BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN BÍCH HẰNG
TRÝ TUÖ C¶M XóC CñA §IÒU TRA VI£N ë CôC AN NINH §IÒU TRA THUéC Bé C¤NG AN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2022
BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN BÍCH HẰNG
TRÝ TUÖ C¶M XóC CñA §IÒU TRA VI£N ë CôC AN NINH §IÒU TRA THUéC Bé C¤NG AN
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số : 931 04 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS Bùi Tuấn Anh
2. GS. TS Trương Công Am HÀ NỘI - 2022
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các tài liệu được sử dụng ở luận
án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng. Số liệu và kết
quả nghiên cứu không trùng lặp với các công trình
đã được công bố.
Tác giả luận án
Nguyễn Bích Hằng
2
MỤC LỤC
7
Trang
TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
15
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài và trong nước liên
quan đến đề tài
15
1.2. Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và
33
Chương 2
những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC CỦA ĐIỀU TRA VIÊN Ở CỤC AN NINH ĐIỀU TRA THUỘC BỘ CÔNG AN
39 39
2.1. Điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 2.2. Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra
thuộc Bộ Công an
49
2.3. Biểu hiện, mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở
Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
62
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra
viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
Chương 3 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Tổ chức nghiên cứu 3.2. Phương pháp nghiên cứu
77 93 93 102
119
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC CỦA ĐIỀU TRA VIÊN Ở CỤC AN NINH ĐIỀU TRA THUỘC BỘ CÔNG AN
4.1. Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An
ninh điều tra thuộc Bộ Công an
119
4.2. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
138 152
4.3. Phân tích chân dung tâm lý điển hình 4.4. Biện pháp tâm lý - xã hội phát triển trí tuệ cảm xúc cho
Điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
158 179
182 183 192
KẾT LUẬN DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
3
DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt
1. An ninh điều tra ANĐT
2. Bộ Công an BCA
3. Công an nhân dân CAND
4. Chỉ số trí tuệ cảm xúc (Emotional Intelligence EQ
Quotient)
5. Điểm trung bình ĐTB
6. Trắc nghiệm trí tuệ cảm xúc của Mayer Salovey MSCEIT
Caruso, 2002
7. Trí tuệ cảm xúc (Emotional Intelligence) EI
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT TÊN BẢNG
Trang 95
1. Bảng 3.1. Phân bố khách thể nghiên cứu 2. Bảng 3.2: Bảng phân loại trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở
Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 105
3. Bảng 3.3: Độ tin cậy của hệ thống bài tập đo biểu hiện EI
của điều tra viên trong các mối quan hệ nghiệp vụ điển hình 108
4. Bảng 3.4: Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo/ thang đo Biểu hiện EI của điều tra viên trong các quan hệ nghiệp vụ điển hình 108
5. Bảng 3.5. Độ tin cậy của hệ thống câu hỏi đánh giá biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 111
111
6. Bảng 3.6. Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo/ thang đo đánh giá Biểu hiện EI của điều tra viên trong hoạt động điều tra 7. Bảng 4.1: Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên theo
trắc nghiệm MSCEIT 119
8. Bảng 4.2: Thực trạng mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên theo trắc nghiệm MSCEIT 120
9. Bảng 4.3: Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên theo trắc
nghiệm MSCEIT 120
10. Bảng 4.4: Thực trạng 8 năng lực trí tuệ cảm xúc tiểu thành
phần của điều tra viên theo trắc nghiệm MSCEIT 123
126
129
131
11. Bảng 4.5: Thực trạng năng lực nhận biết cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 12. Bảng 4.6: Thực trạng năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 13. Bảng 4.7: Thực trạng năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 14. Bảng 4.8: Thực trạng năng lực điều khiển cảm xúc của
điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 133
15. Bảng 4.9. Tổng hợp kết quả khảo sát năng lực trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 135
5
16. Bảng 4.10: Thực trạng các biểu hiện năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản trong các quan hệ điều tra điển hình của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 136
17. Bảng 4.11: Thực trạng ảnh hưởng của yếu tố thể chất đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 139
18. Bảng 4.12: Kết quả kiểm tra chiến sĩ khoẻ của điều tra
viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 139
19. Bảng 4.13: Thực trạng ảnh hưởng của yếu tố thuộc tính tâm lý nhân cách đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 140
20. Bảng 4.14: Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An
ninh điều tra thuộc Bộ Công an theo giới tính 142
21. Bảng 4.15: Tương quan trí tuệ cảm xúc với tuổi tác, thâm
niên công tác 143
22. Bảng 4.16: Mức độ ảnh hưởng của thâm niên công tác đến
trí tuệ cảm xúc của điều tra viên 144
145
23. Bảng 4.17: Mức độ ảnh hưởng của tuổi tác đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 24. Bảng 4.18: Mối tương quan giữa trí tuệ cảm xúc với kết
quả hoạt động của điều tra viên 146
25. Bảng 4.19: Thực trạng ảnh hưởng của yếu tố môi trường
làm việc đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên 147
26. Bảng 4.20: Thực trạng ảnh hưởng của yếu tố giáo dục đến
trí tuệ cảm xúc của điều tra viên 148
27. Bảng 4.21: Mối tương quan giữa trình độ học vấn và trí
tuệ cảm xúc của điều tra viên 149
28. Bảng 4.22: Thực trạng ảnh hưởng của yếu tố hoạt động và giao tiếp trong thực tiễn hoạt động điều tra đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên 150
6
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
STT TÊN SƠ ĐỒ Trang
Sơ đồ 2.1. Mô hình trí tuệ cảm xúc EI97 của J.Mayer và 1 P.Salovey 64
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ phân tích kết quả đo EI của điều tra viên 2 trên MSCEIT 106
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
STT TÊN BIỂU ĐỒ Trang
Biểu đồ 4.1: So sánh 4 năng lực trí tuệ cảm xúc của điều tra 1 viên theo các mức độ 121
Biểu đồ 4.2: So sánh 4 năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản 2 trong những trường hợp đặc biệt 122
Biểu đồ 4.3: Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở 3 Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 135
Biểu đồ 4.4: Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm 4 xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 138
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Từ những năm 1990 nhiều nhà Tâm lý học quan tâm nghiên cứu về trí
tuệ cảm xúc và đã khẳng định vai trò quan trọng của chức năng tâm lý này.
Thậm chí có quan điểm cho rằng việc quyết định sự thành công của một con
người là do trí tuệ cảm xúc. Đây chính là nguồn cảm hứng để lĩnh vực này
được bùng nổ trong những năm đầu thế kỷ XXI và cho đến nay vẫn thu hút sự
quan tâm của các nhà chuyên môn và của cả xã hội.
Trí tuệ cảm xúc là một dạng năng lực tổng hợp, có vai trò quan trọng
trong đời sống và hoạt động của mỗi cá nhân. Nó không chỉ là yếu tố đảm bảo
hiệu quả của hành động mà còn là yếu tố hướng đạo, dẫn đường cho hành động,
đặc biệt trong những tình huống cấp bách hay bất ngờ. Ngoài ra trí tuệ cảm xúc
còn là yếu tố thúc đẩy hay kìm hãm một hành động. Người có năng lực trí tuệ
cảm xúc sẽ có nhiều cơ hội và khả năng thành công trong cuộc sống và công
việc. Trí tuệ cảm xúc hay kỹ năng con người đóng vai trò quan trọng hơn các kỹ
năng về mặt kỹ thuật trong việc quyết định một người quản lý tài năng hay chỉ là
một người đảm nhiệm vị trí tròn vai. Tuy nhiên, để có thể định lượng trí tuệ cảm
xúc mức độ nào và làm thế nào để phát triển trí tuệ cảm xúc của cá nhân thì lại
không hề đơn giản. Chính vì thế, nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc vừa là yêu cầu
khách quan về mặt học thuật vừa có giá trị thực tiễn sâu sắc.
Ở Việt Nam, từ những năm 2000 trở lại đây, vấn đề trí tuệ cảm xúc đã
được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn trên các đối tượng và ngành nghề khác
nhau như: Trí tuệ cảm xúc của giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh; trí tuệ
cảm xúc của các doanh nhân, các nhà quản lý xã hội; trí tuệ cảm xúc của các
sĩ quan, học viên quân đội được thực hiện dưới dạng đề tài khoa học, luận văn
thạc sĩ và luận án tiến sĩ. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có đề tài nào đi sâu tìm
hiểu về trí tuệ cảm xúc của đối tượng là cán bộ Công an Nhân dân. Do vậy, đây là
“khoảng trống”, nội dung mới cần được quan tâm nghiên cứu.
8
Cục An ninh điều tra - Bộ Công an (A09) là cơ quan có chức năng trực
tiếp điều tra giải quyết vụ án theo thẩm quyền được phân công. Điều tra viên là
những người tiến hành hoạt động điều tra vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự,
là những người có thẩm quyền tiến hành hoạt động điều tra theo quy định của
pháp luật. Điều tra viên là chức danh tư pháp hình sự dùng để chỉ cán bộ có
nhiệm vụ, quyền hạn điều tra vụ án hình sự. Họ là người trực tiếp tiến hành các
biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật, tiếp xúc trực tiếp với đối tượng
phạm tội nên trong quá trình điều tra vụ án, họ là những người giữ vai trò là chủ
thể tác động tâm lý đến đối tượng phạm tội. Do đó, cảm xúc, hành vi của điều
tra viên có tác động to lớn đến đối tượng phạm tội và ngược lại.
Trong bối cảnh như vậy, nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của điều tra
viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an góp thêm mảnh ghép có tính
đặc thù trong bức tranh có lý luận và thực tiễn về trí tuệ cảm xúc trong tâm lý
học ở nước ta. Thực tế cho thấy, trong quá trình hoạt động một số điều tra
viên còn có trí tuệ cảm xúc chưa tốt, được biểu hiện qua: kiểm soát cảm xúc
chưa tốt, chưa có sự đồng điệu cảm xúc với các đối tượng giao tiếp; điều tra
viên còn gặp khó khăn khi nắm bắt cảm xúc của đối tượng; hay tức giận khi
không có sự hợp tác của đối tượng, khi mục đích chưa đạt được. v.v…. dẫn
đến quá trình điều tra của điều tra viên gặp nhiều khó khăn, kết quả hoạt
động điều tra bị ảnh hưởng tiêu cực. Thực trạng này đặt ra yêu cầu khách
quan cần nghiên cứu và tìm ra giải pháp khắc phục kịp thời. Chính vì vậy,
nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra - Bộ
Công an là vấn đề mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
Như vậy, ở cả phương diện lý luận và thực tiễn, có thể khẳng định nghiên
cứu về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra - Bộ Công an là
vấn đề mới, mang tính cấp thiết và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc. Xuất
phát từ những lý do trên, tác giả luận án lựa chọn: “Trí tuệ cảm xúc của điều tra
viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an” làm đề tài nghiên cứu của mình.
9
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an, trên cơ sở đó đề xuất
một số biện pháp tâm lý - xã hội nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra
viên; góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra vụ án.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài giải quyết những nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên
quan đến đề tài luận án.
- Xây dựng cơ sở lý luận về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An
ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng trí tuệ cảm xúc, thực trạng các yếu tố
ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc
Bộ Công an.
- Đề xuất các biện pháp tâm lý - xã hội nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc
cho điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu chính: 255 điều tra viên thuộc Cục An ninh điều
tra thuộc Bộ Công an.
Khách thể nghiên cứu bổ trợ: 55 cán bộ quản lý ở Cục An ninh điều tra
thuộc Bộ Công an.
Đối tượng nghiên cứu
Trí tuệ cảm xúc củ điều tra viên, cụ thể: Biểu hiện, mức độ và các yếu
tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu biểu hiện, mức độ và các yếu
tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên trong hoạt động điều tra.
10
Về địa bàn: Đề tài nghiên cứu ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu từ tháng 11/2017 - 12/2021.
4. Giả thuyết khoa học
Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra ở mức độ cao
nhưng không đồng đều ở các mặt biểu hiện, trong đó: năng lực nhận biết cảm
xúc có mức độ cao nhất; năng lực sử dụng cảm xúc và điều khiển cảm xúc có
mức độ thấp hơn.
Trí tuệ cảm xúc giữa các điều tra viên ở Cục An ninh điều tra có sự khác
nhau nhất định theo các biến số như: giới tính, thâm niên công tác, trình độ học
vấn, kinh nghiệm hoạt động của điều tra viên.
Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên chịu sự tác động của nhiều yếu tố cả về
chủ quan và khách quan. Trong đó, các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng mạnh
hơn; Có thể phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên thông qua các biện pháp
tác động phù hợp vào các mặt biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm
xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
5. Cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Những nghiên cứu của luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về hoạt động và xây dựng đội ngũ cán bộ Công an
nhân dân. Ngoài ra, ở luận án cũng nghiên cứu, vận dụng các Chỉ thị,
hướng dẫn của Bộ Công an về công tác điều tra và chức trách, nhiệm vụ
của điều tra viên.
Phương pháp luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của khoa
học tâm lý và các nguyên tắc tiếp cận như: Nguyên tắc tiếp cận hoạt động;
nguyên tắc tiếp cận hệ thống, cấu trúc; nguyên tắc tiếp cận nhân cách;
nguyên tắc tiếp cận thực tiễn. Các nguyên tắc trên là sợi chỉ đỏ xuyên suốt
quá trình nghiên cứu của luận án.
11
Tiếp cận hoạt động
Tâm lý, ý thức được nảy sinh bởi hoạt động. Hoạt động là quy luật chung nhất
của tâm lý người. Sự phát triển phức tạp và các chuyển hoá của hoạt động kéo theo sự
phát triển phức tạp và chuyển hoá của tâm lý. Ngoài ra, phản ánh tâm lý không bao giờ
tách rời hoạt động, hoạt động vừa tạo ra tâm lý vừa sử dụng phản ánh tâm lý làm khâu
trung gian của hoạt động, tác động vào đối tượng.
Nghiên cứu tâm lý đặc biệt chú ý đến sự vận động của hệ thống các quan
hệ giữa các thành tố cấu trúc vĩ mô của hoạt động - một bên là điều kiện, mục
đích, động cơ và bên kia ứng với các thao tác, hành động và hoạt động.
Vì vậy nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của điều tra viên không tách rời hoạt
động của chính họ nghĩa là thông qua các hoạt động của điều tra viên, các mặt
biểu hiện trí tuệ cảm xúc sẽ được xem xét, nghiên cứu một cách cụ thể. Việc
đưa ra các phương hướng tổ chức các hoạt động là một trong những cách góp
phần thay đổi mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.
Tiếp cận hệ thống - cấu trúc
Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra được biểu hiện
trên các mặt về năng lực nhận biết cảm xúc; năng lực thấu hiểu cảm xúc; năng
lực vận dụng cảm xúc và năng lực điều khiển cảm xúc. Những nội dung này tác
động qua lại, chi phối và ảnh hưởng lẫn nhau tạo ra một chỉnh thể thống nhất
trong phẩm chất trí tuệ của điều tra viên. Đồng thời, trí tuệ cảm xúc chịu sự ảnh
hưởng của nhiều yếu tố, vì vậy để nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và đề ra những
biện pháp phù hợp nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc thì cần có sự tiếp cận nghiên
cứu mang tính hệ thống.
Tiếp cận nhân cách
Tiếp cận nhân cách chính là tiếp cận với những con người cụ thể đang
sống và hoạt động. Nguyên tắc tiếp cận nhân cách đòi hỏi khi nghiên cứu tâm lý
con người phải tiếp cận với từng con người cụ thể với toàn bộ ưu, nhược điểm của
các thuộc tính, phẩm chất tâm lý của cá nhân đó. Nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của
12
điều tra viên theo quan điểm tiếp cận nhân cách đòi hỏi phải nhìn nhận mỗi điều
tra viên là một nhân cách cụ thể, là sản phẩm của điều kiện xã hội - lịch sử, sản
phẩm của giáo dục và trong môi trường hoạt động nghề nghiệp chuyên biệt gắn
với quá trình tự rèn luyện của cá nhân. Do đó, khi nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên cần tiếp cận toàn diện nhân cách của điều tra viên theo chuẩn mực
chung về phẩm chất, năng lực của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ
Công an và tuân theo những yêu cầu về chức trách, nhiệm vụ của điều tra viên.
Tiếp cận thực tiễn
Trí tuệ cảm xúc cả điều tra viên chịu tác động và ảnh hưởng bởi
những yếu tố nhất định trong điều kiện thực tiễn. Tiếp cận trí tuệ cảm xúc
của điều tra viên phải gắn liền với việc tìm hiểu hai điều kiện thực tiễn hoạt
động của điều tra viên và gắn với từng trường hợp cụ thể.
Con người là một thực thể xã hội. Hành vi của cá nhân được xem là kết
quả tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau. Vì vậy nghiên
cứu trí tuệ cảm xúc của điều tra viên trong mối tương quan với nhiều yếu tố như:
yếu tố tâm lý cá nhân, tâm lý xã hội, điều kiện hoàn cảnh kinh tế xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và giải quyết các nhiệm vụ nghiên
cứu đề ra, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu: Phân tích, tổng hợp, khái
quát hoá các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến trí
tuệ cảm xúc của điều tra viên nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp trắc nghiệm,
điều tra bằng bảng hỏi, đánh giá nhóm, quan sát, phỏng vấn sâu, phân tích
chân dung tâm lý điển hình.
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu bằng thống kê toán học: Sử
dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu điều tra thực trạng trí tuệ cảm xúc
của điều tra viên, thực trạng các yếu tố ảnh hưởng.
Mục đích và cách thức thực hiện của từng phương pháp được trình bày
ở chương 3.
13
6. Những đóng góp mới của luận án
Đóng góp về lý luận
Luận án góp phần làm phong phú thêm về lý luận trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an theo cách tiếp cận mới.
Luận án làm rõ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên là một năng lực tổng hợp
trong cấu trúc nhân cách của điều tra viên. Luận án tập trung luận giải những biểu
hiện, tiêu chí đánh giá trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Đồng thời, luận án tập
trung phân tích rõ vị trí, vai trò của các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
Đóng góp về thực tiễn
Luận án làm sáng tỏ thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục
An ninh điều tra thuộc Bộ Công an trên các mặt biểu hiện và dựa trên các
chỉ báo đánh giá về trí tuệ cảm xúc. Luận án chỉ ra, trí tuệ cảm xúc của điều
tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an ở mức cao nhưng không
đồng đều ở các mặt biểu hiện; trong đó năng lực thấu hiểu cảm xúc ở mức độ
biểu hiện cao nhất. Để xác định được mối quan hệ giữa các biểu hiện trí tuệ
cảm xúc của điều tra viên, thông qua tiến hành kiểm định tương quan. Kết quả
nghiên cứu đã chỉ ra, các mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên
có mối tương quan thuận, chặt chẽ.
Kết quả nghiên cứu của luận án chỉ rõ, trí tuệ cảm xúc của điều tra viên
chịu ảnh hưởng của hai nhóm yếu tố chủ quan và khách quan; trong đó, các
yếu tố chủ quan có ảnh hưởng mạnh hơn các yếu tố khách quan đối với trí tuệ
cảm xúc của điều tra viên.
Xác định được các biện pháp tâm lý - xã hội, nhằm phát triển trí tuệ
cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
Đồng thời, phân tích 02 chân dung tâm lý điển hình để thấy được bức
tranh tổng thể trí tuệ cảm xúc thông qua các mặt biểu hiện cũng như sự
tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan đến trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên ở Cục An ninh điều tra.
14
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về lý luận
Luận án bổ sung, làm phong phú thêm lý luận Tâm lý học về trí tuệ
cảm xúc của điều tra viên. Bổ sung thêm hướng nghiên cứu về cảm xúc đối
với khách thể là những người công tác trong lực lượng vũ trang, cụ thể là
trong hoạt động điều tra hình sự.
Xây dựng các mặt biểu hiện, mức độ biểu hiện để đánh giá trí tuệ cảm
xúc của điều tra viên. Chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc
của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra.
Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận án làm cơ sở khoa học cho việc
phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra.
Kết quả nghiên cứu này có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng
dạy và nghiên cứu về đời sống tình cảm cá nhân, trong nghiên cứu và rèn
luyện kiểm soát cảm xúc phục vụ cho đào tạo cán bộ của Ngành.
8. Kết cấu của luận án
Luận án được trình bày trên các nội dung gồm: Mở đầu, 4 chương (12
tiết), kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình của tác giả đã công bố, tài
liệu tham khảo và phụ lục.
15
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến trí tuệ cảm xúc
1.1.1. Hướng nghiên cứu về cấu trúc, biểu hiện của trí tuệ cảm xúc
C.E.Izard (1992), Những cảm xúc của con người [37] đưa ra thuyết các
cảm xúc phân hoá và cho rằng cảm xúc có cấu trúc tầng bậc, gồm những cảm
xúc nền tảng và những cảm xúc phức hợp. Mỗi cảm xúc trọn vẹn phải được
tạo thành bởi ba yếu tố, đó là: cơ chất thần kinh chuyên biệt bị chế ước bên
trong, những phức hợp biểu cảm nét mặt đặc trưng và sự thể hiện chủ quan
khác biệt. Hay nói cách khác thì cảm xúc chính là sự thống nhất giữa các
biểu hiện bên ngoài và cảm xúc bên trong. Theo đó, cấp bậc thứ nhất gồm
mười cảm xúc nền tảng là (1) Hứng thú, (2) Vui sướng, (3) Ngạc nhiên, (4)
Đau khổ, (5) Căm giận, (6) Ghê tởm, (7) Khinh bỉ, (8) Khiếp sợ, (9) Xấu
hổ, (10) Tội lỗi. Cấp bậc thứ hai là các phức hợp cảm xúc được tạo nên từ
“những tổ hợp có biến thiên của các cảm xúc nền tảng và các quá trình xúc
động” [37, tr.112]. Như vậy, với quan điểm này đã cho thấy, ở cá nhân tồn
tại những trạng thái xúc cảm khác nhau, những xúc cảm này được nhận biết
rõ qua các phương tiện biểu cảm.
Peter Salovey & David J.Sluyter (1997), Phát triển trí tuệ và trí tuệ
cảm xúc [95] công bố một tài liệu về đóng góp chung của cảm xúc và tính
đa cảm (emotion & emotionality) vào nhân cách và đưa ra cấu trúc của trí
tuệ cảm xúc bao gồm: (a) Nhận thức và đánh giá chính xác cảm xúc của
bản thân, (b) Biểu lộ tình cảm, cảm xúc với những người khác một cách
đúng đắn, phù hợp, (c) Nhận biết tốt về cảm xúc của người khác và từ đó
có những hành vi phù hợp, (d) Điều chỉnh cảm xúc của bản thân và người
khác một cách hiệu có hiệu quả để đạt đến mục đích hành động cụ thể (ví
dụ: để cải thiện tâm trạng của chính mình và của người khác) và (e) Sử dụng
16
những cảm xúc của mình để giải quyết vấn đề bằng những hành vi phù hợp
hoàn cảnh. Bất kỳ quá trình giao tiếp nào cũng cần phải có sự tương tác giữa
chủ thể và đối tượng giao tiếp. Sự tương tác đó không chỉ dừng lại ở trong
quá trình trao đổi thông tin mà nó còn là sư trao đổi về mặt tinh thần. Do đó,
hiểu được cảm xúc của bản thân và của người khác, cũng như sử dụng nó hợp
lý mới đạt được mục đích đề ra [95, tr.10].
D.Goleman (2002), Trí tuệ cảm xúc: Làm thế nào để những cảm xúc
của mình thành trí tuệ? [13] xem xét các cảm xúc theo các họ (familles) hay
theo các chiều (dimensions). Ông đưa ra nhận định cho rằng những họ chính
của cảm xúc là: sợ hãi, giận dữ, buồn rầu, thoả mãn, xấu hổ. Mỗi họ này có
một một hạt nhân cảm xúc căn bản làm trung tâm, các cảm xúc có họ hàng
với nó thì nằm xung quanh như những làn sóng nối tiếp nhau của vô số những
biến đổi. Ở ngoại vi có những tâm trạng (hemeurs) mà xét về mặt kỹ thuật,
chúng ít sinh động hơn và kéo dài lâu hơn nhưng cảm xúc đích thực. Sau các
tâm trạng đến các tính khí (tempérament), một thiên hướng gây ra một cảm
xúc hay một tâm trạng nào đó, khiến người ta trở thành u buồn, nhút nhát hay
vui vẻ. Sau đó là những rối nhiễu tâm lý (troubles) thật sự, như sự trầm cảm
lâm sàng hay sự lo hãi mãn tính [13, tr.625].
Schulze Ralf, Roberts D.Richard (EDS) (2005), Trí tuệ cảm xúc [102]
đã đề cập đến nghiên cứu của Carroll với việc tổng kết và kết hợp hơn 400
nghiên cứu theo phương pháp phân tích nhân tố truyền thống. Ông đưa ra một
mô hình 3 tầng bậc: Tầng bậc đầu tiên bao gồm các năng lực tinh thần chủ
yếu; tầng thứ hai bao gồm sự phong phú của miền rộng lớn các năng lực nhận
thức; tầng thứ ba gồm các thành tố trí tuệ chung Tầm quan trọng của khái
niệm do Carroll đã ảnh hưởng lớn đến sự tác động của giáo dục, chính sách
xã hội trong đánh giá, và những vấn đề xã hội [Dẫn theo 102]. Quan điểm này
cũng định hướng cho những lý thuyết và những nghiên cứu về sự khác biệt cá
nhân trong một số yếu tố dữ liệu, về một lĩnh vực kiến thức hành vi, lĩnh vực
17
này tương đối độc lập với cấu trúc tầng thứ hai. Ông cũng gợi ý rằng lĩnh vực
này đòi hỏi những nghiên cứu cẩn thận và hệ thống hơn là cách thức tiến hành
cho đến thời điểm của ông.
Ciarrochi Joseph, Forgas P.Joseph, Mayer D.John (EDS) (2006), Trí
tuệ cảm xúc trong cuộc sống hàng ngày [94] đã đề cập đến nghiên cứu
của Bar-On (2000), Petrides và Furnham (2001). Bar-On xem xét những
đặc điểm nhân cách được cho là quyết định sự thành công trong cuộc sống
nằm ngoài trí tuệ nhận thức và xác định được 5 khía cạnh rộng lớn. Ông
coi những khía cạnh này như những nhân tố chủ chốt của trí tuệ cảm xúc,
được chia thành 15 nhân tố:
1. Kỹ năng về bản thân: Tự đánh giá bản thân; Sự quả quyết; Tự hiện
thực hoá; Tính độc lập.
2. Kỹ năng tương tác với những người khác: Sự thấu cảm; Có trách
nhiệm xã hội; Mối quan hệ tương tác với những người khác.
3. Khả năng thích nghi: Giải quyết vấn đề; Kiểm tra thực; Tính linh hoạt.
4. Kiểm soát stress: Chịu được stress; Kiểm soát kích động.
5. Tâm trạng ổn định: Hạnh phúc; Lạc quan.
Bar - On giới thiệu khái niệm EI đã chỉnh sửa và gọi là mô hình trí tuệ
cảm xúc - xã hội, bao gồm 10 nhân tố lấy từ cấu trúc 15 nhân tố ban đầu là “Tự
đánh giá bản thân; Tự nhận biết cảm xúc bản thân; Sự quả quyết; Sự thấu cảm;
Mối quan hệ tương tác với những người khác; Chịu được Stress; Kiểm soát
kích động; Kiểm tra thực tế; Tính linh hoạt và Giải quyết vấn đề. Năm nhân tố
còn lại của mô hình ban đầu được coi là những nhân tố tạo điều kiện hơn là
những nhân tố tạo thành trí tuệ xã hội - cảm xúc gồm: Tự hiện thực hoá, Tính
độc lập, Có trách nhiệm xã hội, Hạnh phúc và Lạc quan” [94, tr.14].
Petrides và Furnham đưa ra một cấu trúc EI gồm bốn nhân tố (1)
Hạnh phúc, (2) Tự kiểm soát, (3) Tính nhạy cảm, (4) Tự hoà đồng với 15
biểu hiện. Với góc độ tiếp cận này, EI được đặt trong hệ thống nhân cách
và được các tác giả đánh giá là “hợp nhất được các kết quả nghiên cứu lẻ
18
tẻ trước đây vào một khung lý thuyết toàn diện, được đặt tên là “EI đặc
điểm” hay còn gọi là “Tự hiệu quả về cảm xúc, trong nỗ lực nhằm nhấn
mạnh cách tiếp cận hướng đến đặc điểm nhân cách hơn là các năng lực
nhận thức” [Dẫn theo 94, tr.10].
Luận án tiến sĩ Tâm lý học do Nguyễn Thị Dung thực hiện (2008),
Trí tuệ cảm xúc của giáo viên chủ nhiệm lớp trường trung học cơ sở và con
đường nâng cao trí tuệ này [6] cũng đã phân tích về trí tuệ cảm xúc, cấu
trúc trí tuệ cảm xúc của một nhóm khách thể ở một nghề nghiệp cụ thể.
Theo đó, trí tuệ cảm xúc gồm: khả năng nhận ra cảm xúc thật sự của bản
thân, của người khác; khả năng biết hoà mình vào cảm xúc của những
người cùng tham gia với mình trong giáo dục học sinh, không để cảm xúc
trở thành tiêu cực; khả năng điều khiển, điều chỉnh cảm xúc theo hướng
tích cực. Nhận ra cảm xúc của bản thân và người khác có nghĩa là cá nhân
biết mình hay người khác đang có cảm xúc gì; vì sao lại xuất hiện cảm xúc
đó và khi bản thân cá nhân đó có cảm xúc như vậy thì sẽ như thế nào? Cần
phải làm gì để có thể loại bỏ những cảm xúc mang tính chất tiêu cực [6].
Luận án tiến sĩ Tâm lý học do Dương Thị Hoàng Yến thực hiện (2010), Trí
tuệ cảm xúc của giáo viên tiểu học [92] cho rằng trí tuệ cảm xúc bao gồm 4 thành tố:
(1) Năng lực nhận thức, đánh giá và biểu hiện cảm xúc: năng lực
hiểu được cảm xúc của bản thân; năng lực hiểu và đồng cảm với
những khó khăn tâm lý;
(2) Năng lực sử dụng cảm xúc để tạo điều kiện thúc đẩy tư duy:
năng lực tạo môi trường thuận lợi, năng lực sử dụng các tác động sư
phạm một cách nhạy bén, năng lực xem xét sự việc một cách đa
chiều, năng lực giải quyết tình huống sư phạm một cách kịp thời,
(3) Năng lực sử dụng tri thức về cảm xúc: năng lực sử dụng phương
tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ;
(4) Năng lực nhận biết sự chuyển đổi cảm xúc; năng lực sử dụng tri
thức để thấu hiểu được cảm xúc phức hợp [92, tr.74].
19
Julia Wood, Ann Schweitzer (2016), Cuộc gặp gỡ hàng ngày - Giới
thiệu về giao tiếp giữa các cá nhân [113] trong nghiên cứu của mình đã dẫn
ra tuyên bố của Theodore Kemper khi cho rằng chỉ có bốn cảm xúc được di
truyền qua con đường sinh học là: sợ hãi, giận dữ, buồn rầu, thoả mãn. Ông
tin rằng cá nhân nào cũng đều trải qua bốn cảm xúc này bởi con người bị chi
phối về mặt sinh học để thực hiện điều đó. Đây cũng chính là bốn cảm xúc
giữ vai trò nền tảng của trí tuệ cảm xúc của cá nhân [113, tr.133].
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về cấu trúc và biểu hiện trí tuệ cảm
xúc. Mỗi một công trình lại chỉ ra một khía cạnh khác nhau của vấn đề này,
nhưng chưa có công trình nào đề cập đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Tuy
nhiên đây là những cơ sở để chúng tôi xác định cấu trúc cũng như biểu hiện của
trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Theo đó, chúng tôi đồng thuận theo mô hình
của tác giả Peter Salovey & David J.Sluyter (1997), Trí tuệ cảm xúc trong cuộc
sống hàng ngày [95] cho rằng trí tuệ cảm xúc bao gồm: (a) Nhận thức và đánh
giá chính xác cảm xúc của bản thân, (b) Biểu lộ tình cảm, cảm xúc với những
người khác một cách đúng đắn, phù hợp, (c) Nhận biết tốt về cảm xúc của
người khác và từ đó có những hành vi phù hợp, (d) Điều chỉnh cảm xúc của
bản thân và người khác một cách hiệu có hiệu quả để đạt đến mục đích hành
động cụ thể (ví dụ: để cải thiện tâm trạng của chính mình và của người khác)
và (e) Sử dụng những cảm xúc của mình để giải quyết vấn đề bằng những hành
vi phù hợp hoàn cảnh [95, tr.10].
Kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và người nước đã chỉ ra nhiều
nội dung về cấu trúc và biểu hiện của trí tuệ cảm xúc như: Nhận thức và đánh
giá chính xác cảm xúc của bản thân; Biểu lộ tình cảm, cảm xúc với những
người khác một cách đúng đắn, phù hợp; Nhận biết tốt về cảm xúc của người
khác và từ đó có những hành vi phù hợp; Điều chỉnh cảm xúc của bản thân và
người khác một cách hiệu có hiệu quả để đạt đến mục đích hành động cụ thể;
Sử dụng những cảm xúc của mình để giải quyết vấn đề bằng những hành vi
20
phù hợp hoàn cảnh; Năng lực nhận thức, đánh giá và biểu hiện cảm xúc; Năng
lực sử dụng cảm xúc để tạo điều kiện thúc đẩy tư duy; Năng lực sử dụng tri
thức về cảm xúc; Năng lực nhận biết sự chuyển đổi cảm xúc và nhiều nội
dung khác. Đây là những cơ sở khoa học quan trọng để tìm ra các biểu hiện của
trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục điều tra thuộc Bộ Công an hiện nay.
1.1.2. Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng của trí tuệ cảm xúc
Daniel Goleman (2007), Trí tuệ cảm xúc, ứng dụng trong công việc [14]
đã chỉ ra: Nhìn chung nữ giới thực hành các kỹ năng cá nhân nhiều hơn nam
giới, ít nhất trong các nền văn hoá như Mỹ, nơi mà nữ giới nổi lên là hoà hợp về
cảm xúc và các sắc thái của mình hơn nam giới. Đối với vấn đề này, không có sự
khác nhau về giới tính trong các trường hợp mà con người đang cố che giấu cảm
xúc thực của mình, cũng như không có trường hợp khi thách thức là cảm thấy
được suy nghĩ không xác định của một ai đó trong một cuộc chạm trán đang tiếp
diễn. Tuy nhiên, sự khác biệt về giới tính trong việc đọc được những xúc cảm
khép lại khi các cảnh quay gồm những ám hiệu cảm xúc mà dễ điều khiển hơn
nét mặt. Con người giỏi trong việc điều khiển nét mặt hơn điều khiển giọng nói.
Cử chỉ cơ thể hoặc lướt nhanh qua " vi cảm xúc & quot; thoáng hiện chỉ
một giây trên khuôn mặt. Sự biểu lộ cảm xúc càng nhiều, con người càng giỏi
hơn trong việc đọc được cảm xúc ở người khác. Những khác biệt về giới tính
trong sự thấu cảm hướng đến biến mất trong nhiều trường hợp kinh doanh hàng
ngày, như là buôn bán hoặc thương lượng, nơi mà con người không thể đơn giản
điều khiển tất cả các kênh của cơ thể đối với việc biểu hiện cảm xúc [14, tr.58].
Shamira Malekar, R.P. Mohanty (2009), “Thực trạng các yếu tố ảnh
hưởng đến trí tuệ cảm xúc của học sinh tại Ấn Độ” [96] cho rằng yếu tố có
ảnh hưởng lớn nhất đến trí tuệ cảm xúc của học sinh một trường ở Ấn Độ là
trình độ nhận thức của chính cá nhân đó; ngoài ra phụ huynh, giáo viên và cán
bộ quản lý. Trong đó, khi học sinh nhận thức được vai trò quan trọng của trí
tuệ cảm xúc đối với bản thân sẽ luôn hình thành cho bản thân những cảm xúc
21
mang tính chất tích cực và sẽ không để những cảm xúc tiêu cực lấn át đến
hành vi của mình. Mặt khác, sống trong môi trường gia đình có bầu không khí
tâm lý vui vẻ sẽ bồi dưỡng được những cảm xúc tích cực cho cá nhân đó.
Định hướng của giáo dục cũng như các hoạt động của nhà trường sẽ ảnh
hưởng lớn đến việc hình thành hành vi ứng xử của học sinh với nhau cũng
như chi phối đến trạng thái cảm xúc của cá nhân các em [96, tr.8].
Tác giả Dương Thị Hoàng Yến (2010), Trí tuệ cảm xúc của giáo viên tiểu
học [92] chỉ ra trí tuệ cảm xúc của giáo viên tiểu học chịu ảnh hưởng của rất
nhiều yếu tố khác nhau: tuổi đời; tuổi nghề, trình độ đào tạo; địa bàn cư trú; kiểu
giáo dục gia đình; nghề nghiệp của cha mẹ; nhận thức của cá nhân về vai trò trí
tuệ cảm xúc; mức độ hài lòng với công việc và thu nhập thực tại. Trong đó, với
tư cách là một loại trí tuệ thì trí tuệ cảm xúc sẽ có sự thay đổi theo độ tuổi và
kinh nghiệm. Với tư cách là một loại trí tuệ xã hội, gắn liền với hoạt động nghề
nghiệp đặc trưng trí tuệ cảm xúc sẽ chịu ảnh hưởng của thâm niên công tác, trình
độ đào tạo, văn hoá môi trường sống và làm việc, yêu cầu công tác [92, tr.75].
Theo tác giả Phan Trọng Nam (2012), Trí tuệ cảm xúc của sinh viên
Đại học sư phạm [52] các yếu tố chủ quan và khách quan có ảnh hưởng khác
nhau đến trí tuệ cảm xúc của sinh viên. Trong đó, nhóm yếu tố chủ quan được
xác định bao gồm: Mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo; hoạt động rèn
luyện nghiệp vụ sư phạm; hoạt động tham quan, thực tế giáo dục của sinh
viên; hoạt động thực tập sư phạm; hoạt động sinh hoạt tập thể của sinh viên;
hành vi ứng xử của bạn bè; Sự giáo dục của gia đình; sự tác động của môi
trường xã hội bên ngoài. Nhóm các yếu tố chủ quan thuộc về nhận thức của
sinh viên; nhu cầu vận dụng và thay đổi trí tuệ cảm xúc của sinh viên; tính
tích cực rèn luyện để nâng cao trí tuệ cảm xúc cho bản thân [52, tr.57].
Trần Thị Thu Mai (2013), Trí tuệ cảm xúc của sinh viên Đại học Sư phạm
thành phố Hồ Chí Minh [50] đã chỉ ra trí tuệ cảm xúc của sinh viên chịu sự ảnh
hưởng của cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan ở mức độ gần tương đương
nhau. Trong nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ cảm xúc của
22
sinh viên, nguyên nhân từ giáo dục gia đình có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, cụ thể đó
là sự ảnh hưởng từ cách ứng xử hay thể hiện tình cảm của những thành viên trong
gia đình. Việc cha mẹ ứng xử với con cái, con cái ứng xử với cha mẹ sẽ là tấm
gương phản chiếu trong môi trường này khiến cá nhân sẽ bị tương tác hai chiều. Kế
đến là nguyên nhân từ nhu cầu, mong muốn nâng cao trí tuệ cảm xúc và ảnh hưởng
từ hoàn cảnh sống của sinh viên. Yếu tố có ảnh hưởng ít nhất đó chính là nghề
nghiệp của cha mẹ [50, tr.76].
Nguyễn Thị Thanh Tâm (2013), Trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cơ
sở trong giao tiếp công vụ [69] đã chỉ ra rằng trí tuệ cảm xúc của cá nhân chịu sự
chi phối của các yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Cụ thể: vốn kinh nghiệm
sống (trải nghiệm cuộc sống) là một trong những yếu tố chủ quan có ảnh hưởng
đến mọi năng lực tâm lý nói chung, đến năng lực trí tuệ cảm xúc nói riêng của cá
nhân. Những kiến thức mà cán bộ chủ chốt được đào tạo liên quan đến lĩnh vực
cảm xúc, tình cảm sẽ có ảnh hưởng đến năng lực trí tuệ cảm xúc của họ với tiêu
chí tiên quyết là những kiến thức này phải được cá nhân đó lĩnh hội, chuyển hoá
vào trong bản thân mình. Tính cách và khí chất mỗi cá nhân cũng chi phối đến
năng lực trí tuệ cảm xúc của cá nhân. Ngoài ra trí tuệ cảm xúc còn chịu tác động
của các yếu tố từ môi trường sống. Môi trường sống có ảnh hưởng đến trạng thái
cảm xúc cũng như hành vi ứng xử của cá nhân đó [69, tr.76].
Luận án tiến sĩ của Trần Hà Thu (2019), Trí tuệ cảm xúc của học sinh trung
học cơ sở [72] khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc, tác giả
đưa ra nhận định có 3 yếu tố ảnh hưởng, bao gồm: (1) Tính cách; (2) Hành vi ứng
xử của cha mẹ; (3) Các mối quan hệ cá nhân. Tác giả cho rằng người có nét tính
cách hướng ngoại thường nhìn nhận mọi việc theo hướng tích cực và có khả năng
tương tác xã hội; người có nét tính cách nhiễu tâm thì ngược lại, có xu hướng nhìn
nhận sự việc một cách tiêu cực và sống khép kín hơn; hai nét tính cách cởi mở và
nhiễu tâm có mối quan hệ gắn bó nhất với trí tuệ cảm xúc, bởi lẽ trí tuệ cảm xúc
lại được thể hiện thông qua khả năng điều chỉnh, đánh giá cảm xúc và tính hiệu
quả các cảm xúc. Hành vi ứng xử của cha mẹ có ảnh hưởng đến đặc điểm tâm lý
23
của con cái, trong đó có các năng lực liên quan đến cảm xúc, xã hội. Trí tuệ cảm
xúc có mối tương quan thuận, khá chặt chẽ với cảm nhận về các mối quan hệ cá
nhân, chỉ số trí tuệ cảm xúc càng cao thì mối quan hệ cá nhân càng tốt đẹp (mối
quan hệ gia đình, bạn bè) [72, tr.51].
Nghiên cứu của Christabel Odame, Mrinalini Pandey and Pramod
Pathak (2021), “Ảnh hưởng của trí tuệ cảm xúc đến sự gắn kết của nhóm”
[94] đã chỉ ra trí tuệ cảm xúc của sinh viên Ấn Độ chịu ảnh hưởng của nhiều
yếu tố khác nhau; trong đó sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm có
ảnh hưởng lớn đến trí tuệ cảm xúc của mỗi cá nhân. Hay nói cách khác đó
chính là ảnh hưởng từ yếu tố bạn bè đến mỗi cá nhân. Theo tác giả, lời nói,
hành vi cũng như những trạng thái xúc cảm của các thành viên trong nhóm có
ảnh hưởng lẫn nhau [93, tr.300].
Mặc dù, chưa có nhiều tác giả trong nước và trên thế giới trực tiếp đi sâu,
nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc. Song, ở kết quả nghiên cứu
của các công trình đã công bố mà tác giả luận án tiếp cận được cũng đã chỉ ra khá
đa dạng các yếu tố ảnh hưởng và thường được các nhà nghiên cứu khái quát trên 2
nhóm yếu tố chủ quan, khách quan, cụ thể như: yếu tố chủ quan thuộc về chủ thể
gồm: trình độ đào tạo, nhận thức, giới tính, tính cách, khí chất, vốn sống, kinh
nghiệm là những yếu tố chủ quan có ảnh hưởng đến mọi năng lực tâm lý nói
chung, đến năng lực trí tuệ cảm xúc nói riêng của cá nhân. Các yếu tố khách quan
như: môi trường hoạt động, yêu cầu nhiệm vụ, công tác, ứng xử của gia đình và
cấp trên,.v.v… Đây là những nội dung có thể kế thừa, phát triển để xác định
những yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên hiện nay.
1.1.3. Hướng nghiên cứu về biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc
Trong nghiên cứu của Nguyễn Công Khanh (2005), Cơ sở phương
pháp nghiên cứu trí tuệ cảm xúc [38] đã chỉ ra: Nghiên cứu của
E.L.Thorndike (1930) đã tìm cách nhận dạng trí tuệ cảm xúc mà lúc đó ông
gọi là trí tuệ xã hội. Theo ông, trí tuệ xã hội “ là năng lực hiểu và điều khiển
24
mà một người đàn ông, đàn bà, con trai và con gái sử dụng để hành động
một cách khôn ngoan, sáng suốt trong các mối quan hệ của con người” [Dẫn
theo 38, tr.96]. Đó là một dạng năng lực mà sự có mặt của nó rất phong phú,
từ công việc của người y tá, người gác cổng trong doanh trại, trong nhà máy,
quầy bán hàng, nhưng nó cũng có những điều kiện được tiêu chuẩn hoá một
cách chính thức ở phòng thí nghiệm. E.L.Thorndike đề nghị một số phương
pháp đánh giá trí tuệ xã hội trong phòng thí nghiệm nhưng đó là quá trình
giản đơn: “làm cho có sự phù hợp giữa những bức tranh có những khuôn
mặt biểu lộ những cảm xúc khác nhau với việc nhận biết, mô tả đúng những
cảm xúc đó” [Dẫn theo 38, tr.96].
Trong mô hình EI97, Ciarrochi Joseph, Forgas P.Joseph, Mayer D.John
(EDS) (2006), Trí tuệ cảm xúc trong cuộc sống hàng ngày [94] chỉ ra trí tuệ
cảm xúc không đơn thuần chỉ có mối quan hệ với nhau như những thành phần
trong một cấu trúc mà còn như một quy trình liên tục. Ý nghĩa quan trọng của
mô hình EI (1997) đem lại là có thể xây dựng một quy trình phát triển EI gồm
4 giai đoạn tương ứng với 4 thành tố tạo nên EI. Dựa vào mô hình EI thuần
năng lực năm 1997, D.Caruso và các cộng sự đề xuất một quy trình phát triển
EI gồm 4 giai đoạn như sau: nhận biết cảm xúc, sử dụng cảm xúc, hiểu rõ cảm
xúc và kiểm soát cảm xúc [94, tr.92]. Sau đó, họ đề xuất một quy trình phát
triển EI gồm bốn giai đoạn gắn liền với bốn thành tố trí tuệ tạo nên EI của
mỗi cá nhân. Bao gồm các bước sau:
Bước 1: Nhận thức chính xác về cảm xúc - Kết hợp những dữ kiện sẵn có
Bước 2: Sử dụng cảm xúc để đẩy mạnh khả năng tư duy - Phát hiện
ra một cách viễn cách cảm xúc chung
Bước 3: Hiểu rõ nguyên nhân và sự phát triển của cảm xúc - Trả
lời câu hỏi “Cái gì sẽ xảy ra nếu ...”
Bước 4: Quản lý cảm xúc để đạt được những kết luận logic về mặt
trí tuệ - Những quyết định chiến lược cơ bản trong cảm xúc và lập
luận [94, tr.190].
25
Bốn năng lực này được sử dụng như một hình thức phương pháp luận để
giải quyết vấn đề, mà một người trước hết nhận thức được một cảm xúc; cho
phép cảm xúc này định hướng và ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy; cố gắng để
hiểu nguyên nhân của cảm xúc đó và viễn cảnh “cái gì sẽ xảy ra nếu cứ để
cảm xúc này tự do phát triển”/ “What-if”; cuối cùng, quản lý để luôn sẵn có
những thông tin chứa đựng trong những cảm xúc này và kết hợp chúng thành
một quyết định chiến lược.
L. Melita Prati, Joy H. Karriker (2010), “Kỹ năng trí tuệ cảm xúc - nền
tảng chống lại những cảm xúc tiêu cực” [97] đã chỉ ra muốn nâng cao trí tuệ
cảm xúc cần chú ý đến các thành tố của trí tuệ cảm xúc. Trong đó cần chú
trọng đến việc phát triển khả năng nhận thức của cá nhân về trí tuệ cảm xúc
thông qua quá trình hoạt động. Nhận thức và hoạt động có mối tương quan
chặt chẽ đối với vai trò của sự phát triển cảm xúc. [97, tr.317].
Nguyễn Thị Diễm Hằng (2016), “Một số nguyên nhân và biện pháp
góp phần phát triển năng lực trí tuệ cảm xúc của giáo viên mầm non” [22] đã
đưa ra 3 biện pháp góp phần phát triển trí tuệ cảm xúc, đó là: (1) Nâng cao
nhận thức cho giáo viên mầm non về trí tuệ cảm xúc, (2) Tổ chức cho giáo
viên mầm non vận dụng những hiểu biết về trí tuệ cảm xúc vào trong đời sống
và trong hoạt động sư phạm, (3) Thường xuyên luyện tập phát triển kỹ năng
nhận biết và bày tỏ cảm xúc [22, tr.16]
Nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Vân (2018), Sự kiểm soát cảm xúc
của sinh viên các trường Đại học công an nhân dân phía Nam [91] đã chỉ
ra để có thể kiểm soát cảm xúc có các cách sau: Điều chỉnh phản ứng”,
“Chuyển hướng chú ý”, “Giải quyết vấn đề”, “Tư duy tích cực”, “Trao đổi
với người khác” và “Chịu trách nhiệm” [91, tr.42]. Trí tuệ cảm xúc được
biểu hiện thông qua năng lực điều khiển cảm xúc, đây cũng chính là cơ sở
để chúng tôi có thể xây dựng biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc bắt
nguồn từ kỹ năng kiểm soát cảm xúc.
26
Đặng Thị Tuyết (2020), “Thực trạng và một số biện pháp bồi dưỡng trí
tuệ cảm xúc cho học sinh trường trung cấp sư phạm mầm non Đăk Lăk” [86]
đã đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao trí tuệ cảm xúc như sau:
(1) Nâng cao về nhận thức và thái độ cho học sinh về trí tuệ cảm xúc
(2) Tổ chức cho học sinh giải quyết các bài tập tình huống nhằm giúp
các em rèn luyện, nâng cao kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc.
(3) Phát triển các năng lực cảm xúc xã hội cho học sinh.
(4) Tập huấn các kỹ năng phát triển trí tuệ cảm xúc cho học sinh.
(5) Tổ chức các hoạt động ngoại khoá Tổ chức cho học sinh vận dụng
những hiểu biết về trí tuệ cảm xúc và giải quyết các tình huống của cuộc sống
xã hội [86, tr.11].
Khi nghiên cứu về biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc thì chỉ có những
nghiên cứu ở nước ngoài, những công trình nghiên cứu ở Việt Nam còn khá
khiêm tốn và chủ yếu nghiên cứu trên các đối tượng là giám đốc, lãnh đạo hay
giáo viên tiểu học.v.v… Chưa có nghiên cứu nào chỉ ra biện pháp phát triển
trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra
những cơ sở, phương pháp luận và cách thức tiếp cận để tác giả luận án xác
định những biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên.
1.1.4. Hướng nghiên cứu về các mô hình, thang đo trí tuệ cảm xúc
Hai nhà lý luận trí tuệ đương thời, H.Gardner (1993) và R.Sternberg
(1985), Cơ cấu của trí khôn [12] đã chỉ ra rằng các mô hình trí tuệ được đề
xuất cần phải chứng tỏ có thể bao trùm hết cả thế giới bên trong và bên
ngoài của con người. Những lý thuyết như vậy coi trí tuệ như là một hệ
thống phức tạp và hoàn chỉnh, đây là một xuất phát điểm được dùng để
phân ranh giới giữa mô hình hệ thống với những mô hình cấu trúc trí tuệ đã
mô tả. Những mô hình hệ thống như vậy trong khi mở rộng chủ đề nghiên
cứu về trí tuệ, bao gồm cả những khái niệm mà mô hình cấu trúc không
nhất thiết coi là trí tuệ [12, tr.7]. Có lẽ nhờ những quan niệm rộng mở đó,
các nhà nghiên cứu thường dựa vào mô hình hệ thống về trí tuệ hơn là dựa
vào mô hình cấu trúc về trí tuệ để xây dựng lý thuyết trí tuệ cảm xúc.
27
Trong nghiên cứu Ciarrochi Joseph, Forgas P.Joseph, Mayer D.John
(1997), Trí tuệ cảm xúc trong cuộc sống hàng ngày [94] J.Mayer, P.Salovey
công bố mô hình EI được chỉnh sửa và tinh lọc (EI97), thành các nhánh như
sau: (1) Nhận thức, đánh giá và biểu hiện cảm xúc; (2) Tạo điều kiện cảm xúc
cho suy nghĩ miêu tả việc sử dụng cảm xúc để nâng cao lập luận (suy nghĩ) và
đặt ra những trường hợp cảm xúc khác nhau; (3) Hiểu và phân tích cảm xúc,
sử dụng những tri thức cảm xúc; (4) Điều chỉnh cảm xúc một cách có suy
nghĩ nhằm tăng cường sự phát triển cảm xúc và trí tuệ. Trong đó:
- Nhận thức, đánh giá và biểu hiện cảm xúc, bao gồm việc tiếp nhận và
nhận biết những thông tin cảm xúc và những kỹ năng cơ bản nhất gắn với
cảm xúc. Các thành tố này trải ra từ năng lực nhận biết cảm xúc của bản thân
một người đến năng lực phân biệt các cảm xúc, chẳng hạn như những biểu
hiện trung thực và thiếu trung thực của cảm xúc. Các quá trình thu nhận thông
tin cơ bản này là điều kiện tiên quyết cần thiết cho quá trình hình thành thông
tin cảm xúc này để giải quyết vấn đề.
- Tạo điều kiện cảm xúc cho suy nghĩ miêu tả việc sử dụng cảm xúc để
nâng cao lập luận (suy nghĩ) và đặt ra những trường hợp cảm xúc khác nhau.
Nhánh này bao gồm những cảm xúc hướng sự quan tâm chú ý đến các thông
tin quan trọng và khác nhau (như suy diễn đối lập với lập luận dựa trên việc
tổng hợp thông tin).
- Hiểu và phân tích cảm xúc, sử dụng những tri thức cảm xúc, gồm 4
năng lực tiêu biểu trong đó có việc hiểu một cách trừu tượng và suy luận về
cảm xúc. Những thành tố này trải ra từ năng lực xác định cảm xúc và nhận ra
mối quan hệ giữa lời nói (lời nhận xét) và cảm xúc, đến năng lực nhận biết sự
chuyển biến cảm xúc có thể xảy ra.
- Điều chỉnh cảm xúc một cách có suy nghĩ nhằm tăng cường sự phát
triển cảm xúc và trí tuệ liên quan đến năng lực kiểm soát cảm xúc của bản
thân và cảm xúc của người khác để tăng cường sự phát triển trí tuệ và cảm
28
xúc. Năng lực này bao gồm những kỹ năng cao nhất, sắp xếp từ năng lực để
cảm xúc tự do phát triển (từ cảm xúc dễ chịu và khó chịu) đến năng lực quản
lý cảm xúc của bản thân và người khác bằng cách tăng cường những cảm xúc
dễ chịu và điều hoà những cảm xúc tiêu cực. Nhánh quan trọng nhất này của
EI97 trình bày điểm chung của rất nhiều nhân tố bao gồm động cơ, cảm xúc
và nhận thức phải được nhận biết, được cân bằng nhằm kiểm soát cảm xúc
một cách thành công [94, tr.10].
Thang đo đã đáp ứng những tiêu chuẩn kinh điển của một trắc nghiệm
trí tuệ, vì:
(1) Cấu trúc nhân tố của nó phù hợp với bốn năng lực của mô hình EI97
(2) Bốn năng lực này cùng tỏ rõ một giá trị duy nhất và liên quan một
cách có ý nghĩa đến các năng lực trí tuệ như trí tuệ ngôn ngữ.
(3) Điểm số trong bài trắc nghiệm phát triển theo độ tuổi và kinh nghiệm.
(4) Bốn năng lực đã được đo đạc một cách khách quan
(5) Trắc nghiệm đã dự đoán những tiêu chuẩn quan trọng về hành vi
Những kết quả ban đầu của MSCEIT cho thấy nghiên cứu EI với tư
cách là một hệ thống năng lực trí tuệ, tồn tại như một cấu trúc xác định rõ
ràng, riêng biệt và có bằng chứng về giá trị tăng dần. Tuy nhiên, MSCEIT
hiện nay đang dừng lại ở việc đánh giá các năng lực cảm xúc chọn lọc. Cấu
trúc các nhân tố và hiệu lực của MSCEIT (cũng như các phương pháp đo EI
khác) cũng cần được tiếp tục kiểm tra trong các nền văn hoá khác nhau.
Theo Richard D.Kellough & Patricia L.Robberts (1998), Trí tuệ cảm xúc
trong lãnh đạo và tổ chức [101] cho rằng trí tuệ cảm xúc bao gồm bốn yếu tố
nền tảng, đó là: xây dựng sức mạnh bản thân (Emotional Literacy), xây dựng
nguồn cảm hứng cho bản thân và người khác (Emotional Fitness), xây dựng
những tính cách cốt lõi và sự ảnh hưởng (Emotional Depth), cảm nhận được
những cơ hội và sáng tạo tương lai (Emotional Alchemy) [101].
Tâm lý học từ đầu thế kỷ XX cho đến nay đã đi được một chặng đường
dài trong quá trình tiếp cận bản chất, cấu trúc trí tuệ người. Đầu thế kỷ XX, trí
29
tuệ được hiểu đơn giản là trí thông minh (intelligence), mang bản chất sinh
vật hơn bản chất xã hội, đến cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, trí tuệ được hiểu là
hệ thống phức hợp và mở bao gồm trí thông minh, trí sáng tạo, trí tuệ xã hội (bao
gồm trí tuệ cảm xúc, năng lực xã hội xã hội - social compatence). Vị trí của từng
lĩnh vực trí tuệ này trong cấu trúc nhân cách, quan hệ giữa chúng cũng như khả
năng dự đoán của chúng đang được các khoa học từng bước chứng minh.
D.Goleman (2002), Trí tuệ cảm xúc: Làm thế nào để những cảm xúc của
mình thành trí tuệ [13] với trắc nghiệm ECI và phiên bản ECI-2 được phát triển
nhằm hướng tới mô hình EI phổ biến được đưa ra trước đó bởi. Bên cạnh một
bản liệt kê tự đánh giá, chỉ số này được thiết kế rõ ràng như một phương pháp
360º, nghĩa là với bất kỳ đối tượng nhất định nào, các điểm số đều đưa ra như
một kết quả đánh giá của đối tượng đó, và những đánh giá đưa ra bởi các nhà
quan sát có quan hệ với đối tượng nào đó. Điều quan trọng là ECI được phát
triển phần nào nhằm đánh giá các kỹ năng có liên quan đến công việc [13, tr.41].
Jonh Mayer, Peter Salovey, David R.Caruso (2002), Trắc nghiệm trí
tuệ cảm xúc MSCEIT [51] nghiên cứu độ chính xác của cảm xúc, được thiết
kế để đo lường các nhân tố nhận biết cảm xúc của mô hình năng lực bằng
cách cho những người tham gia nhận dạng cảm xúc nào (trong hai lựa chọn
được đưa ra bởi nhiều items khác nhau) mà những cá nhân cụ thể thông báo
rằng mình đang cảm nhận. Mỗi người tham gia có hai điểm số là điểm số tán
thành mục tiêu tương ứng với mức độ phù hợp của sự lựa chọn thống nhất
của một người tham gia với nhóm và hệ số tin cậy nội tại của các điểm số
mục tiêu và liên ứng lần lượt là 0.24 và 0.52. Trên thực tế, những hệ số này
là thấp dưới mọi tiêu chuẩn. Mặc dù có độ tin cậy nội tại thấp như vậy,
nhưng vẫn cho thấy điểm số liên ứng có liên quan đến khả năng thấu cảm tự
đánh giá (r=0.24) và khả năng đánh giá cảm xúc của các đối tượng được
thực hiện qua băng video (r=0.36) [51, tr.31]. Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra
hai trắc nghiệm theo phương pháp thực hành nhằm đo lường bốn năng lực
liên quan đến cảm xúc trên nền tảng lý thuyết EI của J.Mayer và P.Salovey
30
là trắc nghiệm MEIS và trắc nghiệm MSCEIT. Theo đó để đo lường trí tuệ
cảm xúc theo kinh nghiệm cần chú ý đến các năng lực: Năng lực nhận biết
cảm xúc; năng lực sử dụng cảm xúc để hướng dẫn tư duy; năng lực thấu hiểu
cảm xúc và năng lực quản lý cảm xúc [51, tr.35].
Các nghiên cứu về EI vẫn còn đang ở giai đoạn đầu và vẫn còn
nhiều vấn đề cần xem xét về các nhân tố và phương pháp đánh giá tốt
nhất. Nhưng có một sư đồng thuận giữa các nhà khoa học trong lĩnh vực
nghiên cứu EI rằng các trắc nghiệm thực hành là tiêu chuẩn vàng trong
nghiên cứu trí tuệ bởi lẽ nó đo lường hệ thống các năng lực thực tiễn để
hoàn thành tốt các nhiệm vụ trí tuệ, chứ không chỉ dừng lại ở hiệu quả cá
nhân trong phạm vi một vài nhiệm vụ trí tuệ nhất định. Việc duy trì
phương pháp đo đạc EI giới hạn trong trắc nghiệm thực hành giúp phát
triển các phương pháp đo năng lực có giá trị về mặt nội dung và phân tích
mức độ ảnh hưởng đặc biệt của kỹ năng EI lên hành vi của một cá nhân.
Đặng Thành Hưng (2002), Phương pháp luận nghiên của trí tuệ người
Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá [34] trong đề tài
khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX-05-06 đã xác định trí tuệ cảm xúc là
một trong ba thành tố trí tuệ: trí thông minh, trí tuệ sáng tạo, và trí tuệ cảm
xúc. Trong đó, nghiên cứu đưa ra định nghĩa một cách tổng quát về trí tuệ
theo mô hình cụ thể như sau:
Trí tuệ là một thuộc tính của nhân cách, có tính độc lập tương đối,
có cấu trúc phức hợp, đa tầng, đa diện. Đó là tổ hợp các năng lực
nhận thức, năng lực tìm ra những mối quan hệ giữa các tri thức -
kinh nghiệm (tạo ý tưởng mới) và năng lực nhận cảm, điều khiển
cảm xúc cá nhân và người khác, được hình thành và phát triển trong
hoạt động tương tác với môi trường xung quanh, chịu sự qui định
của điều kiện văn hoá xã hội, bảo đảm cho sự tương tác phù hợp với
hiện thực, cho sự cải tạo có mục đích hiện thực ấy nhằm đạt được mục
đích có ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày của con người [34, tr.28].
31
Tác giả Trần Trọng Thuỷ (2002), Những vấn đề để luận về trí tuệ và
chỉ số IQ [75] quan niệm trí tuệ cảm xúc trong công việc bao gồm hai phần:
những yếu tố bên trong, làm thế nào để phát triển và sử dụng nó trong sự quan
tâm với chính bản thân và những yếu tố liên quan đến người khác, làm thế
nào để ảnh hưởng đến những quan hệ với người khác [75, tr.55].
Schulze Ralf, Roberts D.Richard (EDS) (2005), Trí tuệ cảm xúc [102]
nhắc đến nghiên cứu của C.Spearman (2002), L.Thurstone (1938),
J.P.Guilford (1988), Eysenck (1998). C.Spearman với mô hình trí tuệ tâm trắc
đơn nhân tố (Psychometric g) đề xuất lý thuyết trí tuệ nổi tiếng nhất, cho rằng
có hai nhân tố đặt nền tảng cho phương pháp đo nghiệm trí tuệ: nhân tố tổng
quát - “g” (General) và nhân tố chuyên biệt -“s” (Special). Spearman tuyên bố
chỉ duy nhất nhân tố g là quan trọng về mặt tâm lý [Dẫn theo 102, tr.4].
L.Thurstone với mô hình các năng lực trí tuệ nguyên thuỷ đã xác định được
bảy nhân tố trí tuệ mà ông gọi là “năng lực trí tuệ nguyên thuỷ” (PMAs) [Dẫn
theo 103, tr.5]. Bảy nhân tố này bao gồm: Tính toán bằng số, Thông hiểu
ngôn ngữ, Tưởng tượng không gian, Trí nhớ liên tưởng, Suy luận, Lưu loát về
từ ngữ, Tốc độ tri giác. Mô hình cấu trúc trí tuệ của J.P.Guilford đề xuất mô
hình 3 chiều của trí tuệ con người. Mô hình này được tạo thành từ 6 loại thao
tác, 5 kiểu nội dung, 6 hình thức sản phẩm tạo thành 180 nhân tố. [Dẫn theo
103, tr.6]. Nghiên cứu của Eysenck đã tổng hợp các quan niệm và kết quả
nghiên cứu lý thuyết cũng như phương pháp đánh giá trí tuệ từ trước đến nay
để đề xuất mô hình 3 tầng bậc của trí tuệ, bao gồm: Tiêu chí khái niệm
(Conceptual criterion): phải gắn kết về mặt khái niệm, có thể phân biệt rõ ràng với
những đặc điểm nhân cách và năng khiếu bẩm sinh; Tiêu chí tương quan
(Corelational criterion): phải tương quan với các trí tuệ khác ở một mức độ
vừa phải; Tiêu chí phát triển (Developmentalcrit criterion): có sự thay đổi
theo lứa tuổi và kinh nghiệm [Dẫn theo 102, tr.10].
Julia Wood, Ann Schweitzer (2016), Cuộc gặp gỡ hàng ngày - Giới
thiệu về giao tiếp giữa các cá nhân [113] dựa trên quan niệm phổ biến về mối
quan hệ theo dòng họ của các cảm xúc và sự biến hoá vô tận của chúng để đưa ra
32
một mô hình cảm xúc. Các cảm xúc không chỉ được mô tả theo dòng họ, chỉ rõ
mức độ thay đổi của chúng, mà còn chỉ ra các cảm xúc nào là đối cực nhau và sự
kết hợp của các họ/ bộ cảm xúc gần nhau tạo nên cảm xúc mới.
Trong mô hình này, cảm xúc không chỉ tồn tại đơn thuần ở bản thân,
người khác hay bối cảnh nhất định và được cá nhân nhận dạng. Phạm vi của
việc nhận thức về cảm xúc mở rộng hơn nhiều bao gồm việc đòi hỏi cá nhân
cần trải nghiệm và cần hiểu một cảm xúc được thay đổi, phát triển từ trung
tâm đến đầu mút của cánh hoa và ngược lại như thế nào; cái gì tác động đến
việc làm thay đổi một cảm xúc cụ thể trong một bối cảnh cụ thể của một con
người cụ thể; cần chủ động tạo ra cảm xúc nào ở bản thân hay người khác
trong các hoạt động khác nhau để đạt đến mục đích tốt đẹp,... [113].
