BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN BÍCH HẰNG

TRÝ TUÖ C¶M XóC CñA §IÒU TRA VI£N ë CôC AN NINH §IÒU TRA THUéC Bé C¤NG AN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI - 2022

BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN BÍCH HẰNG

TRÝ TUÖ C¶M XóC CñA §IÒU TRA VI£N ë CôC AN NINH §IÒU TRA THUéC Bé C¤NG AN

Chuyên ngành: Tâm lý học

Mã số : 931 04 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1. TS Bùi Tuấn Anh

2. GS. TS Trương Công Am HÀ NỘI - 2022

1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên

cứu của riêng tôi. Các tài liệu được sử dụng ở luận

án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng. Số liệu và kết

quả nghiên cứu không trùng lặp với các công trình

đã được công bố.

Tác giả luận án

Nguyễn Bích Hằng

2

MỤC LỤC

7

Trang

TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN

15

QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài và trong nước liên

quan đến đề tài

15

1.2. Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và

33

Chương 2

những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC CỦA ĐIỀU TRA VIÊN Ở CỤC AN NINH ĐIỀU TRA THUỘC BỘ CÔNG AN

39 39

2.1. Điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 2.2. Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra

thuộc Bộ Công an

49

2.3. Biểu hiện, mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở

Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

62

2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra

viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

Chương 3 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Tổ chức nghiên cứu 3.2. Phương pháp nghiên cứu

77 93 93 102

119

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC CỦA ĐIỀU TRA VIÊN Ở CỤC AN NINH ĐIỀU TRA THUỘC BỘ CÔNG AN

4.1. Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An

ninh điều tra thuộc Bộ Công an

119

4.2. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

138 152

4.3. Phân tích chân dung tâm lý điển hình 4.4. Biện pháp tâm lý - xã hội phát triển trí tuệ cảm xúc cho

Điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

158 179

182 183 192

KẾT LUẬN DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

3

DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt

1. An ninh điều tra ANĐT

2. Bộ Công an BCA

3. Công an nhân dân CAND

4. Chỉ số trí tuệ cảm xúc (Emotional Intelligence EQ

Quotient)

5. Điểm trung bình ĐTB

6. Trắc nghiệm trí tuệ cảm xúc của Mayer Salovey MSCEIT

Caruso, 2002

7. Trí tuệ cảm xúc (Emotional Intelligence) EI

4

DANH MỤC CÁC BẢNG

STT TÊN BẢNG

Trang 95

1. Bảng 3.1. Phân bố khách thể nghiên cứu 2. Bảng 3.2: Bảng phân loại trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở

Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 105

3. Bảng 3.3: Độ tin cậy của hệ thống bài tập đo biểu hiện EI

của điều tra viên trong các mối quan hệ nghiệp vụ điển hình 108

4. Bảng 3.4: Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo/ thang đo Biểu hiện EI của điều tra viên trong các quan hệ nghiệp vụ điển hình 108

5. Bảng 3.5. Độ tin cậy của hệ thống câu hỏi đánh giá biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 111

111

6. Bảng 3.6. Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo/ thang đo đánh giá Biểu hiện EI của điều tra viên trong hoạt động điều tra 7. Bảng 4.1: Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên theo

trắc nghiệm MSCEIT 119

8. Bảng 4.2: Thực trạng mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên theo trắc nghiệm MSCEIT 120

9. Bảng 4.3: Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên theo trắc

nghiệm MSCEIT 120

10. Bảng 4.4: Thực trạng 8 năng lực trí tuệ cảm xúc tiểu thành

phần của điều tra viên theo trắc nghiệm MSCEIT 123

126

129

131

11. Bảng 4.5: Thực trạng năng lực nhận biết cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 12. Bảng 4.6: Thực trạng năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 13. Bảng 4.7: Thực trạng năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 14. Bảng 4.8: Thực trạng năng lực điều khiển cảm xúc của

điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 133

15. Bảng 4.9. Tổng hợp kết quả khảo sát năng lực trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 135

5

16. Bảng 4.10: Thực trạng các biểu hiện năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản trong các quan hệ điều tra điển hình của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 136

17. Bảng 4.11: Thực trạng ảnh hưởng của yếu tố thể chất đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 139

18. Bảng 4.12: Kết quả kiểm tra chiến sĩ khoẻ của điều tra

viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 139

19. Bảng 4.13: Thực trạng ảnh hưởng của yếu tố thuộc tính tâm lý nhân cách đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 140

20. Bảng 4.14: Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An

ninh điều tra thuộc Bộ Công an theo giới tính 142

21. Bảng 4.15: Tương quan trí tuệ cảm xúc với tuổi tác, thâm

niên công tác 143

22. Bảng 4.16: Mức độ ảnh hưởng của thâm niên công tác đến

trí tuệ cảm xúc của điều tra viên 144

145

23. Bảng 4.17: Mức độ ảnh hưởng của tuổi tác đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 24. Bảng 4.18: Mối tương quan giữa trí tuệ cảm xúc với kết

quả hoạt động của điều tra viên 146

25. Bảng 4.19: Thực trạng ảnh hưởng của yếu tố môi trường

làm việc đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên 147

26. Bảng 4.20: Thực trạng ảnh hưởng của yếu tố giáo dục đến

trí tuệ cảm xúc của điều tra viên 148

27. Bảng 4.21: Mối tương quan giữa trình độ học vấn và trí

tuệ cảm xúc của điều tra viên 149

28. Bảng 4.22: Thực trạng ảnh hưởng của yếu tố hoạt động và giao tiếp trong thực tiễn hoạt động điều tra đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên 150

6

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

STT TÊN SƠ ĐỒ Trang

Sơ đồ 2.1. Mô hình trí tuệ cảm xúc EI97 của J.Mayer và 1 P.Salovey 64

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ phân tích kết quả đo EI của điều tra viên 2 trên MSCEIT 106

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

STT TÊN BIỂU ĐỒ Trang

Biểu đồ 4.1: So sánh 4 năng lực trí tuệ cảm xúc của điều tra 1 viên theo các mức độ 121

Biểu đồ 4.2: So sánh 4 năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản 2 trong những trường hợp đặc biệt 122

Biểu đồ 4.3: Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở 3 Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 135

Biểu đồ 4.4: Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm 4 xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an 138

7

MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài luận án

Từ những năm 1990 nhiều nhà Tâm lý học quan tâm nghiên cứu về trí

tuệ cảm xúc và đã khẳng định vai trò quan trọng của chức năng tâm lý này.

Thậm chí có quan điểm cho rằng việc quyết định sự thành công của một con

người là do trí tuệ cảm xúc. Đây chính là nguồn cảm hứng để lĩnh vực này

được bùng nổ trong những năm đầu thế kỷ XXI và cho đến nay vẫn thu hút sự

quan tâm của các nhà chuyên môn và của cả xã hội.

Trí tuệ cảm xúc là một dạng năng lực tổng hợp, có vai trò quan trọng

trong đời sống và hoạt động của mỗi cá nhân. Nó không chỉ là yếu tố đảm bảo

hiệu quả của hành động mà còn là yếu tố hướng đạo, dẫn đường cho hành động,

đặc biệt trong những tình huống cấp bách hay bất ngờ. Ngoài ra trí tuệ cảm xúc

còn là yếu tố thúc đẩy hay kìm hãm một hành động. Người có năng lực trí tuệ

cảm xúc sẽ có nhiều cơ hội và khả năng thành công trong cuộc sống và công

việc. Trí tuệ cảm xúc hay kỹ năng con người đóng vai trò quan trọng hơn các kỹ

năng về mặt kỹ thuật trong việc quyết định một người quản lý tài năng hay chỉ là

một người đảm nhiệm vị trí tròn vai. Tuy nhiên, để có thể định lượng trí tuệ cảm

xúc mức độ nào và làm thế nào để phát triển trí tuệ cảm xúc của cá nhân thì lại

không hề đơn giản. Chính vì thế, nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc vừa là yêu cầu

khách quan về mặt học thuật vừa có giá trị thực tiễn sâu sắc.

Ở Việt Nam, từ những năm 2000 trở lại đây, vấn đề trí tuệ cảm xúc đã

được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn trên các đối tượng và ngành nghề khác

nhau như: Trí tuệ cảm xúc của giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh; trí tuệ

cảm xúc của các doanh nhân, các nhà quản lý xã hội; trí tuệ cảm xúc của các

sĩ quan, học viên quân đội được thực hiện dưới dạng đề tài khoa học, luận văn

thạc sĩ và luận án tiến sĩ. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có đề tài nào đi sâu tìm

hiểu về trí tuệ cảm xúc của đối tượng là cán bộ Công an Nhân dân. Do vậy, đây là

“khoảng trống”, nội dung mới cần được quan tâm nghiên cứu.

8

Cục An ninh điều tra - Bộ Công an (A09) là cơ quan có chức năng trực

tiếp điều tra giải quyết vụ án theo thẩm quyền được phân công. Điều tra viên là

những người tiến hành hoạt động điều tra vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự,

là những người có thẩm quyền tiến hành hoạt động điều tra theo quy định của

pháp luật. Điều tra viên là chức danh tư pháp hình sự dùng để chỉ cán bộ có

nhiệm vụ, quyền hạn điều tra vụ án hình sự. Họ là người trực tiếp tiến hành các

biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật, tiếp xúc trực tiếp với đối tượng

phạm tội nên trong quá trình điều tra vụ án, họ là những người giữ vai trò là chủ

thể tác động tâm lý đến đối tượng phạm tội. Do đó, cảm xúc, hành vi của điều

tra viên có tác động to lớn đến đối tượng phạm tội và ngược lại.

Trong bối cảnh như vậy, nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của điều tra

viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an góp thêm mảnh ghép có tính

đặc thù trong bức tranh có lý luận và thực tiễn về trí tuệ cảm xúc trong tâm lý

học ở nước ta. Thực tế cho thấy, trong quá trình hoạt động một số điều tra

viên còn có trí tuệ cảm xúc chưa tốt, được biểu hiện qua: kiểm soát cảm xúc

chưa tốt, chưa có sự đồng điệu cảm xúc với các đối tượng giao tiếp; điều tra

viên còn gặp khó khăn khi nắm bắt cảm xúc của đối tượng; hay tức giận khi

không có sự hợp tác của đối tượng, khi mục đích chưa đạt được. v.v…. dẫn

đến quá trình điều tra của điều tra viên gặp nhiều khó khăn, kết quả hoạt

động điều tra bị ảnh hưởng tiêu cực. Thực trạng này đặt ra yêu cầu khách

quan cần nghiên cứu và tìm ra giải pháp khắc phục kịp thời. Chính vì vậy,

nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra - Bộ

Công an là vấn đề mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

Như vậy, ở cả phương diện lý luận và thực tiễn, có thể khẳng định nghiên

cứu về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra - Bộ Công an là

vấn đề mới, mang tính cấp thiết và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc. Xuất

phát từ những lý do trên, tác giả luận án lựa chọn: “Trí tuệ cảm xúc của điều tra

viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an” làm đề tài nghiên cứu của mình.

9

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an, trên cơ sở đó đề xuất

một số biện pháp tâm lý - xã hội nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra

viên; góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra vụ án.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài giải quyết những nhiệm vụ

nghiên cứu sau:

- Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên

quan đến đề tài luận án.

- Xây dựng cơ sở lý luận về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An

ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

- Khảo sát, đánh giá thực trạng trí tuệ cảm xúc, thực trạng các yếu tố

ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc

Bộ Công an.

- Đề xuất các biện pháp tâm lý - xã hội nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc

cho điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu chính: 255 điều tra viên thuộc Cục An ninh điều

tra thuộc Bộ Công an.

Khách thể nghiên cứu bổ trợ: 55 cán bộ quản lý ở Cục An ninh điều tra

thuộc Bộ Công an.

Đối tượng nghiên cứu

Trí tuệ cảm xúc củ điều tra viên, cụ thể: Biểu hiện, mức độ và các yếu

tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.

Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu biểu hiện, mức độ và các yếu

tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên trong hoạt động điều tra.

10

Về địa bàn: Đề tài nghiên cứu ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu từ tháng 11/2017 - 12/2021.

4. Giả thuyết khoa học

Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra ở mức độ cao

nhưng không đồng đều ở các mặt biểu hiện, trong đó: năng lực nhận biết cảm

xúc có mức độ cao nhất; năng lực sử dụng cảm xúc và điều khiển cảm xúc có

mức độ thấp hơn.

Trí tuệ cảm xúc giữa các điều tra viên ở Cục An ninh điều tra có sự khác

nhau nhất định theo các biến số như: giới tính, thâm niên công tác, trình độ học

vấn, kinh nghiệm hoạt động của điều tra viên.

Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên chịu sự tác động của nhiều yếu tố cả về

chủ quan và khách quan. Trong đó, các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng mạnh

hơn; Có thể phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên thông qua các biện pháp

tác động phù hợp vào các mặt biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm

xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

5. Cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Những nghiên cứu của luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa

Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng

Cộng sản Việt Nam về hoạt động và xây dựng đội ngũ cán bộ Công an

nhân dân. Ngoài ra, ở luận án cũng nghiên cứu, vận dụng các Chỉ thị,

hướng dẫn của Bộ Công an về công tác điều tra và chức trách, nhiệm vụ

của điều tra viên.

Phương pháp luận

Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của khoa

học tâm lý và các nguyên tắc tiếp cận như: Nguyên tắc tiếp cận hoạt động;

nguyên tắc tiếp cận hệ thống, cấu trúc; nguyên tắc tiếp cận nhân cách;

nguyên tắc tiếp cận thực tiễn. Các nguyên tắc trên là sợi chỉ đỏ xuyên suốt

quá trình nghiên cứu của luận án.

11

Tiếp cận hoạt động

Tâm lý, ý thức được nảy sinh bởi hoạt động. Hoạt động là quy luật chung nhất

của tâm lý người. Sự phát triển phức tạp và các chuyển hoá của hoạt động kéo theo sự

phát triển phức tạp và chuyển hoá của tâm lý. Ngoài ra, phản ánh tâm lý không bao giờ

tách rời hoạt động, hoạt động vừa tạo ra tâm lý vừa sử dụng phản ánh tâm lý làm khâu

trung gian của hoạt động, tác động vào đối tượng.

Nghiên cứu tâm lý đặc biệt chú ý đến sự vận động của hệ thống các quan

hệ giữa các thành tố cấu trúc vĩ mô của hoạt động - một bên là điều kiện, mục

đích, động cơ và bên kia ứng với các thao tác, hành động và hoạt động.

Vì vậy nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của điều tra viên không tách rời hoạt

động của chính họ nghĩa là thông qua các hoạt động của điều tra viên, các mặt

biểu hiện trí tuệ cảm xúc sẽ được xem xét, nghiên cứu một cách cụ thể. Việc

đưa ra các phương hướng tổ chức các hoạt động là một trong những cách góp

phần thay đổi mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.

Tiếp cận hệ thống - cấu trúc

Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra được biểu hiện

trên các mặt về năng lực nhận biết cảm xúc; năng lực thấu hiểu cảm xúc; năng

lực vận dụng cảm xúc và năng lực điều khiển cảm xúc. Những nội dung này tác

động qua lại, chi phối và ảnh hưởng lẫn nhau tạo ra một chỉnh thể thống nhất

trong phẩm chất trí tuệ của điều tra viên. Đồng thời, trí tuệ cảm xúc chịu sự ảnh

hưởng của nhiều yếu tố, vì vậy để nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và đề ra những

biện pháp phù hợp nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc thì cần có sự tiếp cận nghiên

cứu mang tính hệ thống.

Tiếp cận nhân cách

Tiếp cận nhân cách chính là tiếp cận với những con người cụ thể đang

sống và hoạt động. Nguyên tắc tiếp cận nhân cách đòi hỏi khi nghiên cứu tâm lý

con người phải tiếp cận với từng con người cụ thể với toàn bộ ưu, nhược điểm của

các thuộc tính, phẩm chất tâm lý của cá nhân đó. Nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của

12

điều tra viên theo quan điểm tiếp cận nhân cách đòi hỏi phải nhìn nhận mỗi điều

tra viên là một nhân cách cụ thể, là sản phẩm của điều kiện xã hội - lịch sử, sản

phẩm của giáo dục và trong môi trường hoạt động nghề nghiệp chuyên biệt gắn

với quá trình tự rèn luyện của cá nhân. Do đó, khi nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên cần tiếp cận toàn diện nhân cách của điều tra viên theo chuẩn mực

chung về phẩm chất, năng lực của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ

Công an và tuân theo những yêu cầu về chức trách, nhiệm vụ của điều tra viên.

Tiếp cận thực tiễn

Trí tuệ cảm xúc cả điều tra viên chịu tác động và ảnh hưởng bởi

những yếu tố nhất định trong điều kiện thực tiễn. Tiếp cận trí tuệ cảm xúc

của điều tra viên phải gắn liền với việc tìm hiểu hai điều kiện thực tiễn hoạt

động của điều tra viên và gắn với từng trường hợp cụ thể.

Con người là một thực thể xã hội. Hành vi của cá nhân được xem là kết

quả tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau. Vì vậy nghiên

cứu trí tuệ cảm xúc của điều tra viên trong mối tương quan với nhiều yếu tố như:

yếu tố tâm lý cá nhân, tâm lý xã hội, điều kiện hoàn cảnh kinh tế xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và giải quyết các nhiệm vụ nghiên

cứu đề ra, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu: Phân tích, tổng hợp, khái

quát hoá các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến trí

tuệ cảm xúc của điều tra viên nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp trắc nghiệm,

điều tra bằng bảng hỏi, đánh giá nhóm, quan sát, phỏng vấn sâu, phân tích

chân dung tâm lý điển hình.

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu bằng thống kê toán học: Sử

dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu điều tra thực trạng trí tuệ cảm xúc

của điều tra viên, thực trạng các yếu tố ảnh hưởng.

Mục đích và cách thức thực hiện của từng phương pháp được trình bày

ở chương 3.

13

6. Những đóng góp mới của luận án

Đóng góp về lý luận

Luận án góp phần làm phong phú thêm về lý luận trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an theo cách tiếp cận mới.

Luận án làm rõ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên là một năng lực tổng hợp

trong cấu trúc nhân cách của điều tra viên. Luận án tập trung luận giải những biểu

hiện, tiêu chí đánh giá trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Đồng thời, luận án tập

trung phân tích rõ vị trí, vai trò của các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

Đóng góp về thực tiễn

Luận án làm sáng tỏ thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục

An ninh điều tra thuộc Bộ Công an trên các mặt biểu hiện và dựa trên các

chỉ báo đánh giá về trí tuệ cảm xúc. Luận án chỉ ra, trí tuệ cảm xúc của điều

tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an ở mức cao nhưng không

đồng đều ở các mặt biểu hiện; trong đó năng lực thấu hiểu cảm xúc ở mức độ

biểu hiện cao nhất. Để xác định được mối quan hệ giữa các biểu hiện trí tuệ

cảm xúc của điều tra viên, thông qua tiến hành kiểm định tương quan. Kết quả

nghiên cứu đã chỉ ra, các mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

có mối tương quan thuận, chặt chẽ.

Kết quả nghiên cứu của luận án chỉ rõ, trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

chịu ảnh hưởng của hai nhóm yếu tố chủ quan và khách quan; trong đó, các

yếu tố chủ quan có ảnh hưởng mạnh hơn các yếu tố khách quan đối với trí tuệ

cảm xúc của điều tra viên.

Xác định được các biện pháp tâm lý - xã hội, nhằm phát triển trí tuệ

cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

Đồng thời, phân tích 02 chân dung tâm lý điển hình để thấy được bức

tranh tổng thể trí tuệ cảm xúc thông qua các mặt biểu hiện cũng như sự

tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan đến trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên ở Cục An ninh điều tra.

14

7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về lý luận

Luận án bổ sung, làm phong phú thêm lý luận Tâm lý học về trí tuệ

cảm xúc của điều tra viên. Bổ sung thêm hướng nghiên cứu về cảm xúc đối

với khách thể là những người công tác trong lực lượng vũ trang, cụ thể là

trong hoạt động điều tra hình sự.

Xây dựng các mặt biểu hiện, mức độ biểu hiện để đánh giá trí tuệ cảm

xúc của điều tra viên. Chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc

của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra.

Về thực tiễn

Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận án làm cơ sở khoa học cho việc

phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra.

Kết quả nghiên cứu này có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng

dạy và nghiên cứu về đời sống tình cảm cá nhân, trong nghiên cứu và rèn

luyện kiểm soát cảm xúc phục vụ cho đào tạo cán bộ của Ngành.

8. Kết cấu của luận án

Luận án được trình bày trên các nội dung gồm: Mở đầu, 4 chương (12

tiết), kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình của tác giả đã công bố, tài

liệu tham khảo và phụ lục.

15

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến trí tuệ cảm xúc

1.1.1. Hướng nghiên cứu về cấu trúc, biểu hiện của trí tuệ cảm xúc

C.E.Izard (1992), Những cảm xúc của con người [37] đưa ra thuyết các

cảm xúc phân hoá và cho rằng cảm xúc có cấu trúc tầng bậc, gồm những cảm

xúc nền tảng và những cảm xúc phức hợp. Mỗi cảm xúc trọn vẹn phải được

tạo thành bởi ba yếu tố, đó là: cơ chất thần kinh chuyên biệt bị chế ước bên

trong, những phức hợp biểu cảm nét mặt đặc trưng và sự thể hiện chủ quan

khác biệt. Hay nói cách khác thì cảm xúc chính là sự thống nhất giữa các

biểu hiện bên ngoài và cảm xúc bên trong. Theo đó, cấp bậc thứ nhất gồm

mười cảm xúc nền tảng là (1) Hứng thú, (2) Vui sướng, (3) Ngạc nhiên, (4)

Đau khổ, (5) Căm giận, (6) Ghê tởm, (7) Khinh bỉ, (8) Khiếp sợ, (9) Xấu

hổ, (10) Tội lỗi. Cấp bậc thứ hai là các phức hợp cảm xúc được tạo nên từ

“những tổ hợp có biến thiên của các cảm xúc nền tảng và các quá trình xúc

động” [37, tr.112]. Như vậy, với quan điểm này đã cho thấy, ở cá nhân tồn

tại những trạng thái xúc cảm khác nhau, những xúc cảm này được nhận biết

rõ qua các phương tiện biểu cảm.

Peter Salovey & David J.Sluyter (1997), Phát triển trí tuệ và trí tuệ

cảm xúc [95] công bố một tài liệu về đóng góp chung của cảm xúc và tính

đa cảm (emotion & emotionality) vào nhân cách và đưa ra cấu trúc của trí

tuệ cảm xúc bao gồm: (a) Nhận thức và đánh giá chính xác cảm xúc của

bản thân, (b) Biểu lộ tình cảm, cảm xúc với những người khác một cách

đúng đắn, phù hợp, (c) Nhận biết tốt về cảm xúc của người khác và từ đó

có những hành vi phù hợp, (d) Điều chỉnh cảm xúc của bản thân và người

khác một cách hiệu có hiệu quả để đạt đến mục đích hành động cụ thể (ví

dụ: để cải thiện tâm trạng của chính mình và của người khác) và (e) Sử dụng

16

những cảm xúc của mình để giải quyết vấn đề bằng những hành vi phù hợp

hoàn cảnh. Bất kỳ quá trình giao tiếp nào cũng cần phải có sự tương tác giữa

chủ thể và đối tượng giao tiếp. Sự tương tác đó không chỉ dừng lại ở trong

quá trình trao đổi thông tin mà nó còn là sư trao đổi về mặt tinh thần. Do đó,

hiểu được cảm xúc của bản thân và của người khác, cũng như sử dụng nó hợp

lý mới đạt được mục đích đề ra [95, tr.10].

D.Goleman (2002), Trí tuệ cảm xúc: Làm thế nào để những cảm xúc

của mình thành trí tuệ? [13] xem xét các cảm xúc theo các họ (familles) hay

theo các chiều (dimensions). Ông đưa ra nhận định cho rằng những họ chính

của cảm xúc là: sợ hãi, giận dữ, buồn rầu, thoả mãn, xấu hổ. Mỗi họ này có

một một hạt nhân cảm xúc căn bản làm trung tâm, các cảm xúc có họ hàng

với nó thì nằm xung quanh như những làn sóng nối tiếp nhau của vô số những

biến đổi. Ở ngoại vi có những tâm trạng (hemeurs) mà xét về mặt kỹ thuật,

chúng ít sinh động hơn và kéo dài lâu hơn nhưng cảm xúc đích thực. Sau các

tâm trạng đến các tính khí (tempérament), một thiên hướng gây ra một cảm

xúc hay một tâm trạng nào đó, khiến người ta trở thành u buồn, nhút nhát hay

vui vẻ. Sau đó là những rối nhiễu tâm lý (troubles) thật sự, như sự trầm cảm

lâm sàng hay sự lo hãi mãn tính [13, tr.625].

Schulze Ralf, Roberts D.Richard (EDS) (2005), Trí tuệ cảm xúc [102]

đã đề cập đến nghiên cứu của Carroll với việc tổng kết và kết hợp hơn 400

nghiên cứu theo phương pháp phân tích nhân tố truyền thống. Ông đưa ra một

mô hình 3 tầng bậc: Tầng bậc đầu tiên bao gồm các năng lực tinh thần chủ

yếu; tầng thứ hai bao gồm sự phong phú của miền rộng lớn các năng lực nhận

thức; tầng thứ ba gồm các thành tố trí tuệ chung Tầm quan trọng của khái

niệm do Carroll đã ảnh hưởng lớn đến sự tác động của giáo dục, chính sách

xã hội trong đánh giá, và những vấn đề xã hội [Dẫn theo 102]. Quan điểm này

cũng định hướng cho những lý thuyết và những nghiên cứu về sự khác biệt cá

nhân trong một số yếu tố dữ liệu, về một lĩnh vực kiến thức hành vi, lĩnh vực

17

này tương đối độc lập với cấu trúc tầng thứ hai. Ông cũng gợi ý rằng lĩnh vực

này đòi hỏi những nghiên cứu cẩn thận và hệ thống hơn là cách thức tiến hành

cho đến thời điểm của ông.

Ciarrochi Joseph, Forgas P.Joseph, Mayer D.John (EDS) (2006), Trí

tuệ cảm xúc trong cuộc sống hàng ngày [94] đã đề cập đến nghiên cứu

của Bar-On (2000), Petrides và Furnham (2001). Bar-On xem xét những

đặc điểm nhân cách được cho là quyết định sự thành công trong cuộc sống

nằm ngoài trí tuệ nhận thức và xác định được 5 khía cạnh rộng lớn. Ông

coi những khía cạnh này như những nhân tố chủ chốt của trí tuệ cảm xúc,

được chia thành 15 nhân tố:

1. Kỹ năng về bản thân: Tự đánh giá bản thân; Sự quả quyết; Tự hiện

thực hoá; Tính độc lập.

2. Kỹ năng tương tác với những người khác: Sự thấu cảm; Có trách

nhiệm xã hội; Mối quan hệ tương tác với những người khác.

3. Khả năng thích nghi: Giải quyết vấn đề; Kiểm tra thực; Tính linh hoạt.

4. Kiểm soát stress: Chịu được stress; Kiểm soát kích động.

5. Tâm trạng ổn định: Hạnh phúc; Lạc quan.

Bar - On giới thiệu khái niệm EI đã chỉnh sửa và gọi là mô hình trí tuệ

cảm xúc - xã hội, bao gồm 10 nhân tố lấy từ cấu trúc 15 nhân tố ban đầu là “Tự

đánh giá bản thân; Tự nhận biết cảm xúc bản thân; Sự quả quyết; Sự thấu cảm;

Mối quan hệ tương tác với những người khác; Chịu được Stress; Kiểm soát

kích động; Kiểm tra thực tế; Tính linh hoạt và Giải quyết vấn đề. Năm nhân tố

còn lại của mô hình ban đầu được coi là những nhân tố tạo điều kiện hơn là

những nhân tố tạo thành trí tuệ xã hội - cảm xúc gồm: Tự hiện thực hoá, Tính

độc lập, Có trách nhiệm xã hội, Hạnh phúc và Lạc quan” [94, tr.14].

Petrides và Furnham đưa ra một cấu trúc EI gồm bốn nhân tố (1)

Hạnh phúc, (2) Tự kiểm soát, (3) Tính nhạy cảm, (4) Tự hoà đồng với 15

biểu hiện. Với góc độ tiếp cận này, EI được đặt trong hệ thống nhân cách

và được các tác giả đánh giá là “hợp nhất được các kết quả nghiên cứu lẻ

18

tẻ trước đây vào một khung lý thuyết toàn diện, được đặt tên là “EI đặc

điểm” hay còn gọi là “Tự hiệu quả về cảm xúc, trong nỗ lực nhằm nhấn

mạnh cách tiếp cận hướng đến đặc điểm nhân cách hơn là các năng lực

nhận thức” [Dẫn theo 94, tr.10].

Luận án tiến sĩ Tâm lý học do Nguyễn Thị Dung thực hiện (2008),

Trí tuệ cảm xúc của giáo viên chủ nhiệm lớp trường trung học cơ sở và con

đường nâng cao trí tuệ này [6] cũng đã phân tích về trí tuệ cảm xúc, cấu

trúc trí tuệ cảm xúc của một nhóm khách thể ở một nghề nghiệp cụ thể.

Theo đó, trí tuệ cảm xúc gồm: khả năng nhận ra cảm xúc thật sự của bản

thân, của người khác; khả năng biết hoà mình vào cảm xúc của những

người cùng tham gia với mình trong giáo dục học sinh, không để cảm xúc

trở thành tiêu cực; khả năng điều khiển, điều chỉnh cảm xúc theo hướng

tích cực. Nhận ra cảm xúc của bản thân và người khác có nghĩa là cá nhân

biết mình hay người khác đang có cảm xúc gì; vì sao lại xuất hiện cảm xúc

đó và khi bản thân cá nhân đó có cảm xúc như vậy thì sẽ như thế nào? Cần

phải làm gì để có thể loại bỏ những cảm xúc mang tính chất tiêu cực [6].

Luận án tiến sĩ Tâm lý học do Dương Thị Hoàng Yến thực hiện (2010), Trí

tuệ cảm xúc của giáo viên tiểu học [92] cho rằng trí tuệ cảm xúc bao gồm 4 thành tố:

(1) Năng lực nhận thức, đánh giá và biểu hiện cảm xúc: năng lực

hiểu được cảm xúc của bản thân; năng lực hiểu và đồng cảm với

những khó khăn tâm lý;

(2) Năng lực sử dụng cảm xúc để tạo điều kiện thúc đẩy tư duy:

năng lực tạo môi trường thuận lợi, năng lực sử dụng các tác động sư

phạm một cách nhạy bén, năng lực xem xét sự việc một cách đa

chiều, năng lực giải quyết tình huống sư phạm một cách kịp thời,

(3) Năng lực sử dụng tri thức về cảm xúc: năng lực sử dụng phương

tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ;

(4) Năng lực nhận biết sự chuyển đổi cảm xúc; năng lực sử dụng tri

thức để thấu hiểu được cảm xúc phức hợp [92, tr.74].

19

Julia Wood, Ann Schweitzer (2016), Cuộc gặp gỡ hàng ngày - Giới

thiệu về giao tiếp giữa các cá nhân [113] trong nghiên cứu của mình đã dẫn

ra tuyên bố của Theodore Kemper khi cho rằng chỉ có bốn cảm xúc được di

truyền qua con đường sinh học là: sợ hãi, giận dữ, buồn rầu, thoả mãn. Ông

tin rằng cá nhân nào cũng đều trải qua bốn cảm xúc này bởi con người bị chi

phối về mặt sinh học để thực hiện điều đó. Đây cũng chính là bốn cảm xúc

giữ vai trò nền tảng của trí tuệ cảm xúc của cá nhân [113, tr.133].

Có rất nhiều công trình nghiên cứu về cấu trúc và biểu hiện trí tuệ cảm

xúc. Mỗi một công trình lại chỉ ra một khía cạnh khác nhau của vấn đề này,

nhưng chưa có công trình nào đề cập đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Tuy

nhiên đây là những cơ sở để chúng tôi xác định cấu trúc cũng như biểu hiện của

trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Theo đó, chúng tôi đồng thuận theo mô hình

của tác giả Peter Salovey & David J.Sluyter (1997), Trí tuệ cảm xúc trong cuộc

sống hàng ngày [95] cho rằng trí tuệ cảm xúc bao gồm: (a) Nhận thức và đánh

giá chính xác cảm xúc của bản thân, (b) Biểu lộ tình cảm, cảm xúc với những

người khác một cách đúng đắn, phù hợp, (c) Nhận biết tốt về cảm xúc của

người khác và từ đó có những hành vi phù hợp, (d) Điều chỉnh cảm xúc của

bản thân và người khác một cách hiệu có hiệu quả để đạt đến mục đích hành

động cụ thể (ví dụ: để cải thiện tâm trạng của chính mình và của người khác)

và (e) Sử dụng những cảm xúc của mình để giải quyết vấn đề bằng những hành

vi phù hợp hoàn cảnh [95, tr.10].

Kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và người nước đã chỉ ra nhiều

nội dung về cấu trúc và biểu hiện của trí tuệ cảm xúc như: Nhận thức và đánh

giá chính xác cảm xúc của bản thân; Biểu lộ tình cảm, cảm xúc với những

người khác một cách đúng đắn, phù hợp; Nhận biết tốt về cảm xúc của người

khác và từ đó có những hành vi phù hợp; Điều chỉnh cảm xúc của bản thân và

người khác một cách hiệu có hiệu quả để đạt đến mục đích hành động cụ thể;

Sử dụng những cảm xúc của mình để giải quyết vấn đề bằng những hành vi

20

phù hợp hoàn cảnh; Năng lực nhận thức, đánh giá và biểu hiện cảm xúc; Năng

lực sử dụng cảm xúc để tạo điều kiện thúc đẩy tư duy; Năng lực sử dụng tri

thức về cảm xúc; Năng lực nhận biết sự chuyển đổi cảm xúc và nhiều nội

dung khác. Đây là những cơ sở khoa học quan trọng để tìm ra các biểu hiện của

trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục điều tra thuộc Bộ Công an hiện nay.

1.1.2. Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng của trí tuệ cảm xúc

Daniel Goleman (2007), Trí tuệ cảm xúc, ứng dụng trong công việc [14]

đã chỉ ra: Nhìn chung nữ giới thực hành các kỹ năng cá nhân nhiều hơn nam

giới, ít nhất trong các nền văn hoá như Mỹ, nơi mà nữ giới nổi lên là hoà hợp về

cảm xúc và các sắc thái của mình hơn nam giới. Đối với vấn đề này, không có sự

khác nhau về giới tính trong các trường hợp mà con người đang cố che giấu cảm

xúc thực của mình, cũng như không có trường hợp khi thách thức là cảm thấy

được suy nghĩ không xác định của một ai đó trong một cuộc chạm trán đang tiếp

diễn. Tuy nhiên, sự khác biệt về giới tính trong việc đọc được những xúc cảm

khép lại khi các cảnh quay gồm những ám hiệu cảm xúc mà dễ điều khiển hơn

nét mặt. Con người giỏi trong việc điều khiển nét mặt hơn điều khiển giọng nói.

Cử chỉ cơ thể hoặc lướt nhanh qua " vi cảm xúc & quot; thoáng hiện chỉ

một giây trên khuôn mặt. Sự biểu lộ cảm xúc càng nhiều, con người càng giỏi

hơn trong việc đọc được cảm xúc ở người khác. Những khác biệt về giới tính

trong sự thấu cảm hướng đến biến mất trong nhiều trường hợp kinh doanh hàng

ngày, như là buôn bán hoặc thương lượng, nơi mà con người không thể đơn giản

điều khiển tất cả các kênh của cơ thể đối với việc biểu hiện cảm xúc [14, tr.58].

Shamira Malekar, R.P. Mohanty (2009), “Thực trạng các yếu tố ảnh

hưởng đến trí tuệ cảm xúc của học sinh tại Ấn Độ” [96] cho rằng yếu tố có

ảnh hưởng lớn nhất đến trí tuệ cảm xúc của học sinh một trường ở Ấn Độ là

trình độ nhận thức của chính cá nhân đó; ngoài ra phụ huynh, giáo viên và cán

bộ quản lý. Trong đó, khi học sinh nhận thức được vai trò quan trọng của trí

tuệ cảm xúc đối với bản thân sẽ luôn hình thành cho bản thân những cảm xúc

21

mang tính chất tích cực và sẽ không để những cảm xúc tiêu cực lấn át đến

hành vi của mình. Mặt khác, sống trong môi trường gia đình có bầu không khí

tâm lý vui vẻ sẽ bồi dưỡng được những cảm xúc tích cực cho cá nhân đó.

Định hướng của giáo dục cũng như các hoạt động của nhà trường sẽ ảnh

hưởng lớn đến việc hình thành hành vi ứng xử của học sinh với nhau cũng

như chi phối đến trạng thái cảm xúc của cá nhân các em [96, tr.8].

Tác giả Dương Thị Hoàng Yến (2010), Trí tuệ cảm xúc của giáo viên tiểu

học [92] chỉ ra trí tuệ cảm xúc của giáo viên tiểu học chịu ảnh hưởng của rất

nhiều yếu tố khác nhau: tuổi đời; tuổi nghề, trình độ đào tạo; địa bàn cư trú; kiểu

giáo dục gia đình; nghề nghiệp của cha mẹ; nhận thức của cá nhân về vai trò trí

tuệ cảm xúc; mức độ hài lòng với công việc và thu nhập thực tại. Trong đó, với

tư cách là một loại trí tuệ thì trí tuệ cảm xúc sẽ có sự thay đổi theo độ tuổi và

kinh nghiệm. Với tư cách là một loại trí tuệ xã hội, gắn liền với hoạt động nghề

nghiệp đặc trưng trí tuệ cảm xúc sẽ chịu ảnh hưởng của thâm niên công tác, trình

độ đào tạo, văn hoá môi trường sống và làm việc, yêu cầu công tác [92, tr.75].

Theo tác giả Phan Trọng Nam (2012), Trí tuệ cảm xúc của sinh viên

Đại học sư phạm [52] các yếu tố chủ quan và khách quan có ảnh hưởng khác

nhau đến trí tuệ cảm xúc của sinh viên. Trong đó, nhóm yếu tố chủ quan được

xác định bao gồm: Mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo; hoạt động rèn

luyện nghiệp vụ sư phạm; hoạt động tham quan, thực tế giáo dục của sinh

viên; hoạt động thực tập sư phạm; hoạt động sinh hoạt tập thể của sinh viên;

hành vi ứng xử của bạn bè; Sự giáo dục của gia đình; sự tác động của môi

trường xã hội bên ngoài. Nhóm các yếu tố chủ quan thuộc về nhận thức của

sinh viên; nhu cầu vận dụng và thay đổi trí tuệ cảm xúc của sinh viên; tính

tích cực rèn luyện để nâng cao trí tuệ cảm xúc cho bản thân [52, tr.57].

Trần Thị Thu Mai (2013), Trí tuệ cảm xúc của sinh viên Đại học Sư phạm

thành phố Hồ Chí Minh [50] đã chỉ ra trí tuệ cảm xúc của sinh viên chịu sự ảnh

hưởng của cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan ở mức độ gần tương đương

nhau. Trong nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ cảm xúc của

22

sinh viên, nguyên nhân từ giáo dục gia đình có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, cụ thể đó

là sự ảnh hưởng từ cách ứng xử hay thể hiện tình cảm của những thành viên trong

gia đình. Việc cha mẹ ứng xử với con cái, con cái ứng xử với cha mẹ sẽ là tấm

gương phản chiếu trong môi trường này khiến cá nhân sẽ bị tương tác hai chiều. Kế

đến là nguyên nhân từ nhu cầu, mong muốn nâng cao trí tuệ cảm xúc và ảnh hưởng

từ hoàn cảnh sống của sinh viên. Yếu tố có ảnh hưởng ít nhất đó chính là nghề

nghiệp của cha mẹ [50, tr.76].

Nguyễn Thị Thanh Tâm (2013), Trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cơ

sở trong giao tiếp công vụ [69] đã chỉ ra rằng trí tuệ cảm xúc của cá nhân chịu sự

chi phối của các yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Cụ thể: vốn kinh nghiệm

sống (trải nghiệm cuộc sống) là một trong những yếu tố chủ quan có ảnh hưởng

đến mọi năng lực tâm lý nói chung, đến năng lực trí tuệ cảm xúc nói riêng của cá

nhân. Những kiến thức mà cán bộ chủ chốt được đào tạo liên quan đến lĩnh vực

cảm xúc, tình cảm sẽ có ảnh hưởng đến năng lực trí tuệ cảm xúc của họ với tiêu

chí tiên quyết là những kiến thức này phải được cá nhân đó lĩnh hội, chuyển hoá

vào trong bản thân mình. Tính cách và khí chất mỗi cá nhân cũng chi phối đến

năng lực trí tuệ cảm xúc của cá nhân. Ngoài ra trí tuệ cảm xúc còn chịu tác động

của các yếu tố từ môi trường sống. Môi trường sống có ảnh hưởng đến trạng thái

cảm xúc cũng như hành vi ứng xử của cá nhân đó [69, tr.76].

Luận án tiến sĩ của Trần Hà Thu (2019), Trí tuệ cảm xúc của học sinh trung

học cơ sở [72] khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc, tác giả

đưa ra nhận định có 3 yếu tố ảnh hưởng, bao gồm: (1) Tính cách; (2) Hành vi ứng

xử của cha mẹ; (3) Các mối quan hệ cá nhân. Tác giả cho rằng người có nét tính

cách hướng ngoại thường nhìn nhận mọi việc theo hướng tích cực và có khả năng

tương tác xã hội; người có nét tính cách nhiễu tâm thì ngược lại, có xu hướng nhìn

nhận sự việc một cách tiêu cực và sống khép kín hơn; hai nét tính cách cởi mở và

nhiễu tâm có mối quan hệ gắn bó nhất với trí tuệ cảm xúc, bởi lẽ trí tuệ cảm xúc

lại được thể hiện thông qua khả năng điều chỉnh, đánh giá cảm xúc và tính hiệu

quả các cảm xúc. Hành vi ứng xử của cha mẹ có ảnh hưởng đến đặc điểm tâm lý

23

của con cái, trong đó có các năng lực liên quan đến cảm xúc, xã hội. Trí tuệ cảm

xúc có mối tương quan thuận, khá chặt chẽ với cảm nhận về các mối quan hệ cá

nhân, chỉ số trí tuệ cảm xúc càng cao thì mối quan hệ cá nhân càng tốt đẹp (mối

quan hệ gia đình, bạn bè) [72, tr.51].

Nghiên cứu của Christabel Odame, Mrinalini Pandey and Pramod

Pathak (2021), “Ảnh hưởng của trí tuệ cảm xúc đến sự gắn kết của nhóm”

[94] đã chỉ ra trí tuệ cảm xúc của sinh viên Ấn Độ chịu ảnh hưởng của nhiều

yếu tố khác nhau; trong đó sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm có

ảnh hưởng lớn đến trí tuệ cảm xúc của mỗi cá nhân. Hay nói cách khác đó

chính là ảnh hưởng từ yếu tố bạn bè đến mỗi cá nhân. Theo tác giả, lời nói,

hành vi cũng như những trạng thái xúc cảm của các thành viên trong nhóm có

ảnh hưởng lẫn nhau [93, tr.300].

Mặc dù, chưa có nhiều tác giả trong nước và trên thế giới trực tiếp đi sâu,

nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc. Song, ở kết quả nghiên cứu

của các công trình đã công bố mà tác giả luận án tiếp cận được cũng đã chỉ ra khá

đa dạng các yếu tố ảnh hưởng và thường được các nhà nghiên cứu khái quát trên 2

nhóm yếu tố chủ quan, khách quan, cụ thể như: yếu tố chủ quan thuộc về chủ thể

gồm: trình độ đào tạo, nhận thức, giới tính, tính cách, khí chất, vốn sống, kinh

nghiệm là những yếu tố chủ quan có ảnh hưởng đến mọi năng lực tâm lý nói

chung, đến năng lực trí tuệ cảm xúc nói riêng của cá nhân. Các yếu tố khách quan

như: môi trường hoạt động, yêu cầu nhiệm vụ, công tác, ứng xử của gia đình và

cấp trên,.v.v… Đây là những nội dung có thể kế thừa, phát triển để xác định

những yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên hiện nay.

1.1.3. Hướng nghiên cứu về biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc

Trong nghiên cứu của Nguyễn Công Khanh (2005), Cơ sở phương

pháp nghiên cứu trí tuệ cảm xúc [38] đã chỉ ra: Nghiên cứu của

E.L.Thorndike (1930) đã tìm cách nhận dạng trí tuệ cảm xúc mà lúc đó ông

gọi là trí tuệ xã hội. Theo ông, trí tuệ xã hội “ là năng lực hiểu và điều khiển

24

mà một người đàn ông, đàn bà, con trai và con gái sử dụng để hành động

một cách khôn ngoan, sáng suốt trong các mối quan hệ của con người” [Dẫn

theo 38, tr.96]. Đó là một dạng năng lực mà sự có mặt của nó rất phong phú,

từ công việc của người y tá, người gác cổng trong doanh trại, trong nhà máy,

quầy bán hàng, nhưng nó cũng có những điều kiện được tiêu chuẩn hoá một

cách chính thức ở phòng thí nghiệm. E.L.Thorndike đề nghị một số phương

pháp đánh giá trí tuệ xã hội trong phòng thí nghiệm nhưng đó là quá trình

giản đơn: “làm cho có sự phù hợp giữa những bức tranh có những khuôn

mặt biểu lộ những cảm xúc khác nhau với việc nhận biết, mô tả đúng những

cảm xúc đó” [Dẫn theo 38, tr.96].

Trong mô hình EI97, Ciarrochi Joseph, Forgas P.Joseph, Mayer D.John

(EDS) (2006), Trí tuệ cảm xúc trong cuộc sống hàng ngày [94] chỉ ra trí tuệ

cảm xúc không đơn thuần chỉ có mối quan hệ với nhau như những thành phần

trong một cấu trúc mà còn như một quy trình liên tục. Ý nghĩa quan trọng của

mô hình EI (1997) đem lại là có thể xây dựng một quy trình phát triển EI gồm

4 giai đoạn tương ứng với 4 thành tố tạo nên EI. Dựa vào mô hình EI thuần

năng lực năm 1997, D.Caruso và các cộng sự đề xuất một quy trình phát triển

EI gồm 4 giai đoạn như sau: nhận biết cảm xúc, sử dụng cảm xúc, hiểu rõ cảm

xúc và kiểm soát cảm xúc [94, tr.92]. Sau đó, họ đề xuất một quy trình phát

triển EI gồm bốn giai đoạn gắn liền với bốn thành tố trí tuệ tạo nên EI của

mỗi cá nhân. Bao gồm các bước sau:

Bước 1: Nhận thức chính xác về cảm xúc - Kết hợp những dữ kiện sẵn có

Bước 2: Sử dụng cảm xúc để đẩy mạnh khả năng tư duy - Phát hiện

ra một cách viễn cách cảm xúc chung

Bước 3: Hiểu rõ nguyên nhân và sự phát triển của cảm xúc - Trả

lời câu hỏi “Cái gì sẽ xảy ra nếu ...”

Bước 4: Quản lý cảm xúc để đạt được những kết luận logic về mặt

trí tuệ - Những quyết định chiến lược cơ bản trong cảm xúc và lập

luận [94, tr.190].

25

Bốn năng lực này được sử dụng như một hình thức phương pháp luận để

giải quyết vấn đề, mà một người trước hết nhận thức được một cảm xúc; cho

phép cảm xúc này định hướng và ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy; cố gắng để

hiểu nguyên nhân của cảm xúc đó và viễn cảnh “cái gì sẽ xảy ra nếu cứ để

cảm xúc này tự do phát triển”/ “What-if”; cuối cùng, quản lý để luôn sẵn có

những thông tin chứa đựng trong những cảm xúc này và kết hợp chúng thành

một quyết định chiến lược.

L. Melita Prati, Joy H. Karriker (2010), “Kỹ năng trí tuệ cảm xúc - nền

tảng chống lại những cảm xúc tiêu cực” [97] đã chỉ ra muốn nâng cao trí tuệ

cảm xúc cần chú ý đến các thành tố của trí tuệ cảm xúc. Trong đó cần chú

trọng đến việc phát triển khả năng nhận thức của cá nhân về trí tuệ cảm xúc

thông qua quá trình hoạt động. Nhận thức và hoạt động có mối tương quan

chặt chẽ đối với vai trò của sự phát triển cảm xúc. [97, tr.317].

Nguyễn Thị Diễm Hằng (2016), “Một số nguyên nhân và biện pháp

góp phần phát triển năng lực trí tuệ cảm xúc của giáo viên mầm non” [22] đã

đưa ra 3 biện pháp góp phần phát triển trí tuệ cảm xúc, đó là: (1) Nâng cao

nhận thức cho giáo viên mầm non về trí tuệ cảm xúc, (2) Tổ chức cho giáo

viên mầm non vận dụng những hiểu biết về trí tuệ cảm xúc vào trong đời sống

và trong hoạt động sư phạm, (3) Thường xuyên luyện tập phát triển kỹ năng

nhận biết và bày tỏ cảm xúc [22, tr.16]

Nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Vân (2018), Sự kiểm soát cảm xúc

của sinh viên các trường Đại học công an nhân dân phía Nam [91] đã chỉ

ra để có thể kiểm soát cảm xúc có các cách sau: Điều chỉnh phản ứng”,

“Chuyển hướng chú ý”, “Giải quyết vấn đề”, “Tư duy tích cực”, “Trao đổi

với người khác” và “Chịu trách nhiệm” [91, tr.42]. Trí tuệ cảm xúc được

biểu hiện thông qua năng lực điều khiển cảm xúc, đây cũng chính là cơ sở

để chúng tôi có thể xây dựng biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc bắt

nguồn từ kỹ năng kiểm soát cảm xúc.

26

Đặng Thị Tuyết (2020), “Thực trạng và một số biện pháp bồi dưỡng trí

tuệ cảm xúc cho học sinh trường trung cấp sư phạm mầm non Đăk Lăk” [86]

đã đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao trí tuệ cảm xúc như sau:

(1) Nâng cao về nhận thức và thái độ cho học sinh về trí tuệ cảm xúc

(2) Tổ chức cho học sinh giải quyết các bài tập tình huống nhằm giúp

các em rèn luyện, nâng cao kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc.

(3) Phát triển các năng lực cảm xúc xã hội cho học sinh.

(4) Tập huấn các kỹ năng phát triển trí tuệ cảm xúc cho học sinh.

(5) Tổ chức các hoạt động ngoại khoá Tổ chức cho học sinh vận dụng

những hiểu biết về trí tuệ cảm xúc và giải quyết các tình huống của cuộc sống

xã hội [86, tr.11].

Khi nghiên cứu về biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc thì chỉ có những

nghiên cứu ở nước ngoài, những công trình nghiên cứu ở Việt Nam còn khá

khiêm tốn và chủ yếu nghiên cứu trên các đối tượng là giám đốc, lãnh đạo hay

giáo viên tiểu học.v.v… Chưa có nghiên cứu nào chỉ ra biện pháp phát triển

trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra

những cơ sở, phương pháp luận và cách thức tiếp cận để tác giả luận án xác

định những biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên.

1.1.4. Hướng nghiên cứu về các mô hình, thang đo trí tuệ cảm xúc

Hai nhà lý luận trí tuệ đương thời, H.Gardner (1993) và R.Sternberg

(1985), Cơ cấu của trí khôn [12] đã chỉ ra rằng các mô hình trí tuệ được đề

xuất cần phải chứng tỏ có thể bao trùm hết cả thế giới bên trong và bên

ngoài của con người. Những lý thuyết như vậy coi trí tuệ như là một hệ

thống phức tạp và hoàn chỉnh, đây là một xuất phát điểm được dùng để

phân ranh giới giữa mô hình hệ thống với những mô hình cấu trúc trí tuệ đã

mô tả. Những mô hình hệ thống như vậy trong khi mở rộng chủ đề nghiên

cứu về trí tuệ, bao gồm cả những khái niệm mà mô hình cấu trúc không

nhất thiết coi là trí tuệ [12, tr.7]. Có lẽ nhờ những quan niệm rộng mở đó,

các nhà nghiên cứu thường dựa vào mô hình hệ thống về trí tuệ hơn là dựa

vào mô hình cấu trúc về trí tuệ để xây dựng lý thuyết trí tuệ cảm xúc.

27

Trong nghiên cứu Ciarrochi Joseph, Forgas P.Joseph, Mayer D.John

(1997), Trí tuệ cảm xúc trong cuộc sống hàng ngày [94] J.Mayer, P.Salovey

công bố mô hình EI được chỉnh sửa và tinh lọc (EI97), thành các nhánh như

sau: (1) Nhận thức, đánh giá và biểu hiện cảm xúc; (2) Tạo điều kiện cảm xúc

cho suy nghĩ miêu tả việc sử dụng cảm xúc để nâng cao lập luận (suy nghĩ) và

đặt ra những trường hợp cảm xúc khác nhau; (3) Hiểu và phân tích cảm xúc,

sử dụng những tri thức cảm xúc; (4) Điều chỉnh cảm xúc một cách có suy

nghĩ nhằm tăng cường sự phát triển cảm xúc và trí tuệ. Trong đó:

- Nhận thức, đánh giá và biểu hiện cảm xúc, bao gồm việc tiếp nhận và

nhận biết những thông tin cảm xúc và những kỹ năng cơ bản nhất gắn với

cảm xúc. Các thành tố này trải ra từ năng lực nhận biết cảm xúc của bản thân

một người đến năng lực phân biệt các cảm xúc, chẳng hạn như những biểu

hiện trung thực và thiếu trung thực của cảm xúc. Các quá trình thu nhận thông

tin cơ bản này là điều kiện tiên quyết cần thiết cho quá trình hình thành thông

tin cảm xúc này để giải quyết vấn đề.

- Tạo điều kiện cảm xúc cho suy nghĩ miêu tả việc sử dụng cảm xúc để

nâng cao lập luận (suy nghĩ) và đặt ra những trường hợp cảm xúc khác nhau.

Nhánh này bao gồm những cảm xúc hướng sự quan tâm chú ý đến các thông

tin quan trọng và khác nhau (như suy diễn đối lập với lập luận dựa trên việc

tổng hợp thông tin).

- Hiểu và phân tích cảm xúc, sử dụng những tri thức cảm xúc, gồm 4

năng lực tiêu biểu trong đó có việc hiểu một cách trừu tượng và suy luận về

cảm xúc. Những thành tố này trải ra từ năng lực xác định cảm xúc và nhận ra

mối quan hệ giữa lời nói (lời nhận xét) và cảm xúc, đến năng lực nhận biết sự

chuyển biến cảm xúc có thể xảy ra.

- Điều chỉnh cảm xúc một cách có suy nghĩ nhằm tăng cường sự phát

triển cảm xúc và trí tuệ liên quan đến năng lực kiểm soát cảm xúc của bản

thân và cảm xúc của người khác để tăng cường sự phát triển trí tuệ và cảm

28

xúc. Năng lực này bao gồm những kỹ năng cao nhất, sắp xếp từ năng lực để

cảm xúc tự do phát triển (từ cảm xúc dễ chịu và khó chịu) đến năng lực quản

lý cảm xúc của bản thân và người khác bằng cách tăng cường những cảm xúc

dễ chịu và điều hoà những cảm xúc tiêu cực. Nhánh quan trọng nhất này của

EI97 trình bày điểm chung của rất nhiều nhân tố bao gồm động cơ, cảm xúc

và nhận thức phải được nhận biết, được cân bằng nhằm kiểm soát cảm xúc

một cách thành công [94, tr.10].

Thang đo đã đáp ứng những tiêu chuẩn kinh điển của một trắc nghiệm

trí tuệ, vì:

(1) Cấu trúc nhân tố của nó phù hợp với bốn năng lực của mô hình EI97

(2) Bốn năng lực này cùng tỏ rõ một giá trị duy nhất và liên quan một

cách có ý nghĩa đến các năng lực trí tuệ như trí tuệ ngôn ngữ.

(3) Điểm số trong bài trắc nghiệm phát triển theo độ tuổi và kinh nghiệm.

(4) Bốn năng lực đã được đo đạc một cách khách quan

(5) Trắc nghiệm đã dự đoán những tiêu chuẩn quan trọng về hành vi

Những kết quả ban đầu của MSCEIT cho thấy nghiên cứu EI với tư

cách là một hệ thống năng lực trí tuệ, tồn tại như một cấu trúc xác định rõ

ràng, riêng biệt và có bằng chứng về giá trị tăng dần. Tuy nhiên, MSCEIT

hiện nay đang dừng lại ở việc đánh giá các năng lực cảm xúc chọn lọc. Cấu

trúc các nhân tố và hiệu lực của MSCEIT (cũng như các phương pháp đo EI

khác) cũng cần được tiếp tục kiểm tra trong các nền văn hoá khác nhau.

Theo Richard D.Kellough & Patricia L.Robberts (1998), Trí tuệ cảm xúc

trong lãnh đạo và tổ chức [101] cho rằng trí tuệ cảm xúc bao gồm bốn yếu tố

nền tảng, đó là: xây dựng sức mạnh bản thân (Emotional Literacy), xây dựng

nguồn cảm hứng cho bản thân và người khác (Emotional Fitness), xây dựng

những tính cách cốt lõi và sự ảnh hưởng (Emotional Depth), cảm nhận được

những cơ hội và sáng tạo tương lai (Emotional Alchemy) [101].

Tâm lý học từ đầu thế kỷ XX cho đến nay đã đi được một chặng đường

dài trong quá trình tiếp cận bản chất, cấu trúc trí tuệ người. Đầu thế kỷ XX, trí

29

tuệ được hiểu đơn giản là trí thông minh (intelligence), mang bản chất sinh

vật hơn bản chất xã hội, đến cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, trí tuệ được hiểu là

hệ thống phức hợp và mở bao gồm trí thông minh, trí sáng tạo, trí tuệ xã hội (bao

gồm trí tuệ cảm xúc, năng lực xã hội xã hội - social compatence). Vị trí của từng

lĩnh vực trí tuệ này trong cấu trúc nhân cách, quan hệ giữa chúng cũng như khả

năng dự đoán của chúng đang được các khoa học từng bước chứng minh.

D.Goleman (2002), Trí tuệ cảm xúc: Làm thế nào để những cảm xúc của

mình thành trí tuệ [13] với trắc nghiệm ECI và phiên bản ECI-2 được phát triển

nhằm hướng tới mô hình EI phổ biến được đưa ra trước đó bởi. Bên cạnh một

bản liệt kê tự đánh giá, chỉ số này được thiết kế rõ ràng như một phương pháp

360º, nghĩa là với bất kỳ đối tượng nhất định nào, các điểm số đều đưa ra như

một kết quả đánh giá của đối tượng đó, và những đánh giá đưa ra bởi các nhà

quan sát có quan hệ với đối tượng nào đó. Điều quan trọng là ECI được phát

triển phần nào nhằm đánh giá các kỹ năng có liên quan đến công việc [13, tr.41].

Jonh Mayer, Peter Salovey, David R.Caruso (2002), Trắc nghiệm trí

tuệ cảm xúc MSCEIT [51] nghiên cứu độ chính xác của cảm xúc, được thiết

kế để đo lường các nhân tố nhận biết cảm xúc của mô hình năng lực bằng

cách cho những người tham gia nhận dạng cảm xúc nào (trong hai lựa chọn

được đưa ra bởi nhiều items khác nhau) mà những cá nhân cụ thể thông báo

rằng mình đang cảm nhận. Mỗi người tham gia có hai điểm số là điểm số tán

thành mục tiêu tương ứng với mức độ phù hợp của sự lựa chọn thống nhất

của một người tham gia với nhóm và hệ số tin cậy nội tại của các điểm số

mục tiêu và liên ứng lần lượt là 0.24 và 0.52. Trên thực tế, những hệ số này

là thấp dưới mọi tiêu chuẩn. Mặc dù có độ tin cậy nội tại thấp như vậy,

nhưng vẫn cho thấy điểm số liên ứng có liên quan đến khả năng thấu cảm tự

đánh giá (r=0.24) và khả năng đánh giá cảm xúc của các đối tượng được

thực hiện qua băng video (r=0.36) [51, tr.31]. Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra

hai trắc nghiệm theo phương pháp thực hành nhằm đo lường bốn năng lực

liên quan đến cảm xúc trên nền tảng lý thuyết EI của J.Mayer và P.Salovey

30

là trắc nghiệm MEIS và trắc nghiệm MSCEIT. Theo đó để đo lường trí tuệ

cảm xúc theo kinh nghiệm cần chú ý đến các năng lực: Năng lực nhận biết

cảm xúc; năng lực sử dụng cảm xúc để hướng dẫn tư duy; năng lực thấu hiểu

cảm xúc và năng lực quản lý cảm xúc [51, tr.35].

Các nghiên cứu về EI vẫn còn đang ở giai đoạn đầu và vẫn còn

nhiều vấn đề cần xem xét về các nhân tố và phương pháp đánh giá tốt

nhất. Nhưng có một sư đồng thuận giữa các nhà khoa học trong lĩnh vực

nghiên cứu EI rằng các trắc nghiệm thực hành là tiêu chuẩn vàng trong

nghiên cứu trí tuệ bởi lẽ nó đo lường hệ thống các năng lực thực tiễn để

hoàn thành tốt các nhiệm vụ trí tuệ, chứ không chỉ dừng lại ở hiệu quả cá

nhân trong phạm vi một vài nhiệm vụ trí tuệ nhất định. Việc duy trì

phương pháp đo đạc EI giới hạn trong trắc nghiệm thực hành giúp phát

triển các phương pháp đo năng lực có giá trị về mặt nội dung và phân tích

mức độ ảnh hưởng đặc biệt của kỹ năng EI lên hành vi của một cá nhân.

Đặng Thành Hưng (2002), Phương pháp luận nghiên của trí tuệ người

Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá [34] trong đề tài

khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX-05-06 đã xác định trí tuệ cảm xúc là

một trong ba thành tố trí tuệ: trí thông minh, trí tuệ sáng tạo, và trí tuệ cảm

xúc. Trong đó, nghiên cứu đưa ra định nghĩa một cách tổng quát về trí tuệ

theo mô hình cụ thể như sau:

Trí tuệ là một thuộc tính của nhân cách, có tính độc lập tương đối,

có cấu trúc phức hợp, đa tầng, đa diện. Đó là tổ hợp các năng lực

nhận thức, năng lực tìm ra những mối quan hệ giữa các tri thức -

kinh nghiệm (tạo ý tưởng mới) và năng lực nhận cảm, điều khiển

cảm xúc cá nhân và người khác, được hình thành và phát triển trong

hoạt động tương tác với môi trường xung quanh, chịu sự qui định

của điều kiện văn hoá xã hội, bảo đảm cho sự tương tác phù hợp với

hiện thực, cho sự cải tạo có mục đích hiện thực ấy nhằm đạt được mục

đích có ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày của con người [34, tr.28].

31

Tác giả Trần Trọng Thuỷ (2002), Những vấn đề để luận về trí tuệ và

chỉ số IQ [75] quan niệm trí tuệ cảm xúc trong công việc bao gồm hai phần:

những yếu tố bên trong, làm thế nào để phát triển và sử dụng nó trong sự quan

tâm với chính bản thân và những yếu tố liên quan đến người khác, làm thế

nào để ảnh hưởng đến những quan hệ với người khác [75, tr.55].

Schulze Ralf, Roberts D.Richard (EDS) (2005), Trí tuệ cảm xúc [102]

nhắc đến nghiên cứu của C.Spearman (2002), L.Thurstone (1938),

J.P.Guilford (1988), Eysenck (1998). C.Spearman với mô hình trí tuệ tâm trắc

đơn nhân tố (Psychometric g) đề xuất lý thuyết trí tuệ nổi tiếng nhất, cho rằng

có hai nhân tố đặt nền tảng cho phương pháp đo nghiệm trí tuệ: nhân tố tổng

quát - “g” (General) và nhân tố chuyên biệt -“s” (Special). Spearman tuyên bố

chỉ duy nhất nhân tố g là quan trọng về mặt tâm lý [Dẫn theo 102, tr.4].

L.Thurstone với mô hình các năng lực trí tuệ nguyên thuỷ đã xác định được

bảy nhân tố trí tuệ mà ông gọi là “năng lực trí tuệ nguyên thuỷ” (PMAs) [Dẫn

theo 103, tr.5]. Bảy nhân tố này bao gồm: Tính toán bằng số, Thông hiểu

ngôn ngữ, Tưởng tượng không gian, Trí nhớ liên tưởng, Suy luận, Lưu loát về

từ ngữ, Tốc độ tri giác. Mô hình cấu trúc trí tuệ của J.P.Guilford đề xuất mô

hình 3 chiều của trí tuệ con người. Mô hình này được tạo thành từ 6 loại thao

tác, 5 kiểu nội dung, 6 hình thức sản phẩm tạo thành 180 nhân tố. [Dẫn theo

103, tr.6]. Nghiên cứu của Eysenck đã tổng hợp các quan niệm và kết quả

nghiên cứu lý thuyết cũng như phương pháp đánh giá trí tuệ từ trước đến nay

để đề xuất mô hình 3 tầng bậc của trí tuệ, bao gồm: Tiêu chí khái niệm

(Conceptual criterion): phải gắn kết về mặt khái niệm, có thể phân biệt rõ ràng với

những đặc điểm nhân cách và năng khiếu bẩm sinh; Tiêu chí tương quan

(Corelational criterion): phải tương quan với các trí tuệ khác ở một mức độ

vừa phải; Tiêu chí phát triển (Developmentalcrit criterion): có sự thay đổi

theo lứa tuổi và kinh nghiệm [Dẫn theo 102, tr.10].

Julia Wood, Ann Schweitzer (2016), Cuộc gặp gỡ hàng ngày - Giới

thiệu về giao tiếp giữa các cá nhân [113] dựa trên quan niệm phổ biến về mối

quan hệ theo dòng họ của các cảm xúc và sự biến hoá vô tận của chúng để đưa ra

32

một mô hình cảm xúc. Các cảm xúc không chỉ được mô tả theo dòng họ, chỉ rõ

mức độ thay đổi của chúng, mà còn chỉ ra các cảm xúc nào là đối cực nhau và sự

kết hợp của các họ/ bộ cảm xúc gần nhau tạo nên cảm xúc mới.

Trong mô hình này, cảm xúc không chỉ tồn tại đơn thuần ở bản thân,

người khác hay bối cảnh nhất định và được cá nhân nhận dạng. Phạm vi của

việc nhận thức về cảm xúc mở rộng hơn nhiều bao gồm việc đòi hỏi cá nhân

cần trải nghiệm và cần hiểu một cảm xúc được thay đổi, phát triển từ trung

tâm đến đầu mút của cánh hoa và ngược lại như thế nào; cái gì tác động đến

việc làm thay đổi một cảm xúc cụ thể trong một bối cảnh cụ thể của một con

người cụ thể; cần chủ động tạo ra cảm xúc nào ở bản thân hay người khác

trong các hoạt động khác nhau để đạt đến mục đích tốt đẹp,... [113].

