đầu tư kinh doanh lâm nghiệp, thực hiện xã hội hoá nghề rừng; khai
thác và phát huy thế mạnh kinh tế đồi rừng; đẩy mạnh công tác trồng rừng, khoanh
nuôi, tái sinh và bảo vệ rừng, chú trọng nâng cao chất lượng rừng; hoàn thành giao
đất giao rừng gắn với định canh định cư, từng bước giải quyết đất ở, đất sản xuất
cho hộ nông dân nghèo và đồng bào vùng cao thiếu đất; tăng cường các biện pháp
chống xói mòn, bảo vệ môi trường sinh thái.
Với chủ trương, chính sách trên, đến năm 2010, diện tích rừng vùng Đông
Bắc là 1501,5 nghìn ha, trong đó, rừng trồng tập trung toàn vùng đạt 41 nghìn ha,
sản lượng gỗ khai thác năm 2010 đạt 284,4 nghìn m³ [72, tr.386-396]. Bên cạnh
những thành tựu đạt được, trong quá trình phát triển lâm nghiệp còn một số hạn
chế: Tác động của ngành lâm nghiệp đối với xoá đói giảm nghèo còn hạn chế, chưa
tạo được nhiều việc làm, thu nhập của người làm nghề rừng còn thấp và chưa ổn
định. Đa số người dân miền núi chưa thể sống được bằng nghề rừng. Việc thực hiện
xã hội hoá lâm nghiệp chưa chuyển biến rõ rệt. Tiến độ giao đất, giao rừng chậm,
nhiều địa phương chưa mạnh dạn tổ chức giao rừng tự nhiên, rừng trồng cho dân,
đặc biệt là cho cộng đồng, hộ gia đình và tư nhân.
Trong sản xuất công nghiệp
Nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội tại khu vực miền núi phía Bắc phát triển,
ngày 7-12-2001, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 186 về phát triển kinh tế -
xã hội ở 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc thời kỳ 2001 - 2005. Đồng thời,
để tháo gỡ khó khăn về vốn, ngày 19-10-2004, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định
số 183-QĐ/TTg về cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương để đầu tư xây dựng kết
cấu hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã
hội khó khăn.
Những chủ trương, chính sách trên của Đảng và Nhà nước cùng với sự ra đời
của Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư... đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển công
nghiệp tại các tỉnh vùng Đông Bắc, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Đến năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế
toàn vùng đạt 85797,9 tỷ đồng, tăng 38% so với năm 2005 [72, tr.438].
88
Nhờ vai trò can thiệp của thể chế, các khu, cụm công nghiệp ở Đông Bắc đã
được hình thành. Các khu, cụm công nghiệp đã thu hút được nhiều doanh nghiệp,
dự án vào hoạt động. Nếu như năm 1996, số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
vùng miền núi Đông Bắc chỉ có 31 dự án đến năm 2010 đã có 161 dự án [70,
tr.165]. Nhìn chung, các doanh nghiệp có dự án tại đây đều có vốn pháp định lớn,
kinh doanh ổn định, có trang thiết bị hiện đại, hàng hóa sản xuất ra chủ yếu để xuất
khẩu, phổ biến là hoạt động trong các ngành nghề như điện tử, máy tính, may mặc,
giày da, dịch vụ viễn thông…
Một trong những ngành công nghiệp truyền thống được xác định là mũi
nhọn của vùng đó là công nghiệp khai khoáng. Trong chiến lược khai thác khoáng
sản Việt Nam thời kỳ đến năm 2020, các chuyên gia đã đánh giá Trung du - miền
núi Bắc Bộ là địa bàn công nghiệp nặng quan trọng trên cơ sở khai thác các mỏ
khoáng sản quan trọng với trữ lượng lớn như: than, sắt, đồng, chì, kẽm, đất hiếm, đá
xây dựng... Mục tiêu đặt ra của ngành công nghiệp này được xác định là khai thác
các loại khoáng sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và xuất khẩu như: than
(Quảng Ninh), quặng sắt (Cao Bằng, Hà Giang)...
Với chủ trương và mục tiêu trên, các mỏ than tại Quảng Ninh được đầu tư kỹ
thuật và công nghệ mới để phục vụ khai thác, đáp ứng nhu cầu nhiên liệu của một
số nhà máy nhiệt điện (nhiệt điện Uông Bí - Quảng Ninh, Phả Lại - Hải Dương,
Cao Ngạn - Thái Nguyên, Nà Dương - Lạng Sơn). Ngoài ra, các mỏ than địa
phương cũng được khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu nhiên liệu cho công nghiệp xây
dựng địa phương và dùng làm chất đốt trong sinh hoạt. Tính từ năm 2005 đến 2009,
lượng than khai thác tại Quảng Ninh như sau: than nguyên khai là 203 triệu tấn,
lượng than tiêu thụ đạt 189 triệu tấn, tổng doanh thu đạt 202.340 tỷ đồng, trong đó
doanh thu từ than đạt 126.712 tỷ đồng [39].
Thuỷ điện được coi là một ngành công nghiệp mới của vùng, có những đóng
góp nhất định vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tận dụng lợi thế
nguồn thuỷ năng từ các hồ lớn, sông, suối, các nhà máy thuỷ điện cỡ lớn và nhiều
cơ sở thuỷ điện nhỏ được xây dựng trong vùng. Hệ thống các nhà máy thuỷ điện,
nhiệt điện được kết nối vào mạng lưới điện quốc gia, góp phần quan trọng vào cân
89
bằng cung cầu về năng lượng của cả nước, đặc biệt là đảm bảo nhu cầu năng lượng
cho vùng đồng bằng sông Hồng, trung du - miền núi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, tạo
cơ hội phát triển cho các ngành công nghiệp khác.
Các tỉnh Đông Bắc đều khuyến khích phát triển công nghiệp địa phương quy
mô vừa và nhỏ, ưu tiên công nghệ hiện đại, công nghệ sạch. Đây là một chủ trương
đúng nhằm khai thác các nguồn tài nguyên quy mô nhỏ, đáp ứng nhu cầu tại chỗ
của địa phương, tạo thêm việc làm, thu nhập cho người lao động, góp phần vào
chuyển đổi cơ cấu kinh tế toàn vùng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Một
số ngành công nghiệp địa phương được phát triển đó là: xi măng, cơ khí, vật liệu
xây dựng, chế biến chè, mộc gia dụng, mây tre đan, dệt may gia công xuất khẩu.
Phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ và kinh tế cửa khẩu
Về thương mại: Vùng Đông Bắc có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt
khá phát triển, nối các tỉnh với Thủ đô Hà Nội, cảng Hải Phòng và các cửa khẩu
biên giới. Để thúc đẩy phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào
dân tộc, ngày 31 tháng 3 năm 1998 Chính phủ ra Nghị định số 20/1998/NĐ-CP về
việc phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc. Nghị định
xác định: đầu tư phát triển mạng lưới thương mại ở tỉnh, huyện, trung tâm cụm xã,
xã và khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia lưu thông hàng hoá hai chiều,
nhằm tạo động lực cho sản xuất phát triển, trong đó các doanh nghiệp Nhà nước
phải nâng cao hiệu quả kinh doanh và phát huy vai trò nòng cốt. Đồng thời, phát
triển thêm các chợ phiên. Đầu tư xây dựng các cửa khẩu (quốc tế và địa phương),
khu kinh tế cửa khẩu, chợ biên giới và chợ trong khu kinh tế cửa khẩu. Đầu tư xây
dựng, nâng cấp một số trung tâm thương mại và chợ nội địa, gắn phát triển giao
thông với quy hoạch sắp xếp lại dân cư.
Đối với miền núi Đông Bắc nói chung, đặc biệt là những vùng chậm phát
triển, hoạt động của ngành nội thương có tầm quan trọng hàng đầu. Tuy nhiên, Nhà
nước vẫn duy trì mạng lưới thương mại quốc doanh để đảm bảo cung cấp các mặt
hàng trợ cước, trợ giá đặc biệt như: xăng, dầu, muối, thuốc chữa bệnh... cho vùng
cao, vùng khó khăn, biên giới. Hệ thống chợ miền núi đã hình thành đến các cụm
xã, các cụm bản, ngoài mục đích kích thích trao đổi hàng hoá, còn có ý nghĩa mở
90
rộng giao lưu văn hoá, xã hội. Hệ thống các chợ toàn vùng năm 2008 là 480 chợ
đến 2010 tăng lên 490 chợ [72, tr.483]. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu
dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế của vùng năm 2005 đạt 14847,6 tỷ đồng, đến năm
2010 tăng lên 40653,1 tỷ đồng [72, tr.481].
Với vị trí địa lý thuận lợi, vùng Đông Bắc đứng trước nhiều triển vọng do có
nhiều dự án kinh tế quan trọng: hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội -
Hải Phòng, kinh tế cửa khẩu biên giới trên đất liền và trên biển, các khu kinh tế cửa
khẩu Móng Cái, Lạng Sơn, cảng Cái Lân và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Kinh
tế mậu biên được đẩy mạnh, các hoạt động mua bán và trao đổi hàng hoá, trước hết
là nông, lâm, thuỷ sản với Trung Quốc.
Về phát triển kinh tế cửu khẩu: Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số
53/2001/QĐ-TTg (ngày 19-4-2001) về phát triển kinh tế cửa khẩu. Thực hiện các
quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế cửa khẩu, đồng thời với
vị trí địa lý thuận lợi, tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh đã trở thành thị trường trung
chuyển hàng hoá lớn giữa Việt Nam và Trung Quốc và qua Trung Quốc đi các nước
Đông - Tây Âu. Tính đến năm 2004, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có trên 350 doanh
nghiệp và tổ chức kinh tế của các nước thực hiện xuất nhập khẩu với thị trường
Trung Quốc qua các cửa khẩu của tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu qua tỉnh Lạng Sơn
năm 2008 đạt 1.498 triệu USD, tăng 41,7% so với năm 2007; trong đó, xuất khẩu
các mặt hàng địa phương đạt 33 triệu USD, tăng 15% so với năm 2007. Đây là tỉnh
giữ vị trí đầu tàu trong xuất khẩu của vùng miền núi Đông Bắc [60, tr.78].
Về du lịch: Chủ trương đối với phát triển du lịch đó là tập trung đầu tư theo
chiều sâu trung tâm du lịch hiện có, lựa chọn đầu tư mới ở những nơi có điều kiện,
khai thác thế mạnh về du lịch sinh thái, cảnh quan và di tích lịch sử cách mạng
trong vùng.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc duy trì và phát triển nền văn hoá
truyền thống của các dân tộc trong việc phát triển du lịch, các tỉnh trong vùng miền
núi Đông Bắc đã và đang đầu tư, khôi phục một số nét văn hoá truyền thống như: lễ
hội đền Mẫu Đồng Đăng (Lạng Sơn), lễ hội Lồng Tồng ở Bắc Kạn... Cùng với đó,
các di tích lịch sử gắn với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng
91
được gìn giữ, trở thành những khu di tích - lịch sử - văn hóa, điểm du lịch hấp dẫn
du khách như Pắc Bó (Cao Bằng), Tân Trào (Tuyên Quang)... Ngoài ra, các địa
phương đều có các danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: hồ Ba Bể (Bắc Kạn), thác
Bản Dốc (Cao Bằng), động Tam Thanh, Nhị Thanh (Lạng Sơn), vịnh Hạ Long
(Quảng Ninh),...
* Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu gắn với chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, tổ chức lại xã hội ở vùng Đông Bắc
Triển khai thực hiện Chương trình 135 - I (1998 - 2005) ở vùng Đông Bắc,
theo tiêu chí "xã đặc biệt khó khăn", tại Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 24- 12-
1999, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 496 xã đặc biệt khó khăn và các xã biên
giới làm phạm vi của Chương trình 135, trong đó Hà Giang 128 xã, Cao Bằng 113
xã, Lạng Sơn 85 xã, Quảng Ninh 35 xã (trong đó 10 xã Trung ương đầu tư và 25 xã
địa phương đầu tư) [Phụ lục 8].
Chương trình 135-II (2006 - 2010), thực hiện theo Quyết định 164/2006/QĐ-
TTg (11-7-2006) của Thủ tướng Chính phủ, 4 tỉnh miền núi Đông Bắc có 313 xã
thuộc phạm vi chương trình, trong đó, Hà Giang 112 xã, Cao Bằng 106 xã, Lạng
Sơn 68 xã, Quảng Ninh 27 xã (19 xã địa phương đầu tư) [Phụ lục 9].
Sau một thời gian tích cực triển khai, các hợp phần của Chương trình 135
được thực hiện tại Đông Bắc đã đạt được những hiệu quả nhất định:
Dự án quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng
Tổng số vốn đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng ở các xã đặc biệt khó khăn,
vùng núi, vùng sâu, vùng xa miền núi Đông Bắc giai đoạn 1999 - 2005 là
1.278.840,84 triệu đồng. Chỉ tính riêng tỉnh Cao Bằng, từ 1999 đến 2005, chương
trình 135 đã huy động vốn đầu tư vào xây dựng kết cấu hạ tầng là 512.112 triệu
đồng [Phụ lục 12].
Thông qua Chương trình 135, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào
các dân tộc ở Đông Bắc đã có bước chuyển biến rõ nét. Nhờ kết cấu hạ tầng được
đầu tư, công tác khuyến nông, khuyến lâm được coi trọng, chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, vật nuôi và hỗ trợ giống, phân bón... được đầu tư đến tận thôn bản, từng hộ
92
gia đình, đã tạo chỗ dựa vững chắc và là cơ hội cho hàng ngàn hộ dân tộc thiểu số
vùng đặc biệt khó khăn phát triển sản xuất, ổn định kinh tế, xoá đói giảm nghèo.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chương trình, việc huy động nội lực
trong dân còn thấp, nhất là tham gia lao động xây dựng công trình. Một số nơi
thực hiện nguyên tắc xã có công trình, dân có việc làm kết quả còn hạn chế. Công
trình giao thông và công trình cấp nước sinh hoạt ở một số địa phương chưa đạt
yêu cầu đặt ra.
Dự án xây dựng trung tâm cụm xã
Chương trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ năm 1997, tại Quyết
định số 35/TTg ngày 13-01-1997. Đến năm 2000, chương trình trở thành một dự án
thành phần của Chương trình 135 theo Quyết định số 138/2000-QĐ/TTg.
Tính đến năm 2005, với hơn 100 trung tâm cụm xã được xây dựng, tổng vốn
đầu tư trên toàn vùng là 261.649,76 triệu đồng [Phụ lục 12]. Tỉnh Hà Giang đã đầu
tư xây dựng 34 trung tâm cụm xã, 182 công trình với tổng nguồn vốn là 88.841,7
triệu đồng, trong đó, 11 công trình giao thông, 34 công trình trường học, 24 công
trình trạm xá xã, 25 công trình chợ trung tâm, 22 công trình trụ sở Uỷ ban nhân dân
xã, 20 công trình hệ thống cấp nước, 14 công trình san ủi, tạo mặt bằng trung tâm, 1
công trình hệ thống cấp điện, 31 công trình các hạng mục khác [90].
Ngoài ra, ở một số tỉnh còn thực hiện tốt việc lồng ghép các nguồn vốn đầu
tư chương trình. Tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện lồng ghép Chương trình 135 với các
chương trình: an ninh, quốc phòng, biên giới - hải đảo, kinh tế quốc phòng, vốn
phát triển giáo dục, y tế, giao thông, thuỷ lợi miền núi, nước sạch nông thôn, vốn tài
trợ của UNICEF kết hợp với sự đóng góp của dân đã xây dựng nhiều công trình
thiết yếu phục vụ dân sinh như công trình điện sinh hoạt, các tuyến đường giao
thông chính và tuyến đường biên giới Việt - Trung.
Dự án ổn định và phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với chế biến và
tiêu thụ sản phẩm
Đến năm 2005, số vốn được đầu tư cho dự án tại 4 tỉnh là 51.590,82 triệu
đồng [Phụ lục 12]. Nguồn vốn được hỗ trợ đúng đối tượng, đúng mục đích và phát
huy được hiệu quả, giúp nhân dân từng bước ổn định cuộc sống, chuyển dịch cơ cấu
93
cây trồng, vật nuôi và phát huy thế mạnh sẵn có của từng vùng, từng khu vực. Ở
Quảng Ninh, dự án tập trung vào các mô hình trồng lúa lai, gà thả vườn, lợn Móng
Cái, trợ cấp cây lâm nghiệp, cây trồng, vật nuôi, giống phân bón và hỗ trợ một số hộ
nông dân mua trang thiết bị sản xuất miến dong (huyện Bình Liêu)... nhằm khai
thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Ngoài ra, dự án còn hỗ trợ lãi suất vốn
vay cho các chương trình phát triển nông nghiệp cho các hộ dân vùng cao đặc biệt
khó khăn.
Dự án quy hoạch bố trí lại dân cư ở những nơi cần thiết
Dự án thành phần này trong những năm 1999 - 2002 chủ yếu tiếp tục thực
hiện ổn định dân cư. Từ 2002 đến 2005, việc quy hoạch bố trí lại dân cư, ổn định
dân cư, trong Chương trình 135 chủ yếu là tái định cư, ổn định dân cư biên giới, di
giãn dân một số vùng. Tại tỉnh Hà Giang, sau 7 năm thực hiện, dự án quy hoạch bố
trí lại dân cư đã thực hiện được 120 hộ với nguồn kinh phí đầu tư 7.400,9 triệu đồng
thực hiện chỉ tiêu di chuyển các hộ dân từ vùng cao núi đá xuống vùng thấp trong
tỉnh. Ngoài ra, dự án ổn định dân cư kinh tế mới (hạ sơn tại chỗ) thực hiện được
2.563 hộ, với kinh phí 4.279 triệu đồng; dự án ổn định sắp xếp dân cư biên giới đã
thực hiện được 380 hộ với nguồn kinh phí 2.967,2 triệu đồng [91].
Dự án đào tạo cán bộ xã
Nội dung chính đào tạo hàng năm đối với các cán bộ xã chủ yếu vào hướng
dẫn lập kế hoạch sản xuất cho các hộ gia đình và các xã theo từng mùa vụ trong
năm. Học tập quy trình kỹ thuật canh tác một số loại cây con chủ yếu để phục vụ
sản xuất, xoá đói giảm nghèo. Ngoài ra, còn một số nội dung phù hợp với đặc điểm
từng địa phương. Với nội dung đào tạo như trên, trong 7 năm thực hiện, dự án đã
đào tạo được trên 100.000 học viên, chủ yếu là các cán bộ lãnh đạo xã, cán bộ tổ
chức đoàn thể xã, trưởng xóm. Trình độ của đội ngũ cán bộ các xã thuộc chương
trình 135 được nâng lên. Tính đến 2005, riêng Lạng Sơn đã mở được 74 lớp với
4.311 lượt học viên tham dự [99].
Sau 7 năm thực hiện Chương trình 135 đã góp phần thúc đẩy phát triển sản
xuất, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi, tạo
94
điều kiện bảo đảm an ninh quốc phòng trên địa bàn các xã 135, tạo tiền đề quan
trọng cho phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tiếp theo.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện chương trình còn một số hạn chế: Một số chủ
đầu tư còn lúng túng, thiếu tính chủ động trong tổ chức thực hiện chương trình, đặc
biệt là nội dung dự án hỗ trợ và phát triển sản xuất và dự án đào tạo cán bộ. Chưa
tạo được chuyển biến mạnh mẽ về sản xuất, nhiều nơi còn mang tính tự cấp, tự túc
là chủ yếu, ý thức tổ chức sản xuất hàng hoá của nhân dân còn rất hạn chế. Nguồn
vốn hỗ trợ phục vụ cho công tác duy tu bảo dưỡng công trình chưa bảo đảm so với
nhu cầu thực tế. Đời sống nhân dân của các xã thuộc chương trình 135 còn nhiều
khó khăn, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao.
Trong giai đoạn 2006 - 2010, các địa phương đặt ra mục tiêu của Chương
trình 135 là tạo sự chuyển biến rõ rệt về sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời
sống nhân dân cho các xã đặc biệt khó khăn. Phấn đấu đến 2010, không còn hộ đói,
giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 30%.
Để đạt được mục tiêu trên, các địa phương đã chủ động đề ra các giải pháp,
trong đó, giải pháp cơ bản là phải chủ động lồng ghép các nguồn vốn theo tiêu chí
đảm bảo sự công bằng, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn đầu tư theo hướng kịp thời hơn;
lựa chọn các nội dung đầu tư, hỗ trợ dự án phát triển sản xuất tập trung vào hỗ trợ
con giống, thú y nhằm đẩy mạnh sản xuất, từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng
vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng giá trị thu nhập trên một diện tích đất
canh tác. Sau 5 năm thực hiện chương trình 135 giai đoạn II, 4 dự án với tổng số
vốn đã thực hiện là 2.128.138,405 triệu đồng đã đạt được một số kết quả:
Về dự án phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu.
Từ năm 2006 đến 2010, cả khu vực đã đầu tư 1.456.966 triệu đồng để xây
dựng các công trình hạ tầng cơ sở thiết yếu ở các xã đặc biệt khó khăn [Phụ lục 13].
Tại Lạng Sơn, số công trình được đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo nâng cấp trong
cả giai đoạn là 389 công trình giao thông, 58 công trình điện, 43 công trình trường
học, 20 công trình trạm y tế, 32 công trình nhà sinh hoạt cộng đồng, 23 công trình
thuỷ lợi, 23 công trình nước sạch, 9 công trình chợ với tổng số vốn là 294.750 triệu
đồng [102].
95
Về dự án hỗ trợ phát triển sản xuất
Cùng với việc tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như ở giai đoạn I, tại
giai đoạn II, Chương 135 đã có thêm hợp phần hỗ trợ sản xuất. Trong giai đoạn
2006 - 2010, với số vốn 341.026 triệu đồng được triển khai đến tận thôn, bản, đảm
bảo nguyên tắc công khai, dân chủ, hỗ trợ đúng đối tượng, đúng nội dung theo quy
định [Phụ lục 13]. Thực hiện hợp phần này, các địa phương đã hỗ trợ cung cấp một
số tư liệu sản xuất như cây, con giống, phân bón, máy móc nông cụ cho bà con phát
triển sản xuất, do đó, năng suất cây trồng, vật nuôi tăng lên; đây là cơ sở cơ bản
giúp bà con nâng cao thu nhập (đa số các xã đặc biệt khó khăn đạt thu nhập bình
quân trên 3,5 triệu đồng/người/năm); giảm tỷ lệ hộ nghèo trong vùng 135 trung bình
4 - 5%/năm.
Về dự án đào tạo cán bộ cơ sở và cộng đồng
Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xã chủ yếu tập trung đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ xã, thôn, bản làm chủ đầu tư có đủ
năng lực đảm nhận sự phân cấp, phân quyền, tham gia quản lý, tổ chức thực hiện
các hoạt động của chương trình.
Thực tế triển khai cho thấy các kiến thức tập huấn đã phát huy tác dụng tốt
và được đông đảo người dân, cán bộ cơ sở đồng tình ủng hộ. Vì thế, trong 5 năm
thực hiện hợp phần với tổng số vốn 95.952,485 triệu đồng, đã thu hút hơn 300.000
lượt cán bộ cơ sở và cộng đồng dân cư tham gia, đào tạo nghề ngắn hạn cho hơn
13.000 thanh niên dân tộc thiểu số từ 16 đến 25 tuổi [Phụ lục 13].
Qua 4 năm thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II, nhìn chung các tỉnh đều
tuân thủ tốt các nguyên tắc đầu tư của Chương trình. Trong đó nguyên tắc: công
khai, dân chủ, thiết thực đối với đời sống người dân được đặt lên hàng đầu. Do đó,
khi triển khai xây dựng công trình, cộng đồng thôn bản được tham gia từ khâu lập
kế hoạch, lựa chọn công trình, ra quyết định, giám sát việc thực hiện và bàn giao
công trình. Đây chính là điểm mới trong Chương trình 135 giai đoạn II và cũng là
một trong những điểm thành công của chương trình. Đến năm 2010, kết thúc giai
đoạn II của chương trình 135, với sự nỗ lực của các địa phương, khu vực miền núi
Đông Bắc có 6 xã hoàn thành chương trình 135, đạt 1,92% [Phụ lục 10].
96
2.2.3. Đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm Các chính sách giảm nghèo ở miền núi Đông Bắc chịu sự chi phối về mặt tài
chính của các dự án lớn và chương trình mục tiêu quốc gia. Các hợp phần và tiểu
hợp phần của các chương trình này chiếm tới trên 40% số hoạt động và ngân sách
hỗ trợ cho các tỉnh miền núi Đông Bắc. Ngoài các chương trình chung, còn có dự
án hỗ trợ, phát triển dân tộc Pu Péo tại tỉnh Hà Giang (Quyết định số 238/QĐ-
UBDT) ngày 16-5-2005); hỗ trợ phát triển dân tộc thiểu số, hộ nghèo và cận nghèo,
hộ chính sách xã hội tại những vùng chưa nối mạng lưới điện quốc gia (Quyết định
289/2008/QĐ-TTg); hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi phía Bắc (Nghị
quyết số 37/NQ và Quyết định 27/2008/QĐ-TTg); chương trình tái định cư - Hỗ trợ
di dân đồng bào dân tộc thiểu số (Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg ngày 5-3-2007);
chương trình tái định cư - hỗ trợ di dân tại các xã biên giới với Trung Quốc (Quyết
định số 60/2005/QĐ-TTg ngày 24-3-2005); chính sách cho hộ đồng bào dân tộc
thiểu số khó khăn vay vốn phát triển sản xuất (Quyết định 32/2007/QĐ-TTg ngày
05-3-2007). Các hoạt động giảm nghèo ở miền núi Đông Bắc nhìn chung toàn diện,
bao trùm các lĩnh vực và yếu tố cần thiết, chú ý đến cả vùng nghèo và dân tộc kém
vị thế. Một số dự án được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của một số nhóm đối tượng
xã đặc biệt khó khăn, dân tộc đặc biệt khó khăn, dân tái định cư, dân cư trú khu vực
biên giới. Tuy nhiên, trên thực tế các tỉnh miền núi Đông Bắc và từng huyện có thể
điều chỉnh cho phù hợp tình hình của vùng hoặc địa phương.
Việc thực hiện chính sách giảm nghèo ở miền núi Đông Bắc tập trung vào
các biện pháp sau đây: 1) Hỗ trợ sản xuất nông nghiệp (khuyến nông, trợ giá đầu
vào cho nông nghiệp, đào tạo nông nghiệp, hỗ trợ đất sản xuất, hỗ trợ ngư nghiệp,
bảo vệ rừng, quản lý và khai thác rừng, vốn vay cho người nghèo để sản xuất); 2)
Hỗ trợ giáo dục (tiếp cận giáo dục, hỗ trợ học phí, hỗ trợ cho các trường nội trú,
chính sách về lương cho giáo viên ở vùng sâu, vùng xa); 3) Tiếp cận dịch vụ (tiếp
cận dịch vụ cấp nước sạch, tiếp cận dịch vụ điện); 4) Cơ sở hạ tầng (các loại công
trình cơ sở hạ tầng khác nhau, vận hành, bảo trì, duy tu, bảo dưỡng); 5) Hỗ trợ y tế
(dịch vụ y tế, cải thiện tình trạng vệ sinh, nâng cao an toàn vệ sinh chăn nuôi); 6)
Đào tạo và tăng cường năng lực (dạy nghề, đào tạo cán bộ để thực hiện chương
97
trình giảm nghèo, theo dõi và đánh giá giảm nghèo); 7) Trợ giá (trợ giá cước vận
chuyển một số mặt hàng tới các vùng sâu, vùng xa; trợ giá nhiên liệu cho đồng bào
dân tộc thiểu số; hỗ trợ trực tiếp về lương thực); 8) Hỗ trợ cho tái định cư và di dân,
hỗ trợ tiếp cận pháp lý, hỗ trợ nhà ở (vật liệu nhà ở, đất ở).
Theo chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010, tỷ lệ hộ nghèo ở vùng
miền núi, dân tộc Đông Bắc năm 2002 là 38,4%, thu nhập bình quân đầu người
/tháng là 268.8 [Phụ lục 16]. Tuy chưa phải là vùng nghèo nhất nước, nhưng đây
cũng là vùng có tỷ lệ tái nghèo cao, cá biệt có những huyện tỷ lệ hộ nghèo chiếm
trên 50% (Quản Bạ, Yên Minh (Hà Giang); Bảo Lâm, Bảo Lạc (Cao Bằng). Vì vậy,
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc miền núi Đông Bắc cần có những giải pháp thích
hợp nhằm đẩy lùi đói nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển, hoà nhập với sự phát
triển chung của cả nước.