Nguyễn Thị Hồng (2018), Trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm
non [30] đưa ra cấu trúc của trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non
bao gồm năm thành tố sau: (1) Nhận thức xã hội; (2) Thiết lập, duy trì các
quan hệ xã hội; (3) Năng lực hoà nhập vào môi trường xã hội; (4) Khả năng
giải quyết tốt các tình huống trong tương tác xã hội; (5) Khả năng thích ứng
vào môi trường xã hội. Cá nhân cần có hiểu biết về những gì xung quanh
mình cũng như phải hiểu và giải thích được những trạng thái xúc cảm diễn
ra ở đối tượng. Từ đó cá nhân biết cách xây dựng các mối quan hệ mang tính
chất phong phú, đa dạng và có tính chất lâu dài. Trong một mối quan hệ, cá
nhân phải nhanh chóng hoà nhập với những người xung quanh cũng như
nắm bắt được những cơ hội và vượt qua những khó khăn trong cuộc sống
chủ động và tích cực [30, tr.47].
Nguyễn Thị Thanh Huyền (2018), “Ứng dụng mô hình trí tuệ cảm xúc
của J.Mayer và P. Salovey để xác định các yếu tố trí tuệ cảm xúc trong hoạt
động nghề nghiệp của giáo viên mầm non” [33], đã chỉ ra rằng trí tuệ cảm xúc
trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non bao gồm bốn thành tố:
- Nhóm năng lực nhận biết các cảm xúc trong quá trình chăm sóc, giáo
dục trẻ em.
33
- Nhóm năng lực sử dụng các cảm xúc trong quá trình chăm sóc, giáo
dục trẻ em.
- Nhóm năng lực hiểu các cảm xúc trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ em.
- Điều chỉnh cảm xúc của bản thân từ hướng tiêu cực chuyển sang
hướng tích cực trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ em. [33, tr.21].
Như vậy, kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trước đã
đề cập khá đa dạng các cách thức, tiêu chí đánh giá và thang đo trí tuệ
cảm xúc. Theo đó, luận án sử dụng mô hình trí tuệ của J.Mayer và
P.Salovey để xác định các thành phần biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên bao gồm 4 mặt biểu hiện: năng lực nhận biết cảm xúc, năng
lực thấu hiểu cảm xúc, năng lực vận dụng cảm xúc và năng lực điều khiển
cảm xúc. Đồng thời, sử dụng các trắc nghiệm EI để định lượng trí tuệ cảm
xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra hiện nay.
1.2. Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn
đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu
1.2.1. Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan
Từ kết quả nghiên cứu các công trình khoa học tiêu biểu đã công bố của
các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến trí tuệ cảm xúc, có thể khái
quát một số vấn đề sau:
Một là, nghiên cứu trí tuệ cảm xúc là một lĩnh vực phức tạp và có tính
chất liên ngành. Điều đó cho thấy đây là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm. Tuy nhiên, dễ dàng nhận ra các công trình nghiên cứu về trí tuệ
cảm xúc xét trên tổng thể thường chỉ được được lồng ghép trong các nghiên
cứu về cảm xúc, quản lý cảm xúc và giao tiếp xã hội. Đặc biệt việc nghiên
cứu chuyên sâu, có tính chất hệ thống và khảo sát, đánh giá thực trạng trí tuệ
cảm xúc ở đối tượng là điều tra viên hiện nay chưa thấy có và nó vẫn là
khoảng trống cần được quan tâm nghiên cứu.
Hai là, hầu hết các tác giả ở Việt Nam và trên thể giới khi nghiên cứu về
trí tuệ cảm xúc đều ít nhiều đề cập đến các thành phần cấu trúc và biểu hiện của
34
trí tuệ cảm xúc. Có thể nói, đây là hướng nghiên cứu có số lượng đông đảo nhất,
nội dung đa dạng nhất, nhưng cũng tồn tại nhiều nhiều quan điểm khác nhau
nhất. Điều này được lý giải là do ở nghiên cứu của từng tác giả thường có cách
tiếp cận, đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu khác nhau. Do vậy, ở từng
hoạt động và đối tượng cụ thể thì trí tuệ cảm xúc của cá nhân lại được biểu hiện
ra bên ngoài theo các chỉ báo khác nhau. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, đa số
các nghiên cứu đều coi trí tuệ cảm xúc là một năng lực tổng hợp và mô hình trí
tuệ cảm xúc của Peter Salovey và David J.Sluyter (1997) chỉ ra các mặt biểu
hiện gồm: Nhận thức và đánh giá chính xác cảm xúc của bản thân; Biểu lộ tình
cảm, cảm xúc với những người khác một cách đúng đắn, phù hợp; Nhận biết
tốt về cảm xúc của người khác và từ đó có những hành vi phù hợp; Điều chỉnh
cảm xúc của bản thân và người khác một cách hiệu có hiệu quả để đạt đến mục
đích hành động cụ thể; Sử dụng những cảm xúc của mình để giải quyết vấn đề
bằng những hành vi phù hợp hoàn cảnh là mô hình có tính thống nhất cao. Đây
là cơ sở khoa học quan trọng có thể kế thừa để tìm ra các biểu hiện của trí tuệ
cảm xúc của điều tra viên ở Cục điều tra thuộc Bộ Công an hiện nay.
Ba là, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc ít được đề
cập trực tiếp trong kết quả nghiên cứu của các công trình đã được công bố trước
đây. Song, ở kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước và trên thế giới cũng
đã chỉ ra khá đa dạng các yếu tố ảnh hưởng và thường được khái quát trên 2
nhóm yếu tố chủ quan, khách quan, như: trình độ đào tạo; nhận thức của chủ thể;
giới tính; tính cách, khí chất; vốn sống, kinh nghiệm là những yếu tố chủ quan có
ảnh hưởng đến đến năng lực trí tuệ cảm xúc của cá nhân. Các yếu tố khách quan
như: môi trường hoạt động, yêu cầu nhiệm vụ, công tác, ứng xử của gia đình và
cấp trên,.v.v… Đây là những nội dung có thể kế thừa, phát triển để xác định
những yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên hiện nay.
Bốn là, đề cập đến thang đo và biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc
trong những nghiên cứu ở Việt Nam còn khá khiêm tốn, chủ yếu dựa trên kết
35
quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài. Bên cạnh đó, các nghiên cứu
thường tập trung vào các nhóm đối tượng như: nhà quản lý, giám đốc, lãnh
đạo, học sinh hay giáo viên tiểu học.v.v… Chưa có nghiên cứu nào chỉ ra biện
pháp phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Tuy nhiên, các kết quả
nghiên cứu cũng đã chỉ ra những cơ sở, phương pháp luận và cách thức tiếp
cận để xây dựng thang đo và đề xuất biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc.
Theo đó, ở luận án sử dụng mô hình trí tuệ của J.Mayer và P.Salovey để
xác định các chỉ báo và sử dụng các trắc nghiệm EI để định lượng trí tuệ
cảm xúc của điều tra viên. Đồng thời, dựa trên các cơ sở lý luận, đặc điểm
hoạt động của điều tra viên và kết quả nghiên cứu thực trạng để đề xuất
các biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh
điều tra một cách khả thi, khoa học và hiệu quả.
Có thể nói, những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã
được công bố liên quan đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh
điều thuộc Bộ Công an là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở
khoa học để kế thừa, bổ sung và phát triển trong quá trình nghiên cứu của đề
tài luận án. Đồng thời, quá trình hệ thống lại các nghiên cứu có liên quan
cũng cho thấy hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc
của điều tra viên. Đây chính là “khoảng trống” và cũng là lý do cấp thiết để
tác giả xác định và thực hiện nghiên cứu đề tài luận án này.
1.2.2. Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu
Khi tiến hành nghiên cứu luận án: “Trí tuệ cảm xúc của cán bộ điều tra ở
Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an”, tác giả luận án xác định năm vấn
đề trong luận án cần tập trung giải quyết như sau:
Thứ nhất, hệ thống lại, phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu
của các tác giả trong nước và trên thế giới đã công bố có liên quan đến đề tài
luận án, từ đó chứng minh tính độc lập, mới mẻ, không trùng lặp cũng như
tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở
Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an hiện nay.
36
Thứ hai, mặc dù đã những công trình nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc,
kỹ năng quản lý cảm xúc lo âu của sinh viên, về một số biểu hiện cảm xúc
tiêu cực, tự điều chỉnh cảm xúc, trí tuệ cảm xúc của học sinh hay của giáo
viên, v.v… ở Việt Nam và trên thế giới, nhưng quan niệm và cách tiếp
cận nghiên cứu trí tuệ cảm xúc giữa các tác giả còn rất nhiều quan điểm
khác nhau. Do vậy, để nghiên cứu một cách khách quan, khoa học về trí
tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an,
trước hết phải tập trung xây dựng hệ thống khái niệm công cụ, phục vụ
trực tiếp cho việc nghiên cứu luận án như: cảm xúc và trí tuệ cảm xúc;
Điều tra viên; trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra.
Bên cạnh đó, việc khái quát các đặc điểm hoạt động của điều tra viên là
vấn đề hết sức quan trọng.
Thứ ba, trong phạm vi luận án này, trí tuệ cảm xúc được xem là một
vấn đề có vị trí quan trọng trong quá trình giao tiếp. Hơn nữa, các nghiên
cứu liên quan đến trí tuệ cảm xúc ở trong nước và ngoài nước chưa đề cập
đến nội dung, biểu hiện và tiêu chí đánh giá trí tuệ cảm xúc của điều tra viên
ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an. Do đó một trong những vấn đề
hết sức quan trọng đặt ra trong quá trình thực hiện luận án là phải xác định
và chỉ rõ các mức độ biểu hiện và tiêu chí đánh giá trí tuệ cảm xúc ở điều tra
viên. Trong luận án, tác giả dựa trên mô hình trí tuệ cảm xúc của J.Mayer,
P.Salovey, D.Caruso để đưa ra bốn mặt biểu hiện trong trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên (năng lực nhận biết cảm xúc, năng lực thấu hiểu cảm xúc, năng
lực vận dụng và năng lực điều khiển cảm xúc) và 3 mức độ biểu hiện trí tuệ
cảm xúc của điều tra viên (mức cao, trung bình và mức thấp) dựa trên đặc
trưng của hoạt động nghề nghiệp.
Thứ tư, trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra
thuộc Bộ Công an chịu tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau.
Đồng thời, nhiệm vụ của luận án không chỉ dừng lại ở việc làm sáng tỏ
các vấn đề về mặt lý luận mà còn đi sâu nghiên cứu, khảo sát thực tế
37
nhằm đánh giá đúng thực trạng trí tuệ cảm xúc cũng như các yếu tố ảnh
hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc
Bộ Công an. Do đó, trong luận án cần xác định, tập trung làm rõ các chỉ
báo cụ thể để xây dựng tiêu chí, làm cơ sở cho việc xây dựng bảng hỏi,
lập phiếu điều tra, lập các mẫu phiếu quan sát và phỏng vấn sâu; tiến hành
xin ý kiến các chuyên gia Tâm lý học về những nội dung dự định nghiên
cứu; điều tra thử, kiểm định tính khoa học, độ tin cậy, độ hiệu lực của các
thang đo. Đánh giá đúng thực trạng trí tuệ cảm xúc và thực trạng các yếu
tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra
thuộc Bộ Công an hiện nay.
Thứ năm, trên cơ sở lý luận đã xác định, kết hợp với quá trình phân
tích, đánh giá kết quả điều tra thực trạng trí tuệ cảm xúc và sự ảnh hưởng của
các yếu tố trí tuệ cảm xúc của điều tra viên; phân tích chân dung tâm lý điển
hình về trí tuệ cảm xúc. Từ đó, đề xuất biện pháp tâm lý - xã hội nhằm phát
triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công
an một cách hiệu quả và bền vững.
Trên đây là những nhiệm vụ quan trọng, chủ yếu mà luận án cần tiếp
tục đi sâu nghiên cứu trên cơ sở kế thừa, bổ sung và phát triển các kết quả
nghiên cứu của các nhà Tâm lý học trong và ngoài nước về trí tuệ cảm xúc.
38
Kết luận chương 1
Trí tuệ cảm xúc là vấn đề được Tâm lý học quan tâm nghiên cứu từ rất lâu,
các nghiên cứu được tiến hành dưới nhiều góc độ và các hướng khác nhau, được
đề cập đến nhiều đối tượng trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Trong chương 1 tác giả luận án đã tổng quan những nghiên cứu của các nhà khoa
học trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án được tiếp cận, nghiên
cứu và hệ thống lại trên bốn hướng nghiên cứu bao gồm: (1) Nghiên cứu về
cấu trúc, biểu hiện của trí tuệ cảm xúc; (2) Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng
của trí tuệ cảm xúc; (3) Nghiên cứu về biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc; (4)
Nghiên cứu về mô hình, thang đó trí tuệ cảm xúc.
Các công trình khoa học đã được công bố liên quan đến trí tuệ cảm xúc
của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra là hệ thống tri thức trên nhiều nội
dung quan trọng đối với những vấn đề được triển khai nghiên cứu trong luận
án. Kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên được khái quát lại ở bốn
khía cạnh và xác định năm vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết. Thông qua
đó để phân tích, đánh giá, kế thừa có chọn lọc, bổ sung và phát triển những
thành tựu nghiên cứu phục vụ cho quá trình nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên ở Cục An ninh điều tra. Đồng thời, việc hệ thống lại các công
trình nghiên cứu trước đây cũng cho thấy đề tài luận án là một công trình độc
lập, mới mẻ không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố, có
tính cấp thiết và giá trị lý luận, thực tiễn cao.
Nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra cần
sự kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài
nước, luận án xác định nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An
ninh điều tra là một dạng năng lực tổng hợp thuyết phục trong cấu trúc nhân
cách điều tra viên. Đây là cơ sở lý luận, để chúng tôi tiến hành nghiên cứu, làm
sáng tỏ biểu hiện và tiêu chí đánh giá trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục
An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
39
Chương 2
LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC CỦA ĐIỀU TRA VIÊN
Ở CỤC AN NINH ĐIỀU TRA THUỘC BỘ CÔNG AN
2.1. Điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
2.1.1. Điều tra viên
Trong hoạt động điều tra hình sự, người có thẩm quyền tiến hành điều
tra các vụ án hình sự được pháp luật quy định gồm có: Thủ trưởng, Phó Thủ
trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên, cán bộ điều tra (Điều 34, Bộ luật Tố
tụng hình sự 2015). Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành điều tra vụ án hình
sự, điều tra viên là người có vai trò chủ yếu, là người trực tiếp thực hiện các
biện pháp điều tra. Điều tra viên là chức danh tư pháp hình sự dùng để chỉ cán
bộ có thẩm quyền và được giao nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự. Đây là bước
phát triển nhận thức rất quan trọng đối với hoạt động điều tra nói chung và
những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ điều tra nói riêng trong pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam.
Điều tra viên là người có thẩm quyền và trực tiếp tiến hành các biện
pháp điều tra theo quy định của pháp luật. Để giúp điều tra viên thực hiện tốt
trách nhiệm của mình, Nhà nước đã cho phép họ được quyền áp dụng các
biện pháp điều tra thông qua các điều khoản được quy định trong Bộ luật tố
tụng hình sự và Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự. Bộ Công an cũng đã
ban hành các văn bản về chế độ công tác, hướng dẫn việc thực hiện chức năng
và quyền hạn trong hoạt động của điều tra viên, như: Chế độ công tác xét hỏi
bị can; Chế độ công tác bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét người, đồ vật, nhà
ở, thư tín của người phạm pháp...
Tuỳ từng hoạt động điều tra cụ thể và căn cứ vào yêu cầu cần thực hiện
đối với mỗi đối tượng, cơ quan điều tra có thể bố trí một hay một nhóm điều
tra viên cùng tham gia thực hiện kế hoạch điều tra. Bởi vậy, trong hoạt động
điều tra, điều tra viên là chủ thể, là người đại diện cho cơ quan pháp luật, với
40
trọng trách làm sáng tỏ sự thật của vụ án, có quyền sử dụng các biện pháp cần
thiết để thực hiện nhiệm vụ điều tra, với mục đích tiếp cận những thông tin
đầy đủ, chính xác về vụ án, về hoạt động của bản thân các đối tượng điều tra.
Điều tra viên là chức danh của Nhà nước được bổ nhiệm theo Luật Tổ
chức Cơ quan điều tra hình sự 2015, để làm nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự.
Điều 45, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, quy định: Điều tra viên là
người được bổ nhiệm để làm nhiệm vụ điều tra hình sự.
Để trở thành điều tra viên, người được bổ nhiệm phải có đủ các điều
kiện, tiêu chuẩn chung được quy định tại Điều 46, Luật Tổ chức Cơ quan điều
tra hình sự 2015. Theo đó, người là công dân Việt Nam trung thành với
Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có
phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, bản lĩnh chính trị vững
vàng, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; có trình
độ đại học An ninh, đại học Cảnh sát hoặc cử nhân luật trở lên; có thời
gian làm công tác pháp luật theo quy định; đã được đào tạo về nghiệp vụ
điều tra... có thể được bổ nhiệm làm điều tra viên. Ngoài ra, những cán bộ
được tuyển chọn vào cơ quan điều tra của lực lượng An ninh nhân dân
còn phải đủ các điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an. Đây
là những quy định cụ thể về tiêu chuẩn chính trị; về phẩm chất đạo đức, tư
cách; về trình độ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật; về tuổi đời, thể lực và các
tiêu chuẩn cần thiết về năng khiếu công an...
Cũng tại Điều 45, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015, quy định
điều tra viên có 3 ngạch: cao cấp, trung cấp và sơ cấp. Ngoài tiêu chuẩn
chung như trên, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, cũng quy định tiêu
chuẩn cụ thể đối với từng ngạch điều tra viên:
Trong quá trình điều tra, Thủ trưởng và các Phó thủ trưởng cơ quan
điều tra là người chỉ đạo quá trình điều tra vụ án, chịu trách nhiệm và tổ chức
điều hành mọi hoạt động của các điều tra viên. Thủ trưởng cơ quan điều tra ra
41
quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi hay huỷ bỏ
các biện pháp ngăn chặn... Tuy nhiên, trước hết họ phải là những điều tra viên có
kinh nghiệm, có khả năng tổ chức và chỉ đạo hoạt động điều tra. Nhiệm vụ và
quyền hạn của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra được quy định tại
Điều 34, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
2.1.2. Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
Cục An ninh điều tra
Theo quy định tại điều 92, 93 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì hệ thống
cơ quan điều tra của lực lượng Công an nhân dân bao gồm: cơ quan điều tra của
lực lượng An ninh nhân dân và cơ quan điều tra của lực lượng Cảnh sát nhân dân.
Cơ quan điều tra của lực lượng Cảnh sát (gọi là cơ quan Cảnh sát điều
tra) được chia thành ba cấp: cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, cơ quan
Cảnh sát điều tra công an tỉnh, thành phố và cơ quan Cảnh sát điều tra công
an quận, huyện, thị xã.
Cơ quan điều tra của lực lượng An ninh (gọi là cơ quan an ninh điều
tra) được chia thành hai cấp: cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an và cơ quan
an ninh điều tra công an tỉnh, thành phố.
Về thẩm quyền của cơ quan an ninh điều tra
Thẩm quyền của cơ quan an ninh điều tra được quy định tại điều 163
Bộ luật tố tụng hình sự. Cụ thể là:
Cơ quan an ninh điều tra cấp tỉnh điều tra các tội xâm phạm An ninh
quốc gia, các tội phạm mà người thực hiện là cán bộ chiến sĩ Công an nhân
dân và các tội phạm khác khi được Bộ trưởng Bộ Công an giao.
Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an điều tra các tội xâm phạm An
ninh quốc gia, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người; tội phạm
chiến tranh; các tội phạm quy định tại chường XXIV của Bộ luật hình sự
2015 và những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm
quyền điều tra của cơ quan An ninh điều tra cấp tỉnh nêu trên nhưng xét
thấy cần trực tiếp điều tra.
42
Các cơ quan an ninh điều tra cùng với các điều tra viên được Bộ luật tố
tụng hình sự quy định là chủ thể tiến hành hoạt động điều tra vụ án. Vì vậy,
việc bố trí, sắp xếp đội ngũ điều tra viên, tổ chức phân công công việc hợp lý
cho từng người có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định sự thành công hay thất
bại của công tác điều tra. Phạm vi địa bàn mà cơ quan an ninh điều tra phải
tiến hành theo thẩm quyền rất rộng, trên phạm vi cả nước. Các vụ án do cơ
quan an ninh điều tra thụ lý thường rất phức tạp, đối tượng thường là các chủ
thể đặc biệt, có kinh nghiệm hoạt động, trốn tránh pháp luật. Hơn nữa, chức
năng trực tiếp thụ lý điều tra các vụ án là do các phòng điều tra đảm nhiệm.
Do vậy, việc tăng cường lực lượng điều tra viên có nhiều kinh nghiệm và khả
năng nghiệp vụ ở các phòng điều tra là một trong những hướng bố trí cán bộ
cần được chú trọng, nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra.
2.1.3. Nhiệm vụ, chức trách và đặc điểm hoạt động của điều tra viên
ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
2.1.3.1. Nhiệm vụ, chức trách của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra
thuộc Bộ Công an
Trong hoạt động điều tra, các điều tra viên có nhiệm vụ thực hiện kế
hoạch điều tra làm sáng tỏ vụ án, đề xuất các biện pháp xử lý đúng người,
đúng tội, góp phần vào thắng lợi chung của công tác đấu tranh chống tội
phạm, giữ vững an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Về nhiệm vụ:
Trong điều tra vụ án hình sự, điều tra viên có nhiệm vụ điều tra, thu thập
chứng cứ chứng minh có tội phạm xảy ra hay không, ai là người thực hiện tội
phạm và những tình tiết khác của vụ án. Khi được phân công tiến hành điều
tra vụ án phải đảm bảo việc áp dụng các biện pháp điều tra theo đúng quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự để mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện,
điều tra, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội.
Bộ luật tố tụng hình sự (2015), Báo cáo tổng kết giai đoạn 2015 - 2020
của Cục An ninh điều tra về kết quả thực hiện công tác điều tra [4], tại điều 35,
khoản 1, có quy định cụ thể nhiệm vụ của điều tra viên như sau:
43
Điều tra viên có nhiệm vụ tiến hành lập hồ sơ vụ án hình sự; triệu
tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai người làm chứng,
người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án; quyết định áp giải bị can, quyết định dẫn giải người
làm chứng; thi hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ,
tạm giữ, kê biên tài sản; tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám
nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra; tiến hành
các hoạt động điều tra khác thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra
theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan điều tra [4].
Như vậy, theo sự phân công của thủ trưởng cơ quan điều tra, trong
trường hợp được giao nhiệm vụ xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, điều tra
viên có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch điều tra, tiến hành các biện pháp nhằm
thu thập tin tức, tài liệu để đề xuất với thủ trưởng cơ quan điều tra việc xử lý
tin theo đúng trình tự luật định. Nếu được giao điều tra toàn bộ vụ án hay một
phần vụ án hình sự thì điều tra viên được quyền chủ động xây dự kế hoạch
điều tra và tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự. Kết quả điều tra của điều tra viên là cơ sở để thủ trưởng cơ quan điều
tra ra các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định việc áp dụng
các biện pháp ngăn chặn... Vì vậy, các hành vi tố tụng của điều tra viên
mang ý nghĩa độc lập nhất định và họ phải chịu trách nhiệm trước pháp
luật về kết quả những hành vi tố tụng của mình.
Về quyền hạn:
Điều tra viên có quyền áp dụng các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ
về vụ án; có quyền đề xuất với lãnh đạo cơ quan điều tra về kế hoạch điều tra
và tổ chức việc thực hiện kế hoạch điều tra theo sự phân công. Khi được phân
công điều tra một phần hoặc toàn bộ vụ án, điều tra viên có quyền tiến hành
các biện pháp điều tra do Bộ luật tố tụng hình sự quy định và phải chịu trách
nhiệm về những hoạt động điều tra của mình. Điều tra viên là người trực tiếp
tiến hành các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật. Để giúp điều tra
viên thực hiện tốt trách nhiệm của mình, Nhà nước đã cho phép họ được quyền
44
áp dụng các biện pháp điều tra thông qua các điều khoản được quy định trong
Bộ luật tố tụng hình sự.
Điều tra viên có quyền đề xuất áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn
chặn để thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra quyết định. Theo quy trình
của việc giải quyết vụ án hình sự, sau khi nhận được các tin tức về tội phạm và
người phạm tội từ các nguồn khác nhau, Điều tra viên có nhiệm vụ xác minh tin
tức đó nhằm xác định có hay không có dấu hiệu phạm tội để làm cơ sở cho việc
đưa ra đề xuất với Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra ra một trong hai
quyết định: Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ
án hình sự, làm căn cứ cho việc thực hiện các biện pháp tố tụng tiếp theo. Điều
tra viên cũng được quyền áp dụng mọi phương pháp, thủ đoạn và mưu trí trong
hoạt động điều tra, đề xuất với lãnh đạo cho áp dụng các biện pháp nghiệp vụ
khác hỗ trợ cho hoạt động điều tra đạt kết quả tốt và phải chịu trách nhiệm về
những hoạt động điều tra của mình. Điều tra viên chủ động nghiên cứu, xây
dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch điều tra; được quyền lập và ký các văn bản
pháp lý; được quyền triệu tập và tiếp xúc với các cơ quan, cá nhân cũng như yêu
cầu họ cung cấp tài liệu, tin tức về vụ án đang điều tra... Trong trường hợp cần
thiết để ngăn chặn hành động phạm tội, đuổi bắt người phạm tội, cấp cứu người
bị nạn, điều tra viên có quyền được sử dụng các phương tiện giao thông, thông
tin liên liên lạc của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và tư nhân.
Về trách nhiệm:
Cùng với nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên, điều tra viên công an nhân dân có
những trách nhiệm nhất định khi thực hiện nhiệm vụ của mình. Họ phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về những hoạt động điều tra tiến hành trong quá trình điều tra
vụ án khi được phân công. Điều 35, khoản 2, Bộ luật tố tụng hình sự quy định:
“Điều tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước thủ trưởng cơ quan
điều tra về những hành vi và quyết định của mình.”
Phải hoàn toàn vô tư trong khi tiến hành nhiệm vụ điều tra. Phải tự mình
từ chối tiến hành tố tụng khi thấy rằng mình không vô tư trong giải quyết vụ
án theo quy định của pháp luật.
45
Phải giữ bí mật về quá trình điều tra vụ án khi được phân công. Trong
trường hợp tiết lộ bí mật về hoạt động điều tra thì tuỳ theo từng trường hợp cụ
thể có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo các điều
263, 264, 287, 328 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra vụ án, nếu điều tra viên gây nên những thiệt hại
cho những người tham gia tố tụng thì có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo
quy định tại điều 620 Bộ luật dân sự.
2.1.3.2. Đặc điểm hoạt động của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra
thuộc Bộ Công an
Hoạt động công an nói chung và hoạt động điều tra nói riêng là một
dạng hoạt động đặc biệt mang tính chiến đấu, có quy trình nhất định nhưng
không có khuôn mẫu chung; cường độ hoạt động khẩn trương và căng thẳng
thường xuyên nên phải huy động và hao phí lớn về sức lực, thần kinh. Tuy
không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội nhưng hoạt động điều tra nói
riêng và hoạt động công an nói chung có ý nghĩa kinh tế - xã hội rất lớn. Đặc
biệt, hoạt động điều tra gắn bó chặt chẽ với đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, luôn lấy pháp luật làm phương tiện để thực hiện
nhiệm vụ... Dưới góc độ tâm lý, hoạt động điều tra không khác biệt với hoạt
động của các bộ phận chiến đấu khác trong lực lượng Công an nhân dân về
mục đích, ý nghĩa, tính chất và những yêu cầu cơ bản. Tuy nhiên, do đối
tượng, nhiệm vụ, chức năng của hoạt động điều tra... nên hoạt động điều tra có
các đặc điểm đặc trưng là:
- Hoạt động điều tra mang tính chất tố tụng hình sự
Tính chất này thể hiện trước hết ở việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc
pháp luật trong quá trình điều tra vụ án. Điều tra viên phải tuân thủ nghiêm
ngặt các quy định về trình tự, thủ tục và các nguyên tắc tố tụng đã được pháp
luật hình sự quy định. Vì đây là hoạt động điều tra tố tụng hình sự, điều tra vụ
án công khai theo quy định của luật pháp; mọi kết quả của hoạt động điều tra
đều có tính pháp lý, do đó hoạt động điều tra luôn xuất phát từ pháp luật, căn
46
cứ vào pháp luật. Sự tuân thủ các nguyên tắc tố tụng và sử dụng linh hoạt các
quy định pháp luật trong điều tra là yêu cầu quan trọng hàng đầu đối với mỗi
điều tra viên. Phải nghiêm chỉnh tuân thủ đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, không được tuỳ tiện, lạm dụng dẫn tới vi phạm pháp
luật như: bức, mớm, dụ cung, nhục hình dưới mọi hình thức... Mọi biện pháp
được sử dụng trong quá trình điều tra vụ án phải phù hợp với vị trí tố tụng và
đảm bảo quyền của những người có quan hệ trong quá trình điều tra vụ án.
Đặc điểm này quy định ở điều tra viên thái độ nghiêm chỉnh tuân thủ
pháp luật, tính nghiêm túc, khách quan, thái độ công tâm khi thực hiện các
biện pháp điều tra. Nó cũng đòi hỏi ở điều tra viên khả năng hiểu biết pháp
luật, linh hoạt và sáng tạo vận dụng các quy định của pháp luật trong hoạt
động điều tra. Điều tra viên phải là những người có trình độ pháp luật vững
vàng, biết sử dụng pháp luật như một công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả
của hoạt động điều tra. Trong điều tra các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia,
việc tuân thủ các nguyên tắc tố tụng còn đảm bảo không để các thế lực thù địch
lợi dụng, xuyên tạc hay can thiệp gây khó khăn cho quá trình xử lý vụ án.
- Hoạt động điều tra vừa có tính chất công khai, trực diện vừa có tính
chất nghiệp vụ
Khác hẳn với hoạt động trinh sát, hoạt động điều tra chủ yếu được tiến
hành công khai theo quy định của pháp luật. Trong hoạt động, điều tra viên
phải đối diện trực tiếp với đối tượng. Đối tượng biết điều tra viên đang tìm
hiểu làm rõ sự thật của vụ án, và ngược lại điều tra viên nghiên cứu nắm
được các động cơ che giấu hành động phạm tội, trốn tránh pháp luật của đối
tượng. Trong hoạt động điều tra, điều tra viên và những người tham gia hoạt
động điều tra trực tiếp đối mặt, đối thoại với nhau. Tính chất công khai, trực
diện đòi hỏi điều tra viên phải là người có bản lĩnh, có sự linh hoạt và độc
lập cao, nhất là các điều tra viên trong lực lượng An ninh vì đối tượng mà họ
phải trực diện đấu tranh là những tên gián điệp, phản động, các đối tượng
47
“cơ hội chính trị”, những tên có quan điểm lập trường chống đối sâu sắc...
Tuy nhiên, đây cũng còn là hoạt động nghiệp vụ của cơ quan điều tra. Các
biện pháp tố tụng trong điều tra không đơn thuần là những quy định pháp
luật cứng nhắc. Nó luôn được các điều tra viên linh hoạt sử dụng với nhiều
chiến thuật nghiệp vụ tuỳ thuộc điều kiện, hoàn cảnh cũng như diễn biến của
mỗi vụ án. Trong hoạt động điều tra, điều tra viên luôn có ý thức phục vụ
công tác trinh sát, tính toán, mở rộng đánh địch lâu dài. Điều tra viên còn
phải đảm bảo bí mật các biện pháp nghiệp vụ đã áp dụng trong các chuyên
án trinh sát cũng như trong hoạt động điều tra.
Mặt khác, trong quá trình điều tra vụ án, để nhanh chóng khám phá,
làm sáng tỏ sự thật về sự việc phạm tội, về hành động phạm tội của đối
tượng... cơ quan điều tra còn phải áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, như:
nhận dạng bí mật, sử dụng đặc tình trại tạm giam, tiến hành trinh sát kỹ
thuật buồng giam... Vì vậy, ngoài các biện pháp được quy định trong Bộ
luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác, hoạt động điều tra còn có
những phương pháp, chiến thuật nghiệp vụ riêng.
Đặc điểm trên đòi hỏi mỗi điều tra viên không chỉ là những người am
hiểu pháp luật mà còn là những cán bộ nghiệp vụ sắc sảo, có chuyên môn
nghiệp vụ vững vàng mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ điều tra. Đối với họ,
trình độ nghiệp vụ điều tra, kỹ năng, kỹ xảo sử dụng các phương tiện kỹ thuật
nghiệp vụ, các thao tác trong nghiệp vụ điều tra cụ thể luôn phải được bồi
dưỡng, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra.
- Hoạt động điều tra có tính chất phức tạp và hệ trọng
Tính chất phức tạp của hoạt động điều tra được quy định bởi sự đa dạng
của các nội dung điều tra, của các tình tiết đan xen trong diễn biến của sự việc
phạm tội. Tội phạm thường rất tinh vi, xảo quyệt, có nhiều thủ đoạn phạm tội,
che giấu và trốn tránh pháp luật. Hoạt động điều tra luôn phải phân biệt thật, giả;
đúng, sai... Bởi vậy, nó luôn đòi hỏi điều tra viên phải nâng cao trình độ mọi
mặt, tích luỹ kinh nghiệm, nhạy bén và linh hoạt trong quá trình điều tra vụ án.
48
Tính hệ trọng của hoạt động điều tra thể hiện ở việc áp dụng các biện
pháp điều tra và xử lý vụ án. Quá trình điều tra, xử lý vụ án, nhất là các vụ án
xâm phạm an ninh quốc gia cần đảm bảo quyền lợi của công dân, tránh oan,
sai và cũng không được làm ảnh hưởng đến quan hệ, uy tín của quốc gia.
Tính phức tạp, hệ trọng của hoạt động điều tra dễ làm xuất hiện ở điều tra
viên trạng thái căng thẳng cũng như nhiều nét tâm lý tiêu cực khác. Cùng với áp
lực căng thẳng, sự đòi hỏi khẩn trương phải nhanh chóng điều tra, khám phá vụ
án, tính chất phức tạp, hệ trọng của hoạt động điều tra dễ tạo ra sức ép về tâm lý,
gây ra ở điều tra viên sự bão hoà cảm xúc, bão hoà nhận thức... Trong hoạt động
điều tra, điều tra viên dễ chai lỳ trước sự bào chữa, chứng minh sự vô tội hay phản
ứng của đối tượng; không còn nhạy bén, sáng suốt nhìn nhận, đánh giá các sự
kiện... Điều này khiến điều tra viên có nhiều khó khăn trong quá trình điều tra,
khám phá, nhận thức, làm sáng tỏ sự việc phạm tội.
- Hoạt động điều tra là một hình thức đặc biệt của hoạt động giao tiếp -
giao tiếp tố tụng
Hoạt động điều tra nhằm hướng tới việc tìm ra chân lý của sự việc phạm
tội, luôn đề phòng, khắc phục mọi biểu hiện chống đối, lừa dối cũng như
những động cơ sai lệch của các đối tượng có quan hệ trong quá trình điều tra.
Điều tra viên thường xuyên phải thực hiện tác động tâm lý đối với những
người có liên quan đến quá trình điều tra vụ án. Đối tượng tiếp xúc, điều tra
của điều tra viên là bị can, người làm chứng, người bị hại... Trong quá trình
điều tra vụ án, không phải lúc nào họ cũng có thái độ tích cực hợp tác với
điều tra viên hoặc luôn sẵn sàng giúp đỡ cơ quan điều tra, trái lại, sự chống
đối, thái độ gian dối hay thờ ơ, né tránh luôn cản trở đến quá trình điều tra vụ
án. Các đối tượng xâm phạm an ninh quốc gia ngoài bản chất ngoan cố, quyết
liệt chống đối, còn là những người được đào tạo kỹ lưỡng, có kinh nghiệm
che giấu, đối phó với hoạt động của điều tra viên... Bởi vậy, để những người
này khai báo đúng đắn, thành khẩn, rất cần thiết phải có sự tác động, hỗ trợ
của điều tra viên. Thái độ khai báo thành khẩn, sự hợp tác tích cực của những
người tham gia tố tụng không chỉ phụ thuộc vào quan hệ của họ đối với sự
49
việc phạm tội hay những đặc điểm tâm lý đã hình thành ở họ như thế
nào, mà vấn đề quan trọng là tuỳ thuộc vào khả năng giao tiếp, tác động
tâm lý của điều tra viên đối với họ có phù hợp, hiệu quả hay không?
Do thường xuyên phải sử dụng tác động tâm lý trong hoạt động điều tra nên điều tra viên phải là người hiểu biết tâm lý các đối tượng điều tra; nắm
vững quy trình và các phương pháp tác động tâm lý. Trước khi tiến hành tác động, điều tra viên phải nghiên cứu, phát hiện đặc điểm tâm lý của từng đối
tượng, đặc biệt là tư tưởng, tâm trạng, tính tình, để vận dụng các phương pháp tác động phù hợp. Vì vậy, họ là người phải hiểu và hoàn toàn có thể hiểu
được tâm lý của những người có quan hệ đến quá trình điều tra vụ án.
Hoạt động điều tra quy định ở điều tra viên những phẩm chất tâm lý
đặc trưng, phù hợp với tính chất đặc thù của nó. Một mặt, do tính chất hoạt động điều tra, đòi hỏi điều tra viên phải rèn luyện, hình thành cho mình những
phẩm chất tâm lý phù hợp, đáp ứng với yêu cầu cao của hoạt động điều tra.
Mặt khác, cũng chính hoạt động điều tra làm nảy sinh, hình thành và phát triển ở điều tra viên những phẩm chất tâm lý đặc trưng, phù hợp với nghề
nghiệp của họ. Việc phân tích đặc điểm của hoạt động điều tra cũng cho phép chúng ta có căn cứ để xác định cấu trúc nhân cách của điều tra viên.
2.2. Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc
Bộ Công an
2.2.1. Trí tuệ Trí tuệ là nội dung thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả và có sự giao thoa
ở nhiều ngành khoa học như: triết học, xã hội học, phật giáo, tâm lý học, v.v… Tuy nhiên, để xác định tường minh về trí tuệ lại là vấn đề không hề đơn giản đối
với mọi nhà nghiên cứu. Trong tâm lý học cũng có nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh khái niệm trí tuệ, có thể kể đến các tác giả tiêu biểu dưới đây:
Theo Vũ Dũng (2013), Từ điển Tâm lý học [9]: Trí tuệ là mức độ
phát triển nhất định của hoạt động tư duy của nhân cách, đảm bảo khả
năng đạt được các tri thức mới và sử dụng chúng hiệu quả trong các hoạt
động sống, là khả năng thực hiện quá trình nhận thức và giải quyết vấn đề
có hiệu quả [9, tr.604].
50
Nguyễn Huy Tú (2001), “Chỉ số trí tuệ cảm xúc cao - một tiền đề
thành công của nhà doanh nghiệp, nhà quản lý” [81] đã đưa ra quan niệm
của W.Stern (1912) đã định nghĩa: “Trí tuệ là năng lực khởi động tư duy về
những yêu cầu mới hay là năng lực thích ứng tinh thần với các nhiệm vụ
mới, điều kiện sống mới để có thể vượt qua những khó khăn trong hoàn
cảnh mới” [Dẫn theo 81, tr.65].
Nguyễn Công Khanh (2005), Cơ sở phương pháp nghiên cứu trí tuệ
cảm xúc [38] đã đưa ra quan niệm của D.Wechsler (1958) cho rằng: Trí tuệ
như là “năng lực tổng thể hoặc năng lực chung của cá nhân để hành động có
mục đích, để suy nghĩ hợp lý và để ứng phó có hiệu quả với môi trường của
mình” [Dẫn theo 38, tr.91].
Nguyễn Quang Uẩn (1996), Sự phát triển tâm lý của các thao tác [89]
trong tuyển tập Tâm lý học J.Piaget đã đưa ra quan niệm của J.Piaget: “Bất cứ một
quá trình trí tuệ nào cũng là sự thích ứng. Bản chất của trí tuệ bộc lộ trong việc cấu
tạo những mối quan hệ giữa cá thể và môi trường” [Dẫn theo 89, tr.65].
Nguyễn Anh Tuyết (2001), Phương pháp nghiên cứu trẻ em [87] đã chỉ
ra nghiên cứu của V.M Blaykhe và L.Ph Burolachuc (1978) về trí tuệ:
Trí tuệ - đó là một cấu trúc động, tương đối độc lập của những
thuộc tính nhận thức của nhân cách được hình thành và biểu hiện
trong hoạt động, chịu sự chế ước của các điều kiện văn hoá - lịch sử
và có chức năng chủ yếu là đảm bảo cho sự tác động qua lại phù
hợp với hiện thực xung quanh, cho sự cải tạo có mục đích của hiện
thực ấy [Dẫn theo 87, tr.65].
Schulze Ralf, Roberts D.Richard (EDS) (2005), Trí tuệ cảm xúc [102] quan
niệm trí tuệ là kết quả tương tác của con người với môi trường sống đồng thời là
tiền đề cho sự tương tác ấy, theo ông: “Trí tuệ là sự thích ứng có mục đích, sự lựa
chọn và định hướng với môi trường thực tiễn liên quan đến cuộc sống của một cá
nhân” [Dẫn theo 102, tr.7]. H.Gardner (1999) đưa ra quan điểm khi coi trí tuệ phải
được định nghĩa như là “tiềm năng tâm sinh lý để xử lý thông tin và những tiềm
năng được kích hoạt trong môi trường văn hoá nhằm giải quyết vấn đề hoặc tạo ra
những sản phẩm có giá trị cho một nền văn hoá” [Dẫn theo 102, tr.8].
51
Có thể dễ dàng nhận thấy, các quan niệm về trí tuệ trong tâm lý học rất
đa dạng, phong phú. Song đa phần các phát biểu đã có sự thống nhất ở các nội
dung chủ yếu sau:
(1) Trí tuệ của nhân cách là một cấu trúc động, có sự vận động, phát triển tuỳ
thuộc vào tình huống, hoàn cảnh và điều kiện cụ thể mà cá nhân tham gia.
(2). Trí tuệ có nguồn gốc từ hoạt động, hình thành, biểu hiện qua hoạt
động của cá nhân và mang bản chất xã hội.
(3) Trí tuệ là năng lực tổng thể gồm: năng lực học tập; năng lực tư duy trừu
tượng; năng lực thích ứng, v.v… và phản ánh trình độ phát triển của nhân cách.
Từ sự phân tích và kế thừa các kết quả nghiên cứu, luận án quan niệm:
“Trí tuệ là một dạng năng lực tổng hợp được hình thành và biểu hiện
trong hoạt động, đảm bảo cho hoạt động của cá nhân đạt được các tri thức
mới, thích ứng và ứng phó có hiệu quả trong các hoạt động sống.
Trí tuệ là năng lực tổng hợp bao gồm: năng lực học tập; năng lực tư
duy trừu tượng; năng lực thích ứng..., phản ánh trình độ phát triển của nhân
cách. Bản chất của trí tuệ đó chính là năng lực con người giải quyết các vấn
đề một cách hiệu quả, sáng tạo trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định.
Trí tuệ của cá nhân được hình thành và phát triển thông qua hoạt động.
Khi cá nhân tham gia vào hoạt động, trình độ hiểu biết cũng như năng lực của
cá nhân được bộc lộ. Tuy nhiên, tiêu chí đánh giá trí tuệ của cá nhân có sự
biến đổi, phát triển theo sự phát triển của thời đại, của điều kiện xã hội lịch sử
để phù hợp và đáp ứng các yêu cầu của xã hội.
Ngày nay, trí tuệ được hiểu theo nghĩa rộng hơn trí thông minh/ trí tuệ
nhận thức (intelligence), nó bao gồm trí thông minh, trí sáng tạo (creative
intelligence) và trí tuệ xã hội (social intelligence) mà EI (trí tuệ cảm xúc)
được coi là thành tố trung tâm.
2.2.2. Cảm xúc
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về cảm xúc (Emotion):
Theo Vũ Dũng (2013), Từ điển Tâm lý học [9] cho rằng: “Cảm xúc - sự
phản ánh tâm lý về mặt ý nghĩa, sống động của các hiện tượng và hoàn cảnh,
52
tức mối quan hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của
chủ thể, dưới hình thức những rung động trực tiếp” [9, tr.50].
Carroll.E.Izard (1992), Những cảm xúc của con người [37] đã dẫn ra
nghiên cứu của Duffy (1962), Carroll.E.Izard (1992), Tomkins (1963), X.L
Rubinstein (1962). Những nghiên cứu này đưa giả định rằng, trong phạm vi
các khoa học về hành vi, nói chung không cần có khái niệm cảm xúc; không
có hoạt động và các hành vi nếu không có các xúc động mạnh và nhấn mạnh
mặt biểu hiện của cảm xúc khi cho rằng “cảm xúc - về cơ bản là những phản
ứng đáp lại bằng vẻ mặt [Dẫn theo 37, tr.13]. X.L.Rubinstein cho rằng: “Về
mặt nội dung, các cảm xúc được xác định bởi các mối quan hệ xã hội của con
người, bởi tập quán và thói quen trong từng hoàn cảnh xã hội, tư tưởng của
nó” [Dẫn theo 37, tr.42]. Qua việc phân tích nguồn gốc, sự nảy sinh và biểu
hiện dưới góc độ lý thuyết hoạt động, ông khẳng định: cảm xúc của người, xét
về nguồn gốc, chức năng hay sự biểu hiện luôn mang tính xã hội.
Nguyễn Huy Tú (1975), Cảm xúc và tình cảm [76] với định hướng làm rõ
cơ chế nảy sinh cảm xúc, định nghĩa:
Cảm xúc của con người là những rung động khác nhau của chúng ta
nảy sinh do sự thoả mãn hay không thoả mãn những nhu cầu nào
đó, do sự phù hợp hay không phù hợp của các biến cố, hoàn cảnh
cũng như trạng thái bên trong cơ thể với những mong muốn, hứng
thú, khuynh hướng, niềm tin và thói quen của chúng ta [76, tr.49].
Trần Trọng Thuỷ (1998), Tâm lý học [74] quan niệm: “Cảm xúc là một
quá trình tâm lý, biểu thị thái độ của con người hay con vật với sự vật, hiện tượng
có liên quan đến nhu cầu của cá thể đó, gắn liền với phản xạ không điều kiện, với
bản năng” [74, tr.80].
Carroll E.Izard (1992), Những cảm xúc của con người [37] không nêu
một định nghĩa cụ thể của cảm xúc, mà cho rằng những cảm xúc tạo nên hệ
thống động cơ chính của con người, với ba yếu tố đặc trưng gồm: (1) Cảm
giác được thể nghiệm hay là được ý thức về cảm xúc; (2) Các quá trình
53
diễn ra trong các hệ thần kinh, hệ nội tiết, hô hấp, tiêu hoá và các hệ khác
của cơ thể; (3) Các phức hợp biểu cảm cảm xúc được quan sát, đặc biệt là
những phức hợp phản ánh trên bộ mặt [37, tr.17]. Nếu xét về nguồn gốc
cảm xúc thì: “Các cảm xúc nảy sinh như là kết quả của những biến đổi
trong hệ thần kinh và những biến đổi này có thể được qui định bởi các sự
kiện bên trong cũng như bên ngoài” [37, tr.34].
Daniel Goleman (2002), Trí tuệ cảm xúc: Làm thế nào để những
cảm xúc của mình thành trí tuệ [13] cho rằng khi đánh giá cảm xúc phải
gắn với hành vi, đã định nghĩa: “cảm xúc vừa là một tình cảm và các ý
nghĩa, các trạng thái tâm lý và sinh học đặc biệt, vừa là thang của các xu
hướng hành động do nó gây ra” [13, tr.622].
Peter Salovey & David J.Sluyter (1997), Phát triển trí tuệ và trí tuệ
cảm xúc [95] nghiên cứu cảm xúc trong mối quan hệ với các thành tố khác
của nhân cách, cho rằng: “Cảm xúc là một hệ thống đáp lại của cơ thể giúp
điều phối những thay đổi về sinh lý, tri giác, kinh nghiệm, nhận thức và các
thay đổi khác thành những trải nghiệm mạch lạc về tâm trạng và tình cảm,
chẳng hạn như hạnh phúc, tức giận, buồn chán, ngạc nhiên,...” [95, tr.9].
Như vậy, quan niệm về cảm xúc trong tâm lý học rất đa dạng, phong
phú, song tựu trung lại, có thể khái quát những quan điểm của các tác giả nêu
trên về cảm xúc ở những khía cạnh sau:
(1). Cảm xúc là một quá trình tâm lý, diễn ra trong khoảng thời gian
nhất định, có khởi đầu, diễn biến và kết thúc.
(2). Cảm xúc thể hiện thái độ của chủ thể, có thể coi là bước khởi đầu
về quan điểm, tình cảm của cá nhân đối với các sự kiện, hiện tượng tác động
đến bản thân.
(3). Cảm xúc của cá nhân là một dạng phản ứng diễn ra với cường độ
thấp hoặc vừa phải, nhịp độ nhẹ nhàng.
Từ sự phân tích trên, kết hợp với việc kế thừa quan điểm của các nhà
tâm lý học, có thể phát biểu:
54
Cảm xúc là những rung động, rung cảm của cá nhân trước sự tác động
của hiện thực khách quan, có liên quan đến việc thỏa mãn hay không thỏa mãn
nhu cầu của cá nhân.
Trước sự tác động của hiện thực khách quan đến cá nhân, cá nhân không
chỉ nhận thức sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan ấy mà sẽ có phản ứng
nhất định như yêu, thích, ghét, chán, vui, buồn,v.v... Những phản ứng của nhân
trước sự tác động đó gọi là những rung động, rung cảm. Tuy nhiên, không phải
bất kỳ sự tác động nào của thế giới khách quan tác động đến cá nhân, cá nhân
cũng có rung động, rung cảm. Cá nhân chỉ bộc lộ những phản ứng như: vui,
buồn, yêu, thích,... khi sự tác động đó có liên quan đến mong muốn cá nhân. Hay
nói cách khác, dù xúc cảm diễn ra trong thời gian ngắn nhưng nó chính là những
phản ứng dựa trên việc thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu của cá nhân tại
thời điểm đó. Do vậy, xúc cảm được chia làm xúc cảm dương tính và xúc cảm
âm tính. Tuy nhiên, dù là xúc cảm loại nào thì nó cũng là một trong những
nguyên liệu để hình thành nên tình cảm. Bởi vậy, để điều tra viên có trí tuệ cảm
xúc cần chú ý đến xây dựng những xúc cảm dương tính.
2.2.3. Trí tuệ cảm xúc
Trí tuệ là năng lực tổng hợp thể hiện mức độ kiểm soát và điều khiển
hành vi của cá nhân. Trí tuệ giúp cá nhân điều khiển hành vi của mình cho
phù hợp với hoàn cảnh (tạo ra khả năng thích ứng). Đây chính là mặt năng
động của trí tuệ. Nhờ có trí tuệ, cá nhân có thể linh hoạt, mềm dẻo trong hành
động, lựa chọn các phương tiện, phương pháp hành động, trong việc huy động
các kiến thức, kinh nghiệm đã có vào việc xử lý tình huống cụ thể. Điều này
khi chuyển vào trí tuệ cảm xúc sẽ giúp cá nhân kiểm soát và điều chỉnh được
cảm xúc của mình; giúp cá nhân lựa chọn được các cách thức, phương tiện
biểu đạt cảm xúc của mình để mang lại lợi ích cho bản thân trong ứng xử.
Phần tổng quan nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc trên thế giới cho thấy đã
có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên, cho đến nay, 3 mô hình
lý thuyết tiêu biểu về trí tuệ cảm xúc đã đưa ra một cách rõ ràng khái niệm,
55
cấu trúc và thang đo trí tuệ cảm xúc đáng tin cậy và được ứng dụng trong
nhiều nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc, đó là: (1) mô hình trí tuệ cảm xúc dựa
trên năng lực, (2) mô hình trí tuệ cảm xúc dựa trên nét tính cách, (3) mô hình
trí tuệ cảm xúc hỗn hợp (kết hợp giữa năng lực và tính cách). Các mô hình
này đã được ra khái niệm khác nhau về trí tuệ cảm xúc.
Cha đẻ của dòng lý thuyết trí tuệ cảm xúc dựa trên năng lực là
John.D.Mayer và Peter Salovey. Ngoài hai tác giả đặt nền móng cho mô hình
lý thuyết này, David Caruso là đồng tác giả của trắc nghiệm Mayer, Salovey,
Caruso Emotional Intelligence Test (MSCEIT) - bộ công cụ nền tảng của
dòng lý thuyết trí tuệ cảm xúc dựa trên năng lực.
Peter Salovey & David J.Sluyter (1997), Phát triển trí tuệ và trí tuệ cảm
xúc [95] công bố mô hình trí tuệ cảm xúc được chỉnh sửa và tinh lọc (gọi nó là
mô hình EI97), giới hạn trí tuệ cảm xúc thành khái niệm năng lực trí tuệ (mantal
ability concept) và tách biệt nó với những đặc điểm nhân cách của cảm xúc xã
hội truyền thống như các nhân tố Eysenck PEN, các đặc điểm nhân cách Big -
Five, ... Mô hình này được thừa nhận và ổn định cho đến nay, được định nghĩa:
Trí tuệ cảm xúc dùng để chỉ năng lực nhận thức các ý nghĩa của cảm
xúc và mối quan hệ giữa chúng, và để lập luận cũng như giải quyết
vấn đề trên cơ sở những ý nghĩa và mối quan hệ đó. Trí tuệ cảm xúc
tham gia vào khả năng nhận biết cảm xúc, đồng hoá các cảm nhận có
liên quan đến cảm xúc, thấu hiểu thông tin và những cảm xúc đó và
quản lý chúng [95, tr.12].
Xuất phát từ quan niệm trí tuệ cảm xúc là một loại trí thông minh
tổng hợp và mang tính truyền thống, còn cảm xúc là những hệ thống dấu
hiệu cao cấp và mỗi loại xúc cảm truyền tải một ý nghĩa đặc biệt, năm
1990, trong bài báo đặt nền móng cho lĩnh vực nghiên cứu trí tuệ cảm
xúc, Peter Salovey & David J.Sluyter định nghĩa trí tuệ cảm xúc chính là
“năng lực điều khiển cảm xúc và cảm nhận của bản thân và người khác,
phân biệt chúng và sử dụng thông tin này để hướng dẫn tư duy và bản
56
thân”. Theo định nghĩa này, mô hình trí tuệ cảm xúc sẽ bao gồm quá trình
trí tuệ (mantal process) liên quan với nhau và hàm chứa các thông tin cảm
xúc (1) Đánh giá và biểu hiện cảm xúc, (2) Điều chỉnh cảm xúc, (3) Sử dụng
xúc cảm một cách phù hợp cho hoạt động [95].
K.V. Petrides và Adrian Furnham (2005), “Đo lường trí tuệ cảm xúc”
[118] đã đưa ra mô hình trí tuệ cảm xúc dựa trên tính cách. Theo các tác giả, trí
tuệ cảm xúc dựa trên tính cách là một chùm những tri giác về bản thân trên nền
tảng cảm xúc, nằm ở các cấp độ thấp hơn trong hệ thống thứ bậc của nhân cách.
Theo nghĩa thông thường, nói đến trí tuệ cảm xúc dựa trên tính cách là nói đến
sự tự tri giác về các năng lực cảm xúc. Định nghĩa về trí tuệ cảm xúc này chứa
đựng xu hướng hành vi và các năng lực tự tri giác. Vì thế trí tuệ cảm xúc dựa
trên tính cách cần được nghiên cứu trong khuôn khổ tính cách. Bản thân các tác
giả cũng gọi trí tuệ cảm xúc dựa trên tính cách là cái tôi cảm xúc hiệu quả. Khái
niệm trí tuệ cảm xúc dựa trên tính cách dẫn tới việc khái niệm kiến tạo này nằm
ngoài sự phân loại về năng lực nhận thức của con người [118].
Ciarrochi Joseph, Forgas P.Joseph, Mayer D.John (EDS) (2006), Trí
tuệ cảm xúc trong cuộc sống hàng ngày [94] chỉ ra đại diện tiêu biểu thứ hai
của mô hình hỗn hợp là Reuven Bar - On. Lý thuyết của Bar - On (2000),
được phát triển sau khi nghiên cứu các tài liệu về đặc điểm tính cách có liên
quan đến thành công trong cuộc sống. Mô hình này mô tả về khả năng cảm
xúc và xã hội và các thành phần chủ chốt trong khả năng này đều có liên hệ
với cảm nhận hạnh phúc, chỉ ra yếu tố thể hiện khả năng hiểu được cảm xúc
của bản thân, của người khác và sử dụng những hiểu biết đó để thích nghi và
giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Những khả năng này đã được công
nhận là trí thông minh trong các mô hình lý thuyết khác về trí tuệ cảm xúc,
tuy nhiên mô hình của Bar - On gồm nhiều đặc điểm được cho là có liên quan
mạnh mẽ đến tích cách. Do đó, mô hình này cho rằng trí tuệ cảm xúc không
thuần tuý chỉ là những đặc điểm về năng lực trí tuệ mà là sự kết hợp giữa kỹ
57
năng và đặc điểm tính cách. Bar - On quan niệm: “Trí tuệ cảm xúc là một loạt
các kỹ năng và phẩm chất ảnh hưởng tới thành công trong việc thấu hiểu và
thể hiện bản thân, thấu hiểu và liên hệ với người khác cũng như thích ứng với
những yêu cầu của cuộc sống hàng ngày” [94, tr.14].
Đại diện tiêu biểu thứ nhất của mô hình trí tuệ cảm xúc hỗn hợp là
Daniel Goleman (2007), Trí tuệ cảm xúc, ứng dụng trong công việc [14]. Ông
đã đóng góp quan trọng vào quá trình phổ thông hoá khái niệm trí tuệ cảm
xúc trên thế giới - lại hiểu trí tuệ cảm xúc bao gồm cả năng lực và kỹ năng
nhưng dường như chủ yếu là các kỹ năng. Khái niệm về trí tuệ cảm xúc của
Goleman rất rộng bao gồm các thành tố như: tự điều chỉnh, động cơ, tính thấu
cảm và kỹ năng xã hội [14, tr.68]. Trong tiếng Anh, từ “Competence” được
hiểu là sở hữu các kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm thích hợp; đó là sự thành
thạo. Nói đến kỹ năng là nói đến làm, thực hiện. Những gì Goleman nói về trí
tuệ cảm xúc đều liên quan đến công việc, vì thế, lý thuyết về trí tuệ cảm xúc
của ông còn được gọi là trí tuệ cảm xúc trong công việc.
Các tác giả đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về trí tuệ cảm xúc.
Nhìn chung, các định nghĩa đều cho rằng trí tuệ cảm xúc có liên quan đến
việc nhận thức về cảm xúc của bản thân và của người khác. Tuy nhiên, nếu
như Mayer và đồng nghiệp cho rằng trí tuệ cảm xúc hoàn toàn là một dạng
năng lực thuần tuý của con người hay Petrides và đồng nghiệp trí tuệ cảm xúc
phần lớn chính là những đặc điểm tính cách thì Bar - On lại cho rằng trí tuệ
cảm xúc không phải hoàn toàn là một dạng năng lực, mà nó được hiểu là sự
kết hợp những kỹ năng và phẩm chất tính cách mà con người, có được thông
qua quá trình học tập và giáo dục. Bar - On cho rằng hoàn toàn có thể giáo
dục để phát triển trí tuệ cảm xúc cho trẻ em và thiếu niên.
Trong luận án này, chúng tôi sử dụng mô hình lý thuyết trí tuệ cảm xúc
hỗn hợp của tác giả Peter Salovey & David J.Sluyter (1997) Phát triển trí tuệ
và trí tuệ cảm xúc [95] là cơ sở lý luận cho nghiên cứu của mình. Theo tác giả:
58
Trí tuệ cảm xúc dùng để chỉ năng lực nhận thức các ý nghĩa của
cảm xúc và mối quan hệ giữa chúng, và để lập luận cũng như giải
quyết vấn đề trên cơ sở những ý nghĩa và mối quan hệ đó. Trí tuệ
cảm xúc tham gia vào khả năng nhận biết cảm xúc, đồng hoá các
cảm nhận có liên quan đến cảm xúc, thấu hiểu thông tin và những
cảm xúc đó và quản lý chúng [95, tr.12].
Kế thừa các kết quả nghiên cứu và với hướng tiếp cận nghiên cứu trí
tuệ cảm xúc của luận án, tác giả luận án quan niệm: Trí tuệ cảm xúc là một
dạng năng lực cảm xúc tổng hợp của con người, bao gồm các năng lực thành
phần: năng lực nhận biết cảm xúc; năng lực thấu hiểu cảm xúc; năng lực vận
dụng cảm xúc; năng lực điều khiển cảm xúc của bản thân và đối tượng, đảm
bảo cho hoạt động của cá nhân đạt được các tri thức mới, thích ứng và ứng
phó có hiệu quả trong các hoạt động điều tra.
Trí tuệ cảm xúc là một dạng năng lực cảm xúc tổng hợp: Bản chất trí
tuệ là năng lực của cá nhân làm sáng tỏ một vấn đề nào đó. Trí tuệ cảm xúc
không phải là một dạng năng lực thuần tuý cũng không phải là đặc điểm tính
cách của cá nhân mà là một dạng năng lực tổng hợp.
Các năng lực thành phần của trí tuệ được xác định bao gồm: năng lực
nhận biết cảm xúc; năng lực thấu hiểu cảm xúc; năng lực vận dụng cảm xúc;
năng lực điều khiển cảm xúc của bản thân và đối tượng. Các năng lực này có
mối quan hệ biện chứng với nhau, phản ánh trí tuệ cảm xúc của cá nhân.
Vai trò của trí tuệ cảm xúc: Trí tuệ cảm xúc sẽ giúp cá nhân nhận ra
được cảm xúc của bản thân, khi phân biệt giữa cảm xúc và trí tuệ cảm xúc
được thể hiện ở các nội dung như: Cảm xúc là quá trình tâm lý, trạng thái
tâm lý tồn tại thực ở mỗi cá nhân khi có một kích thích nào đó tác động đến.
Nhưng cá nhân đó có thể không biết mình có hay không cảm xúc đó. Để biết
được cá nhân cần phải đo mức độ của trí tuệ cảm xúc. Trí tuệ là năng lực
kiểm soát và điều khiển hành vi của cá nhân. Trí tuệ giúp cá nhân điều khiển
59
hành vi của mình cho phù hợp với hoàn cảnh. Nó còn được coi là mặt năng động
của trí tuệ. Thông qua trí tuệ, cá nhân có thể linh hoạt, mềm dẻo trong hành động,
sau đó cá nhân sẽ lựa chọn các phương tiện, phương pháp hành động, huy động các
kiến thức, kinh nghiệm đã có vào việc xử lý tình huống cụ thể. Điều này khi chuyển
vào trí tuệ cảm xúc sẽ giúp cá nhân kiểm soát và điều chỉnh được cảm xúc của
mình; giúp cá nhân lựa chọn được các cách thức, phương tiện biểu đạt cảm xúc của
mình để mang lại lợi ích cho bản thân trong quá trình giao tiếp.
2.2.4. Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc
Bộ Công an
Nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc, đa phần các tác giả trong và ngoài nước
tiếp cận nó ở dạng năng lực tổng hợp. Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động rất
ít người có thể làm chủ ở mức cao nhất tất cả những năng lực tạo nên trí tuệ
cảm xúc của mình và ở mỗi một người đều có những điểm mạnh và hạn chế
nhất định. Song, để trở thành người giỏi trong một lĩnh vực nào đó đòi hỏi cá
nhân phải làm chủ ở mức độ cao một số lượng nhất định trong số những năng
lực cần thiết của trí tuệ cảm xúc. Phân tích về nghề nghiệp điều tra viên nói
chung và điều tra viên Cục An ninh điều tra nói riêng, dễ dàng nhận thấy
những năng lực thành phần vừa mang tính độc lập, vừa mang tính tương tác và
là những biểu hiện cơ bản của trí tuệ cảm xúc trong nghề nghiệp của họ.
Trên bình diện chung và trên bình diện đặc trưng, có thể phân tích về trí
tuệ cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra thông qua việc đề cập đến
những loại năng lực cảm xúc sau:
- Những năng lực độc lập - mỗi năng lực trong số đó bằng cách riêng
duy nhất của mình có thể đóng góp vào việc nâng cao chất lượng công việc
nói chung và công việc điều tra nói riêng.
- Những năng lực phụ thuộc lẫn nhau - mỗi năng lực trong số này ở mức độ
nào đó xuất phát từ một vài năng lực khác và giữa một vài năng lực tồn tại những
mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ. Năng lực này giúp điều tra viên Cục
An ninh điều tra thể hiện sự năng lực nghề nghiệp đặc thù cũng như khả năng thiết
lập và duy trì các mối quan hệ khác nhau của mình trong nghề nghiệp.
60
- Những năng lực được phân cấp - những năng lực nằm trong thành
phần của trí tuệ cảm xúc được xây dựng dựa trên nền móng cũ. Chẳng hạn
như sự tự thức có một ý nghĩa cơ bản đối với việc tự điều chỉnh và chia sẻ; sự
tự điều chỉnh bản thân và sự tự thức lại góp phần vào năng lực tự tạo ra động
cơ và tất cả bốn cái đó góp phần tạo ra năng lực mang tính xã hội. Năng lực
này chi phối việc thể hiện bản lĩnh một cách đích thực ở những tình huống
khác nhau hay ở việc thực hiện những nhiệm vụ khác nhau hay quá trình xây
dựng hình ảnh của điều tra viên Cục An ninh điều tra.
- Những năng lực cần nhưng chưa đủ - sở hữu năng lực cảm xúc không
bảo đảm rằng sẽ tạo được những năng lực cần thiết như năng lực hợp tác hay
giải quyết tình huống hoặc bạn sẽ thể hiện mình thông qua những năng lực
đó. Việc một năng lực nhất định có xuất hiện trong lao động hay không, điều
đó cũng được xác định bởi những yếu tố khác, chẳng hạn như bầu không khí
tâm lý nơi làm việc như thế nào hoặc cá nhân làm việc quan tâm đến công
việc ở mức độ ra sao. Đây là yếu tố làm cho điều tra viên Cục An ninh điều
tra thể hiện mình một cách hiệu quả về quá trình tự phát triển, tự rèn luyện
trong công việc, trong mối quan hệ người - người.v.v…
- Những năng lực đặc biệt - trong thực tế tất cả những năng lực vừa
nêu đều rất cần thiết cho tất cả các nghề nghiệp và cho mọi vị trí công việc,
song mặt khác những nghề nghiệp khác nhau và những vị trí công việc
khác nhau đòi hỏi những năng lực khác nhau. Năng lực trí tuệ cảm xúc
giúp điều tra viên biết hướng đến những yêu cầu đặc trưng nhất và mang
tính thách thức của nghề nghiệp: quản lý công việc, giải quyết những tình
huống hay mối quan hệ của những con người khác nhau trong những điều
kiện khác nhau với những thách thức mới.