Nguyễn Thị Hồng (2018), Trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm

non [30] đưa ra cấu trúc của trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non

bao gồm năm thành tố sau: (1) Nhận thức xã hội; (2) Thiết lập, duy trì các

quan hệ xã hội; (3) Năng lực hoà nhập vào môi trường xã hội; (4) Khả năng

giải quyết tốt các tình huống trong tương tác xã hội; (5) Khả năng thích ứng

vào môi trường xã hội. Cá nhân cần có hiểu biết về những gì xung quanh

mình cũng như phải hiểu và giải thích được những trạng thái xúc cảm diễn

ra ở đối tượng. Từ đó cá nhân biết cách xây dựng các mối quan hệ mang tính

chất phong phú, đa dạng và có tính chất lâu dài. Trong một mối quan hệ, cá

nhân phải nhanh chóng hoà nhập với những người xung quanh cũng như

nắm bắt được những cơ hội và vượt qua những khó khăn trong cuộc sống

chủ động và tích cực [30, tr.47].

Nguyễn Thị Thanh Huyền (2018), “Ứng dụng mô hình trí tuệ cảm xúc

của J.Mayer và P. Salovey để xác định các yếu tố trí tuệ cảm xúc trong hoạt

động nghề nghiệp của giáo viên mầm non” [33], đã chỉ ra rằng trí tuệ cảm xúc

trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non bao gồm bốn thành tố:

- Nhóm năng lực nhận biết các cảm xúc trong quá trình chăm sóc, giáo

dục trẻ em.

33

- Nhóm năng lực sử dụng các cảm xúc trong quá trình chăm sóc, giáo

dục trẻ em.

- Nhóm năng lực hiểu các cảm xúc trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ em.

- Điều chỉnh cảm xúc của bản thân từ hướng tiêu cực chuyển sang

hướng tích cực trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ em. [33, tr.21].

Như vậy, kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trước đã

đề cập khá đa dạng các cách thức, tiêu chí đánh giá và thang đo trí tuệ

cảm xúc. Theo đó, luận án sử dụng mô hình trí tuệ của J.Mayer và

P.Salovey để xác định các thành phần biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên bao gồm 4 mặt biểu hiện: năng lực nhận biết cảm xúc, năng

lực thấu hiểu cảm xúc, năng lực vận dụng cảm xúc và năng lực điều khiển

cảm xúc. Đồng thời, sử dụng các trắc nghiệm EI để định lượng trí tuệ cảm

xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra hiện nay.

1.2. Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn

đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu

1.2.1. Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan

Từ kết quả nghiên cứu các công trình khoa học tiêu biểu đã công bố của

các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến trí tuệ cảm xúc, có thể khái

quát một số vấn đề sau:

Một là, nghiên cứu trí tuệ cảm xúc là một lĩnh vực phức tạp và có tính

chất liên ngành. Điều đó cho thấy đây là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu

quan tâm. Tuy nhiên, dễ dàng nhận ra các công trình nghiên cứu về trí tuệ

cảm xúc xét trên tổng thể thường chỉ được được lồng ghép trong các nghiên

cứu về cảm xúc, quản lý cảm xúc và giao tiếp xã hội. Đặc biệt việc nghiên

cứu chuyên sâu, có tính chất hệ thống và khảo sát, đánh giá thực trạng trí tuệ

cảm xúc ở đối tượng là điều tra viên hiện nay chưa thấy có và nó vẫn là

khoảng trống cần được quan tâm nghiên cứu.

Hai là, hầu hết các tác giả ở Việt Nam và trên thể giới khi nghiên cứu về

trí tuệ cảm xúc đều ít nhiều đề cập đến các thành phần cấu trúc và biểu hiện của

34

trí tuệ cảm xúc. Có thể nói, đây là hướng nghiên cứu có số lượng đông đảo nhất,

nội dung đa dạng nhất, nhưng cũng tồn tại nhiều nhiều quan điểm khác nhau

nhất. Điều này được lý giải là do ở nghiên cứu của từng tác giả thường có cách

tiếp cận, đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu khác nhau. Do vậy, ở từng

hoạt động và đối tượng cụ thể thì trí tuệ cảm xúc của cá nhân lại được biểu hiện

ra bên ngoài theo các chỉ báo khác nhau. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, đa số

các nghiên cứu đều coi trí tuệ cảm xúc là một năng lực tổng hợp và mô hình trí

tuệ cảm xúc của Peter Salovey và David J.Sluyter (1997) chỉ ra các mặt biểu

hiện gồm: Nhận thức và đánh giá chính xác cảm xúc của bản thân; Biểu lộ tình

cảm, cảm xúc với những người khác một cách đúng đắn, phù hợp; Nhận biết

tốt về cảm xúc của người khác và từ đó có những hành vi phù hợp; Điều chỉnh

cảm xúc của bản thân và người khác một cách hiệu có hiệu quả để đạt đến mục

đích hành động cụ thể; Sử dụng những cảm xúc của mình để giải quyết vấn đề

bằng những hành vi phù hợp hoàn cảnh là mô hình có tính thống nhất cao. Đây

là cơ sở khoa học quan trọng có thể kế thừa để tìm ra các biểu hiện của trí tuệ

cảm xúc của điều tra viên ở Cục điều tra thuộc Bộ Công an hiện nay.

Ba là, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc ít được đề

cập trực tiếp trong kết quả nghiên cứu của các công trình đã được công bố trước

đây. Song, ở kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước và trên thế giới cũng

đã chỉ ra khá đa dạng các yếu tố ảnh hưởng và thường được khái quát trên 2

nhóm yếu tố chủ quan, khách quan, như: trình độ đào tạo; nhận thức của chủ thể;

giới tính; tính cách, khí chất; vốn sống, kinh nghiệm là những yếu tố chủ quan có

ảnh hưởng đến đến năng lực trí tuệ cảm xúc của cá nhân. Các yếu tố khách quan

như: môi trường hoạt động, yêu cầu nhiệm vụ, công tác, ứng xử của gia đình và

cấp trên,.v.v… Đây là những nội dung có thể kế thừa, phát triển để xác định

những yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên hiện nay.

Bốn là, đề cập đến thang đo và biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc

trong những nghiên cứu ở Việt Nam còn khá khiêm tốn, chủ yếu dựa trên kết

35

quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài. Bên cạnh đó, các nghiên cứu

thường tập trung vào các nhóm đối tượng như: nhà quản lý, giám đốc, lãnh

đạo, học sinh hay giáo viên tiểu học.v.v… Chưa có nghiên cứu nào chỉ ra biện

pháp phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Tuy nhiên, các kết quả

nghiên cứu cũng đã chỉ ra những cơ sở, phương pháp luận và cách thức tiếp

cận để xây dựng thang đo và đề xuất biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc.

Theo đó, ở luận án sử dụng mô hình trí tuệ của J.Mayer và P.Salovey để

xác định các chỉ báo và sử dụng các trắc nghiệm EI để định lượng trí tuệ

cảm xúc của điều tra viên. Đồng thời, dựa trên các cơ sở lý luận, đặc điểm

hoạt động của điều tra viên và kết quả nghiên cứu thực trạng để đề xuất

các biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh

điều tra một cách khả thi, khoa học và hiệu quả.

Có thể nói, những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã

được công bố liên quan đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh

điều thuộc Bộ Công an là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở

khoa học để kế thừa, bổ sung và phát triển trong quá trình nghiên cứu của đề

tài luận án. Đồng thời, quá trình hệ thống lại các nghiên cứu có liên quan

cũng cho thấy hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc

của điều tra viên. Đây chính là “khoảng trống” và cũng là lý do cấp thiết để

tác giả xác định và thực hiện nghiên cứu đề tài luận án này.

1.2.2. Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu

Khi tiến hành nghiên cứu luận án: “Trí tuệ cảm xúc của cán bộ điều tra ở

Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an”, tác giả luận án xác định năm vấn

đề trong luận án cần tập trung giải quyết như sau:

Thứ nhất, hệ thống lại, phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu

của các tác giả trong nước và trên thế giới đã công bố có liên quan đến đề tài

luận án, từ đó chứng minh tính độc lập, mới mẻ, không trùng lặp cũng như

tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở

Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an hiện nay.

36

Thứ hai, mặc dù đã những công trình nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc,

kỹ năng quản lý cảm xúc lo âu của sinh viên, về một số biểu hiện cảm xúc

tiêu cực, tự điều chỉnh cảm xúc, trí tuệ cảm xúc của học sinh hay của giáo

viên, v.v… ở Việt Nam và trên thế giới, nhưng quan niệm và cách tiếp

cận nghiên cứu trí tuệ cảm xúc giữa các tác giả còn rất nhiều quan điểm

khác nhau. Do vậy, để nghiên cứu một cách khách quan, khoa học về trí

tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an,

trước hết phải tập trung xây dựng hệ thống khái niệm công cụ, phục vụ

trực tiếp cho việc nghiên cứu luận án như: cảm xúc và trí tuệ cảm xúc;

Điều tra viên; trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra.

Bên cạnh đó, việc khái quát các đặc điểm hoạt động của điều tra viên là

vấn đề hết sức quan trọng.

Thứ ba, trong phạm vi luận án này, trí tuệ cảm xúc được xem là một

vấn đề có vị trí quan trọng trong quá trình giao tiếp. Hơn nữa, các nghiên

cứu liên quan đến trí tuệ cảm xúc ở trong nước và ngoài nước chưa đề cập

đến nội dung, biểu hiện và tiêu chí đánh giá trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an. Do đó một trong những vấn đề

hết sức quan trọng đặt ra trong quá trình thực hiện luận án là phải xác định

và chỉ rõ các mức độ biểu hiện và tiêu chí đánh giá trí tuệ cảm xúc ở điều tra

viên. Trong luận án, tác giả dựa trên mô hình trí tuệ cảm xúc của J.Mayer,

P.Salovey, D.Caruso để đưa ra bốn mặt biểu hiện trong trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên (năng lực nhận biết cảm xúc, năng lực thấu hiểu cảm xúc, năng

lực vận dụng và năng lực điều khiển cảm xúc) và 3 mức độ biểu hiện trí tuệ

cảm xúc của điều tra viên (mức cao, trung bình và mức thấp) dựa trên đặc

trưng của hoạt động nghề nghiệp.

Thứ tư, trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra

thuộc Bộ Công an chịu tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau.

Đồng thời, nhiệm vụ của luận án không chỉ dừng lại ở việc làm sáng tỏ

các vấn đề về mặt lý luận mà còn đi sâu nghiên cứu, khảo sát thực tế

37

nhằm đánh giá đúng thực trạng trí tuệ cảm xúc cũng như các yếu tố ảnh

hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc

Bộ Công an. Do đó, trong luận án cần xác định, tập trung làm rõ các chỉ

báo cụ thể để xây dựng tiêu chí, làm cơ sở cho việc xây dựng bảng hỏi,

lập phiếu điều tra, lập các mẫu phiếu quan sát và phỏng vấn sâu; tiến hành

xin ý kiến các chuyên gia Tâm lý học về những nội dung dự định nghiên

cứu; điều tra thử, kiểm định tính khoa học, độ tin cậy, độ hiệu lực của các

thang đo. Đánh giá đúng thực trạng trí tuệ cảm xúc và thực trạng các yếu

tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra

thuộc Bộ Công an hiện nay.

Thứ năm, trên cơ sở lý luận đã xác định, kết hợp với quá trình phân

tích, đánh giá kết quả điều tra thực trạng trí tuệ cảm xúc và sự ảnh hưởng của

các yếu tố trí tuệ cảm xúc của điều tra viên; phân tích chân dung tâm lý điển

hình về trí tuệ cảm xúc. Từ đó, đề xuất biện pháp tâm lý - xã hội nhằm phát

triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công

an một cách hiệu quả và bền vững.

Trên đây là những nhiệm vụ quan trọng, chủ yếu mà luận án cần tiếp

tục đi sâu nghiên cứu trên cơ sở kế thừa, bổ sung và phát triển các kết quả

nghiên cứu của các nhà Tâm lý học trong và ngoài nước về trí tuệ cảm xúc.

38

Kết luận chương 1

Trí tuệ cảm xúc là vấn đề được Tâm lý học quan tâm nghiên cứu từ rất lâu,

các nghiên cứu được tiến hành dưới nhiều góc độ và các hướng khác nhau, được

đề cập đến nhiều đối tượng trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.

Trong chương 1 tác giả luận án đã tổng quan những nghiên cứu của các nhà khoa

học trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án được tiếp cận, nghiên

cứu và hệ thống lại trên bốn hướng nghiên cứu bao gồm: (1) Nghiên cứu về

cấu trúc, biểu hiện của trí tuệ cảm xúc; (2) Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng

của trí tuệ cảm xúc; (3) Nghiên cứu về biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc; (4)

Nghiên cứu về mô hình, thang đó trí tuệ cảm xúc.

Các công trình khoa học đã được công bố liên quan đến trí tuệ cảm xúc

của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra là hệ thống tri thức trên nhiều nội

dung quan trọng đối với những vấn đề được triển khai nghiên cứu trong luận

án. Kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên được khái quát lại ở bốn

khía cạnh và xác định năm vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết. Thông qua

đó để phân tích, đánh giá, kế thừa có chọn lọc, bổ sung và phát triển những

thành tựu nghiên cứu phục vụ cho quá trình nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên ở Cục An ninh điều tra. Đồng thời, việc hệ thống lại các công

trình nghiên cứu trước đây cũng cho thấy đề tài luận án là một công trình độc

lập, mới mẻ không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố, có

tính cấp thiết và giá trị lý luận, thực tiễn cao.

Nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra cần

sự kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài

nước, luận án xác định nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An

ninh điều tra là một dạng năng lực tổng hợp thuyết phục trong cấu trúc nhân

cách điều tra viên. Đây là cơ sở lý luận, để chúng tôi tiến hành nghiên cứu, làm

sáng tỏ biểu hiện và tiêu chí đánh giá trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục

An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

39

Chương 2

LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC CỦA ĐIỀU TRA VIÊN

Ở CỤC AN NINH ĐIỀU TRA THUỘC BỘ CÔNG AN

2.1. Điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

2.1.1. Điều tra viên

Trong hoạt động điều tra hình sự, người có thẩm quyền tiến hành điều

tra các vụ án hình sự được pháp luật quy định gồm có: Thủ trưởng, Phó Thủ

trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên, cán bộ điều tra (Điều 34, Bộ luật Tố

tụng hình sự 2015). Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành điều tra vụ án hình

sự, điều tra viên là người có vai trò chủ yếu, là người trực tiếp thực hiện các

biện pháp điều tra. Điều tra viên là chức danh tư pháp hình sự dùng để chỉ cán

bộ có thẩm quyền và được giao nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự. Đây là bước

phát triển nhận thức rất quan trọng đối với hoạt động điều tra nói chung và

những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ điều tra nói riêng trong pháp luật tố

tụng hình sự Việt Nam.

Điều tra viên là người có thẩm quyền và trực tiếp tiến hành các biện

pháp điều tra theo quy định của pháp luật. Để giúp điều tra viên thực hiện tốt

trách nhiệm của mình, Nhà nước đã cho phép họ được quyền áp dụng các

biện pháp điều tra thông qua các điều khoản được quy định trong Bộ luật tố

tụng hình sự và Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự. Bộ Công an cũng đã

ban hành các văn bản về chế độ công tác, hướng dẫn việc thực hiện chức năng

và quyền hạn trong hoạt động của điều tra viên, như: Chế độ công tác xét hỏi

bị can; Chế độ công tác bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét người, đồ vật, nhà

ở, thư tín của người phạm pháp...

Tuỳ từng hoạt động điều tra cụ thể và căn cứ vào yêu cầu cần thực hiện

đối với mỗi đối tượng, cơ quan điều tra có thể bố trí một hay một nhóm điều

tra viên cùng tham gia thực hiện kế hoạch điều tra. Bởi vậy, trong hoạt động

điều tra, điều tra viên là chủ thể, là người đại diện cho cơ quan pháp luật, với

40

trọng trách làm sáng tỏ sự thật của vụ án, có quyền sử dụng các biện pháp cần

thiết để thực hiện nhiệm vụ điều tra, với mục đích tiếp cận những thông tin

đầy đủ, chính xác về vụ án, về hoạt động của bản thân các đối tượng điều tra.

Điều tra viên là chức danh của Nhà nước được bổ nhiệm theo Luật Tổ

chức Cơ quan điều tra hình sự 2015, để làm nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự.

Điều 45, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, quy định: Điều tra viên là

người được bổ nhiệm để làm nhiệm vụ điều tra hình sự.

Để trở thành điều tra viên, người được bổ nhiệm phải có đủ các điều

kiện, tiêu chuẩn chung được quy định tại Điều 46, Luật Tổ chức Cơ quan điều

tra hình sự 2015. Theo đó, người là công dân Việt Nam trung thành với

Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có

phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, bản lĩnh chính trị vững

vàng, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; có trình

độ đại học An ninh, đại học Cảnh sát hoặc cử nhân luật trở lên; có thời

gian làm công tác pháp luật theo quy định; đã được đào tạo về nghiệp vụ

điều tra... có thể được bổ nhiệm làm điều tra viên. Ngoài ra, những cán bộ

được tuyển chọn vào cơ quan điều tra của lực lượng An ninh nhân dân

còn phải đủ các điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an. Đây

là những quy định cụ thể về tiêu chuẩn chính trị; về phẩm chất đạo đức, tư

cách; về trình độ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật; về tuổi đời, thể lực và các

tiêu chuẩn cần thiết về năng khiếu công an...

Cũng tại Điều 45, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015, quy định

điều tra viên có 3 ngạch: cao cấp, trung cấp và sơ cấp. Ngoài tiêu chuẩn

chung như trên, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, cũng quy định tiêu

chuẩn cụ thể đối với từng ngạch điều tra viên:

Trong quá trình điều tra, Thủ trưởng và các Phó thủ trưởng cơ quan

điều tra là người chỉ đạo quá trình điều tra vụ án, chịu trách nhiệm và tổ chức

điều hành mọi hoạt động của các điều tra viên. Thủ trưởng cơ quan điều tra ra

41

quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi hay huỷ bỏ

các biện pháp ngăn chặn... Tuy nhiên, trước hết họ phải là những điều tra viên có

kinh nghiệm, có khả năng tổ chức và chỉ đạo hoạt động điều tra. Nhiệm vụ và

quyền hạn của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra được quy định tại

Điều 34, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

2.1.2. Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

Cục An ninh điều tra

Theo quy định tại điều 92, 93 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì hệ thống

cơ quan điều tra của lực lượng Công an nhân dân bao gồm: cơ quan điều tra của

lực lượng An ninh nhân dân và cơ quan điều tra của lực lượng Cảnh sát nhân dân.

Cơ quan điều tra của lực lượng Cảnh sát (gọi là cơ quan Cảnh sát điều

tra) được chia thành ba cấp: cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, cơ quan

Cảnh sát điều tra công an tỉnh, thành phố và cơ quan Cảnh sát điều tra công

an quận, huyện, thị xã.

Cơ quan điều tra của lực lượng An ninh (gọi là cơ quan an ninh điều

tra) được chia thành hai cấp: cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an và cơ quan

an ninh điều tra công an tỉnh, thành phố.

Về thẩm quyền của cơ quan an ninh điều tra

Thẩm quyền của cơ quan an ninh điều tra được quy định tại điều 163

Bộ luật tố tụng hình sự. Cụ thể là:

Cơ quan an ninh điều tra cấp tỉnh điều tra các tội xâm phạm An ninh

quốc gia, các tội phạm mà người thực hiện là cán bộ chiến sĩ Công an nhân

dân và các tội phạm khác khi được Bộ trưởng Bộ Công an giao.

Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an điều tra các tội xâm phạm An

ninh quốc gia, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người; tội phạm

chiến tranh; các tội phạm quy định tại chường XXIV của Bộ luật hình sự

2015 và những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm

quyền điều tra của cơ quan An ninh điều tra cấp tỉnh nêu trên nhưng xét

thấy cần trực tiếp điều tra.

42

Các cơ quan an ninh điều tra cùng với các điều tra viên được Bộ luật tố

tụng hình sự quy định là chủ thể tiến hành hoạt động điều tra vụ án. Vì vậy,

việc bố trí, sắp xếp đội ngũ điều tra viên, tổ chức phân công công việc hợp lý

cho từng người có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định sự thành công hay thất

bại của công tác điều tra. Phạm vi địa bàn mà cơ quan an ninh điều tra phải

tiến hành theo thẩm quyền rất rộng, trên phạm vi cả nước. Các vụ án do cơ

quan an ninh điều tra thụ lý thường rất phức tạp, đối tượng thường là các chủ

thể đặc biệt, có kinh nghiệm hoạt động, trốn tránh pháp luật. Hơn nữa, chức

năng trực tiếp thụ lý điều tra các vụ án là do các phòng điều tra đảm nhiệm.

Do vậy, việc tăng cường lực lượng điều tra viên có nhiều kinh nghiệm và khả

năng nghiệp vụ ở các phòng điều tra là một trong những hướng bố trí cán bộ

cần được chú trọng, nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra.

2.1.3. Nhiệm vụ, chức trách và đặc điểm hoạt động của điều tra viên

ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

2.1.3.1. Nhiệm vụ, chức trách của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra

thuộc Bộ Công an

Trong hoạt động điều tra, các điều tra viên có nhiệm vụ thực hiện kế

hoạch điều tra làm sáng tỏ vụ án, đề xuất các biện pháp xử lý đúng người,

đúng tội, góp phần vào thắng lợi chung của công tác đấu tranh chống tội

phạm, giữ vững an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

Về nhiệm vụ:

Trong điều tra vụ án hình sự, điều tra viên có nhiệm vụ điều tra, thu thập

chứng cứ chứng minh có tội phạm xảy ra hay không, ai là người thực hiện tội

phạm và những tình tiết khác của vụ án. Khi được phân công tiến hành điều

tra vụ án phải đảm bảo việc áp dụng các biện pháp điều tra theo đúng quy

định của Bộ luật tố tụng hình sự để mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện,

điều tra, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội.

Bộ luật tố tụng hình sự (2015), Báo cáo tổng kết giai đoạn 2015 - 2020

của Cục An ninh điều tra về kết quả thực hiện công tác điều tra [4], tại điều 35,

khoản 1, có quy định cụ thể nhiệm vụ của điều tra viên như sau:

43

Điều tra viên có nhiệm vụ tiến hành lập hồ sơ vụ án hình sự; triệu

tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai người làm chứng,

người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan đến vụ án; quyết định áp giải bị can, quyết định dẫn giải người

làm chứng; thi hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ,

tạm giữ, kê biên tài sản; tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám

nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra; tiến hành

các hoạt động điều tra khác thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra

theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan điều tra [4].

Như vậy, theo sự phân công của thủ trưởng cơ quan điều tra, trong

trường hợp được giao nhiệm vụ xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, điều tra

viên có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch điều tra, tiến hành các biện pháp nhằm

thu thập tin tức, tài liệu để đề xuất với thủ trưởng cơ quan điều tra việc xử lý

tin theo đúng trình tự luật định. Nếu được giao điều tra toàn bộ vụ án hay một

phần vụ án hình sự thì điều tra viên được quyền chủ động xây dự kế hoạch

điều tra và tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng

hình sự. Kết quả điều tra của điều tra viên là cơ sở để thủ trưởng cơ quan điều

tra ra các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định việc áp dụng

các biện pháp ngăn chặn... Vì vậy, các hành vi tố tụng của điều tra viên

mang ý nghĩa độc lập nhất định và họ phải chịu trách nhiệm trước pháp

luật về kết quả những hành vi tố tụng của mình.

Về quyền hạn:

Điều tra viên có quyền áp dụng các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ

về vụ án; có quyền đề xuất với lãnh đạo cơ quan điều tra về kế hoạch điều tra

và tổ chức việc thực hiện kế hoạch điều tra theo sự phân công. Khi được phân

công điều tra một phần hoặc toàn bộ vụ án, điều tra viên có quyền tiến hành

các biện pháp điều tra do Bộ luật tố tụng hình sự quy định và phải chịu trách

nhiệm về những hoạt động điều tra của mình. Điều tra viên là người trực tiếp

tiến hành các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật. Để giúp điều tra

viên thực hiện tốt trách nhiệm của mình, Nhà nước đã cho phép họ được quyền

44

áp dụng các biện pháp điều tra thông qua các điều khoản được quy định trong

Bộ luật tố tụng hình sự.

Điều tra viên có quyền đề xuất áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn

chặn để thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra quyết định. Theo quy trình

của việc giải quyết vụ án hình sự, sau khi nhận được các tin tức về tội phạm và

người phạm tội từ các nguồn khác nhau, Điều tra viên có nhiệm vụ xác minh tin

tức đó nhằm xác định có hay không có dấu hiệu phạm tội để làm cơ sở cho việc

đưa ra đề xuất với Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra ra một trong hai

quyết định: Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ

án hình sự, làm căn cứ cho việc thực hiện các biện pháp tố tụng tiếp theo. Điều

tra viên cũng được quyền áp dụng mọi phương pháp, thủ đoạn và mưu trí trong

hoạt động điều tra, đề xuất với lãnh đạo cho áp dụng các biện pháp nghiệp vụ

khác hỗ trợ cho hoạt động điều tra đạt kết quả tốt và phải chịu trách nhiệm về

những hoạt động điều tra của mình. Điều tra viên chủ động nghiên cứu, xây

dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch điều tra; được quyền lập và ký các văn bản

pháp lý; được quyền triệu tập và tiếp xúc với các cơ quan, cá nhân cũng như yêu

cầu họ cung cấp tài liệu, tin tức về vụ án đang điều tra... Trong trường hợp cần

thiết để ngăn chặn hành động phạm tội, đuổi bắt người phạm tội, cấp cứu người

bị nạn, điều tra viên có quyền được sử dụng các phương tiện giao thông, thông

tin liên liên lạc của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và tư nhân.

Về trách nhiệm:

Cùng với nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên, điều tra viên công an nhân dân có

những trách nhiệm nhất định khi thực hiện nhiệm vụ của mình. Họ phải chịu trách

nhiệm trước pháp luật về những hoạt động điều tra tiến hành trong quá trình điều tra

vụ án khi được phân công. Điều 35, khoản 2, Bộ luật tố tụng hình sự quy định:

“Điều tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước thủ trưởng cơ quan

điều tra về những hành vi và quyết định của mình.”

Phải hoàn toàn vô tư trong khi tiến hành nhiệm vụ điều tra. Phải tự mình

từ chối tiến hành tố tụng khi thấy rằng mình không vô tư trong giải quyết vụ

án theo quy định của pháp luật.

45

Phải giữ bí mật về quá trình điều tra vụ án khi được phân công. Trong

trường hợp tiết lộ bí mật về hoạt động điều tra thì tuỳ theo từng trường hợp cụ

thể có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo các điều

263, 264, 287, 328 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra vụ án, nếu điều tra viên gây nên những thiệt hại

cho những người tham gia tố tụng thì có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo

quy định tại điều 620 Bộ luật dân sự.

2.1.3.2. Đặc điểm hoạt động của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra

thuộc Bộ Công an

Hoạt động công an nói chung và hoạt động điều tra nói riêng là một

dạng hoạt động đặc biệt mang tính chiến đấu, có quy trình nhất định nhưng

không có khuôn mẫu chung; cường độ hoạt động khẩn trương và căng thẳng

thường xuyên nên phải huy động và hao phí lớn về sức lực, thần kinh. Tuy

không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội nhưng hoạt động điều tra nói

riêng và hoạt động công an nói chung có ý nghĩa kinh tế - xã hội rất lớn. Đặc

biệt, hoạt động điều tra gắn bó chặt chẽ với đường lối, chính sách của Đảng,

pháp luật của Nhà nước, luôn lấy pháp luật làm phương tiện để thực hiện

nhiệm vụ... Dưới góc độ tâm lý, hoạt động điều tra không khác biệt với hoạt

động của các bộ phận chiến đấu khác trong lực lượng Công an nhân dân về

mục đích, ý nghĩa, tính chất và những yêu cầu cơ bản. Tuy nhiên, do đối

tượng, nhiệm vụ, chức năng của hoạt động điều tra... nên hoạt động điều tra có

các đặc điểm đặc trưng là:

- Hoạt động điều tra mang tính chất tố tụng hình sự

Tính chất này thể hiện trước hết ở việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc

pháp luật trong quá trình điều tra vụ án. Điều tra viên phải tuân thủ nghiêm

ngặt các quy định về trình tự, thủ tục và các nguyên tắc tố tụng đã được pháp

luật hình sự quy định. Vì đây là hoạt động điều tra tố tụng hình sự, điều tra vụ

án công khai theo quy định của luật pháp; mọi kết quả của hoạt động điều tra

đều có tính pháp lý, do đó hoạt động điều tra luôn xuất phát từ pháp luật, căn

46

cứ vào pháp luật. Sự tuân thủ các nguyên tắc tố tụng và sử dụng linh hoạt các

quy định pháp luật trong điều tra là yêu cầu quan trọng hàng đầu đối với mỗi

điều tra viên. Phải nghiêm chỉnh tuân thủ đường lối, chính sách của Đảng,

pháp luật của Nhà nước, không được tuỳ tiện, lạm dụng dẫn tới vi phạm pháp

luật như: bức, mớm, dụ cung, nhục hình dưới mọi hình thức... Mọi biện pháp

được sử dụng trong quá trình điều tra vụ án phải phù hợp với vị trí tố tụng và

đảm bảo quyền của những người có quan hệ trong quá trình điều tra vụ án.

Đặc điểm này quy định ở điều tra viên thái độ nghiêm chỉnh tuân thủ

pháp luật, tính nghiêm túc, khách quan, thái độ công tâm khi thực hiện các

biện pháp điều tra. Nó cũng đòi hỏi ở điều tra viên khả năng hiểu biết pháp

luật, linh hoạt và sáng tạo vận dụng các quy định của pháp luật trong hoạt

động điều tra. Điều tra viên phải là những người có trình độ pháp luật vững

vàng, biết sử dụng pháp luật như một công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả

của hoạt động điều tra. Trong điều tra các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia,

việc tuân thủ các nguyên tắc tố tụng còn đảm bảo không để các thế lực thù địch

lợi dụng, xuyên tạc hay can thiệp gây khó khăn cho quá trình xử lý vụ án.

- Hoạt động điều tra vừa có tính chất công khai, trực diện vừa có tính

chất nghiệp vụ

Khác hẳn với hoạt động trinh sát, hoạt động điều tra chủ yếu được tiến

hành công khai theo quy định của pháp luật. Trong hoạt động, điều tra viên

phải đối diện trực tiếp với đối tượng. Đối tượng biết điều tra viên đang tìm

hiểu làm rõ sự thật của vụ án, và ngược lại điều tra viên nghiên cứu nắm

được các động cơ che giấu hành động phạm tội, trốn tránh pháp luật của đối

tượng. Trong hoạt động điều tra, điều tra viên và những người tham gia hoạt

động điều tra trực tiếp đối mặt, đối thoại với nhau. Tính chất công khai, trực

diện đòi hỏi điều tra viên phải là người có bản lĩnh, có sự linh hoạt và độc

lập cao, nhất là các điều tra viên trong lực lượng An ninh vì đối tượng mà họ

phải trực diện đấu tranh là những tên gián điệp, phản động, các đối tượng

47

“cơ hội chính trị”, những tên có quan điểm lập trường chống đối sâu sắc...

Tuy nhiên, đây cũng còn là hoạt động nghiệp vụ của cơ quan điều tra. Các

biện pháp tố tụng trong điều tra không đơn thuần là những quy định pháp

luật cứng nhắc. Nó luôn được các điều tra viên linh hoạt sử dụng với nhiều

chiến thuật nghiệp vụ tuỳ thuộc điều kiện, hoàn cảnh cũng như diễn biến của

mỗi vụ án. Trong hoạt động điều tra, điều tra viên luôn có ý thức phục vụ

công tác trinh sát, tính toán, mở rộng đánh địch lâu dài. Điều tra viên còn

phải đảm bảo bí mật các biện pháp nghiệp vụ đã áp dụng trong các chuyên

án trinh sát cũng như trong hoạt động điều tra.

Mặt khác, trong quá trình điều tra vụ án, để nhanh chóng khám phá,

làm sáng tỏ sự thật về sự việc phạm tội, về hành động phạm tội của đối

tượng... cơ quan điều tra còn phải áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, như:

nhận dạng bí mật, sử dụng đặc tình trại tạm giam, tiến hành trinh sát kỹ

thuật buồng giam... Vì vậy, ngoài các biện pháp được quy định trong Bộ

luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác, hoạt động điều tra còn có

những phương pháp, chiến thuật nghiệp vụ riêng.

Đặc điểm trên đòi hỏi mỗi điều tra viên không chỉ là những người am

hiểu pháp luật mà còn là những cán bộ nghiệp vụ sắc sảo, có chuyên môn

nghiệp vụ vững vàng mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ điều tra. Đối với họ,

trình độ nghiệp vụ điều tra, kỹ năng, kỹ xảo sử dụng các phương tiện kỹ thuật

nghiệp vụ, các thao tác trong nghiệp vụ điều tra cụ thể luôn phải được bồi

dưỡng, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra.

- Hoạt động điều tra có tính chất phức tạp và hệ trọng

Tính chất phức tạp của hoạt động điều tra được quy định bởi sự đa dạng

của các nội dung điều tra, của các tình tiết đan xen trong diễn biến của sự việc

phạm tội. Tội phạm thường rất tinh vi, xảo quyệt, có nhiều thủ đoạn phạm tội,

che giấu và trốn tránh pháp luật. Hoạt động điều tra luôn phải phân biệt thật, giả;

đúng, sai... Bởi vậy, nó luôn đòi hỏi điều tra viên phải nâng cao trình độ mọi

mặt, tích luỹ kinh nghiệm, nhạy bén và linh hoạt trong quá trình điều tra vụ án.

48

Tính hệ trọng của hoạt động điều tra thể hiện ở việc áp dụng các biện

pháp điều tra và xử lý vụ án. Quá trình điều tra, xử lý vụ án, nhất là các vụ án

xâm phạm an ninh quốc gia cần đảm bảo quyền lợi của công dân, tránh oan,

sai và cũng không được làm ảnh hưởng đến quan hệ, uy tín của quốc gia.

Tính phức tạp, hệ trọng của hoạt động điều tra dễ làm xuất hiện ở điều tra

viên trạng thái căng thẳng cũng như nhiều nét tâm lý tiêu cực khác. Cùng với áp

lực căng thẳng, sự đòi hỏi khẩn trương phải nhanh chóng điều tra, khám phá vụ

án, tính chất phức tạp, hệ trọng của hoạt động điều tra dễ tạo ra sức ép về tâm lý,

gây ra ở điều tra viên sự bão hoà cảm xúc, bão hoà nhận thức... Trong hoạt động

điều tra, điều tra viên dễ chai lỳ trước sự bào chữa, chứng minh sự vô tội hay phản

ứng của đối tượng; không còn nhạy bén, sáng suốt nhìn nhận, đánh giá các sự

kiện... Điều này khiến điều tra viên có nhiều khó khăn trong quá trình điều tra,

khám phá, nhận thức, làm sáng tỏ sự việc phạm tội.

- Hoạt động điều tra là một hình thức đặc biệt của hoạt động giao tiếp -

giao tiếp tố tụng

Hoạt động điều tra nhằm hướng tới việc tìm ra chân lý của sự việc phạm

tội, luôn đề phòng, khắc phục mọi biểu hiện chống đối, lừa dối cũng như

những động cơ sai lệch của các đối tượng có quan hệ trong quá trình điều tra.

Điều tra viên thường xuyên phải thực hiện tác động tâm lý đối với những

người có liên quan đến quá trình điều tra vụ án. Đối tượng tiếp xúc, điều tra

của điều tra viên là bị can, người làm chứng, người bị hại... Trong quá trình

điều tra vụ án, không phải lúc nào họ cũng có thái độ tích cực hợp tác với

điều tra viên hoặc luôn sẵn sàng giúp đỡ cơ quan điều tra, trái lại, sự chống

đối, thái độ gian dối hay thờ ơ, né tránh luôn cản trở đến quá trình điều tra vụ

án. Các đối tượng xâm phạm an ninh quốc gia ngoài bản chất ngoan cố, quyết

liệt chống đối, còn là những người được đào tạo kỹ lưỡng, có kinh nghiệm

che giấu, đối phó với hoạt động của điều tra viên... Bởi vậy, để những người

này khai báo đúng đắn, thành khẩn, rất cần thiết phải có sự tác động, hỗ trợ

của điều tra viên. Thái độ khai báo thành khẩn, sự hợp tác tích cực của những

người tham gia tố tụng không chỉ phụ thuộc vào quan hệ của họ đối với sự

49

việc phạm tội hay những đặc điểm tâm lý đã hình thành ở họ như thế

nào, mà vấn đề quan trọng là tuỳ thuộc vào khả năng giao tiếp, tác động

tâm lý của điều tra viên đối với họ có phù hợp, hiệu quả hay không?

Do thường xuyên phải sử dụng tác động tâm lý trong hoạt động điều tra nên điều tra viên phải là người hiểu biết tâm lý các đối tượng điều tra; nắm

vững quy trình và các phương pháp tác động tâm lý. Trước khi tiến hành tác động, điều tra viên phải nghiên cứu, phát hiện đặc điểm tâm lý của từng đối

tượng, đặc biệt là tư tưởng, tâm trạng, tính tình, để vận dụng các phương pháp tác động phù hợp. Vì vậy, họ là người phải hiểu và hoàn toàn có thể hiểu

được tâm lý của những người có quan hệ đến quá trình điều tra vụ án.

Hoạt động điều tra quy định ở điều tra viên những phẩm chất tâm lý

đặc trưng, phù hợp với tính chất đặc thù của nó. Một mặt, do tính chất hoạt động điều tra, đòi hỏi điều tra viên phải rèn luyện, hình thành cho mình những

phẩm chất tâm lý phù hợp, đáp ứng với yêu cầu cao của hoạt động điều tra.

Mặt khác, cũng chính hoạt động điều tra làm nảy sinh, hình thành và phát triển ở điều tra viên những phẩm chất tâm lý đặc trưng, phù hợp với nghề

nghiệp của họ. Việc phân tích đặc điểm của hoạt động điều tra cũng cho phép chúng ta có căn cứ để xác định cấu trúc nhân cách của điều tra viên.

2.2. Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc

Bộ Công an

2.2.1. Trí tuệ Trí tuệ là nội dung thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả và có sự giao thoa

ở nhiều ngành khoa học như: triết học, xã hội học, phật giáo, tâm lý học, v.v… Tuy nhiên, để xác định tường minh về trí tuệ lại là vấn đề không hề đơn giản đối

với mọi nhà nghiên cứu. Trong tâm lý học cũng có nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh khái niệm trí tuệ, có thể kể đến các tác giả tiêu biểu dưới đây:

Theo Vũ Dũng (2013), Từ điển Tâm lý học [9]: Trí tuệ là mức độ

phát triển nhất định của hoạt động tư duy của nhân cách, đảm bảo khả

năng đạt được các tri thức mới và sử dụng chúng hiệu quả trong các hoạt

động sống, là khả năng thực hiện quá trình nhận thức và giải quyết vấn đề

có hiệu quả [9, tr.604].

50

Nguyễn Huy Tú (2001), “Chỉ số trí tuệ cảm xúc cao - một tiền đề

thành công của nhà doanh nghiệp, nhà quản lý” [81] đã đưa ra quan niệm

của W.Stern (1912) đã định nghĩa: “Trí tuệ là năng lực khởi động tư duy về

những yêu cầu mới hay là năng lực thích ứng tinh thần với các nhiệm vụ

mới, điều kiện sống mới để có thể vượt qua những khó khăn trong hoàn

cảnh mới” [Dẫn theo 81, tr.65].

Nguyễn Công Khanh (2005), Cơ sở phương pháp nghiên cứu trí tuệ

cảm xúc [38] đã đưa ra quan niệm của D.Wechsler (1958) cho rằng: Trí tuệ

như là “năng lực tổng thể hoặc năng lực chung của cá nhân để hành động có

mục đích, để suy nghĩ hợp lý và để ứng phó có hiệu quả với môi trường của

mình” [Dẫn theo 38, tr.91].

Nguyễn Quang Uẩn (1996), Sự phát triển tâm lý của các thao tác [89]

trong tuyển tập Tâm lý học J.Piaget đã đưa ra quan niệm của J.Piaget: “Bất cứ một

quá trình trí tuệ nào cũng là sự thích ứng. Bản chất của trí tuệ bộc lộ trong việc cấu

tạo những mối quan hệ giữa cá thể và môi trường” [Dẫn theo 89, tr.65].

Nguyễn Anh Tuyết (2001), Phương pháp nghiên cứu trẻ em [87] đã chỉ

ra nghiên cứu của V.M Blaykhe và L.Ph Burolachuc (1978) về trí tuệ:

Trí tuệ - đó là một cấu trúc động, tương đối độc lập của những

thuộc tính nhận thức của nhân cách được hình thành và biểu hiện

trong hoạt động, chịu sự chế ước của các điều kiện văn hoá - lịch sử

và có chức năng chủ yếu là đảm bảo cho sự tác động qua lại phù

hợp với hiện thực xung quanh, cho sự cải tạo có mục đích của hiện

thực ấy [Dẫn theo 87, tr.65].

Schulze Ralf, Roberts D.Richard (EDS) (2005), Trí tuệ cảm xúc [102] quan

niệm trí tuệ là kết quả tương tác của con người với môi trường sống đồng thời là

tiền đề cho sự tương tác ấy, theo ông: “Trí tuệ là sự thích ứng có mục đích, sự lựa

chọn và định hướng với môi trường thực tiễn liên quan đến cuộc sống của một cá

nhân” [Dẫn theo 102, tr.7]. H.Gardner (1999) đưa ra quan điểm khi coi trí tuệ phải

được định nghĩa như là “tiềm năng tâm sinh lý để xử lý thông tin và những tiềm

năng được kích hoạt trong môi trường văn hoá nhằm giải quyết vấn đề hoặc tạo ra

những sản phẩm có giá trị cho một nền văn hoá” [Dẫn theo 102, tr.8].

51

Có thể dễ dàng nhận thấy, các quan niệm về trí tuệ trong tâm lý học rất

đa dạng, phong phú. Song đa phần các phát biểu đã có sự thống nhất ở các nội

dung chủ yếu sau:

(1) Trí tuệ của nhân cách là một cấu trúc động, có sự vận động, phát triển tuỳ

thuộc vào tình huống, hoàn cảnh và điều kiện cụ thể mà cá nhân tham gia.

(2). Trí tuệ có nguồn gốc từ hoạt động, hình thành, biểu hiện qua hoạt

động của cá nhân và mang bản chất xã hội.

(3) Trí tuệ là năng lực tổng thể gồm: năng lực học tập; năng lực tư duy trừu

tượng; năng lực thích ứng, v.v… và phản ánh trình độ phát triển của nhân cách.

Từ sự phân tích và kế thừa các kết quả nghiên cứu, luận án quan niệm:

“Trí tuệ là một dạng năng lực tổng hợp được hình thành và biểu hiện

trong hoạt động, đảm bảo cho hoạt động của cá nhân đạt được các tri thức

mới, thích ứng và ứng phó có hiệu quả trong các hoạt động sống.

Trí tuệ là năng lực tổng hợp bao gồm: năng lực học tập; năng lực tư

duy trừu tượng; năng lực thích ứng..., phản ánh trình độ phát triển của nhân

cách. Bản chất của trí tuệ đó chính là năng lực con người giải quyết các vấn

đề một cách hiệu quả, sáng tạo trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định.

Trí tuệ của cá nhân được hình thành và phát triển thông qua hoạt động.

Khi cá nhân tham gia vào hoạt động, trình độ hiểu biết cũng như năng lực của

cá nhân được bộc lộ. Tuy nhiên, tiêu chí đánh giá trí tuệ của cá nhân có sự

biến đổi, phát triển theo sự phát triển của thời đại, của điều kiện xã hội lịch sử

để phù hợp và đáp ứng các yêu cầu của xã hội.

Ngày nay, trí tuệ được hiểu theo nghĩa rộng hơn trí thông minh/ trí tuệ

nhận thức (intelligence), nó bao gồm trí thông minh, trí sáng tạo (creative

intelligence) và trí tuệ xã hội (social intelligence) mà EI (trí tuệ cảm xúc)

được coi là thành tố trung tâm.

2.2.2. Cảm xúc

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về cảm xúc (Emotion):

Theo Vũ Dũng (2013), Từ điển Tâm lý học [9] cho rằng: “Cảm xúc - sự

phản ánh tâm lý về mặt ý nghĩa, sống động của các hiện tượng và hoàn cảnh,

52

tức mối quan hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của

chủ thể, dưới hình thức những rung động trực tiếp” [9, tr.50].

Carroll.E.Izard (1992), Những cảm xúc của con người [37] đã dẫn ra

nghiên cứu của Duffy (1962), Carroll.E.Izard (1992), Tomkins (1963), X.L

Rubinstein (1962). Những nghiên cứu này đưa giả định rằng, trong phạm vi

các khoa học về hành vi, nói chung không cần có khái niệm cảm xúc; không

có hoạt động và các hành vi nếu không có các xúc động mạnh và nhấn mạnh

mặt biểu hiện của cảm xúc khi cho rằng “cảm xúc - về cơ bản là những phản

ứng đáp lại bằng vẻ mặt [Dẫn theo 37, tr.13]. X.L.Rubinstein cho rằng: “Về

mặt nội dung, các cảm xúc được xác định bởi các mối quan hệ xã hội của con

người, bởi tập quán và thói quen trong từng hoàn cảnh xã hội, tư tưởng của

nó” [Dẫn theo 37, tr.42]. Qua việc phân tích nguồn gốc, sự nảy sinh và biểu

hiện dưới góc độ lý thuyết hoạt động, ông khẳng định: cảm xúc của người, xét

về nguồn gốc, chức năng hay sự biểu hiện luôn mang tính xã hội.

Nguyễn Huy Tú (1975), Cảm xúc và tình cảm [76] với định hướng làm rõ

cơ chế nảy sinh cảm xúc, định nghĩa:

Cảm xúc của con người là những rung động khác nhau của chúng ta

nảy sinh do sự thoả mãn hay không thoả mãn những nhu cầu nào

đó, do sự phù hợp hay không phù hợp của các biến cố, hoàn cảnh

cũng như trạng thái bên trong cơ thể với những mong muốn, hứng

thú, khuynh hướng, niềm tin và thói quen của chúng ta [76, tr.49].

Trần Trọng Thuỷ (1998), Tâm lý học [74] quan niệm: “Cảm xúc là một

quá trình tâm lý, biểu thị thái độ của con người hay con vật với sự vật, hiện tượng

có liên quan đến nhu cầu của cá thể đó, gắn liền với phản xạ không điều kiện, với

bản năng” [74, tr.80].

Carroll E.Izard (1992), Những cảm xúc của con người [37] không nêu

một định nghĩa cụ thể của cảm xúc, mà cho rằng những cảm xúc tạo nên hệ

thống động cơ chính của con người, với ba yếu tố đặc trưng gồm: (1) Cảm

giác được thể nghiệm hay là được ý thức về cảm xúc; (2) Các quá trình

53

diễn ra trong các hệ thần kinh, hệ nội tiết, hô hấp, tiêu hoá và các hệ khác

của cơ thể; (3) Các phức hợp biểu cảm cảm xúc được quan sát, đặc biệt là

những phức hợp phản ánh trên bộ mặt [37, tr.17]. Nếu xét về nguồn gốc

cảm xúc thì: “Các cảm xúc nảy sinh như là kết quả của những biến đổi

trong hệ thần kinh và những biến đổi này có thể được qui định bởi các sự

kiện bên trong cũng như bên ngoài” [37, tr.34].

Daniel Goleman (2002), Trí tuệ cảm xúc: Làm thế nào để những

cảm xúc của mình thành trí tuệ [13] cho rằng khi đánh giá cảm xúc phải

gắn với hành vi, đã định nghĩa: “cảm xúc vừa là một tình cảm và các ý

nghĩa, các trạng thái tâm lý và sinh học đặc biệt, vừa là thang của các xu

hướng hành động do nó gây ra” [13, tr.622].

Peter Salovey & David J.Sluyter (1997), Phát triển trí tuệ và trí tuệ

cảm xúc [95] nghiên cứu cảm xúc trong mối quan hệ với các thành tố khác

của nhân cách, cho rằng: “Cảm xúc là một hệ thống đáp lại của cơ thể giúp

điều phối những thay đổi về sinh lý, tri giác, kinh nghiệm, nhận thức và các

thay đổi khác thành những trải nghiệm mạch lạc về tâm trạng và tình cảm,

chẳng hạn như hạnh phúc, tức giận, buồn chán, ngạc nhiên,...” [95, tr.9].

Như vậy, quan niệm về cảm xúc trong tâm lý học rất đa dạng, phong

phú, song tựu trung lại, có thể khái quát những quan điểm của các tác giả nêu

trên về cảm xúc ở những khía cạnh sau:

(1). Cảm xúc là một quá trình tâm lý, diễn ra trong khoảng thời gian

nhất định, có khởi đầu, diễn biến và kết thúc.

(2). Cảm xúc thể hiện thái độ của chủ thể, có thể coi là bước khởi đầu

về quan điểm, tình cảm của cá nhân đối với các sự kiện, hiện tượng tác động

đến bản thân.

(3). Cảm xúc của cá nhân là một dạng phản ứng diễn ra với cường độ

thấp hoặc vừa phải, nhịp độ nhẹ nhàng.

Từ sự phân tích trên, kết hợp với việc kế thừa quan điểm của các nhà

tâm lý học, có thể phát biểu:

54

Cảm xúc là những rung động, rung cảm của cá nhân trước sự tác động

của hiện thực khách quan, có liên quan đến việc thỏa mãn hay không thỏa mãn

nhu cầu của cá nhân.

Trước sự tác động của hiện thực khách quan đến cá nhân, cá nhân không

chỉ nhận thức sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan ấy mà sẽ có phản ứng

nhất định như yêu, thích, ghét, chán, vui, buồn,v.v... Những phản ứng của nhân

trước sự tác động đó gọi là những rung động, rung cảm. Tuy nhiên, không phải

bất kỳ sự tác động nào của thế giới khách quan tác động đến cá nhân, cá nhân

cũng có rung động, rung cảm. Cá nhân chỉ bộc lộ những phản ứng như: vui,

buồn, yêu, thích,... khi sự tác động đó có liên quan đến mong muốn cá nhân. Hay

nói cách khác, dù xúc cảm diễn ra trong thời gian ngắn nhưng nó chính là những

phản ứng dựa trên việc thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu của cá nhân tại

thời điểm đó. Do vậy, xúc cảm được chia làm xúc cảm dương tính và xúc cảm

âm tính. Tuy nhiên, dù là xúc cảm loại nào thì nó cũng là một trong những

nguyên liệu để hình thành nên tình cảm. Bởi vậy, để điều tra viên có trí tuệ cảm

xúc cần chú ý đến xây dựng những xúc cảm dương tính.

2.2.3. Trí tuệ cảm xúc

Trí tuệ là năng lực tổng hợp thể hiện mức độ kiểm soát và điều khiển

hành vi của cá nhân. Trí tuệ giúp cá nhân điều khiển hành vi của mình cho

phù hợp với hoàn cảnh (tạo ra khả năng thích ứng). Đây chính là mặt năng

động của trí tuệ. Nhờ có trí tuệ, cá nhân có thể linh hoạt, mềm dẻo trong hành

động, lựa chọn các phương tiện, phương pháp hành động, trong việc huy động

các kiến thức, kinh nghiệm đã có vào việc xử lý tình huống cụ thể. Điều này

khi chuyển vào trí tuệ cảm xúc sẽ giúp cá nhân kiểm soát và điều chỉnh được

cảm xúc của mình; giúp cá nhân lựa chọn được các cách thức, phương tiện

biểu đạt cảm xúc của mình để mang lại lợi ích cho bản thân trong ứng xử.

Phần tổng quan nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc trên thế giới cho thấy đã

có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên, cho đến nay, 3 mô hình

lý thuyết tiêu biểu về trí tuệ cảm xúc đã đưa ra một cách rõ ràng khái niệm,

55

cấu trúc và thang đo trí tuệ cảm xúc đáng tin cậy và được ứng dụng trong

nhiều nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc, đó là: (1) mô hình trí tuệ cảm xúc dựa

trên năng lực, (2) mô hình trí tuệ cảm xúc dựa trên nét tính cách, (3) mô hình

trí tuệ cảm xúc hỗn hợp (kết hợp giữa năng lực và tính cách). Các mô hình

này đã được ra khái niệm khác nhau về trí tuệ cảm xúc.

Cha đẻ của dòng lý thuyết trí tuệ cảm xúc dựa trên năng lực là

John.D.Mayer và Peter Salovey. Ngoài hai tác giả đặt nền móng cho mô hình

lý thuyết này, David Caruso là đồng tác giả của trắc nghiệm Mayer, Salovey,

Caruso Emotional Intelligence Test (MSCEIT) - bộ công cụ nền tảng của

dòng lý thuyết trí tuệ cảm xúc dựa trên năng lực.

Peter Salovey & David J.Sluyter (1997), Phát triển trí tuệ và trí tuệ cảm

xúc [95] công bố mô hình trí tuệ cảm xúc được chỉnh sửa và tinh lọc (gọi nó là

mô hình EI97), giới hạn trí tuệ cảm xúc thành khái niệm năng lực trí tuệ (mantal

ability concept) và tách biệt nó với những đặc điểm nhân cách của cảm xúc xã

hội truyền thống như các nhân tố Eysenck PEN, các đặc điểm nhân cách Big -

Five, ... Mô hình này được thừa nhận và ổn định cho đến nay, được định nghĩa:

Trí tuệ cảm xúc dùng để chỉ năng lực nhận thức các ý nghĩa của cảm

xúc và mối quan hệ giữa chúng, và để lập luận cũng như giải quyết

vấn đề trên cơ sở những ý nghĩa và mối quan hệ đó. Trí tuệ cảm xúc

tham gia vào khả năng nhận biết cảm xúc, đồng hoá các cảm nhận có

liên quan đến cảm xúc, thấu hiểu thông tin và những cảm xúc đó và

quản lý chúng [95, tr.12].

Xuất phát từ quan niệm trí tuệ cảm xúc là một loại trí thông minh

tổng hợp và mang tính truyền thống, còn cảm xúc là những hệ thống dấu

hiệu cao cấp và mỗi loại xúc cảm truyền tải một ý nghĩa đặc biệt, năm

1990, trong bài báo đặt nền móng cho lĩnh vực nghiên cứu trí tuệ cảm

xúc, Peter Salovey & David J.Sluyter định nghĩa trí tuệ cảm xúc chính là

“năng lực điều khiển cảm xúc và cảm nhận của bản thân và người khác,

phân biệt chúng và sử dụng thông tin này để hướng dẫn tư duy và bản

56

thân”. Theo định nghĩa này, mô hình trí tuệ cảm xúc sẽ bao gồm quá trình

trí tuệ (mantal process) liên quan với nhau và hàm chứa các thông tin cảm

xúc (1) Đánh giá và biểu hiện cảm xúc, (2) Điều chỉnh cảm xúc, (3) Sử dụng

xúc cảm một cách phù hợp cho hoạt động [95].

K.V. Petrides và Adrian Furnham (2005), “Đo lường trí tuệ cảm xúc”

[118] đã đưa ra mô hình trí tuệ cảm xúc dựa trên tính cách. Theo các tác giả, trí

tuệ cảm xúc dựa trên tính cách là một chùm những tri giác về bản thân trên nền

tảng cảm xúc, nằm ở các cấp độ thấp hơn trong hệ thống thứ bậc của nhân cách.

Theo nghĩa thông thường, nói đến trí tuệ cảm xúc dựa trên tính cách là nói đến

sự tự tri giác về các năng lực cảm xúc. Định nghĩa về trí tuệ cảm xúc này chứa

đựng xu hướng hành vi và các năng lực tự tri giác. Vì thế trí tuệ cảm xúc dựa

trên tính cách cần được nghiên cứu trong khuôn khổ tính cách. Bản thân các tác

giả cũng gọi trí tuệ cảm xúc dựa trên tính cách là cái tôi cảm xúc hiệu quả. Khái

niệm trí tuệ cảm xúc dựa trên tính cách dẫn tới việc khái niệm kiến tạo này nằm

ngoài sự phân loại về năng lực nhận thức của con người [118].

Ciarrochi Joseph, Forgas P.Joseph, Mayer D.John (EDS) (2006), Trí

tuệ cảm xúc trong cuộc sống hàng ngày [94] chỉ ra đại diện tiêu biểu thứ hai

của mô hình hỗn hợp là Reuven Bar - On. Lý thuyết của Bar - On (2000),

được phát triển sau khi nghiên cứu các tài liệu về đặc điểm tính cách có liên

quan đến thành công trong cuộc sống. Mô hình này mô tả về khả năng cảm

xúc và xã hội và các thành phần chủ chốt trong khả năng này đều có liên hệ

với cảm nhận hạnh phúc, chỉ ra yếu tố thể hiện khả năng hiểu được cảm xúc

của bản thân, của người khác và sử dụng những hiểu biết đó để thích nghi và

giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Những khả năng này đã được công

nhận là trí thông minh trong các mô hình lý thuyết khác về trí tuệ cảm xúc,

tuy nhiên mô hình của Bar - On gồm nhiều đặc điểm được cho là có liên quan

mạnh mẽ đến tích cách. Do đó, mô hình này cho rằng trí tuệ cảm xúc không

thuần tuý chỉ là những đặc điểm về năng lực trí tuệ mà là sự kết hợp giữa kỹ

57

năng và đặc điểm tính cách. Bar - On quan niệm: “Trí tuệ cảm xúc là một loạt

các kỹ năng và phẩm chất ảnh hưởng tới thành công trong việc thấu hiểu và

thể hiện bản thân, thấu hiểu và liên hệ với người khác cũng như thích ứng với

những yêu cầu của cuộc sống hàng ngày” [94, tr.14].

Đại diện tiêu biểu thứ nhất của mô hình trí tuệ cảm xúc hỗn hợp là

Daniel Goleman (2007), Trí tuệ cảm xúc, ứng dụng trong công việc [14]. Ông

đã đóng góp quan trọng vào quá trình phổ thông hoá khái niệm trí tuệ cảm

xúc trên thế giới - lại hiểu trí tuệ cảm xúc bao gồm cả năng lực và kỹ năng

nhưng dường như chủ yếu là các kỹ năng. Khái niệm về trí tuệ cảm xúc của

Goleman rất rộng bao gồm các thành tố như: tự điều chỉnh, động cơ, tính thấu

cảm và kỹ năng xã hội [14, tr.68]. Trong tiếng Anh, từ “Competence” được

hiểu là sở hữu các kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm thích hợp; đó là sự thành

thạo. Nói đến kỹ năng là nói đến làm, thực hiện. Những gì Goleman nói về trí

tuệ cảm xúc đều liên quan đến công việc, vì thế, lý thuyết về trí tuệ cảm xúc

của ông còn được gọi là trí tuệ cảm xúc trong công việc.

Các tác giả đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về trí tuệ cảm xúc.

Nhìn chung, các định nghĩa đều cho rằng trí tuệ cảm xúc có liên quan đến

việc nhận thức về cảm xúc của bản thân và của người khác. Tuy nhiên, nếu

như Mayer và đồng nghiệp cho rằng trí tuệ cảm xúc hoàn toàn là một dạng

năng lực thuần tuý của con người hay Petrides và đồng nghiệp trí tuệ cảm xúc

phần lớn chính là những đặc điểm tính cách thì Bar - On lại cho rằng trí tuệ

cảm xúc không phải hoàn toàn là một dạng năng lực, mà nó được hiểu là sự

kết hợp những kỹ năng và phẩm chất tính cách mà con người, có được thông

qua quá trình học tập và giáo dục. Bar - On cho rằng hoàn toàn có thể giáo

dục để phát triển trí tuệ cảm xúc cho trẻ em và thiếu niên.

Trong luận án này, chúng tôi sử dụng mô hình lý thuyết trí tuệ cảm xúc

hỗn hợp của tác giả Peter Salovey & David J.Sluyter (1997) Phát triển trí tuệ

và trí tuệ cảm xúc [95] là cơ sở lý luận cho nghiên cứu của mình. Theo tác giả:

58

Trí tuệ cảm xúc dùng để chỉ năng lực nhận thức các ý nghĩa của

cảm xúc và mối quan hệ giữa chúng, và để lập luận cũng như giải

quyết vấn đề trên cơ sở những ý nghĩa và mối quan hệ đó. Trí tuệ

cảm xúc tham gia vào khả năng nhận biết cảm xúc, đồng hoá các

cảm nhận có liên quan đến cảm xúc, thấu hiểu thông tin và những

cảm xúc đó và quản lý chúng [95, tr.12].

Kế thừa các kết quả nghiên cứu và với hướng tiếp cận nghiên cứu trí

tuệ cảm xúc của luận án, tác giả luận án quan niệm: Trí tuệ cảm xúc là một

dạng năng lực cảm xúc tổng hợp của con người, bao gồm các năng lực thành

phần: năng lực nhận biết cảm xúc; năng lực thấu hiểu cảm xúc; năng lực vận

dụng cảm xúc; năng lực điều khiển cảm xúc của bản thân và đối tượng, đảm

bảo cho hoạt động của cá nhân đạt được các tri thức mới, thích ứng và ứng

phó có hiệu quả trong các hoạt động điều tra.

Trí tuệ cảm xúc là một dạng năng lực cảm xúc tổng hợp: Bản chất trí

tuệ là năng lực của cá nhân làm sáng tỏ một vấn đề nào đó. Trí tuệ cảm xúc

không phải là một dạng năng lực thuần tuý cũng không phải là đặc điểm tính

cách của cá nhân mà là một dạng năng lực tổng hợp.

Các năng lực thành phần của trí tuệ được xác định bao gồm: năng lực

nhận biết cảm xúc; năng lực thấu hiểu cảm xúc; năng lực vận dụng cảm xúc;

năng lực điều khiển cảm xúc của bản thân và đối tượng. Các năng lực này có

mối quan hệ biện chứng với nhau, phản ánh trí tuệ cảm xúc của cá nhân.

Vai trò của trí tuệ cảm xúc: Trí tuệ cảm xúc sẽ giúp cá nhân nhận ra

được cảm xúc của bản thân, khi phân biệt giữa cảm xúc và trí tuệ cảm xúc

được thể hiện ở các nội dung như: Cảm xúc là quá trình tâm lý, trạng thái

tâm lý tồn tại thực ở mỗi cá nhân khi có một kích thích nào đó tác động đến.

Nhưng cá nhân đó có thể không biết mình có hay không cảm xúc đó. Để biết

được cá nhân cần phải đo mức độ của trí tuệ cảm xúc. Trí tuệ là năng lực

kiểm soát và điều khiển hành vi của cá nhân. Trí tuệ giúp cá nhân điều khiển

59

hành vi của mình cho phù hợp với hoàn cảnh. Nó còn được coi là mặt năng động

của trí tuệ. Thông qua trí tuệ, cá nhân có thể linh hoạt, mềm dẻo trong hành động,

sau đó cá nhân sẽ lựa chọn các phương tiện, phương pháp hành động, huy động các

kiến thức, kinh nghiệm đã có vào việc xử lý tình huống cụ thể. Điều này khi chuyển

vào trí tuệ cảm xúc sẽ giúp cá nhân kiểm soát và điều chỉnh được cảm xúc của

mình; giúp cá nhân lựa chọn được các cách thức, phương tiện biểu đạt cảm xúc của

mình để mang lại lợi ích cho bản thân trong quá trình giao tiếp.

2.2.4. Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc

Bộ Công an

Nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc, đa phần các tác giả trong và ngoài nước

tiếp cận nó ở dạng năng lực tổng hợp. Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động rất

ít người có thể làm chủ ở mức cao nhất tất cả những năng lực tạo nên trí tuệ

cảm xúc của mình và ở mỗi một người đều có những điểm mạnh và hạn chế

nhất định. Song, để trở thành người giỏi trong một lĩnh vực nào đó đòi hỏi cá

nhân phải làm chủ ở mức độ cao một số lượng nhất định trong số những năng

lực cần thiết của trí tuệ cảm xúc. Phân tích về nghề nghiệp điều tra viên nói

chung và điều tra viên Cục An ninh điều tra nói riêng, dễ dàng nhận thấy

những năng lực thành phần vừa mang tính độc lập, vừa mang tính tương tác và

là những biểu hiện cơ bản của trí tuệ cảm xúc trong nghề nghiệp của họ.

Trên bình diện chung và trên bình diện đặc trưng, có thể phân tích về trí

tuệ cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra thông qua việc đề cập đến

những loại năng lực cảm xúc sau:

- Những năng lực độc lập - mỗi năng lực trong số đó bằng cách riêng

duy nhất của mình có thể đóng góp vào việc nâng cao chất lượng công việc

nói chung và công việc điều tra nói riêng.

- Những năng lực phụ thuộc lẫn nhau - mỗi năng lực trong số này ở mức độ

nào đó xuất phát từ một vài năng lực khác và giữa một vài năng lực tồn tại những

mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ. Năng lực này giúp điều tra viên Cục

An ninh điều tra thể hiện sự năng lực nghề nghiệp đặc thù cũng như khả năng thiết

lập và duy trì các mối quan hệ khác nhau của mình trong nghề nghiệp.

60

- Những năng lực được phân cấp - những năng lực nằm trong thành

phần của trí tuệ cảm xúc được xây dựng dựa trên nền móng cũ. Chẳng hạn

như sự tự thức có một ý nghĩa cơ bản đối với việc tự điều chỉnh và chia sẻ; sự

tự điều chỉnh bản thân và sự tự thức lại góp phần vào năng lực tự tạo ra động

cơ và tất cả bốn cái đó góp phần tạo ra năng lực mang tính xã hội. Năng lực

này chi phối việc thể hiện bản lĩnh một cách đích thực ở những tình huống

khác nhau hay ở việc thực hiện những nhiệm vụ khác nhau hay quá trình xây

dựng hình ảnh của điều tra viên Cục An ninh điều tra.