Để thực hiện quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân về xoá đói giảm nghèo, Thủ
tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 02/1998/QĐ-TTg ngày 06-01-1998 về việc
phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc giai đoạn
từ nay đến năm 2010. Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ mục tiêu phát triển của các tỉnh
Đông Bắc đến năm 2010: Phấn đấu duy trì nhịp độ tăng trưởng GDP đạt khoảng
10%/năm. Đảm bảo hài hoà quan hệ giữa phát triển nhanh, hiệu quả và lâu bền,
thực hiện cơ bản xoá đói trước năm 2000 và giảm 30% đến 40% hộ nghèo so với
năm 1998.
Nhằm đẩy nhanh công tác xoá đói giảm nghèo, các địa phương luôn quan
tâm tới công tác tập huấn, chuyển giao khoa học - kỹ thuật cho cán bộ khuyến nông,
khuyến lâm, cho các hộ nông dân, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời,
các tỉnh miền núi Đông Bắc đã đặt ra mục tiêu mỗi năm phải giải quyết việc làm
cho khoảng 1000 lao động.
Với mục tiêu đó, hàng năm, các chương trình, dự án hỗ trợ người dân về
máy móc sản xuất, về kỹ thuật chăm sóc cây trồng, vật nuôi, về vốn đã giúp đồng
bào tháo gỡ khó khăn, cải thiện đời sống, tạo việc làm và tăng thu nhập. Nhờ vậy, tỷ
lệ hộ nghèo ở vùng miền núi, dân tộc đã giảm từ 38,4% năm 2002 xuống còn
29,4% năm 2004. Sau 3 năm, vùng miền núi, dân tộc Đông Bắc giảm được 9% số
98
hộ nghèo, bình quân mỗi năm giảm được 1,8%. Nếu so sánh chung với cả nước, tỷ
lệ giảm nghèo của vùng Đông Bắc còn thấp nhưng nếu so với vùng Tây Bắc, tỷ lệ
giảm nghèo của vùng Đông Bắc có nhanh hơn [Phụ lục 16]. Cơ sở hạ tầng (điện,
đường, trường, trạm, nước sạch, hệ thống thuỷ lợi…) ở các xã đặc biệt khó khăn
được cải thiện đáng kể; đời sống nhân dân được nâng lên, hộ nghèo, hộ đồng bào
dân tộc thiểu số từng bước được tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ, chính sách xã
hội nhiều hơn.
Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc chưa vững
chắc, chưa đồng đều giữa các vùng trong khu vực, chưa đáp ứng được yêu cầu của
giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vì vậy, các xã đặc biệt khó khăn, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo còn cao như: huyện Đồng Văn, Mèo Vạc,
Quản Bạ (Hà Giang) có 82 xã có tỷ lệ nghèo trên 50%; huyện Đình Lập, Bình Gia
(Lạng Sơn) có tỷ lệ nghèo trên 40%. Theo kết quả điều tra cho thấy, một trong
những nguyên nhân của đói nghèo là do thiếu kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, thiếu
đất sản xuất và vốn.
Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xoá đói giảm nghèo đã đề ra mục tiêu
cụ thể đến năm 2010: Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 22% năm 2005 xuống còn
10 - 11% năm 2010 (trong 5 năm giảm 50% số hộ nghèo); Thu nhập của nhóm hộ
nghèo tăng 1,45 lần so với năm 2005. Phấn đấu 50% số xã đặc biệt khó khăn vùng
bãi ngang ven biển và hải đảo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn.
Trên cơ sở mục tiêu chung, Đảng bộ các địa phương đã ra các Nghị quyết
nhằm tăng cường sự chỉ đạo đối với công tác xoá đói giảm nghèo như: Nghị quyết
số 03-NQ/TU của Tỉnh uỷ Lạng Sơn (12- 7-2006) về đẩy mạnh công tác xoá đói
giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010; Nghị quyết số 12-NQ/TU của Tỉnh uỷ Hà
Giang (27- 6- 2008) về tăng cường lãnh đạo thực hiện chương trình giảm nghèo
bền vững từ nay đến năm 2010.
Hàng năm, nhằm đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo, các địa phương đã
bố trí ngân sách và lồng ghép các nguồn vốn, các chương trình, dự án để tập trung
hỗ trợ, khuyến khích người dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, đẩy mạnh
thâm canh, tăng vụ, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất.
99
Được hỗ trợ vay vốn theo Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg và Quyết định
126/QĐ-TTg, tại Cao Bằng, đến đầu năm 2010, toàn tỉnh có 2.384 hộ dân tộc thiểu
số nghèo được vay vốn với số tiền là 11.879 triệu đồng để phát triển sản xuất, chăn
nuôi trâu bò [83, tr.27].
Do nhận thức rõ, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo
là do thiếu đất sản xuất, các địa phương đã quan tâm đầu tư khai hoang, làm ruộng
nương, bậc thang, chuyển đổi diện tích trồng cây lương thực hiệu quả thấp sang
trồng cây dược liệu, trồng cỏ phục vụ phát triển sản xuất chăn nuôi. Đồng thời, từng
bước khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của địa phương. Phát huy lợi thế về
điều kiện tự nhiên thích hợp phát triển trồng cây dược liệu, năm 2007, tỉnh Hà
Giang thông qua các chương trình, dự án đã hỗ trợ trồng 11.583 ha cây sa mộc,
chuyển 5000 ha đất nông nghiệp sang trồng cỏ phục vụ chăn nuôi trâu, bò và trồng
các loại cây có giá trị kinh tế cao, 3.712 ha đất dốc được khai hoang thành nương
xếp đá và ruộng bậc thang [54, tr.12].
Trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách và nghị quyết về giảm
nghèo, nhiều đơn vị đã có cách làm hay, tích cực trong huy động nguồn lực phục vụ
công tác giảm nghèo và bước đầu đem lại hiệu quả. Cuộc vận động ngày “Vì người
nghèo” là một điển hình. Quỹ “vì người nghèo” đã nhận được sự quan tâm, hưởng
ứng tích cực của toàn xã hội, sự ủng hộ của các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp,
những tấm lòng hảo tâm trong và ngoài nước. Đạt hiệu quả cao trong phong trào
này là tỉnh Quảng Ninh. Trong 5 năm (2006 - 2010), Quỹ “vì người nghèo” các cấp
của tỉnh Quảng Ninh đã vận động được trên 25 tỷ đồng; trong đó cấp tỉnh 14 tỷ
đồng, cấp huyện và cấp xã trên 11 tỷ đồng. Riêng năm 2009, tỉnh đã vận động được
trên 12 tỷ đồng và đã hỗ trợ 11,5 tỷ đồng về nhà ở cho các hộ nghèo trên địa bàn
tỉnh [112].
Về vấn đề giải quyết việc làm
Tạo điều kiện cho người lao động, nhất là lực lượng thanh niên tìm kiếm
việc làm và tự tạo việc làm cho bản thân, các tỉnh chỉ đạo xây dựng các trường dạy
nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số với các chính sách ưu tiên, đãi ngộ nhằm thu
hút, tạo thuận lợi cho thanh niên dân tộc thiểu số được học nghề và có việc làm.
100
Cùng với sự phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội của các địa phương,
chương trình, dự án giảm nghèo, giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2010 được tổ
chức thực hiện có hiệu quả. Tỷ lệ hộ nghèo được hưởng lợi từ dự án, chính sách
giảm nghèo đạt mức cao. Toàn vùng có 68,1% số hộ dân tộc thiểu số được hưởng
lợi từ dự án, chính sách giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo chung của toàn vùng đã giảm
từ 28,5% năm 2002 xuống còn 19,03% năm 2010.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác xoá đói giảm nghèo và giải
quyết việc làm tại miền núi Đông Bắc vẫn còn một số hạn chế như: Công tác tuyên
truyền, nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc thiểu số về xoá đói giảm
nghèo, giải quyết việc làm có nơi, có lúc chưa được tiến hành thường xuyên, liên
tục, dẫn tới hiệu quả chưa cao. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ
tuổi năm 2010 của vùng miền núi Đông Bắc so với cả nước vẫn ở mức cao, 2,61%
(so với vùng phụ cận, Đồng bằng sông Hồng là 1,21%). Nhận thức của một bộ phận
người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa về xoá đói giảm
nghèo, giải quyết việc làm còn hạn chế. Một bộ phận người dân vẫn còn tư tưởng ỷ
lại, trông chờ vào sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước nên đã hạn chế phát huy nội lực
và sự nỗ lực vươn lên của bản thân người lao động.
Thực hiện các chính sách vay vốn ưu đãi, trợ giá, trợ cước và hỗ trợ trực
tiếp cho người dân
Thực hiện chủ trương của Đảng, trong lĩnh vực thương nghiệp và dịch vụ,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/2002/NĐ-CP ngày 03-01-2002 của Chính
phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 20/1998/NĐ-CP của Chính
phủ về phát triển thương mại ở vùng miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc.
Trong giai đoạn 2006 - 2010, các tỉnh đã thực hiện những nội dung trợ cước
vận chuyển dầu hoả, trợ giá trợ cước vận chuyển muối i ốt, trợ giá, trợ cước vận
chuyển đối với các mặt hàng, trợ cước vận chuyển phân bón hoá học, trợ cước vận
chuyển tiêu thụ sản phẩm, trợ cước vận chuyển giống thuỷ sản, hỗ trợ xây dựng
trạm truyền thanh FM các xã khu vực III, hỗ trợ giá báo địa phương. Chỉ tính riêng
tại Hà Giang, trong giai đoạn 2006 - 2009, tổng kinh phí thực hiện trợ giá, trợ cước
là 43.143,3 triệu đồng, trong đó, hỗ trợ các mặt hàng chính sách xã hội là 2.064.586
101
triệu đồng, trợ giá cước muối iốt là 17.712,06 triệu đồng, trợ cước trạm truyền thanh
cấp xã là 600 triệu đồng… [97, tr.10].
Việc trợ giá, trợ cước vận chuyển giống cây trồng và trợ cước vận chuyển
phân bón tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức của đồng bào các dân tộc trong việc
sử dụng các loại giống mới có năng suất cao. Có thể coi đây là một cuộc cách mạng
trong sản xuất nông nghiệp ở nông thôn miền núi, đặc biệt là các xã vùng sâu, vùng
xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện trợ giá, trợ cước các mặt hàng thiết yếu phục
vụ đồng bào các dân tộc thiểu số còn gặp một số hạn chế như: Quy định giá bán lẻ
của địa phương chưa sát với thực tế dẫn đến tình trạng có lúc, có nơi mặt hàng
chính sách cao hơn giá thị trường tự do; công tác kiểm tra, giám sát khâu bán hàng
ở cơ sở chưa được thực hiện thường xuyên. Để khắc phục những hạn chế đó, ngày
07-8-2009, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg về chính
sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn. Đây là chính
sách chuyển đổi từ trợ giá, trợ cước vận chuyển sang hỗ trợ trực tiếp cho người dân
thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn. Trên cơ sở Quyết định 102/2009/QĐ-TTg, căn cứ
vào thực tế địa phương, các tỉnh đã đề ra các phương án hỗ trợ cụ thể có thể bằng
tiền mặt hoặc bằng hiện vật. Trong 2 năm (2009 - 2010), tỉnh Lạng Sơn đã hỗ trợ
cho 61xã đặc biệt khó khăn và 56 thôn đặc biệt khó khăn thuộc các xã khu vực II
với tổng kinh phí thực hiện là 11.108 triệu đồng.
Cùng với chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo cư trú ở các vùng đặc
biệt khó khăn, Chính phủ còn quan tâm, tạo điều kiện để đồng bào được vay vốn
phát triển sản xuất. Ngày 05-03-2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
số 32/2007/QĐ-TTg về việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào
dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn. Theo Quyết định này, đối tượng được vay vốn là
hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn có đủ 3 tiêu chí: có mức thu nhập
bình quân đầu người dưới 60.000 đồng/tháng; tổng trị giá tài sản của hộ không quá
3 triệu đồng; có phương hướng sản xuất nhưng thiếu hoặc không có vốn sản xuất.
Thực hiện Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg, các địa phương đã tiến hành
bình xét công khai, dân chủ, đúng đối tượng ở cơ sở và lập danh sách theo từng xã.
102
Hàng năm, tiến hành rà soát lại để bổ sung và đưa ra khỏi danh sách những hộ
không còn thuộc đối tượng được vay vốn. Trong giai đoạn 2007 - 2010, tổng số hộ
dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn thuộc diện được thụ hưởng chính sách được vay
vốn phát triển sản xuất là 11.669 hộ với tổng số vốn 57.222 triệu đồng.
Nghị định số 20/1998/NĐ-CP, Nghị định số 02/2002/NĐ-CP và các Quyết
định số 102/2009/QĐ-TTg, Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg của Chính phủ thể hiện
sự quan tâm kịp thời của Đảng và Nhà nước đối với các dân tộc thiểu số, tạo thuận
lợi cho đồng bào đang sinh sống ở các vùng đặc biệt khó khăn có thêm điều kiện
phát triển, kinh tế hộ đồng bào nghèo được cải thiện và từng bước thoát nghèo, góp
phần phát triển kinh tế - xã hội, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, đảm
bảo an ninh, trật tự vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Chính sách hỗ trợ nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số.
Chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ
đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (chương trình 134)
Cụ thể hoá chủ trương của Đảng, ngày 20-7-2004, Thủ tướng Chính phủ ra
Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở,
nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là một Quyết định
quan trọng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào các
dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn trên địa bàn các tỉnh miền núi Đông Bắc
nói riêng và cả nước nói chung. Nội dung cơ bản của Quyết định 134/2004/QĐ-
TTg là hỗ trợ về đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt và nhà ở.
Thực hiện chủ trương trên, các tỉnh miền núi Đông Bắc căn cứ vào tình hình
cụ thể, thực tiễn của các địa phương để tiến hành thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản
xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào các dân tộc thiểu số nghèo, đời
sống khó khăn. Từ năm 2004 đến năm 2008, 2477 hộ dân được hỗ trợ đất ở, 38.391
hộ dân được hỗ trợ nhà ở, 20.136 hộ dân được hỗ trợ đất sản xuất, 23.958 hộ dân
được hỗ trợ xây bể nước hoặc mua téc nước, 862 công trình nước tập trung được
xây dựng [Phụ lục 14]. Kết quả trên đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn, từng bước
103
thoát khỏi nghèo đói, lạc hậu, nhất là về nhà ở, nước sinh hoạt, thúc đẩy kinh tế - xã
hội phát triển, củng cố an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện Chương trình
134 còn một số hạn chế: Chương trình 134 - hỗ trợ về đất ở, nhà ở, đất sản xuất,
nước sinh hoạt cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số đời sống khó khăn - là chương
trình với nhu cầu vốn lớn, tuy nhiên vốn đầu tư hỗ trợ của Trung ương có hạn, một
số định mức thấp, giá cả nguyên vật liệu tăng cao, do đó làm nhà và xây dựng các
công trình nước sinh hoạt phân tán gặp rất nhiều khó khăn. Việc triển khai chương
trình ở một số địa phương còn lúng túng, nhất là trong việc rà soát đối tượng còn
trùng lặp, bỏ sót hoặc không chính xác, dẫn đến khi thực hiện chương trình nhiều
mục tiêu phải điều chỉnh lại, nhất là đối tượng thụ hưởng chương trình. Việc quản
lý, tổ chức triển khai thực hiện còn nhiều hạn chế. Vì vậy, chính sách hỗ trợ đất sản
xuất theo Quyết định 134 của Thủ tướng Chính phủ được triển khai sớm tại khu vực
Đông Bắc nhưng do thiếu quỹ đất nên đạt mục tiêu thấp nhất so với các vùng trong
cả nước, chỉ đạt 34% số hộ và 38% về diện tích.
Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo
(Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ ngày 27 tháng 12 năm 2008)
Miền núi Đông Bắc có 2 tỉnh là Cao Bằng, Hà Giang với 11 huyện có tỷ lệ
hộ nghèo trên 50% được thụ hưởng Chương trình 30a [Phụ lục 6]. Xác định đây là
cơ hội để các huyện nghèo bứt phá nên ngay khi Nghị quyết 30a ra đời, các cấp, các
ngành từ tỉnh đến huyện của các địa phương đã tập trung triển khai các bước tiến
hành theo đúng chỉ đạo của Trung ương. Nguồn kinh phí thực hiện trong 2 năm
(2009-2010), tại địa bàn 6 huyện nghèo của tỉnh Hà Giang theo Nghị quyết 30a là
353.420 triệu đồng [95]; tại 5 huyện nghèo của tỉnh Cao Bằng là 275.381 triệu đồng
[82]. Từ đó, giúp người nghèo có việc làm, thêm thu nhập, giảm nghèo bền vững.
Chỉ tính riêng tại 6 huyện nghèo của tỉnh Hà Giang, từ nguồn kinh phí của chương
trình, trong 2 năm (2009-2010), đã tổ chức mở các lớp dạy sơ cấp nghề, dạy nghề
thường xuyên tại các xã, các trung tâm dạy nghề cho 3.095 người [95]. Cùng với
đó, việc xã hội hóa công tác xoá đói giảm nghèo cũng được quan tâm và thu hút
được nguồn lực đầu tư rất lớn từ các doanh nghiệp Nhà nước, tập đoàn, tổng công
104
ty, trong đó nổi bật là sự hỗ trợ của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương
Việt Nam; Ngân hàng Liên Việt, Tổng Công ty Vật tư Nông nghiệp Việt Nam,
Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam, ... Nhờ đó, Nghị quyết 30a của Chính phủ
được thực hiện đạt kết quả khả quan. Tính đến năm 2011, còn 6 huyện có số hộ
nghèo trên 50% là Mèo Vạc, Đồng Văn, Xí Mần (Hà Giang), Bảo Lâm, Bảo Lạc,
Thông Nông (Cao Bằng) [Phụ lục 7].
Bên cạnh những kết quả đã đạt được tại các địa phương, Nghị quyết 30a vẫn
bộc lộ một số hạn chế như mục tiêu đề ra quá cao, nguồn lực để đáp ứng là rất khó.
Thực tế tại Hà Giang cho thấy, để đầu tư đầy đủ công trình cơ sở hạ tầng, một đề án
của huyện cần 3000 tỷ đồng, trong khi đó năm 2009, ngân sách Nhà nước đầu tư
được 25 tỷ, năm 2010 được 20 tỷ- như vậy nguồn lực ngân sách Nhà nước chỉ đáp
ứng được một phần rất nhỏ của nhu cầu [119, tr.91].
Đẩy mạnh công tác quy hoạch, bố trí dân cư
Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 24 - 8 - 2006, Thủ tướng Chính phủ ra
Quyết định số 193/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình bố trí dân cư các vùng: thiên
tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, xung yếu và rất xung yếu của
rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng giai đoạn 2006 - 2010
và định hướng đến năm 2015. Tiếp đó, ngày 05-03-2007, Thủ tướng Chính phủ ra
Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh
định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2007 - 2010. Thực hiện Quyết
định 33/2007/QĐ-TTg, các địa phương đã tiến hành xây dựng các Dự án, tập trung
vào các nội dung: Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, khai hoang, mở rộng diện tích
đất canh tác, xây dựng nương rẫy cố định, trồng mới và bảo vệ rừng, hỗ trợ kinh phí
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hỗ trợ cán bộ phát triển cộng
đồng… nhằm ổn định đời sống dân cư. Đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng
và Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số còn du canh, du
cư có nơi ở ổn định, có đầy đủ các điều kiện để phát triển sản xuất, nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, góp phần tích cực vào công tác xoá đói
giảm nghèo, giữ vững ổn định an ninh, chính trị vùng dân tộc và miền núi.
105
2.2.4. Nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc,
chăm sóc sức khoẻ nhân dân
Phát triển giáo dục - đào tạo, nâng cao dân trí
Thực hiện chủ trương của Đảng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc các tỉnh
miền núi Đông Bắc luôn nỗ lực và đã đạt được các thành tựu trong phát triển giáo
dục và đào tạo.
Đầu tư cho giáo dục được tăng lên theo từng năm nhằm đáp ứng ngày một
tốt hơn công tác giáo dục - đào tạo tại các địa phương. Nếu như năm 2002 là
422.000 đồng/1người đi học/1 tháng thì đến năm 2010 là 1.758.000 đồng/1người đi
học/1 tháng. Đồng thời, các tỉnh thực hiện tốt chính sách miễn giảm học phí đối với
người học thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, người dân tộc thiểu số.
Tỷ lệ người được miễn giảm học phí và các khoản đóng góp năm 2008 là 51,8%
(dân tộc thiểu số: 21,4%; Vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn: 33,3%). Đến
năm 2010 tăng lên 52,7% (dân tộc thiểu số: 18,9%; vùng sâu, vùng xa, vùng đặc
biệt khó khăn: 39,7%%). Số trường ở 4 tỉnh miền núi Đông Bắc tăng từ 1.598
trường phổ thông với 26.472 lớp năm 2006 [67, tr.517-519] đến năm 2010 đã tăng
lên 1744 trường phổ thông với 25.309 lớp học [70, tr.627-629].
Cùng với hệ thống các trường công lập, được sự đầu tư của Trung ương và
địa phương, mạng lưới các trường dân tộc nội trú bao gồm 4 trường dân tộc nội trú
cấp tỉnh và các trường dân tộc nội trú cấp huyện. Ngoài ra, trường Phổ thông Vùng
cao Việt Bắc là trường dân tộc nội trú duy nhất của cả nước có 3 hệ đào tạo (Trung
học Phổ thông và Dự bị Đại học Dân tộc và Trung học cơ sở) với quy mô trên 1800
em/ năm thuộc 21 tỉnh với 29 dân tộc trên tổng số 53 dân tộc thiểu số cả nước. Bên
cạnh đó, mô hình trường nội trú dân nuôi cũng được hình thành và phát triển ở các
địa phương.
Với sự quan tâm chỉ đạo của Đảng bộ các địa phương, các cấp, các ngành và
sự nỗ lực của ngành giáo dục, đến 2010, các tỉnh đều đạt chuẩn giáo dục phổ cập
trung học cơ sở. Tính đến năm 2010 toàn vùng có 1744 trường phổ thông với
560.974 học sinh [70, tr.627-641], trong đó có 345.388 học sinh các cấp người dân
tộc thiểu số đến trường [70, tr.645].
106
Cùng với kết quả đạt được, trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách
phát triển giáo dục tại vùng miền núi Đông Bắc vẫn bộc lộ một số hạn chế: Năm
2010, tất cả các tỉnh đã đạt chuẩn giáo dục phổ cập trung học cơ sở, tuy nhiên, kết
quả đạt được chưa thực sự vững chắc. Chương trình phổ cập giáo dục tiểu học đã
hoàn thành cách đây 10 năm nhưng đến 2010 vẫn còn 3 tỉnh mới đạt phổ cập giáo
dục tiểu học nói chung, chưa đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Đó
là các tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng; Điều kiện dạy và học ở bậc học mầm non và phổ
thông các cấp còn thiếu thốn. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng bỏ học
của học sinh phổ thông trong những năm qua tuy có giảm nhưng vẫn chiếm tỷ lệ
khá cao. Thống kê cho thấy, năm học 2011 - 2012, 15 tỉnh miền núi phía Bắc có
9.790 học sinh bỏ học, trong đó nhiều nhất là bậc trung học phổ thông có 6.795,
trung học cơ sở có 2.682 (một số tỉnh có học sinh bỏ học nhiều của vùng này là:
Bắc Kạn và Hà Giang). Lực lượng lao động có trình độ đại học, cao đẳng của vùng
thấp so với cả nước, chỉ chiếm 1,2% trong khi trung bình cả nước là 12%. Đó là
nguyên nhân làm cho nhiều dự án kinh tế - xã hội nhằm đưa khoa học, kỹ thuật tiến
bộ vào phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, vùng dân tộc thiểu số không được triển
khai kịp thời và đạt hiệu quả như mong muốn.
Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào các dân tộc thiểu số:
Tháng 10-2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg
về chính sách chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo và người dân tộc thiểu số. Theo
Quyết định này, đối tượng thụ hưởng là người nghèo và người dân tộc thiểu số đều
được khám và chữa bệnh miễn phí ở các cơ sở y tế công.
Thực hiện Quyết định 139/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các địa
phương đã tiến hành cấp sổ khám, chữa bệnh và thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho các
đối tượng nghèo và người dân tộc thiểu số và nhân dân các xã 135. Tuy nhiên, chất
lượng dịch vụ y tế, đặc biệt tại tuyến xã còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân cơ bản là
do thiếu nhân lực cả về số lượng và năng lực của cán bộ, cơ sở vật chất và trang
thiết bị nghèo nàn, chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.
Nhằm thực hiện tốt hơn công tác khám chữa bệnh cho người nghèo, người
dân tộc thiểu số, ngày 23-3-2005, Bộ chính trị ra Nghị quyết số 46-NQ/TW về công
107
tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới. Cụ thể
hoá chủ trương trên, các tỉnh miền núi Đông Bắc đã tiến hành đầu tư xây dựng và
phát triển rộng khắp mạng lưới y tế từ tuyến tỉnh đến tuyến xã, đáp ứng nhu cầu
khám, chữa bệnh của nhân dân. Đến năm 2010, tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc-xin
cho trẻ em đạt trên 90%, 100% số xã đã có trạm xá xây dựng kiên cố hoặc nhà cấp
4, 100% xã có cán bộ y tá và tủ thuốc phục vụ cho hoạt động y tế. Các trung tâm y
tế huyện được xây dựng lại hoặc nâng cấp về trang thiết bị. Các chương trình mục
tiêu quốc gia, các dự án về y tế được triển khai đến tận thôn, xóm.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách y tế tại địa phương vẫn còn gặp rất
nhiều khó khăn: Việc xác định người nghèo chưa đầy đủ và chưa chính xác thông
tin dẫn đến tình trạng người nghèo chưa được cấp thẻ bảo hiểm y tế hoặc thẻ in
nhầm, thông tin không chính xác. Do vậy, mặc dù người nghèo, người dân tộc thiểu
số đã có thẻ bảo hiểm y tế nhưng vẫn không đi khám, chữa bệnh hoặc phải chi trả
tiền khi khám, chữa bệnh; đa số đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng
xa, đi lại khó khăn, cách xa trung tâm, xa các cơ sở y tế nên việc tiếp cận các dịch
vụ y tế còn gặp rất nhiều khó khăn.
Công tác bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số miền núi
Đông Bắc
Thực hiện các nghị quyết của Đảng, vấn đề bảo tồn và phát huy những giá
trị văn hoá trong các lễ hội dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số Đông Bắc
được đặt ra nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của các địa phương. Đồng thời,
với quan điểm, văn hoá góp phần phát triển kinh tế - xã hội, các địa phương đã
quan tâm đẩy mạnh công tác phát triển du lịch văn hoá nhằm vừa bảo tồn các giá
trị văn hoá, vừa góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân.
Tại Hà Giang, thực hiện Nghị quyết 01-NQ/TU ngày 10-04-2006 của Ban
chấp hành Đảng bộ tỉnh về đẩy mạnh phát triển du lịch Hà Giang đến năm 2015 và
Chương trình hành động số 35/CTHĐ-UB ngày 14-8-2006 của Uỷ ban nhân dân
tỉnh về Xây dựng các làng văn hoá du lịch cộng đồng tại các huyện, các làng văn
hoá du lịch cộng đồng tại Hà Giang đã được đầu tư và thu hút được một lượng
108
khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, lưu trú. Theo thống kê, đến tháng
12-2007: Thôn Tha (xã Phương Độ - Thị xã Hà Giang) có 1,102 lượt khách, doanh
thu đạt 38,61 triệu đồng; thôn Tiến Thắng (xã Phương Thiện - thị xã Hà Giang) 625
lượt khách với doanh thu 28,75 triệu đồng; thôn Bục Bản (Yên Minh - Hà Giang)
thu hút hơn 2,251 lượt khách thu được 95,86 triệu đồng… [92, tr.4].
Về phương diện ngôn ngữ dân tộc: Để duy trì ngôn ngữ các dân tộc tại các
tỉnh, bên cạnh việc đẩy mạnh tuyên truyền ý thức bảo tồn, lưu giữ, phát triển ngôn
ngữ dân tộc, các địa phương đã có các biện pháp như: Dạy song ngữ (tiếng Việt và
tiếng dân tộc địa phương); đài phát thanh, truyền hình các tỉnh phát các chương
trình bằng các thứ tiếng Tày, Nùng, Dao, Mông… Các sáng tác thơ, ca, kịch, tiểu
phẩm bằng nhiều thứ tiếng Tày, Nùng, Dao, Mông được đăng tải trên các phương
tiện thông tin đại chúng và xuất hiện trên sân khấu ngày càng nhiều.