Xuất phát từ cơ sở lý luận về trí tuệ cảm xúc; chức trách, nhiệm vụ, đặc
điểm hoạt động của điều tra viên và những yêu cầu thực tiễn của hoạt động
điều tra, ở luận án này quan niệm:
61
Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công
an là một dạng năng lực tổng hợp được hình thành và phát triển thông qua thực
tiễn hoạt động điều tra, bao gồm các năng lực thành phần: năng lực nhận biết
cảm xúc; năng lực thấu hiểu cảm xúc; năng lực vận dụng cảm xúc và năng lực
điều khiển cảm xúc, đảm bảo cho hoạt động điều tra đạt được hiệu quả.
Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên được hình thành và phát triển thông
qua thực tiễn hoạt động điều tra của họ ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công
an. Bản chất của trí tuệ cảm xúc đó chính là năng lực tổng hợp của điều tra
viên để giải quyết các nhiệm vụ trong hoạt động điều tra một cách hiệu quả,
sáng tạo ở từng tình huống, điều kiện, hoàn cảnh điều tra nhất định.
Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ
Công an bao gồm các năng lực thành phần:
- Năng lực nhận biết cảm xúc của bản thân và đối tượng trong hoạt
động điều tra;
- Năng lực thấu hiểu cảm xúc của bản thân và đối tượng trong hoạt
động điều tra;
- Năng lực vận dụng cảm xúc của bản thân và đối tượng trong hoạt
động điều tra;
- Năng lực điều khiển cảm xúc của bản thân và đối tượng trong hoạt
động điều tra.
Các năng lực này đảm bảo cho hoạt động điều tra đạt được hiệu quả
cao nhất, hạn chế được sai sót, oan sai trong điều tra vụ án và đối tượng.
Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ
Công an sẽ chịu sự tác động, chi phối, quy định của nhiều yếu tố khác nhau,
có cả các yếu tố chủ quan thuộc về điều tra viên và các yếu tố khách quan
thuộc về môi trường làm việc, điều kiện, hoàn cảnh của hoạt động điều tra.
Đồng thời, có thể đo đạc, định lượng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên thông
qua các trắc nghiệm và chỉ báo biểu hiện, cũng như có thể phát triển trí tuệ
cảm xúc cho điều tra viên thông qua các biện pháp tác động phù hợp.
62
2.3. Biểu hiện, mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An
ninh điều tra thuộc Bộ Công an
2.3.1. Biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều
tra thuộc Bộ Công an
Nguyễn Huy Tú (2002), "Tâm lý học thế kỷ XX, tiếp cận bản chất, cấu
trúc của trí tuệ" [83] đưa ra quan điểm của Robert K. Cooper với cấu trúc trí tuệ
cảm xúc gồm bốn thành tố như sau:
- Thành tố thứ nhất: Khả năng nhận biết cảm xúc bao gồm kinh nghiệm của
cá nhân và sự tự tin hiệu quả thông qua sự trung thực về tình cảm, năng lực tình
cảm, nhận biết cảm xúc, phản hồi, trực giác, trách nhiệm và kết nối.
- Thành tố thứ hai: Tình cảm thích hợp được xây dựng bởi tính nhất
quán, sự tin cậy và tính kiên định. Chúng mở rộng khả năng xây dựng niềm
tin và năng lực lắng nghe, quản lý xung đột và giải quyết hầu hết những yếu
tố gây bất mãn cho điều tra viên.
- Thành tố thứ ba: Trong tầng bậc cảm xúc sâu hơn này, con người
khám phá cách để sắp xếp cuộc sống, biết làm việc có mục đích và tiềm năng
của chính mình. Cùng với tính toàn vẹn, sự cam kết và trách nhiệm sẽ làm
tăng ảnh hưởng của điều tra viên mà không cần quyền lực vị trí. Từ đây
chúng ta sẽ phát triển đến thành tố thứ tư, khả năng cảm xúc siêu việt.
- Thành tố thứ tư: thông qua đó con người mở rộng khả năng sáng tạo,
khả năng vượt qua các vấn đề cũng như áp lực. Con người có thể đạt đến mục
đích trong tương lai bằng cách xây dựng khả năng cảm nhận, dự đoán và tầm
nhìn xa về những giải pháp và cơ hội mới [Dẫn theo 83, tr.72].
Cấu thành trên mặc dù đã gắn trí tuệ cảm xúc với vị trí công việc cũng
như tính chất của hoạt động quản lý và lãnh đạo nhưng chỉ đề cập chủ yếu đến
các đặc trưng của hoạt động quản lý và lãnh đạo. Đây có thể được xem như
một quan điểm theo xu hướng nêu ra những đặc điểm trí tuệ cảm xúc cần có
của một người để họ có thể làm tốt một công việc nào đó.
63
Daniel Goleman (2007), Trí tuệ cảm xúc, ứng dụng trong công việc
[14] đã tập trung về trí tuệ cảm xúc như là mảng sâu rộng các năng lực và kỹ
năng điều khiển hiệu suất lãnh đạo. Mô hình này phác thảo cấu thành trí tuệ
cảm xúc gồm bốn thành tố chính:
Một là, tự nhận thức (Self - awareness): khả năng đọc các cảm xúc và
nhận ra ảnh hưởng của cảm xúc để hướng đến các quyết định.
Hai là, tự quản lý (Self - management): bao gồm điều khiển các cảm
xúc, kích thích và thích nghi để thay đổi hoàn cảnh.
Ba là, nhận thức xã hội (Social Awareness): khả năng cảm nhận, hiểu
và phản ứng với các cảm xúc của người khác khi nhận thức cơ cấu tổ chức và
các mối quan hệ.
Bốn là, quản lý mối quan hệ (Relationship Management): khả năng
truyền cảm hứng, gây ảnh hưởng và phát triển các kỹ năng phát triển con
người, xây dựng mối quan hệ và khả năng quản lý xung đột [14, tr.89].
Một số luận án nghiên cứu trước đây cho rằng Goleman quan niệm trí
tuệ cảm xúc theo mô hình hỗn hợp khác với các xu hướng còn lại, cho rằng
trí tuệ cảm xúc theo mô hình năng lực hoặc gồm những đặc điểm tính cách.
Theo chúng tôi, Goleman tiếp cận cấu thành trí tuệ cảm xúc gắn với những
hoạt động cụ thể, có điểm tương đồng với hoạt động mà cán bộ điều tra làm.
Ông cho rằng có những yếu tố liên quan mật thiết đến năng lực cảm xúc và
tạo nên trí tuệ cảm xúc.
Peter Salovey, J.Mayer & David J.Sluyter (1997), Phát triển trí tuệ và
trí tuệ cảm xúc [95] công bố mô hình EI được chỉnh sửa và tinh lọc (EI97),
giới hạn EI thành khái niệm năng lực trí tuệ (mantal ability concept) và tách
biệt nó với những đặc điểm nhân cách cảm xúc xã hội truyền thống. EI97 ít
tập trung vào nhánh sử dụng xúc cảm của EI90 và thêm một nhánh mới liên
quan đến sự biểu hiện xúc cảm là tư duy về xúc cảm. Trong mô hình EI97,
các tác giả định nghĩa EI như một tổ hợp năng lực xúc cảm có thể chia thành
bốn loại hay bốn nhánh theo cách gọi của họ.
64
Năng lực nhận biết xúc cảm qua tình trạng thể chất, cảm giác và suy nghĩ của con người
Nhận thức, đánh giá và biểu lộ xúc cảm
Năng lực thể hiện xúc cảm chính xác và thể hiện những nhu cầu liên quan đến xúc cảm đó
Năng lực phân biệt sự biểu hiện xúc cảm chân thật hay thật, không chân chính xác hay không chính xác
Năng lực nhận biết xúc cảm của người khác, trong những thiết kế, tác phẩm nghệ thuật,... qua ngôn ngữ, âm thanh, diện mạo và hành vi
Những xúc cảm thúc đẩy suy nghĩ bằng cách hướng sự quan tâm chú ý vào những thông tin quan trọng
Tạo điều kiện xúc cảm cho suy nghĩ
Những xúc cảm tiềm tàng và đủ mạnh mẽ sống động có thể bộc phát nhằm giúp cho việc đánh giá và ghi nhớ có liên quan đến cảm giác
Tình trạng xúc cảm tác động đến cách giải quyết các vấn đề cụ thể, chẳng hạn khi hạnh phúc thì thúc đẩy suy luận logic và sáng tạo
Những giao động tâm trạng cảm xúc làm một người thay đổi từ lạc quan sang bi quan, thúc đẩy việc xem xét các cách nhìn nhận khác nhau
EI
Năng lực xác định xúc cảm và nhận biết mối quan hệ giữa ngôn từ và xúc cảm chẳng hạn như mối quan hệ giữa yêu và thích
Hiểu và phân tích xúc cảm; sử dụng những tri thức xúc cảm
Năng lực giải thích ý nghĩa mà xúc cảm truyền đạt liên quan đến những mối quan hệ, chẳng hạn như nỗi buồn thường đi liền với sự mất mát
Năng lực thấu hiểu những xúc cảm phức tạp: xúc cảm yêu ghét đồng thời hoặc xúc cảm pha trộn chẳng hạn như sự kinh sợ là sự kết hợp của sợ hãi và ngạc nhiên
Năng lực nhận thức được những chuyển đổi xúc cảm có thể xảy ra, chẳng hạn như sự chuyển đổi từ giận dữ sang thoả mãn,...
Điều chỉnh xúc cảm một cách có suy nghĩ nhằm tăng cường sự phát triển XC và TT
Năng lực loại bỏ hoặc tách biệt xúc cảm một cách có suy nghĩ, phụ thuộc vào thông tin mà xúc cảm đó mang lại hoặc việc sử dụng xúc cảm đó
Năng lực điều chỉnh xúc cảm liên quan tới bản thân và những người khác một cách có suy nghĩ, chẳng hạn nhận thức được những xúc cảm đó rõ ràng, đặc trưng, có sức ảnh hưởng hoặc hợp lý
Năng lực kiểm soát xúc cảm của bản thân và người khác bằng cách điều chỉnh xúc cảm tiêu cực và thúc đẩy cảm xúc dễ chịu mà không cần kìm nén hay thổi phồng những thông tin mà nó biểu đạt
Sơ đồ 2.1. Mô hình trí tuệ cảm xúc EI97 của J.Mayer và P.Salovey
65
Dựa vào các mô hình về cấu trúc trí tuệ cảm xúc như trên và căn cứ vào
khái niệm trí tuệ cảm xúc đã nêu, trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định trí
tuệ cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra được xác lập phỏng theo
theo cấu trúc mà tác giả J. Mayer và P. Salovey đề xuất, theo đó biểu hiện trí
tuệ cảm xúc của điều tra viên như sau:
2.3.1.1. Năng lực nhận biết cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều
tra Bộ Công an
Năng lực nhận biết cảm xúc của điều tra viên là khả năng điều tra viên
có thể đưa ra những nhận định chính xác về cảm xúc của đối tượng hay các
lực lượng có liên quan cũng như có biết cảm xúc của chính bản thân mình.
Nhận biết cảm xúc là thành phần cơ bản của trí tuệ cảm xúc của điều
tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an bởi lẽ không gọi được tên
các cảm xúc, không nhận biết đúng bản chất của nó thì điều tra viên ở Cục An
ninh điều tra thuộc Bộ Công an sẽ không phân biệt được một cách chính xác
một cảm xúc này với một cảm xúc khác. Do đó, những kỹ năng khác, mà đặc
biệt là trong các kỹ năng liên quan đến giao tiếp sẽ không đạt được hiệu quả tích
cực. Nhận biết cảm xúc sẽ giúp cho điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc
Bộ Công an biết được những nhu cầu, nguyện vọng,… của đối tượng và đối tác
đã được thoả mãn chưa. Sự nhận diện cảm xúc sẽ dẫn đường cho điều tra viên ở
Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an có sự điều chỉnh, kiểm soát những cảm
xúc, hành vi của chính họ nhằm giúp điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc
Bộ Công an thành công trong công việc.
Ở điều tra viên Cục An ninh điều tra Bộ Công an năng lực này bộc lộ ở khả
năng phát hiện, giải mã những cảm xúc trên gương mặt thực, tranh ảnh, giọng nói.
Khía cạnh này bao gồm năng lực nhận thức được cảm xúc của mình cũng như
cảm xúc của đối tượng, đồng nghiệp và đối tác, cũng như đánh giá được sự ảnh
hưởng của cảm xúc như thế nào đến hiệu quả công việc. Điều này có nghĩa là điều
tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an phải nhận biết được thời điểm
xuất hiện và nguyên nhân của cảm xúc, nhận thức được mối quan hệ giữa tình
cảm và suy nghĩ, giữa lời nói và làm việc của bản thân cũng như của các lực
66
lượng có liên quan, mà nhấn mạnh ở đây là đối tượng và đối tác của họ. Nhận biết
cảm xúc này của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an thông
qua các con đường như ngôn ngữ, hành vi, nét mặt… và các tín hiệu cơ thể khác.
Để thực hiện tốt các công việc dựa trên hoạt động giao tiếp như đã phân tích ở
trên, điều quan trọng trong nhận biết cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh
điều tra thuộc Bộ Công an là phải nhận ra được sự khác biệt giữa những biểu lộ
cảm xúc có thật và biểu bộ cảm xúc miễn cưỡng hoặc giả tạo. Biểu hiện năng lực
nhận biết cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra Bộ Công an:
- Nhận biết được cảm xúc ưu trội của bản thân khi đối mặt với tình
huống xảy ra;
- Nhận biết mối quan hệ giữa ngôn ngữ và cảm xúc của đối tượng;
- Nhận biết mối quan hệ giữa cảm xúc và hành vi của đối tượng điều tra;
- Nhận biết được cảm xúc phức hợp của đối tượng khi tham gia giao tiếp;
- Nhận biết được sự chuyển đổi cảm xúc của đối tượng điều tra;
- Nhận thức được cảm xúc của bản thân trong một tình huống điều tra;
- Đánh giá được trạng thái cảm xúc của đối tượng qua hành vi, điệu bộ, cử chỉ.
Tóm lại, một điều tra viên có năng lực nhận biết cảm xúc là có thể đọc
được các cảm xúc của mình và của người khác một cách rõ ràng, chính xác cũng
như thể hiện, biểu lộ những cảm xúc hợp lý về mặt xã hội. Bên cạnh đó, nhận biết
cảm xúc ở điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an còn thể hiện ở
việc hiểu rõ sự ảnh hưởng cảm xúc của bản thân và của người khác đến hiệu quả
công việc như thế nào trong quá trình làm việc. Đồng thời, điều này cũng nói lên
phần nào khả năng tự đánh giá của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ
Công an về những ưu, hạn chế trong cảm xúc để phát huy cảm xúc có lợi và hạn
chế cảm xúc gây cản trở, khó khăn trong hợp tác.
2.3.1.2. Năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh
điều tra thuộc Bộ Công an
Năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên là khả năng điều tra
viên nắm bắt được tâm tư tình cảm của bản thân cũng như đặt mình vào vị
trí của người khác, hiểu được những gì người khác suy nghĩ và đồng cảm
với cảm xúc của họ.
67
Trong hoạt động điều tra, việc điều tra viên thấu hiểu cảm xúc có vai
trò vô cùng quan trọng. Điều này sẽ thu ngắn khoảng cách giữa điều tra
viên và đối tượng cũng như các lực lượng có liên quan bởi sự đồng cảm
cũng như nắm bắt được tâm tư, tình cảm của nhau. Chính vậy mà hoạt
động điều tra sẽ có hiệu quả cao hơn.
Năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên thể hiện ở chỗ hiểu
được những loại cảm xúc nào là tương tự, là đối nghịch hay sự pha trộn
giữa các loại cảm xúc. Hiểu biết cảm xúc của điều tra viên liên quan đến
khả năng thấu hiểu các ngôn ngữ cảm xúc, hiểu rõ mối quan hệ phức tạp
giữa các cảm xúc. Thành phần này liên quan đến khả năng hiểu, thấu hiểu,
tôn trọng, thúc đẩy và truyền cảm xúc để khích lệ, an ủi những người xung
quanh. Hiểu biết cảm xúc thể hiện ở chỗ điều tra viên hiểu cảm xúc, tình
cảm của bản thân, nhưng nhấn mạnh ở việc điều tra viên hiểu biết cảm xúc
và tình cảm của đối tượng, bị can, người làm chứng; để tâm và lắng nghe
những mối quan tâm, cảm xúc của họ, hiểu được nhu cầu, mong muốn
được phát triển của đối tượng và nâng đỡ các khả năng phát triển đó. Theo
D. Goleman (2007), Trí tuệ cảm xúc, ứng dụng trong công việc [14]:
“Không hiểu được những cảm xúc của chính bản thân mình hay không
ngăn cản được việc chúng làm ngập tràn lòng ta thì chúng ta sẽ rơi vào tình
trạng hoàn toàn không hiểu được tâm trạng của người khác” [14, tr.230].
Trong quan hệ với đối tượng, điều tra viên có hiểu biết cảm xúc cao thường
có khả năng phán đoán, nhận ra và đáp ứng ở chừng mực tốt nhất những nhu cầu
và mong muốn của họ. Ngoài ra, cá nhân điều tra viên còn biết nuôi dưỡng các cơ
hội thông qua các mối quan hệ của bản thân với các đối tác trong chừng mực nhất
định, khía cạnh này thể hiện ở khả năng nhận ra và hiểu được các dòng cảm xúc
của đối tượng, đối tác để có hành vi ứng xử phù hợp. Biểu hiện năng lực thấu hiểu
cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra Bộ Công an:
- Hiểu rõ cảm xúc của bản thân trong tình huống điều tra;
- Hiểu rõ cảm xúc nào đang “xâm chiếm” đối tượng trong tình huống
điều tra;
68
- Hiểu rõ diễn biến cảm xúc của đối tượng trong tình huống điều tra;
- Hiểu rõ tâm trạng phức hợp của đối tượng trong tình huống điều tra;
- Đưa mình vào cảm xúc tích cực để nhìn nhận tình huống xảy ra dưới
nhiều góc độ.
Tóm lại, để điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
có thể cảm nhận, thấu cảm, đồng cảm với những cảm xúc của bản thân,
đối tượng, đối tác,…trước hết điều tra viên cần có khả năng tự nhận thức,
“đọc” được cảm xúc và phân biệt được các dấu hiệu bản chất của bản thân
và đối tượng, bị can, người làm chứng hay những lực lượng có liên quan.
Hiểu được cảm xúc còn đòi hỏi điều tra viên phải gạt sang một bên những
cảm xúc riêng của bản thân để có thể tiếp nhận và phân biệt một cách rõ
ràng những tín hiệu cảm xúc của người khác để đưa ra những hành vi, ứng
xử và quyết định khéo léo, thông minh. Từ đó, điều tra viên có thể đạt
được những kết quả tốt trong hoạt động nghề nghiệp.
2.3.1.3. Năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh
điều tra thuộc Bộ Công an
Năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên là khả năng điều tra viên
linh hoạt sử dụng những cảm xúc của mình trong quá trình tiếp xúc với đối
tượng nhằm đạt được hiệu quả của hoạt động điều tra.
Việc vận dụng cảm xúc sẽ giúp cho điều tra viên luôn có cách giải
quyết vấn đề một cách nhanh chóng và hiệu quả. Không chỉ vậy, điều này
giúp cho điều tra viên luôn làm chủ mọi tình huống, tránh bị rơi vào thế bị
động; hạn chế những thất bại không đáng có trong hoạt động điều tra.
Năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên thể hiện rõ trong việc
sử dụng cảm xúc trong suy nghĩ cũng như giải quyết các vấn đề, tình
huống phát sinh trong công việc. Nói một cách cụ thể hơn, năng lực này
thể hiện ở việc cảm xúc hỗ trợ tư duy, hành động một cách có hiệu quả và
giúp cho óc phán đoán, trí nhớ của điều tra viên hoạt động hiệu quả hơn.
Kết quả nghiên cứu của nhà thần kinh học Antonio Damasio chỉ ra rằng
69
những cảm xúc là nền tảng của việc đưa ra những quyết định đúng đắn.
Theo ông, cảm xúc hoạt động như là những hướng dẫn bên trong và giúp
chúng ta kết nối với những dấu hiệu khác mà dấu hiệu này cũng có thể
hướng dẫn những cảm xúc. Điều tra viên có trí tuệ cảm xúc có thể sử
dụng tối đa năng lực cảm xúc trong việc đưa ra những quyết định đúng đắn.
Năng lực này ở điều tra viên còn thể hiện ở việc cân nhắc để phân biệt cảm xúc
với ý nghĩ và làm cho cảm xúc định hướng có chủ ý.
Các cảm xúc có thể hạn chế hoặc tăng thêm năng lực suy nghĩ và hoạch
định của điều tra viên để đạt tới mục đích lâu dài, giải quyết các vấn đề…
Điều tra viên biết sử dụng cảm xúc của bản thân một cách có ý thức có thể
làm tăng năng lực tư duy uyển chuyển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên
kết các ý tưởng, cho phép khám phá ra những mối liên hệ, dự đoán được hệ
quả các quyết định… Vì thế, năng lực giải quyết vấn đề của họ sẽ dễ dàng
hơn dù là những vấn đề lý thuyết hay vấn đề trong công việc. Điều tra viên có
năng lực “cảm xúc hoá” tư duy nhận thức được rằng một sự thay đổi trong
trạng thái cảm xúc có thể làm nảy sinh các loại năng lực giải quyết vấn đề
khác nhau. Sự thay đổi cảm xúc có thể làm ảnh hưởng đến trí nhớ, óc phán
đoán và cách giải quyết vấn đề của điều tra viên. Biểu hiện năng lực vận
dụng cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra Bộ Công an:
- Vận dụng kinh nghiệm đã có tìm ra cách giải quyết hiệu quả cho tình
huống hiện tại;
- Có kỹ năng giao tiếp, thuyết phục hiệu quả khiến đối tượng sẵn sàng
chia sẻ, khai báo thành khẩn;
- Có cách thức tác động hiệu quả đến người thân của đối tượng tạo
thuận lợi cho điều tra;
- Biết huy động cảm xúc có lợi để bản thân suy nghĩ tích cực;
- Biết huy động cảm xúc có lợi để nhìn nhận sự việc một cách đa chiều;
- Biết huy động cảm xúc có lợi để tìm ra biện pháp giải quyết mâu
thuẫn hiệu quả;
70
- Biết tìm ra phương tiện để giải toả cảm xúc tiêu cực của bản thân.
Tóm lại, năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên là năng lực vận
dụng tốt các trạng thái cảm xúc bên trong của bản thân, giúp cho họ chịu trách
nhiệm về các hành vi của mình, linh hoạt trong việc giải quyết các vấn đề,
nhất là các vấn đề nảy sinh trong điều kiện hoàn cảnh thay đổi.
2.1.3.4. Năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh
điều tra thuộc Bộ Công an
Năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên là việc điều tra viên chủ
động sử dụng cảm xúc của mình trong các mối quan hệ hay các tình huống
điều tra xảy ra.
Trong mối quan hệ với đối tượng, hay những người có liên quan đến
hoạt động điều tra,... điều tra viên không chỉ có hành vi, ứng xử hợp lý, đúng
mực với đối tượng, hoàn cảnh mục đích mà những biểu hiện đó phải hài hoà,
phù hợp với những biểu lộ của cảm xúc. Điều này phản ánh sự tham gia của ý
thức trong việc điều khiển cảm xúc của điều tra viên. Năng lực này thể hiện
tính chủ động, chủ định của cá nhân trong kiểm soát cảm xúc, do đó nó rất
quan trọng và có ích nếu cá nhân biết sử dụng đúng lúc và phù hợp. Theo J.
Mayer và P. Salovey: “Sự kiểm soát các cảm xúc - tức là có thể trì hoãn sự
thoả mãn ham muốn của mình và đè nén xung lực - là cơ sở của mọi sự hoàn
thiện”. Theo D. Goleman (2002), Trí tuệ cảm xúc: Làm thế nào để những cảm
xúc của mình thành trí tuệ [13] cho rằng thực chất điều khiển cảm xúc là bao
hàm các kỹ năng xã hội, trong đó có những kỹ năng được đề cao như: “lắng
nghe một cách cởi mở, biết chia sẻ, đồng cảm, khuyến khích động viên người
khác, hợp tác và làm việc với những con người đến từ các nền văn hoá khác
nhau để cùng học tập và chia sẻ lợi ích” [13, tr.83].
Điều khiển cảm xúc không chỉ ở bản thân điều tra viên mà còn phải điều
chỉnh cảm xúc của người khác như an ủi, động viên, xoa dịu, làm giảm các trạng
thái tiêu cực hay giúp những người có liên quan đến hoạt động điều tra… thoát
khỏi trạng thái bất ổn, bốc đồng, nhất thời như biết cách kích thích các cảm xúc
71
tiêu cực. Biết cách an ủi, nâng đỡ tinh thần cho họ trong quá trình điều tra vụ án là
một kỹ năng rất cần thiết và hữu ích mà một điều tra viên cần có.
Năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên còn được biểu hiện khi điều tra viên sử dụng cách thức tác động tâm lý nhằm tăng cường cảm xúc của bị can, của những người tham gia hoạt động điều tra có thái độ khai báo gian dối,... nhằm giúp cơ quan điều tra thu thập được chứng cứ, tài liệu có giá trị về vụ án. Biểu hiện năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra Bộ Công an:
- Điều khiển cảm xúc bản thân theo hướng tích cực trong các tình
huống điều tra;
- Biết cách lan truyền cảm xúc tích cực của bản thân đến đối tượng điều tra; - Giúp đỡ, hướng dẫn có hiệu quả đối tượng điều tra thoát khỏi suy nghĩ
và cảm xúc tiêu cực;
- Trong các tình huống điều tra có thể chủ động thể hiện cảm xúc; - Có thể gạt bỏ cảm xúc bất lợi của cá nhân trong hoạt động điều tra; - Nhanh chóng tìm ra cách thoát khỏi tâm trạng tiêu cực của bản thân; - Bình tĩnh, chủ động trước bất kỳ tình huống điều tra xảy ra. Tóm lại, biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên bao gồm năng lực
nhận biết cảm xúc của điều tra viên, năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên,
năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên và năng lực điều khiển cảm xúc của
điều tra viên thể hiện trong công việc của chính họ, trong quá trình thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của điều tra viên trong hoạt động nghề nghiệp.
Các biểu hiện trong cấu trúc trí tuệ cảm xúc của điều tra viên phát triển
từ thấp đến cao, mức độ cao nhất của trí tuệ cảm xúc là năng lực điều khiển
cảm xúc, bao gồm năng lực điều chỉnh cảm xúc của chính bản thân điều tra
viên và của người khác. Các năng lực trí tuệ cảm xúc có mối quan hệ biện
chứng, đan xen và hoà quyện vào nhau, chúng là nền tảng của nhau. Một điều
tra viên thật sự có trí tuệ cảm xúc ít nhất phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn và
linh hoạt giữa các năng lực đó. Tuy nhiên, cần lưu ý là mỗi điều tra viên có
những biểu hiện ở các năng lực trí tuệ cảm xúc khác nhau. Đơn cử như một
72
điều tra viên có năng lực nhận biết cảm xúc nhạy bén nhưng không có năng
lực điều chỉnh, kiểm soát cảm xúc của bản thân. Mức độ biểu hiện các nội
dung cụ thể trong từng năng lực trí tuệ cảm xúc cũng khác nhau, cụ thể như
một số điều tra viên có thể chế ngự sự lo lắng của bản thân nhưng không biết
làm dịu những lo lắng của người khác.
Trong luận án chúng tôi căn cứ vào các biểu hiện nêu trên làm tiêu chí
để xác định biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra
thuộc Bộ Công an.
Các biểu hiện này được nhìn nhận và đánh giá trong hoạt động nghề
nghiệp của họ. Những công việc hàng ngày, những trách nhiệm cụ thể, những
quyền hạn được thực thi hay những chiến lược xử lý công việc của cá nhân điều
tra viên sẽ là những cơ hội hay những hoàn cảnh trí tuệ cảm xúc của điều tra
viên được bộc lộ và thể hiện rõ. Dựa trên việc đánh giá từng thành phần này của
trí tuệ cảm xúc ở điều tra viên sẽ có thể đo lường được mức độ trí tuệ cảm xúc
của họ hay chỉ số EQ của họ. Lẽ đương nhiên, việc đánh giá này cần được thực
hiện dựa trên những công cụ đo mang tính khách quan và hữu dụng. Mức độ trí
tuệ cảm xúc của điều tra viên tốt hay không phụ thuộc vào các năng lực cụ thể
đã đề cập trên xét ở bình diện khái quát cũng như cụ thể. Đó chính là việc xem
xét chỉ số EQ đo được tổng thể cũng như con số tìm được ở từng năng lực thành
phần của trí tuệ cảm xúc ở điều tra viên đã được xác lập như chỉ báo nghiên cứu.
Hiện nay có nhiều trắc nghiệm được dùng để đo trí tuệ cảm xúc. Xuất
phát từ mô hình trí tuệ cảm xúc theo kiểu thuần năng lực hay hỗn hợp mà các
trắc nghiệm trí tuệ cảm xúc được thiết kế tương ứng. Trong đó, trắc nghiệm
MSCEIT của John Mayer, Peter Salovey và David Caruso, version 2.0, 2002,
dành cho người lớn từ 16 tuổi trở lên. MSCEIT là một loại trắc nghiệm được
thiết kế để đo bốn nhánh EI theo mô hình thuần năng lực của Mayer và
Salovey (1997) bao gồm: nhận biết cảm xúc, cảm xúc hoá tư duy, hiểu biết
cảm xúc và điều khiển, kiểm soát cảm xúc. MSCEIT là thang đo nhằm đo
lường cách thức nào con người thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải quyết các
73
vấn đề cảm xúc. Mặt quan trọng nhất của các bài kiểm tra như MSCEIT là nó
không yêu cầu người ta báo cáo trình độ của mình. Chúng tôi chọn MSCEIT
làm thang đo lường trí tuệ cảm xúc trong đề tài này. Bên cạnh đó, việc khảo
sát trí tuệ cảm xúc của điều tra viên nên được thực hiện bằng những công cụ
đo gắn liền với nghề nghiệp nên hướng nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của điều
tra viên bằng một công cụ đặc thù cũng được triển khai.
2.3.2. Mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều
tra thuộc Bộ Công an
Dựa trên các biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh
điều tra thuộc Bộ Công an, đồng thời trên cơ sở phân bố điểm chuẩn và độ
lệch chuẩn về mức độ trí tuệ cảm xúc, chúng tôi đánh giá mức độ trí tuệ cảm
xúc dựa trên các mức độ từ thấp đến cao. Trong đó mức thấp nhất là 1, mức
cao nhất là 3. Cụ thể quy ước đánh giá trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục
An ninh điều tra thuộc Bộ Công an bao gồm có 3 mức độ sau: mức 1 - thấp;
mức 2 - trung bình; mức 3 - cao. Việc xác định mức độ dựa trên các tiêu chí
tuân theo nguyên tắc tích hợp của 4 năng lực thành phần biểu hiện như sau:
- Nếu trong trí tuệ cảm xúc có cả 4 năng lực thành phần cùng ở một
mức nào đó thì trí tuệ cảm xúc chung được đánh giá ở mức đó.
- Nếu trí tuệ cảm xúc có 3 năng lực thành phần biểu hiện cùng ở một mức nào
đó và mặt còn lại ở mức liền kề hoặc không liền kề thì trí tuệ cảm xúc chung được
đánh giá ở mức của 3 năng lực thành phần có cùng mức độ.
- Nếu trí tuệ cảm xúc có 2 năng lực thành phần biểu hiện ở mức nào đó và
2 năng lực còn lại ở mức liền kề hoặc ở 2 mức khác nhau, thì trí tuệ cảm xúc
chung được đánh giá bằng mức độ của điểm trung bình chung.
- Nếu trí tuệ cảm xúc có 4 năng lực thành phần biểu hiện ở các mức độ
khác nhau thì trí tuệ cảm xúc chung được đánh giá bằng điểm mức độ của
trung bình chung của toàn thang đo.
Cụ thể biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh
điều tra thuộc Bộ Công an ở từng mức như sau:
74
Mức 1 (Thấp)
Năng lực nhận biết cảm xúc: Việc nhận biết cảm xúc của bản thân và đối
tượng trong hoạt động điều tra còn hạn chế. Cụ thể, khó khăn trong nhận biết
được cảm xúc ưu trội của bản thân khi đối mặt với tình huống; nhận biết
không rõ ràng mối quan hệ giữa cảm xúc và hành vi của đối tượng điều tra; còn
có sai sót trong nhận biết sự chuyển đổi cảm xúc của đối tượng điều tra; không
hiểu rõ cảm xúc nào đang “xâm chiếm” bản thân trong tình huống điều tra;
chưa thường xuyên đánh giá được trạng thái cảm xúc của đối tượng qua hành
vi, điệu bộ, cử chỉ. Mặt khác, trong sinh hoạt, học tập công tác hàng ngày việc
sử dụng ngôn ngữ có lúc không phù hợp, thiếu chặt chẽ, tỏ ra thiếu tự tin trong
một số hoạt động giao tiếp và điều tra.
Năng lực thấu hiểu cảm xúc: năng lực hiểu rõ cảm xúc của bản thân và
đối tượng trong tình huống điều tra còn hạn chế; chưa hiểu rõ diễn biến cảm xúc
của đối tượng trong tình huống điều tra; nhận định tâm trạng phức hợp của đối
tượng trong tình huống điều tra còn sai sót; đôi khi chưa chủ động đưa mình
vào cảm xúc tích cực để nhìn nhận tình huống xảy ra dưới nhiều góc độ.
Năng lực vận dụng cảm xúc: đó là những điều tra viên còn hạn chế
trong vận dụng kinh nghiệm đã có để tìm ra cách giải quyết hiệu quả cho tình
huống hiện tại; kỹ năng giao tiếp, thuyết phục chưa hiệu quả hiệu quả khiến
đối tượng không sẵn sàng chia sẻ, khai báo thành khẩn; cách thức tác động
đến người thân của đối tượng còn đơn điệu, cứng nhắc, chưa tạo thuận lợi cho
điều tra; chưa huy động có hiệu quả cảm xúc có lợi để bản thân suy nghĩ tích
cực hoặc để nhìn nhận sự việc một cách đa chiều, tìm ra biện pháp giải quyết
mâu thuẫn hiệu quả; việc tìm ra phương tiện để giải toả cảm xúc tiêu cực của
bản thân còn hạn chế.
Năng lực điều khiển cảm xúc: những điều tra viên này thường lúng túng
trong xử lý những tình huống mới trong hoạt động điều tra. Khó khăn trong điều
khiển cảm xúc bản thân theo hướng tích cực trong các tình huống điều tra;
chưa biết cách lan truyền cảm xúc tích cực của bản thân đến đối tượng điều tra;
75
giúp đỡ, hướng dẫn ít hiệu quả đối tượng điều tra thoát khỏi suy nghĩ và cảm
xúc tiêu cực; trong các tình huống điều tra chưa chủ động thể hiện cảm xúc và
gạt bỏ cảm xúc bất lợi của cá nhân; chậm tìm ra cách thoát khỏi tâm trạng tiêu
cực của bản thân; thường không giữ được thái độ bình tĩnh, chủ động trước
diễn biến phức tạp, bất ngờ của tình huống điều tra.
Quá trình thực hiện các nhiệm vụ được giao ở đơn vị, các điều tra viên này
thường hoàn thành ở mức thấp.
Điểm tương ứng cho mức độ này trong khoảng 1 ≤ ĐTB ≤ 1,66
Mức 2 (Trung bình)
Năng lực nhận biết cảm xúc: Việc nhận biết cảm xúc của bản thân và đối
tượng trong hoạt động điều tra ở mức trung bình. Cụ thể, đôi khi gặp khó khăn
trong nhận biết được cảm xúc ưu trội của bản thân khi đối mặt với tình huống
điều tra; nhận biết chưa thật rõ ràng mối quan hệ giữa cảm xúc và hành vi của
đối tượng điều tra; thỉnh thoảng còn có sai sót trong nhận biết sự chuyển đổi
cảm xúc của đối tượng điều tra; thường không hiểu rõ cảm xúc nào đang
“xâm chiếm” bản thân trong tình huống điều tra; đôi khi chưa đánh giá chính
xác được trạng thái cảm xúc của đối tượng qua hành vi, điệu bộ, cử chỉ. Mặt
khác, trong sinh hoạt, học tập công tác hàng ngày việc sử dụng ngôn ngữ có lúc
thiếu chặt chẽ, đôi khi tỏ ra thiếu tự tin trong hoạt động giao tiếp và điều tra.
Năng lực thấu hiểu cảm xúc: năng lực hiểu rõ cảm xúc của bản thân và
đối tượng trong tình huống điều tra còn một số hạn chế; đôi khi chưa hiểu rõ
diễn biến cảm xúc của đối tượng trong tình huống điều tra; nhận định tâm trạng
phức hợp của đối tượng trong tình huống điều tra chưa thật rõ ràng; thỉnh
thoảng gặp khó khăn trong việc chủ động đưa mình vào cảm xúc tích cực để
nhìn nhận tình huống xảy ra dưới nhiều góc độ.
Năng lực vận dụng cảm xúc: vận dụng kinh nghiệm đã có để tìm ra
cách giải quyết hiệu quả cho tình huống hiện tại chưa thật tốt; kỹ năng giao
tiếp, thuyết phục có lúc chưa hiệu quả hiệu quả khiến đối tượng không sẵn
sàng chia sẻ, khai báo thành khẩn; cách thức tác động đến người thân của đối
76
tượng còn đơn giản, chưa thật sự tạo thuận lợi cho điều tra; bước đầu huy
động có hiệu quả cảm xúc có lợi để bản thân suy nghĩ tích cực hoặc để nhìn
nhận sự việc một cách đa chiều, tìm ra biện pháp giải quyết mâu thuẫn; việc
tìm ra phương tiện để giải toả cảm xúc tiêu cực của bản thân chưa tối ưu.
Năng lực điều khiển cảm xúc: những điều tra viên này đôi khi lúng túng
trong xử lý những tình huống mới trong hoạt động điều tra. Còn gặp khó khăn
nhất định trong điều khiển cảm xúc bản thân theo hướng tích cực; bước đầu
biết cách lan truyền cảm xúc tích cực của bản thân đến đối tượng điều tra và giúp
đỡ, hướng dẫn đối tượng điều tra thoát khỏi suy nghĩ, cảm xúc tiêu cực; trong
các tình huống điều tra bước đầu chủ động thể hiện cảm xúc và gạt bỏ cảm
xúc bất lợi của cá nhân. Tuy nhiên, vẫn còn chậm tìm ra cách thoát khỏi tâm
trạng tiêu cực của bản thân và đôi khi không giữ được thái độ bình tĩnh, chủ
động trước diễn biến phức tạp, bất ngờ của tình huống điều tra.
Quá trình thực hiện các nhiệm vụ được giao ở đơn vị, các điều tra viên này
thường hoàn thành ở mức trung bình.
Điểm tương ứng cho mức độ này trong khoảng 1,66 ≤ ĐTB ≤ 2,33
Mức 3 (Cao)
Năng lực nhận biết cảm xúc: Việc nhận biết cảm xúc của bản thân và đối
tượng trong hoạt động điều tra ở mức tốt. Cụ thể, dễ dàng nhận biết được cảm
xúc ưu trội của bản thân khi đối mặt với tình huống điều tra; nhận biết rõ ràng
mối quan hệ giữa cảm xúc và hành vi của đối tượng điều tra; thường xuyên nhận
biết chính xác sự chuyển đổi cảm xúc của đối tượng điều tra; hiểu rõ cảm xúc
nào đang “xâm chiếm” bản thân trong tình huống điều tra; đánh giá chính xác
được trạng thái cảm xúc của đối tượng qua hành vi, điệu bộ, cử chỉ. Mặt khác,
trong sinh hoạt, học tập công tác hàng ngày việc sử dụng ngôn ngữ chặt chẽ, tỏ ra
thiếu tự tin trong hoạt động giao tiếp và điều tra.
Năng lực thấu hiểu cảm xúc: năng lực hiểu rõ cảm xúc của bản thân
và đối tượng trong tình huống điều tra tốt; luôn hiểu rõ diễn biến cảm xúc
77
của đối tượng trong tình huống điều tra; nhận định tâm trạng phức hợp
của đối tượng trong tình huống điều tra rõ ràng; không gặp khó khăn
trong việc chủ động đưa mình vào cảm xúc tích cực để nhìn nhận tình
huống xảy ra dưới nhiều góc độ.
Năng lực vận dụng cảm xúc: vận dụng kinh nghiệm đã có để tìm ra
cách giải quyết hiệu quả cho tình huống hiện tại tốt; kỹ năng giao tiếp, thuyết
phục hiệu quả hiệu quả khiến đối tượng sẵn sàng chia sẻ, khai báo thành
khẩn; cách thức tác động đến người thân của đối tượng còn đa dạng, linh hoạt,
mềm dẻo, hiệu quả tạo thuận lợi cho điều tra; huy động có hiệu quả cảm xúc
có lợi để bản thân suy nghĩ tích cực hoặc để nhìn nhận sự việc một cách đa
chiều, tìm ra biện pháp giải quyết mâu thuẫn; việc tìm ra phương tiện để giải
toả cảm xúc tiêu cực của bản thân tối ưu.
Năng lực điều khiển cảm xúc: những điều tra viên này dễ dàng xử lý những
tình huống mới trong hoạt động điều tra. Không gặp khó khăn trong điều khiển
cảm xúc bản thân theo hướng tích cực; biết cách lan truyền cảm xúc tích cực
của bản thân đến đối tượng điều tra và giúp đỡ, hướng dẫn đối tượng điều tra
thoát khỏi suy nghĩ, cảm xúc tiêu cực; trong các tình huống điều tra chủ động
thể hiện cảm xúc và gạt bỏ cảm xúc bất lợi của cá nhân; nhanh chóng tìm ra
cách thoát khỏi tâm trạng tiêu cực của bản thân và luôn giữ được thái độ bình
tĩnh, chủ động trước diễn biến phức tạp, bất ngờ của tình huống điều tra.
Quá trình thực hiện các nhiệm vụ được giao ở đơn vị, các điều tra viên này
thường hoàn thành ở mức tốt.
Điểm tương ứng cho mức độ này trong khoảng 2,33 ≤ ĐTB ≤ 3,0
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở
Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
Về lý luận, trí tuệ cảm xúc chính là một thành tố tạo nên nhân cách. Vì
thế sự hình thành và phát triển khả năng cảm xúc của cá nhân cũng chịu ảnh
hưởng của các yếu tố như bẩm sinh di truyền, tư chất, các hoạt động và giáo dục.
78
Chúng tôi cho rằng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên không đến một
cách tự nhiên và chịu sự ảnh hưởng bởi những yếu tố sau:
2.4.1. Nhóm các yếu tố chủ quan
2.4.1.1. Yếu tố thể chất của điều tra viên
Di truyền không quyết định trực tiếp đến sự phát triển trí tuệ cảm xúc.
Yếu tố di truyền là tiền đề, nền tảng vật chất, là điều kiện cần cho sự hình
thành, phát triển của trí tuệ cảm xúc. Nếu có được những đặc điểm di truyền
ưu việt về hệ thần kinh, não bộ sẽ thuận lợi cho sự phát triển trí tuệ sau này.
Những đặc điểm di truyền ưu việt về hệ thần kinh, não bộ, các giác quan,…
thì sẽ có nhiều thuận lợi cho sự phát triển trí tuệ sau này và đặt ra trước chủ
thể nhiều tiềm năng khác nhau. Việc khai thác những tiềm năng đó như thế
nào còn tuỳ thuộc vào chủ thể và hoạt động của chủ thể.
Nghiên cứu các nhà khoa học đã chỉ ra rằng hai bộ phận của não là
hạnh nhân (amygdala) và cá ngựa (hippocampus) không chỉ là nơi hình
thành mà còn là nơi lưu giữ phản ứng cảm xúc. Chính vì vậy yếu tố thể chất
sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến sức khoẻ tinh thần, cảm xúc của cá nhân.
Với các tố thể chất thể lực phát triển hài hoà, toàn diện cá nhân sẽ
tham gia một cách tích cực trong các mối quan hệ giúp khả năng trí tuệ phát
triển. Nếu cá nhân không có sự phát triển bình thường về mặt thể chất hoặc
là phát triển quá nhanh, hoặc là quá chậm sẽ dễ dẫn đến sự mặc cảm, xấu hổ,
mệt mỏi và trí tuệ cảm xúc cũng bị ảnh hưởng.
Điều tra viên là những người đã được tuyển chọn trong một quá trình
khắt khe, yêu cầu cao về thể chất. Đó là những người phải đảm bảo về mặt
cân nặng, chiều cao và phải có sức khoẻ tốt mới được tuyển chọn vào lực
lượng. Do đó, điều tra viên phải là những người có thể chất tốt góp phần
đảm bảo cho trí tuệ cảm xúc của điều tra viên được phát triển, thậm chí sẽ
được phát triển một cách tích cực, toàn diện. Ngược lại, nếu không đảm bảo
điều kiện về thể chất sẽ tạo ra những khó khăn cho phát triển trí tuệ cảm xúc
của điều tra viên.
79
2.4.1.2. Các thuộc tính tâm lý nhân cách của điều tra viên
Yếu tố chủ thể, trong đó tính tích cực hoạt động của chính cá nhân là yếu
tố quyết định trực tiếp sự phát triển trí tuệ cảm xúc của cá nhân đó. Những tiềm
năng trí tuệ của cá nhân có được phát huy hay không là tuỳ thuộc vào tính chất
hoạt động, khai thác của cá nhân đó. Trí tuệ cảm xúc cao hay thấp chủ yếu do
hoạt động và giao lưu của cá nhân với môi trường xã hội. Cụ thể:
Khí chất là đặc điểm chung nhất của mỗi con người, là đặc điểm cơ bản
của hệ thần kinh, tạo ra các diện mạo nhất định của toàn bộ hoạt động ở mỗi
cá thể. Dựa trên cơ sở phân loại của hệ thần kinh, các dạng thần kinh này có
bốn loại khí chất tương ứng: sôi nổi, linh hoạt, ưu tư và điềm tĩnh.
Dưới góc độ chung nhất thì sự hoà nhập của các quá trình thần kinh và khí
chất tạo nên những nét cơ bản của những đặc điểm riêng của cá tính và hành vi
con người. Trí tuệ cảm xúc sẽ chịu chi phối bởi những khí chất ở những cá nhân
khác nhau. Đơn cử như một cá nhân có khí chất linh hoạt thì phản ứng hành vi
của họ sẽ nhanh hơn, đôi lúc “sự nhanh” ấy lại thiếu thận trọng và để lại một vài
thiếu sót trong ứng xử, giải quyết vấn đề hơn so với cá nhân có khí chất điềm
tĩnh. Hoặc cá nhân ưu tư thì ở họ sự nhạy cảm lại cao, từ đó khó kiềm chế được
những cảm xúc, dễ dàng bộc lộ chúng. Điều này cũng có thể ảnh hưởng không
tích cực đối với công việc, nhất là khi tiếp xúc với các đối tượng.
Đối với điều tra viên, không có kiểu khí chất nào là tối ưu cho nghề
nghiệp hay sự thành công trong nghề nghiệp. Sự hoà trộn giữa các khí chất
với các ưu điểm là một lợi thế để họ biết cách sử dụng cảm xúc của mình một
cách hiệu quả nhất trong công việc. Việc mỗi điều tra viên nhận biết được bản
thân mình có khí chất nào để biết cách điều chỉnh những hạn chế và phát huy
thế mạnh trong khí chất để có những ứng xử phù hợp trong công việc là điều
cần thiết trong việc phát triển trí tuệ cảm xúc cho họ.
Tính cách của điều tra viên cũng có những ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc
của họ. Hệ thống thái độ tích cực đối với xã hội nói chung và đối với con người
nói riêng sẽ giúp cho chính bản thân điều tra viên thích ứng với những thay đổi
biến động của công việc, của xã hội và đồng thời giúp họ cân bằng cuộc sống.
80
Bên cạnh năng lực trí tuệ cảm xúc, trí tuệ cảm xúc cần có những năng
lực nghề nghiệp và những năng lực khác như giải quyết vấn đề, ra quyết định,
thuyết trình. Chính những năng lực này cũng góp phần không nhỏ vào việc
nâng cao trí tuệ cảm xúc cho bản thân. Năng lực chuyên môn là năng lực đặc
trưng trong những lĩnh vực nhất định của xã hội như năng lực lãnh đạo, năng
lực tổ chức quản lý, năng lực kiến trúc, hội hoạ... Trong lĩnh vực điều tra,
năng lực chuyên môn là năng lực chuyên sâu vào từng hoạt động như: năng
lực xác minh, năng lực khám nghiệm hiện trường, năng lực hỏi cung bị can,
năng lực lấy lời khai người bị hại, người làm chứng... Năng lực chuyên môn
bao gồm hệ thống các thuộc tính, các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo... giúp cá nhân
hoàn thành tốt công việc chuyên môn của mình. Đối với các điều tra viên,
năng lực chuyên môn của họ chính là khả năng xây dựng kế hoạch điều tra;
khả năng xác minh sự việc phạm tội, xác minh quan hệ trong hoạt động điều
tra; sự thành thạo trong các hoạt động hỏi cung bị can, lấy lời khai người bị
hại, người làm chứng; sự linh hoạt xử lý các tình huống điều tra... Năng lực
chuyên môn hoạt động điều tra được cấu thành từ hệ thống kiến thức cơ bản,
sự am hiểu luật pháp, kiến thức chính trị, khả năng quan sát, hệ thống kỹ năng
giao tiếp cũng như sự thành thạo các thao tác nghiệp vụ điều tra. Các thuộc
tính tâm lý trên đây được điều tra viên lĩnh hội, tiếp thu qua quá trình học tập,
đào tạo; được tích luỹ, phát triển trong hoạt động thực tiễn của mình.
Năng lực chung và năng lực riêng có quan hệ hữu cơ với nhau. Năng
lực chung là cơ sở của năng lực riêng, năng lực chung phát triển càng cao thì
càng tạo ra những tiền đề to lớn cho sự phát triển năng lực chuyên môn.
Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn, trong những điều kiện nhất
định có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển năng lực chung, đến sự phát
triển trí tuệ của cá nhân. Hơn nữa trong thực tế cuộc sống, mỗi hoạt động đều
đề ra những yêu cầu nhất định đối với cá nhân cả về năng lực chung và năng
lực chuyên môn. Bởi vậy, không nên chỉ bồi dưỡng con người và phát triển
năng lực cá nhân bó hẹp trong một mặt, trong một lĩnh vực cụ thể nào đó. Chỉ
81
có sự phát triển toàn diện của cá nhân mới đảm bảo phát hiện và bồi dưỡng
những năng lực chung và năng lực chuyên môn trong thể thống nhất, hoàn
chỉnh, mới đảm bảo cho cá nhân đủ khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao. Đây cũng là vấn đề đặt ra cần nghiên cứu kỹ lưỡng nhằm xác định các
biện pháp hình thành và phát triển năng lực của điều tra viên. Để phát triển
năng lực điều tra rất cần thiết phải tạo ra nền tảng chung về trí tuệ cho điều tra
viên; bồi dưỡng kiến thức mọi mặt, tích luỹ kinh nghiệm hoạt động thực tế...
Do đó điều tra viên cần phải học tập, bồi dưỡng những kiến thức khác có liên
quan đến việc hình thành và phát triển trí tuệ cảm xúc như: các kỹ năng như
kỹ năng quan sát nét mặt, hành vi người khác, kỹ năng lắng nghe người khác,
kỹ năng làm chủ bản thân, kiềm chế hành vi bột phát hoặc kỹ năng giải toả
các cảm xúc tiêu cực... Đây là những kỹ năng xuất hiện thường xuyên trong
quá trình giao tiếp có có ảnh hưởng khá mạnh đến năng lực trí tuệ cảm xúc
của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
Đối với việc phát triển năng lực trí tuệ cảm xúc, thái độ, động cơ của cá
nhân có ảnh hưởng rất quan trọng. Chính Caruso và Salovey khẳng định
rằng trí tuệ cảm xúc khác với động cơ, thái độ nhưng nó chịu ảnh hưởng
nhiều bởi động cơ, thái độ. Việc đào tạo nâng cao năng lực trí tuệ cảm xúc
sẽ không hiệu quả, lãng phí nếu người học không có mong muốn cải thiện
năng lực trí tuệ cảm của bản thân. Qua trao đổi với các điều tra viên, chúng
tôi nhận thấy điều tra viên thường nhận định rằng những thái độ, động cơ
của họ có ảnh hưởng đến năng lực trí tuệ cảm xúc trong giao tiếp nghiệp
vụ, đó là khi cá nhân có thái độ quan tâm, thương yêu con người, thái độ
cầu thị, tích cực học hỏi người khác để nâng cao năng lực trí tuệ cảm xúc
của bản thân, có động cơ nâng cao năng lực để hoàn thiện bản thân, hay
mong muốn nâng cao uy tín của bản thân trước tập thể, trước nhân dân.
Điều này cho thấy nếu cá nhân có thái độ, động cơ đúng đắn thì trí tuệ cảm
xúc của cá nhân cũng sẽ hoàn thiện hơn và trong quá trình giao tiếp với cá
nhân khác cũng sẽ được đánh giá cao hơn.
82
2.4.1.3. Giới tính, tuổi tác và thâm niên công tác của điều tra viên
Giới tính cũng phần nào chi phối đến trí tuệ cảm xúc của cá nhân. Phụ
nữ nhạy cảm và tinh tế hơn so với nam giới trong ứng xử nhưng lại dễ xúc
động. Nam giới khá bộc trực, thẳng thắn và giải quyết vấn đề theo phản ứng
nhanh hơn. Nữ giới sống tình cảm, nam giới lại thiên về lý trí hơn. Những đặc
điểm cơ bản này, phần nào cho thấy đặc điểm tâm lý giới tính có thể chi phối
đến trí tuệ cảm xúc của cá nhân.
Điều tra viên ngày nay không chỉ có nam giới mà tỉ lệ nữ giới làm điều
tra viên ngày càng được mở rộng và ở họ thể hiện những thành công nhất
định. Mỗi giới tính cũng có những ưu điểm khác nhau, ở nữ giới sống thiên về
cảm xúc do đó sự ứng xử của họ cũng mềm dẻo, tình cảm hơn. Ở khía cạnh
tích cực, đây là những lợi thế để phát triển trí tuệ cảm xúc. Ngược lại nam
giới, họ có óc phán đoán nhanh nhạy hơn nên dễ nắm bắt tâm lý đối tượng
cũng như sẽ cứng rắn hơn trong quá trình xử lý tình huống.
Như đã phân tích, đối với sự hình thành và phát triển của trí tuệ cảm
xúc, những kinh nghiệm là một yếu tố không thể thiếu. Những kinh nghiệm
trong việc nhận biết cảm xúc, hiểu biết cảm xúc, sử dụng cảm xúc và quản lý,
điều khiển cảm xúc được tích luỹ qua nhiều con đường khác nhau như giáo
dục gia đình, giáo dục nhà trường và sự học hỏi của cá nhân. Trong đó, có thể
nhấn mạnh, sự tự trải nghiệm, tự học hỏi của cá nhân đóng vai trò quan trọng.
Tuổi đời càng cao thì họ đã có nhiều cơ hội trải nghiệm, học hỏi hơn. Đặc biệt,
đối với điều tra viên, việc công tác càng lâu giúp họ có nhiều cơ hội thu thập và
tích luỹ nhiều bài học kinh nghiệm trong việc sử dụng, quản lý cảm xúc để có
những ứng xử tốt hơn trong mối quan hệ với đồng nghiệp, đối tác. Thực tiễn
cuộc sống luôn cung cấp cho cá nhân những bài học sống động mà trường lớp,
sách vở khó thay thế. Chính vì vậy, tuổi đời hay thâm niên công tác có ảnh
hưởng đến trí tuệ cảm xúc của cá nhân nói chung và điều tra viên nói riêng.
Mỗi một năng lực tâm lý ở cá nhân đều không tự nhiên sinh ra đã có mà
phải là kết quả của sự tích luỹ kinh nghiệm xã hội - lịch sử. Vì vậy, vốn kinh
83
nghiệm sống (trải nghiệm cuộc sống) là một trong những yếu tố chủ quan có ảnh
hưởng đến mọi năng lực tâm lý nói chung, đến năng lực trí tuệ cảm xúc nói riêng.
Bên cạnh đó, mỗi lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp lại có những kinh
nghiệm nghề nghiệp mà cá nhân phải tham gia vào hoạt động nghề nghiệp
mới thu thập, tích luỹ được những kinh nghiệm riêng - là “vốn tri thức ẩn” mà
mỗi cá nhân có được qua trải nghiệm công việc. Những điều tra viên có vốn
kinh nghiệm phong phú, khi nhìn nhận, nắm bắt vấn đề thường nhanh hơn
cũng như cách giải quyết tình huống mà họ gặp phải cũng chín chắn hơn
những người chưa có hoặc vốn kinh nghiệm còn hạn chế. Với những người
vốn kinh nghiệm chưa có hay còn hạn chế, khi bắt gặp tình huống cần phải
giải quyết nhanh óc phán đoán của họ sẽ không thể nhanh nhạy, quyết đoán.
Thậm chí một số trường hợp, khi đưa ra quyết định còn chưa chắc chắn với
quyết định đó của mình. Do đó, trong quá trình hành xử của những người có
vốn kinh nghiệm cũng sẽ thể hiện sự khéo léo và tế nhị, thuần thục hơn những
người hạn chế về điều này. Chính vì vậy vốn kinh nghiệm công tác, hoạt động
xã hội là một trong những yếu tố chủ quan sẽ có ảnh hưởng đến trí tuệ cảm
xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
2.4.2. Yếu tố khách quan
2.4.2.1. Môi trường làm việc của điều tra viên
Trong các nghiên cứu của L.X. Vưgotxki và cộng sự đã chỉ rõ môi
trường xã hội là nguồn gốc của sự phát triển tư duy xã hội của cá nhân. Các
khái niệm như “trí tuệ” chỉ có thể được lý giải trong phạm vi các quan hệ qua
lại giữa cá nhân và môi trường. Môi trường gia đình có những giá trị hết sức
quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ cảm xúc của cá nhân.
Khi hoà nhập, kết nối với nhiều thành viên khác nhau như ông bà, cha
mẹ, anh chị em ruột, vợ chồng, con cái… cá nhân sẽ bộc lộ rõ cảm xúc,
những cách cư xử trong khung cảnh riêng biệt này. Chính mối quan hệ giữa
cá nhân với các thành viên trong gia đình đặc biệt là bầu không khí gia đình
sẽ làm cho khả năng trí tuệ cảm xúc được hình thành và phát triển rất hiệu
84
quả. Nếu một điều tra viên có cuộc sống không thoải mái, đầy căng thẳng tại
gia đình hoàn toàn có thể bị mất kiểm soát về mặt cảm xúc tại nơi làm việc.
Môi trường xã hội và môi trường làm việc cũng được xem là những yếu
tố có sức ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Thực tế cho thấy tình
hình kinh tế xã hội có nhiều biến động, nhiều điều tra viên phải thực sự bản lĩnh
để đối mặt với những bất ổn, thay đổi với nhiều tình huống với tình hình chính
trị bất ổn, tình hình tội phạm gia tăng. Sự vững tin về tâm lý, sự quyết liệt trong
xử lý tình huống, sự “kiên định” nhưng “mềm mại” trong quá trình làm việc và
việc thực hiện các kỹ năng như: đàm phán, thương lượng, xử lý xung đột, xử lý
khủng hoảng đòi hỏi điều tra viên phải có trí tuệ cảm xúc tốt. Bên cạnh đó, môi
trường làm việc đặc thù của điều tra viên với những áp lực công việc, áp lực từ
phía nhà quản lý, áp lực “ở thế giữa” hay những tình huống “ở thế găng” đều là
những thách thức buộc điều tra viên luôn phải biết quản lý cảm xúc của mình,
điều tiết cảm xúc của mình và của người khác để đạt được mục tiêu giải quyết
được các tình huống nghiệp vụ mà điều tra viên đang phải xử lý.
Hoạt động điều tra diễn ra trong các hoàn cảnh khác nhau, trong sự tác
động của nhiều yếu tố chính trị, xã hội phức tạp. Môi trường tiếp xúc, hoạt
động của điều tra viên rất đa dạng và phức tạp. Đây là yếu tố ảnh hưởng rất
nhiều đến sự hình thành và phát triển tâm lý của các điều tra viên. Trong
hoạt động điều tra, điều tra viên phải tiếp xúc, xử lý nhiều mối quan hệ phức
tạp, cả quan hệ điều tra và các quan hệ xã hội khác. Điều tra viên thường
xuyên phải tiếp xúc với nhiều loại người khác nhau, với đủ loại thành phần,
nghề nghiệp, có vị trí xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. Trong số đó,
nhiều người bị kích động, mua chuộc, dụ dỗ hoặc do thấp kém về nhận thức,
bị mù quáng.v.v… mà có hành vi chống đối, vi phạm pháp luật. Cũng có
người vì động cơ vật chất, hám lợi mà sa ngã hoặc bị khống chế trong các
hoàn cảnh khác nhau mà dẫn tới phạm tội... điều tra viên cũng thường xuyên
phải tiếp xúc với những người làm chứng, người bị hại với những động cơ và
thái độ khai báo không trung thực. Tất cả đều tạo nên sự phức tạp trong quá trình
điều tra, xử lý vụ án của điều tra viên.
85
Môi trường hoạt động của điều tra viên còn là những yếu tố, những quan
hệ khác không phù hợp xuất hiện trong hoạt động điều tra. Sự tấn công mua
chuộc của các loại đối tượng; sự cám dỗ của lối sống vật chất, hưởng thụ...
Đặc biệt là trong điều kiện kinh tế thị trường, tâm lý thực dụng, sự ham
muốn làm giàu nhanh chóng, bất chính... luôn hàng ngày, hàng giờ tác
động ảnh hưởng đến mỗi người, trong đó có các điều tra viên. Sự tác động
của những quan hệ tiêu cực, của mặt trái cơ chế thị trường luôn tiêm
nhiễm, ảnh hưởng đến lối sống, phẩm chất đạo đức, tác phong nghề nghiệp
của các điều tra viên. Những tác động từ môi trường, từ hoàn cảnh phức tạp
của cuộc đấu tranh và những đặc thù trong hoạt động nghề nghiệp luôn để
lại dấu ấn trong đời sống tâm lý của mỗi điều tra viên. Trong điều kiện
cuộc sống còn nhiều khó khăn, nếu không có ý thức quyết tâm phấn đấu vươn
lên, không có ý thức tự rèn luyện bản thân, điều tra viên sẽ dễ bị sa ngã, biến
chất, dễ chấp nhận hoặc bị khuất phục trước tác động tiêu cực của môi trường.
Ảnh hưởng của môi trường hoạt động, sự tác động của các quan hệ tiêu
cực từ môi trường phức tạp của hoạt động điều tra... sẽ làm xuất hiện ở điều
tra viên các nét tâm lý tiêu cực, không phù hợp như: thiếu ý thức rèn luyện
phấn đấu vươn lên; lối sống không lành mạnh; tính tham lam, ích kỷ... dẫn
đến sự thiếu khách quan, thiếu công tâm trong điều tra vụ án...
Môi trường hoạt động điều tra phức tạp, đan xen tốt, xấu... cũng là nhân
tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành, phát triển các đặc trưng tâm lý ở
điều tra viên. Điều tra viên phải xác định tư tưởng, không ngừng rèn luyện
nâng cao bản lĩnh chính trị, có lập trường tư tưởng vững vàng, có các phẩm
chất đạo đức, lối sống trong sáng. Trong hoạt động điều tra, các phẩm chất
nghề nghiệp như: sự nhanh nhạy, xử lý linh hoạt, kịp thời trong các tình
huống điều tra, tác phong khách quan, thận trọng... cũng được hình thành,
phát triển. Đặc biệt là, năng lực tổ chức thực hiện điều tra, các kỹ năng, kỹ
xảo hoạt động điều tra cụ thể thích ứng đối với từng loại đối tượng sẽ được
hình thành đáp ứng yêu cầu của quá trình điều tra vụ án.
86
Cuộc đấu tranh chống tội phạm của lực lượng An ninh trong tình hình
mới, nhất là đối với các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia ngày càng trở
lên phức tạp. Trong điều kiện công tác có nhiều khó khăn, môi trường hoạt
động phức tạp, phải chịu nhiều tác động, tấn công mua chuộc, sự đe doạ, gây
sức ép của các thế lực thù địch và các đối tượng phạm tội, đòi hỏi mỗi điều
tra viên phải có bản lĩnh vững vàng, có quyết tâm cao, có ý thức phấn đấu
và có tinh thần cảnh giác cao độ.
Tính chất phức tạp của hoạt động điều tra; nhiệm vụ, chức năng, trách
nhiệm của Điều tra viên; thái độ thù địch, thách đố, sự ngoan cố, lỳ lợm, các
quan điểm chống đối, các thủ đoạn đối phó, trốn tránh pháp luật của đối
tượng... là những yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự hình thành các đặc điểm
tâm lý đặc trưng ở điều tra viên. Điều tra viên sẽ có những đặc điểm thể hiện
bản chất của người cán bộ điều tra như: trung thực, liêm khiết, khách quan,
công tâm; có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng; có trình độ năng lực nghiệp vụ
cần thiết... Bên cạnh đó, chính các yếu tố trên đây cũng ảnh hưởng làm xuất
hiện ở điều tra viên nhiều nét tâm lý tiêu cực, không phù hợp với đạo đức
nghề nghiệp điều tra. Trong hoạt động điều tra, do các hành vi phạm tội, ý
thức chống đối, sự ngoan cố, các thủ đoạn xảo quyệt trốn tránh pháp luật, thái
độ xấc láo, thách đố hay do các đặc điểm xấu trong nhân cách của đối tượng...
nên có thể gây ra ở điều tra viên xu hướng nhận thức, đánh giá và chứng minh
tội phạm theo các định kiến, ấn tượng chủ quan ban đầu. Tâm lý tiêu cực này
thường không có lợi, nhất là trong việc xây dựng và thiết lập mối quan hệ tâm
lý tích cực giữa điều tra viên với các đối tượng điều tra. Do có ấn tượng, định
kiến xấu về đối tượng điều tra, điều tra viên dễ có khuynh hướng áp đặt, truy
chụp, không tích cực hướng dẫn nhận thức cho đối tượng, dễ bỏ qua cơ hội sử
dụng các phương pháp tác động tích cực. Điều tra viên cũng dễ có thái độ coi
thường, khinh bỉ, đánh giá thấp các giá trị của đối tượng điều tra.
