BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngô Bích Phượng
CA DAO NAM BỘ
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA PHONG TỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngô Bích Phượng
CA DAO NAM BỘ
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA PHONG TỤC
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã ngành
: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong luận văn là trung thực, các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất
xứ rõ ràng. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của
mình.
TP. Tây Ninh, ngày 28 tháng 9 năm 2019
Tác giả
Ngô Bích Phượng
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
hướng dẫn tận tình, theo dõi sát sao, đầy tinh thần trách nhiệm của PGS. TS
Nguyễn Thị Ngọc Điệp. Tôi xin bày tỏ lòng tri ân và kính chúc cô sức khỏe.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ của Thư viện Trường Đại học Sư
phạm TP. Hồ Chí Minh, thư viện tỉnh Bình Dương, thư viện tỉnh Tây Ninh đã
hỗ trợ tận tình trong việc tìm kiếm tư liệu nghiên cứu.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư
phạm TP. Hồ Chí Minh, quý thầy cô trong khoa Ngữ văn đã tạo môi trường
và điều kiện học tập tốt để học viên hoàn thành khóa học.
Trân trọng cảm ơn gia đình, quý bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ủng hộ
tôi hoàn thiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
TP. Tây Ninh, ngày 28 tháng 9 năm 2019
Tác giả
Ngô Bích Phượng
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt, ký hiệu
Danh mục các bảng
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
Chương 1. CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
PHONG TỤC – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ........................ 11
1.1. Sơ lược về đất và người Nam Bộ ............................................................. 11
1.2. Khái lược về văn hóa phong tục ............................................................... 18
1.3. Vài nét về ca dao Nam Bộ ........................................................................ 20
1.4. Tình hình nguồn tư liệu tác phẩm được khảo sát ..................................... 25
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 31
Chương 2. CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN PHONG TỤC
GẮN VỚI VÒNG ĐỜI CON NGƯỜI ..................................... 32
2.1. Phong tục hôn nhân .................................................................................. 32
2.1.1. Lễ dạm ngõ ........................................................................................ 33
2.1.2. Lễ hỏi ................................................................................................. 41
2.1.3. Lễ cưới ............................................................................................... 53
2.2. Phong tục tang ma .................................................................................... 59
2.2.1. An táng .............................................................................................. 61
2.2.2. Tang chế ............................................................................................ 65
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 70
Chương 3. CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN PHONG TỤC
GẮN VỚI TÍN NGƯỠNG ........................................................ 71
3.1. Phong tục thờ cúng đa thần ...................................................................... 71
3.1.1. Phong tục thờ Trời, Phật ................................................................. 72
3.1.2. Phong tục thờ Thần ......................................................................... 79
3.1.3. Phong tục thờ Mẫu và Quan Công .................................................. 87
3.2. Phong tục thờ cúng người thân trong gia đình ......................................... 92
3.2.1. Thờ cúng tổ tiên, cha mẹ ................................................................. 93
3.2.2. Thờ cúng người thân khác ............................................................... 99
Tiểu kết chương 3 ........................................................................................ 102
KẾT LUẬN ................................................................................................... 103
CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ............................................. 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 107
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
Viết tắt, kí hiệu
Viết đầy đủ
Nxb
Nhà xuất bản
PL
Phụ lục
tr
Trang
VHDG
Văn học dân gian
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Thống kê nguồn tư liệu về ca dao dân gian Nam Bộ ...................... 28
Bảng 1.2. Thống kê ca dao dân gian Nam Bộ theo phong tục ........................ 30
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Khám phá vẻ đẹp của văn chương không chỉ là quá trình đi tìm cái hay
của ngôn từ mà còn là khơi dậy sức sống của cả một nền văn hóa dân tộc. Văn
học nói chung và văn học dân gian nói riêng là “kho báu” chứa đựng những
giá trị tinh thần tốt đẹp của cả cộng đồng, biểu hiện qua những lối sống,
phong tục, tập quán, nếp nhà... Từ góc nhìn văn hóa phong tục, chúng tôi soi
vào tác phẩm văn học dân gian để đi tìm tính cách, tâm hồn của ông cha thuở
trước. Hành trình khám phá văn hóa phong tục trong văn học là một hành
trình thưởng lãm “cái ngon ngoài cả vị ngon, cái đẹp ngoài cả sắc đẹp” (Dẫn
theo SGK Ngữ văn 10, 2018).
Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu rõ nhất tâm hồn dân tộc.
Trong tất cả các thể loại của văn học dân gian, ca dao biểu hiện rõ nhất điệu
hồn dân tộc, đời sống sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người. Trong đó,
ca dao đã ngân vang biết bao cung bậc tâm trạng của con người trong các mối
quan hệ đời sống. A. N. Ghersen đã diễn đạt một cách biểu cảm “Trong các
bài hát dân gian người ta nhận thấy sự diễn đạt sáng rõ nhất tất cả những
khởi đầu của thơ ca, cuộc du ngoạn trong tâm hồn nhân dân” (Dẫn theo Vũ
Anh Tuấn, 2015).
Ca dao Nam Bộ đã góp phần diễn tả thế giới tinh thần phong phú của
người dân vùng đất phương Nam. Thể loại văn học này đã góp phần làm đầy
hơn vẻ đẹp văn hóa của một miền đất mới. Là một bộ phận của ca dao Việt
Nam, ca dao Nam Bộ đã góp phần biểu hiện những cung bậc trữ tình của đời
sống dân tộc. Những giai điệu ngọt ngào lan tỏa theo dòng chảy thời gian,
chuyên chở những tâm tư tình cảm, những khát vọng cao đẹp của con người,
cùng truyền thống của vùng văn hóa trẻ.
Cũng vì sự hấp dẫn và sức sống mãnh liệt, ca dao Việt Nam trở thành
nguồn tài sản quý thu hút các nhà nghiên cứu, rất nhiều công trình nghiên cứu
2
có chiều sâu về vẻ đẹp của thể loại này. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công
trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa phong tục trong ca dao nói chung,
trong ca dao Nam Bộ nói riêng. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Ca dao Nam
Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục” để góp phần làm rõ thêm một cái nhìn,
một cách tiếp cận về giá trị của thể loại văn học dân gian này.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Những công trình sưu tầm ca dao Nam Bộ
Ca dao Nam Bộ có sức hấp dẫn với nhiều nhà nghiên cứu văn hóa –
văn học, vì vậy, đã có nhiều công trình sưu tầm như:
Ca dao Đồng Tháp Mười (Đỗ Văn Tân), xuất bản năm 1984, Nxb. Sở
VH – TT Đồng Tháp; Kiên Giang qua ca dao (Giang Minh Đoán), xuất bản
năm 1997, Nxb. Tp.HCM; Văn học dân gian Đồng Bằng sông Cửu Long
(trường Đại học Cần Thơ), xuất bản năm 1997, Nxb. Giáo dục; Ca dao – Dân
ca Nam kỳ lục tỉnh (Huỳnh Ngọc Trảng), xuất bản năm 1998, Nxb Đồng Nai;
Văn học dân gian Bạc Liêu (Chu Xuân Diên), xuất bản năm 2011, Nxb. Đại
học Quốc gia Hà Nội; Văn học dân gian Sóc Trăng (Chu Xuân Diên), xuất
bản năm 2011, Nxb. Văn hóa – Thông tin; Văn học dân gian Bến Tre
(Nguyễn Ngọc Quang), xuất bản năm 2015, Nxb. Giáo dục; Văn học dân gian
An Giang (tập 3) (Nguyễn Ngọc Quang), xuất bản năm 2015, Nxb. Giáo dục.
Đây là những công trình sưu tầm có đóng góp lớn đến việc lưu giữ “kho báu”
tinh thần của dân gian. Nguồn tư liệu điền dã phong phú này đã được tác giả
sắp hệ thống theo chủ đề: tình yêu quê hương, đất nước; tình yêu đôi lứa; tình
cảm gia đình; các mối quan hệ xã hội khác. Đây là cơ sở ngữ liệu quan trọng
để chúng tôi chọn lọc những bài ca dao có phản ánh văn hóa phong tục phục
vụ cho mục đích nghiên cứu.
3
2.2. Những công trình nghiên cứu ca dao Nam Bộ
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi không chỉ nghiên cứu những công
trình về ca dao nói chung mà còn đi vào tìm hiểu công trình nghiên cứu ca
dao của từng địa phương vùng Nam Bộ.
Ca dao dân ca Nam Bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần
Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, xuất bản 1984, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.
Công trình này gồm hai phần: phần đầu tác giả khái quát những nét chính về
nội dung và nghệ thuật của ca dao Nam Bộ, phần sau là công trình sưu tầm ca
dao Nam Bộ. Đây là công trình vừa có ý nghĩa phương pháp luận cho việc
nghiên cứu tổng thể về ca dao Nam Bộ vừa là thành quả của sự lao động
nghiêm túc trong quá trình sưu tầm điền dã, tổng hợp ca dao Nam Bộ. Công
trình của tập thể tác giả này là nguồn tài liệu chính để chúng tôi kế thừa triển
khai luận văn.
Tìm hiểu văn hóa Vĩnh Long (1732 – 2000) xuất bản năm 2003, Nxb.
Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh là đề tài nghiên cứu tìm hiểu quá trình hình thành
văn hóa tỉnh Vĩnh Long từ năm 1732 đến năm 2000 của Ban tuyên giáo tỉnh
Vĩnh Long. Nội dung được chia làm hai phần. Phần một giới thiệu khái quát
đất và người Vĩnh Long. Phần 2, các tác giả đã dành 30 trang để khảo sát thể
loại ca dao, dân ca Vĩnh Long, chú trọng đến những bài ca dao phản ánh tên
đất, tên người cùng vẻ đẹp của non sông và thắng tích địa phương. Tác giả
cho rằng “Những lời thơ trữ tình, đằm thắm, ngọt ngào là những bài học đầu
đời về tình yêu đất nước và con người” (Nguyễn Chiến Thắng, 2003).
Miền Nam và văn học dân gian địa phương trong bộ Văn học miền Nam
lục tỉnh (Tập 1) của Nguyễn Văn Hầu xuất bản năm 2012, Nxb. Trẻ Tp. Hồ
Chí Minh là một trong các tài liệu quý và hiếm khi nghiên cứu riêng về văn
học dân gian Nam Bộ. Bức tranh miền Nam từ ngày đầu mở cõi cũng như
diện mạo của văn học dân gian nơi đây đã được trình bày cô đọng, súc tích
trong tập sách này. Cùng với các thể loại văn học dân gian, tác giả cung cấp
4
một số cách nhìn nhận, đánh giá sơ lược về chủ đề, phương pháp, nghệ thuật
ca dao Nam Bộ. Đây là kiến thức nền tảng, định hướng cho chúng tôi khi
nghiên cứu và triển khai luận văn.
Luận văn Thạc sĩ Khảo sát ca dao – dân ca Bến Tre của Đặng Thị Thùy
Dương – Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh – năm 2009 và Đặc điểm ca dao
Đồng Tháp của Trần Thị Thúy Hằng – Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh –
năm 2018 đã góp phần làm rõ điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm nội
dung, nghệ thuật của ca dao mỗi địa phương. Phần phụ lục của hai luận văn
có nguồn tư liệu điền dã được tổng hợp, sắp xếp khá công phu. Những công
trình này đã giúp chúng tôi hiểu thêm những đặc trưng của vùng đất và con
người kiến tạo nên nền văn hóa Nam Bộ.