Về chính sách hưởng thụ văn hoá: Ngày 14-8-2003, Thủ tướng Chính phủ ra
Quyết định số 170/2003/QĐ-TTg về chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá, trong đó
đặc biệt ưu tiên cho nhân dân ở các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng
xa. Quyết định nêu rõ, chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa bao gồm: Biểu diễn
nghệ thuật, chiếu phim nhựa hoặc băng hình; thư viện; thông tin lưu động; triển
lãm; bảo tàng, di tích.
Cụ thể hoá Quyết định trên, công tác văn hoá thông tin được tăng cường: khu
vực miền núi Đông Bắc năm 2010 với 36 đơn vị với 05 rạp chiếu phim [70, tr.687].
Bên cạnh đó, thư viện được xây dựng và trang bị cơ sở vật chất để hoạt động. Đến
năm 2010, trên toàn vùng miền núi Đông Bắc có 52 thư viện, với 747 nghìn đầu
sách [70, tr.684].
Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân
cư” là cuộc vận động rộng lớn mang tính chất toàn dân, toàn diện, toàn quốc đòi hỏi
phải có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của toàn bộ hệ thống chính trị trong quá trình
tổ chức, triển khai thực hiện. Trọng tâm của cuộc vận động này là xây dựng gương
người tốt, việc tốt, xây dựng gia đình và thôn bản, khối phố văn hoá. Chỉ tính riêng
Lạng Sơn, năm 2007, cả tỉnh có 86.080/156.224 hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá
(đạt 55%). Toàn tỉnh có 472/2.307 thôn, bản, khối phố đạt danh hiệu thôn, bản, khối
109
phố văn hoá (đạt 20,4%); có 994/1.302 cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hoá (đạt
76%) [60, tr.95].
Ngày 20-07-2006, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 975/2006/QĐ-
TTg về việc cấp một số loại báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi vùng
đặc biệt khó khăn. Quyết định nêu rõ: Nhà nước cấp không thu tiền một số loại báo,
tạp chí nhằm tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, phục vụ sự nghiệp phát
triển chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc
biệt khó khăn.
Thực hiện chủ trương trên, các hoạt động thông tin lưu động như chiếu bóng,
các hoạt động văn hoá được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Đối với các
xã vùng đặc biệt khó khăn, Nhà nước trang bị ti vi, tăng âm, loa đài… Kết hợp với
các hoạt động đó, Đài phát thanh truyền hình địa phương kết hợp với chương trình
VTV5- Đài truyền hình Việt Nam thường xuyên phát các bản tin bằng tiếng Mông,
Dao, Tày, Nùng để phục vụ đồng bào ở vùng sâu, vùng xa chưa thạo tiếng phổ
thông. Qua đó, góp phần là cho công tác tuyên truyền ngày càng thêm phong phú và
đạt hiệu quả thiết thực.
2.2.5. Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị tại cơ sở, đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số
Sau khi Nghị quyết số 17-NQ/TW về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ
thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn của Ban Chấp hành Trung ương khóa
IX ra đời, Đảng bộ, chính quyền các địa phương vùng Đông Bắc đã tổ chức các hội
nghị để phổ biến nội dung nghị quyết; đồng thời, bàn bạc, đề ra chương trình hành
động và các giải pháp tổ chức thực hiện nghị quyết. Thông qua việc học tập nghị
quyết, nhận thức của cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và
cán bộ đảng viên về vai trò, vị trí của hệ thống chính trị được nâng lên.
Tuy vậy, hệ thống chính trị vùng này vẫn còn những yếu kém và hạn chế
như: Hệ thống chính trị ở cơ sở tuy đã được kiện toàn, củng cố một bước song trình
độ, năng lực quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ xã còn nhiều hạn chế, công tác
phát triển Đảng ở một số cơ sở chưa được quan tâm. Bên cạnh đó, việc đào tạo, sử
dụng cán bộ trong hệ thống chính trị ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn bị
110
động; trình độ văn hóa, trình độ quản lý và năng lực điều hành công việc thực tiễn
của cán bộ cấp xã vùng dân tộc thiểu số miền núi còn nhiều hạn chế. Theo số liệu
thống kê của Tỉnh uỷ Lạng Sơn, năm 2004, trình độ văn hoá của đội ngũ cán bộ còn
thấp: Trong số 3847 cán bộ xã, phường, thị trấn, số có trình độ trung học phổ thông
1837 đồng chí (chiếm 47,75%), số có trình độ trung học cơ sở 1839 đồng chí
(chiếm 47,8%), số có trình độ tiểu học 171 đồng chí (4,45%). Trình độ chuyên môn,
có 60 đồng chí (chiếm 1,6%) có trình độ đại học, 22 đồng chí (chiếm 0,6%) có trình
độ cao đẳng, 798 đồng chí (chiếm 20%) có trình độ trung cấp chuyên môn. Trong
số cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn (Bí thư, Phó bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân) mới có 49,96% học hết trung học phổ thông;
15,74% có trình độ chuyên môn từ sơ cấp trở lên, trong đó trình độ đại học chỉ
chiếm 3,23% [57].
Nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn cán bộ dân tộc thiểu số phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Nhà nước đã
quan tâm đầu tư xây dựng, phát triển hệ thống các trường dân tộc nội trú và các
trường thuộc hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức Nhà nước khác. Đến
năm 2010, tại 4 tỉnh miền núi Đông Bắc có 4 trường dân tộc nội trú cấp tỉnh và các
trường dân tộc nội trú cấp huyện. Ngoài ra, còn có trường phổ thông Vùng cao Việt
Bắc và trường Dự bị Đại học Việt trì. Đây là những cơ sở góp phần cơ bản đào tạo
đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, một đặc điểm dễ thấy ở các tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam đó
là số người dân tộc thiểu số luôn chiếm tỷ lệ lớn, trong khi đó, chỉ tiêu xét tuyển vào
các trường dân tộc nội trú lại có hạn. Vì vậy, một giải pháp cho vấn đề này đó là các
trường trung học phổ thông của địa phương đảm nhận vai trò đào tạo cán bộ để tạo
nguồn cán bộ.
Công tác cử tuyển học sinh người dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa cũng
luôn được Nhà nước quan tâm. Công tác xét tuyển diễn ra tại các tỉnh được thực
hiện theo Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14-11-2006 của Chính phủ quy định
chế độ cử tuyển vào các trường, cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung
cấp chuyên nghiệp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
111
Đối với những học sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách
mạng, vùng dân tộc thiểu số hoặc là người dân tộc thiểu số mà chưa đủ điều kiện
được xét tuyển vào học tại các trường Đại học, Cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp
thì khi tham gia thi tuyển sinh vào các trường này, Nhà nước thực hiện chính sách
ưu tiên theo đối tượng hoặc khu vực trong kỳ thi tuyển sinh Đại học và Cao đẳng
hàng năm. Những em thuộc diện ưu tiên có điểm đầu vào sẽ thấp hơn những em
không thuộc diện ưu tiên. Thực hiện chủ trương đó, trong 6 năm 2005- 2010, tỉnh
Lạng Sơn đã cử tuyển 251 chỉ tiêu được đào tạo tại 20 trường đại học [Phụ lục 15].
Trong quá trình đào tạo, học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số có thành
tích tốt trong học tập được cấp học bổng và trợ cấp xã hội theo Quyết định số
194/2001/QĐ-TTg ngày 21-12-2001 của Thủ tướng Chính phủ và được điều
chỉnh tại Quyết định số 82/2006/QĐ-TTg ngày 14-04-2006. Theo Quyết định này,
mức học bổng được điều chỉnh từ 160.000 đồng/người/tháng lên 280.000
đồng/người/tháng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2006.
Trong 5 năm (2006 - 2010), riêng tỉnh Hà Giang đã thực hiện chính sách
miễn giảm học phí, các khoản đóng góp cho 602.603 lượt học sinh; trợ cấp xã hội
và tiền ăn cho 177.672 lượt học sinh phổ thông dân tộc nội trú và bán trú dân nuôi;
cấp phát sách giáo khoa, vở viết, dụng cụ học tập miễn phí cho 469.470 lượt học
sinh [97, tr.11]. Các chính sách ưu tiên trong giáo dục đối với con em các dân tộc
thiểu số thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với nguồn cán bộ
dân tộc thiểu số. Đồng thời, tạo cơ hội lớn để hàng chục nghìn con em các dân tộc
thiểu số được vào học tại các trường Đại học và Cao đẳng, trở thành nguồn cán bộ
trên nhiều lĩnh vực.
Song song với công tác tạo nguồn cán bộ, các địa phương luôn tạo điều kiện
để đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên đối với đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. Ngày
07-01-2004, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 03/2004/QĐ-TTg về việc phê
duyệt định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị
trấn đến năm 2010. Quyết định 03/2004/QĐ-TTg xác định mục tiêu chung đến năm
2010 là: Xây dựng, chuẩn hóa và từng bước trẻ hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã, đặc biệt là cán bộ chủ chốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất và
112
năng lực, bảo đảm đủ về số lượng, tiêu chuẩn, đồng bộ về cơ cấu, trình độ, tính kế
thừa giữa các thế hệ nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ
sở xã, phường, thị trấn.
Hệ thống chính trị ở cơ sở vùng biên giới được củng cố vững mạnh là yếu
tố cơ bản góp phần phát triển kinh tế - xã hội, từ đó tạo thêm lòng tin của nhân dân
đối với Đảng và Nhà nước, ngăn chặn có hiệu quả âm mưu phá hoại của kẻ thù,
bảo vệ vững chắc đường biên, mốc giới của Tổ quốc,củng cố an ninh, quốc phòng.
Chính vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ
hệ thống chính trị cơ sở, vùng cao, biên giới, cán bộ người dân tộc thiểu số được
các địa phương đặc biệt quan tâm. Tại tỉnh Hà Giang đã tiến hành đào tạo cao cấp
chính trị cho 445 học viên (228 học viên người dân tộc thiểu số), trường Chính trị
tỉnh Hà Giang đã mở 27 lớp trung cấp chính trị với tổng số 1.772 học viên (1.168
học viên)…
Về chuyên môn, tỉnh Hà Giang đã liên kết đào tạo bậc đại học cho 453 học
viên là cán bộ xã và cán bộ chưa có bằng đại học (369 học viên người dân tộc thiểu
số), cử cán bộ đi bồi dưỡng ngạch chuyên viên cao cấp với 65 học viên (11 học viên
người dân tộc thiểu số); cử đi bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính với tổng số 450
học viên (150 học viên người dân tộc thiểu số) [55].
Để mỗi cán bộ, công chức công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền
núi, vùng sâu, vùng xa đạt hiệu quả, ngày 09-11-2004, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ
thị số 38/2004/CT-TTg về việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số
đối với cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc, miền núi. Nhằm tạo nên sự
thống nhất trong nội dung, chương trình học tiếng dân tộc thiểu số, ngày 24-1-2006,
Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Quyết định số 03-QĐ/BGDĐT ban hành chương trình
khung dạy tiếng dân tộc thiểu số (có chữ viết) cho cán bộ, công chức công tác ở
vùng dân tộc thiểu số. Đây là điều kiện thuận lợi giúp cho các cán bộ vùng dân tộc
thiểu số công tác đạt hiệu quả cao hơn tại cơ sở.
Tuy nhiên, để cán bộ, giáo viên yên tâm công tác, Nhà nước cần có chính
sách đãi ngộ, ưu tiên đối với cán bộ người dân tộc thiểu số và người Kinh lên công
tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.
113
2.2.6. Xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân
vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Một trong những thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn
biến hoà bình” đó chính là truyền đạo trái phép bằng mọi con đường vào vùng
đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta. Để thực hiện âm mưu đó, chúng đã lợi dụng
những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của các cấp, các
ngành để tạo dựng và khoét sâu các mâu thuẫn. Bên cạnh đó, chúng sử dụng lợi
ích vật chất để lôi kéo bà con các dân tộc thiểu số theo đạo, chối bỏ truyền thống
văn hoá của dân tộc mình. Hiện tượng truyền đạo Tin Lành trái pháp luật xuất
hiện chủ yếu ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số Mông, Dao. Kẻ xấu lợi
dụng tuyên truyền, phát tán tài liệu xúi giục đồng bào theo đạo Tin Lành (Vàng
Chứ với người Mông và Thìn Hùng với người Dao). Ngoài ra, một số đồng bào
theo tà đạo Dương Văn Mình.
Hậu quả của việc truyền đạo trái pháp luật là làm cho tình hình lao động sản
xuất, tinh thần đồng bào bị ảnh hưởng, bản sắc văn hoá, truyền thống tốt đẹp bị xói
mòn, làm giảm lòng tin của nhân dân các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước. Theo
thống kê, chỉ trong năm 2002, đồng bào Mông theo đạo Tin Lành ở tỉnh Hà Giang
là 2.251 người, tại tỉnh Bắc Kạn là 11.519 người.
Trước tình hình trên, các địa phương đã chỉ đạo các cấp, các ngành phối hợp
chặt chẽ, đồng bộ, thực hiện bám dân, bám địa bàn trọng điểm, nắm chắc tình hình
cơ sở, thực hiện “ba cùng” với đồng bào. Tổ chức tập huấn, tuyên truyền, vận động
quần chúng nhân dân hiểu về quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Kiên quyết đấu tranh, ngăn
chặn, xử lý các đối tượng truyền đạo trái pháp luật. Vận động những người do bị
lừa gạt ép buộc theo đạo trái pháp luật tự giác bỏ đạo trở về lao động sản xuất, ổn
định cuộc sống. Các địa phương cũng tích cực xây dựng các chuyên mục truyền
hình bằng tiếng Mông, Dao với nội dung phản ánh trực tiếp sinh hoạt hàng ngày
của đồng bào, trong đó tập trung tuyên truyền gương làm kinh tế giỏi, các chương
trình văn nghệ bằng tiếng Mông, Dao, tổ chức các đội chiếu bóng lưu động, các
đoàn nghệ thuật phục vụ đồng bào. Thông qua các dịp lễ, Tết cổ truyền, các địa
114
phương vận động đồng bào tham gia các hoạt động vui chơi, văn hoá văn nghệ
nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền
đặc biệt quan tâm phát huy vai trò của người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc
thiểu số, phát huy vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở theo tinh thần của Chỉ thị số
06/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Qua đó, kịp thời ngăn chặn và giảm cơ
bản tình trạng di cư tự do, từng bước ngăn chặn việc truyền đạo trái pháp luật và
tình trạng phá rừng làm nương rẫy trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Cùng với công tác tuyên truyền, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân và lực lượng
chức năng các địa phương đã tích cực đấu tranh chống lại các hoạt động truyền đạo
trái pháp luật ở vùng đồng bào miền núi Đông Bắc.
Trước thực trạng ở một số huyện, xã, các hộ theo đạo Tin Lành trái pháp luật
treo thánh giá bằng vải có kích thước và quy cách giống nhau, tự tổ chức nhóm lễ
vào sáng chủ nhật hàng tuần, đọc kinh thánh và hát thánh ca, Tỉnh uỷ các địa
phương đã tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Tại tỉnh Hà Giang, với sự vào
cuộc tích cực của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân, các lực lượng chức năng và sự ủng hộ
của quần chúng nhân dân, số hộ đồng bào dân tộc Mông, Dao theo đạo Tin Lành
trái pháp luật đã giảm dần. Tính từ năm 2004 đến 2010, các lực lượng vũ trang của
tỉnh đã thực hiện 9 nghiệp vụ đấu tranh với hoạt động tuyên truyền trái pháp luật,
ngăn chặn 25 vụ tụ tập học đạo trái phép, thu giữ 350 tài liệu trái phép, 24 băng đĩa
hình có nội dung truyền đạo trái pháp luật, tuyên truyền thành lập “Vương quốc
Mông” [55].
Công tác phòng, chống đấu tranh chống các loại tội phạm, bảo vệ chủ quyền
an ninh biên giới được đẩy mạnh và thu được nhiều kết quả tích cực.
Vùng biên giới nước ta nói chung, tuyến biên giới của miền núi Đông Bắc
nói riêng có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, đối ngoại và an ninh quốc phòng.
Đây là nơi cư trú chủ yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, địa hình
phức tạp, hẻo lánh, thời tiết khắc nghiệt, cuộc sống mọi mặt của đồng bào rất khó
khăn, thiếu thốn, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu, đội ngũ cán bộ ở
thôn, bản vừa thiếu, vừa hạn chế về năng lực lãnh đạo, trình độ quản lý vận động
quần chúng. Cùng với đó, bọn buôn lậu qua biên giới, buôn bán phụ nữ trẻ em, bọn
115
lâm tặc, truyền đạo trái pháp luật, đặc biệt là các thế lực thù địch, phản động từng
ngày, từng giờ lợi dụng xâm nhập, kích động, lôi kéo đồng bào, tập hợp lực lượng
nhằm chống phá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
Trước tình hình đó, thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị, các địa phương đã cụ thể hoá nghị quyết vào tình hình thực tiễn của địa phương và tổ chức thực hiện có hiệu quả.
Với quan điểm, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, công tác bảo vệ Tổ quốc được Đảng bộ, chính quyền các địa phương ở các tỉnh miền núi Đông Bắc xác định là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ đó, công tác vận động quần chúng nhân dân tham gia là một trong những việc làm quan trọng nhất. Nhận thức được điều này, trong những năm 2006 - 2010, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền các địa
phương, công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia bảo vệ Tổ quốc được đẩy mạnh. Đồng thời, kết hợp sự hỗ trợ đầu tư của Chính phủ, các bộ ngành Trung ương, nguồn ngân sách địa phương và phát huy nội lực của nhân dân, các địa phương đã tập trung ưu tiên đầu tư cho các xã biên giới. Đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng gắn với việc bảo vệ đường biên, cột mốc, xây dựng phong trào quần chúng như “Tổ an ninh tự quản thôn bản”, “phong trào thanh niên làm chủ đường biên”, trên tuyến biên giới; tăng cường xây dựng củng cố cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo. Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào ở vùng biên giới ngày càng được cải thiện theo hướng bền vững.
Tiểu kết chương 2
Nhờ các chính sách hỗ trợ, đầu tư của Trung ương và địa phương cùng sự nỗ
lực phấn đấu của bà con các dân tộc nên vùng đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều đổi
thay rõ nét. Một số vùng đã có những bước phát triển theo hướng hàng hóa, hình
thành những vùng chuyên canh, trang trại. Những nơi khó khăn đang được quy
hoạch, sắp xếp lại, hỗ trợ sản xuất, giúp đồng bào định canh, định cư ổn định cuộc
sống. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thay đổi rõ rệt. Giá trị văn hóa truyền thống các
dân tộc được bảo tồn và phát huy; Hệ thống trường, lớp học và trạm y tế ngày càng
được hoàn thiện.
116
Mặc dù kết quả đạt được là rất lớn, song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần tiếp
tục được khắc phục như: Các chính sách vẫn theo tư duy nhiệm kỳ, thiếu gắn kết giữa
các giải pháp ngắn hạn với trung hạn và dài hạn; nhiều chính sách đã kết thúc nhưng
mục tiêu chưa đạt do việc cấp vốn không đủ; nhiều chính sách còn chồng chéo, cách
thức đầu tư, hỗ trợ chưa hợp lý, chưa khuyến khích người dân tự vươn lên; việc phân
công chủ trì chỉ đạo thực hiện giữa các Bộ, ngành đối với một số chính sách chưa
chặt chẽ, hợp lý; công tác chỉ đạo, thực hiện ở một số địa phương còn lúng túng;…
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả các chính sách hỗ trợ, đầu tư cho vùng dân tộc
thiểu số, Đảng và Nhà nước cần có những định hướng lớn như: Tập trung xây dựng
cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho vùng dân tộc và miền núi, nhất là các công trình
trọng điểm để phục vụ đời sống và sản xuất. Giải quyết tốt vấn đề đất ở, đất sản xuất,
nước sinh hoạt cho người dân vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn cũng như
tình trạng di dân tự do. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, đội ngũ cán bộ
làm công tác dân tộc từ Trung ương đến các địa phương. Nâng cao chất lượng giáo
dục và đào tạo, chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân, chất lượng nguồn nhân lực
để đảm bảo sự phát triển bền vững của vùng dân tộc và miền núi. Cần đảm bảo
nguồn lực đầu tư cho các chính sách đã được ban hành, tránh đầu tư dàn trải, lãng
phí; điều chỉnh lại cơ chế quản lý thực hiện chính sách dân tộc theo hướng xây dựng
chương trình, chính sách tổng hợp, đa mục tiêu, dài hạn.
117
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM VỀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
3.1. MỘT SỐ NHẬN XÉT 3.1.1. Thành tựu và nguyên nhân
3.1.1.1. Đánh giá thành tựu
Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”
giữa các dân tộc là mục tiêu và chính sách xuyên suốt, nhất quán của Đảng và Nhà
nước Việt Nam. Điều đó không chỉ xuất phát từ yêu cầu phải giữ vững khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia mà chính là xuất phát
từ bản chất của chế độ của dân, do dân và vì dân.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, Đảng và Nhà nước
luôn coi trọng vấn đề phát huy nội lực của vùng đồng bào dân tộc thiểu số thông
qua các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư; đồng thời, huy động sự hợp tác, giúp đỡ
của các vùng khác, của nhân dân cả nước đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số
miền núi Đông Bắc Việt Nam.
Trong những năm 1996 - 2010, quá trình thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng tại vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam đã đạt được một số ưu điểm
nổi bật sau:
Một là: Nhận thức của Đảng và các Đảng bộ địa phương về vị trí, vai trò
của chính sách dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc ngày càng rõ nét hơn,
ngày càng coi vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc là vấn đề “chiến lược, cơ bản, lâu
dài” của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước không chỉ vì lợi ích của các dân
tộc thiểu số, mà còn vì cộng đồng, vì cả nước; không những là vấn đề đối nội mà
còn liên quan tới cả đối ngoại. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước là chính
sách toàn diện, tác động đến tất cả các lĩnh vực chính trị - xã hội, kinh tế, quốc
phòng và môi trường sinh thái của cả nước.
118
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước
những cơ hội và thách thức mới, vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc đã có những
diễn biến phức tạp ở một số vùng, trong đó có vùng miền núi Đông Bắc Việt
Nam. Các thế lực thù địch tìm mọi cách chống phá cách mạng, phá hoại tình đoàn
kết, thống nhất giữa các dân tộc. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã kịp
thời hoạch định đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn vùng đồng
bào dân tộc.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định:
“Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn. Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết, tương
trợ” giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước” [19, tr.125].
Đại hội IX (2001), Đại hội X (2006) của Đảng một lần nữa khẳng định và
nhấn mạnh chủ trương coi vấn đề dân tộc có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự
nghiệp cách mạng Việt Nam.
Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong
sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam
bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng nhau
thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [24, tr.121].
Đại hội nêu định hướng:
Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm
nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá,
tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng
biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và
xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn
phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng. Củng cố và nâng cao
chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số;
động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc.
Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là
119
người dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền
núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân
tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ
dân tộc [24, tr.122].
Với định hướng này, chính sách dân tộc thực hiện trên các lĩnh vực phát triển
kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng được đẩy mạnh. Tại Đại hội XI
(2011), Đảng ta đã có thêm một bước phát triển tư duy quan trọng với việc chuyển
từ “cùng tiến bộ” [24, tr.121] sang “cùng phát triển” [25, tr.81], tức là đã có sự điều
chỉnh, mặc dù chỉ là cách diễn đạt, cho chuẩn xác và phù hợp hơn.
Điểm lại sự đổi mới tư duy trong quá trình hoạch định chính sách dân tộc của
Đảng trên đây, cho phép tác giả khẳng định: đây là một bước ngoặt đáng ghi nhận
của Đảng trong đổi mới tư duy, nhận thức về vai trò của chính sách dân tộc đối với
vùng dân tộc và miền núi.
Thực ra, chính sách dân tộc không phải đến giai đoạn 1996 - 2010 mới được
đặt ra, mà đã được quan tâm từ rất lâu. Từ khi ra đời đến nay, Đảng và Nhà nước Việt
Nam luôn xác định vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược của cách mạng trên nền tảng
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong từng giai đoạn cách mạng,
vấn đề dân tộc được nhận thức và giải quyết theo các quan điểm cụ thể, phù hợp với
tình hình thực tiễn đặt ra. Từ Đại hội I đến Đại hội X của Đảng, vấn đề dân tộc luôn
được quan tâm và không thể thiếu trong định hướng quan điểm, đường lối giải quyết.
Giai đoạn 1996 - 2010, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã quan tâm nhiều hơn
đến lĩnh vực này. Điều đó được thể hiện trong nhiều văn bản đã được tác giả hệ
thống hoá ở chương 1, chương 2 của luận án. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ
bảy Ban chấp hành Trung ương khoá IX về công tác dân tộc nêu lên 5 quan điểm, 5
nhiệm vụ và 4 giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn công tác dân tộc trong thời kỳ mới.
Nghị quyết cho rằng “nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị, các
cấp, các ngành và toàn thể xã hội về vị trí, nhiệm vụ của công tác dân tộc” [23,
tr.41] là giải pháp quan trọng nhất. Những chủ trương, định hướng lớn của Đảng về
chính sách dân tộc đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các chương trình,
dự án nhằm phát triển kinh tế - xã hội tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên cả
120
nước nói chung và vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam nói riêng. Từ đó, mang lại
lợi ích thiết thực cho nhân dân các dân tộc, đảm bảo cho các tỉnh miền núi phát triển
bền vững trên cơ sở ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, củng cố
quốc phòng - an ninh.
Vấn đề bình đẳng dân tộc trở thành mối quan tâm hàng đầu và giữ vị trí
chiến lược trong tổng thể công tác dân tộc. Chính sách dân tộc của Đảng hướng tới
mục tiêu đảm bảo quyền bình đẳng và rút ngắn khoảng cách chênh lệch về sự phát
triển giữa đồng bào dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, giữa miền núi với miền xuôi.
Trong thực tế, các cấp, các ngành, các địa phương luôn coi trọng vấn đề bình đẳng
giữa các dân tộc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Hiện nay, trước tác động từ
mặt trái của nền kinh tế thị trường, khoảng cách giàu - nghèo, sự phân biệt giữa
miền núi - miền xuôi ngày càng thêm sâu sắc; nhu cầu bình đẳng trong phát triển
của mọi vùng, mọi dân tộc và mọi người dân đang là một thách thức; yêu cầu bảo
vệ môi trường, bản sắc văn hóa và những giá trị truyền thống ngày càng đặt ra cấp
bách; cạnh tranh nguồn lực cũng trở nên gay gắt hơn. Tình hình đó đặt ra yêu cầu
bức thiết cần phải đổi mới căn bản công tác hoạch định chính sách dân tộc nhằm
đáp ứng yêu cầu thực tiễn, hướng tới thực hiện quyền bình đẳng dân tộc một cách
toàn diện, tạo tiền đề để miền núi tiến kịp miền xuôi.
Trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở các tỉnh miền núi
Đông Bắc, Đảng đã có những đổi mới trong nhận thức về thực hiện nguyên tắc bình
đẳng dân tộc. Đó không chỉ đơn giản là sự công bằng, bình đẳng trong phân phối
thu nhập, lợi ích kinh tế mà còn là công bằng, bình đẳng về cơ hội phát triển kinh tế,
văn hóa, giáo dục đối với cá nhân, cộng đồng.
Đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn đổi mới, nhận thức của Đảng
về vấn đề dân tộc gắn với sự ổn định, phát triển bền vững của các tỉnh miền núi
Đông Bắc ngày càng được định hình rõ nét. Khi giải quyết vấn đề dân tộc, cũng như
đấu tranh chống sự chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch, đòi hỏi phải nhìn nhận
vấn đề dân tộc gắn chặt với tình hình chính trị, sự tồn tại, ổn định của quốc gia. Đặc
biệt, trong bối cảnh toàn cầu hoá với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng
thông tin, vấn đề dân tộc vượt qua khỏi phạm vi quốc gia và trở thành vấn đề quốc
121
tế. Tư tưởng dân tộc hẹp hòi, cực đoan đang kéo theo bạo lực gây ra những điểm
nóng trên thế giới, phá vỡ nhiều quốc gia. Do đó, khi giải quyết vấn đề dân tộc ở
miền núi Đông Bắc - nơi có đường biên giới kéo dài, nơi sinh sống chủ yếu của
đồng bào dân tộc thiếu số, phải chú ý đến công tác an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ
quyền biên giới lãnh thổ, chăm lo và phát huy tinh thần đoàn kết của đồng bào các
dân tộc vùng biên, phải “thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền
núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng, làm tốt công tác
định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới” [24, tr.122].