Cũng do tính chất căng thẳng, phức tạp của hoạt động điều tra mà điều
tra viên dễ rơi vào các trạng thái tâm lý căng thẳng, có sự bão hoà các phản
87
ứng trí tuệ và cảm xúc trong quá trình điều tra vụ án. Sự căng thẳng còn là
hậu quả trực tiếp của việc huy động sự nỗ lực ý chí lớn, với tinh thần trách
nhiệm cao trong quá trình thực hiện nhiều hoạt động tố tụng khác nhau của
điều tra viên; do phải xử lý nhiều kênh thông tin trái ngược về sự việc phạm
tội, về đối tượng điều tra; do những tác động tiêu cực từ phía các đối tượng
như: thái độ lì lợm, khiêu khích hay thách đố của bị can; sự thờ ơ, né tránh, vô
trách nhiệm của người làm chứng...
Khi cảm xúc bị bão hoà, tất yếu sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt
động nhận thức ở điều tra viên. Bão hoà cảm xúc làm nảy sinh những thiếu
sót chủ quan ở điều tra viên trong quá trình tìm kiếm và xác lập sự thật về vụ
án. Điều tra viên dễ có tâm lý vội vàng, thái độ nôn nóng, dẫn tới dồn ép hay
có những biểu hiện thô bạo với đối tượng điều tra, làm nảy sinh các xung đột
không đáng có giữa điều tra viên với đối tượng điều tra.
2.4.2.2. Yếu tố giáo dục của điều tra viên
Giáo dục là yếu tố đóng vai trò chủ đạo đối với quá trình hình thành và
phát triển trí tuệ cảm xúc của con người chung, điều tra viên ở Cục An ninh
điều tra nói riêng. Nếu sự giáo dục đúng hướng, sâu sắc về cảm xúc, tạo điều
kiện để trải nghiệm cuộc sống thì những biểu hiện của trí tuệ cảm xúc sẽ có
cơ hội phát triển cao.
Yếu tố giáo dục ở đây được phân tích dựa trên các tác động giáo dục có
chủ đích trong đó tập trung nhiều vào cách thức, biện pháp giáo dục và quan
hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục. Ở trường học, tác động của
giáo viên đến cá nhân mang một ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển trí tuệ
cảm xúc. Chính cách thức và các biện pháp tổ chức của người giáo viên sẽ tạo
ra những cơ hội đích thực khơi gợi các phẩm chất trí tuệ cảm xúc để rồi từ đó,
trí tuệ cảm xúc của cá nhân có sự biến đổi thực sự về chất.
Trong gia đình, quan hệ và sự tác động của cha mẹ với cá nhân cũng
có vai trò đặc biệt quan trọng. Chính cung cách đối xử vừa phải, hợp lý và sự
đầu tư toàn diện cũng như quan hệ thân thiện, thoải mái sẽ góp phần giúp cho
88
các phẩm chất trí tuệ được hình thành và phát triển. Đặc biệt hơn, với sự phát
triển trí tuệ cảm xúc thì đây là một yếu tố có sức ảnh hưởng đặc biệt quan
trọng. Nếu sự giáo dục sâu sắc về cảm xúc, tạo điều kiện để trải nghiệm cuộc
sống thì những biểu hiện của trí tuệ cảm xúc sẽ có cơ hội phát triển cao. Giáo
dục là con đường hữu hiệu để hình thành những trí tuệ cảm xúc.
Điều tra viên xử lý tình huống thành công có thể đã được thụ hưởng sự
giáo dục trước đó. Có thể là sự giáo dục tự phát theo kiểu thích nghi hoặc do
giáo dục gia đình. Hoặc cũng có thể do được đào tạo chính qui. Hoặc do tự
rèn luyện. Con đường giáo dục là con đường hiệu quả nhất trong việc hình
thành trí tuệ cảm xúc nhưng đáng tiếc là cho đến ngày nay vẫn còn rất ít nơi
có một chương trình huấn luyện trí tuệ cảm xúc một cách bài bản. Thách thức
này cần được quan tâm và giải quyết trong thực tiễn hôm nay.
2.4.2.3 Hoạt động và giao tiếp trong thực tiễn hoạt động điều tra của
điều tra viên
Con người có khả năng thích ứng cao. Vì thế khi được tham gia vào
những hoạt động nghề nghiệp một cách thường xuyên, họ sẽ có những năng lực
cảm xúc trong lĩnh vực ấy. Tuy nhiên khả năng ấy có được gọi là trí tuệ cảm xúc
hay không lại tuỳ thuộc vào vấn đề giáo dục cũng như tự ý thức của cá nhân.
Đối với điều tra viên có thể đề cập đến những trải nghiệm, những kinh
nghiệm sống sẽ góp phần phát triển trí tuệ cảm xúc cho bản thân họ. Theo Lim và
Daft (2004): nhiều kỹ năng và phẩm chất vốn có của lãnh đạo là điều không thể
hoàn toàn học hỏi từ sách vở, mà nó được xây dựng từ những kinh nghiệm và sự
thực hành thường xuyên [Dẫn theo 14, tr.56]. Chính vì vậy, cá nhân có tuổi đời
cao thì trí tuệ cảm xúc của họ cũng có xu hướng cao hơn so với cá nhân trẻ tuổi.
Thêm vào đó, mỗi nghề nghiệp lại có những đặc trưng, những yêu
cầu riêng về công việc. Những yếu tố đặc trưng của nghề nghiệp cũng chi
phối đến sự phát triển của trí tuệ cảm xúc. Những yêu cầu về phẩm chất
trong công việc, bầu không khí làm việc, môi trường làm việc và các mối quan
hệ trong công việc. Đây đều là những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ
89
cảm xúc của mỗi cá nhân. Điều tra viên đảm nhận vai trò công việc với tâm thế
khác với những người chịu trách nhiệm công việc với tâm thế khác mà không
phải điều tra viên. Họ thường có các biểu lộ cảm xúc thoải mái hơn những điều
tra viên đang phải chịu trách nhiệm chính trong từng tình huống. Chính vị thế
này cũng ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của họ trong công việc.
Bên cạnh các yếu tố trên, không thể bỏ qua tính tích cực hoạt động của
cá nhân là yếu tố quyết định trực tiếp sự phát triển trí tuệ cảm xúc của cá nhân
đó. Những tiềm năng trí tuệ của cá nhân có được phát huy hay không là tuỳ
thuộc vào tính chất hoạt động của cá nhân đó. Trí tuệ cảm xúc cao hay thấp
chịu ảnh hưởng của hoạt động và giao lưu của cá nhân với môi trường xã hội.
Chính sự tích cực của cá nhân tham gia vào các mối quan hệ xã hội khác
nhau, tích cực học tập, tích cực nhận thức, chiêm nghiệm cuộc sống để rèn
luyện trí tuệ cảm xúc là điều quan trọng. Hoạt động cá nhân và tính chủ thể
đóng vai trò quyết định trực tiếp đối với sự phát triển trí tuệ nói chung và trí
tuệ cảm xúc nói riêng. Trong luận án này, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh
hưởng đến thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra
thuộc Bộ Công an được thực hiện tập trung vào các yếu tố cơ bản và mang
tính cụ thể. Đặc biệt là phân tích ảnh hưởng của công việc, các mối quan hệ,
thói quen trong hoạt động cá nhân điều tra viên.
2.4.2.4. Đối tượng tiếp xúc điều tra của điều tra viên
Đối tượng tiếp xúc, đấu tranh của điều tra viên trong hoạt động điều
tra rất phong phú, đa dạng. Đó là những người thuộc các các tầng lớp, địa vị,
lứa tuổi, dân tộc, tôn giáo... khác nhau. Theo quy định của pháp luật, đây là
những người có liên quan đến vụ án hay những người tham gia hoạt động điều
tra, bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, người làm chứng, người bị hại, người
nhận dạng, người tham gia đối chất... Do vị trí tố tụng của mỗi người khác
nhau nên tâm lý của họ thường không giống nhau. Tuy nhiên, tất cả đều có tác
động ảnh hưởng đến điều tra viên, đặc biệt là những đối tượng điều tra. Khác
với khi còn đang tiến hành các hoạt động phạm tội ở bên ngoài, những đối
tượng này đã bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, đã bị khởi tố hình sự.
90
Trong quá trình điều tra vụ án, nhất là các vụ án đặc biệt nghiêm trọng,
các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, người cán bộ điều tra phải tiếp xúc và
trực diện đấu tranh với các đối tượng rất nguy hiểm, xảo quyệt. Đó là những
tên trùm buôn lậu, chỉ huy các tổ chức tội phạm, những đối tượng tham
nhũng... Do bản chất tham lam, hám lợi, lại có nhiều thủ đoạn trốn tránh pháp
luật, mua chuộc, tác động thậm chí dựa thế, cậy quyền... các đối tượng này
thường ngoan cố, có nhiều thủ đoạn tác động, gây sức ép với điều tra viên
trong quá trình điều tra. Đối tượng điều tra trong các vụ án xâm phạm an ninh
quốc gia là những tên cầm đầu các đảng phái phản động, các lực lượng chính
trị đối lập, kể cả lưu vong ở nước ngoài. Những tên nguỵ quân, nguỵ quyền cũ
có quá trình cộng tác làm tay sai cho địch. Những người đã từng làm gián
điệp cho các thế lực thù địch trước đây. Các phần tử “cơ hội chính trị”, có
khuynh hướng tư tưởng xã hội dân chủ, có quan điểm, tư tưởng đối lập
với Đảng. Những người vốn là cán bộ, đảng viên, văn nghệ sĩ, trí thức từ
bất mãn vì lợi ích cá nhân dẫn đến hoạt động chống đối Nhà nước, chống
đối chế độ. Những đối tượng phản động lợi dụng tôn giáo, nhất là những
người có chức sắc trong các tôn giáo. Những đối tượng phản động trong
các dân tộc thiểu số... Đặc điểm nổi bật ở những đối tượng trên đây là có
quan điểm, tư tưởng thù địch sâu sắc với cách mạng, có ý thức thâm thù
giai cấp. Nhiều người trong số họ được đào tạo cơ bản, có trình độ lý luận
cao, thậm chí đã từng giữ các chức vụ cao trong Đảng hay trong các cơ
quan của Nhà nước. Hoạt động chống đối của các đối tượng này có hệ
thống, có bản lĩnh, rất quyết liệt và thường được sự tiếp tay, hậu thuẫn
của các cá nhân, tổ chức hay các thế lực thù địch bên ngoài. Trong quá
trình hoạt động và cả khi đã bị bắt, những đối tượng này thường chứng tỏ
"bản lĩnh" của mình, rất ngoan cố, có nhiều kinh nghiệm và thủ đoạn trốn
tránh sự phát hiện, điều tra, xử lý của ta... Nhiều đối tượng trong số họ
luôn tìm cách tác động trở lại đối với điều tra viên như: phản ứng gay gắt,
thách đố, tranh luận, coi thường, hoặc tìm cách tác động, mua chuộc...
91
Khi còn hoạt động ở bên ngoài, các đối tượng xâm phạm an ninh quốc
gia luôn tìm cách lợi dụng tình hình bên quốc tế và trong nước có lợi cho
chúng để đẩy mạnh và mở rộng các hoạt động chống đối cách mạng nhằm đi
đến xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các hoạt động này thường
được gắn liền với vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”; hoặc tìm cách tác động
vào những vấn đề chính trị, xã hội nhạy cảm để đổi trắng thay đen, trốn tránh
pháp luật, tác động can thiệp gây khó khăn cho hoạt động điều tra, xử lý của
ta. Khi bị bắt, bị tạm giam để điều tra, xử lý thì chống đối quyết liệt, tỏ rõ thái
độ thù địch hay ngoan cố, lỳ lợm không chịu khai báo. Bằng các thủ đoạn đối
phó tinh vi hòng che giấu hành động phạm tội, trốn tránh pháp luật, tìm mọi
cách để được can thiệp, thả ra... các đối tượng luôn gây khó khăn cho công tác
điều tra, xử lý của ta. Trong điều kiện như vậy, hoạt động điều tra, khám phá
vụ án của cơ quan an ninh điều tra là hết sức phức tạp, gặp nhiều khó khăn.
Đặc điểm trên đây cũng cho thấy tính chất gay gắt, quyết liệt của công tác
phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm bảo vệ an ninh quốc gia trong tình
hình hiện nay. Nó cũng đòi hỏi mỗi điều tra viên trong lực lượng An ninh
nhân dân phải không ngừng học tập nâng cao trình độ mọi mặt, rèn luyện bản
lĩnh vững vàng trong tiếp xúc và đấu tranh với đối tượng mới có thể đáp ứng
được yêu cầu, nhiệm vụ của hoạt động điều tra. Đồng thời điều tra viên phải
có trí tuệ cảm xúc tích cực mới đem lại hiệu quả cho công việc.
Như vậy, trí tuệ cảm xúc chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của rất nhiều yếu tố
khác nhau, trong đó được chia làm hai nhóm yếu tố: nhóm các yếu tố chủ
quan và nhóm các yếu tố khách quan. Mỗi yếu tố có những ảnh hưởng nhất
định đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ
Công an đòi hỏi họ biết phát huy vai trò các yếu tố trong những mặt tích cực
và hạn chế những mặt tiêu cực của các yếu tố đó.
92
Kết luận chương 2
Dựa trên kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học ở Việt Nam và trên
thế giới; kết hợp với ý kiến nhận định của các chuyên gia; những văn bản
pháp quy của Bộ Công an về điều tra viên và hoạt động điều tra, trong lý luận
về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
đã xây dựng và phân tích làm rõ các khái niệm như: trí tuệ, cảm xúc, trí tuệ cảm
xúc và đưa ra quan niệm cho rằng: Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên là một
dạng năng lực tổng hợp gồm năng lực nhận biết, hiểu rõ cảm xúc của bản thân,
của những người có liên quan đến hoạt động điều tra; năng lực vận dụng cảm
xúc vào suy nghĩ, điều khiển cảm xúc của bản thân và những người có liên quan
nhằm đạt được hiệu quả cao trong công việc.
Căn cứ nhiệm vụ, chức trách cũng như đặc điểm hoạt động điều tra của
điều tra viên ở cục ANĐT, cùng hệ thống phương pháp nghiên cứu của Tâm
lý học. Luận án chỉ ra biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của điều tra viên bao gồm
4 mặt biểu hiện gồm: (1) Năng lực nhận biết cảm xúc - khả năng phát hiện
giải mã các cảm xúc trên gương mặt, tranh ảnh, giọng nói; (2) Năng lực thấu
hiểu cảm xúc - khả năng thấu hiểu, hiểu rõ các mối quan hệ phức tạp giữa các
cảm xúc và khả năng nhận biết và mô tả các cảm xúc thay đổi theo thời gian;
Năng lực vận dụng cảm xúc; Năng lực điều khiển cảm xúc của bản thân và
của người khác. Đây cũng là các tiêu chí để đánh giá thực trạng trí tuệ cảm
xúc của điều tra viên ở luận án.
Tiếp cận trí tuệ cảm xúc của điều tra viên là tổng hợp các năng lực thành
phần, được hình thành và phát triển trong thực tiễn hoạt động điều tra của điều
tra viên sẽ chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Trong phạm vị nghiên
cứu của luận án đã xác định và làm rõ 3 yếu tố chủ quan và 4 yếu tố khách quan
có ảnh hưởng mạnh nhất đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên hiện nay.
93
Chương 3
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Tổ chức nghiên cứu
3.1.1. Đơn vị nghiên cứu Luận án được nghiên cứu, khảo sát ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ
Công an được chia ra thành 2 cơ sở tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Thời gian qua, lực lượng ANĐT luôn nhận được sự quan tâm của Đảng
và Nhà nước về việc kiện toàn bộ máy từ cấp Bộ đến công an các đơn vị, địa
phương. Cơ cấu tổ chức của cơ quan ANĐT từ năm 2004 đến năm 2018
tương đối ổn định, thể hiện tính khoa học, đúng đắn trong tổ chức và hoạt
động của lực lượng ANĐT, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của lực lượng
An ninh. Hiện nay, căn cứ quy định của Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự
và Nghị định 01/2018/NĐ-CP ngày 06/8/2018 của Chính phủ quy định về
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Quyết
định số 9072/QĐ-BCA ngày 26/10/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định
về tổ chức bộ máy của Cục ANĐT; Thông tư số 113/2020/TT-BCA, ngày
26/10/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và tổ chức bộ máy của Cục ANĐT; Quyết định số 2405/QĐ-BCA, ngày
09/4/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và tổ chức bộ máy của phòng ANĐT thuộc Công an tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương thì cơ cấu tổ chức cơ quan ANĐT có một số thay
đổi. Tuy nhiên, cơ quan ANĐT vẫn được bố trí ở 2 cấp: cấp Bộ và cấp tỉnh.
Ở cấp Bộ có Cục ANĐT, số hiệu A09, trực thuộc Bộ trưởng Bộ Công
an. Cơ cấu tổ chức gồm có: Văn phòng cơ quan ANĐT, Phòng tham mưu;
Phòng chính trị, hậu cần; Phòng hướng dẫn điều tra; Phòng điều tra các tội
phạm xâm phạm an ninh quốc gia; Phòng điều tra tổng hợp tại Thành phố Hồ
Chí Minh; Phòng điều tra các tội phạm khác và 02 Trại tạm giam (B14, B34)
phục vụ công tác điều tra. Thủ trưởng cơ quan ANĐT Bộ Công an là 01 đồng
chí Thứ trưởng, phó thủ trưởng thường trực cơ quan ANĐT Bộ Công an là
đồng chí cục trưởng Cục ANĐT; phó Thủ trưởng cơ quan ANĐT là các đồng
chí phó Cục trưởng Cục ANĐT.
94
Ở cấp tỉnh có các phòng ANĐT, số hiệu PA09 thuộc Công an tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương. Cơ cấu tổ chức gồm có: Đội hướng dẫn, kiểm tra việc
thi hành pháp luật và giải quyết đơn, thư khiếu tố; Đội điều tra Công an thành phố
Hà Nội, Công an thành phố Hồ Chí Minh có thể thành lập 02 Đội điều tra. Thủ
trưởng cơ quan ANĐT cấp tỉnh là đồng chí phó Giám đốc Công an cấp tỉnh phụ
trách công tác an ninh; phó Thủ trưởng thường trực là đồng chí trưởng phòng
ANĐT; các phó thủ trưởng là các đồng chí phó trưởng phòng An ninh điều tra.
Số lượng điều tra viên ở cơ quan ANĐT Bộ Công an có 255 điều tra viên
(điều tra viên cao cấp là 122 đồng chí, chiếm tỷ lệ 47.8%; điều tra viên trung cấp là
58 đồng chí, chiếm tỷ lệ 22.7%; điều tra viên sơ cấp là 75 người, chiếm tỷ lệ 29.4%),
Cán bộ điều tra là 46 đồng chí; về trình độ học vấn: trình độ tiến sĩ: 27 đồng chí; trình
độ thạc sĩ: 73 đồng chí; trình độ đại học: 155 đồng chí. Ở Công an cấp tỉnh có 576
điều tra viên (điều tra viên cao cấp là 105 đồng chí, chiếm tỷ lệ 18,2%; điều tra viên
trung cấp là 224 đồng chí, chiếm tỷ lệ 38,9%; điều tra viên sơ cấp là 227 đồng chí,
chiếm tỷ lệ 39,4%; có 390 cán bộ làm công tác điều tra nhưng chưa được bổ nhiệm
điều tra viên. Số cán bộ, chiến sĩ tuyển dụng từ đại học ngành ngoài (ngành luật, tài
chính, ngân hàng, ngoại thương) là 96 đồng chí (chiếm tỉ lệ 8,6%).
Qua số liệu trên cho thấy số lượng điều tra viên cao cấp, điều tra viên
trung cấp của cơ quan ANĐT chiếm tỉ lệ lớn, số lượng điều tra viên sơ cấp
cần được đào tạo, bồi dưỡng để phát triển. Các điều tra viên cao cấp hầu hết
đều có thời gian công tác lâu năm, có nhiều kinh nghiệm trong công tác điều
tra hình sự thường được giao thụ lý chính trong các vụ án. Phân tích số liệu
cũng cho thấy cán bộ điều tra được đào tạo từ các trường Công an nhân dân
phần lớn am hiểu pháp luật, nghiệp vụ điều tra, có năng lực chuyên môn, có
bản lĩnh vững vàng và khả năng nhanh nhạy, sắc bén trong hoạt động điều tra,
có khả năng chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện các ý kiến chỉ đạo trong
quá trình tiến hành các hoạt động điều tra nhưng kiến thức về kinh tế (đặc biệt
là kiến thức về tài chính, ngân hàng) còn hạn chế. Số cán bộ điều tra được
95
tuyển dụng từ ngành ngoài có trình độ nghiệp vụ về tài chính, ngân hàng,
pháp luật nhưng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ Công an chưa nắm vững,
kinh nghiệm trong công tác phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài chính,
ngân hàng còn lúng túng dẫn đến hiệu quả công tác nghiệp vụ chưa cao.
3.1.2. Khách thể nghiên cứu
Gồm 310 người: 255 điều tra viên và 55 lãnh đạo các phòng và lãnh
đạo Cục An ninh điều tra - Bộ Công an trong phạm vi nghiên cứu của luận án.
Phân bổ các nhóm khách thể được thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 3.1. Phân bố khách thể nghiên cứu
TT Các nhóm khách thể
Các biến độc lập
Tỉ lệ %
1 Nhóm khách thể
Điều tra viên
Số lượng 255
82,25
Lãnh đạo các phòng
52
16,77
Lãnh đạo Cục ANĐT
3
0,97
3.1.3. Nội dung nghiên cứu Nghiên cứu những vấn đề lý luận về trí tuệ cảm xúc nói chung và trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an nói riêng dưới góc độ tâm lý học.
Khảo sát, đánh giá thực trạng trí tuệ cảm xúc và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên, tiến hành phân tích chân dung về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra - Bộ Công an.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển trí tuệ
cảm xúc cho điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
3.1.4. Các giai đoạn nghiên cứu Luận án được tổ chức nghiên cứu theo ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu trí tuệ
cảm xúc và hoạt động nghiệp vụ của điều tra viên Cục An ninh điều tra.
Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực trạng, đặc điểm của trí tuệ cảm xúc và
hoạt động nghiệp vụ của điều tra viên Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
cũng như mối quan hệ của chúng.
96
Giai đoạn 3: Tiến hành phân tích chân dung tâm lý điển hình; đề xuất
các biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra
thuộc Bộ Công an cũng như cải thiện chất lượng hoạt động nghiệp vụ của họ.
Các giai đoạn nghiên cứu trên đây về cơ bản diễn ra kế tiếp nhau,
nhưng có lúc chúng lồng ghép vào nhau. Theo mục đích và nhiệm vụ của
mình, mỗi giai đoạn nghiên cứu sử dụng những phương pháp, kỹ thuật đặc
thù, nhưng cũng có khi chỉ một vài phương pháp cụ thể nào đó được sử dụng
trong hai hoặc cả ba giai đoạn nghiên cứu. Chương này trình bày lần lượt
từng giai đoạn nghiên cứu mà luận án đã thực hiện với những phương pháp,
kỹ thuật nghiên cứu tương ứng đã được sử dụng.
3.1.4.1. Giai đoạn 1: Xây dựng cơ sở luận án và phương pháp nghiên cứu
Giai đoạn 1 được thực hiện trong suốt quá trình giải quyết những vấn
đề của luận án, nhưng tập trung nhất được tiến hành vào khoảng thời gian từ
tháng 12/2017 đến tháng 5/2018.
* Mục đích nghiên cứu của giai đoạn 1
Mục đích của giai đoạn nghiên cứu đầu tiên này nhằm xây dựng cơ sở
lý luận và phương pháp luận cho toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận án:
Xác định mô hình lý thuyết EI97 và công cụ đo lường MSCEIT.
Tổng hợp lý luận về hoạt động điều tra của điều tra viên (quan niệm,
cấu thành, cách thức đánh giá).
Lựa chọn và soạn thảo công cụ đo lường mới phục vụ việc đánh giá,
nắm bắt sự biểu hiện và đặc điểm của trí tuệ cảm xúc cũng như chất lượng
hoạt động điều tra của điều tra viên.
Kết quả nghiên cứu của giai đoạn này là cơ sở lý luận và thực tiễn cho
việc tổ chức điều tra thực trạng về trí tuệ cảm xúc và chất lượng của hoạt động
điều tra của điều tra viên và mối quan hệ giữa chúng, tổ chức thực nghiệm tâm
lý - xã hội làm tăng cao trí tuệ cảm xúc và cải thiện chất lượng hoạt động điều
tra của họ: đưa ra giả thuyết điều tra; chuẩn bị câu hỏi trắc nghiệm, soạn thảo
các bài tập tình huống điều tra; lựa chọn và xây dựng hệ thống biện pháp, con
đường tác động tâm lý; đánh giá, phân tích và trình bày kết quả.
97
* Nội dung nghiên cứu của giai đoạn 1
Nội dung nghiên cứu của giai đoạn này bao gồm:
Thứ nhất, hệ thống hoá những vấn đề lý luận về trí tuệ cảm xúc của tâm
lý học thế giới và Việt Nam cho đến nay. Làm rõ ba khuynh hướng nghiên
cứu trí tuệ cảm xúc hiện nay: nghiên cứu lý thuyết hàn lâm về trí tuệ cảm xúc
(mô hình lý thuyết, phương pháp đo lường, chức năng và vai trò hành động
của trí tuệ cảm xúc); nghiên cứu phổ biến những thành tựu lý thuyết về trí tuệ
cảm xúc cho quảng đại quần chúng; nghiên cứu ứng dụng tri thức lý thuyết về
trí tuệ cảm xúc vào cuộc sống, lao động sản xuất, tổ chức - quản lý xã hội,
giáo dục - đào tạo và phát triển chất lượng con người nói chung.
Thứ hai, phân tích những vấn đề lý luận cũng như những yêu cầu thực
tiễn hiện nay về hoạt động nghiệp vụ của điều tra viên dưới lý thuyết trí tuệ
cảm xúc, với tư cách là một loại trí tuệ người; khẳng định lại rằng, luận án
được nghiên cứu theo khuynh hướng ứng dụng mô hình lý thuyết EI97 của
J.Mayer và P.Salovey vào công tác nghiệp vụ, phát triển năng lực điều tra viên.
Điều tra viên là những người thực hiện công việc điều tra, có trách nhiệm đối
với kết luận điều tra cũng như chịu trách nhiệm với việc định tội một cá nhân
nào đó. Vì vậy, muốn đo lường, đánh giá trí tuệ cảm xúc của điều tra viên cần
phải thông qua chất lượng hoạt động nghiệp vụ của điều tra viên.
Thứ ba, hình thành nguyên tắc cơ bản chung cho việc lựa chọn trắc
nghiệm, soạn thảo mới các bài tập đo nghiệm, phiếu điều tra, biên bản quan
sát cũng như hệ thống tiêu chí và thang đo đánh giá cho từng loại hiện tượng
được quan tâm trong các giai đoạn nghiên cứu khác nhau.
Thứ tư, xây dựng biện pháp và con đường tác động tâm lý cũng như
các bài tập trắc nghiệm cụ thể nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra
viên và nâng cao chất lượng hoạt động nghiệp vụ của họ.
Thứ năm, thử nghiệm những bộ công cụ chính trên 50 điều tra viên nhằm
đánh giá, chính xác hoá bộ phương pháp đo lường chính của luận án. Đồng thời
việc thử nghiệm công cụ này cũng giúp hình thành cái nhìn đầu tiên về đối tượng
nghiên cứu, từ đó làm cơ sở cho việc nêu giả thuyết, chọn nghiệm thể để đi sâu
phân tích chân dung tâm lý điển hình.
98
* Phương pháp nghiên cứu và công cụ đo lường được sử dụng trong
giai đoạn 1
Các phương pháp nghiên cứu ở giai đoạn 1
Phương pháp nghiên cứu văn bản nhằm tổng hợp, hệ thống hoá
những tri thức lý thuyết và thực tiễn về trí tuệ cảm xúc, về lý luận hoạt
động điều tra của điều tra viên, những yêu cầu hiện nay của Bộ Công an
cũng như sự phát triển kinh tế xã hội đối với hoạt động điều tra dưới góc
nhìn của lý thuyết trí tuệ cảm xúc.
Phương pháp chuyên gia được sử dụng để thu nhận những thông tin bổ
trợ cho việc lựa chọn phương pháp, kỹ thuật đánh giá, đo lường những hiện
tượng tâm lý đang được nghiên cứu và các biện pháp, con đường tác động
thực nghiệm cũng như các bài tập thực nghiệm cụ thể.
Phương pháp trắc nghiệm nhằm thử nghiệm các bộ trắc nghiệm, bài tập
đo nghiệm trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.
Phương pháp thống kê toán học phục vụ xử lý các số liệu thống kê từ
các thử nghiệm sử dụng các bộ trắc nghiệm trên lượng nhỏ các nghiệm thể.
Các công cụ đo lường chính được sử dụng và soạn thảo giai đoạn 1
Bộ test trí tuệ cảm xúc MSCEIT của J.Mayer, P.Salovey và D.Causo.
Phiếu đánh giá nhóm về chất lượng hoạt động điều tra của điều tra viên.
Biên bản quan sát hoạt động điều tra của điều tra viên tại một phòng
của Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
Bản thống kê kết quả hoạt động điều tra của điều tra viên.
Các công cụ đo lường, đánh giá trên đây sẽ được trình bày đầy đủ, chi
tiết trong mục 3.2 về các phương pháp nghiên cứu của luận án.
3.1.4.2. Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực trạng trí tuệ cảm xúc và trí tuệ
cảm xúc của điều tra viên trong hoạt động điều tra
Giai đoạn này được tiến hành vào khoảng thời gian từ tháng 6/2021 đến
tháng 9/2021 trên 255 điều tra viên thuộc Cục An ninh điều tra, rồi thu gọn lại
ở 2 điều tra viên thuộc 2 phòng của Cục An ninh điều tra, với tư cách là 2
trường hợp để nghiên cứu, phân tích chân dung tâm lý điển hình.
99
* Mục đích nghiên cứu của giai đoạn 2
Xác định thực trạng mức độ trí tuệ cảm xúc với những đặc điểm, sự biểu hiện của chúng và mức độ chất lượng hoạt động điều tra trên 1điều tra
viên tham gia nghiên cứu cũng như mối quan hệ giữa trí tuệ cảm xúc với chất lượng hoạt động điều tra của họ. Trên cơ sở đó, thiết lập các nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng phục vụ cho việc nghiên cứu thực nghiệm tác động tâm lý nâng cao trí tuệ cảm xúc và cải thiện chất lượng hoạt động điều
tra của các nghiệm thể nhóm thực nghiệm.
* Nội dung nghiên cứu của giai đoạn 2
Một là, chọn nghiệm thể nghiên cứu thực trạng là 310 người thuộc Cục
An ninh điều tra (điều tra viên 255; Lãnh đạo phòng 52; Lãnh đạo cục 03) .
Hai là, đo lường mức độ trí tuệ cảm xúc và chất lượng hoạt động điều tra của toàn mẫu nghiên cứu; đo lường mở rộng và khơi sâu hơn những khía
cạnh khác nhau của trí tuệ cảm xúc và hoạt động điều tra của 255 điều tra viên thuộc mẫu nói trên.
Ba là, nghiên cứu những đặc điểm trí tuệ cảm xúc và biểu hiện của nó
trong hoạt động điều tra của điều tra viên.
Bốn là, nghiên cứu mối quan hệ giữa mức độ trí tuệ cảm xúc và chất
lượng hoạt động điều tra của điều tra viên.
Năm là, xác định những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ trí tuệ cảm xúc
của các điều tra viên được nghiên cứu.
Sáu là, phân tách số điều tra viên được nghiên cứu sâu thực trạng thành
hai nhóm: nhóm có chỉ số trí tuệ cảm xúc trí tuệ cao và có chỉ số trí tuệ cảm xúc thấp, trên cơ sở các số liệu đo lường về EI, chất lượng hoạt động điều tra
và các số liệu về các thuộc tính có liên quan.
* Phương pháp và công cụ đo lường tâm lý được sử dụng ở giai đoạn 2 Những công cụ đo lường ở giai đoạn 2 Bộ test đo lường trí tuệ cảm xúc MSCEIT
Phiếu điều tra mức độ biểu hiện năng lực EI trong hoạt động điều tra của
điều tra viên qua đánh giá của điều tra viên, đồng nghiệp cùng khối chuyên môn
và lãnh đạo quản lý trên 4 mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc:
100
- Năng lực nhận biết cảm xúc
- Năng lực thấu hiểu cảm xúc
- Năng lực vận dụng cảm xúc
- Năng lực điều khiển cảm xúc
Phiếu điều tra một số yếu tố ảnh hưởng khác tới EI của điều tra viên.
Phiếu đánh giá về một số biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra
viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
Bảng đánh giá nhóm (cán bộ quản lý, đồng nghiệp cùng ngành) và chất
lượng hoạt động điều tra của điều tra viên.
Bảng đánh giá nhóm (cán bộ quản lý, đồng nghiệp cùng ngành) về hoạt
động điều tra viên của điều tra viên.
Bản thống kê kết quả Danh mục thi đua đã đạt được trong hoạt động điều
tra của điều tra viên.
Biên bản quan sát về hoạt động điều tra của điều tra viên.
Biên bản phỏng vấn sâu đối với lãnh đạo quản lý về một số biểu hiện về
trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.
Những phương pháp nghiên cứu ở giai đoạn 2
Phương pháp trắc nghiệm tâm lý nhằm đo lường khách quan, chính xác
về mức độ EI của điều tra viên.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi nhằm thu thập thông tin để xác định
những biểu hiện của các năng lực EI trong hoạt động điều tra của điều tra viên
và một loạt các yếu tố ảnh hưởng tới EI của họ.
Phương pháp điều tra thực tế nhằm thống kê sự đánh giá của lãnh đạo Cục
về hoạt động điều tra của điều tra viên.
Phương pháp đánh giá nhóm nhằm thu thập thông tin đánh giá của cán bộ
quản lý (lãnh đạo Cục, lãnh đạo phòng), nhóm làm việc (đồng nghiệp cùng
khối), bản thân điều tra viên về chất lượng hoạt động điều tra được nghiên cứu.
Phương pháp này còn được sử dụng để thu thập thông tin về mức độ biểu hiện trí
tuệ cảm xúc của điều tra viên qua đánh giá của lãnh đạo.
101
Phương pháp quan sát nhằm thu nhận thông tin trực tiếp về biểu hiện EI
trong hoạt động điều tra cũng như biểu hiện EI cụ thể, sinh động trong hành vi
ứng xử hàng ngày ở nơi làm việc.
Phương pháp phỏng vấn nhằm thu thập thông tin từ Cục trưởng, các
trưởng phòng, đồng nghiệp của điều tra viên để nghiên cứu về những biểu hiện
của EI và chất lượng hoạt động điều tra của điều tra viên.
Phương pháp nghiên cứu chân dung tâm lý điển hình nhằm làm rõ
hơn nữa biểu hiện, đặc điểm của EI của điều tra viên, vai trò trí tuệ này đối
với hoạt động điều tra cũng như sự ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau
đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.
Phương pháp thống kê toán học nhằm xử lý các kết quả đo lường để tìm ra quy
luật trong sự phát triển EI và mối quan hệ giữa EI với những hiện tượng tâm lý - xã hội
khác, mối quan hệ giữa EI với mức độ chất lượng hoạt động điều tra của điều tra viên
cũng như những yếu tố có liên quan đến EI để thiết lập các nhóm thực nghiệm và đối
chứng, phục vụ cho nghiên cứu thực nghiệm tác động tâm lý - xã hội của luận án.
* Kết quả và ý nghĩa của giai đoạn 2 đối với việc nghiên cứu của luận án
Những thông tin, tri thức do giai đoạn 2 xác định giúp hình thành cái nhìn
chung và cụ thể, rõ ràng về thực trạng EI và chất lượng hoạt động điều tra của
các nghiệm thể được điều tra và mối tương quan giữa chúng. Đồng thời, làm
hình thành nên ý tưởng, biện pháp phát triển EI và nâng cao chất lượng hoạt
động điều tra của điều tra viên. 255 điều tra viên đã được đo lường về nhiều mặt
tâm lý, được phân thành hai nhóm tương đồng nhau về chỉ số trí tuệ cảm xúc, kết
quả hoạt động điều tra với đối tượng. Sau đó chúng tôi chọn ra 02 điều tra viên ở
Cục An ninh điều tra; đại diện cho các mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc khác
nhau để đi sâu phân tích chân dung tâm lý điển hình.
3.1.4.3. Giai đoạn 3: Tiến hành phân tích chân dung tâm lý điển hình
và đề xuất biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên ở Cục An
ninh điều tra thuộc Bộ Công an
Lựa chọn 2 điều tra viên ở Cục An ninh điều tra; đại diện cho các mức độ
biểu hiện trí tuệ cảm xúc khác nhau để đi sâu phân tích chân dung tâm lý điển hình.
102
Việc lựa chọn này dựa trên kết quả điều tra đã có được ở trong giai đoạn
2. Mặt khác chúng tôi sẽ tiến hành phân tích chân dung tâm lý dựa trên các tiêu
chí đánh giá biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên về: nhận biết cảm xúc;
thấu hiểu cảm xúc, vận dụng cảm xúc và điểu khiển cảm xúc.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
Mục đích: Nhằm giải quyết các vấn đề lý luận về trí tuệ cảm xúc, trí tuệ
cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an trên cơ sở
tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước; xây dựng giả
thuyết khoa học và hệ thống khái niệm công cụ của luận án.
Cách thức tiến hành:
Tiến hành phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa những vấn
đề lý luận về trí tuệ cảm xúc từ các nguồn trong và ngoài nước; các văn bản
chỉ thị, nghị quyết; báo cáo sơ, tổng kết của Cục An ninh điều tra thuộc Bộ
Công an về công tác điều tra và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ điều
tra; công tác đào tạo, bồi dưỡng điều tra viên.
Khái quát các kết quả nghiên cứu trí tuệ cảm xúc, trí tuệ cảm xúc của điều tra
viên ở Cục An ninh điều tra; trình bày quan điểm cá nhân trong tiếp thu, phê phán,
hướng tiếp cận nhằm giải quyết mục đích, nội dung nghiên cứu của luận án.
Nghiên cứu, các văn bản, tài liệu liên quan đến hoạt động điều tra của điều
tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an; phân tích kết quả thực hiện
nhiệm vụ của các cá nhân và đơn vị.
Xây dựng giả thuyết khoa học, hệ thống khái niệm công cụ, xác định
các biểu hiện và mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều
tra làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn.
3.2.2. Phương pháp phỏng vấn
* Mục đích của phương pháp phỏng vấn: Luận án sử dụng phương
pháp phỏng vấn nhằm thu thập những ý kiến của lãnh đạo Cục, lãnh đạo
phòng, đồng nghiệp về một số biểu hiện trí tuệ cảm xúc và kết quả hoạt
động điều tra của điều tra viên được nghiên cứu; thu thập những ý kiến về
103
tác động ảnh hưởng của trí tuệ cảm xúc đến kết quả công việc cũng như
quá trình giao tiếp của họ để bổ sung, làm rõ thông tin định tính và định
lượng thu được từ các phương pháp nghiên cứu khác; tăng độ tin cậy, tính
trung thực của kết quả nghiên cứu.
Bên cạnh đó, phương pháp phỏng vấn sâu còn được sử dụng nhằm kiểm
định những tiêu chí đánh giá biểu hiện của trí tuệ cảm xúc trong hoạt động điều
tra của điều tra viên qua ý kiến của các điều tra viên được đánh giá là điều tra
viên đạt những thành tựu xuất sắc trong hoạt động điều tra; nhằm làm rõ hơn
những biểu hiện trí tuệ cảm xúc, vai trò của trí tuệ cảm xúc đến hoạt động điều
tra của các điều tra viên được lựa chọn nghiên cứu chân dung tâm lý điển hình.
* Khách thể phỏng vấn: 01 lãnh đạo Cục, 02 lãnh đạo phòng và 03 cán bộ của
Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an, thuộc trong phạm vi nghiên cứu của luận án.
* Nội dung phỏng vấn: Những đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của điều
tra viên, những biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên trong hoạt động điều
tra cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục
An ninh điều tra thuộc Bộ Công an hiện nay.
Với cán bộ quản lý, trao đổi về những biểu biện cụ thể trí tuệ cảm xúc
của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra trong hoạt động điều tra; các yếu tố
ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra.
Với điều tra viên, đề nghị họ chia sẻ những mặt mạnh, hạn chế về các
mặt biểu hiện trí tuệ cảm xúc trong hoạt động điều tra viên; những thuận lợi,
khó khăn trong hoạt động điều tra; trao đổi về những yếu tố ảnh hưởng đến trí
tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra.
* Cách thực thực hiện
Xây dựng kế hoạch (nội dung, đối tượng, thời gian, địa điểm...); liên hệ
với các tổ chức, cá nhân có liên quan; lựa chọn thời điểm, địa điểm và tiến hành
phỏng vấn với các đối tượng theo kế hoạch đã xác định; ghi chép biên bản quá
trình phỏng vấn.
Xây dựng hệ thống câu hỏi phỏng vấn. Chọn mẫu phỏng vấn gồm 06
điều tra viên.
104
Thực hiện phỏng vấn theo nội dung câu hỏi đã chuẩn bị trước kết hợp
với phỏng vấn sâu từng đối tượng.
Tuy nhiên, trình tự, nội dung cần phỏng vấn không bị cố định theo trình
tự đã chuẩn bị sẵn theo mẫu, mà có thể được linh hoạt, mềm dẻo tuỳ theo diễn
biến của câu chuyện, vấn đề của từng khách thể được phỏng vấn. Nội dung
chi tiết của mỗi cuộc phỏng vấn sâu có thể thay đổi tuỳ thuộc vào đối tượng
và hoàn cảnh của cuộc phỏng vấn. Kết quả phỏng vấn được ghi chép tổng hợp
theo các mặt biểu hiện trí tuệ cảm xúc và các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm
xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra, đồng thời kết hợp với các phương
pháp khác để làm rõ nội dung nghiên cứu của luận án.
3.2.3. Phương pháp trắc nghiệm
* Mục đích của phương pháp trắc nghiệm: Phương pháp trắc nghiệm
được sử dụng với tư cách là phương pháp nghiên cứu chính của luận án, nhằm
xác định mức độ EI của nghiệm thể ở các bước nghiên cứu khác nhau, làm cơ sở
cho việc so sánh, phân tích, rút ra kết luận khoa học.
* Nội dung tiến hành: Sử dụng bộ trắc nghiệm MSCEIT đã được chuẩn hoá
để làm rõ những biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên cũng như thấy được các
yếu tố có ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều
tra thuộc Bộ Công an.
MSCEIT là một bộ test đo lường EI của J.Mayer, P.Salovey, D.Caruso,
được nâng cấp từ bộ test đo EI đa nhân tố (MSEIS), soạn thảo vào năm 1999 và
hoàn thiện vào tháng 2/2000. Năm 2000, MSCEIT được các nhà tâm lý học
trong đề tài KX 05-06 lựa chọn và tiến hành Việt hoá. MSCEIT được thiết kế để
đánh giá EI theo mô hình thuần năng lực của J.Mayer và P.Salovey (xem phụ lục
2.1a). Mô hình EI97 đưa ra cấu trúc EI gồm 4 năng lực với 16 biểu hiện. Cho
đến nay, MSCEIT được sử dụng là công cụ chính ở Việt Nam để đo lường trí tuệ
cảm xúc bởi độ tin cậy cao. (Xem phụ lục 1)
Phương pháp tính chỉ số EQ
Kết quả điểm tổng EI đo bằng MSCEIT được quy đổi thành chỉ số EQ
theo công thức tính chỉ số trí tuệ của Wechsler vì:
105
- Mô hình EI97 đề xuất nghiên cứu khái niệm EI với tư cách là một loại trí
tuệ và đáp ứng được các tiêu chí để xếp nó vào cấu trúc trí tuệ. (Mayer và cộng
sự, 1997, 1999, 2000, 2001)
- Trí tuệ cảm xúc là một loại trí tuệ vì tương quan < 0.50 với trí thông
minh truyền thống: Kết quả đo lường trí tuệ cảm xúc theo EI97 được báo
cáo đều có tương quan thuận và thấp với trí tuệ nhận thức. Như theo báo cáo
của J.Mayer, EI có tương quan bằng 0 với Trí thông minh lỏng (Fluid
Intelligience) và tương quan bằng 0.36 với Trí thông minh dùng lời (Verbal
IQ) [84, tr.109]. Báo cáo của Law và những người khác (2004) cũng cho
thấy EI97 tương quan thấp với các năng lực nhận thức [88, tr.103].
Nói chung, EI có tương quan thuận nhưng thấp (<0.50) với trí tuệ nhận
thức. Điều đó nghĩa là EI là một loại trí tuệ mới, khác và độc lập với trí tuệ
nhận thức, và loại trí tuệ mới này cũng có thể được lượng hoá như cách lượng
hoá trí tuệ nhận thức.
Điểm tổng EI được quy đổi thành EQ theo công thức của Wechsler:
EQ-i = 100 + Xi - X/SD x15
Các giá trị EQ của từng nghiệm thể xác định được coi là giá trị lượng hoá
về EI của các nghiệm thể nghiên cứu và được phân loại như sau:
Phân loại EQ của điều tra viên
Mức độ Rất thấp
Trung bình Trên T.B
Cao
Rất cao
Thấp
≤70
90-109
110-119
120-129
≥130
71-89
EQ
Bảng 3.2: Bảng phân loại trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh
điều tra thuộc Bộ Công an
Phương pháp đánh giá MSCEIT
Như đã phân tích kỹ ở mục 1.6, luận án lựa chọn cách tính điểm của
MSCEIT theo tiêu chuẩn đồng ý, tức là điểm của từng item bằng tỉ lệ % của số
khách thể lựa chọn phương án đó trên tổng số khách thể tham gia nghiên cứu.
Điểm từng câu, từng tiểu test và điểm tổng là kết quả cộng điểm của tất cả item,
các câu, các tiểu test.
106
Phương pháp phân tích kết quả đo EI theo MSCEIT của luận án
MSCEIT là công cụ đo lường EI được xây dựng trên mô hình EI, vì
vậy luận án cần tiến hành phân tích MSCEIT theo mô hình EI97. Kết quả
phân tích cho thấy: (1) Số lượng câu, số lượng Item trong một tiểu test
được thiết kế không bằng nhau; (2) Tiểu test B và C được thiết kế gồm 2
nhóm tình hình khác nhau để đo 2 năng lực thành phần EI khác nhau
(Xem phụ lục 1).
Vì vậy để mô tả chính xác hơn bức tranh về thực trạng các năng lực trí tuệ
cảm xúc của điều tra viên, cũng như có cơ sở thực tiễn để thiết kế các biện pháp tác
động, luận án đề ra hai nguyên tắc phân tích kết quả đo EI bằng MSCEIT:
- So sánh điểm trung bình của từng Item của các tiểu test.
- Tiến hành so sánh 10 điểm số năng lực thành phần gồm: A,B123, B45,
C1-11, C12-20, D, E, F, G, H, trên cơ sở chia tiểu test B thành hai nội dung
B123 và B45; tiểu test C thành hai nội dung C1-11 và C12-20.
Sau đây là sơ đồ phân tích kết quả đo EI của điều tra viên theo MSCEIT:
EI
EI theo kinh nghiệm
EI có chiến lược
Nhận biết
Vận dụng
Thấu hiểu
Điều khiển cảm xúc
Khuôn
Tranh
Tạo
Cảm
Thay
X.cảm
Đ.khiển
Đ.khiển
mặt
đ.kiện
giác
đổi
h hợp
XC
XH
A
E
C
G
D
H
F
B
Giải quyết vấn
Xem xét vấn
Xét đoán sự
Hiểu nguyên nhân
đề cụ thể
đề đa chiều
tiến triển
B1,2,3
B4,5
C1-11
C12-20
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ phân tích kết quả đo EI của điều tra viên trên MSCEIT
107
Hệ thống bài tập đo lường sự biểu hiện năng lực EI cơ bản của điều tra
viên trong các mối quan hệ nghiệp vụ điển hình
Như phân tích ở chương 1, trí tuệ cảm xúc bao giờ cũng biểu hiện cụ
thể và phát triển trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định. Vì vậy, cần
nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của điều tra viên phải nghiên cứu trong các tình
huống cụ thể, trong môi trường làm việc với mối quan hệ nghề nghiệp - xã
hội điển hình của điều tra viên.
Để đánh giá thực trạng EI của điều tra viên, ngoài việc sử dụng
công cụ đã được chuẩn hoá, luận án xây dựng một hệ thống bài tập gồm
28 tình huống thường xảy ra trong hoạt động điều tra, mỗi tình huống có 4
phương án đề điều tra viên lựa chọn. 28 tình huống này được thiết kế
nhằm đo 4 năng lực cơ bản trong 4 mối quan hệ nghiệp vụ điển hình của
điều tra viên, gồm quan hệ với bản thân, với đối tượng, với đồng nghiệp và
với các lực lượng có liên quan.
Luận án sử dụng phương pháp chuyên gia để thẩm định các tình huống và
phương án trả lời. Vì mô hình EI97 có cấu trúc gồm 4 năng lực trí tuệ cảm xúc
cơ bản với mức độ phức hợp tăng dần nên các phương án trả lời được đánh giá
theo các mức độ thể hiện các năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản, cụ thể:
0 điểm: Hoàn toàn không thể hiện được cả 4 năng lực trí tuệ cảm xúc cơ
bản, với biểu hiện là không nhận ra và xử lý được các thông tin cảm xúc.
5 điểm: Nhận ra thông tin cảm xúc, với biểu hiện có năng lực trí tuệ
cảm xúc cơ bản đơn giản nhất.
20 điểm: Thể hiện được cả 4 năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản, với biểu
hiện nhận ra và xử lý được các thông tin cảm xúc.
Điểm tổng là điểm của 28 câu cộng lại.
Đánh giá độ hiệu lực và độ tin cậy của hệ thống bài tập đo nghiệm
Để đánh giá độ tin cậy của bộ công cụ trong nghiên cứu này, luận án sử
dụng mô hình tương quan Alpha Cronbach (Cronbach’s Coeficient Alpha). Mô
hình này đánh giá độ tin cậy của phép đo dựa trên sự tính toán phương sai của
108
từng item trong từng thang đo, toàn bộ cho phép thang đo và tính tương quan
điểm của từng item với điểm của các item còn lại trên từng thang đo và của cả
phép đo. Độ tin cậy của từng tiểu thang đo được coi là thấp nếu hệ số α < 0.4.
Độ tin cậy của cả thang đo được coi là thấp nếu hệ số α < 0.6.
Bảng 3.3: Độ tin cậy của hệ thống bài tập đo biểu hiện EI của điều tra
viên trong các mối quan hệ nghiệp vụ điển hình
Các tiểu thang đo/ thang đo
Nhận biết cảm xúc Thấu hiểu cảm xúc Vận dụng cảm xúc Điểu khiển cảm xúc
Toàn bộ thang đo Hệ số tin cậy Alpha Mẫu điều tra viên (N=50) 0.67 0.73 0.78 0.81 0.80
Với hệ số α của các tiểu thang đo và cả thang đo đều > 0.6 cho thấy từng
item của phép đo có tính đồng nhất và đều đóng góp độ tin cậy của toàn bộ hệ
thống bài tập đo nghiệm này.
Để đánh giá độ hiệu lực, luận án dùng phương pháp phân tích yếu tố (factor
analysis). Kết quả phân tích yếu tố cho thấy hệ thống bài tập đo nghiệm này có độ
hiệu lực khá tốt. Các item trong từng tiểu thang đo có tính đồng hướng (cùng thuộc
về một factor) - tức là cùng đo một thành tố. Điểm số các tiểu thang đo có tương
quan thuận khá chặt (xem bảng 3.4). Điều này phù hợp với thực tế và phản ánh
đúng các quan hệ mong muốn, được giả thiết trong cấu trúc của phép đo.
Bảng 3.4: Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo/ thang đo Biểu hiện EI
của điều tra viên trong các quan hệ nghiệp vụ điển hình
1 2 3 4 Các tiểu thang đo/thang đo
Nhận biết cảm xúc (1)
0.51** Thấu hiểu cảm xúc(2)
0.43** 0.60** Vận dụng cảm xúc (3)
0.49** 0.55** 0.38** Điều khiển cảm xúc (4)
0.67** 0.69** 0.72** 0.65** Toàn bộ thang đo
**P<.0001
109
Kết quả phân tích trên đây cho thấy, các tiểu thang đo trong toàn bộ bài tập
đo nghiệm mà luận án sử dụng để đo biểu hiện của EI ở điều tra viên trong các
mối quan hệ nghiệp vụ điển hình về cơ bản đảm bảo các đặc tính thiết kế và các
đặc tính đo lường. Hầu hết các item đều đảm bảo có đủ độ tin cậy và hiệu lực.
* Cách thức tiến hành: Vào tháng 6/2021, luận án sử dụng bộ Test đã được
chuẩn hoá là MSCEIT (xem mô tả phụ lục 1) vừa để xác định thực trạng mức độ
trí tuệ cảm xúc của 255 điều tra viên công tác ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ
Công an và xác định kết quả đo EI của điều tra viên.
3.2.4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
* Mục đích của phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phương pháp điều
tra bằng bảng hỏi cũng được sử dụng làm phương pháp nghiên cứu chính của
luận án. Phương pháp này nhằm thu thập thông tin để xác định những biểu hiện
EI của điều tra viên.
* Đối tượng: Khảo sát các biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của điều tra
viên: 55 cán bộ quản lý của Cục điều tra; 255 điều tra viên ở Cục An ninh điều
tra thuộc Bộ Công an.
* Nội dung nghiên cứu: Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để
làm rõ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên trong hoạt động điều tra của
chính bản thân; trong mối quan hệ nghề nghiệp điển hình với đồng nghiệp, đối
tượng hay các lực lượng có liên quan trong hoạt động điều tra. Xác định các
yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra -
Bộ Công an; điều tra về một số yếu tố như tuổi đời, tuổi nghề, môi trường làm
việc, đối tượng tiếp xúc, các thuộc tính tâm lý của nhân cách, thể chất, giáo dục
nhằm xác định mối quan hệ giữa các yếu tố này và trí tuệ cảm xúc của điều tra
viên, từ đó xác lập cơ sở thực tiễn của luận án để xây dựng biện pháp tác động
nhằm nâng cao trí tuệ cảm xúc (xem phụ lục 2.1).
* Cách thức tiến hành: Luận án xây dựng 04 bảng hỏi cho 02 đối tượng
khảo sát với hệ thống câu hỏi khác nhau dưới hình thức câu hỏi đóng và câu hỏi
mở phù hợp với từng mục đích thu thập thông tin khác nhau của luận án.
110
* Quy ước thang điểm đánh giá các nội dung trong bảng hỏi:
Thang điểm đánh giá: Để đánh giá thực trạng biểu hiện trí tuệ cảm xúc
của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an và các yếu tố ảnh
hưởng luận án sử dụng thang đo likert 3 mức độ (Cao, Trung bình, Thấp) và
gán điểm như sau:
3 điểm, với các câu trả lời: cần thiết/ cao/tốt/mạnh 2 điểm, với các câu trả lời: bình thường/trung bình 1 điểm, với các câu trả lời: không cần thiết, yếu
Sử dụng công thức tính khoảng điểm: L =
Trong đó: Max: giá trị gán điểm cao nhất
Min: giá trị gán điểm thấp nhất
n là số các khoảng điểm, ta có L = 0,66.
Thang đo 3 mức độ chuyển định lượng tương ứng từ 3 đến 1. Với cách tính
điểm như trên, điểm tối đa của thang đo là 3 và điểm tối thiểu là 1. Do vậy, của
3. Do vậy, kết quả sẽ được tính như sau: các mức sẽ nằm trong khoảng: 1
Mức 1 (Mức độ thấp): 1 ĐTB 1,66
Mức 2 (Mức độ trung bình): 1,66 ĐTB 2,33
Mức 3 (Mức độ cao): 2,33 ĐTB 3
Căn cứ số điểm và số lượng người trả lời, sử dụng phần mềm SPSS tính
điểm trung bình, độ lệch chuẩn và các chỉ số khác phục vụ cho nghiên cứu,
đánh giá thực trạng.
Phiếu này được sử dụng sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu để tìm hiểu
biểu hiện và các mức độ biểu hiện năng lực trí tuệ cảm xúc của điều tra viên
trong hoạt động điều tra hàng ngày của họ.
Đánh giá độ hiệu lực và độ tin cậy của hệ thống câu hỏi
Sử dụng mô hình tương quan Alpha của Cronbach (Cronbach’s
Coefficient Alpha) để đánh giá độ tin cậy của bộ công cụ này, với hệ số tương
111
quan α của các tiểu thang đo và cả thang đo đều >0.6 (xem bảng 3.4) cho thấy
từng item của phép đo có tính đồng nhất và đều đóng góp độ tin cậy của toàn bộ
hệ thống câu hỏi này.
Bảng 3.5. Độ tin cậy của hệ thống câu hỏi đánh giá biểu hiện trí tuệ cảm
xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
Các tiểu thang đo/ thang đo Hệ số tin cậy Alpha
Mẫu điều tra viên (N=50)
Nhận biết cảm xúc 0.70
Thấu hiểu cảm xúc 0.78
Vận dụng cảm xúc 0.76
Điều khiển cảm xúc 0.83
0.85 Toàn bộ thang đo
Kết quả phân tích yếu tố cho thấy bảng hỏi này có độ hiệu lực khá tốt.
Điểm số các tiểu thang đo tương có tương quan thuận khá chặt (> 0.3, xem bảng
3.5). Điều này phù hợp với thực tế và phản ánh đúng các quan hệ mong muốn,
được giả thiết trong cấu trúc của phép đo.
Kết quả phân tích bảng 3.5 cho thấy, các tiểu thang đo trong hệ thống câu
hỏi mà luận án sử dụng để đo những biểu hiện của EI ở điều tra viên trong hoạt
động điều tra về cơ bản đảm bảo các đặc tính thiết kế và các đặc tính đo lường.
Hầu hết các item đều đảm bảo có đủ độ tin cậy và độ hiệu lực.
Bảng 3.6. Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo/ thang đo đánh giá
Biểu hiện EI của điều tra viên trong hoạt động điều tra
1 2 3 4 Các tiểu thang đo/thang đo
Nhận biết cảm xúc (1) Thấu hiểu cảm xúc(2) Vận dụng cảm xúc (3) Điều khiển cảm xúc (4)
0.31** 0.67** 0.42** 0.49** 0.31** 0.42** 0.57** 0.61** 0.63** 0.58** Toàn bộ thang đo
**P<.0001
112
Dựa trên 4 tiêu chí với 15 biểu hiện đã được xác định để đo trí tuệ cảm
xúc của điều tra viên (xem phụ lục 3.4), luận án lựa chọn 28 tình huống xảy ra
trong hoạt động điều tra để đo mức độ biểu hiện năng lực trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên. Các tình huống này đã được các chuyên gia thẩm định.
Luận án tiến hành lấy ý kiến đánh giá của các nhóm xã hội - nghề
nghiệp, gồm các cán bộ lãnh đạo, đồng nghiệp và cá nhân điều tra viên đánh
giá những biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên trong hoạt động điều tra.
Luận án không sử dụng công cụ này để lấy ý kiến đánh giá của các đối tượng
vì trong nhận thức của đối tượng đôi khi còn mang tính chủ quan, nhất là
đánh giá điều tra viên.
3.2.5. Phương pháp quan sát
* Mục đích của phương pháp quan sát: Nhằm thu thập được những thông
tin về những biểu hiện cụ thể của trí tuệ cảm xúc của điều tra viên trong hoạt
động điều tra, trong công việc và trong giao tiếp.
* Đối tượng quan sát: Điều tra viên ở Cục An ninh điều tra đang có
hoạt động thực tiễn trong các mối quan hệ đối với đối tượng, đồng nghiệp, và
các lực lượng có liên quan đến hoạt động điều tra.
* Nguyên tắc quan sát: Đảm bảo tự nhiên, khách quan trong quá trình
quan sát, đặc biệt không làm ảnh hưởng đến tâm lý của đối tượng quan sát.
* Nội dung quan sát:
Quan sát hoạt động điều tra, giao tiếp của điều tra viên trong các mối
quan hệ với đồng nghiệp, với đối tượng hay với các lực lượng có liên quan;
Quan sát những biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên;
* Cách thức tiến hành: Chúng tôi tiến hành quan sát tại mỗi phòng của đơn
vị điều tra 01 ngày trong điều kiện đơn vị thực hiện nhiệm vụ bình thường. Kết
quả quan sát được ghi lại bằng biên bản quan sát, sau khi xử lý sẽ được sử dụng
bổ sung cho những kết quả nghiên cứu khác trong quá trình điều tra.
3.2.6. Phân tích chân dung tâm lý điển hình
* Mục đích của phân tích chân dung tâm lý điển hình: Nhằm bổ sung
thêm những dữ liệu thông tin thu được từ các phương pháp điều tra bằng bảng
113
hỏi và phỏng vấn. Góp phần tăng thêm tính khoa học, tính logic khi nghiên cứu
biểu hiện của trí tuệ cảm xúc và yếu tố ảnh hưởng trí tuệ cảm xúc thông qua
các chân dung tâm lý điển hình trong các khách thể được khảo sát. Đó cũng là
cơ sở để đề xuất các biện pháp nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên.
* Khách thể phân tích: Chúng tôi lựa chọn 2 chân dung tâm lý là những
điều tra viên đang công tác ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an để phân
tích. Việc phân tích diễn ra đối với từng điều tra viên nhằm tìm hiểu biểu hiện trí
tuệ cảm xúc của họ đối với hoạt động điều tra, từ đó phác thảo chân dung tâm lý
của họ. Để đảm bảo an toàn và tính khách quan cho khách thể phân, chúng tôi đã
đổi tên và thông tin cá nhân của họ.
* Nội dung thực hiện: Thu thập thông tin về bản thân, gia đình, quá trình
công tác và những thành tựu mà cá nhân đạt được kể từ khi công tác. Những
thông tin này sẽ góp phần lý giải những biểu hiện cảm xúc của điều tra viên cũng
như các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của họ.
* Cách thức tiến hành: Tìm hiểu thông tin ban đầu thông qua trao đổi,
phỏng vấn với các cơ quan, cán bộ lãnh đạo và đồng nghiệp; nghiên cứu hồ sơ
của các điều tra viên nghiên cứu kết quả hoạt động. Từ đó, dự kiến chân dung
tâm lý điển hình cần phân tích, làm rõ và tiến hành điều tra có chủ đích (theo
phiếu điều tra, rút phiếu số 69 và phiếu số 126) đối với chân dung dung tâm lý
điển hình nhằm làm rõ chân dung theo mục đích nghiên cứu đã xác định.
3.2.7. Phương pháp đánh giá nhóm
* Mục đích nghiên cứu: Phương pháp đánh giá nhóm được lựa chọn
để nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của điều tra viên bởi đây là một loại trí tuệ
xã hội, được thể hiện và phát triển trong hoạt động có tính chất cộng
đồng, có tác dụng nâng cao hiệu quả hoạt động có tính chất cộng đồng
như hoạt động điều tra.
Phương pháp đánh giá nhóm được sử dụng làm phương pháp nghiên
cứu chính của luận án nhằm tìm hiểu ý kiến đánh giá của nhóm xã hội - nghề
nghiệp về mức độ biểu hiện năng lực trí tuệ cảm xúc và kết quả hoạt động
điều tra của điều tra viên.
114
Nhằm tìm hiểu mức độ biểu hiện trí tuệ cảm trong hoạt động điều tra của
điều tra viên, luận án sử dụng phiếu đánh giá mức độ biểu hiện năng lực trí tuệ
cảm xúc trong hoạt động điều tra của điều tra viên để lấy ý kiến đánh giá của
lãnh đạo, nhóm làm việc (đồng nghiệp), bản thân điều tra viên vào thời điểm đo
trí tuệ cảm xúc tháng 6/2021 trên 255 điều tra viên.
* Nội dung nghiên cứu: Làm rõ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở
Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
* Cách thức tiến hành: Để xác định kết quả hoạt động điều tra của điều tra
viên theo đánh giá của nhóm xã hội - nghề nghiệp, sử dụng Bảng đánh giá nhóm
với những tiêu chí và biểu hiên cụ thể nhằm lấy ý kiến đánh giá của lãnh đạo,
nhóm làm việc (đồng nghiệp), bản thân điều tra viên vào thời điểm đo trí tuệ
cảm xúc tháng 6/2021 trên 255 điều tra viên.
Ngoài ra, để có cơ sở xác định chất lượng hoạt động điều tra của điều tra
viên, luận án tiến hành đánh giá sản phẩm hoạt động điều tra, đó là một kỹ năng
xã hội quan trọng của điều tra viên bằng phương pháp đánh giá nhóm. Phương
pháp đánh giá nhóm nhằm xác định mức độ biểu hiện kỹ năng xã hội của 255
điều tra viên. Các lực lượng tham gia đánh giá bao gồm lãnh đạo, đồng nghiệp
của điều tra viên tại thời điểm tháng 6/2021.
3.2.8. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
* Mục đích của phương pháp chuyên gia: Trong phạm vi luận án
này, chúng tôi sử dụng phương pháp chuyên gia để tranh thủ ý kiến và
đánh giá của các chuyên gia tâm lý học và chuyên gia tham vấn tâm lý
để từ đó có cái nhìn tổng thể về trong việc triển khai nghiên cứu và viết
các nội dung của luận án. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia được sử
dụng ở tất cả các giai đoạn nghiên cứu của luận án, nhằm xin ý kiến
chuyên gia thẩm định những tiêu chí do các biểu hiện, mức độ biểu hiện
trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.