- Những năng lực cần nhưng chưa đủ - sở hữu năng lực cảm xúc không

bảo đảm rằng sẽ tạo được những năng lực cần thiết như năng lực hợp tác hay

giải quyết tình huống hoặc bạn sẽ thể hiện mình thông qua những năng lực

đó. Việc một năng lực nhất định có xuất hiện trong lao động hay không, điều

đó cũng được xác định bởi những yếu tố khác, chẳng hạn như bầu không khí

tâm lý nơi làm việc như thế nào hoặc cá nhân làm việc quan tâm đến công

việc ở mức độ ra sao. Đây là yếu tố làm cho điều tra viên Cục An ninh điều

tra thể hiện mình một cách hiệu quả về quá trình tự phát triển, tự rèn luyện

trong công việc, trong mối quan hệ người - người.v.v…

- Những năng lực đặc biệt - trong thực tế tất cả những năng lực vừa

nêu đều rất cần thiết cho tất cả các nghề nghiệp và cho mọi vị trí công việc,

song mặt khác những nghề nghiệp khác nhau và những vị trí công việc

khác nhau đòi hỏi những năng lực khác nhau. Năng lực trí tuệ cảm xúc

giúp điều tra viên biết hướng đến những yêu cầu đặc trưng nhất và mang

tính thách thức của nghề nghiệp: quản lý công việc, giải quyết những tình

huống hay mối quan hệ của những con người khác nhau trong những điều

kiện khác nhau với những thách thức mới.

Xuất phát từ cơ sở lý luận về trí tuệ cảm xúc; chức trách, nhiệm vụ, đặc

điểm hoạt động của điều tra viên và những yêu cầu thực tiễn của hoạt động

điều tra, ở luận án này quan niệm:

61

Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công

an là một dạng năng lực tổng hợp được hình thành và phát triển thông qua thực

tiễn hoạt động điều tra, bao gồm các năng lực thành phần: năng lực nhận biết

cảm xúc; năng lực thấu hiểu cảm xúc; năng lực vận dụng cảm xúc và năng lực

điều khiển cảm xúc, đảm bảo cho hoạt động điều tra đạt được hiệu quả.

Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên được hình thành và phát triển thông

qua thực tiễn hoạt động điều tra của họ ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công

an. Bản chất của trí tuệ cảm xúc đó chính là năng lực tổng hợp của điều tra

viên để giải quyết các nhiệm vụ trong hoạt động điều tra một cách hiệu quả,

sáng tạo ở từng tình huống, điều kiện, hoàn cảnh điều tra nhất định.

Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ

Công an bao gồm các năng lực thành phần:

- Năng lực nhận biết cảm xúc của bản thân và đối tượng trong hoạt

động điều tra;

- Năng lực thấu hiểu cảm xúc của bản thân và đối tượng trong hoạt

động điều tra;

- Năng lực vận dụng cảm xúc của bản thân và đối tượng trong hoạt

động điều tra;

- Năng lực điều khiển cảm xúc của bản thân và đối tượng trong hoạt

động điều tra.

Các năng lực này đảm bảo cho hoạt động điều tra đạt được hiệu quả

cao nhất, hạn chế được sai sót, oan sai trong điều tra vụ án và đối tượng.

Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ

Công an sẽ chịu sự tác động, chi phối, quy định của nhiều yếu tố khác nhau,

có cả các yếu tố chủ quan thuộc về điều tra viên và các yếu tố khách quan

thuộc về môi trường làm việc, điều kiện, hoàn cảnh của hoạt động điều tra.

Đồng thời, có thể đo đạc, định lượng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên thông

qua các trắc nghiệm và chỉ báo biểu hiện, cũng như có thể phát triển trí tuệ

cảm xúc cho điều tra viên thông qua các biện pháp tác động phù hợp.

62

2.3. Biểu hiện, mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An

ninh điều tra thuộc Bộ Công an

2.3.1. Biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều

tra thuộc Bộ Công an

Nguyễn Huy Tú (2002), "Tâm lý học thế kỷ XX, tiếp cận bản chất, cấu

trúc của trí tuệ" [83] đưa ra quan điểm của Robert K. Cooper với cấu trúc trí tuệ

cảm xúc gồm bốn thành tố như sau:

- Thành tố thứ nhất: Khả năng nhận biết cảm xúc bao gồm kinh nghiệm của

cá nhân và sự tự tin hiệu quả thông qua sự trung thực về tình cảm, năng lực tình

cảm, nhận biết cảm xúc, phản hồi, trực giác, trách nhiệm và kết nối.

- Thành tố thứ hai: Tình cảm thích hợp được xây dựng bởi tính nhất

quán, sự tin cậy và tính kiên định. Chúng mở rộng khả năng xây dựng niềm

tin và năng lực lắng nghe, quản lý xung đột và giải quyết hầu hết những yếu

tố gây bất mãn cho điều tra viên.

- Thành tố thứ ba: Trong tầng bậc cảm xúc sâu hơn này, con người

khám phá cách để sắp xếp cuộc sống, biết làm việc có mục đích và tiềm năng

của chính mình. Cùng với tính toàn vẹn, sự cam kết và trách nhiệm sẽ làm

tăng ảnh hưởng của điều tra viên mà không cần quyền lực vị trí. Từ đây

chúng ta sẽ phát triển đến thành tố thứ tư, khả năng cảm xúc siêu việt.

- Thành tố thứ tư: thông qua đó con người mở rộng khả năng sáng tạo,

khả năng vượt qua các vấn đề cũng như áp lực. Con người có thể đạt đến mục

đích trong tương lai bằng cách xây dựng khả năng cảm nhận, dự đoán và tầm

nhìn xa về những giải pháp và cơ hội mới [Dẫn theo 83, tr.72].

Cấu thành trên mặc dù đã gắn trí tuệ cảm xúc với vị trí công việc cũng

như tính chất của hoạt động quản lý và lãnh đạo nhưng chỉ đề cập chủ yếu đến

các đặc trưng của hoạt động quản lý và lãnh đạo. Đây có thể được xem như

một quan điểm theo xu hướng nêu ra những đặc điểm trí tuệ cảm xúc cần có

của một người để họ có thể làm tốt một công việc nào đó.

63

Daniel Goleman (2007), Trí tuệ cảm xúc, ứng dụng trong công việc

[14] đã tập trung về trí tuệ cảm xúc như là mảng sâu rộng các năng lực và kỹ

năng điều khiển hiệu suất lãnh đạo. Mô hình này phác thảo cấu thành trí tuệ

cảm xúc gồm bốn thành tố chính:

Một là, tự nhận thức (Self - awareness): khả năng đọc các cảm xúc và

nhận ra ảnh hưởng của cảm xúc để hướng đến các quyết định.

Hai là, tự quản lý (Self - management): bao gồm điều khiển các cảm

xúc, kích thích và thích nghi để thay đổi hoàn cảnh.

Ba là, nhận thức xã hội (Social Awareness): khả năng cảm nhận, hiểu

và phản ứng với các cảm xúc của người khác khi nhận thức cơ cấu tổ chức và

các mối quan hệ.

Bốn là, quản lý mối quan hệ (Relationship Management): khả năng

truyền cảm hứng, gây ảnh hưởng và phát triển các kỹ năng phát triển con

người, xây dựng mối quan hệ và khả năng quản lý xung đột [14, tr.89].

Một số luận án nghiên cứu trước đây cho rằng Goleman quan niệm trí

tuệ cảm xúc theo mô hình hỗn hợp khác với các xu hướng còn lại, cho rằng

trí tuệ cảm xúc theo mô hình năng lực hoặc gồm những đặc điểm tính cách.

Theo chúng tôi, Goleman tiếp cận cấu thành trí tuệ cảm xúc gắn với những

hoạt động cụ thể, có điểm tương đồng với hoạt động mà cán bộ điều tra làm.

Ông cho rằng có những yếu tố liên quan mật thiết đến năng lực cảm xúc và

tạo nên trí tuệ cảm xúc.

Peter Salovey, J.Mayer & David J.Sluyter (1997), Phát triển trí tuệ và

trí tuệ cảm xúc [95] công bố mô hình EI được chỉnh sửa và tinh lọc (EI97),

giới hạn EI thành khái niệm năng lực trí tuệ (mantal ability concept) và tách

biệt nó với những đặc điểm nhân cách cảm xúc xã hội truyền thống. EI97 ít

tập trung vào nhánh sử dụng xúc cảm của EI90 và thêm một nhánh mới liên

quan đến sự biểu hiện xúc cảm là tư duy về xúc cảm. Trong mô hình EI97,

các tác giả định nghĩa EI như một tổ hợp năng lực xúc cảm có thể chia thành

bốn loại hay bốn nhánh theo cách gọi của họ.

64

Năng lực nhận biết xúc cảm qua tình trạng thể chất, cảm giác và suy nghĩ của con người

Nhận thức, đánh giá và biểu lộ xúc cảm

Năng lực thể hiện xúc cảm chính xác và thể hiện những nhu cầu liên quan đến xúc cảm đó

Năng lực phân biệt sự biểu hiện xúc cảm chân thật hay thật, không chân chính xác hay không chính xác

Năng lực nhận biết xúc cảm của người khác, trong những thiết kế, tác phẩm nghệ thuật,... qua ngôn ngữ, âm thanh, diện mạo và hành vi

Những xúc cảm thúc đẩy suy nghĩ bằng cách hướng sự quan tâm chú ý vào những thông tin quan trọng

Tạo điều kiện xúc cảm cho suy nghĩ

Những xúc cảm tiềm tàng và đủ mạnh mẽ sống động có thể bộc phát nhằm giúp cho việc đánh giá và ghi nhớ có liên quan đến cảm giác

Tình trạng xúc cảm tác động đến cách giải quyết các vấn đề cụ thể, chẳng hạn khi hạnh phúc thì thúc đẩy suy luận logic và sáng tạo

Những giao động tâm trạng cảm xúc làm một người thay đổi từ lạc quan sang bi quan, thúc đẩy việc xem xét các cách nhìn nhận khác nhau

EI

Năng lực xác định xúc cảm và nhận biết mối quan hệ giữa ngôn từ và xúc cảm chẳng hạn như mối quan hệ giữa yêu và thích

Hiểu và phân tích xúc cảm; sử dụng những tri thức xúc cảm

Năng lực giải thích ý nghĩa mà xúc cảm truyền đạt liên quan đến những mối quan hệ, chẳng hạn như nỗi buồn thường đi liền với sự mất mát

Năng lực thấu hiểu những xúc cảm phức tạp: xúc cảm yêu ghét đồng thời hoặc xúc cảm pha trộn chẳng hạn như sự kinh sợ là sự kết hợp của sợ hãi và ngạc nhiên

Năng lực nhận thức được những chuyển đổi xúc cảm có thể xảy ra, chẳng hạn như sự chuyển đổi từ giận dữ sang thoả mãn,...

Điều chỉnh xúc cảm một cách có suy nghĩ nhằm tăng cường sự phát triển XC và TT

Năng lực loại bỏ hoặc tách biệt xúc cảm một cách có suy nghĩ, phụ thuộc vào thông tin mà xúc cảm đó mang lại hoặc việc sử dụng xúc cảm đó

Năng lực điều chỉnh xúc cảm liên quan tới bản thân và những người khác một cách có suy nghĩ, chẳng hạn nhận thức được những xúc cảm đó rõ ràng, đặc trưng, có sức ảnh hưởng hoặc hợp lý

Năng lực kiểm soát xúc cảm của bản thân và người khác bằng cách điều chỉnh xúc cảm tiêu cực và thúc đẩy cảm xúc dễ chịu mà không cần kìm nén hay thổi phồng những thông tin mà nó biểu đạt

Sơ đồ 2.1. Mô hình trí tuệ cảm xúc EI97 của J.Mayer và P.Salovey

65

Dựa vào các mô hình về cấu trúc trí tuệ cảm xúc như trên và căn cứ vào

khái niệm trí tuệ cảm xúc đã nêu, trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định trí

tuệ cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra được xác lập phỏng theo

theo cấu trúc mà tác giả J. Mayer và P. Salovey đề xuất, theo đó biểu hiện trí

tuệ cảm xúc của điều tra viên như sau:

2.3.1.1. Năng lực nhận biết cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều

tra Bộ Công an

Năng lực nhận biết cảm xúc của điều tra viên là khả năng điều tra viên

có thể đưa ra những nhận định chính xác về cảm xúc của đối tượng hay các

lực lượng có liên quan cũng như có biết cảm xúc của chính bản thân mình.

Nhận biết cảm xúc là thành phần cơ bản của trí tuệ cảm xúc của điều

tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an bởi lẽ không gọi được tên

các cảm xúc, không nhận biết đúng bản chất của nó thì điều tra viên ở Cục An

ninh điều tra thuộc Bộ Công an sẽ không phân biệt được một cách chính xác

một cảm xúc này với một cảm xúc khác. Do đó, những kỹ năng khác, mà đặc

biệt là trong các kỹ năng liên quan đến giao tiếp sẽ không đạt được hiệu quả tích

cực. Nhận biết cảm xúc sẽ giúp cho điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc

Bộ Công an biết được những nhu cầu, nguyện vọng,… của đối tượng và đối tác

đã được thoả mãn chưa. Sự nhận diện cảm xúc sẽ dẫn đường cho điều tra viên ở

Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an có sự điều chỉnh, kiểm soát những cảm

xúc, hành vi của chính họ nhằm giúp điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc

Bộ Công an thành công trong công việc.

Ở điều tra viên Cục An ninh điều tra Bộ Công an năng lực này bộc lộ ở khả

năng phát hiện, giải mã những cảm xúc trên gương mặt thực, tranh ảnh, giọng nói.

Khía cạnh này bao gồm năng lực nhận thức được cảm xúc của mình cũng như

cảm xúc của đối tượng, đồng nghiệp và đối tác, cũng như đánh giá được sự ảnh

hưởng của cảm xúc như thế nào đến hiệu quả công việc. Điều này có nghĩa là điều

tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an phải nhận biết được thời điểm

xuất hiện và nguyên nhân của cảm xúc, nhận thức được mối quan hệ giữa tình

cảm và suy nghĩ, giữa lời nói và làm việc của bản thân cũng như của các lực

66

lượng có liên quan, mà nhấn mạnh ở đây là đối tượng và đối tác của họ. Nhận biết

cảm xúc này của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an thông

qua các con đường như ngôn ngữ, hành vi, nét mặt… và các tín hiệu cơ thể khác.

Để thực hiện tốt các công việc dựa trên hoạt động giao tiếp như đã phân tích ở

trên, điều quan trọng trong nhận biết cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh

điều tra thuộc Bộ Công an là phải nhận ra được sự khác biệt giữa những biểu lộ

cảm xúc có thật và biểu bộ cảm xúc miễn cưỡng hoặc giả tạo. Biểu hiện năng lực

nhận biết cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra Bộ Công an:

- Nhận biết được cảm xúc ưu trội của bản thân khi đối mặt với tình

huống xảy ra;

- Nhận biết mối quan hệ giữa ngôn ngữ và cảm xúc của đối tượng;

- Nhận biết mối quan hệ giữa cảm xúc và hành vi của đối tượng điều tra;

- Nhận biết được cảm xúc phức hợp của đối tượng khi tham gia giao tiếp;

- Nhận biết được sự chuyển đổi cảm xúc của đối tượng điều tra;

- Nhận thức được cảm xúc của bản thân trong một tình huống điều tra;

- Đánh giá được trạng thái cảm xúc của đối tượng qua hành vi, điệu bộ, cử chỉ.

Tóm lại, một điều tra viên có năng lực nhận biết cảm xúc là có thể đọc

được các cảm xúc của mình và của người khác một cách rõ ràng, chính xác cũng

như thể hiện, biểu lộ những cảm xúc hợp lý về mặt xã hội. Bên cạnh đó, nhận biết

cảm xúc ở điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an còn thể hiện ở

việc hiểu rõ sự ảnh hưởng cảm xúc của bản thân và của người khác đến hiệu quả

công việc như thế nào trong quá trình làm việc. Đồng thời, điều này cũng nói lên

phần nào khả năng tự đánh giá của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ

Công an về những ưu, hạn chế trong cảm xúc để phát huy cảm xúc có lợi và hạn

chế cảm xúc gây cản trở, khó khăn trong hợp tác.

2.3.1.2. Năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh

điều tra thuộc Bộ Công an

Năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên là khả năng điều tra

viên nắm bắt được tâm tư tình cảm của bản thân cũng như đặt mình vào vị

trí của người khác, hiểu được những gì người khác suy nghĩ và đồng cảm

với cảm xúc của họ.

67

Trong hoạt động điều tra, việc điều tra viên thấu hiểu cảm xúc có vai

trò vô cùng quan trọng. Điều này sẽ thu ngắn khoảng cách giữa điều tra

viên và đối tượng cũng như các lực lượng có liên quan bởi sự đồng cảm

cũng như nắm bắt được tâm tư, tình cảm của nhau. Chính vậy mà hoạt

động điều tra sẽ có hiệu quả cao hơn.

Năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên thể hiện ở chỗ hiểu

được những loại cảm xúc nào là tương tự, là đối nghịch hay sự pha trộn

giữa các loại cảm xúc. Hiểu biết cảm xúc của điều tra viên liên quan đến

khả năng thấu hiểu các ngôn ngữ cảm xúc, hiểu rõ mối quan hệ phức tạp

giữa các cảm xúc. Thành phần này liên quan đến khả năng hiểu, thấu hiểu,

tôn trọng, thúc đẩy và truyền cảm xúc để khích lệ, an ủi những người xung

quanh. Hiểu biết cảm xúc thể hiện ở chỗ điều tra viên hiểu cảm xúc, tình

cảm của bản thân, nhưng nhấn mạnh ở việc điều tra viên hiểu biết cảm xúc

và tình cảm của đối tượng, bị can, người làm chứng; để tâm và lắng nghe

những mối quan tâm, cảm xúc của họ, hiểu được nhu cầu, mong muốn

được phát triển của đối tượng và nâng đỡ các khả năng phát triển đó. Theo

D. Goleman (2007), Trí tuệ cảm xúc, ứng dụng trong công việc [14]:

“Không hiểu được những cảm xúc của chính bản thân mình hay không

ngăn cản được việc chúng làm ngập tràn lòng ta thì chúng ta sẽ rơi vào tình

trạng hoàn toàn không hiểu được tâm trạng của người khác” [14, tr.230].

Trong quan hệ với đối tượng, điều tra viên có hiểu biết cảm xúc cao thường

có khả năng phán đoán, nhận ra và đáp ứng ở chừng mực tốt nhất những nhu cầu

và mong muốn của họ. Ngoài ra, cá nhân điều tra viên còn biết nuôi dưỡng các cơ

hội thông qua các mối quan hệ của bản thân với các đối tác trong chừng mực nhất

định, khía cạnh này thể hiện ở khả năng nhận ra và hiểu được các dòng cảm xúc

của đối tượng, đối tác để có hành vi ứng xử phù hợp. Biểu hiện năng lực thấu hiểu

cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra Bộ Công an:

- Hiểu rõ cảm xúc của bản thân trong tình huống điều tra;

- Hiểu rõ cảm xúc nào đang “xâm chiếm” đối tượng trong tình huống

điều tra;

68

- Hiểu rõ diễn biến cảm xúc của đối tượng trong tình huống điều tra;

- Hiểu rõ tâm trạng phức hợp của đối tượng trong tình huống điều tra;

- Đưa mình vào cảm xúc tích cực để nhìn nhận tình huống xảy ra dưới

nhiều góc độ.

Tóm lại, để điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

có thể cảm nhận, thấu cảm, đồng cảm với những cảm xúc của bản thân,

đối tượng, đối tác,…trước hết điều tra viên cần có khả năng tự nhận thức,

“đọc” được cảm xúc và phân biệt được các dấu hiệu bản chất của bản thân

và đối tượng, bị can, người làm chứng hay những lực lượng có liên quan.

Hiểu được cảm xúc còn đòi hỏi điều tra viên phải gạt sang một bên những

cảm xúc riêng của bản thân để có thể tiếp nhận và phân biệt một cách rõ

ràng những tín hiệu cảm xúc của người khác để đưa ra những hành vi, ứng

xử và quyết định khéo léo, thông minh. Từ đó, điều tra viên có thể đạt

được những kết quả tốt trong hoạt động nghề nghiệp.

2.3.1.3. Năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh

điều tra thuộc Bộ Công an

Năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên là khả năng điều tra viên

linh hoạt sử dụng những cảm xúc của mình trong quá trình tiếp xúc với đối

tượng nhằm đạt được hiệu quả của hoạt động điều tra.

Việc vận dụng cảm xúc sẽ giúp cho điều tra viên luôn có cách giải

quyết vấn đề một cách nhanh chóng và hiệu quả. Không chỉ vậy, điều này

giúp cho điều tra viên luôn làm chủ mọi tình huống, tránh bị rơi vào thế bị

động; hạn chế những thất bại không đáng có trong hoạt động điều tra.

Năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên thể hiện rõ trong việc

sử dụng cảm xúc trong suy nghĩ cũng như giải quyết các vấn đề, tình

huống phát sinh trong công việc. Nói một cách cụ thể hơn, năng lực này

thể hiện ở việc cảm xúc hỗ trợ tư duy, hành động một cách có hiệu quả và

giúp cho óc phán đoán, trí nhớ của điều tra viên hoạt động hiệu quả hơn.

Kết quả nghiên cứu của nhà thần kinh học Antonio Damasio chỉ ra rằng

69

những cảm xúc là nền tảng của việc đưa ra những quyết định đúng đắn.

Theo ông, cảm xúc hoạt động như là những hướng dẫn bên trong và giúp

chúng ta kết nối với những dấu hiệu khác mà dấu hiệu này cũng có thể

hướng dẫn những cảm xúc. Điều tra viên có trí tuệ cảm xúc có thể sử

dụng tối đa năng lực cảm xúc trong việc đưa ra những quyết định đúng đắn.

Năng lực này ở điều tra viên còn thể hiện ở việc cân nhắc để phân biệt cảm xúc

với ý nghĩ và làm cho cảm xúc định hướng có chủ ý.

Các cảm xúc có thể hạn chế hoặc tăng thêm năng lực suy nghĩ và hoạch

định của điều tra viên để đạt tới mục đích lâu dài, giải quyết các vấn đề…

Điều tra viên biết sử dụng cảm xúc của bản thân một cách có ý thức có thể

làm tăng năng lực tư duy uyển chuyển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên

kết các ý tưởng, cho phép khám phá ra những mối liên hệ, dự đoán được hệ

quả các quyết định… Vì thế, năng lực giải quyết vấn đề của họ sẽ dễ dàng

hơn dù là những vấn đề lý thuyết hay vấn đề trong công việc. Điều tra viên có

năng lực “cảm xúc hoá” tư duy nhận thức được rằng một sự thay đổi trong

trạng thái cảm xúc có thể làm nảy sinh các loại năng lực giải quyết vấn đề

khác nhau. Sự thay đổi cảm xúc có thể làm ảnh hưởng đến trí nhớ, óc phán

đoán và cách giải quyết vấn đề của điều tra viên. Biểu hiện năng lực vận

dụng cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra Bộ Công an:

- Vận dụng kinh nghiệm đã có tìm ra cách giải quyết hiệu quả cho tình

huống hiện tại;

- Có kỹ năng giao tiếp, thuyết phục hiệu quả khiến đối tượng sẵn sàng

chia sẻ, khai báo thành khẩn;

- Có cách thức tác động hiệu quả đến người thân của đối tượng tạo

thuận lợi cho điều tra;

- Biết huy động cảm xúc có lợi để bản thân suy nghĩ tích cực;

- Biết huy động cảm xúc có lợi để nhìn nhận sự việc một cách đa chiều;

- Biết huy động cảm xúc có lợi để tìm ra biện pháp giải quyết mâu

thuẫn hiệu quả;

70

- Biết tìm ra phương tiện để giải toả cảm xúc tiêu cực của bản thân.

Tóm lại, năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên là năng lực vận

dụng tốt các trạng thái cảm xúc bên trong của bản thân, giúp cho họ chịu trách

nhiệm về các hành vi của mình, linh hoạt trong việc giải quyết các vấn đề,

nhất là các vấn đề nảy sinh trong điều kiện hoàn cảnh thay đổi.

2.1.3.4. Năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh

điều tra thuộc Bộ Công an

Năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên là việc điều tra viên chủ

động sử dụng cảm xúc của mình trong các mối quan hệ hay các tình huống

điều tra xảy ra.

Trong mối quan hệ với đối tượng, hay những người có liên quan đến

hoạt động điều tra,... điều tra viên không chỉ có hành vi, ứng xử hợp lý, đúng

mực với đối tượng, hoàn cảnh mục đích mà những biểu hiện đó phải hài hoà,

phù hợp với những biểu lộ của cảm xúc. Điều này phản ánh sự tham gia của ý

thức trong việc điều khiển cảm xúc của điều tra viên. Năng lực này thể hiện

tính chủ động, chủ định của cá nhân trong kiểm soát cảm xúc, do đó nó rất

quan trọng và có ích nếu cá nhân biết sử dụng đúng lúc và phù hợp. Theo J.

Mayer và P. Salovey: “Sự kiểm soát các cảm xúc - tức là có thể trì hoãn sự

thoả mãn ham muốn của mình và đè nén xung lực - là cơ sở của mọi sự hoàn

thiện”. Theo D. Goleman (2002), Trí tuệ cảm xúc: Làm thế nào để những cảm

xúc của mình thành trí tuệ [13] cho rằng thực chất điều khiển cảm xúc là bao

hàm các kỹ năng xã hội, trong đó có những kỹ năng được đề cao như: “lắng

nghe một cách cởi mở, biết chia sẻ, đồng cảm, khuyến khích động viên người

khác, hợp tác và làm việc với những con người đến từ các nền văn hoá khác

nhau để cùng học tập và chia sẻ lợi ích” [13, tr.83].

Điều khiển cảm xúc không chỉ ở bản thân điều tra viên mà còn phải điều

chỉnh cảm xúc của người khác như an ủi, động viên, xoa dịu, làm giảm các trạng

thái tiêu cực hay giúp những người có liên quan đến hoạt động điều tra… thoát

khỏi trạng thái bất ổn, bốc đồng, nhất thời như biết cách kích thích các cảm xúc

71

tiêu cực. Biết cách an ủi, nâng đỡ tinh thần cho họ trong quá trình điều tra vụ án là

một kỹ năng rất cần thiết và hữu ích mà một điều tra viên cần có.

Năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên còn được biểu hiện khi điều tra viên sử dụng cách thức tác động tâm lý nhằm tăng cường cảm xúc của bị can, của những người tham gia hoạt động điều tra có thái độ khai báo gian dối,... nhằm giúp cơ quan điều tra thu thập được chứng cứ, tài liệu có giá trị về vụ án. Biểu hiện năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra Bộ Công an:

- Điều khiển cảm xúc bản thân theo hướng tích cực trong các tình

huống điều tra;

- Biết cách lan truyền cảm xúc tích cực của bản thân đến đối tượng điều tra; - Giúp đỡ, hướng dẫn có hiệu quả đối tượng điều tra thoát khỏi suy nghĩ

và cảm xúc tiêu cực;

- Trong các tình huống điều tra có thể chủ động thể hiện cảm xúc; - Có thể gạt bỏ cảm xúc bất lợi của cá nhân trong hoạt động điều tra; - Nhanh chóng tìm ra cách thoát khỏi tâm trạng tiêu cực của bản thân; - Bình tĩnh, chủ động trước bất kỳ tình huống điều tra xảy ra. Tóm lại, biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên bao gồm năng lực

nhận biết cảm xúc của điều tra viên, năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên,

năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên và năng lực điều khiển cảm xúc của

điều tra viên thể hiện trong công việc của chính họ, trong quá trình thực hiện chức

năng, nhiệm vụ của điều tra viên trong hoạt động nghề nghiệp.

Các biểu hiện trong cấu trúc trí tuệ cảm xúc của điều tra viên phát triển

từ thấp đến cao, mức độ cao nhất của trí tuệ cảm xúc là năng lực điều khiển

cảm xúc, bao gồm năng lực điều chỉnh cảm xúc của chính bản thân điều tra

viên và của người khác. Các năng lực trí tuệ cảm xúc có mối quan hệ biện

chứng, đan xen và hoà quyện vào nhau, chúng là nền tảng của nhau. Một điều

tra viên thật sự có trí tuệ cảm xúc ít nhất phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn và

linh hoạt giữa các năng lực đó. Tuy nhiên, cần lưu ý là mỗi điều tra viên có

những biểu hiện ở các năng lực trí tuệ cảm xúc khác nhau. Đơn cử như một

72

điều tra viên có năng lực nhận biết cảm xúc nhạy bén nhưng không có năng

lực điều chỉnh, kiểm soát cảm xúc của bản thân. Mức độ biểu hiện các nội

dung cụ thể trong từng năng lực trí tuệ cảm xúc cũng khác nhau, cụ thể như

một số điều tra viên có thể chế ngự sự lo lắng của bản thân nhưng không biết

làm dịu những lo lắng của người khác.

Trong luận án chúng tôi căn cứ vào các biểu hiện nêu trên làm tiêu chí

để xác định biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra

thuộc Bộ Công an.

Các biểu hiện này được nhìn nhận và đánh giá trong hoạt động nghề

nghiệp của họ. Những công việc hàng ngày, những trách nhiệm cụ thể, những

quyền hạn được thực thi hay những chiến lược xử lý công việc của cá nhân điều

tra viên sẽ là những cơ hội hay những hoàn cảnh trí tuệ cảm xúc của điều tra

viên được bộc lộ và thể hiện rõ. Dựa trên việc đánh giá từng thành phần này của

trí tuệ cảm xúc ở điều tra viên sẽ có thể đo lường được mức độ trí tuệ cảm xúc

của họ hay chỉ số EQ của họ. Lẽ đương nhiên, việc đánh giá này cần được thực

hiện dựa trên những công cụ đo mang tính khách quan và hữu dụng. Mức độ trí

tuệ cảm xúc của điều tra viên tốt hay không phụ thuộc vào các năng lực cụ thể

đã đề cập trên xét ở bình diện khái quát cũng như cụ thể. Đó chính là việc xem

xét chỉ số EQ đo được tổng thể cũng như con số tìm được ở từng năng lực thành

phần của trí tuệ cảm xúc ở điều tra viên đã được xác lập như chỉ báo nghiên cứu.

Hiện nay có nhiều trắc nghiệm được dùng để đo trí tuệ cảm xúc. Xuất

phát từ mô hình trí tuệ cảm xúc theo kiểu thuần năng lực hay hỗn hợp mà các

trắc nghiệm trí tuệ cảm xúc được thiết kế tương ứng. Trong đó, trắc nghiệm

MSCEIT của John Mayer, Peter Salovey và David Caruso, version 2.0, 2002,

dành cho người lớn từ 16 tuổi trở lên. MSCEIT là một loại trắc nghiệm được

thiết kế để đo bốn nhánh EI theo mô hình thuần năng lực của Mayer và

Salovey (1997) bao gồm: nhận biết cảm xúc, cảm xúc hoá tư duy, hiểu biết

cảm xúc và điều khiển, kiểm soát cảm xúc. MSCEIT là thang đo nhằm đo

lường cách thức nào con người thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải quyết các

73

vấn đề cảm xúc. Mặt quan trọng nhất của các bài kiểm tra như MSCEIT là nó

không yêu cầu người ta báo cáo trình độ của mình. Chúng tôi chọn MSCEIT

làm thang đo lường trí tuệ cảm xúc trong đề tài này. Bên cạnh đó, việc khảo

sát trí tuệ cảm xúc của điều tra viên nên được thực hiện bằng những công cụ

đo gắn liền với nghề nghiệp nên hướng nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của điều

tra viên bằng một công cụ đặc thù cũng được triển khai.

2.3.2. Mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều

tra thuộc Bộ Công an

Dựa trên các biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh

điều tra thuộc Bộ Công an, đồng thời trên cơ sở phân bố điểm chuẩn và độ

lệch chuẩn về mức độ trí tuệ cảm xúc, chúng tôi đánh giá mức độ trí tuệ cảm

xúc dựa trên các mức độ từ thấp đến cao. Trong đó mức thấp nhất là 1, mức

cao nhất là 3. Cụ thể quy ước đánh giá trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục

An ninh điều tra thuộc Bộ Công an bao gồm có 3 mức độ sau: mức 1 - thấp;

mức 2 - trung bình; mức 3 - cao. Việc xác định mức độ dựa trên các tiêu chí

tuân theo nguyên tắc tích hợp của 4 năng lực thành phần biểu hiện như sau:

- Nếu trong trí tuệ cảm xúc có cả 4 năng lực thành phần cùng ở một

mức nào đó thì trí tuệ cảm xúc chung được đánh giá ở mức đó.

- Nếu trí tuệ cảm xúc có 3 năng lực thành phần biểu hiện cùng ở một mức nào

đó và mặt còn lại ở mức liền kề hoặc không liền kề thì trí tuệ cảm xúc chung được

đánh giá ở mức của 3 năng lực thành phần có cùng mức độ.

- Nếu trí tuệ cảm xúc có 2 năng lực thành phần biểu hiện ở mức nào đó và

2 năng lực còn lại ở mức liền kề hoặc ở 2 mức khác nhau, thì trí tuệ cảm xúc

chung được đánh giá bằng mức độ của điểm trung bình chung.

- Nếu trí tuệ cảm xúc có 4 năng lực thành phần biểu hiện ở các mức độ

khác nhau thì trí tuệ cảm xúc chung được đánh giá bằng điểm mức độ của

trung bình chung của toàn thang đo.

Cụ thể biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh

điều tra thuộc Bộ Công an ở từng mức như sau:

74

Mức 1 (Thấp)

Năng lực nhận biết cảm xúc: Việc nhận biết cảm xúc của bản thân và đối

tượng trong hoạt động điều tra còn hạn chế. Cụ thể, khó khăn trong nhận biết

được cảm xúc ưu trội của bản thân khi đối mặt với tình huống; nhận biết

không rõ ràng mối quan hệ giữa cảm xúc và hành vi của đối tượng điều tra; còn

có sai sót trong nhận biết sự chuyển đổi cảm xúc của đối tượng điều tra; không

hiểu rõ cảm xúc nào đang “xâm chiếm” bản thân trong tình huống điều tra;

chưa thường xuyên đánh giá được trạng thái cảm xúc của đối tượng qua hành

vi, điệu bộ, cử chỉ. Mặt khác, trong sinh hoạt, học tập công tác hàng ngày việc

sử dụng ngôn ngữ có lúc không phù hợp, thiếu chặt chẽ, tỏ ra thiếu tự tin trong

một số hoạt động giao tiếp và điều tra.

Năng lực thấu hiểu cảm xúc: năng lực hiểu rõ cảm xúc của bản thân và

đối tượng trong tình huống điều tra còn hạn chế; chưa hiểu rõ diễn biến cảm xúc

của đối tượng trong tình huống điều tra; nhận định tâm trạng phức hợp của đối

tượng trong tình huống điều tra còn sai sót; đôi khi chưa chủ động đưa mình

vào cảm xúc tích cực để nhìn nhận tình huống xảy ra dưới nhiều góc độ.

Năng lực vận dụng cảm xúc: đó là những điều tra viên còn hạn chế

trong vận dụng kinh nghiệm đã có để tìm ra cách giải quyết hiệu quả cho tình

huống hiện tại; kỹ năng giao tiếp, thuyết phục chưa hiệu quả hiệu quả khiến

đối tượng không sẵn sàng chia sẻ, khai báo thành khẩn; cách thức tác động

đến người thân của đối tượng còn đơn điệu, cứng nhắc, chưa tạo thuận lợi cho

điều tra; chưa huy động có hiệu quả cảm xúc có lợi để bản thân suy nghĩ tích

cực hoặc để nhìn nhận sự việc một cách đa chiều, tìm ra biện pháp giải quyết

mâu thuẫn hiệu quả; việc tìm ra phương tiện để giải toả cảm xúc tiêu cực của

bản thân còn hạn chế.

Năng lực điều khiển cảm xúc: những điều tra viên này thường lúng túng

trong xử lý những tình huống mới trong hoạt động điều tra. Khó khăn trong điều

khiển cảm xúc bản thân theo hướng tích cực trong các tình huống điều tra;

chưa biết cách lan truyền cảm xúc tích cực của bản thân đến đối tượng điều tra;

75

giúp đỡ, hướng dẫn ít hiệu quả đối tượng điều tra thoát khỏi suy nghĩ và cảm

xúc tiêu cực; trong các tình huống điều tra chưa chủ động thể hiện cảm xúc và

gạt bỏ cảm xúc bất lợi của cá nhân; chậm tìm ra cách thoát khỏi tâm trạng tiêu

cực của bản thân; thường không giữ được thái độ bình tĩnh, chủ động trước

diễn biến phức tạp, bất ngờ của tình huống điều tra.

Quá trình thực hiện các nhiệm vụ được giao ở đơn vị, các điều tra viên này

thường hoàn thành ở mức thấp.

Điểm tương ứng cho mức độ này trong khoảng 1 ≤ ĐTB ≤ 1,66

Mức 2 (Trung bình)

Năng lực nhận biết cảm xúc: Việc nhận biết cảm xúc của bản thân và đối

tượng trong hoạt động điều tra ở mức trung bình. Cụ thể, đôi khi gặp khó khăn

trong nhận biết được cảm xúc ưu trội của bản thân khi đối mặt với tình huống

điều tra; nhận biết chưa thật rõ ràng mối quan hệ giữa cảm xúc và hành vi của

đối tượng điều tra; thỉnh thoảng còn có sai sót trong nhận biết sự chuyển đổi

cảm xúc của đối tượng điều tra; thường không hiểu rõ cảm xúc nào đang

“xâm chiếm” bản thân trong tình huống điều tra; đôi khi chưa đánh giá chính

xác được trạng thái cảm xúc của đối tượng qua hành vi, điệu bộ, cử chỉ. Mặt

khác, trong sinh hoạt, học tập công tác hàng ngày việc sử dụng ngôn ngữ có lúc

thiếu chặt chẽ, đôi khi tỏ ra thiếu tự tin trong hoạt động giao tiếp và điều tra.

Năng lực thấu hiểu cảm xúc: năng lực hiểu rõ cảm xúc của bản thân và

đối tượng trong tình huống điều tra còn một số hạn chế; đôi khi chưa hiểu rõ

diễn biến cảm xúc của đối tượng trong tình huống điều tra; nhận định tâm trạng

phức hợp của đối tượng trong tình huống điều tra chưa thật rõ ràng; thỉnh

thoảng gặp khó khăn trong việc chủ động đưa mình vào cảm xúc tích cực để

nhìn nhận tình huống xảy ra dưới nhiều góc độ.

Năng lực vận dụng cảm xúc: vận dụng kinh nghiệm đã có để tìm ra

cách giải quyết hiệu quả cho tình huống hiện tại chưa thật tốt; kỹ năng giao

tiếp, thuyết phục có lúc chưa hiệu quả hiệu quả khiến đối tượng không sẵn

sàng chia sẻ, khai báo thành khẩn; cách thức tác động đến người thân của đối

76

tượng còn đơn giản, chưa thật sự tạo thuận lợi cho điều tra; bước đầu huy

động có hiệu quả cảm xúc có lợi để bản thân suy nghĩ tích cực hoặc để nhìn

nhận sự việc một cách đa chiều, tìm ra biện pháp giải quyết mâu thuẫn; việc

tìm ra phương tiện để giải toả cảm xúc tiêu cực của bản thân chưa tối ưu.

Năng lực điều khiển cảm xúc: những điều tra viên này đôi khi lúng túng

trong xử lý những tình huống mới trong hoạt động điều tra. Còn gặp khó khăn

nhất định trong điều khiển cảm xúc bản thân theo hướng tích cực; bước đầu

biết cách lan truyền cảm xúc tích cực của bản thân đến đối tượng điều tra và giúp

đỡ, hướng dẫn đối tượng điều tra thoát khỏi suy nghĩ, cảm xúc tiêu cực; trong

các tình huống điều tra bước đầu chủ động thể hiện cảm xúc và gạt bỏ cảm

xúc bất lợi của cá nhân. Tuy nhiên, vẫn còn chậm tìm ra cách thoát khỏi tâm

trạng tiêu cực của bản thân và đôi khi không giữ được thái độ bình tĩnh, chủ

động trước diễn biến phức tạp, bất ngờ của tình huống điều tra.

Quá trình thực hiện các nhiệm vụ được giao ở đơn vị, các điều tra viên này

thường hoàn thành ở mức trung bình.

Điểm tương ứng cho mức độ này trong khoảng 1,66 ≤ ĐTB ≤ 2,33

Mức 3 (Cao)

Năng lực nhận biết cảm xúc: Việc nhận biết cảm xúc của bản thân và đối

tượng trong hoạt động điều tra ở mức tốt. Cụ thể, dễ dàng nhận biết được cảm

xúc ưu trội của bản thân khi đối mặt với tình huống điều tra; nhận biết rõ ràng

mối quan hệ giữa cảm xúc và hành vi của đối tượng điều tra; thường xuyên nhận

biết chính xác sự chuyển đổi cảm xúc của đối tượng điều tra; hiểu rõ cảm xúc

nào đang “xâm chiếm” bản thân trong tình huống điều tra; đánh giá chính xác

được trạng thái cảm xúc của đối tượng qua hành vi, điệu bộ, cử chỉ. Mặt khác,

trong sinh hoạt, học tập công tác hàng ngày việc sử dụng ngôn ngữ chặt chẽ, tỏ ra

thiếu tự tin trong hoạt động giao tiếp và điều tra.

Năng lực thấu hiểu cảm xúc: năng lực hiểu rõ cảm xúc của bản thân

và đối tượng trong tình huống điều tra tốt; luôn hiểu rõ diễn biến cảm xúc

77

của đối tượng trong tình huống điều tra; nhận định tâm trạng phức hợp

của đối tượng trong tình huống điều tra rõ ràng; không gặp khó khăn

trong việc chủ động đưa mình vào cảm xúc tích cực để nhìn nhận tình

huống xảy ra dưới nhiều góc độ.

Năng lực vận dụng cảm xúc: vận dụng kinh nghiệm đã có để tìm ra

cách giải quyết hiệu quả cho tình huống hiện tại tốt; kỹ năng giao tiếp, thuyết

phục hiệu quả hiệu quả khiến đối tượng sẵn sàng chia sẻ, khai báo thành

khẩn; cách thức tác động đến người thân của đối tượng còn đa dạng, linh hoạt,

mềm dẻo, hiệu quả tạo thuận lợi cho điều tra; huy động có hiệu quả cảm xúc

có lợi để bản thân suy nghĩ tích cực hoặc để nhìn nhận sự việc một cách đa

chiều, tìm ra biện pháp giải quyết mâu thuẫn; việc tìm ra phương tiện để giải

toả cảm xúc tiêu cực của bản thân tối ưu.

Năng lực điều khiển cảm xúc: những điều tra viên này dễ dàng xử lý những

tình huống mới trong hoạt động điều tra. Không gặp khó khăn trong điều khiển

cảm xúc bản thân theo hướng tích cực; biết cách lan truyền cảm xúc tích cực

của bản thân đến đối tượng điều tra và giúp đỡ, hướng dẫn đối tượng điều tra

thoát khỏi suy nghĩ, cảm xúc tiêu cực; trong các tình huống điều tra chủ động

thể hiện cảm xúc và gạt bỏ cảm xúc bất lợi của cá nhân; nhanh chóng tìm ra

cách thoát khỏi tâm trạng tiêu cực của bản thân và luôn giữ được thái độ bình

tĩnh, chủ động trước diễn biến phức tạp, bất ngờ của tình huống điều tra.

Quá trình thực hiện các nhiệm vụ được giao ở đơn vị, các điều tra viên này

thường hoàn thành ở mức tốt.

Điểm tương ứng cho mức độ này trong khoảng 2,33 ≤ ĐTB ≤ 3,0

2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở

Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

Về lý luận, trí tuệ cảm xúc chính là một thành tố tạo nên nhân cách. Vì

thế sự hình thành và phát triển khả năng cảm xúc của cá nhân cũng chịu ảnh

hưởng của các yếu tố như bẩm sinh di truyền, tư chất, các hoạt động và giáo dục.

78

Chúng tôi cho rằng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên không đến một

cách tự nhiên và chịu sự ảnh hưởng bởi những yếu tố sau:

2.4.1. Nhóm các yếu tố chủ quan

2.4.1.1. Yếu tố thể chất của điều tra viên

Di truyền không quyết định trực tiếp đến sự phát triển trí tuệ cảm xúc.

Yếu tố di truyền là tiền đề, nền tảng vật chất, là điều kiện cần cho sự hình

thành, phát triển của trí tuệ cảm xúc. Nếu có được những đặc điểm di truyền

ưu việt về hệ thần kinh, não bộ sẽ thuận lợi cho sự phát triển trí tuệ sau này.

Những đặc điểm di truyền ưu việt về hệ thần kinh, não bộ, các giác quan,…

thì sẽ có nhiều thuận lợi cho sự phát triển trí tuệ sau này và đặt ra trước chủ

thể nhiều tiềm năng khác nhau. Việc khai thác những tiềm năng đó như thế

nào còn tuỳ thuộc vào chủ thể và hoạt động của chủ thể.

Nghiên cứu các nhà khoa học đã chỉ ra rằng hai bộ phận của não là

hạnh nhân (amygdala) và cá ngựa (hippocampus) không chỉ là nơi hình

thành mà còn là nơi lưu giữ phản ứng cảm xúc. Chính vì vậy yếu tố thể chất

sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến sức khoẻ tinh thần, cảm xúc của cá nhân.

Với các tố thể chất thể lực phát triển hài hoà, toàn diện cá nhân sẽ

tham gia một cách tích cực trong các mối quan hệ giúp khả năng trí tuệ phát

triển. Nếu cá nhân không có sự phát triển bình thường về mặt thể chất hoặc

là phát triển quá nhanh, hoặc là quá chậm sẽ dễ dẫn đến sự mặc cảm, xấu hổ,

mệt mỏi và trí tuệ cảm xúc cũng bị ảnh hưởng.

Điều tra viên là những người đã được tuyển chọn trong một quá trình

khắt khe, yêu cầu cao về thể chất. Đó là những người phải đảm bảo về mặt

cân nặng, chiều cao và phải có sức khoẻ tốt mới được tuyển chọn vào lực

lượng. Do đó, điều tra viên phải là những người có thể chất tốt góp phần

đảm bảo cho trí tuệ cảm xúc của điều tra viên được phát triển, thậm chí sẽ

được phát triển một cách tích cực, toàn diện. Ngược lại, nếu không đảm bảo

điều kiện về thể chất sẽ tạo ra những khó khăn cho phát triển trí tuệ cảm xúc

của điều tra viên.

79

2.4.1.2. Các thuộc tính tâm lý nhân cách của điều tra viên

Yếu tố chủ thể, trong đó tính tích cực hoạt động của chính cá nhân là yếu

tố quyết định trực tiếp sự phát triển trí tuệ cảm xúc của cá nhân đó. Những tiềm

năng trí tuệ của cá nhân có được phát huy hay không là tuỳ thuộc vào tính chất

hoạt động, khai thác của cá nhân đó. Trí tuệ cảm xúc cao hay thấp chủ yếu do

hoạt động và giao lưu của cá nhân với môi trường xã hội. Cụ thể:

Khí chất là đặc điểm chung nhất của mỗi con người, là đặc điểm cơ bản

của hệ thần kinh, tạo ra các diện mạo nhất định của toàn bộ hoạt động ở mỗi

cá thể. Dựa trên cơ sở phân loại của hệ thần kinh, các dạng thần kinh này có

bốn loại khí chất tương ứng: sôi nổi, linh hoạt, ưu tư và điềm tĩnh.

Dưới góc độ chung nhất thì sự hoà nhập của các quá trình thần kinh và khí

chất tạo nên những nét cơ bản của những đặc điểm riêng của cá tính và hành vi

con người. Trí tuệ cảm xúc sẽ chịu chi phối bởi những khí chất ở những cá nhân

khác nhau. Đơn cử như một cá nhân có khí chất linh hoạt thì phản ứng hành vi

của họ sẽ nhanh hơn, đôi lúc “sự nhanh” ấy lại thiếu thận trọng và để lại một vài

thiếu sót trong ứng xử, giải quyết vấn đề hơn so với cá nhân có khí chất điềm

tĩnh. Hoặc cá nhân ưu tư thì ở họ sự nhạy cảm lại cao, từ đó khó kiềm chế được

những cảm xúc, dễ dàng bộc lộ chúng. Điều này cũng có thể ảnh hưởng không

tích cực đối với công việc, nhất là khi tiếp xúc với các đối tượng.

Đối với điều tra viên, không có kiểu khí chất nào là tối ưu cho nghề

nghiệp hay sự thành công trong nghề nghiệp. Sự hoà trộn giữa các khí chất

với các ưu điểm là một lợi thế để họ biết cách sử dụng cảm xúc của mình một

cách hiệu quả nhất trong công việc. Việc mỗi điều tra viên nhận biết được bản

thân mình có khí chất nào để biết cách điều chỉnh những hạn chế và phát huy

thế mạnh trong khí chất để có những ứng xử phù hợp trong công việc là điều

cần thiết trong việc phát triển trí tuệ cảm xúc cho họ.

Tính cách của điều tra viên cũng có những ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc

của họ. Hệ thống thái độ tích cực đối với xã hội nói chung và đối với con người

nói riêng sẽ giúp cho chính bản thân điều tra viên thích ứng với những thay đổi

biến động của công việc, của xã hội và đồng thời giúp họ cân bằng cuộc sống.

80

Bên cạnh năng lực trí tuệ cảm xúc, trí tuệ cảm xúc cần có những năng

lực nghề nghiệp và những năng lực khác như giải quyết vấn đề, ra quyết định,

thuyết trình. Chính những năng lực này cũng góp phần không nhỏ vào việc

nâng cao trí tuệ cảm xúc cho bản thân. Năng lực chuyên môn là năng lực đặc

trưng trong những lĩnh vực nhất định của xã hội như năng lực lãnh đạo, năng

lực tổ chức quản lý, năng lực kiến trúc, hội hoạ... Trong lĩnh vực điều tra,

năng lực chuyên môn là năng lực chuyên sâu vào từng hoạt động như: năng

lực xác minh, năng lực khám nghiệm hiện trường, năng lực hỏi cung bị can,

năng lực lấy lời khai người bị hại, người làm chứng... Năng lực chuyên môn

bao gồm hệ thống các thuộc tính, các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo... giúp cá nhân

hoàn thành tốt công việc chuyên môn của mình. Đối với các điều tra viên,

năng lực chuyên môn của họ chính là khả năng xây dựng kế hoạch điều tra;

khả năng xác minh sự việc phạm tội, xác minh quan hệ trong hoạt động điều

tra; sự thành thạo trong các hoạt động hỏi cung bị can, lấy lời khai người bị

hại, người làm chứng; sự linh hoạt xử lý các tình huống điều tra... Năng lực

chuyên môn hoạt động điều tra được cấu thành từ hệ thống kiến thức cơ bản,

sự am hiểu luật pháp, kiến thức chính trị, khả năng quan sát, hệ thống kỹ năng

giao tiếp cũng như sự thành thạo các thao tác nghiệp vụ điều tra. Các thuộc

tính tâm lý trên đây được điều tra viên lĩnh hội, tiếp thu qua quá trình học tập,

đào tạo; được tích luỹ, phát triển trong hoạt động thực tiễn của mình.

Năng lực chung và năng lực riêng có quan hệ hữu cơ với nhau. Năng

lực chung là cơ sở của năng lực riêng, năng lực chung phát triển càng cao thì

càng tạo ra những tiền đề to lớn cho sự phát triển năng lực chuyên môn.

Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn, trong những điều kiện nhất

định có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển năng lực chung, đến sự phát

triển trí tuệ của cá nhân. Hơn nữa trong thực tế cuộc sống, mỗi hoạt động đều

đề ra những yêu cầu nhất định đối với cá nhân cả về năng lực chung và năng

lực chuyên môn. Bởi vậy, không nên chỉ bồi dưỡng con người và phát triển

năng lực cá nhân bó hẹp trong một mặt, trong một lĩnh vực cụ thể nào đó. Chỉ

81

có sự phát triển toàn diện của cá nhân mới đảm bảo phát hiện và bồi dưỡng

những năng lực chung và năng lực chuyên môn trong thể thống nhất, hoàn

chỉnh, mới đảm bảo cho cá nhân đủ khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được

giao. Đây cũng là vấn đề đặt ra cần nghiên cứu kỹ lưỡng nhằm xác định các

biện pháp hình thành và phát triển năng lực của điều tra viên. Để phát triển

năng lực điều tra rất cần thiết phải tạo ra nền tảng chung về trí tuệ cho điều tra

viên; bồi dưỡng kiến thức mọi mặt, tích luỹ kinh nghiệm hoạt động thực tế...

Do đó điều tra viên cần phải học tập, bồi dưỡng những kiến thức khác có liên

quan đến việc hình thành và phát triển trí tuệ cảm xúc như: các kỹ năng như

kỹ năng quan sát nét mặt, hành vi người khác, kỹ năng lắng nghe người khác,

kỹ năng làm chủ bản thân, kiềm chế hành vi bột phát hoặc kỹ năng giải toả

các cảm xúc tiêu cực... Đây là những kỹ năng xuất hiện thường xuyên trong

quá trình giao tiếp có có ảnh hưởng khá mạnh đến năng lực trí tuệ cảm xúc

của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

Đối với việc phát triển năng lực trí tuệ cảm xúc, thái độ, động cơ của cá

nhân có ảnh hưởng rất quan trọng. Chính Caruso và Salovey khẳng định

rằng trí tuệ cảm xúc khác với động cơ, thái độ nhưng nó chịu ảnh hưởng

nhiều bởi động cơ, thái độ. Việc đào tạo nâng cao năng lực trí tuệ cảm xúc

sẽ không hiệu quả, lãng phí nếu người học không có mong muốn cải thiện

năng lực trí tuệ cảm của bản thân. Qua trao đổi với các điều tra viên, chúng

tôi nhận thấy điều tra viên thường nhận định rằng những thái độ, động cơ

của họ có ảnh hưởng đến năng lực trí tuệ cảm xúc trong giao tiếp nghiệp

vụ, đó là khi cá nhân có thái độ quan tâm, thương yêu con người, thái độ

cầu thị, tích cực học hỏi người khác để nâng cao năng lực trí tuệ cảm xúc

của bản thân, có động cơ nâng cao năng lực để hoàn thiện bản thân, hay

mong muốn nâng cao uy tín của bản thân trước tập thể, trước nhân dân.

Điều này cho thấy nếu cá nhân có thái độ, động cơ đúng đắn thì trí tuệ cảm

xúc của cá nhân cũng sẽ hoàn thiện hơn và trong quá trình giao tiếp với cá

nhân khác cũng sẽ được đánh giá cao hơn.

82

2.4.1.3. Giới tính, tuổi tác và thâm niên công tác của điều tra viên

Giới tính cũng phần nào chi phối đến trí tuệ cảm xúc của cá nhân. Phụ

nữ nhạy cảm và tinh tế hơn so với nam giới trong ứng xử nhưng lại dễ xúc

động. Nam giới khá bộc trực, thẳng thắn và giải quyết vấn đề theo phản ứng

nhanh hơn. Nữ giới sống tình cảm, nam giới lại thiên về lý trí hơn. Những đặc

điểm cơ bản này, phần nào cho thấy đặc điểm tâm lý giới tính có thể chi phối

đến trí tuệ cảm xúc của cá nhân.

Điều tra viên ngày nay không chỉ có nam giới mà tỉ lệ nữ giới làm điều

tra viên ngày càng được mở rộng và ở họ thể hiện những thành công nhất

định. Mỗi giới tính cũng có những ưu điểm khác nhau, ở nữ giới sống thiên về

cảm xúc do đó sự ứng xử của họ cũng mềm dẻo, tình cảm hơn. Ở khía cạnh

tích cực, đây là những lợi thế để phát triển trí tuệ cảm xúc. Ngược lại nam

giới, họ có óc phán đoán nhanh nhạy hơn nên dễ nắm bắt tâm lý đối tượng

cũng như sẽ cứng rắn hơn trong quá trình xử lý tình huống.

Như đã phân tích, đối với sự hình thành và phát triển của trí tuệ cảm

xúc, những kinh nghiệm là một yếu tố không thể thiếu. Những kinh nghiệm

trong việc nhận biết cảm xúc, hiểu biết cảm xúc, sử dụng cảm xúc và quản lý,

điều khiển cảm xúc được tích luỹ qua nhiều con đường khác nhau như giáo

dục gia đình, giáo dục nhà trường và sự học hỏi của cá nhân. Trong đó, có thể

nhấn mạnh, sự tự trải nghiệm, tự học hỏi của cá nhân đóng vai trò quan trọng.

Tuổi đời càng cao thì họ đã có nhiều cơ hội trải nghiệm, học hỏi hơn. Đặc biệt,

đối với điều tra viên, việc công tác càng lâu giúp họ có nhiều cơ hội thu thập và

tích luỹ nhiều bài học kinh nghiệm trong việc sử dụng, quản lý cảm xúc để có

những ứng xử tốt hơn trong mối quan hệ với đồng nghiệp, đối tác. Thực tiễn

cuộc sống luôn cung cấp cho cá nhân những bài học sống động mà trường lớp,

sách vở khó thay thế. Chính vì vậy, tuổi đời hay thâm niên công tác có ảnh

hưởng đến trí tuệ cảm xúc của cá nhân nói chung và điều tra viên nói riêng.

Mỗi một năng lực tâm lý ở cá nhân đều không tự nhiên sinh ra đã có mà

phải là kết quả của sự tích luỹ kinh nghiệm xã hội - lịch sử. Vì vậy, vốn kinh

83

nghiệm sống (trải nghiệm cuộc sống) là một trong những yếu tố chủ quan có ảnh

hưởng đến mọi năng lực tâm lý nói chung, đến năng lực trí tuệ cảm xúc nói riêng.

Bên cạnh đó, mỗi lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp lại có những kinh

nghiệm nghề nghiệp mà cá nhân phải tham gia vào hoạt động nghề nghiệp

mới thu thập, tích luỹ được những kinh nghiệm riêng - là “vốn tri thức ẩn” mà

mỗi cá nhân có được qua trải nghiệm công việc. Những điều tra viên có vốn

kinh nghiệm phong phú, khi nhìn nhận, nắm bắt vấn đề thường nhanh hơn

cũng như cách giải quyết tình huống mà họ gặp phải cũng chín chắn hơn

những người chưa có hoặc vốn kinh nghiệm còn hạn chế. Với những người

vốn kinh nghiệm chưa có hay còn hạn chế, khi bắt gặp tình huống cần phải

giải quyết nhanh óc phán đoán của họ sẽ không thể nhanh nhạy, quyết đoán.

Thậm chí một số trường hợp, khi đưa ra quyết định còn chưa chắc chắn với

quyết định đó của mình. Do đó, trong quá trình hành xử của những người có

vốn kinh nghiệm cũng sẽ thể hiện sự khéo léo và tế nhị, thuần thục hơn những

người hạn chế về điều này. Chính vì vậy vốn kinh nghiệm công tác, hoạt động

xã hội là một trong những yếu tố chủ quan sẽ có ảnh hưởng đến trí tuệ cảm

xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

2.4.2. Yếu tố khách quan

2.4.2.1. Môi trường làm việc của điều tra viên

Trong các nghiên cứu của L.X. Vưgotxki và cộng sự đã chỉ rõ môi

trường xã hội là nguồn gốc của sự phát triển tư duy xã hội của cá nhân. Các

khái niệm như “trí tuệ” chỉ có thể được lý giải trong phạm vi các quan hệ qua

lại giữa cá nhân và môi trường. Môi trường gia đình có những giá trị hết sức

quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ cảm xúc của cá nhân.

Khi hoà nhập, kết nối với nhiều thành viên khác nhau như ông bà, cha

mẹ, anh chị em ruột, vợ chồng, con cái… cá nhân sẽ bộc lộ rõ cảm xúc,

những cách cư xử trong khung cảnh riêng biệt này. Chính mối quan hệ giữa

cá nhân với các thành viên trong gia đình đặc biệt là bầu không khí gia đình

sẽ làm cho khả năng trí tuệ cảm xúc được hình thành và phát triển rất hiệu

84

quả. Nếu một điều tra viên có cuộc sống không thoải mái, đầy căng thẳng tại

gia đình hoàn toàn có thể bị mất kiểm soát về mặt cảm xúc tại nơi làm việc.

Môi trường xã hội và môi trường làm việc cũng được xem là những yếu

tố có sức ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Thực tế cho thấy tình

hình kinh tế xã hội có nhiều biến động, nhiều điều tra viên phải thực sự bản lĩnh

để đối mặt với những bất ổn, thay đổi với nhiều tình huống với tình hình chính

trị bất ổn, tình hình tội phạm gia tăng. Sự vững tin về tâm lý, sự quyết liệt trong

xử lý tình huống, sự “kiên định” nhưng “mềm mại” trong quá trình làm việc và

việc thực hiện các kỹ năng như: đàm phán, thương lượng, xử lý xung đột, xử lý

khủng hoảng đòi hỏi điều tra viên phải có trí tuệ cảm xúc tốt. Bên cạnh đó, môi

trường làm việc đặc thù của điều tra viên với những áp lực công việc, áp lực từ

phía nhà quản lý, áp lực “ở thế giữa” hay những tình huống “ở thế găng” đều là

những thách thức buộc điều tra viên luôn phải biết quản lý cảm xúc của mình,

điều tiết cảm xúc của mình và của người khác để đạt được mục tiêu giải quyết

được các tình huống nghiệp vụ mà điều tra viên đang phải xử lý.

Hoạt động điều tra diễn ra trong các hoàn cảnh khác nhau, trong sự tác

động của nhiều yếu tố chính trị, xã hội phức tạp. Môi trường tiếp xúc, hoạt

động của điều tra viên rất đa dạng và phức tạp. Đây là yếu tố ảnh hưởng rất

nhiều đến sự hình thành và phát triển tâm lý của các điều tra viên. Trong

hoạt động điều tra, điều tra viên phải tiếp xúc, xử lý nhiều mối quan hệ phức

tạp, cả quan hệ điều tra và các quan hệ xã hội khác. Điều tra viên thường

xuyên phải tiếp xúc với nhiều loại người khác nhau, với đủ loại thành phần,

nghề nghiệp, có vị trí xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. Trong số đó,

nhiều người bị kích động, mua chuộc, dụ dỗ hoặc do thấp kém về nhận thức,

bị mù quáng.v.v… mà có hành vi chống đối, vi phạm pháp luật. Cũng có

người vì động cơ vật chất, hám lợi mà sa ngã hoặc bị khống chế trong các

hoàn cảnh khác nhau mà dẫn tới phạm tội... điều tra viên cũng thường xuyên

phải tiếp xúc với những người làm chứng, người bị hại với những động cơ và

thái độ khai báo không trung thực. Tất cả đều tạo nên sự phức tạp trong quá trình

điều tra, xử lý vụ án của điều tra viên.

85

Môi trường hoạt động của điều tra viên còn là những yếu tố, những quan

hệ khác không phù hợp xuất hiện trong hoạt động điều tra. Sự tấn công mua

chuộc của các loại đối tượng; sự cám dỗ của lối sống vật chất, hưởng thụ...

Đặc biệt là trong điều kiện kinh tế thị trường, tâm lý thực dụng, sự ham

muốn làm giàu nhanh chóng, bất chính... luôn hàng ngày, hàng giờ tác

động ảnh hưởng đến mỗi người, trong đó có các điều tra viên. Sự tác động

của những quan hệ tiêu cực, của mặt trái cơ chế thị trường luôn tiêm

nhiễm, ảnh hưởng đến lối sống, phẩm chất đạo đức, tác phong nghề nghiệp

của các điều tra viên. Những tác động từ môi trường, từ hoàn cảnh phức tạp

của cuộc đấu tranh và những đặc thù trong hoạt động nghề nghiệp luôn để

lại dấu ấn trong đời sống tâm lý của mỗi điều tra viên. Trong điều kiện

cuộc sống còn nhiều khó khăn, nếu không có ý thức quyết tâm phấn đấu vươn

lên, không có ý thức tự rèn luyện bản thân, điều tra viên sẽ dễ bị sa ngã, biến

chất, dễ chấp nhận hoặc bị khuất phục trước tác động tiêu cực của môi trường.

Ảnh hưởng của môi trường hoạt động, sự tác động của các quan hệ tiêu

cực từ môi trường phức tạp của hoạt động điều tra... sẽ làm xuất hiện ở điều

tra viên các nét tâm lý tiêu cực, không phù hợp như: thiếu ý thức rèn luyện

phấn đấu vươn lên; lối sống không lành mạnh; tính tham lam, ích kỷ... dẫn

đến sự thiếu khách quan, thiếu công tâm trong điều tra vụ án...

Môi trường hoạt động điều tra phức tạp, đan xen tốt, xấu... cũng là nhân

tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành, phát triển các đặc trưng tâm lý ở

điều tra viên. Điều tra viên phải xác định tư tưởng, không ngừng rèn luyện

nâng cao bản lĩnh chính trị, có lập trường tư tưởng vững vàng, có các phẩm

chất đạo đức, lối sống trong sáng. Trong hoạt động điều tra, các phẩm chất

nghề nghiệp như: sự nhanh nhạy, xử lý linh hoạt, kịp thời trong các tình

huống điều tra, tác phong khách quan, thận trọng... cũng được hình thành,

phát triển. Đặc biệt là, năng lực tổ chức thực hiện điều tra, các kỹ năng, kỹ

xảo hoạt động điều tra cụ thể thích ứng đối với từng loại đối tượng sẽ được

hình thành đáp ứng yêu cầu của quá trình điều tra vụ án.

86

Cuộc đấu tranh chống tội phạm của lực lượng An ninh trong tình hình

mới, nhất là đối với các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia ngày càng trở

lên phức tạp. Trong điều kiện công tác có nhiều khó khăn, môi trường hoạt

động phức tạp, phải chịu nhiều tác động, tấn công mua chuộc, sự đe doạ, gây

sức ép của các thế lực thù địch và các đối tượng phạm tội, đòi hỏi mỗi điều

tra viên phải có bản lĩnh vững vàng, có quyết tâm cao, có ý thức phấn đấu

và có tinh thần cảnh giác cao độ.

Tính chất phức tạp của hoạt động điều tra; nhiệm vụ, chức năng, trách

nhiệm của Điều tra viên; thái độ thù địch, thách đố, sự ngoan cố, lỳ lợm, các

quan điểm chống đối, các thủ đoạn đối phó, trốn tránh pháp luật của đối

tượng... là những yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự hình thành các đặc điểm

tâm lý đặc trưng ở điều tra viên. Điều tra viên sẽ có những đặc điểm thể hiện

bản chất của người cán bộ điều tra như: trung thực, liêm khiết, khách quan,

công tâm; có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng; có trình độ năng lực nghiệp vụ

cần thiết... Bên cạnh đó, chính các yếu tố trên đây cũng ảnh hưởng làm xuất

hiện ở điều tra viên nhiều nét tâm lý tiêu cực, không phù hợp với đạo đức

nghề nghiệp điều tra. Trong hoạt động điều tra, do các hành vi phạm tội, ý

thức chống đối, sự ngoan cố, các thủ đoạn xảo quyệt trốn tránh pháp luật, thái

độ xấc láo, thách đố hay do các đặc điểm xấu trong nhân cách của đối tượng...

nên có thể gây ra ở điều tra viên xu hướng nhận thức, đánh giá và chứng minh

tội phạm theo các định kiến, ấn tượng chủ quan ban đầu. Tâm lý tiêu cực này

thường không có lợi, nhất là trong việc xây dựng và thiết lập mối quan hệ tâm

lý tích cực giữa điều tra viên với các đối tượng điều tra. Do có ấn tượng, định

kiến xấu về đối tượng điều tra, điều tra viên dễ có khuynh hướng áp đặt, truy

chụp, không tích cực hướng dẫn nhận thức cho đối tượng, dễ bỏ qua cơ hội sử

dụng các phương pháp tác động tích cực. Điều tra viên cũng dễ có thái độ coi

thường, khinh bỉ, đánh giá thấp các giá trị của đối tượng điều tra.