Có thể nói, vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo dễ cộng hưởng thành chủ đề
thời sự nóng bỏng trong đời sống chính trị - xã hội của mỗi quốc gia - dân tộc. Do
đó, Đảng phải nhận thức thấu đáo và giải quyết một cách đúng đắn, chuẩn xác vấn
đề này thông qua cơ chế, chính sách, vì lợi ích và quyền làm chủ của người dân, lợi
ích chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Hai là: Việc thực hiện chính sách dân tộc đã góp phần thúc đẩy kinh tế vùng
miền núi Đông Bắc phát triển
Việc thực hiện tốt chính sách dân tộc đã tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã
hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phát huy thế mạnh của miền núi, khai thác mọi
nguồn lực của từng địa phương, góp phần khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát
triển giữa các vùng, miền. Văn kiện Đại hội IX chỉ rõ, đối với trung du và miền núi
Bắc Bộ (Tây Bắc và Đông Bắc):
Phát triển mạnh cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, cây đặc sản,
chăn nuôi đại gia súc gắn với chế biến…
Phát triển công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, nông sản, lâm
sản, chú trọng chế biến xuất khẩu. Hình thành một số cơ sở công nghiệp
lớn theo tuyến đường 18 gắn với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Phát
triển nhanh các loại dịch vụ, chú trọng thương mại. Nâng cấp các tuyến
đường trục từ Hà Nội đi các tỉnh biên giới, hoàn thành các tuyến đường
vành đai biên giới và các đường nhánh. Phát triển thuỷ lợi nhỏ gắn với
thuỷ điện nhỏ, giải quyết việc cấp nước sinh hoạt và điện cho đồng bào
vùng cao [22, tr.185-186].
122
Kết quả tích cực nhất trên lĩnh vực kinh tế là góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế vùng dân tộc và miền núi theo hướng phát triển mạnh kinh tế hàng hoá, tăng
nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp trong cơ
cấu GDP.
Trong giai đoạn 2005 - 2008, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình toàn vùng
đạt 11,7%. Cơ cấu kinh tế vùng chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng
công nghiệp, dịch vụ; giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp. Năm 2010, tỷ trọng
ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 34,09%; công nghiệp - xây dựng chiếm
28,64%; dịch vụ chiếm 36,98%. Tính riêng tại tỉnh Lạng Sơn, năm 2008, tỷ trọng
ngành nông - lâm nghiệp chiếm 39,34%, công nghiệp - xây dựng chiếm 21,39%,
ngành dịch vụ chiếm 39,27% (so với năm 2000 là: 51,04%; 12,59%; 36,37%) [119,
tr.56-57]. Cơ cấu kinh tế vùng tiếp tục có sự chuyển dịch tương đối nhanh theo
hướng chuyển dịch từ sản xuất mang tính tự cấp tự túc sang hình thành một số vùng
sản xuất hàng hoá.
Thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, các tỉnh miền
núi Đông Bắc từng bước có sự điều chỉnh quan hệ sản xuất, cụ thể:
Đối với kinh tế Nhà nước: Các doanh nghiệp Nhà nước từng bước được sắp
xếp lại theo hướng tinh gọn và nâng cao hiệu quả hoạt động. Một số doanh nghiệp
đã thích ứng với cơ chế mới, vươn lên làm giàu, đóng góp vào ngân sách địa
phương và giải quyết việc làm cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số.
Đối với kinh tế tập thể: Các hợp tác xã đã hoàn thành thủ tục chuyển đổi theo
Luật hợp tác xã. Hầu hết các tỉnh đều có các hợp tác xã và xã viên là đồng bào dân
tộc tham gia. Ở các tỉnh như Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang…, đã có nhiều
hợp tác xã có 100% số xã viên là đồng bào dân tộc. Hợp tác xã nông, lâm nghiệp
Sơn Nam, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) thu hút 1.353 hộ/1.637 hộ tham gia
hợp tác xã, chiếm 83% số hộ toàn xã, trong đó có 40% là người dân tộc Sán Dìu,
Dao, tham gia và giải quyết việc làm cho 3.747 lao động. Với bản chất là tổ chức tự
trợ giúp và phát triển cộng đồng của người dân, gắn chặt với các địa bàn dân cư, các
hợp tác xã đã góp phần tạo ra việc làm, tăng thêm thu nhập, qua đó góp phần xoá
123
đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và văn hoá của đồng bào
vùng dân tộc và miền núi.
Đối với kinh tế tư nhân: Số lượng doanh nghiệp tư nhân ở các tỉnh miền núi
Đông Bắc tăng lên nhanh chóng sau khi có Luật doanh nghiệp ra đời. Năm 2010, số
cơ sở kinh tế cá thể sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp đã lên tới 118.053 cơ sở,
tăng hơn 2 lần so với năm 2000 [70, tr.282].
Đối với loại hình kinh tế trang trại: Loại hình kinh tế này phát triển nhanh
chóng cả về số lượng và quy mô. Đến năm 2010, toàn vùng đã có 2544 trang trại,
tăng 65,9% so với năm 2005. Đây cũng là khu vực kinh tế thu hút đông lao động
người dân tộc thiểu số, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào
địa phương [72, tr.309].
Cùng với việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kết cấu hạ tầng nông
nghiệp, nông thôn các tỉnh miền núi ngày càng được cải thiện.
Hệ thống đường giao thông liên tỉnh, liên huyện được nâng cấp. Hàng năm,
các tỉnh tiến hành bảo dưỡng, bảo đảm đi lại thuận tiện cả mùa khô và mùa mưa.
Nếu như năm 1990, mới có 35% số xã có đường giao thông đến trung tâm xã thì
đến 2001 tỷ lệ này đã đạt 97,3%, đặc biệt một số tỉnh đạt 100% như: Hà Giang,
Tuyên Quang, Quảng Ninh, Lạng Sơn [2, tr.139]. Sự phát triển của hệ thống giao
thông tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào tiếp cận thị trường, mở rộng giao lưu
văn hoá, giáo dục, y tế, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa miền núi và miền xuôi.
Một trong những thế mạnh của miền núi Đông Bắc được khai thác đúng
hướng là phát triển năng lượng. Tốc độ tăng trưởng ngành điện đạt 69%. Năm
2010, 100% tỉnh lỵ, thị xã, 98% số huyện, 64% số xã các địa phương đã có điện
lưới quốc gia [2, tr.139]. Bên cạnh đó, các địa phương cũng đẩy mạnh việc khai
thác thuỷ điện vừa và nhỏ, sử dụng năng lượng mặt trời… Hệ thống điện lưới về tận
thôn bản đã góp phần nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho đồng bào các dân
tộc, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh.
Để giảm bớt khó khăn trong sản xuất và sinh hoạt cho đồng bào, nhiều công
trình thuỷ lợi kết hợp thuỷ điện có quy mô vừa và nhỏ, kết hợp thuỷ lợi với giải
quyết nước sinh hoạt cho đồng bào đã được xây dựng. Những nơi có địa hình cao,
124
Nhà nước đã đầu tư thuỷ lợi nhỏ, đồng thời vận động đồng bào các dân tộc đào ao,
hồ để chủ động tưới tiêu, phục vụ sản xuất. Đối với Hà Giang - tỉnh có khó khăn
đặc biệt về nước sản xuất và nước sinh hoạt, Thủ tướng Chính phủ đã đầu tư xây
dựng 30 hồ treo tại 4 huyện vùng cao: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ.
Thông qua các chương trình, dự án, nhất là Chương trình 135, cơ sở vật chất
của vùng miền núi Đông Bắc được nâng lên rõ rệt. Hệ thống các trường, trạm được
xây dựng khang trang, thiết bị phục vụ hoạt động được đầu tư đồng bộ. Các trường
phổ thông dân tộc nội trú được đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho con
em các dân tộc thiểu số đến lớp.
Trong sản xuất nông, lâm nghiệp: Sự phát triển của kết cấu hạ tầng nông
nghiệp, nông thôn miền núi đã tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Với sự
đổi mới chính sách nông nghiệp, lâm nghiệp và tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào sản xuất, bộ mặt nông thôn miền núi có sự thay đổi theo hướng
tích cực:
Về trồng trọt, với quan điểm tập trung khai thác tiềm năng ở khu vực có điều
kiện, những vùng sản xuất lương thực kém hiệu quả cần chuyển sang phát huy các
thế mạnh như trồng rừng, phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi.
Nhờ quan điểm đúng đắn trên, mặc dù diện tích đất nông nghiệp bị thu
hẹp nhưng sản xuất lương thực miền núi vẫn đảm bảo. Giá trị sản xuất nông
nghiệp năm 2010 tại 4 tỉnh miền núi Đông Bắc đạt 3825,1 tỷ đồng. Bình quân
lương thực đầu người tăng từ 289,1kg/năm năm 2000 lên 415 kg/năm năm 2010,
tăng 69,6% [72, tr.316].
Các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả tập trung được hình
thành với nhiều sản phẩm được xuất khẩu ra thị trường thế giới. Trên địa bàn các
tỉnh miền núi Đông Bắc, vùng sản xuất chè gắn với cơ sở chế biến, tập trung chủ
yếu ở tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng; sản xuất hồi ở tỉnh Lạng Sơn….
Bên cạnh đó, nhiều vùng cây ăn quả được hình thành và phát triển nhanh như cam
(Hà Giang, Tuyên Quang), quýt (Bắc Kạn), na (Lạng Sơn),…
Về chăn nuôi: Trước đây, chăn nuôi gia súc chủ yếu phục vụ cho nhu cầu
cung cấp sức kéo, đến năm 2010, nhiều địa phương đã phát triển theo hướng sản
125
xuất hàng hoá. Quy mô đàn gia súc có sự phát triển mạnh mẽ. Năm 2010, số lượng
đàn trâu là 486,7 nghìn con [72, tr.377], đàn bò là 300,7 nghìn con [72, tr.379]. Sản
lượng thực phẩm nhờ đó cũng tăng cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản không ngừng được mở rộng. Năm 2010 đạt
22 nghìn ha, trong đó, tỉnh Quảng Ninh có diện tích lớn nhất, đạt 19,1 nghìn ha. Giá
trị sản xuất thuỷ sản năm 2010 đạt 671,2 tỷ đồng [72, tr.410].
Lâm nghiệp: Nghề rừng được coi là một thế mạnh của toàn vùng. Trong thời
kỳ đổi mới, chính sách phát triển rừng được thực hiện theo hướng trồng mới, kết
hợp với tái sinh tự nhiên và chú trọng bảo vệ rừng đầu nguồn. Đến năm 2010, tổng
diện tích đất rừng toàn vùng là 1.501,5 nghìn ha, trong đó, trồng mới 69,5 nghìn ha,
tỷ lệ độ che phủ đạt 50% [72, tr.386]. Đây là hướng đi đúng, kết hợp bảo vệ đi đôi
với sản xuất hàng hoá từ rừng. Thực tế cho thấy, nhiều vùng dân cư đã có thể sống
bằng nghề rừng, trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng, khai thác lâm nghiệp để đổi lấy
lương thực và các sản phẩm hàng hoá khác.
Với kết quả đạt được ở miền núi Đông Bắc trên các lĩnh vực sản xuất nông,
lâm nghiệp, thuỷ sản chứng tỏ việc ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật,
giống, cây trồng mới vào sản xuất đã mang lại hiệu quả thiết thực, bước đầu tháo gỡ
những khó khăn trong vấn đề lương thực, bảo vệ và tăng độ che phủ của rừng, tăng
giá trị các sản phẩm hàng hoá.
Sản xuất công nghiệp: Đây là lĩnh vực được Đảng bộ, chính quyền các địa
phương rất quan tâm. Trên quan điểm, công nghiệp phát triển là cơ hội để thúc đẩy
sản xuất nông, lâm nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo tiền đề đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn miền núi, tạo việc làm,
tăng thu nhập cho đồng bào, các tỉnh miền núi Đông Bắc đã tập trung đầu tư, phát
triển các ngành công nghiệp: công nghiệp khai thác, công nghiệp năng lượng, công
nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng. Giá trị sản xuất công
nghiệp năm 2010 đạt 85.797,9 tỷ đồng, trong đó, tỉnh Quảng Ninh đạt mức cao nhất
với 80.347,6 tỷ đồng [72, tr.438].
Về thủ công nghiệp: Bên cạnh việc chú trọng mở mang các ngành nghề truyền
thống như dệt thổ cẩm, đan lát tre, nứa, rèn, chạm khắc trang sức bằng bạc…, các địa
126
phương quan tâm đầu tư, mở rộng phát triển các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Đây là
hướng đi đúng, góp phần tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào các dân tộc
thiểu số trong vùng. Tuy nhiên, do năng lực sản xuất hạn chế, mẫu mã, chủng loại
chưa phong phú nên tốc độ phát triển các ngành thủ công nghiệp thấp.
Về thương mại, dịch vụ: Trong nền kinh tế tự cấp, tự túc, hệ thống chợ phiên
tại các địa phương đã tạo điều kiện cho người dân trao đổi về một số sản phẩm thiết
yếu như dầu hoả, muối ăn… Thông qua các chương trình, dự án, hệ thống chợ
phiên được đầu tư xây dựng, phát triển rộng khắp. Đó không chỉ là thị trường trao
đổi hàng hoá mà còn là nơi giao lưu tình cảm, sinh hoạt văn hoá của đồng bào các
dân tộc miền núi. Việc thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước vận chuyển phục vụ
đồng bào miền núi và vùng dân tộc thiểu số đã mang lại những kết quả quan trọng,
góp phần bình ổn giá cả thị trường khu vực và cả nước, giảm bớt khó khăn, cải
thiện đời sống đồng bào.
Phát huy thế mạnh đường biên giới dài, các địa phương đã đầu tư hàng trăm
tỷ đồng để xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ cho hoạt động thông thương ở trong
và ngoài nước. Nhờ vậy, hoạt động xuất, nhập khẩu tăng mạnh, đặc biệt là tỉnh
Lạng Sơn. Kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1996-
2000 đạt bình quân 391,8 triệu USD/năm, giai đoạn 2000- 2003 bình quân đạt 461
triệu USD/năm, chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của các tỉnh
biên giới phía Bắc với thị trường Trung Quốc [60, tr.78]. Có thể nói, phát triển kinh
tế cửa khẩu đã tác động mạnh đến thị trường nội địa cũng như hoạt động du lịch và
các ngành dịch vụ khác.
Miền núi Đông Bắc với nhiều cảnh đẹp tự nhiên nổi tiếng, sự đa dạng trong
văn hoá tộc người và mạng lưới giao thông thuận lợi đã tạo ra thế mạnh của vùng
trong phát triển du lịch. Ngoài ra, các địa phương có đường biên giới đã trở thành
điểm chung chuyển khách du lịch và giao lưu thương mại với Trung Quốc.
Ba là: Quá trình thực hiện chính sách dân tộc đã góp phần củng cố hệ thống
chính trị và an ninh - quốc phòng
Thực hiện quan điểm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là Nhà nước
của dân, do dân và vì dân, các dân tộc đều có quyền tham gia trực tiếp vào các cơ
127
quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức quần chúng. Thông qua hoạt động của Nhà
nước, đồng bào các dân tộc thiểu số phản ánh được nguyện vọng và những định
hướng phát triển của dân tộc mình. Trong thực tế, quyền bình đẳng giữa các dân tộc
đã được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Khối đại đoàn kết toàn
dân tộc tiếp tục được củng cố.
Sự bình đẳng về chính trị thể hiện trước hết ở việc đồng bào các dân tộc đã
thực hiện quyền tham chính của mình thông qua thực thi dân chủ đại diện và dân
chủ trực tiếp. Ở miền núi Đông Bắc, trong Hội đồng nhân dân các cấp, nhất là cấp
xã, đại biểu người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ lớn hơn và thường có khá đủ đại
biểu các dân tộc thiểu số tại địa phương. Trong vùng có ít nhất khoảng 50% cán
bộ cấp tỉnh, 60% cán bộ cấp huyện và một tỷ lệ đáng kể cán bộ cấp xã là người
dân tộc thiểu số. Tại tỉnh Quảng Ninh, mặc dù số dân người dân tộc thiểu số là
113.194 người, chỉ chiếm 11,6% dân số toàn tỉnh nhưng đội ngũ cán bộ người dân
tộc thiểu số công tác tại các cơ quan nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã luôn
được tăng cường. Việc xây dựng lực lượng cốt cán các Già làng, Trưởng bản,
Người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc được quan tâm đúng mức. Tính đến
năm 2009, toàn tỉnh có 3.676 đảng viên là người dân tộc thiểu số; Số lượng cấp uỷ
viên là 348 người, đạt 12,3%. Số lượng đại biểu người dân tộc thiểu số tham gia
Hội động nhân dân cấp huyện và Hội đồng nhân dân cấp xã là 799 người, đạt tỷ lệ
17,1%; Số lượng đoàn viên Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh người dân tộc
thiểu số là 7.116 người. Số lượng hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ người dân tộc
thiểu số là 18.117 người [106, tr.6].
Bình đẳng dân tộc cũng đặt ra yêu cầu thực hiện công bằng xã hội giữa các
tộc người, giữa miền núi và miền xuôi. Thông qua các chương trình, dự án của Nhà
nước và các tổ chức phi Chính phủ, các địa phương đã thực hiện chính sách ưu tiên
đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở vùng miền núi và dân tộc. Thực tế cho thấy, thực
hiện công bằng không có nghĩa là cào bằng, dàn đều, bình quân chủ nghĩa mà phải
quan tâm, chú ý đến đặc điểm, điều kiện phát triển riêng của mỗi vùng, miền để có
chính sách đầu tư hợp lý nhằm tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi cho các dân tộc thiểu
128
số đặc biệt khó khăn nhanh chóng hoà nhập cùng sự phát triển với cộng đồng các
dân tộc trong cả nước.
Miền núi Đông Bắc có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc
phòng. Đặc biệt, các thế lực thù địch luôn sử dụng khu vực biên giới, vùng núi để
xâm nhập, thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gây chia rẽ, phá hoại khối đại
đoàn kết dân tộc, tuyên truyền, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà
nước. Vì vậy, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng an ninh vùng biên
giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những chính sách được Đảng và
Nhà nước đặc biệt quan tâm trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc
tại các địa phương.
Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, các địa phương luôn
quan tâm tới công tác giữ vững ổn định chính trị, củng cố, tăng cường sức mạnh
quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra các vụ việc lớn. Khối đại đoàn
kết toàn dân tộc được củng cố. Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch được
phát hiện và ngăn chặn kịp thời. An ninh biên giới được đảm bảo, mối quan hệ giữa
các dân tộc ở biên giới Việt Nam - Trung Quốc được duy trì tốt đẹp. Đồng thời, các
địa phương cũng tăng cường quan hệ quân dân, thực hiện thế trận quốc phòng toàn
dân để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Bốn là: Thực hiện tốt chính sách dân tộc tạo tiền đề thúc đẩy văn hoá - xã
hội các tỉnh miền núi Đông Bắc phát triển
Quá trình thực hiện chính sách dân tộc không những thúc đẩy kinh tế phát
triển, góp phần nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số, mà còn tạo
điều kiện phát triển văn hoá - xã hội như: giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khoẻ
cộng đồng, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc...
Về giáo dục đào tạo
Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Sự thịnh suy
của giáo dục có quan hệ trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã
hội của đất nước.
Thực tế tại các địa phương cho thấy, hầu hết các vùng đồng bào dân tộc thiểu
số, trình độ dân trí thấp là một trong những nguyên nhân cơ bản và chủ yếu nhất cản
129
trở sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Trong những năm 1996-2010, để thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội tại vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số, Đảng và
Nhà nước đã triển khai nhiều chương trình, dự án. Tuy nhiên, trình độ học vấn thấp
của đồng bào đã hạn chế đến việc tiếp thu các kiến thức văn hoá và khoa học - kỹ
thuật hiện đại, giảm hiệu quả thực hiện các chương trình, dự án, ảnh hưởng không
nhỏ đến việc vận dụng chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn.
Để nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào, Chính phủ đã ban hành nhiều
chính sách như: miễn giảm học phí, cấp không giấy viết, sách giáo khoa, thực hiện
chính sách cử tuyển, ưu tiên điểm cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số, miền
núi khi thi vào các trường Đại học, chuyên nghiệp… Vì vậy, sự nghiệp giáo dục -
đào tạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Đông Bắc đã có bước tiến bộ vượt
bậc. Giáo dục mầm non đã phát triển sâu rộng từ các thị xã, thị trấn đến các vùng
nông thôn. Tại các thôn, bản đều có trường hoặc các lớp cấp I. Nhiều xã, cụm xã có
trường tiểu học và trung học cơ sở. Tất cả các huyện đều có trường trung học phổ
thông. Hệ thống các trường dân tộc nội trú từ Trung ương đến địa phương đã tạo
điều kiện cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa có thêm
nhiều cơ hội học tập. Hiện nay, toàn vùng có 6 trường dân tộc nội trú cấp tỉnh, một
số trường cấp huyện. Ngoài ra, để tạo thuận lợi cho con em các dân tộc thiểu số học
tập, mô hình trường nội trú, trường bán trú dân nuôi tại các xã và cụm xã được nhân
rộng ở nhiều địa phương. Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học tại các nhà trường
cũng được quan tâm đầu tư. Đến năm 2010, toàn vùng có 1744 trường phổ thông
với 560.974 học sinh [70, tr.627-641].
Bên cạnh hệ thống giáo dục quốc dân, Nhà nước đã có chính sách cử tuyển
đối với con em các dân tộc thiểu số. Đây chính là lực lượng cán bộ nguồn cho các
địa phương trong thời gian tới.
Một trong những yếu tố làm hạn chế sự phát triển giáo dục ở nhiều vùng dân
tộc là do ngôn ngữ bất đồng, nhiều trẻ em chưa thông thạo tiếng mẹ đẻ lại phải học
tiếng phổ thông, do đó hiệu quả học tập chưa cao. Nhằm khắc phục những khó khăn
đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên soạn 6 bộ sách và chương trình dạy 8 thứ chữ
dân tộc, trong đó có chữ của người Thái, người Mông ở vùng Đông Bắc. Với chủ
130
trương mới này, năm 2010 các tỉnh miền núi Đông Bắc đã thu hút 345.388 học sinh
các cấp người dân tộc thiểu số đến trường [70, tr.645].
Với chính sách đãi ngộ giáo viên của Đảng và Nhà nước, đội ngũ giáo viên
là người dân tộc thiểu số tại chỗ được tăng cường về số lượng, ngày càng đáp ứng
tốt hơn sự nghiệp giáo dục, đào tạo ở miền núi Đông Bắc. Năm 2010, tổng số giáo
viên toàn vùng là 43.118 người, trong đó số giáo viên dân tộc thiểu số 21.588 người
(chiếm 50,1%) [70, tr.640]. Trình độ của đội ngũ giáo viên các cấp học cũng ngày
càng được nâng cao. Tại Cao Bằng, theo thống kê năm 2010, tỷ lệ đạt chuẩn về
trình độ đào tạo của giáo viên các cấp học: mầm non 95%, tiểu học 98,9%, Trung
học cơ sở 98%, Trung học phổ thông 99% [14].
Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được quan tâm
Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và phát triển rộng khắp với 100% số xã
có cán bộ y tế, 100% số xã có trạm y tế; chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân,
công tác phòng, chống các bệnh sốt rét, bướu cổ, bệnh phong… được nâng cao. Số
trẻ em được tham gia chương trình tiêm chủng mở rộng đạt trên 95%. Thực hiện
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cán bộ và nhân dân các xã đặc biệt
khó khăn được đi khám bệnh không mất tiền tại các cơ sở y tế Nhà nước, được
giảm một phần viện phí khi đi khám, chữa bệnh, người nghèo được cấp thẻ bảo
hiểm y tế. Các chương trình dân số - kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, phòng chống suy dinh dưỡng đang được triển khai và
phát huy hiệu quả. Đồng thời, công tác tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh tại vùng
đồng bào dân tộc thiểu số cũng được quan tâm.
Bản sắc văn hoá các dân tộc được bảo tồn và phát huy
Công tác văn hoá trong những năm đổi mới, đặc biệt từ sau Nghị quyết
Trung ương 5 khoá VIII của Đảng, có nhiều chuyển biến tích cực. Những giá trị
văn hoá tốt đẹp của các dân tộc được bảo tồn và phát huy, mức thụ hưởng văn hoá
của đồng bào các dân tộc Đông Bắc từng bước được nâng lên. Đội ngũ cán bộ làm
công tác văn hoá thông tin được quan tâm đào tạo.
Công tác sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu văn hoá dân tộc được tổ chức có hiệu
quả. Các địa phương đã thực hiện chủ trương khuyến khích các nghệ nhân truyền
131
nghề, đồng thời tiến hành phục dựng các lễ hội dân gian, các làn điệu dân ca dân tộc
Nùng, Tày, Mông, Dao,… Các sáng tác thơ, ca, kịch bằng ngôn ngữ Tày, Nùng, Dao,
Mông,… được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và xuất hiện trên sân
khấu ngày càng nhiều. Nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá trong chợ phiên, trong các
liên hoan ngày hội văn hoá các dân tộc được tổ chức thường xuyên.
Các địa phương cũng đã lập nhiều chương trình, dự án nhằm khôi phục,
trùng tu, tôn tạo và lưu giữ các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể. Với sự quan
tâm đó, các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đã trở thành những điểm du lịch
văn hoá thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc Đông Bắc ngày càng được nâng
lên. Hệ thống phát thanh truyền hình được mở rộng gắn với các tụ điểm văn hoá xã.
Các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình, đặc biệt là các chương trình
truyền hình bằng tiếng dân tộc, cấp báo chí cho các xã thuộc vùng sâu vùng xa được
triển khai đã đem lại hiệu quả thiết thực. Hoạt động giao lưu, văn hoá - thể thao -
thương mại - du lịch tại các địa phương có đường biên giới được tăng cường, góp
phần mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá.
3.1.1.2. Nguyên nhân của thành tựu
Một là, Đảng, Nhà nước đã nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của công
tác dân tộc vùng miền núi Đông Bắc trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
Chính phủ đã ban hành một số chính sách nhằm đưa vùng miền núi Đông
Bắc trở thành một trong những vùng trọng điểm trong ưu tiên đầu tư phát triển
toàn diện trên các lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, phát huy
bản sắc dân tộc, bảo đảm an ninh quốc phòng, như: Quyết định số 02/1998/QĐ-
TTg, ngày 06-01-1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế- xã hội vùng Đông Bắc giai đoạn từ nay đến năm 2010;
Quyết định số 186/2001/QĐ-TTg, ngày 07-12-2001 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phát triển kinh tế - xã hội 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc, thời kỳ
2001- 2005; Quyết định số 27/2008/QĐ-TTg, ngày 05-02-2008 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế -
132
xã hội đối với các tỉnh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010. Đây là
điều kiện thuận lợi giúp các tỉnh miền núi Đông Bắc có bước phát triển mới. Đồng
thời, đó cũng là điều kiện để hệ thống chính trị cơ sở thực hiện tốt hơn chức năng
lãnh đạo và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tại
địa phương.
Hai là, hệ thống chính trị cơ sở đã có nhiều nỗ lực trong việc cụ thể hoá chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tại địa phương. Trong quá trình lãnh đạo,
chỉ đạo thực hiện, các địa phương luôn tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra,
giám sát việc thực hiện chính sách, thông qua đó, ngăn ngừa kịp thời, uốn nắn sai
lệch và phát hiện những vấn đề mới nảy sinh để chủ động giải quyết. Để thực hiện
tốt vai trò của hệ thống chính trị cơ sở, công tác cán bộ luôn được quan tâm đào tạo,
bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Ba là, nhận thức của đồng bào các dân tộc thiểu số về công tác dân tộc và
quan hệ dân tộc ngày càng được nâng lên. Đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng
hiểu rõ hơn trách nhiệm của bản thân trong việc đoàn kết, cùng nhau xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, loại bỏ tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc
hẹp hòi, tư tưởng ban ơn, có thái độ chân thành, trọng thị, đoàn kết, thân ái, giúp đỡ
lẫn nhau giữa các dân tộc anh em.