* Đối tượng của phương pháp chuyên gia: Chúng tôi tiến hành xin ý
kiến của 10 nhà tâm lý học là giảng viên Khoa Tâm lý học Học viện An ninh
115
nhân dân và Học viện cảnh sát nhân dân; Khoa Tâm lý - giáo dục, Trường Đại
học sư phạm Hà Nội; Khoa Tâm lý học, 02 chuyên gia thực tiễn ở Cục An ninh
điều tra thuộc Bộ Công an.
* Nội dung nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành xin ý kiến các chuyên gia
trong suốt quá trình thực hiện luận án về những vấn đề sau:
Hướng tiếp cận, mục đích, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu;
Khái quát các đặc điểm hoạt động của điều tra viên ở Cục An ninh điều
tra thuộc Bộ Công an;
Các biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra
thuộc Bộ Công an;
Các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An
ninh điều tra thuộc Bộ Công an;
Các nội dung đánh giá thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở
Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an;
Các biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh
điều tra thuộc Bộ Công an;
* Cách tiến tiến hành: Xin ý kiến của 15 chuyên gia về lĩnh vực tâm lý
học, tâm lý học công an nhân dân, các chuyên gia về hoạt động điều tra trong
thực tiễn ở Cục An ninh điều tra ở trong nước bằng phiếu xin ý kiến. Các ý
kiến có tần suất từ 50% trở lên được chúng tôi lựa chọn làm cơ sở cho việc
đưa ra các mệnh đề trong phiếu điều tra.
Sau khi phác thảo phiếu điều tra với các mệnh đề, chúng tôi tiếp tục xin
ý kiến chuyên gia, những người có kinh nghiệm và hiểu biết về trí tuệ cảm
xúc để hoàn thiện phiếu điều tra.
3.2.9. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
* Mục đích của phương pháp thống kê toán học: Các số liệu thu được
sau điều tra được xử lý bằng chương trình thống kê SPSS cho Window phiên
bản 20.0, nhằm thu được các số liệu định lượng tin cậy, chính xác phục vụ
phân tích thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra.
Tất cả các phép phân tích, đều chọn mức độ ý nghĩa ≥ 95%, hay p ≤ 0,05.
116
* Các phép toán thống kê được sử dụng trong luận án
- Phân tích sử dụng thống kê mô tả:
+ Điểm trung bình cộng (mean) được dùng trong việc tính điểm đạt
được của từng nhóm mệnh đề.
+ Điểm trung vị (median) là trị số của trường hợp nằm giữa khi số liệu
của biến nghiên cứu được sắp xếp theo thứ tự tăng dần (từ bé nhất đến lớn
nhất), được dùng để mô tả điểm nằm giữa tổng một mẫu.
+ Độ lệch chuẩn (SD - standardizied deviation) được dùng để mô tả
mức độ tập trung hay sự phân tán của các câu trả lời của mẫu.
Cụ thể, trong luận án, chúng tôi sử dụng tìm hiểu thực trạng mức độ trí
tuệ cảm xúc của điều tra viên ở cục An ninh điều tra, thực trạng các yếu tố
ảnh hưởng tới trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở cục An ninh điều tra.
- Phân tích sử dụng thống kê suy luận:
+ Phân tích tương quan nhị biến: Dùng kiểm định hệ số tương quan
pearson (r), để phân tích tương quan giữa hai biến số định lượng nhằm tìm hiểu
sự liên hệ tuyến tính giữa hai biến số định lượng, sự thay đổi ở biến này có làm
thay đổi ở biến còn lại một cách có ý nghĩa hay không, sự thay đổi đó theo
chiều thuận hay thay đổi theo chiều nghịch. Trong đó, chúng tôi quy định: │r│≤
0,3: tương quan yếu; 0,3 <│r│ < 0,7: tương quan tương đối mạnh; │r│ ≥ 0,7:
tương quan rất mạnh.
Cụ thể, chúng tôi tìm hiểu tương quan giữa các nội dung thành phần và
các mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của điều tra viên, mức độ biểu hiện của
trí tuệ cảm xúc của điều tra viên, mối quan hệ giữa mức độ trí tuệ cảm xúc và
mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của điềtu tra viên, từng giữa các yếu
tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên,…
+ Phân tích so sánh bằng T -test: Phân tích so sánh với phép so sánh giá trị
trung bình giữa hai biến định danh, chúng tôi sử dụng các kiểm định:
Independent samples T-test (t): Nhằm so sánh giá trị trung bình của 2
nhóm để tìm sự khác biệt với biến định lượng. Trong nghiên luận án này,
117
chúng tôi sử dụng Independent sample T-test so sánh giữa đánh giá điều tra
viên và lãnh đạo Cục An ninh điều tra về mức độ các mặt biểu hiện, tổng thể
trí tuệ cảm xúc của điều tra viên, về mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ
của điều tra viên,...
+ One - way ANOVA (F): nhằm so sánh giá trị trung bình của từ ba
nhóm trở lên. Sử dụng phép phân tích phương sai một yếu tố (One - way
ANOVA, F), chúng tôi sẽ thu được thông tin cho biết các giá trị trung bình
được coi là khác nhau có ý nghĩa về khía cạnh thống kê.
Phép phân tích phương sai một yếu tố, được dùng để tìm hiểu mối quan
hệ giữa các nhóm điều tra viên khác nhau (giới tính, tuổi tác và thâm niên
công tác, trình độ học vấn) về các mặt biểu hiện và nội dung tổng thể của trí
tuệ cảm xúc, hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của điều tra viên. Mối quan hệ
giữa tự đánh giá của điều tra viên và đánh giá của đồng nghiệp; lãnh đạo về
mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của điều tra viên.
+ Univariate: Sử dụng kiểm định ANOVA hai yếu tố (F) nhằm so sánh
hai giá trị trung bình cho từ ba nhóm trở lên (biến định danh).
Cụ thể, chúng tôi sử dụng kiểm định ANOVA hai yếu tố nhằm tìm hiểu
sự ảnh hưởng của mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ đến mức độ trí tuệ
cảm xúc trong các nhóm điều tra viên có cấp bậc quân hàm khác nhau; thâm
niên công tác khác nhau; tuổi tác khác nhau.
118
Kết luận chương 3
Quá trình tổ chức nghiên cứu được tiến hành bài bản, nghiêm túc, bảo
đảm tính đại diện về mặt khách thể, về nhiệm vụ và địa bàn nghiên cứu. Ở các
đơn vị và khách thể nghiên cứu được lựa chọn đều đặt ra yêu cầu khách quan,
tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực đối với vấn đề nghiên cứu của luận án.
Trong từng giai đoạn nghiên cứu đã xác định rõ mục đích, nội dung, cách
thức thực hiện, làm cơ sở cho việc xác định và vận dụng các phương pháp
nghiên cứu phù hợp với thực tiễn hoạt động điều tra của điều tra viên.
Luận án đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của tâm lý
học như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp chuyên gia; phương
pháp điều tra bằng bảng hỏi; phương pháp quan sát; phương pháp phỏng vấn
sâu; phương pháp phân tích chân dung tâm lý; phương pháp xử lý số liệu
bằng thống kê toán học. Ở luận án cũng đã xác định mốc thời gian cụ thể cho
từng giai đoạn nghiên cứu.
Các phương pháp nghiên cứu được triển khai theo đúng mục đích, nhiệm
vụ nghiên cứu, phù hợp với điều kiện thực tiễn khi tiến hành thực hiện luận án;
đảm bảo độ tin cậy trong quá trình đánh giá thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều
tra viên ở Cục An ninh điều tra. Các phương pháp nghiên cứu tài liệu lý luận,
văn bản đã tập trung phân tích những vấn đề lý luận cơ bản luận án; các phương
pháp nghiên cứu thực tiễn được sử dụng nhằm phân tích thực trạng trí tuệ cảm
xúc và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở
Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an. Kết quả thu được trong quá trình điều
tra thực trạng, được xử lý bằng chương trình thống kê SPSS trong môi trường
Window, phiên bản 20.0.
119
Chương 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC CỦA
ĐIỀU TRA VIÊN Ở CỤC AN NINH ĐIỀU TRA THUỘC BỘ CÔNG AN
4.1. Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh
điều tra thuộc Bộ Công an
4.1.1. Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên được đánh giá
bằng trắc nghiệm MSCEIT
Luận án lựa chọn mô hình EI97 và công cụ MSCEIT do chính các tác
giả J.Mayer, P.Salovey và D.Caruso soạn thảo (Việt hoá năm 2002) để đo
lường trí tuệ cảm xúc của 255 điều tra viên của Cục An ninh điều tra - Bộ
Công an. Thời điểm thực hiện MSCEIT là vào 6/2021.
Cách tính điểm số EI và quy đổi ra EQ được trình bày ở mục 3.2.
Kết quả đo lường EI của toàn mẫu nghiên cứu được thể hiện ở bảng 4.1:
Bảng 4.1: Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên theo trắc
nghiệm MSCEIT
N 255 Min 25.99 Max 71.58 Mean 59.05 SD 6.84
255 27.49 127.47 100.01 15.00
Điểm tổng EI1 Vaild N (listwise) EQ1 Vaild N (listwise)
Số liệu bảng 4.1 cho thấy vào thời điểm điều tra tháng 6/2021, điểm
tổng EI1 của 255 điều tra viên được điều tra là 59.0586. Nếu coi điểm tổng lý
tưởng của MSCEIT là 141 điểm thì điểm tổng EI1 của điều tra viên đạt
khoảng 41.88 %.
Nếu quy đổi ra EQ thì EQ1=100.19 với chủ số EQ thấp nhất là 27.49
và chỉ số EQ cao nhất là 127.47. Theo cách phân loại mức độ trí tuệ của
Wechsler thì điểm EQ ngang của số điều tra viên này nằm trong khoảng cao.
Căn cứ vào cách phân loại này, mức độ EQ của toàn mẫu được nghiên cứu thể
hiện ở bảng 4.2:
120
Bảng 4.2: Thực trạng mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra
viên theo trắc nghiệm MSCEIT
Tổng số
Cao ≥120 115 45.1% Thấp ≤70 45 17.6% 255 100%
Trung bình Mức độ 71-119 EI 95 N 37.3% % Từ bảng số liệu 4.2 cho thấy, nếu phân loại trí tuệ cảm xúc theo cách
này thì đa số điều tra viên có trí tuệ cảm xúc cao (45.1%), có 17.6% điều tra
viên có trí tuệ cảm xúc ở mức thấp.
Đây là một kết luận khoa học quan trọng về thực trạng EI của điều tra
viên để luận án đề xuất một số biện pháp nâng cao EI cho điều tra viên.
Bảng 4.3: Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên theo trắc nghiệm MSCEIT
MSCEIT Năng lực EI Điểm TB SD p
Nhận biết cảm xúc 0.40 3.05 .00 A và E
Vận dụng cảm xúc 0.47 2.65 B và F
Thấu hiểu cảm xúc 0.48 1.96 C và G
Điều khiển cảm xúc 0.34 1.57 D và H
Kết quả bảng 4.3 cho thấy Năng lực thấu hiểu cảm xúc (0.48) và
Năng lực vận dụng cảm xúc (0.47) có điểm trung bình cao hơn, còn Năng
lực điều khiển cảm xúc (0.34) của điều tra viên còn bộc lộ sự hạn chế, có
điểm thấp nhất (p=0), điều này cũng có thể hiểu được là Năng lực thấu
hiểu cảm xúc và Năng lực vận dụng cảm xúc phát triển hơn, còn Năng lực
điều khiển cảm xúc của điều tra viên kém phát triển nhất. Trong mục
2.3.1, luận án đã phân tích Năng lực điều khiển cảm xúc là năng lực bậc
cao nhất trong 4 năng lực cơ bản của trí tuệ cảm xúc, nhưng kết quả đo
lường cho thấy năng lực trí tuệ cảm xúc này ở điều tra viên lại có điểm
trung bình thấp nhất, điều này có thể là nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại
của hàng loạt hiện tượng trong công tác điều tra hiện nay như một số điều
tra viên chưa kiểm soát được hành vi của mình, thiếu quan tâm và chưa
121
biết cách tác động đến suy nghĩ, cảm xúc của đối tượng nhằm thay đổi
cũng như hình thành cho đối tượng thái độ xã hội đúng đắn, lạm dụng các
hình thức trừng phạt hơn là thuyết phục, cảm hoá,... làm hạn chế hiệu quả
hoạt động điều tra của họ.
Nếu xét theo mức độ EQ, các năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản của điều
tra viên phát triển dần từ nhóm EQ rất thấp (1) đến nhóm EQ cao (5), trong đó
Năng lực nhận biết cảm xúc phát triển nhất, còn Năng lực điều khiển cảm xúc
kém phát triển nhất ở tất cả các nhóm. Như vậy cả 4 năng lực EI cơ bản đều
ảnh hưởng đến chỉ số EQ của điều tra viên.
Biểu đồ 4.1: So sánh 4 năng lực trí tuệ cảm xúc của điều tra viên theo
các mức độ
Khảo sát một trường hợp đặc biệt có chỉ số EQ cao nhất (mã số 113)
và thấp nhất (mã số 69) với EQ của 255 điều tra viên, cũng cho thấy mức độ
EQ cao hay thấp được quyết định bởi cả 4 năng lực EI cơ bản, vì vậy muốn
phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên phải thiết kế các biện pháp nâng
122
cao cả 4 năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản, trong đó cần chú trọng phát triển
năng lực quản lý vận dụng cảm xúc của họ (xem biểu đồ 4.2).
Biểu đồ 4.2: So sánh 4 năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản trong những
trường hợp đặc biệt
Từ biểu đồ 4.2 cho thấy bốn năng lực thành phần của EI có sự phân bố
không đồng đều. Trong đó, điểm trung bình của năng lực nhận biết xúc cảm
đạt mức cao nhất; sau đó là năng lực thấu hiểu cảm xúc. Năng lực điều khiển
cảm xúc có điểm trung bình thấp nhất. Điều này cũng hoàn toàn trùng khớp
với những nhận định của chúng tôi ở trong chương lý luận.
Từ số liệu bảng 4.1, 4.2 cho thấy: Hiện trạng độ cao EI của điều tra
viên được đo lường bằng test MSCEIT là một phân bố bình thường, hơi
nghiêng về trên trung bình, tương đối giống với phân bố chuẩn (Gaust). Từ
kết quả nghiên cứu này, có thể khẳng định giả thuyết 1 của luận án đã được
chứng minh là đúng: EI của điều tra viên cao nhưng không đồng đều ở các
biểu hiện năng lực cụ thể.
Kết quả đo lường các năng lực EI tiểu thành phần của 255 điều tra
viên ở Cục An ninh điều tra được thể hiện ở bảng 4.4:
123
Bảng 4.4: Thực trạng 8 năng lực trí tuệ cảm xúc tiểu thành phần của
điều tra viên (MSCEIT)
MSCEIT
Năng lực EI
p
Điểm TB item
Tỉ lệ %
.00
Điểm TB tiểu test 9.26 6.10
0.46 0.48
10.87 11.48
A B
Nhận biết cảm xúc khuôn mặt Nuôi dưỡng các tích cảm xúc cực
0.27
6.47
9.97
0.46
10.96
C
sự triển và sự xuất
0.52
12.36
Xét đoán tiến hiểu hiện cảm xúc
Giải quyết vấn đề cụ thể Xem xét vấn đề đa chiều Xét đoán sự tiến triển của cảm xúc Giải thích nguyên nhân thay đổi cảm xúc
6.48 10.39
0.32 0.34
7.61 8.13
D E
8.00 5.61
0.53 0.46
12.52 10.98
F G
Quản lý cảm xúc của bản thân Nhận biết cảm xúc bối cảnh, môi trường Liên hệ cảm giác vào trong cảm xúc Hiểu sự biến đổi, hoà trộn các cảm xúc Quản lý cảm xúc người khác
3.30
0.36
8.62
H
Số liệu bảng 4.4 cho thấy các năng lực trí tuệ cảm xúc thành phần
của điều tra viên có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (p=0). Sự khác
biệt giữa các năng lực trí tuệ cảm xúc thành phần của điều tra viên được
phân tích cụ thể như sau:
- Năng lực liên hệ cảm giác vào trong cảm xúc của điều tra viên có
điểm trung bình cao nhất (8.00), đứng thứ 2 là Năng lực xét đoán sự tiến triển
và hiểu sự xuất hiện cảm xúc (9.87). Các năng lực trí tuệ cảm xúc này của
điều tra viên có điểm trung bình cao hơn các năng lực trí tuệ cảm xúc khác, có
thể do tính chất nghề nghiệp của họ, cụ thể là điều tra viên tiếp xúc với các
đối tượng phạm tội nên họ cần được trang bị những kiến thức tâm lý nghiệp
vụ để nắm bắt được tâm lý của đối tượng, cũng như có kỹ năng giao tiếp,
nghiệp vụ điều tra trong quá trình đào tạo ở trường và trong các khoá học
nâng cao trình độ; mặt khác quá trình hoạt động điều tra của điều tra viên đòi
124
hỏi phải xử lý những tình huống nghiệp vụ từ đơn giản đến phức tạp trong các
mối quan hệ giữa điều tra viên với đối tượng, đồng nghiệp, với lãnh đạo,...
nên toàn bộ hoạt động thực tiễn đó đem lại cho họ năng lực hiểu sự xuất hiện
và những thay đổi của cảm xúc trong những tình huống cụ thể.
- Năng lực quản lý cảm xúc bản thân của điều tra viên có điểm trung bình thấp
nhất (6.48) trong 8 năng lực trí tuệ cảm xúc thành phần. Đứng thứ 7 là Năng lực nhận
biết cảm xúc qua các bức tranh phong cảnh và thiết kế nghệ thuật (10.39).
Tìm hiểu nguyên nhân của hiện trạng Năng lực quản lý cảm xúc bản
thân của điều tra viên đạt điểm trung bình thấp nhất, có lẽ cần xuất phát từ
việc phân tích điều kiện thực hiện hoạt động điều tra của điều tra viên hiện
nay. Qua điều tra điều kiện tiến hành hoạt động điều tra của điều tra viên cho
thấy: về chuyên môn, họ phải liên tục chịu sức ép yêu cầu trình độ, các đợt
thanh tra, kiểm định; về kết quả hoạt động điều tra, họ là người chịu trách
nhiệm toàn bộ kết luận điều tra vụ án và mức hình phạt mà đối tượng phạm
tội phải nhận lấy; về không gian, phạm vi hoạt động của điều tra viên ở những
vụ án nhất định gắn với đối tượng, những người liên quan đến vụ án, trong
một không gian có thể rất rộng hoặc hẹp, ở những khoảng không gian khác
nhau, tuỳ thuộc vào tính chất của từng vụ án; về thời gian, điều tra viên làm
việc 8h/ngày, tuy nhiên số lượng giờ giấc này có thể tăng lên tuỳ thuộc tính
chất phức tạp của vụ án mà điều tra viên đảm nhận, thậm chí thời gian điều
tra viên làm việc có thể kéo dài liên tiếp vài ngày; về thu nhập, điều tra viên
có mức thu nhập ổn định theo hệ số lương, bậc hàm, chức vụ mà điều tra viên
đang đảm nhận, tuy nhiên mức thu nhập này không cao. Bên cạnh đó điều
kiện làm việc của điều tra viên lại khá căng thẳng và khép kín, quan hệ giữa
điều tra viên và đối tượng là quan hệ có tính chất ràng buộc, đối tượng sẽ luôn
tìm cách giữ khoảng cách hoặc tạo một lớp bình phong giả đối với điều tra
viên nên sẽ tạo ra những khó khăn nhất định trong quá trình tiến hành điều tra
vụ án của họ. Vì vậy, có thể điều tra viên chưa thật sự coi trọng việc phải làm
chủ cảm xúc của bản thân và chưa ý thức được vai trò của Năng lực quản lý
cảm xúc bản thân trong hoạt động điều tra của mình.
125
Năng lực nhận biết cảm xúc bối cảnh, môi trường của điều tra viên có
điểm trung bình chưa cao, có thể hiểu là chưa phát triển, cũng có thể do tính
chất thực hiện công việc của điều tra viên. Một mặt do đặc thù nhận thức của
các đối tượng thực hiện hành động phạm tội có sự khác nhau, nhiều đối tượng
có trình độ nhận thức cao nhưng nhiều đối tượng có trình độ nhận thức còn
hạn chế nên tư duy của các đối tượng đó chính là tư duy mang tính trực quan,
cụ thể nên đặt ra yêu cầu đối với điều tra viên trong việc điều tra, lên kế hoạch
mang đậm tính chất trực quan, cụ thể (dựng lại hiện trường vụ án, ...). Mặt
khác thông qua quan sát hướng xử lý các vụ án của điều tra viên cho thấy, hầu
hết các điều tra viên đều chú trọng vào các tình tiết xuất hiện trong vụ án cũng
như các chi tiết có liên quan để giải quyết vụ án mà đôi khi bỏ qua những tình
huống mang tính chất phức tạp; điều này cũng được nhận thấy qua kết quả
điều tra của luận án. Còn việc nhận ra cũng như chủ động tạo ra khung cảnh
điều tra chứa đựng cảm xúc rõ rệt, thuận lợi cho việc tiến hành hoạt động điều
tra của bản thân, cũng như nhận ra nhu cầu, cảm xúc của từng đối tượng chưa
được họ quan tâm, chú ý đúng mức.
Bên cạnh đó, không chỉ Năng lực quản lý các cảm xúc của bản thân mà
cả Năng lực quản lý cảm xúc người khác của điều tra viên cũng được thể hiện
chưa có phát triển rõ rệt (3.30, xếp thứ 6/8), cho thấy một đặc điểm trí tuệ
cảm xúc của điều tra viên là các năng lực trí tuệ cảm xúc mức độ cơ sở phát
triển hơn các năng lực trí tuệ cảm xúc mức độ cấp cao.
Một số kết luận về nghiên cứu thực trạng EI bằng MSCEIT của điều tra viên
+ Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở mức cao, được quy định bởi sự
phát triển của tất cả các năng lực thành phần của EI.
+ Các năng lực EI thành phần của điều tra viên phát triển chưa đồng
đều, mang đặc thù của hoạt động nghề nghiệp, sự khác biệt giữa chúng là
đáng kể và có ý nghĩa về mặt thống kê. Các Năng lực liên hệ cảm giác vào
trong cảm xúc, Năng lực giải thích sự thay đổi cảm xúc, Năng lực giải quyết
126
vấn đề cụ thể phát triển hơn, còn Năng lực xem xét vấn đề đa chiều, Năng lực
quản lý cảm xúc của bản thân, Năng lực quản lý cảm xúc người khác của điều
tra viên còn hạn chế.
4.1.2. Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều
tra thuộc Bộ Công an trong hoạt động điều tra
Để hiểu rõ hơn về biểu hiện và mức độ biểu hiện của trí tuệ cảm xúc
chúng tôi đi sâu phân tích từng mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của điều tra
viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an trong hoạt động điều tra, thu
được kết quả cụ thể như sau:
4.1.2.1. Thực trạng năng lực nhận biết cảm xúc của điều tra viên ở
Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
Nhằm làm rõ thực trạng về năng lực nhận biết cảm xúc của điều tra
viên, chúng tôi dựa trên 7 item phản ánh khả năng nhận biết được cảm xúc
của mình và đối tượng; khả năng lý giải được nguyên nhân xuất hiện cảm
xúc; phân biệt được cảm xúc thật hay giả để thiết kế bảng hỏi nhằm làm
sáng tỏ năng lực nhận thức của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra, thu
được thể hiện ở phụ lục 5.8. Thông qua kết quả này cho thấy từng mặt biểu
hiện trong năng lực nhận biết của điều tra viên có ĐTB từ 2.32 đến 2.67;
với các mức độ khác nhau. Cụ thể:
Bảng 4.5: Thực trạng năng lực nhận biết cảm xúc của điều tra viên ở
Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
TT ĐTB ĐLC Thứ bậc Biểu hiện năng lực nhận biết cảm xúc của điều tra viên
2.67 0.46 1
1 Nhận thức được cảm xúc ưu trội của bản thân khi đối mặt với tình huống xảy ra 2 Nhận thức mối quan hệ giữa ngôn ngữ và 2.43 0.57 4
cảm xúc của đối tượng
3 Nhận thức mối quan hệ giữa cảm xúc và 2.61 0.56 2
hành vi của đối tượng điều tra
127
3 4 Nhận thức được cảm xúc phức hợp của 2.47 0.46
đối tượng khi tham gia giao tiếp
7 5 Nhận thức được sự chuyển đổi cảm xúc 2.34 0.55
của đối tượng điều tra
5 6 Nhận thức được cảm xúc của bản thân trong 2.41 0.49
một tình huống điều tra
6 7 Đánh giá được trạng thái cảm xúc của đối 2.38 0.57
tượng qua hành vi, điệu bộ, cử chỉ
Tổng hợp chung 2.47 0.44
Từ kết quả trên cho chúng ta thấy, các điều tra viên đều có năng lực nhận biết cảm xúc đạt ở mức độ cao. Tuy nhiên năng lực này lại thể hiện sự không đồng đều trong từng khả năng biểu hiện, cụ thể:
Điều tra viên có khả năng nhận biết cảm xúc ưu trội của bản thân luôn đạt ở mức độ cao, ĐTB = 2.67, xếp thứ nhất. Trong đó năng lực nhận biết cảm xúc phức hợp của đối tượng ở mức thấp hơn, ĐTB = 2.47, xếp thứ 3/7; khả năng đánh giá được trạng thái cảm xúc của đối tượng qua hành vi, điệu bộ, cử chỉ có ĐTB = 2.38, xếp thứ 6/7.
Tuy nhiên, khả năng nhận thức được sự chuyển đổi cảm xúc của đối
tượng điều tra còn thể hiện sự hạn chế, ĐTB = 2.34, xếp thứ 7/7. Trong đó,
điều tra viên thường nhận rõ mối quan hệ giữa cảm xúc và hành vi của đối
tượng điều tra, ĐTB = 2.61, xếp thứ 2/7.
Điều này cho thấy trong năng lực nhận thức của điều tra viên thể
hiện sự không đồng đều giữa việc điều tra viên nhận thức được xúc cảm
của bản thân cũng như nhận thức được xúc cảm của đối tượng. Năng lực
nhận thức được cảm xúc của đối tượng đạt mức độ cao hơn là do hoạt
động điều tra yêu cầu cần phải nhanh nhạy trong việc nắm bắt trạng thái
xúc cảm của các đối tượng; phần khác do hoạt động điều tra càng lâu sẽ
giúp điều tra viên có kinh nghiệm dày dặn hơn trong quá trình đưa ra
nhận định về trạng thái cảm xúc của đối tượng. Chính yêu cầu nghề
nghiệp cũng như yêu cầu về thời gian hoàn thành cũng lý giải phần nào
128
thực trạng điều tra viên có năng lực nhận biết cảm xúc bản thân còn hạn chế.
Trong câu hỏi số I.4 và số I.5 chúng tôi cũng đã làm rõ được năng lực phân
biệt cảm xúc của điều tra viên luôn ở mức độ cao (đạt 58.4 % - 74.9%); điều
này cho thấy điều tra viên có sự nhạy cảm trong hoạt động nghề nghiệp tốt.
Vì vậy trong năng lực nhận thức, điều tra viên đã thể hiện được khả năng
phân biệt cảm xúc rất tốt. Tuy nhiên, để tìm ra được nguyên nhân của những
cảm xúc hiện có (câu hỏi I.7) thì điều tra viên vẫn đạt mức độ cao (chiếm
44.3%) nhưng có 36.5% số điều tra viên lại chưa lý giải được nguyên nhân
này. Điều này cho thấy một bộ phận không nhỏ còn thể hiện khả năng nhận
biết cảm xúc hạn chế. Từ đó, trong quá trình đề xuất biện pháp để phát
triển cảm xúc của điều tra viên cần phải lưu ý điều này.
Để hiểu rõ hơn về thực trạng này, chúng tôi tiến hành phỏng vấn với
điều tra viên H.V.Th - Phó trưởng phòng 2 với câu hỏi “Theo đồng chí, trong
hoạt động điều tra, điều tra viên có khả năng nắm bắt được cảm xúc của đối
tượng như nào? Điều tra viên có những hạn chế nào dẫn đến quá trình điều tra
bị ảnh hưởng hay không?”. Trả lời câu hỏi này, đồng chí Th. cho biết; “Trong
hoạt động điều tra các điều tra viên thể hiện rất tốt việc nắm bắt cảm xúc của
các đối tượng. Hầu hết, khi thực hiện hoạt động điều tra; điều tra viên luôn
nhận biết chính xác thái độ cảm xúc mà đối tượng thể hiện thông qua ngôn
ngữ, cử chỉ, điệu bộ. Thông qua đó, chúng tôi đi sâu tìm hiểu lý do vì sao đối
tượng có những biểu hiện đó, để nắm bắt ngọn nguồn của cảm xúc và đưa ra
cách xử lý đúng đắn. Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều đối tượng thực hiện
hành vi phạm tội là những người có trình độ nhận thức cao, lại được các thế lực
thù địch đào tạo khả năng ứng phó với cơ quan điều tra một cách bài bản nên
việc đưa ra nhận định cảm xúc của đối tượng bộc lộ là thật hay giả khiến chúng
tôi rất mất thời gian. Thậm chí khi đưa ra phán đoán chúng tôi có đôi khi không
chắc chắn về nhận định của mình. Điều này có ảnh hưởng lớn đến tinh thần của
chúng tôi, khiến chúng tôi làm việc căng thẳng hơn dẫn đến kết quả điều tra sẽ
chịu ảnh hưởng nhất định”.
129
Như vậy, trong năng lực nhận biết cảm xúc, cần phát triển hài hoà cân
đối giữa các khả năng để điều tra viên có thể có được trí tuệ cảm xúc một
cách tích cực, chính xác.
4.1.2.2. Thực trạng năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên ở Cục
An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
Dựa trên những kiến thức lý luận đã xác định, chúng tôi tiến hành làm rõ
năng lực này ở điều tra viên dựa trên 2 khía cạnh: Nhận định chính xác cảm xúc
của đối tượng; lắng nghe, chia sẻ, nắm bắt được nhu cầu của đối tượng. Kết quả
của năng lực thấu hiểu cảm xúc được thể hiện cụ thể trong phụ lục 5.8 cho thấy
các mặt biểu hiện trong năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên có ĐTB từ
2.44 đến 2.60; với độ lệch chuẩn dao động từ 0.46 đến 0.57.
Kết quả thu được thể hiện cụ thể ở bảng sau:
Bảng 4.6: Thực trạng năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên ở
Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
ĐTB
Thứ bậc
TT
ĐLC
Biểu hiện năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên
1 Hiểu rõ cảm xúc của bản thân trong tình
2.48
0.57
4
huống điều tra
2 Hiểu rõ cảm xúc nào đang “xâm chiếm”
2.53
0.49
3
đối tượng trong tình huống điều tra
3 Hiểu rõ diễn biến cảm xúc của đối tượng trong
2.60
0.46
1
tình huống điều tra
4 Hiểu rõ tâm trạng phức hợp của đối tượng
2.44
0.57
5
trong tình huống điều tra
2.56
0.49
2
5 Hiểu rõ cần phải điều khiển bản thân vào cảm xúc tích cực để nhìn nhận tình huống xảy ra dưới nhiều góc độ Tổng hợp chung
2.52
0.45
Trong năng lực này, điều tra viên thể hiện năng lực khá đồng đều ở các
mặt biểu hiện, đều đạt mức độ cao trong từng khía cạnh khác nhau.
Khả năng lắng nghe, chia sẻ, nắm bắt nhu cầu, tâm lý đối tượng điều tra viên được thể hiện qua việc điều tra viên đưa mình vào cảm xúc tích cực để nhìn nhận tình huống xảy ra dưới nhiều góc độ. Trong mặt biểu hiện này, điều tra viên thể hiện rất tốt, ĐTB = 2.60, ĐLC = 0.46, xếp thứ nhất.
130
Khả năng nhận định chính xác cảm xúc của điều tra viên đạt mức cao,
nhưng thể hiện mức độ chưa đồng đều (chiếm 48.2% - 67.8%), ĐTB = 2.48,
ĐLC = 0.57, xếp thứ 4/5. Trong đó, điều tra viên hiểu được rõ đối tượng cảm
thấy thế nào ở mức độ cao, ĐTB = 2.53, ĐLC = 0.49, xếp thứ 3/5; nhận ra
cảm xúc và diễn biến cảm xúc ở đối tượng, bị can, người làm chứng trong
tình huống cụ thể ĐTB = 2.44, ĐLC = 0.57, xếp thứ 5/5. Ngoài ra có 48.2%
điều tra viên đạt ở mức độ cao trong việc hiểu được tâm trạng của đối tượng
hay bị can, người làm chứng trong những tình huống cụ thế.
Đặc biệt, trong khả năng thấu hiểu cảm xúc của đối tượng hay bị can,
người làm chứng vẫn có số ít đạt ở mức độ trung bình (chiếm 23.9% -
31.4%). Điều này cho thấy, hầu hết điều tra viên đều là những người sống
tình cảm; có khả năng chia sẻ, quan tâm rất nhanh nhạy đến đối tượng. Tuy
nhiên, như nội dung trước chúng tôi cũng nhận định, do năng lực nhận biết cảm
xúc của điều tra viên đôi khi chịu sự tác động của đối tượng tiếp xúc (thể hiện
ở việc đối tượng sử dụng chiêu trò đánh lừa cảm xúc) nên khả năng phân biệt
cảm xúc thật giả ở điều tra viên còn hạn chế. Điều này chi phối đến khả năng
đưa ra nhận định chính xác cảm xúc của điều tra viên cũng chịu sự tác động,
ảnh hưởng. Hơn nữa năng lực nhận định cảm xúc còn phụ thuộc vào khả năng
nhanh nhạy của từng điều tra viên; do đó thực trạng này lý giải hợp lý những
điều tra viên có tính nhạy cảm cao trong quá trình nắm bắt cảm xúc của đối
tượng thường có kết quả hoạt động điều tra tốt hơn.
Để làm rõ hơn năng lực này, chúng tôi tiến hành phương pháp quan sát
hành động thường ngày của một số điều tra viên tại phòng 5. Chúng tôi tiến
hành quan sát một cách khéo léo để đối tượng không biết được và có thể bộc
lộ một cách tự nhiên, chính xác nhất những cảm xúc thực hàng ngày. Quá
trình quan sát này được diễn ra trong thời gian một tuần. Kết quả quan sát cho
thấy năng lực thấu hiểu được thể hiện rất tốt ở điều tra viên nhưng năng lực
này được thể hiện không đồng đều giữa các điều tra viên, giữa các mặt biểu
hiện của năng lực này cũng thể hiện sự khác biệt rõ nét. Cụ thể, khi họp bàn
về phương hướng xử lý một vụ án cụ thể khi gặp phải sự chống trả của đối
131
tượng; mỗi điều tra viên lại đưa ra những nhận định và phương hướng giải
quyết khác nhau. Mỗi nhận định của điều tra viên đưa ra đều thể hiện được
khả năng nhạy bén của điều tra viên trong việc nắm bắt được cảm xúc của đối
tượng hay không? Trong sinh hoạt hàng ngày các điều tra viên cũng thể hiện
sự chia sẻ trong công việc cũng như trong đời sống tinh thần. Các điều tra
viên đều thể hiện sự chia sẻ với cảm xúc của đồng nghiệp đang trải qua và
đưa ra những lời lẽ, cử chỉ động viên hàng ngày. Điều này cho thấy khả năng
thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên được thể hiện không chỉ với các đối
tượng điều tra mà còn thể hiện với cả đồng nghiệp trong cơ quan.
4.1.2.3. Thực trạng năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên ở Cục
An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
Tìm hiểu về thực trạng năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên cụ thể,
chúng tôi thu được kết quả như sau: Năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên
có ĐTB từ 2.31 đến 2.64, với độ lệch chuẩn từ 0.36 đến 0.64 (phụ lục 5.8).
Bảng 4.7: Thực trạng năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên ở
Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
ĐTB
ĐLC
TT
Thứ bậc
Biểu hiện năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên
1 Vận dụng kinh nghiệm đã có tìm ra cách giải
2.64
0.36
1
2
2.53
0.57
4
3
2.57
0.50
2
4
2.55
0.52
3
5
2.38
0.64
6
6
2.31
0.57
7
7
2.46
0.62
5
quyết hiệu quả cho tình huống hiện tại Có kỹ năng giao tiếp, thuyết phục hiệu quả khiến đối tượng sẵn sàng chia sẻ, khai báo thành khẩn Có cách thức tác động hiệu quả đến người thân của đối tượng tạo thuận lợi cho điều tra Biết huy động cảm xúc có lợi để bản thân suy nghĩ tích cực Biết huy động cảm xúc có lợi để nhìn nhận sự việc một cách đa chiều Biết huy động cảm xúc có lợi để tìm ra biện pháp giải quyết mâu thuẫn hiệu quả Biết tìm ra phương tiện để giải toả cảm xúc tiêu cực của bản thân Tổng hợp chung
2.49
0.47
Điều này cho thấy năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên không
đồng đều. Trong đó, điều tra viên có khả năng “Vận dụng kinh nghiệm đã có
132
tìm ra cách giải quyết hiệu quả cho tình huống hiện tại” có kết quả cao nhất
với ĐTB = 2.64, ĐLC=0.36, xếp thứ nhất. Tư duy giải quyết vấn đề được
thể hiện ở trong việc cá nhân có cách giải quyết hiệu quả khiến đối tượng
gần gũi và chia sẻ; ở việc điều tra viên khiến cho người thân của đối tượng
có nhận thức đúng và tác động tới đối tượng để khai báo. Trong khả năng
này điều tra viên đạt ĐTB = 2.57, ĐLC = 0.50, ở mức cao, xếp thứ 2/7. Biểu
hiện “Biết huy động cảm xúc có lợi để bản thân suy nghĩ tích cực” có ĐTB
= 2.55, ĐLC = 0.52, xếp thứ 3/7. Biểu hiện “Biết huy động cảm xúc có lợi
để tìm ra biện pháp giải quyết mâu thuẫn hiệu quả” có kết quả thấp nhất với
ĐTB = 2.31, ĐLC = 0.57, xếp thứ 7/7.
Có thể thấy điều tra viên luôn thể hiện quá trình giải quyết tình huống
nhanh nhạy do họ có tư duy nhạy bén cũng như khả năng nắm bắt vấn đề có chiều
sâu. Do đó tư duy giải quyết vấn đề của điều tra viên luôn thể hiện sự ưu việt nhất
định. Ngược lại với điều đó, do điều tra viên trong hoạt động nghề nghiệp phải xử
lý nhiều vụ án khác nhau, mỗi cá nhân lại có trí nhớ khác nhau nên khả năng ghi
nhớ vụ việc của điều tra viên còn chưa đạt ở mức cao. Trong quá trình hoạt động
nghề nghiệp, điều tra viên phải thường xuyên đối diện với rất nhiều những khó
khăn, bất lợi mà đối tượng tạo ra cũng như tính chất, yêu cầu công việc cần giải
quyết nhanh gọn nên điều tra viên không có nhiều thời gian để điều chỉnh cảm xúc
của bản thân bằng những cách giải toả khác nhau. Vì thế, khả năng sử dụng cảm
xúc có ý thức của điều tra viên còn đạt ở mức trung bình.
Lý giải vấn đề này chúng tôi tiến hành xin ý kiến chuyên gia. Theo
chuyên gia B.M.H cho biết, sở dĩ có điều này là do hầu hết các điều tra
viên đều là những sinh viên được đào tạo một cách bài bản tại các trường
Công an nhân dân. Tại đây, các điều tra viên đều được trang bị những kiến
thức, kỹ năng giải quyết các tình huống nghiệp vụ một cách bài bản, thuần
thục. Hơn nữa trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, điều tra viên đã xử
lý, giải quyết nhiều vụ án với tính chất khác nhau nên đã hình thành, bồi
dưỡng và củng cố kỹ năng giải quyết vấn đề cũng như kinh nghiệm của
mỗi điều tra viên. Tuy nhiên, do tính chất công việc phải tiếp xúc với nhiều
133
đối tượng khác nhau nên điều tra viên sẽ cần phải tiếp nhận rất nhiều thông
tin, đòi hỏi điều tra viên cần phải có khả năng chắt lọc thông tin tốt. Quá
trình này sẽ thể hiện khả năng ghi nhớ của điều tra viên còn có hạn chế.
Mặt khác, do năng lực phân biệt cảm xúc của điều tra viên còn hạn chế do
đó trong việc có ý thức sử dụng cảm xúc của điều tra viên đạt mức độ
không cao. Điều này còn được lý giải bởi tính chủ thể của mỗi cá nhân.
Mỗi cá nhân đều có cách năng lực nhìn nhận, đánh giá và giải quyết vấn đề
khác nhau; do đó trong việc lựa chọn sử dụng cảm xúc có ý thức của mỗi
điều tra viên cũng thể hiện những hạn chế nhất định.
4.1.2.4. Thực trạng năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên ở
Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
Để làm rõ thực trạng năng lực điều khiển cảm xúc chúng tôi tiến hành
làm rõ trên các phương diện khả năng kiểm soát cảm xúc của điều tra viên thể
hiện trong mối quan hệ với bản thân và với đối tượng giao tiếp. Theo phụ lục
5.8 cho thấy ĐTB của năng lực này của điều tra viên từ 2.07 đến 2.56. Kết
quả thu được cụ thể cho thấy:
Bảng 4.8: Thực trạng năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên ở
Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
ĐTB
ĐLC
Thứ bậc
TT
2.32
0.55
1
5
2
2.46
0.57
3
3
2.07
0.44
7
4
2.27
0.39
6
5
2.56
0.40
1
6
2.43
0.57
4
7
2.50
0.56
2
Biểu hiện năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên Điều chỉnh cảm xúc bản thân theo hướng tích cực trong các tình huống điều tra Biết cách lan truyền cảm xúc tích cực của bản thân đến đối tượng điều tra Giúp đỡ, hướng dẫn có hiệu quả đối tượng điều tra thoát khỏi suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực Trong các tình huống điều tra có thể chủ động thể hiện cảm xúc Có thể gạt bỏ cảm xúc bất lợi của cá nhân trong hoạt động điều tra Nhanh chóng tìm ra cách thoát khỏi tâm trạng tiêu cực của bản thân Bình tĩnh, chủ động trước bất kỳ tình huống điều tra xảy ra Tổng hợp chung
2.37
0.42
134
Năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên thể hiện không đồng đều ở
các mặt biểu hiện. Trong đó biểu hiện “Có thể gạt bỏ cảm xúc bất lợi của
cá nhân trong hoạt động điều tra” có ĐTB = 2.56, ĐLC = 0.40 ở mức cao
nhất. Tiếp đến là biểu hiện “Bình tĩnh, chủ động trước bất kỳ tình huống
điều tra xảy ra” có ĐTB = 2.56, ĐLC = 0.40, xếp thứ 2/7 cho thấy năng
lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên với đối tượng đạt mức độ cao
(53.7%). Trong hoạt động điều tra việc nắm bắt cảm xúc của đối tượng
có ý nghĩa quan trọng, do đó điều tra viên luôn cần nhanh nhạy trong
việc quan sát cũng như hướng đối tượng ra khỏi tình trạng cảm xúc hiện tại.
Nhận thức được điều đó nên điều tra viên luôn chú trọng và thể hiện tốt đối với
nắm bắt cảm xúc của đối tượng, hướng họ đến những suy nghĩ và cảm xúc
mang tính chất tích cực. Tuy nhiên, trong hoạt động điều tra, điều tra viên
thường xuyên phải tiếp xúc với các đối tượng có trình độ, được các thế lực thù
địch đào tạo bài bản nên điều tra viên thể hiện sự cẩn trọng trong quá trình giao
tiếp. Đặc biệt, không để đối tượng nắm bắt được suy nghĩ cũng như trạng thái
cảm xúc của mình luôn được điều tra viên lưu tâm. Do đó kết quả điều tra trong
câu hỏi “Thành thục trong giúp đỡ, hướng dẫn đối tượng điều tra thoát khỏi suy
nghĩ và cảm xúc tiêu cực” điều tra viên đạt mức thấp, có ĐTB = 2.07, ĐLC =
0.44, xếp thứ 7/7 là hợp lý.
Năng lực điều khiển cảm xúc của bản thân điều tra viên chưa tốt, có ĐTB
= 2.32, ĐLC = 0.55, xếp thứ 5/7 . Lý giải điều này chúng tôi nhận thấy, điều tra
viên đều có nhận biết tốt cảm xúc cũng như khả năng thấu hiểu cảm xúc đạt ở
mức cao. Tuy nhiên do kiểu khí chất của mỗi điều tra viên lại khác nhau dẫn
đến quá trình giải quyết vấn đề của điều tra viên sẽ diễn ra theo những cách
thức khác nhau với những cảm xúc xuất hiện cũng thể hiện rõ sự khác biệt.
Đối với những điều tra viên có kiểu khí chất linh hoạt sẽ điều khiển cảm xúc
theo hướng phù hợp với từng hoàn cảnh, đối tượng vì họ có khả năng thích
nghi rất nhạy bén; nhưng với những người có khí chất nóng thì việc điều
khiển cảm xúc lại phụ thuộc vào hoàn cảnh tác động.
135
Mặt khác, hiện nay bộ luật hình sự Việt Nam có sự thay đổi trong
quyền im lặng và quyền thuê luật sư của đối tượng phạm tội nên trong quá
trình tiếp xúc với đối tượng, điều tra viên sẽ gặp phải những ức chế nhất
định khi gặp phải sự chống đối, phản kháng từ đối tượng. Do đó khả năng
điều khiển cảm xúc của điều tra viên cũng gặp những khó khăn nhất định.
Điều này đòi hỏi trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, điều tra viên cần
có quá trình rèn luyện đối với việc kiểm soát cảm xúc của bản thân.
Tổng hợp kết quả khảo sát bằng bảng hỏi về trí tuệ cảm xúc của 255
điều tra viên ở Cục An ninh điều tra được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4.9. Tổng hợp kết quả khảo sát năng lực trí tuệ cảm xúc của điều
tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
ĐTB ĐLC TT Thứ bậc
Năng lực trí tuệ cảm xúc của điều tra viên 1 Năng lực nhận biết cảm xúc 2 Năng lực thấu hiểu cảm xúc 3 Năng lực vận dụng cảm xúc 4 Năng lực điều khiển cảm xúc 2 1 4 3 Tổng hợp chung 2.47 2.52 2.49 2.37 2.46 0.44 0.45 0.47 0.42 0.44
Kết quả khảo sát được biểu diễn bằng biểu đồ sau:
Biểu đồ 4.3: Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh
điều tra thuộc Bộ Công an
136
Thông qua số liệu ở biểu đồ trên cho thấy, trong 4 mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thì năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên đạt cao nhất (ĐTB= 2.52), sau đó là năng lực vận dụng cảm xúc (ĐTB = 2.49). Điều tra viên có năng lực điều khiển cảm xúc biểu hiện ở mức độ hạn chế nhất (ĐTB = 2.37). Kết quả khảo sát này phù hợp với kết quả điều tra bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm MSCEIT. Đồng thời khẳng định trong hoạt động điều tra, điều tra viên đã có khả năng thấu hiểu và vận dụng cảm xúc tốt nhưng còn hạn chế trong việc điều khiển cảm xúc của bản thân.
Bảng số liệu trên cũng cho chúng ta thấy được 4 mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc có sự tương quan thuận, chặt chẽ với nhau (r = 0.562). Trong đó mức độ tương quan của 4 mặt biểu hiện có sự dao động từ r = 0.40 đến r = 0.56. Điều này cho thấy trong hoạt động điều tra của điều tra viên, 4 mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc có sự tác động qua lại và có sự chi phối mạnh mẽ đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Bởi vậy, bất kỳ sự thay đổi của một thành tố nào đó sẽ kéo theo sự thay đổi tương ứng của những thành tố còn lại cũng như mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên và ngược lại. Điều này khẳng định tính khách quan và độ tin cậy cao của mô hình lý thuyết về các biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.
Luận án tiếp tục tiến hành nghiên cứu sâu hơn về một số biểu hiện, mức độ trí tuệ cảm xúc trong hoạt động điều tra thông qua hệ thống bài tập gồm 28 tình huống, mỗi tình huống có ít nhất 5-7 phương án trả lời để tìm hiểu những biểu hiện của 4 năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản của điều tra viên trong 4 mối quan hệ điều tra điển hình gồm quan hệ giữa điều tra viên với đối tượng, lãnh đạo, đồng nghiệp và bản thân. Kết quả thu được thể hiện trong bảng 4.10:
Bảng 4.10: Thực trạng các biểu hiện năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản
trong các quan hệ điều tra điển hình của điều tra viên
Điểm trung bình
TT
NĂNG LỰC EI CƠ BẢN
QH với lãnh đạo
Tổng cộng
1 Nhận biết cảm xúc 2 Thấu hiểu cảm xúc 3 Vận dụng cảm xúc 4 Điều khiển cảm xúc
Tổng cộng
QH với đối tượng 18.42 9.73 15.78 4.72 47.77
10.52 17.89 14.73 7.22 50.55
QH với đồng nghiệp 12.89 15.52 8.15 9.16 45.27
QH với bản thân 16.84 13.68 5.78 3.33 40.27
58.68 56.84 44.47 24.44
137
Kết quả bảng 4.10 cho thấy, nhìn chung, trí tuệ cảm xúc của điều tra
viên thể hiện sự phát triển không đồng đều giữa các năng lực thành phần và
trong các mối quan hệ điều tra điển hình. Năng lực trí tuệ cảm xúc của điều
tra viên biểu hiện rõ rệt trong quan hệ với đối tượng, nhưng trong mối quan
hệ với bản thân lại kém nhất. Còn xét theo biểu hiện của từng năng lực trí tuệ
cảm xúc cơ bản thì Năng lực nhận biết cảm xúc phát triển nhất, còn Năng lực
điều khiển cảm xúc của bản thân chưa được phát triển ở điều tra viên.
Về cụ thể, kết quả nghiên cứu cho thấy điều tra viên bước đầu đã có
Năng lực nhận biết cảm xúc và Năng lực thấu hiểu cảm xúc của đối tượng,
tuy nhiên Năng lực điều khiển cảm xúc của bản thân và đối tượng đều rất hạn
chế, điều này cho thấy dường như điều tra viên chưa ý thức được đầy đủ tầm
quan trọng của năng lực điều khiển cảm xúc, đặc biệt là điều khiển cảm xúc
của bản thân, phải chăng đây là một trong những nguyên nhân cơ bản đưa đến
sự tồn tại một loạt vấn đề chưa được giải quyết trong cơ quan điều tra hiện
nay, làm hiệu quả hoạt động điều tra bị hạn chế.
Điều này chứng tỏ thông qua hoạt động nghề nghiệp, điều tra viên có
điều kiện để phát triển một cách tự phát một số năng lực EI để giải quyết tình
huống phát sinh trong mối quan hệ với đối tượng, lãnh đạo nhưng lại chưa tự ý
thức, chưa chủ động và chưa được luyện tập một cách khoa học để điều khiển
cảm xúc của bản thân và người khác trong các mối quan hệ điều tra điển hình;
để sử dụng các năng lực EI để giải quyết những vấn đề có tính chất chiến thuật
và chiến lược trong hoạt động điều tra. Điều này có thể là một trong những
nguyên nhân dẫn tới tình trạng họ vừa chịu áp lực tâm lý căng thẳng trong công
việc, vừa chưa phát huy hết vai trò bản thân để nâng cao chất lượng hoạt động
điều tra. Nhận định cũng được rút ra trong mục thực trạng các năng lực trí tuệ
cảm xúc thành phần. Đây là căn cứ quan trọng để luận án xây dựng những biện
pháp nhằm nâng cao năng lực trí tuệ cảm xúc nói chung và Năng lực điều khiển
cảm xúc bản thân của điều tra viên nói riêng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả
hoạt động điều tra của họ.
138
Xét mối tương quan giữa kết quả MSCEIT và biểu hiện trí tuệ cảm xúc
bằng hệ thống bài tập (do luận án xây dựng) trên 255 điều tra viên, với t= -
9.65 (<0.05), có thể kết luận giữa chúng có mối tương quan thuận có ý nghĩa về mặt thống kê.
4.2. Thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến trí tuệ cảm
xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên chịu sự tác động của nhiều yếu tố, kết
quả khảo sát được thể hiện tóm tắt qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 4.4: Thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến trí tuệ cảm
xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
Để tìm hiểu rõ hơn luận án đi tìm hiểu sự ảnh hưởng của từng yếu tố và
thu được kết quả cụ thể như sau:
4.2.1. Nhóm yếu tố chủ quan
4.2.1.1. Yếu tố thể chất của điều tra viên
Chúng tôi tiến hành điều tra trên 255 điều tra viên để làm sáng tỏ sự
ảnh hưởng của yếu tố thể chất đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên và thu
được kết quả như sau:
139
Bảng 4.11: Thực trạng mức độ ảnh hưởng của yếu tố thể chất đến trí
tuệ cảm xúc của điều tra viên thuộc Bộ Công an
% % hợp lệ % tích luỹ
Số lượng
Mức độ 28.2 100.0
Trung bình Mạnh Tổng 72 183 255 28.2 71.8 100.0 28.2 71.8 100.0
Có 71.8% điều tra viên cho rằng yếu tố này có ảnh hưởng mạnh đến trí
tuệ cảm xúc của điều tra viên.
Để làm rõ sự ảnh hưởng của yếu tố thể chất tới trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra; chúng tôi tiến hành thu thập số liệu các báo
cáo tổng kết của Cục ANĐT về kết quả kiểm tra chiến sĩ khoẻ định kỳ hàng năm. Kết quả thu được như sau:
Bảng 4.12: Kết quả kiểm tra chiến sĩ khoẻ của điều tra viên ở Cục An
ninh điều tra thuộc Bộ Công an
STT Độ tuổi Giới tính Kết quả
Từ 18-27 tuổi Đạt 100% 1
Nam Từ 28-34 tuổi Đạt 100%
Từ 35-40 tuổi Đạt 100%
Từ 41-45 tuổi Đạt 100%
Từ 46-50 tuổi Đạt 100%
Từ 18-24 tuổi Đạt 100% 2
Nữ Từ 25-30 tuổi Đạt 100%
Từ 31-35 tuổi Đạt 100%
Từ 36-40 tuổi Từ 41-45 tuổi
Đạt 100% Đạt 100% 100% Đạt 3 Tổng
Từ kết quả thu được cho thấy tất cả cán bộ điều tra viên đều có tình
trạng sức khỏe tốt (100% đạt yêu cầu). Điều này là điều kiện thuận lợi để
điều tra viên có thể tham gia hoạt động điều tra tích cực. Mặt khác đây cũng
là điều kiện đảm bảo cho trí tuệ cảm xúc của điều tra viên được diễn ra một
cách liên tục, thuận lợi.
140
Để tìm hiểu rõ hơn, chúng tôi tiến hành phỏng vấn đồng chí P.V.T lãnh đạo
Cục ANĐT. Chúng tôi đưa ra câu hỏi: “Đồng chí cho biết, tình hình sức khoẻ của
các điều tra viên trong đơn vị như thế nào? Theo đồng chí điều này có ảnh hưởng
ra sao đến hoạt động điều tra của các điều tra viên?” thì nhận được câu trả lời:
“Hầu hết các cán bộ tại đơn vị đều có tình trạng sức khoẻ tốt; bởi ngay từ khâu
đầu vào các điều tra viên đều phải đảm bảo tiêu chí về chiều cao, cân nặng, phải là
những người không có bệnh lý nào. Đầu vào tuyển lựa rất nghiêm ngặt về yêu cầu này,
nên đây là một tiêu chí mà tất cả các điều tra viên thể hiện rất tốt. Cụ thể hàng năm, các
điều tra viên đều tham gia đợt kiểm tra sức khoẻ của Cục. Trong đợt kiểm tra này, tất
cả các điều tra viên đều phải tham gia với những tiêu chí phân chia theo giới tính và độ
tuổi. Tuy nhiên, cả nam và nữ phải đảm bảo tiêu chí đạt trong các nội dung: chạy ngắn,
chạy xa, bật xa; đối với các đồng chí nam còn phải đảm bảo cả phần thi chống đẩy và
xà đơn. Do đó, đòi hỏi quá trình hoạt động các điều tra viên không chỉ đáp ứng những
chỉ tiêu về công việc mà còn phải đáp ứng cả những tiêu chí về mặt thể chất. Hầu hết
các điều tra viên có thể chất tốt, đảm bảo đời sống tinh thần được thoải mái cũng như
đáp ứng được các yêu cầu hoạt động nghề nghiệp. Tuy nhiên có một số đồng chí nữ,
do có thể trạng sức khoẻ thay đổi do phải đảm đương không chỉ công việc mà còn phải
đảm nhận vai trò của người vơi, người mẹ trong gia đình nên đôi khi thể chất không
được đảm bảo, gây ảnh hưởng đến đời sống tình cảm cũng như hiệu quả công việc
không cao”. Qua những chia sẻ của đồng chí T cho chúng ta thấy, rõ ràng thể chất
là một trong những nhân tố có sự tác động đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên
nói riêng cũng như hiệu quả công việc điều tra nói chung.
4.2.1.2. Các thuộc tính tâm lý nhân cách của điều tra viên
Bảng 4.13: Thực trạng mức độ ảnh hưởng của yếu tố thuộc tính tâm lý nhân
cách đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ
Công an
% % hợp lệ % tích luỹ Số lượng
Mức độ 20.0 100.0
Trung bình Mạnh Tổng 51 204 255 20.0 80.0 100.0 20.0 80.0 100.0
141
Kết quả điều tra cho thấy, có 80,00% điều tra viên lựa chọn yếu tố thuộc
tính tâm lý của nhân cách có ảnh hưởng mạnh đến trí tuệ cảm xúc của họ.
Để làm rõ yếu tố các thuộc tính tâm lý của nhân cách có ảnh hưởng
như thế nào đến trí tuệ cảm xúc chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu đối với
đồng chí T.Đ.T - Trưởng phòng 3. Câu hỏi chúng tôi đưa ra “Đồng chí
cho biết các điều tra viên ở trong phòng đồng chí có kiểu khí chất như thế
nào (linh hoạt, nóng nảy, trầm, ưu tư,...) và khí chất này được thể hiện
như nào trong quá trình hoạt động của điều tra viên đó với đồng nghiệp,
cũng như với các đối tượng, lực lượng có liên quan? Đồng chí nhận thấy
kiểu khí chất của điều tra viên có ảnh hưởng gì đến kết quả của hoạt động
điều tra hay không?” thì nhận được câu trả lời: “Phòng 3 chúng tôi gồm
10 đồng chí, mỗi đồng chí có một tính cách riêng khác nhau. Có đồng chí
thì tính tình rất vui vẻ, hoà đồng, vui - buồn thể hiện rất rõ nét. Nhưng
cũng có những đồng chí có tính cách ít nói, thường ít bộc lộ hay chia sẻ
những cảm xúc hay vấn đề khó khăn mà các đồng chí đó đang gặp phải.
Có những đồng chí lại hay bộc lộ suy nghĩ, tình cảm ra ngoài; thậm chí
bộc lộ cả những chuyện mang tính chất riêng tư khá sâu. Một số đồng chí
lại mang tính cách nóng nảy, khi gặp bất kỳ chuyện gì xảy ra không như ý
muốn đặc biệt là khi tiếp xúc với các đối tượng ngoan cố, không khai thì
tỏ ra bực tức, mặt bừng đỏ, dùng những lời lẽ không có sự kiểm soát... Tất
cả những tính cách này đều có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả của hoạt
động điều tra. Những đồng chí có tính cách nóng nảy thường gặp phải sự
khó chịu và phản đối lại của đối tượng khiến hoạt động điều tra thường
kéo dài thậm chí không đạt hiệu quả. Còn những đồng chí có tính cách vui
vẻ, hoà đồng thường được đồng nghiệp cũng như các đối tượng cảm thấy
gần gũi và có sự hợp tác, chia sẻ nhưng những đồng chí này lại thường
đưa những nhận định chưa sâu nên nhiều lúc còn mang tính chủ quan.
Những đồng chí có khí chất điềm tĩnh thì luôn có cái nhìn nhận rõ rệt
trong mọi vấn đề, có sự thể hiện cảm xúc mang tính cân nhắc đến sự phù
142
hợp của hoàn cảnh cũng như đối tượng. Bởi vậy, đây lại là những người
mang lại hiệu quả điều tra cao nhất.”
Từ những ý kiến trên cho thấy, rõ ràng những thuộc tính tâm lý của
nhân cách cũng có ảnh hưởng nhất định đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên
dưới những góc độ khác nhau.
4.2.1.3. Giới tính, tuổi tác và thâm niên công tác của điều tra viên
- Giới tính
Kết quả nghiên cứu trí tuệ cảm xúc đã chỉ ra có sự khác biệt trong trí
tuệ cảm xúc của điều tra viên nam và điều tra viên nữ ở Cục An ninh điều tra,
với p=0.00 (phụ lục 5.4). Điều này được thể hiện rõ trong bảng sau:
Bảng 4.14: Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra
thuộc Bộ Công an theo giới tính
Tổng số ĐTB ĐLC ĐLC
Mean nhận thức
Mean thấu hiểu
Mean vận dụng
Theo bảng 4.14, ĐTB của điều tra viên nữ trong từng mặt biểu hiện (đạt từ 2.62 - 2.67) cao hơn hẳn so với ĐTB của điều tra viên nam (đạt từ 2.26 - 2.48). Điều này có thể lý giải bởi điều tra viên nữ do đặc trưng của giới nên gắn với đời sống tình cảm hơn, các điều tra viên thường thiên về ý chí nhiều hơn. Trong hoạt động điều tra điều tra viên nữ thường thể hiện sự linh hoạt, khéo léo cũng như sự nhanh nhạy hơn trong sự thấu hiểu cũng như vận dụng, điều khiển cảm xúc. Bởi vậy, trong bốn mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc điều tra viên nữ đều đạt ở mức độ cao. Nhằm làm rõ hơn chúng tôi tiến hành kiểm định sự khác biệt trung bình bằng phương pháp Independent Sample T-Test, và thu được kết quả sau:
Mean điều khiển Giới tính Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ 141 114 141 114 141 114 141 114 2.26 2.62 2.35 2.66 2.48 2.67 2.35 2.66 0.585 0.50 0.50 0.30 0.48 0.30 0.50 0.30 0.05 0.03 0.04 0.02 0.04 0.02 0.04 0.02
143
Kết quả trung bình của phương sai
F Sig. t-test giá trị trung bình t
35.13 0.00 -5.59
Điểm trung bình nhận thức -5.47
73.34 0.00 -6.39
Điểm trung bình thấu hiểu -5.96
21.55 0.00 -4.02
Điểm trung bình vận dụng -3.76
0.00
Điểm trung bình điều khiển Các phương sai bằng nhau được giả định Các phương sai bằng nhau không được giả định Các phương sai bằng nhau được giả định Các phương sai bằng nhau không được giả định Các phương sai bằng nhau được giả định Các phương sai bằng nhau không được giả định -6.19 -5.56 71.34
Thông qua bảng số liệu trên cho chúng ta thấy sig=0.00 < 0.05 nên
khẳng định được phương sai giữa 2 giới tính là khác nhau. Tuy nhiên, sự
chênh lệch này không lớn, nên không có ý nghĩa nhiều về giá trị thống kê.
- Tuổi tác và thâm niên công tác
Để có cái nhìn toàn diện hơn cần phân tích để làm sáng rõ mối quan hệ
của trí tuệ cảm xúc với yếu tố thâm niên công tác hay yếu tố tuổi tác.
Bảng 4.15: Tương quan trí tuệ cảm xúc với tuổi tác, thâm niên công tác
Tương quan Person Kết luận Xác suất ý nghĩa
Giá trị tương quan 0.69 0.02
Mức độ TTCX - thâm niên công tác Mức độ TTCX - tuổi tác 0.66 0.01
Tương quan thuận, có ý nghĩa Tương quan thuận, có ý nghĩa
144
Kết quả bảng số liệu trên cho thấy, mức độ trí tuệ cảm xúc với thâm niên
công tác của điều tra viên có mối tương quan thuận với mức R = 0.69 (α = 0.02).
Thực tế cho thấy, điều tra viên càng có kinh nghiệm lâu năm hoạt động trong
nghề, bản thân họ cũng có nhìn nhận sâu sắc, chính xác và khéo léo, tinh tế hơn
trong mối quan hệ người - người. Điều này cũng là biểu hiện khẳng định, trí tuệ
cảm xúc có xu hướng nâng cao so với thời gian họ làm việc mà cụ thể là thâm
niên công tác. Đi sâu phân tích để làm rõ mức độ ảnh hưởng của thâm niên công
tác với trí tuệ cảm xúc của điều tra viên, kết quả được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 4.16: Mức độ ảnh hưởng của thâm niên công tác đến trí tuệ cảm
xúc của điều tra viên
STT Thấp Cao Thâm niên công tác
Trên 15 năm 10-15 năm 5-10 năm
1 2 3 4 Dưới 5 năm SL 5 15 30 15 Mức độ trí tuệ cảm xúc Trung bình % SL 5.9 15 13.7 35 25 9.8 1.96 5 % 1.96 5.9 11.8 5.9 SL 50 50 10 5 % 19.6 19.6 3.9 1.96
Tỷ lệ điều tra viên đạt mức độ từ trung bình đến cao tập trung chủ yếu
ở các điều tra viên có thâm niên công tác lâu năm. Cụ thể:
- Ở mức trí tuệ cảm xúc cao, điều tra viên có thâm niên công tác từ 10
năm - 15 năm hay trên 15 năm đều chiếm 19.6%. Trong khi đó, ở mức này
điều tra viên ở thâm niên công tác 5 - 10 năm chỉ đạt 3.96%, điều tra viên ở
dưới 5 năm đạt 1.96%.
- Kết quả này hoàn toàn ngược lại ở mức độ trí tuệ cảm xúc thấp, khi
mà điều tra viên có thâm niên công tác 5 - 10 năm chiếm 11.8% và điều tra
viên có thâm niên công tác dưới 5 năm đạt 5.9% thì điều tra viên có thâm niên
công tác trên 15 năm lại chỉ đạt 1.96%.
Những điều này cho thấy, thâm niên công tác có ảnh hưởng đến trí tuệ
cảm xúc của điều tra viên. Những điều tra viên có thâm niên công tác lâu
năm có mức độ trí tuệ cảm xúc của họ càng cao. Điều này hoàn toàn phù
hợp, bởi những điều tra viên có thâm niên công tác nhiều hơn đồng nghĩa
145
với việc họ có quá trình hoạt động điều tra lâu năm hơn. Tính tích cực của
bản thân cùng với kinh nghiệm nghề nghiệp giúp họ đúc kết được chính
xác những cảm xúc của đối tượng cũng như thể hiện khả năng vận dụng,
điều khiển cảm xúc tốt hơn.