2.3. Những công trình nghiên cứu ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa
Đào Văn Hội trong Phong tục miền Nam qua mấy vần ca dao đã phân
chia ca dao thành sáu mục: tả cảnh, tu thân, tình gia tộc, phong tục thôn quê,
ngoài xã hội và những câu hát vặt. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu
phong tục miền Nam trong ca dao. Tác giả cho rằng ca dao là “tấm gương
trong sáng phản ánh cả phong tục của giống nòi”, “là tiếng gọi của dân quê,
linh hồn của dân tộc, không có thứ văn chương nào hơn được” (Đào Văn
Hội, 1961).
Năm 2004, Lê Anh Dũng trong bài viết “Văn hóa dân gian phản ánh
tín ngưỡng
tổng hợp
của người Việt” đăng
trên
trang web
http://www.nhipcaugiaoly.com đã trình bày một cách khái quát về dấu ấn của
Lão giáo, Nho giáo và Phật giáo cùng tín ngưỡng thờ Trời của người Việt đã
đi vào kho tàng văn học dân gian Việt Nam trong đó có ca dao. Điều đó cho
thấy tinh thần bình đẳng trước mọi tôn giáo và khả năng tiếp biến, chuyển hóa
Tam giáo cho phù hợp với văn hóa bản địa thành tín ngưỡng tổng hợp, tạo
thành nét văn hóa truyền thống của người Việt.
5
Trên website: http://www.vusta.vn/vi/news/, Phan Thị Phượng (2010)
trong bài viết “Bàn về một khía cạnh tâm linh trong ca dao người Việt” đã
cung cấp một cách khái quát về những giá trị tâm linh thiết thực được in dấu
trong ca dao người Việt: “Ca dao cũng là một kho tàng lưu giữ những tín
ngưỡng của người Việt từ xa xưa rất phong phú, không những thế nó còn là
pho sách khái quát được cả một vấn đề lớn của xã hội”. Trên cơ sở đó, tác giả
đã làm rõ tín ngưỡng thờ cúng trong ca dao người Việt.
Trong luận văn thạc sĩ Văn hóa người Việt qua ca dao Nam Bộ –
trường Đại học Cần Thơ – năm 2010, Cao Minh Liễu đã phân tích biểu hiện
của văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần trong ca dao Nam Bộ cụ thể qua các
phương diện: sinh hoạt đi lại – phương tiện giao thông; sinh hoạt lao động sản
xuất; sinh hoạt ăn, mặc, ở; phong tục tập quán; tín ngưỡng; tôn giáo; lễ hội và
diễn xướng dân gian; tính cách người Nam Bộ. Đó là những kiến thức quí báu
để chúng tôi kế thừa khi triển khai luận văn.
Qua bài viết Sự hợp dung văn hóa trong ca dao Việt Nam in trong tạp
chí khoa học ĐHSP TP. Hồ Chí Minh số 32 năm 2011, Đoàn Thị Thu Vân đã
phân tích sự linh hoạt và dung hòa trong văn hóa ứng xử của người Việt được
thể hiện qua ca dao. Từ đó, tác giả nhấn mạnh: “Ca dao Việt Nam đã thể hiện
một tinh thần hợp dung văn hóa rộng rãi và cởi mở”.
Trong bài viết “Đạo trời và tín ngưỡng dân gian qua ca dao” in trên
tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 360 tháng 6 năm 2014, tác giả Nguyễn Thị
Kim Ngân đã khẳng định ca dao phản ánh một cõi thiêng liêng, là nơi tín
ngưỡng dân gian tồn tại và thể hiện bộ mặt sinh hoạt văn hóa của người Việt.
Tác giả cho rằng hình ảnh ông Trời trong ca dao là một đấng thiêng liêng mà
người dân tôn kính và cầu xin và khẳng định rằng: “Ca dao không phải chỉ là
giá trị văn hóa trực tiếp nảy sinh từ những nghi thức tín ngưỡng mà khúc hát
tình gắn với đời sống sản xuất và sinh hoạt của người nông dân”.
6
Nguyễn Thanh Trang trong luận văn Văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn
nhân trong ca dao người Việt – trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
– năm 2014 đã tìm hiểu văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao
Việt. Từ đó, tác giả khẳng định sự bền vững của bản sắc văn hóa dân tộc và
đưa ra cái nhìn đúng đắn về tình yêu, hôn nhân trong cuộc sống hiện đại.
Văn hóa dân gian về tình yêu đôi lứa trong ca dao người Việt của
Nguyễn Nghĩa Dân xuất bản năm 2015, Nxb. Khoa học Xã hội. Đây là công
trình nghiên cứu, sưu tầm ca dao Việt Nam. Ở phần đầu, sau khi đưa ra các
khái niệm văn hóa, văn hóa dân tộc, văn hóa dân gian, định nghĩa ca dao, dân
ca, ca dao trữ tình, tác giả đi sâu vào tìm hiểu vấn đề văn hóa dân gian về tình
yêu lứa đôi được biểu hiện trong ca dao người Việt. Đặc biệt, tác giả còn so
sánh để tìm hiểu sự khác biệt của văn hóa dân gian về tình yêu, hôn nhân và
vợ chồng trong hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
và rút ra kết luận: “Ở Nam Bộ, tinh thần dân chủ, bình đẳng trong tự do yêu
đương, hôn nhân, vợ chồng giữa đôi trai gái rõ nét hơn ở Bắc Bộ và Trung
Bộ” (Nguyễn Nghĩa Dân, 2015). Ở phần sau, tác giả đã tuyển chọn và xếp
theo vần chữ cái tiếng Việt. Điểm đặc biệt ở phần tuyển chọn có chú thích đầy
đủ những điển tích, điển cố hoặc từ ngữ khó hiểu, đồng thời đưa ra những
bình luận sắc sảo. Đây là công trình bổ ích, định hướng cho chúng tôi tìm
hiểu phong tục hôn nhân được biểu hiện qua ca dao Nam Bộ.
Năm 2015, Đoàn Thị Thùy Hương trong luận văn thạc sĩ Yếu tố sông
nước trong văn học dân gian Nam Bộ (trường hợp ca dao) – trường Đại học
Trà Vinh – đã đưa ra cái nhìn khái quát về biểu hiện của văn hóa sông nước
trong đời sống vật chất và tinh thần của người Nam Bộ qua ca dao.
Trong luận văn Ứng xử của vợ chồng người Việt qua ca dao tục ngữ
Nam Bộ – trường Đại học Trà Vinh – năm 2015, Lê Kim Chiêu đã nghiên cứu
văn hóa ứng xử trong gia đình người Việt qua ca dao, tục ngữ Nam Bộ. Việc
7
khảo sát giúp chúng tôi thấy được tính chất dân chủ, bình đẳng, khoan hòa
trong cách ứng xử của con người đất phương Nam.
Tín ngưỡng dân gian của người Việt xuất bản năm 2017 của nhà xuất
bản Văn hóa – Nghệ thuật có bài viết “Tín ngưỡng thờ ông Thiên và tính cách
người Việt” (khảo sát qua ca dao – dân ca, tục ngữ miền Tây) của Trần Minh
Thương. Bài viết đã khẳng định sức sống mãnh liệt của niềm tin thiêng liêng
này trong đời sống tinh thần của người Nam Bộ xưa.
Qua những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi thấy rằng các tác giả
đã tìm hiểu cả chiều rộng và chiều sâu, có cái nhìn hệ thống về văn hóa được
biểu hiện trong ca dao. Tuy nhiên vấn đề văn hóa phong tục của ca dao vẫn
còn nhiều khoảng trống. Cho nên khi triển khai đề tài “Ca dao Nam Bộ từ góc
nhìn văn hóa phong tục”, chúng tôi vừa kế thừa kiến thức quý giá của người
đi trước vừa tiếp tục khơi sâu tìm hiểu giá trị của văn hóa phong tục trong ca
dao người Việt ở Nam Bộ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Về ca dao Nam Bộ có rất nhiều vấn đề đáng quan tâm, tuy nhiên, trong
giới hạn về thời gian nghiên cứu, người viết chỉ tiến hành khảo sát, phân tích
biểu hiện văn hóa phong tục trong ca dao của người Việt ở Nam Bộ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu ca dao Nam Bộ trong các tuyển tập:
Ca dao dân ca Nam Bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần
Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, xuất bản 1984, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.
Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường do Lê Trí Viễn biên soạn, xuất bản
năm 1994, Nxb. Giáo dục.
Văn học dân gian Đồng Bằng sông Cửu Long của trường Đại học Cần
Thơ, xuất bản năm 1997.
8
Ca dao, hò, vè Vĩnh Long do Nguyễn Chiến Thắng (chủ biên), xuất bản
năm 2005, Nxb. Trẻ.
Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục Tỉnh do Huỳnh Ngọc Trảng biên soạn, xuất
bản năm 2006, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai.
Văn học dân gian Bạc Liêu do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản năm
2011, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
Văn học dân gian Sóc Trăng do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản
năm 2011, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.
Văn học Miền Nam Lục Tỉnh tập 1 do Nguyễn Văn Hầu biên soạn, xuất
bản năm 2012, Nxb Trẻ.
Văn học dân gian Bến Tre do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên), xuất bản
năm 2015, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
Văn học dân gian An Giang (tập 3) do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên),
xuất bản năm 2015, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
Luận văn Khảo sát ca dao – dân ca Bến Tre của Đặng Thị Thùy Dương,
năm 2009, trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
4. Đóng góp của đề tài
Phần lớn các công trình nghiên cứu ca dao chủ yếu được tiếp cận từ
phương diện ngôn ngữ học, thi pháp học, văn hóa học nhưng chưa có nhiều
công trình khám phá vẻ đẹp của văn hóa phong tục ẩn tàng trong thể loại này.
Vì thế, xuất phát từ mục đích nghiên cứu “Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn văn
hóa phong tục”, chúng tôi đi sâu phân tích các phương diện như phong tục
gắn với vòng đời con người, phong tục gắn với tín ngưỡng. Hy vọng những
đóng góp của luận văn sẽ góp phần làm rõ hơn nét văn hóa phong tục độc đáo
trong đời sống của đất và người Nam Bộ qua thể loại này. Từ đó, khẳng định
giá trị của ca dao Nam Bộ trong diện mạo chung của văn học dân gian Việt
Nam.
9
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau đây:
Phương pháp hệ thống: đặt ca dao Nam Bộ trong hệ thống thể loại
văn học dân gian Việt Nam nói chung để phát hiện điểm mới, nét đặc sắc của
thể loại này. Trên cơ sở đó, chúng tôi có cái nhìn hệ thống, toàn diện và tìm ra
được nhiều điều thú vị liên quan đến truyền thống văn hóa dân tộc.
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: sử dụng kết quả nghiên cứu của
các ngành văn hóa học, dân tộc học, nhân học văn hóa… để khám phá các
phong tục ẩn tàng trong ca dao. Từ đó, cảm nhận sâu sắc hơn đời sống tinh
thần dân gian.
Phương pháp loại hình: ca dao là một thể loại có ở nhiều vùng miền
trong hệ thống tổng thể các thể loại văn học dân gian. Khi nghiên cứu ca dao
Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục, người viết chú ý đến dấu ấn văn hóa
vùng miền trong ca dao để tìm ra điểm gặp gỡ cũng như khác biệt so với các
thể loại văn học dân gian khác như tục ngữ, truyện dân gian.
Phương pháp thống kê: sử dụng kết quả thống kê nhằm có số liệu
khách quan, chính xác, tạo lập nên cơ sở nghiên cứu ban đầu về ca dao Nam
Bộ để có những kết luận khoa học, tránh sự võ đoán.