3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân
3.1.2.1. Đánh giá hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện chính
sách dân tộc ở miền núi Đông Bắc còn một số hạn chế:
Thứ nhất: Ở một số địa phương, sự đầu tư của Nhà nước vào vùng đồng bào
dân tộc thiểu số còn dàn trải, chưa sát hợp đối tượng nên hiệu quả đầu tư thấp
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu là do thiếu vốn, thiếu
kiến thức và kinh nghiệm làm ăn, cơ sở hạ tầng yếu kém nên nền kinh tế vùng
đồng bào dân tộc thiểu số ở một số nơi còn mang tính tự cấp, tự túc. Đối với sản
xuất nông, lâm, ngư nghiệp, mặc dù đã chuyển sang nền kinh tế hàng hoá, sản
xuất tập trung, quy mô lớn. Song ở một số địa phương vẫn bộc lộ tính chất phân
tán, manh mún, tự cung, tự cấp, sản phẩm làm ra chưa nhiều, chưa chủ động được
133
đầu ra, giá thành sản phẩm không cao. Đối với sản xuất công nghiệp, mới chỉ
dừng lại chủ yếu ở ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến thô nên giá
trị sản phẩm không cao, khả năng cạnh tranh trên thị trường thấp. Các chương
trình, dự án, đặc biệt là chương trình 135 đã làm thay đổi bộ mặt miền núi, kết cấu
hạ tầng kỹ thuật đã được đầu tư, nâng cấp. Tuy nhiên, do đầu tư dàn trải, lãng phí,
thiếu trọng điểm, không nắm được đặc điểm của từng địa phương, từng vùng
khiến cho chất lượng công trình kém, gây khó khăn cho đời sống và sản xuất của
đồng bào.
Thông qua các chương trình, dự án, Nhà nước và các tổ chức quốc tế đã có
sự đầu tư trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng nhằm
mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi và miền xuôi, đẩy mạnh
công tác xoá đói giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, hiệu
quả mang lại còn thấp. Tỷ lệ đói nghèo còn cao, công tác xoá đói giảm nghèo
chưa vững chắc, nhiều nơi vẫn diễn ra hiện tượng tái nghèo, trong đó, tỉnh Hà
Giang nằm trong diện nghèo nhất nước. Chính sách chăm sóc sức khoẻ cho đồng
bào còn nhiều hạn chế, vấn đề khám chữa bệnh cho người nghèo chưa triệt để. Hệ
thống y tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều bất cập, số lượng bác sỹ trên
tỷ lệ dân cư còn thấp. Về công tác giáo dục, mặc dù được đầu tư về cơ sở hạ tầng
và trang thiết bị dạy - học nhưng vẫn còn thiếu thốn và lạc hậu. Sách tham khảo
còn thiếu chưa đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh.
Hiệu quả đào tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số của các trường dân tộc nội trú còn
thấp. Chất lượng dạy và học ở một số địa phương chưa cao, hiện tượng tái mù vẫn
còn diễn ra. Theo số liệu thống kê cho thấy, từ năm 2006-2010, huyện Lộc Bình
(Lạng Sơn), số giáo viên chưa đạt chuẩn tập trung ở cấp Mầm non: 10,8%, Trung
học cơ sở: 16,2%, tính trung bình cả bốn cấp học về số giáo viên chưa đạt chuẩn:
6,8%. Chất lượng đội ngũ giáo viên có ảnh hưởng trực tiếp tới việc học của học
sinh. Cấp học Mầm non, chất lượng giáo dục trẻ toàn diện, giỏi: 31,38%, chưa đạt
yêu cầu: 32,8%; học lực cấp Tiểu học, giỏi: 22,28%; yếu: 4,36%; Trung học cơ
sở, giỏi: 3,5%, yếu kém: 10,38%; cấp Trung học phổ thông và Giáo dục thường
xuyên, giỏi: 1,2%, yếu kém: 5,36% [119, tr.128].
134
Thứ hai: Chưa khai thác, phát huy tối đa những giá trị, truyền thống tốt đẹp
của đồng bào các dân tộc
Mặt trái của cơ chế thị trường làm nảy sinh những tác động tiêu cực đối với
nền văn hoá dân tộc. Tại các địa phương miền núi Đông Bắc, việc đầu tư cho văn
hoá thường chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng vốn đầu tư. Sở dĩ có hiện tượng
này vì nhiều nơi, nhiều cấp, nhiều ngành chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế, đấu
tranh chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch mà chưa chú trọng tới việc
nâng cao mức hưởng thụ văn hoá cho nhân dân. Việc hoạch định chủ trương về
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc mới chỉ dừng lại ở những định hướng.
Chưa có phương hướng, giải pháp hữu hiệu để giữ gìn bản sắc văn hoá của các
dân tộc. Việc xây dựng các quy chế sinh hoạt văn hoá cộng đồng của Đảng còn
chậm. Tiêu chuẩn về danh hiệu “Làng văn hoá", “Tổ dân phố văn hoá" chủ yếu là
thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đảm bảo đoàn kết,
phát triển kinh tế - xã hội. Các yếu tố văn hoá tộc người chỉ được nhắc tới một
cách rất chung chung như: “có tụ điểm sinh hoạt văn hoá văn nghệ - thể dục - thể
thao, vui chơi giải trí ở cộng đồng, duy trì các sinh hoạt văn hoá, thể thao truyền
thống của dân tộc”, “thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc
tang…”. Việc đẩy mạnh giao lưu văn hoá với nước bạn bên cạnh những yếu tố
tích cực cũng xuất hiện những yếu tố tiêu cực trong giao lưu văn hoá quốc tế. Tại
Lạng Sơn, từ năm 2000 đến 2005, qua kiểm tra 750 điểm hoạt động văn hoá, đã
xử lý 324 trường hợp vi phạm, thu giữ và tiêu huỷ 1.799 băng video, 1.24 7.046
đĩa compac, băng cassette (trong đó có 1.601 đĩa hình đồi truỵ), 27.819 tranh ảnh
ngoài luồng… [60, tr 97].
Thứ ba: Phong tục tập quán lạc hậu, tình trạng di dân tự do của đồng bào
các dân tộc cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch đã ảnh hưởng đến hiệu
quả việc thực hiện chính sách dân tộc
Tình trạng du canh, du cư của đồng bào các dân tộc vẫn diễn ra, gây nhiều
khó khăn cho các địa phương. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, tỷ
suất xuất cư đi tỉnh khác của Cao Bằng là 48,8%, Lạng Sơn là 31,2% (rất cao so
với tỷ suất nhập cư, Cao Bằng là 8,5%, Lạng Sơn là 11,6%) [47, tr.77]. Trong đó,
135
số người di cư tự do chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số như Tày, Nùng,
Mông Dao. Trong những năm 1997- 1999, huyện Chi Lăng (Lạng Sơn) có khoảng
5000 khẩu di cư tự do thì 1015 khẩu thuộc dân tộc Nùng, huyện Cao Lộc (Lạng
Sơn) có khoảng 4000 khẩu di cư tự do thì dân tộc Nùng chiếm 70% [47, tr.88]. Sở
dĩ có tình trạng đó, một phần do tập quán canh tác của đồng bào còn lạc hậu, mặt
khác, do tác động của điều kiện môi trường sống ngày càng khó khăn đến việc
canh tác của đồng bào. Đồng bào di cư thường theo hai hướng, hoặc di cư nội
vùng từ tỉnh nọ sang tỉnh kia hoặc di cư vào Tây Nguyên. Việc di cư tự do của
một bộ phận đồng bào dẫn tới hiện tượng còn một số ít hộ chưa được thụ hưởng
các chính sách dân tộc; Do du canh du cư, việc thụ hưởng chính sách của đồng
bào gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, một số nơi chỗ ở của đồng bào còn tạm bợ,
đất sản xuất không có, phải tìm một khu đất mới để khai hoang nhưng rất manh
mún, thiếu nước sinh hoạt.
Chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước ta, trình độ dân trí thấp,
thiếu hiểu biết, thiếu thông tin của người dân tộc thiểu số chính là mảnh đất màu mỡ
cho các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc, chia rẽ khối
đại đoàn kết dân tộc. Nhiều phần tử phản động núp dưới danh nghĩa truyền giáo đã
lôi kéo đồng bào theo đạo Tin Lành, thực hiện âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết
dân tộc, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, gây mất ổn định
trật tự tại địa phương.
3.1.2.2. Nguyên nhân của hạn chế
Thứ nhất, miền núi Đông Bắc là địa bàn rộng, chia cắt, địa hình nhiều nơi
hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai,
lũ lụt. Đây là nguyên nhân khách quan dẫn đến tình trạng đói nghèo, lạc hậu, di
cư tự do.
Thứ hai, trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc
còn thấp, chủ yếu dựa nhiều vào tự nhiên; phương thức sản xuất và canh tác ở một
số nơi còn lạc hậu. Một bộ phận đồng bào có tâm lý ỷ lại vào sự trợ cấp của Nhà
nước. Điều này có ảnh hưởng không tốt đến công tác xoá đói giảm nghèo, nâng cao
đời sống của người dân.
136
Thứ ba, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vùng dân tộc,
miền núi đã thể hiện tầm chiến lược, tuy nhiên mục tiêu, nội dung của một số chính
sách bị chồng chéo trên cùng một địa bàn; có chính sách triển khai thực hiện không
phù hợp, chưa gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của từng
địa phương nhưng chậm được tổng kết đánh giá, điều chỉnh. Một số chính sách
không phù hợp với đặc điểm dân tộc về đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của vùng
và thiếu sự tham gia của cộng đồng. Chính vì vậy, hệ quả dễ nhận thấy nhất đó là
chính sách đã thực thi thiếu tính bền vững, tạo ra tính ỷ lại cho đối tượng được thụ
hưởng, hạn chế huy động các nguồn lực và phát huy nội lực của cộng đồng.
Thứ tư, tại một số địa phương, việc cụ thể hoá chủ trương, chính sách dân tộc
của Đảng và Nhà nước đôi khi còn chậm, triển khai thiếu cụ thể và đồng bộ, đơn
giản, thậm chí áp đặt làm hạn chế khả năng huy động tiềm năng nội lực của tộc
người và tính sáng tạo của đồng bào các dân tộc thiểu số. Công tác kiểm ra, giám
sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
chưa được tiến hành thường xuyên, nhất là sự tham gia trực tiếp của cộng đồng -
người được thụ hưởng và tác động bởi chính sách.
Thứ năm, hệ thống chính trị cơ sở còn bộc lộ một số yếu kém. Đội ngũ cán
bộ, đặc biệt là cán bộ người dân tộc thiểu số vừa thiếu, vừa yếu. Tỷ lệ cán bộ có
trình độ đại học, cao đẳng trở lên của toàn vùng miền núi phía Bắc chỉ chiếm
12,3%, thấp hơn nhiều so với các khu vực khác. Một số cán bộ công tác ở vùng
đồng bào dân tộc vừa yếu kém về trình độ, năng lực, lại không biết tiếng dân tộc,
thiếu am hiểu phong tục tập quán của đồng bào. Năng lực lãnh đạo, điều hành của
đội ngũ cán bộ, đảng viên cơ sở còn hạn chế về chuyên môn và năng lực công tác,
thiếu hiểu biết về văn hoá các dân tộc, coi chính sách dân tộc là “ban ơn”, giúp đỡ”,
“cứu trợ”, “bao cấp”, chưa cụ thể hoá chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng vào
tình hình thực tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Từ những thành tựu và hạn chế trên, vấn đề bức thiết đặt ra trong quá trình
lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc tại các tỉnh miền núi Đông Bắc là phải nghiên
cứu kỹ lưỡng những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng, từ đó kịp thời đề
ra những phương hướng, giải pháp đúng đắn nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh
137
của toàn vùng, từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa vùng miền núi dân
tộc Đông Bắc với các khu vực khác trong cả nước.
3.2. MỘT SỐ KINH NGHIỆM 3.2.1. Bám sát đặc điểm cấu trúc xã hội tộc người ở vùng miền núi Đông
Bắc để cụ thể hoá, vận dụng chủ trương, chính sách của Đảng cho phù hợp với
thực tiễn
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc phát triển
toàn diện vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Với chính sách dân tộc đúng đắn mà
nội dung cơ bản, có tính nguyên tắc là thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp
nhau cùng phát triển giữa các dân tộc đã được cụ thể hoá trong các nội dung về kinh
tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Hàng loạt các chính sách, chương trình, dự
án được thực hiện nhằm phát triển bền vững các vùng. Các chương trình xoá đói
giảm nghèo, hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn 135, chương trình xoá mù chữ và phổ
cập giáo dục tiểu học, chương trình trợ giá, trợ cước… được quan tâm. Bên cạnh
các chính sách chung, các chính sách, chương trình, dự án riêng cho vùng miền núi
Đông Bắc cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm nghiên cứu, hoạch định như:
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội vùng Đông Bắc đến năm 2010, Nghị
quyết số 37 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và đảm
bảo quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010…
Nhờ thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, các chương trình, dự án của
Đảng và Nhà nước, bộ mặt nông thôn miền núi nói chung, miền núi Đông Bắc nói
riêng đã có nhiều khởi sắc: Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần
tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp; đời sống vật
chất và tinh thần của đồng bào được nâng lên rõ rệt, kết cấu hạ tầng miền núi được
đầu tư, nâng cấp; sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá - xã hội có nhiều
chuyển biến tích cực, quốc phòng được giữ vững, an ninh - chính trị đảm bảo.
Tuy nhiên, cũng phải mạnh dạn đánh giá, các thành tựu phát triển miền núi
còn rất khiêm tốn, còn nhiều vấn đề đặt ra đang là thách thức rất lớn.
Đối với công tác giảm nghèo, trong 10 năm (1993 - 2002), miền núi Đông
Bắc đã đạt được thành tự to lớn. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 86,1% (1993) xuống còn
138
38,4% (2002). Tuy nhiên, thu nhập bình quân đầu người của vùng miền núi Đông
Bắc vẫn thấp so với cả nước, chỉ cao hơn vùng Tây Bắc. Năm 2003, thu nhập bình
quân đầu người của nhóm có thu nhập thấp nhất chỉ đạt 95.100 đồng/người/tháng.
Do vậy, hoạt động xoá đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế vẫn phải là hoạt động
ưu tiên trước hết đối với khu vực này.
Một đặc điểm dễ thấy là mật độ dân số ở miền núi thưa thớt, khoảng 50- 100
người/km². Vì vậy, có sự hạn chế về thị trường tại chỗ và về lao động, nhất là lao
động lành nghề. Theo thống kê về chất lượng lao động năm 1999 cho thấy, số lao
động có nghề nghiệp qua đào tạo là 467.449 người/4.195.227 người lao động, bằng
11% tổng số lao động ở vùng Đông Bắc. Tuy nhiên, trên thực tế, lực lượng lao động
có tay nghề chủ yếu là lao động ở các cơ quan hành chính, trong ngành giáo dục và
trong các cơ sở sản xuất công nghiệp, trong các nhà máy, hầm mỏ, khu gang thép.
Đối với ngành nông nghiệp và ở khu vực nông thôn, lực lượng lao động qua đào tạo
nghề còn hạn chế.
Miền núi Đông Bắc là vùng có nhiều dân tộc thiểu số cùng cư trú tạo nên sự
khác biệt, đa dạng về phương thức sản xuất, phong tục tập quán,… Tất cả điều này
tạo nên những nét độc đáo, đặc sắc, phong phú về văn hoá của đồng bào các dân
tộc. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi trong giao lưu, tiếp thu văn hoá, ngôn ngữ…
Bên cạnh những thuận lợi, những đặc điểm về tự nhiên, dân cư, văn hoá cũng gây
khó khăn, phức tạp trong quản lý kinh tế, văn hoá, đặc biệt là trong quản lý xã hội
tộc người. Những đặc điểm trên đây cũng biến đổi trước những tác động, thử thách
của quá trình toàn cầu hoá, của kinh tế thị trường.
Từ những đặc điểm đó, trong quá trình hoạch định chính sách dân tộc, cần
thể hiện tính thống nhất về nguyên tắc, nhưng đa dạng trong chủ trương và biện
pháp, chiếu cố đến từng vùng, từng tộc người.
Thực tế cho thấy, một loạt các chương trình khu vực liên quan đến các dân
tộc thiểu số đã được xây dựng như: Chỉ thị số 393-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Về Quy hoạch dân cư và tăng cường cơ sở hạ tầng, sắp xếp lại sản xuất ở vùng dân
tộc và miền núi (1996), Quyết định số 960-TTg của Thủ tướng Chính phủ Về định
hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm 1996-2000 phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh
139
miền núi phía Bắc (1996), Quyết định 186/2001/QĐ-TTg Về phát triển kinh tế - xã
hội ở 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc, thời kỳ 2001-2005 (2001),…
Thực hiện Quyết định 186/2001/QĐ-TTg với nhiều nội dung, căn cứ thực tế
địa phương, các Đảng bộ tỉnh đã vận dụng linh hoạt. Đối với Lai Châu, một tỉnh
nằm ở khu vực biên giới Tây Bắc là tỉnh có khó khăn về đất sản xuất, chương trình
186 thực hiện hỗ trợ tỉnh đầu tư 10.000ha; đối với vùng cao, núi đá Hà Giang, Cao
Bằng khó khăn về nước ăn được hỗ trợ 1,0 triệu đồng/hộ để xây bể chứa nước mưa
[119, tr.14].
Như vậy, có thể nói, điểm nổi bật trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước Việt Nam những năm gần đây là dành sự ưu tiên cho đồng bào các dân tộc
thiểu số, nhất là các vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn ở vùng cao gồm một bộ
phận cư dân sinh sống ở vùng biên giới.
3.2.2. Xác định đúng trọng tâm, trọng điểm để đầu tư các nguồn lực, tạo
ra các bước phát triển đột phá
Các dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi Đông Bắc trừ một bộ phận sống ở
khu vực thành phố, trung du, còn phần lớn sinh sống ở miền núi, nơi có tiềm lực kinh
tế lớn, nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng bao gồm đất, rừng, khoáng sản, cây
công nghiệp, cây đặc sản, danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử. Tuy nhiên, trình độ
phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng này còn thấp, kinh tế hàng hóa ít phát triển, kinh
tế tự nhiên, tự cấp tự túc còn chiếm tỷ trọng lớn. Công tác định, canh định cư tuy đạt
một số thành tựu nhưng hiệu quả thấp và chưa vững chắc. Đời sống của đại bộ phận
dân cư vùng đồng bào dân tộc còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp.
Để thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, từng bước thu hẹp sự chênh
lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc thiểu số với đa số, giữa
miền núi với miền xuôi nhất thiết phải phát triển toàn diện cả kinh tế, chính trị, văn
hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, trong đó trọng tâm là phát triển kinh tế - xã hội
gắn với việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, quan tâm đúng mức đến việc
cải thiện đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của từng dân tộc.
Xuất phát từ những kinh nghiệm, khả năng và điều kiện vốn có của các tỉnh
miền núi và các dân tộc thiểu số, trong những năm trước mắt cũng như lâu dài các
140
ngành nông, lâm nghiệp cần phát triển mạnh, trên quy mô lớn. Tuy nghề rừng chưa
đủ điều kiện phát triển trên quy mô lớn, mang tính tổng hợp theo hướng thâm canh,
chuyên môn hóa. Nhưng trước mắt có thể đầu tư, cải tạo, tu bổ diện tích rừng trồng,
đảm bảo khai thác cho nhu cầu nguyên liệu, nhu cầu đời sống và một phần xuất
khẩu. Mở rộng việc giao đất, giao rừng cho hộ gia đình tự chủ kinh doanh, đặc biệt
là đất trống, đồi trọc không hạn chế về diện tích. Bên cạnh đó, các địa phương cũng
tăng cường kêu gọi sự đầu tư của các doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các
hộ gia đình trong việc kinh doanh nghề rừng.
Các cây công nghiệp dài ngày như cây chè cần được đầu tư phát triển trên
quy mô lớn nhằm tạo ra hàng hóa mũi nhọn phục vụ nhu cầu trong nước và xuất
khẩu. Một số cây đặc sản cũng cần được quan tâm phát triển mạnh như cam, quýt,
hồng, hạt dẻ... Các địa phương tiếp tục mở rộng diện tích trồng chè và các loại cây
đặc sản mũi nhọn nhằm đạt mục tiêu phủ xanh đất trống đồi trọc, tạo việc làm và
tăng thu nhập cho nhân dân các dân tộc trong vùng.
Bên cạnh việc phát triển công nghiệp chế biến phục vụ cho việc phát triển
sản xuất hàng hóa của các ngành nông, lâm nghiệp, cần đẩy mạnh ngành công
nghiệp khai thác khoáng sản, nhất là than đá, vật liệu xây dựng,... để giải quyết nhu
cầu nguyên liệu và năng lượng, một phần phục vụ xuất khẩu.
Như vậy, để phát huy mọi tiền năng, thế mạnh và huy động tối đa các nguồn
lực của địa phương các tỉnh miền núi Đông Bắc, một mặt, cần tập trung xây dựng
một nền sản xuất hàng hóa nông - lâm - công nghiệp, phá thế sản xuất tự cung tự
cấp. Mặt khác, cần đẩy mạnh hợp tác, liên doanh với các vùng trong toàn quốc, đặc
biệt đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh
và các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng để mở rộng giao lưu hàng hóa, tăng tích lũy
để tái mở rộng sản xuất và nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc trong vùng.
Đồng thời, phân công lại lao động căn cứ trên thế mạnh về các mặt tự nhiên, xã hội,
con người trong từng vùng, từng tỉnh. Kết hợp các yếu tố kinh tế - xã hội, khoa học
- kỹ thuật theo một chiến lược đúng đắn, một quy hoạch hợp lý để khai thác, phát
huy tiềm năng thế mạnh của các địa phương. Ngoài ngân sách của Trung ương, hết
sức coi trọng huy động vốn trong nhân dân. Bằng hình thức kết nghĩa giữa tỉnh với
141
tỉnh, có thể gọi vốn đầu tư của các tỉnh bạn, tranh thủ nhiều nguồn vốn đầu tư khác
có thể khai thác để phát huy thế mạnh của từng địa phương nhanh hơn. Vốn đầu tư
cần tập trung vào các khâu then chốt như: giao thông, thông tin liên lạc, điện, nguồn
nước cho sản xuất và đời sống. Xây dựng kết cấu hạ tầng gắn với bảo vệ và phát
triển kinh tế - xã hội. Đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng dân tộc
cần phát huy tính năng động, sáng tạo của đồng bào, tạo tiền đề để nhân dân vươn
lên khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh, chuyển sang kinh doanh có hiệu quả trên
chính vùng đất của mình.
Một thế mạnh của vùng cần được khai thác đó là buôn bán đường biên.
Vùng Đông Bắc vốn có truyền thống buôn bán đường biên giữa hai nước Việt Nam
và Trung Quốc. Trong những năm 1996 - 2010, mậu dịch đường biên, chính ngạch
và tiểu ngạch đều được tạo điều kiện lưu thông hàng hoá, không chỉ cho sản phẩm
của địa phương mà còn tạo cửa ngõ thông thương lớn cho hàng hoá của cả nước.
Kể từ năm 1991, khi mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc được bình thường
hoá đến năm 2010, Việt Nam đã mở 21 cửa khẩu thương mại chính thức tại khu
vực đường biên giới Việt – Trung, ngoài ra còn khai thông hàng chục con đường
nối liền các thôn xóm của cư dân vùng biên [32, tr.5].
Với vị trí địa lý thuận lợi, khu vực Đông Bắc trở thành thị trường trung
chuyển hàng hoá lớn giữa Việt Nam và Trung Quốc và qua Trung Quốc đi các nước
Đông - Tây Âu. Tại các khu vực cửa khẩu, các tỉnh đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để
xây dựng cơ sở hạ tầng và các cơ sở dịch vụ như bưu chính viễn thông, tài chính -
ngân hàng, kho bãi, các khu chợ vùng biên… Hệ thống giao thông tại khu vực này
cũng rất thuận lợi cho phát triển kinh tế với đường bộ và đường thuỷ. Năm 1996,
Chính phủ Việt Nam phê chuẩn chợ Móng Cái thành khu kinh tế mở, sau đó tiếp
tục có nhiều chính sách ưu đãi để khu chợ này mau chóng phát triển. Năm 1997,
Chính phủ Việt Nam phê chuẩn thành lập khu kinh tế Tân Thanh, Đồng Đăng, có
những chính sách ưu đãi đặc thù, thực hiện quản lí theo hình thức khu thương mại
tự do. Năm 2002, Chính phủ Việt Nam phê chuẩn nâng Lạng Sơn lên thành thành
phố trực thuộc tỉnh, năm 2003, lại nâng Tân Thanh, Đồng Đăng lên thành chợ trực
thuộc tỉnh [32, tr.10].
142
Phát huy thế mạnh này, việc trao đổi hàng hoá và giao lưu kinh tế ở các cửa
khẩu và chợ biên giới diễn ra rất sôi động. Tuy nhiên, các mặt hàng xuất khẩu của ta
sang Trung Quốc và các nước bạn phần lớn đều dưới dạng nguyên liệu thô hoặc
mới qua sơ chế nên giá trị thấp, hiệu quả kinh tế không cao, như: cao su, dầu dừa,
thuỷ hải sản đông lạnh và khô, hoa quả tươi và khô, bánh kẹo, đồ gỗ dân dụng, gỗ
mỹ nghệ… Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, vật tư, thiết bị phục vụ
cho sản xuất trong nước như gạch chịu lửa, than điện cực, công nghiệp giấy, công
nghệ xi măng, thuốc trừ sâu… Những năm gần đây, hàng nhập khẩu còn có ô tô
vận tải và máy móc. Chỉ tính riêng Lạng Sơn, kim ngạch xuất khẩu qua địa bàn tỉnh
năm 1997 tăng 20,4 lần năm 1990; giai đoạn 1996 - 2000, đạt bình quân 391,8 triệu
USD/ năm; giai đoạn 2000 - 2003, bình quân đạt 461 triệu USD/năm, chiếm
khoảng 50% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của các tỉnh biên giới phía Bắc với thị
trường Trung Quốc [60, tr.78].
Để khai thác được các thế mạnh của vùng, với sự hỗ trợ của Trung ương, các
địa phương đã thực hiện một số chương trình, dự án, một trong những chương trình
thực hiện có hiệu quả đó là chương trình 135.
Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân và sự
phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các địa phương, nguồn vốn đầu tư của
chương trình đúng đối tượng, đúng mục đích và đem lại hiệu quả nhiều mặt. Các
tỉnh miền núi Đông Bắc đã xây dựng được nhiều công trình phúc lợi công cộng
phục vụ sản xuất và đời sống đồng bào các dân tộc ở các bản làng vùng sâu, vùng
xa như: xây dựng các công trình đường giao thông, các công trình thủy lợi, các
công trình phúc lợi khác như lớp học, trạm xá, nhà văn hóa... Tuy nhiên, quan trọng
hơn là phải xây dựng được cơ chế, chính sách đầu tư thích hợp hỗ trợ các hộ nghèo
về đời sống sản xuất trong vùng dự án như: làm nhà, khai hoang, trồng cây lương
thực, chăn nuôi đại gia súc, làm chuồng trại, hỗ trợ đất đai sản xuất, giống cây trồng
vật nuôi, trang thiết bị chế biến nông sản,... theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
cơ cấu cây trồng vật nuôi, xóa bỏ dần sản xuất tự cấp tự túc, chuyển dần sang sản
xuất hàng hóa.
143
Ngoài ra, việc thực hiện một số chương trình, dự án khác đã góp phần xây
dựng cơ sở vật chất ở nông thôn miền núi, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi,
thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao năng lực thực hiện chính sách cho cán bộ
và nhân dân vùng dân tộc và miền núi, góp phần bảo vệ rừng và môi trường sinh
thái, xóa đói giảm nghèo, xây dựng lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà
nước, củng cố tình đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc và giữ gìn an ninh trật tự an
toàn xã hội.
3.2.3. Gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm an ninh, quốc phòng
vùng đồng bào dân tộc thiểu số là chủ trương nhất quán, xuyên suốt trong
lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc
Vùng biên giới bốn tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh giáp
với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa, là địa bàn gắn liền với việc giữ
vững an ninh và quyền chủ quyền về mặt lãnh thổ của Việt Nam. Song, điều này lại
phụ thuộc vào chính sách chính trị, kinh tế, văn hoá, môi trường của quốc gia, đồng
thời, còn bị chi phối, ảnh hưởng bởi các chính sách phát triển và tiềm lực kinh tế,
quốc phòng của quốc gia láng giềng. Trong số các yếu tố ảnh hưởng trên, chính
sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số có vai trò then chốt.
Chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với các tộc người vùng biên cương là cơ
sở đảm bảo an ninh, quốc phòng của quốc gia được vững mạnh, phục vụ sự nghiệp
bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, phát triển kinh tế - xã hội cũng góp phần giải quyết
tốt mối quan hệ giữa các dân tộc và nội bộ tộc người. Chính vì vậy, việc xây dựng
và phát triển các chính sách kinh tế - xã hội vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số là hết sức quan trọng đối với Việt Nam.
Nhận thức được điều này, trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước
Việt Nam luôn xác định, phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh.
Đây là hai nhiệm vụ chiến lược vô cùng quan trọng, không thể tách rời trong quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong thời kỳ đổi mới, mối quan hệ biện chứng giữa hai lĩnh vực kinh tế - xã
hội với quốc phòng - an ninh đã được nhìn nhận khá toàn diện và sâu sắc. Mục tiêu
của sự kết hợp ấy là khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tổng hợp, thực
144
hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhằm đảm bảo
kinh tế - xã hội phát triển nhanh, bền vững và xây dựng, tăng cường quốc phòng -
an ninh. Vì vậy, tăng cường quốc phòng - an ninh đã trở thành một trong những
mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và ngược lại kinh tế - xã hội phát
triển sẽ đảm bảo quốc phòng - an ninh được củng cố vững chắc.
Quán triệt quan điểm của Đảng về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với
quốc phòng - an ninh, trong quá trình lãnh đạo nhân dân các dân tộc miền núi Đông
Bắc, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các tỉnh,
sự hướng dẫn giúp đỡ của Bộ chỉ huy Quân sự địa phương, nhân dân và lực lượng
vũ trang đã nỗ lực thực hiện có hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược: phát triển kinh tế
- xã hội và tăng cường quốc phòng - an ninh. Trong quá trình thực hiện hai nhiệm
vụ chiến lược, các địa phương xác định trước hết phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ
đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp; coi đó vừa là nguyên tắc,
vừa là giải pháp quyết định hiệu quả kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng
cường quốc phòng - an ninh trên địa bàn.
Theo đó, các địa phương chỉ đạo các cấp, các ngành chủ động nắm vững
định hướng chỉ đạo của Tỉnh và các Quân khu về kết hợp kinh tế với quốc phòng -
an ninh. Từ đó, đề ra chủ trương, biện pháp thực hiện một cách đúng đắn, phù
hợp. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo được cụ thể hóa bằng các chương trình, kế hoạch
hành động với những tiêu chí, mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể; gắn với trách nhiệm của
cá nhân và tổ chức… Đồng thời, chú trọng gắn lãnh đạo với tăng cường kiểm tra
việc thực hiện của chính quyền, đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội; phát huy
vai trò tham mưu của cơ quan quân sự, công an; tổ chức tốt việc sơ kết, tổng kết,
rút kinh nghiệm… Nhờ đó, việc phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường
quốc phòng - an ninh trên địa bàn các địa phương ngày càng chặt chẽ, hiệu quả và
đi vào chiều sâu.
Để tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động của các tổ chức, lực lượng
trong phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh, các địa
phương luôn chú trọng đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục
quốc phòng - an ninh cho các đối tượng, trước hết là cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ,
145
đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp cần nghiên cứu nắm chắc quan điểm và
những chủ trương, biện pháp xây dựng nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh
nhân dân trên cơ sở gắn với nền quốc phòng toàn dân, thông qua phong trào quần
chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc.
Miền núi Đông Bắc là vùng có vị trí chiến lược quan trọng về phát triển kinh
tế - xã hội và an ninh quốc phòng. Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là những năm
gần đây, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hoà bình” nhằm gây
mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thủ đoạn mà các thế lực thù địch
thường sử dụng là lợi dụng sự cả tin, trình độ dân trí thấp của một bộ phận đồng bào
để đẩy mạnh hoạt động tôn giáo trái phép, tuyên truyền, bôi nhọ Đảng, Nhà nước,
làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ xã hội chủ nghĩa.
Do đó, một trong những nhiệm vụ đặt ra của công tác quốc phòng - an ninh là phải
tiếp tục phòng chống có hiệu quả âm mưu “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù
địch, giữ vững ổn định chính trị và trật tự và an toàn xã hội; chủ động tấn công kẻ
địch và các loại tội phạm, không để xảy ra đột biến bất ngờ, tạo điều kiện thuận lợi
để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Tăng cường sự lãnh
đạo của các cấp ủy đảng và vai trò quản lý, điều hành của chính quyền có hiệu quả;
phát huy tinh thần tích cực, tự giác của toàn Đảng bộ, toàn quân và mọi tầng lớp
nhân dân đối với công tác quốc phòng - an ninh. Chủ động nắm tình hình an ninh
trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, kịp thời phát hiện và xử lý các yếu tố xấu mới nảy
sinh, không để ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tăng
cường công tác phòng, chống các loại tội phạm công nghệ cao; kịp thời phát hiện,
ngăn chặn các hoạt động kích động, tập hợp công nhân đình công, lãn công của kẻ
xấu, tạo môi trường ổn định để phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế.
Việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng-
an ninh được các địa phương chỉ đạo thực hiện một cách toàn diện, cả về bề rộng
và chiều sâu. Theo đó, các tỉnh tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng sản xuất hàng hóa bền vững; khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh, tài
nguyên đất đai, tài nguyên rừng, nhân lực, vừa đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội;
đồng thời, huy động được nguồn lực tại chỗ cho tăng cường quốc phòng - an ninh,
146
nhất là trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng khi có tình huống xảy ra.
Thực tế những năm qua, vùng Đông Bắc từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tỷ trọng công nghiệp, xây dựng trong GDP
từ 20,6% năm 1990 lên 26,3% năm 2002; nông, lâm, ngư nghiệp giảm tương đối từ
46,3% xuống 33,6%; dịch vụ tăng từ 32,9% lên 33,8%. Đồng thời, thực hiện tốt
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội vùng Đông Bắc giai đoạn 1998 - 2010
của Thủ tướng Chính phủ. Tiếp tục xây dựng và phát triển các dự án, chương trình
phát triển kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn cân đối với phục vụ dân sinh và
quốc phòng - an ninh. Thực hiện tốt các đề án kinh tế - quốc phòng, lồng ghép
chương trình xóa đói, giảm nghèo, quân dân y kết hợp với phong trào “Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư"; giải quyết kịp thời, có hiệu quả
mọi vấn đề phức tạp từ cơ sở; tận dụng lợi thế địa hình, phát triển trồng rừng, cải
tạo địa hình xây dựng thế trận phòng thủ, nhất là các cụm, tuyến dân cư vùng biên
giới; đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội tạo thế liên hoàn
trong công tác phòng thủ.
Phát triển thế mạnh của khu vực kinh tế cửa khẩu, có chính sách, bảo đảm
môi trường đầu tư, lưu thông hàng hóa thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi để thu
hút các thành phần kinh tế phát triển. Gắn quốc phòng - an ninh với xây dựng phát
triển khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng (Lạng Sơn), Tà Lùng, Trà Lĩnh (Cao Bằng),
Thanh Thuỷ (Hà Giang), Móng Cái (Quảng Ninh) và các chợ đường biên, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc trao đổi, mua bán hàng hóa, giao lưu văn hóa, thông tin giữa
dân cư hai bên biên giới, góp phần tích cực ổn định tình hình trật tự an ninh biên
giới ngày càng tốt hơn.
Phát triển kinh tế làm tăng thêm nguồn lực quốc phòng - an ninh và quốc
phòng - an ninh được củng cố vững chắc sẽ tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã
hội. Xây dựng quốc phòng - an ninh vững mạnh trên cơ sở nền kinh tế của các địa
phương phát triển nhanh và bền vững; ngược lại, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và
bền vững thì phải trên cơ sở quốc phòng - an ninh vững chắc. Các cấp, các ngành và
các tầng lớp nhân dân cần tăng cường cảnh giác cách mạng, thống nhất ý chí và
147
hành động, ra sức phát triển kinh tế, giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức
xúc, củng cố mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, xây dựng thế trận
chiến tranh nhân dân, an ninh nhân dân và thế trận biên phòng, xây dựng các lực
lượng vũ trang vững mạnh, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, giữ vững ổn định
chính trị, sẵn sàng ứng phó mọi tình huống, tạo tiền đề vững chắc cho nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội.
3.2.4. Coi trọng nâng cao vai trò của hệ thống chính trị địa phương
trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc
Hệ thống chính trị cơ sở có vị trí quan trọng, là cơ quan lãnh đạo quần chúng
thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, hệ
thống chính trị ở cơ sở vùng dân tộc có vai trò quan trọng trong việc thực hiện dân
chủ và quyền làm chủ của quần chúng, thực hiện chức năng điều hành và quản lý xã
hội, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của đồng bào để phát triển kinh tế - xã hội.
Do vậy, việc xây dựng, củng cố tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể ở cơ sở là một
trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của toàn vùng.
Thực tiễn ở các địa phương miền núi Đông Bắc cho thấy, muốn xây dựng hệ
thống chính trị cơ sở vùng đồng bào dân tộc vững mạnh, điều có ý nghĩa quyết định
là công tác xây dựng Đảng. Xây dựng Đảng bộ vững mạnh ở các địa phương thể
hiện được trí tuệ của nhân dân các dân tộc miền núi, đại diện cho lợi ích và nguyện
vọng chính đáng của đồng bào các dân tộc, gắn bó với nhân dân, xứng đáng là hạt
nhân lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền núi và góp phần xây
dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước - đó là nhiệm vụ có tính chất cấp bách và then
chốt trong giai đoạn hiện nay.
Trong công tác phát triển Đảng, cần hướng vào các đối tượng trẻ tuổi, có
trình độ văn hóa, trưởng thành từ phong trào quần chúng. Tổ chức Đảng và đảng
viên phải sâu sát thực tiễn, am hiểu tình hình thực tế của địa phương, hiểu rõ tâm tư,
nguyện vọng, yêu cầu của quần chúng nhân dân, biết xác định trọng tâm lãnh đạo,
trọng tâm công tác trong từng thời điểm thích hợp.
Xây dựng tổ chức chính quyền cơ sở vững mạnh, thực sự là của dân, do
dân và vì dân, vươn lên đảm nhiệm công việc quản lý mọi mặt hoạt động của địa
148
phương, giúp nhân dân xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Tổ chức chính
quyền và cán bộ chính quyền vùng dân tộc cần phải được bồi dưỡng, đào tạo và tự
mình phải học tập, rèn luyện, có đủ năng lực, phẩm chất để hoàn thành nhiệm vụ,
được nhân dân tin tưởng. Mỗi cán bộ cần có trình độ nhất định về khoa học - kỹ
thuật, nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, nắm được phương thức lãnh đạo, quản
lý, điều hành; kịp thời định hướng cho đồng bào phát triển kinh tế - xã hội đúng
hướng, hiểu rõ về phong tục tập quán của đồng bào, vận dụng sáng tạo đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào điều kiện thực tế địa phương.
Quan tâm đến dân chủ hóa đời sống xã hội, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở
cơ sở, thực hiện trong thực tế quyền lực của nhân dân bằng những cơ chế được cụ
thể hóa rõ ràng, khắc phục các vi phạm trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở, lối sống xa dân, quan liêu, mệnh lệnh với dân. Đây là điều kiện rất cần thiết để
nhân dân tích cực, chủ động tham gia xây dựng, thực hiện và giám sát việc thực
hiện các chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, an ninh -
quốc phòng ở địa phương.
Xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức của Mặt trận, các đoàn thể quần chúng
ở vùng dân tộc vững mạnh, phát huy vai trò của Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh... trong việc phát động các
phong trào giúp nhau làm kinh tế, xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, bảo vệ an
ninh Tổ quốc...
Làm tốt công tác cán bộ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện
và phát huy quyền làm chủ của các dân tộc thiểu số trên mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội. Do vậy, yêu cầu đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc là yêu cầu vừa
cấp bách, vừa cơ bản lâu dài. Đây là nội dung lớn của chính sách dân tộc, là vấn đề
then chốt để thực hiện chính sách dân tộc ở địa phương. Phải chăm lo đào tạo cán
bộ dân tộc cho tất cả các lĩnh vực, xây dựng cốt cán trung thành, vững vàng về
chính trị, có phẩm chất năng lực thật sự, có uy tín lãnh đạo quần chúng. Công tác
cán bộ dân tộc có nhiều khó khăn phức tạp, do đó, phải có quy hoạch, tạo nguồn, có
chế độ đãi ngộ, hình thức đào tạo thích hợp, có quy chế tuyển sinh thích hợp với
149
từng dân tộc, quản lý và sử dụng tốt số cán bộ đã có và phải chú ý xây dựng đội ngũ
cán bộ ở cơ sở vì đội ngũ đó gắn liền với quần chúng.
Trong những năm 1996 - 2010, công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng cán
bộ là người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi Đông Bắc được các cấp ủy Đảng,
chính quyền quan tâm. Số lượng cán bộ ở từng dân tộc được phát triển theo hướng
tăng tương ứng với số dân và tương ứng với địa bàn phân bố dân cư của từng dân
tộc. Ưu tiên bổ sung cho đội ngũ cán bộ ở địa phương. Để có đội ngũ cán bộ có chất
lượng, đủ năng lực đảm đương chức phận của mình, nhất thiết phải thông qua đào
tạo cơ bản và đào tạo chuyên ngành. Có quy hoạch tổng thể trong khâu đào tạo, chú
ý đào tạo những ngành nghề cần thiết cho việc khai thác tiềm năng, thế mạnh, cho
sự phát triển bền vững của địa phương và của tộc người. Nhà nước thực hiện chế độ
ưu tiên trong quá trình đào tạo. Sau khi được đào tạo, bồi dưỡng, địa phương bố trí
sử dụng cán bộ dân tộc phù hợp để phát huy được vai trò, tác dụng tích cực của họ,
thường xuyên giúp đỡ để họ xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân. Với các cán bộ
là người dân tộc Kinh hiện đang công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng
sâu, vùng xa, Nhà nước và địa phương có chế độ đãi ngộ thích hợp, coi đó là sự
động viên để họ an tâm và đóng góp sức lực vào công việc hoạt động tại cơ sở.
Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ, Đảng bộ các địa phương miền núi Đông Bắc không ngừng chăm lo xây
dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào dân tộc. Vì vậy, hệ thống chính trị cơ
sở vùng đồng bào dân tộc từng bước được củng cố, kiện toàn. Các tổ chức Đảng
không ngừng được củng cố, trong sạch vững mạnh, thực hiện tốt chức năng lãnh
đạo của mình. Đội ngũ đảng viên vùng dân tộc được phát triển cả về số lượng và
chất lượng. Chính quyền kịp thời cụ thể hóa những chủ trương, đường lối của Đảng,
của cấp ủy, chú trọng nâng cao hiệu lực điều hành, quản lý tại cơ sở có sự chuyển
biến. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng luôn được củng cố, ngày càng
vững mạnh. Bộ máy Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng từng bước phát
huy tác dụng lãnh đạo, quản lý, điều hành, vận động đồng bào phát triển kinh tế - xã
hội, bảo đảm an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội.
150
3.2.5. Phải tạo mọi điều kiện để thu hút sự tham gia của đồng bào dân
tộc thiểu số tại chỗ trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách dân tộc
Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, để phát huy vai trò chủ thể của mình
trong việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc cần chú ý:
Trong quá trình cụ thể hoá chính sách dân tộc của Đảng thông qua các
chương trình, dự án, phải chú ý đến điều kiện kinh tế - xã hội và sự đa dạng của
từng vùng, từng dân tộc; chú trọng yếu tố đặc thù của từng dân tộc để có những
hình thức, bước đi và giải pháp hiệu quả, phù hợp với thực tiễn địa phương nhằm
phát huy vai trò chủ động, tích cực, làm chủ của đồng bào các dân tộc.
Để đạt được điều đó, một trong những yêu cầu đặt ra là phải rà soát, chỉnh
sửa, bổ sung chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số để làm căn cứ cho việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội
tại địa phương. Bên cạnh đó, phải tăng cường nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh
tế - xã hội các vùng, các dân tộc để cụ thể hóa các chính sách sao cho phù hợp với
thực tế địa phương.
Các cơ quan chuyên môn cần tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc tham
gia vào tất cả các quá trình từ thu thập thông tin cho việc hoạch định chính sách
đến việc tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá, thẩm định hiệu quả việc thực hiện
chính sách dân tộc và được hưởng lợi từ chính sách, nhất là đối với việc triển khai
thực hiện các dự án.
Trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc phải nhận thức rõ, chủ thể
thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta chính là đồng bào các dân
tộc. Sự giúp đỡ của Đảng và Nhà nước là cần thiết để rút ngắn khoảng cách chênh
lệch về mọi mặt giữa các dân tộc. Tuy nhiên, đó chỉ là sự giúp đỡ về vật chất, tinh
thần và nguồn lực, kỹ thuật. Còn chủ thể đích thực của quá trình đó là đồng bào
các dân tộc. Họ phải tự mình vươn lên, rút ngắn khoảng cách phát triển với các
dân tộc khác.
Thông qua nhiều hình thức đa dạng, phong phú để tăng cường giáo dục
chính trị, tư tưởng cho quần chúng nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số vùng
sâu, vùng xa; tăng cường bồi dưỡng, nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, khắc
151
phục tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước, vào xã hội; phát huy tinh thần tự lực, tự cường,
khai thác đến mức cao nhất mọi tiềm năng thế mạnh của đồng bào các dân tộc.
Bằng các phương pháp tuyên truyền, giúp đỡ về vật chất và tinh thần, đồng
bào các dân tộc nhận thức rõ: Muốn tiến bộ, phát triển, muốn xóa bỏ mọi cách biệt
giữa các dân tộc, bên cạnh sự giúp đỡ to lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân cả
nước, việc phát huy nội lực, phát huy tính chủ động, sáng tạo, ý chí tự lực, tự
cường của đồng bào các dân tộc thiểu số để phát triển sản xuất, xóa đói giảm
nghèo, củng cố hệ thống chính trị, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là yếu tố rất
quan trọng.
Với quan điểm đó, Đảng bộ các tỉnh miền núi Đông Bắc luôn xác định, các
chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số khi
triển khai thực hiện nhất thiết cần phải nhận được sự đồng tình hưởng ứng của
nhân dân các dân tộc, đảm bảo Quy chế dân chủ ở cơ sở; người dân được quyết
định, kiểm tra, giám sát đối với các chương trình liên quan trực tiếp đến đời sống
của họ. Việc lựa chọn đầu tư xây dựng các công trình phải do nhân dân công khai
bàn bạc và được Hội đồng nhân dân quyết định. Kinh nghiệm cho thấy, chương
trình, dự án nào nhân dân được tham gia bàn bạc ngay từ đầu thì sẽ huy động
nguồn lực tốt hơn, củng cố được niềm tin và sự hưởng ứng của người dân vào
chính sách đầu tư của Đảng và Nhà nước. Chương trình 135 là một ví dụ. Chương
trình 135 đã định hướng rất rõ trước hết phải phát huy nội lực của người dân, của
cộng đồng kết hợp với sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước nhằm thu hút nguồn lực về
lao động, đất đai và tài nguyên của địa phương. Sự đóng góp của cộng đồng đã
làm tăng cường sự tham gia và trách nhiệm trong việc cải thiện chất lượng, duy tu
bảo dưỡng và sử dụng hiệu quả các công trình ở địa phương.Việc áp dụng một
quy trình minh bạch có sự tham gia của người dân đã khuyến khích ý thức làm
chủ của người dân địa phương đối với công trình, đảm bảo tính bền vững lâu dài
trong sử dụng.
Sự tham gia của người dân - một tác nhân quan trọng cho sự thành công của
các chương trình, dự án được triển khai trên địa bàn các tỉnh miền núi Đông Bắc.
152
Tiểu kết chương 3
Chính sách dân tộc là hệ thống chính sách tổng hợp về kinh tế, văn hoá, xã
hội, an ninh, quốc phòng… thể hiện nguyên tắc, mục tiêu phát triển bình đẳng, đoàn
kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc trên đất nước Việt
Nam. Từ đó, gây ảnh hưởng tích cực cho việc thực hiện các mục tiêu khác của đất
nước. Đánh giá về chủ trương và những kết quả đã đạt được trong quá trình thực
hiện chính sách dân tộc tại vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1996 -
2010 của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tác giả luận án nhận thấy: Đảng Cộng sản
Việt Nam đã có những chủ trương đúng đắn trong việc thực hiện vai trò của mình
trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, coi
đây là vấn đề mang tính “chiến lược, cơ bản, lâu dài”, nhằm thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng, phục vụ cho mục tiêu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đã có
những chủ trương, chính sách đúng đắn trong việc ngăn chặn những tác động tiêu
cực, những tác động không mong muốn của quá trình toàn cầu hoá, kinh tế thị
trường vào vùng dân tộc và miền núi. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính
sách dân tộc tại vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam, Đảng bộ và chính quyền địa
phương cũng gặp không ít khó khăn trong việc cụ thể hoá chủ trương của Đảng vào
thực tiễn do nhiều nguyên nhân khác nhau mà luận án này đã phân tích ở phần đánh
giá chung về hạn chế. Từ thực tế lãnh đạo việc thực hiện chính sách dân tộc, Đảng
Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam cần khẩn trương nghiên cứu, xác định
phương hướng, giải pháp đúng đắn, sát hợp với trình độ, tập quán của từng vùng,
từng địa phương, từng tộc người nhằm phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, xây
dựng vùng dân tộc thiểu số vững mạnh toàn diện. Đây vừa là yêu cầu cấp bách của
vùng dân tộc thiểu số miền núi, vừa là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng đối với sự
nghiệp cách mạng lâu dài của đất nước.
153
KẾT LUẬN
Chính sách dân tộc là một trong những vấn đề cơ bản và mang tính chiến
lược của cách mạng Việt Nam. Trong một quốc gia đa dân tộc, đây là vấn đề có ý
nghĩa sống còn. Chỉ trên cơ sở một chính sách dân tộc đúng đắn mới có thể giải
quyết được vấn đề dân tộc - một vấn đề được coi là phức tạp và nhạy cảm... Một
chính sách dân tộc đúng phải tác động làm biến đổi thực sự bộ mặt kinh tế, văn hoá,
xã hội của các vùng dân tộc và các dân tộc; từng bước cải thiện; nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân. Suy đến cùng, việc thực hiện chính sách dân tộc
nhằm bảo đảm nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát
triển giữa các dân tộc.
Từ năm 1996 đến 2010, để thực hiện mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước
đã có nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên phát triển miền núi, vùng dân tộc, đặc
biệt là Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ bảy, khoá IX về
công tác dân tộc và tôn giáo và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng. Bên cạnh đó, Chính phủ đã triển khai nhiều chương trình, dự án nhằm
đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế - xã hội miền núi tạo ra sự phát triển toàn
diện, bền vững các tỉnh miền núi, trong đó phát triển kinh tế là nền tảng, phát triển
văn hoá - xã hội là khâu đột phá.
Miền núi Đông Bắc Việt Nam là vùng có nguồn tài nguyên thiên nhiên, xã
hội, lịch sử, văn hoá vô giá cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước...
Là địa bàn cư trú của hàng chục dân tộc thiểu số (Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao,
Mông…). Đặc biệt, nơi đây có căn cứ địa Việt Bắc - cái nôi của cách mạng. Do
vậy, việc phát huy các thế mạnh của vùng không chỉ có ý nghĩa kinh tế lớn, mà còn
có ý nghĩa chính trị sâu sắc…
Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng tại vùng miền núi Đông
Bắc Việt Nam được thể hiện ở những nội dung cơ bản: Phát triển kinh tế, ổn định
dân cư đối với đồng bào các dân tộc thiểu số; đẩy mạnh công tác xoá đói giảm
nghèo và giải quyết việc làm; nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá
154
dân tộc, chăm sóc sức khoẻ nhân dân; xây dựng và củng cố hệ thống chính trị tại cơ
sở, đào tạo bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số; xây dựng, củng cố nền quốc
phòng toàn dân và an ninh nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng tại vùng miền núi Đông Bắc
Việt Nam đã mang lại những kết quả tốt đẹp. Chính sách dân tộc ngày càng chứng
minh được vai trò của mình trong hệ thống các chính sách quốc gia, đóng góp tích
cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
Trong giai đoạn từ 1996 đến 2010, với việc cụ thể hoá chính sách dân tộc
của Đảng vào thực tiễn, được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước cũng như sự nỗ lực
vươn lên của đồng bào các dân tộc, miền núi Đông Bắc đã đạt được những kết quả
bước đầu nhưng quan trọng: Quyền bình đẳng dân tộc thể hiện ngày càng rõ trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, hệ thống chính trị được xây dựng và củng cố; kết
cấu hạ tầng xã hội ngày càng được quan tâm đầu tư, đáp ứng bước đầu cho phát
triển kinh tế dân sinh; đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện và nâng
cao; chính trị ổn định và quốc phòng, an ninh được giữ vững.
Do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, khi triển khai chính sách dân
tộc của Đảng trên thực tế tại miền núi Đông Bắc đã gặp không ít khó khăn, hạn chế:
Những kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của vùng; nhận
thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền còn giản đơn về vấn đề dân tộc và chính
sách dân tộc; ở một số địa phương, sự đầu tư của Nhà nước vào vùng đồng bào dân
tộc thiểu số còn tràn lan, dàn trải và chưa sát hợp đối tượng nên hiệu quả đầu tư còn
thấp; chưa khai thác, phát huy tối đa những giá trị, truyền thống tốt đẹp của đồng
bào các dân tộc; phong tục tập quán lạc hậu, tình trạng di dân tự do cùng với sự
chống phá của các thế lực thù địch ở vùng đồng bào dân tộc miền núi. Tình trạng
trên không những làm cho các dân tộc thiểu số khó vươn lên hoà nhập cùng với sự
phát triển chung của cả nước, mà còn tạo ra khoảng cách phát triển giữa các dân
tộc, tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội, nhất là khi bị các thế
lực thù địch lợi dụng.
155
Qua quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng tại một số tỉnh miền
núi Đông Bắc, có thể đúc rút một số kinh nghiệm: 1) Bám sát đặc điểm cấu trúc xã
hội tộc người ở các tỉnh miền núi Đông Bắc để cụ thể hoá, vận dụng chính sách của
Đảng cho phù hợp với thực tiễn; 2) Xác định đúng trọng tâm, trọng điểm để đầu tư
các nguồn lực, tạo ra các bước phát triển đột phá; 3) Gắn phát triển kinh tế - xã hội
với bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng đồng bào dân tộc thiểu số là chủ trương nhất
quán, xuyên suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc; 4) Coi trọng
nâng cao vai trò của hệ thống chính trị địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện
chính sách dân tộc; 5) Phải tạo mọi điều kiện để thu hút sự tham gia của đồng bào
dân tộc thiểu số tại chỗ trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách dân tộc.
Thông qua quá trình nghiên cứu, tác giả luận án mạnh dạn nêu ra một số vấn
đề cần tập trung giải quyết trong thời gian tới: 1) Phải coi trọng và đầu tư mạnh mẽ,
quyết liệt, đủ tầm, đủ độ chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho vùng đồng bào
dân tộc thiểu số nhằm thu hẹp sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, xã hội, kể
cả sự chênh lệch giữa các dân tộc thiểu số; 2) Trong quá trình thực hiện chính sách,
cần phải phát huy ý thức tự lực, tự cường, vươn lên trong cộng đồng các dân tộc
thiểu số; phải khai thác được sáng kiến của cộng đồng dân cư, tri thức bản địa; 3)
Nâng cao chất lượng đội ngũ các nhà hoạch định, quản lý và tổ chức thực hiện
chính sách dân tộc.
Trong những năm trước mắt, để thực hiện chính sách dân tộc đạt kết quả,
Đảng và Nhà nước Việt Nam phải không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách dân
tộc; đồng thời, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của Đảng bộ, chính quyền địa
phương các cấp và sự chung tay của đồng bào các dân tộc thiểu số, đóng góp vào sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam: dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
156
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Hoàng Thu Thuỷ (2010), Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo thực hiện chính
sách dân tộc từ năm 1997 đến nay, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 3.