Không chỉ vậy, mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên còn có sự
tương quan thuận với mức R = 0.66 (α = 0.01). Hay nói cách khác tuổi tác
cũng có sự ảnh hưởng tới trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.
Bảng 4.17: Mức độ ảnh hưởng của tuổi tác đến trí tuệ cảm xúc của điều
tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
Thấp Cao STT Tuổi
Mức độ trí tuệ cảm xúc Trung bình % SL 7.8 20 11.8 30 9.8 25 SL 15 55 65 % 7.8 9.8 0 % 5.9 21.6 25.5 SL 20 25 0 1 Dưới 30 tuổi 30 - 40 tuổi 2 Trên 40 tuổi 3
Kết quả bảng trên cho thấy, tuổi của điều tra viên càng lớn thì mức độ
trí tuệ cảm xúc càng cao. Cụ thể:
- Ở mức độ cao, điều tra viên từ 30 tuổi trở lên mức độ trí tuệ cảm xúc
cao với tỷ lệ đều đạt 21.6% - 25.5%; trong khi đó tỉ lệ này chỉ đạt 5.9 % với
độ tuổi dưới 30.
- Ở mức độ trí tuệ cảm xúc thấp thì ở độ tuổi trên 40 tuổi không có ai,
trong khi đó dưới 30 tuổi lại chiếm 7.8%.
Như vậy, có thể thấy đối với những điều tra viên có tuổi cao hơn thì
mức độ trí tuệ cảm xúc cũng đạt ở mức cao hơn. Điều này hoàn toàn phù hợp
bởi đó là những điều tra viên có kinh nghiệm sống cũng như kinh nghiệm
nghề nghiệp phong phú nên quá trình nhận thức cũng như cách thức ứng xử
của họ sẽ có chiều sâu và hiệu quả.
Để làm rõ hơn sự ảnh hưởng của thâm niên công tác với trí tuệ cảm
xúc, chúng tôi tiến hành so sánh sự tương quan giữa trí tuệ cảm xúc với kết
quả hoàn thành nhiệm vụ của điều tra viên:
146
Bảng 4.18: Mối tương quan giữa trí tuệ cảm xúc với kết quả hoạt động
của điều tra viên
ĐTB ĐLC
Tổng số
Kết quả phân loại ĐTV Tổng hợp TTCX của ĐTV 2.63 2.46 0.61 0.56 255 255
Kết quả cho thấy, trí tuệ cảm xúc và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của
điều tra viên có sự tương quan thuận, chặt với nhau, mức độ tương quan từ
r=0.56 đến r= 0.61.
- Vốn kinh nghiệm của cá nhân
(ĐTB = 2.75) cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên ở Cục An ninh điều tra. Những điều tra viên nào có cơ hội trải
nghiệm nhiều hơn trong cuộc sống và các mối quan hệ xã hội, ưa học hỏi, trau
dồi hiểu biết về ngành nghề của mình, về công tác điều tra thì sẽ có vốn sống
tốt hơn. Từ đó góp phần nâng cao mức độ trí tuệ cảm xúc. Theo kết quả khảo
sát của luận án, vốn kinh nghiệm của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra
được tích luỹ chủ yếu thông qua “Tiếp xúc với cuộc sống bên ngoài, với các
lực lượng phối hợp chức năng trong quá trình sống cũng như trong hoạt động
điều tra vụ án” (ĐTB = 2.53) và “Những trải nghiệm trực tiếp trong hoạt động
điều tra và rèn luyện nghề nghiệp” (ĐTB = 2.81). Trong đó, nhận thức về tầm
quan trọng của vốn kinh nghiệm có điểm thấp nhất (ĐTB = 2.47). Vì vậy,
muốn nâng cao trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên, cần thiết làm cho các điều
tra viên hiểu về tầm quan trọng của vốn kinh nghiệm đối với trí tuệ cảm xúc
của điều tra viên. Mặt khác, cũng cần làm rõ để điều tra viên hiểu rõ tầm quan
trọng những trải nghiệm trong hoạt động nghề nghiệp, rèn luyện trong thực tiễn
hoạt động điều tra.
4.2.2. Nhóm yếu tố khách quan
4.2.2.1. Môi trường làm việc của điều tra viên
Sự ảnh hưởng của môi trường làm việc được thể hiện thông qua bảng
số liệu sau:
147
Bảng 4.19: Thực trạng mức độ ảnh hưởng của yếu tố môi trường làm
việc đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên
% % hợp lệ % tương
Số lượng thích
51.8 100.0 Mức độ
Thông qua bảng số liệu này cho thấy, trí tuệ cảm xúc chịu ảnh hưởng
Trung bình Mạnh Tổng 132 123 255 51.8 48.2 100.0 51.8 48.2 100.0
của môi trường làm việc. Có 48.2% điều tra viên cho rằng môi trường làm
việc có ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của họ với mức độ mạnh.
Để nắm bắt được sự ảnh hưởng của yếu tố này chúng tôi đã tiến hành
thu thập thông qua phiếu hỏi cá nhân. Trong phiếu hỏi này, chúng tôi đưa ra
các yếu tố như xuất thân gia đình, gia đình hiện tại, mức độ hài lòng của điều
tra viên với mức thu nhập hiện tại, … Kết quả thu được cho thấy: mỗi điều tra
viên lại có điều kiện, hoàn cảnh sống khác nhau. Điều này chi phối việc hình
thành nên các tính cách khác nhau. Do đó, trong ý kiến của lãnh đạo T - Phó Cục
trưởng Cục ANĐT khi trả lời phỏng vấn cũng nhắc đến “mỗi một điều tra viên có
khí chất khác nhau, dẫn đến việc tính cách của mỗi điều tra viên lại có sự khác
nhau: có người vui vẻ, hoà đồng; nhưng có người lại trầm, ưu tư; có người lại
điềm tĩnh.”. Điều này để thấy, môi trường làm việc của Cục ANĐT cũng như
môi trường khi điều tra viên tiếp xúc với các đối tượng cũng như các lực lượng
chức năng có liên quan sẽ phải đối diện với rất nhiều kiểu tính cách khác nhau.
Do đó, đòi hỏi điều tra viên cần phải biết điều khiển cảm xúc của bản thân mình
cho phù hợp. Tuy nhiên, qua số liệu điều tra thu được ở trên, cũng cho thấy một
số điều tra viên có khả năng điều khiển cảm xúc còn hạn chế. Khi tiếp xúc với
đối tượng thường hay mất kiểm soát cảm xúc, dễ nóng giận, bực bội. Điều này
có lẽ một phần cũng do áp lực từ phía công việc mà điều tra viên cần phải hoàn
thành cũng như việc điều tra viên gặp phải những đối tượng có thái độ không
hợp tác. Bởi vậy có thể nói môi trường làm việc có ảnh hưởng lớn đến trí tuệ
cảm xúc của điều tra viên, cụ thể ở đây đó chính là năng lực điều khiển cảm xúc;
dẫn đến kết quả hoạt động điều tra cũng bị ảnh hưởng.
148
4.2.2.2. Yếu tố giáo dục của điều tra viên
Giáo dục có ảnh hưởng mạnh mẽ đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên
(phụ lục 5.8). Kết quả điều tra khẳng định yếu tố giáo dục có ảnh hưởng mức
độ mạnh đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên (chiếm 84.1%).
Thông qua báo cáo tổng kết của Cục ANĐT cho thấy có 60.7% điều tra
viên được đào tạo chính quy, từ các trường Đại học Công an nhân dân. Đây là
môi trường được rèn luyện, giáo dục toàn diện cả về nghiệp vụ, xã hội cũng
như đời sống tinh thần. Trong môi trường này, học viên hình thành lòng yêu
ngành, yêu nghề, yêu đất nước. Do đó, những cảm xúc tích cực được hình
thành, bồi dưỡng ở điều tra viên ngay từ rất sớm. Đây là điều kiện để hình
thành cho điều tra viên trí tuệ cảm xúc tốt.
Bảng 4.20: Thực trạng mức độ ảnh hưởng của yếu tố giáo dục đến trí
tuệ cảm xúc của điều tra viên
Trình độ học vấn ĐTB Tổng số ĐLC
Đại học Sau đại học Tổng 2.56 2.71 2.61 155 100 255
0.50 0.37 0.56 Thông qua bảng số liệu trên cho thấy yếu tố giáo dục nhà trường có ảnh
hưởng mạnh mẽ đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Những điều tra viên
có trình độ đào tạo sau đại học, có ĐTB trí tuệ cảm xúc cao hơn với những
điều tra viên có trình độ đào tạo đại học (2.61 > 2.56). Điều này có thể giải
thích do những điều tra viên có trình độ đào tạo sau đại học một phần do sự
tác động của khối lượng kiến thức nhiều và chuyên sâu hơn thì mặt khác, họ
cũng là những điều tra viên có vốn kinh nghiệm dày dặn hơn. Do đó, tạo ra
sự chênh lệch về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Bảng số liệu trên cũng
cho thấy độ lệch chuẩn giữa trình độ giáo dục đại học và sau đại học có sự
chênh lệch không đáng kể (0.37 - 0.50). Để tìm hiểu rõ hơn sự ảnh hưởng
của yếu tố này đối với trí tuệ cảm xúc của điều tra viên, chúng tôi sử dụng
kiểm định One - way ANOVA; kết quả ở phụ lục 5.6 cho thấy: p = 0.38 >
0.05 cho phép khẳng định mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An
149
ninh điều tra có sự khác biệt, nhưng sự khác biệt này không có ảnh hưởng
lớn. Chúng tôi tiếp tục xác định mối tương quan giữa trí tuệ cảm xúc và trình
độ học vấn thì thu được kết quả như sau:
Bảng 4.21: Mối tương quan giữa trình độ học vấn và trí tuệ cảm xúc
của điều tra viên
Trình độ học vấn TB nhận thức TB thấu hiểu TB vận dụng TB điều khiển
Đại học
Sau đại học
Tổng
ĐTB Tổng số ĐLC ĐTB Tổng số ĐLC ĐTB Tổng số ĐLC 2.56 155 0.50 2.71 100 0.48 2.67 255 0.56 2.34 155 0.48 2.52 100 0.56 2.49 255 0.40 2.24 155 0.47 2.42 100 0.58 2.39 255 0.40 2.24 155 0.43 2.42 100 0.52 2.19 255 0.40
Như vậy, nhìn vào ĐTB có sự chênh lệch trong trí tuệ cảm xúc của điều
tra viên trên 4 mặt biểu hiện, tuy nhiên sự chênh lệch này không đáng kể. Hệ
số tương quan r > 0.05 đã chỉ ra sự trí tuệ cảm xúc có sự tương quan với trình
độ học vấn nhưng tương quan không chặt chẽ.
Không những thế, thông qua phiếu thu thập thông tin cá nhân; chúng
tôi còn thu thập thông tin về xuất thân gia đình của điều tra viên. Trong đó có
63% điều tra viên xuất thân từ gia đình trí thức; 25% điều tra viên xuất thân từ
gia đình buôn bán. Để làm rõ hơn chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu với 12%
điều tra viên có xuất thân không nằm trong hai nhóm trên với câu hỏi: “Trước
đây, trong quá trình đi học; bố mẹ đồng chí quan tâm đến việc học của đồng
chí như thế nào?” thì chúng tôi nhận được phản hồi tích cực. Họ đều cho thấy
mặc dù không xuất thân từ những gia đình có tri thức hay có điều kiện kinh
tế, nhưng bố mẹ họ đều có nhận thức đúng đắn về việc học tập nên trong quá
trình nuôi dạy con cái, các điều tra viên luôn nhận được sự quan tâm, tạo điều
kiện từ phía gia đình nên đã giúp họ hình thành niềm yêu thích, say mê học
tập. Điều này có thể khẳng định rằng, việc giáo dục từ môi trường nhà trường
và môi trường gia đình có ảnh hưởng mạnh đến trí tuệ cảm xúc của điều tra
150
viên. Nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng nhận thức cũng như những
thuộc tính nhân cách của điều tra viên; hình thành nên kiểu trí tuệ đặc trưng
của họ. Điều này sẽ ảnh hưởng đến cách thức tiếp nhận cũng như giải quyết
vấn đề của điều tra viên trong hoạt động điều tra.
4.2.2.3. Hoạt động và giao tiếp trong thực tiễn hoạt động điều tra của
điều tra viên
Để làm rõ sự tác động của hoạt động và giao tiếp trong thực tiễn hoạt
động điều tra đến trí tuệ cảm xúc, chúng tôi tiến hành khảo sát và thu được
kết quả như sau:
Bảng 4.22: Thực trạng mức độ ảnh hưởng của yếu tố hoạt động và giao tiếp
trong thực tiễn hoạt động điều tra đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên
% % hợp lệ % tích luỹ
Số lượng
Mức độ 15.7 100.0
Trung bình Mạnh Tổng 40 215 255 15.7 84.3 100.0 15.7 84.3 100.0
Kết quả khảo sát cho thấy trí tuệ cảm xúc của điều tra viên chịu tác
động với mức độ mạnh của yếu tố này, chiếm 84.3%.
Thực tế tính chất công việc của Cục ANĐT từ số liệu tổng kết cho thấy
hàng năm họ phải tiếp nhận, xử lý hàng trăm vụ án khác nhau. Do đó, ngoài
việc tiếp xúc, giao tiếp với đồng nghiệp trong cơ quan; điều tra viên còn có
môi trường hoạt động, giao tiếp với rất nhiều đối tượng cũng như lực lượng
chuyên trách có liên quan.
Việc tham gia các hoạt động nghề nghiệp này giúp họ có điều kiện học
hỏi rất nhiều tri thức, kinh nghiệm cũng như hình thành kỹ năng xử lý tình
huống một cách linh hoạt. Thông qua hoạt động và giao tiếp, điều tra viên sẽ
đón nhận được bầu không khí tâm lý mang tính tích cực hay tiêu cực. Điều đó
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cảm xúc của điều tra viên. Nếu bầu không khí
tâm lý tích cực, thoải mái sẽ là nhân tố giúp cho điều tra viên phát triển năng
lực vận dụng cảm xúc cũng như điều khiển cảm xúc mang tính tích cực.
Nhưng nếu bầu không khí tâm lý tiêu cực sẽ là nguyên nhân khiến cho năng
151
lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên bị chi phối, ảnh hưởng theo chiều
hướng tiêu cực tới kết quả hoạt động điều tra. Bởi vậy, hoạt động và giao tiếp
có vai trò to lớn đối với trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục ANĐT.
4.2.2.4. Đối tượng tiếp xúc của điều tra viên
Đối tượng tiếp xúc của điều tra viên cũng có ảnh hưởng với mức độ
mạnh đến trí tuệ cảm xúc của họ, chiếm 67.8% (phụ lục 5.8.5).
Theo báo cáo tổng kết hàng năm, điều tra viên ở Cục ANĐT phải tiếp
nhận, xử lý hàng ngàn vụ án khác nhau. Hầu hết các vụ án này có liên quan
đến an ninh quốc gia, do đó điều tra viên luôn luôn trong tình trạng căng
thẳng về nhiệm vụ mình đảm nhận. Điều này chi phối đến năng lực điều khiển
cảm xúc của điều tra viên rất lớn.
Mặt khác, trong quá trình điều tra, điều tra viên phải thường xuyên đấu
tranh với các đối tượng khác nhau nên đòi hỏi điều tra viên phải có trí tuệ cảm
xúc tốt: phải có năng lực thấu hiểu, vận dụng cảm xúc cũng như điều khiển
cảm xúc linh hoạt. Kết quả điều tra cho thấy, điều tra viên ở Cục ANĐT có
năng lực thấu hiểu cảm xúc tốt, việc vận dụng cảm xúc linh hoạt. Để hiểu rõ
hơn chúng tôi tiến hành phỏng vấn đồng chí N.V.Tr - Trưởng phòng 4: “Đồng
chí cho biết các đối tượng mà điều tra viên thường tiếp xúc trong hoạt động
điều tra? Khi tiếp xúc với các đối tượng này điều tra viên có sự thay đổi thế
nào về cảm xúc?” và thu được kết quả “ Điều tra viên chúng tôi phải đối diện
với nhiều đối tượng phạm tội khác nhau. Tuy nhiên, khi gặp phải các đối
tượng đều là những người được thế lực thù địch đào tạo bài bản những chiêu
trò chống lại cơ quan điều tra thì năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra
viên chịu ảnh hưởng mạnh mẽ. Điều tra viên đều là những người có sự chủ
động dự báo, nắm bắt đến tình huống xảy ra để có những cách thức tác động
hiệu quả. Tuy nhiên, đối với bộ luật hình sự hiện nay, khi đề cao quyền dân
chủ nên các đối tượng phạm tội kiên quyết không khai thông qua quyền im
lặng và quyền mời luật sư. Điều này sẽ gây ra sự ức chế tâm lý cho cán bộ
điều tra, một số điều tra viên năng lực điều khiển cảm xúc hạn chế sẽ dẫn đến
việc không kiểm soát được cảm xúc tiêu cực làm cho hiệu quả công tác điều
152
tra không cao.” Điều này cho thấy hoạt động điều tra nói chung cũng như trí
tuệ cảm xúc cả điều tra viên nói riêng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nhân tố
này. Từ đó, cần phải có cách thức tác động tâm lý phù hợp đến đối tượng để nâng
cao hiệu quả hoạt động điều tra.
4.3. Phân tích chân dung tâm lý điển hình
Để củng cố thêm căn cứ thực tiễn, minh hoạ, làm rõ hơn kết quả nghiên
cứu thực trạng trí tuệ cảm xúc và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ
cảm xúc của điều tra viên, ở luận án đã phân tích 02 chân dung tâm lý điển
hình, cụ thể như sau
4.3.1. Chân dung 1: Điều tra viên Nguyễn Văn H.
a. Thông tin điều tra viên
- Họ và tên: Nguyễn Văn H. Sinh năm: 1972
- Là điều tra viên cao cấp (từ năm 2002), làm việc tại phòng 3 - Cục An
ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
Điều tra viên H. sinh ra trong gia đình có bố mẹ làm công nhân viên
chức của nhà nước, bố của H. làm kỹ sư nông nghiệp, còn mẹ H. cũng là giáo
viên. Ngay từ nhỏ, H. đã được sự quan tâm dạy dỗ chu đáo của bố mẹ. H. học
rất tốt và đều tất cả các môn học ở phổ thông. Suốt thời học phổ thông, em đã
được cô giáo và các bạn tín nhiệm bầu chức lớp trưởng. H làm sinh viên khoá
D22, Học viện An ninh nhân dân.
b. Biểu hiện trí tuệ cảm xúc
- Về Năng lực nhận biết cảm xúc: Nguyễn Văn H. là một trong những
điều tra viên đạt điểm cao về năng lực nhận biết cảm xúc khi chúng tôi tiến
hành khảo sát thực trạng toàn bộ khách thể. H. nắm bắt khá tốt các kiến
thức nghề, vai trò và tầm quan trọng của nghề điều tra viên, có khả năng
nhận biết chính xác và nhanh chóng những biểu hiện của cảm xúc cũng như
những đặc điểm về mặt nhân cách của đối tượng, đồng nghiệp. Điều này
được thể hiện rất rõ qua khả năng giao tiếp cũng như xử lý linh hoạt các
tình huống của điều tra viên H. Trong quá trình tiếp xúc với đối tượng để
153
lấy lời khai, H. cũng được lãnh đạo cũng như đồng nghiệp đánh giá cao
trong việc phân biệt chính xác cảm xúc thật hay giả của đối tượng nên H.
luôn có cách thức tác động tâm lý hiệu quả và linh hoạt. Tuy nhiên, điều tra
viên H. lại hạn chế trong việc nhận biết cảm xúc của bản thân nên đôi khi
không nắm bắt cũng như kiểm soát có hiệu quả cảm xúc của bản thân, vì
vậy trong hoạt động điều tra đôi khi còn gặp phải những khó khăn khi có
những phản ứng mang tính chất thái quá.
- Về Năng lực thấu hiểu cảm xúc: Nguyễn Văn H. là người được đồng
nghiệp đánh giá là vui tính, dễ gần, luôn luôn quan tâm và chia sẻ với các
đồng nghiệp. H. luôn nắm bất được những cảm xúc của đối tượng cũng như
của đồng nghiệp một cách chính xác. H. luôn luôn thể hiện sự thấu hiểu cũng
như luôn động viên, khích kệ đồng nghiệp để họ có động lực thực hiện công
việc hay vượt qua những khó khăn. Không chỉ trong mối quan hệ với đồng
nghiệp mà trong hoạt động điều tra với đối tượng điều tra viên H. cũng thể
hiện khả năng nắm bắt chính xác nhu cầu của đối tượng để có thể đề xuất và
đáp ứng những nhu cầu của họ trong chừng mực nhất định. Điều này được lý
giải do H. có khả năng nhận biết cảm xúc tốt nên việc thấu hiểu cảm xúc của
H được chắp nối có hiệu quả hơn.
- Về Năng lực vận dụng cảm xúc: Nguyễn Văn H. thường chủ động
nhìn nhận sự việc dưới nhiều góc độ khác nhau, xem xét mọi sự việc một cách
đa chiều, luôn nhìn nhận dựa trên sự phù hợp với đặc điểm tâm lý của các cá
nhân xung quanh. H. cũng thể hiện khả năng vận dụng một cách linh hoạt trong
việc giải quyết vấn đề cũng như trong quá trình giải quyết các sự việc phát sinh
cũng như có khả năng phân biệt để cân nhắc cảm xúc với suy nghĩ. Vì vậy, trong
suy nghĩ và cảm xúc của H. có sự đồng nhất góp phần định hướng cảm xúc một
cách có chủ ý, hiệu quả. Tuy nhiên, trong năng lực này H. lại thể hiện sự hạn chế
trong khả năng ghi nhớ, điều này tạo ra sự khó khăn với điều tra viên H trong
quá trình phán đoán một vấn đề đôi khi còn mang tính cảm tính.
154
- Về Năng lực điều khiển cảm xúc: Nguyễn Văn H. được nhận xét là
người luôn có những biểu hiện hài hoà và hành vi ứng xử phù hợp với lãnh
đạo và đồng nghiệp. Trong công việc, H. luôn là người luôn lập trước kế
hoạch làm việc, do vây trong mọi tình huống H. luôn là người làm chủ công
việc và có khả năng xử lý nhanh nhạy. Đồng nghiệp nhận thấy H. có khả năng
hoạt ngôn khi giao tiếp với đồng nghiệp cũng như nhanh chóng đưa ra các
cảm xúc phù hợp đối với các đối tượng. H. cũng thể hiện mình luôn có sự
đồng cảm và chia sẻ với đồng nghiệp, với những khó khăn mà họ gặp phải.
Do đó trong hoạt động điều tra, H luôn nhận được sự phối hợp của các đối
tượng, khiến cho hoạt động điều tra của H có hiệu quả.
c. Những yếu tố ảnh hưởng
Trước hết, Nguyễn Văn H. có lợi thế hơn các bạn khác ở chỗ đồng chí
H được sinh ra trong một gia đình công nhân viên chức và đã tham gia các
hoạt động tập thể từ khi còn học phổ thông, được bầu làm cán bộ lớp và được
các bạn trong lớp tin tưởng. Hơn nữa H. vốn là sinh viên khoá D22 tại Học
viện An ninh, đây là môi trường bồi dưỡng cho H vốn tri thức phong phú để
phục vụ hoạt động nghề nghiệp. Hoạt động điều tra lại là hoạt động có sự tiếp
xúc với nhiều đối tượng thuộc nhiều thành phần khác nhau. Trong quá trình
hoạt động nghề nghiệp của mình H sẽ có vốn sống, vốn kinh nghiệm được
tích luỹ nhiều. Điều này giúp H có được mối quan hệ thuận lợi ở cơ quan
cũng như sẽ được sự tin tưởng từ đồng nghiệp, lãnh đạo.
d. Kết quả hoạt động chuyên môn, phẩm chất đạo đức của điều tra viên
Theo báo cáo tổng kết về kết quả hoạt động chuyên môn trong 5 năm
(2015-2020) thì Nguyễn Văn H. có 2 năm đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua; 03
năm đạt Chiến sĩ tiên tiến. Để tìm hiểu rõ hơn, chúng tôi tiến hành phỏng vấn
lãnh đạo và 01 đồng nghiệp tại phòng mà H. đang làm việc thì nhận được
phản hồi tích cực. Theo ý kiến của họ H. là một người có trách nhiệm trong
công việc, có kế hoạch làm việc khoa học. H cũng là người có khả năng thụ lý
cũng như giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả các vụ án mà H. đảm nhận. Do
155
đó, số lượng vụ án mà H. đảm nhận tại phòng chiếm số lượng nhiều. H. cũng
tham gia tích cực trong hoạt động tập thể, cuộc thi Điều tra viên giỏi H. cũng
là người được cán bộ đề cử tham gia và giành được giải cao trong cuộc thi.
e. Nhận xét chung
Mức độ trí tuệ cảm xúc của Nguyễn Văn H. ở mức cao. Năng lực nhận
biết cảm xúc, thấu hiểu cảm xúc, vận dụng cảm xúc cũng như khả năng điều
khiển cảm xúc của điều tra viên H. thể hiện tốt. Tuy nhiên khả năng nhận thức
được cảm xúc của bản thân cũng như khả năng ghi nhớ còn hạn chế. Điều này
đòi hỏi H. cần chú ý để rèn luyện nhiều hơn nữa nhằm đáp ứng yêu cầu của
công việc hiện tại. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ trí tuệ cảm xúc của
H. Trong đó, yếu tố tích cực tham gia các hoạt động trong hoạt động điều tra,
H. có thâm niên và kinh nghiệm hoạt động điều tra có ảnh hưởng lớn nhất.
Ngoài ra, H. còn có rất nhiều lợi thế khác như: H. sống ở môi trường thuận lợi
và đặc biệt là ảnh hưởng từ quá trình giáo dục đúng đắn của bố mẹ cũng như
H. có môi trường học tập bài bản nên tạo điều kiện thuận lợi cho công việc
của H, giúp H. có nhận thức không bị sai lệch cũng như có cách thức làm chủ,
tác động tâm lý hiệu quả trong công tác của mình.
4.3.2. Chân dung 2: Điều tra viên Phạm Văn Tr
a. Thông tin điều tra viên
- Họ và tên: Phạm Văn Tr. Sinh năm: 1989
- Là điều tra viên trung cấp (từ năm 2013) là sinh viên của trường Đại
học Luật Hà Nội.
Tr. sinh ra trong một gia đình làm nghề lâm nghiệp tại một huyện
miền núi phía tây cách thành phố Thanh Hoá 120 km. Suốt thời học phổ
thông, trường học cách nhà rất xa, Phạm Văn Tr. phải quyết tâm lắm mới
không bỏ học. Kinh tế gia đình không mấy khá giả, công việc trồng rừng
của bố mẹ lại rất vất vả nên Tr. quyết tâm học để sau này không phải làm
nông như bố mẹ. Tr. học ở trường nội trú của huyện suốt thời học phổ
thông. Em luôn cố gắng học tốt để có thể thi đậu đại học. Tr. là một người
thật thà, nhiệt tình, hay giúp đỡ người khác.
156
b. Biểu hiện trí tuệ cảm xúc
- Về Năng lực nhận biết cảm xúc: Tr. gặp ít nhiều khó khăn trong quá
trình học tập và rèn luyện bởi sự khác nhau về môi trường văn hoá, các bạn ở
lớp học tốt hơn đặc biệt là ở các môn Tiếng Anh, các môn liên quan đến nghệ
thuật. Khả năng nắm bắt các kiến thức nghề, vai trò và tầm quan trọng của
nghề điều tra viên của Tr. thông qua khảo sát đạt ở mức độ cao. Tr. có khả
năng nhận biết những biểu hiện của cảm xúc cũng như những đặc điểm về
mặt nhân cách của đối tượng, đồng nghiệp nhưng còn không nhanh nhạy, đôi
khi Tr. còn nắm bắt sai thông điệp cảm xúc mà đối tượng muốn truyền đạt.
Điều này được thể hiện rất rõ qua khả năng giao tiếp cũng như xử lý linh hoạt
các tình huống của điều tra viên Tr. Tuy nhiên, trong quá trình tiếp xúc với
đối tượng để lấy lời khai, lãnh đạo cũng như đồng nghiệp nhận thấy trong
việc phân biệt cảm xúc thật hay giả của đối tượng Tr. phải mất thời gian khá
lâu nên ảnh hưởng đến tiến trình và thời gian điều tra của một vụ án. Ngược
lại, điều tra viên Tr. lại có khả năng nhận thức tốt cảm xúc của bản thân nên
khả năng nắm bắt cũng như kiểm soát có hiệu quả cảm xúc của bản thân của
Tr. lại rất tốt. Do đó trong hoạt động điều tra đôi khi Tr. lại được các đối
tượng khá hợp tác và tin tưởng để chia sẻ.
- Về Năng lực thấu hiểu cảm xúc: Phạm Văn Tr. là người được đồng
nghiệp đánh giá là người hiền lành, chân thật, luôn luôn quan tâm và chia
sẻ với các đồng nghiệp. Tuy nhiên khả năng nắm bắt được những cảm xúc
của đối tượng cũng như của đồng nghiệp của Tr. còn hạn chế. Tr. có thể
hiện sự thấu hiểu cũng như luôn động viên, khích kệ đồng nghiệp để họ có
động lực thực hiện công việc hay vượt qua những khó khăn nhưng sự động
viên này của Tr. diễn ra không thường xuyên. Tr. chỉ thể hiện điều đó với
những đồng nghiệp cùng hợp tác trong điều tra vụ án hay những người thân
thiết với Tr. Tuy nhiên điều tra viên Tr. lại có hạn chế trong việc chia sẻ
cảm xúc của bản thân với đồng nghiệp; do đó đời sống của Tr. khá nội tâm,
kín tiếng; đồng nghiệp cũng ít chia sẻ được với những cảm xúc của Tr.
157
- Về Năng lực vận dụng cảm xúc: Phạm Văn Tr. thường chủ động nhìn
nhận các tình huống điều tra dưới nhiều góc độ khác nhau, khi nhìn nhận vấn
đề hay đánh giá Tr. luôn xem xét hoàn cảnh cũng như suy nghĩ của người
khác. Tr. có nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, có sự phân tách rõ ràng để
tránh sự chi phối của tình cảm vào trong nhìn nhận, đánh giá vấn đề. Mặt
khác, mọi suy nghĩ và hành động của Tr. luôn được thực hiện theo một định
hướng nhất định, có kế hoạch rõ ràng. Bởi vậy, Tr. luôn là người có sự chủ
động điều chỉnh cảm xúc tốt khi gặp phải những vấn đề khó khăn hay những
tình huống bất ngờ. Mặc dù vậy, đôi khi Tr. còn thể hiện sự hạn chế trong quá
trình truyền tải cảm xúc đến người khác; do đó trong quá trình hoạt động nghề
nghiệp của Tr. có gặp những khó khăn nhất định.
- Về Năng lực điều khiển cảm xúc: Phạm Văn Tr. trong hành vi ứng
xử hàng ngày với lãnh đạo và đồng nghiệp luôn đúng chuẩn mực, thể hiện
sự tôn trọng và nhã ý trong cuộc nói chuyện. Tr. luôn chủ động trong công
việc và có khả năng nhìn nhận vấn đề cũng như đưa ra hướng xử lý vấn đề
nhanh nhạy. Để nhìn nhận cảm xúc của đối tượng. Tuy nhiên, khả năng
kiểm soát cảm xúc của Tr. lại có sự hạn chế. Điều đó được thể hiện rõ rệt
khi H có sự tiếp xúc, làm việc với các đối tượng phạm tội. Khi đối tượng
thực hiện quyền im lặng, Tr. không kiểm soát được suy nghĩ của bản thân
và có những cảm xúc mang tính tiêu cực.
c. Những yếu tố ảnh hưởng
Phạm Văn Tr. không phải là sinh viên chuyên ngành được đào tạo tại
môi trường Công an mà Tr. là sinh viên trường Luật. Do đó về quá trình đào
tạo chuyên sâu về ngành Công an của Tr. còn thể hiện sự hạn chế. Tuy nhiên
Tr. lại là sinh viên trường Luật nên việc nắm vững điều luật để thực hiện
trong quá trình điều tra của Tr. rất tốt. Tr. lại được sinh ra trong gia đình có
bố làm trong ngành nên đây là môi trường thuận lợi để bồi dưỡng tư tưởng,
tình cảm đúng đắn cũng như có người chỉ bảo trong việc nhìn nhận, bồi
dưỡng năng lực nghề nghiệp.
158
d. Kết quả hoạt động chuyên môn, phẩm chất đạo đức của điều tra viên
Theo báo cáo tổng kết về kết quả hoạt động chuyên môn trong 5
năm (2015-2020) thì Phạm Văn Tr. có 1 năm đạt danh hiệu Chiến sĩ thi
đua; 04 năm đạt Chiến sĩ tiên tiến. Theo nhận xét của đồng nghiệp trong
phòng thì Tr. là điều tra viên trẻ, có sự năng động, hoạt ngôn nên Tr. được
cử làm bí thư chi đoàn. Tr. luôn thể hiện là cán bộ đoàn gương mẫu, nhiệt
tình, luôn là tấm gương sáng trong chi đoàn. Trong công tác chuyên môn,
Tr. dủ còn trẻ nhưng khả năng giải quyết công việc của Tr. cũng được
lãnh đạo và đồng nghiệp đánh giá cao. Số vụ án Tr. tham gia trực tiếp hay
với vai trò hỗ trợ Tr. cũng đều làm tốt.
e. Nhận xét chung
Dù đã rất có gắng để học tập và rèn luyện nhưng do những hạn chế
nhất định về môi trường học tập, vốn kinh nghiệm, nên mức độ trí tuệ
cảm xúc của Phạm Văn Tr. dù cao nhưng không phải là cao nhất. Trong
đó, khả năng nhận biết cảm xúc ở mức cao. Khả năng thấu hiểu cảm xúc
và vận dụng cảm xúc ở mức trung bình. Khả năng điều khiển cảm xúc
còn đạt mức thấp. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ trí tuệ cảm
xúc của Tr. Trong đó, yếu tố môi trường học tập có ảnh hưởng lớn nhất.
Ngoài ra, những khác biệt về môi trường sống, vốn sống, vốn kinh
nghiệm hạn chế cũng ảnh hưởng nhiều đến trí tuệ cảm xúc của Tr. Tuy
nhiên, được sự hỗ trợ và động viên của đồng nghiệp cũng như người thân
Tr. đã có những tiến bộ.
4.4. Biện pháp tâm lý - xã hội phát triển trí tuệ cảm xúc cho Điều
tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an
Xuất phát từ cơ sở lý luận của đề tài và kết quả nghiên cứu thực trạng,
cũng như kết quả điều tra về sự cần thiết của các biện pháp phát triển trí tuệ
cảm xúc (phụ lục 5.8.6), chúng tôi đề xuất các biện pháp tác động tâm lý - xã
hội thể hiện sự phù hợp, khả thi như sau:
159
4.4.1. Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về trí tuệ cảm xúc cho điều
tra viên
Nâng cao nhận thức của điều tra viên về trí tuệ cảm xúc nhằm cung cấp
cho điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an những trí thức về trí
tuệ cảm xúc, vai trò của trí tuệ cảm xúc đối với hoạt động nghề nghiệp của họ,
nhằm tạo ra nhu cầu phát triển mức độ trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên ở Cục
An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
Để có thể phát triển nhận thức của điều tra viên về trí tuệ cảm xúc cần
phải thông qua các hoạt động sau:
Trước tiên cần giáo dục cho điều tra viên những kiến thức về trí tuệ cảm
xúc thông qua việc nghe giới thiệu trí tuệ cảm xúc và định hướng ứng dụng trí
tuệ cảm xúc vào trong cuộc sống, quá trình làm việc tại cơ quan. Trong các giờ
rèn luyện nghiệp vụ của điều tra viên, cần bố trí các chuyên gia thuyết trình. Các
chuyên gia này sẽ giới thiệu, phân tích về: khái niệm, bản chất và vai trò của trí
tuệ cảm xúc đối với cuộc sống con người nói chung, vai trò của trí tuệ cảm xúc
đối với hoạt động nghề nghiệp, các biện pháp nuôi dưỡng cảm xúc tích cực và
hạn chế cảm xúc tiêu cực, hướng vận dụng trí tuệ cảm xúc vào trong quá trình
nghề nghiệp của điều tra viên Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
Thứ hai, cần tổ chức thảo luận về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục
An ninh điều tra thuộc Bộ Công an. Trong đó, điều tra viên sẽ nêu ra những thắc
mắc của bản thân về trí tuệ cảm xúc và việc vận dụng nó vào trong hoạt động
nghề nghiệp. Khi tham gia vào hoạt động thảo luận này điều tra viên sẽ có được
sự hiểu biết cơ bản về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên, vai trò của trí tuệ cảm
xúc đối với cuộc sống, đối với hoạt động nghề nghiệp. Từ đó hình thành ở điều
tra viên lòng mong muốn được phát triển mức độ trí tuệ cảm xúc của bản thân.
Từ đó điều tra viên sẽ có sự điều chỉnh cảm xúc một cách phù hợp, tích cực
nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc cũng như hiệu quả công việc của mình. Đây
được coi là hoạt động phát triển nhận thức hiệu quả, sâu sắc nhất.
Để phát triển được nhận thức của điều tra viên đòi hỏi điều tra viên phải
có sự nhận thức. Bởi chính bản thân điều tra viên mới là người quyết định việc
160
nhận thức của cá nhân mình với một vấn đề và tiếp nhận nó. Thừa nhận rằng
chúng ta thường trải qua nhiều cảm xúc khác nhau, mặc dù chúng ta không có
quyền lựa chọn về cảm xúc nảy sinh, nhưng chúng ta có thể lựa chọn cách
thức phản ứng phù hợp với những cảm xúc này. Do đó, để phát triển khả năng tự
nhận thức điều tra viên, cần phải làm một số việc sau:
- Thực hành việc thể hiện cảm xúc
Việc thực hành này được thể hiện thông qua việc điều tra viên trả lời
bằng câu “tôi cảm thấy…” và chịu trách nhiệm cho cảm xúc đó thay vì đổ lỗi
cho người khác trong một tình huống nào đó. Hãy nói “tôi cảm thấy hơi sợ
khi bạn lái xe tốc độ cao”, thay vì câu nói là “bạn lái xe như một thằng điên”.
- Nhận biết cảm giác, tri giác xuất hiện cùng với những cảm xúc mạnh mẽ
Việc điều tra viên nhận biết được những sự tác động của sự vật hiện
tượng xung quanh và cảnh báo sớm về điều đó sẽ giúp họ nhận biết được các
cảm xúc khác nhau mà bản đang phải trải qua. Bởi cùng một lúc, cá nhân có
thể chịu sự tác động của nhiều sự vật hiện tượng khác nhau. Điều này sẽ giúp
họ có thể có nhiều cảm xúc, sẽ có những cảm xúc mang tính chủ đạo, lấn át đi
các cảm xúc khác. Tuy nhiên, có những hoàn cảnh mà cá nhân sẽ cùng xuất
hiện nhiều trạng thái cảm xúc. Điều này do cảm giác khác nhau khi họ chịu sự
tác động của sự vật, hiện tượng. Việc có nhiều cảm xúc khiến điều tra viên
cần phải có những cân đối, điều chỉnh và giúp bạn đưa ra biện pháp hiệu quả
để kiểm soát nó. Điều này sẽ giúp cho điều tra viên sẽ có những cảm xúc
mang tính phù hợp, hiệu quả trong từng hoàn cảnh nhất định.
- Bút ký hay nói cách khác là việc cá nhân dành thời gian vào cuối ngày
để ghi lại những cảm xúc và hiện tượng mà mình đã trải qua.
Việc điều tra viên ghi lại những gì mình đã trải qua giúp họ có thể xem
lại các các xúc mà điều tra viên đã trải qua ở những thời điểm khác nhau và
tìm ra nguyên nhân gây ra những cảm xúc đó. Trong thời gian này, điều tra
viên có thể xác định được kiểu cảm xúc của cá nhân và lý giải nguyên nhân
chính xác dẫn đến những cảm xúc đó. Điều này vô cùng có ý nghĩa bởi việc
161
theo dõi cảm xúc của điều tra viên sẽ giúp điều tra viên tăng khả năng nhận
thức, điều chỉnh và quản lý cảm xúc của mình.
- Làm bài “kiểm tra cảm xúc” một vài lần trong ngày
Việc này được tiến hành bằng việc điều tra viên dừng mọi hoạt động
trong vài phút sau đó tự vấn bản thân “tôi cảm thấy thế nào?”, “đây là cảm
xúc gì?”, và “cảm xúc này mạnh như thế nào?”. Kết hợp phương pháp này với
việc việc xem lại cảm xúc đã được bút ký vào cuối ngày sẽ làm tăng khả năng
hiểu biết cảm xúc bản thân và cuối cùng là khả năng nhận ra được cảm xúc
bản thân vào một thời điểm xác định. Như vậy, dù viết nhật ký hay làm kiểm
tra cảm xúc chính là cách thức giúp điều tra viên hồi tưởng lại những cảm xúc
đã trải qua, đánh giá nó và để có thể điều chỉnh được trí tuệ cảm xúc ở những
thời gian sau tích cực và phù hợp hơn.
Quan điểm sống, lạc quan tự tin với nguồn sức mạnh tiềm ẩn giúp điều
tra viên vượt qua cảm xúc âm tính. Bằng cách duy trì và phát triển thái độ
tích cực, lạc quan sẽ giúp điều tra viên đạt được trạng thái tinh thần lành
mạnh và hiệu quả trong hoạt động và giao tiếp. Với thái độ tích cực, lạc
quan, điều tra viên sẽ không còn những suy nghĩ bi quan về những vướng
mắc mình gặp phải mà thay vào đó là cảm giác hài lòng, tự hạnh phúc với
bản thân và có xu hướng thân thiện hơn với mọi người, khi đó điều tra viên
sẽ có tinh thần thoải mái, có được khả năng thấu hiểu nội tâm và cảm xúc
tích cực để quý trọng bản thân cũng như mang niềm vui đến cho người khác.
Nhờ vậy, điều tra viên sẽ tự tạo cho mình thêm nhiều cơ hội, đẩy lùi những
điều tiêu cực. Thái độ tích cực, lạc quan luôn tạo nên những phản ứng tinh
thần chính xác đối với mỗi tác động bên ngoài. Khi đó, điều tra viên sẽ biết
cách suy nghĩ, hành động và có cách cư xử đúng đắn trong mọi hoàn cảnh.
Do vậy, giáo dục nâng cao nhận thức, xây dựng cho điều tra viên có động cơ
đúng đắn, tình cảm và quan điểm sống tích cực, có tinh thần lạc quan, vui
vẻ, không định kiến tiêu cực sẽ góp phần rất quan trọng vào việc rèn luyện,
hoàn thiện các năng lực trí tuệ cảm xúc ở điều tra viên.
162
4.4.2. Bồi dưỡng các năng lực trí tuệ cảm xúc trong công việc cho
điều tra viên
Mỗi một đối tượng, ngành nghề mang những nét đặc trưng khác nhau,
do đó trí tuệ cảm xúc cũng có sự khác biệt giữa chúng. Tuy nhiên việc phát
triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên đều là hết sức cần thiết. Trang bị một
số kiến thức và kỹ thuật rèn luyện là một trong những biện pháp phát triển
hiểu biết cũng như rèn luyện kỹ năng thành thạo cho điều tra viên trong trí
tuệ cảm xúc của mình. Biện pháp này sẽ trang bị một số kiến thức và kỹ
thuật nhằm rèn luyện trí tuệ cảm xúc trong công việc cho điều tra viên và để
điều tra viên tự rèn luyện về trí tuệ cảm xúc cũng như phát triển một số năng
lực trong trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Qua đó, các điều tra viên cũng
dần phát triển tính tự giác, tích cực trong quá trình hoàn thiện nhân cách
nghề nghiệp nói chung và phát triển trí tuệ cảm xúc - ứng dụng nó trong công
việc - nghề nghiệp. Cụ thể:
Thứ nhất, tổ chức lớp học chuyên biệt về trí tuệ cảm xúc nhằm trang bị
một số kiến thức và kỹ thuật nhằm rèn luyện các năng lực trí tuệ cảm xúc
trong công việc của điều tra viên.
Các lớp học chuyên biệt về trí tuệ cảm xúc có thể xoay quanh các
chủ đề như sau:
- Chuyên đề 1: Năng lực thấu hiểu trái tim của điều tra viên
Chuyên đề này nhằm trang bị cho điều tra viên khả năng nhận biết cảm
xúc, khả năng phát hiện giải mã các cảm xúc của bản thân và người khác
(những người tham gia hoạt động điều tra). Điều này sẽ giúp cho điều tra viên
nắm bắt một cách chính xác cảm xúc của chính bản thân mình hay cảm xúc
của những người xung quanh, từ đó sẽ có sự điều chỉnh, điều khiển cảm xúc
một cách linh hoạt, chính xác. Sự linh hoạt, chính xác có nghĩa là điều tra
viên không bị bó buộc bởi một cảm xúc cố định mà luôn vận dụng một cách
uyển chuyển những trạng thái cảm xúc khác nhau. Điều này sẽ giúp điều tra
viên đưa ra những biện pháp tác động kịp thời nhằm thuyết phục đối tượng,
phát triển hiệu quả công việc của điều tra viên.
163
Mặt khác chuyên đề còn giúp điều tra viên có khả năng hiểu cảm xúc, khả
năng thấu hiểu, hiểu rõ các mối quan hệ phức tạp giữa các cảm xúc, và khả năng
nhận biết, mô tả các cảm xúc tiến hoá theo thời gian. Điều này có nghĩa là, điều tra
viên không chỉ dừng lại việc hiểu cảm xúc mà còn cần phải nắm bắt được các mối
quan hệ giữa cảm xúc của các cá nhân khác nhau, sự tồn tại của nó theo thời gian.
Từ việc này, điều tra viên sẽ có những cách thức ứng xử phù hợp cho từng mối
quan hệ, từng thời điểm và hoàn cảnh khác nhau.
- Chuyên đề 2: Năng lực sử dụng cảm xúc trong công việc của điều tra viên
Cảm xúc có vai trò quan trọng trong đời sống của con người. Nó có tác
động mạnh mẽ đến công việc, cá nhân và tổ chức. Những điều tra viên có cảm
xúc tích cực sẽ là động lực thôi thúc cá nhân đó hành động, vượt qua mọi khó
khăn trở ngại, tìm tòi ra chân lý. Đối với hoạt động của điều tra viên, việc xây
dựng, hình thành những cảm xúc tích cực chính là yếu tố chi phối đến kết quả
công việc cũng như các mối quan hệ của điều tra viên.
Trong năng lực sử dụng cảm xúc này thì sự nhạy cảm nghề nghiệp là
một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ. Mỗi một ngành nghề đều có
những nhạy cảm riêng, điều tra viên trong hoạt động điều tra cũng vậy. Nhạy
cảm trong cảm xúc của điều tra viên đó chính là năng lực nghề nghiệp của họ.
Trong một tình huống, khi tiếp nhận vấn đề họ luôn có những nhận định, phán
đoán riêng của mình. Không chỉ vậy, điều tra viên còn là những người thấu
hiểu cảm xúc của những người tham gia hoạt động điều tra. Việc họ nắm bắt
cảm xúc của đối tượng là vô cùng cần thiết để họ đưa ra cách ứng xử hợp lý
cũng như những cách thức giải quyết công việc phù hợp. Đây chính là năng
lực nghề nghiệp dựa trên tính nhạy cảm của họ. Do vậy, cần phải tổ chức buổi
nói chuyện chuyên đề về điều này để điều tra viên có thể phát triển kỹ năng
nắm bắt cảm xúc của đối tượng.
Để có thể phát triển được năng lực này đòi hỏi:
Điều tra viên sử dụng cảm xúc của mình như là một phương tiện để đạt
được mục đích nào đó trong nhận thức, thái độ hay hành động là mức độ cao
164
nhất. Đây là kỹ năng có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển
hiệu quả trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Nhận thức, điều khiển cảm xúc là
việc điều tra viên sử dụng tri thức, ý thức, ý chí để nhận ra và giám sát và điều
khiển những cảm xúc thực của bản thân, duy trì cường độ của nó phù hợp với
hoàn cảnh cụ thể. Trong khi đó, vận dụng cảm xúc là việc cá nhân không chỉ
lại ở mức nhận dạng, giám sát và điều khiển cảm xúc thực đang diễn ra, mà
còn biết “tăng lên” hoặc “giảm bớt” cường độ của cảm xúc khi cần thiết.
Thậm chí phải biết “tạo ra” những cảm xúc và biết “thể hiện” cảm xúc khi cần
thiết. Phải biết “tạo ra cảm xúc” ở đây chính là điều tra viên biết sử dụng các
biểu tượng tương ứng với mỗi loại cảm xúc để thể hiện ra “cảm xúc của
mình” để người khác biết.
Kỹ năng sử dụng cảm xúc của điều tra viên thể hiện ở chỗ điều tra viên
biết dùng cảm xúc để thúc đẩy hoạt động của cá nhân và hạn chế những tác
động của cảm xúc tiêu cực nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình
hoạt động, giao tiếp hay nói cách khác nó chính là khả năng khắc phục khó
khăn của điều tra viên. Trong đó, cảm xúc là nền tảng của việc đưa ra những
tác động của cảm xúc tiêu cực nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong quá
trình hoạt động, giao tiếp. Đặc biệt phải chú trọng đến những cảm xúc giữ vai
trò quyết định, là nền tảng của việc đưa ra những quyết định đúng đắn. Cảm
xúc hoạt động là những hướng dẫn bên trong và giúp chúng ta nối những dấu
hiệu này cũng có thể hướng dẫn những cảm xúc.
Việc sử dụng cảm xúc của điều tra viên phụ thuộc vào kỹ năng vạch
chiến lược khắc phục những hạn chế trong hoạt động nghề nghiệp. Điều này
thể hiện qua kỹ năng nhận diện cảm xúc, hiểu được ý nghĩa thực tế của cảm
xúc cũng như ảnh hưởng của các loại cảm xúc, hiểu được ý nghĩa thực tế của
cảm xúc cũng như ảnh hưởng của các loại cảm xúc đối với hoạt động; khả
năng phán đoán và dự đoán hành vi cũng như phụ thuộc vào kinh nghiệm thực
tiễn của cá nhân. Những điều tra viên có mức độ phát triển kỹ năng kiểm soát
cảm xúc cao thường hoạt động rất nhiệt tình và đạt hiệu suất cao trong quá trình
165
thực hiện nhiệm vụ. Với việc hiểu rõ cảm xúc của bản thân, điều tra viên nhận
thức rõ nhu cầu, động cơ của bản thân trong việc xác lập và định hướng hành
động của bản thân sao cho phù hợp với xu hướng nghề nghiệp đã xác định.
Khi đã định hình được mục tiêu cần hướng đến, điều tra viên cần xây dựng
tình cảm tích cực, giành nhiều tâm huyết cả về trí lực, thể lực nhằm chiếm
lĩnh đối tượng cần đạt được. Nhờ có kỹ năng sử dụng cảm xúc nên điều tra
viên biết sử dụng những cảm xúc tích cực để thúc đẩy hành động. Đồng thời,
điều tra viên biết hạn chế những ảnh hưởng, tác động của kết quả trước mắt,
những khó khăn tâm lý do khách quan và chủ quan mang lại để đạt được mục
đích lâu dài. Hơn thế, điều tra viên biết sử dụng cảm xúc để thúc đẩy tư duy
tích cực và sáng tạo. Năng lực tư duy chỉ có được trên cơ sở điều tra viên
nhận thức được vấn đề cần giải quyết trong tình huống mới, đồng thời phải có
sự say mê, hứng thú nhằm vượt qua những trở ngại để đạt được mục đích của
tư duy. Do vậy, họ sẽ hoạt động một cách tích cực, nhiệt tình và sáng tạo, luôn
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Mặt khác, năng lực sử dụng cảm xúc của điều tra viên còn được thể
hiện qua khả năng bày tỏ cảm xúc của bản thân trong những trường hợp cụ
thể. Bằng việc bày tỏ cảm xúc bản thân, điều tra viên có thể thúc đẩy tính
tích cực hoạt động của những người xung quanh hoặc kìm nén, làm giảm tác
động của những cảm xúc tiêu cực. Nhờ khả năng bày tỏ cảm xúc, điều tra
viên dừng nhận thức, cảm xúc của mình để điều chỉnh, điều khiển cảm xúc
của những người xung quanh nhằm mục đích hướng cảm xúc của họ vào
những tình huống có lợi nhất cho hoạt động chung của nhóm, của tập thể.
Khả năng bày tỏ cảm xúc có được trên cơ sở cá nhân hiểu rõ sự ảnh hưởng
cảm xúc của bản thân và người khác đối với hiệu quả công việc như thế nào
trong quá trình hoạt động cùng nhau. Điều này nói lên trình độ tự ý thức, tự
đánh giá của cá nhân điều tra viên về những ưu, nhược điểm của các loại
cảm xúc nhằm phát huy cảm xúc tích cực và hạn chế, ngăn ngừa cảm xúc
tiêu cực trong việc thực hiện nhiệm vụ.
166
- Chuyên đề 3: Năng lực quản lý cảm xúc của điều tra viên
Năng lực quản lý cảm xúc của điều tra viên là khả năng điều tra viên nhận
diện, kiểm soát, điều chỉnh và sử dụng những rung động của cá nhân khi có
những kích thích tác động nhằm giúp con người đạt được những gì mong muốn.
Việc tổ chức các chuyên đề về năng lực quản lý cảm xúc của điều tra
viên là cần thiết. Điều này sẽ giúp cho điều tra viên nắm bắt được chính xác
cảm xúc hiện tại của mình, đánh giá nó là tích cực hay tiêu cực, phù hợp hay
chưa phù hợp. Sau đó điều tra viên sẽ thay đổi nó theo hướng đúng đắn, nếu
nó tích cực thì cần phát huy nhiều hơn nhưng ngược lại thì nên hạn chế hoặc
xoá bỏ triệt để những cảm xúc tiêu cực, để hình thành những cảm xúc
mang tính tích cực. Việc này sẽ giúp cá nhân hình thành những cảm xúc
tốt, là nhân tố góp phần tăng thêm hiệu quả của công việc.
Muốn làm được điều đó đòi hỏi phải giúp điều tra viên nhận thức rõ ràng
về: sự cần thiết của quản lý cảm xúc và hậu quả của việc không quản lý được
cảm xúc, ý nghĩa của việc phát triển nhận biết cảm xúc bản thân, cách thức tự
điều chỉnh hành vi, điều khiển cảm xúc của chính mình thông qua các bước để
thể hiện cảm xúc phù hợp và quản lý cảm xúc trong cuộc sống, công việc.
Thứ hai, Tổ chức rèn luyện các bài tập chuyên biệt về trí tuệ cảm xúc
nhằm góp phần rèn luyện trí tuệ cảm xúc, các năng lực trí tuệ cảm xúc trong
công việc của điều tra viên. Các bài tập này xoay quanh về các nội dung: (1)
Biểu hiện mức độ hiểu biết về khái niệm trí tuệ cảm xúc, các biểu hiện cơ
bản, các thành phần cơ bản; (2) Mức độ thành thạo một số kỹ năng liên quan
đến trí tuệ cảm xúc như: phán đoán cảm xúc của người khác, kiểm soát cảm
xúc của bản thân... Để tổ chức hiệu quả rèn luyện các bài tập này điều này,
nên sử dụng tác động hồi tưởng. Tác động hồi tưởng giúp điều tra viên rút ra
được những bài học kinh nghiệm cho bản thân trong hoạt động nghề nghiệp
cũng như trong cuộc sống về những thành công hay thất bại do sự tác động tích
cực hay tiêu cực của cảm xúc. Khi tham gia biện pháp này điều tra viên sẽ được
luyện tập qua bốn bài tập cơ bản sau:
167
- Bài tập 1: Tập nhận ra các cảm xúc của bản thân và của người khác qua
các mối quan hệ giao tiếp trong các hoạt động cơ bản của điều tra viên ở Cục An
ninh điều tra thuộc Bộ Công an. Các hoạt động cơ bản của điều tra viên ở Cục
An ninh điều tra bao gồm: hoạt động điều tra, hoạt động rèn luyện nghiệp vụ,
hoạt động chính trị xã hội, hoạt động văn nghệ thể dục thể thao, trong cuộc sống.
Trong bài tập nghiệm thể phải nhận ra được các cảm xúc đang diễn ra ở bản thân
và của người khác trong tình huống nghiệp vụ đã gặp.
- Bài tập 2: Tập xác định nguyên nhân dẫn đến cảm xúc của bản thân và
người khác thông qua các mối quan hệ giao tiếp trong các hoạt động cơ bản của
điều tra viên ở Cục An ninh điều tra. Các hoạt động cơ bản của điều tra viên Cục
An ninh điều tra bao gồm: hoạt động điều tra, hoạt động rèn luyện nghiệp vụ,
hoạt động chính trị xã hội, hoạt động văn nghệ thể dục thể thao, trong cuộc sống.
Bài tập này đòi hỏi nghiệm thể kể lại một tình huống giao tiếp nghiệp vụ mà ở
đó điều khiển được cảm xúc của bản thân nên đã giải quyết được tình huống
thành công hoặc ngược lại. Từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm cho bản thân.
- Bài tập 3: Tập vận dụng trí thức về trí tuệ cảm xúc để giải quyết một tình
huống trong các hoạt động cơ bản của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra Bộ
Công an. Các hoạt động cơ bản của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc
Bộ Công an bao gồm: hoạt động điều tra, hoạt động rèn luyện nghiệp vụ, hoạt
động chính trị xã hội, hoạt động văn nghệ thể dục thể thao, trong cuộc sống.
- Bài tập 4: Tập điều khiển cảm xúc của bản thân và những người xung
quanh. Bài tập này đòi hỏi nghiệm thể kể lại một tình huống giao tiếp qua các
mối quan hệ giao tiếp trong các hoạt động nghiệp vụ cơ bản. Các hoạt động
nghiệp vụ cơ bản của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an bao
gồm: hoạt động điều tra, hoạt động rèn luyện nghiệp vụ, hoạt động chính trị xã
hội, hoạt động văn nghệ thể dục thể thao, các hoạt động ở trong cuộc sống.
Trong tình huống đó phải nêu được mình thành công hay thất bại do điều khiển
được hay không điều khiển được cảm xúc của bản thân và người đối thoại.
Khi tham gia biện pháp này điều tra viên phải tham gia vào các hoạt động
rèn luyện sau:
168
+ Hoạt động 1: Điều tra viên phải tập hồi tưởng. Trong hoạt động này
mỗi nghiệm thể phải viết ra (hồi tưởng) được một tình huống giao tiếp mà
mình đã gặp theo một trong sáu loại hình hoạt động cơ bản của điều tra viên
và rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân kinh nghiệm cho bản thân từ tình
huống mà mình đã nêu.
+ Hoạt động 2: Điều tra viên thuật lại tình huống và bài học từ tình huống
cho các nghiệm thể trong nhóm cùng nghe.
+ Hoạt động 3: Các điều tra viên cùng nhóm đưa ra ý kiến của mình về
tình huống, bài học đã nghe và rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân.
Khi tham gia vào các hoạt động của biện pháp này điều tra viên sẽ được
tăng cường vốn kinh nghiệm cũng như được rèn luyện một số kỹ thuật để giải
quyết có hiệu quả các mối quan hệ giao tiếp trong các hoạt động cơ bản trong
hoạt động nghề nghiệp ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.
4.4.3. Rèn luyện kỹ năng kiểm soát cảm xúc và kỹ năng đồng cảm cho
điều tra viên
Để rèn luyện kỹ năng kiểm soát cảm xúc và kỹ năng đồng cảm cho điều
tra viên, cần phải:
* Nâng cao kỹ năng quản lý cảm xúc cho điều tra viên
Kỹ năng tự kiểm soát cảm xúc là sự vận dụng tri thức chuyên môn,
kinh nghiệm công tác, các cách thức hành động của Điều tra viên nhằm tác
động có định hướng, có mục đích để chế ngự, điều khiển, điều chỉnh cảm xúc
trong quá trình điều tra một cách có hiệu quả.
Kỹ năng kiểm soát cảm xúc cho điều tra viên được thể hiện qua:
Khả năng vận dụng tri thức chuyên môn, kinh nghiệm công tác của
điều tra viên. Có nghĩa là trong quá trình giao tiếp thì điều tra viên cần phải
khéo léo chuyển hoá những kiến thức về mặt lý luận, sự hiểu biết của cá nhân
cũng như những vấn đề mà điều tra viên đã từng trải qua trong quá trình làm
việc để áp dụng với các đối tượng một cách mềm dẻo, linh hoạt, có hiệu quả.
Kỹ năng duy trì cảm xúc, “cân bằng” cảm xúc trước những tác động
của hoạt động điều tra. Có nghĩa là, trong quá trình tiến hành hoạt động
169
chuyên môn, điều tra viên phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thử thách khác
nhau từ các đối tượng khác nhau. Để có thể giữ cho cảm xúc được cân bằng
đòi hỏi điều tra viên cần nắm bắt chính xác tính chất công việc mà mình đang
phải đối diện, đường hướng cần phải thực hiện cũng như phải có khả năng
thấu hiểu đối tượng giao tiếp. Từ đó luôn giữ cho mình những trạng thái cảm
xúc ổn định, tích cực.
Khả năng khống chế, ngăn chặn, điều chỉnh cảm xúc của điều tra viên.
Nhắc tới điều này là bởi điều tra viên có quá trình tiếp xúc với đối tượng khá
lớn, do vậy khả năng khống chế, điều chỉnh, điều khiển cảm xúc giúp điều tra
viên luôn trong tâm thế sẵn sàng, chủ động ứng phó với mọi tình huống có thể
xảy ra. Do đó, trong quá trình giao tiếp điều tra viên cần phải dự đoán trước
những diễn biến hay tình huống có thể xảy ra, đồng thời khi gặp phải những
khó khăn cần phải bình tĩnh, ổn định cảm xúc, tránh để những trạng thái cảm
xúc rơi vào tình trạng “thái quá”.
Kỹ năng kiểm soát cảm xúc của điều tra viên còn được thể hiện qua sự
nỗ lực của bản thân để khống chế những cảm xúc mang tính chất tiêu cực.
Điều đó có thể được hiểu đó là việc điều tra viên luôn luôn cố gắng hoàn thiện
bản thân. Sự hoàn thiện này không chỉ dừng lại ở việc điều tra viên trau dồi tri
thức mà còn thể hiện ở khả năng điều tra viên làm chủ được cảm xúc của bản
thân, luôn nhận biết được thái cực của cảm xúc để từ đó điều chỉnh cho phù hợp.
Để có được hiệu quả công việc không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực từ một phía, nhưng
nếu muốn có kết quả tốt thì trước tiên điều tra viên phải có sự thay đổi, nỗ lực.
Từ những vấn đề lý luận trên có thể đưa ra một số các cách kiểm soát
cảm xúc của điều tra viên trong quá trình giao tiếp như sau:
Thứ nhất, Điều chỉnh phản ứng
Điều chỉnh phản ứng là cách bản thân điều tra viên thay đổi phản ứng
phù hợp để hạn chế hậu quả mang tính chất tiêu cực. “Điều chỉnh phản ứng”
được biểu hiện cụ thể như sau:
+ Kìm nén cơn nóng giận/Kìm nén cảm xúc tiêu cực, tiếp tục công việc.
170
+ Hít thở sâu để bình tĩnh lại.
+ Bản thân tự trấn an mọi chuyện đều ổn để lấy lại bình tĩnh.
+ Sau khi lấy lại bình tĩnh, điều tra viên tập trung giải quyết vấn đề.
Thứ hai, Chuyển hướng chú ý
Chuyển hướng chú ý là cách bản thân điều tra viên hướng vào những
hoạt động tích cực để có thể khiến mình thoát khỏi cảm xúc tiêu cực.
“Chuyển hướng chú ý” được biểu hiện cụ thể như sau:
+ Giải trí, thư giãn như chơi thể thao, đi dạo, đi mua sắm, nghe nhạc, đọc
sách, chơi game, lướt web...
+ Suy nghĩ về những điều tốt đẹp, vui vẻ để không vướng bận cảm xúc tiêu cực.
+ Làm điều mình thích để kéo giãn sự tập trung vào cảm xúc tiêu cực.
+ Bản thân suy nghĩ chuyện xảy ra là bình thường, còn nhiều thứ để
mình quan tâm.
Thứ ba, Giải quyết vấn đề
Giải quyết vấn đề là cách điều tra viên đối mặt với vấn đề và tìm cách
giải quyết. “Giải quyết vấn đề” được biểu hiện cụ thể như sau:
+ Tìm hiểu đã xảy ra chuyện gì, phân tích nguyên nhân.
+ Hình dung hậu quả nếu không kiểm soát cơn tức giận/sự buồn chán/sự lo âu.
+ Suy nghĩ hướng giải quyết vấn đề.
+ Lên kế hoạch và quyết tâm thực hiện.
Thứ tư, Tư duy tích cực
Tư duy tích cực là cách điều tra viên đặt ra suy nghĩ của mình theo
hướng tích cực, lạc quan. “Tư duy tích cực” được biểu hiện cụ thể như sau:
+ Cho rằng sự việc đã xảy ra nhưng vẫn có cách giải quyết.
+ Cho rằng bản thân là người phục vụ trong lực lượng công an, phải
đảm bảo lễ tiết, tác phong, điều lệnh.
+ Cho rằng mỗi người có nhiệm vụ và tính cách riêng nên họ làm vậy là
có lý do, cần bao dung với họ.
+ Học được bài học tốt cho bản thân qua tình huống xảy ra.
171
Thứ năm, Trao đổi với người khác
Trao đổi với người khác là cách điều tra viên tìm sự chia sẻ, khuyên bảo
của người khác. “Trao đổi với người khác” được biểu hiện cụ thể như sau:
+ Điện thoại hoặc tìm gặp bạn bè hay người thân nói chuyện để giải toả
cơn giận/sự buồn chán/ sự lo âu.
+ Lắng nghe lời khuyên từ người khác để giải quyết vấn đề (lãnh đạo,
đồng nghiệp, bạn bè).
+ Đề nghị người khác giúp đỡ (lãnh đạo, đồng nghiệp, bạn bè...).
+ Thảo luận với người khác để giải quyết vấn đề (lãnh đạo, đồng
nghiệp, bạn bè......).
Thứ sáu, Chịu trách nhiệm
Chịu trách nhiệm là cách điều tra viên nhận thức được trách nhiệm,
chuẩn bị tâm thế sẵn sàng đối mặt. “Chịu trách nhiệm” được biểu hiện cụ
thể như sau:
+ Cho rằng cảm xúc là của bản thân, không đổ lỗi cho người khác.