Bên cạnh đó, chúng tôi vận dụng thao tác phân tích, bình luận, tổng
hợp để minh họa cho những lí lẽ, diễn giải, lập luận của cá nhân trên cơ sở
khai thác phân tích các dẫn chứng trích từ những công trình sưu tầm, biên
soạn ca dao Nam Bộ.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung chính
của luận văn gồm ba chương:
Chương 1. Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục – những vấn
đề chung.
10
Trong chương 1, luận văn đề cập một số vấn đề có tính chất khái quát
về vùng văn hóa phong tục Nam Bộ và ca dao. Sau khi giới thiệu về lịch sử
hình thành mảnh đất Nam Bộ, những nét tính cách đặc trưng của con người
Nam Bộ, chúng tôi tổng thuật các cách giới thuyết về văn hóa phong tục, khái
niệm ca dao Việt Nam và đưa ra kết luận vài nét về cách tiếp cận ca dao
người Việt ở Nam Bộ. Đồng thời, chúng tôi cũng điểm qua nguồn tư liệu để
khảo sát, phục vụ nghiên cứu.
Chương 2. Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn phong tục gắn với vòng đời con người
Chương này tập trung khai thác ca dao Nam Bộ ở các phương diện phong
tục vòng đời con người như hôn nhân và tang ma. Thông qua việc thống kê,
chọn lựa, khảo sát nguồn tư liệu, chúng tôi có thể rút ra kết luận bước đầu về
dấu ấn phong tục gắn với vòng đời con người trong ca dao Nam Bộ.
Chương 3. Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn phong tục gắn với tín ngưỡng
Nhiệm vụ của chương này là khảo sát ca dao, từ đó mô tả, phân tích, phát
hiện vẻ đẹp đời sống tín ngưỡng của người Việt qua thể loại văn học này trên
các góc nhìn phong tục thờ cúng đa thần và phong tục thờ cúng người thân
trong gia đình.
Ngoài ra, luận văn còn có phần phụ lục tổng hợp ca dao Nam Bộ từ các
nguồn tư liệu để khảo sát phân tích nhằm có cái nhìn hệ thống, sâu sắc vấn đề
mà đề tài nghiên cứu đặt ra.
11
Chương 1
CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA PHONG TỤC
– NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Sơ lược về đất và người Nam Bộ
1.1.1. Lịch sử hình thành đất Nam Bộ
Nam Bộ là nơi lưu dấu những bước chân cuối cùng của tiền nhân trong
dặm trường bôn ba, mở rộng và xác lập lãnh thổ của người Việt về phía nam
của tổ quốc. Nam Bộ là vùng đất thiêng liêng, có vị trí quan trọng trong quá
trình phát triển của đất nước ta. Một khu vực có tiềm năng về kinh tế, vững về
chính trị cũng như thấm đượm tình yêu thương giữa những người con miền
sông nước. Nhưng trước khi Nam Bộ hội tụ lại để dệt nên bức họa đồ Việt
Nam hình chữ S, vùng đất này đã trải qua ba thời kỳ lịch sử lớn: Vùng đất
Nam Bộ dưới thời Phù Nam; Vùng đất Nam Bộ dưới thời Chân Lạp và Vùng
đất Nam Bộ của Việt Nam.
Các nhà khoa học đã khẳng định rằng nước Phù Nam đã xuất hiện vào
khoảng đầu Công nguyên, với trung tâm là vùng đất Nam Bộ Việt Nam hiện
nay. Trong thời kì hưng thịnh, nước Phù Nam phát triển thành một đế chế
gồm: toàn bộ phần phía nam bán đảo Đông Dương (Nam Bộ Việt Nam,
Campuchia, một phần nam Lào), một phần Thái Lan và bán đảo Malacca,
trung tâm vẫn là vùng Nam Bộ Việt Nam – một khu vực phát triển nhanh vào
lúc bấy giờ, cư dân chủ thể này là nhóm người Mã Lai – Đa Đảo ven biển.
Những ngư dân với truyền thống về hàng hải cùng nguồn kinh nghiệm tích
lũy lâu dài và tài nghệ trong làm thủy lợi, khai phá và canh tác ở đồng bằng
trũng thấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho thương nghiệp phát triển cải thiện
cuộc sống ổn định.
Đến giai đoạn vào cuối thế kỷ VI, Đế chế Phù Nam hưng thịnh đã bắt
đầu quá trình suy yếu. Lợi dụng cơ hội này, một thuộc quốc của Phù Nam –
12
Chân Lạp, do người Khmer xây dựng, vào đầu thế kỷ VII đã đánh chiếm một
phần lãnh thổ của Phù Nam ở vùng hạ lưu sông MeKong – vùng Nam Bộ
Việt Nam. Đây một bước ngoặt mới trong lịch sử hình thành vùng đất Nam
Bộ. Vùng đất Nam Bộ sau 627 năm từng là vùng đất thuộc Phù Nam, nay lại
bị phụ thuộc vào Chân Lạp và được đổi tên thành Thuỷ Chân Lạp để phân
biệt với vùng đất Lục Chân Lạp – vùng đất gốc của nước Chân Lạp.
Với truyền thống quen khai thác các vùng đất cao nhưng với dân số ít,
người Khmer khi đó không có khả năng tổ chức khai thác vùng đồng bằng
rộng lớn mới bồi lấp, còn ngập nước và sình lầy. Song song đó, việc khai
khẩn đất đai trên vùng đất gốc – Lục Chân Lạp đang đòi hỏi rất nhiều thời
gian và sức lực. Việc cai quản vùng đất Lục Chân Lạp trên thực tế gặp rất
nhiều khó khăn. Càng khó khăn hơn khi quân đội nước Srivijaya2 của người
Java liên tục tấn công và lấn chiếm Thủy Chân Lạp vào nửa sau thế kỷ VIII.
Chính điều này đã làm cho cả vương quốc Chân Lạp gần như lệ thuộc hoàn
toàn vào Srivijaya2.
Khó khăn chồng chất khó khăn, khi mà tình trạng chiến tranh giữa
Chân Lạp và Chămpa diễn ra thường xuyên làm cho việc cai quản và khai phá
vùng Thủy Chân Lạp lại càng gặp nhiều trở ngại. Chân Lạp lúc này chỉ dồn
sức phát triển ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mekong và mở rộng ảnh
hưởng sang phía Tây. Từ thế kỷ IX đến cuối thế kỷ XI, vùng đất Chân Lạp
cường thịnh đã mở rộng lãnh thổ ra tận Nam Lào. Trong khi đó, dấu ấn Chân
Lạp trên vùng đất phía Nam không nhiều và ảnh hưởng văn minh Angkor ở
vùng này cũng không đậm nét.
Cho đến thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ còn thưa thớt. Chu Đạt
Quan, một người có dịp đến vùng đất Nam Bộ đã mô tả vùng đất này như sau:
“Hầu hết là rừng thấp cây rậm. Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm cổ
thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở trong đó.
Đến nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây.
13
Nhìn xa chỉ thấy cây lúa rờn rờn mà thôi. Trâu rừng họp nhau thành từng đàn
trăm ngàn con, tụ tập ở đấy.” (dẫn theo Trịnh Hoài Đức, 1972). Bắt đầu từ
cuối thế kỷ XIV, nước Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng của các
vương triều Xiêm từ phía Tây, đặc biệt là từ sau khi Vương triều Ayuthaya
hình thành vào giữa thế kỷ XIV. Trong suốt 78 năm (từ 1353 đến 1431),
Ayuthaya liên tiếp tiến công Chân Lạp. Sang thế kỷ XVI, và nhất là thế kỷ
XVII, do sự can thiệp của nước Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc,
rơi vào thời kì suy vong. Dưới tình trạng này, nước Chân Lạp hầu như không
có khả năng kiểm soát, cũng như quản lý vùng đất còn ngập nước ở phía
Nam, vốn là địa phận của vương quốc Phù Nam ở thời điểm bấy giờ.
Trong bối cảnh Chân Lạp không đủ sức quản lý vùng đất phía Nam, từ
đầu thế kỷ XVII, vùng đất Chân Lạp đã bắt đầu có lưu dân người Việt ở vùng
đất Thuận – Quảng đến Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hòa) đến khai
khẩn đất hoang, lập ra những làng người Việt trên vùng này, tạo ra cho vùng
đất này một cánh cửa tương lai tốt đẹp hơn.
Năm 1620, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cho Quốc vương
Chân Lạp Chey Chettha II. Từ đó, Chúa Nguyễn trở thành chỗ dựa cho vua
Chân Lạp để đối phó với nước Xiêm. Đồng thời cư dân Việt ở vùng đất Nam
Bộ cũng bắt đầu tự do khai khẩn đất, làm ăn sinh sống, tự tạo lập cuộc sống
mới cho chính mình. Năm 1623, khi mà cư dân Việt đã có mặt hầu khắp miền
Đông Nam Bộ, Chúa Nguyễn đã lập thương điếm ở vị trí tương ứng với Sài
Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) để thu thuế. Đến năm 1628, sau cái
chết của Chey Chetta II, chính quyền Chân Lạp bị chia rẽ, xuất hiện nhiều lỗ
hổng, nhiều cuộc chiến đã diễn ra, điển hình là giữa các phe phái với nhau,
với sự trợ giúp quân sự của một bên là nước Xiêm và một bên là chúa
Nguyễn. Bối cảnh này vừa giúp cho người Việt có thể dễ dàng tiến hành khai
phá những vùng đất hoang hoá ở đồng bằng sông Cửu Long vừa tạo điều kiện
14
cho chúa Nguyễn thiết lập quyền kiểm soát chính thức của mình trên những
vùng đất cư dân Việt đã dựng nghiệp.
Song song đó, cùng với các nhóm cư dân người Việt, trong khoảng thời
gian này cũng xuất hiện một số người trung thành với nhà Minh chống nhà
Thanh đến tiến hành khai khẩn đất hoang và sinh sống làm ăn ở vùng đất
Nam Bộ, giúp đẩy nhanh quá trình khai phá vùng đất đồng bằng Nam Bộ.
Vào năm 1708, để bảo vệ cư dân vùng đất Hà Tiên trước sự tiến công
cướp bóc của người Xiêm vào thời điểm đó, Mạc Cửu đã xin và được nội
thuộc vào triều đình chúa Nguyễn. Đây là một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng. Cho đến năm 1757, đất Tầm Phong Long (tương đương với vùng
Tứ Giác Long Xuyên) được vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng cho chúa Nguyễn
để đền ơn cứu giúp lúc hoạn nạn và giành lại ngôi vua. Qua đó, quá trình xác
lập chủ quyền lãnh thổ của người Việt trên vùng đất Nam Bộ cơ bản đã hoàn
thành.
Để thực thi chủ quyền, từ thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn đã tiến hành
tổ chức các đơn vị hành chính, sắp đặt quan cai trị, lập sổ sách quản lý dân
đinh, ruộng đất và lập ra các loại thuế. Năm 1698, Phủ Gia Định được thành
lập gồm hai dinh là Trấn Biên (Biên Hoà) và Phiên Trấn (Gia Định) quản lý
hơn 4 vạn hộ. Sau năm 1774, vùng đất Nam Bộ chia thành 4 dinh (Trấn Biên,
Phiên Trấn, Long Hồ, Hà Tiên), mỗi dinh quản hạt một phủ, dưới phủ có
huyện, tổng hay xã. Từ đó, về cơ bản tổ chức hành chính của Việt Nam trên
vùng đất Nam Bộ đã được kiện toàn.