2. Hoàng Thu Thuỷ (2012), Thành tựu và hạn chế trong thực hiện chính sách dân tộc của tỉnh Thái Nguyên thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và một số bài học kinh nghiệm, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, tập 100, số 12.
3. Hoàng Thu Thuỷ (2013), Tình hình đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số tỉnh Hà Giang trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, tập 112, số 12.
4. Hoàng Thu Thuỷ (2013), Công tác xóa đói giảm nghèo tại vùng miền núi Đông
Bắc Việt Nam giai đoạn 2001-2010, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 206.
5. Hoàng Thu Thuỷ (2014), Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở các tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đề tài khoa học và công nghệ cấp Đại học Thái Nguyên (mã số ĐH2012- TN04-04), Thái Nguyên.
157
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Tài liệu tiếng Việt
1. Ban Chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương (2010), Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ, Nxb Thống kê, Hà Nội, tháng 6.
2. Hoàng Chí Bảo (2009), Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
3. Bộ Chính trị (1989), Nghị quyết số 22/1989/NQ-TW ngày 27-12-1989 Về chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, http://www.na.gov.vn/sach_qh/chinhsachpl/phan1/p1_iv_7.html. 4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Cục Trồng trọt, Báo cáo sơ kết sản xuất trồng trọt năm 2006 và kế hoạch phát triển sản xuất trồng trọt năm 2007 các tỉnh vùng miền núi phía Bắc, Hà Nội.
5. Trịnh Quang Cảnh (2005), Phát huy vai trò đội ngũ trí thức các dân tộc thiểu số nước ta trong sự nghiệp cách mạng hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Chính phủ (2011), Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 về công tác dân tộc, http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-dinh/Nghi- dinh-05-2011-ND-CP-cong-tac-dan-toc-vb117534t11.aspx
7. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [Trực tuyến]. Địa chỉ: http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungquyhoachvung?_pi ref135_16042_135_16035_16035.strutsAction=ViewDetailAction.do&_p iref135_16042_135_16035_16
8. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam [Trực tuyến]. Địa chỉ:http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban ?class_id=1&mode=detail&document_id=45755.
9. Phan Hữu Dật (chủ biên) (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay (sách tham khảo), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
10. Hoàng Trọng Diên (2012), Kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, cận nghèo trên cả nước,
http://baodientu.chinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx? distributionid=133781
158
11. Khổng Diễn (1995), Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam, Nxb Khoa học
Xã hội, Hà Nội.
12. Donovan D., Rambo T.A, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997), Những xu hướng phát triển ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, Tập 1: Tổng quan và phân tích, Tập 2: Các nghiên cứu mẫu và bài học từ châu Á, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
13. Trương Minh Dục (2009), Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở miền Trung, Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội.
14. Đảng bộ tỉnh Cao Bằng (2010), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (Nhiệm kỳ 2010- 2015), số 01- BC/TU, Cao Bằng
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ III, Nxb Sự thật, Hà Nội.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp
hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp
hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp
hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
159
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
26. Bế Viết Đẳng (Chủ biên) (1996), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, Nxb Chính trị Quốc gia, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội.
27. Đằng Thành Đạt (2007), Nghiên cứu so sánh chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại, Luận án tiến sỹ Lịch sử, chuyên ngành Dân tộc học, Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.
28. Hội đồng Bộ trưởng (1990), Quyết định số 72/1990/QĐ-HĐBT ngày 13-3- 1990 Về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi, http://thuvienphapluat.vn/archive/Quyet-dinh-72-HDBT-chu- truong-cu-the-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-mien-nui-vb88753.aspx.
29. Hội đồng dân tộc của Quốc hội khoá X (2000), Chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước về dân tộc, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội. 30. Đoàn Minh Huấn (2010), "Những xu hướng tác động đến quản lý phát triển xã hội các vùng dân tộc thiểu số nước ta", Tạp chí Lý luận Chính trị, số 8. 31. Nguyễn Khôi (chủ nhiệm đề tài), Việc thực hiện chính sách dân tộc trên lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản lý cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay, http://www.na.gov.vn/sach_qh/chinhsachpl /phan4/p4_iv_3.html
32. Chu Kiện, Lưu Đông Nhiệm (2005), “Chính sách dân tộc của Việt Nam và ảnh hưởng của chính sách đó đến khu vực dân tộc biên giới Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu vấn đề dân tộc, số 1.
33. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 34. Moto F. (1989), Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam, Luận án
Tiến sĩ Lịch sử, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.
35. Hoàng Nam (2004), Văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc Việt Nam (Giáo
trình Đại học), Trường Đại học Văn hoá Hà Nội, Hà Nội.
36. Đậu Tuấn Nam (2013), Di cư của người Hmông từ đổi mới đến nay (Sách
chuyên khảo), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
160
37. Nguyễn Quốc Phẩm, Trịnh Quốc Tuấn (1999), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
38. Rambo T.A (1997), “Những xu hướng phát triển ở miền núi phía Bắc Việt Nam”, trong quyển Những xu hướng phát triển ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, tập 1, Tổng quan và phân tích, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
39. Nguyễn Thành Sơn, Bất cập ngành than, http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/
2010-05-13-bat-cap-nganh-than
40. Phan Xuân Sơn, Lưu Văn Quảng (2006), Những vấn đề cơ bản về chính sách
dân tộc ở nước ta hiện nay, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội.
41. Nguyễn Xuân Thắng (2002), Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc thời kỳ 1992 - 2000, Luận văn thạc sỹ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội.
42. Nguyễn Đăng Thành (2012), Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
43. Thủ tướng Chính phủ (1998), Quyết định 135/1998/QĐ-TTg ngày 31-7-1998 Về việc phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa, http://www.moj.gov.vn/vbpq/ Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=7608.
44. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 231/QĐ-TTg ngày 23-02-2012,
http://thuvienphapluat.vn/archive/Quyet-dinh/Quyet-dinh-231-QD-TTg-
sach-xa-hoan-thanh-muc-tieu-Chuong-trinh-135-vb135027t17.aspx.
45. Thư viện pháp luật [Trực tuyến]. Địa chỉ: http://thuvienphapluat.vn. 46. Thư viện pháp luật [Trực tuyến]. Địa chỉ: http://thuvienphapluat.vn/archive/
Quyet-dinh/Quyet-dinh-640-QD-LDTBXH-phe-duyet-Ket-qua-tong-dieu-
tra-ho-ngheo-vb124911t17.aspx
47. Nguyễn Bá Thuỷ (2004), Di dân tự do của đồng bào Tày, Nùng, H’mông, Dao từ Cao Bằng, Lạng Sơn vào ĐắkLắk (1986 - 2000), Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội.
161
48. Nguyễn Thanh Thuỷ (2001), Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Luận án tiến sĩ Lịch sử, Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam. 49. Tỉnh uỷ Cao Bằng (1997), Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về các giải pháp khắc phục tình trạng di cư tự do, số 01-NQ/TU, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Cao Bằng.
50. Tỉnh uỷ Cao Bằng (1998), Nghị quyết về tăng cường chỉ đạo xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở các xã biên giới, số 03- NQ/TU, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Cao Bằng.
51. Tỉnh uỷ Cao Bằng (1999), Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về tăng cường sự lãnh đạo công tác xoá đói giảm nghèo năm 1999 - 2000, số 967- NQ/TU, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Cao Bằng.
52. Tỉnh uỷ Cao Bằng (2001), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về chương trình xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2005, số 04-NQ/TU, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Cao Bằng.
53. Tỉnh uỷ Cao Bằng (2002), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành đảng bộ tỉnh khoá XV về qui hoạch tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ dân tộc ít người giai đoạn 2001 - 2010, số 08-NQ/TU, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Cao Bằng.
54. Tỉnh uỷ Hà Giang (2008), Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tăng cường lãnh đạo thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững từ nay đến năm 2010, số 12-NQ/TU, Hà Giang, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Hà Giang.
55. Tỉnh uỷ Hà Giang (2011), Báo cáo tổng kết 6 năm thực hiện Nghị quyết số 37/NQ-TW về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010, số -BC/TU, Hà Giang, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Hà Giang.
56. Tỉnh uỷ Lạng Sơn (2003), Chương trình hành động của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; về công tác dân tộc; về công tác tôn giáo, số 19- CTr/TU, Lạng Sơn, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Lạng Sơn.
162
57. Tỉnh uỷ Lạng Sơn (2004), Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Lạng Sơn, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Lạng Sơn.
58. Tỉnh uỷ Lạng Sơn (2010), Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện chính sách cử tuyển tỉnh Lạng Sơn, giai đoạn 2005 - 2010, số 13- BC/TU, Lạng Sơn, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Lạng Sơn.
59. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2001), Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội miền núi, hải đảo giai đoạn 2001 - 2005, số 07-NQ/TU, Quảng Ninh, lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Quảng Ninh.
60. Vương Xuân Tình, Trần Hồng Hạnh (Đồng chủ biên) (2012), Phát triển bền vững văn hoá tộc người trong quá trình hội nhập ở vùng Đông Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
61. Lô Quốc Toản (2009), “Kết quả thực hiện chế độ cử tuyển ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 1990 đến năm 2005”, Dân tộc (Tạp chí Lý luận của Uỷ ban dân tộc), http://cema.gov.vn/modules.php?mid= 8803&name= Content&op=details#ixzz2meWm9pGz.
62. Lô Quốc Toản (2010), Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 63. Tổng cục Thống kê (1999), Chuyên đề phân tích, Phân tích Kết quả điều tra đời sống, kinh tế hộ gia đình năm 1999, http://www.gso. gov.vn/default.aspx?tabid=418&ItemID=2543
64. Tổng cục Thống kê, Chuyên đề phân tích, tình hình kinh tế - xã hội 10 năm 1991-2000, các lĩnh vực xã hội, http://www.gso.gov.vn/default. aspx?tabid=418&ItemID=1466.
65. Tổng cục Thống kê (2004), Số liệu thống kê Việt Nam thế kỷ XX, Quyển 3,
Nxb Thống kê, Hà Nội.
66. Tổng cục Thống kê (2005), Tư liệu kinh tế - xã hội 64 tỉnh và thành phố Việt
Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội.
67. Tổng cục Thống kê (2007), Niên giám thống kê 2006, Nxb Thống kê, Hà Nội. 68. Tổng cục Thống kê (2007), Chuyên đề phân tích, Tổng quan về chính sách
kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2007, www.gso.gov.vn
163
69. Tổng cục Thống kê (2010), Kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2010, Nxb
Thống kê, Hà Nội.
70. Tổng cục Thống kê (2011), Niên giám thống kê 2010, Nxb Thống kê, Hà Nội. 71. Tổng cục Thống kê (2011), Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam mười năm
2001-2010, Nxb Thống kê, Hà Nội.
72. Tổng cục Thống kê (2012), Niên giám thống kê 2011, Nxb Thống kê, Hà Nội. 73. Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (2014), Triết học. Địa chỉ:
http://daitudien.net/triet-hoc/triet-hoc-ve-dan-toc.html.
74. Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (2014), Chính trị học. Địa chỉ:
http://daitudien.net/chinh-tri-hoc/chinh-tri-hoc-ve-chinh-sach-dan-toc.html.
75. Bùi Xuân Trường (1998), “Một số vấn đề thực hiện chính sách dân tộc miền núi của Đảng và Nhà nước hiện nay”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Phân viện Hà Nội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
76. Trịnh Quốc Tuấn (Chủ biên) (1996), Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay -
Vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
77. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) (2009), Địa lý các vùng kinh tế Việt Nam, Nxb
Giáo dục Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
78. Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (1996), Báo cáo về việc sơ kết cuộc vận động tập trung tăng cường công tác giải quyết một số vấn đề bức xúc về kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh - trật tự ở huyện Bảo Lạc (từ 07/3 đến 30/6/1996), số 384/UB-BC, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng.
79. Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2005), Báo cáo tổng kết 7 năm thực hiện chương trình 135 trên địa bàn tỉnh, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng.
80. Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2009), Báo cáo tổng kết 4 năm thực hiện Quyết định 134 giai đoạn 2004-2008 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng.
81. Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2009), Báo cáo tổng kết công tác dân tộc qua các thời kỳ cách mạng và phương hướng nhiệm vụ công tác dân tộc đến năm 2020, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng.
164
82. Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2010), Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 30a, Báo cáo sơ kết 2 năm thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ- CP tại 05 huyện nghèo tỉnh Cao Bằng, số /BC-BCĐNQ 30a, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng.
83. Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2010), Báo cáo tổng kết thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc giai đoạn 2006 - 2010 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, Cao Bằng, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng. 84. Uỷ ban Dân tộc và miền núi (1995), Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện các chủ trương chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi, Hà Nội, lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Hồ sơ 269 - Phông Uỷ ban dân tộc và miền núi.
85. Uỷ ban Dân tộc và miền núi (1996), Chương trình quốc gia hỗ trợ đồng bào các dân tộc đặc biệt khó khăn 1996-2010, Hà Nội, lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia III - Phông Uỷ ban dân tộc và miền núi.
86. Uỷ ban Dân tộc và miền núi (1997), Hệ thống các văn bản chính sách dân tộc và miền núi, tập II về kinh tế - xã hội, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 87. Uỷ ban Dân tộc, Viện Dân tộc (2009), Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội.
88. Uỷ ban Dân tộc [Trực tuyến]. Địa chỉ: http://cema.gov.vn/modules.php?
name=Doc&op=detaildoc&pid=18.
89. Uỷ ban Dân tộc [Trực tuyến]. Địa chỉ: http://cema.gov.vn/modules.php?
name=Doc&op=detaildoc&pid=1181#ixzz2mTD7RaMW.
90. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang, Ban chỉ đạo XĐGN-VL và 135 (2005), Báo cáo kết quả thực hiện chương trình 135 qua 7 năm (từ 1999 - 2005) và dự kiến các xã đã hoàn thành mục tiêu của chương trình để ra khỏi xã 135 tỉnh Hà Giang, số 03/BC- XĐGN135, Hà Giang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang.
91. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang, Sở Kế hoạch và Đầu tư (2006), Báo cáo kết quả thực hiện chương trình 135 qua 7 năm (từ 1999- 2005) và xác định các xã đã hoàn thành mục tiêu của chương trình để ra khỏi xã 135 tỉnh Hà Giang, số /BC-KHNN, Hà Giang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang.
165
92. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang (2008), Tài liệu hội thảo “Du lịch cộng đồng thực trạng và giải pháp phát triển bền vững”, Bắc Mê - Hà Giang, lưu tại Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang. 93. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang (2009), Báo cáo tổng kết 4 năm thực hiện Chương trình 134/TTg từ năm 2004-2008, Hà Giang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang.
94. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang (2009), Kỷ yếu Đại hội đại biểu các dân tộc
thiểu số tỉnh Hà Giang lần thứ I- năm 2009, Hà Giang.
95. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang (2010), Sở Lao động - Thương binh Xã hội, Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ năm 2009-2010 trên địa bàn tỉnh Hà Giang, số 136/BC-LĐTBXH, Hà Giang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang. 96. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang, Ban Dân tộc (2011), Báo cáo thực trạng học sinh người dân tộc thiểu số đi học theo chính sách cử tuyển từ 2000 đến 2010, số /BC-BDT, Hà Giang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang.
97. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang, Ban Dân tộc (2011), Báo cáo kết quả thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc giai đoạn 2006- 2010 trên địa bàn tỉnh Hà Giang, số /BC-BDT, Hà Giang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang.
98. Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Ban chỉ đạo dự án 21 xã biên giới (1998), Báo cáo về việc 2 năm (1996 - 1997) thực hiện dự án: ổn định phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng 21 xã vùng cao biên giới tỉnh Lạng Sơn, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn. 99. Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Ban chỉ đạo 134-135 (2006), Báo cáo kết quả thực hiện chương trình 135 giai đoạn 1999- 2005, số BC-BCĐ, Lạng Sơn, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
100.
Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2008), Báo cáo tổng kết 4 năm thực hiện Quyết định 134 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, số 249/ BC-UBND, Lạng Sơn, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
166
101. Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2009), Báo cáo tổng kết công tác dân tộc qua các thời kỳ cách mạng và phương hướng, nhiệm vụ công tác dân tộc đến năm 2020, Lạng Sơn, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
102. Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2011), Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II (2006- 2010) trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, số 95/BC- BDT, Lạng Sơn, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn. 103. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Sở Giáo dục - Đào tạo (2007), Báo cáo tóm tắt việc cử tuyển năm 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006 và thu nhận, tổng hợp hồ sơ đăng kí vào các trường Đại học theo chế độ cử tuyển năm 2007, số 1866/SGD&ĐT-GDCN&TX, Quảng Ninh, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
104. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2008), Quyết định về việc cử học sinh đi học đại học theo chế độ cử tuyển năm 2008, số 3460/QĐ-UBND, Quảng Ninh, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
105. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2008), Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Hạ Long, tháng 8, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
106. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2009), Báo cáo tình hình dân tộc, công tác dân tộc và phong trào thi đua yêu nước của đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ninh qua các thời kỳ cách mạng; phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ công tác dân tộc đến năm 2020, số BC-UBND, Quảng Ninh, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
107. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2009), Quyết định về việc cử học sinh đi học đại học theo chế độ cử tuyển năm 2009, số 3473/QĐ-UBND, Quảng Ninh, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
108. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2010), Báo cáo thực trạng kinh tế xã hội các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn và nhu cầu đầu tư hỗ trợ giai đoạn 2011 - 2015, số 22/BC-UBND, Hạ Long, tháng 4, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
167
109. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2010), Báo cáo về việc thực hiện xoá đói giảm nghèo qua Chương trình 135 giai đoạn II (2006 - 2010); việc quản lý, lồng ghép các Chương trình mục tiêu Quốc gia và các dự án liên quan trực tiếp đến xoá đói giảm nghèo trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn, số 04/BC-UBND, Hạ Long, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
110. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2010), Quyết định về việc cử học sinh đi học đại học theo chế độ cử tuyển năm 2010, số 3477/QĐ-UBND, Quảng Ninh, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
111. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Ban Dân tộc (2011), Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II và tình hình triển khai thực hiện một số chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh năm 2011, số 45/BC-BDT, Quảng Ninh, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. 112. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2011), Báo cáo Tổng kết đánh giá kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo giai đoạn 2006- 2010, số 52/BC- UBND, Quảng Ninh, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. 113. Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang, Ban Chỉ đạo chương trình 135 (2005), Báo cáo sơ kết 7 năm thực hiện Chương trình 135 tỉnh Tuyên Quang (1999- 2005), Tuyên Quang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang. 114. Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2009), Báo cáo tổng kết phong trào thi đua yêu nước của đồng bào các dân tộc thiểu số qua các thời kỳ cách mạng; kết quả thực hiện công tác dân tộc từ Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) đến nay và định hướng đến năm 2020, Tuyên Quang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang. 115. Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang, Ban Dân tộc (2011), Chuyên đề thực tiễn triển khai và những tác động trong việc thực hiện chủ trương của
Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác xoá đói, giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang,Tuyên Quang, lưu tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
116. Đàm Thị Uyên (2010), Văn hóa dân tộc Nùng ở Cao Bằng, Nxb Văn hóa -
Thông tin, Hà Nội.
168
117. Đặng Nghiêm Vạn (2003), Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, Nxb Đại
học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
118. Viện Dân tộc học, Ngân hàng Thế giới, Xoá đói giảm nghèo, vấn đề và giải pháp ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam (2004), Kỷ yếu hội thảo, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
119. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Dân tộc học (2013), Báo cáo kết quả thực hiện đề tài cấp bộ năm 2011 - 2012, Một số vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc trong phát triển bền vững các tỉnh biên giới Việt Nam (Báo cáo tổng hợp), Hà Nội, lưu tại thư viện Viện Dân tộc học.
120. Viện Nghiên cứu chính sách dân tộc và miền núi (2002), Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
* Tài liệu tiếng Anh
121. Jamieson N. (2000), Socio - economic Overview of the Northern Mountain
Region and the Project and Poverty Reduction in the Northern Mountain
Region of Vietnam, Concept Paper perpared for the World Bank,
Unpublished.
122. Jamieson N. (2000), Rethinking Approaches to Ethenic Minority Development, The Case of Vietnam, Concept Paper perpared for the World Bank, Unpublished.