+ Chấp nhận những điều mình không mong muốn.
+ Trấn an mình không sao, chấp nhận đối diện vấn đề.
+ Cho rằng chuyện xảy ra là điều không tránh khỏi.
* Nâng cao kỹ năng đồng cảm của điều tra viên
Đồng cảm là việc cá nhân hiểu hoặc cảm nhận những gì người khác
đang trải qua trong khung tham chiếu của họ, nghĩa là khả năng đặt bản thân
vào vị trí của người khác.
Kỹ năng nhận biết một cách chính xác cảm xúc của mình ngay khi nó
xảy ra với họ, đặt địa vị của điều tra viên vào đối tượng để cảm nhận những gì
họ đang cảm nhận, hiểu được những cảm xúc mà họ đang trải qua. Thông
thường điều này đồng nghĩa với việc điều tra viên hiểu những gì người khác
đang suy nghĩ và cảm nhận mặc dù điều tra viên chưa trải qua.
Lắng nghe và quan sát là hai yếu tố quan trọng nhất trong kỹ năng này.
Để lắng nghe và quan sát những gì đang diễn ra xung quanh, Điều tra viên
172
phải ngừng nói, ngừng những sự độc thoại suy nghĩ của bản thân, ngừng suy
đoán về những gì đối tượng sắp nói và không suy nghĩ về những gì điều tra
viên sẽ nói. Cần phải thực hành quan sát giọng nói của bản thân và các đối
tượng để hiểu đúng những gì họ suy nghĩ và cảm nhận.
Để có thể đồng cảm tốt nhất với đối tượng, trước tiên điều tra viên cần phải:
- Tạo bầu không khí thân thiện, cởi mở, tạo cho đối tượng cảm giác tin
cậy khi giao tiếp.
- Sử dụng phương tiện giao tiếp hợp lý để khuyến khích đối tượng trao
đổi về vấn đề của họ.
- Sẵn sàng lắng nghe đối tượng và chấp nhận họ và những nan đề của họ.
- Cảm thông, chia sẻ và tôn trọng, quan tâm đến cảm giác của đối
tượng khi trò chuyện với họ.
- Có thái độ, hành vi khích lệ khi họ, sử dụng những khích lệ bằng lời
nói để thể hiện sự quan tâm và thấu hiểu đến đối tượng.
- Tôn trọng sự im lặng, dành thời gian cho đối tượng suy nghĩ, có hành
vi khích lệ như phản hồi, tóm lược và khen ngợi để đối tượng cảm nhận được
sự tôn trọng, quan tâm từ điều tra viên.
- Đặt mình vào tình huống và nan đề mà đối tượng đang gặp phải để
cảm nhận những gì họ đang phải trải qua, để hiểu được suy nghĩ, cảm xúc
cũng như hành động của đối tượng đó.
- Nhạy cảm với những lời nói, cảm xúc của đối tượng và giải nghĩa được
chúng. Nghĩa là cần nhanh nhạy trong ý vị từng câu nói của đối tượng cũng như
biết thấu hiểu với những cảm xúc, suy nghĩ của họ. Để từ đó có cái nhìn chính xác
với những suy nghĩ mà đối tượng đang suy nghĩ.
- Ngừng việc đang làm, ngừng những mẩu đối thoại triền miên trong
đầu, ngừng suy nghĩ về những gì người ta sắp nói và không toan tính xem sẽ
nói gì tiếp theo. Thay vào đó hãy chú ý hoàn toàn đến cảm xúc của đối
tượng. Nắm bắt được cảm xúc của đối tượng có ý nghĩa quan trọng, nó quyết
định đến việc điều tra viên có tiếp cận được với đối tượng đó hay không, có
173
đáng là nơi tin cậy để đối tượng sẵn sàng chia sẻ hay không. Việc điều tra
viên không toan tính mà hoàn toàn chú ý đến cảm xúc của đối tượng thể hiện
sự tôn trọng của điều tra viên dành cho đối tượng của họ.
- Điều tra viên cần chú ý đến khả năng diễn giải cảm xúc của mình.
Để có thể làm được điều này điều tra viên phải làm sao cho đối tượng có thể
được tâm ý của cá nhân mình. Đồng thời nó cũng chính là việc điều tra viên
rà soát lại chính bản thân mình, xem cách dẫn dắt cảm xúc của mình có
mang lại hiệu quả hay không? Hiệu quả của việc diễn giải cảm xúc này
chính là việc điều tra viên sẽ đạt được mục đích mà họ đặt ra, là thuyết phục
được đối tượng có thể chia sẻ cảm xúc hay suy nghĩ của họ với điều tra viên
mà không hề có sự e ngại hay che giấu nào trong đó.
- Cần phát triển kỹ năng đọc và giải thích dấu hiệu ngôn ngữ cơ thể cho
điều tra viên. Đây là điều hết sức quan trọng bởi đối tượng mà điều tra
viên tiếp xúc có rất nhiều loại đối tượng khác nhau. Hơn nữa không phải
lúc nào cảm xúc, tình cảm hay suy nghĩ của đối tượng cũng được bộc lộ
qua bên ngoài. Do đó nắm bắt được ý nghĩa của những hành vi phi ngôn
ngữ là một trong những kỹ năng đòi hỏi điều tra viên cần phải có. Điều tra
viên có thể thông qua: nét mặt, sắc mặt, lông mày, ánh mắt, cử chỉ, điệu
bộ của các bộ phận tay chân hoặc quá trình tiết mồ hôi,... đều có thể nắm
bắt được trạng thái cảm xúc của đối tượng. Mỗi một biểu hiện khác nhau
lại đặc trưng cho những trạng thái cảm xúc và suy nghĩ khác nhau. Nắm
bắt chính xác giúp điều tra viên có thể đưa ra biện pháp tác động hiệu quả.
Cần phát triển khả năng này của điều tra viên bởi điều tra viên
thường xuyên phải giao tiếp với nhiều đối tượng, đối tác nên có rất nhiều
mối quan hệ của điều tra viên được xây dựng từ đây. Chỉ khi điều tra viên
phát triển được kỹ năng đồng cảm với đối tượng hay đối tác thì điều tra
viên mới thể hiện và khẳng định được rõ thành ý của cá nhân mình với vấn
đề mà đối tượng hay đối tác quan tâm. Do đó, đồng cảm ở đây không chỉ
điều tra viên đưa mình vào hoàn cảnh đối tượng mà còn là việc điều tra
viên thấu hiểu, đồng điệu suy nghĩ, lý giải được nguyên nhân vì sao đối
174
tượng làm như vậy. Từ đó mới nhận được sự chia sẻ, hợp tác từ đối tượng,
mang lại hiệu quả cho công việc.
4.4.4. Phát huy tính tính cực trong tự học, tự tu dưỡng, rèn luyện để
phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên
Tính tích cực cá nhân là yếu tố quyết định trực tiếp việc nâng cao mức
độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Các biện pháp khác chỉ phát huy được
vai trò, tác dụng và trí tuệ cảm xúc chỉ có thể được tăng cường khi điều tra
viên tích cực tự học, tự tu dưỡng, rèn luyện trong quá trình thực hành nghề
nghiệp. Vì vậy, điều tra viên phải ý thức được vai trò của việc tự tu dưỡng, tự
rèn luyện đối với việc nâng cao mức độ trí tuệ cảm xúc cho bản thân. Do đó,
cần làm tốt các yêu cầu sau:
- Mỗi điều tra viên cần tự xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện của bản
thân một cách hợp lý. Đây là yêu cầu rất quan trọng, bởi vì, hoạt động điều
tra tiêu hao rất lớn về thể lực và trí lực, trong quá trình công tác tất yếu sẽ
gặp rất nhiều tình huống khó khăn, phức tạp. Do đó, nếu điều tra viên trên
cơ sở kế hoạch học tập, rèn luyện của đơn vị, biết tự xây dựng kế hoạch,
phương pháp học tập, rèn luyện, nghỉ ngơi, cũng như các phương pháp rèn
luyện trí tuệ cảm xúc của bản thân một cách phù hợp thì sẽ giúp họ khắc
phục khó khăn, đạt tới mục tiêu đặt ra trong hoạt động điều tra với kết quả
cao. Ngược lại, nếu điều tra viên không tự xây dựng kế hoạch, phương
pháp học tập, rèn luyện của bản thân một cách phù hợp thì các hoạt động tự
học tập, rèn luyện của họ sẽ diễn ra không khoa học, họ sẽ gặp rất nhiều
khó khăn trong quá trình học tập, rèn luyện và đem lại hiệu quả thấp. Thực
tế, qua phỏng vấn và điều tra cho thấy, những điều tra viên biết tự xây dựng
kế hoạch, phương pháp học tập, rèn luyện, nâng cao trí tuệ cảm xúc của bản thân
một cách phù hợp còn hạn chế.
Để làm tốt kế hoạch, phương pháp tự học tập, rèn luyện, nâng cao trí
tuệ cảm xúc của bản thân, mỗi điều tra viên cần phải nắm chắc kế hoạch,
học tập, rèn luyện của đơn vị, đồng thời, nắm chắc tình hình thực tiễn tại
175
đơn vị, khả năng của bản thân, trên cơ sở đó tự xây dựng kế hoạch, phương
pháp học tập, rèn luyện của bản thân một cách hợp lý. Tự giác nỗ lực cố
gắng khắc phục khó khăn để thực hiện kế hoạch đã đề ra. Thường xuyên biết
tự kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện kế hoạch. Từ đó,
biết điều chỉnh kế hoạch, phương pháp học tập, rèn luyện, của bản thân một
cách phù hợp. Nếu làm tốt vấn đề này, điều tra viên sẽ đạt hiệu quả cao
trong việc nâng cao trí tuệ cảm xúc của họ.
- Mỗi điều tra viên phải luyện tập lối sống lạc quan và tự tin. Bởi vì,
điều tra viên có quan điểm sống tích cực, có tinh thần lạc quan, tự tin, vui
vẻ thì khi gặp khó khăn trong hoạt động điều tra họ sẽ dễ dàng vượt qua mà
ít bị áp lực, căng thẳng về tâm lý.
Để xây dựng cho mình có lối sống lạc quan, tự tin, mỗi điều tra viên
phải luôn lạc quan và tự tin vào cuộc sống. Nên dùng lối tiếp cận “ Tôi có
thể” thay cho “Tôi không thể”. Cố gắng tập luyện những năng lực, sở thích
tới mức tối đa. Dành nhiều thời gian cho việc học hỏi những điều hay, lẽ phải
hay học cách làm điều gì đó mà mình đã ấp ủ từ lâu. Luôn nhớ rằng, sự khác
nhau giữa người thành đạt trong công việc và người kém thành đạt là sự bền
chí và hành động. Người thành đạt là người biết làm, luôn cố gắng thử
nghiệm, sẵn sàng chấp nhận thất bại, nỗ lực làm lại từ đầu. Còn người khác
chỉ thích quan sát, suy ngẫm, không thực sự bắt tay vào làm, dễ dàng bỏ cuộc
khi gặp những hoàn cảnh khó khăn. Bên cạnh đó, điều tra viên cần tự bồi
dưỡng, hình thành định hướng giá trị, chuẩn mực của người công an cách
mạng. Từ đó có cách ứng xử phù hợp với xã hội, với nghề nghiệp và với
chính họ, giúp họ tạo ra những mối quan hệ hài hoà với đồng đội, với xã hội,
với nghề nghiệp và với bản thân mà không bị áp lực, mâu thuẫn trong các mối
quan hệ trong hoạt động của họ. Để hình thành định hướng giá trị, chuẩn mực
của người quân nhân, mỗi điều tra viên phải tích cực, tự giác, tự giáo dục
nâng cao kiến thức và hình thành định hướng giá trị, chuẩn mực về chính trị,
tư tưởng, về nghề nghiệp và định hướng giá trị, chuẩn mực về đạo đức, lối
176
sống cho bản thân. Biết đấu tranh với những biểu hiện trái với chuẩn mực của
người công an nhân nhân, của đồng đội và chính bản thân.
Ngoài ra, để hình thành lối sống lạc quan, tự tin mỗi điều tra viên còn
phải tự xây dựng cho mình động cơ học tập, rèn luyện đúng đắn. Bởi vì, khi
đã hình thành động cơ học tập, rèn luyện đúng đắn thì điều tra viên sẽ biết nỗ
lực cố gắng vượt qua khó khăn trong quá trình học tập, rèn luyện với tinh thần
lạc quan, vui vẻ để đạt được mục đích mà mình đã đề ra. Để hình thành động
cơ học tập, rèn luyện đúng đắn cho bản thân, điều tra viên cần phải tự xây
dựng cho mình lý tưởng, tình cảm, trách nhiệm với nghề nghiệp của bản thân,
coi nghề nghiệp điều tra là chí hướng cuộc đời, là vinh dự, trách nhiệm của
bản thân với Tổ quốc, với nhân dân.
- Mỗi điều tra viên tự học cách nâng cao trí tuệ cảm xúc cho bản
thân một cách phù hợp. Điều tra viên tự học cách nâng cao trí tuệ cảm xúc
cho bản thân là yêu cầu rất quan trọng, nó giữ vai trò quyết định trực tiếp
trong việc nâng cao khả năng thích ứng với các hoạt động nghề nghiệp
cũng như hoàn thiện trí tuệ cảm xúc cho họ. Bởi vì, trí tuệ cảm xúc được
hình thành, phát triển trong quá trình hoạt động, giao tiếp, nếu điều tra
viên không biết cách tự nâng cao trí tuệ cảm xúc thì họ sẽ khó ý thức
được những cảm xúc khác nhau đang diễn ra trong bản thân mình, lý giải
được những nguyên nhân của sự xuất hiện của những cảm xúc đó và hiểu
được mức độ ảnh hưởng của những cảm xúc này đến sự thành công trong
cuộc sống của bản thân và những người khác.
Để điều tra viên tự học cách nâng cao trí tuệ cảm xúc cho bản thân một
cách phù hợp thì họ cần phải biết cách vận dụng phương pháp rèn luyện nâng
cao trí tuệ cảm xúc cho bản thân. Nếu điều tra viên được trang bị các nguyên
tắc và phương pháp rèn luyện nâng cao trí tuệ cảm xúc thì sẽ đem lại hiệu quả
trong quá trình công tác của họ. Bên cạnh đó mỗi điều tra viên cần phải biết
vận dụng các phương pháp phù hợp với khả năng cũng như sở thích của bản
thân, bởi vì mỗi điều tra viên có đặc điểm tâm sinh lý khác nhau và mỗi
177
phương pháp cũng có hiệu quả khác nhau đối với mỗi điều tra viên. Do vậy,
mỗi điều tra viên cần phải biết vận dụng linh hoạt phương pháp rèn luyện, nâng
cao trí tuệ cảm xúc sao cho phù hợp với khả năng, sở thích của bản thân. Tuy
nhiên, trong hoạt động điều tra, đòi hỏi mỗi điều tra viên cần phải chấp hành
nghiêm Điều lệnh, Điều lệ Công an nhân dân, các quy định của đơn vị, do đó,
khi sử dụng các phương pháp rèn luyện, phát triển trí tuệ cảm xúc cần phải đảm
bảo tính tích cực, phù hợp với đặc thù công việc.
Quá trình tự giáo dục, tự hoàn thiện trí tuệ cảm xúc không phải công
việc tự phát nhất thời ngẫu hứng mà là cả quá trình phấn đấu thường xuyên
liên tục và có chủ định. Vì vậy, để cho quá trình này đạt kết quả, người cán
bộ lãnh đạo, chỉ huy quản lý phải nắm được kế hoạch tự phấn đấu, tự hoàn
thiện những phẩm chất nhân cách của từng điều tra viên và là người trực
tiếp chỉ đạo mọi khâu trong quá trình tự giáo dục. Đội ngũ lãnh đạo, quản
lý, chỉ huy phải tích cực chủ động tham gia vào việc xây dựng kế hoạch
phấn đấu của từng điều tra viên được cụ thể hoá trong từng thời gian trong
suốt quá trình công tác; thường xuyên quán triệt tốt mọi yêu cầu của tập thể
gắn liền với công tác tổ chức các hoạt động tập thể, mặt khác chỉ rõ những
mặt mạnh, yếu cơ bản của từng điều tra viên làm cơ sở cho họ có kế hoạch
phấn đấu vươn lên hoàn thiện các phẩm chất nhân cách theo mục tiêu yêu
cầu đào tạo một cách thiết thực nhất.
Thường xuyên bám sát theo dõi việc thực hiện kế hoạch của điều tra viên,
giúp họ tự điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp yêu cầu của tập thể trong từng
giai đoạn, từng mặt công tác, động viên kịp thời, tạo điều kiện mọi mặt để
mỗi người thực hiện bằng được các dự định đề ra trong các mặt hoạt động của
tập thể. Thường xuyên tạo mọi điều kiện thuận lợi cho điều tra viên tự học, tự
tu dưỡng, rèn luyện gắn liền với việc giải quyết kịp thời hợp lý sự đấu tranh
động cơ trong thực hiện nhiệm vụ.
178
Kết luận chương 4
Kết quả nghiên cứu thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên Cục An
ninh điều tra cho thấy:
Mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên hiện nay ở mức cao, có tương
quan thuận rõ ràng với hoạt động điều tra, các năng lực trí tuệ cảm xúc thành
phần của điều tra viên phát triển còn chưa đồng đều, các năng lực EI phức
hợp chưa được phát triển, điều tra viên cần được rèn luyện để nâng cao EI,
nhờ đó nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra.
Trong các thành tố của trí tuệ cảm xúc, điều tra viên Cục An ninh điều
tra thực hiện tốt hơn cả ở thành tố thấu hiểu cảm xúc. Điều tra viên còn gặp
khó khăn nhất ở khả năng điều khiển cảm xúc trong những tình huống cụ thể.
Bởi vậy, khi đề xuất các biện pháp nâng cao trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên
Cục An ninh điều tra, cần phải chú ý nâng cao khả năng giải quyết tình huống
cho các điều tra viên.
Có nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều
tra viên ở Cục An ninh điều tra. Trong đó, nhóm các yếu tố chủ quan có
mức ảnh hưởng lớn hơn so với nhóm các yếu tố khách quan. Yếu tố tính
chất công việc và đối tượng tiếp xúc có ảnh hưởng mạnh nhất đến trí tuệ
cảm xúc của điều tra viên. Trong nhóm yếu tố chủ quan, yếu tố vốn kinh
nghiệm có ảnh hưởng lớn đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.
Phân tích 02 chân dung tâm lý điển hình đã làm rõ hơn và là minh
chứng cho kết quả nghiên cứu thực trạng. Dựa trên cơ sở lý luận, kết quả
nghiên cứu thực trạng trí tuệ cảm xúc và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến
trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Ở luận án, đề xuất 4 biện pháp tâm lý - xã
hội cơ bản nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh
điều tra thuộc Bộ Công an. Các biện pháp được đề xuất bảo đảm sự phù hợp,
có tính khoa học và khả thi cao.
179
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu
liên quan đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra, các
công trình nghiên cứu được hệ thống lại trên 4 hướng nghiên cứu chủ yếu,
khái quát kết quả nghiên cứu trên 4 nội dung và đặt ra 5 vấn đề ở luận án cần
tiếp tục giải quyết. Kết quả nghiên cứu của các tác giả đã chỉ ra nhiều nội
dung có ý nghĩa quan trọng và là cơ sở khoa học để kế thừa, bổ sung, phát
triển, phục vụ cho quá trình nghiên cứu đã xác định trong luận án này. Đồng
thời, các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, vấn đề “trí tuệ cảm xúc của điều
tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an” hiện nay là “khoảng
trống” trong Tâm lý học, cần được quan tâm nghiên cứu, có tính cấp thiết, có
giá trị lý luận và thực tiễn cao.
Lí luận về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra
thuộc Bộ Công an đã xác định quan điểm tiếp cận trí tuệ cảm xúc là tổng hợp
các năng lực trong hoạt động thực tiễn. Từ đó, xây dựng, phân tích và làm rõ
các khái niệm công cụ; Đưa ra quan niệm và làm rõ khái niệm trung tâm về trí
tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an; Ở
luận án xác định biểu hiện trí tuệ cảm xúc thông qua bốn năng lực: năng lực
nhận diện cảm xúc; năng lực thấu hiểu cảm xúc bản thân và đồng nghiệp;
năng lực vận dụng cảm xúc và năng lực điều khiển cảm của điều tra viên trong
hoạt động điều tra với ba mức độ biểu hiện: cao, trung bình và thấp và xây dựng
các chỉ báo, tiêu chí, vận dụng trắc nghiệm để đánh giá thực trạng trí tuệ cảm
xúc. Đồng thời, chỉ ra 7 yếu tố cơ bản nhất có quan hệ chặt chẽ với nhau và có
mức độ ảnh hưởng rất mạnh đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An
ninh điều tra thuộc Bộ Công an hiện nay.
Luận án được tổ chức nghiên cứu chặt chẽ, hợp lý và khoa học theo các
giai đoạn từ nghiên cứu lý luận, thiết kế công cụ khảo sát, tiến hành khảo sát thử,
khảo sát chính thức, thu thập và xử lý số liệu, hoàn thiện các nội dung luận án.
180
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, ở luận án đã sử dụng tổng hợp các phương
pháp nghiên cứu của Tâm lý học, các phương pháp có sự bổ trợ lẫn nhau nhằm
tạo ra sự khách quan, chính và bảo đảm độ tin cậy cao trong kết quả nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục
An ninh điều tra đã cho thấy: trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở mức cao, mang
đặc thù của nghề nghiệp. Các năng lực nhận biết cảm xúc, năng lực vận dụng
cảm xúc khá phát triển còn năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên còn
hạn chế. Điều tra viên có khả năng thấu hiểu cảm xúc của đồng nghiệp, đối
tượng; từ đó sử dụng cảm xúc để thúc đẩy quá trình tư duy trong quan hệ với
đồng nghiệp, đối tượng cũng như các lực lượng chức năng có liên quan nhưng
năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên còn hạn chế. Trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên có tương quan thuận với hoạt động điều tra và chịu ảnh hưởng của
một số yếu tố như: tuổi tác, thâm niên, tuổi nghề, trình độ được đào tạo, môi
trường làm việc,... Trong đó yếu tố tính chất công việc và đối tượng tiếp xúc có
ảnh hưởng mạnh nhất đến tuệ cảm xúc của điều tra viên.
Trong luận án tiến hành phân tích 02 chân dung tâm lí điển hình nhằm
làm rõ kết quả nghiên thực trạng. Đồng thời, từ kết quả nghiên cứu lí luận, kết
quả nghiên cứu thực trạng, ở luận án đã đề xuất 04 biện pháp tâm lí - xã hội
nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc
Bộ Công an một cách hiệu quả và bền vững.
2. Kiến nghị
Đối với Bộ Công an, cần xây dựng chuẩn nghề nghiệp của điều tra
viên. Điều này cần được cụ thể hoá ngay từ trong quá trình giảng dạy tại các
trường Công an, trong chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho điều tra
viên, trong đó cần nhấn mạnh tới nội dung trí tuệ cảm xúc là một thành tố trí
tuệ quan trọng đối với sự thành bại trong hoạt động điều tra của điều tra viên.
Sử dụng kết quả nghiên cứu này làm tài liệu tham khảo cho các trường
Học viện, Đại học, Cao đẳng, Trung cấp trong Công an hoặc ngoài ngành
181
Công an có ngành học liên quan đến con người và xã hội, góp phần nâng cao
chất lượng đào tạo - giáo dục học sinh, sinh viên. Việc đưa ra các biện pháp
tâm lý - xã hội của luận án có thể sử dụng để rèn luyện, nâng cao trí tuệ cảm
xúc cho điều tra viên hay sinh viên các trường có liên quan.
Đối với Cục ANĐT, Cần có tiêu chí trong việc đánh giá hiệu quả hoạt
động điều tra của điều tra viên một cách toàn diện, trong đó bao gồm việc đánh
giá năng lực EI sẵn có của họ và kết quả của năng lực EI của họ trong sản phẩm
của hoạt động điều tra.
Triển khai nghiên cứu diện rộng và mang tính sâu hơn về EI trong lĩnh
vực hoạt động ngành nghề của lực lượng mình, từ đó đưa ra các biện pháp tác
động tâm lý - xã hội phù hợp với đặc trưng của đơn vị, góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động ngành nghề.
Đối với điều tra viên, cần có ý thức xây dựng đơn vị của mình thành
cộng đồng giáo dục EI, trong đó mỗi điều tra viên sẽ là một chuyên gia giáo
dục về EI, nhờ đó các điều tra viên cũng như các lực lượng chức năng có liên
quan sẽ có được các kỹ năng xã hội cần thiết, có điều kiện để tiếp thu những
kiến thức học thuật ở trình độ cao hơn nhằm đem lại những hiểu biết cần
thiết, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra.
182
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. Nguyen Bich Hang, 2021, “Some elements affect the emotional
intelligence of investigators in department of secuty investigation”,
Hnue Journal of Science, Volume 66 Issue4, tr.138-153.
Nguyễn Bích Hằng, 2021, “Một số yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên”, Tạp chí Khoa học - Đại học Sư phạm Hà Nội, tập 66 số
4, tr.138-153.
2. Nguyễn Bích Hằng, 2021, “Thực trạng kỹ năng điều khiển cảm xúc của điều
tra viên ở cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an”, Tạp chí Thiết bị giáo
dục, số 255 kỳ 2 - tháng 12 - 2021, tr.108-110.
3. Nguyễn Bích Hằng, 2021, “Một số biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên ở Cục An ninh điều tra”, Tạp chí Thiết bị giáo dục, số đặc
biệt tháng 12 - 2021, tr.306-309.
4. Nguyễn Bích Hằng, Phạm Văn Duy, 2022, “Thực trạng trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an”, Tạp chí Tâm
lý học Việt Nam, số 1, tháng 1 năm 2022, tr.145 - 155.
183
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Assagioli Roberto (1997), Sự phát triển siêu cá nhân, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội.
2. Baker L.Therese (1998), Thực hành nghiên cứu xã hội, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
3. Nguyễn Trọng Bảo (Chủ biên) (2003), Gia đình, nhà trường, xã hội với
việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ
người tài, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
4. Bộ Công an, Báo cáo tổng kết giai đoạn 2015 - 2020 của Cục An ninh điều
tra về kết quả thực hiện công tác điều tra, ngày 15/06/2020, Hà Nội.
5. Chương trình khoa học xã hội KX-07 (1996), Vấn đề con người trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Nguyễn Thị Dung (2008), Trí tuệ cảm xúc với công tác chủ nhiệm lớp ở
trường THCS và con đường nâng cao loại trí tuệ này, Luận án tiến sĩ
tâm lý học, Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội.
7. Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa
học và kỹ thuật, Hà Nội.
8. Đại học quốc gia Hà Nội (2007), Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho
quy trình phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài phục vụ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đề tài độc lập cấp Nhà nước,
Hà Nội.
9. Vũ Dũng (Chủ biên) (2000), Từ điển tâm lý học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
10. Robet S.Feldman (2003), Những điều trọng yếu trong tâm lý học, Nxb
Thống kê, Hà Nội.
11. Isabelle FillioZzat (2002), Thế giới cảm xúc của trẻ thơ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
12. H.Gardner (1998), Cơ cấu trí khôn, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
13. Daniel Goleman (2002), Trí tuệ cảm xúc: Làm thế nào để những cảm xúc của
mình thành trí tuệ? (Lê Diên dịch), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
184
14. Daniel Goleman (2007), Trí tuệ cảm xúc, ứng dụng trong công việc, (Lê
Diên dịch từ tiếng Pháp), Nxb Tri thức, Hà Nội.
15. Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (1988), Tâm lý học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
16. Phạm Minh Hạc (1989), Hành vi và hoạt động, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
17. Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (1995), Tâm lý học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
18. Phạm Minh Hạc (1997), Tâm lý học Vưgôtxki, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
19. Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (1996), Tuyển tập Tâm lý học J.Piaget, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
20. Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Nguyễn Kế Hào (Chủ biên), Nguyễn Quang Uẩn (2000), Giáo trình tâm
lý học lứa tuổi và sư phạm, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
22. Nguyễn Thị Diễm Hằng (2016), “Một số nguyên nhân và biện pháp góp
phần phát triển năng lực trí tuệ cảm xúc của giáo viên mầm non”, Tạp
chí Khoa học công nghệ Quảng Bình, số 1, tr.16-26.
23. Trịnh Hữu Hằng, Đỗ Công Huỳnh (2001), Sinh lý học người và động vật
học sư phạm, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
24. Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh (1998), Giao tiếp sư phạm, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
25. Ngô Công Hoàn (2002), "Cảm xúc và giáo dục cảm xúc ở trẻ em lửa tuổi
lớp ở mầm non", Tạp chí Giáo dục, số 46, tr.56-59.
26. Ngô Công Hoàn (Chủ biên) (2004), Những trắc nghiệm tâm lý, Nxb Đại
học Sư phạm, Hà Nội.
27. Học viện chính trị quân sự (1984), Tâm lý học - những cơ sở lý luận và
phương pháp luận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
28. Lê Văn Hồng (Chủ biên), Lê Ngọc Lan (1998), Tâm lý học lứa tuổi và
Tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
29. Lê Văn Hồng (1995), Tâm lý học sư phạm, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
30. Nguyễn Thị Hồng (2018), Trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non,
Luận án tiến sĩ Tâm lý học, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
185
31. Hồ Đức Hùng (Chủ biên) (1997), Ứng dụng SPSS for Windows, Nxb
Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
32. Bùi Văn Huê (1994), Tâm lý học tiểu học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
33. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2018), “Ứng dụng mô hình trí tuệ cảm xúc
của J.Mayer và P. Salovey để xác định các yếu tố trí tuệ cảm xúc trong
hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non”, Tạp chí Giáo dục, số
440, tr.21-25.
34. Đặng Thành Hưng (2002), Phương pháp luận nghiên của trí tuệ người Việt
Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đề tài khoa học
công nghệ cấp Nhà nước KX-05-06, Hà Nội.
35. Đặng Thành Hưng (2002), Tương tác hoạt động thầy - trò trên lớp học,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
36. Phan Thị Mai Hương (2015), “Một số đặc điểm tâm trắc của thang đo trí tuệ
cảm xúc dành cho thanh thiếu niên”, Tạp chí Tâm lý học, số 10 tr.199.
37. Carroll.E.Izard (1992), Những cảm xúc của con người, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
38. Nguyễn Công Khanh (2005), Cơ sở phương pháp nghiên cứu trí tuệ cảm
xúc, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
39. Nguyễn Công Khanh (2005), Phương pháp luận đo lường trí tuệ, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
40. Nguyễn Công Khanh (2005), Ứng dụng phẩn mềm SPSS để xử lý và phân
tích số liệu trong khoa học xã hội, Trung tâm bảo đảm chất lượng đào
tạo Nghiên cứu phát triển giáo dục, Đại học quốc gia, Hà Nội.
41. Đặng Phương Kiệt (1990), Cơ sở sinh thần kinh của hoạt động tâm lý, Nxb
Đại học và GDCN - Trung tâm Nghiên cứu sinh tâm lý trẻ em, Hà Nội.
42. Trần Kiều (2005), Báo cáo tổng hợp kết quả Nghiên cứu tài nguyên:
Nghiên cứu có phát triển trí tuệ (chỉ số IQ, CQ, EQ) của học sinh, sinh
viên và lao động tri thức đáp ứng yêu cầu công việc hoá, hiện đại hoá,
Mã số KX-01-06, Hà Nội.
186
43. P.M.Iacôpxon (1997), Đời sống tình cảm của học sinh, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
44. NXLaytex (1978), Năng lực trí tuệ và lứa tuổi, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
45. A.N.Leonchiev (1980), Sự phát triển tâm lý trẻ em, Trường Mẫu giáo
trung ương số 3, TP Hồ Chí Minh.
46. A.N.Leonchiev (1989), Hoạt động - Ý thức - Nhân cách, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
47. Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang (Chủ biên) (1994), Các giá trị truyền thống
về con người Việt Nam hiện nay, Chương trình KHCN cấp Nhà nước
KX- 07, đề tài KX-07-02, Hà Nội.
48. B.Ph Lomov (2000), Những vấn đề tự luận và phương pháp luận Tự luận
Tâm lý học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
49. Quốc hội (2005), Luật Giáo dục, ngày 14/06/2005, Hà Nội.
50. Trần Thị Thu Mai (2013), “Trí tuệ cảm xúc của sinh viên Đại học Sư
Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học Đại học Sư Phạm
Thành Phố Hồ Chí Minh, số 48, tr.76-86.
51. Jonh Mayer, Peter Salovey, David R.Caruso (2002), Trắc nghiệm trí tuệ cảm
xúc MSCEIT, Nguyễn Công Khanh dịch, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội .
52. Phan Trọng Nam (2012), Trí tuệ cảm xúc của sinh viên Đại học sư phạm,
Luận án tiến sĩ tâm lý học, Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội.
53. Phạn Trọng Ngọ (Chủ biên) (2003), Các lý thuyết phát triển tâm lý người,
Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
54. Phan Trọng Ngọ (Chủ biên) (2001), Tâm lý học trí tuệ, Nxb Đại học Sư
phạm, Hà Nội.
55. Đào Thị Oanh (2005), Các học thuyết về nhân cách, Nxb Văn hoá thông tin,
Hà Nội.
56. Ôxipov G.V (Chủ biên) (1988), Những cơ sở nghiên cứu xã hội học, Nxb
Tiến bộ, Máxcova.
57. Lê Đức Phúc (2005), Trí tuệ và phương pháp luận Nghiên cứu trí tuệ,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
187
58. A.V. Petrovski (Chủ biên) (1982), Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý giáo
dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
59. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Quy chế đánh giá, xếp loại chuyên môn -
nghiệp vụ giáo viên tiểu học, ngày 13/11/2000, Hà Nội.
60. Bộ Nội vụ (2006), Quy chế định giá, xếp loại giáo viên mầm non và giáo
viên phổ thông công lập, ngày 21/03/2006, Hà Nội .
61. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo
viên tiểu học, ngày 04/05/2007, Hà Nội.
62. Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội (2001), Ban hành các danh hiệu thi
đua, tiêu chuẩn, hình thức khen thưởng và quyền hạn duyệt trong giáo
dục và đào tạo Thành phố Hà Nội, ngày 16/04/2001, Hà Nội.
63. Sở Nội vụ Thành phố Hà Nội (2006), Hướng dẫn đánh giá cán bộ công
chức năm 2006, ngày 24/11/2006, Hà Nội.
64. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Ban hành quy định đánh giá và xếp
loại học sinh tiểu học, ngày 30/09/2005, Hà Nội.
65. Hoàng Minh Thảo, Hà Thế Tuyên (2003), Quản lý giáo dục tiểu học theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
66. Hà Nhật Thăng (1999), Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp phổ thông, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
67. Hà Nhật Thăng, Nguyễn Đức Quang, Nguyễn Thị Kỳ (2004), Công tác
giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
68. Mai Quang Tâm (Chủ biên) (2006), Nghiệp vụ quản lý trường tiểu học,
Nxb Hà Nội, Hà Nội.
69. Nguyễn Thị Thanh Tâm (2012), Trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp
cơ sở trong giao tiếp công vụ, Luận án tiến sĩ Tâm lý học, Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
70. Dương Thiệu Tống (2005), Thống kê ứng dụng trong nghiên cứu khoa
học giáo dục, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội.
188
71. Dương Thiệu Tống (2005), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục
tâm lý, Nxb Khoa học xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh.
72. Trần Hà Thu (2019), Trí tuệ cảm xúc của học sinh trung học cơ sở, Luận án
tiến sĩ tâm lý học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội.
73. Trần Trọng Thuỷ (1992), Khoa học chuẩn đoán tâm lý, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
74. Trần Trọng Thuỷ (Chủ biên) (1998), Tâm lý học, Giáo trình đào tạo giáo
viên tiểu học, Hệ CĐSP và SP 12 + 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
75. Trần Trọng Thuỷ (2002), Những vấn đề để luận về trí tuệ và chỉ số IQ, Đề
cương báo cáo khoa học, Đề tài KX-05-06, Hà Nội.
76. Nguyễn Huy Tú (1975), Cảm xúc và tình cảm, Đề cương bài giảng Tâm lý
đại cương, Hội đồng bộ môn Tâm lý học - Giáo dục học, Tiểu ban Tâm
lý học, Hà Nội.
77. Nguyễn Huy Tú (1997), "Xây dựng thử nghiệm tâm lý học như thế nào?",
Tạp chí thông tin Khoa học giáo dục, số 61, tr.212-215.
78. Nguyễn Huy Tú (1999), "Kỹ thuật thẩm định chất lượng một test tâm lý học
như thế nào?", Tạp chí thông tin Khoa học giáo dục, số 71, tr.103-106.
79. Nguyễn Huy Tú (2000), "Trí tuệ cảm xúc - bản chất và phương pháp chấn
đoán", Tạp chí Tâm lý học, số 6, tr.63-65.
80. Nguyễn Huy Tú (2001), "Tạo dựng thấu cảm dương tính - một chìa khoá
hướng hành vi trẻ em theo mong muốn của gia đình và xã hội", Tạp chí
Tâm lý học, số 4, tr.61-65.
81. Nguyễn Huy Tú (2001), “Chỉ số trí tuệ cảm xúc cao - một tiền đề thành
công của nhà doanh nghiệp, nhà quản lý”, Tạp chí Tâm lý học, số 1,
tr.82-85.
82. Nguyễn Huy Tú (2002), Xu thế và phương pháp đánh giá tiềm năng trí
tuệ con người, Báo cáo khoa học, Hội thảo của chương trình KHCN cấp
Nhà nước KX-05, Hà Nội.
189
83. Nguyễn Huy Tú (2002), "Tâm lý học thế kỷ XX, tiếp cận bản chất, cấu
trúc của trí tuệ", Tạp chí Tâm lý học, số 6, tr.71-75.
84. Nguyễn Huy Tú (2005), Tâm lý học sư phạm, Tài liệu dành cho học viên
cao học Tâm lý học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội .
85. Trung tâm Tâm lý học - Sinh học lứa tuổi, Viện Khoa học giáo dục
(2001), Một số điểm đặc biệt về sinh lý và tâm của học sinh tiểu học
ngày nay, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
86. Đặng Thị Tuyết (2020), “Thực trạng và một số biện pháp bồi dưỡng trí tuệ
cảm xúc cho học sinh trường trung cấp sư phạm mầm non Đăk Lăk”,
Tạp chí giáo dục, số 470, tr.11-15.
87. Nguyễn Anh Tuyết (Chủ biên) (2001), Phương pháp nghiên cứu trẻ em,
Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
88. Nguyễn Quang Uẩn (1996), Sự phát triển tâm lý của các thao tác, trong
Tuyển tập Tâm lý học J.Piaget, Nxb giáo dục.
89. Nguyễn Quang Uẩn (1996), “Tâm lý học duy và bản chất tâm lý học của các
thao tác logic”, Tuyển tập Tâm lý học J.Piaget, Nxb giáo dục, Hà Nội.
90. Nguyễn Quang Uẩn (Chủ biên) (2004), Tâm lý học đại cương, Nxb Đại
học Sư phạm, Hà Nội.
91. Nguyễn Thị Thanh Vân (2018), Sự kiểm soát cảm xúc của sinh viên các
trường Đại học công an nhân dân phía Nam, Luận án tiến sĩ Tâm lý
học, Học viện Khoa học xã hội, Viện Khoa học Việt Nam, Hà Nội.
92. Dương Thị Hoàng Yến (2010), Trí tuệ cảm xúc của giáo viên tiểu học,
Luận án tiến sĩ tâm lý học, Viện Tâm lý học, Hà Nội.
Tiếng Anh
93. Christabel Odame, Mrinalini Pandey and Pramod Pathak (2021), “The
effect of emotional intelligence on team cohesion”, International
Journal of Business Excellence, Vol. 25 No. 3, pp. 300-319.
94. Ciarrochi Joseph, Forgas P.Joseph, Mayer D.John (EDS) (2006),
Emotional Intelligence in Everyday Life, 2nd Edition, Psychology
Press, New York.
190
95. Peter Salovey & David J.Sluyter (1997), Emotional Development and
Emotional Intelligence, BasicBooks, NewYork.
96. Shamira Malekar, R.P. Mohanty (2009), “Factors affecting emotional
intelligence: an empirical study for some school students in India”,
International Journal of Business Excellence, Vol. 25, No. 3, pp. 8-28.
97. L. Melita Prati, Joy H. Karriker (2010), “Emotional intelligence skills: the
building blocks of defence againstmotional labour burnout”, International
Journal of Work Organisation and Emotion, Vol. 3 No. 4, pp. 317-335.
98. Initical Policies and Perspectives of the National Broad for Professional
Teaching Standards (1991), 3rd Edition, USA.
99. Kagan (2007), Smart Care, Kagan Publishing, Canada.
100. Lin V. Wesley (Editor) (2006), Intelligence New Research, Nova
Science Publishers, Inc, New York.
101. Richard D.Kellough & Patricia L.Robberts (1998), A Resource Guide for
Elementary School Teaching - Planning for Competence, 4rd, Prince-Hall.
102. Schulze Ralf, Roberts D.Richard (EDS) (2005), Emotional Intelligence,
An International Handbook, Hogrefe & Huber Publishers, Germany.
103. Standards for Beginning Teacher Licensing and Development (1993)
Interstate New Teacher Assessment and Support Consortium, USA.
104. Standards for Position Elementarry Teacher in Washington County
(2003), USA.
105. Standards for the Education, Competence, and Professional Conduct of
Educator in British Columbia (2007), Canada.
106. Thomdike R.L. (1969), Measurement and Evaluation in Psychology and
Education, New York. John Willey & Son, Inc.
107. Thustone L.T. and Thustone T.G. (1941), Factorial Studies of
Intelligence, Psychomeetric Monogr.
108. Waldmann M.R. (19960, Kognitionspsychologische Theorien von
Begabung und Expersite, Reprint.
191
109. Wald L.C, Bergman M.A., & Hebert K.R. (2012), “WAIS-IV subtest
covariance structure: Conceptual and statistical consideration”,
Psychological Assessment, 24, 328-340. Doi: 10.1037/a0025614 104.
110. Warr P.B. & Bunce D.J. (1995), “Trainee characteristics and the outcomes
of open learning”, Personnel Psychology, Vol. 48, pp.347-375
111. Wechsler D.(2008a), Wechsler Adult Intelligence Scale-Fourth Edition,
San Antonio, TX: Person.
112. Wigfield, A., & Wagner, A. (2005), Competence, motivation, and
identity development during adolescence. In A. J. Elliot & C. S. Dweck
(Eds.), Handbook of competence and motivation. New York, NY:
Guilford Press, pp.222-239.
113. Julia Wood, Ann Schweitzer (2016), Everyday Encounters-An
Introduction to Interpersonal Communication, Third Canadian Edition,
Thomson Nelson, Canada.
114. Xinyin Chen, Bo-hu-li (2000), Depressed mood in Chinese children:
Development significance for social and school adjustment,
International journal of behavioral development, Vol.24, No.4.
115. Yau J., Smetana J.G. (1996), “Adolescent-parent conflict among Chinese
adolescents in Hong Kong”, Development Vol. 67, pp. 1262-1275.
116. Youniss J., Smollar J. (1985), Adolescent relations with mothers, fathers
and friends. Chicago: University of Chicago Presss.
Trang web
117. Iberkis F. (2016), “Emotional Intelligence: A historical overview” from
www. researchgate.net.
118. Pérez J.C., Petrides K.V., Furnham A. (2005), “Measuring Trait
Emotional Intelligence” from: www.psychometriclab.com.
192
PHỤ LỤC
Phụ lục 1
1a. MSCEIT
TRẮC NGHIỆM TRÍ TUỆ CẢM XÚC
(Mayer Salovey Caruso Emotional Intelligence Test - MSCEIT)
Tác giả: Jonh D. Mayer, Peter Salovey & David R. Caruso
Version 2.0, 2000
Người dịch: TS. Nguyễn Công Khanh
Nhóm chuyên gia thẩm định, Việt hóa:
1. PGS. Trần Trọng Thủy
2. PGS.TS. Lê Đức Phúc
3. PGS.TS Nguyễn Huy Tú
4. TS. Nguyễn Công Khanh
Người thực hiện khảo sát: Th.s Nguyễn Bích Hằng
Adapted, 2002
PHẦN A
Quan sát kỹ 4 khuôn mặt và xét đoán từng khuôn mặt qua 5 loại cảm xúc đã cho
theo thang bậc tăng dần từ 1 đến 5. Mỗi mục ở từng câu chỉ chọn một mức độ.
Câu 1 (Xem ảnh 1): Khuôn mặt này biểu lộ những cảm xúc dưới đây như thế nào?
(Mỗi loại cảm xúc: a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với khuôn mặt)
2
4
5
1
a. Không hạnh phúc
Rất hạnh phúc
b. Không lo sợ
Rất lo sợ
3
2
4
5
1
3
2
4
5
1
c. Không ngạc nhiên
Rất ngạc nhiên
3
2
4
5
1
d. Không ghê tởm
Rất ghê tởm Rất
phấn chấn
193 3
e . Không phấn chấn
3
4
5
1
2
Câu 2 (Xem ảnh 2): Khuôn mặt này biểu lộ những cảm xúc dưới đây như thế nào?
(Mỗi loại cảm xúc: a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với khuôn mặt
Rất hạnh phúc
a. Không hạnh phúc
3
2
4
5
1
b. Không buồn chán
Rất buồn chán
3
2
4
5
1
c. Không lo sợ
Rất lo sợ
3
2
4
5
1
d. Không ngạc nhiên
Rất ngạc nhiên
3
2
4
5
1
3
2
4
1
5
e. Không phấn chấn
Rất phấn chấn
194
Câu 3 (Xem ảnh 3): Khuôn mặt này biểu lộ những cảm xúc dưới đây như thế nào? (Mỗi
loại cảm xúc: a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với khuôn mặt
Rất hạnh phúc
a. Không hạnh phúc
2
1
4
5
3
b. Không buồn chán
Rất buồn chán
2
1
4
5
3
c. Không lo sợ
Rất lo sợ
2
1
4
5
3
d. Không ngạc nhiên
Rất ngạc nhiên
2
1
4
5
3
2
1
4
5
3
e. Không phấn chấn
Rất phấn chấn
Câu 4 (Xem ảnh 4): Khuôn mặt này biểu lộ những cảm xúc dưới đây như thế nào? (Mỗi
loại cảm xúc: a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với khuôn mặt
a. Không hạnh phúc
Rất hạnh phúc
2
1
4
5
3
b. Không buồn chán
Rất buồn chán
2
1
4
5
3
c. Không lo sợ
Rất lo sợ
2
1
4
5
3
d. Không tức giận
2
1
4
5
3
e. Không ghê tởm
Rất tức giận Rất ghê tởm
2
1
4
5
3
195
PHẦN B
Đọc kỹ các tình huống dưới đây và xem xét 3 loại cảm xú đã cho có ích ở mức độ
nào đối với từng tình huống theo thang bậc từ 1 (không có ích) đến 5 (rất có ích).
Mỗi mục a, b, c ở từng câu chỉ chọn một mức độ.
Câu 1: Khi tạo ra các kiểu trang trí mới, gây cảm giáv hứng khởi cho một buổi liên
hoan sinh nhật thì những cảm xúc dưới đây có thể giúp ích như thế nào?
Rất có ích
Không có ích
1
2
3
4
5
a. Bực mình
1
2
3
4
5
b. Buồn chán
1
2
3
4
5
c. Vui sướng
Câu 2: Khi tổ chức một cuộc diễu binh hấp dẫn thì những cảm xúc dưới đây có thể giúp ích như thế nào?
Không có ích
Rất có ích
1
2
3
4
5
a. Tức giận
1
2
3
4
5
b. Phấn chấn
c. Thất vọng
1
2
3
4
5
Câu 3: Khi phải nấu món ăn theo công thức phức tạp, thì những cảm xúc dưới đây có thể
giúp ích như thế nào?
Không có ích
Rất có ích
1
2
3
4
5
a. Tức giận
b. Phấn chấn
1
2
3
4
5
c. Thất vọng
1
2
3
4
5
196
Câu 4: Những cảm xúc dưới đây có thể giúp ích như thế nào để bạn hiểu được cái gì
xảy ra cuộc ẩu đã giữa 3 đứa trẻ, khi mỗi đứa trẻ lại tường thuật khác nhau về cuộc ẩu
đả đó?. Để hiểu cái gì đã xảy ra đòi hỏi bạn phải chú ý đến các tình tiết của câu
chuyện và phải cân nhắc nhiều sự kiện.
Không có ích
Rất có ích
1
2
3
4
5
a. Hạnh phúc
b. Ngạc nhiên
1
2
3
4
5
c. Buồn rầu
1
2
3
4
5
Câu 5: Những cảm xúc dưới đây có thể giúp ích như thế nào cho một bác sỹ khi lựa
chọn một kế hoạch điều trị cho bệnh nhân mắc chứng ung thư. Bác sỹ này phải áp
dụng một số các nguyên tắc mâu thuẫn nhau trong điều trị bệnh ung thư.
Rất có ích
Không có ích
1
2
3
4
5
a. Hạnh phúc
1
2
3
4
5
b. Không vui cũng không buồn
1
2
3
4
5
c. Tức giận và chốn g đối
197
PHẦN C
Bạn hãy đọc kỹ từng tình huống dưới đây để hiểu các loại cảm xúc xuất hiện và phát hiện như thế nào. Sau đó bạn chọn 1 phương án trả lời tốt nhất cho mỗi tình huống.
Tình huống 1: Hà ngày càng thấy xấu hổ, rồi cảm thấy mình là người vô tích
sự. Sau đó Hà cảm thấy………
a. Ngập chìm trong các cảm xúc đó. b. Trầm cảm (u uất). c. Xấu hổ. d. Tủi hổ. e. Lo lắng.
Tình huống 2: Kiên cảm thấy hài lòng khi nghĩ về cuộc sống của mình. Càng nghĩ về những điều tốt mình đã làm và những niềm vui mình mang lại cho người khác, Kiên càng cảm thấy……… a. Ngạc nhiên. b. Trầm cảm. c. Chấp nhận. d. Hạnh phúc. e. Sửng sốt.
Tình huống 3: Trong cuộc sống của mình, Nga chưa bao giờ ngạc nhiên hơn lúc này. Khi tỉnh lại từ cú sốc do sự mất mát, thì Nga nhận thấy mình có thể tránh được sự bất lợi từ tình huống này, nếu cô lập kế hoạch cẩn thận. Cô trở nên………
a. Sửng sốt. b. Lẫn lộn. c. Phủ nhận tình huống này. d. Mong đợi. e. Suy tư.
Tình huống 4: Long buồn vì được người nhà báo tin xấu và anh muốn bày tỏ sự thương tiếc của mình. Sau đó, Long biết rằng mình không được thông tin đúng và vấn đề trở nên xấu hơn lúc đầu anh nghĩ. Long cảm thấy………
a. Tức giận và ngạc nhiên.
b. Buồn phiền và lường trước.
c. Sốc và hối hận.
d. Sợ và lo hãi.
e. Tức giận và buồn chán.
198
Tình huống 5: Bảo cảm thấy hạnh phúc với công việc và những chuyện khác
ở nhà cũng tốt đẹp. Bảo nghĩ mình và đồng nghiệp nói chung được trả lương thỏa
đáng, được đối xử tốt. Hôm nay, tất cả mọi người trong cơ quan đều được tăng lương
chút đỉnh như là một phần của chính sách điều chỉnh về lương. Bảo cảm thấy………
a. Ngạc nhiên và bị sốc.
b. Thanh thản và im lặng.
c. Chấp nhận và phấn khởi.
d. Bị làm nhục và mặc cảm tội lỗi.
e. Tự hào và nổi trội.
Tình huống 6: Hà yêu Kiên, người cô cảm thấy thuộc về mình. Cô bắt đầu
nhìn anh như là mẫu người lý tưởng cho cô và cho nhiều người khác. Cô cảm
thấy………
a. Tôn trọng anh.
b. Thán phục anh
c. Ghen tỵ với anh.
d. Ngưỡng mộ và coi anh như là thần tượng.
e. Nể sợ anh.
Tình huống 7: Lan cảm thấy bực mình khi một đồng nghiệp đã nhận được
tiền cho một dự án và bây giờ người đó lại nhận được tiền lần nữa. Cô cảm
thấy………
a. Tức giận.
b. Bực mình.
c. Hẫng hụt và thất vọng.
d. Hoảng hốt.
e. Trầm cảm.
Tình huống 8: Sau khi xe bị lấy trộm, Tiến lắp thêm một ổ khóa nữa vào chiếc
xe mới mua. Xe mới đó lại bị lấy trộm. Tiến bị sốc và ngạc nhiên, sau đó cảm thấy…
a. Sửng sốt và kinh ngạc.
b. Bất lực, thất vọng và tức giận.
c. Tức giận và ghê tởm.
d. Ghen tỵ và đố kỵ.
e. Trầm cảm và khinh bỉ.
199
Tình huống 9: Khi thấy một số sinh viên quay cóp trong kỳ thi, Sơn
nghĩ điều này vi phạm qui chế. Anh báo với giáo viên nói chẳng thể làm gì
được. Sơn thấy cần báo cáo điều này lên giáo vụ trường, Vì anh cảm
thấy…với những điều gì đã xảy ra.
a. Khó chịu.
b. Bực tức.
c. Bất bình (đến mức không thể chịu đựng được). d. Trầm cảm. e. Không vui.
Tình huống 10: Vân bị một số người bạn thân thiết nhất của mình xúc phạm,
cô cảm thấy tức giận. Vân đã nói với người bạn đó mình bị tổn thương như thế nào.
Nhưng người kia vẫn tiếp tục xúc phạm. Vân cảm thấy………
a. Tức giận. b. Sợ hãi. c. Rất bực mình. d. Lo lắng e. Giận điên lên.
Tình huống 11: Thuý theo dõi chương trình Dự báo thời tiết trên TV để biết
sự di chuyển của một cơn bão đang tiến vào gần bờ, gần nơi bố mẹ nình đang sống.
Khi biết cơn bão hướng tới nhà bố mẹ mình cô lo lắng và cảm thấy bất lực. Tuy
nhiên vào phút cuối cùng, cơn bão đã đổi hướng và không gây thiệt hại gì cho vùng
đó. Cô cảm thấy………
a. Nhẹ người, rối biết ơn. b. Ngạc nhiên rồi bị sốc. c. Căng thẳng, rồi nhẹ người. d. Lường trước và lo lắng. e. Lường trước và bình tĩnh.
Tình huống 12: Một phụ nữ cảm thấy được an toàn, được chấp nhận rồi sau đó cảm thấy trầm cảm. Điều gì trong những điều sau đây có nhiều khả năng xảy ra ở
khoảng giữa hai trạng thái cảm xuc đó?
a. Chị nhận được lời khen dự định dành cho ai đó. b. Chị phát hiện ra chồng đã lừa dối mình.
c. Một người bạn bị ốm.
d. Gói bưu phẩm gửi cho bạn bị phát nhầm cho người khác.
e. Chị thất vọng vì công việc tồi tệ mà chị đã làm ở một dự án.
200
Tình huống 13: Một đứa trẻ mong chờ được hạnh phúc vào ngày sinh nhật
của nó, nhưng sau đó nó cảm thấy buồn. Điều gì trong những điều sau đây có nhiều
khả năng xảy ra ở khoảng giữa hai trạng thái cảm xúc trên của đứa trẻ này.
a. Nó bị bạn chọc tức và nó đã đánh lại.
b. Hai người bạn nó mời và mong đợi đã không đến.
c. Nó ăn quá nhiều bánh.
d. Mẹ nó làm ngượng trước mặt những trẻ khác.
e. Bố nó buộc tội nó về cái gì đó mà nó không làm.
Tình huống 14: Một phụ nữ tuổi trung niên cảm thấy hạnh phúc và sau đó
cảm thấy không tán thành. Điều gì trong những điều sau đây có nhiều khả năng xảy
ra ở khoảng giữa hai trạng thái cảm xúc đó?.
a. Con trai cô bị thương nhẹ ở nơi làm việc.
b. Cô nhận ra mình đã xúc phạm người bạn thân.
c. Con dâu cô về nhà muộn khiến cả nhà chờ cơm.
d. Chồng cô phê phán cô.
e. Cô đánh mất một cuốn sách quan trọng.
Tình huống 15: Một người đàn ông cảm thấy thảnh thơi và sau đó cảm thấy
thán phục. Điều gì trong những điều sau đây có nhiều khả năng xảy ra ở khoảng giữa
hai trạng thái cảm xúc đó?.
a. Trong lúc thảnh thơi, ông ta đã giải quyết xong một vấn đề quan trọng liên
quan đến công việc.
b. Ông ta nghe một câu chuyện về một người anh hùng trong thể thao, gười
lập kỷ lục mới.
c. Bạn của ông ta vừa gọi điện báo tin anh ra đã mua một chiếc xe thể thao với
giá khuyến mại.
d. Ông ta nhận được gói quà mẹ gửi qua bưu điện. e. Bác sỹ gọi điện báo cuộc kiểm tra sức khoẻ cho kết quả tốt, ông ta hoàn
toàn khoẻ mạnh.
Tình huống 16: Một phụ nữ cảm thấy có thiện cảm, sau đó thấy yêu. Điều gì trong
những điều sau đây có nhiều khả năng xảy ra ở khoảng giữa hai trạng thái cảm xúc này?.
a. Cô ta ủng hộ từ thiện và nghĩ về những người mình có thể giúp đỡ.
b. Cô mặc một chiếc váy mà nó đặc biệt làm tôn vẻ đẹp của cô.
c. Cô đọc một cuốn tạo chí dành cho người hâm mộ viết về một ngôi sao mà
cảm thấy rất quyến rũ.
d. Mẹ cô gọi điện nói bà đã gửi cho cô món quà sinh nhật, nó có thể làm cô
ngạc nhiên.
e. Cô đến một cuộc hẹn hò và nhận ra mình có nhiều điểm chung với một
người đàn ông hấp dẫn.
201
Tình huống 17: Một giám đốc điều hành công ty cảm thấy không vui và sau đó
cảm thấy rất bực tức. Điều gì đã xảy ra ở khoảng giữa hai trạng thái cảm xúc của người
giám đốc này?.
a. Cấp dưới không đạt được các mục tiêu kinh doanh cho giai đoạn đó.
b. Một cán bộ trong công ty, người ta cho là không có năng lực, được tăng
lương cao hơn lương ông ta.
c. Ông ta đọc mộ bản tin về những người dân ở vùng khác trên thế giới sống trong
nghèo khổ và các hoạt động cứu trợ đang gặp trở ngại.
d. Vợ ông ta giúp các con làm bài tập về nhà.
e. Không ai thích giúp ông ta.
Tình huống 18: Một phụ nữ tức giận, sau đó mặc cảm mình có lỗi. Điều gì đã xảy
ra ở khoảng giữa hai trạng thái cảm xúc của người phụ nữ này?.
a. Chị đánh mất số điện thoại của người bạn thân.
b. Chị không hoàn thành công việc tốt như mong đợi vì không đủ thời gian.
c. Chị giận dữ một người bạn, sau đó chị nhận ra người bạn này không làm
gì gây thương tổn cho mình.
d. Chị mất một người bạn thân.
e. Chị tức giận vì ai đó đàm tiếu về mình, và sau đó thấy người khác cũng bị
người đó bôi nhọ theo cùng một cách.
Tình huống 19: Một người đàn ông yêu quý người bạn của mình, nhưng
sau đó lại tỏ ý coi khinh người bạn này. Điều gì đã xảy ra ở khoảng giữa hai trạng
thái cảm xúc của người đàn ông này?.
a. Người bạn mượn của ông ta một cuốn sách đắt tiền và làm mất.
b. Người bạn đã phản bội vợ.
c. Người bạn đã được tăng lương, mà lẽ ra không đáng được như vậy.
d. Người bạn này cho biết anh ta đa chuyển đi chỗ khác.
e. Ông ta cảm thấy mình đã xúc phạm bạn nhưng đó cũng một phần là do
lỗi của người bạn.
202
Tình huống 20: Một phụ nữ yêu một người, sau đó cảm tháy yên tâm. Điều gì
đã xảy ra ở khoảng giữa hai trạng thái cảm xúc của người phụ nữ này?.
a. Chị quen biết một người khác và người này yêu chị.
b. Chị quyết định không bày tỏ tình cảm của mình.
c. Tình yêu của chị đã ra đi.
d. Chị nói với một người khác rằng chị yêu anh ta.
e. Tự tình yêu của chị mang lại sự bảo đảm đó.
203
PHẦN D Bạn hãy đọc kỹ các tình huống dưới đây. Mỗi hành động ở từng tình huống chỉ
chọn 1 trong 5 mức độ từ rất kém hiệu quả đến rất hiệu quả.
Tình huống 1: Hà thức dậy cảm thấy sảng khoái, cô đã ngủ ngon, cảm thấy được
nghỉ ngơi tốt và không cần có sự chăm sóc hoặc quan tâm đặc biệt nào. Mỗi hành
động dưới đây tốt đến mức nào trong việc giúp Hà duy trì được tâm trạng này?.
Rất hiệu quả
3
4
1
2
5
Hành động 1: Cô vùng dậy và thích thú vớ những gì xảy ra với cô trong ngày hôm đó. Rất kém hiệu quả Hành động 2: Cô thích tình cảm này nên cô ngẫm nghĩ, thưởng thức tất cả những gì
tốt đẹp đang diễn ra với mình.
Rất hiệu quả
4
3
5
1
2
Rất kém hiệu quả Hành động 3: Cô nghĩ, cách tốt nhất là không để ý đến trạng thái tình cảm đó, vì nó
không thể kéo dài mãi.
4
3
2
5
1
Rất kém hiệu quả Rất hiệu quả Hành động 4: Nhân lúc phấn chấn này cô gọi điện cho mẹ mình, người đang bị
trầm nhược và cố động viên bà.
Rất hiệu quả
1
2
3
4
5
Rất kém hiệu quả
Tình huống 2: Toàn làm việc chăm chỉ, nếu không nói là chăm chỉ hơn các đồng nghiệp
của anh. Thực tế những ý tưởng của anh thường là tốt ơn cho việc đạt những kết quả tích
cực cho công ty. Trong khi một đồng nghiệp làm việc của anh rất xoàng nhưng lại quen
biết lãnh đạo nên được ưu ái. Do vậy khi công ty thông báo rằng phần thưởng thi đua
hằng năm sẽ được trao cho người đồng nghiệp này, Toàn rất tức giận. Mỗi hành động
dưới đây có hiệu quả như thế nào trong viêc giúp Toàn cảm thấy dễ chịu hơn?.
Rất hiệu quả
4
3
1
5
2
Hành động 1: Toàn ngồi lại và suy nghĩ về tất cả những điều tốt đẹp trong cuộc sống và trong công việc của anh. Rất kém hiệu quả Hành động 2: Toàn cố tìm những ưu điểm khác của người đồng nghiệp này.
1
2
3
4
5
Rất kém hiệu quả
Rất hiệu quả
204
Hành động 3: Toàn cảm thấy thật tồi tệ nếu mình cứ giữ thái độ như vậy và anh tự nói với
mình không việc gì phải quá bực tức về những việc nằm ngoài tầm kiểm soát của mình.
Rất kém hiệu quả
Rất hiệu quả
1
2
3
4
5
Hành động 4: Toàn quyết định nói cho mọi người biết công việc kém cỏi của người
đồng nghiệp này và anh ta không xứng đáng nhận phần thưởng đó. Toàn tập hợp tư
liệu và bằng chứng để chứng minh quan điểm của mình.
Rất kém hiệu quả
Rất hiệu quả
1
2
3
4
5
Tình huống 3: Ngân không biết khi nào các hóa đơn thanh toán tiền đến hạn trả, liệu
có bao nhiêu hóa đơn đòi trả ngay hoặc cô có chạy đủ tiền để trả hay không. Lúc đó,
chiếc xe máy của cô lại trục trặc và người sửa chữa nói rằng máy của nó quá cũ và
công sửa chữa quá đắt nên không đáng để sửa. Cô cảm thấy khó ngủ, thường thức
dậy vài lần trong đêm và cô hiểu rằng mình lúc nào cũng lo sợ. Mỗi hành động sau có
hiệu quả như thế nào trong việc giúp Ngân giảm được nỗi lo sợ này?.
Hành động 1: Ngân cố tìm hiểu xem cô nợ những khoản gì, nợ bao nhiêu và khi
nào các khoản nợ đến hạn phải thanh toán.
Rất hiệu quả
1
2
3
4
5
Rất kém hiệu quả
Hành động 2: Ngân học các liệu pháp thư giãn để tự làm mình bớt lo sơ.
Rất kém hiệu quả
Rất hiệu quả
1
2
3
4
5
Hành động 3: Ngân gọi điện thoại nhờ một chuyên gia tư vấn giúp cô học cách làm
thế nào để quản lý số tiền của mình một cách đúng đắn.
Rất kém hiệu quả
Rất hiệu quả
1
2
3
4
5
Hành động 4: Ngân quyết định sẽ tìm một công việc khác có lương cao hơn. Rất kém hiệu quả
Rất hiệu quả
3
4
1
2
5
Tình huống 4: Dường như chẳng có gì tốt đẹp xảy ra với Hải. Chẳng có gì nhiều trong cuộc sống của Hải làm anh thích thú và mang lại niềm vui. Năm tới những hàng động sau có hiệu quả như thế nào trong công việc làm cho Hải cảm thấy vui thích hơn?.
Rất hiệu quả
3
4
1
2
5
205
Hành động 1: Hải bắt đầu gọi điện cho những người bạn mà đã lâu anh không giữ liên lạc và có kế hoạch đến thăm một vài người trong số họ. Rất kém hiệu quả Hành động 2: Anh cố ăn tốt hơn, đi ngủ sớm hơn và tập thể dục nhiều hơn.
1
2
3
4
5
Rất kém hiệu quả
Rất hiệu quả
Hành động 3: Hải cảm thấy mình làm mọi người không vui và quyết địnhở một mình một thời gian, cho đến khi có thể hiểu ra điều gì làm mình buồn chán.
Rất kém hiệu quả
Rất hiệu quả
1
2
3
4
5
Hành động 4: Hải phát hiện thấy rằng ngồi thư giãn trước TV vào buổi tối với một hoặc hai lon bia thực sự giúp anh cảm thấy tốt hơn.
Rất kém hiệu quả
Rất hiệu quả
1
2
3
4
5
Rất hiệu quả
4
3
2
5
1
Tình huống 5: Khi Khải lái xe từ cơ quan về nhà, một chiếc xe khác vượt qua ngang mũi xe anh. Anh không kịp bóp còi, chỉ kịp lái xe sang phải để tránh đâm vào nó. Anh rất tức giận. Mỗi hành động sau có hiệu quả như thế nào trong viêc giúp Khải đương đầu với sự tức giận này?. Hành động 1: Khải quyết định dạy cho người lái xe kia một bài học bằng cách vượt lên liệng sát mũi xe anh ta khi ra khỏi đường cao tốc. Rất kém hiệu quả Hành động 2: Khải tự nhủ rằng những điều như vậy thường xảy ra và lái xe về nhà.