Năm 1802, Triều Nguyễn được thành lập, họ tiếp tục con đường sự
nghiệp của các chúa Nguyễn. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống hành chính và
thống nhất quản lý trong cả nước. Năm 1836, vua Minh Mạng cho lập sổ địa
bạ toàn bộ Lục tỉnh Nam kỳ (vùng đất Nam Bộ ngày nay). Bên cạnh chính
sách chính trị, quân sự, triều đình còn khuyến khích phát triển kinh tế – xã
hội, mở mang phát triển dinh điền, đồn điền, xây dựng thuỷ lợi, phát triển
15
giao thông, nâng cao đời sống của người dân ở một mức độ tốt hơn, phát triển
hơn.
Như vậy, vùng đất phương Nam chính là nơi hợp lưu của nhiều lớp,
nhiều dòng văn hóa. Xét về thời gian, Phù Nam, Khme rồi sau này là Việt,
Hoa, Chăm đã tạo nên các lớp văn hóa nối tiếp nhau, có khi đan xen nhau.
Xét về không gian, có những vùng văn hóa tiếp giáp nhau, có khi giao nhau,
hòa hợp vào nhau. Từ thế kỷ I đến thế kỷ VII, Văn hoá Phù Nam rồi đến văn
hoá Khmer vào thế kỷ VII đến thế kỷ XVII, hai nền văn hóa này đã tiếp thu
mạnh mẽ nền văn hoá Ấn Độ. Tiếp đến là văn hoá Việt với sự kế thừa văn
hoá từ vùng đồng bằng sông Hồng. Đối với người Hoa, tuy rằng họ có mặt ở
miền đất này muộn hơn nhưng vẫn kịp hình thành một nét văn hóa riêng độc
đáo của chính mình, tô thêm cho bảng màu văn hóa miền Nam một màu sắc
mới, sống động hơn, đẹp đẽ hơn. Sau người Hoa là người Chăm, họ cũng đã
trở thành một thành viên không thể thiếu trong cộng đồng Việt Nam.
Riêng đối với người Việt, khi tới đây khẩn hoang lập ấp, họ đã luôn
trân trọng và cố gắng “làm sống lại những nền văn hóa thuộc cổ sử và sơ sử
đã lắng sâu dưới lòng đất thấp” (dẫn theo Trần Nam Tiến, 2018). Họ vừa giữ
gìn được bản sắc đậm đà của văn hóa riêng mình, vừa ở tư thế kế thừa, đón
nhận, giao lưu văn hóa với các dân tộc người Khmer, Chăm, Hoa... để cùng
xây dựng một vùng văn hóa đặc sắc. Vùng đất Nam Bộ vừa kế thừa những di
sản tinh thần, văn hóa lâu đời của dân tộc, vừa phát huy và tiếp nhận những
nhân tố mới từ thực tiễn lịch sử, sáng tạo nên những nếp sinh hoạt văn hóa
mới nhằm đáp ứng những nhu cầu của đời sống cư dân nơi vùng đất mới:
“Sớm biết thích ứng với hoàn cảnh, thổ ngơi, tận dụng địa lợi, tạo ra nhân
hòa, sáng tạo vượt khó khăn, giao hòa với con người và văn hóa khác mà vẫn
giữ được phong cách của mình là việc mà tổ tiên ta đã làm được từ lúc đầu đi
khai thác vùng đất mới.” (Sơn Nam, 2017).
16
1.1.2. Điều kiện tự nhiên vùng đất Nam Bộ
Trong hệ thống phân loại 8 vùng địa lý – kinh tế, Nam Bộ gồm 2 bộ
phận hợp thành là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.
Đông Nam Bộ nằm trong lưu vực sông Đồng Nai. Phạm vi của vùng
bao gồm 6 tỉnh/ thành phố là: Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai,
Bà Rịa Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh.
Tây Nam Bộ là vùng đất được khai phá muộn nhất trong lịch sử phát
triển của đất nước. Phạm vi của vùng gồm 13 tỉnh/ thành phố: Long An, Tiền
Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang,
Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.
Đồng bằng Nam Bộ bao gồm hai bộ phận có đặc điểm khác hẳn nhau.
Đó là vùng đồng bằng cao bao gồm các thềm phù sa cổ, bán bình nguyên đất
đỏ ba dan (bazan) ở phía đông, thuộc Đông Nam Bộ; và khu vực đồng bằng
châu thổ sông Cửu Long tương đối bằng phẳng ở phía tây, thuộc Tây Nam
Bộ.
Nam Bộ nằm trong lưu vực của hệ thống sông Đồng Nai – Vàm Cỏ và
hệ thống sông MeKong. Nguồn nước mặt nơi đây khá dồi dào với hệ thống
sông ngòi và kênh đào chằng chịt mang nước dàn trải rộng khắp đồng bằng,
thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp.
Nam Bộ từng là một vùng đất có rất ít người sinh sống. Theo những tài
liệu cổ từ khoảng 300 năm trước đều nói: nơi đây như một vùng đất toàn là
rừng rậm hàng nghìn dặm hoặc những cánh đồng hoang vu không có một gốc
cây, là nơi hàng trăm hàng nghìn con trâu rừng tụ tập thành bầy. Nhưng chỉ
trong vài thế kỉ, người Nam Bộ đã làm thu hẹp một diện tích khổng lồ rừng tự
nhiên để phát triển kinh tế, biến vùng đất hoang vu thành thành vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam.
Trải qua hàng trăm năm, văn hóa vật chất và tinh thần của người Kinh
ở Nam Bộ đã hình thành những nét riêng so với miền đất tổ ở phía Bắc. Sự
17
khác biệt đó thể hiện trên nhiều phương diện: khung cảnh làng mạc, cấu trúc
nhà cửa, cơ cấu xã hội... Đặc biệt là sự thay đổi rõ rệt về ngôn ngữ, cá tính,
thói quen, phong tục đã tạo nên diện mạo văn hóa đặc sắc riêng của vùng đất
cực Nam tổ quốc.
1.1.3. Con người Nam Bộ
Nam Bộ là một vùng đa dân tộc, nơi định cư và sinh sống của những
tộc người có lịch sử, văn hóa rất khác biệt, đến từ khắp mọi vùng miền trong
cả nước. Vùng đất Nam Bộ nắng nhiều, nước lắm, những rừng cây rậm rạp,
đầm lầy, lau lách trong buổi đầu khẩn hoang đã góp phần làm nên diện mạo
con người Nam Bộ. Từ những mảnh đất khác nhau, những hành trang văn hóa
của đất Thăng Long, vùng Ngũ Quảng và văn hóa Trung Hoa, họ đã cùng
nhau hội ngộ ở nơi đây, cùng chạm khắc nên cá tính miền Nam và thuần
phong mĩ tục Việt Nam. Họ ra đi vì những khắc nghiệt của cuộc sống nhiều
thăng trầm biến động, đó là những nông dân nghèo khó nhưng gai góc, những
tội đồ bướng bỉnh, những lính thú cứng đầu, và cả những người Hoa không
hàng phục nhà Minh... Ở họ vừa có cái nền tảng văn hóa nghìn năm nơi quê
cha đất tổ, vừa có những thích ứng hòa nhập và biến cải thành một đời sống,
tính cách, tâm hồn, tình cảm rất phương Nam: “Thiên nhiên Nam Bộ còn khá
rộng rãi và hào phóng với con người, đã thế, ở đây lại không có tâm lý phân
biệt người chính cư và người ngụ cư nên người dân sẵn sàng bỏ đi nơi khác
nếu ở nơi cũ, họ cảm thấy không còn sống được nữa, cả về vật chất lẫn tinh
thần.” (Thạch Phương – Hồ Lê, 2014).
Những người sống không bị ràng buộc và cũng không bao giờ chấp
nhận sự ràng buộc bởi một lý do sâu xa là tất cả những lưu dân có mặt ở nơi
đây đều có chung một khát vọng tự do – khát vọng được giải phóng. Họ đến
đây khi nhà Nguyễn chưa thể vươn dài bàn tay phong kiến của mình để chế
ngự hết đất đai điền thổ “dân mở đất trước, nhà nước cai trị sau” (dẫn theo
18
Trần Nam Tiến, 2018). Vì vậy, họ cảm thấy thực sự được tự do, thực sự được
giải phóng, cả trong ý thức:
Trời sinh cây cứng lá dai
Gió lay mặc gió chiều ai chẳng chiều
Cái ý thức vẫy vùng sông nước ấy, cái hùng tâm tráng chí của những
con người không khép mình khuất phục ấy đã được hun đúc trong hoàn cảnh
mới, trở thành tinh thần bất khuất, hiên ngang, thành tâm thế cứng cỏi, ngang
tàng, quyết liệt và táo bạo.
Nam Bộ, dù thiên nhiên có ưu đãi thì thuở “tiền sử” của nó cũng là
một nơi “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn/ Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma”. Có
lẽ, vì vậy mà con người Nam Bộ đã biết kề vai sát cánh, chung lưng đấu cật
với nhau trong một tình tương thân tương ái, giúp đỡ thật lòng và hết mình
“Lao xao sóng bủa dưới lùm/ Thò tay vớt bạn, chết chùm cũng ưng”. Nói đến
họ – những người con đất Nam Bộ – chính là nói đến những con người trọng
nghĩa, khinh tài, nhân nghĩa trước sau với nhau... trong quan hệ bằng hữu,
trong tình làng nghĩa xóm, dân ấp, dân lân...
Qua không ham rộng ruộng lớn vườn
Ham vì nhân nghĩa, cang thường mà thôi
Bằng bản lĩnh, trí tuệ của những con người quyết “dứt áo ra đi”, những
lưu dân Việt đã làm nên sức sống mới cho vùng đất này. Vì lẽ đó, sau nhiều
thế kỉ bị hoang hóa, chiến tranh liên miên, Nam Bộ đã bừng nên sinh khí mới
khi người dân Việt cùng người Hoa đến đây từ thế kỉ XVII. Cùng với người
dân bản địa, lưu dân Việt đã gieo trồng văn hóa riêng của đất và người Nam
Bộ, góp phần tạo nên một nền văn hóa – văn học dân gian đa dạng ở vùng đất
mới này.
1.2. Khái lược về văn hóa phong tục
Trong Cửa vào phong tục Việt Nam, Phạm Việt Tuyển (1974) đã định
nghĩa như sau:
19
Phong tục là thói quen trong đời sống xã hội trải qua thời gian và không
gian. Những thói quen này nhập nhiễm tư tưởng và tình cảm cũng như
chi phối đời sống thực tế hàng ngày của cá nhân, gia đình, xóm làng và
xã hội. Những thói quen ấy có thể liện quan tới tín ngưỡng và tôn giáo,
luân lí và pháp luật, văn nghệ và văn hóa ...
Bàn về phong tục, trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc
Thêm (2001) đã đưa ra nhận định: “Đó là những thói quen đã ăn sâu vào đời
sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo”.
Từ Xuân Lãnh (2019) đã lí giải về phong tục ở Lời nói đầu trong công
trình Phong tục đất phương Nam như sau: “phong tục tập quán là nếp sống
của người dân được tích lũy từ nhiều đời, phản ánh cách nghĩ, cách sống của
một dân tộc, là một bộ phận quan trọng hình thành nên nền văn hóa, góp
phần tạo ra sắc thái riêng của dân tộc ấy”.