Cũng do tính chất căng thẳng, phức tạp của hoạt động điều tra mà điều

tra viên dễ rơi vào các trạng thái tâm lý căng thẳng, có sự bão hoà các phản

87

ứng trí tuệ và cảm xúc trong quá trình điều tra vụ án. Sự căng thẳng còn là

hậu quả trực tiếp của việc huy động sự nỗ lực ý chí lớn, với tinh thần trách

nhiệm cao trong quá trình thực hiện nhiều hoạt động tố tụng khác nhau của

điều tra viên; do phải xử lý nhiều kênh thông tin trái ngược về sự việc phạm

tội, về đối tượng điều tra; do những tác động tiêu cực từ phía các đối tượng

như: thái độ lì lợm, khiêu khích hay thách đố của bị can; sự thờ ơ, né tránh, vô

trách nhiệm của người làm chứng...

Khi cảm xúc bị bão hoà, tất yếu sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt

động nhận thức ở điều tra viên. Bão hoà cảm xúc làm nảy sinh những thiếu

sót chủ quan ở điều tra viên trong quá trình tìm kiếm và xác lập sự thật về vụ

án. Điều tra viên dễ có tâm lý vội vàng, thái độ nôn nóng, dẫn tới dồn ép hay

có những biểu hiện thô bạo với đối tượng điều tra, làm nảy sinh các xung đột

không đáng có giữa điều tra viên với đối tượng điều tra.

2.4.2.2. Yếu tố giáo dục của điều tra viên

Giáo dục là yếu tố đóng vai trò chủ đạo đối với quá trình hình thành và

phát triển trí tuệ cảm xúc của con người chung, điều tra viên ở Cục An ninh

điều tra nói riêng. Nếu sự giáo dục đúng hướng, sâu sắc về cảm xúc, tạo điều

kiện để trải nghiệm cuộc sống thì những biểu hiện của trí tuệ cảm xúc sẽ có

cơ hội phát triển cao.

Yếu tố giáo dục ở đây được phân tích dựa trên các tác động giáo dục có

chủ đích trong đó tập trung nhiều vào cách thức, biện pháp giáo dục và quan

hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục. Ở trường học, tác động của

giáo viên đến cá nhân mang một ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển trí tuệ

cảm xúc. Chính cách thức và các biện pháp tổ chức của người giáo viên sẽ tạo

ra những cơ hội đích thực khơi gợi các phẩm chất trí tuệ cảm xúc để rồi từ đó,

trí tuệ cảm xúc của cá nhân có sự biến đổi thực sự về chất.

Trong gia đình, quan hệ và sự tác động của cha mẹ với cá nhân cũng

có vai trò đặc biệt quan trọng. Chính cung cách đối xử vừa phải, hợp lý và sự

đầu tư toàn diện cũng như quan hệ thân thiện, thoải mái sẽ góp phần giúp cho

88

các phẩm chất trí tuệ được hình thành và phát triển. Đặc biệt hơn, với sự phát

triển trí tuệ cảm xúc thì đây là một yếu tố có sức ảnh hưởng đặc biệt quan

trọng. Nếu sự giáo dục sâu sắc về cảm xúc, tạo điều kiện để trải nghiệm cuộc

sống thì những biểu hiện của trí tuệ cảm xúc sẽ có cơ hội phát triển cao. Giáo

dục là con đường hữu hiệu để hình thành những trí tuệ cảm xúc.

Điều tra viên xử lý tình huống thành công có thể đã được thụ hưởng sự

giáo dục trước đó. Có thể là sự giáo dục tự phát theo kiểu thích nghi hoặc do

giáo dục gia đình. Hoặc cũng có thể do được đào tạo chính qui. Hoặc do tự

rèn luyện. Con đường giáo dục là con đường hiệu quả nhất trong việc hình

thành trí tuệ cảm xúc nhưng đáng tiếc là cho đến ngày nay vẫn còn rất ít nơi

có một chương trình huấn luyện trí tuệ cảm xúc một cách bài bản. Thách thức

này cần được quan tâm và giải quyết trong thực tiễn hôm nay.

2.4.2.3 Hoạt động và giao tiếp trong thực tiễn hoạt động điều tra của

điều tra viên

Con người có khả năng thích ứng cao. Vì thế khi được tham gia vào

những hoạt động nghề nghiệp một cách thường xuyên, họ sẽ có những năng lực

cảm xúc trong lĩnh vực ấy. Tuy nhiên khả năng ấy có được gọi là trí tuệ cảm xúc

hay không lại tuỳ thuộc vào vấn đề giáo dục cũng như tự ý thức của cá nhân.

Đối với điều tra viên có thể đề cập đến những trải nghiệm, những kinh

nghiệm sống sẽ góp phần phát triển trí tuệ cảm xúc cho bản thân họ. Theo Lim và

Daft (2004): nhiều kỹ năng và phẩm chất vốn có của lãnh đạo là điều không thể

hoàn toàn học hỏi từ sách vở, mà nó được xây dựng từ những kinh nghiệm và sự

thực hành thường xuyên [Dẫn theo 14, tr.56]. Chính vì vậy, cá nhân có tuổi đời

cao thì trí tuệ cảm xúc của họ cũng có xu hướng cao hơn so với cá nhân trẻ tuổi.

Thêm vào đó, mỗi nghề nghiệp lại có những đặc trưng, những yêu

cầu riêng về công việc. Những yếu tố đặc trưng của nghề nghiệp cũng chi

phối đến sự phát triển của trí tuệ cảm xúc. Những yêu cầu về phẩm chất

trong công việc, bầu không khí làm việc, môi trường làm việc và các mối quan

hệ trong công việc. Đây đều là những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ

89

cảm xúc của mỗi cá nhân. Điều tra viên đảm nhận vai trò công việc với tâm thế

khác với những người chịu trách nhiệm công việc với tâm thế khác mà không

phải điều tra viên. Họ thường có các biểu lộ cảm xúc thoải mái hơn những điều

tra viên đang phải chịu trách nhiệm chính trong từng tình huống. Chính vị thế

này cũng ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của họ trong công việc.

Bên cạnh các yếu tố trên, không thể bỏ qua tính tích cực hoạt động của

cá nhân là yếu tố quyết định trực tiếp sự phát triển trí tuệ cảm xúc của cá nhân

đó. Những tiềm năng trí tuệ của cá nhân có được phát huy hay không là tuỳ

thuộc vào tính chất hoạt động của cá nhân đó. Trí tuệ cảm xúc cao hay thấp

chịu ảnh hưởng của hoạt động và giao lưu của cá nhân với môi trường xã hội.

Chính sự tích cực của cá nhân tham gia vào các mối quan hệ xã hội khác

nhau, tích cực học tập, tích cực nhận thức, chiêm nghiệm cuộc sống để rèn

luyện trí tuệ cảm xúc là điều quan trọng. Hoạt động cá nhân và tính chủ thể

đóng vai trò quyết định trực tiếp đối với sự phát triển trí tuệ nói chung và trí

tuệ cảm xúc nói riêng. Trong luận án này, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh

hưởng đến thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra

thuộc Bộ Công an được thực hiện tập trung vào các yếu tố cơ bản và mang

tính cụ thể. Đặc biệt là phân tích ảnh hưởng của công việc, các mối quan hệ,

thói quen trong hoạt động cá nhân điều tra viên.

2.4.2.4. Đối tượng tiếp xúc điều tra của điều tra viên

Đối tượng tiếp xúc, đấu tranh của điều tra viên trong hoạt động điều

tra rất phong phú, đa dạng. Đó là những người thuộc các các tầng lớp, địa vị,

lứa tuổi, dân tộc, tôn giáo... khác nhau. Theo quy định của pháp luật, đây là

những người có liên quan đến vụ án hay những người tham gia hoạt động điều

tra, bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, người làm chứng, người bị hại, người

nhận dạng, người tham gia đối chất... Do vị trí tố tụng của mỗi người khác

nhau nên tâm lý của họ thường không giống nhau. Tuy nhiên, tất cả đều có tác

động ảnh hưởng đến điều tra viên, đặc biệt là những đối tượng điều tra. Khác

với khi còn đang tiến hành các hoạt động phạm tội ở bên ngoài, những đối

tượng này đã bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, đã bị khởi tố hình sự.

90

Trong quá trình điều tra vụ án, nhất là các vụ án đặc biệt nghiêm trọng,

các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, người cán bộ điều tra phải tiếp xúc và

trực diện đấu tranh với các đối tượng rất nguy hiểm, xảo quyệt. Đó là những

tên trùm buôn lậu, chỉ huy các tổ chức tội phạm, những đối tượng tham

nhũng... Do bản chất tham lam, hám lợi, lại có nhiều thủ đoạn trốn tránh pháp

luật, mua chuộc, tác động thậm chí dựa thế, cậy quyền... các đối tượng này

thường ngoan cố, có nhiều thủ đoạn tác động, gây sức ép với điều tra viên

trong quá trình điều tra. Đối tượng điều tra trong các vụ án xâm phạm an ninh

quốc gia là những tên cầm đầu các đảng phái phản động, các lực lượng chính

trị đối lập, kể cả lưu vong ở nước ngoài. Những tên nguỵ quân, nguỵ quyền cũ

có quá trình cộng tác làm tay sai cho địch. Những người đã từng làm gián

điệp cho các thế lực thù địch trước đây. Các phần tử “cơ hội chính trị”, có

khuynh hướng tư tưởng xã hội dân chủ, có quan điểm, tư tưởng đối lập

với Đảng. Những người vốn là cán bộ, đảng viên, văn nghệ sĩ, trí thức từ

bất mãn vì lợi ích cá nhân dẫn đến hoạt động chống đối Nhà nước, chống

đối chế độ. Những đối tượng phản động lợi dụng tôn giáo, nhất là những

người có chức sắc trong các tôn giáo. Những đối tượng phản động trong

các dân tộc thiểu số... Đặc điểm nổi bật ở những đối tượng trên đây là có

quan điểm, tư tưởng thù địch sâu sắc với cách mạng, có ý thức thâm thù

giai cấp. Nhiều người trong số họ được đào tạo cơ bản, có trình độ lý luận

cao, thậm chí đã từng giữ các chức vụ cao trong Đảng hay trong các cơ

quan của Nhà nước. Hoạt động chống đối của các đối tượng này có hệ

thống, có bản lĩnh, rất quyết liệt và thường được sự tiếp tay, hậu thuẫn

của các cá nhân, tổ chức hay các thế lực thù địch bên ngoài. Trong quá

trình hoạt động và cả khi đã bị bắt, những đối tượng này thường chứng tỏ

"bản lĩnh" của mình, rất ngoan cố, có nhiều kinh nghiệm và thủ đoạn trốn

tránh sự phát hiện, điều tra, xử lý của ta... Nhiều đối tượng trong số họ

luôn tìm cách tác động trở lại đối với điều tra viên như: phản ứng gay gắt,

thách đố, tranh luận, coi thường, hoặc tìm cách tác động, mua chuộc...

91

Khi còn hoạt động ở bên ngoài, các đối tượng xâm phạm an ninh quốc

gia luôn tìm cách lợi dụng tình hình bên quốc tế và trong nước có lợi cho

chúng để đẩy mạnh và mở rộng các hoạt động chống đối cách mạng nhằm đi

đến xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các hoạt động này thường

được gắn liền với vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”; hoặc tìm cách tác động

vào những vấn đề chính trị, xã hội nhạy cảm để đổi trắng thay đen, trốn tránh

pháp luật, tác động can thiệp gây khó khăn cho hoạt động điều tra, xử lý của

ta. Khi bị bắt, bị tạm giam để điều tra, xử lý thì chống đối quyết liệt, tỏ rõ thái

độ thù địch hay ngoan cố, lỳ lợm không chịu khai báo. Bằng các thủ đoạn đối

phó tinh vi hòng che giấu hành động phạm tội, trốn tránh pháp luật, tìm mọi

cách để được can thiệp, thả ra... các đối tượng luôn gây khó khăn cho công tác

điều tra, xử lý của ta. Trong điều kiện như vậy, hoạt động điều tra, khám phá

vụ án của cơ quan an ninh điều tra là hết sức phức tạp, gặp nhiều khó khăn.

Đặc điểm trên đây cũng cho thấy tính chất gay gắt, quyết liệt của công tác

phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm bảo vệ an ninh quốc gia trong tình

hình hiện nay. Nó cũng đòi hỏi mỗi điều tra viên trong lực lượng An ninh

nhân dân phải không ngừng học tập nâng cao trình độ mọi mặt, rèn luyện bản

lĩnh vững vàng trong tiếp xúc và đấu tranh với đối tượng mới có thể đáp ứng

được yêu cầu, nhiệm vụ của hoạt động điều tra. Đồng thời điều tra viên phải

có trí tuệ cảm xúc tích cực mới đem lại hiệu quả cho công việc.

Như vậy, trí tuệ cảm xúc chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của rất nhiều yếu tố

khác nhau, trong đó được chia làm hai nhóm yếu tố: nhóm các yếu tố chủ

quan và nhóm các yếu tố khách quan. Mỗi yếu tố có những ảnh hưởng nhất

định đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ

Công an đòi hỏi họ biết phát huy vai trò các yếu tố trong những mặt tích cực

và hạn chế những mặt tiêu cực của các yếu tố đó.

92

Kết luận chương 2

Dựa trên kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học ở Việt Nam và trên

thế giới; kết hợp với ý kiến nhận định của các chuyên gia; những văn bản

pháp quy của Bộ Công an về điều tra viên và hoạt động điều tra, trong lý luận

về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

đã xây dựng và phân tích làm rõ các khái niệm như: trí tuệ, cảm xúc, trí tuệ cảm

xúc và đưa ra quan niệm cho rằng: Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên là một

dạng năng lực tổng hợp gồm năng lực nhận biết, hiểu rõ cảm xúc của bản thân,

của những người có liên quan đến hoạt động điều tra; năng lực vận dụng cảm

xúc vào suy nghĩ, điều khiển cảm xúc của bản thân và những người có liên quan

nhằm đạt được hiệu quả cao trong công việc.

Căn cứ nhiệm vụ, chức trách cũng như đặc điểm hoạt động điều tra của

điều tra viên ở cục ANĐT, cùng hệ thống phương pháp nghiên cứu của Tâm

lý học. Luận án chỉ ra biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của điều tra viên bao gồm

4 mặt biểu hiện gồm: (1) Năng lực nhận biết cảm xúc - khả năng phát hiện

giải mã các cảm xúc trên gương mặt, tranh ảnh, giọng nói; (2) Năng lực thấu

hiểu cảm xúc - khả năng thấu hiểu, hiểu rõ các mối quan hệ phức tạp giữa các

cảm xúc và khả năng nhận biết và mô tả các cảm xúc thay đổi theo thời gian;

Năng lực vận dụng cảm xúc; Năng lực điều khiển cảm xúc của bản thân và

của người khác. Đây cũng là các tiêu chí để đánh giá thực trạng trí tuệ cảm

xúc của điều tra viên ở luận án.

Tiếp cận trí tuệ cảm xúc của điều tra viên là tổng hợp các năng lực thành

phần, được hình thành và phát triển trong thực tiễn hoạt động điều tra của điều

tra viên sẽ chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Trong phạm vị nghiên

cứu của luận án đã xác định và làm rõ 3 yếu tố chủ quan và 4 yếu tố khách quan

có ảnh hưởng mạnh nhất đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên hiện nay.

93

Chương 3

TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Tổ chức nghiên cứu

3.1.1. Đơn vị nghiên cứu Luận án được nghiên cứu, khảo sát ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ

Công an được chia ra thành 2 cơ sở tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Thời gian qua, lực lượng ANĐT luôn nhận được sự quan tâm của Đảng

và Nhà nước về việc kiện toàn bộ máy từ cấp Bộ đến công an các đơn vị, địa

phương. Cơ cấu tổ chức của cơ quan ANĐT từ năm 2004 đến năm 2018

tương đối ổn định, thể hiện tính khoa học, đúng đắn trong tổ chức và hoạt

động của lực lượng ANĐT, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của lực lượng

An ninh. Hiện nay, căn cứ quy định của Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự

và Nghị định 01/2018/NĐ-CP ngày 06/8/2018 của Chính phủ quy định về

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Quyết

định số 9072/QĐ-BCA ngày 26/10/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định

về tổ chức bộ máy của Cục ANĐT; Thông tư số 113/2020/TT-BCA, ngày

26/10/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền

hạn và tổ chức bộ máy của Cục ANĐT; Quyết định số 2405/QĐ-BCA, ngày

09/4/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và tổ chức bộ máy của phòng ANĐT thuộc Công an tỉnh, thành

phố trực thuộc Trung ương thì cơ cấu tổ chức cơ quan ANĐT có một số thay

đổi. Tuy nhiên, cơ quan ANĐT vẫn được bố trí ở 2 cấp: cấp Bộ và cấp tỉnh.

Ở cấp Bộ có Cục ANĐT, số hiệu A09, trực thuộc Bộ trưởng Bộ Công

an. Cơ cấu tổ chức gồm có: Văn phòng cơ quan ANĐT, Phòng tham mưu;

Phòng chính trị, hậu cần; Phòng hướng dẫn điều tra; Phòng điều tra các tội

phạm xâm phạm an ninh quốc gia; Phòng điều tra tổng hợp tại Thành phố Hồ

Chí Minh; Phòng điều tra các tội phạm khác và 02 Trại tạm giam (B14, B34)

phục vụ công tác điều tra. Thủ trưởng cơ quan ANĐT Bộ Công an là 01 đồng

chí Thứ trưởng, phó thủ trưởng thường trực cơ quan ANĐT Bộ Công an là

đồng chí cục trưởng Cục ANĐT; phó Thủ trưởng cơ quan ANĐT là các đồng

chí phó Cục trưởng Cục ANĐT.

94

Ở cấp tỉnh có các phòng ANĐT, số hiệu PA09 thuộc Công an tỉnh, thành

phố trực thuộc Trung ương. Cơ cấu tổ chức gồm có: Đội hướng dẫn, kiểm tra việc

thi hành pháp luật và giải quyết đơn, thư khiếu tố; Đội điều tra Công an thành phố

Hà Nội, Công an thành phố Hồ Chí Minh có thể thành lập 02 Đội điều tra. Thủ

trưởng cơ quan ANĐT cấp tỉnh là đồng chí phó Giám đốc Công an cấp tỉnh phụ

trách công tác an ninh; phó Thủ trưởng thường trực là đồng chí trưởng phòng

ANĐT; các phó thủ trưởng là các đồng chí phó trưởng phòng An ninh điều tra.

Số lượng điều tra viên ở cơ quan ANĐT Bộ Công an có 255 điều tra viên

(điều tra viên cao cấp là 122 đồng chí, chiếm tỷ lệ 47.8%; điều tra viên trung cấp là

58 đồng chí, chiếm tỷ lệ 22.7%; điều tra viên sơ cấp là 75 người, chiếm tỷ lệ 29.4%),

Cán bộ điều tra là 46 đồng chí; về trình độ học vấn: trình độ tiến sĩ: 27 đồng chí; trình

độ thạc sĩ: 73 đồng chí; trình độ đại học: 155 đồng chí. Ở Công an cấp tỉnh có 576

điều tra viên (điều tra viên cao cấp là 105 đồng chí, chiếm tỷ lệ 18,2%; điều tra viên

trung cấp là 224 đồng chí, chiếm tỷ lệ 38,9%; điều tra viên sơ cấp là 227 đồng chí,

chiếm tỷ lệ 39,4%; có 390 cán bộ làm công tác điều tra nhưng chưa được bổ nhiệm

điều tra viên. Số cán bộ, chiến sĩ tuyển dụng từ đại học ngành ngoài (ngành luật, tài

chính, ngân hàng, ngoại thương) là 96 đồng chí (chiếm tỉ lệ 8,6%).

Qua số liệu trên cho thấy số lượng điều tra viên cao cấp, điều tra viên

trung cấp của cơ quan ANĐT chiếm tỉ lệ lớn, số lượng điều tra viên sơ cấp

cần được đào tạo, bồi dưỡng để phát triển. Các điều tra viên cao cấp hầu hết

đều có thời gian công tác lâu năm, có nhiều kinh nghiệm trong công tác điều

tra hình sự thường được giao thụ lý chính trong các vụ án. Phân tích số liệu

cũng cho thấy cán bộ điều tra được đào tạo từ các trường Công an nhân dân

phần lớn am hiểu pháp luật, nghiệp vụ điều tra, có năng lực chuyên môn, có

bản lĩnh vững vàng và khả năng nhanh nhạy, sắc bén trong hoạt động điều tra,

có khả năng chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện các ý kiến chỉ đạo trong

quá trình tiến hành các hoạt động điều tra nhưng kiến thức về kinh tế (đặc biệt

là kiến thức về tài chính, ngân hàng) còn hạn chế. Số cán bộ điều tra được

95

tuyển dụng từ ngành ngoài có trình độ nghiệp vụ về tài chính, ngân hàng,

pháp luật nhưng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ Công an chưa nắm vững,

kinh nghiệm trong công tác phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài chính,

ngân hàng còn lúng túng dẫn đến hiệu quả công tác nghiệp vụ chưa cao.

3.1.2. Khách thể nghiên cứu

Gồm 310 người: 255 điều tra viên và 55 lãnh đạo các phòng và lãnh

đạo Cục An ninh điều tra - Bộ Công an trong phạm vi nghiên cứu của luận án.

Phân bổ các nhóm khách thể được thể hiện ở bảng dưới đây:

Bảng 3.1. Phân bố khách thể nghiên cứu

TT Các nhóm khách thể

Các biến độc lập

Tỉ lệ %

1 Nhóm khách thể

Điều tra viên

Số lượng 255

82,25

Lãnh đạo các phòng

52

16,77

Lãnh đạo Cục ANĐT

3

0,97

3.1.3. Nội dung nghiên cứu Nghiên cứu những vấn đề lý luận về trí tuệ cảm xúc nói chung và trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an nói riêng dưới góc độ tâm lý học.

Khảo sát, đánh giá thực trạng trí tuệ cảm xúc và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên, tiến hành phân tích chân dung về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra - Bộ Công an.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển trí tuệ

cảm xúc cho điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

3.1.4. Các giai đoạn nghiên cứu Luận án được tổ chức nghiên cứu theo ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu trí tuệ

cảm xúc và hoạt động nghiệp vụ của điều tra viên Cục An ninh điều tra.

Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực trạng, đặc điểm của trí tuệ cảm xúc và

hoạt động nghiệp vụ của điều tra viên Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

cũng như mối quan hệ của chúng.

96

Giai đoạn 3: Tiến hành phân tích chân dung tâm lý điển hình; đề xuất

các biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra

thuộc Bộ Công an cũng như cải thiện chất lượng hoạt động nghiệp vụ của họ.

Các giai đoạn nghiên cứu trên đây về cơ bản diễn ra kế tiếp nhau,

nhưng có lúc chúng lồng ghép vào nhau. Theo mục đích và nhiệm vụ của

mình, mỗi giai đoạn nghiên cứu sử dụng những phương pháp, kỹ thuật đặc

thù, nhưng cũng có khi chỉ một vài phương pháp cụ thể nào đó được sử dụng

trong hai hoặc cả ba giai đoạn nghiên cứu. Chương này trình bày lần lượt

từng giai đoạn nghiên cứu mà luận án đã thực hiện với những phương pháp,

kỹ thuật nghiên cứu tương ứng đã được sử dụng.

3.1.4.1. Giai đoạn 1: Xây dựng cơ sở luận án và phương pháp nghiên cứu

Giai đoạn 1 được thực hiện trong suốt quá trình giải quyết những vấn

đề của luận án, nhưng tập trung nhất được tiến hành vào khoảng thời gian từ

tháng 12/2017 đến tháng 5/2018.

* Mục đích nghiên cứu của giai đoạn 1

Mục đích của giai đoạn nghiên cứu đầu tiên này nhằm xây dựng cơ sở

lý luận và phương pháp luận cho toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận án:

Xác định mô hình lý thuyết EI97 và công cụ đo lường MSCEIT.

Tổng hợp lý luận về hoạt động điều tra của điều tra viên (quan niệm,

cấu thành, cách thức đánh giá).

Lựa chọn và soạn thảo công cụ đo lường mới phục vụ việc đánh giá,

nắm bắt sự biểu hiện và đặc điểm của trí tuệ cảm xúc cũng như chất lượng

hoạt động điều tra của điều tra viên.

Kết quả nghiên cứu của giai đoạn này là cơ sở lý luận và thực tiễn cho

việc tổ chức điều tra thực trạng về trí tuệ cảm xúc và chất lượng của hoạt động

điều tra của điều tra viên và mối quan hệ giữa chúng, tổ chức thực nghiệm tâm

lý - xã hội làm tăng cao trí tuệ cảm xúc và cải thiện chất lượng hoạt động điều

tra của họ: đưa ra giả thuyết điều tra; chuẩn bị câu hỏi trắc nghiệm, soạn thảo

các bài tập tình huống điều tra; lựa chọn và xây dựng hệ thống biện pháp, con

đường tác động tâm lý; đánh giá, phân tích và trình bày kết quả.

97

* Nội dung nghiên cứu của giai đoạn 1

Nội dung nghiên cứu của giai đoạn này bao gồm:

Thứ nhất, hệ thống hoá những vấn đề lý luận về trí tuệ cảm xúc của tâm

lý học thế giới và Việt Nam cho đến nay. Làm rõ ba khuynh hướng nghiên

cứu trí tuệ cảm xúc hiện nay: nghiên cứu lý thuyết hàn lâm về trí tuệ cảm xúc

(mô hình lý thuyết, phương pháp đo lường, chức năng và vai trò hành động

của trí tuệ cảm xúc); nghiên cứu phổ biến những thành tựu lý thuyết về trí tuệ

cảm xúc cho quảng đại quần chúng; nghiên cứu ứng dụng tri thức lý thuyết về

trí tuệ cảm xúc vào cuộc sống, lao động sản xuất, tổ chức - quản lý xã hội,

giáo dục - đào tạo và phát triển chất lượng con người nói chung.

Thứ hai, phân tích những vấn đề lý luận cũng như những yêu cầu thực

tiễn hiện nay về hoạt động nghiệp vụ của điều tra viên dưới lý thuyết trí tuệ

cảm xúc, với tư cách là một loại trí tuệ người; khẳng định lại rằng, luận án

được nghiên cứu theo khuynh hướng ứng dụng mô hình lý thuyết EI97 của

J.Mayer và P.Salovey vào công tác nghiệp vụ, phát triển năng lực điều tra viên.

Điều tra viên là những người thực hiện công việc điều tra, có trách nhiệm đối

với kết luận điều tra cũng như chịu trách nhiệm với việc định tội một cá nhân

nào đó. Vì vậy, muốn đo lường, đánh giá trí tuệ cảm xúc của điều tra viên cần

phải thông qua chất lượng hoạt động nghiệp vụ của điều tra viên.

Thứ ba, hình thành nguyên tắc cơ bản chung cho việc lựa chọn trắc

nghiệm, soạn thảo mới các bài tập đo nghiệm, phiếu điều tra, biên bản quan

sát cũng như hệ thống tiêu chí và thang đo đánh giá cho từng loại hiện tượng

được quan tâm trong các giai đoạn nghiên cứu khác nhau.

Thứ tư, xây dựng biện pháp và con đường tác động tâm lý cũng như

các bài tập trắc nghiệm cụ thể nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra

viên và nâng cao chất lượng hoạt động nghiệp vụ của họ.

Thứ năm, thử nghiệm những bộ công cụ chính trên 50 điều tra viên nhằm

đánh giá, chính xác hoá bộ phương pháp đo lường chính của luận án. Đồng thời

việc thử nghiệm công cụ này cũng giúp hình thành cái nhìn đầu tiên về đối tượng

nghiên cứu, từ đó làm cơ sở cho việc nêu giả thuyết, chọn nghiệm thể để đi sâu

phân tích chân dung tâm lý điển hình.

98

* Phương pháp nghiên cứu và công cụ đo lường được sử dụng trong

giai đoạn 1

Các phương pháp nghiên cứu ở giai đoạn 1

Phương pháp nghiên cứu văn bản nhằm tổng hợp, hệ thống hoá

những tri thức lý thuyết và thực tiễn về trí tuệ cảm xúc, về lý luận hoạt

động điều tra của điều tra viên, những yêu cầu hiện nay của Bộ Công an

cũng như sự phát triển kinh tế xã hội đối với hoạt động điều tra dưới góc

nhìn của lý thuyết trí tuệ cảm xúc.

Phương pháp chuyên gia được sử dụng để thu nhận những thông tin bổ

trợ cho việc lựa chọn phương pháp, kỹ thuật đánh giá, đo lường những hiện

tượng tâm lý đang được nghiên cứu và các biện pháp, con đường tác động

thực nghiệm cũng như các bài tập thực nghiệm cụ thể.

Phương pháp trắc nghiệm nhằm thử nghiệm các bộ trắc nghiệm, bài tập

đo nghiệm trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.

Phương pháp thống kê toán học phục vụ xử lý các số liệu thống kê từ

các thử nghiệm sử dụng các bộ trắc nghiệm trên lượng nhỏ các nghiệm thể.

Các công cụ đo lường chính được sử dụng và soạn thảo giai đoạn 1

Bộ test trí tuệ cảm xúc MSCEIT của J.Mayer, P.Salovey và D.Causo.

Phiếu đánh giá nhóm về chất lượng hoạt động điều tra của điều tra viên.

Biên bản quan sát hoạt động điều tra của điều tra viên tại một phòng

của Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

Bản thống kê kết quả hoạt động điều tra của điều tra viên.

Các công cụ đo lường, đánh giá trên đây sẽ được trình bày đầy đủ, chi

tiết trong mục 3.2 về các phương pháp nghiên cứu của luận án.

3.1.4.2. Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực trạng trí tuệ cảm xúc và trí tuệ

cảm xúc của điều tra viên trong hoạt động điều tra

Giai đoạn này được tiến hành vào khoảng thời gian từ tháng 6/2021 đến

tháng 9/2021 trên 255 điều tra viên thuộc Cục An ninh điều tra, rồi thu gọn lại

ở 2 điều tra viên thuộc 2 phòng của Cục An ninh điều tra, với tư cách là 2

trường hợp để nghiên cứu, phân tích chân dung tâm lý điển hình.

99

* Mục đích nghiên cứu của giai đoạn 2

Xác định thực trạng mức độ trí tuệ cảm xúc với những đặc điểm, sự biểu hiện của chúng và mức độ chất lượng hoạt động điều tra trên 1điều tra

viên tham gia nghiên cứu cũng như mối quan hệ giữa trí tuệ cảm xúc với chất lượng hoạt động điều tra của họ. Trên cơ sở đó, thiết lập các nhóm thực

nghiệm và nhóm đối chứng phục vụ cho việc nghiên cứu thực nghiệm tác động tâm lý nâng cao trí tuệ cảm xúc và cải thiện chất lượng hoạt động điều

tra của các nghiệm thể nhóm thực nghiệm.

* Nội dung nghiên cứu của giai đoạn 2

Một là, chọn nghiệm thể nghiên cứu thực trạng là 310 người thuộc Cục

An ninh điều tra (điều tra viên 255; Lãnh đạo phòng 52; Lãnh đạo cục 03) .

Hai là, đo lường mức độ trí tuệ cảm xúc và chất lượng hoạt động điều tra của toàn mẫu nghiên cứu; đo lường mở rộng và khơi sâu hơn những khía

cạnh khác nhau của trí tuệ cảm xúc và hoạt động điều tra của 255 điều tra viên thuộc mẫu nói trên.

Ba là, nghiên cứu những đặc điểm trí tuệ cảm xúc và biểu hiện của nó

trong hoạt động điều tra của điều tra viên.

Bốn là, nghiên cứu mối quan hệ giữa mức độ trí tuệ cảm xúc và chất

lượng hoạt động điều tra của điều tra viên.

Năm là, xác định những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ trí tuệ cảm xúc

của các điều tra viên được nghiên cứu.

Sáu là, phân tách số điều tra viên được nghiên cứu sâu thực trạng thành

hai nhóm: nhóm có chỉ số trí tuệ cảm xúc trí tuệ cao và có chỉ số trí tuệ cảm xúc thấp, trên cơ sở các số liệu đo lường về EI, chất lượng hoạt động điều tra

và các số liệu về các thuộc tính có liên quan.

* Phương pháp và công cụ đo lường tâm lý được sử dụng ở giai đoạn 2 Những công cụ đo lường ở giai đoạn 2 Bộ test đo lường trí tuệ cảm xúc MSCEIT

Phiếu điều tra mức độ biểu hiện năng lực EI trong hoạt động điều tra của

điều tra viên qua đánh giá của điều tra viên, đồng nghiệp cùng khối chuyên môn

và lãnh đạo quản lý trên 4 mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc:

100

- Năng lực nhận biết cảm xúc

- Năng lực thấu hiểu cảm xúc

- Năng lực vận dụng cảm xúc

- Năng lực điều khiển cảm xúc

Phiếu điều tra một số yếu tố ảnh hưởng khác tới EI của điều tra viên.

Phiếu đánh giá về một số biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra

viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

Bảng đánh giá nhóm (cán bộ quản lý, đồng nghiệp cùng ngành) và chất

lượng hoạt động điều tra của điều tra viên.

Bảng đánh giá nhóm (cán bộ quản lý, đồng nghiệp cùng ngành) về hoạt

động điều tra viên của điều tra viên.

Bản thống kê kết quả Danh mục thi đua đã đạt được trong hoạt động điều

tra của điều tra viên.

Biên bản quan sát về hoạt động điều tra của điều tra viên.

Biên bản phỏng vấn sâu đối với lãnh đạo quản lý về một số biểu hiện về

trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.

Những phương pháp nghiên cứu ở giai đoạn 2

Phương pháp trắc nghiệm tâm lý nhằm đo lường khách quan, chính xác

về mức độ EI của điều tra viên.

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi nhằm thu thập thông tin để xác định

những biểu hiện của các năng lực EI trong hoạt động điều tra của điều tra viên

và một loạt các yếu tố ảnh hưởng tới EI của họ.

Phương pháp điều tra thực tế nhằm thống kê sự đánh giá của lãnh đạo Cục

về hoạt động điều tra của điều tra viên.

Phương pháp đánh giá nhóm nhằm thu thập thông tin đánh giá của cán bộ

quản lý (lãnh đạo Cục, lãnh đạo phòng), nhóm làm việc (đồng nghiệp cùng

khối), bản thân điều tra viên về chất lượng hoạt động điều tra được nghiên cứu.

Phương pháp này còn được sử dụng để thu thập thông tin về mức độ biểu hiện trí

tuệ cảm xúc của điều tra viên qua đánh giá của lãnh đạo.

101

Phương pháp quan sát nhằm thu nhận thông tin trực tiếp về biểu hiện EI

trong hoạt động điều tra cũng như biểu hiện EI cụ thể, sinh động trong hành vi

ứng xử hàng ngày ở nơi làm việc.

Phương pháp phỏng vấn nhằm thu thập thông tin từ Cục trưởng, các

trưởng phòng, đồng nghiệp của điều tra viên để nghiên cứu về những biểu hiện

của EI và chất lượng hoạt động điều tra của điều tra viên.

Phương pháp nghiên cứu chân dung tâm lý điển hình nhằm làm rõ

hơn nữa biểu hiện, đặc điểm của EI của điều tra viên, vai trò trí tuệ này đối

với hoạt động điều tra cũng như sự ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau

đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.

Phương pháp thống kê toán học nhằm xử lý các kết quả đo lường để tìm ra quy

luật trong sự phát triển EI và mối quan hệ giữa EI với những hiện tượng tâm lý - xã hội

khác, mối quan hệ giữa EI với mức độ chất lượng hoạt động điều tra của điều tra viên

cũng như những yếu tố có liên quan đến EI để thiết lập các nhóm thực nghiệm và đối

chứng, phục vụ cho nghiên cứu thực nghiệm tác động tâm lý - xã hội của luận án.

* Kết quả và ý nghĩa của giai đoạn 2 đối với việc nghiên cứu của luận án

Những thông tin, tri thức do giai đoạn 2 xác định giúp hình thành cái nhìn

chung và cụ thể, rõ ràng về thực trạng EI và chất lượng hoạt động điều tra của

các nghiệm thể được điều tra và mối tương quan giữa chúng. Đồng thời, làm

hình thành nên ý tưởng, biện pháp phát triển EI và nâng cao chất lượng hoạt

động điều tra của điều tra viên. 255 điều tra viên đã được đo lường về nhiều mặt

tâm lý, được phân thành hai nhóm tương đồng nhau về chỉ số trí tuệ cảm xúc, kết

quả hoạt động điều tra với đối tượng. Sau đó chúng tôi chọn ra 02 điều tra viên ở

Cục An ninh điều tra; đại diện cho các mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc khác

nhau để đi sâu phân tích chân dung tâm lý điển hình.

3.1.4.3. Giai đoạn 3: Tiến hành phân tích chân dung tâm lý điển hình

và đề xuất biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên ở Cục An

ninh điều tra thuộc Bộ Công an

Lựa chọn 2 điều tra viên ở Cục An ninh điều tra; đại diện cho các mức độ

biểu hiện trí tuệ cảm xúc khác nhau để đi sâu phân tích chân dung tâm lý điển hình.

102

Việc lựa chọn này dựa trên kết quả điều tra đã có được ở trong giai đoạn

2. Mặt khác chúng tôi sẽ tiến hành phân tích chân dung tâm lý dựa trên các tiêu

chí đánh giá biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên về: nhận biết cảm xúc;

thấu hiểu cảm xúc, vận dụng cảm xúc và điểu khiển cảm xúc.

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

Mục đích: Nhằm giải quyết các vấn đề lý luận về trí tuệ cảm xúc, trí tuệ

cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an trên cơ sở

tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước; xây dựng giả

thuyết khoa học và hệ thống khái niệm công cụ của luận án.

Cách thức tiến hành:

Tiến hành phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa những vấn

đề lý luận về trí tuệ cảm xúc từ các nguồn trong và ngoài nước; các văn bản

chỉ thị, nghị quyết; báo cáo sơ, tổng kết của Cục An ninh điều tra thuộc Bộ

Công an về công tác điều tra và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ điều

tra; công tác đào tạo, bồi dưỡng điều tra viên.

Khái quát các kết quả nghiên cứu trí tuệ cảm xúc, trí tuệ cảm xúc của điều tra

viên ở Cục An ninh điều tra; trình bày quan điểm cá nhân trong tiếp thu, phê phán,

hướng tiếp cận nhằm giải quyết mục đích, nội dung nghiên cứu của luận án.

Nghiên cứu, các văn bản, tài liệu liên quan đến hoạt động điều tra của điều

tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an; phân tích kết quả thực hiện

nhiệm vụ của các cá nhân và đơn vị.

Xây dựng giả thuyết khoa học, hệ thống khái niệm công cụ, xác định

các biểu hiện và mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều

tra làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn.

3.2.2. Phương pháp phỏng vấn

* Mục đích của phương pháp phỏng vấn: Luận án sử dụng phương

pháp phỏng vấn nhằm thu thập những ý kiến của lãnh đạo Cục, lãnh đạo

phòng, đồng nghiệp về một số biểu hiện trí tuệ cảm xúc và kết quả hoạt

động điều tra của điều tra viên được nghiên cứu; thu thập những ý kiến về

103

tác động ảnh hưởng của trí tuệ cảm xúc đến kết quả công việc cũng như

quá trình giao tiếp của họ để bổ sung, làm rõ thông tin định tính và định

lượng thu được từ các phương pháp nghiên cứu khác; tăng độ tin cậy, tính

trung thực của kết quả nghiên cứu.

Bên cạnh đó, phương pháp phỏng vấn sâu còn được sử dụng nhằm kiểm

định những tiêu chí đánh giá biểu hiện của trí tuệ cảm xúc trong hoạt động điều

tra của điều tra viên qua ý kiến của các điều tra viên được đánh giá là điều tra

viên đạt những thành tựu xuất sắc trong hoạt động điều tra; nhằm làm rõ hơn

những biểu hiện trí tuệ cảm xúc, vai trò của trí tuệ cảm xúc đến hoạt động điều

tra của các điều tra viên được lựa chọn nghiên cứu chân dung tâm lý điển hình.

* Khách thể phỏng vấn: 01 lãnh đạo Cục, 02 lãnh đạo phòng và 03 cán bộ của

Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an, thuộc trong phạm vi nghiên cứu của luận án.

* Nội dung phỏng vấn: Những đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của điều

tra viên, những biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên trong hoạt động điều

tra cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục

An ninh điều tra thuộc Bộ Công an hiện nay.

Với cán bộ quản lý, trao đổi về những biểu biện cụ thể trí tuệ cảm xúc

của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra trong hoạt động điều tra; các yếu tố

ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra.

Với điều tra viên, đề nghị họ chia sẻ những mặt mạnh, hạn chế về các

mặt biểu hiện trí tuệ cảm xúc trong hoạt động điều tra viên; những thuận lợi,

khó khăn trong hoạt động điều tra; trao đổi về những yếu tố ảnh hưởng đến trí

tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra.

* Cách thực thực hiện

Xây dựng kế hoạch (nội dung, đối tượng, thời gian, địa điểm...); liên hệ

với các tổ chức, cá nhân có liên quan; lựa chọn thời điểm, địa điểm và tiến hành

phỏng vấn với các đối tượng theo kế hoạch đã xác định; ghi chép biên bản quá

trình phỏng vấn.

Xây dựng hệ thống câu hỏi phỏng vấn. Chọn mẫu phỏng vấn gồm 06

điều tra viên.

104

Thực hiện phỏng vấn theo nội dung câu hỏi đã chuẩn bị trước kết hợp

với phỏng vấn sâu từng đối tượng.

Tuy nhiên, trình tự, nội dung cần phỏng vấn không bị cố định theo trình

tự đã chuẩn bị sẵn theo mẫu, mà có thể được linh hoạt, mềm dẻo tuỳ theo diễn

biến của câu chuyện, vấn đề của từng khách thể được phỏng vấn. Nội dung

chi tiết của mỗi cuộc phỏng vấn sâu có thể thay đổi tuỳ thuộc vào đối tượng

và hoàn cảnh của cuộc phỏng vấn. Kết quả phỏng vấn được ghi chép tổng hợp

theo các mặt biểu hiện trí tuệ cảm xúc và các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm

xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra, đồng thời kết hợp với các phương

pháp khác để làm rõ nội dung nghiên cứu của luận án.

3.2.3. Phương pháp trắc nghiệm

* Mục đích của phương pháp trắc nghiệm: Phương pháp trắc nghiệm

được sử dụng với tư cách là phương pháp nghiên cứu chính của luận án, nhằm

xác định mức độ EI của nghiệm thể ở các bước nghiên cứu khác nhau, làm cơ sở

cho việc so sánh, phân tích, rút ra kết luận khoa học.

* Nội dung tiến hành: Sử dụng bộ trắc nghiệm MSCEIT đã được chuẩn hoá

để làm rõ những biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên cũng như thấy được các

yếu tố có ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều

tra thuộc Bộ Công an.

MSCEIT là một bộ test đo lường EI của J.Mayer, P.Salovey, D.Caruso,

được nâng cấp từ bộ test đo EI đa nhân tố (MSEIS), soạn thảo vào năm 1999 và

hoàn thiện vào tháng 2/2000. Năm 2000, MSCEIT được các nhà tâm lý học

trong đề tài KX 05-06 lựa chọn và tiến hành Việt hoá. MSCEIT được thiết kế để

đánh giá EI theo mô hình thuần năng lực của J.Mayer và P.Salovey (xem phụ lục

2.1a). Mô hình EI97 đưa ra cấu trúc EI gồm 4 năng lực với 16 biểu hiện. Cho

đến nay, MSCEIT được sử dụng là công cụ chính ở Việt Nam để đo lường trí tuệ

cảm xúc bởi độ tin cậy cao. (Xem phụ lục 1)

Phương pháp tính chỉ số EQ

Kết quả điểm tổng EI đo bằng MSCEIT được quy đổi thành chỉ số EQ

theo công thức tính chỉ số trí tuệ của Wechsler vì:

105

- Mô hình EI97 đề xuất nghiên cứu khái niệm EI với tư cách là một loại trí

tuệ và đáp ứng được các tiêu chí để xếp nó vào cấu trúc trí tuệ. (Mayer và cộng

sự, 1997, 1999, 2000, 2001)

- Trí tuệ cảm xúc là một loại trí tuệ vì tương quan < 0.50 với trí thông

minh truyền thống: Kết quả đo lường trí tuệ cảm xúc theo EI97 được báo

cáo đều có tương quan thuận và thấp với trí tuệ nhận thức. Như theo báo cáo

của J.Mayer, EI có tương quan bằng 0 với Trí thông minh lỏng (Fluid

Intelligience) và tương quan bằng 0.36 với Trí thông minh dùng lời (Verbal

IQ) [84, tr.109]. Báo cáo của Law và những người khác (2004) cũng cho

thấy EI97 tương quan thấp với các năng lực nhận thức [88, tr.103].

Nói chung, EI có tương quan thuận nhưng thấp (<0.50) với trí tuệ nhận

thức. Điều đó nghĩa là EI là một loại trí tuệ mới, khác và độc lập với trí tuệ

nhận thức, và loại trí tuệ mới này cũng có thể được lượng hoá như cách lượng

hoá trí tuệ nhận thức.

Điểm tổng EI được quy đổi thành EQ theo công thức của Wechsler:

EQ-i = 100 + Xi - X/SD x15

Các giá trị EQ của từng nghiệm thể xác định được coi là giá trị lượng hoá

về EI của các nghiệm thể nghiên cứu và được phân loại như sau:

Phân loại EQ của điều tra viên

Mức độ Rất thấp

Trung bình Trên T.B

Cao

Rất cao

Thấp

≤70

90-109

110-119

120-129

≥130

71-89

EQ

Bảng 3.2: Bảng phân loại trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh

điều tra thuộc Bộ Công an

Phương pháp đánh giá MSCEIT

Như đã phân tích kỹ ở mục 1.6, luận án lựa chọn cách tính điểm của

MSCEIT theo tiêu chuẩn đồng ý, tức là điểm của từng item bằng tỉ lệ % của số

khách thể lựa chọn phương án đó trên tổng số khách thể tham gia nghiên cứu.

Điểm từng câu, từng tiểu test và điểm tổng là kết quả cộng điểm của tất cả item,

các câu, các tiểu test.

106

Phương pháp phân tích kết quả đo EI theo MSCEIT của luận án

MSCEIT là công cụ đo lường EI được xây dựng trên mô hình EI, vì

vậy luận án cần tiến hành phân tích MSCEIT theo mô hình EI97. Kết quả

phân tích cho thấy: (1) Số lượng câu, số lượng Item trong một tiểu test

được thiết kế không bằng nhau; (2) Tiểu test B và C được thiết kế gồm 2

nhóm tình hình khác nhau để đo 2 năng lực thành phần EI khác nhau

(Xem phụ lục 1).

Vì vậy để mô tả chính xác hơn bức tranh về thực trạng các năng lực trí tuệ

cảm xúc của điều tra viên, cũng như có cơ sở thực tiễn để thiết kế các biện pháp tác

động, luận án đề ra hai nguyên tắc phân tích kết quả đo EI bằng MSCEIT:

- So sánh điểm trung bình của từng Item của các tiểu test.

- Tiến hành so sánh 10 điểm số năng lực thành phần gồm: A,B123, B45,

C1-11, C12-20, D, E, F, G, H, trên cơ sở chia tiểu test B thành hai nội dung

B123 và B45; tiểu test C thành hai nội dung C1-11 và C12-20.

Sau đây là sơ đồ phân tích kết quả đo EI của điều tra viên theo MSCEIT:

EI

EI theo kinh nghiệm

EI có chiến lược

Nhận biết

Vận dụng

Thấu hiểu

Điều khiển cảm xúc

Khuôn

Tranh

Tạo

Cảm

Thay

X.cảm

Đ.khiển

Đ.khiển

mặt

đ.kiện

giác

đổi

h hợp

XC

XH

A

E

C

G

D

H

F

B

Giải quyết vấn

Xem xét vấn

Xét đoán sự

Hiểu nguyên nhân

đề cụ thể

đề đa chiều

tiến triển

B1,2,3

B4,5

C1-11

C12-20

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ phân tích kết quả đo EI của điều tra viên trên MSCEIT

107

Hệ thống bài tập đo lường sự biểu hiện năng lực EI cơ bản của điều tra

viên trong các mối quan hệ nghiệp vụ điển hình

Như phân tích ở chương 1, trí tuệ cảm xúc bao giờ cũng biểu hiện cụ

thể và phát triển trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định. Vì vậy, cần

nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của điều tra viên phải nghiên cứu trong các tình

huống cụ thể, trong môi trường làm việc với mối quan hệ nghề nghiệp - xã

hội điển hình của điều tra viên.

Để đánh giá thực trạng EI của điều tra viên, ngoài việc sử dụng

công cụ đã được chuẩn hoá, luận án xây dựng một hệ thống bài tập gồm

28 tình huống thường xảy ra trong hoạt động điều tra, mỗi tình huống có 4

phương án đề điều tra viên lựa chọn. 28 tình huống này được thiết kế

nhằm đo 4 năng lực cơ bản trong 4 mối quan hệ nghiệp vụ điển hình của

điều tra viên, gồm quan hệ với bản thân, với đối tượng, với đồng nghiệp và

với các lực lượng có liên quan.

Luận án sử dụng phương pháp chuyên gia để thẩm định các tình huống và

phương án trả lời. Vì mô hình EI97 có cấu trúc gồm 4 năng lực trí tuệ cảm xúc

cơ bản với mức độ phức hợp tăng dần nên các phương án trả lời được đánh giá

theo các mức độ thể hiện các năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản, cụ thể:

0 điểm: Hoàn toàn không thể hiện được cả 4 năng lực trí tuệ cảm xúc cơ

bản, với biểu hiện là không nhận ra và xử lý được các thông tin cảm xúc.

5 điểm: Nhận ra thông tin cảm xúc, với biểu hiện có năng lực trí tuệ

cảm xúc cơ bản đơn giản nhất.

20 điểm: Thể hiện được cả 4 năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản, với biểu

hiện nhận ra và xử lý được các thông tin cảm xúc.

Điểm tổng là điểm của 28 câu cộng lại.

Đánh giá độ hiệu lực và độ tin cậy của hệ thống bài tập đo nghiệm

Để đánh giá độ tin cậy của bộ công cụ trong nghiên cứu này, luận án sử

dụng mô hình tương quan Alpha Cronbach (Cronbach’s Coeficient Alpha). Mô

hình này đánh giá độ tin cậy của phép đo dựa trên sự tính toán phương sai của

108

từng item trong từng thang đo, toàn bộ cho phép thang đo và tính tương quan

điểm của từng item với điểm của các item còn lại trên từng thang đo và của cả

phép đo. Độ tin cậy của từng tiểu thang đo được coi là thấp nếu hệ số α < 0.4.

Độ tin cậy của cả thang đo được coi là thấp nếu hệ số α < 0.6.

Bảng 3.3: Độ tin cậy của hệ thống bài tập đo biểu hiện EI của điều tra

viên trong các mối quan hệ nghiệp vụ điển hình

Các tiểu thang đo/ thang đo

Nhận biết cảm xúc Thấu hiểu cảm xúc Vận dụng cảm xúc Điểu khiển cảm xúc

Toàn bộ thang đo Hệ số tin cậy Alpha Mẫu điều tra viên (N=50) 0.67 0.73 0.78 0.81 0.80

Với hệ số α của các tiểu thang đo và cả thang đo đều > 0.6 cho thấy từng

item của phép đo có tính đồng nhất và đều đóng góp độ tin cậy của toàn bộ hệ

thống bài tập đo nghiệm này.

Để đánh giá độ hiệu lực, luận án dùng phương pháp phân tích yếu tố (factor

analysis). Kết quả phân tích yếu tố cho thấy hệ thống bài tập đo nghiệm này có độ

hiệu lực khá tốt. Các item trong từng tiểu thang đo có tính đồng hướng (cùng thuộc

về một factor) - tức là cùng đo một thành tố. Điểm số các tiểu thang đo có tương

quan thuận khá chặt (xem bảng 3.4). Điều này phù hợp với thực tế và phản ánh

đúng các quan hệ mong muốn, được giả thiết trong cấu trúc của phép đo.

Bảng 3.4: Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo/ thang đo Biểu hiện EI

của điều tra viên trong các quan hệ nghiệp vụ điển hình

1 2 3 4 Các tiểu thang đo/thang đo

Nhận biết cảm xúc (1)

0.51** Thấu hiểu cảm xúc(2)

0.43** 0.60** Vận dụng cảm xúc (3)

0.49** 0.55** 0.38** Điều khiển cảm xúc (4)

0.67** 0.69** 0.72** 0.65** Toàn bộ thang đo

**P<.0001

109

Kết quả phân tích trên đây cho thấy, các tiểu thang đo trong toàn bộ bài tập

đo nghiệm mà luận án sử dụng để đo biểu hiện của EI ở điều tra viên trong các

mối quan hệ nghiệp vụ điển hình về cơ bản đảm bảo các đặc tính thiết kế và các

đặc tính đo lường. Hầu hết các item đều đảm bảo có đủ độ tin cậy và hiệu lực.

* Cách thức tiến hành: Vào tháng 6/2021, luận án sử dụng bộ Test đã được

chuẩn hoá là MSCEIT (xem mô tả phụ lục 1) vừa để xác định thực trạng mức độ

trí tuệ cảm xúc của 255 điều tra viên công tác ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ

Công an và xác định kết quả đo EI của điều tra viên.

3.2.4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

* Mục đích của phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phương pháp điều

tra bằng bảng hỏi cũng được sử dụng làm phương pháp nghiên cứu chính của

luận án. Phương pháp này nhằm thu thập thông tin để xác định những biểu hiện

EI của điều tra viên.

* Đối tượng: Khảo sát các biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của điều tra

viên: 55 cán bộ quản lý của Cục điều tra; 255 điều tra viên ở Cục An ninh điều

tra thuộc Bộ Công an.

* Nội dung nghiên cứu: Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để

làm rõ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên trong hoạt động điều tra của

chính bản thân; trong mối quan hệ nghề nghiệp điển hình với đồng nghiệp, đối

tượng hay các lực lượng có liên quan trong hoạt động điều tra. Xác định các

yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra -

Bộ Công an; điều tra về một số yếu tố như tuổi đời, tuổi nghề, môi trường làm

việc, đối tượng tiếp xúc, các thuộc tính tâm lý của nhân cách, thể chất, giáo dục

nhằm xác định mối quan hệ giữa các yếu tố này và trí tuệ cảm xúc của điều tra

viên, từ đó xác lập cơ sở thực tiễn của luận án để xây dựng biện pháp tác động

nhằm nâng cao trí tuệ cảm xúc (xem phụ lục 2.1).

* Cách thức tiến hành: Luận án xây dựng 04 bảng hỏi cho 02 đối tượng

khảo sát với hệ thống câu hỏi khác nhau dưới hình thức câu hỏi đóng và câu hỏi

mở phù hợp với từng mục đích thu thập thông tin khác nhau của luận án.

110

* Quy ước thang điểm đánh giá các nội dung trong bảng hỏi:

Thang điểm đánh giá: Để đánh giá thực trạng biểu hiện trí tuệ cảm xúc

của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an và các yếu tố ảnh

hưởng luận án sử dụng thang đo likert 3 mức độ (Cao, Trung bình, Thấp) và

gán điểm như sau:

3 điểm, với các câu trả lời: cần thiết/ cao/tốt/mạnh 2 điểm, với các câu trả lời: bình thường/trung bình 1 điểm, với các câu trả lời: không cần thiết, yếu

Sử dụng công thức tính khoảng điểm: L =

Trong đó: Max: giá trị gán điểm cao nhất

Min: giá trị gán điểm thấp nhất

n là số các khoảng điểm, ta có L = 0,66.

Thang đo 3 mức độ chuyển định lượng tương ứng từ 3 đến 1. Với cách tính

điểm như trên, điểm tối đa của thang đo là 3 và điểm tối thiểu là 1. Do vậy, của

3. Do vậy, kết quả sẽ được tính như sau: các mức sẽ nằm trong khoảng: 1

Mức 1 (Mức độ thấp): 1 ĐTB 1,66

Mức 2 (Mức độ trung bình): 1,66 ĐTB 2,33

Mức 3 (Mức độ cao): 2,33 ĐTB 3

Căn cứ số điểm và số lượng người trả lời, sử dụng phần mềm SPSS tính

điểm trung bình, độ lệch chuẩn và các chỉ số khác phục vụ cho nghiên cứu,

đánh giá thực trạng.

Phiếu này được sử dụng sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu để tìm hiểu

biểu hiện và các mức độ biểu hiện năng lực trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

trong hoạt động điều tra hàng ngày của họ.

Đánh giá độ hiệu lực và độ tin cậy của hệ thống câu hỏi

Sử dụng mô hình tương quan Alpha của Cronbach (Cronbach’s

Coefficient Alpha) để đánh giá độ tin cậy của bộ công cụ này, với hệ số tương

111

quan α của các tiểu thang đo và cả thang đo đều >0.6 (xem bảng 3.4) cho thấy

từng item của phép đo có tính đồng nhất và đều đóng góp độ tin cậy của toàn bộ

hệ thống câu hỏi này.

Bảng 3.5. Độ tin cậy của hệ thống câu hỏi đánh giá biểu hiện trí tuệ cảm

xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

Các tiểu thang đo/ thang đo Hệ số tin cậy Alpha

Mẫu điều tra viên (N=50)

Nhận biết cảm xúc 0.70

Thấu hiểu cảm xúc 0.78

Vận dụng cảm xúc 0.76

Điều khiển cảm xúc 0.83

0.85 Toàn bộ thang đo

Kết quả phân tích yếu tố cho thấy bảng hỏi này có độ hiệu lực khá tốt.

Điểm số các tiểu thang đo tương có tương quan thuận khá chặt (> 0.3, xem bảng

3.5). Điều này phù hợp với thực tế và phản ánh đúng các quan hệ mong muốn,

được giả thiết trong cấu trúc của phép đo.

Kết quả phân tích bảng 3.5 cho thấy, các tiểu thang đo trong hệ thống câu

hỏi mà luận án sử dụng để đo những biểu hiện của EI ở điều tra viên trong hoạt

động điều tra về cơ bản đảm bảo các đặc tính thiết kế và các đặc tính đo lường.

Hầu hết các item đều đảm bảo có đủ độ tin cậy và độ hiệu lực.

Bảng 3.6. Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo/ thang đo đánh giá

Biểu hiện EI của điều tra viên trong hoạt động điều tra

1 2 3 4 Các tiểu thang đo/thang đo

Nhận biết cảm xúc (1) Thấu hiểu cảm xúc(2) Vận dụng cảm xúc (3) Điều khiển cảm xúc (4)

0.31** 0.67** 0.42** 0.49** 0.31** 0.42** 0.57** 0.61** 0.63** 0.58** Toàn bộ thang đo

**P<.0001

112

Dựa trên 4 tiêu chí với 15 biểu hiện đã được xác định để đo trí tuệ cảm

xúc của điều tra viên (xem phụ lục 3.4), luận án lựa chọn 28 tình huống xảy ra

trong hoạt động điều tra để đo mức độ biểu hiện năng lực trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên. Các tình huống này đã được các chuyên gia thẩm định.

Luận án tiến hành lấy ý kiến đánh giá của các nhóm xã hội - nghề

nghiệp, gồm các cán bộ lãnh đạo, đồng nghiệp và cá nhân điều tra viên đánh

giá những biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên trong hoạt động điều tra.

Luận án không sử dụng công cụ này để lấy ý kiến đánh giá của các đối tượng

vì trong nhận thức của đối tượng đôi khi còn mang tính chủ quan, nhất là

đánh giá điều tra viên.

3.2.5. Phương pháp quan sát

* Mục đích của phương pháp quan sát: Nhằm thu thập được những thông

tin về những biểu hiện cụ thể của trí tuệ cảm xúc của điều tra viên trong hoạt

động điều tra, trong công việc và trong giao tiếp.

* Đối tượng quan sát: Điều tra viên ở Cục An ninh điều tra đang có

hoạt động thực tiễn trong các mối quan hệ đối với đối tượng, đồng nghiệp, và

các lực lượng có liên quan đến hoạt động điều tra.

* Nguyên tắc quan sát: Đảm bảo tự nhiên, khách quan trong quá trình

quan sát, đặc biệt không làm ảnh hưởng đến tâm lý của đối tượng quan sát.

* Nội dung quan sát:

Quan sát hoạt động điều tra, giao tiếp của điều tra viên trong các mối

quan hệ với đồng nghiệp, với đối tượng hay với các lực lượng có liên quan;

Quan sát những biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên;

* Cách thức tiến hành: Chúng tôi tiến hành quan sát tại mỗi phòng của đơn

vị điều tra 01 ngày trong điều kiện đơn vị thực hiện nhiệm vụ bình thường. Kết

quả quan sát được ghi lại bằng biên bản quan sát, sau khi xử lý sẽ được sử dụng

bổ sung cho những kết quả nghiên cứu khác trong quá trình điều tra.

3.2.6. Phân tích chân dung tâm lý điển hình

* Mục đích của phân tích chân dung tâm lý điển hình: Nhằm bổ sung

thêm những dữ liệu thông tin thu được từ các phương pháp điều tra bằng bảng

113

hỏi và phỏng vấn. Góp phần tăng thêm tính khoa học, tính logic khi nghiên cứu

biểu hiện của trí tuệ cảm xúc và yếu tố ảnh hưởng trí tuệ cảm xúc thông qua

các chân dung tâm lý điển hình trong các khách thể được khảo sát. Đó cũng là

cơ sở để đề xuất các biện pháp nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên.

* Khách thể phân tích: Chúng tôi lựa chọn 2 chân dung tâm lý là những

điều tra viên đang công tác ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an để phân

tích. Việc phân tích diễn ra đối với từng điều tra viên nhằm tìm hiểu biểu hiện trí

tuệ cảm xúc của họ đối với hoạt động điều tra, từ đó phác thảo chân dung tâm lý

của họ. Để đảm bảo an toàn và tính khách quan cho khách thể phân, chúng tôi đã

đổi tên và thông tin cá nhân của họ.

* Nội dung thực hiện: Thu thập thông tin về bản thân, gia đình, quá trình

công tác và những thành tựu mà cá nhân đạt được kể từ khi công tác. Những

thông tin này sẽ góp phần lý giải những biểu hiện cảm xúc của điều tra viên cũng

như các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của họ.

* Cách thức tiến hành: Tìm hiểu thông tin ban đầu thông qua trao đổi,

phỏng vấn với các cơ quan, cán bộ lãnh đạo và đồng nghiệp; nghiên cứu hồ sơ

của các điều tra viên nghiên cứu kết quả hoạt động. Từ đó, dự kiến chân dung

tâm lý điển hình cần phân tích, làm rõ và tiến hành điều tra có chủ đích (theo

phiếu điều tra, rút phiếu số 69 và phiếu số 126) đối với chân dung dung tâm lý

điển hình nhằm làm rõ chân dung theo mục đích nghiên cứu đã xác định.

3.2.7. Phương pháp đánh giá nhóm

* Mục đích nghiên cứu: Phương pháp đánh giá nhóm được lựa chọn

để nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của điều tra viên bởi đây là một loại trí tuệ

xã hội, được thể hiện và phát triển trong hoạt động có tính chất cộng

đồng, có tác dụng nâng cao hiệu quả hoạt động có tính chất cộng đồng

như hoạt động điều tra.

Phương pháp đánh giá nhóm được sử dụng làm phương pháp nghiên

cứu chính của luận án nhằm tìm hiểu ý kiến đánh giá của nhóm xã hội - nghề

nghiệp về mức độ biểu hiện năng lực trí tuệ cảm xúc và kết quả hoạt động

điều tra của điều tra viên.

114

Nhằm tìm hiểu mức độ biểu hiện trí tuệ cảm trong hoạt động điều tra của

điều tra viên, luận án sử dụng phiếu đánh giá mức độ biểu hiện năng lực trí tuệ

cảm xúc trong hoạt động điều tra của điều tra viên để lấy ý kiến đánh giá của

lãnh đạo, nhóm làm việc (đồng nghiệp), bản thân điều tra viên vào thời điểm đo

trí tuệ cảm xúc tháng 6/2021 trên 255 điều tra viên.

* Nội dung nghiên cứu: Làm rõ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở

Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

* Cách thức tiến hành: Để xác định kết quả hoạt động điều tra của điều tra

viên theo đánh giá của nhóm xã hội - nghề nghiệp, sử dụng Bảng đánh giá nhóm

với những tiêu chí và biểu hiên cụ thể nhằm lấy ý kiến đánh giá của lãnh đạo,

nhóm làm việc (đồng nghiệp), bản thân điều tra viên vào thời điểm đo trí tuệ

cảm xúc tháng 6/2021 trên 255 điều tra viên.

Ngoài ra, để có cơ sở xác định chất lượng hoạt động điều tra của điều tra

viên, luận án tiến hành đánh giá sản phẩm hoạt động điều tra, đó là một kỹ năng

xã hội quan trọng của điều tra viên bằng phương pháp đánh giá nhóm. Phương

pháp đánh giá nhóm nhằm xác định mức độ biểu hiện kỹ năng xã hội của 255

điều tra viên. Các lực lượng tham gia đánh giá bao gồm lãnh đạo, đồng nghiệp

của điều tra viên tại thời điểm tháng 6/2021.

3.2.8. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

* Mục đích của phương pháp chuyên gia: Trong phạm vi luận án

này, chúng tôi sử dụng phương pháp chuyên gia để tranh thủ ý kiến và

đánh giá của các chuyên gia tâm lý học và chuyên gia tham vấn tâm lý

để từ đó có cái nhìn tổng thể về trong việc triển khai nghiên cứu và viết

các nội dung của luận án. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia được sử

dụng ở tất cả các giai đoạn nghiên cứu của luận án, nhằm xin ý kiến

chuyên gia thẩm định những tiêu chí do các biểu hiện, mức độ biểu hiện

trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.