169
PHỤ LỤC
170
Phụ lục 1
DÂN SỐ MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM NĂM 2009
Đơn vị tính: Người
Số dân theo đạo Dân số Dân tộc thiểu số Số dân Tỷ lệ % Số dân
Nguồn: Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương [1]
85.846.997 12.252.570 1.847.838 3.109.223 628.568 724.537 477.994 507.183 608.082 732.515 133.194 1.144.988 14,3 59,43 86,8 94,2 83,0 11,6 15.651.467 53.395 13.900 11.134 4.821 23.540 Tỷ lệ % 18,2 1,7 1,9 2,2 0,7 2,1 Toàn quốc Miền núi Đông Bắc Hà Giang Cao Bằng Lạng Sơn Quảng Ninh
Phụ lục 2 ĐỊA BÀN CƯ TRÚ CHỦ YẾU CỦA CÁC DÂN TỘC TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM
Tỉnh
Hà Giang
Cao Bằng
Lạng Sơn
Quảng Ninh
X X
X X
X X X
X X
X X
X X
X X X X X X X
X
X
X
X
X X X X X X X X
Dân tộc Kinh Tày Nùng Mông Dao Sán Chay Giáy La Chí Phù Lá Lô Lô Bố Y Cơ Lao Ngái Pu Péo
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu Cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 [1]
171
Phụ lục 3 MỘT SỐ VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM (1996 - 2010)
Năm
1996
1998
Tên văn bản Chỉ thị 393 - TTg ngày 10/6/1996 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch dân cư, tăng cường cơ sở hạ tầng, sắp xếp sản xuất ở vùng dân tộc và miền núi Chỉ thị số 23-CT-/TW của Bộ Chính trị ngày 29/11/1997 về lãnh đạo thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo Quyết định số 02/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 06/1/1998 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội vùng Đông Bắc giai đoạn từ nay đến năm 2010 Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31/3/1998 của Chính phủ về phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa
1999
2001
2002
2003
2004
Chỉ thị số 39/1998/CT-TTg ngày 3/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác văn hoá - thông tin ở miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 24/12//1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các xã đặc biệt khó khăn và xã biên giới thuộc phạm vi Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa Quyết định số 53/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19/4/2001 về phát triển kinh tế cửa khẩu Quyết định số 186/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 07/12/2001 về việc phát triển kinh tế - xã hội 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc, thời kỳ 2001 - 2005 Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ tháng 10/2002 về chính sách chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo và người dân tộc thiểu số Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc Nghị quyết sô 37/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 01/7/2004 về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến 2010 Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số ngèo, đời sống khó khăn Chỉ thị số 38/2004/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 9/11/2004 về việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số đối với cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc, miền núi
172
2005
2006
2007
2008
2009
Quyết định số 60/2005/QĐ-TTg ngày 24/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạhc ổn định dân cư các xã biên giới Việt - Trung đến năm 2010 Quyết định số 267/2005/QĐ-TTg ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú Quyết định số 07/2006/QĐ-TTg ngày 10/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi giai đoạn 2006 - 2010 (Chương trình 135 giai đoạn II) Quyết định số 975/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/7/2006 về việc cấp một số loại báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi vùng đặc biệt khó khăn Quyết định số 193/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24//8/2006 về phê duyệt chương trình bố trí dân cư các vùng: Thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, xung yếu và rất xung yếu của rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2015 Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg ngày 5/2/2007 phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2007 - 2010 Quyết định số 112/2007/QĐ-TTg ngày 20/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ học bổng cho học sinh nghèo Quyết định số 27/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với các tỉnh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010 Quyết định số 289/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 18/3/2008 về các chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 07/8/2009 về chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn
Nguồn: Tổng hợp từ cuốn sách Hệ thống các văn bản chính sách dân tộc và miền núi, tập II về kinh tế - xã hội [86] và trang web: http://thuvienphapluat.vn [45]
173
Phụ lục 4 THU NHẬP BÌNH QUÂN MỘT NGƯỜI MỘT THÁNG PHÂN THEO ĐỊA PHƯƠNG, 1996 - 1999
Đơn vị tính: nghìn đồng
TT
1996
1999
Tỉnh
1999 so với 1996 (%) 125,53
1
223,3
280,3
2
174,1
212,4
122,0
3
194,7
252,8
129,8
4
Đồng Bằng sông Hồng Bắc Trung Bộ Duyên Hải Nam Trung Bộ Tây Nguyên
265,6
344,7
129,8
5
378,1
527,8
139,6
Đông Nam Bộ
242,3
342,1
141,2
6 7
173,80
210,00
120,83
142,73
198,70
139,21
185,93
230,50
123,97
186,96 299,02
243,00 353,00
129,97 118,05
Đồng Bằng Sông Cửu Long Tây Bắc và Đông Bắc Hà Giang Cao Bằng Lạng Sơn Quảng Ninh
Nguồn: Tổng cục Thống kê [65, tr.1909-1910]
Phụ lục 5 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA KẾT CẤU HẠ TẦNG CÁC XÃ KHU VỰC NÔNG THÔN MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM NĂM 1998, 1999, 2000
Đơn vị: xã
Điện
Trạm xá
Trường Tiểu học
Đường ô tô đến trung tâm xã
Trường Trung học cơ sở
1998
2000
1998
2000
1998
2000
1999
2000
1998
2000
124
135
141
178
174
174
90
114
178
178
83
126
135
159
177
175
111
113
173
175
129
155
206
206
194
206
146
146
145
145
100
104
125
126
132
133
108
108
133
133
Hà Giang Cao Bằng Lạng Sơn Quảng Ninh
Nguồn: Tổng cục Thống kê [65, tr.1013]
174
Phụ lục 6
DANH SÁCH 62 HUYỆN NGHÈO NHẤT TRÊN CẢ NƯỚC THEO NGHỊ QUYẾT 30a/2008/NQ-CP
Tên huyện
Tỉnh
Số huyện nghèo
Hà Giang
6
Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, Hoàng Su Phì, Xín Mần
5
Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thông Nông, Hà Quảng, Hạ Lang
Cao Bằng
Lào Cai
3
Si Ma Cai, Mường Khương, Bắc Hà
Yên Bái
2
Mù Cang Chải, Trạm Tấu
2
Bắc Kạn
Ba Bể, Pác Nặm
1
Bắc Giang
Sơn Đông
1
Phú Thọ
Tân Sơn
5
Sơn La
Sốp Cộp, Phù Yên, Bắc Yên, Mường La, Quỳnh Nhai
Lai Châu
5
Mường Tè, Phong Thổ, Sìn Hồ, Tân Yêu, Than Uyên
4
Điện Biên
Điện Biên Đông, Mường Nhé, Tủa Chùa, Mường Ảng
Thanh Hóa
7
Lang Chánh, Thường Xuân, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Như Xuân, Bá Thước
3
Nghệ An
Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong
1
Minh Hóa
Quảng Bình
1
Quảng Trị
Đa Krông
6
Quảng Ngãi
Sơn Hà, Trà Bồng, Sơn Tây, Minh Long, Tây Trà, Ba Tơ
3
Quảng Nam
Nam Trà My, Tây Giang, Phước Sơn
3
Bình Định
An Lão, Vĩnh Thanh, Vân Canh
1
Bác Ái
Ninh Thuận
Kon Tum
2
Tu Mơ Nông, Kon Plông
1
Lâm Đồng
Đam Rông
Nguồn: Uỷ ban Dân tộc [89]
175
Phụ lục 7 KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA HỘ NGHÈO, HỘ CẬN NGHÈO NĂM 2010 (Ban hành kèm theo Quyết định số 640/QĐ-LĐTBXH ngày 30 tháng 5 năm 2011 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)
Hộ nghèo Hộ cận nghèo STT Tỉnh/Thành phố Tổng số Tỷ lệ Tổng số Tỷ lệ
3.055.565 14,20 1,612,381 7,49 Cả nước
581.559 227.496 24,62 9,63 I Miền núi Đông Bắc
63.461 41,80 21.282 14,02 1 Hà Giang
63.404 34,83 20.666 11,35 2 Tuyên Quang
3 44.233 38,06 7.854 6,76 Cao Bằng
4 51.129 28,34 22.806 12,64
58.791 20,57 30.391 10,63 5 Lạng Sơn Thái Nguyên
78.389 19,61 35.385 8,85 6 Bắc Giang
61.042 20.127 14,18 43,00 7 Lào Cai
44.078 10.627 5,84 24,23 8 Yên Bái
71.431 35.194 10,02 20,34 9 Phú Thọ
23.050 7,68 11.280 3,76
22.551 32,13 11.884 16,93 10 Quảng Ninh 11 Bắc Kạn
236.365 39,16 80.118 13,27 II Miền núi Tây Bắc
88.949 38,13 33.551 14,38 12 Sơn La
51.644 50,01 8.617 8,35 13 Điện Biên
35.566 46,78 8.647 11,37 14 Lai Châu
60.206 31,51 29.303 15,34 15 Hòa Bình
409.823 8,30 261.586 5,30
18.975 7,21 14.069 5,35 III Đồng bằng sông Hồng 16 Bắc Ninh
27.612 11,05 17.651 7,06 17 Vĩnh Phúc
76.707 4,97 37.929 2,46 18 Hà Nội
31.948 6,55 24.489 5,02 19 Hải Phòng
176
Hộ nghèo Hộ cận nghèo STT Tỉnh/Thành phố Tổng số Tỷ lệ Tổng số Tỷ lệ
54.646 9,95 42.602 7,76 20 Nam Định
30.176 12,80 18.117 7,69 21 Hà Nam
54.227 10,99 33.038 6,70 22 Hải Dương
33.575 10,94 20.368 6,64 23 Hưng Yên
51.249 9,16 30.625 5,47 24 Thái Bình
30.708 12,40 22.698 9,17 25 Ninh Bình
578.007 22,68 343.370 13,47 IV Khu IV cũ
217.191 24,86 120.887 13,84 26 Thanh Hóa
167.499 23,35 92.395 12,88 27 Nghệ An
83.180 23,91 57.521 16,53 28 Hà Tĩnh
52.403 25,17 32.529 15,62 29 Quảng Bình
29.731 19,79 22.887 15,23 30 Quảng Trị
28.003 11,16 17.151 6,83 31 Thừa Thiên - Huế
10,82 17,26 208.833 333.250 V Duyên hải miền Trung
14.884 6,55 10.656 4,70 32 Đà Nẵng
90.109 24,18 52.265 14,02 33 Quảng Nam
74.606 23,74 31.166 9,92 34 Quảng Ngãi
61.711 16,31 33.900 8,96 35 Bình Định
45.606 19,46 33.473 14,28 36 Phú Yên
24.991 9,40 33.360 12,54 37 Khánh Hòa
21.343 15,48 14.013 10,16 38 Ninh Thuận
262.879 22,48 87.860 7,51 VI Tây Nguyên
79.417 27,56 17.038 5,91 39 Gia Lai
81.053 20,82 33.449 8,59 40 Đắk Lắk
33.674 29,25 8.063 7,00 41 Đắk Nông
34.157 33,36 7.988 7,80 42 Kon Tum
34.578 12,60 21.322 7,77 43 Lâm Đồng
177
Hộ nghèo Hộ cận nghèo STT Tỉnh/Thành phố Tổng số Tỷ lệ Tổng số Tỷ lệ
77.802 2,11 81.213 2,20 VII Đông Nam Bộ
157 0,01 18.627 1,02 44 TP.HCM
24.286 9,09 12.844 4,81 45 Bình Thuận
13.984 5,25 9.565 3,59 46 Tây Ninh
20.498 9,29 12.417 5,63 47 Bình Phước
115 0,05 172 0,07 48 Bình Dương
9.332 1,45 20.417 3,18 49 Đồng Nai
9.430 4,35 7.171 3,31 50 Bà Rịa-Vũng Tàu
575.880 13,48 321.905 7,53
VIII Đồng bằng sông Cửu Long 51 Long An 25.958 7,16 18.508 5,11
65.104 15,73 33.143 8,01 52 Đồng Tháp
48.622 9,28 28.571 5,45 53 An Giang
48.135 10,96 21.996 5,01 54 Tiền Giang
55.932 15,58 23.318 6,50 55 Bến Tre
27.242 10,23 16.423 6,17 56 Vĩnh Long
58.110 23,62 29.852 12,13 57 Trà Vinh
42.992 22,80 23.466 12,44 58 Hậu Giang
22.975 7,84 18.820 6,43 59 Cần Thơ
75.639 24,31 43.789 14,07 60 Sóc Trăng
34.973 8,84 24.932 6,30 61 Kiên Giang
36.054 18,64 21.944 11,35 62 Bạc Liêu
Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội [46]
34.144 12,14 17.143 6,09 63 Cà Mau
178
Phụ lục 8 DANH SÁCH CÁC XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN VÀ CÁC XÃ BIÊN GIỚI NĂM 2000 (CHƯƠNG TRÌNH 135 - GIAI ĐOẠN I) (Kèm theo Quyết định số 1232/1999/ QĐ-TTg ngày 24/12/1999)
Thuộc diện ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư
TT
Tỉnh
Ngân sách địa phương đầu tư
Các xã đặc biệt khó khăn 1.062
Các xã biên giới 144
124
284
Tổng
125
3
1 Hà Giang
106
7
84
2 Cao Bằng 3
51
Bắc Kạn Tuyên Quang
4
80
5
5
25
10
93
9
Lạng Sơn 6 Quảng Ninh Lai Châu 7
60
7
8
Sơn La
120
7
9
Lào Cai
61
10 Yên Bái
60
11 Hoà Bình
35
18
12 Bắc Giang 13 Thái Nguyên
40
14
Phú Thọ
2
3
3
15 Vĩnh Phúc 16 Hải Phòng 17 Ninh Bình
82
18 Thanh Hoá
99
1
14
3
25
19
5
18
2
19 Nghệ An 20 Hà Tĩnh 21 Quảng Bình 22 Quảng Trị 23 Thừa Thiên Huế
179
Thuộc diện ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư
TT
Tỉnh
Ngân sách địa phương đầu tư
Các xã biên giới
Các xã đặc biệt khó khăn 55
43
22
10
24 Quảng Nam 25 Quảng Ngãi 26 Bình Định 27
Phú Yên
28 Khánh Hoà
14
15
13
26
29 Ninh Thuận 30 Bình Thuận 31 Kon Tum
5
56
32 Gia Lai
33
5
35
22
7
25
33 Đắk Lắk 34 Lâm Đồng 35 Bình Phước 36 Trà Vinh
33
37
19
16
3
2
1
9
19
Sóc Trăng 38 Bạc Liêu 39 Đồng Nai 40 Vĩnh Long 41 Cần Thơ 42 Bình Dương 43 Bà Rịa Vũng Tàu 44 Tây Ninh
19
45 Long An
8
46 Đồng Tháp 47 An Giang
6
19
48 Kiên Giang
30
3
49 Cà Mau
15
Nguồn: Uỷ ban Dân tộc [88]
180
Phụ lục 9 TỔNG HỢP DANH SÁCH CÁC XÃ ĐĂC BIỆT KHÓ KHĂN VÀO DIỆN ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH 135 GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 (Ban hành kèm theo quyết định 164/2006/QĐ-TTg ngày 11 tháng 7 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ)
Phân loại vốn đầu tư
Ghi chú
TT
Tỉnh
Tổng số xã
Ngân sách địa phương đầu tư
Ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư 112
112
106 64
1 Hà Giang 2 Cao Bằng Lai Châu 3
106 64
59
59
4 Điện Biên
Bổ sung 9 xã chia tách
59
59
Sơn La
70
70
81
5 6 Bắc Kạn Lào Cai 7
81
27
Tuyên Quang
27
68 53
8 9 Lạng Sơn 10 Yên Bái
68 53
67
67
27
27
41
41
30
30
19
8 3 75
27 3 75
80
80
18 29
18 29
27
27
16
16
53
53
43
43
11 Hòa Bình 12 Bắc Giang 13 Thái Nguyên 14 Phú Thọ 15 Quảng Ninh 16 Vĩnh Phúc 17 Thanh Hoá 18 Nghệ An 19 Hà Tĩnh 20 Quảng Bình 21 Quảng Trị 22 Thừa Thiên Huế 23 Quảng Nam 24 Quảng Ngãi
181
Phân loại vốn đầu tư
Ghi chú
TT
Tỉnh
Tổng số xã
Ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư 0
Ngân sách địa phương đầu tư 5
5
17
17
11
11
13
13
12
12
25 Khánh Hòa 26 Bình Định 27 Phú Yên 28 Ninh Thuận 29 Bình Thuận 30 Kon Tum
48
48
31 Gia Lai
53
53
Bổ sung 1 xã chia tách
23
23
10
10
32
32
32 Đắk Lắk 33 Đắk Nông 34 Lâm Đồng 35 Bình Phước 36 Tây Ninh
20 15
20 15
25
25
38
38
14
14
2
0
2
37 Trà Vinh 38 Sóc Trăng 39 Bạc Liêu 40 Vĩnh Long 41 An Giang
11
5
6
42 Kiên Giang
5
22
27
Bổ sung 2 xã chia tách
19
19
5
5
43 Long An 44 Đồng Tháp 45 Cà Mau
9
0
9
1644
1581
63
Tổng cộng
Nguồn: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam [8]
182
Phụ lục 10 DANH SÁCH XÃ HOÀN THÀNH MỤC TIÊU CHƯƠNG TRÌNH 135 NĂM 2010 (Ban hành kèm theo Quyết định số 231/QĐ-TTg ngày 23 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ)
Phân loại ngân sách
TT
Tên xã
Tỉnh/Huyện
Tổng số cả nước Hà Giang
Địa phương 11 0
1
1. Vị Xuyên
Trung ương 60 3 x x x 0
2. Xín Mần Quảng Ninh
2
Ba Chẽ
3 x x x
71 3 Ngọc Linh Phong Quang Tả Nhìu 3 Đạp Thanh Thanh Lâm Thanh Sơn
Nguồn: Quyết định số 231/QĐ-TTg ngày 23 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ [44]
Phụ lục 11
TỶ LỆ DI CƯ GIỮA CÁC VÙNG TRONG 5 NĂM TRƯỚC THỜI ĐIỂM
TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ NĂM 1999 (1994 - 1999)
Tổng số dân từ 5 tuổi trở lên (người)
Tổng số Tr. đó: Nữ
TĐ: Nữ
Tỷ lệ di cư thuần tuý (%o) Tổng số
Tỷ lệ nhập cư (%o) Tổng số 69058547 35325092 29,0
TĐ: Nữ 28,3
Tỷ lệ xuất cư (%o) Tổng số 29,0
TĐ: Nữ 28,3
13592395 6995517
18,9
16,8
29,9
27,7 -11,0
-10,9
Cả nước Đồng bằng sông Hồng
9806289
4974857
13,4
12,5
25,6
23,0 -12,1
-10,6
1966849
986753
12,8
12,2
14,3
13,3
-1,5
-1,1
4587774
7,1
5,8
37,3
37,8 -30,2
-32,1
3013432
19,1
18,9
32,1
32,0 -13,1
-13,1
Đông Bắc Tây Bắc Bắc Trung Bộ 8948046 Duyên hải Nam Trung Bộ 5848801 2624553 Tây Nguyên
1302171
94,7
90,5
19,1
17,3
75,6
73,3
80,2
82,4
27,9
26,3
52,3
56,1
16,4
16,2
28,6
30,3 -12,2
-14,1
11490916 5879680 Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long 14780698 7584908
Nguồn: Tổng cục Thống kê [64, tr.1]
183
Phụ lục 12
KẾT QUẢ TỔNG HỢP CHƯƠNG TRÌNH 135 GIAI ĐOẠN 1999 - 2005
Đơn vị tính: Triệu đồng
Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM
Hợp phần
TT
DA bố trí dân cư
DA hỗ trợ ổn định và phát triển sản xuất
DA Xây dựng kết cấu hạ tầng
DA xây dựng trung tâm cụm xã
DA đào tạo cán bộ xã
Tỉnh
Hà Giang(cid:13)
426.150
88.841,7
10.800
7.400,9
7.458,7
1
512.112
127.302
10.370
10.097,4
4.045
2
Cao Bằng(cid:13)
280.629
38.612
27.681
14.245
1.694
3
Lạng Sơn (cid:13)
59.949,84
6.894,06
2.739,82
6.320,07
784
4
Quảng Ninh(cid:13)
1.278.840,84
261.649,76
51.590,82
38.063,37
13.981,7
Tổng
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Uỷ Ban nhân dân các tỉnh Hà Giang [56],Cao Bằng [79], Lạng Sơn [99], Quảng Ninh [108]
Đơn vị tính: Triệu đồng
Phụ lục 13 KẾT QUẢ TỔNG HỢP CHƯƠNG TRÌNH 135 GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM
Hợp phần
DA hỗ trợ phát
DA trợ giúp
STT
DA cơ sở hạ tầng
triển sản xuất
DA đào tạo cán bộ xã
pháp lý
Tỉnh
1
527.050
123.021
35.623,485
36.277,92
Cao Bằng
2
Hà Giang
528.572
121.650
35.365
115.137,7
3
294.750
70.030
17.935
62.278,3
Lạng Sơn
4
106.594
26.325
7.029
20.500
Quảng Ninh
1.456.966
341.026
95.952,485
234.193,92
Tổng
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Uỷ Ban nhân dân các tỉnh Cao Bằng [83], Hà Giang [97], Lạng Sơn [102], Quảng Ninh [111]
184
Phụ lục 14 KẾT QUẢ TỔNG HỢP CHƯƠNG TRÌNH 134 GIAI ĐOẠN 2004 - 2008 Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM
Hợp phần
Hỗ trợ nước sinh hoạt
TT
Hỗ trợ nhà ở (Hộ)
Hỗ trợ đất ở (Hộ)
Hỗ trợ đất sản xuất (Hộ)
Phân tán (Công trình)
Tập trung (Công trình)
Tỉnh
1
10.911
561
433
506
810
Cao Bằng
2
Hà Giang
17.396
9.707
241
16.114
3
9.116
9.254
82
1.870
2.449
Lạng Sơn
4
968
4.436
106
101
763
Quảng Ninh
862
2.477
20.136
38.391
23.958
Tổng
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Uỷ Ban nhân dân các tỉnh Cao Bằng [80], Hà Giang [93], Lạng Sơn [100], Quảng Ninh [105]
Đơn vị tính: người
Phụ lục 15 THỰC TRẠNG HỌC SINH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐI HỌC THEO CHÍNH SÁCH CỬ TUYỂN Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM TỪ NĂM 2005 - 2010
Năm
TT
2005
2006
2007
2008
2009
2010
Tổng
Tỉnh
1
Hà Giang
57
57
60
61
57
114
406
2
39
40
50
52
40
30
251
Lạng Sơn
3
27
38
30
42
30
07
174
Quảng Ninh
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Uỷ ban nhân dân các tỉnh Hà Giang [96], Lạng Sơn [58], Quảng Ninh [103], [104], [107], [110]
185
Đơn vị tính: đồng/ tháng, %
Phụ lục 16 DIỄN BIẾN THU NHẬP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI/THÁNG Ở VÙNG MIỀN NÚI, DÂN TỘC
2002 Vùng 1999 2004/1999 2004
268.8 242.3 379.9 +56,8 Đông Bắc
197 177.6 265.7 +49,6 Tây Bắc
235.4 212.4 317.1 +49,3 Bắc Trung Bộ
Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2006 [67]
244 Tây Nguyên 344.7 390.2 +13,2
Đơn vị tính: %
DIỄN BIẾN TỶ LỆ HỘ NGHÈO Ở VÙNG MIỀN NÚI, DÂN TỘC
Vùng 2002 2004 2004/2002
38,4 29,4 -9,0 Đông Bắc
68,0 58,6 -9,4 Tây Bắc
43,9 31,9 -12,0 Bắc Trung Bắc
Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2006 [67]
Tây Nguyên 51,8 33,1 18,7
186
Phụ lục 17
CHÍNH PHỦ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 02/1998/QĐ-TTg
Hà Nội, ngày 06 tháng 01 năm 1998
QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ Về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc giai đoạn từ nay đến năm 2010
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Xét đề nghị của Chủ tịch Hội đồng thẩm định Nhà nước về các dự án đầu
tư tại công văn số 3202 BKH/HĐTĐ ngày 31 tháng 5 năm 1997.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc đến năm 2010 gồm 13 tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh với những nội dung chính như sau:
I. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU
1. Phấn đấu nhịp độ tăng trưởng GDP cả giai đoạn từ nay đến năm 2010 đạt khoảng trên 10%/năm, trong đó thời kỳ từ nay đến năm 2000 khoảng 10% để đạt mục tiêu GDP/người năm 2000 bằng khoảng 1,6 lần so với năm 1994 và năm 2010 bằng khoảng 2,5 lần so với năm 2000. Đảm bảo hài hòa quan hệ giữa phát triển nhanh, hiệu quả và lâu bền, thực hiện cơ bản xóa đói trước năm 2000, giảm 30 - 40% hộ nghèo so với hiện nay.
2. Sau năm 2000 hầu hết các tỉnh phấn đấu tự cân đối thu chi ngân sách trên địa bàn; tăng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. Đến năm 2000 tỷ lệ tích lũy đầu tư từ nội bộ nền kinh tế đạt khoảng 12 - 13% GDP và đến năm 2010 đạt khoảng 18 - 20% GDP.
187
3. Giá trị xuất khẩu tăng với nhịp độ 22 - 23%/năm trong cả giai đoạn từ nay đến năm 2010. Giá trị xuất khẩu của vùng Đông Bắc chiếm khoảng 4% so với cả nước vào năm 2010.
4. Năm 2010 cơ bản hoàn thành công tác định canh, định cư.
5. Nâng cao dân trí và thể lực của nhân dân; đảm bảo cuộc sống văn hóa, tinh thần ngày càng cao và lối sống ngày càng văn minh trong nhân dân. Giảm tối đa các bệnh dịch và các bệnh nguy hiểm như sốt rét, bướu cổ, trẻ em suy dinh dưỡng và các tệ nạn xã hội như mê tín, dị đoan, nghiện hút, tiêm chích ma túy, mại dâm...
6. Khôi phục và cải thiện môi trường; nâng tỷ lệ che phủ rừng trên diện tích tự nhiên từ 22,8% hiện nay lên 60% vào năm 2010 (tính cả cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả); bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái, nhất là ở các đô thị lớn, các khu công nghiệp tập trung, các hải cảng, khu du lịch.
7. Phối hợp với các lực lượng của Trung ương giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Quốc gia trên đất liền và vùng biển, góp phần tạo ra sự ổn định cần thiết cho quá trình phát triển của vùng và cả nước.
II. NHỮNG NHIỆM VỤ CHỦ YẾU VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Về phát triển công nghiệp
- Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn từ nay đến năm
2010 khoảng 14 - 15%/ năm.
- Hình thành các ngành hoặc sản phẩm công nghiệp chủ lực, trong đó một số là mũi nhọn dựa trên các lợi thế về nguyên liệu và thị trường như: công nghiệp khai thác, tuyển quặng và tinh chế khoáng sản (than, sắt, kim loại mầu); công nghiệp vật liệu xây dựng; công nghiệp chế biến nông lâm, hải sản; công nghiệp luyện kim, chế tạo cơ khí; nhiệt điện và thủy điện vừa và nhỏ; công nghiệp phân bón, hóa chất; công nghiệp hàng tiêu dùng.
- Cải tạo và mở rộng các khu công nghiệp hiện có, đồng thời từng bước cải tạo các điều kiện về cơ sở hạ tầng để hình thành một số khu công nghiệp mới. Phát triển công nghiệp phải đi đôi với việc bảo vệ môi trường.
- Duy trì và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, đặc biệt là sản
xuất các sản phẩm mỹ nghệ có giá trị xuất khẩu cao.
188
2. Về phát triển nông nghiệp
- Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng nông nghiệp cả thời kỳ 1996 - 2010
khoảng 4%.
- Đổi mới cơ cấu nông nghiệp: chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa (giảm tỷ trọng cây lương thực, tăng tỷ trọng cây công nghiệp, cây ăn quả, rau thực phẩm); phát triển lương thực theo hướng thâm canh để giải quyết với mức cho phép nhu cầu tại chỗ. Phát triển mạnh các vùng cây tập trung tạo hàng hóa lớn. Chuyển đổi cơ cấu vật nuôi. Chú trọng phát triển các vùng cây đặc sản.
- Đổi mới hệ giống và tạo đủ giống cây trồng, vật nuôi, đi đôi với việc áp
dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, kể cả khâu sau thu hoạch.
3. Về phát triển lâm nghiệp - Phát triển lâm nghiệp theo hướng xã hội hóa, thực hiện chức năng bảo vệ
rừng đầu nguồn, trồng rừng mới và giữ gìn môi trường, sinh thái.
- Đổi mới giống cây trồng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với nhu
cầu của thị trường về lâm sản.
- Xây dựng các vùng nguyên liệu giấy, gỗ trụ mỏ, quế, hồi...
4. Các ngành dịch vụ
- Ngành Thương mại cần được phát triển mạnh để chuyển sang kinh tế hàng hóa. Đến năm 2000 GDP ngành Thương mại phấn đấu đạt tỷ trọng 9% so với tổng GDP và 21,6% so với GDP các ngành dịch vụ..., năm 2010 đạt 13% so với tổng GDP và 26% so với GDP với các ngành dịch vụ. Đẩy mạnh xuất khẩu qua biên giới Trung Quốc. Coi trọng nhập thiết bị máy móc vật tư cho sản xuất. Phát triển mạnh hệ thống các trung tâm thương mại, các khu kinh tế cửa khẩu. Phát triển thương nghiệp vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo. Khuyến khích tối đa đối với các loại đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để khắc phục khoảng cách đối với các vùng khác.
- Du lịch: Phát triển mạnh du lịch để nâng tỷ trọng đóng góp của ngành vào GDP của vùng đạt 6% năm 2000 và 10% năm 2010. Phát triển mạnh du lịch biển, xây dựng một số khu, cụm du lịch, tuyến du lịch nội vùng, liên vùng và quốc tế. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho ngành du lịch đồng thời tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý ngành du lịch.
- Phát triển các loại hình dịch vụ khác như vận tải quá cảnh, dịch vụ tài
chính, ngân hàng, chuyển giao công nghệ, thông tin liên lạc...
189
- Đẩy mạnh phát triển các vùng cửa khẩu, tạo cơ sở nâng cao khả năng
chuyển tải quá cảnh bằng đường sắt, đường bộ.
5. Về phát triển các lĩnh vực xã hội - Giáo dục - đào tạo: Ưu tiên phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng cao biên giới, hải đảo. Đa dạng hóa loại hình giáo dục nhằm thu hút ngày càng nhiều trẻ em đến tuổi đi học tới trường, lớp.
- Y tế: tăng cường điều kiện vật chất cho các cơ sở y tế đảm bảo chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám và chữa bệnh có chất lượng, giảm hẳn tình trạng suy dinh dưỡng ở bà mẹ và trẻ em. Đến năm 2000 khống chế được bệnh sốt rét, thanh toán bệnh bướu cổ, bệnh đần độn và các hậu quả do thiếu iốt. Trước năm 2010 hoàn thành xóa xã trắng về cơ sở y tế.
- Văn hóa thông tin - phát thanh truyền hình: thời kỳ từ nay đến năm 2000 phấn đấu các tỉnh trong vùng đều có trung tâm văn hóa hoặc trung tâm văn hóa - thể thao, có bảo tàng hoàn chỉnh, xây dựng đài phát thanh và truyền hình theo quy hoạch đã được Chính phủ phê duyệt.
Coi trọng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc, thời kỳ 2001 - 2010 phấn đấu đáp ứng các nhu cầu nghe, nhìn của nhân dân trong vùng ở mức độ trung bình so với cả nước.
6. Phát triển kết cấu hạ tầng Phát triển kết cấu hạ tầng then chốt phải được ưu tiên và đi trước một bước. Tập trung phát triển mạng lưới giao thông. Ngoài việc thực hiện chương trình giao thông năm 2000 của Bộ Giao thông vận tải, cần tiếp tục nâng cấp các Quốc lộ 2, Quốc lộ 3, Quốc lộ 1, Quốc lộ 70. Ngoài ra, trước năm 2005 khôi phục và nâng cấp các đường vành đai Quốc lộ 4, N1, N2 để tạo ra mạng lưới đường hoàn chỉnh cho cả vùng Đông - Bắc. Đến năm 2000 đạt 70% và năm 2010 đạt 90% số xã có điện. Từng bước xây dựng hệ thống thủy lợi cho sản xuất và hệ thống cấp nước cho các thành phố, thị xã, thị trấn, huyện lỵ, các khu công nghiệp, cấp nước sạch cho khu vực nông thôn, chú ý khu vực vùng cao đồng bào dân tộc. Phát triển mạng thông tin bưu chính - viễn thông đến năm 2000 phấn đấu đạt 75% và năm 2010 đạt 100% số xã có máy điện thoại.
7. Về môi trường Vấn đề môi trường phải được coi trọng song song với phát triển kinh tế - xã hội: phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, ưu tiên khu vực đầu nguồn, nơi có yêu cầu phòng hộ; chống ô nhiễm không khí, đất và nguồn nước, giữ gìn và bảo vệ
190
nghiêm ngặt môi trường khu vực ven biển, các đô thị, các trung tâm khu công nghiệp và khu vực khai thác than Quảng Ninh cũng như các khu vực khai thác khoáng sản khác.
8. Về an ninh - quốc phòng Củng cố, xây dựng phòng tuyến biên giới, bờ biển, hải đảo vững mạnh, thực hiện các Nghị quyết của Đảng về nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng - an ninh. Kết hợp với xây dựng kinh tế để thực hiện các nhiệm vụ chiến lược trên địa bàn vùng Đông - Bắc.
III. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Để thực hiện Quy hoạch phải có hệ thống biện pháp đồng bộ nhằm huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của vùng Đông - Bắc. Phải thể hiện và cụ thể hóa các phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu của Quy hoạch trong các kế hoạch 5 năm, hàng năm trên địa bàn từng tỉnh thuộc vùng Đông Bắc bằng các chương trình phát triển và các dự án đầu tư cụ thể. Các khu vực cần được ưu tiên phát triển là: Hệ thống đô thị, các tuyến hành lang kinh tế, hành lang biên giới, nông thôn (đặc biệt khu vực nông thôn vùng núi cao và hải đảo).
Đối với các tỉnh có biên giới Quốc gia, cần đẩy mạnh phát triển các khu vực cửa khẩu, xây dựng các cửa khẩu thành trung tâm giao lưu kinh tế và thương mại. Đồng thời cần quan tâm tới việc xây dựng cơ sở vật chất cho các đồn, trạm biên phòng để tạo điều kiện cho việc hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới. Cần nghiên cứu lồng ghép, phối hợp các chương trình mục tiêu đẩy mạnh phát triển các khu vực vùng cao, biên giới, các khu vực có khó khăn đặc biệt. Việc này cần phải được phối hợp chặt chẽ từ Trung ương đến các tỉnh để bảo đảm đồng bộ và tập trung, phát huy hiệu quả của các chương trình.
2. Cụ thể hóa các giải pháp về vốn, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và môi trường, mở rộng thị trường bằng các cơ chế chính sách phù hợp với các đặc điểm của vùng và đặc điểm của từng tỉnh để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định nhằm thực hiện tốt những mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã nêu trong Quy hoạch.
3. Trên cơ sở Quy hoạch tổng thể được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cần rà soát kỹ hệ thống các chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc, danh mục các dự án đầu tư và sắp xếp lại thứ tự ưu tiên cho hợp lý để đưa dần vào kế hoạch hàng năm của các tỉnh. Đối với các xã, huyện vùng cao biên
191
giới, vừa là vùng núi có nhiều khó khăn, vừa là vùng trọng điểm an ninh, cần có kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cụ thể để có giải pháp tập trung cao độ để tạo bước đi trong giai đoạn trước mắt và chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo.
Điều 2. Các Bộ, ngành ở Trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh vùng Đông Bắc phải có kế hoạch cụ thể 5 năm, hàng năm để tổ chức chỉ đạo thực hiện các chương trình, dự án trong phạm vi chỉ đạo của Bộ, ngành và tỉnh mình theo các mục tiêu và định hướng phát triển đã nêu trong Quyết định phê duyệt Quy hoạch này.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh vùng Đông Bắc có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành ở Trung ương trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình và các dự án đã đề ra.
Điều 3. Trong quá trình thực hiện Quy hoạch phát triển vùng Đông Bắc, Bộ Kế hoạch và Đầu tư kết hợp với các Bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh vùng Đông Bắc tiến hành tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm để bổ sung điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với Quy hoạch chung của cả nước.
Điều 4. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh thuộc vùng Đông Bắc và các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ (Đã ký)
Nguồn: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [7]
Phan Văn Khải