Như vậy, khi định nghĩa về phong tục, các nhà nghiên cứu đều gặp gỡ
nhau ở khía cạnh “phong tục là nếp sống, là thói quen được cộng đồng thừa
nhận, lưu truyền”. Điều này có nghĩa là, phong tục, tập quán không tồn tại bất
biến mà có sự thay đổi theo thời gian lẫn không gian để phù hợp với tâm lí địa
phương, vùng miền, dân tộc và xu thế phát triển của thời đại. Phong tục tốt
đẹp sẽ được bảo tồn, phát huy; ngược lại, những phong tục lạc hậu, không còn
phù hợp sẽ bị đào thải.
Theo công tình Nghiên cứu văn học dân gian từ mã văn hóa dân gian,
Nguyễn Thị Bích Hà (2014) đã phân chia phong tục như sau: phong tục gắn
với vòng đời con người gồm: phong tục lúc mang thai và sinh con, phong tục
gắn với nam giới khi vào tuổi thành đinh, phong tục hôn nhân, phong tục lên
lão, phong tục ma chay tang chế; phong tục tập quán gắn với sinh hoạt cộng
đồng như: tục ăn trầu, nhuộm răng,...; phong tục tập quán gắn với tín ngưỡng
như: tục thờ cúng thần linh, thờ cúng tổ tiên.
20
Ở luận văn này, với hướng nghiên cứu văn học dân gian từ góc nhìn
văn hóa, chúng tôi kế thừa và tiếp nhận cách hiểu về văn hóa phong tục như
sau: phong tục là một thành tố của văn hóa, là biểu hiện cụ thể của các giá trị
tinh thần (văn hóa tinh thần/ văn hóa phi vật thể) do con người sáng tạo, vừa
có sự kế thừa vừa có sự thích ứng phù hợp với các mối quan hệ gia đình, cộng
đồng, xã hội. Phong tục có thể là biểu hiện cụ thể sinh động của tín ngưỡng
hoặc là thói quen được lưu giữ trong cộng đồng. Văn hóa phong tục là nét đặc
trưng riêng của mỗi địa phương, cộng đồng, dân tộc, thời đại.
1.3. Vài nét về ca dao Nam Bộ
1.3.1. Khái niệm ca dao
Qua nghiên cứu, chúng tôi phát hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau
về ca dao:
Trong công trình Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm (1968)
cho rằng: “Ca dao (ca: hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài
hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình, phong tục của người
bình dân”.
Ở công trình Văn học dân gian Việt Nam (tập 2), Hoàng Tiến Tựu
(1990) khẳng định: “Ca dao là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất của thơ
dân gian, là loại thơ dân gian truyền thống có phong cách riêng, được hình
thành và phát triển trên cơ sở của thành phần nghệ thuật ngôn từ trong các
loại dân ca trữ tình ngắn (đoản ca) của người Việt”.
Từ điển thuật ngữ văn học, (Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc
Phi chủ biên, 1992) định nghĩa:
Ca dao còn gọi phong dao. Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều
nghĩa rộng hẹp khác nhau. Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc
điệu, dao là bài hát không có khúc điệu. Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn
bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có
khúc điệu. Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca.
21
Trong công trình Văn học dân gian Việt Nam tái bản lần thứ 5, Đinh
Gia Khánh (chủ biên), chương III, phần Ca dao, Chu Xuân Diên (2001) cho
rằng:
Ca dao là những bài hát thường ngắn, hoặc hai, bốn, sáu hay tám câu,
âm điệu lưu loát, phong phú… Theo cách hiểu thông thường, thì ca dao
là lời các bài dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc
ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành làn điệu dân ca.
Khái niệm ca dao được diễn giải trong công trình nghiên cứu Văn học
miền Nam Lục Tỉnh tập 1, như sau: “Dân ca bao gồm lời ca, giọng điệu và lề
lối ca diễn; còn ca dao ngoài những sáng tác riêng, thì là những câu thơ, bài
ca được chắt lọc, rút tỉa ra trong các loại dân ca rồi gạn bỏ những tiếng đệm
thường được dùng để đẩy đưa cho giọng hát” (Nguyễn Văn Hầu, 2012).
Theo Giáo trình văn học dân gian, chương VI, phần Ca dao, Phạm Thu
Yến (2015) nêu định nghĩa: “Ca dao là thơ dân gian tồn tại ở dạng lời thơ
hoặc điệu hát, gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt của nhân dân. Với bản
chất trữ tình, ca dao có chức năng diễn tả một cách trực tiếp tâm hồn tình
cảm của nhân dân lao động”.
Như vậy, xét về bản chất, ca dao và dân ca hầu như không có ranh giới
rõ rệt. Khái niệm ca dao dùng để chỉ bộ phận cốt lõi nhất, tiêu biểu nhất; đó là
bộ phận những câu hát mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong
cách, đã trở thành cổ truyền của dân tộc. Dù ca dao được quan niệm rộng hẹp
khác nhau nhưng không mâu thuẫn về bản chất. Một bài ca dao không cần
tiếng đệm, luyến láy nhạc điệu thì là ca dao; còn một bài ca dao dùng để hát
có thêm tiếng nhạc đệm, đưa hơi thì sẽ thành dân ca.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về ca dao nhưng tựu trung lại, chúng tôi
đề xuất cách hiểu ca dao như sau: Ca dao là sáng tác trữ tình dân gian, là sản
phẩm chung của dân tộc, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được
sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người.
22
1.3.2. Khái niệm ca dao Nam Bộ
Từ cơ sở lý luận về ca dao Việt Nam, chúng tôi đề xuất cách hiểu về ca
dao Nam Bộ như sau: Ca dao Nam Bộ là những câu ca dao được sử dụng, lưu
truyền ở Nam Bộ hoặc được sáng tác ở Nam Bộ.
Nội dung của ca dao Nam Bộ tập trung thể hiện các chủ đề sau: tình
cảm của con người đối với quê hương, đất nước; tình yêu lứa đôi; tình cảm
gia đình; phong tục và các mối quan hệ xã hội. Các chủ đề này cũng nằm
trong chủ đề phản ánh chung của ca dao các vùng miền khác trên đất nước
Việt Nam. Sự giống nhau này góp phần khẳng định ca dao Nam Bộ là một bộ
phận của ca dao Việt Nam.
Tuy nhiên, cũng như các thể loại văn học dân gian, ca dao cũng mang
đậm dấu ấn địa phương trong nội dung thể hiện. Ca dao Nam Bộ phản ánh
những nét đặc thù của vùng đất cực nam tổ quốc. Đó là hình ảnh chốn rừng
rậm, khắc nghiệt “Cà Mau khỉ khọt trên bưng/ Dưới sông sấu lội, trên rừng
cọp um”; sự giàu có của thiên nhiên “Ai ơi về miệt Tháp Mười/ Cá tôm sẵn
bắt, lúa trời sẵn ăn” và trên hết sự lao động của con người đã biến mảnh đất
hoang vu thành một vùng trù phú với nhiều sản vật nổi tiếng “Bến Tre giàu
mía Mỏ Cày/ Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn/ Bến Tre biển cá,
sông tôm/ Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng”. Đó là lịch sử đau thương
mà anh dũng “Bần gie đóm đậu sáng ngời/ Rạch Gầm soi dấu muôn đời oai
linh”. Đó là sự bộc trực, thẳng thắn trong tình yêu “Anh thương em từ thuở
tóc bỏ lòng thòng,/ Đến bây giờ một ngọn ba bốn vòng cũng thương”...
Như vậy, nằm trong hệ thống của ca dao Việt Nam, nên về hình thức,
nội dung, ý nghĩa, ca dao Nam Bộ cũng như ca dao các miền khác, vừa có nét
chung của đặc trưng thể loại vừa có nét riêng gắn với hoàn cảnh lịch sử, tự
nhiên, xã hội, văn hóa, tâm lý, tính cách con người ở vùng đất phương Nam.
Ca dao Nam Bộ là tiếng nói tâm hồn được cất lên thành làn điệu của
lưu dân xa xứ như cách nói của Đào Văn Hội (1961): “cười nên tiếng khóc,
23
hát nên giọng sầu, hoặc gay gắt như nắng mùa hè, hoặc sảng khoái như tiếng
gọi non sông”. Ca dao gắn liền với cuộc sống người dân nơi đây: từ không
gian sinh hoạt đời thường, dân dã đến không gian sinh hoạt cộng đồng nghi
lễ, hội hè; đó là câu hò mênh mang sông nước, đó là bài ca dao đối đáp trong
những ngày mùa, đó là câu hát nghi lễ trong ngày hội…
Tóm lại, trong hành trình về đất phương Nam, ca dao Nam Bộ cùng với
các thể loại văn học dân gian khác đã góp phần làm giàu hơn màu sắc văn hóa
của vùng đất mới.
1.3.3. Mối quan hệ giữa ca dao và văn hóa phong tục
Phong tục hình thành từ đời sống thực tế của con người xa xưa, từ các
tập tục, thói quen đến các nghi lễ tôn giáo. Văn chương cũng không tách khỏi
cuộc sống và con người. Vì thế, phong tục đi vào văn chương một cách rất tự
nhiên. Đặc biệt là văn học dân gian, đây là mảnh đất tươi tốt để phong tục, tập
quán ăn sâu, bám rễ.
Trong Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, Nguyễn Thị Bích Hà
(2018) đã khẳng định:
Văn học dân gian là một bộ phận của văn hóa dân gian. Văn học dân
gian liên quan chặt chẽ với mọi phương diện khác nhau của sinh hoạt đời
sống xã hội. Nó gắn bó với tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục tập quán, sinh
hoạt lớn nhỏ trong các làng quê Việt Nam, với tính chất lưu giữ, minh
giải, nâng cao và thể hiện bản sắc. Văn học dân gian có cội nguồn từ đời
sống sinh hoạt xã hội, nó được kết tinh và cách điệu từ sinh hoạt cộng
đồng, rồi quay trở lại phục vụ cho đời sống sinh hoạt ấy thêm hiệu quả.
Là một trong những thể loại tiêu biểu của văn học dân gian Việt Nam, ca
dao là tiếng nói phản ánh đời sống tâm hồn, tình cảm của quần chúng nhân
dân, phản ánh lịch sử xã hội, và do vậy, nó là một nguồn tư liệu phong phú
thể hiện phong tục, tập quán của từng địa phương, của từng thời đại lịch sử.
Nói cách khác, ca dao có nội dung phản ánh và biểu đạt rất rộng lớn. Ca dao
24
là nơi cất giữ tâm hồn dân tộc, có màu tươi xanh của ước vọng, có nỗi đau
thân phận, cảnh ngộ trái ngang, có niềm nhớ thương vời vợi... của nhiều
người, nhiều lứa tuổi khác nhau, ở các vùng miền khác nhau trên đất nước.