* Đối tượng của phương pháp chuyên gia: Chúng tôi tiến hành xin ý

kiến của 10 nhà tâm lý học là giảng viên Khoa Tâm lý học Học viện An ninh

115

nhân dân và Học viện cảnh sát nhân dân; Khoa Tâm lý - giáo dục, Trường Đại

học sư phạm Hà Nội; Khoa Tâm lý học, 02 chuyên gia thực tiễn ở Cục An ninh

điều tra thuộc Bộ Công an.

* Nội dung nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành xin ý kiến các chuyên gia

trong suốt quá trình thực hiện luận án về những vấn đề sau:

Hướng tiếp cận, mục đích, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu;

Khái quát các đặc điểm hoạt động của điều tra viên ở Cục An ninh điều

tra thuộc Bộ Công an;

Các biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra

thuộc Bộ Công an;

Các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An

ninh điều tra thuộc Bộ Công an;

Các nội dung đánh giá thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở

Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an;

Các biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh

điều tra thuộc Bộ Công an;

* Cách tiến tiến hành: Xin ý kiến của 15 chuyên gia về lĩnh vực tâm lý

học, tâm lý học công an nhân dân, các chuyên gia về hoạt động điều tra trong

thực tiễn ở Cục An ninh điều tra ở trong nước bằng phiếu xin ý kiến. Các ý

kiến có tần suất từ 50% trở lên được chúng tôi lựa chọn làm cơ sở cho việc

đưa ra các mệnh đề trong phiếu điều tra.

Sau khi phác thảo phiếu điều tra với các mệnh đề, chúng tôi tiếp tục xin

ý kiến chuyên gia, những người có kinh nghiệm và hiểu biết về trí tuệ cảm

xúc để hoàn thiện phiếu điều tra.

3.2.9. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

* Mục đích của phương pháp thống kê toán học: Các số liệu thu được

sau điều tra được xử lý bằng chương trình thống kê SPSS cho Window phiên

bản 20.0, nhằm thu được các số liệu định lượng tin cậy, chính xác phục vụ

phân tích thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra.

Tất cả các phép phân tích, đều chọn mức độ ý nghĩa ≥ 95%, hay p ≤ 0,05.

116

* Các phép toán thống kê được sử dụng trong luận án

- Phân tích sử dụng thống kê mô tả:

+ Điểm trung bình cộng (mean) được dùng trong việc tính điểm đạt

được của từng nhóm mệnh đề.

+ Điểm trung vị (median) là trị số của trường hợp nằm giữa khi số liệu

của biến nghiên cứu được sắp xếp theo thứ tự tăng dần (từ bé nhất đến lớn

nhất), được dùng để mô tả điểm nằm giữa tổng một mẫu.

+ Độ lệch chuẩn (SD - standardizied deviation) được dùng để mô tả

mức độ tập trung hay sự phân tán của các câu trả lời của mẫu.

Cụ thể, trong luận án, chúng tôi sử dụng tìm hiểu thực trạng mức độ trí

tuệ cảm xúc của điều tra viên ở cục An ninh điều tra, thực trạng các yếu tố

ảnh hưởng tới trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở cục An ninh điều tra.

- Phân tích sử dụng thống kê suy luận:

+ Phân tích tương quan nhị biến: Dùng kiểm định hệ số tương quan

pearson (r), để phân tích tương quan giữa hai biến số định lượng nhằm tìm hiểu

sự liên hệ tuyến tính giữa hai biến số định lượng, sự thay đổi ở biến này có làm

thay đổi ở biến còn lại một cách có ý nghĩa hay không, sự thay đổi đó theo

chiều thuận hay thay đổi theo chiều nghịch. Trong đó, chúng tôi quy định: │r│≤

0,3: tương quan yếu; 0,3 <│r│ < 0,7: tương quan tương đối mạnh; │r│ ≥ 0,7:

tương quan rất mạnh.

Cụ thể, chúng tôi tìm hiểu tương quan giữa các nội dung thành phần và

các mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của điều tra viên, mức độ biểu hiện của

trí tuệ cảm xúc của điều tra viên, mối quan hệ giữa mức độ trí tuệ cảm xúc và

mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của điềtu tra viên, từng giữa các yếu

tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên,…

+ Phân tích so sánh bằng T -test: Phân tích so sánh với phép so sánh giá trị

trung bình giữa hai biến định danh, chúng tôi sử dụng các kiểm định:

Independent samples T-test (t): Nhằm so sánh giá trị trung bình của 2

nhóm để tìm sự khác biệt với biến định lượng. Trong nghiên luận án này,

117

chúng tôi sử dụng Independent sample T-test so sánh giữa đánh giá điều tra

viên và lãnh đạo Cục An ninh điều tra về mức độ các mặt biểu hiện, tổng thể

trí tuệ cảm xúc của điều tra viên, về mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ

của điều tra viên,...

+ One - way ANOVA (F): nhằm so sánh giá trị trung bình của từ ba

nhóm trở lên. Sử dụng phép phân tích phương sai một yếu tố (One - way

ANOVA, F), chúng tôi sẽ thu được thông tin cho biết các giá trị trung bình

được coi là khác nhau có ý nghĩa về khía cạnh thống kê.

Phép phân tích phương sai một yếu tố, được dùng để tìm hiểu mối quan

hệ giữa các nhóm điều tra viên khác nhau (giới tính, tuổi tác và thâm niên

công tác, trình độ học vấn) về các mặt biểu hiện và nội dung tổng thể của trí

tuệ cảm xúc, hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của điều tra viên. Mối quan hệ

giữa tự đánh giá của điều tra viên và đánh giá của đồng nghiệp; lãnh đạo về

mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của điều tra viên.

+ Univariate: Sử dụng kiểm định ANOVA hai yếu tố (F) nhằm so sánh

hai giá trị trung bình cho từ ba nhóm trở lên (biến định danh).

Cụ thể, chúng tôi sử dụng kiểm định ANOVA hai yếu tố nhằm tìm hiểu

sự ảnh hưởng của mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ đến mức độ trí tuệ

cảm xúc trong các nhóm điều tra viên có cấp bậc quân hàm khác nhau; thâm

niên công tác khác nhau; tuổi tác khác nhau.

118

Kết luận chương 3

Quá trình tổ chức nghiên cứu được tiến hành bài bản, nghiêm túc, bảo

đảm tính đại diện về mặt khách thể, về nhiệm vụ và địa bàn nghiên cứu. Ở các

đơn vị và khách thể nghiên cứu được lựa chọn đều đặt ra yêu cầu khách quan,

tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực đối với vấn đề nghiên cứu của luận án.

Trong từng giai đoạn nghiên cứu đã xác định rõ mục đích, nội dung, cách

thức thực hiện, làm cơ sở cho việc xác định và vận dụng các phương pháp

nghiên cứu phù hợp với thực tiễn hoạt động điều tra của điều tra viên.

Luận án đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của tâm lý

học như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp chuyên gia; phương

pháp điều tra bằng bảng hỏi; phương pháp quan sát; phương pháp phỏng vấn

sâu; phương pháp phân tích chân dung tâm lý; phương pháp xử lý số liệu

bằng thống kê toán học. Ở luận án cũng đã xác định mốc thời gian cụ thể cho

từng giai đoạn nghiên cứu.

Các phương pháp nghiên cứu được triển khai theo đúng mục đích, nhiệm

vụ nghiên cứu, phù hợp với điều kiện thực tiễn khi tiến hành thực hiện luận án;

đảm bảo độ tin cậy trong quá trình đánh giá thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều

tra viên ở Cục An ninh điều tra. Các phương pháp nghiên cứu tài liệu lý luận,

văn bản đã tập trung phân tích những vấn đề lý luận cơ bản luận án; các phương

pháp nghiên cứu thực tiễn được sử dụng nhằm phân tích thực trạng trí tuệ cảm

xúc và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở

Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an. Kết quả thu được trong quá trình điều

tra thực trạng, được xử lý bằng chương trình thống kê SPSS trong môi trường

Window, phiên bản 20.0.

119

Chương 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC CỦA

ĐIỀU TRA VIÊN Ở CỤC AN NINH ĐIỀU TRA THUỘC BỘ CÔNG AN

4.1. Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh

điều tra thuộc Bộ Công an

4.1.1. Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên được đánh giá

bằng trắc nghiệm MSCEIT

Luận án lựa chọn mô hình EI97 và công cụ MSCEIT do chính các tác

giả J.Mayer, P.Salovey và D.Caruso soạn thảo (Việt hoá năm 2002) để đo

lường trí tuệ cảm xúc của 255 điều tra viên của Cục An ninh điều tra - Bộ

Công an. Thời điểm thực hiện MSCEIT là vào 6/2021.

Cách tính điểm số EI và quy đổi ra EQ được trình bày ở mục 3.2.

Kết quả đo lường EI của toàn mẫu nghiên cứu được thể hiện ở bảng 4.1:

Bảng 4.1: Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên theo trắc

nghiệm MSCEIT

N 255 Min 25.99 Max 71.58 Mean 59.05 SD 6.84

255 27.49 127.47 100.01 15.00

Điểm tổng EI1 Vaild N (listwise) EQ1 Vaild N (listwise)

Số liệu bảng 4.1 cho thấy vào thời điểm điều tra tháng 6/2021, điểm

tổng EI1 của 255 điều tra viên được điều tra là 59.0586. Nếu coi điểm tổng lý

tưởng của MSCEIT là 141 điểm thì điểm tổng EI1 của điều tra viên đạt

khoảng 41.88 %.

Nếu quy đổi ra EQ thì EQ1=100.19 với chủ số EQ thấp nhất là 27.49

và chỉ số EQ cao nhất là 127.47. Theo cách phân loại mức độ trí tuệ của

Wechsler thì điểm EQ ngang của số điều tra viên này nằm trong khoảng cao.

Căn cứ vào cách phân loại này, mức độ EQ của toàn mẫu được nghiên cứu thể

hiện ở bảng 4.2:

120

Bảng 4.2: Thực trạng mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra

viên theo trắc nghiệm MSCEIT

Tổng số

Cao ≥120 115 45.1% Thấp ≤70 45 17.6% 255 100%

Trung bình Mức độ 71-119 EI 95 N 37.3% % Từ bảng số liệu 4.2 cho thấy, nếu phân loại trí tuệ cảm xúc theo cách

này thì đa số điều tra viên có trí tuệ cảm xúc cao (45.1%), có 17.6% điều tra

viên có trí tuệ cảm xúc ở mức thấp.

Đây là một kết luận khoa học quan trọng về thực trạng EI của điều tra

viên để luận án đề xuất một số biện pháp nâng cao EI cho điều tra viên.

Bảng 4.3: Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên theo trắc nghiệm MSCEIT

MSCEIT Năng lực EI Điểm TB SD p

Nhận biết cảm xúc 0.40 3.05 .00 A và E

Vận dụng cảm xúc 0.47 2.65 B và F

Thấu hiểu cảm xúc 0.48 1.96 C và G

Điều khiển cảm xúc 0.34 1.57 D và H

Kết quả bảng 4.3 cho thấy Năng lực thấu hiểu cảm xúc (0.48) và

Năng lực vận dụng cảm xúc (0.47) có điểm trung bình cao hơn, còn Năng

lực điều khiển cảm xúc (0.34) của điều tra viên còn bộc lộ sự hạn chế, có

điểm thấp nhất (p=0), điều này cũng có thể hiểu được là Năng lực thấu

hiểu cảm xúc và Năng lực vận dụng cảm xúc phát triển hơn, còn Năng lực

điều khiển cảm xúc của điều tra viên kém phát triển nhất. Trong mục

2.3.1, luận án đã phân tích Năng lực điều khiển cảm xúc là năng lực bậc

cao nhất trong 4 năng lực cơ bản của trí tuệ cảm xúc, nhưng kết quả đo

lường cho thấy năng lực trí tuệ cảm xúc này ở điều tra viên lại có điểm

trung bình thấp nhất, điều này có thể là nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại

của hàng loạt hiện tượng trong công tác điều tra hiện nay như một số điều

tra viên chưa kiểm soát được hành vi của mình, thiếu quan tâm và chưa

121

biết cách tác động đến suy nghĩ, cảm xúc của đối tượng nhằm thay đổi

cũng như hình thành cho đối tượng thái độ xã hội đúng đắn, lạm dụng các

hình thức trừng phạt hơn là thuyết phục, cảm hoá,... làm hạn chế hiệu quả

hoạt động điều tra của họ.

Nếu xét theo mức độ EQ, các năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản của điều

tra viên phát triển dần từ nhóm EQ rất thấp (1) đến nhóm EQ cao (5), trong đó

Năng lực nhận biết cảm xúc phát triển nhất, còn Năng lực điều khiển cảm xúc

kém phát triển nhất ở tất cả các nhóm. Như vậy cả 4 năng lực EI cơ bản đều

ảnh hưởng đến chỉ số EQ của điều tra viên.

Biểu đồ 4.1: So sánh 4 năng lực trí tuệ cảm xúc của điều tra viên theo

các mức độ

Khảo sát một trường hợp đặc biệt có chỉ số EQ cao nhất (mã số 113)

và thấp nhất (mã số 69) với EQ của 255 điều tra viên, cũng cho thấy mức độ

EQ cao hay thấp được quyết định bởi cả 4 năng lực EI cơ bản, vì vậy muốn

phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên phải thiết kế các biện pháp nâng

122

cao cả 4 năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản, trong đó cần chú trọng phát triển

năng lực quản lý vận dụng cảm xúc của họ (xem biểu đồ 4.2).

Biểu đồ 4.2: So sánh 4 năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản trong những

trường hợp đặc biệt

Từ biểu đồ 4.2 cho thấy bốn năng lực thành phần của EI có sự phân bố

không đồng đều. Trong đó, điểm trung bình của năng lực nhận biết xúc cảm

đạt mức cao nhất; sau đó là năng lực thấu hiểu cảm xúc. Năng lực điều khiển

cảm xúc có điểm trung bình thấp nhất. Điều này cũng hoàn toàn trùng khớp

với những nhận định của chúng tôi ở trong chương lý luận.

Từ số liệu bảng 4.1, 4.2 cho thấy: Hiện trạng độ cao EI của điều tra

viên được đo lường bằng test MSCEIT là một phân bố bình thường, hơi

nghiêng về trên trung bình, tương đối giống với phân bố chuẩn (Gaust). Từ

kết quả nghiên cứu này, có thể khẳng định giả thuyết 1 của luận án đã được

chứng minh là đúng: EI của điều tra viên cao nhưng không đồng đều ở các

biểu hiện năng lực cụ thể.

Kết quả đo lường các năng lực EI tiểu thành phần của 255 điều tra

viên ở Cục An ninh điều tra được thể hiện ở bảng 4.4:

123

Bảng 4.4: Thực trạng 8 năng lực trí tuệ cảm xúc tiểu thành phần của

điều tra viên (MSCEIT)

MSCEIT

Năng lực EI

p

Điểm TB item

Tỉ lệ %

.00

Điểm TB tiểu test 9.26 6.10

0.46 0.48

10.87 11.48

A B

Nhận biết cảm xúc khuôn mặt Nuôi dưỡng các tích cảm xúc cực

0.27

6.47

9.97

0.46

10.96

C

sự triển và sự xuất

0.52

12.36

Xét đoán tiến hiểu hiện cảm xúc

Giải quyết vấn đề cụ thể Xem xét vấn đề đa chiều Xét đoán sự tiến triển của cảm xúc Giải thích nguyên nhân thay đổi cảm xúc

6.48 10.39

0.32 0.34

7.61 8.13

D E

8.00 5.61

0.53 0.46

12.52 10.98

F G

Quản lý cảm xúc của bản thân Nhận biết cảm xúc bối cảnh, môi trường Liên hệ cảm giác vào trong cảm xúc Hiểu sự biến đổi, hoà trộn các cảm xúc Quản lý cảm xúc người khác

3.30

0.36

8.62

H

Số liệu bảng 4.4 cho thấy các năng lực trí tuệ cảm xúc thành phần

của điều tra viên có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (p=0). Sự khác

biệt giữa các năng lực trí tuệ cảm xúc thành phần của điều tra viên được

phân tích cụ thể như sau:

- Năng lực liên hệ cảm giác vào trong cảm xúc của điều tra viên có

điểm trung bình cao nhất (8.00), đứng thứ 2 là Năng lực xét đoán sự tiến triển

và hiểu sự xuất hiện cảm xúc (9.87). Các năng lực trí tuệ cảm xúc này của

điều tra viên có điểm trung bình cao hơn các năng lực trí tuệ cảm xúc khác, có

thể do tính chất nghề nghiệp của họ, cụ thể là điều tra viên tiếp xúc với các

đối tượng phạm tội nên họ cần được trang bị những kiến thức tâm lý nghiệp

vụ để nắm bắt được tâm lý của đối tượng, cũng như có kỹ năng giao tiếp,

nghiệp vụ điều tra trong quá trình đào tạo ở trường và trong các khoá học

nâng cao trình độ; mặt khác quá trình hoạt động điều tra của điều tra viên đòi

124

hỏi phải xử lý những tình huống nghiệp vụ từ đơn giản đến phức tạp trong các

mối quan hệ giữa điều tra viên với đối tượng, đồng nghiệp, với lãnh đạo,...

nên toàn bộ hoạt động thực tiễn đó đem lại cho họ năng lực hiểu sự xuất hiện

và những thay đổi của cảm xúc trong những tình huống cụ thể.

- Năng lực quản lý cảm xúc bản thân của điều tra viên có điểm trung bình thấp

nhất (6.48) trong 8 năng lực trí tuệ cảm xúc thành phần. Đứng thứ 7 là Năng lực nhận

biết cảm xúc qua các bức tranh phong cảnh và thiết kế nghệ thuật (10.39).

Tìm hiểu nguyên nhân của hiện trạng Năng lực quản lý cảm xúc bản

thân của điều tra viên đạt điểm trung bình thấp nhất, có lẽ cần xuất phát từ

việc phân tích điều kiện thực hiện hoạt động điều tra của điều tra viên hiện

nay. Qua điều tra điều kiện tiến hành hoạt động điều tra của điều tra viên cho

thấy: về chuyên môn, họ phải liên tục chịu sức ép yêu cầu trình độ, các đợt

thanh tra, kiểm định; về kết quả hoạt động điều tra, họ là người chịu trách

nhiệm toàn bộ kết luận điều tra vụ án và mức hình phạt mà đối tượng phạm

tội phải nhận lấy; về không gian, phạm vi hoạt động của điều tra viên ở những

vụ án nhất định gắn với đối tượng, những người liên quan đến vụ án, trong

một không gian có thể rất rộng hoặc hẹp, ở những khoảng không gian khác

nhau, tuỳ thuộc vào tính chất của từng vụ án; về thời gian, điều tra viên làm

việc 8h/ngày, tuy nhiên số lượng giờ giấc này có thể tăng lên tuỳ thuộc tính

chất phức tạp của vụ án mà điều tra viên đảm nhận, thậm chí thời gian điều

tra viên làm việc có thể kéo dài liên tiếp vài ngày; về thu nhập, điều tra viên

có mức thu nhập ổn định theo hệ số lương, bậc hàm, chức vụ mà điều tra viên

đang đảm nhận, tuy nhiên mức thu nhập này không cao. Bên cạnh đó điều

kiện làm việc của điều tra viên lại khá căng thẳng và khép kín, quan hệ giữa

điều tra viên và đối tượng là quan hệ có tính chất ràng buộc, đối tượng sẽ luôn

tìm cách giữ khoảng cách hoặc tạo một lớp bình phong giả đối với điều tra

viên nên sẽ tạo ra những khó khăn nhất định trong quá trình tiến hành điều tra

vụ án của họ. Vì vậy, có thể điều tra viên chưa thật sự coi trọng việc phải làm

chủ cảm xúc của bản thân và chưa ý thức được vai trò của Năng lực quản lý

cảm xúc bản thân trong hoạt động điều tra của mình.

125

Năng lực nhận biết cảm xúc bối cảnh, môi trường của điều tra viên có

điểm trung bình chưa cao, có thể hiểu là chưa phát triển, cũng có thể do tính

chất thực hiện công việc của điều tra viên. Một mặt do đặc thù nhận thức của

các đối tượng thực hiện hành động phạm tội có sự khác nhau, nhiều đối tượng

có trình độ nhận thức cao nhưng nhiều đối tượng có trình độ nhận thức còn

hạn chế nên tư duy của các đối tượng đó chính là tư duy mang tính trực quan,

cụ thể nên đặt ra yêu cầu đối với điều tra viên trong việc điều tra, lên kế hoạch

mang đậm tính chất trực quan, cụ thể (dựng lại hiện trường vụ án, ...). Mặt

khác thông qua quan sát hướng xử lý các vụ án của điều tra viên cho thấy, hầu

hết các điều tra viên đều chú trọng vào các tình tiết xuất hiện trong vụ án cũng

như các chi tiết có liên quan để giải quyết vụ án mà đôi khi bỏ qua những tình

huống mang tính chất phức tạp; điều này cũng được nhận thấy qua kết quả

điều tra của luận án. Còn việc nhận ra cũng như chủ động tạo ra khung cảnh

điều tra chứa đựng cảm xúc rõ rệt, thuận lợi cho việc tiến hành hoạt động điều

tra của bản thân, cũng như nhận ra nhu cầu, cảm xúc của từng đối tượng chưa

được họ quan tâm, chú ý đúng mức.

Bên cạnh đó, không chỉ Năng lực quản lý các cảm xúc của bản thân mà

cả Năng lực quản lý cảm xúc người khác của điều tra viên cũng được thể hiện

chưa có phát triển rõ rệt (3.30, xếp thứ 6/8), cho thấy một đặc điểm trí tuệ

cảm xúc của điều tra viên là các năng lực trí tuệ cảm xúc mức độ cơ sở phát

triển hơn các năng lực trí tuệ cảm xúc mức độ cấp cao.

Một số kết luận về nghiên cứu thực trạng EI bằng MSCEIT của điều tra viên

+ Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở mức cao, được quy định bởi sự

phát triển của tất cả các năng lực thành phần của EI.

+ Các năng lực EI thành phần của điều tra viên phát triển chưa đồng

đều, mang đặc thù của hoạt động nghề nghiệp, sự khác biệt giữa chúng là

đáng kể và có ý nghĩa về mặt thống kê. Các Năng lực liên hệ cảm giác vào

trong cảm xúc, Năng lực giải thích sự thay đổi cảm xúc, Năng lực giải quyết

126

vấn đề cụ thể phát triển hơn, còn Năng lực xem xét vấn đề đa chiều, Năng lực

quản lý cảm xúc của bản thân, Năng lực quản lý cảm xúc người khác của điều

tra viên còn hạn chế.

4.1.2. Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều

tra thuộc Bộ Công an trong hoạt động điều tra

Để hiểu rõ hơn về biểu hiện và mức độ biểu hiện của trí tuệ cảm xúc

chúng tôi đi sâu phân tích từng mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của điều tra

viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an trong hoạt động điều tra, thu

được kết quả cụ thể như sau:

4.1.2.1. Thực trạng năng lực nhận biết cảm xúc của điều tra viên ở

Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

Nhằm làm rõ thực trạng về năng lực nhận biết cảm xúc của điều tra

viên, chúng tôi dựa trên 7 item phản ánh khả năng nhận biết được cảm xúc

của mình và đối tượng; khả năng lý giải được nguyên nhân xuất hiện cảm

xúc; phân biệt được cảm xúc thật hay giả để thiết kế bảng hỏi nhằm làm

sáng tỏ năng lực nhận thức của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra, thu

được thể hiện ở phụ lục 5.8. Thông qua kết quả này cho thấy từng mặt biểu

hiện trong năng lực nhận biết của điều tra viên có ĐTB từ 2.32 đến 2.67;

với các mức độ khác nhau. Cụ thể:

Bảng 4.5: Thực trạng năng lực nhận biết cảm xúc của điều tra viên ở

Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

TT ĐTB ĐLC Thứ bậc Biểu hiện năng lực nhận biết cảm xúc của điều tra viên

2.67 0.46 1

1 Nhận thức được cảm xúc ưu trội của bản thân khi đối mặt với tình huống xảy ra 2 Nhận thức mối quan hệ giữa ngôn ngữ và 2.43 0.57 4

cảm xúc của đối tượng

3 Nhận thức mối quan hệ giữa cảm xúc và 2.61 0.56 2

hành vi của đối tượng điều tra

127

3 4 Nhận thức được cảm xúc phức hợp của 2.47 0.46

đối tượng khi tham gia giao tiếp

7 5 Nhận thức được sự chuyển đổi cảm xúc 2.34 0.55

của đối tượng điều tra

5 6 Nhận thức được cảm xúc của bản thân trong 2.41 0.49

một tình huống điều tra

6 7 Đánh giá được trạng thái cảm xúc của đối 2.38 0.57

tượng qua hành vi, điệu bộ, cử chỉ

Tổng hợp chung 2.47 0.44

Từ kết quả trên cho chúng ta thấy, các điều tra viên đều có năng lực nhận biết cảm xúc đạt ở mức độ cao. Tuy nhiên năng lực này lại thể hiện sự không đồng đều trong từng khả năng biểu hiện, cụ thể:

Điều tra viên có khả năng nhận biết cảm xúc ưu trội của bản thân luôn đạt ở mức độ cao, ĐTB = 2.67, xếp thứ nhất. Trong đó năng lực nhận biết cảm xúc phức hợp của đối tượng ở mức thấp hơn, ĐTB = 2.47, xếp thứ 3/7; khả năng đánh giá được trạng thái cảm xúc của đối tượng qua hành vi, điệu bộ, cử chỉ có ĐTB = 2.38, xếp thứ 6/7.

Tuy nhiên, khả năng nhận thức được sự chuyển đổi cảm xúc của đối

tượng điều tra còn thể hiện sự hạn chế, ĐTB = 2.34, xếp thứ 7/7. Trong đó,

điều tra viên thường nhận rõ mối quan hệ giữa cảm xúc và hành vi của đối

tượng điều tra, ĐTB = 2.61, xếp thứ 2/7.

Điều này cho thấy trong năng lực nhận thức của điều tra viên thể

hiện sự không đồng đều giữa việc điều tra viên nhận thức được xúc cảm

của bản thân cũng như nhận thức được xúc cảm của đối tượng. Năng lực

nhận thức được cảm xúc của đối tượng đạt mức độ cao hơn là do hoạt

động điều tra yêu cầu cần phải nhanh nhạy trong việc nắm bắt trạng thái

xúc cảm của các đối tượng; phần khác do hoạt động điều tra càng lâu sẽ

giúp điều tra viên có kinh nghiệm dày dặn hơn trong quá trình đưa ra

nhận định về trạng thái cảm xúc của đối tượng. Chính yêu cầu nghề

nghiệp cũng như yêu cầu về thời gian hoàn thành cũng lý giải phần nào

128

thực trạng điều tra viên có năng lực nhận biết cảm xúc bản thân còn hạn chế.

Trong câu hỏi số I.4 và số I.5 chúng tôi cũng đã làm rõ được năng lực phân

biệt cảm xúc của điều tra viên luôn ở mức độ cao (đạt 58.4 % - 74.9%); điều

này cho thấy điều tra viên có sự nhạy cảm trong hoạt động nghề nghiệp tốt.

Vì vậy trong năng lực nhận thức, điều tra viên đã thể hiện được khả năng

phân biệt cảm xúc rất tốt. Tuy nhiên, để tìm ra được nguyên nhân của những

cảm xúc hiện có (câu hỏi I.7) thì điều tra viên vẫn đạt mức độ cao (chiếm

44.3%) nhưng có 36.5% số điều tra viên lại chưa lý giải được nguyên nhân

này. Điều này cho thấy một bộ phận không nhỏ còn thể hiện khả năng nhận

biết cảm xúc hạn chế. Từ đó, trong quá trình đề xuất biện pháp để phát

triển cảm xúc của điều tra viên cần phải lưu ý điều này.

Để hiểu rõ hơn về thực trạng này, chúng tôi tiến hành phỏng vấn với

điều tra viên H.V.Th - Phó trưởng phòng 2 với câu hỏi “Theo đồng chí, trong

hoạt động điều tra, điều tra viên có khả năng nắm bắt được cảm xúc của đối

tượng như nào? Điều tra viên có những hạn chế nào dẫn đến quá trình điều tra

bị ảnh hưởng hay không?”. Trả lời câu hỏi này, đồng chí Th. cho biết; “Trong

hoạt động điều tra các điều tra viên thể hiện rất tốt việc nắm bắt cảm xúc của

các đối tượng. Hầu hết, khi thực hiện hoạt động điều tra; điều tra viên luôn

nhận biết chính xác thái độ cảm xúc mà đối tượng thể hiện thông qua ngôn

ngữ, cử chỉ, điệu bộ. Thông qua đó, chúng tôi đi sâu tìm hiểu lý do vì sao đối

tượng có những biểu hiện đó, để nắm bắt ngọn nguồn của cảm xúc và đưa ra

cách xử lý đúng đắn. Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều đối tượng thực hiện

hành vi phạm tội là những người có trình độ nhận thức cao, lại được các thế lực

thù địch đào tạo khả năng ứng phó với cơ quan điều tra một cách bài bản nên

việc đưa ra nhận định cảm xúc của đối tượng bộc lộ là thật hay giả khiến chúng

tôi rất mất thời gian. Thậm chí khi đưa ra phán đoán chúng tôi có đôi khi không

chắc chắn về nhận định của mình. Điều này có ảnh hưởng lớn đến tinh thần của

chúng tôi, khiến chúng tôi làm việc căng thẳng hơn dẫn đến kết quả điều tra sẽ

chịu ảnh hưởng nhất định”.

129

Như vậy, trong năng lực nhận biết cảm xúc, cần phát triển hài hoà cân

đối giữa các khả năng để điều tra viên có thể có được trí tuệ cảm xúc một

cách tích cực, chính xác.

4.1.2.2. Thực trạng năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên ở Cục

An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

Dựa trên những kiến thức lý luận đã xác định, chúng tôi tiến hành làm rõ

năng lực này ở điều tra viên dựa trên 2 khía cạnh: Nhận định chính xác cảm xúc

của đối tượng; lắng nghe, chia sẻ, nắm bắt được nhu cầu của đối tượng. Kết quả

của năng lực thấu hiểu cảm xúc được thể hiện cụ thể trong phụ lục 5.8 cho thấy

các mặt biểu hiện trong năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên có ĐTB từ

2.44 đến 2.60; với độ lệch chuẩn dao động từ 0.46 đến 0.57.

Kết quả thu được thể hiện cụ thể ở bảng sau:

Bảng 4.6: Thực trạng năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên ở

Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

ĐTB

Thứ bậc

TT

ĐLC

Biểu hiện năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên

1 Hiểu rõ cảm xúc của bản thân trong tình

2.48

0.57

4

huống điều tra

2 Hiểu rõ cảm xúc nào đang “xâm chiếm”

2.53

0.49

3

đối tượng trong tình huống điều tra

3 Hiểu rõ diễn biến cảm xúc của đối tượng trong

2.60

0.46

1

tình huống điều tra

4 Hiểu rõ tâm trạng phức hợp của đối tượng

2.44

0.57

5

trong tình huống điều tra

2.56

0.49

2

5 Hiểu rõ cần phải điều khiển bản thân vào cảm xúc tích cực để nhìn nhận tình huống xảy ra dưới nhiều góc độ Tổng hợp chung

2.52

0.45

Trong năng lực này, điều tra viên thể hiện năng lực khá đồng đều ở các

mặt biểu hiện, đều đạt mức độ cao trong từng khía cạnh khác nhau.

Khả năng lắng nghe, chia sẻ, nắm bắt nhu cầu, tâm lý đối tượng điều tra viên được thể hiện qua việc điều tra viên đưa mình vào cảm xúc tích cực để nhìn nhận tình huống xảy ra dưới nhiều góc độ. Trong mặt biểu hiện này, điều tra viên thể hiện rất tốt, ĐTB = 2.60, ĐLC = 0.46, xếp thứ nhất.

130

Khả năng nhận định chính xác cảm xúc của điều tra viên đạt mức cao,

nhưng thể hiện mức độ chưa đồng đều (chiếm 48.2% - 67.8%), ĐTB = 2.48,

ĐLC = 0.57, xếp thứ 4/5. Trong đó, điều tra viên hiểu được rõ đối tượng cảm

thấy thế nào ở mức độ cao, ĐTB = 2.53, ĐLC = 0.49, xếp thứ 3/5; nhận ra

cảm xúc và diễn biến cảm xúc ở đối tượng, bị can, người làm chứng trong

tình huống cụ thể ĐTB = 2.44, ĐLC = 0.57, xếp thứ 5/5. Ngoài ra có 48.2%

điều tra viên đạt ở mức độ cao trong việc hiểu được tâm trạng của đối tượng

hay bị can, người làm chứng trong những tình huống cụ thế.

Đặc biệt, trong khả năng thấu hiểu cảm xúc của đối tượng hay bị can,

người làm chứng vẫn có số ít đạt ở mức độ trung bình (chiếm 23.9% -

31.4%). Điều này cho thấy, hầu hết điều tra viên đều là những người sống

tình cảm; có khả năng chia sẻ, quan tâm rất nhanh nhạy đến đối tượng. Tuy

nhiên, như nội dung trước chúng tôi cũng nhận định, do năng lực nhận biết cảm

xúc của điều tra viên đôi khi chịu sự tác động của đối tượng tiếp xúc (thể hiện

ở việc đối tượng sử dụng chiêu trò đánh lừa cảm xúc) nên khả năng phân biệt

cảm xúc thật giả ở điều tra viên còn hạn chế. Điều này chi phối đến khả năng

đưa ra nhận định chính xác cảm xúc của điều tra viên cũng chịu sự tác động,

ảnh hưởng. Hơn nữa năng lực nhận định cảm xúc còn phụ thuộc vào khả năng

nhanh nhạy của từng điều tra viên; do đó thực trạng này lý giải hợp lý những

điều tra viên có tính nhạy cảm cao trong quá trình nắm bắt cảm xúc của đối

tượng thường có kết quả hoạt động điều tra tốt hơn.

Để làm rõ hơn năng lực này, chúng tôi tiến hành phương pháp quan sát

hành động thường ngày của một số điều tra viên tại phòng 5. Chúng tôi tiến

hành quan sát một cách khéo léo để đối tượng không biết được và có thể bộc

lộ một cách tự nhiên, chính xác nhất những cảm xúc thực hàng ngày. Quá

trình quan sát này được diễn ra trong thời gian một tuần. Kết quả quan sát cho

thấy năng lực thấu hiểu được thể hiện rất tốt ở điều tra viên nhưng năng lực

này được thể hiện không đồng đều giữa các điều tra viên, giữa các mặt biểu

hiện của năng lực này cũng thể hiện sự khác biệt rõ nét. Cụ thể, khi họp bàn

về phương hướng xử lý một vụ án cụ thể khi gặp phải sự chống trả của đối

131

tượng; mỗi điều tra viên lại đưa ra những nhận định và phương hướng giải

quyết khác nhau. Mỗi nhận định của điều tra viên đưa ra đều thể hiện được

khả năng nhạy bén của điều tra viên trong việc nắm bắt được cảm xúc của đối

tượng hay không? Trong sinh hoạt hàng ngày các điều tra viên cũng thể hiện

sự chia sẻ trong công việc cũng như trong đời sống tinh thần. Các điều tra

viên đều thể hiện sự chia sẻ với cảm xúc của đồng nghiệp đang trải qua và

đưa ra những lời lẽ, cử chỉ động viên hàng ngày. Điều này cho thấy khả năng

thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên được thể hiện không chỉ với các đối

tượng điều tra mà còn thể hiện với cả đồng nghiệp trong cơ quan.

4.1.2.3. Thực trạng năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên ở Cục

An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

Tìm hiểu về thực trạng năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên cụ thể,

chúng tôi thu được kết quả như sau: Năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên

có ĐTB từ 2.31 đến 2.64, với độ lệch chuẩn từ 0.36 đến 0.64 (phụ lục 5.8).

Bảng 4.7: Thực trạng năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên ở

Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

ĐTB

ĐLC

TT

Thứ bậc

Biểu hiện năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên

1 Vận dụng kinh nghiệm đã có tìm ra cách giải

2.64

0.36

1

2

2.53

0.57

4

3

2.57

0.50

2

4

2.55

0.52

3

5

2.38

0.64

6

6

2.31

0.57

7

7

2.46

0.62

5

quyết hiệu quả cho tình huống hiện tại Có kỹ năng giao tiếp, thuyết phục hiệu quả khiến đối tượng sẵn sàng chia sẻ, khai báo thành khẩn Có cách thức tác động hiệu quả đến người thân của đối tượng tạo thuận lợi cho điều tra Biết huy động cảm xúc có lợi để bản thân suy nghĩ tích cực Biết huy động cảm xúc có lợi để nhìn nhận sự việc một cách đa chiều Biết huy động cảm xúc có lợi để tìm ra biện pháp giải quyết mâu thuẫn hiệu quả Biết tìm ra phương tiện để giải toả cảm xúc tiêu cực của bản thân Tổng hợp chung

2.49

0.47

Điều này cho thấy năng lực vận dụng cảm xúc của điều tra viên không

đồng đều. Trong đó, điều tra viên có khả năng “Vận dụng kinh nghiệm đã có

132

tìm ra cách giải quyết hiệu quả cho tình huống hiện tại” có kết quả cao nhất

với ĐTB = 2.64, ĐLC=0.36, xếp thứ nhất. Tư duy giải quyết vấn đề được

thể hiện ở trong việc cá nhân có cách giải quyết hiệu quả khiến đối tượng

gần gũi và chia sẻ; ở việc điều tra viên khiến cho người thân của đối tượng

có nhận thức đúng và tác động tới đối tượng để khai báo. Trong khả năng

này điều tra viên đạt ĐTB = 2.57, ĐLC = 0.50, ở mức cao, xếp thứ 2/7. Biểu

hiện “Biết huy động cảm xúc có lợi để bản thân suy nghĩ tích cực” có ĐTB

= 2.55, ĐLC = 0.52, xếp thứ 3/7. Biểu hiện “Biết huy động cảm xúc có lợi

để tìm ra biện pháp giải quyết mâu thuẫn hiệu quả” có kết quả thấp nhất với

ĐTB = 2.31, ĐLC = 0.57, xếp thứ 7/7.

Có thể thấy điều tra viên luôn thể hiện quá trình giải quyết tình huống

nhanh nhạy do họ có tư duy nhạy bén cũng như khả năng nắm bắt vấn đề có chiều

sâu. Do đó tư duy giải quyết vấn đề của điều tra viên luôn thể hiện sự ưu việt nhất

định. Ngược lại với điều đó, do điều tra viên trong hoạt động nghề nghiệp phải xử

lý nhiều vụ án khác nhau, mỗi cá nhân lại có trí nhớ khác nhau nên khả năng ghi

nhớ vụ việc của điều tra viên còn chưa đạt ở mức cao. Trong quá trình hoạt động

nghề nghiệp, điều tra viên phải thường xuyên đối diện với rất nhiều những khó

khăn, bất lợi mà đối tượng tạo ra cũng như tính chất, yêu cầu công việc cần giải

quyết nhanh gọn nên điều tra viên không có nhiều thời gian để điều chỉnh cảm xúc

của bản thân bằng những cách giải toả khác nhau. Vì thế, khả năng sử dụng cảm

xúc có ý thức của điều tra viên còn đạt ở mức trung bình.

Lý giải vấn đề này chúng tôi tiến hành xin ý kiến chuyên gia. Theo

chuyên gia B.M.H cho biết, sở dĩ có điều này là do hầu hết các điều tra

viên đều là những sinh viên được đào tạo một cách bài bản tại các trường

Công an nhân dân. Tại đây, các điều tra viên đều được trang bị những kiến

thức, kỹ năng giải quyết các tình huống nghiệp vụ một cách bài bản, thuần

thục. Hơn nữa trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, điều tra viên đã xử

lý, giải quyết nhiều vụ án với tính chất khác nhau nên đã hình thành, bồi

dưỡng và củng cố kỹ năng giải quyết vấn đề cũng như kinh nghiệm của

mỗi điều tra viên. Tuy nhiên, do tính chất công việc phải tiếp xúc với nhiều

133

đối tượng khác nhau nên điều tra viên sẽ cần phải tiếp nhận rất nhiều thông

tin, đòi hỏi điều tra viên cần phải có khả năng chắt lọc thông tin tốt. Quá

trình này sẽ thể hiện khả năng ghi nhớ của điều tra viên còn có hạn chế.

Mặt khác, do năng lực phân biệt cảm xúc của điều tra viên còn hạn chế do

đó trong việc có ý thức sử dụng cảm xúc của điều tra viên đạt mức độ

không cao. Điều này còn được lý giải bởi tính chủ thể của mỗi cá nhân.

Mỗi cá nhân đều có cách năng lực nhìn nhận, đánh giá và giải quyết vấn đề

khác nhau; do đó trong việc lựa chọn sử dụng cảm xúc có ý thức của mỗi

điều tra viên cũng thể hiện những hạn chế nhất định.

4.1.2.4. Thực trạng năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên ở

Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

Để làm rõ thực trạng năng lực điều khiển cảm xúc chúng tôi tiến hành

làm rõ trên các phương diện khả năng kiểm soát cảm xúc của điều tra viên thể

hiện trong mối quan hệ với bản thân và với đối tượng giao tiếp. Theo phụ lục

5.8 cho thấy ĐTB của năng lực này của điều tra viên từ 2.07 đến 2.56. Kết

quả thu được cụ thể cho thấy:

Bảng 4.8: Thực trạng năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên ở

Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

ĐTB

ĐLC

Thứ bậc

TT

2.32

0.55

1

5

2

2.46

0.57

3

3

2.07

0.44

7

4

2.27

0.39

6

5

2.56

0.40

1

6

2.43

0.57

4

7

2.50

0.56

2

Biểu hiện năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên Điều chỉnh cảm xúc bản thân theo hướng tích cực trong các tình huống điều tra Biết cách lan truyền cảm xúc tích cực của bản thân đến đối tượng điều tra Giúp đỡ, hướng dẫn có hiệu quả đối tượng điều tra thoát khỏi suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực Trong các tình huống điều tra có thể chủ động thể hiện cảm xúc Có thể gạt bỏ cảm xúc bất lợi của cá nhân trong hoạt động điều tra Nhanh chóng tìm ra cách thoát khỏi tâm trạng tiêu cực của bản thân Bình tĩnh, chủ động trước bất kỳ tình huống điều tra xảy ra Tổng hợp chung

2.37

0.42

134

Năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên thể hiện không đồng đều ở

các mặt biểu hiện. Trong đó biểu hiện “Có thể gạt bỏ cảm xúc bất lợi của

cá nhân trong hoạt động điều tra” có ĐTB = 2.56, ĐLC = 0.40 ở mức cao

nhất. Tiếp đến là biểu hiện “Bình tĩnh, chủ động trước bất kỳ tình huống

điều tra xảy ra” có ĐTB = 2.56, ĐLC = 0.40, xếp thứ 2/7 cho thấy năng

lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên với đối tượng đạt mức độ cao

(53.7%). Trong hoạt động điều tra việc nắm bắt cảm xúc của đối tượng

có ý nghĩa quan trọng, do đó điều tra viên luôn cần nhanh nhạy trong

việc quan sát cũng như hướng đối tượng ra khỏi tình trạng cảm xúc hiện tại.

Nhận thức được điều đó nên điều tra viên luôn chú trọng và thể hiện tốt đối với

nắm bắt cảm xúc của đối tượng, hướng họ đến những suy nghĩ và cảm xúc

mang tính chất tích cực. Tuy nhiên, trong hoạt động điều tra, điều tra viên

thường xuyên phải tiếp xúc với các đối tượng có trình độ, được các thế lực thù

địch đào tạo bài bản nên điều tra viên thể hiện sự cẩn trọng trong quá trình giao

tiếp. Đặc biệt, không để đối tượng nắm bắt được suy nghĩ cũng như trạng thái

cảm xúc của mình luôn được điều tra viên lưu tâm. Do đó kết quả điều tra trong

câu hỏi “Thành thục trong giúp đỡ, hướng dẫn đối tượng điều tra thoát khỏi suy

nghĩ và cảm xúc tiêu cực” điều tra viên đạt mức thấp, có ĐTB = 2.07, ĐLC =

0.44, xếp thứ 7/7 là hợp lý.

Năng lực điều khiển cảm xúc của bản thân điều tra viên chưa tốt, có ĐTB

= 2.32, ĐLC = 0.55, xếp thứ 5/7 . Lý giải điều này chúng tôi nhận thấy, điều tra

viên đều có nhận biết tốt cảm xúc cũng như khả năng thấu hiểu cảm xúc đạt ở

mức cao. Tuy nhiên do kiểu khí chất của mỗi điều tra viên lại khác nhau dẫn

đến quá trình giải quyết vấn đề của điều tra viên sẽ diễn ra theo những cách

thức khác nhau với những cảm xúc xuất hiện cũng thể hiện rõ sự khác biệt.

Đối với những điều tra viên có kiểu khí chất linh hoạt sẽ điều khiển cảm xúc

theo hướng phù hợp với từng hoàn cảnh, đối tượng vì họ có khả năng thích

nghi rất nhạy bén; nhưng với những người có khí chất nóng thì việc điều

khiển cảm xúc lại phụ thuộc vào hoàn cảnh tác động.

135

Mặt khác, hiện nay bộ luật hình sự Việt Nam có sự thay đổi trong

quyền im lặng và quyền thuê luật sư của đối tượng phạm tội nên trong quá

trình tiếp xúc với đối tượng, điều tra viên sẽ gặp phải những ức chế nhất

định khi gặp phải sự chống đối, phản kháng từ đối tượng. Do đó khả năng

điều khiển cảm xúc của điều tra viên cũng gặp những khó khăn nhất định.

Điều này đòi hỏi trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, điều tra viên cần

có quá trình rèn luyện đối với việc kiểm soát cảm xúc của bản thân.

Tổng hợp kết quả khảo sát bằng bảng hỏi về trí tuệ cảm xúc của 255

điều tra viên ở Cục An ninh điều tra được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 4.9. Tổng hợp kết quả khảo sát năng lực trí tuệ cảm xúc của điều

tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

ĐTB ĐLC TT Thứ bậc

Năng lực trí tuệ cảm xúc của điều tra viên 1 Năng lực nhận biết cảm xúc 2 Năng lực thấu hiểu cảm xúc 3 Năng lực vận dụng cảm xúc 4 Năng lực điều khiển cảm xúc 2 1 4 3 Tổng hợp chung 2.47 2.52 2.49 2.37 2.46 0.44 0.45 0.47 0.42 0.44

Kết quả khảo sát được biểu diễn bằng biểu đồ sau:

Biểu đồ 4.3: Thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh

điều tra thuộc Bộ Công an

136

Thông qua số liệu ở biểu đồ trên cho thấy, trong 4 mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thì năng lực thấu hiểu cảm xúc của điều tra viên đạt cao nhất (ĐTB= 2.52), sau đó là năng lực vận dụng cảm xúc (ĐTB = 2.49). Điều tra viên có năng lực điều khiển cảm xúc biểu hiện ở mức độ hạn chế nhất (ĐTB = 2.37). Kết quả khảo sát này phù hợp với kết quả điều tra bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm MSCEIT. Đồng thời khẳng định trong hoạt động điều tra, điều tra viên đã có khả năng thấu hiểu và vận dụng cảm xúc tốt nhưng còn hạn chế trong việc điều khiển cảm xúc của bản thân.

Bảng số liệu trên cũng cho chúng ta thấy được 4 mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc có sự tương quan thuận, chặt chẽ với nhau (r = 0.562). Trong đó mức độ tương quan của 4 mặt biểu hiện có sự dao động từ r = 0.40 đến r = 0.56. Điều này cho thấy trong hoạt động điều tra của điều tra viên, 4 mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc có sự tác động qua lại và có sự chi phối mạnh mẽ đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Bởi vậy, bất kỳ sự thay đổi của một thành tố nào đó sẽ kéo theo sự thay đổi tương ứng của những thành tố còn lại cũng như mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên và ngược lại. Điều này khẳng định tính khách quan và độ tin cậy cao của mô hình lý thuyết về các biểu hiện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.

Luận án tiếp tục tiến hành nghiên cứu sâu hơn về một số biểu hiện, mức độ trí tuệ cảm xúc trong hoạt động điều tra thông qua hệ thống bài tập gồm 28 tình huống, mỗi tình huống có ít nhất 5-7 phương án trả lời để tìm hiểu những biểu hiện của 4 năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản của điều tra viên trong 4 mối quan hệ điều tra điển hình gồm quan hệ giữa điều tra viên với đối tượng, lãnh đạo, đồng nghiệp và bản thân. Kết quả thu được thể hiện trong bảng 4.10:

Bảng 4.10: Thực trạng các biểu hiện năng lực trí tuệ cảm xúc cơ bản

trong các quan hệ điều tra điển hình của điều tra viên

Điểm trung bình

TT

NĂNG LỰC EI CƠ BẢN

QH với lãnh đạo

Tổng cộng

1 Nhận biết cảm xúc 2 Thấu hiểu cảm xúc 3 Vận dụng cảm xúc 4 Điều khiển cảm xúc

Tổng cộng

QH với đối tượng 18.42 9.73 15.78 4.72 47.77

10.52 17.89 14.73 7.22 50.55

QH với đồng nghiệp 12.89 15.52 8.15 9.16 45.27

QH với bản thân 16.84 13.68 5.78 3.33 40.27

58.68 56.84 44.47 24.44

137

Kết quả bảng 4.10 cho thấy, nhìn chung, trí tuệ cảm xúc của điều tra

viên thể hiện sự phát triển không đồng đều giữa các năng lực thành phần và

trong các mối quan hệ điều tra điển hình. Năng lực trí tuệ cảm xúc của điều

tra viên biểu hiện rõ rệt trong quan hệ với đối tượng, nhưng trong mối quan

hệ với bản thân lại kém nhất. Còn xét theo biểu hiện của từng năng lực trí tuệ

cảm xúc cơ bản thì Năng lực nhận biết cảm xúc phát triển nhất, còn Năng lực

điều khiển cảm xúc của bản thân chưa được phát triển ở điều tra viên.

Về cụ thể, kết quả nghiên cứu cho thấy điều tra viên bước đầu đã có

Năng lực nhận biết cảm xúc và Năng lực thấu hiểu cảm xúc của đối tượng,

tuy nhiên Năng lực điều khiển cảm xúc của bản thân và đối tượng đều rất hạn

chế, điều này cho thấy dường như điều tra viên chưa ý thức được đầy đủ tầm

quan trọng của năng lực điều khiển cảm xúc, đặc biệt là điều khiển cảm xúc

của bản thân, phải chăng đây là một trong những nguyên nhân cơ bản đưa đến

sự tồn tại một loạt vấn đề chưa được giải quyết trong cơ quan điều tra hiện

nay, làm hiệu quả hoạt động điều tra bị hạn chế.

Điều này chứng tỏ thông qua hoạt động nghề nghiệp, điều tra viên có

điều kiện để phát triển một cách tự phát một số năng lực EI để giải quyết tình

huống phát sinh trong mối quan hệ với đối tượng, lãnh đạo nhưng lại chưa tự ý

thức, chưa chủ động và chưa được luyện tập một cách khoa học để điều khiển

cảm xúc của bản thân và người khác trong các mối quan hệ điều tra điển hình;

để sử dụng các năng lực EI để giải quyết những vấn đề có tính chất chiến thuật

và chiến lược trong hoạt động điều tra. Điều này có thể là một trong những

nguyên nhân dẫn tới tình trạng họ vừa chịu áp lực tâm lý căng thẳng trong công

việc, vừa chưa phát huy hết vai trò bản thân để nâng cao chất lượng hoạt động

điều tra. Nhận định cũng được rút ra trong mục thực trạng các năng lực trí tuệ

cảm xúc thành phần. Đây là căn cứ quan trọng để luận án xây dựng những biện

pháp nhằm nâng cao năng lực trí tuệ cảm xúc nói chung và Năng lực điều khiển

cảm xúc bản thân của điều tra viên nói riêng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả

hoạt động điều tra của họ.

138

Xét mối tương quan giữa kết quả MSCEIT và biểu hiện trí tuệ cảm xúc

bằng hệ thống bài tập (do luận án xây dựng) trên 255 điều tra viên, với t= -

9.65 (<0.05), có thể kết luận giữa chúng có mối tương quan thuận có ý nghĩa về mặt thống kê.

4.2. Thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến trí tuệ cảm

xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên chịu sự tác động của nhiều yếu tố, kết

quả khảo sát được thể hiện tóm tắt qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 4.4: Thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến trí tuệ cảm

xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

Để tìm hiểu rõ hơn luận án đi tìm hiểu sự ảnh hưởng của từng yếu tố và

thu được kết quả cụ thể như sau:

4.2.1. Nhóm yếu tố chủ quan

4.2.1.1. Yếu tố thể chất của điều tra viên

Chúng tôi tiến hành điều tra trên 255 điều tra viên để làm sáng tỏ sự

ảnh hưởng của yếu tố thể chất đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên và thu

được kết quả như sau:

139

Bảng 4.11: Thực trạng mức độ ảnh hưởng của yếu tố thể chất đến trí

tuệ cảm xúc của điều tra viên thuộc Bộ Công an

% % hợp lệ % tích luỹ

Số lượng

Mức độ 28.2 100.0

Trung bình Mạnh Tổng 72 183 255 28.2 71.8 100.0 28.2 71.8 100.0

Có 71.8% điều tra viên cho rằng yếu tố này có ảnh hưởng mạnh đến trí

tuệ cảm xúc của điều tra viên.

Để làm rõ sự ảnh hưởng của yếu tố thể chất tới trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra; chúng tôi tiến hành thu thập số liệu các báo

cáo tổng kết của Cục ANĐT về kết quả kiểm tra chiến sĩ khoẻ định kỳ hàng năm. Kết quả thu được như sau:

Bảng 4.12: Kết quả kiểm tra chiến sĩ khoẻ của điều tra viên ở Cục An

ninh điều tra thuộc Bộ Công an

STT Độ tuổi Giới tính Kết quả

Từ 18-27 tuổi Đạt 100% 1

Nam Từ 28-34 tuổi Đạt 100%

Từ 35-40 tuổi Đạt 100%

Từ 41-45 tuổi Đạt 100%

Từ 46-50 tuổi Đạt 100%

Từ 18-24 tuổi Đạt 100% 2

Nữ Từ 25-30 tuổi Đạt 100%

Từ 31-35 tuổi Đạt 100%

Từ 36-40 tuổi Từ 41-45 tuổi

Đạt 100% Đạt 100% 100% Đạt 3 Tổng

Từ kết quả thu được cho thấy tất cả cán bộ điều tra viên đều có tình

trạng sức khỏe tốt (100% đạt yêu cầu). Điều này là điều kiện thuận lợi để

điều tra viên có thể tham gia hoạt động điều tra tích cực. Mặt khác đây cũng

là điều kiện đảm bảo cho trí tuệ cảm xúc của điều tra viên được diễn ra một

cách liên tục, thuận lợi.

140

Để tìm hiểu rõ hơn, chúng tôi tiến hành phỏng vấn đồng chí P.V.T lãnh đạo

Cục ANĐT. Chúng tôi đưa ra câu hỏi: “Đồng chí cho biết, tình hình sức khoẻ của

các điều tra viên trong đơn vị như thế nào? Theo đồng chí điều này có ảnh hưởng

ra sao đến hoạt động điều tra của các điều tra viên?” thì nhận được câu trả lời:

“Hầu hết các cán bộ tại đơn vị đều có tình trạng sức khoẻ tốt; bởi ngay từ khâu

đầu vào các điều tra viên đều phải đảm bảo tiêu chí về chiều cao, cân nặng, phải là

những người không có bệnh lý nào. Đầu vào tuyển lựa rất nghiêm ngặt về yêu cầu này,

nên đây là một tiêu chí mà tất cả các điều tra viên thể hiện rất tốt. Cụ thể hàng năm, các

điều tra viên đều tham gia đợt kiểm tra sức khoẻ của Cục. Trong đợt kiểm tra này, tất

cả các điều tra viên đều phải tham gia với những tiêu chí phân chia theo giới tính và độ

tuổi. Tuy nhiên, cả nam và nữ phải đảm bảo tiêu chí đạt trong các nội dung: chạy ngắn,

chạy xa, bật xa; đối với các đồng chí nam còn phải đảm bảo cả phần thi chống đẩy và

xà đơn. Do đó, đòi hỏi quá trình hoạt động các điều tra viên không chỉ đáp ứng những

chỉ tiêu về công việc mà còn phải đáp ứng cả những tiêu chí về mặt thể chất. Hầu hết

các điều tra viên có thể chất tốt, đảm bảo đời sống tinh thần được thoải mái cũng như

đáp ứng được các yêu cầu hoạt động nghề nghiệp. Tuy nhiên có một số đồng chí nữ,

do có thể trạng sức khoẻ thay đổi do phải đảm đương không chỉ công việc mà còn phải

đảm nhận vai trò của người vơi, người mẹ trong gia đình nên đôi khi thể chất không

được đảm bảo, gây ảnh hưởng đến đời sống tình cảm cũng như hiệu quả công việc

không cao”. Qua những chia sẻ của đồng chí T cho chúng ta thấy, rõ ràng thể chất

là một trong những nhân tố có sự tác động đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

nói riêng cũng như hiệu quả công việc điều tra nói chung.

4.2.1.2. Các thuộc tính tâm lý nhân cách của điều tra viên

Bảng 4.13: Thực trạng mức độ ảnh hưởng của yếu tố thuộc tính tâm lý nhân

cách đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ

Công an

% % hợp lệ % tích luỹ Số lượng

Mức độ 20.0 100.0

Trung bình Mạnh Tổng 51 204 255 20.0 80.0 100.0 20.0 80.0 100.0

141

Kết quả điều tra cho thấy, có 80,00% điều tra viên lựa chọn yếu tố thuộc

tính tâm lý của nhân cách có ảnh hưởng mạnh đến trí tuệ cảm xúc của họ.

Để làm rõ yếu tố các thuộc tính tâm lý của nhân cách có ảnh hưởng

như thế nào đến trí tuệ cảm xúc chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu đối với

đồng chí T.Đ.T - Trưởng phòng 3. Câu hỏi chúng tôi đưa ra “Đồng chí

cho biết các điều tra viên ở trong phòng đồng chí có kiểu khí chất như thế

nào (linh hoạt, nóng nảy, trầm, ưu tư,...) và khí chất này được thể hiện

như nào trong quá trình hoạt động của điều tra viên đó với đồng nghiệp,

cũng như với các đối tượng, lực lượng có liên quan? Đồng chí nhận thấy

kiểu khí chất của điều tra viên có ảnh hưởng gì đến kết quả của hoạt động

điều tra hay không?” thì nhận được câu trả lời: “Phòng 3 chúng tôi gồm

10 đồng chí, mỗi đồng chí có một tính cách riêng khác nhau. Có đồng chí

thì tính tình rất vui vẻ, hoà đồng, vui - buồn thể hiện rất rõ nét. Nhưng

cũng có những đồng chí có tính cách ít nói, thường ít bộc lộ hay chia sẻ

những cảm xúc hay vấn đề khó khăn mà các đồng chí đó đang gặp phải.

Có những đồng chí lại hay bộc lộ suy nghĩ, tình cảm ra ngoài; thậm chí

bộc lộ cả những chuyện mang tính chất riêng tư khá sâu. Một số đồng chí

lại mang tính cách nóng nảy, khi gặp bất kỳ chuyện gì xảy ra không như ý

muốn đặc biệt là khi tiếp xúc với các đối tượng ngoan cố, không khai thì

tỏ ra bực tức, mặt bừng đỏ, dùng những lời lẽ không có sự kiểm soát... Tất

cả những tính cách này đều có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả của hoạt

động điều tra. Những đồng chí có tính cách nóng nảy thường gặp phải sự

khó chịu và phản đối lại của đối tượng khiến hoạt động điều tra thường

kéo dài thậm chí không đạt hiệu quả. Còn những đồng chí có tính cách vui

vẻ, hoà đồng thường được đồng nghiệp cũng như các đối tượng cảm thấy

gần gũi và có sự hợp tác, chia sẻ nhưng những đồng chí này lại thường

đưa những nhận định chưa sâu nên nhiều lúc còn mang tính chủ quan.

Những đồng chí có khí chất điềm tĩnh thì luôn có cái nhìn nhận rõ rệt

trong mọi vấn đề, có sự thể hiện cảm xúc mang tính cân nhắc đến sự phù

142

hợp của hoàn cảnh cũng như đối tượng. Bởi vậy, đây lại là những người

mang lại hiệu quả điều tra cao nhất.”

Từ những ý kiến trên cho thấy, rõ ràng những thuộc tính tâm lý của

nhân cách cũng có ảnh hưởng nhất định đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

dưới những góc độ khác nhau.

4.2.1.3. Giới tính, tuổi tác và thâm niên công tác của điều tra viên

- Giới tính

Kết quả nghiên cứu trí tuệ cảm xúc đã chỉ ra có sự khác biệt trong trí

tuệ cảm xúc của điều tra viên nam và điều tra viên nữ ở Cục An ninh điều tra,

với p=0.00 (phụ lục 5.4). Điều này được thể hiện rõ trong bảng sau:

Bảng 4.14: Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên Cục An ninh điều tra

thuộc Bộ Công an theo giới tính

Tổng số ĐTB ĐLC ĐLC

Mean nhận thức

Mean thấu hiểu

Mean vận dụng

Theo bảng 4.14, ĐTB của điều tra viên nữ trong từng mặt biểu hiện (đạt từ 2.62 - 2.67) cao hơn hẳn so với ĐTB của điều tra viên nam (đạt từ 2.26 - 2.48). Điều này có thể lý giải bởi điều tra viên nữ do đặc trưng của giới nên gắn với đời sống tình cảm hơn, các điều tra viên thường thiên về ý chí nhiều hơn. Trong hoạt động điều tra điều tra viên nữ thường thể hiện sự linh hoạt, khéo léo cũng như sự nhanh nhạy hơn trong sự thấu hiểu cũng như vận dụng, điều khiển cảm xúc. Bởi vậy, trong bốn mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc điều tra viên nữ đều đạt ở mức độ cao. Nhằm làm rõ hơn chúng tôi tiến hành kiểm định sự khác biệt trung bình bằng phương pháp Independent Sample T-Test, và thu được kết quả sau:

Mean điều khiển Giới tính Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ 141 114 141 114 141 114 141 114 2.26 2.62 2.35 2.66 2.48 2.67 2.35 2.66 0.585 0.50 0.50 0.30 0.48 0.30 0.50 0.30 0.05 0.03 0.04 0.02 0.04 0.02 0.04 0.02

143

Kết quả trung bình của phương sai

F Sig. t-test giá trị trung bình t

35.13 0.00 -5.59

Điểm trung bình nhận thức -5.47

73.34 0.00 -6.39

Điểm trung bình thấu hiểu -5.96

21.55 0.00 -4.02

Điểm trung bình vận dụng -3.76

0.00

Điểm trung bình điều khiển Các phương sai bằng nhau được giả định Các phương sai bằng nhau không được giả định Các phương sai bằng nhau được giả định Các phương sai bằng nhau không được giả định Các phương sai bằng nhau được giả định Các phương sai bằng nhau không được giả định -6.19 -5.56 71.34

Thông qua bảng số liệu trên cho chúng ta thấy sig=0.00 < 0.05 nên

khẳng định được phương sai giữa 2 giới tính là khác nhau. Tuy nhiên, sự

chênh lệch này không lớn, nên không có ý nghĩa nhiều về giá trị thống kê.

- Tuổi tác và thâm niên công tác

Để có cái nhìn toàn diện hơn cần phân tích để làm sáng rõ mối quan hệ

của trí tuệ cảm xúc với yếu tố thâm niên công tác hay yếu tố tuổi tác.

Bảng 4.15: Tương quan trí tuệ cảm xúc với tuổi tác, thâm niên công tác

Tương quan Person Kết luận Xác suất ý nghĩa

Giá trị tương quan 0.69 0.02

Mức độ TTCX - thâm niên công tác Mức độ TTCX - tuổi tác 0.66 0.01

Tương quan thuận, có ý nghĩa Tương quan thuận, có ý nghĩa

144

Kết quả bảng số liệu trên cho thấy, mức độ trí tuệ cảm xúc với thâm niên

công tác của điều tra viên có mối tương quan thuận với mức R = 0.69 (α = 0.02).

Thực tế cho thấy, điều tra viên càng có kinh nghiệm lâu năm hoạt động trong

nghề, bản thân họ cũng có nhìn nhận sâu sắc, chính xác và khéo léo, tinh tế hơn

trong mối quan hệ người - người. Điều này cũng là biểu hiện khẳng định, trí tuệ

cảm xúc có xu hướng nâng cao so với thời gian họ làm việc mà cụ thể là thâm

niên công tác. Đi sâu phân tích để làm rõ mức độ ảnh hưởng của thâm niên công

tác với trí tuệ cảm xúc của điều tra viên, kết quả được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 4.16: Mức độ ảnh hưởng của thâm niên công tác đến trí tuệ cảm

xúc của điều tra viên

STT Thấp Cao Thâm niên công tác

Trên 15 năm 10-15 năm 5-10 năm

1 2 3 4 Dưới 5 năm SL 5 15 30 15 Mức độ trí tuệ cảm xúc Trung bình % SL 5.9 15 13.7 35 25 9.8 1.96 5 % 1.96 5.9 11.8 5.9 SL 50 50 10 5 % 19.6 19.6 3.9 1.96

Tỷ lệ điều tra viên đạt mức độ từ trung bình đến cao tập trung chủ yếu

ở các điều tra viên có thâm niên công tác lâu năm. Cụ thể:

- Ở mức trí tuệ cảm xúc cao, điều tra viên có thâm niên công tác từ 10

năm - 15 năm hay trên 15 năm đều chiếm 19.6%. Trong khi đó, ở mức này

điều tra viên ở thâm niên công tác 5 - 10 năm chỉ đạt 3.96%, điều tra viên ở

dưới 5 năm đạt 1.96%.

- Kết quả này hoàn toàn ngược lại ở mức độ trí tuệ cảm xúc thấp, khi

mà điều tra viên có thâm niên công tác 5 - 10 năm chiếm 11.8% và điều tra

viên có thâm niên công tác dưới 5 năm đạt 5.9% thì điều tra viên có thâm niên

công tác trên 15 năm lại chỉ đạt 1.96%.

Những điều này cho thấy, thâm niên công tác có ảnh hưởng đến trí tuệ

cảm xúc của điều tra viên. Những điều tra viên có thâm niên công tác lâu

năm có mức độ trí tuệ cảm xúc của họ càng cao. Điều này hoàn toàn phù

hợp, bởi những điều tra viên có thâm niên công tác nhiều hơn đồng nghĩa

145

với việc họ có quá trình hoạt động điều tra lâu năm hơn. Tính tích cực của

bản thân cùng với kinh nghiệm nghề nghiệp giúp họ đúc kết được chính

xác những cảm xúc của đối tượng cũng như thể hiện khả năng vận dụng,

điều khiển cảm xúc tốt hơn.