1
2
3
4
5
Rất kém hiệu quả
Rất hiệu quả
Hành động 3: Khải hét lên và chửi hoặc nguyền rủa người lái xe kia.
Rất kém hiệu quả
Rất hiệu quả
1
2
3
4
5
Hành động 4: Khải thề rằng sẽ không bao giờ lai xe trên con đường cao tốc đó nữa. Rất kém hiệu quả
Rất hiệu quả
2
3
5
1
4
206
PHẦN E Bạn hãy quan sát kỹ 6 bức ảnh và nhận xét từng loại cảm xúc đã cho biểu hiện như
thế nào qua từng bức ảnh theo thang bậc từ 1 đến 5.
Câu 1 (Xem ảnh 1): Những cảm xúc dưới đây được biểu lộ như thế nào khi xem bức
ảnh này. Mỗi loại cảm xúc a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với bức ảnh.
a. Không hạnh phúc
Rất hạnh phúc
4
5
3
2
4
5
3
2
b. Không buồn
Rất buồn
1 1
4
5
3
2
1
4
5
3
2
1
4
5
3
2
1
Rất lo sợ
c. Không lo sợ
4
5
3
2
1
Rất tức giận
d. Không tức giận
4
5
3
2
1
Rất ghê tởm
e. Không ghê tởm
Câu 2 (Xem ảnh 2): Những cảm xúc dưới đây được biểu lộ như thế nào khi xem bức
ảnh này. Mỗi loại cảm xúc a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với bức ảnh.
Rất buồn
a. Không buồn
4
5
3
2
1
Rất tức giận
b. Không tức giận
4
5
3
2
1
c. Không ngạc nhiên Rất ngạc nhiên
4
5
3
2
1
d. Không ghê tởm
Rất ghê tởm
4
5
3
2
1
3
4
1
2
5
e. Không phấn chấn Rất phấn chấn
207
Câu 3 (Xem ảnh 3): Những cảm xúc dưới đây được biểu lộ như thế nào khi xem bức
ảnh này. Mỗi loại cảm xúc a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với bức ảnh.
a. Không hạnh phúc
Rất hạnh phúc
3
4
5
2
1
b. Không lo sợ
Rất lo sợ
3
4
5
2
1
c. Không tức giận
Rất tức giận
3
4
5
2
1
d. Không ngạc nhiên
Rất ngạc nhiên
1
2
3
4
5
e. Không ghê tởm
Rất ghê tởm
2
3
4
5
1
2
3
4
5
1
f. Không ngạc nhiên Rất ngạc nhiên
Câu 4 (Xem ảnh 4): Những cảm xúc dưới đây được biểu lộ như thế nào khi xem bức
ảnh này. Mỗi loại cảm xúc a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với bức ảnh.
a. Không buồn
Rất buồn
3
4
5
2
1
b. Không lo sợ
Rất lo sợ
3
4
5
2
1
3
4
5
2
1
c. Không tức giận
Rất tức giận
3
4
5
2
1
d. . Không ngạc nhiên
Rất ngạc nhiên
1
2
3
4
5
e. Không ngạc nhiên
Rất ghê tởm
Câu 5 (Xem ảnh 5): Những cảm xúc dưới đây được biểu lộ như thế nào khi xem bức
ảnh này. Mỗi loại cảm xúc a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với bức ảnh.
a. Không hạnh phúc
Rất hạnh phúc
3
4
5
2
1
b. Không buồn
Rất buồn
3
4
5
2
1
c. Không lo sợ
Rất lo sợ
1
2
3
4
5
3
4
5
2
1
d. Không tức giận
Rất tức giận
3
4
5
2
1
e. Không ghê tởm
Rất ghê tởm
208
Câu 6 (Xem ảnh 6): Những cảm xúc dưới đây được biểu lộ như thế nào khi xem bức
ảnh này. Mỗi loại cảm xúc a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với bức ảnh.
a. Không hạnh phúc
Rất hạnh phúc
1
2
3
4
5
b. Không buồn
Rất buồn
1
2
3
4
5
1
2
3
4
5
c. Không tức giận
Rất tức giận
1
2
3
4
5
d. Không ngạc nhiên
Rất ngạc nhiên
1
3
4
5
e. Không ghê tởm
Rất ghê tởm
2
209
PHẦN F
Mỗi tình huống dưới đây đòi hỏi Bạn phải tưởng tượng mình đang cảm nhận theo một
cách nào đó. Hãy đưa ra câu trả lời tốt nhất theo cách hiểu của Bạn, thậm chí ngay cả
khi Bạn không thể hình dung nổi tình cảm đó.
Mỗi mục a, b, c bạn chỉ chọn 1 mức độ phù hợp theo thang bậc từ 1 (không giống) đến 5
(rất giống).
Tình huống 1: Hãy tưởng tượng rằng Bạn đang mặc cảm rằng mình có lỗi do Bạn quên đi
thăm người bạn thân bị ốm nặng. Trưa hôm đó, Bạn chợt nhớ ra quên không đến thăm người
bạn thân này đang nằm trong bệnh viện. Vậy mặc cảm có lỗi của Bạn giống những cảm xúc,
tình cảm dưới đây ở mức độ nào?.
Rất giống
Không giống
1
2
3
4
5
a. Thờ ơ
1
2
3
4
5
b. Bất an
c. Hài lòng
1
2
3
4
5
Tình huống 2: Bạn hãy tưởng tượng đang cảm thấy hài lòng về một ngày tuyệt vời với
những tin tức tốt lành về công việc, về gia đình. Với tình cảm mãn nguyện đó giống những
cảm xúc, tình cảm dưới đây ở mức độ nào?.
Rất giống
Không giống
1
2
3
4
5
a. Ấp áp, dễ chịu
1
2
3
4
5
b. Tức giận
c. Xót xa
1
2
3
4
5
Tình huống 3: Hãy tưởng tượng Bạn đang cảm thấy lạnh lẽo, buồn tẻ và đau xót. Tình
cảm này giống như những cảm xúc, tình cảm duới đây ở mức độ nào?.
Không giống
Rất giống
1
2
3
4
5
a. Bị thách thức
1
2
3
4
5
b. Bị cô lập
c. Ngạc nhiên
1
2
3
4
5
210
Tình huống 4: Hãy tưởng tượng Bạn có cảm giác mênh mang, rộng lớn, mềm mại và
xanh tươi. Tình cảm này giống những cảm xúc, tình cảm dưới đây ở mức độ nào?.
Rất giống
Không giống
1
2
3
4
5
a. Hứng khởi
1
2
3
4
5
b. Ghen tức
c. E sợ
1
2
3
4
5
Tình huống 5: Hãy tưởng tượng Bạn có cảm thấy có cái gì khép kín, u ám và tê dại. Tình
cảm này giống những cảm xúc, tình cảm dưới đây ở mức độ nào?.
Rất giống
Không giống
1
2
3
4
5
a. Buồn sầu
1
2
3
4
5
b. Hài lòng
c. Bình tĩnh
1
2
3
4
5
211
PHẦN G
Bạn chỉ chọn 1 phương án đúng nhất trong số 5 phương án (a, b, c, d, e) cho mỗ câu
dưới đây.
Câu 1: Sự quan tâm gần nhất với tổ hợp cảm xúc nào dưới đây………
a. Yêu thương, lo âu, ngạc nhiên, tức giận.
b. Ngạc nhiên, tự hào, tức giận, sợ hãi.
c. Chấp nhận, lo âu, sợ hãi và lường trước.
d. Sợ hãi, vui sướng, ngạc nhiên, lúng túng.
e. Lo lắng, chăm sóc, lường trước.
Câu 2: Từ khác biểu thị sụ vui vẻ, hướng về tương lai một cách kiên định là………
a. Lạc quan.
b. Hạnh phúc.
c. Thỏa mãn.
d. Vui sướng.
e. Ngạc nhiên.
Câu 3: Chấp nhận, vui sướng và nồng nhiệt thường kết hợp lại với nhau để hình
thành………
a. Sự yêu thương.
b. Sự sửng sốt.
c. Sự đoán trước.
d. Sự hài lòng.
e. Sự chấp nhận.
Câu 4: Sự kết hợp các cảm xúc: ghê tởm và tức giận sẽ hình thành………
a. Mặc cảm tội lỗi.
b. Sự nổi khùng.
c. Sự xấu hổ.
d. Sự thù hận.
e. Sự coi thường.
212
Câu 5: Sự ngạc nhiên do buồn rầu dẫn đến………
a. Thất vọng.
b. Sửng sốt.
c. Tức giận.
d. Lo sợ.
e. Hối tiếc.
Câu 6: Buồn chán, mặc cảm tội lỗi và hối tiếc kết hợp lại sẽ hình thành………
a. Sự bi lụy.
b. Sự bực tức.
c. Trầm cảm (u uất).
d. Sự ân hận.
e. Sự đau khổ.
Câu 7: Thư giãn, yên ổn và bình tĩnh là những thành phần của………
a. Sự yêu mến.
b. Sự mệt mỏi.
c. Sự mong đợi.
d. Sự điềm tĩnh.
e. Sự lường trước.
Câu 8: Sợ, vui sướng, ngạc nhiên và lúng túng là những thành phần của………
a. Sư quý trọng.
b. Nể sợ.
c. Sự lo sợ.
d. Sự tôn trọng.
e. Đồng cảm.
Câu 9: Xấu hổ, ngạc nhiên và lúng túng là những thành phần của………
a. Sự ghen tức
b. Buồn chán.
c. Mặc cảm tội lỗi.
d. Đố kỵ.
e. Thẹn thùng.
213
Câu 10: Cảm phục, yêu quý và lo lắng là những thành phần của………
a. Ghen tức.
b. Buồn chán.
c. Ác tâm.
d. Tự hào.
e. Lo sợ.
Câu 11: Vui sướng, phấn chấn và không chắc chắn là những thành phần của………
a. Sinh động.
b. Sự lường trước.
c. Lo âu.
d. Bình tĩnh.
e. Than thảnh.
Câu 12: Buồn và hài lòng, cả hai đôi khi những thành phần của………
a. Nỗi luyến tiếc.
b. Lo âu.
c. Lường trước.
d. Trầm cảm.
e. Coi thường
214
PHẦN H
Bạn chọn một câu trả lời tốt nhất cho mỗi phương án trong các tình huống dưới đây
theo thang bậc từ 1 (rất kém hiệu quả) đến 5 (rất hiệu quả).
Tình huống 1: Nam kết bạn thân với một người cùng cơ quan được hơn một năm. Hôm
nay, người bạn đó làm anh ngạc nhiên khi nói rằng, anh ta đã xin chuyển công tác sang cơ
quan khác và có thể chuyển khỏi vùng này. Anh ta không kể chi tiết việc anh ta chuyển công
tác. Những phương án ứng xử dưới đây có hiệu quả như thế nào giúp Nam duy trì mối quan
hệ bạn bè tốt với người bạn kia?.
Phương án 1: Nam cảm thấy không sao và nói với bạn rằng anh vui mừng vì bạn có chỗ
làm mới. Qua vài tuần Nam hẹn gặp để khẳng định họ vẫn là bạn bè.
3
4
2
1
5
Rất hiệu quả
Rất kém hiệu quả Phương án 2: Nam cảm thấy buồn vì bạn đã chuyển đi, nhưng những gì đã xảy ra cho thấy
người bạn đó đã không quan tâm nhiều đến anh. Người bạn này không nói gì về việc tại sao
anh ta chuyển đi, điều này chứng tỏ anh ta không còn là bạn. Nam không để ý đến điều đó,
mà thay vào đó anh tìm cách kết bạn với những người khác cùng cơ quan.
3
4
1
2
5
Rất hiệu quả
Rất kém hiệu quả Phương án 3: Nam tức giận vì bạn không nói gì với mình. Nam tỏ thái độ không đồng tình
bằng cách lờ người đó đi đến khi người đó nói cái gì đó về điều anh ta đã làm. Nam nghĩ
rằng nếu người bạn không nói gì, điều đó có thể khẳng định người đó không đáng là bạn.
3
4
2
5
1
Rất hiệu quả
Rất kém hiệu quả Tình huống 2: Thầy giáo của Tâm vừa mời bố mẹ của Tâm đến để nói rằng Tâm học rất
kém, không tập trung chú ý, là người hay quậy phá và không thể ngồi yên trong giờ học.
Thầy giáo này không có nhiều kinh nghiệm để đối phó với những trẻ hiếu động và bố mẹ
của Tâm lo lắng không biết điều gì sẽ xảy ra. Sau đó thầy giáo nói rằng con trai
họ sẽ không được lên lớp trừ khi có sự tiến bộ, bố mẹ của Tâm cảm thấy rất tức giận.
Những phương án sau sẽ giúp ích con họ như thế nào?.
215
Phương án 1: Bố mẹ của Tâm nói với giáo viên rằng đây là cú sốc lớn đối với họ, vì đây là
lần đầu tiên họ nghe nói về vấn đề của con họ. Họ đề nghị được gặp lại giáo viên để cùng
trao đổi và nếu có thể, mời hiệu trưởng cùng dự.
3
4
2
5
1
Rất hiệu quả
Rất kém hiệu quả Phương án 2: Bố mẹ giáo viên nói rằng nếu giáo viên cứ tiếp tục đe dọa không cho con trai
họ lên lớp, họ sẽ đưa vấn đề này lên hiệu trưởng. Họ nói “nếu con trai chúng tôi bị đúp,
chúng tôi sẽ buộc anh phải chịu trách nhiệm. Anh là giáo viên, công việc của anh là dạy học,
không nên đổ lỗi cho học trò.
3
4
1
5
2
Rất hiệu quả
Rất kém hiệu quả Phương án 3: Bố mẹ của Tâm không nói chuyện với giáo viên. Họ đi gặp hiệu trưởng và
phàn nàn về tái độ đe dọa của giáo viên, đồng thời đề nghị cho con họ chuyển sang lớp
khác.
3
4
1
2
5
Rất hiệu quả
Rất kém hiệu quả Tình huống 3: Mọi chuyện diễn ra tốt đẹp với Lê. Trong khi những người khác bị quở trách
về công việc thì Lê đượ khen, lại được thăng chức. Các con của cô ngoan và học giỏi, gia
đình cô hòa thuận và hạnh phúc. Lê bắt đầu cảm thấy mình rất quan trọng và bắt đầu nhận
thấy mình bắt đầu khoe khoang về cuộc sống của mình với bạn bè. Những phương án sau có
hiệu quả như thế nào cho việc duy trì các mối quan hệ của cô.
Phương án 1: Vì mọi thứ đều tốt, Lê cảm thấy tự hào về điều đó nhưng cô cũng cảm thấy
một vài người không thích hoặc họ ghen tức với cô. Vì vậy, cô chỉ nên nói với những người
bạn thân.
1
2
3
4
5
Rất kém hiệu quả
Rất hiệu quả
216
Phương án 2: Lê bắt đầu nghĩ về tất cả những khó khăn trong tương lai để cô có
thể có cái nhìn toàn cảnh về cuộc sống của mình.
3
4
5
2
1
Rất hiệu quả
Rất kém hiệu quả Phương án 3: Lê chia sẽ các cảm nhận của cô đối với chồng tối hôm đó. Sau đó cô
quyết định gia đình mình nên sử dụng thời gian cùng nhau vào cuối tuần và tham gia
vào một vài sự kiện của gia đình để mọi người được ở cùng nhau.
1
2
3
4
5
Rất kém hiệu quả
Rất hiệu quả
217
218
219
Phụ lục 2
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
(Dùng cho điều tra viên)
Mẫu 01
Đồng chí thân mến! Chúng tôi đang tiến hành nghiên cứu đề tài trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Để nghiên cứu thành công, rất mong đồng chí cho biết ý kiến của mình về những nội dung sau bằng cách đánh dấu X vào dòng và cột tương ứng thể hiện phương án phù hợp nhất với ý kiến của đồng chí. Bảng hỏi hoàn toàn ẩn danh, mọi thông tin thu được chỉ sử dụng để nghiên cứu, ngoài ra không nhằm mục đích nào khác.
Cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ của đồng chí!
Câu 1. Trong quá trình thực hành điều tra, đồng chí tự nhận thấy bản thân mình có các biểu hiện sau ở mức nào? STT
Các biểu hiện
Mức độ Trung bình (2)
Thấp (3)
Cao (1)
I. Biểu hiện về mặt nhận thức cảm xúc trong
quá trình điều tra
1 Nhận biết được cảm xúc ưu trội của bản thân
2 Nhận biết mối quan hệ giữa ngôn ngữ và cảm
khi đối mặt với tình huống xảy ra
3 Nhận biết mối quan hệ giữa cảm xúc và hành
xúc của đối tượng
4 Nhận biết được cảm xúc phức hợp của đối
vi của đối tượng điều tra
5 Nhận biết được sự chuyển đổi cảm xúc của
tượng khi tham gia giao tiếp
6 Nhận thức được cảm xúc của bản thân trong một
đối tượng điều tra
7 Đánh giá được trạng thái cảm xúc của đối tượng
tình huống điều tra
qua hành vi, điệu bộ, cử chỉ
II Biểu hiện về mặt thấu hiểu cảm xúc trong quá
trình điều tra
1 Hiểu rõ cảm xúc của bản thân trong tình
2 Hiểu rõ cảm xúc nào đang “xâm chiếm” đối
huống điều tra
Mức độ
tượng trong tình huống điều tra
220
STT
Các biểu hiện
Cao (1)
Trung bình (2)
Thấp (3)
3 Hiểu rõ diễn biến cảm xúc của đối tượng trong
4 Hiểu rõ tâm trạng phức hợp của đối tượng
tình huống điều tra
5 Hiểu rõ cần phải điều khiển bản thân vào cảm xúc tích cực để nhìn nhận tình huống xảy ra dưới nhiều góc độ (về phía đối tượng phạm tội, về phía người chứng kiến hành động phạm tội, về phía người bị hại,...)
trong tình huống điều tra
III Biểu hiện về mặt vận dụng cảm xúc trong quá
trình điều tra
1 Vận dụng kinh nghiệm đã có tìm ra cách giải
2 Có kỹ năng giao tiếp, thuyết phục hiệu quả khiến đối tượng sẵn sàng chia sẻ, khai báo thành khẩn
3 Có cách thức tác động hiệu quả đến người
quyết hiệu quả cho tình huống hiện tại
4 Biết huy động cảm xúc có lợi để bản thân suy
thân của đối tượng tạo thuận lợi cho điều tra
5 Biết huy động cảm xúc có lợi để nhìn nhận sự
nghĩ tích cực
6 Biết huy động cảm xúc có lợi để tìm ra biện
việc một cách đa chiều
7 Biết tìm ra phương tiện để giải toả cảm xúc
pháp giải quyết mâu thuẫn hiệu quả
tiêu cực của bản thân
IV Biểu hiện về mặt điều khiển cảm xúc trong
quá trình điều tra
1 Điều khiển cảm xúc bản thân theo hướng tích
2 Biết cách lan truyền cảm xúc tích cực của bản
cực trong các tình huống điều tra
3 Giúp đỡ, hướng dẫn có hiệu quả đối tượng điều tra thoát khỏi suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực
thân đến đối tượng điều tra
221
STT
Các biểu hiện
Mức độ Trung bình (2)
Thấp (3)
Cao (1)
4 Trong các tình huống điều tra có thể chủ
5 Có thể gạt bỏ cảm xúc bất lợi của cá nhân
động thể hiện cảm xúc
6 Nhanh chóng tìm ra cách thoát khỏi tâm trạng
trong hoạt động điều tra
7 Bình tĩnh, chủ động trước bất kỳ tình huống
tiêu cực của bản thân
điều tra xảy ra
Câu 2: Đồng chí cho biết mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dưới đây đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên?
TT
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
Yếu
Mạnh
MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG Trung bình
8
1 Yếu tố di truyền sinh học 2 Các thuộc tính tâm lý nhân cách 3 Giới tính, tuổi tác và thâm niên công tác 4 Môi trường làm việc 5 Giáo dục 6 Hoạt động và giao tiếp 7 Đối tượng tiếp xúc, điều tra của Điều tra viên Ý kiến khác:.................................................... ........................................................................... ........................................................................... .........................................................................
222
Câu 3: Đồng chí cho biết ý kiến của mình về sự cần thiết của các biện
pháp phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên?
Cần thiết
TT
CÁC BIỆN PHÁP
Rất cần thiết
Không cần thiết
1
2
3
4
5
6
Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức về trí tuệ cảm xúc gắn với bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp, lối sống lạc quan, tự tin cho điều tra viên Tổ chức thường xuyên các hoạt động bồi dưỡng kiến thức về trí tuệ cảm xúc nhằm nâng cao năng lực trí tuệ cảm xúc trong công việc cho điều tra viên Đa dạng hóa các hình thức rèn luyện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên thông qua các hoạt động thực tiễn nghề nghiệp Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng kiểm soát cảm xúc và kỹ năng đồng cảm cho điều tra viên Bồi dưỡng và khơi dậy tinh thần tự học, tự tu dưỡng, rèn luyện trong việc nâng cao trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên Biện pháp khác: ……………………............. ……………………………………………… …..…………………………………………
Xin đồng chí vui lòng cho biết một số thông tin cá nhân Tuổi nghề:..................................................... Trình độ đào tạo: ........................................ Giới tính: .....................................
Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác của đồng chí!
223
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN (Dùng cho điều tra viên)
b. Dửng dưng d. Chán nản
b. Dửng dưng d. Phẫn nộ
Mẫu số 02 Để giúp việc tìm hiểu thực tế hoạt động của điều tra viên của Cục An ninh điểu tra, xin đồng chí vui lòng cho chúng tôi biết cách ứng xử của đồng chí trong các tình huống dưới đây:
Câu 1. Theo đồng chí, điều tra viên cảm thấy như thế nào khi có những vật dụng hỗ trợ cho công tác điều tra của mình? a. Thích thú c. Sung sướng Câu 2: Trong hoạt động thực tiễn của mình, đồng chí nhận thấy các đối tượng phạm tội mà điều tra viên thường phải tiếp xúc có thái độ như thế nào đối với điều tra viên? a. Họ mong muốn thường xuyên được gặp điều tra viên b. Họ thường thấy xấu hổ khi gặp điều tra viên c. Họ thường ngại tiếp xúc với điều tra viên d. Họ coi thường lời nói của điều tra viên Câu 3. Đồng chí thử đoán xem đồng nghiệp của mình cảm thấy như thế nào khi có nhiều ý kiến cho rằng họ chưa hòa đồng với mọi người trong cơ quan? a. Buồn rầu c. Lo lắng Câu 4. Khi đồng chí được giao điều tra một vụ án nhưng không được kết quả như mong muốn, gặp phải những khó khăn thì đồng chí cảm thấy như thế nào? a. Coi việc thất bại là chuyện bình thường, không ảnh hưởng đến công việc khác b. Buồn chán và không tiếp tục làm được việc khác trong một thời gian c. Hối tiếc và tìm cách để có được sự giúp đỡ của người có trách nhiệm d. Buồn và có kế hoạch làm việc khác thật tốt Câu 5. Giả sử trong phòng làm việc của đồng chí có hiện tượng đồng nghiệp khá giả, có điều kiện không chơi với những đồng nghiệp có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Theo đồng chí, tại sao những đồng nghiệp đó lại làm như vậy? a. Do ảnh hưởng chưa đúng của gia đình, môi trường sống... nên nhận thức sai, coi thường đồng nghiệp khác b. Do sợ đồng nghiệp trong nhóm gia đình khá giả chê cười c. Do có sự khác nhau về sở thích d. Do không tìm thấy ở nhóm đồng nghiệp kia lợi ích nào 6. Có một số đồng nghiệp thường lo lắng khi không giải quyết được công việc được giao. Theo đồng chí, tại sao họ lại lo lắng quá như vậy? a. Do không hiểu đúng những yêu cầu của việc phải hoàn thành b. Do họ cho rằng nếu không giải quyết được công việc sẽ ảnh hưởng đến danh dự của mọi người c. Do họ lo lắng cho tương lai công việc của mình d. Do họ chủ quan, đánh giá tính chất công việc dễ hơn và khả năng của bản thân cao hơn so với thực tế
224
7. Trên thực tế hiện nay có một số điều tra viên ở Cục ANĐT không thấy hài lòng với công việc hiện tại. Theo đồng chí nguyên nhân chính xuất hiện cảm xúc này ở họ là: a. Họ cho rằng làm điều tra viên ở Cục ANĐT không có giá trị xã hội cao b. Do làm điều tra viên ở Cục ANĐT lương thấp so với công sức họ bỏ ra c. Do môi trường làm việc gò bó d. Do điều kiện làm việc vất vả 8. Trong công việc, khi nào đồng chí rơi vào trạng thái quá lo lắng? a. Khi được giao một công việc khó khăn b. Khi đồng chí nhận thấy không có đủ năng lực hoàn thành công việc c. Hầu như đồng chí không bị rơi vào tình trạng này d. Công việc chưa đạt hiệu quả mà mình chưa tìm được cách giải quyết 9. Để giúp một đối tượng phạm tội đã hoàn lương “thoát” khỏi mặc cảm tự ti với các mọi người vì hành động phạm tội của mình, đồng chí có cách nào? a. Yêu cầu các đối tượng khác không được chế giễu đối tượng đó b. Nói chuyện riêng với đối tượng đó, rủ họ tham gia vào nhiều hoạt động để phát huy khả năng của họ, để họ có khả năng thể hiện mình c. Đề nghị gia đình phối hợp giải quyết d. Hướng dẫn các đối tượng có cách ứng xử đúng đắn với mình và người khác khi xảy ra biến cố trong cuộc sống, có thể lồng ghép trong những buổi sinh hoạt chung hay nội dung học tập có liên quan. 10. Có những trường hợp điều tra viên luôn cho rằng toàn bộ kết quả công việc của điều tra viên với đối tượng là do sự tác động từ gia đình, bạn bè của đối tượng chịu trách nhiệm. Đồng chí có cách gì để giúp họ hiểu được trách nhiệm của gia đình và người thân trong quá trình giải quyết công việc? a. Gặp gỡ, trao đổi, phân tích để bản thân điều tra viên đó nhận thức đúng trách nhiệm của điều tra viên và lãnh đạo trong quá trình giải quyết công việc, từ đó yêu cầu họ phối hợp. b. Gặp gỡ gia đình, bạn bè của đối tượng để giao nhiệm vụ cho họ và có sự kiểm tra c. Để khi đối tượng gặp phải sự khó khăn rồi gặp đối tượng, gia đình và bạn bè của đối tượng phân tích cho họ thấy trách nhiệm của họ trong chuyện này d. Trao đổi với gia đình để họ nhận thấy trách nhiệm, ý nghĩa của họ đối với đối tượng và yêu cầu họ tác động đến đối tượng 11. Nếu đồng nghiệp của đồng chí ít tham gia vào hoạt động chung của cơ quan, sống khép kín thì đồng chí nên làm gì để họ hòa đồng hơn với đồng nghiệp? a. Tìm hiểu hoàn cảnh riêng để tìm ra nguyên nhân sâu xa của họ, từ đó tổ chức hoạt động tập thể phù hợp với họ b. Đề nghị giao cho họ những công việc bắt buộc họ phải tham gia vào công việc chung của cơ quan c. Cố gắng ngăn cản mọi người khi họ có ý định kéo đồng nghiệp này vào hoạt động chung d. Tôn trọng lối sống riêng của họ
225
Câu 12. Đồng chí thường làm gì khi giải quyết không thành công một tình huống điều tra? a. Bình tĩnh phân tích nguyên nhân thất bại và rút ra kinh nghiệm b. Trao đổi với đồng nghiệp để rút kinh nghiệm c. Tìm cách mau chóng thoát khỏi cảm xúc tiêu cực của bản thân để tiếp tục làm việc khác d. Từ bỏ nhiệm vụ, bản thân cảm thấy vô cùng mệt mỏi Câu 13. Nếu tất cả các điều tra viên trong tổ của đồng chí đang thất vọng do không đạt được kết quả cao trong một vụ án điều tra bởi các đồng chí rất hi vọng khả quan về vụ án này thì đồng chí sẽ làm gì? a. An ủi động viên các điều tra viên khác trong tổ b. Phân tích tìm nguyên nhân sự việc để rút kinh nghiệm, hướng các đồng chí đó tới những việc cần làm trong thời gian tới c. Tìm điểm mạnh của cả đội để khen ngợi d. Mắng các điều tra viên đó, tỏ ra tức giận khi cả đội không đạt kết quả như mong đợi Câu 14. Nếu lãnh đạo phụ trách đội đồng chí tỏ ra thất vọng với một điều tra viên trong đội của đồng chí khi họ không giải quyết được công việc như ý muốn của lãnh đạo, đồng chí sẽ hành động như thế nào? a. Tỏ ra đồng cảm, an ủi và hứa sẽ cố gắng giúp điều tra viên đó để làm việc tốt hơn trong thời gian tới b. Phân tích để họ thấy được giữa mong muốn của lãnh đạo với điều kiện thực tế và năng lực của điều tra viên còn có khoảng cách nhất định. c. Tỏ ra đồng cảm, cùng lãnh đạo nhìn nhận, đánh giá lại mong muốn của lãnh đạo và năng lực hiện tại của điều tra viên, tương lai giải quyết công việc của điều tra viên. d. Tìm cách giúp điều tra viên đó đạt được kết quả công việc cao trong thời gian tới Câu 15. Giả sử đồng nghiệp hiểu chưa đúng về đồng chí và nói lại với những người khác. Khi nghe được tin đó, đồng chí sẽ hành động: a. Gặp ngay đồng nghiệp đó để nói chuyện b. Đánh giá tính cách của đồng nghiệp và mối quan hệ của mình với đồng nghiệp đó để tìm nguyên nhân và tìm cách trao đổi, thể hiện bằng hành động đối với đồng nghiệp và mọi người khi có cơ hội thuận lợi c. Tìm hiểu để khẳng định tính chính xác của thông tin d. Đưa việc này ra phê bình trong cuộc họp của đội, của phòng. Câu 16. Nếu hơn một nửa đồng nghiệp của đồng chí muốn bầu một điều tra viên có năng lực chuyên môn giỏi nhưng lại có phẩm chất đạo đức không tốt vì không thích người lãnh đạo quá nghiêm khắc thì đồng chí sẽ hành động như thế nào? a. Bực mình nhưng vẫn tôn trọng quyết định của các đồng nghiệp b. Buộc các đồng nghiệp phải theo cơ cấu nhân sự ban đầu của Cục c. Bình tĩnh và phân tích để đồng nghiệp có sự lựa chọn đúng đắn d. Hoãn buổi bầu cử để tìm cách thuyết phục các đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác của các đồng chí!
226
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN (Dùng cho điều tra viên)
Mẫu số 03 Câu 1. Để giúp việc tìm hiểu hoạt động thực tế của điều tra viên, xin vui
lòng cho tôi biết cách ứng xử của đồng chí trong các tình huống dưới đây:
Câu trả lời
Tình huống
TT 1 Khi đối tượng trong vụ án đồng chí đang thụ lý mắc lỗi vì “sự ngây thơ” của đối tượng thì cảm xúc nào thường xuất hiện ở đồng chí? 2 Theo đồng chí tại sao đa số các vụ án điều tra phải tái hiện lại hiện trường diễn ra vụ án?
3 Khi phẫn nộ vì sự vi phạm đạo đức của một đối tượng thì đồng chí thường bộc lộ cảm xúc này trước đối tượng, đồng nghiệp hay không? Vì sao?
4 Khi đồng chí đang buồn rầu vì công việc không đạt được như mong muốn thì lại phải tiếp nhận một vụ án nữa. Lúc này đồng chí hảnh động như thế nào?
5 Đồng chí lo lắng vì phải hoàn thành một nhiệm vụ chuyên môn khó khăn. Đồng chí có cách nảo thoát khỏi lo lắng để hoàn thành nhiệm vụ?
6 Bằng kinh nghiệm nghề nghiệp của mình, theo đồng chí các đối tượng phạm tội thường có chung điểm gì?
7 Khi ý kiến của đồng chí và đồng nghiệp trái ngược nhau trong việc giải quyết một vụ án thì đồng chí nên tạo ra cảm xúc nào ở đồng nghiệp để họ cùng đứng về phía mình trong việc giải quyết vụ án nhằm hoàn thành công việc được giao?
8 Đồng chí có cách nào để nhận biết đối tượng
nói dối và nói thật?
9 Đồng chí làm gì khi có đồng nghiệp rất sợ khi phải tiếp xúc, đặc biệt nói chuyện với đối tượng phạm tội
10 Theo anh chị cảm xúc gì xuất hiện ở một người thực hiện hành động phạm tội và một người chứng kiến hành động phạm tội khi vụ án phạm tội diễn ra? Cảm xúc nào sẽ xuất hiện tiếp theo ở những đối tượng này?
11 Trong cơ quan đồng chí có hiện tượng những đồng nghiệp trong gia đình khá giả không chơi với đồng nghiệp có hoàn cảnh khó khăn. Theo đồng chí những cảm xúc gì xuất hiện ở hai nhóm này?
12 Đồng chí thường có cách gì để lấy lại sự tự tin sau khi không giải quyết thành công một vụ án?
13 Một tình huống công việc xảy ra, đẩy đồng chí rơi vào tâm trạng tức giận, đồng chí có cách nào để thoát khỏi cơn tức giận đó? 14 Mẹ của đối tượng phạm tội đang quá lo lắng vì hành động phạm tội của con mình. Đồng chí có cách nào để người mẹ nhận thức đúng vấn đề?
227
15 Để giúp một đối tượng phạm tội đã hoàn lương thoát khỏi mặc cảm tự ti với mọi người vì hành động phạm tội của mình, đồng chí có những cách nào? Câu 2: Đồng chí hãy vui lòng hồi tưởng lại thời gian mình ở độ tuổi vị thành niên. Trong những tình huống sau đây, cha/mẹ/người nuôi dưỡng các đồng chí thường có cách ứng xử như thế nào? Hãy khoanh tròn vào phương án đúng nhất hoặc viết câu trả lời vào mục e nếu không tìm thấy phương án đúng với hoàn cảnh của mình: 1. Hồi nhỏ việc học bài của đồng chí ở nhà là do: a. Tự học, không ai hướng dẫn b. Tự học, khi gặp khó khăn thì hỏi cha, mẹ, anh, chị, người ngoài,... c. Học dưới sự kiểm soát của cha mẹ, anh chị,... d. Học dưới sự hướng dẫn của cha mẹ, anh chị, ... e. Cách khác: .....................................
6. Khi trách phạt sai đồng chí vì không nắm rõ thông tin thì sau đó cha mẹ thường: a. Quên luôn và không nói chuyện đó nữa b. Giải thích và xin lỗi đồng chí c. Giải thích nhưng không xin lỗi đồng chí d. Giải thích và tìm cách chuộc lỗi với đồng chí e. Cách khác: ..................................... 7. Lúc nhỏ, khi các đồng chí gặp thất bại trong cuộc sống (học tập, vui chơi,...) thì cha mẹ thường: a. Không nhận thấy điều gì thay đổi ở đồng chí b. Nhận thấy và khuyên đồng chí không nên lặp lại sai lầm như vậy nữa d. Nhận thấy ngay, hỏi nguyên nhân
2. Vào lúc nhỏ, khi đồng chí thích một cái gì đó thì: a. Không nói với ai trong gia đình, tự giải quyết b. Nói với cha mẹ, anh chị,... và thường được đáp ứng c. Nói với cha mẹ, anh chị,... và chỉ được đáp ứng khi điều đó phù hợp với ý kiến
và cùng tìm cách giải quyết e. Cách khác: ..............................
của cha mẹ d. Chưa nói thì mọi người trong gia đình đã biết và đáp ứng e.Cách khác: ........................................... 3. Hồi nhỏ, khi đồng chí đang chơi trò chơi/ xem chương trình yêu thích thì đến giờ học bài. Cha mẹ của các đồng chí thường: a. Không để ý và đồng chí tự quyết định b. Cho chơi/ xem xong thì đi học bài c. Buộc đưng chơi/ ngừng xem/ tắt ti vi để học bài d. Nhắc nhở và để đồng chí tự quyết định e. Cách khác: ........................................
4. Hồi nhỏ, khi đồng chí chưa đạt được yêu cầu về học tập, lao động, hành vi ứng xử,... thì cha mẹ thường: a. Không nói gì vì không kiểm tra b. Nhắc nhở để đồng chí cố gắng hơn c. Phê bình và buộc phải thực hiện được yêu cầu đề ra d. Động viên, tạo điều kiện để đồng chí đạt yêu cầu e.Cách khác: ...........................................
5. Vào lúc nhỏ, cha mẹ đồng chí thường hành động như thế nào khi đồng chí không thích làm một việc mà cha mẹ yêu cầu: a. Không hành động vì không nhận thấy đồng chí muốn gì b. Không bắt buộc đồng chí làm nữa c. Giải thích và buộc đồng chí phải làm theo ý cha mẹ đã quyết d. Giải thích và cho đồng chí quyền quyết định e. Cách khác: ......................................
8. Lúc đồng chí còn nhỏ, việc học hành, cha mẹ thường a. Không quan tâm vì quá bận công việc b. Đôi khi kiểm tra và nhắc nhở c. Kiểm tra thường xuyên và buộc phải làm theo những quy định của cha mẹ d. Kiểm tra thường xuyên, trao đổi, giúp đỡ khi đồng chí cần e. Cách khác: .................................. 9. Lúc nhỏ, khi chứng kiến cảnh đồng chí xích mích với trẻ con hàng xóm thì cha mẹ thường: a. Không quan tâm vì quá bận việc b. Gọi đồng chí về và khuyên không xích mích nữa c. Gọi đồng chí về, yêu cầu lần sau không chơi với đứa trẻ đó d. Tìm nguyên nhân, trao đổi lại với đồng chí và hàng xóm e. Cách khác: ......................... 10. Khi đồng chí còn nhỏ, lúc gặp khó khăn trong việc thực hiện lời hứa với đồng chí, cha mẹ thường: a. Không quan tâm vì quá bận công việc b. Giải thích và hứa sẽ làm khi nào có điều kiện c. Giải thích với đồng chí và thôi không thực hiện nữa d. Giải thich và tìm cách khác thực hiện lời hứa với đồng chí e. Cách khác: ......................
228
Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác của đồng chí!
229
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN (Dùng cho cán bộ quản lý)
Mẫu 04
Đồng chí thân mến! Chúng tôi đang tiến hành nghiên cứu đề tài trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Để nghiên cứu thành công, rất mong đồng chí cho biết ý kiến của mình về những nội dung sau bằng cách đánh dấu X vào dòng và cột tương ứng thể hiện phương án phù hợp nhất với ý kiến của đồng chí. Bảng hỏi hoàn toàn ẩn danh, mọi thông tin thu được chỉ sử dụng để nghiên cứu, ngoài ra không nhằm mục đích nào khác.
Cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ của đồng chí!
Câu 1. Trong quá trình thực hành điều tra, đồng chí nhận thấy các điều tra viên có các biểu hiện sau ở mức nào? STT
Các biểu hiện
Mức độ Trung bình (2)
Thấp (3)
Cao (1)
I. Biểu hiện về mặt nhận thức cảm xúc trong
quá trình điều tra
1 Nhận biết được cảm xúc ưu trội của bản thân
2 Nhận biết mối quan hệ giữa ngôn ngữ và cảm
khi đối mặt với tình huống xảy ra
3 Nhận biết mối quan hệ giữa cảm xúc và hành
xúc của đối tượng
4 Nhận biết được cảm xúc phức hợp của đối
vi của đối tượng điều tra
5 Nhận biết được sự chuyển đổi cảm xúc của
tượng khi tham gia giao tiếp
6 Nhận thức được cảm xúc của bản thân trong một
đối tượng điều tra
7 Đánh giá được trạng thái cảm xúc của đối tượng
tình huống điều tra
qua hành vi, điệu bộ, cử chỉ
II Biểu hiện về mặt thấu hiểu cảm xúc trong quá
trình điều tra
1 Hiểu rõ cảm xúc của bản thân trong tình
2 Hiểu rõ cảm xúc nào đang “xâm chiếm” đối
huống điều tra
Mức độ
tượng trong tình huống điều tra
230
STT
Các biểu hiện
Cao (1)
Trung bình (2)
Thấp (3)
3 Hiểu rõ diễn biến cảm xúc của đối tượng trong
4 Hiểu rõ tâm trạng phức hợp của đối tượng
tình huống điều tra
5 Hiểu rõ cần phải điều khiển bản thân vào cảm xúc tích cực để nhìn nhận tình huống xảy ra dưới nhiều góc độ (về phía đối tượng phạm tội, về phía người chứng kiến hành động phạm tội, về phía người bị hại,...)
trong tình huống điều tra
III Biểu hiện về mặt vận dụng cảm xúc trong quá
trình điều tra
1 Vận dụng kinh nghiệm đã có tìm ra cách giải
2 Có kỹ năng giao tiếp, thuyết phục hiệu quả khiến đối tượng sẵn sàng chia sẻ, khai báo thành khẩn
3 Có cách thức tác động hiệu quả đến người
quyết hiệu quả cho tình huống hiện tại
4 Biết huy động cảm xúc có lợi để bản thân suy
thân của đối tượng tạo thuận lợi cho điều tra
5 Biết huy động cảm xúc có lợi để nhìn nhận sự
nghĩ tích cực
6 Biết huy động cảm xúc có lợi để tìm ra biện
việc một cách đa chiều
7 Biết tìm ra phương tiện để giải toả cảm xúc
pháp giải quyết mâu thuẫn hiệu quả
tiêu cực của bản thân
IV Biểu hiện về mặt điều khiển cảm xúc trong
quá trình điều tra
1 Điều khiển cảm xúc bản thân theo hướng tích
2 Biết cách lan truyền cảm xúc tích cực của bản
cực trong các tình huống điều tra
3 Giúp đỡ, hướng dẫn có hiệu quả đối tượng điều tra thoát khỏi suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực
thân đến đối tượng điều tra
231
STT
Các biểu hiện
Mức độ Trung bình (2)
Thấp (3)
Cao (1)
4 Trong các tình huống điều tra có thể chủ
5 Có thể gạt bỏ cảm xúc bất lợi của cá nhân
động thể hiện cảm xúc
6 Nhanh chóng tìm ra cách thoát khỏi tâm trạng
trong hoạt động điều tra
7 Bình tĩnh, chủ động trước bất kỳ tình huống
tiêu cực của bản thân
điều tra xảy ra
Câu 2: Đồng chí cho biết mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dưới đây đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên?
TT
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
Mạnh
Yếu
MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG Trung bình
8
1 Yếu tố di truyền sinh học 2 Các thuộc tính tâm lý nhân cách 3 Giới tính, tuổi tác và thâm niên công tác 4 Môi trường làm việc 5 Giáo dục 6 Hoạt động và giao tiếp 7 Đối tượng tiếp xúc, điều tra của Điều tra viên Ý kiến khác:.................................................... ........................................................................... Câu 3: Đồng chí cho biết ý kiến của mình về sự cần thiết của các biện
pháp phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên?
Cần thiết
TT
CÁC BIỆN PHÁP
Rất cần thiết
Không cần thiết
1
2
3
4
5
Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức về trí tuệ cảm xúc gắn với bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp, lối sống lạc quan, tự tin cho điều tra viên Tổ chức thường xuyên các hoạt động bồi dưỡng kiến thức về trí tuệ cảm xúc nhằm nâng cao năng lực trí tuệ cảm xúc trong công việc cho điều tra viên Đa dạng hóa các hình thức rèn luyện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên thông qua các hoạt động thực tiễn nghề nghiệp Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng kiểm soát cảm xúc và kỹ năng đồng cảm cho điều tra viên Bồi dưỡng và khơi dậy tinh thần tự học, tự tu dưỡng, rèn luyện trong việc nâng cao trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên
6 Biện pháp khác: …………………….............
Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác của đồng chí!
232
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN CHUYÊN GIA
Thầy/ cô/ đồng chí kính mến Để giúp chúng tôi nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an, xin thầy/cô/ đồng chí cho biết một số vấn đề sau. Rất cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy/cô/ đồng chí.
1. Theo thầy/cô/ đồng chí trí tuệ cảm xúc là gì?
............................................................................................................................. .............................................................................................................................
2. Theo thầy/ cô/ đồng chí trí tuệ cảm xúc của điều tra viên có những
năng lực thành phần nào và biểu hiện của những thành tố này ra sao? ............................................................................................................................. .............................................................................................................................
3. Theo thầy cô những yếu tố nào ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của
điều tra viên ở Cục An ninh điều tra? ............................................................................................................................. .............................................................................................................................
4. Theo thầy/ cô/ đồng chí, để phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra
viên ở Cục An ninh điều tra thì cần phải thực hiện những biện pháp nào? ............................................................................................................................. .............................................................................................................................
Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của thầy/ cô/ đồng chí!
233
PHỤ LỤC 3 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN
Thời gian diễn ra: Ngày 8/6/2021
Địa điểm: P201 Cục ANĐT
Nội dung:
Câu hỏi 1: Trước đây, trong quá trình đi học; bố mẹ đồng chí quan tâm
đến việc học của đồng chí như thế nào?
Câu hỏi 2: Đồng chí cho biết, tình hình sức khỏe của các điều tra viên
trong đơn vị như thế nào? Theo đồng chí điều này có ảnh hưởng ra sao đến
hoạt động điều tra của các điều tra viên?
Câu hỏi 3: Trước đây, trong quá trình đi học; bố mẹ đồng chí quan tâm
đến việc học của đồng chí như thế nào?
Câu hỏi 4: Đồng chí cho biết các đối tượng mà điều tra viên thường
tiếp xúc trong hoạt động điều tra? Khi tiếp xúc với các đối tượng này điều tra
viên có sự thay đổi thế nào về cảm xúc?”
Câu hỏi 5: Đồng chí cho biết các điều tra viên ở trong phòng đồng chí
có kiểu khí chất như thế nào (linh hoạt, nóng nảy, trầm, ưu tư,...) và khí chất
này được thể hiện như nào trong quá trình hoạt động của điều tra viên đó với
đồng nghiệp, cũng như với các đối tượng, lực lượng có liên quan? Đồng chí
nhận thấy kiểu khí chất của điều tra viên có ảnh hưởng gì đến kết quả của
hoạt động điều tra hay không?
234
PHỤ LỤC 4 BIÊN BẢN QUAN SÁT
Thời gian bắt đầu quan sát: Nội dung quan sát: Quan sát hành vi ứng xử của điều tra viên với đồng nghiệp, lãnh đạo Kết quả quan sát: .............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Thời gian kết thúc quan sát:
235
Phụ lục 5 MỘT SỐ KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG
Phụ lục 5.1. Tương quan 4 mặt với Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên
Descriptive Statistics
Mean
Std. Deviation
N
Tổng hợp Trí tuệ CX của
2.4658
.56287
255
ĐTV
Mean Nhận thức
2.4702
.56977
255
Mean Thấu hiểu
2.5298
.43035
255
Mean Vận dụng
2.4930
.40240
255
Mean Điều khiển
2.3702
.43035
255
Tổng hợp TTCX
Mean nhận thức Mean thấu hiểu
của ĐTV
Pearson Correlation
1
.800**
.746**
Tổng hợp TTCX của ĐTV
Sig. (2-tailed)
.000
.000
N
255
255
255
Pearson Correlation
1
.638**
Mean nhận thức
Sig. (2-tailed)
.800** .000
.000
N
255
255
255
Pearson Correlation
.746**
1
Mean thấu hiểu
Sig. (2-tailed)
.000
.638** .000
N
255
255
255
Pearson Correlation
.712**
.626**
.831**
Mean Vận dụng
Sig. (2-tailed)
.000
.000
.000
N
255
255
255
Mean Điều khiển
Pearson Correlation
.726**
.738**
.717 .000
Sig. (2-tailed)
.000
.000
N
255
255
255
Correlations
Mean vận dụng
.712
Pearson Correlation
.000
Tổng hợp TTCX của ĐTV
Sig. (2-tailed)
255
N
.626**
Pearson Correlation
.000
Sig. (2-tailed)
Mean nhận thức
255
N
.746**
Pearson Correlation
Mean thấu hiểu
.000
Sig. (2-tailed)
N
255
Pearson Correlation
.712**
.000
Sig. (2-tailed)
Mean vận dụng
N
255
Mean điều khiển
Pearson Correlation
.726**
Sig. (2-tailed)
.000
N
255
**. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).
236
Phụ lục 5.2. Tương quan 4 mặt với KQ hoàn thành nhiệm vụ
Descriptive Statistics
Mean
Std. Deviation
N
2.4702
.56977
255
Mean Nhận thức
2.5298
.43035
255
Mean Thấu hiểu
2.4930
.53977
255
Mean Vận dụng
2.3702
.40240
255
Mean Điều khiển
2.6386
.61831
255
Kết quả HTNV
Mean nhận thức Mean thấu hiểu Mean vận dụng Mean điều khiển
Pearson
1
.638**
.626**
.638**
Correlation
Mean nhận thức
Sig. (2-tailed)
.000
.000
.000
N
255
255
255
255
Pearson
.638**
1
.831**
1
Correlation
Mean thấu hiểu
Sig. (2-tailed)
.000
.000
N
255
255
255
255
Mean vận dụng
Pearson
.626**
.831**
1
.831**
Correlation
Mean điều khiển
Sig. (2-tailed)
.000
.000
.000
N
255
255
255
255
Pearson
.704**
.632**
.610**
.632**
Correlation
Kết quả HTNV
Sig. (2-tailed)
.000
.000
.000
.000
N
255
255
255
255
237
Correlations
Kết quả phân loại ĐTV
Pearson Correlation
.704
Mean nhận thức
Sig. (2-tailed)
.000
N
255
Pearson Correlation
.632**
Mean thấu hiểu
Sig. (2-tailed)
.000
N
255
Pearson Correlation
.610**
Mean vận dụng
Sig. (2-tailed)
.000
N
255
Pearson Correlation
.710**
Mean điều khiển
Sig. (2-tailed)
.000
N
255
Pearson Correlation
1**
Kết quả HTNV
Sig. (2-tailed)
N
255
**. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed). Phụ lục 5.3. Tương quan kết quả hoàn thành nhiệm vụ với trí tuệ cảm xúc của điều tra viên
Descriptive Statistics
Mean
Std. Deviation
N
Kết quả phân loại ĐTV
2.6386
.61831
255
Tổng hợp TTCX của ĐTV
2.4658
.56287
255
Correlations
Kết quả phân loại
Tổng hợp TTCX
ĐTV
của ĐTV
Pearson Correlation
1
.819**
Kết quả HTNV của ĐTV
Sig. (2-tailed)
.000
N
255
255
Pearson Correlation
1
Tổng hợp TTCX của ĐTV
Sig. (2-tailed)
.819** .000
N
255
255
**. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).
238
Phụ lục 5.4. So sánh 4 biểu hiện của trí tuệ cảm xúc theo giới tính T-Test
Group Statistics
Giới tính
N
Mean
Std. Deviation Std. Error Mean
nam
141
2.2612
.58529
.05321
Mean nhận thức
nu
114
2.6244
.50702
.03959
nam
141
2.3521
.50466
.04588
Mean thấu hiểu
nu
114
2.6610
.30728
.02399
nam
141
2.4843
.48631
.04421
Mean vận dụng
nu
114
2.6732
.30459
.02378
nam
141
2.3521
.50466
.04588
Mean điều khiển
nu
114
2.6610
.30728
.02399
Independent Samples Test
Levene's Test for Equality of
t-test for
Variances
Equality of
Means
F
Sig.
t
35.137
.000
-5.596
Mean nhận thức
-5.477
Equal variances assumed Equal variances not assumed
73.340
.000
-6.397
Mean thấu hiểu
-5.967
Equal variances assumed Equal variances not assumed
21.551
.000
-4.020
Mean vận dụng
-3.762
Equal variances assumed Equal variances not assumed
71.340
.000
-6.197
Mean điều khiển
-5.567
Independent Samples Test
t-test for Equality of Means
df
Sig. (2-tailed)
Mean Difference
Equal variances assumed
253
.000
-.36323
Mean nhận thức
Equal variances not assumed
231.332
.000
-.36323
Equal variances assumed
253
.000
-.30891
Mean thấu hiểu
Equal variances not assumed
182.464
.000
-.30891
Equal variances assumed
253
.000
-.18887
Mean vận dụng
Equal variances not assumed
185.924
.000
-.18887
Equal variances assumed
172.464
.000
-.31891
Mean điều khiển
Equal variances not assumed
253
.000
-.17887
239
Independent Samples Test
t-test for Equality of Means
Std. Error
95% Confidence Interval of the
Difference
Difference
Lower
Upper
Equal variances assumed
.06491
-.49099
-.23547
Mean nhận thức
Equal variances not assumed
.06632
-.49389
-.23258
Equal variances assumed
.04829
-.40396
-.21385
Mean thấu hiểu
Equal variances not assumed
.05177
-.41105
-.20676
Equal variances assumed
.04699
-.28136
-.09639
Mean vận dụng
.05020
-.28791
-.08984
Equal variances not assumed Equal variances not assumed
.05829
-.42396
-.24385
Mean điều khiển
Equal variances not assumed
.06177
-.43105
-.22676
240
Phụ lục 5.5. So sánh 4 mặt của trí tuệ cảm với học vấn Means
Case Processing Summary
Cases
Included
Total
Excluded
N
Percent
N
Percent
N
Percent
Mean nhận thức * Trình độ
255
100.0%
0.0%
255
100.0%
0
học vấn
Mean thấu hiểu * Trình độ
255
100.0%
0.0%
255
100.0%
0
học vấn
Mean vận dụng * Trình độ
255
100.0%
0.0%
255
100.0%
0
học vấn
Mean điều khiển * Trình độ
255
100.0%
0.0%
255
100.0%
0
học vấn
Mean nhận thức Mean thấu hiểu Mean vận dụng Mean điều
Trình độ học vấn
khiển
Đại học
Sau đại học
Total
Mean N Std. Deviation Mean N Std. Deviation Mean N Std. Deviation
2.5600 155 .50662 2.7143 100 .48795 2.6702 255 .56977
2.3400 155 .48589 2.5286 100 .56452 2.4930 255 .40240
2.2400 155 .47589 2.4286 100 .58452 2.3930 255 .40240
2.2400 155 .43589 2.4286 100 .52452 2.1930 255 .40240
ANOVA Table
Sum of Squares
df
Between Groups
(Combined)
49.664
4
Mean nhận thức * Trình độ học vấn
Within Groups Total
42.532 92.196
250 254
Between Groups
(Combined)
15.828
4
Mean thấu hiểu * Trình độ học vấn
Within Groups Total
36.769 52.596
250 254
Between Groups
(Combined)
9.803
4
Mean vận dụng * Trình độ học vấn
Within Groups Total
36.183 45.986
250 254
Between Groups
(Combined)
15.828
Within Groups
36.769
250
Mean thấu hiểu * Trình độ học vấn
Total
52.596
254
241
ANOVA Table
Mean Square
F
Sig.
Between Groups
(Combined)
81.737
.000
Mean nhận thức* Trình độ
Within Groups
học vấn
12.416 .152
Total
Between Groups
(Combined)
30.133
.000
Mean thấu hiểu * Trình độ học
Within Groups
vấn
3.957 .131
Total
Between Groups
(Combined)
18.966
.000
Mean vận dụng * Trình độ học
Within Groups
vấn
2.451 .129
Total
Between Groups (Combined)
32.133
.000
Within Groups
Mean điều khiển * Trình độ học vấn
3.857 .131
Total
Phụ lục 5.6. Thống kê, so sánh trí tuệ cảm xúc với học vấn Means
Case Processing Summary
Cases
Included
Total
Excluded
N
Percent
N
Percent
N
Percent
Tổng hợp TTCX của ĐTV *
255
100.0%
0
0.0%
255
100.0%
Trình độ học vấn
Report
Tổng hợp TTCX của ĐTV
Trình độ học vấn
Mean
N
Std. Deviation
Đại học
2.5600
155
.50662
Sau đại học
2.7171
100
.37796
Total
2.6158
255
.56287
ANOVA Table
Sum of Squares
df
Between Groups
(Combined)
34.796
4
Tổng hợp TTCX của ĐTV *
Within Groups
55.183
250
Trình độ học vấn
Total
89.979
254
ANOVA Table
Mean Square
F
Sig.
Between Groups
(Combined)
44.140
.000
Tổng hợp TTCX của ĐTV *
Within Groups
Trình độ học vấn
8.699 .197
Total
242
Measures of Association
Eta
Eta Squared
Tổng hợp TTCX của ĐTV*
.522
.387
Trình độ học vấn Phụ lục 5.7: Tổng hợp thực trạng mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên
Statistics
TBC
Nhận thức
Thấu hiểu
Vận dụng
Điều khiển
Valid
N
255
255
255
255
255
Missing
0
0
0
0
Mean
0 2.4658
2.4702
2.5298
2.4930
2.3702
Std. Error of Mean
.032
.034
.033
.033
.036
Median
2.00
2.00
2.00
2.00
2.00
Mode
2
2
2
2
2
Std. Deviation
.444
.453
.471
.441
.426
Variance
.512
.502
.559
.514
.514
Range
3
3
3
3
4
Minimum
1
1
1
1
1
Maximum
3
3
3
3
3
Percentiles 25
2.00
2.00
3.00
2.00
3.00
50
3.00
3.00
3.00
3.00
3.00
75
3.00
4.00
4.00
4.00
4.00
243
Phụ lục 5.8: Kết quả điều tra cụ thể Phụ lục 5.8.1: Biểu hiện năng lực nhận biết cảm xúc trong hoạt động điều tra của điều tra viên Frequencies
Statistics
Nhận biết mối quan hệ giữa ngôn ngữ và cảm xúc của đối tượng Nhận biết mối quan hệ giữa cảm xúc và hành vi của đối tượng
Nhận biết được cảm xúc phức hợp của đối tượng khi tham gia giao tiếp Nhận biết được sự chuyển đổi cảm xúc của đối tượng điều tra
Nhận biết được cảm xúc ưu trội của bản thân khi đối mặt với tình huống xảy ra
Valid 255 255 255 255 255 N Missing
Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum 0 2.6784 3.0000 .46800 2.00 3.00 0 2.4392 2.0000 .57098 1.00 3.00 0 2.6139 3.0000 .56470 1.00 3.00 0 2.4716 2.0000 .46800 2.00 3.00 0 2.3486 2.0000 .55893 1.00 3.00
Statistics
Nhận thức được cảm xúc của bản thân trong một tình huống điều tra
Đánh giá được trạng thái cảm xúc của đối tượng qua hành vi, điệu bộ, cử chỉ
N Valid Missing
255 0 2.4100 2.0000 .49086 2.00 3.00 255 0 2.3884 3.0000 .57381 1.00 3.00
Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum
244
Phụ lục 5.8.2: Biểu hiện năng lực thấu hiểu cảm xúc trong hoạt động điều tra của điều tra viên Frequencies
Statistics
Hiểu rõ cảm xúc của bản thân trong tình huống điều tra Hiểu rõ diễn biến cảm xúc của đối tượng trong tình huống điều tra Hiểu rõ tâm trạng phức hợp của đối tượng trong tình huống điều tra Hiểu rõ cảm xúc nào đang “xâm chiếm” đối tượng trong tình huống điều tra
Hiểu rõ cần phải điều khiển bản thân vào cảm xúc tích cực để nhìn nhận tình huống xảy ra dưới nhiều góc độ
N Valid Missing
255 0 2.4824 3.0000 .57394 1.00 3.00 255 0 2.5369 3.0000 .49773 2.00 3.00 255 0 2.6045 3.0000 .46948 2.00 3.00 255 0 2.4424 3.0000 .57394 1.00 3.00 255 0 2.5600 3.0000 .49086 2.00 3.00
Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum Phụ lục 5.8.3: Biểu hiện năng lực vận dụng cảm xúc trong hoạt động điều tra của điều tra viên Frequencies
Statistics
Biết huy động cảm xúc có lợi để bản thân suy nghĩ tích cực
Có kỹ năng giao tiếp, thuyết phục hiệu quả khiến đối tượng sẵn sàng chia sẻ, khai báo thành khẩn
Biết huy động cảm xúc có lợi cho việc xem xét sự việc một cách đa chiều Vận dụng kinh nghiệm đã có tìm ra cách giải quyết hiệu quả cho tình huống hiện tại
N Valid Missing
255 0 2.6431 3.0000 .36439 2.00 3.00 255 0 2.5337 3.0000 .57405 1.00 3.00 Có cách thức tác động hiệu quả đến người thân của đối tượng tạo thuận lợi cho điều tra 255 0 2.5764 3.0000 .50929 1.00 3.00 255 0 2.5569 3.0000 .52092 1.00 3.00 255 0 2.3892 2.0000 .64725 1.00 3.00
Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum
245
Statistics
Biết tìm ra phương tiện để giải tỏa cảm xúc tiêu cực của bản thân
Biết huy động cảm xúc có lợi cho việc tìm ra biện pháp giải quyết mâu thuẫn có hiệu quả
Valid 255 255 N Missing
Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum 0 2.3118 2.0000 .57014 1.00 3.00 0 2.4671 3.0000 .62189 1.00 3.00
Phụ lục 5.8.4: Biểu hiện năng lực điều khiển cảm xúc trong hoạt động điều tra của điều tra viên Frequencies
Statistics
Biết cách lây lan cảm xúc tích cực của bản thân đến đối tượng Trong các tình huống điều tra có thể chủ động thể hiện cảm xúc Có thể gạt bỏ cảm xúc bất lợi của cá nhân trong quá trình điểu tra Điều chỉnh cảm xúc bản thân theo hướng tích cực trong các tình huống điều tra Giúp đỡ, hướng dẫn có hiệu quả đối tượng điều tra thoát khỏi suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực
Valid 255 255 255 255 255 N Missing
Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum 0 2.3255 2.0000 .55410 1.00 3.00 0 2.4684 3.0000 .57381 1.00 3.00 0 2.0784 2.0000 .44911 2.00 3.00 0 2.2745 2.0000 .39477 1.00 3.00 0 2.5600 3.0000 .40079 2.00 3.00
246
Statistics Nhanh chóng tìm ra cách để thoát khỏi tâm trạng tiêu cực Bình tĩnh và chủ động trước bất cứ tình huống điều tra nào đó xảy ra
N Valid Missing
255 0 2.4331 2.0000 .57138 1.00 3.00 255 0 2.5039 3.0000 .56470 1.00 3.00
Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum Phụ lục 5.8.5: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên Frequencies
Statistics
Môi trường làm việc Giáo dục
Yếu tố di truyền, sinh học Các thuộc tính tâm lý nhân cách
Giới tính, tuổi tác và thâm niên công tác
N 255 0 Valid Missing
255 0 2.7176 3.0000 .45103 2.00 3.00 255 0 2.8000 3.0000 .40079 2.00 3.00 255 0 2.7255 3.0000 .44714 2.00 3.00 255 0 2.4824 2.8431 2.0000 3.0000 .36439 .50067 2.00 2.00 3.00 3.00
Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum
Statistics
Hoạt động thực tiễn và giao tiếp Đối tượng tiếp xúc, điều tra
N Valid Missing
255 0 2.8431 3.0000 .36439 2.00 3.00 255 0 2.6784 3.0000 .46800 2.00 3.00 Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum
247
Frequency Table
Yếu tố di truyền, sinh học
Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent
Valid 28.2 100.0
trung bình mạnh Total 72 183 255 28.2 71.8 100.0 28.2 71.8 100.0
Các thuộc tính tâm lý nhân cách Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent
Valid 20.0 100.0
trung bình mạnh Total 51 204 255 20.0 80.0 100.0 20.0 80.0 100.0
Giới tính, tuổi tác và thâm niên công tác
Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent
Valid 27.5 100.0
trung bình mạnh Total 70 185 255 27.5 72.5 100.0 27.5 72.5 100.0
Môi trường làm việc Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent
Valid 51.8 100.0
trung bình mạnh Total 132 123 255 51.8 48.2 100.0 51.8 48.2 100.0
Giáo dục
Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent
Valid 15.7 100.0
trung bình mạnh Total 40 215 255 15.7 84.3 100.0 15.7 84.3 100.0
248
Hoạt động thực tiễn và giao tiếp Percent Valid Percent Frequenc y Cumulative Percent
Valid 15.7 100.0
trung bình mạnh Total 40 215 255 15.7 84.3 100.0 15.7 84.3 100.0
Đối tượng tiếp xúc, điều tra
Frequenc y Percent Valid Percent Cumulative Percent
Valid 32.2 100.0
trung bình mạnh Total 82 173 255 32.2 67.8 100.0 32.2 67.8 100.0
Phụ lục 5.8.6: Sự cần thiết của các biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên Frequencies
Statistics
Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng kiểm soát cảm xúc
Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức về trí tuệ cảm xúc Bồi dưỡng và khơi dậy tinh thần tự học, tự tu dưỡng, rèn luyện
Đa dạng hóa các hình thức rèn luyện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên
Tổ chức thường xuyên các hoạt động bồi dưỡng kiến thức về trí tuệ cảm xúc
N Valid Missing
255 0 2.5176 3.0000 .50067 2.00 3.00 255 0 2.5137 3.0000 .50079 2.00 3.00 255 0 2.7216 3.0000 .44911 2.00 3.00 255 0 2.2824 2.0000 .45103 2.00 3.00 255 0 2.4431 2.0000 .49773 2.00 3.00
Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum
249
Frequency Table
Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức về trí tuệ cảm xúc Cumulative Percent Frequency Percent Valid Percent
Valid 48.2 100.0
cần thiết rất cần thiết Total 123 132 255 48.2 51.8 100.0 48.2 51.8 100.0
Tổ chức thường xuyên các hoạt động bồi dưỡng kiến thức về trí tuệ cảm xúc
Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent
Valid 48.6 100.0
cần thiết rất cần thiết Total 124 131 255 48.6 51.4 100.0 48.6 51.4 100.0
Đa dạng hóa các hình thức rèn luyện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên
Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent
Valid 27.8 100.0
cần thiết rất cần thiết Total 71 184 255 27.8 72.2 100.0 27.8 72.2 100.0
Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng kiểm soát cảm xúc
Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent
Valid 71.8 100.0
cần thiết rất cần thiết Total 71.8 28.2 100.0 71.8 28.2 100.0
183 72 255 Bồi dưỡng và khơi dậy tinh thần tự học, tự tu dưỡng, rèn luyện
Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent
Valid 55.7 100.0
cần thiết rất cần thiết Total 142 113 255 55.7 44.3 100.0 55.7 44.3 100.0