Những bài ca dao với những vần điệu trữ tình đã đi vào đời sống văn hóa
– tinh thần của người dân Việt một cách nhẹ nhàng, dung dị, thanh tao. Nó
không chỉ vẽ nên khung cảnh sinh hoạt lễ hội tưng bừng: “Ví dầu cá bống
xích đu/ Tôm càng hát bội, cá thu cầm chầu” những bức tranh sinh hoạt nơi
đồng lúa, dòng sông, rừng rậm, đồi núi: “Trèo lên thanh trục đứng cao,/ Thấy
lưng em cấy dạ nào không thương”; “Cha chài, mẹ lưới, con câu/ Chàng rể
đóng đáy, con dâu ngồi nò”; “Ngó qua bên núi Tô Châu,/ Thấy cô gánh nước
trên đầu cài ghim”… mà đó còn là giọng da diết của kẻ chung tình: “Song
song đôi ngọn gươm vàng/ Thác thời chịu thác chứ buông nàng không
buông”; giọng thành kính của người con thảo: “Nước trên nguồn đổ xuống/
Cây dưới cội mọc lên/ Ai ơi chữ hiếu lo bền/ Trước đền ơn nước, sau đền mẹ
cha”; giọng dịu dàng, thân ái của vợ hiền: “Lầu nào cao bằng lầu ông
Chánh/ Bánh nào trắng bằng bánh bò bông/ Đạo nào thương bằng đạo vợ
chồng/ Dầu lâm cơn bệnh hoạn cũng bế bồng nuôi nhau”, giọng hài hước,
mỉa mai: “Áo dài chẳng nệ quần thưa/ Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm”;
“Bao giờ ông Chánh về Tây/ Cô Ba ở lại lấy thầy thông ngôn”… Có thể ví ca
dao như một chuyến đò chuyên chở biết bao tình cảm của người dân Việt từ
xưa đến nay, cùng với các thể loại văn học dân gian khác, ca dao đã góp phần
làm sâu sắc, phong phú hơn kho tàng văn hóa Việt Nam. Theo cách nói của
Nguyễn Thị Bích Hà (2018): “Ca dao có giọt nước mắt và nụ cười, có cả nền
văn hóa Việt thấp thoáng che nghiêng”. Có thể nói, những thói quen sinh hoạt
diễn ra trong đời sống hàng ngày của người lao động đều đi vào ca dao.
Trong Lời bạt Dân ca miền Nam Trung Bộ, Xuân Diệu khẳng định:
“Những câu ca dao từ Nam chí Bắc như có đất, như có nước, như có cát, có
biển như có mồ hôi người, chúng ta sẽ cảm thấy dần dần tụ lại nơi khóe mắt
25
một giọt ướt sáng ngời. Đó là một giọt tinh túy chắt ra từ ruột của non sông”
(Dẫn theo Phạm Thu Yến, 2015).
Từ trong các lĩnh vực sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhân dân lao
động, ca dao đã biểu lộ văn hóa phong tục một cách phong phú. Từ góc nhìn
này, chúng ta có thể hiểu được “tảng băng trôi” mà phần chìm là giọt tâm
hồn, là kí ức lưu giữ trong tâm thức dân gian những phong tục vòng đời,
phong tục lễ hội, phong tục thờ cúng tổ tiên...
Đặc điểm dân tộc được thể hiện rất rõ trong ca dao của bất kì dân tộc
nào, trên cái nền chung ấy, mỗi bài ca dao lại có vẻ đẹp độc đáo riêng, làm
nên diện mạo riêng của từng vùng văn hóa. Ca dao Nam Bộ vẫn thể hiện đầy
đủ những chủ đề của ca dao Việt Nam. Tuy nhiên, vùng đất phương Nam với
lịch sử hình thành khá “đặc biệt” đã tạo nên những nét riêng độc đáo trong
cách quan sát, cảm nhận, nếp sống, sinh hoạt giao tiếp của lớp người “lưu dân
tứ xứ”. Do đó, ca dao Nam Bộ vừa phản ánh tâm hồn phóng khoáng của con
người đất phương Nam trong hành trình mạo hiểm khám phá vùng đất mới
vừa mang đậm dấu ấn văn hóa phong tục của người Việt ở vùng đất này.
1.4. Tình hình nguồn tư liệu tác phẩm được khảo sát
Trong quá trình sưu tầm tài liệu, chúng tôi nhận thấy có khoảng cách
khá lớn trong việc lưu giữ ca dao giữa hai tiểu vùng Đông Nam Bộ và Tây
Nam Bộ.
Ở Đông Nam Bộ, chưa có những công trình sưu tầm, biên soạn ca dao
riêng biệt của từng tỉnh nên chúng tôi tìm đọc các công trình địa chí của địa
phương, cụ thể:
1. Địa chí Bình Dương (tập 4: Văn hóa – Xã hội), Phan Xuân Biên
(2010), Nxb. Chính trị Quốc gia.
2. Địa chí Bình Phước (tập 2: Kinh tế – Văn hóa – xã Hội), Lê Hữu
Phước, Giang Văn Khoa (2015), Nxb. Chính trị Quốc gia.
26
3. Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (tập 2: Văn học – Báo chí
– Giáo dục), Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (1998), Nxb. Tổng hợp Thành
phố Hồ Chí Minh.
4. Địa chí Tây Ninh (Chương VI. Đời sống Văn hóa – Xã hội), Viện
Khoa học Xã hội Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh (2006), Sở Văn hóa –
Thông tin Tây Ninh.
Những công trình này được biên soạn công phu, thuyết minh chi tiết về
địa lí, lịch sử, kinh tế đặc biệt là truyền thống văn hóa – văn nghệ địa phương.
Mục ca dao dân ca được nhắc đến với nội dung chủ yếu là lịch sử vùng đất, vẻ
đẹp quê hương và con người. Do đó, số lượng ca dao sưu tầm không đáng kể.
Kết quả tìm hiểu về ca dao ở Tây Nam Bộ thì khác hẳn, văn học dân
gian có một sức sống mạnh mẽ trong lòng người dân xứ này. Hầu như, mỗi
tỉnh đều có những công trình địa chí ghi nhận lại lịch sử, địa lí, kinh tế, văn
hóa, văn học địa phương. Đặc biệt một số tỉnh còn có cả công trình sưu tầm,
nghiên cứu văn học dân gian địa phương như Bến Tre, Bạc Liêu, Sóc Trăng...
Ca dao dân ca Nam Bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần
Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, xuất bản 1984, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.
Tài liệu gồm 2760 bài ca dao với các chủ đề: tình yêu quê hương đất nước
(152 bài); tình yêu nam nữ (1965 bài); tình cảm gia đình (278 bài); tình cảm
cha mẹ – con cái (116 bài); các mối quan hệ khác (249 bài). Chúng tôi tuyển
chọn được 300 bài ca dao phản ánh phong tục Việt Nam.
Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường do Lê Trí Viễn biên soạn, xuất bản
năm 1994, Nxb. Giáo dục. Đây là tài liệu giảng dạy cho học sinh THPT tỉnh
Tây Ninh. Số lượng ca chỉ có 12 bài và chúng tôi chọn được 4 bài phù hợp
với nội dung nghiên cứu.
Văn học dân gian Đồng Bằng sông Cửu Long của trường Đại học Cần
Thơ, xuất bản năm 1997. Mục “Ca dao – dân ca” có số lượng ca dao 1003 bài
chia theo các chủ đề: quê hương đất nước (36 bài); lao động sản xuất (27 bài);
27
đời sống tình cảm (874 bài); phong tục tập quán và tâm lý xã hội (66 bài).
Chúng tôi tổng hợp được 202 bài.
Ca dao, hò, vè Vĩnh Long do Nguyễn Chiến Thắng (chủ biên), xuất bản
năm 2005, Nxb. Trẻ. Phần ca dao có nội dung phong phú: ca dao về thiên
nhiên, con người (170 bài); ca dao về tình yêu đôi lứa (503 bài); ca dao về
tình cảm gia đình, quan hệ xã hội (295 bài); ca dao về thời cuộc (127 bài).
Phần hò có hò trên sông (16 bài); hò trên đồng (19 bài); hò đối đáp (13 bài);
hò truyện (18 bài); hò thời sự (44 bài); hò xay lúa (1 bài). Trong 1206 đơn vị
tác phẩm, chúng tôi tuyển chọn được 152 bài.
Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục Tỉnh do Huỳnh Ngọc Trảng biên soạn, xuất
bản năm 2006, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai. Đây là công trình sưu tầm gồm có
câu hát góp, hát và hò góp, hò xay lúa, câu hát đối đáp, câu hát huê tình, hò
miền Nam. Tổng cộng được 2273 bài và chúng tôi chọn được 147 bài.
Văn học dân gian Bạc Liêu do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản năm
2011, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. Mục “Ca dao – dân ca” số lượng ca dao
là: 676 bài gồm: quê hương đất nước 100 bài; tình yêu đôi lứa 410 bài; hôn
nhân gia đình 98 bài; các mối quan hệ khác 68 bài. Chúng tôi tổng hợp được
75 bài ca dao từ tuyển tập này.
Văn học dân gian Sóc Trăng do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản
năm 2011, Nxb. Văn hóa – thông tin, Hà Nội. Mục “Ca dao – dân ca” số
lượng ca dao có 311 bài, chúng tôi tuyển chọn 138 bài.
Văn học Miền Nam Lục Tỉnh tập 1 do Nguyễn Văn Hầu biên soạn, xuất
bản năm 2012, Nxb. Trẻ. Số lượng ca dao là 478 bài. Chúng tôi tuyển chọn
được 125 bài.
Văn học dân gian Bến Tre do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên), xuất bản
năm 2015, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. Mục “Ca dao – dân ca” số lượng ca dao
là 1460 bài được chia theo các chủ đề: ca dao về tình yêu quê hương đất nước
28
và lao động sản xuất; ca dao về tình yêu nam nữ. Chúng tôi tổng hợp được
216 bài.
Văn học dân gian An Giang (tập 3) do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên),
xuất bản năm 2015, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. Mục “Ca dao – dân ca” số lượng
ca dao là 1319 bài gồm các chủ đề: quê hương đất nước; lao động sản xuất;
tình yêu nam nữ; tình cảm gia đình; các mối quan hệ khác. Chúng tôi tuyển
chọn được 155 bài.
Luận văn Khảo sát ca dao – dân ca Bến Tre của Đặng Thị Thùy Dương,
năm 2009, trường Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh, phần sưu tầm điền dã
chúng tôi chọn được 8 bài.
Do thời gian và điều kiện có hạn nên chúng tôi chưa thể tiến hành điều
tra điền dã ở các tỉnh của Nam Bộ.
Từ thực tế trên, nguồn tư liệu ca dao Nam Bộ chúng tôi khảo sát,
nghiên cứu là từ những công trình điền dã công phu, được sắp xếp hệ thống,
phân chia cụ thể, chứa đựng giá trị tinh thần quí báu của người dân đất
phương Nam như:
Số lượng bài ca dao trong các tài liệu được chúng tôi thống kê theo
bảng sau (xem Bảng 1.1)
Bảng 1.1. Thống kê nguồn tư liệu về ca dao dân gian Nam Bộ
SL
SL
SL bài
NGUỒN TƯ LIỆU
SL dị
STT
ca dao
bài
không
SƯU TẦM
bản
(bài)
trùng
trùng
00
1
Ca dao dân ca Nam Bộ
300
00
300
Thơ văn Tây Ninh
00
2
4
00
4
trong nhà trường
VHDG Đồng Bằng
3
202
60
55
87
sông Cửu Long
29
SL
SL
SL bài
NGUỒN TƯ LIỆU
SL dị
STT
ca dao
bài
không
SƯU TẦM
bản
(bài)
trùng
trùng
Ca dao, hò, vè Vĩnh
152
65
4
01
86
Long
Ca dao dân ca Nam Kì
147
03
5
02
142
Lục Tỉnh
Văn học dân gian Bạc
75
25
6
02
48
Liêu
Văn học dân gian Sóc
138
20
7
82
36
Trăng
Văn học Miền Nam
125
80
8
30
15
Lục Tỉnh
Văn học dân gian Bến
216
79
9
06
138
Tre
Văn học dân gian An
155
02
10
01
153
Giang
Khảo sát ca dao – dân
8
00
11
00
8
ca Bến Tre
Tổng cộng
1522
334
179
1009
Tổng số câu khảo sát
1.188
Như vậy, từ các nguồn tài liệu chính là 11 công trình trên, chúng tôi
tổng hợp được 1522 bài ca dao Nam Bộ.