Không chỉ vậy, mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên còn có sự

tương quan thuận với mức R = 0.66 (α = 0.01). Hay nói cách khác tuổi tác

cũng có sự ảnh hưởng tới trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.

Bảng 4.17: Mức độ ảnh hưởng của tuổi tác đến trí tuệ cảm xúc của điều

tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

Thấp Cao STT Tuổi

Mức độ trí tuệ cảm xúc Trung bình % SL 7.8 20 11.8 30 9.8 25 SL 15 55 65 % 7.8 9.8 0 % 5.9 21.6 25.5 SL 20 25 0 1 Dưới 30 tuổi 30 - 40 tuổi 2 Trên 40 tuổi 3

Kết quả bảng trên cho thấy, tuổi của điều tra viên càng lớn thì mức độ

trí tuệ cảm xúc càng cao. Cụ thể:

- Ở mức độ cao, điều tra viên từ 30 tuổi trở lên mức độ trí tuệ cảm xúc

cao với tỷ lệ đều đạt 21.6% - 25.5%; trong khi đó tỉ lệ này chỉ đạt 5.9 % với

độ tuổi dưới 30.

- Ở mức độ trí tuệ cảm xúc thấp thì ở độ tuổi trên 40 tuổi không có ai,

trong khi đó dưới 30 tuổi lại chiếm 7.8%.

Như vậy, có thể thấy đối với những điều tra viên có tuổi cao hơn thì

mức độ trí tuệ cảm xúc cũng đạt ở mức cao hơn. Điều này hoàn toàn phù hợp

bởi đó là những điều tra viên có kinh nghiệm sống cũng như kinh nghiệm

nghề nghiệp phong phú nên quá trình nhận thức cũng như cách thức ứng xử

của họ sẽ có chiều sâu và hiệu quả.

Để làm rõ hơn sự ảnh hưởng của thâm niên công tác với trí tuệ cảm

xúc, chúng tôi tiến hành so sánh sự tương quan giữa trí tuệ cảm xúc với kết

quả hoàn thành nhiệm vụ của điều tra viên:

146

Bảng 4.18: Mối tương quan giữa trí tuệ cảm xúc với kết quả hoạt động

của điều tra viên

ĐTB ĐLC

Tổng số

Kết quả phân loại ĐTV Tổng hợp TTCX của ĐTV 2.63 2.46 0.61 0.56 255 255

Kết quả cho thấy, trí tuệ cảm xúc và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của

điều tra viên có sự tương quan thuận, chặt với nhau, mức độ tương quan từ

r=0.56 đến r= 0.61.

- Vốn kinh nghiệm của cá nhân

(ĐTB = 2.75) cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên ở Cục An ninh điều tra. Những điều tra viên nào có cơ hội trải

nghiệm nhiều hơn trong cuộc sống và các mối quan hệ xã hội, ưa học hỏi, trau

dồi hiểu biết về ngành nghề của mình, về công tác điều tra thì sẽ có vốn sống

tốt hơn. Từ đó góp phần nâng cao mức độ trí tuệ cảm xúc. Theo kết quả khảo

sát của luận án, vốn kinh nghiệm của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra

được tích luỹ chủ yếu thông qua “Tiếp xúc với cuộc sống bên ngoài, với các

lực lượng phối hợp chức năng trong quá trình sống cũng như trong hoạt động

điều tra vụ án” (ĐTB = 2.53) và “Những trải nghiệm trực tiếp trong hoạt động

điều tra và rèn luyện nghề nghiệp” (ĐTB = 2.81). Trong đó, nhận thức về tầm

quan trọng của vốn kinh nghiệm có điểm thấp nhất (ĐTB = 2.47). Vì vậy,

muốn nâng cao trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên, cần thiết làm cho các điều

tra viên hiểu về tầm quan trọng của vốn kinh nghiệm đối với trí tuệ cảm xúc

của điều tra viên. Mặt khác, cũng cần làm rõ để điều tra viên hiểu rõ tầm quan

trọng những trải nghiệm trong hoạt động nghề nghiệp, rèn luyện trong thực tiễn

hoạt động điều tra.

4.2.2. Nhóm yếu tố khách quan

4.2.2.1. Môi trường làm việc của điều tra viên

Sự ảnh hưởng của môi trường làm việc được thể hiện thông qua bảng

số liệu sau:

147

Bảng 4.19: Thực trạng mức độ ảnh hưởng của yếu tố môi trường làm

việc đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

% % hợp lệ % tương

Số lượng thích

51.8 100.0 Mức độ

Thông qua bảng số liệu này cho thấy, trí tuệ cảm xúc chịu ảnh hưởng

Trung bình Mạnh Tổng 132 123 255 51.8 48.2 100.0 51.8 48.2 100.0

của môi trường làm việc. Có 48.2% điều tra viên cho rằng môi trường làm

việc có ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của họ với mức độ mạnh.

Để nắm bắt được sự ảnh hưởng của yếu tố này chúng tôi đã tiến hành

thu thập thông qua phiếu hỏi cá nhân. Trong phiếu hỏi này, chúng tôi đưa ra

các yếu tố như xuất thân gia đình, gia đình hiện tại, mức độ hài lòng của điều

tra viên với mức thu nhập hiện tại, … Kết quả thu được cho thấy: mỗi điều tra

viên lại có điều kiện, hoàn cảnh sống khác nhau. Điều này chi phối việc hình

thành nên các tính cách khác nhau. Do đó, trong ý kiến của lãnh đạo T - Phó Cục

trưởng Cục ANĐT khi trả lời phỏng vấn cũng nhắc đến “mỗi một điều tra viên có

khí chất khác nhau, dẫn đến việc tính cách của mỗi điều tra viên lại có sự khác

nhau: có người vui vẻ, hoà đồng; nhưng có người lại trầm, ưu tư; có người lại

điềm tĩnh.”. Điều này để thấy, môi trường làm việc của Cục ANĐT cũng như

môi trường khi điều tra viên tiếp xúc với các đối tượng cũng như các lực lượng

chức năng có liên quan sẽ phải đối diện với rất nhiều kiểu tính cách khác nhau.

Do đó, đòi hỏi điều tra viên cần phải biết điều khiển cảm xúc của bản thân mình

cho phù hợp. Tuy nhiên, qua số liệu điều tra thu được ở trên, cũng cho thấy một

số điều tra viên có khả năng điều khiển cảm xúc còn hạn chế. Khi tiếp xúc với

đối tượng thường hay mất kiểm soát cảm xúc, dễ nóng giận, bực bội. Điều này

có lẽ một phần cũng do áp lực từ phía công việc mà điều tra viên cần phải hoàn

thành cũng như việc điều tra viên gặp phải những đối tượng có thái độ không

hợp tác. Bởi vậy có thể nói môi trường làm việc có ảnh hưởng lớn đến trí tuệ

cảm xúc của điều tra viên, cụ thể ở đây đó chính là năng lực điều khiển cảm xúc;

dẫn đến kết quả hoạt động điều tra cũng bị ảnh hưởng.

148

4.2.2.2. Yếu tố giáo dục của điều tra viên

Giáo dục có ảnh hưởng mạnh mẽ đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

(phụ lục 5.8). Kết quả điều tra khẳng định yếu tố giáo dục có ảnh hưởng mức

độ mạnh đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên (chiếm 84.1%).

Thông qua báo cáo tổng kết của Cục ANĐT cho thấy có 60.7% điều tra

viên được đào tạo chính quy, từ các trường Đại học Công an nhân dân. Đây là

môi trường được rèn luyện, giáo dục toàn diện cả về nghiệp vụ, xã hội cũng

như đời sống tinh thần. Trong môi trường này, học viên hình thành lòng yêu

ngành, yêu nghề, yêu đất nước. Do đó, những cảm xúc tích cực được hình

thành, bồi dưỡng ở điều tra viên ngay từ rất sớm. Đây là điều kiện để hình

thành cho điều tra viên trí tuệ cảm xúc tốt.

Bảng 4.20: Thực trạng mức độ ảnh hưởng của yếu tố giáo dục đến trí

tuệ cảm xúc của điều tra viên

Trình độ học vấn ĐTB Tổng số ĐLC

Đại học Sau đại học Tổng 2.56 2.71 2.61 155 100 255

0.50 0.37 0.56 Thông qua bảng số liệu trên cho thấy yếu tố giáo dục nhà trường có ảnh

hưởng mạnh mẽ đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Những điều tra viên

có trình độ đào tạo sau đại học, có ĐTB trí tuệ cảm xúc cao hơn với những

điều tra viên có trình độ đào tạo đại học (2.61 > 2.56). Điều này có thể giải

thích do những điều tra viên có trình độ đào tạo sau đại học một phần do sự

tác động của khối lượng kiến thức nhiều và chuyên sâu hơn thì mặt khác, họ

cũng là những điều tra viên có vốn kinh nghiệm dày dặn hơn. Do đó, tạo ra

sự chênh lệch về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Bảng số liệu trên cũng

cho thấy độ lệch chuẩn giữa trình độ giáo dục đại học và sau đại học có sự

chênh lệch không đáng kể (0.37 - 0.50). Để tìm hiểu rõ hơn sự ảnh hưởng

của yếu tố này đối với trí tuệ cảm xúc của điều tra viên, chúng tôi sử dụng

kiểm định One - way ANOVA; kết quả ở phụ lục 5.6 cho thấy: p = 0.38 >

0.05 cho phép khẳng định mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An

149

ninh điều tra có sự khác biệt, nhưng sự khác biệt này không có ảnh hưởng

lớn. Chúng tôi tiếp tục xác định mối tương quan giữa trí tuệ cảm xúc và trình

độ học vấn thì thu được kết quả như sau:

Bảng 4.21: Mối tương quan giữa trình độ học vấn và trí tuệ cảm xúc

của điều tra viên

Trình độ học vấn TB nhận thức TB thấu hiểu TB vận dụng TB điều khiển

Đại học

Sau đại học

Tổng

ĐTB Tổng số ĐLC ĐTB Tổng số ĐLC ĐTB Tổng số ĐLC 2.56 155 0.50 2.71 100 0.48 2.67 255 0.56 2.34 155 0.48 2.52 100 0.56 2.49 255 0.40 2.24 155 0.47 2.42 100 0.58 2.39 255 0.40 2.24 155 0.43 2.42 100 0.52 2.19 255 0.40

Như vậy, nhìn vào ĐTB có sự chênh lệch trong trí tuệ cảm xúc của điều

tra viên trên 4 mặt biểu hiện, tuy nhiên sự chênh lệch này không đáng kể. Hệ

số tương quan r > 0.05 đã chỉ ra sự trí tuệ cảm xúc có sự tương quan với trình

độ học vấn nhưng tương quan không chặt chẽ.

Không những thế, thông qua phiếu thu thập thông tin cá nhân; chúng

tôi còn thu thập thông tin về xuất thân gia đình của điều tra viên. Trong đó có

63% điều tra viên xuất thân từ gia đình trí thức; 25% điều tra viên xuất thân từ

gia đình buôn bán. Để làm rõ hơn chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu với 12%

điều tra viên có xuất thân không nằm trong hai nhóm trên với câu hỏi: “Trước

đây, trong quá trình đi học; bố mẹ đồng chí quan tâm đến việc học của đồng

chí như thế nào?” thì chúng tôi nhận được phản hồi tích cực. Họ đều cho thấy

mặc dù không xuất thân từ những gia đình có tri thức hay có điều kiện kinh

tế, nhưng bố mẹ họ đều có nhận thức đúng đắn về việc học tập nên trong quá

trình nuôi dạy con cái, các điều tra viên luôn nhận được sự quan tâm, tạo điều

kiện từ phía gia đình nên đã giúp họ hình thành niềm yêu thích, say mê học

tập. Điều này có thể khẳng định rằng, việc giáo dục từ môi trường nhà trường

và môi trường gia đình có ảnh hưởng mạnh đến trí tuệ cảm xúc của điều tra

150

viên. Nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng nhận thức cũng như những

thuộc tính nhân cách của điều tra viên; hình thành nên kiểu trí tuệ đặc trưng

của họ. Điều này sẽ ảnh hưởng đến cách thức tiếp nhận cũng như giải quyết

vấn đề của điều tra viên trong hoạt động điều tra.

4.2.2.3. Hoạt động và giao tiếp trong thực tiễn hoạt động điều tra của

điều tra viên

Để làm rõ sự tác động của hoạt động và giao tiếp trong thực tiễn hoạt

động điều tra đến trí tuệ cảm xúc, chúng tôi tiến hành khảo sát và thu được

kết quả như sau:

Bảng 4.22: Thực trạng mức độ ảnh hưởng của yếu tố hoạt động và giao tiếp

trong thực tiễn hoạt động điều tra đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

% % hợp lệ % tích luỹ

Số lượng

Mức độ 15.7 100.0

Trung bình Mạnh Tổng 40 215 255 15.7 84.3 100.0 15.7 84.3 100.0

Kết quả khảo sát cho thấy trí tuệ cảm xúc của điều tra viên chịu tác

động với mức độ mạnh của yếu tố này, chiếm 84.3%.

Thực tế tính chất công việc của Cục ANĐT từ số liệu tổng kết cho thấy

hàng năm họ phải tiếp nhận, xử lý hàng trăm vụ án khác nhau. Do đó, ngoài

việc tiếp xúc, giao tiếp với đồng nghiệp trong cơ quan; điều tra viên còn có

môi trường hoạt động, giao tiếp với rất nhiều đối tượng cũng như lực lượng

chuyên trách có liên quan.

Việc tham gia các hoạt động nghề nghiệp này giúp họ có điều kiện học

hỏi rất nhiều tri thức, kinh nghiệm cũng như hình thành kỹ năng xử lý tình

huống một cách linh hoạt. Thông qua hoạt động và giao tiếp, điều tra viên sẽ

đón nhận được bầu không khí tâm lý mang tính tích cực hay tiêu cực. Điều đó

có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cảm xúc của điều tra viên. Nếu bầu không khí

tâm lý tích cực, thoải mái sẽ là nhân tố giúp cho điều tra viên phát triển năng

lực vận dụng cảm xúc cũng như điều khiển cảm xúc mang tính tích cực.

Nhưng nếu bầu không khí tâm lý tiêu cực sẽ là nguyên nhân khiến cho năng

151

lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên bị chi phối, ảnh hưởng theo chiều

hướng tiêu cực tới kết quả hoạt động điều tra. Bởi vậy, hoạt động và giao tiếp

có vai trò to lớn đối với trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục ANĐT.

4.2.2.4. Đối tượng tiếp xúc của điều tra viên

Đối tượng tiếp xúc của điều tra viên cũng có ảnh hưởng với mức độ

mạnh đến trí tuệ cảm xúc của họ, chiếm 67.8% (phụ lục 5.8.5).

Theo báo cáo tổng kết hàng năm, điều tra viên ở Cục ANĐT phải tiếp

nhận, xử lý hàng ngàn vụ án khác nhau. Hầu hết các vụ án này có liên quan

đến an ninh quốc gia, do đó điều tra viên luôn luôn trong tình trạng căng

thẳng về nhiệm vụ mình đảm nhận. Điều này chi phối đến năng lực điều khiển

cảm xúc của điều tra viên rất lớn.

Mặt khác, trong quá trình điều tra, điều tra viên phải thường xuyên đấu

tranh với các đối tượng khác nhau nên đòi hỏi điều tra viên phải có trí tuệ cảm

xúc tốt: phải có năng lực thấu hiểu, vận dụng cảm xúc cũng như điều khiển

cảm xúc linh hoạt. Kết quả điều tra cho thấy, điều tra viên ở Cục ANĐT có

năng lực thấu hiểu cảm xúc tốt, việc vận dụng cảm xúc linh hoạt. Để hiểu rõ

hơn chúng tôi tiến hành phỏng vấn đồng chí N.V.Tr - Trưởng phòng 4: “Đồng

chí cho biết các đối tượng mà điều tra viên thường tiếp xúc trong hoạt động

điều tra? Khi tiếp xúc với các đối tượng này điều tra viên có sự thay đổi thế

nào về cảm xúc?” và thu được kết quả “ Điều tra viên chúng tôi phải đối diện

với nhiều đối tượng phạm tội khác nhau. Tuy nhiên, khi gặp phải các đối

tượng đều là những người được thế lực thù địch đào tạo bài bản những chiêu

trò chống lại cơ quan điều tra thì năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra

viên chịu ảnh hưởng mạnh mẽ. Điều tra viên đều là những người có sự chủ

động dự báo, nắm bắt đến tình huống xảy ra để có những cách thức tác động

hiệu quả. Tuy nhiên, đối với bộ luật hình sự hiện nay, khi đề cao quyền dân

chủ nên các đối tượng phạm tội kiên quyết không khai thông qua quyền im

lặng và quyền mời luật sư. Điều này sẽ gây ra sự ức chế tâm lý cho cán bộ

điều tra, một số điều tra viên năng lực điều khiển cảm xúc hạn chế sẽ dẫn đến

việc không kiểm soát được cảm xúc tiêu cực làm cho hiệu quả công tác điều

152

tra không cao.” Điều này cho thấy hoạt động điều tra nói chung cũng như trí

tuệ cảm xúc cả điều tra viên nói riêng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nhân tố

này. Từ đó, cần phải có cách thức tác động tâm lý phù hợp đến đối tượng để nâng

cao hiệu quả hoạt động điều tra.

4.3. Phân tích chân dung tâm lý điển hình

Để củng cố thêm căn cứ thực tiễn, minh hoạ, làm rõ hơn kết quả nghiên

cứu thực trạng trí tuệ cảm xúc và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ

cảm xúc của điều tra viên, ở luận án đã phân tích 02 chân dung tâm lý điển

hình, cụ thể như sau

4.3.1. Chân dung 1: Điều tra viên Nguyễn Văn H.

a. Thông tin điều tra viên

- Họ và tên: Nguyễn Văn H. Sinh năm: 1972

- Là điều tra viên cao cấp (từ năm 2002), làm việc tại phòng 3 - Cục An

ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

Điều tra viên H. sinh ra trong gia đình có bố mẹ làm công nhân viên

chức của nhà nước, bố của H. làm kỹ sư nông nghiệp, còn mẹ H. cũng là giáo

viên. Ngay từ nhỏ, H. đã được sự quan tâm dạy dỗ chu đáo của bố mẹ. H. học

rất tốt và đều tất cả các môn học ở phổ thông. Suốt thời học phổ thông, em đã

được cô giáo và các bạn tín nhiệm bầu chức lớp trưởng. H làm sinh viên khoá

D22, Học viện An ninh nhân dân.

b. Biểu hiện trí tuệ cảm xúc

- Về Năng lực nhận biết cảm xúc: Nguyễn Văn H. là một trong những

điều tra viên đạt điểm cao về năng lực nhận biết cảm xúc khi chúng tôi tiến

hành khảo sát thực trạng toàn bộ khách thể. H. nắm bắt khá tốt các kiến

thức nghề, vai trò và tầm quan trọng của nghề điều tra viên, có khả năng

nhận biết chính xác và nhanh chóng những biểu hiện của cảm xúc cũng như

những đặc điểm về mặt nhân cách của đối tượng, đồng nghiệp. Điều này

được thể hiện rất rõ qua khả năng giao tiếp cũng như xử lý linh hoạt các

tình huống của điều tra viên H. Trong quá trình tiếp xúc với đối tượng để

153

lấy lời khai, H. cũng được lãnh đạo cũng như đồng nghiệp đánh giá cao

trong việc phân biệt chính xác cảm xúc thật hay giả của đối tượng nên H.

luôn có cách thức tác động tâm lý hiệu quả và linh hoạt. Tuy nhiên, điều tra

viên H. lại hạn chế trong việc nhận biết cảm xúc của bản thân nên đôi khi

không nắm bắt cũng như kiểm soát có hiệu quả cảm xúc của bản thân, vì

vậy trong hoạt động điều tra đôi khi còn gặp phải những khó khăn khi có

những phản ứng mang tính chất thái quá.

- Về Năng lực thấu hiểu cảm xúc: Nguyễn Văn H. là người được đồng

nghiệp đánh giá là vui tính, dễ gần, luôn luôn quan tâm và chia sẻ với các

đồng nghiệp. H. luôn nắm bất được những cảm xúc của đối tượng cũng như

của đồng nghiệp một cách chính xác. H. luôn luôn thể hiện sự thấu hiểu cũng

như luôn động viên, khích kệ đồng nghiệp để họ có động lực thực hiện công

việc hay vượt qua những khó khăn. Không chỉ trong mối quan hệ với đồng

nghiệp mà trong hoạt động điều tra với đối tượng điều tra viên H. cũng thể

hiện khả năng nắm bắt chính xác nhu cầu của đối tượng để có thể đề xuất và

đáp ứng những nhu cầu của họ trong chừng mực nhất định. Điều này được lý

giải do H. có khả năng nhận biết cảm xúc tốt nên việc thấu hiểu cảm xúc của

H được chắp nối có hiệu quả hơn.

- Về Năng lực vận dụng cảm xúc: Nguyễn Văn H. thường chủ động

nhìn nhận sự việc dưới nhiều góc độ khác nhau, xem xét mọi sự việc một cách

đa chiều, luôn nhìn nhận dựa trên sự phù hợp với đặc điểm tâm lý của các cá

nhân xung quanh. H. cũng thể hiện khả năng vận dụng một cách linh hoạt trong

việc giải quyết vấn đề cũng như trong quá trình giải quyết các sự việc phát sinh

cũng như có khả năng phân biệt để cân nhắc cảm xúc với suy nghĩ. Vì vậy, trong

suy nghĩ và cảm xúc của H. có sự đồng nhất góp phần định hướng cảm xúc một

cách có chủ ý, hiệu quả. Tuy nhiên, trong năng lực này H. lại thể hiện sự hạn chế

trong khả năng ghi nhớ, điều này tạo ra sự khó khăn với điều tra viên H trong

quá trình phán đoán một vấn đề đôi khi còn mang tính cảm tính.

154

- Về Năng lực điều khiển cảm xúc: Nguyễn Văn H. được nhận xét là

người luôn có những biểu hiện hài hoà và hành vi ứng xử phù hợp với lãnh

đạo và đồng nghiệp. Trong công việc, H. luôn là người luôn lập trước kế

hoạch làm việc, do vây trong mọi tình huống H. luôn là người làm chủ công

việc và có khả năng xử lý nhanh nhạy. Đồng nghiệp nhận thấy H. có khả năng

hoạt ngôn khi giao tiếp với đồng nghiệp cũng như nhanh chóng đưa ra các

cảm xúc phù hợp đối với các đối tượng. H. cũng thể hiện mình luôn có sự

đồng cảm và chia sẻ với đồng nghiệp, với những khó khăn mà họ gặp phải.

Do đó trong hoạt động điều tra, H luôn nhận được sự phối hợp của các đối

tượng, khiến cho hoạt động điều tra của H có hiệu quả.

c. Những yếu tố ảnh hưởng

Trước hết, Nguyễn Văn H. có lợi thế hơn các bạn khác ở chỗ đồng chí

H được sinh ra trong một gia đình công nhân viên chức và đã tham gia các

hoạt động tập thể từ khi còn học phổ thông, được bầu làm cán bộ lớp và được

các bạn trong lớp tin tưởng. Hơn nữa H. vốn là sinh viên khoá D22 tại Học

viện An ninh, đây là môi trường bồi dưỡng cho H vốn tri thức phong phú để

phục vụ hoạt động nghề nghiệp. Hoạt động điều tra lại là hoạt động có sự tiếp

xúc với nhiều đối tượng thuộc nhiều thành phần khác nhau. Trong quá trình

hoạt động nghề nghiệp của mình H sẽ có vốn sống, vốn kinh nghiệm được

tích luỹ nhiều. Điều này giúp H có được mối quan hệ thuận lợi ở cơ quan

cũng như sẽ được sự tin tưởng từ đồng nghiệp, lãnh đạo.

d. Kết quả hoạt động chuyên môn, phẩm chất đạo đức của điều tra viên

Theo báo cáo tổng kết về kết quả hoạt động chuyên môn trong 5 năm

(2015-2020) thì Nguyễn Văn H. có 2 năm đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua; 03

năm đạt Chiến sĩ tiên tiến. Để tìm hiểu rõ hơn, chúng tôi tiến hành phỏng vấn

lãnh đạo và 01 đồng nghiệp tại phòng mà H. đang làm việc thì nhận được

phản hồi tích cực. Theo ý kiến của họ H. là một người có trách nhiệm trong

công việc, có kế hoạch làm việc khoa học. H cũng là người có khả năng thụ lý

cũng như giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả các vụ án mà H. đảm nhận. Do

155

đó, số lượng vụ án mà H. đảm nhận tại phòng chiếm số lượng nhiều. H. cũng

tham gia tích cực trong hoạt động tập thể, cuộc thi Điều tra viên giỏi H. cũng

là người được cán bộ đề cử tham gia và giành được giải cao trong cuộc thi.

e. Nhận xét chung

Mức độ trí tuệ cảm xúc của Nguyễn Văn H. ở mức cao. Năng lực nhận

biết cảm xúc, thấu hiểu cảm xúc, vận dụng cảm xúc cũng như khả năng điều

khiển cảm xúc của điều tra viên H. thể hiện tốt. Tuy nhiên khả năng nhận thức

được cảm xúc của bản thân cũng như khả năng ghi nhớ còn hạn chế. Điều này

đòi hỏi H. cần chú ý để rèn luyện nhiều hơn nữa nhằm đáp ứng yêu cầu của

công việc hiện tại. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ trí tuệ cảm xúc của

H. Trong đó, yếu tố tích cực tham gia các hoạt động trong hoạt động điều tra,

H. có thâm niên và kinh nghiệm hoạt động điều tra có ảnh hưởng lớn nhất.

Ngoài ra, H. còn có rất nhiều lợi thế khác như: H. sống ở môi trường thuận lợi

và đặc biệt là ảnh hưởng từ quá trình giáo dục đúng đắn của bố mẹ cũng như

H. có môi trường học tập bài bản nên tạo điều kiện thuận lợi cho công việc

của H, giúp H. có nhận thức không bị sai lệch cũng như có cách thức làm chủ,

tác động tâm lý hiệu quả trong công tác của mình.

4.3.2. Chân dung 2: Điều tra viên Phạm Văn Tr

a. Thông tin điều tra viên

- Họ và tên: Phạm Văn Tr. Sinh năm: 1989

- Là điều tra viên trung cấp (từ năm 2013) là sinh viên của trường Đại

học Luật Hà Nội.

Tr. sinh ra trong một gia đình làm nghề lâm nghiệp tại một huyện

miền núi phía tây cách thành phố Thanh Hoá 120 km. Suốt thời học phổ

thông, trường học cách nhà rất xa, Phạm Văn Tr. phải quyết tâm lắm mới

không bỏ học. Kinh tế gia đình không mấy khá giả, công việc trồng rừng

của bố mẹ lại rất vất vả nên Tr. quyết tâm học để sau này không phải làm

nông như bố mẹ. Tr. học ở trường nội trú của huyện suốt thời học phổ

thông. Em luôn cố gắng học tốt để có thể thi đậu đại học. Tr. là một người

thật thà, nhiệt tình, hay giúp đỡ người khác.

156

b. Biểu hiện trí tuệ cảm xúc

- Về Năng lực nhận biết cảm xúc: Tr. gặp ít nhiều khó khăn trong quá

trình học tập và rèn luyện bởi sự khác nhau về môi trường văn hoá, các bạn ở

lớp học tốt hơn đặc biệt là ở các môn Tiếng Anh, các môn liên quan đến nghệ

thuật. Khả năng nắm bắt các kiến thức nghề, vai trò và tầm quan trọng của

nghề điều tra viên của Tr. thông qua khảo sát đạt ở mức độ cao. Tr. có khả

năng nhận biết những biểu hiện của cảm xúc cũng như những đặc điểm về

mặt nhân cách của đối tượng, đồng nghiệp nhưng còn không nhanh nhạy, đôi

khi Tr. còn nắm bắt sai thông điệp cảm xúc mà đối tượng muốn truyền đạt.

Điều này được thể hiện rất rõ qua khả năng giao tiếp cũng như xử lý linh hoạt

các tình huống của điều tra viên Tr. Tuy nhiên, trong quá trình tiếp xúc với

đối tượng để lấy lời khai, lãnh đạo cũng như đồng nghiệp nhận thấy trong

việc phân biệt cảm xúc thật hay giả của đối tượng Tr. phải mất thời gian khá

lâu nên ảnh hưởng đến tiến trình và thời gian điều tra của một vụ án. Ngược

lại, điều tra viên Tr. lại có khả năng nhận thức tốt cảm xúc của bản thân nên

khả năng nắm bắt cũng như kiểm soát có hiệu quả cảm xúc của bản thân của

Tr. lại rất tốt. Do đó trong hoạt động điều tra đôi khi Tr. lại được các đối

tượng khá hợp tác và tin tưởng để chia sẻ.

- Về Năng lực thấu hiểu cảm xúc: Phạm Văn Tr. là người được đồng

nghiệp đánh giá là người hiền lành, chân thật, luôn luôn quan tâm và chia

sẻ với các đồng nghiệp. Tuy nhiên khả năng nắm bắt được những cảm xúc

của đối tượng cũng như của đồng nghiệp của Tr. còn hạn chế. Tr. có thể

hiện sự thấu hiểu cũng như luôn động viên, khích kệ đồng nghiệp để họ có

động lực thực hiện công việc hay vượt qua những khó khăn nhưng sự động

viên này của Tr. diễn ra không thường xuyên. Tr. chỉ thể hiện điều đó với

những đồng nghiệp cùng hợp tác trong điều tra vụ án hay những người thân

thiết với Tr. Tuy nhiên điều tra viên Tr. lại có hạn chế trong việc chia sẻ

cảm xúc của bản thân với đồng nghiệp; do đó đời sống của Tr. khá nội tâm,

kín tiếng; đồng nghiệp cũng ít chia sẻ được với những cảm xúc của Tr.

157

- Về Năng lực vận dụng cảm xúc: Phạm Văn Tr. thường chủ động nhìn

nhận các tình huống điều tra dưới nhiều góc độ khác nhau, khi nhìn nhận vấn

đề hay đánh giá Tr. luôn xem xét hoàn cảnh cũng như suy nghĩ của người

khác. Tr. có nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, có sự phân tách rõ ràng để

tránh sự chi phối của tình cảm vào trong nhìn nhận, đánh giá vấn đề. Mặt

khác, mọi suy nghĩ và hành động của Tr. luôn được thực hiện theo một định

hướng nhất định, có kế hoạch rõ ràng. Bởi vậy, Tr. luôn là người có sự chủ

động điều chỉnh cảm xúc tốt khi gặp phải những vấn đề khó khăn hay những

tình huống bất ngờ. Mặc dù vậy, đôi khi Tr. còn thể hiện sự hạn chế trong quá

trình truyền tải cảm xúc đến người khác; do đó trong quá trình hoạt động nghề

nghiệp của Tr. có gặp những khó khăn nhất định.

- Về Năng lực điều khiển cảm xúc: Phạm Văn Tr. trong hành vi ứng

xử hàng ngày với lãnh đạo và đồng nghiệp luôn đúng chuẩn mực, thể hiện

sự tôn trọng và nhã ý trong cuộc nói chuyện. Tr. luôn chủ động trong công

việc và có khả năng nhìn nhận vấn đề cũng như đưa ra hướng xử lý vấn đề

nhanh nhạy. Để nhìn nhận cảm xúc của đối tượng. Tuy nhiên, khả năng

kiểm soát cảm xúc của Tr. lại có sự hạn chế. Điều đó được thể hiện rõ rệt

khi H có sự tiếp xúc, làm việc với các đối tượng phạm tội. Khi đối tượng

thực hiện quyền im lặng, Tr. không kiểm soát được suy nghĩ của bản thân

và có những cảm xúc mang tính tiêu cực.

c. Những yếu tố ảnh hưởng

Phạm Văn Tr. không phải là sinh viên chuyên ngành được đào tạo tại

môi trường Công an mà Tr. là sinh viên trường Luật. Do đó về quá trình đào

tạo chuyên sâu về ngành Công an của Tr. còn thể hiện sự hạn chế. Tuy nhiên

Tr. lại là sinh viên trường Luật nên việc nắm vững điều luật để thực hiện

trong quá trình điều tra của Tr. rất tốt. Tr. lại được sinh ra trong gia đình có

bố làm trong ngành nên đây là môi trường thuận lợi để bồi dưỡng tư tưởng,

tình cảm đúng đắn cũng như có người chỉ bảo trong việc nhìn nhận, bồi

dưỡng năng lực nghề nghiệp.

158

d. Kết quả hoạt động chuyên môn, phẩm chất đạo đức của điều tra viên

Theo báo cáo tổng kết về kết quả hoạt động chuyên môn trong 5

năm (2015-2020) thì Phạm Văn Tr. có 1 năm đạt danh hiệu Chiến sĩ thi

đua; 04 năm đạt Chiến sĩ tiên tiến. Theo nhận xét của đồng nghiệp trong

phòng thì Tr. là điều tra viên trẻ, có sự năng động, hoạt ngôn nên Tr. được

cử làm bí thư chi đoàn. Tr. luôn thể hiện là cán bộ đoàn gương mẫu, nhiệt

tình, luôn là tấm gương sáng trong chi đoàn. Trong công tác chuyên môn,

Tr. dủ còn trẻ nhưng khả năng giải quyết công việc của Tr. cũng được

lãnh đạo và đồng nghiệp đánh giá cao. Số vụ án Tr. tham gia trực tiếp hay

với vai trò hỗ trợ Tr. cũng đều làm tốt.

e. Nhận xét chung

Dù đã rất có gắng để học tập và rèn luyện nhưng do những hạn chế

nhất định về môi trường học tập, vốn kinh nghiệm, nên mức độ trí tuệ

cảm xúc của Phạm Văn Tr. dù cao nhưng không phải là cao nhất. Trong

đó, khả năng nhận biết cảm xúc ở mức cao. Khả năng thấu hiểu cảm xúc

và vận dụng cảm xúc ở mức trung bình. Khả năng điều khiển cảm xúc

còn đạt mức thấp. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ trí tuệ cảm

xúc của Tr. Trong đó, yếu tố môi trường học tập có ảnh hưởng lớn nhất.

Ngoài ra, những khác biệt về môi trường sống, vốn sống, vốn kinh

nghiệm hạn chế cũng ảnh hưởng nhiều đến trí tuệ cảm xúc của Tr. Tuy

nhiên, được sự hỗ trợ và động viên của đồng nghiệp cũng như người thân

Tr. đã có những tiến bộ.

4.4. Biện pháp tâm lý - xã hội phát triển trí tuệ cảm xúc cho Điều

tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an

Xuất phát từ cơ sở lý luận của đề tài và kết quả nghiên cứu thực trạng,

cũng như kết quả điều tra về sự cần thiết của các biện pháp phát triển trí tuệ

cảm xúc (phụ lục 5.8.6), chúng tôi đề xuất các biện pháp tác động tâm lý - xã

hội thể hiện sự phù hợp, khả thi như sau:

159

4.4.1. Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về trí tuệ cảm xúc cho điều

tra viên

Nâng cao nhận thức của điều tra viên về trí tuệ cảm xúc nhằm cung cấp

cho điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an những trí thức về trí

tuệ cảm xúc, vai trò của trí tuệ cảm xúc đối với hoạt động nghề nghiệp của họ,

nhằm tạo ra nhu cầu phát triển mức độ trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên ở Cục

An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

Để có thể phát triển nhận thức của điều tra viên về trí tuệ cảm xúc cần

phải thông qua các hoạt động sau:

Trước tiên cần giáo dục cho điều tra viên những kiến thức về trí tuệ cảm

xúc thông qua việc nghe giới thiệu trí tuệ cảm xúc và định hướng ứng dụng trí

tuệ cảm xúc vào trong cuộc sống, quá trình làm việc tại cơ quan. Trong các giờ

rèn luyện nghiệp vụ của điều tra viên, cần bố trí các chuyên gia thuyết trình. Các

chuyên gia này sẽ giới thiệu, phân tích về: khái niệm, bản chất và vai trò của trí

tuệ cảm xúc đối với cuộc sống con người nói chung, vai trò của trí tuệ cảm xúc

đối với hoạt động nghề nghiệp, các biện pháp nuôi dưỡng cảm xúc tích cực và

hạn chế cảm xúc tiêu cực, hướng vận dụng trí tuệ cảm xúc vào trong quá trình

nghề nghiệp của điều tra viên Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

Thứ hai, cần tổ chức thảo luận về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục

An ninh điều tra thuộc Bộ Công an. Trong đó, điều tra viên sẽ nêu ra những thắc

mắc của bản thân về trí tuệ cảm xúc và việc vận dụng nó vào trong hoạt động

nghề nghiệp. Khi tham gia vào hoạt động thảo luận này điều tra viên sẽ có được

sự hiểu biết cơ bản về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên, vai trò của trí tuệ cảm

xúc đối với cuộc sống, đối với hoạt động nghề nghiệp. Từ đó hình thành ở điều

tra viên lòng mong muốn được phát triển mức độ trí tuệ cảm xúc của bản thân.

Từ đó điều tra viên sẽ có sự điều chỉnh cảm xúc một cách phù hợp, tích cực

nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc cũng như hiệu quả công việc của mình. Đây

được coi là hoạt động phát triển nhận thức hiệu quả, sâu sắc nhất.

Để phát triển được nhận thức của điều tra viên đòi hỏi điều tra viên phải

có sự nhận thức. Bởi chính bản thân điều tra viên mới là người quyết định việc

160

nhận thức của cá nhân mình với một vấn đề và tiếp nhận nó. Thừa nhận rằng

chúng ta thường trải qua nhiều cảm xúc khác nhau, mặc dù chúng ta không có

quyền lựa chọn về cảm xúc nảy sinh, nhưng chúng ta có thể lựa chọn cách

thức phản ứng phù hợp với những cảm xúc này. Do đó, để phát triển khả năng tự

nhận thức điều tra viên, cần phải làm một số việc sau:

- Thực hành việc thể hiện cảm xúc

Việc thực hành này được thể hiện thông qua việc điều tra viên trả lời

bằng câu “tôi cảm thấy…” và chịu trách nhiệm cho cảm xúc đó thay vì đổ lỗi

cho người khác trong một tình huống nào đó. Hãy nói “tôi cảm thấy hơi sợ

khi bạn lái xe tốc độ cao”, thay vì câu nói là “bạn lái xe như một thằng điên”.

- Nhận biết cảm giác, tri giác xuất hiện cùng với những cảm xúc mạnh mẽ

Việc điều tra viên nhận biết được những sự tác động của sự vật hiện

tượng xung quanh và cảnh báo sớm về điều đó sẽ giúp họ nhận biết được các

cảm xúc khác nhau mà bản đang phải trải qua. Bởi cùng một lúc, cá nhân có

thể chịu sự tác động của nhiều sự vật hiện tượng khác nhau. Điều này sẽ giúp

họ có thể có nhiều cảm xúc, sẽ có những cảm xúc mang tính chủ đạo, lấn át đi

các cảm xúc khác. Tuy nhiên, có những hoàn cảnh mà cá nhân sẽ cùng xuất

hiện nhiều trạng thái cảm xúc. Điều này do cảm giác khác nhau khi họ chịu sự

tác động của sự vật, hiện tượng. Việc có nhiều cảm xúc khiến điều tra viên

cần phải có những cân đối, điều chỉnh và giúp bạn đưa ra biện pháp hiệu quả

để kiểm soát nó. Điều này sẽ giúp cho điều tra viên sẽ có những cảm xúc

mang tính phù hợp, hiệu quả trong từng hoàn cảnh nhất định.

- Bút ký hay nói cách khác là việc cá nhân dành thời gian vào cuối ngày

để ghi lại những cảm xúc và hiện tượng mà mình đã trải qua.

Việc điều tra viên ghi lại những gì mình đã trải qua giúp họ có thể xem

lại các các xúc mà điều tra viên đã trải qua ở những thời điểm khác nhau và

tìm ra nguyên nhân gây ra những cảm xúc đó. Trong thời gian này, điều tra

viên có thể xác định được kiểu cảm xúc của cá nhân và lý giải nguyên nhân

chính xác dẫn đến những cảm xúc đó. Điều này vô cùng có ý nghĩa bởi việc

161

theo dõi cảm xúc của điều tra viên sẽ giúp điều tra viên tăng khả năng nhận

thức, điều chỉnh và quản lý cảm xúc của mình.

- Làm bài “kiểm tra cảm xúc” một vài lần trong ngày

Việc này được tiến hành bằng việc điều tra viên dừng mọi hoạt động

trong vài phút sau đó tự vấn bản thân “tôi cảm thấy thế nào?”, “đây là cảm

xúc gì?”, và “cảm xúc này mạnh như thế nào?”. Kết hợp phương pháp này với

việc việc xem lại cảm xúc đã được bút ký vào cuối ngày sẽ làm tăng khả năng

hiểu biết cảm xúc bản thân và cuối cùng là khả năng nhận ra được cảm xúc

bản thân vào một thời điểm xác định. Như vậy, dù viết nhật ký hay làm kiểm

tra cảm xúc chính là cách thức giúp điều tra viên hồi tưởng lại những cảm xúc

đã trải qua, đánh giá nó và để có thể điều chỉnh được trí tuệ cảm xúc ở những

thời gian sau tích cực và phù hợp hơn.

Quan điểm sống, lạc quan tự tin với nguồn sức mạnh tiềm ẩn giúp điều

tra viên vượt qua cảm xúc âm tính. Bằng cách duy trì và phát triển thái độ

tích cực, lạc quan sẽ giúp điều tra viên đạt được trạng thái tinh thần lành

mạnh và hiệu quả trong hoạt động và giao tiếp. Với thái độ tích cực, lạc

quan, điều tra viên sẽ không còn những suy nghĩ bi quan về những vướng

mắc mình gặp phải mà thay vào đó là cảm giác hài lòng, tự hạnh phúc với

bản thân và có xu hướng thân thiện hơn với mọi người, khi đó điều tra viên

sẽ có tinh thần thoải mái, có được khả năng thấu hiểu nội tâm và cảm xúc

tích cực để quý trọng bản thân cũng như mang niềm vui đến cho người khác.

Nhờ vậy, điều tra viên sẽ tự tạo cho mình thêm nhiều cơ hội, đẩy lùi những

điều tiêu cực. Thái độ tích cực, lạc quan luôn tạo nên những phản ứng tinh

thần chính xác đối với mỗi tác động bên ngoài. Khi đó, điều tra viên sẽ biết

cách suy nghĩ, hành động và có cách cư xử đúng đắn trong mọi hoàn cảnh.

Do vậy, giáo dục nâng cao nhận thức, xây dựng cho điều tra viên có động cơ

đúng đắn, tình cảm và quan điểm sống tích cực, có tinh thần lạc quan, vui

vẻ, không định kiến tiêu cực sẽ góp phần rất quan trọng vào việc rèn luyện,

hoàn thiện các năng lực trí tuệ cảm xúc ở điều tra viên.

162

4.4.2. Bồi dưỡng các năng lực trí tuệ cảm xúc trong công việc cho

điều tra viên

Mỗi một đối tượng, ngành nghề mang những nét đặc trưng khác nhau,

do đó trí tuệ cảm xúc cũng có sự khác biệt giữa chúng. Tuy nhiên việc phát

triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên đều là hết sức cần thiết. Trang bị một

số kiến thức và kỹ thuật rèn luyện là một trong những biện pháp phát triển

hiểu biết cũng như rèn luyện kỹ năng thành thạo cho điều tra viên trong trí

tuệ cảm xúc của mình. Biện pháp này sẽ trang bị một số kiến thức và kỹ

thuật nhằm rèn luyện trí tuệ cảm xúc trong công việc cho điều tra viên và để

điều tra viên tự rèn luyện về trí tuệ cảm xúc cũng như phát triển một số năng

lực trong trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Qua đó, các điều tra viên cũng

dần phát triển tính tự giác, tích cực trong quá trình hoàn thiện nhân cách

nghề nghiệp nói chung và phát triển trí tuệ cảm xúc - ứng dụng nó trong công

việc - nghề nghiệp. Cụ thể:

Thứ nhất, tổ chức lớp học chuyên biệt về trí tuệ cảm xúc nhằm trang bị

một số kiến thức và kỹ thuật nhằm rèn luyện các năng lực trí tuệ cảm xúc

trong công việc của điều tra viên.

Các lớp học chuyên biệt về trí tuệ cảm xúc có thể xoay quanh các

chủ đề như sau:

- Chuyên đề 1: Năng lực thấu hiểu trái tim của điều tra viên

Chuyên đề này nhằm trang bị cho điều tra viên khả năng nhận biết cảm

xúc, khả năng phát hiện giải mã các cảm xúc của bản thân và người khác

(những người tham gia hoạt động điều tra). Điều này sẽ giúp cho điều tra viên

nắm bắt một cách chính xác cảm xúc của chính bản thân mình hay cảm xúc

của những người xung quanh, từ đó sẽ có sự điều chỉnh, điều khiển cảm xúc

một cách linh hoạt, chính xác. Sự linh hoạt, chính xác có nghĩa là điều tra

viên không bị bó buộc bởi một cảm xúc cố định mà luôn vận dụng một cách

uyển chuyển những trạng thái cảm xúc khác nhau. Điều này sẽ giúp điều tra

viên đưa ra những biện pháp tác động kịp thời nhằm thuyết phục đối tượng,

phát triển hiệu quả công việc của điều tra viên.

163

Mặt khác chuyên đề còn giúp điều tra viên có khả năng hiểu cảm xúc, khả

năng thấu hiểu, hiểu rõ các mối quan hệ phức tạp giữa các cảm xúc, và khả năng

nhận biết, mô tả các cảm xúc tiến hoá theo thời gian. Điều này có nghĩa là, điều tra

viên không chỉ dừng lại việc hiểu cảm xúc mà còn cần phải nắm bắt được các mối

quan hệ giữa cảm xúc của các cá nhân khác nhau, sự tồn tại của nó theo thời gian.

Từ việc này, điều tra viên sẽ có những cách thức ứng xử phù hợp cho từng mối

quan hệ, từng thời điểm và hoàn cảnh khác nhau.

- Chuyên đề 2: Năng lực sử dụng cảm xúc trong công việc của điều tra viên

Cảm xúc có vai trò quan trọng trong đời sống của con người. Nó có tác

động mạnh mẽ đến công việc, cá nhân và tổ chức. Những điều tra viên có cảm

xúc tích cực sẽ là động lực thôi thúc cá nhân đó hành động, vượt qua mọi khó

khăn trở ngại, tìm tòi ra chân lý. Đối với hoạt động của điều tra viên, việc xây

dựng, hình thành những cảm xúc tích cực chính là yếu tố chi phối đến kết quả

công việc cũng như các mối quan hệ của điều tra viên.

Trong năng lực sử dụng cảm xúc này thì sự nhạy cảm nghề nghiệp là

một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ. Mỗi một ngành nghề đều có

những nhạy cảm riêng, điều tra viên trong hoạt động điều tra cũng vậy. Nhạy

cảm trong cảm xúc của điều tra viên đó chính là năng lực nghề nghiệp của họ.

Trong một tình huống, khi tiếp nhận vấn đề họ luôn có những nhận định, phán

đoán riêng của mình. Không chỉ vậy, điều tra viên còn là những người thấu

hiểu cảm xúc của những người tham gia hoạt động điều tra. Việc họ nắm bắt

cảm xúc của đối tượng là vô cùng cần thiết để họ đưa ra cách ứng xử hợp lý

cũng như những cách thức giải quyết công việc phù hợp. Đây chính là năng

lực nghề nghiệp dựa trên tính nhạy cảm của họ. Do vậy, cần phải tổ chức buổi

nói chuyện chuyên đề về điều này để điều tra viên có thể phát triển kỹ năng

nắm bắt cảm xúc của đối tượng.

Để có thể phát triển được năng lực này đòi hỏi:

Điều tra viên sử dụng cảm xúc của mình như là một phương tiện để đạt

được mục đích nào đó trong nhận thức, thái độ hay hành động là mức độ cao

164

nhất. Đây là kỹ năng có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển

hiệu quả trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Nhận thức, điều khiển cảm xúc là

việc điều tra viên sử dụng tri thức, ý thức, ý chí để nhận ra và giám sát và điều

khiển những cảm xúc thực của bản thân, duy trì cường độ của nó phù hợp với

hoàn cảnh cụ thể. Trong khi đó, vận dụng cảm xúc là việc cá nhân không chỉ

lại ở mức nhận dạng, giám sát và điều khiển cảm xúc thực đang diễn ra, mà

còn biết “tăng lên” hoặc “giảm bớt” cường độ của cảm xúc khi cần thiết.

Thậm chí phải biết “tạo ra” những cảm xúc và biết “thể hiện” cảm xúc khi cần

thiết. Phải biết “tạo ra cảm xúc” ở đây chính là điều tra viên biết sử dụng các

biểu tượng tương ứng với mỗi loại cảm xúc để thể hiện ra “cảm xúc của

mình” để người khác biết.

Kỹ năng sử dụng cảm xúc của điều tra viên thể hiện ở chỗ điều tra viên

biết dùng cảm xúc để thúc đẩy hoạt động của cá nhân và hạn chế những tác

động của cảm xúc tiêu cực nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình

hoạt động, giao tiếp hay nói cách khác nó chính là khả năng khắc phục khó

khăn của điều tra viên. Trong đó, cảm xúc là nền tảng của việc đưa ra những

tác động của cảm xúc tiêu cực nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong quá

trình hoạt động, giao tiếp. Đặc biệt phải chú trọng đến những cảm xúc giữ vai

trò quyết định, là nền tảng của việc đưa ra những quyết định đúng đắn. Cảm

xúc hoạt động là những hướng dẫn bên trong và giúp chúng ta nối những dấu

hiệu này cũng có thể hướng dẫn những cảm xúc.

Việc sử dụng cảm xúc của điều tra viên phụ thuộc vào kỹ năng vạch

chiến lược khắc phục những hạn chế trong hoạt động nghề nghiệp. Điều này

thể hiện qua kỹ năng nhận diện cảm xúc, hiểu được ý nghĩa thực tế của cảm

xúc cũng như ảnh hưởng của các loại cảm xúc, hiểu được ý nghĩa thực tế của

cảm xúc cũng như ảnh hưởng của các loại cảm xúc đối với hoạt động; khả

năng phán đoán và dự đoán hành vi cũng như phụ thuộc vào kinh nghiệm thực

tiễn của cá nhân. Những điều tra viên có mức độ phát triển kỹ năng kiểm soát

cảm xúc cao thường hoạt động rất nhiệt tình và đạt hiệu suất cao trong quá trình

165

thực hiện nhiệm vụ. Với việc hiểu rõ cảm xúc của bản thân, điều tra viên nhận

thức rõ nhu cầu, động cơ của bản thân trong việc xác lập và định hướng hành

động của bản thân sao cho phù hợp với xu hướng nghề nghiệp đã xác định.

Khi đã định hình được mục tiêu cần hướng đến, điều tra viên cần xây dựng

tình cảm tích cực, giành nhiều tâm huyết cả về trí lực, thể lực nhằm chiếm

lĩnh đối tượng cần đạt được. Nhờ có kỹ năng sử dụng cảm xúc nên điều tra

viên biết sử dụng những cảm xúc tích cực để thúc đẩy hành động. Đồng thời,

điều tra viên biết hạn chế những ảnh hưởng, tác động của kết quả trước mắt,

những khó khăn tâm lý do khách quan và chủ quan mang lại để đạt được mục

đích lâu dài. Hơn thế, điều tra viên biết sử dụng cảm xúc để thúc đẩy tư duy

tích cực và sáng tạo. Năng lực tư duy chỉ có được trên cơ sở điều tra viên

nhận thức được vấn đề cần giải quyết trong tình huống mới, đồng thời phải có

sự say mê, hứng thú nhằm vượt qua những trở ngại để đạt được mục đích của

tư duy. Do vậy, họ sẽ hoạt động một cách tích cực, nhiệt tình và sáng tạo, luôn

hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Mặt khác, năng lực sử dụng cảm xúc của điều tra viên còn được thể

hiện qua khả năng bày tỏ cảm xúc của bản thân trong những trường hợp cụ

thể. Bằng việc bày tỏ cảm xúc bản thân, điều tra viên có thể thúc đẩy tính

tích cực hoạt động của những người xung quanh hoặc kìm nén, làm giảm tác

động của những cảm xúc tiêu cực. Nhờ khả năng bày tỏ cảm xúc, điều tra

viên dừng nhận thức, cảm xúc của mình để điều chỉnh, điều khiển cảm xúc

của những người xung quanh nhằm mục đích hướng cảm xúc của họ vào

những tình huống có lợi nhất cho hoạt động chung của nhóm, của tập thể.

Khả năng bày tỏ cảm xúc có được trên cơ sở cá nhân hiểu rõ sự ảnh hưởng

cảm xúc của bản thân và người khác đối với hiệu quả công việc như thế nào

trong quá trình hoạt động cùng nhau. Điều này nói lên trình độ tự ý thức, tự

đánh giá của cá nhân điều tra viên về những ưu, nhược điểm của các loại

cảm xúc nhằm phát huy cảm xúc tích cực và hạn chế, ngăn ngừa cảm xúc

tiêu cực trong việc thực hiện nhiệm vụ.

166

- Chuyên đề 3: Năng lực quản lý cảm xúc của điều tra viên

Năng lực quản lý cảm xúc của điều tra viên là khả năng điều tra viên nhận

diện, kiểm soát, điều chỉnh và sử dụng những rung động của cá nhân khi có

những kích thích tác động nhằm giúp con người đạt được những gì mong muốn.

Việc tổ chức các chuyên đề về năng lực quản lý cảm xúc của điều tra

viên là cần thiết. Điều này sẽ giúp cho điều tra viên nắm bắt được chính xác

cảm xúc hiện tại của mình, đánh giá nó là tích cực hay tiêu cực, phù hợp hay

chưa phù hợp. Sau đó điều tra viên sẽ thay đổi nó theo hướng đúng đắn, nếu

nó tích cực thì cần phát huy nhiều hơn nhưng ngược lại thì nên hạn chế hoặc

xoá bỏ triệt để những cảm xúc tiêu cực, để hình thành những cảm xúc

mang tính tích cực. Việc này sẽ giúp cá nhân hình thành những cảm xúc

tốt, là nhân tố góp phần tăng thêm hiệu quả của công việc.

Muốn làm được điều đó đòi hỏi phải giúp điều tra viên nhận thức rõ ràng

về: sự cần thiết của quản lý cảm xúc và hậu quả của việc không quản lý được

cảm xúc, ý nghĩa của việc phát triển nhận biết cảm xúc bản thân, cách thức tự

điều chỉnh hành vi, điều khiển cảm xúc của chính mình thông qua các bước để

thể hiện cảm xúc phù hợp và quản lý cảm xúc trong cuộc sống, công việc.

Thứ hai, Tổ chức rèn luyện các bài tập chuyên biệt về trí tuệ cảm xúc

nhằm góp phần rèn luyện trí tuệ cảm xúc, các năng lực trí tuệ cảm xúc trong

công việc của điều tra viên. Các bài tập này xoay quanh về các nội dung: (1)

Biểu hiện mức độ hiểu biết về khái niệm trí tuệ cảm xúc, các biểu hiện cơ

bản, các thành phần cơ bản; (2) Mức độ thành thạo một số kỹ năng liên quan

đến trí tuệ cảm xúc như: phán đoán cảm xúc của người khác, kiểm soát cảm

xúc của bản thân... Để tổ chức hiệu quả rèn luyện các bài tập này điều này,

nên sử dụng tác động hồi tưởng. Tác động hồi tưởng giúp điều tra viên rút ra

được những bài học kinh nghiệm cho bản thân trong hoạt động nghề nghiệp

cũng như trong cuộc sống về những thành công hay thất bại do sự tác động tích

cực hay tiêu cực của cảm xúc. Khi tham gia biện pháp này điều tra viên sẽ được

luyện tập qua bốn bài tập cơ bản sau:

167

- Bài tập 1: Tập nhận ra các cảm xúc của bản thân và của người khác qua

các mối quan hệ giao tiếp trong các hoạt động cơ bản của điều tra viên ở Cục An

ninh điều tra thuộc Bộ Công an. Các hoạt động cơ bản của điều tra viên ở Cục

An ninh điều tra bao gồm: hoạt động điều tra, hoạt động rèn luyện nghiệp vụ,

hoạt động chính trị xã hội, hoạt động văn nghệ thể dục thể thao, trong cuộc sống.

Trong bài tập nghiệm thể phải nhận ra được các cảm xúc đang diễn ra ở bản thân

và của người khác trong tình huống nghiệp vụ đã gặp.

- Bài tập 2: Tập xác định nguyên nhân dẫn đến cảm xúc của bản thân và

người khác thông qua các mối quan hệ giao tiếp trong các hoạt động cơ bản của

điều tra viên ở Cục An ninh điều tra. Các hoạt động cơ bản của điều tra viên Cục

An ninh điều tra bao gồm: hoạt động điều tra, hoạt động rèn luyện nghiệp vụ,

hoạt động chính trị xã hội, hoạt động văn nghệ thể dục thể thao, trong cuộc sống.

Bài tập này đòi hỏi nghiệm thể kể lại một tình huống giao tiếp nghiệp vụ mà ở

đó điều khiển được cảm xúc của bản thân nên đã giải quyết được tình huống

thành công hoặc ngược lại. Từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm cho bản thân.

- Bài tập 3: Tập vận dụng trí thức về trí tuệ cảm xúc để giải quyết một tình

huống trong các hoạt động cơ bản của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra Bộ

Công an. Các hoạt động cơ bản của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc

Bộ Công an bao gồm: hoạt động điều tra, hoạt động rèn luyện nghiệp vụ, hoạt

động chính trị xã hội, hoạt động văn nghệ thể dục thể thao, trong cuộc sống.

- Bài tập 4: Tập điều khiển cảm xúc của bản thân và những người xung

quanh. Bài tập này đòi hỏi nghiệm thể kể lại một tình huống giao tiếp qua các

mối quan hệ giao tiếp trong các hoạt động nghiệp vụ cơ bản. Các hoạt động

nghiệp vụ cơ bản của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an bao

gồm: hoạt động điều tra, hoạt động rèn luyện nghiệp vụ, hoạt động chính trị xã

hội, hoạt động văn nghệ thể dục thể thao, các hoạt động ở trong cuộc sống.

Trong tình huống đó phải nêu được mình thành công hay thất bại do điều khiển

được hay không điều khiển được cảm xúc của bản thân và người đối thoại.

Khi tham gia biện pháp này điều tra viên phải tham gia vào các hoạt động

rèn luyện sau:

168

+ Hoạt động 1: Điều tra viên phải tập hồi tưởng. Trong hoạt động này

mỗi nghiệm thể phải viết ra (hồi tưởng) được một tình huống giao tiếp mà

mình đã gặp theo một trong sáu loại hình hoạt động cơ bản của điều tra viên

và rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân kinh nghiệm cho bản thân từ tình

huống mà mình đã nêu.

+ Hoạt động 2: Điều tra viên thuật lại tình huống và bài học từ tình huống

cho các nghiệm thể trong nhóm cùng nghe.

+ Hoạt động 3: Các điều tra viên cùng nhóm đưa ra ý kiến của mình về

tình huống, bài học đã nghe và rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân.

Khi tham gia vào các hoạt động của biện pháp này điều tra viên sẽ được

tăng cường vốn kinh nghiệm cũng như được rèn luyện một số kỹ thuật để giải

quyết có hiệu quả các mối quan hệ giao tiếp trong các hoạt động cơ bản trong

hoạt động nghề nghiệp ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an.

4.4.3. Rèn luyện kỹ năng kiểm soát cảm xúc và kỹ năng đồng cảm cho

điều tra viên

Để rèn luyện kỹ năng kiểm soát cảm xúc và kỹ năng đồng cảm cho điều

tra viên, cần phải:

* Nâng cao kỹ năng quản lý cảm xúc cho điều tra viên

Kỹ năng tự kiểm soát cảm xúc là sự vận dụng tri thức chuyên môn,

kinh nghiệm công tác, các cách thức hành động của Điều tra viên nhằm tác

động có định hướng, có mục đích để chế ngự, điều khiển, điều chỉnh cảm xúc

trong quá trình điều tra một cách có hiệu quả.

Kỹ năng kiểm soát cảm xúc cho điều tra viên được thể hiện qua:

Khả năng vận dụng tri thức chuyên môn, kinh nghiệm công tác của

điều tra viên. Có nghĩa là trong quá trình giao tiếp thì điều tra viên cần phải

khéo léo chuyển hoá những kiến thức về mặt lý luận, sự hiểu biết của cá nhân

cũng như những vấn đề mà điều tra viên đã từng trải qua trong quá trình làm

việc để áp dụng với các đối tượng một cách mềm dẻo, linh hoạt, có hiệu quả.

Kỹ năng duy trì cảm xúc, “cân bằng” cảm xúc trước những tác động

của hoạt động điều tra. Có nghĩa là, trong quá trình tiến hành hoạt động

169

chuyên môn, điều tra viên phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thử thách khác

nhau từ các đối tượng khác nhau. Để có thể giữ cho cảm xúc được cân bằng

đòi hỏi điều tra viên cần nắm bắt chính xác tính chất công việc mà mình đang

phải đối diện, đường hướng cần phải thực hiện cũng như phải có khả năng

thấu hiểu đối tượng giao tiếp. Từ đó luôn giữ cho mình những trạng thái cảm

xúc ổn định, tích cực.

Khả năng khống chế, ngăn chặn, điều chỉnh cảm xúc của điều tra viên.

Nhắc tới điều này là bởi điều tra viên có quá trình tiếp xúc với đối tượng khá

lớn, do vậy khả năng khống chế, điều chỉnh, điều khiển cảm xúc giúp điều tra

viên luôn trong tâm thế sẵn sàng, chủ động ứng phó với mọi tình huống có thể

xảy ra. Do đó, trong quá trình giao tiếp điều tra viên cần phải dự đoán trước

những diễn biến hay tình huống có thể xảy ra, đồng thời khi gặp phải những

khó khăn cần phải bình tĩnh, ổn định cảm xúc, tránh để những trạng thái cảm

xúc rơi vào tình trạng “thái quá”.

Kỹ năng kiểm soát cảm xúc của điều tra viên còn được thể hiện qua sự

nỗ lực của bản thân để khống chế những cảm xúc mang tính chất tiêu cực.

Điều đó có thể được hiểu đó là việc điều tra viên luôn luôn cố gắng hoàn thiện

bản thân. Sự hoàn thiện này không chỉ dừng lại ở việc điều tra viên trau dồi tri

thức mà còn thể hiện ở khả năng điều tra viên làm chủ được cảm xúc của bản

thân, luôn nhận biết được thái cực của cảm xúc để từ đó điều chỉnh cho phù hợp.

Để có được hiệu quả công việc không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực từ một phía, nhưng

nếu muốn có kết quả tốt thì trước tiên điều tra viên phải có sự thay đổi, nỗ lực.

Từ những vấn đề lý luận trên có thể đưa ra một số các cách kiểm soát

cảm xúc của điều tra viên trong quá trình giao tiếp như sau:

Thứ nhất, Điều chỉnh phản ứng

Điều chỉnh phản ứng là cách bản thân điều tra viên thay đổi phản ứng

phù hợp để hạn chế hậu quả mang tính chất tiêu cực. “Điều chỉnh phản ứng”

được biểu hiện cụ thể như sau:

+ Kìm nén cơn nóng giận/Kìm nén cảm xúc tiêu cực, tiếp tục công việc.

170

+ Hít thở sâu để bình tĩnh lại.

+ Bản thân tự trấn an mọi chuyện đều ổn để lấy lại bình tĩnh.

+ Sau khi lấy lại bình tĩnh, điều tra viên tập trung giải quyết vấn đề.

Thứ hai, Chuyển hướng chú ý

Chuyển hướng chú ý là cách bản thân điều tra viên hướng vào những

hoạt động tích cực để có thể khiến mình thoát khỏi cảm xúc tiêu cực.

“Chuyển hướng chú ý” được biểu hiện cụ thể như sau:

+ Giải trí, thư giãn như chơi thể thao, đi dạo, đi mua sắm, nghe nhạc, đọc

sách, chơi game, lướt web...

+ Suy nghĩ về những điều tốt đẹp, vui vẻ để không vướng bận cảm xúc tiêu cực.

+ Làm điều mình thích để kéo giãn sự tập trung vào cảm xúc tiêu cực.

+ Bản thân suy nghĩ chuyện xảy ra là bình thường, còn nhiều thứ để

mình quan tâm.

Thứ ba, Giải quyết vấn đề

Giải quyết vấn đề là cách điều tra viên đối mặt với vấn đề và tìm cách

giải quyết. “Giải quyết vấn đề” được biểu hiện cụ thể như sau:

+ Tìm hiểu đã xảy ra chuyện gì, phân tích nguyên nhân.

+ Hình dung hậu quả nếu không kiểm soát cơn tức giận/sự buồn chán/sự lo âu.

+ Suy nghĩ hướng giải quyết vấn đề.

+ Lên kế hoạch và quyết tâm thực hiện.

Thứ tư, Tư duy tích cực

Tư duy tích cực là cách điều tra viên đặt ra suy nghĩ của mình theo

hướng tích cực, lạc quan. “Tư duy tích cực” được biểu hiện cụ thể như sau:

+ Cho rằng sự việc đã xảy ra nhưng vẫn có cách giải quyết.

+ Cho rằng bản thân là người phục vụ trong lực lượng công an, phải

đảm bảo lễ tiết, tác phong, điều lệnh.

+ Cho rằng mỗi người có nhiệm vụ và tính cách riêng nên họ làm vậy là

có lý do, cần bao dung với họ.

+ Học được bài học tốt cho bản thân qua tình huống xảy ra.

171

Thứ năm, Trao đổi với người khác

Trao đổi với người khác là cách điều tra viên tìm sự chia sẻ, khuyên bảo

của người khác. “Trao đổi với người khác” được biểu hiện cụ thể như sau:

+ Điện thoại hoặc tìm gặp bạn bè hay người thân nói chuyện để giải toả

cơn giận/sự buồn chán/ sự lo âu.

+ Lắng nghe lời khuyên từ người khác để giải quyết vấn đề (lãnh đạo,

đồng nghiệp, bạn bè).

+ Đề nghị người khác giúp đỡ (lãnh đạo, đồng nghiệp, bạn bè...).

+ Thảo luận với người khác để giải quyết vấn đề (lãnh đạo, đồng

nghiệp, bạn bè......).

Thứ sáu, Chịu trách nhiệm

Chịu trách nhiệm là cách điều tra viên nhận thức được trách nhiệm,

chuẩn bị tâm thế sẵn sàng đối mặt. “Chịu trách nhiệm” được biểu hiện cụ

thể như sau:

+ Cho rằng cảm xúc là của bản thân, không đổ lỗi cho người khác.

+ Chấp nhận những điều mình không mong muốn.

+ Trấn an mình không sao, chấp nhận đối diện vấn đề.

+ Cho rằng chuyện xảy ra là điều không tránh khỏi.