Trong đó, có 334 bài ca dao bị trùng nhau giữa các tuyển tập, chúng tôi
chỉ giữ lại một bài. Đối với 179 dị bản, chúng tôi vẫn giữ lại để khảo sát. Bởi
vì, những dị bản này cho thấy sự phong phú cũng như sức lan tỏa sâu rộng
của ca dao Nam Bộ trong dân gian.
30
Do tập hợp từ nhiều nguồn tư liệu nên số liệu cuối cùng chúng tôi có
được chỉ ở mức độ gần đúng chứ chưa phải là chính xác tuyệt đối. Chúng tôi
chọn những bài không trùng nhau giữa các tài liệu, khoảng trên 1.188 bài
(tính luôn dị bản). Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi tạm phân loại
như sau: (xem Bảng 1.2)
Bảng 1.2. Thống kê ca dao dân gian Nam Bộ theo phong tục
STT
Chủ đề
Số lượng (bài)
Tỉ lệ %
Hôn nhân
470
39,5
1
Tang ma
152
12,8
2
Thờ cúng đa thần
419
35,3
3
Thờ cúng trong gia đình
147
12,4
4
Tổng cộng
1.188
100
5
Dựa trên biểu hiện của văn hóa phong tục, chúng tôi nghiên cứu ca dao
Nam Bộ trên hai phương diện: phong tục gắn với vòng đời con người và
phong tục gắn với tín ngưỡng.
31
Tiểu kết chương 1
Mở đầu chương 1, chúng tôi đã giới thiệu một số vấn đề có tính chất
khái quát về đất và người Nam Bộ. Quá trình hình thành và phát triển vùng
đất này đã tạo nên chân dung văn hóa đầy cá tính của vùng đất mới Nam Bộ.
Tiếp theo, chúng tôi tổng thuật các giới thuyết về khái niệm ca dao, từ
đó, chúng tôi đưa ra cách hiểu về ca dao Nam Bộ để xác lập đối tượng, phạm
vi nghiên cứu phù hợp với đề tài. Đồng thời, chúng tôi đã trình bày khái niệm
về văn hóa phong tục cũng như chỉ ra mối quan hệ của ca dao và văn hóa
phong tục để thấy được dòng chảy truyền thống của văn hóa Việt trên mảnh
đất phương Nam. Những âm điệu du dương, ngọt ngào, ca dao Nam Bộ đã tạo
thành “điệu hồn” của dân tộc. Nơi đó không chỉ chứa đựng tình cảm của con
người mà còn phản ánh những giá trị văn hóa của ông cha. Nghiên cứu ca dao
dưới góc nhìn phong tục giúp ta hiểu hơn giá trị truyền thống trong đời sống
tinh thần, để trân trọng những di sản văn hóa của dân tộc.
Phần cuối chương, chúng tôi giới thiệu quá trình tìm hiểu, tập hợp
nguồn tư liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu. Số lượng tác phẩm mà chúng tôi
thống kê, sưu tầm, chọn lọc là nguồn tư liệu quí giá để chúng tôi khảo sát,
phân tích làm sáng tỏ văn hóa phong tục của người Việt qua ca dao Nam Bộ.
Tóm lại, tất cả các vấn đề chung về vùng văn hóa Nam Bộ, ca dao Nam
Bộ cùng việc tổng hợp nguồn tư liệu là tiền đề để hiểu được bản chất của vấn
đề, xác lập cở sở lí luận, từ đó đi sâu vào các nội dung nghiên cứu ở hai
chương tiếp theo.
32
Chương 2
CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN PHONG TỤC GẮN VỚI
VÒNG ĐỜI CON NGƯỜI
Phong tục là một nét đẹp góp phần làm nên văn hóa Việt. Trên bước
đường trường chinh tiến về phương Nam, những lưu dân Việt đã mang theo
nét đẹp phong tục văn hóa từ cội nguồn. Khi đến Nam Bộ, những phong tục
ấy được bảo tồn và phát triển tạo nên nét đặc sắc riêng của vùng văn hóa mới.
Trong chương này, chúng tôi triển khai nghiên cứu ca dao Nam Bộ từ
góc nhìn phong tục gắn với vòng đời con người qua hai phương diện: hôn
nhân và tang ma.
2.1. Phong tục hôn nhân
Hôn nhân là phương thức để xây dựng, duy trì và phát triển gia đình. Vì
vậy, hôn nhân vừa ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của mỗi cá nhân, liên
quan chặt chẽ tới toàn bộ hệ thống xã hội, vừa là biểu hiện sinh động sắc thái
của văn hóa tộc người. Đối với người Việt hôn nhân không chỉ là sự thừa
nhận hợp pháp về giới tính mà còn mang nhiều ý nghĩa văn hóa. Để thành vợ,
thành chồng, cha mẹ đôi bên tiến hành tổ chức hôn lễ cho đôi trẻ. Việc tổ
chức hôn lễ này trở thành một phong tục đẹp trong văn hóa Việt Nam. Theo
tập Biên khảo Nói về miền Nam, cá tính miền Nam và thuần phong mỹ tục
Việt Nam: “Hôn lễ được xem như quan trọng hàng đầu, dính dấp trực tiếp
đến việc nối dõi dòng họ, sanh con đẻ cháu, để rồi dân đông, nước mạnh”
(Sơn Nam, 2017).
Quan niệm hôn nhân trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ đã được
phản ánh cụ thể trong ca dao: “Trai trưởng thành định đôi can lệ,/ Gái khôn
rồi đặng chữ vu qui/ Trăm năm có một lần đi,/ Trai thì trọn hiếu, gái thì thủy
chung”. Bài ca dao là lời dặn dò về trách nhiệm trong hôn nhân, thấm đẫm
đạo lí của dân tộc. Hôn nhân đời người chỉ có một lần nên phải biết giữ gìn
33
hiếu đạo, nghĩa tình. Các bậc làm cha mẹ thường dạy con cái tuân thủ theo
tam cương, ngũ thường. Trai thì trọn đạo trung hiếu, gái giữ gìn tiết hạnh,
thủy chung, lớn lên thì “dựng vợ gả chồng” cho cái. Đến khi con cái thành
thất gia, cha mẹ mới yên tâm con mình đã trưởng thành, khôn lớn, có đủ khả
năng để chăm sóc bảo vệ gia đình.
Phong tục hôn nhân với những lễ nghi quan trọng như nạp tài, vấn
danh, nạp cát, nạp tệ, thỉnh kì, thân nghinh được cất lên bằng tiếng nói đằm
thắm, yêu thương qua bài ca dao: “Mảng nói chơi mà trời gần sáng,/ Xin anh
bỏ lảng duyên nợ đôi ta./Dằn lòng về thưa với má ba,/ Sắm lo sáu lễ đến nhà
nói em”. Tục ngữ nêu cách chọn vợ, chọn chồng: “Cưới vợ xem tông, lấy
chồng xem giống”. Nét đẹp của phong tục cưới trong bài Giấc mơ anh lái đò
của Nguyễn Bính gợi lên không khí vui tươi, náo nhiệt:
“Đồn rằng đám cưới cô to
Nhà trai thuê chín chiếc đò đưa dâu
Nhà gái ăn chín nghìn cau,
Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu chín nghìn ...”
Qua khảo sát ca dao tình yêu, hôn nhân chúng tôi tìm được 65 bài về
ông mai, 54 bài về quan niệm “chọn vợ, chọn chồng”, 16 bài về xem tuổi kết
hôn, 174 bài về lễ vật cưới, 8 bài nói về việc thách cưới, 118 bài nói về “ông
tơ, bà nguyệt” và 35 bài nói về các nghi lễ cưới hỏi (đám nói, đám hỏi, đám
cưới). Từ nguồn tư liệu này, chúng tôi nghiên cứu phong tục hôn nhân trong
ca dao Nam Bộ qua các nghi lễ sau: lễ dạm ngõ, lễ hỏi, lễ cưới.
2.1.1. Lễ dạm ngõ
Không gian lao động, sinh hoạt, hội hè đã tạo điều kiện cho thanh niên
nam nữ có cơ hội bày tỏ tình cảm yêu đương. Khi tình cảm đong đầy, họ cùng
khao khát về một mái ấm gia đình, cùng chung tay xây dựng tương lai. Những
cung bậc cảm xúc ấy được thể hiện vô cùng sinh động trong ca dao:
“– Ra đồng ruộng thấy con cò trắng tựa như vôi
34
Hai đứa mình còn nhỏ mà xứng đôi quá chừng
– Anh ơi đừng vội mà mừng
Cá ra sông con cá lội
Anh có thương em thì bước tới
Bỏ miếng trầu hờ cho chắc tay.”
Cùng quan niệm tình yêu gắn với hôn nhân, hành động “bỏ miếng trầu
hờ” thể hiện một nét đẹp trong phong tục cưới xin của người Nam Bộ xưa.
Khi nhà chàng trai cậy mối mai, mang trầu rượu đến nhà cô gái để gặp gỡ,
chính thức đặt vấn đề hôn sự, cho đôi trẻ tìm hiểu nhau kĩ càng hơn để tiến tới
hôn nhân gọi là lễ dạm ngõ. So với các lễ khác thì lễ dạm ngõ đơn giản hơn.
Đôi khi, cả hai gia đình thoải mái, không đặt nặng lễ vật thì chỉ cần khay trầu,
chai rượu là được: “Mâm trầu hũ rượu, đâu đó đàng hoàng/ Cậy mai đến nói,
phụ mẫu tàng là xong”. Vì vậy, người miền Nam còn gọi bằng tên dân dã là
đám nói hay lễ bỏ rượu.
Có 65 bài ca dao nói về “người mai dong” (còn được gọi là ông mai),
chiếm tỉ lệ 13,8% trong tổng số ca dao phản ánh phong tục hôn nhân. Kết quả
này cho thấy vai trò quan trọng của “người mai dong” trong cưới hỏi. Trong
ca dao Nam Bộ, người mai dong thường làm nam. Bởi vì việc giao tiếp xã hội
ngày xưa, nhất là những việc có tính chất lễ nghi thường do đàn ông phụ trách
còn người phụ nữ chỉ quản lí cuộc sống gia đình.
Hình ảnh “người mai dong” trong ca dao là những người thân cận, gần
gũi với gia đình cô gái để dễ dàng tới lui bàn bạc vấn đề cưới hỏi: “Thương
em chẳng dám lại gần/ Cậy người thân cận phân trần với em”; “Cũng nhờ
cô bác đôi bên/ Mỗi người một tiếng mới nên cang thường”. Ông mai có vai
trò kết nối hai gia đình nhà trai và nhà gái. Người xưa tin rằng, người mai
dong có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống sau này của đôi trẻ. Cho nên, những
người làm ông mai bà mối phải là người có tính tình vui vẻ, hoạt bát, đặc biệt
35
là gia đình phải toàn vẹn, con cái đủ nếp đủ tẻ để đôi vợ chồng trẻ được
“hưởng phước” hạnh phúc đủ đầy (Từ Xuân Lãnh, 2019).
Trong lễ dạm ngõ, ông mai được ví như chiếc cầu nối nhịp tình yêu.
Điều này được thể hiện rõ trong bài ca dao sau:
“Nay em còn cha, còn mẹ, còn cô, còn bác
Nên em không dám tự tung tự tác một mình
Anh có thương em thì cậy mai dong đến nói
Cha mẹ có bằng lòng, em mới ưng”.