* Nâng cao kỹ năng đồng cảm của điều tra viên

Đồng cảm là việc cá nhân hiểu hoặc cảm nhận những gì người khác

đang trải qua trong khung tham chiếu của họ, nghĩa là khả năng đặt bản thân

vào vị trí của người khác.

Kỹ năng nhận biết một cách chính xác cảm xúc của mình ngay khi nó

xảy ra với họ, đặt địa vị của điều tra viên vào đối tượng để cảm nhận những gì

họ đang cảm nhận, hiểu được những cảm xúc mà họ đang trải qua. Thông

thường điều này đồng nghĩa với việc điều tra viên hiểu những gì người khác

đang suy nghĩ và cảm nhận mặc dù điều tra viên chưa trải qua.

Lắng nghe và quan sát là hai yếu tố quan trọng nhất trong kỹ năng này.

Để lắng nghe và quan sát những gì đang diễn ra xung quanh, Điều tra viên

172

phải ngừng nói, ngừng những sự độc thoại suy nghĩ của bản thân, ngừng suy

đoán về những gì đối tượng sắp nói và không suy nghĩ về những gì điều tra

viên sẽ nói. Cần phải thực hành quan sát giọng nói của bản thân và các đối

tượng để hiểu đúng những gì họ suy nghĩ và cảm nhận.

Để có thể đồng cảm tốt nhất với đối tượng, trước tiên điều tra viên cần phải:

- Tạo bầu không khí thân thiện, cởi mở, tạo cho đối tượng cảm giác tin

cậy khi giao tiếp.

- Sử dụng phương tiện giao tiếp hợp lý để khuyến khích đối tượng trao

đổi về vấn đề của họ.

- Sẵn sàng lắng nghe đối tượng và chấp nhận họ và những nan đề của họ.

- Cảm thông, chia sẻ và tôn trọng, quan tâm đến cảm giác của đối

tượng khi trò chuyện với họ.

- Có thái độ, hành vi khích lệ khi họ, sử dụng những khích lệ bằng lời

nói để thể hiện sự quan tâm và thấu hiểu đến đối tượng.

- Tôn trọng sự im lặng, dành thời gian cho đối tượng suy nghĩ, có hành

vi khích lệ như phản hồi, tóm lược và khen ngợi để đối tượng cảm nhận được

sự tôn trọng, quan tâm từ điều tra viên.

- Đặt mình vào tình huống và nan đề mà đối tượng đang gặp phải để

cảm nhận những gì họ đang phải trải qua, để hiểu được suy nghĩ, cảm xúc

cũng như hành động của đối tượng đó.

- Nhạy cảm với những lời nói, cảm xúc của đối tượng và giải nghĩa được

chúng. Nghĩa là cần nhanh nhạy trong ý vị từng câu nói của đối tượng cũng như

biết thấu hiểu với những cảm xúc, suy nghĩ của họ. Để từ đó có cái nhìn chính xác

với những suy nghĩ mà đối tượng đang suy nghĩ.

- Ngừng việc đang làm, ngừng những mẩu đối thoại triền miên trong

đầu, ngừng suy nghĩ về những gì người ta sắp nói và không toan tính xem sẽ

nói gì tiếp theo. Thay vào đó hãy chú ý hoàn toàn đến cảm xúc của đối

tượng. Nắm bắt được cảm xúc của đối tượng có ý nghĩa quan trọng, nó quyết

định đến việc điều tra viên có tiếp cận được với đối tượng đó hay không, có

173

đáng là nơi tin cậy để đối tượng sẵn sàng chia sẻ hay không. Việc điều tra

viên không toan tính mà hoàn toàn chú ý đến cảm xúc của đối tượng thể hiện

sự tôn trọng của điều tra viên dành cho đối tượng của họ.

- Điều tra viên cần chú ý đến khả năng diễn giải cảm xúc của mình.

Để có thể làm được điều này điều tra viên phải làm sao cho đối tượng có thể

được tâm ý của cá nhân mình. Đồng thời nó cũng chính là việc điều tra viên

rà soát lại chính bản thân mình, xem cách dẫn dắt cảm xúc của mình có

mang lại hiệu quả hay không? Hiệu quả của việc diễn giải cảm xúc này

chính là việc điều tra viên sẽ đạt được mục đích mà họ đặt ra, là thuyết phục

được đối tượng có thể chia sẻ cảm xúc hay suy nghĩ của họ với điều tra viên

mà không hề có sự e ngại hay che giấu nào trong đó.

- Cần phát triển kỹ năng đọc và giải thích dấu hiệu ngôn ngữ cơ thể cho

điều tra viên. Đây là điều hết sức quan trọng bởi đối tượng mà điều tra

viên tiếp xúc có rất nhiều loại đối tượng khác nhau. Hơn nữa không phải

lúc nào cảm xúc, tình cảm hay suy nghĩ của đối tượng cũng được bộc lộ

qua bên ngoài. Do đó nắm bắt được ý nghĩa của những hành vi phi ngôn

ngữ là một trong những kỹ năng đòi hỏi điều tra viên cần phải có. Điều tra

viên có thể thông qua: nét mặt, sắc mặt, lông mày, ánh mắt, cử chỉ, điệu

bộ của các bộ phận tay chân hoặc quá trình tiết mồ hôi,... đều có thể nắm

bắt được trạng thái cảm xúc của đối tượng. Mỗi một biểu hiện khác nhau

lại đặc trưng cho những trạng thái cảm xúc và suy nghĩ khác nhau. Nắm

bắt chính xác giúp điều tra viên có thể đưa ra biện pháp tác động hiệu quả.

Cần phát triển khả năng này của điều tra viên bởi điều tra viên

thường xuyên phải giao tiếp với nhiều đối tượng, đối tác nên có rất nhiều

mối quan hệ của điều tra viên được xây dựng từ đây. Chỉ khi điều tra viên

phát triển được kỹ năng đồng cảm với đối tượng hay đối tác thì điều tra

viên mới thể hiện và khẳng định được rõ thành ý của cá nhân mình với vấn

đề mà đối tượng hay đối tác quan tâm. Do đó, đồng cảm ở đây không chỉ

điều tra viên đưa mình vào hoàn cảnh đối tượng mà còn là việc điều tra

viên thấu hiểu, đồng điệu suy nghĩ, lý giải được nguyên nhân vì sao đối

174

tượng làm như vậy. Từ đó mới nhận được sự chia sẻ, hợp tác từ đối tượng,

mang lại hiệu quả cho công việc.

4.4.4. Phát huy tính tính cực trong tự học, tự tu dưỡng, rèn luyện để

phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên

Tính tích cực cá nhân là yếu tố quyết định trực tiếp việc nâng cao mức

độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Các biện pháp khác chỉ phát huy được

vai trò, tác dụng và trí tuệ cảm xúc chỉ có thể được tăng cường khi điều tra

viên tích cực tự học, tự tu dưỡng, rèn luyện trong quá trình thực hành nghề

nghiệp. Vì vậy, điều tra viên phải ý thức được vai trò của việc tự tu dưỡng, tự

rèn luyện đối với việc nâng cao mức độ trí tuệ cảm xúc cho bản thân. Do đó,

cần làm tốt các yêu cầu sau:

- Mỗi điều tra viên cần tự xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện của bản

thân một cách hợp lý. Đây là yêu cầu rất quan trọng, bởi vì, hoạt động điều

tra tiêu hao rất lớn về thể lực và trí lực, trong quá trình công tác tất yếu sẽ

gặp rất nhiều tình huống khó khăn, phức tạp. Do đó, nếu điều tra viên trên

cơ sở kế hoạch học tập, rèn luyện của đơn vị, biết tự xây dựng kế hoạch,

phương pháp học tập, rèn luyện, nghỉ ngơi, cũng như các phương pháp rèn

luyện trí tuệ cảm xúc của bản thân một cách phù hợp thì sẽ giúp họ khắc

phục khó khăn, đạt tới mục tiêu đặt ra trong hoạt động điều tra với kết quả

cao. Ngược lại, nếu điều tra viên không tự xây dựng kế hoạch, phương

pháp học tập, rèn luyện của bản thân một cách phù hợp thì các hoạt động tự

học tập, rèn luyện của họ sẽ diễn ra không khoa học, họ sẽ gặp rất nhiều

khó khăn trong quá trình học tập, rèn luyện và đem lại hiệu quả thấp. Thực

tế, qua phỏng vấn và điều tra cho thấy, những điều tra viên biết tự xây dựng

kế hoạch, phương pháp học tập, rèn luyện, nâng cao trí tuệ cảm xúc của bản thân

một cách phù hợp còn hạn chế.

Để làm tốt kế hoạch, phương pháp tự học tập, rèn luyện, nâng cao trí

tuệ cảm xúc của bản thân, mỗi điều tra viên cần phải nắm chắc kế hoạch,

học tập, rèn luyện của đơn vị, đồng thời, nắm chắc tình hình thực tiễn tại

175

đơn vị, khả năng của bản thân, trên cơ sở đó tự xây dựng kế hoạch, phương

pháp học tập, rèn luyện của bản thân một cách hợp lý. Tự giác nỗ lực cố

gắng khắc phục khó khăn để thực hiện kế hoạch đã đề ra. Thường xuyên biết

tự kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện kế hoạch. Từ đó,

biết điều chỉnh kế hoạch, phương pháp học tập, rèn luyện, của bản thân một

cách phù hợp. Nếu làm tốt vấn đề này, điều tra viên sẽ đạt hiệu quả cao

trong việc nâng cao trí tuệ cảm xúc của họ.

- Mỗi điều tra viên phải luyện tập lối sống lạc quan và tự tin. Bởi vì,

điều tra viên có quan điểm sống tích cực, có tinh thần lạc quan, tự tin, vui

vẻ thì khi gặp khó khăn trong hoạt động điều tra họ sẽ dễ dàng vượt qua mà

ít bị áp lực, căng thẳng về tâm lý.

Để xây dựng cho mình có lối sống lạc quan, tự tin, mỗi điều tra viên

phải luôn lạc quan và tự tin vào cuộc sống. Nên dùng lối tiếp cận “ Tôi có

thể” thay cho “Tôi không thể”. Cố gắng tập luyện những năng lực, sở thích

tới mức tối đa. Dành nhiều thời gian cho việc học hỏi những điều hay, lẽ phải

hay học cách làm điều gì đó mà mình đã ấp ủ từ lâu. Luôn nhớ rằng, sự khác

nhau giữa người thành đạt trong công việc và người kém thành đạt là sự bền

chí và hành động. Người thành đạt là người biết làm, luôn cố gắng thử

nghiệm, sẵn sàng chấp nhận thất bại, nỗ lực làm lại từ đầu. Còn người khác

chỉ thích quan sát, suy ngẫm, không thực sự bắt tay vào làm, dễ dàng bỏ cuộc

khi gặp những hoàn cảnh khó khăn. Bên cạnh đó, điều tra viên cần tự bồi

dưỡng, hình thành định hướng giá trị, chuẩn mực của người công an cách

mạng. Từ đó có cách ứng xử phù hợp với xã hội, với nghề nghiệp và với

chính họ, giúp họ tạo ra những mối quan hệ hài hoà với đồng đội, với xã hội,

với nghề nghiệp và với bản thân mà không bị áp lực, mâu thuẫn trong các mối

quan hệ trong hoạt động của họ. Để hình thành định hướng giá trị, chuẩn mực

của người quân nhân, mỗi điều tra viên phải tích cực, tự giác, tự giáo dục

nâng cao kiến thức và hình thành định hướng giá trị, chuẩn mực về chính trị,

tư tưởng, về nghề nghiệp và định hướng giá trị, chuẩn mực về đạo đức, lối

176

sống cho bản thân. Biết đấu tranh với những biểu hiện trái với chuẩn mực của

người công an nhân nhân, của đồng đội và chính bản thân.

Ngoài ra, để hình thành lối sống lạc quan, tự tin mỗi điều tra viên còn

phải tự xây dựng cho mình động cơ học tập, rèn luyện đúng đắn. Bởi vì, khi

đã hình thành động cơ học tập, rèn luyện đúng đắn thì điều tra viên sẽ biết nỗ

lực cố gắng vượt qua khó khăn trong quá trình học tập, rèn luyện với tinh thần

lạc quan, vui vẻ để đạt được mục đích mà mình đã đề ra. Để hình thành động

cơ học tập, rèn luyện đúng đắn cho bản thân, điều tra viên cần phải tự xây

dựng cho mình lý tưởng, tình cảm, trách nhiệm với nghề nghiệp của bản thân,

coi nghề nghiệp điều tra là chí hướng cuộc đời, là vinh dự, trách nhiệm của

bản thân với Tổ quốc, với nhân dân.

- Mỗi điều tra viên tự học cách nâng cao trí tuệ cảm xúc cho bản

thân một cách phù hợp. Điều tra viên tự học cách nâng cao trí tuệ cảm xúc

cho bản thân là yêu cầu rất quan trọng, nó giữ vai trò quyết định trực tiếp

trong việc nâng cao khả năng thích ứng với các hoạt động nghề nghiệp

cũng như hoàn thiện trí tuệ cảm xúc cho họ. Bởi vì, trí tuệ cảm xúc được

hình thành, phát triển trong quá trình hoạt động, giao tiếp, nếu điều tra

viên không biết cách tự nâng cao trí tuệ cảm xúc thì họ sẽ khó ý thức

được những cảm xúc khác nhau đang diễn ra trong bản thân mình, lý giải

được những nguyên nhân của sự xuất hiện của những cảm xúc đó và hiểu

được mức độ ảnh hưởng của những cảm xúc này đến sự thành công trong

cuộc sống của bản thân và những người khác.

Để điều tra viên tự học cách nâng cao trí tuệ cảm xúc cho bản thân một

cách phù hợp thì họ cần phải biết cách vận dụng phương pháp rèn luyện nâng

cao trí tuệ cảm xúc cho bản thân. Nếu điều tra viên được trang bị các nguyên

tắc và phương pháp rèn luyện nâng cao trí tuệ cảm xúc thì sẽ đem lại hiệu quả

trong quá trình công tác của họ. Bên cạnh đó mỗi điều tra viên cần phải biết

vận dụng các phương pháp phù hợp với khả năng cũng như sở thích của bản

thân, bởi vì mỗi điều tra viên có đặc điểm tâm sinh lý khác nhau và mỗi

177

phương pháp cũng có hiệu quả khác nhau đối với mỗi điều tra viên. Do vậy,

mỗi điều tra viên cần phải biết vận dụng linh hoạt phương pháp rèn luyện, nâng

cao trí tuệ cảm xúc sao cho phù hợp với khả năng, sở thích của bản thân. Tuy

nhiên, trong hoạt động điều tra, đòi hỏi mỗi điều tra viên cần phải chấp hành

nghiêm Điều lệnh, Điều lệ Công an nhân dân, các quy định của đơn vị, do đó,

khi sử dụng các phương pháp rèn luyện, phát triển trí tuệ cảm xúc cần phải đảm

bảo tính tích cực, phù hợp với đặc thù công việc.

Quá trình tự giáo dục, tự hoàn thiện trí tuệ cảm xúc không phải công

việc tự phát nhất thời ngẫu hứng mà là cả quá trình phấn đấu thường xuyên

liên tục và có chủ định. Vì vậy, để cho quá trình này đạt kết quả, người cán

bộ lãnh đạo, chỉ huy quản lý phải nắm được kế hoạch tự phấn đấu, tự hoàn

thiện những phẩm chất nhân cách của từng điều tra viên và là người trực

tiếp chỉ đạo mọi khâu trong quá trình tự giáo dục. Đội ngũ lãnh đạo, quản

lý, chỉ huy phải tích cực chủ động tham gia vào việc xây dựng kế hoạch

phấn đấu của từng điều tra viên được cụ thể hoá trong từng thời gian trong

suốt quá trình công tác; thường xuyên quán triệt tốt mọi yêu cầu của tập thể

gắn liền với công tác tổ chức các hoạt động tập thể, mặt khác chỉ rõ những

mặt mạnh, yếu cơ bản của từng điều tra viên làm cơ sở cho họ có kế hoạch

phấn đấu vươn lên hoàn thiện các phẩm chất nhân cách theo mục tiêu yêu

cầu đào tạo một cách thiết thực nhất.

Thường xuyên bám sát theo dõi việc thực hiện kế hoạch của điều tra viên,

giúp họ tự điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp yêu cầu của tập thể trong từng

giai đoạn, từng mặt công tác, động viên kịp thời, tạo điều kiện mọi mặt để

mỗi người thực hiện bằng được các dự định đề ra trong các mặt hoạt động của

tập thể. Thường xuyên tạo mọi điều kiện thuận lợi cho điều tra viên tự học, tự

tu dưỡng, rèn luyện gắn liền với việc giải quyết kịp thời hợp lý sự đấu tranh

động cơ trong thực hiện nhiệm vụ.

178

Kết luận chương 4

Kết quả nghiên cứu thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên Cục An

ninh điều tra cho thấy:

Mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên hiện nay ở mức cao, có tương

quan thuận rõ ràng với hoạt động điều tra, các năng lực trí tuệ cảm xúc thành

phần của điều tra viên phát triển còn chưa đồng đều, các năng lực EI phức

hợp chưa được phát triển, điều tra viên cần được rèn luyện để nâng cao EI,

nhờ đó nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra.

Trong các thành tố của trí tuệ cảm xúc, điều tra viên Cục An ninh điều

tra thực hiện tốt hơn cả ở thành tố thấu hiểu cảm xúc. Điều tra viên còn gặp

khó khăn nhất ở khả năng điều khiển cảm xúc trong những tình huống cụ thể.

Bởi vậy, khi đề xuất các biện pháp nâng cao trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên

Cục An ninh điều tra, cần phải chú ý nâng cao khả năng giải quyết tình huống

cho các điều tra viên.

Có nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của điều

tra viên ở Cục An ninh điều tra. Trong đó, nhóm các yếu tố chủ quan có

mức ảnh hưởng lớn hơn so với nhóm các yếu tố khách quan. Yếu tố tính

chất công việc và đối tượng tiếp xúc có ảnh hưởng mạnh nhất đến trí tuệ

cảm xúc của điều tra viên. Trong nhóm yếu tố chủ quan, yếu tố vốn kinh

nghiệm có ảnh hưởng lớn đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên.

Phân tích 02 chân dung tâm lý điển hình đã làm rõ hơn và là minh

chứng cho kết quả nghiên cứu thực trạng. Dựa trên cơ sở lý luận, kết quả

nghiên cứu thực trạng trí tuệ cảm xúc và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến

trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Ở luận án, đề xuất 4 biện pháp tâm lý - xã

hội cơ bản nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh

điều tra thuộc Bộ Công an. Các biện pháp được đề xuất bảo đảm sự phù hợp,

có tính khoa học và khả thi cao.

179

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu

liên quan đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra, các

công trình nghiên cứu được hệ thống lại trên 4 hướng nghiên cứu chủ yếu,

khái quát kết quả nghiên cứu trên 4 nội dung và đặt ra 5 vấn đề ở luận án cần

tiếp tục giải quyết. Kết quả nghiên cứu của các tác giả đã chỉ ra nhiều nội

dung có ý nghĩa quan trọng và là cơ sở khoa học để kế thừa, bổ sung, phát

triển, phục vụ cho quá trình nghiên cứu đã xác định trong luận án này. Đồng

thời, các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, vấn đề “trí tuệ cảm xúc của điều

tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an” hiện nay là “khoảng

trống” trong Tâm lý học, cần được quan tâm nghiên cứu, có tính cấp thiết, có

giá trị lý luận và thực tiễn cao.

Lí luận về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra

thuộc Bộ Công an đã xác định quan điểm tiếp cận trí tuệ cảm xúc là tổng hợp

các năng lực trong hoạt động thực tiễn. Từ đó, xây dựng, phân tích và làm rõ

các khái niệm công cụ; Đưa ra quan niệm và làm rõ khái niệm trung tâm về trí

tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an; Ở

luận án xác định biểu hiện trí tuệ cảm xúc thông qua bốn năng lực: năng lực

nhận diện cảm xúc; năng lực thấu hiểu cảm xúc bản thân và đồng nghiệp;

năng lực vận dụng cảm xúc và năng lực điều khiển cảm của điều tra viên trong

hoạt động điều tra với ba mức độ biểu hiện: cao, trung bình và thấp và xây dựng

các chỉ báo, tiêu chí, vận dụng trắc nghiệm để đánh giá thực trạng trí tuệ cảm

xúc. Đồng thời, chỉ ra 7 yếu tố cơ bản nhất có quan hệ chặt chẽ với nhau và có

mức độ ảnh hưởng rất mạnh đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An

ninh điều tra thuộc Bộ Công an hiện nay.

Luận án được tổ chức nghiên cứu chặt chẽ, hợp lý và khoa học theo các

giai đoạn từ nghiên cứu lý luận, thiết kế công cụ khảo sát, tiến hành khảo sát thử,

khảo sát chính thức, thu thập và xử lý số liệu, hoàn thiện các nội dung luận án.

180

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, ở luận án đã sử dụng tổng hợp các phương

pháp nghiên cứu của Tâm lý học, các phương pháp có sự bổ trợ lẫn nhau nhằm

tạo ra sự khách quan, chính và bảo đảm độ tin cậy cao trong kết quả nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu thực trạng trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục

An ninh điều tra đã cho thấy: trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở mức cao, mang

đặc thù của nghề nghiệp. Các năng lực nhận biết cảm xúc, năng lực vận dụng

cảm xúc khá phát triển còn năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên còn

hạn chế. Điều tra viên có khả năng thấu hiểu cảm xúc của đồng nghiệp, đối

tượng; từ đó sử dụng cảm xúc để thúc đẩy quá trình tư duy trong quan hệ với

đồng nghiệp, đối tượng cũng như các lực lượng chức năng có liên quan nhưng

năng lực điều khiển cảm xúc của điều tra viên còn hạn chế. Trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên có tương quan thuận với hoạt động điều tra và chịu ảnh hưởng của

một số yếu tố như: tuổi tác, thâm niên, tuổi nghề, trình độ được đào tạo, môi

trường làm việc,... Trong đó yếu tố tính chất công việc và đối tượng tiếp xúc có

ảnh hưởng mạnh nhất đến tuệ cảm xúc của điều tra viên.

Trong luận án tiến hành phân tích 02 chân dung tâm lí điển hình nhằm

làm rõ kết quả nghiên thực trạng. Đồng thời, từ kết quả nghiên cứu lí luận, kết

quả nghiên cứu thực trạng, ở luận án đã đề xuất 04 biện pháp tâm lí - xã hội

nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc

Bộ Công an một cách hiệu quả và bền vững.

2. Kiến nghị

Đối với Bộ Công an, cần xây dựng chuẩn nghề nghiệp của điều tra

viên. Điều này cần được cụ thể hoá ngay từ trong quá trình giảng dạy tại các

trường Công an, trong chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho điều tra

viên, trong đó cần nhấn mạnh tới nội dung trí tuệ cảm xúc là một thành tố trí

tuệ quan trọng đối với sự thành bại trong hoạt động điều tra của điều tra viên.

Sử dụng kết quả nghiên cứu này làm tài liệu tham khảo cho các trường

Học viện, Đại học, Cao đẳng, Trung cấp trong Công an hoặc ngoài ngành

181

Công an có ngành học liên quan đến con người và xã hội, góp phần nâng cao

chất lượng đào tạo - giáo dục học sinh, sinh viên. Việc đưa ra các biện pháp

tâm lý - xã hội của luận án có thể sử dụng để rèn luyện, nâng cao trí tuệ cảm

xúc cho điều tra viên hay sinh viên các trường có liên quan.

Đối với Cục ANĐT, Cần có tiêu chí trong việc đánh giá hiệu quả hoạt

động điều tra của điều tra viên một cách toàn diện, trong đó bao gồm việc đánh

giá năng lực EI sẵn có của họ và kết quả của năng lực EI của họ trong sản phẩm

của hoạt động điều tra.

Triển khai nghiên cứu diện rộng và mang tính sâu hơn về EI trong lĩnh

vực hoạt động ngành nghề của lực lượng mình, từ đó đưa ra các biện pháp tác

động tâm lý - xã hội phù hợp với đặc trưng của đơn vị, góp phần nâng cao

hiệu quả hoạt động ngành nghề.

Đối với điều tra viên, cần có ý thức xây dựng đơn vị của mình thành

cộng đồng giáo dục EI, trong đó mỗi điều tra viên sẽ là một chuyên gia giáo

dục về EI, nhờ đó các điều tra viên cũng như các lực lượng chức năng có liên

quan sẽ có được các kỹ năng xã hội cần thiết, có điều kiện để tiếp thu những

kiến thức học thuật ở trình độ cao hơn nhằm đem lại những hiểu biết cần

thiết, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra.

182

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC

CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1. Nguyen Bich Hang, 2021, “Some elements affect the emotional

intelligence of investigators in department of secuty investigation”,

Hnue Journal of Science, Volume 66 Issue4, tr.138-153.

Nguyễn Bích Hằng, 2021, “Một số yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên”, Tạp chí Khoa học - Đại học Sư phạm Hà Nội, tập 66 số

4, tr.138-153.

2. Nguyễn Bích Hằng, 2021, “Thực trạng kỹ năng điều khiển cảm xúc của điều

tra viên ở cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an”, Tạp chí Thiết bị giáo

dục, số 255 kỳ 2 - tháng 12 - 2021, tr.108-110.

3. Nguyễn Bích Hằng, 2021, “Một số biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên ở Cục An ninh điều tra”, Tạp chí Thiết bị giáo dục, số đặc

biệt tháng 12 - 2021, tr.306-309.

4. Nguyễn Bích Hằng, Phạm Văn Duy, 2022, “Thực trạng trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an”, Tạp chí Tâm

lý học Việt Nam, số 1, tháng 1 năm 2022, tr.145 - 155.

183

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Assagioli Roberto (1997), Sự phát triển siêu cá nhân, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội.

2. Baker L.Therese (1998), Thực hành nghiên cứu xã hội, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội.

3. Nguyễn Trọng Bảo (Chủ biên) (2003), Gia đình, nhà trường, xã hội với

việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ

người tài, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

4. Bộ Công an, Báo cáo tổng kết giai đoạn 2015 - 2020 của Cục An ninh điều

tra về kết quả thực hiện công tác điều tra, ngày 15/06/2020, Hà Nội.

5. Chương trình khoa học xã hội KX-07 (1996), Vấn đề con người trong sự

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Nguyễn Thị Dung (2008), Trí tuệ cảm xúc với công tác chủ nhiệm lớp ở

trường THCS và con đường nâng cao loại trí tuệ này, Luận án tiến sĩ

tâm lý học, Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội.

7. Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa

học và kỹ thuật, Hà Nội.

8. Đại học quốc gia Hà Nội (2007), Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho

quy trình phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài phục vụ

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đề tài độc lập cấp Nhà nước,

Hà Nội.

9. Vũ Dũng (Chủ biên) (2000), Từ điển tâm lý học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

10. Robet S.Feldman (2003), Những điều trọng yếu trong tâm lý học, Nxb

Thống kê, Hà Nội.

11. Isabelle FillioZzat (2002), Thế giới cảm xúc của trẻ thơ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

12. H.Gardner (1998), Cơ cấu trí khôn, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

13. Daniel Goleman (2002), Trí tuệ cảm xúc: Làm thế nào để những cảm xúc của

mình thành trí tuệ? (Lê Diên dịch), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

184

14. Daniel Goleman (2007), Trí tuệ cảm xúc, ứng dụng trong công việc, (Lê

Diên dịch từ tiếng Pháp), Nxb Tri thức, Hà Nội.

15. Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (1988), Tâm lý học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

16. Phạm Minh Hạc (1989), Hành vi và hoạt động, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

17. Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (1995), Tâm lý học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

18. Phạm Minh Hạc (1997), Tâm lý học Vưgôtxki, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

19. Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (1996), Tuyển tập Tâm lý học J.Piaget, Nxb Giáo

dục, Hà Nội.

20. Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào

công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

21. Nguyễn Kế Hào (Chủ biên), Nguyễn Quang Uẩn (2000), Giáo trình tâm

lý học lứa tuổi và sư phạm, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

22. Nguyễn Thị Diễm Hằng (2016), “Một số nguyên nhân và biện pháp góp

phần phát triển năng lực trí tuệ cảm xúc của giáo viên mầm non”, Tạp

chí Khoa học công nghệ Quảng Bình, số 1, tr.16-26.

23. Trịnh Hữu Hằng, Đỗ Công Huỳnh (2001), Sinh lý học người và động vật

học sư phạm, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.

24. Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh (1998), Giao tiếp sư phạm, Nxb Giáo dục,

Hà Nội.

25. Ngô Công Hoàn (2002), "Cảm xúc và giáo dục cảm xúc ở trẻ em lửa tuổi

lớp ở mầm non", Tạp chí Giáo dục, số 46, tr.56-59.

26. Ngô Công Hoàn (Chủ biên) (2004), Những trắc nghiệm tâm lý, Nxb Đại

học Sư phạm, Hà Nội.

27. Học viện chính trị quân sự (1984), Tâm lý học - những cơ sở lý luận và

phương pháp luận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

28. Lê Văn Hồng (Chủ biên), Lê Ngọc Lan (1998), Tâm lý học lứa tuổi và

Tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

29. Lê Văn Hồng (1995), Tâm lý học sư phạm, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

30. Nguyễn Thị Hồng (2018), Trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non,

Luận án tiến sĩ Tâm lý học, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.

185

31. Hồ Đức Hùng (Chủ biên) (1997), Ứng dụng SPSS for Windows, Nxb

Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.

32. Bùi Văn Huê (1994), Tâm lý học tiểu học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

33. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2018), “Ứng dụng mô hình trí tuệ cảm xúc

của J.Mayer và P. Salovey để xác định các yếu tố trí tuệ cảm xúc trong

hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non”, Tạp chí Giáo dục, số

440, tr.21-25.

34. Đặng Thành Hưng (2002), Phương pháp luận nghiên của trí tuệ người Việt

Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đề tài khoa học

công nghệ cấp Nhà nước KX-05-06, Hà Nội.

35. Đặng Thành Hưng (2002), Tương tác hoạt động thầy - trò trên lớp học,

Nxb Giáo dục, Hà Nội.

36. Phan Thị Mai Hương (2015), “Một số đặc điểm tâm trắc của thang đo trí tuệ

cảm xúc dành cho thanh thiếu niên”, Tạp chí Tâm lý học, số 10 tr.199.

37. Carroll.E.Izard (1992), Những cảm xúc của con người, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

38. Nguyễn Công Khanh (2005), Cơ sở phương pháp nghiên cứu trí tuệ cảm

xúc, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

39. Nguyễn Công Khanh (2005), Phương pháp luận đo lường trí tuệ, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

40. Nguyễn Công Khanh (2005), Ứng dụng phẩn mềm SPSS để xử lý và phân

tích số liệu trong khoa học xã hội, Trung tâm bảo đảm chất lượng đào

tạo Nghiên cứu phát triển giáo dục, Đại học quốc gia, Hà Nội.

41. Đặng Phương Kiệt (1990), Cơ sở sinh thần kinh của hoạt động tâm lý, Nxb

Đại học và GDCN - Trung tâm Nghiên cứu sinh tâm lý trẻ em, Hà Nội.

42. Trần Kiều (2005), Báo cáo tổng hợp kết quả Nghiên cứu tài nguyên:

Nghiên cứu có phát triển trí tuệ (chỉ số IQ, CQ, EQ) của học sinh, sinh

viên và lao động tri thức đáp ứng yêu cầu công việc hoá, hiện đại hoá,

Mã số KX-01-06, Hà Nội.

186

43. P.M.Iacôpxon (1997), Đời sống tình cảm của học sinh, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

44. NXLaytex (1978), Năng lực trí tuệ và lứa tuổi, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

45. A.N.Leonchiev (1980), Sự phát triển tâm lý trẻ em, Trường Mẫu giáo

trung ương số 3, TP Hồ Chí Minh.

46. A.N.Leonchiev (1989), Hoạt động - Ý thức - Nhân cách, Nxb Giáo dục,

Hà Nội.

47. Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang (Chủ biên) (1994), Các giá trị truyền thống

về con người Việt Nam hiện nay, Chương trình KHCN cấp Nhà nước

KX- 07, đề tài KX-07-02, Hà Nội.

48. B.Ph Lomov (2000), Những vấn đề tự luận và phương pháp luận Tự luận

Tâm lý học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

49. Quốc hội (2005), Luật Giáo dục, ngày 14/06/2005, Hà Nội.

50. Trần Thị Thu Mai (2013), “Trí tuệ cảm xúc của sinh viên Đại học Sư

Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học Đại học Sư Phạm

Thành Phố Hồ Chí Minh, số 48, tr.76-86.

51. Jonh Mayer, Peter Salovey, David R.Caruso (2002), Trắc nghiệm trí tuệ cảm

xúc MSCEIT, Nguyễn Công Khanh dịch, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội .

52. Phan Trọng Nam (2012), Trí tuệ cảm xúc của sinh viên Đại học sư phạm,

Luận án tiến sĩ tâm lý học, Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội.

53. Phạn Trọng Ngọ (Chủ biên) (2003), Các lý thuyết phát triển tâm lý người,

Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

54. Phan Trọng Ngọ (Chủ biên) (2001), Tâm lý học trí tuệ, Nxb Đại học Sư

phạm, Hà Nội.

55. Đào Thị Oanh (2005), Các học thuyết về nhân cách, Nxb Văn hoá thông tin,

Hà Nội.

56. Ôxipov G.V (Chủ biên) (1988), Những cơ sở nghiên cứu xã hội học, Nxb

Tiến bộ, Máxcova.

57. Lê Đức Phúc (2005), Trí tuệ và phương pháp luận Nghiên cứu trí tuệ,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

187

58. A.V. Petrovski (Chủ biên) (1982), Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý giáo

dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

59. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Quy chế đánh giá, xếp loại chuyên môn -

nghiệp vụ giáo viên tiểu học, ngày 13/11/2000, Hà Nội.

60. Bộ Nội vụ (2006), Quy chế định giá, xếp loại giáo viên mầm non và giáo

viên phổ thông công lập, ngày 21/03/2006, Hà Nội .

61. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo

viên tiểu học, ngày 04/05/2007, Hà Nội.

62. Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội (2001), Ban hành các danh hiệu thi

đua, tiêu chuẩn, hình thức khen thưởng và quyền hạn duyệt trong giáo

dục và đào tạo Thành phố Hà Nội, ngày 16/04/2001, Hà Nội.

63. Sở Nội vụ Thành phố Hà Nội (2006), Hướng dẫn đánh giá cán bộ công

chức năm 2006, ngày 24/11/2006, Hà Nội.

64. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Ban hành quy định đánh giá và xếp

loại học sinh tiểu học, ngày 30/09/2005, Hà Nội.

65. Hoàng Minh Thảo, Hà Thế Tuyên (2003), Quản lý giáo dục tiểu học theo

hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

66. Hà Nhật Thăng (1999), Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp phổ thông, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

67. Hà Nhật Thăng, Nguyễn Đức Quang, Nguyễn Thị Kỳ (2004), Công tác

giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

68. Mai Quang Tâm (Chủ biên) (2006), Nghiệp vụ quản lý trường tiểu học,

Nxb Hà Nội, Hà Nội.

69. Nguyễn Thị Thanh Tâm (2012), Trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp

cơ sở trong giao tiếp công vụ, Luận án tiến sĩ Tâm lý học, Đại học

Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

70. Dương Thiệu Tống (2005), Thống kê ứng dụng trong nghiên cứu khoa

học giáo dục, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội.

188

71. Dương Thiệu Tống (2005), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục

tâm lý, Nxb Khoa học xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh.

72. Trần Hà Thu (2019), Trí tuệ cảm xúc của học sinh trung học cơ sở, Luận án

tiến sĩ tâm lý học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội.

73. Trần Trọng Thuỷ (1992), Khoa học chuẩn đoán tâm lý, Nxb Giáo dục,

Hà Nội.

74. Trần Trọng Thuỷ (Chủ biên) (1998), Tâm lý học, Giáo trình đào tạo giáo

viên tiểu học, Hệ CĐSP và SP 12 + 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

75. Trần Trọng Thuỷ (2002), Những vấn đề để luận về trí tuệ và chỉ số IQ, Đề

cương báo cáo khoa học, Đề tài KX-05-06, Hà Nội.

76. Nguyễn Huy Tú (1975), Cảm xúc và tình cảm, Đề cương bài giảng Tâm lý

đại cương, Hội đồng bộ môn Tâm lý học - Giáo dục học, Tiểu ban Tâm

lý học, Hà Nội.

77. Nguyễn Huy Tú (1997), "Xây dựng thử nghiệm tâm lý học như thế nào?",

Tạp chí thông tin Khoa học giáo dục, số 61, tr.212-215.

78. Nguyễn Huy Tú (1999), "Kỹ thuật thẩm định chất lượng một test tâm lý học

như thế nào?", Tạp chí thông tin Khoa học giáo dục, số 71, tr.103-106.

79. Nguyễn Huy Tú (2000), "Trí tuệ cảm xúc - bản chất và phương pháp chấn

đoán", Tạp chí Tâm lý học, số 6, tr.63-65.

80. Nguyễn Huy Tú (2001), "Tạo dựng thấu cảm dương tính - một chìa khoá

hướng hành vi trẻ em theo mong muốn của gia đình và xã hội", Tạp chí

Tâm lý học, số 4, tr.61-65.

81. Nguyễn Huy Tú (2001), “Chỉ số trí tuệ cảm xúc cao - một tiền đề thành

công của nhà doanh nghiệp, nhà quản lý”, Tạp chí Tâm lý học, số 1,

tr.82-85.

82. Nguyễn Huy Tú (2002), Xu thế và phương pháp đánh giá tiềm năng trí

tuệ con người, Báo cáo khoa học, Hội thảo của chương trình KHCN cấp

Nhà nước KX-05, Hà Nội.

189

83. Nguyễn Huy Tú (2002), "Tâm lý học thế kỷ XX, tiếp cận bản chất, cấu

trúc của trí tuệ", Tạp chí Tâm lý học, số 6, tr.71-75.

84. Nguyễn Huy Tú (2005), Tâm lý học sư phạm, Tài liệu dành cho học viên

cao học Tâm lý học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội .

85. Trung tâm Tâm lý học - Sinh học lứa tuổi, Viện Khoa học giáo dục

(2001), Một số điểm đặc biệt về sinh lý và tâm của học sinh tiểu học

ngày nay, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

86. Đặng Thị Tuyết (2020), “Thực trạng và một số biện pháp bồi dưỡng trí tuệ

cảm xúc cho học sinh trường trung cấp sư phạm mầm non Đăk Lăk”,

Tạp chí giáo dục, số 470, tr.11-15.

87. Nguyễn Anh Tuyết (Chủ biên) (2001), Phương pháp nghiên cứu trẻ em,

Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

88. Nguyễn Quang Uẩn (1996), Sự phát triển tâm lý của các thao tác, trong

Tuyển tập Tâm lý học J.Piaget, Nxb giáo dục.

89. Nguyễn Quang Uẩn (1996), “Tâm lý học duy và bản chất tâm lý học của các

thao tác logic”, Tuyển tập Tâm lý học J.Piaget, Nxb giáo dục, Hà Nội.

90. Nguyễn Quang Uẩn (Chủ biên) (2004), Tâm lý học đại cương, Nxb Đại

học Sư phạm, Hà Nội.

91. Nguyễn Thị Thanh Vân (2018), Sự kiểm soát cảm xúc của sinh viên các

trường Đại học công an nhân dân phía Nam, Luận án tiến sĩ Tâm lý

học, Học viện Khoa học xã hội, Viện Khoa học Việt Nam, Hà Nội.

92. Dương Thị Hoàng Yến (2010), Trí tuệ cảm xúc của giáo viên tiểu học,

Luận án tiến sĩ tâm lý học, Viện Tâm lý học, Hà Nội.

Tiếng Anh

93. Christabel Odame, Mrinalini Pandey and Pramod Pathak (2021), “The

effect of emotional intelligence on team cohesion”, International

Journal of Business Excellence, Vol. 25 No. 3, pp. 300-319.

94. Ciarrochi Joseph, Forgas P.Joseph, Mayer D.John (EDS) (2006),

Emotional Intelligence in Everyday Life, 2nd Edition, Psychology

Press, New York.

190

95. Peter Salovey & David J.Sluyter (1997), Emotional Development and

Emotional Intelligence, BasicBooks, NewYork.

96. Shamira Malekar, R.P. Mohanty (2009), “Factors affecting emotional

intelligence: an empirical study for some school students in India”,

International Journal of Business Excellence, Vol. 25, No. 3, pp. 8-28.

97. L. Melita Prati, Joy H. Karriker (2010), “Emotional intelligence skills: the

building blocks of defence againstmotional labour burnout”, International

Journal of Work Organisation and Emotion, Vol. 3 No. 4, pp. 317-335.

98. Initical Policies and Perspectives of the National Broad for Professional

Teaching Standards (1991), 3rd Edition, USA.

99. Kagan (2007), Smart Care, Kagan Publishing, Canada.

100. Lin V. Wesley (Editor) (2006), Intelligence New Research, Nova

Science Publishers, Inc, New York.

101. Richard D.Kellough & Patricia L.Robberts (1998), A Resource Guide for

Elementary School Teaching - Planning for Competence, 4rd, Prince-Hall.

102. Schulze Ralf, Roberts D.Richard (EDS) (2005), Emotional Intelligence,

An International Handbook, Hogrefe & Huber Publishers, Germany.

103. Standards for Beginning Teacher Licensing and Development (1993)

Interstate New Teacher Assessment and Support Consortium, USA.

104. Standards for Position Elementarry Teacher in Washington County

(2003), USA.

105. Standards for the Education, Competence, and Professional Conduct of

Educator in British Columbia (2007), Canada.

106. Thomdike R.L. (1969), Measurement and Evaluation in Psychology and

Education, New York. John Willey & Son, Inc.

107. Thustone L.T. and Thustone T.G. (1941), Factorial Studies of

Intelligence, Psychomeetric Monogr.

108. Waldmann M.R. (19960, Kognitionspsychologische Theorien von

Begabung und Expersite, Reprint.

191

109. Wald L.C, Bergman M.A., & Hebert K.R. (2012), “WAIS-IV subtest

covariance structure: Conceptual and statistical consideration”,

Psychological Assessment, 24, 328-340. Doi: 10.1037/a0025614 104.

110. Warr P.B. & Bunce D.J. (1995), “Trainee characteristics and the outcomes

of open learning”, Personnel Psychology, Vol. 48, pp.347-375

111. Wechsler D.(2008a), Wechsler Adult Intelligence Scale-Fourth Edition,

San Antonio, TX: Person.

112. Wigfield, A., & Wagner, A. (2005), Competence, motivation, and

identity development during adolescence. In A. J. Elliot & C. S. Dweck

(Eds.), Handbook of competence and motivation. New York, NY:

Guilford Press, pp.222-239.

113. Julia Wood, Ann Schweitzer (2016), Everyday Encounters-An

Introduction to Interpersonal Communication, Third Canadian Edition,

Thomson Nelson, Canada.

114. Xinyin Chen, Bo-hu-li (2000), Depressed mood in Chinese children:

Development significance for social and school adjustment,

International journal of behavioral development, Vol.24, No.4.

115. Yau J., Smetana J.G. (1996), “Adolescent-parent conflict among Chinese

adolescents in Hong Kong”, Development Vol. 67, pp. 1262-1275.

116. Youniss J., Smollar J. (1985), Adolescent relations with mothers, fathers

and friends. Chicago: University of Chicago Presss.

Trang web

117. Iberkis F. (2016), “Emotional Intelligence: A historical overview” from

www. researchgate.net.

118. Pérez J.C., Petrides K.V., Furnham A. (2005), “Measuring Trait

Emotional Intelligence” from: www.psychometriclab.com.

192

PHỤ LỤC

Phụ lục 1

1a. MSCEIT

TRẮC NGHIỆM TRÍ TUỆ CẢM XÚC

(Mayer Salovey Caruso Emotional Intelligence Test - MSCEIT)

Tác giả: Jonh D. Mayer, Peter Salovey & David R. Caruso

Version 2.0, 2000

Người dịch: TS. Nguyễn Công Khanh

Nhóm chuyên gia thẩm định, Việt hóa:

1. PGS. Trần Trọng Thủy

2. PGS.TS. Lê Đức Phúc

3. PGS.TS Nguyễn Huy Tú

4. TS. Nguyễn Công Khanh

Người thực hiện khảo sát: Th.s Nguyễn Bích Hằng

Adapted, 2002

PHẦN A

Quan sát kỹ 4 khuôn mặt và xét đoán từng khuôn mặt qua 5 loại cảm xúc đã cho

theo thang bậc tăng dần từ 1 đến 5. Mỗi mục ở từng câu chỉ chọn một mức độ.

Câu 1 (Xem ảnh 1): Khuôn mặt này biểu lộ những cảm xúc dưới đây như thế nào?

(Mỗi loại cảm xúc: a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với khuôn mặt)

2

4

5

1

a. Không hạnh phúc

Rất hạnh phúc

b. Không lo sợ

Rất lo sợ

3

2

4

5

1

3

2

4

5

1

c. Không ngạc nhiên

Rất ngạc nhiên

3

2

4

5

1

d. Không ghê tởm

Rất ghê tởm Rất

phấn chấn

193 3

e . Không phấn chấn

3

4

5

1

2

Câu 2 (Xem ảnh 2): Khuôn mặt này biểu lộ những cảm xúc dưới đây như thế nào?

(Mỗi loại cảm xúc: a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với khuôn mặt

Rất hạnh phúc

a. Không hạnh phúc

3

2

4

5

1

b. Không buồn chán

Rất buồn chán

3

2

4

5

1

c. Không lo sợ

Rất lo sợ

3

2

4

5

1

d. Không ngạc nhiên

Rất ngạc nhiên

3

2

4

5

1

3

2

4

1

5

e. Không phấn chấn

Rất phấn chấn

194

Câu 3 (Xem ảnh 3): Khuôn mặt này biểu lộ những cảm xúc dưới đây như thế nào? (Mỗi

loại cảm xúc: a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với khuôn mặt

Rất hạnh phúc

a. Không hạnh phúc

2

1

4

5

3

b. Không buồn chán

Rất buồn chán

2

1

4

5

3

c. Không lo sợ

Rất lo sợ

2

1

4

5

3

d. Không ngạc nhiên

Rất ngạc nhiên

2

1

4

5

3

2

1

4

5

3

e. Không phấn chấn

Rất phấn chấn

Câu 4 (Xem ảnh 4): Khuôn mặt này biểu lộ những cảm xúc dưới đây như thế nào? (Mỗi

loại cảm xúc: a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với khuôn mặt

a. Không hạnh phúc

Rất hạnh phúc

2

1

4

5

3

b. Không buồn chán

Rất buồn chán

2

1

4

5

3

c. Không lo sợ

Rất lo sợ

2

1

4

5

3

d. Không tức giận

2

1

4

5

3

e. Không ghê tởm

Rất tức giận Rất ghê tởm

2

1

4

5

3

195

PHẦN B

Đọc kỹ các tình huống dưới đây và xem xét 3 loại cảm xú đã cho có ích ở mức độ

nào đối với từng tình huống theo thang bậc từ 1 (không có ích) đến 5 (rất có ích).

Mỗi mục a, b, c ở từng câu chỉ chọn một mức độ.

Câu 1: Khi tạo ra các kiểu trang trí mới, gây cảm giáv hứng khởi cho một buổi liên

hoan sinh nhật thì những cảm xúc dưới đây có thể giúp ích như thế nào?

Rất có ích

Không có ích

1

2

3

4

5

a. Bực mình

1

2

3

4

5

b. Buồn chán

1

2

3

4

5

c. Vui sướng

Câu 2: Khi tổ chức một cuộc diễu binh hấp dẫn thì những cảm xúc dưới đây có thể giúp ích như thế nào?

Không có ích

Rất có ích

1

2

3

4

5

a. Tức giận

1

2

3

4

5

b. Phấn chấn

c. Thất vọng

1

2

3

4

5

Câu 3: Khi phải nấu món ăn theo công thức phức tạp, thì những cảm xúc dưới đây có thể

giúp ích như thế nào?

Không có ích

Rất có ích

1

2

3

4

5

a. Tức giận

b. Phấn chấn

1

2

3

4

5

c. Thất vọng

1

2

3

4

5

196

Câu 4: Những cảm xúc dưới đây có thể giúp ích như thế nào để bạn hiểu được cái gì

xảy ra cuộc ẩu đã giữa 3 đứa trẻ, khi mỗi đứa trẻ lại tường thuật khác nhau về cuộc ẩu

đả đó?. Để hiểu cái gì đã xảy ra đòi hỏi bạn phải chú ý đến các tình tiết của câu

chuyện và phải cân nhắc nhiều sự kiện.

Không có ích

Rất có ích

1

2

3

4

5

a. Hạnh phúc

b. Ngạc nhiên

1

2

3

4

5

c. Buồn rầu

1

2

3

4

5

Câu 5: Những cảm xúc dưới đây có thể giúp ích như thế nào cho một bác sỹ khi lựa

chọn một kế hoạch điều trị cho bệnh nhân mắc chứng ung thư. Bác sỹ này phải áp

dụng một số các nguyên tắc mâu thuẫn nhau trong điều trị bệnh ung thư.

Rất có ích

Không có ích

1

2

3

4

5

a. Hạnh phúc

1

2

3

4

5

b. Không vui cũng không buồn

1

2

3

4

5

c. Tức giận và chốn g đối

197

PHẦN C

Bạn hãy đọc kỹ từng tình huống dưới đây để hiểu các loại cảm xúc xuất hiện và phát hiện như thế nào. Sau đó bạn chọn 1 phương án trả lời tốt nhất cho mỗi tình huống.

Tình huống 1: Hà ngày càng thấy xấu hổ, rồi cảm thấy mình là người vô tích

sự. Sau đó Hà cảm thấy………

a. Ngập chìm trong các cảm xúc đó. b. Trầm cảm (u uất). c. Xấu hổ. d. Tủi hổ. e. Lo lắng.

Tình huống 2: Kiên cảm thấy hài lòng khi nghĩ về cuộc sống của mình. Càng nghĩ về những điều tốt mình đã làm và những niềm vui mình mang lại cho người khác, Kiên càng cảm thấy……… a. Ngạc nhiên. b. Trầm cảm. c. Chấp nhận. d. Hạnh phúc. e. Sửng sốt.

Tình huống 3: Trong cuộc sống của mình, Nga chưa bao giờ ngạc nhiên hơn lúc này. Khi tỉnh lại từ cú sốc do sự mất mát, thì Nga nhận thấy mình có thể tránh được sự bất lợi từ tình huống này, nếu cô lập kế hoạch cẩn thận. Cô trở nên………

a. Sửng sốt. b. Lẫn lộn. c. Phủ nhận tình huống này. d. Mong đợi. e. Suy tư.

Tình huống 4: Long buồn vì được người nhà báo tin xấu và anh muốn bày tỏ sự thương tiếc của mình. Sau đó, Long biết rằng mình không được thông tin đúng và vấn đề trở nên xấu hơn lúc đầu anh nghĩ. Long cảm thấy………

a. Tức giận và ngạc nhiên.

b. Buồn phiền và lường trước.

c. Sốc và hối hận.

d. Sợ và lo hãi.

e. Tức giận và buồn chán.

198

Tình huống 5: Bảo cảm thấy hạnh phúc với công việc và những chuyện khác

ở nhà cũng tốt đẹp. Bảo nghĩ mình và đồng nghiệp nói chung được trả lương thỏa

đáng, được đối xử tốt. Hôm nay, tất cả mọi người trong cơ quan đều được tăng lương

chút đỉnh như là một phần của chính sách điều chỉnh về lương. Bảo cảm thấy………

a. Ngạc nhiên và bị sốc.

b. Thanh thản và im lặng.

c. Chấp nhận và phấn khởi.

d. Bị làm nhục và mặc cảm tội lỗi.

e. Tự hào và nổi trội.

Tình huống 6: Hà yêu Kiên, người cô cảm thấy thuộc về mình. Cô bắt đầu

nhìn anh như là mẫu người lý tưởng cho cô và cho nhiều người khác. Cô cảm

thấy………

a. Tôn trọng anh.

b. Thán phục anh

c. Ghen tỵ với anh.

d. Ngưỡng mộ và coi anh như là thần tượng.

e. Nể sợ anh.

Tình huống 7: Lan cảm thấy bực mình khi một đồng nghiệp đã nhận được

tiền cho một dự án và bây giờ người đó lại nhận được tiền lần nữa. Cô cảm

thấy………

a. Tức giận.

b. Bực mình.

c. Hẫng hụt và thất vọng.

d. Hoảng hốt.

e. Trầm cảm.

Tình huống 8: Sau khi xe bị lấy trộm, Tiến lắp thêm một ổ khóa nữa vào chiếc

xe mới mua. Xe mới đó lại bị lấy trộm. Tiến bị sốc và ngạc nhiên, sau đó cảm thấy…

a. Sửng sốt và kinh ngạc.

b. Bất lực, thất vọng và tức giận.

c. Tức giận và ghê tởm.

d. Ghen tỵ và đố kỵ.

e. Trầm cảm và khinh bỉ.

199

Tình huống 9: Khi thấy một số sinh viên quay cóp trong kỳ thi, Sơn

nghĩ điều này vi phạm qui chế. Anh báo với giáo viên nói chẳng thể làm gì

được. Sơn thấy cần báo cáo điều này lên giáo vụ trường, Vì anh cảm

thấy…với những điều gì đã xảy ra.

a. Khó chịu.

b. Bực tức.

c. Bất bình (đến mức không thể chịu đựng được). d. Trầm cảm. e. Không vui.

Tình huống 10: Vân bị một số người bạn thân thiết nhất của mình xúc phạm,

cô cảm thấy tức giận. Vân đã nói với người bạn đó mình bị tổn thương như thế nào.

Nhưng người kia vẫn tiếp tục xúc phạm. Vân cảm thấy………

a. Tức giận. b. Sợ hãi. c. Rất bực mình. d. Lo lắng e. Giận điên lên.

Tình huống 11: Thuý theo dõi chương trình Dự báo thời tiết trên TV để biết

sự di chuyển của một cơn bão đang tiến vào gần bờ, gần nơi bố mẹ nình đang sống.

Khi biết cơn bão hướng tới nhà bố mẹ mình cô lo lắng và cảm thấy bất lực. Tuy

nhiên vào phút cuối cùng, cơn bão đã đổi hướng và không gây thiệt hại gì cho vùng

đó. Cô cảm thấy………

a. Nhẹ người, rối biết ơn. b. Ngạc nhiên rồi bị sốc. c. Căng thẳng, rồi nhẹ người. d. Lường trước và lo lắng. e. Lường trước và bình tĩnh.

Tình huống 12: Một phụ nữ cảm thấy được an toàn, được chấp nhận rồi sau đó cảm thấy trầm cảm. Điều gì trong những điều sau đây có nhiều khả năng xảy ra ở

khoảng giữa hai trạng thái cảm xuc đó?

a. Chị nhận được lời khen dự định dành cho ai đó. b. Chị phát hiện ra chồng đã lừa dối mình.

c. Một người bạn bị ốm.

d. Gói bưu phẩm gửi cho bạn bị phát nhầm cho người khác.

e. Chị thất vọng vì công việc tồi tệ mà chị đã làm ở một dự án.

200

Tình huống 13: Một đứa trẻ mong chờ được hạnh phúc vào ngày sinh nhật

của nó, nhưng sau đó nó cảm thấy buồn. Điều gì trong những điều sau đây có nhiều

khả năng xảy ra ở khoảng giữa hai trạng thái cảm xúc trên của đứa trẻ này.

a. Nó bị bạn chọc tức và nó đã đánh lại.

b. Hai người bạn nó mời và mong đợi đã không đến.

c. Nó ăn quá nhiều bánh.

d. Mẹ nó làm ngượng trước mặt những trẻ khác.

e. Bố nó buộc tội nó về cái gì đó mà nó không làm.

Tình huống 14: Một phụ nữ tuổi trung niên cảm thấy hạnh phúc và sau đó

cảm thấy không tán thành. Điều gì trong những điều sau đây có nhiều khả năng xảy

ra ở khoảng giữa hai trạng thái cảm xúc đó?.

a. Con trai cô bị thương nhẹ ở nơi làm việc.

b. Cô nhận ra mình đã xúc phạm người bạn thân.

c. Con dâu cô về nhà muộn khiến cả nhà chờ cơm.

d. Chồng cô phê phán cô.

e. Cô đánh mất một cuốn sách quan trọng.

Tình huống 15: Một người đàn ông cảm thấy thảnh thơi và sau đó cảm thấy

thán phục. Điều gì trong những điều sau đây có nhiều khả năng xảy ra ở khoảng giữa

hai trạng thái cảm xúc đó?.

a. Trong lúc thảnh thơi, ông ta đã giải quyết xong một vấn đề quan trọng liên

quan đến công việc.

b. Ông ta nghe một câu chuyện về một người anh hùng trong thể thao, gười

lập kỷ lục mới.

c. Bạn của ông ta vừa gọi điện báo tin anh ra đã mua một chiếc xe thể thao với

giá khuyến mại.

d. Ông ta nhận được gói quà mẹ gửi qua bưu điện. e. Bác sỹ gọi điện báo cuộc kiểm tra sức khoẻ cho kết quả tốt, ông ta hoàn

toàn khoẻ mạnh.

Tình huống 16: Một phụ nữ cảm thấy có thiện cảm, sau đó thấy yêu. Điều gì trong

những điều sau đây có nhiều khả năng xảy ra ở khoảng giữa hai trạng thái cảm xúc này?.

a. Cô ta ủng hộ từ thiện và nghĩ về những người mình có thể giúp đỡ.

b. Cô mặc một chiếc váy mà nó đặc biệt làm tôn vẻ đẹp của cô.

c. Cô đọc một cuốn tạo chí dành cho người hâm mộ viết về một ngôi sao mà

cảm thấy rất quyến rũ.

d. Mẹ cô gọi điện nói bà đã gửi cho cô món quà sinh nhật, nó có thể làm cô

ngạc nhiên.

e. Cô đến một cuộc hẹn hò và nhận ra mình có nhiều điểm chung với một

người đàn ông hấp dẫn.

201

Tình huống 17: Một giám đốc điều hành công ty cảm thấy không vui và sau đó

cảm thấy rất bực tức. Điều gì đã xảy ra ở khoảng giữa hai trạng thái cảm xúc của người

giám đốc này?.

a. Cấp dưới không đạt được các mục tiêu kinh doanh cho giai đoạn đó.

b. Một cán bộ trong công ty, người ta cho là không có năng lực, được tăng

lương cao hơn lương ông ta.

c. Ông ta đọc mộ bản tin về những người dân ở vùng khác trên thế giới sống trong

nghèo khổ và các hoạt động cứu trợ đang gặp trở ngại.

d. Vợ ông ta giúp các con làm bài tập về nhà.

e. Không ai thích giúp ông ta.

Tình huống 18: Một phụ nữ tức giận, sau đó mặc cảm mình có lỗi. Điều gì đã xảy

ra ở khoảng giữa hai trạng thái cảm xúc của người phụ nữ này?.

a. Chị đánh mất số điện thoại của người bạn thân.

b. Chị không hoàn thành công việc tốt như mong đợi vì không đủ thời gian.

c. Chị giận dữ một người bạn, sau đó chị nhận ra người bạn này không làm

gì gây thương tổn cho mình.

d. Chị mất một người bạn thân.

e. Chị tức giận vì ai đó đàm tiếu về mình, và sau đó thấy người khác cũng bị

người đó bôi nhọ theo cùng một cách.

Tình huống 19: Một người đàn ông yêu quý người bạn của mình, nhưng

sau đó lại tỏ ý coi khinh người bạn này. Điều gì đã xảy ra ở khoảng giữa hai trạng

thái cảm xúc của người đàn ông này?.

a. Người bạn mượn của ông ta một cuốn sách đắt tiền và làm mất.

b. Người bạn đã phản bội vợ.

c. Người bạn đã được tăng lương, mà lẽ ra không đáng được như vậy.

d. Người bạn này cho biết anh ta đa chuyển đi chỗ khác.

e. Ông ta cảm thấy mình đã xúc phạm bạn nhưng đó cũng một phần là do

lỗi của người bạn.

202

Tình huống 20: Một phụ nữ yêu một người, sau đó cảm tháy yên tâm. Điều gì

đã xảy ra ở khoảng giữa hai trạng thái cảm xúc của người phụ nữ này?.

a. Chị quen biết một người khác và người này yêu chị.

b. Chị quyết định không bày tỏ tình cảm của mình.

c. Tình yêu của chị đã ra đi.

d. Chị nói với một người khác rằng chị yêu anh ta.

e. Tự tình yêu của chị mang lại sự bảo đảm đó.

203

PHẦN D Bạn hãy đọc kỹ các tình huống dưới đây. Mỗi hành động ở từng tình huống chỉ

chọn 1 trong 5 mức độ từ rất kém hiệu quả đến rất hiệu quả.

Tình huống 1: Hà thức dậy cảm thấy sảng khoái, cô đã ngủ ngon, cảm thấy được

nghỉ ngơi tốt và không cần có sự chăm sóc hoặc quan tâm đặc biệt nào. Mỗi hành

động dưới đây tốt đến mức nào trong việc giúp Hà duy trì được tâm trạng này?.

Rất hiệu quả

3

4

1

2

5

Hành động 1: Cô vùng dậy và thích thú vớ những gì xảy ra với cô trong ngày hôm đó. Rất kém hiệu quả Hành động 2: Cô thích tình cảm này nên cô ngẫm nghĩ, thưởng thức tất cả những gì

tốt đẹp đang diễn ra với mình.

Rất hiệu quả

4

3

5

1

2

Rất kém hiệu quả Hành động 3: Cô nghĩ, cách tốt nhất là không để ý đến trạng thái tình cảm đó, vì nó

không thể kéo dài mãi.

4

3

2

5

1

Rất kém hiệu quả Rất hiệu quả Hành động 4: Nhân lúc phấn chấn này cô gọi điện cho mẹ mình, người đang bị

trầm nhược và cố động viên bà.

Rất hiệu quả

1

2

3

4

5

Rất kém hiệu quả

Tình huống 2: Toàn làm việc chăm chỉ, nếu không nói là chăm chỉ hơn các đồng nghiệp

của anh. Thực tế những ý tưởng của anh thường là tốt ơn cho việc đạt những kết quả tích

cực cho công ty. Trong khi một đồng nghiệp làm việc của anh rất xoàng nhưng lại quen

biết lãnh đạo nên được ưu ái. Do vậy khi công ty thông báo rằng phần thưởng thi đua

hằng năm sẽ được trao cho người đồng nghiệp này, Toàn rất tức giận. Mỗi hành động

dưới đây có hiệu quả như thế nào trong viêc giúp Toàn cảm thấy dễ chịu hơn?.

Rất hiệu quả

4

3

1

5

2

Hành động 1: Toàn ngồi lại và suy nghĩ về tất cả những điều tốt đẹp trong cuộc sống và trong công việc của anh. Rất kém hiệu quả Hành động 2: Toàn cố tìm những ưu điểm khác của người đồng nghiệp này.

1

2

3

4

5

Rất kém hiệu quả

Rất hiệu quả

204

Hành động 3: Toàn cảm thấy thật tồi tệ nếu mình cứ giữ thái độ như vậy và anh tự nói với

mình không việc gì phải quá bực tức về những việc nằm ngoài tầm kiểm soát của mình.

Rất kém hiệu quả

Rất hiệu quả

1

2

3

4

5

Hành động 4: Toàn quyết định nói cho mọi người biết công việc kém cỏi của người

đồng nghiệp này và anh ta không xứng đáng nhận phần thưởng đó. Toàn tập hợp tư

liệu và bằng chứng để chứng minh quan điểm của mình.

Rất kém hiệu quả

Rất hiệu quả

1

2

3

4

5

Tình huống 3: Ngân không biết khi nào các hóa đơn thanh toán tiền đến hạn trả, liệu

có bao nhiêu hóa đơn đòi trả ngay hoặc cô có chạy đủ tiền để trả hay không. Lúc đó,

chiếc xe máy của cô lại trục trặc và người sửa chữa nói rằng máy của nó quá cũ và

công sửa chữa quá đắt nên không đáng để sửa. Cô cảm thấy khó ngủ, thường thức

dậy vài lần trong đêm và cô hiểu rằng mình lúc nào cũng lo sợ. Mỗi hành động sau có

hiệu quả như thế nào trong việc giúp Ngân giảm được nỗi lo sợ này?.

Hành động 1: Ngân cố tìm hiểu xem cô nợ những khoản gì, nợ bao nhiêu và khi

nào các khoản nợ đến hạn phải thanh toán.

Rất hiệu quả

1

2

3

4

5

Rất kém hiệu quả

Hành động 2: Ngân học các liệu pháp thư giãn để tự làm mình bớt lo sơ.

Rất kém hiệu quả

Rất hiệu quả

1

2

3

4

5

Hành động 3: Ngân gọi điện thoại nhờ một chuyên gia tư vấn giúp cô học cách làm

thế nào để quản lý số tiền của mình một cách đúng đắn.

Rất kém hiệu quả

Rất hiệu quả

1

2

3

4

5

Hành động 4: Ngân quyết định sẽ tìm một công việc khác có lương cao hơn. Rất kém hiệu quả

Rất hiệu quả

3

4

1

2

5

Tình huống 4: Dường như chẳng có gì tốt đẹp xảy ra với Hải. Chẳng có gì nhiều trong cuộc sống của Hải làm anh thích thú và mang lại niềm vui. Năm tới những hàng động sau có hiệu quả như thế nào trong công việc làm cho Hải cảm thấy vui thích hơn?.

Rất hiệu quả

3

4

1

2

5

205

Hành động 1: Hải bắt đầu gọi điện cho những người bạn mà đã lâu anh không giữ liên lạc và có kế hoạch đến thăm một vài người trong số họ. Rất kém hiệu quả Hành động 2: Anh cố ăn tốt hơn, đi ngủ sớm hơn và tập thể dục nhiều hơn.

1

2

3

4

5

Rất kém hiệu quả

Rất hiệu quả

Hành động 3: Hải cảm thấy mình làm mọi người không vui và quyết địnhở một mình một thời gian, cho đến khi có thể hiểu ra điều gì làm mình buồn chán.

Rất kém hiệu quả

Rất hiệu quả

1

2

3

4

5

Hành động 4: Hải phát hiện thấy rằng ngồi thư giãn trước TV vào buổi tối với một hoặc hai lon bia thực sự giúp anh cảm thấy tốt hơn.

Rất kém hiệu quả

Rất hiệu quả

1

2

3

4

5

Rất hiệu quả

4

3

2

5

1

Tình huống 5: Khi Khải lái xe từ cơ quan về nhà, một chiếc xe khác vượt qua ngang mũi xe anh. Anh không kịp bóp còi, chỉ kịp lái xe sang phải để tránh đâm vào nó. Anh rất tức giận. Mỗi hành động sau có hiệu quả như thế nào trong viêc giúp Khải đương đầu với sự tức giận này?. Hành động 1: Khải quyết định dạy cho người lái xe kia một bài học bằng cách vượt lên liệng sát mũi xe anh ta khi ra khỏi đường cao tốc. Rất kém hiệu quả Hành động 2: Khải tự nhủ rằng những điều như vậy thường xảy ra và lái xe về nhà.

1

2

3

4

5

Rất kém hiệu quả

Rất hiệu quả

Hành động 3: Khải hét lên và chửi hoặc nguyền rủa người lái xe kia.

Rất kém hiệu quả

Rất hiệu quả

1

2

3

4

5

Hành động 4: Khải thề rằng sẽ không bao giờ lai xe trên con đường cao tốc đó nữa. Rất kém hiệu quả

Rất hiệu quả

2

3

5

1

4

206

PHẦN E Bạn hãy quan sát kỹ 6 bức ảnh và nhận xét từng loại cảm xúc đã cho biểu hiện như

thế nào qua từng bức ảnh theo thang bậc từ 1 đến 5.

Câu 1 (Xem ảnh 1): Những cảm xúc dưới đây được biểu lộ như thế nào khi xem bức

ảnh này. Mỗi loại cảm xúc a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với bức ảnh.

a. Không hạnh phúc

Rất hạnh phúc

4

5

3

2

4

5

3

2

b. Không buồn

Rất buồn

1 1

4

5

3

2

1

4

5

3

2

1

4

5

3

2

1

Rất lo sợ

c. Không lo sợ

4

5

3

2

1

Rất tức giận

d. Không tức giận

4

5

3

2

1

Rất ghê tởm

e. Không ghê tởm

Câu 2 (Xem ảnh 2): Những cảm xúc dưới đây được biểu lộ như thế nào khi xem bức

ảnh này. Mỗi loại cảm xúc a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với bức ảnh.

Rất buồn

a. Không buồn

4

5

3

2

1

Rất tức giận

b. Không tức giận

4

5

3

2

1

c. Không ngạc nhiên Rất ngạc nhiên

4

5

3

2

1

d. Không ghê tởm

Rất ghê tởm

4

5

3

2

1

3

4

1

2

5

e. Không phấn chấn Rất phấn chấn

207

Câu 3 (Xem ảnh 3): Những cảm xúc dưới đây được biểu lộ như thế nào khi xem bức

ảnh này. Mỗi loại cảm xúc a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với bức ảnh.

a. Không hạnh phúc

Rất hạnh phúc

3

4

5

2

1

b. Không lo sợ

Rất lo sợ

3

4

5

2

1

c. Không tức giận

Rất tức giận

3

4

5

2

1

d. Không ngạc nhiên

Rất ngạc nhiên

1

2

3

4

5

e. Không ghê tởm

Rất ghê tởm

2

3

4

5

1

2

3

4

5

1

f. Không ngạc nhiên Rất ngạc nhiên

Câu 4 (Xem ảnh 4): Những cảm xúc dưới đây được biểu lộ như thế nào khi xem bức

ảnh này. Mỗi loại cảm xúc a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với bức ảnh.

a. Không buồn

Rất buồn

3

4

5

2

1

b. Không lo sợ

Rất lo sợ

3

4

5

2

1

3

4

5

2

1

c. Không tức giận

Rất tức giận

3

4

5

2

1

d. . Không ngạc nhiên

Rất ngạc nhiên

1

2

3

4

5

e. Không ngạc nhiên

Rất ghê tởm

Câu 5 (Xem ảnh 5): Những cảm xúc dưới đây được biểu lộ như thế nào khi xem bức

ảnh này. Mỗi loại cảm xúc a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với bức ảnh.

a. Không hạnh phúc

Rất hạnh phúc

3

4

5

2

1

b. Không buồn

Rất buồn

3

4

5

2

1

c. Không lo sợ

Rất lo sợ

1

2

3

4

5

3

4

5

2

1

d. Không tức giận

Rất tức giận

3

4

5

2

1

e. Không ghê tởm

Rất ghê tởm

208

Câu 6 (Xem ảnh 6): Những cảm xúc dưới đây được biểu lộ như thế nào khi xem bức

ảnh này. Mỗi loại cảm xúc a, b, c, d, e chỉ chọn một mức độ phù hợp với bức ảnh.

a. Không hạnh phúc

Rất hạnh phúc

1

2

3

4

5

b. Không buồn

Rất buồn

1

2

3

4

5

1

2

3

4

5

c. Không tức giận

Rất tức giận

1

2

3

4

5

d. Không ngạc nhiên

Rất ngạc nhiên

1

3

4

5

e. Không ghê tởm

Rất ghê tởm

2

209

PHẦN F

Mỗi tình huống dưới đây đòi hỏi Bạn phải tưởng tượng mình đang cảm nhận theo một

cách nào đó. Hãy đưa ra câu trả lời tốt nhất theo cách hiểu của Bạn, thậm chí ngay cả

khi Bạn không thể hình dung nổi tình cảm đó.

Mỗi mục a, b, c bạn chỉ chọn 1 mức độ phù hợp theo thang bậc từ 1 (không giống) đến 5

(rất giống).

Tình huống 1: Hãy tưởng tượng rằng Bạn đang mặc cảm rằng mình có lỗi do Bạn quên đi

thăm người bạn thân bị ốm nặng. Trưa hôm đó, Bạn chợt nhớ ra quên không đến thăm người

bạn thân này đang nằm trong bệnh viện. Vậy mặc cảm có lỗi của Bạn giống những cảm xúc,

tình cảm dưới đây ở mức độ nào?.

Rất giống

Không giống

1

2

3

4

5

a. Thờ ơ

1

2

3

4

5

b. Bất an

c. Hài lòng

1

2

3

4

5

Tình huống 2: Bạn hãy tưởng tượng đang cảm thấy hài lòng về một ngày tuyệt vời với

những tin tức tốt lành về công việc, về gia đình. Với tình cảm mãn nguyện đó giống những

cảm xúc, tình cảm dưới đây ở mức độ nào?.

Rất giống

Không giống

1

2

3

4

5

a. Ấp áp, dễ chịu

1

2

3

4

5

b. Tức giận

c. Xót xa

1

2

3

4

5

Tình huống 3: Hãy tưởng tượng Bạn đang cảm thấy lạnh lẽo, buồn tẻ và đau xót. Tình

cảm này giống như những cảm xúc, tình cảm duới đây ở mức độ nào?.

Không giống

Rất giống

1

2

3

4

5

a. Bị thách thức

1

2

3

4

5

b. Bị cô lập

c. Ngạc nhiên

1

2

3

4

5

210

Tình huống 4: Hãy tưởng tượng Bạn có cảm giác mênh mang, rộng lớn, mềm mại và

xanh tươi. Tình cảm này giống những cảm xúc, tình cảm dưới đây ở mức độ nào?.

Rất giống

Không giống

1

2

3

4

5

a. Hứng khởi

1

2

3

4

5

b. Ghen tức

c. E sợ

1

2

3

4

5

Tình huống 5: Hãy tưởng tượng Bạn có cảm thấy có cái gì khép kín, u ám và tê dại. Tình

cảm này giống những cảm xúc, tình cảm dưới đây ở mức độ nào?.

Rất giống

Không giống

1

2

3

4

5

a. Buồn sầu

1

2

3

4

5

b. Hài lòng

c. Bình tĩnh

1

2

3

4

5

211

PHẦN G

Bạn chỉ chọn 1 phương án đúng nhất trong số 5 phương án (a, b, c, d, e) cho mỗ câu

dưới đây.

Câu 1: Sự quan tâm gần nhất với tổ hợp cảm xúc nào dưới đây………

a. Yêu thương, lo âu, ngạc nhiên, tức giận.

b. Ngạc nhiên, tự hào, tức giận, sợ hãi.

c. Chấp nhận, lo âu, sợ hãi và lường trước.

d. Sợ hãi, vui sướng, ngạc nhiên, lúng túng.

e. Lo lắng, chăm sóc, lường trước.

Câu 2: Từ khác biểu thị sụ vui vẻ, hướng về tương lai một cách kiên định là………

a. Lạc quan.

b. Hạnh phúc.

c. Thỏa mãn.

d. Vui sướng.

e. Ngạc nhiên.

Câu 3: Chấp nhận, vui sướng và nồng nhiệt thường kết hợp lại với nhau để hình

thành………

a. Sự yêu thương.

b. Sự sửng sốt.

c. Sự đoán trước.

d. Sự hài lòng.

e. Sự chấp nhận.

Câu 4: Sự kết hợp các cảm xúc: ghê tởm và tức giận sẽ hình thành………

a. Mặc cảm tội lỗi.

b. Sự nổi khùng.

c. Sự xấu hổ.

d. Sự thù hận.

e. Sự coi thường.

212

Câu 5: Sự ngạc nhiên do buồn rầu dẫn đến………

a. Thất vọng.

b. Sửng sốt.

c. Tức giận.

d. Lo sợ.

e. Hối tiếc.

Câu 6: Buồn chán, mặc cảm tội lỗi và hối tiếc kết hợp lại sẽ hình thành………

a. Sự bi lụy.

b. Sự bực tức.

c. Trầm cảm (u uất).

d. Sự ân hận.

e. Sự đau khổ.

Câu 7: Thư giãn, yên ổn và bình tĩnh là những thành phần của………

a. Sự yêu mến.

b. Sự mệt mỏi.

c. Sự mong đợi.

d. Sự điềm tĩnh.

e. Sự lường trước.

Câu 8: Sợ, vui sướng, ngạc nhiên và lúng túng là những thành phần của………

a. Sư quý trọng.

b. Nể sợ.

c. Sự lo sợ.

d. Sự tôn trọng.

e. Đồng cảm.

Câu 9: Xấu hổ, ngạc nhiên và lúng túng là những thành phần của………

a. Sự ghen tức

b. Buồn chán.

c. Mặc cảm tội lỗi.

d. Đố kỵ.

e. Thẹn thùng.

213

Câu 10: Cảm phục, yêu quý và lo lắng là những thành phần của………

a. Ghen tức.

b. Buồn chán.

c. Ác tâm.

d. Tự hào.

e. Lo sợ.

Câu 11: Vui sướng, phấn chấn và không chắc chắn là những thành phần của………

a. Sinh động.

b. Sự lường trước.

c. Lo âu.

d. Bình tĩnh.

e. Than thảnh.

Câu 12: Buồn và hài lòng, cả hai đôi khi những thành phần của………

a. Nỗi luyến tiếc.

b. Lo âu.

c. Lường trước.

d. Trầm cảm.

e. Coi thường

214

PHẦN H

Bạn chọn một câu trả lời tốt nhất cho mỗi phương án trong các tình huống dưới đây

theo thang bậc từ 1 (rất kém hiệu quả) đến 5 (rất hiệu quả).

Tình huống 1: Nam kết bạn thân với một người cùng cơ quan được hơn một năm. Hôm

nay, người bạn đó làm anh ngạc nhiên khi nói rằng, anh ta đã xin chuyển công tác sang cơ

quan khác và có thể chuyển khỏi vùng này. Anh ta không kể chi tiết việc anh ta chuyển công

tác. Những phương án ứng xử dưới đây có hiệu quả như thế nào giúp Nam duy trì mối quan

hệ bạn bè tốt với người bạn kia?.

Phương án 1: Nam cảm thấy không sao và nói với bạn rằng anh vui mừng vì bạn có chỗ

làm mới. Qua vài tuần Nam hẹn gặp để khẳng định họ vẫn là bạn bè.

3

4

2

1

5

Rất hiệu quả

Rất kém hiệu quả Phương án 2: Nam cảm thấy buồn vì bạn đã chuyển đi, nhưng những gì đã xảy ra cho thấy

người bạn đó đã không quan tâm nhiều đến anh. Người bạn này không nói gì về việc tại sao

anh ta chuyển đi, điều này chứng tỏ anh ta không còn là bạn. Nam không để ý đến điều đó,

mà thay vào đó anh tìm cách kết bạn với những người khác cùng cơ quan.

3

4

1

2

5

Rất hiệu quả

Rất kém hiệu quả Phương án 3: Nam tức giận vì bạn không nói gì với mình. Nam tỏ thái độ không đồng tình

bằng cách lờ người đó đi đến khi người đó nói cái gì đó về điều anh ta đã làm. Nam nghĩ

rằng nếu người bạn không nói gì, điều đó có thể khẳng định người đó không đáng là bạn.

3

4

2

5

1

Rất hiệu quả

Rất kém hiệu quả Tình huống 2: Thầy giáo của Tâm vừa mời bố mẹ của Tâm đến để nói rằng Tâm học rất

kém, không tập trung chú ý, là người hay quậy phá và không thể ngồi yên trong giờ học.

Thầy giáo này không có nhiều kinh nghiệm để đối phó với những trẻ hiếu động và bố mẹ

của Tâm lo lắng không biết điều gì sẽ xảy ra. Sau đó thầy giáo nói rằng con trai

họ sẽ không được lên lớp trừ khi có sự tiến bộ, bố mẹ của Tâm cảm thấy rất tức giận.

Những phương án sau sẽ giúp ích con họ như thế nào?.

215

Phương án 1: Bố mẹ của Tâm nói với giáo viên rằng đây là cú sốc lớn đối với họ, vì đây là

lần đầu tiên họ nghe nói về vấn đề của con họ. Họ đề nghị được gặp lại giáo viên để cùng

trao đổi và nếu có thể, mời hiệu trưởng cùng dự.

3

4

2

5

1

Rất hiệu quả

Rất kém hiệu quả Phương án 2: Bố mẹ giáo viên nói rằng nếu giáo viên cứ tiếp tục đe dọa không cho con trai

họ lên lớp, họ sẽ đưa vấn đề này lên hiệu trưởng. Họ nói “nếu con trai chúng tôi bị đúp,

chúng tôi sẽ buộc anh phải chịu trách nhiệm. Anh là giáo viên, công việc của anh là dạy học,

không nên đổ lỗi cho học trò.

3

4

1

5

2

Rất hiệu quả

Rất kém hiệu quả Phương án 3: Bố mẹ của Tâm không nói chuyện với giáo viên. Họ đi gặp hiệu trưởng và

phàn nàn về tái độ đe dọa của giáo viên, đồng thời đề nghị cho con họ chuyển sang lớp

khác.

3

4

1

2

5

Rất hiệu quả

Rất kém hiệu quả Tình huống 3: Mọi chuyện diễn ra tốt đẹp với Lê. Trong khi những người khác bị quở trách

về công việc thì Lê đượ khen, lại được thăng chức. Các con của cô ngoan và học giỏi, gia

đình cô hòa thuận và hạnh phúc. Lê bắt đầu cảm thấy mình rất quan trọng và bắt đầu nhận

thấy mình bắt đầu khoe khoang về cuộc sống của mình với bạn bè. Những phương án sau có

hiệu quả như thế nào cho việc duy trì các mối quan hệ của cô.

Phương án 1: Vì mọi thứ đều tốt, Lê cảm thấy tự hào về điều đó nhưng cô cũng cảm thấy

một vài người không thích hoặc họ ghen tức với cô. Vì vậy, cô chỉ nên nói với những người

bạn thân.

1

2

3

4

5

Rất kém hiệu quả

Rất hiệu quả

216

Phương án 2: Lê bắt đầu nghĩ về tất cả những khó khăn trong tương lai để cô có

thể có cái nhìn toàn cảnh về cuộc sống của mình.

3

4

5

2

1

Rất hiệu quả

Rất kém hiệu quả Phương án 3: Lê chia sẽ các cảm nhận của cô đối với chồng tối hôm đó. Sau đó cô

quyết định gia đình mình nên sử dụng thời gian cùng nhau vào cuối tuần và tham gia

vào một vài sự kiện của gia đình để mọi người được ở cùng nhau.

1

2

3

4

5

Rất kém hiệu quả

Rất hiệu quả

217

218

219

Phụ lục 2

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN

(Dùng cho điều tra viên)

Mẫu 01

Đồng chí thân mến! Chúng tôi đang tiến hành nghiên cứu đề tài trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Để nghiên cứu thành công, rất mong đồng chí cho biết ý kiến của mình về những nội dung sau bằng cách đánh dấu X vào dòng và cột tương ứng thể hiện phương án phù hợp nhất với ý kiến của đồng chí. Bảng hỏi hoàn toàn ẩn danh, mọi thông tin thu được chỉ sử dụng để nghiên cứu, ngoài ra không nhằm mục đích nào khác.

Cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ của đồng chí!

Câu 1. Trong quá trình thực hành điều tra, đồng chí tự nhận thấy bản thân mình có các biểu hiện sau ở mức nào? STT

Các biểu hiện

Mức độ Trung bình (2)

Thấp (3)

Cao (1)

I. Biểu hiện về mặt nhận thức cảm xúc trong

quá trình điều tra

1 Nhận biết được cảm xúc ưu trội của bản thân

2 Nhận biết mối quan hệ giữa ngôn ngữ và cảm

khi đối mặt với tình huống xảy ra

3 Nhận biết mối quan hệ giữa cảm xúc và hành

xúc của đối tượng

4 Nhận biết được cảm xúc phức hợp của đối

vi của đối tượng điều tra

5 Nhận biết được sự chuyển đổi cảm xúc của

tượng khi tham gia giao tiếp

6 Nhận thức được cảm xúc của bản thân trong một

đối tượng điều tra

7 Đánh giá được trạng thái cảm xúc của đối tượng

tình huống điều tra

qua hành vi, điệu bộ, cử chỉ

II Biểu hiện về mặt thấu hiểu cảm xúc trong quá

trình điều tra

1 Hiểu rõ cảm xúc của bản thân trong tình

2 Hiểu rõ cảm xúc nào đang “xâm chiếm” đối

huống điều tra

Mức độ

tượng trong tình huống điều tra

220

STT

Các biểu hiện

Cao (1)

Trung bình (2)

Thấp (3)

3 Hiểu rõ diễn biến cảm xúc của đối tượng trong

4 Hiểu rõ tâm trạng phức hợp của đối tượng

tình huống điều tra

5 Hiểu rõ cần phải điều khiển bản thân vào cảm xúc tích cực để nhìn nhận tình huống xảy ra dưới nhiều góc độ (về phía đối tượng phạm tội, về phía người chứng kiến hành động phạm tội, về phía người bị hại,...)

trong tình huống điều tra

III Biểu hiện về mặt vận dụng cảm xúc trong quá

trình điều tra

1 Vận dụng kinh nghiệm đã có tìm ra cách giải

2 Có kỹ năng giao tiếp, thuyết phục hiệu quả khiến đối tượng sẵn sàng chia sẻ, khai báo thành khẩn

3 Có cách thức tác động hiệu quả đến người

quyết hiệu quả cho tình huống hiện tại

4 Biết huy động cảm xúc có lợi để bản thân suy

thân của đối tượng tạo thuận lợi cho điều tra

5 Biết huy động cảm xúc có lợi để nhìn nhận sự

nghĩ tích cực

6 Biết huy động cảm xúc có lợi để tìm ra biện

việc một cách đa chiều

7 Biết tìm ra phương tiện để giải toả cảm xúc

pháp giải quyết mâu thuẫn hiệu quả

tiêu cực của bản thân

IV Biểu hiện về mặt điều khiển cảm xúc trong

quá trình điều tra

1 Điều khiển cảm xúc bản thân theo hướng tích

2 Biết cách lan truyền cảm xúc tích cực của bản

cực trong các tình huống điều tra

3 Giúp đỡ, hướng dẫn có hiệu quả đối tượng điều tra thoát khỏi suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực

thân đến đối tượng điều tra

221

STT

Các biểu hiện

Mức độ Trung bình (2)

Thấp (3)

Cao (1)

4 Trong các tình huống điều tra có thể chủ

5 Có thể gạt bỏ cảm xúc bất lợi của cá nhân

động thể hiện cảm xúc

6 Nhanh chóng tìm ra cách thoát khỏi tâm trạng

trong hoạt động điều tra

7 Bình tĩnh, chủ động trước bất kỳ tình huống

tiêu cực của bản thân

điều tra xảy ra

Câu 2: Đồng chí cho biết mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dưới đây đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên?

TT

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

Yếu

Mạnh

MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG Trung bình

8

1 Yếu tố di truyền sinh học 2 Các thuộc tính tâm lý nhân cách 3 Giới tính, tuổi tác và thâm niên công tác 4 Môi trường làm việc 5 Giáo dục 6 Hoạt động và giao tiếp 7 Đối tượng tiếp xúc, điều tra của Điều tra viên Ý kiến khác:.................................................... ........................................................................... ........................................................................... .........................................................................

222

Câu 3: Đồng chí cho biết ý kiến của mình về sự cần thiết của các biện

pháp phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên?

Cần thiết

TT

CÁC BIỆN PHÁP

Rất cần thiết

Không cần thiết

1

2

3

4

5

6

Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức về trí tuệ cảm xúc gắn với bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp, lối sống lạc quan, tự tin cho điều tra viên Tổ chức thường xuyên các hoạt động bồi dưỡng kiến thức về trí tuệ cảm xúc nhằm nâng cao năng lực trí tuệ cảm xúc trong công việc cho điều tra viên Đa dạng hóa các hình thức rèn luyện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên thông qua các hoạt động thực tiễn nghề nghiệp Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng kiểm soát cảm xúc và kỹ năng đồng cảm cho điều tra viên Bồi dưỡng và khơi dậy tinh thần tự học, tự tu dưỡng, rèn luyện trong việc nâng cao trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên Biện pháp khác: ……………………............. ……………………………………………… …..…………………………………………

Xin đồng chí vui lòng cho biết một số thông tin cá nhân Tuổi nghề:..................................................... Trình độ đào tạo: ........................................ Giới tính: .....................................

Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác của đồng chí!

223

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN (Dùng cho điều tra viên)

b. Dửng dưng d. Chán nản

b. Dửng dưng d. Phẫn nộ

Mẫu số 02 Để giúp việc tìm hiểu thực tế hoạt động của điều tra viên của Cục An ninh điểu tra, xin đồng chí vui lòng cho chúng tôi biết cách ứng xử của đồng chí trong các tình huống dưới đây:

Câu 1. Theo đồng chí, điều tra viên cảm thấy như thế nào khi có những vật dụng hỗ trợ cho công tác điều tra của mình? a. Thích thú c. Sung sướng Câu 2: Trong hoạt động thực tiễn của mình, đồng chí nhận thấy các đối tượng phạm tội mà điều tra viên thường phải tiếp xúc có thái độ như thế nào đối với điều tra viên? a. Họ mong muốn thường xuyên được gặp điều tra viên b. Họ thường thấy xấu hổ khi gặp điều tra viên c. Họ thường ngại tiếp xúc với điều tra viên d. Họ coi thường lời nói của điều tra viên Câu 3. Đồng chí thử đoán xem đồng nghiệp của mình cảm thấy như thế nào khi có nhiều ý kiến cho rằng họ chưa hòa đồng với mọi người trong cơ quan? a. Buồn rầu c. Lo lắng Câu 4. Khi đồng chí được giao điều tra một vụ án nhưng không được kết quả như mong muốn, gặp phải những khó khăn thì đồng chí cảm thấy như thế nào? a. Coi việc thất bại là chuyện bình thường, không ảnh hưởng đến công việc khác b. Buồn chán và không tiếp tục làm được việc khác trong một thời gian c. Hối tiếc và tìm cách để có được sự giúp đỡ của người có trách nhiệm d. Buồn và có kế hoạch làm việc khác thật tốt Câu 5. Giả sử trong phòng làm việc của đồng chí có hiện tượng đồng nghiệp khá giả, có điều kiện không chơi với những đồng nghiệp có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Theo đồng chí, tại sao những đồng nghiệp đó lại làm như vậy? a. Do ảnh hưởng chưa đúng của gia đình, môi trường sống... nên nhận thức sai, coi thường đồng nghiệp khác b. Do sợ đồng nghiệp trong nhóm gia đình khá giả chê cười c. Do có sự khác nhau về sở thích d. Do không tìm thấy ở nhóm đồng nghiệp kia lợi ích nào 6. Có một số đồng nghiệp thường lo lắng khi không giải quyết được công việc được giao. Theo đồng chí, tại sao họ lại lo lắng quá như vậy? a. Do không hiểu đúng những yêu cầu của việc phải hoàn thành b. Do họ cho rằng nếu không giải quyết được công việc sẽ ảnh hưởng đến danh dự của mọi người c. Do họ lo lắng cho tương lai công việc của mình d. Do họ chủ quan, đánh giá tính chất công việc dễ hơn và khả năng của bản thân cao hơn so với thực tế

224

7. Trên thực tế hiện nay có một số điều tra viên ở Cục ANĐT không thấy hài lòng với công việc hiện tại. Theo đồng chí nguyên nhân chính xuất hiện cảm xúc này ở họ là: a. Họ cho rằng làm điều tra viên ở Cục ANĐT không có giá trị xã hội cao b. Do làm điều tra viên ở Cục ANĐT lương thấp so với công sức họ bỏ ra c. Do môi trường làm việc gò bó d. Do điều kiện làm việc vất vả 8. Trong công việc, khi nào đồng chí rơi vào trạng thái quá lo lắng? a. Khi được giao một công việc khó khăn b. Khi đồng chí nhận thấy không có đủ năng lực hoàn thành công việc c. Hầu như đồng chí không bị rơi vào tình trạng này d. Công việc chưa đạt hiệu quả mà mình chưa tìm được cách giải quyết 9. Để giúp một đối tượng phạm tội đã hoàn lương “thoát” khỏi mặc cảm tự ti với các mọi người vì hành động phạm tội của mình, đồng chí có cách nào? a. Yêu cầu các đối tượng khác không được chế giễu đối tượng đó b. Nói chuyện riêng với đối tượng đó, rủ họ tham gia vào nhiều hoạt động để phát huy khả năng của họ, để họ có khả năng thể hiện mình c. Đề nghị gia đình phối hợp giải quyết d. Hướng dẫn các đối tượng có cách ứng xử đúng đắn với mình và người khác khi xảy ra biến cố trong cuộc sống, có thể lồng ghép trong những buổi sinh hoạt chung hay nội dung học tập có liên quan. 10. Có những trường hợp điều tra viên luôn cho rằng toàn bộ kết quả công việc của điều tra viên với đối tượng là do sự tác động từ gia đình, bạn bè của đối tượng chịu trách nhiệm. Đồng chí có cách gì để giúp họ hiểu được trách nhiệm của gia đình và người thân trong quá trình giải quyết công việc? a. Gặp gỡ, trao đổi, phân tích để bản thân điều tra viên đó nhận thức đúng trách nhiệm của điều tra viên và lãnh đạo trong quá trình giải quyết công việc, từ đó yêu cầu họ phối hợp. b. Gặp gỡ gia đình, bạn bè của đối tượng để giao nhiệm vụ cho họ và có sự kiểm tra c. Để khi đối tượng gặp phải sự khó khăn rồi gặp đối tượng, gia đình và bạn bè của đối tượng phân tích cho họ thấy trách nhiệm của họ trong chuyện này d. Trao đổi với gia đình để họ nhận thấy trách nhiệm, ý nghĩa của họ đối với đối tượng và yêu cầu họ tác động đến đối tượng 11. Nếu đồng nghiệp của đồng chí ít tham gia vào hoạt động chung của cơ quan, sống khép kín thì đồng chí nên làm gì để họ hòa đồng hơn với đồng nghiệp? a. Tìm hiểu hoàn cảnh riêng để tìm ra nguyên nhân sâu xa của họ, từ đó tổ chức hoạt động tập thể phù hợp với họ b. Đề nghị giao cho họ những công việc bắt buộc họ phải tham gia vào công việc chung của cơ quan c. Cố gắng ngăn cản mọi người khi họ có ý định kéo đồng nghiệp này vào hoạt động chung d. Tôn trọng lối sống riêng của họ

225

Câu 12. Đồng chí thường làm gì khi giải quyết không thành công một tình huống điều tra? a. Bình tĩnh phân tích nguyên nhân thất bại và rút ra kinh nghiệm b. Trao đổi với đồng nghiệp để rút kinh nghiệm c. Tìm cách mau chóng thoát khỏi cảm xúc tiêu cực của bản thân để tiếp tục làm việc khác d. Từ bỏ nhiệm vụ, bản thân cảm thấy vô cùng mệt mỏi Câu 13. Nếu tất cả các điều tra viên trong tổ của đồng chí đang thất vọng do không đạt được kết quả cao trong một vụ án điều tra bởi các đồng chí rất hi vọng khả quan về vụ án này thì đồng chí sẽ làm gì? a. An ủi động viên các điều tra viên khác trong tổ b. Phân tích tìm nguyên nhân sự việc để rút kinh nghiệm, hướng các đồng chí đó tới những việc cần làm trong thời gian tới c. Tìm điểm mạnh của cả đội để khen ngợi d. Mắng các điều tra viên đó, tỏ ra tức giận khi cả đội không đạt kết quả như mong đợi Câu 14. Nếu lãnh đạo phụ trách đội đồng chí tỏ ra thất vọng với một điều tra viên trong đội của đồng chí khi họ không giải quyết được công việc như ý muốn của lãnh đạo, đồng chí sẽ hành động như thế nào? a. Tỏ ra đồng cảm, an ủi và hứa sẽ cố gắng giúp điều tra viên đó để làm việc tốt hơn trong thời gian tới b. Phân tích để họ thấy được giữa mong muốn của lãnh đạo với điều kiện thực tế và năng lực của điều tra viên còn có khoảng cách nhất định. c. Tỏ ra đồng cảm, cùng lãnh đạo nhìn nhận, đánh giá lại mong muốn của lãnh đạo và năng lực hiện tại của điều tra viên, tương lai giải quyết công việc của điều tra viên. d. Tìm cách giúp điều tra viên đó đạt được kết quả công việc cao trong thời gian tới Câu 15. Giả sử đồng nghiệp hiểu chưa đúng về đồng chí và nói lại với những người khác. Khi nghe được tin đó, đồng chí sẽ hành động: a. Gặp ngay đồng nghiệp đó để nói chuyện b. Đánh giá tính cách của đồng nghiệp và mối quan hệ của mình với đồng nghiệp đó để tìm nguyên nhân và tìm cách trao đổi, thể hiện bằng hành động đối với đồng nghiệp và mọi người khi có cơ hội thuận lợi c. Tìm hiểu để khẳng định tính chính xác của thông tin d. Đưa việc này ra phê bình trong cuộc họp của đội, của phòng. Câu 16. Nếu hơn một nửa đồng nghiệp của đồng chí muốn bầu một điều tra viên có năng lực chuyên môn giỏi nhưng lại có phẩm chất đạo đức không tốt vì không thích người lãnh đạo quá nghiêm khắc thì đồng chí sẽ hành động như thế nào? a. Bực mình nhưng vẫn tôn trọng quyết định của các đồng nghiệp b. Buộc các đồng nghiệp phải theo cơ cấu nhân sự ban đầu của Cục c. Bình tĩnh và phân tích để đồng nghiệp có sự lựa chọn đúng đắn d. Hoãn buổi bầu cử để tìm cách thuyết phục các đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác của các đồng chí!

226

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN (Dùng cho điều tra viên)

Mẫu số 03 Câu 1. Để giúp việc tìm hiểu hoạt động thực tế của điều tra viên, xin vui

lòng cho tôi biết cách ứng xử của đồng chí trong các tình huống dưới đây:

Câu trả lời

Tình huống

TT 1 Khi đối tượng trong vụ án đồng chí đang thụ lý mắc lỗi vì “sự ngây thơ” của đối tượng thì cảm xúc nào thường xuất hiện ở đồng chí? 2 Theo đồng chí tại sao đa số các vụ án điều tra phải tái hiện lại hiện trường diễn ra vụ án?

3 Khi phẫn nộ vì sự vi phạm đạo đức của một đối tượng thì đồng chí thường bộc lộ cảm xúc này trước đối tượng, đồng nghiệp hay không? Vì sao?

4 Khi đồng chí đang buồn rầu vì công việc không đạt được như mong muốn thì lại phải tiếp nhận một vụ án nữa. Lúc này đồng chí hảnh động như thế nào?

5 Đồng chí lo lắng vì phải hoàn thành một nhiệm vụ chuyên môn khó khăn. Đồng chí có cách nảo thoát khỏi lo lắng để hoàn thành nhiệm vụ?

6 Bằng kinh nghiệm nghề nghiệp của mình, theo đồng chí các đối tượng phạm tội thường có chung điểm gì?

7 Khi ý kiến của đồng chí và đồng nghiệp trái ngược nhau trong việc giải quyết một vụ án thì đồng chí nên tạo ra cảm xúc nào ở đồng nghiệp để họ cùng đứng về phía mình trong việc giải quyết vụ án nhằm hoàn thành công việc được giao?

8 Đồng chí có cách nào để nhận biết đối tượng

nói dối và nói thật?

9 Đồng chí làm gì khi có đồng nghiệp rất sợ khi phải tiếp xúc, đặc biệt nói chuyện với đối tượng phạm tội

10 Theo anh chị cảm xúc gì xuất hiện ở một người thực hiện hành động phạm tội và một người chứng kiến hành động phạm tội khi vụ án phạm tội diễn ra? Cảm xúc nào sẽ xuất hiện tiếp theo ở những đối tượng này?

11 Trong cơ quan đồng chí có hiện tượng những đồng nghiệp trong gia đình khá giả không chơi với đồng nghiệp có hoàn cảnh khó khăn. Theo đồng chí những cảm xúc gì xuất hiện ở hai nhóm này?

12 Đồng chí thường có cách gì để lấy lại sự tự tin sau khi không giải quyết thành công một vụ án?

13 Một tình huống công việc xảy ra, đẩy đồng chí rơi vào tâm trạng tức giận, đồng chí có cách nào để thoát khỏi cơn tức giận đó? 14 Mẹ của đối tượng phạm tội đang quá lo lắng vì hành động phạm tội của con mình. Đồng chí có cách nào để người mẹ nhận thức đúng vấn đề?

227

15 Để giúp một đối tượng phạm tội đã hoàn lương thoát khỏi mặc cảm tự ti với mọi người vì hành động phạm tội của mình, đồng chí có những cách nào? Câu 2: Đồng chí hãy vui lòng hồi tưởng lại thời gian mình ở độ tuổi vị thành niên. Trong những tình huống sau đây, cha/mẹ/người nuôi dưỡng các đồng chí thường có cách ứng xử như thế nào? Hãy khoanh tròn vào phương án đúng nhất hoặc viết câu trả lời vào mục e nếu không tìm thấy phương án đúng với hoàn cảnh của mình: 1. Hồi nhỏ việc học bài của đồng chí ở nhà là do: a. Tự học, không ai hướng dẫn b. Tự học, khi gặp khó khăn thì hỏi cha, mẹ, anh, chị, người ngoài,... c. Học dưới sự kiểm soát của cha mẹ, anh chị,... d. Học dưới sự hướng dẫn của cha mẹ, anh chị, ... e. Cách khác: .....................................

6. Khi trách phạt sai đồng chí vì không nắm rõ thông tin thì sau đó cha mẹ thường: a. Quên luôn và không nói chuyện đó nữa b. Giải thích và xin lỗi đồng chí c. Giải thích nhưng không xin lỗi đồng chí d. Giải thích và tìm cách chuộc lỗi với đồng chí e. Cách khác: ..................................... 7. Lúc nhỏ, khi các đồng chí gặp thất bại trong cuộc sống (học tập, vui chơi,...) thì cha mẹ thường: a. Không nhận thấy điều gì thay đổi ở đồng chí b. Nhận thấy và khuyên đồng chí không nên lặp lại sai lầm như vậy nữa d. Nhận thấy ngay, hỏi nguyên nhân

2. Vào lúc nhỏ, khi đồng chí thích một cái gì đó thì: a. Không nói với ai trong gia đình, tự giải quyết b. Nói với cha mẹ, anh chị,... và thường được đáp ứng c. Nói với cha mẹ, anh chị,... và chỉ được đáp ứng khi điều đó phù hợp với ý kiến

và cùng tìm cách giải quyết e. Cách khác: ..............................

của cha mẹ d. Chưa nói thì mọi người trong gia đình đã biết và đáp ứng e.Cách khác: ........................................... 3. Hồi nhỏ, khi đồng chí đang chơi trò chơi/ xem chương trình yêu thích thì đến giờ học bài. Cha mẹ của các đồng chí thường: a. Không để ý và đồng chí tự quyết định b. Cho chơi/ xem xong thì đi học bài c. Buộc đưng chơi/ ngừng xem/ tắt ti vi để học bài d. Nhắc nhở và để đồng chí tự quyết định e. Cách khác: ........................................

4. Hồi nhỏ, khi đồng chí chưa đạt được yêu cầu về học tập, lao động, hành vi ứng xử,... thì cha mẹ thường: a. Không nói gì vì không kiểm tra b. Nhắc nhở để đồng chí cố gắng hơn c. Phê bình và buộc phải thực hiện được yêu cầu đề ra d. Động viên, tạo điều kiện để đồng chí đạt yêu cầu e.Cách khác: ...........................................

5. Vào lúc nhỏ, cha mẹ đồng chí thường hành động như thế nào khi đồng chí không thích làm một việc mà cha mẹ yêu cầu: a. Không hành động vì không nhận thấy đồng chí muốn gì b. Không bắt buộc đồng chí làm nữa c. Giải thích và buộc đồng chí phải làm theo ý cha mẹ đã quyết d. Giải thích và cho đồng chí quyền quyết định e. Cách khác: ......................................

8. Lúc đồng chí còn nhỏ, việc học hành, cha mẹ thường a. Không quan tâm vì quá bận công việc b. Đôi khi kiểm tra và nhắc nhở c. Kiểm tra thường xuyên và buộc phải làm theo những quy định của cha mẹ d. Kiểm tra thường xuyên, trao đổi, giúp đỡ khi đồng chí cần e. Cách khác: .................................. 9. Lúc nhỏ, khi chứng kiến cảnh đồng chí xích mích với trẻ con hàng xóm thì cha mẹ thường: a. Không quan tâm vì quá bận việc b. Gọi đồng chí về và khuyên không xích mích nữa c. Gọi đồng chí về, yêu cầu lần sau không chơi với đứa trẻ đó d. Tìm nguyên nhân, trao đổi lại với đồng chí và hàng xóm e. Cách khác: ......................... 10. Khi đồng chí còn nhỏ, lúc gặp khó khăn trong việc thực hiện lời hứa với đồng chí, cha mẹ thường: a. Không quan tâm vì quá bận công việc b. Giải thích và hứa sẽ làm khi nào có điều kiện c. Giải thích với đồng chí và thôi không thực hiện nữa d. Giải thich và tìm cách khác thực hiện lời hứa với đồng chí e. Cách khác: ......................

228

Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác của đồng chí!

229

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN (Dùng cho cán bộ quản lý)

Mẫu 04

Đồng chí thân mến! Chúng tôi đang tiến hành nghiên cứu đề tài trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Để nghiên cứu thành công, rất mong đồng chí cho biết ý kiến của mình về những nội dung sau bằng cách đánh dấu X vào dòng và cột tương ứng thể hiện phương án phù hợp nhất với ý kiến của đồng chí. Bảng hỏi hoàn toàn ẩn danh, mọi thông tin thu được chỉ sử dụng để nghiên cứu, ngoài ra không nhằm mục đích nào khác.

Cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ của đồng chí!

Câu 1. Trong quá trình thực hành điều tra, đồng chí nhận thấy các điều tra viên có các biểu hiện sau ở mức nào? STT

Các biểu hiện

Mức độ Trung bình (2)

Thấp (3)

Cao (1)

I. Biểu hiện về mặt nhận thức cảm xúc trong

quá trình điều tra

1 Nhận biết được cảm xúc ưu trội của bản thân

2 Nhận biết mối quan hệ giữa ngôn ngữ và cảm

khi đối mặt với tình huống xảy ra

3 Nhận biết mối quan hệ giữa cảm xúc và hành

xúc của đối tượng

4 Nhận biết được cảm xúc phức hợp của đối

vi của đối tượng điều tra

5 Nhận biết được sự chuyển đổi cảm xúc của

tượng khi tham gia giao tiếp

6 Nhận thức được cảm xúc của bản thân trong một

đối tượng điều tra

7 Đánh giá được trạng thái cảm xúc của đối tượng

tình huống điều tra

qua hành vi, điệu bộ, cử chỉ

II Biểu hiện về mặt thấu hiểu cảm xúc trong quá

trình điều tra

1 Hiểu rõ cảm xúc của bản thân trong tình

2 Hiểu rõ cảm xúc nào đang “xâm chiếm” đối

huống điều tra

Mức độ

tượng trong tình huống điều tra

230

STT

Các biểu hiện

Cao (1)

Trung bình (2)

Thấp (3)

3 Hiểu rõ diễn biến cảm xúc của đối tượng trong

4 Hiểu rõ tâm trạng phức hợp của đối tượng

tình huống điều tra

5 Hiểu rõ cần phải điều khiển bản thân vào cảm xúc tích cực để nhìn nhận tình huống xảy ra dưới nhiều góc độ (về phía đối tượng phạm tội, về phía người chứng kiến hành động phạm tội, về phía người bị hại,...)

trong tình huống điều tra

III Biểu hiện về mặt vận dụng cảm xúc trong quá

trình điều tra

1 Vận dụng kinh nghiệm đã có tìm ra cách giải

2 Có kỹ năng giao tiếp, thuyết phục hiệu quả khiến đối tượng sẵn sàng chia sẻ, khai báo thành khẩn

3 Có cách thức tác động hiệu quả đến người

quyết hiệu quả cho tình huống hiện tại

4 Biết huy động cảm xúc có lợi để bản thân suy

thân của đối tượng tạo thuận lợi cho điều tra

5 Biết huy động cảm xúc có lợi để nhìn nhận sự

nghĩ tích cực

6 Biết huy động cảm xúc có lợi để tìm ra biện

việc một cách đa chiều

7 Biết tìm ra phương tiện để giải toả cảm xúc

pháp giải quyết mâu thuẫn hiệu quả

tiêu cực của bản thân

IV Biểu hiện về mặt điều khiển cảm xúc trong

quá trình điều tra

1 Điều khiển cảm xúc bản thân theo hướng tích

2 Biết cách lan truyền cảm xúc tích cực của bản

cực trong các tình huống điều tra

3 Giúp đỡ, hướng dẫn có hiệu quả đối tượng điều tra thoát khỏi suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực

thân đến đối tượng điều tra

231

STT

Các biểu hiện

Mức độ Trung bình (2)

Thấp (3)

Cao (1)

4 Trong các tình huống điều tra có thể chủ

5 Có thể gạt bỏ cảm xúc bất lợi của cá nhân

động thể hiện cảm xúc

6 Nhanh chóng tìm ra cách thoát khỏi tâm trạng

trong hoạt động điều tra

7 Bình tĩnh, chủ động trước bất kỳ tình huống

tiêu cực của bản thân

điều tra xảy ra

Câu 2: Đồng chí cho biết mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dưới đây đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên?

TT

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

Mạnh

Yếu

MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG Trung bình

8

1 Yếu tố di truyền sinh học 2 Các thuộc tính tâm lý nhân cách 3 Giới tính, tuổi tác và thâm niên công tác 4 Môi trường làm việc 5 Giáo dục 6 Hoạt động và giao tiếp 7 Đối tượng tiếp xúc, điều tra của Điều tra viên Ý kiến khác:.................................................... ........................................................................... Câu 3: Đồng chí cho biết ý kiến của mình về sự cần thiết của các biện

pháp phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên?

Cần thiết

TT

CÁC BIỆN PHÁP

Rất cần thiết

Không cần thiết

1

2

3

4

5

Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức về trí tuệ cảm xúc gắn với bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp, lối sống lạc quan, tự tin cho điều tra viên Tổ chức thường xuyên các hoạt động bồi dưỡng kiến thức về trí tuệ cảm xúc nhằm nâng cao năng lực trí tuệ cảm xúc trong công việc cho điều tra viên Đa dạng hóa các hình thức rèn luyện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên thông qua các hoạt động thực tiễn nghề nghiệp Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng kiểm soát cảm xúc và kỹ năng đồng cảm cho điều tra viên Bồi dưỡng và khơi dậy tinh thần tự học, tự tu dưỡng, rèn luyện trong việc nâng cao trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên

6 Biện pháp khác: …………………….............

Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác của đồng chí!

232

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN CHUYÊN GIA

Thầy/ cô/ đồng chí kính mến Để giúp chúng tôi nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của điều tra viên ở Cục An ninh điều tra thuộc Bộ Công an, xin thầy/cô/ đồng chí cho biết một số vấn đề sau. Rất cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy/cô/ đồng chí.

1. Theo thầy/cô/ đồng chí trí tuệ cảm xúc là gì?

............................................................................................................................. .............................................................................................................................

2. Theo thầy/ cô/ đồng chí trí tuệ cảm xúc của điều tra viên có những

năng lực thành phần nào và biểu hiện của những thành tố này ra sao? ............................................................................................................................. .............................................................................................................................

3. Theo thầy cô những yếu tố nào ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của

điều tra viên ở Cục An ninh điều tra? ............................................................................................................................. .............................................................................................................................

4. Theo thầy/ cô/ đồng chí, để phát triển trí tuệ cảm xúc của điều tra

viên ở Cục An ninh điều tra thì cần phải thực hiện những biện pháp nào? ............................................................................................................................. .............................................................................................................................

Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của thầy/ cô/ đồng chí!

233

PHỤ LỤC 3 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN

Thời gian diễn ra: Ngày 8/6/2021

Địa điểm: P201 Cục ANĐT

Nội dung:

Câu hỏi 1: Trước đây, trong quá trình đi học; bố mẹ đồng chí quan tâm

đến việc học của đồng chí như thế nào?

Câu hỏi 2: Đồng chí cho biết, tình hình sức khỏe của các điều tra viên

trong đơn vị như thế nào? Theo đồng chí điều này có ảnh hưởng ra sao đến

hoạt động điều tra của các điều tra viên?

Câu hỏi 3: Trước đây, trong quá trình đi học; bố mẹ đồng chí quan tâm

đến việc học của đồng chí như thế nào?

Câu hỏi 4: Đồng chí cho biết các đối tượng mà điều tra viên thường

tiếp xúc trong hoạt động điều tra? Khi tiếp xúc với các đối tượng này điều tra

viên có sự thay đổi thế nào về cảm xúc?”

Câu hỏi 5: Đồng chí cho biết các điều tra viên ở trong phòng đồng chí

có kiểu khí chất như thế nào (linh hoạt, nóng nảy, trầm, ưu tư,...) và khí chất

này được thể hiện như nào trong quá trình hoạt động của điều tra viên đó với

đồng nghiệp, cũng như với các đối tượng, lực lượng có liên quan? Đồng chí

nhận thấy kiểu khí chất của điều tra viên có ảnh hưởng gì đến kết quả của

hoạt động điều tra hay không?

234

PHỤ LỤC 4 BIÊN BẢN QUAN SÁT

Thời gian bắt đầu quan sát: Nội dung quan sát: Quan sát hành vi ứng xử của điều tra viên với đồng nghiệp, lãnh đạo Kết quả quan sát: .............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

Thời gian kết thúc quan sát:

235

Phụ lục 5 MỘT SỐ KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG

Phụ lục 5.1. Tương quan 4 mặt với Trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

Descriptive Statistics

Mean

Std. Deviation

N

Tổng hợp Trí tuệ CX của

2.4658

.56287

255

ĐTV

Mean Nhận thức

2.4702

.56977

255

Mean Thấu hiểu

2.5298

.43035

255

Mean Vận dụng

2.4930

.40240

255

Mean Điều khiển

2.3702

.43035

255

Tổng hợp TTCX

Mean nhận thức Mean thấu hiểu

của ĐTV

Pearson Correlation

1

.800**

.746**

Tổng hợp TTCX của ĐTV

Sig. (2-tailed)

.000

.000

N

255

255

255

Pearson Correlation

1

.638**

Mean nhận thức

Sig. (2-tailed)

.800** .000

.000

N

255

255

255

Pearson Correlation

.746**

1

Mean thấu hiểu

Sig. (2-tailed)

.000

.638** .000

N

255

255

255

Pearson Correlation

.712**

.626**

.831**

Mean Vận dụng

Sig. (2-tailed)

.000

.000

.000

N

255

255

255

Mean Điều khiển

Pearson Correlation

.726**

.738**

.717 .000

Sig. (2-tailed)

.000

.000

N

255

255

255

Correlations

Mean vận dụng

.712

Pearson Correlation

.000

Tổng hợp TTCX của ĐTV

Sig. (2-tailed)

255

N

.626**

Pearson Correlation

.000

Sig. (2-tailed)

Mean nhận thức

255

N

.746**

Pearson Correlation

Mean thấu hiểu

.000

Sig. (2-tailed)

N

255

Pearson Correlation

.712**

.000

Sig. (2-tailed)

Mean vận dụng

N

255

Mean điều khiển

Pearson Correlation

.726**

Sig. (2-tailed)

.000

N

255

**. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).

236

Phụ lục 5.2. Tương quan 4 mặt với KQ hoàn thành nhiệm vụ

Descriptive Statistics

Mean

Std. Deviation

N

2.4702

.56977

255

Mean Nhận thức

2.5298

.43035

255

Mean Thấu hiểu

2.4930

.53977

255

Mean Vận dụng

2.3702

.40240

255

Mean Điều khiển

2.6386

.61831

255

Kết quả HTNV

Mean nhận thức Mean thấu hiểu Mean vận dụng Mean điều khiển

Pearson

1

.638**

.626**

.638**

Correlation

Mean nhận thức

Sig. (2-tailed)

.000

.000

.000

N

255

255

255

255

Pearson

.638**

1

.831**

1

Correlation

Mean thấu hiểu

Sig. (2-tailed)

.000

.000

N

255

255

255

255

Mean vận dụng

Pearson

.626**

.831**

1

.831**

Correlation

Mean điều khiển

Sig. (2-tailed)

.000

.000

.000

N

255

255

255

255

Pearson

.704**

.632**

.610**

.632**

Correlation

Kết quả HTNV

Sig. (2-tailed)

.000

.000

.000

.000

N

255

255

255

255

237

Correlations

Kết quả phân loại ĐTV

Pearson Correlation

.704

Mean nhận thức

Sig. (2-tailed)

.000

N

255

Pearson Correlation

.632**

Mean thấu hiểu

Sig. (2-tailed)

.000

N

255

Pearson Correlation

.610**

Mean vận dụng

Sig. (2-tailed)

.000

N

255

Pearson Correlation

.710**

Mean điều khiển

Sig. (2-tailed)

.000

N

255

Pearson Correlation

1**

Kết quả HTNV

Sig. (2-tailed)

N

255

**. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed). Phụ lục 5.3. Tương quan kết quả hoàn thành nhiệm vụ với trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

Descriptive Statistics

Mean

Std. Deviation

N

Kết quả phân loại ĐTV

2.6386

.61831

255

Tổng hợp TTCX của ĐTV

2.4658

.56287

255

Correlations

Kết quả phân loại

Tổng hợp TTCX

ĐTV

của ĐTV

Pearson Correlation

1

.819**

Kết quả HTNV của ĐTV

Sig. (2-tailed)

.000

N

255

255

Pearson Correlation

1

Tổng hợp TTCX của ĐTV

Sig. (2-tailed)

.819** .000

N

255

255

**. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).

238

Phụ lục 5.4. So sánh 4 biểu hiện của trí tuệ cảm xúc theo giới tính T-Test

Group Statistics

Giới tính

N

Mean

Std. Deviation Std. Error Mean

nam

141

2.2612

.58529

.05321

Mean nhận thức

nu

114

2.6244

.50702

.03959

nam

141

2.3521

.50466

.04588

Mean thấu hiểu

nu

114

2.6610

.30728

.02399

nam

141

2.4843

.48631

.04421

Mean vận dụng

nu

114

2.6732

.30459

.02378

nam

141

2.3521

.50466

.04588

Mean điều khiển

nu

114

2.6610

.30728

.02399

Independent Samples Test

Levene's Test for Equality of

t-test for

Variances

Equality of

Means

F

Sig.

t

35.137

.000

-5.596

Mean nhận thức

-5.477

Equal variances assumed Equal variances not assumed

73.340

.000

-6.397

Mean thấu hiểu

-5.967

Equal variances assumed Equal variances not assumed

21.551

.000

-4.020

Mean vận dụng

-3.762

Equal variances assumed Equal variances not assumed

71.340

.000

-6.197

Mean điều khiển

-5.567

Independent Samples Test

t-test for Equality of Means

df

Sig. (2-tailed)

Mean Difference

Equal variances assumed

253

.000

-.36323

Mean nhận thức

Equal variances not assumed

231.332

.000

-.36323

Equal variances assumed

253

.000

-.30891

Mean thấu hiểu

Equal variances not assumed

182.464

.000

-.30891

Equal variances assumed

253

.000

-.18887

Mean vận dụng

Equal variances not assumed

185.924

.000

-.18887

Equal variances assumed

172.464

.000

-.31891

Mean điều khiển

Equal variances not assumed

253

.000

-.17887

239

Independent Samples Test

t-test for Equality of Means

Std. Error

95% Confidence Interval of the

Difference

Difference

Lower

Upper

Equal variances assumed

.06491

-.49099

-.23547

Mean nhận thức

Equal variances not assumed

.06632

-.49389

-.23258

Equal variances assumed

.04829

-.40396

-.21385

Mean thấu hiểu

Equal variances not assumed

.05177

-.41105

-.20676

Equal variances assumed

.04699

-.28136

-.09639

Mean vận dụng

.05020

-.28791

-.08984

Equal variances not assumed Equal variances not assumed

.05829

-.42396

-.24385

Mean điều khiển

Equal variances not assumed

.06177

-.43105

-.22676

240

Phụ lục 5.5. So sánh 4 mặt của trí tuệ cảm với học vấn Means

Case Processing Summary

Cases

Included

Total

Excluded

N

Percent

N

Percent

N

Percent

Mean nhận thức * Trình độ

255

100.0%

0.0%

255

100.0%

0

học vấn

Mean thấu hiểu * Trình độ

255

100.0%

0.0%

255

100.0%

0

học vấn

Mean vận dụng * Trình độ

255

100.0%

0.0%

255

100.0%

0

học vấn

Mean điều khiển * Trình độ

255

100.0%

0.0%

255

100.0%

0

học vấn

Mean nhận thức Mean thấu hiểu Mean vận dụng Mean điều

Trình độ học vấn

khiển

Đại học

Sau đại học

Total

Mean N Std. Deviation Mean N Std. Deviation Mean N Std. Deviation

2.5600 155 .50662 2.7143 100 .48795 2.6702 255 .56977

2.3400 155 .48589 2.5286 100 .56452 2.4930 255 .40240

2.2400 155 .47589 2.4286 100 .58452 2.3930 255 .40240

2.2400 155 .43589 2.4286 100 .52452 2.1930 255 .40240

ANOVA Table

Sum of Squares

df

Between Groups

(Combined)

49.664

4

Mean nhận thức * Trình độ học vấn

Within Groups Total

42.532 92.196

250 254

Between Groups

(Combined)

15.828

4

Mean thấu hiểu * Trình độ học vấn

Within Groups Total

36.769 52.596

250 254

Between Groups

(Combined)

9.803

4

Mean vận dụng * Trình độ học vấn

Within Groups Total

36.183 45.986

250 254

Between Groups

(Combined)

15.828

Within Groups

36.769

250

Mean thấu hiểu * Trình độ học vấn

Total

52.596

254

241

ANOVA Table

Mean Square

F

Sig.

Between Groups

(Combined)

81.737

.000

Mean nhận thức* Trình độ

Within Groups

học vấn

12.416 .152

Total

Between Groups

(Combined)

30.133

.000

Mean thấu hiểu * Trình độ học

Within Groups

vấn

3.957 .131

Total

Between Groups

(Combined)

18.966

.000

Mean vận dụng * Trình độ học

Within Groups

vấn

2.451 .129

Total

Between Groups (Combined)

32.133

.000

Within Groups

Mean điều khiển * Trình độ học vấn

3.857 .131

Total

Phụ lục 5.6. Thống kê, so sánh trí tuệ cảm xúc với học vấn Means

Case Processing Summary

Cases

Included

Total

Excluded

N

Percent

N

Percent

N

Percent

Tổng hợp TTCX của ĐTV *

255

100.0%

0

0.0%

255

100.0%

Trình độ học vấn

Report

Tổng hợp TTCX của ĐTV

Trình độ học vấn

Mean

N

Std. Deviation

Đại học

2.5600

155

.50662

Sau đại học

2.7171

100

.37796

Total

2.6158

255

.56287

ANOVA Table

Sum of Squares

df

Between Groups

(Combined)

34.796

4

Tổng hợp TTCX của ĐTV *

Within Groups

55.183

250

Trình độ học vấn

Total

89.979

254

ANOVA Table

Mean Square

F

Sig.

Between Groups

(Combined)

44.140

.000

Tổng hợp TTCX của ĐTV *

Within Groups

Trình độ học vấn

8.699 .197

Total

242

Measures of Association

Eta

Eta Squared

Tổng hợp TTCX của ĐTV*

.522

.387

Trình độ học vấn Phụ lục 5.7: Tổng hợp thực trạng mức độ trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

Statistics

TBC

Nhận thức

Thấu hiểu

Vận dụng

Điều khiển

Valid

N

255

255

255

255

255

Missing

0

0

0

0

Mean

0 2.4658

2.4702

2.5298

2.4930

2.3702

Std. Error of Mean

.032

.034

.033

.033

.036

Median

2.00

2.00

2.00

2.00

2.00

Mode

2

2

2

2

2

Std. Deviation

.444

.453

.471

.441

.426

Variance

.512

.502

.559

.514

.514

Range

3

3

3

3

4

Minimum

1

1

1

1

1

Maximum

3

3

3

3

3

Percentiles 25

2.00

2.00

3.00

2.00

3.00

50

3.00

3.00

3.00

3.00

3.00

75

3.00

4.00

4.00

4.00

4.00

243

Phụ lục 5.8: Kết quả điều tra cụ thể Phụ lục 5.8.1: Biểu hiện năng lực nhận biết cảm xúc trong hoạt động điều tra của điều tra viên Frequencies

Statistics

Nhận biết mối quan hệ giữa ngôn ngữ và cảm xúc của đối tượng Nhận biết mối quan hệ giữa cảm xúc và hành vi của đối tượng

Nhận biết được cảm xúc phức hợp của đối tượng khi tham gia giao tiếp Nhận biết được sự chuyển đổi cảm xúc của đối tượng điều tra

Nhận biết được cảm xúc ưu trội của bản thân khi đối mặt với tình huống xảy ra

Valid 255 255 255 255 255 N Missing

Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum 0 2.6784 3.0000 .46800 2.00 3.00 0 2.4392 2.0000 .57098 1.00 3.00 0 2.6139 3.0000 .56470 1.00 3.00 0 2.4716 2.0000 .46800 2.00 3.00 0 2.3486 2.0000 .55893 1.00 3.00

Statistics

Nhận thức được cảm xúc của bản thân trong một tình huống điều tra

Đánh giá được trạng thái cảm xúc của đối tượng qua hành vi, điệu bộ, cử chỉ

N Valid Missing

255 0 2.4100 2.0000 .49086 2.00 3.00 255 0 2.3884 3.0000 .57381 1.00 3.00

Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum

244

Phụ lục 5.8.2: Biểu hiện năng lực thấu hiểu cảm xúc trong hoạt động điều tra của điều tra viên Frequencies

Statistics

Hiểu rõ cảm xúc của bản thân trong tình huống điều tra Hiểu rõ diễn biến cảm xúc của đối tượng trong tình huống điều tra Hiểu rõ tâm trạng phức hợp của đối tượng trong tình huống điều tra Hiểu rõ cảm xúc nào đang “xâm chiếm” đối tượng trong tình huống điều tra

Hiểu rõ cần phải điều khiển bản thân vào cảm xúc tích cực để nhìn nhận tình huống xảy ra dưới nhiều góc độ

N Valid Missing

255 0 2.4824 3.0000 .57394 1.00 3.00 255 0 2.5369 3.0000 .49773 2.00 3.00 255 0 2.6045 3.0000 .46948 2.00 3.00 255 0 2.4424 3.0000 .57394 1.00 3.00 255 0 2.5600 3.0000 .49086 2.00 3.00

Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum Phụ lục 5.8.3: Biểu hiện năng lực vận dụng cảm xúc trong hoạt động điều tra của điều tra viên Frequencies

Statistics

Biết huy động cảm xúc có lợi để bản thân suy nghĩ tích cực

Có kỹ năng giao tiếp, thuyết phục hiệu quả khiến đối tượng sẵn sàng chia sẻ, khai báo thành khẩn

Biết huy động cảm xúc có lợi cho việc xem xét sự việc một cách đa chiều Vận dụng kinh nghiệm đã có tìm ra cách giải quyết hiệu quả cho tình huống hiện tại

N Valid Missing

255 0 2.6431 3.0000 .36439 2.00 3.00 255 0 2.5337 3.0000 .57405 1.00 3.00 Có cách thức tác động hiệu quả đến người thân của đối tượng tạo thuận lợi cho điều tra 255 0 2.5764 3.0000 .50929 1.00 3.00 255 0 2.5569 3.0000 .52092 1.00 3.00 255 0 2.3892 2.0000 .64725 1.00 3.00

Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum

245

Statistics

Biết tìm ra phương tiện để giải tỏa cảm xúc tiêu cực của bản thân

Biết huy động cảm xúc có lợi cho việc tìm ra biện pháp giải quyết mâu thuẫn có hiệu quả

Valid 255 255 N Missing

Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum 0 2.3118 2.0000 .57014 1.00 3.00 0 2.4671 3.0000 .62189 1.00 3.00

Phụ lục 5.8.4: Biểu hiện năng lực điều khiển cảm xúc trong hoạt động điều tra của điều tra viên Frequencies

Statistics

Biết cách lây lan cảm xúc tích cực của bản thân đến đối tượng Trong các tình huống điều tra có thể chủ động thể hiện cảm xúc Có thể gạt bỏ cảm xúc bất lợi của cá nhân trong quá trình điểu tra Điều chỉnh cảm xúc bản thân theo hướng tích cực trong các tình huống điều tra Giúp đỡ, hướng dẫn có hiệu quả đối tượng điều tra thoát khỏi suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực

Valid 255 255 255 255 255 N Missing

Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum 0 2.3255 2.0000 .55410 1.00 3.00 0 2.4684 3.0000 .57381 1.00 3.00 0 2.0784 2.0000 .44911 2.00 3.00 0 2.2745 2.0000 .39477 1.00 3.00 0 2.5600 3.0000 .40079 2.00 3.00

246

Statistics Nhanh chóng tìm ra cách để thoát khỏi tâm trạng tiêu cực Bình tĩnh và chủ động trước bất cứ tình huống điều tra nào đó xảy ra

N Valid Missing

255 0 2.4331 2.0000 .57138 1.00 3.00 255 0 2.5039 3.0000 .56470 1.00 3.00

Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum Phụ lục 5.8.5: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên Frequencies

Statistics

Môi trường làm việc Giáo dục

Yếu tố di truyền, sinh học Các thuộc tính tâm lý nhân cách

Giới tính, tuổi tác và thâm niên công tác

N 255 0 Valid Missing

255 0 2.7176 3.0000 .45103 2.00 3.00 255 0 2.8000 3.0000 .40079 2.00 3.00 255 0 2.7255 3.0000 .44714 2.00 3.00 255 0 2.4824 2.8431 2.0000 3.0000 .36439 .50067 2.00 2.00 3.00 3.00

Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum

Statistics

Hoạt động thực tiễn và giao tiếp Đối tượng tiếp xúc, điều tra

N Valid Missing

255 0 2.8431 3.0000 .36439 2.00 3.00 255 0 2.6784 3.0000 .46800 2.00 3.00 Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum

247

Frequency Table

Yếu tố di truyền, sinh học

Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent

Valid 28.2 100.0

trung bình mạnh Total 72 183 255 28.2 71.8 100.0 28.2 71.8 100.0

Các thuộc tính tâm lý nhân cách Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent

Valid 20.0 100.0

trung bình mạnh Total 51 204 255 20.0 80.0 100.0 20.0 80.0 100.0

Giới tính, tuổi tác và thâm niên công tác

Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent

Valid 27.5 100.0

trung bình mạnh Total 70 185 255 27.5 72.5 100.0 27.5 72.5 100.0

Môi trường làm việc Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent

Valid 51.8 100.0

trung bình mạnh Total 132 123 255 51.8 48.2 100.0 51.8 48.2 100.0

Giáo dục

Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent

Valid 15.7 100.0

trung bình mạnh Total 40 215 255 15.7 84.3 100.0 15.7 84.3 100.0

248

Hoạt động thực tiễn và giao tiếp Percent Valid Percent Frequenc y Cumulative Percent

Valid 15.7 100.0

trung bình mạnh Total 40 215 255 15.7 84.3 100.0 15.7 84.3 100.0

Đối tượng tiếp xúc, điều tra

Frequenc y Percent Valid Percent Cumulative Percent

Valid 32.2 100.0

trung bình mạnh Total 82 173 255 32.2 67.8 100.0 32.2 67.8 100.0

Phụ lục 5.8.6: Sự cần thiết của các biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc cho điều tra viên Frequencies

Statistics

Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng kiểm soát cảm xúc

Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức về trí tuệ cảm xúc Bồi dưỡng và khơi dậy tinh thần tự học, tự tu dưỡng, rèn luyện

Đa dạng hóa các hình thức rèn luyện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

Tổ chức thường xuyên các hoạt động bồi dưỡng kiến thức về trí tuệ cảm xúc

N Valid Missing

255 0 2.5176 3.0000 .50067 2.00 3.00 255 0 2.5137 3.0000 .50079 2.00 3.00 255 0 2.7216 3.0000 .44911 2.00 3.00 255 0 2.2824 2.0000 .45103 2.00 3.00 255 0 2.4431 2.0000 .49773 2.00 3.00

Mean Median Std. Deviation Minimum Maximum

249

Frequency Table

Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức về trí tuệ cảm xúc Cumulative Percent Frequency Percent Valid Percent

Valid 48.2 100.0

cần thiết rất cần thiết Total 123 132 255 48.2 51.8 100.0 48.2 51.8 100.0

Tổ chức thường xuyên các hoạt động bồi dưỡng kiến thức về trí tuệ cảm xúc

Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent

Valid 48.6 100.0

cần thiết rất cần thiết Total 124 131 255 48.6 51.4 100.0 48.6 51.4 100.0

Đa dạng hóa các hình thức rèn luyện trí tuệ cảm xúc của điều tra viên

Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent

Valid 27.8 100.0

cần thiết rất cần thiết Total 71 184 255 27.8 72.2 100.0 27.8 72.2 100.0

Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng kiểm soát cảm xúc

Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent

Valid 71.8 100.0

cần thiết rất cần thiết Total 71.8 28.2 100.0 71.8 28.2 100.0

183 72 255 Bồi dưỡng và khơi dậy tinh thần tự học, tự tu dưỡng, rèn luyện

Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent

Valid 55.7 100.0

cần thiết rất cần thiết Total 142 113 255 55.7 44.3 100.0 55.7 44.3 100.0