Bài ca dao thể hiện tâm ý của cô gái khi đứng trước vấn đề trọng đại
của cuộc đời. Hôn sự của con, đặc biệt là con gái thường do cha mẹ sắp đặt,
con cái không được vượt quyền. Cho nên, dù yêu thương, họ vẫn phải đợi sự
đồng thuận của mẹ cha, đợi mối mai đến dạm hỏi “cậy mai dong” cho đúng
lễ nghi.
Công việc của người mai dong được phác họa trong những câu ca dao sau:
“– Cây tre lóng cụt lóng dài,
Anh lấy em vì bởi ông mai lắm lời
“– Bà mai muốn ăn đầu heo
Nói chuyện giàu nghèo, đưa đẩy, đẩy đưa”
“– Ông mai chân thấp chân cao
Muốn ăn thịt mỡ nói vào nói ra”.
Người mai dong có mặt trong suốt chặng đường cưới hỏi từ lễ dạm
ngõ, lễ hỏi cho đến lễ cưới. Có thể ví người mai dong như con thoi đi lại giữa
hai gia đình để chấp mối lương duyên cho đôi trẻ. Khi được cậy nhờ, người
mai dong thường sang nhà gái thuyết phục cha mẹ cô gái bằng lòng. Việc này
cần “tài ăn nói”, khả năng đưa đẩy khéo léo, cốt sao để nhà gái thấy thành ý,
mong muốn được kết thông gia của nhà trai. Vì vậy, họ thường hết lời khen
ngợi những đức tính tốt của chàng trai cũng như cách sống có tình, có nghĩa
của nhà trai, cả chuyện giàu nghèo, được mất khi cô gái về nhà chồng để nhà
36
gái chấp thuận. Nói cách khác, khi chọn được người mai dong tốt, cơ hội kết
hôn của đôi nam nữ sẽ cao hơn.
Ở ca dao Nam Bộ, cụm từ “cậy mai dong” hay “cậy mai” xuất hiện
nhiều lần như một tín hiệu tốt đẹp của tình yêu: “Đắng khổ qua, chua lè
chanh giấy/ Dẫu ngọt cho mấy cũng trái cam xanh/ Anh thương em đừng dỗ
đừng dành/ Cậy mai dong đến nói, phụ mẫu đành em ưng”; “Đợi lịnh song
thân anh đành phải vậy,/ Em quyết một lời, anh cậy mai dong”. Phải chăng,
khi đồng ý cho người mai dong đến nhà là cô gái đã ngầm ý chấp nhận lời cầu
hôn của chàng trai?
Bên cạnh đó, cách nói “Cây oằn vì bởi trái sai/ Anh xa em vì bởi ông
mai ít lời” phản ánh sự đau khổ, tiếc nuối của những chàng trai, cô gái khi
duyên nợ không thành. Điều này đã góp phần khẳng định vai trò quan trọng
của người mai dong trong việc kết nên duyên đôi lứa: “Đũa vàng dộng xuống
mâm son/ Lâu nay mới gặp nguồn cơn hội này/ Gắng công nối sợi chỉ mành/
Nối ba lần nối mà sự bất thành tại ai/Cây oằn vì bởi trái sai/ Anh xa em vì bởi
ông mai ít lời”; “Cây oằn vì bởi trái sai/ Xa chàng vì bởi ông mai ít lời/ Sắt
lâu còn có khi mòn/ Mẹ cha ép buộc duyên con/ Phụ tình lỗi ấy chẳng còn ăn
năn”; “Cây oằn vì bởi trái sai/ Anh xa em vì bởi ông mai ít lời/ Ít lời nên ba
má chẳng nhận lời/ Phận em là gái bẻ nạng chống trời sao nên?”. Chính vì
ông mai có vai trò “đưa đường chỉ lối” nên thiếu ông mai thì hôn sự khó
thành: “Sông Cái Cá không rộng không dài/ Trăm năm xuôi chảy miệt mài/
Tiếc cho người nghĩa thiếu ông mai dẫn đường”.
Ca dao Nam Bộ còn phản ánh sự biết ơn của đôi vợ chồng trẻ đối với
ông mai: “Cậy người giá thú trao lời/ Đôi ta sum họp, ơn người tạ ơn”. Việc
“tạ ơn” cốt yếu ở tấm lòng quí mến người mai dong đã có công kết mối duyên
lành. Theo Phong tục đất phương Nam “Khi đám cưới xong, nhà trai có mâm
lễ vật đưa đến nhà người mai dong và rót rượu nói lời tạ ơn, trong mâm lễ vật
37
thường có cái đầu heo để tỏ lòng kính trọng, nhưng cũng có khi chỉ cần cặp
trà, cặp rượu mà thôi” (Từ Xuân Lãnh, 2019).
Bên cạnh sự nồng nàn của hạnh phúc lứa đôi, ca dao Nam Bộ còn
chuyển tải nỗi giận hờn, trách móc trong quan hệ vợ chồng. Đời sống vợ
chồng không thể tránh những lúc “cơm không lành, canh không ngọt”, khi
không thể oán cha trách mẹ, trách vợ, trách chồng, người bình dân xưa trách
ông mai: “Con gà trống tía/ Cái lông cũng tía/ Ngọn lang dâm/ Ngọn mía
cũng dâm/ Ông mai ngọt miệng em lầm/ Bây giờ nghĩ lại, em giận thầm ông
mai”. Do vậy, việc làm mai không phải dễ dàng, đôi lúc lại mang tai tiếng.
Có phải vì điều đó mà dân gian thường nói: “Trên đời có bốn cái ngu/ Làm
mai, nhận nợ, gác cu, cầm chầu?”
Ở lễ dạm ngõ, nhà trai và nhà gái trao đổi thông tin về gia đình để
thuận lợi tìm hiểu. Theo phong tục hôn nhân người Việt, những người có
quan hệ huyết thống ba đời thì không được kết hôn với nhau. Với tính chất trữ
tình, ca dao Nam Bộ đã khắc họa tâm trạng đau khổ của chàng trai cậy người
mai dong đến bàn về hôn sự thì cha mẹ cô gái nhìn nhận có “bà con họ hàng”
nên ngăn cấm chuyện “kết duyên”:
“– Ông tơ hồng, bà nguyệt lão về tây
Còn ai ở lại se dây hai đứa mình
Tiếc công tôi súc ông lau bình
Cậy mai tới nói phụ mẫu cùng bà con”.
“– Tiếc công anh chùi đĩa lau bình
Cậy mai dong đến nói phụ mẫu nhìn bà con”
Bàn về việc “chọn vợ chọn chồng” thì trong truyện dân gian, các bậc
cha mẹ thường chú ý đến gia cảnh, chọn những người “môn đăng hộ đối”
hoặc là những người tài giỏi... Tính cách của người phụ nữ là tiêu chí quan
trọng để chàng trai chọn vợ, tục ngữ có câu: “lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng
nam”; còn trong Truyện Kiều việc tìm hiểu nề nếp, gia cảnh được đề cao:
38
“Trăm năm tính cuộc vuông tròn,/ Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông”.
Như vậy, việc “chọn vợ, chọn chồng” từ thực tế đời sống đã được phản ánh
rất đậm nét trong kho tàng văn học Việt Nam, theo đó tiêu chí để chọn người
hôn phối là căn cứ vào gia cảnh, vẻ đẹp, tài đức, nhân cách, tuổi tác. Ca dao
Nam Bộ cũng góp thêm một tiếng nói thân thương, trìu mến, phản ánh khát
vọng xây dựng gia đình qua việc chọn “bạn trăm năm”.
Bức chân dung “người bạn đời lí tưởng” của chàng trai, cô gái được tô
điểm trong 54 bài ca dao. Mỗi bài ca dao là một nét phác thảo về mẫu người
mơ ước. Và tựu chung lại chính là hình ảnh của người Nam Bộ với những
tính cách phẩm chất tốt đẹp như bộc trực, cần cù, yêu lao động, nhân nghĩa,
đạo đức, cang thường.
Theo quan niệm Nho giáo, người phụ nữ chịu nhiều ràng buộc, khi lấy
chồng người phụ nữ phải theo chồng, chăm lo cho gia đình chồng, thờ cha mẹ
chồng như chính cha mẹ của mình. Thế nên, các cô gái thường mơ ước tìm
được những gia đình hiền đức để nương tựa:
“– Tìm nơi cha thảo mẹ hiền
Gác lưng vô mà dựa, chớ của tiền đừng ham”
“– Biết đâu nhơn đạo hiền lành
Trao thân gửi phận mới đành dạ em”.
Người phụ nữ mong tìm người chồng hiền lành, nhân hậu: “Kiếm nơi
đức hạnh trai hiền gửi thân”; “Gái khôn kiếm trai đôn hậu làm chồng”; biết
trọng đạo thủy chung: “Em kiếm nơi mô có tình nghĩa vợ chồng/ Ơn cha
nghĩa mẹ đạo chồng em theo”; người chồng có tài để người phụ nữ có thể
nương tựa tấm thân, yên phận với công việc nội trợ, vá may, nuôi chồng ăn
học để sau này hiển vinh:
“– Ánh trăng trải chiếu hai hàng
Trên anh đọc sách dưới nàng quay tơ”
“– Dốc một lòng lấy chồng hay chữ
39
Để ra vào kinh sử mà nghe”
“– Lựa chồng lựa người chữ nghĩa văn chương,
Quang minh trí tuệ cao cường hơn em”.
Các chàng trai cũng chú trọng đến nết na để chọn vợ. Họ chuộng người
phụ nữ dịu dàng, đôn hậu “nết hiền hòa”, yêu chồng thương con, biết “thờ
kính mẹ cha”, có khả năng vun vén gia đình, biết giữ “lửa hôn nhân” để gia
đình luôn êm ấm:
“– Chí quân tử cửu châu lập nghiệp,
Đại trượng phu từ hải đi xa
Thương em vì nết hiền hòa,
Thiếu chi người thiên hạ vậy mà anh không thương”
“– Anh cưới thiếp về thờ kính mẹ cha
Thờ cha kính mẹ cho tròn đạo dâu.”
“– Dầu mưa, dầu gió mặc dầu,
Kiếm nơi có nghĩa, anh hầu kết duyên”
Theo quan niệm của người bình dân, không chỉ hiền lương mà còn phải
cần cù lao động thì con người mới có thể xây dựng hạnh phúc lâu dài. Bài ca
dao diễn tả niềm tự hào về sự siêng năng, cần mẫn, tháo vát, thạo việc ruộng
đồng của cô gái đồng thời thể hiện tâm ý chọn bạn đời “kết tóc se tơ”:
“Gái xóm này biết cày biết cấy
Ghe nước chảy gánh lúa giữa đồng
Trai thanh niên chữ nghĩa không thông
Cuốc cày chẳng hiểu đừng hòng nên duyên”.
Nền kinh tế ở phương Nam không những quan tâm đầu tư cho nông
nghiệp mà còn chú trọng phát triển thương nghiệp. Các chàng trai lo việc kinh
tế, phát triển ruộng vườn, các cô gái thông thạo bán buôn. Cùng với tinh thần
dân chủ, tự do, những đôi thanh niên nam nữ đều khát khao đem sức lao động
để tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân và gia đình. Đặc biệt, họ phê
40
phán đả kích những người giàu có mà trọng phú khinh bần, không giữ đạo lí,
ham mê bóng sắc, ăn chơi sa đọa, quên nghĩa tào khang hay mê bài bạc mà bỏ
bê công việc gia đình. Điều này được thể hiện qua bài ca dao sau:
“– Chẳng thà em lấy chồng khờ, chồng dại
Lo kinh thương mãi mại
Tính công nghệ nông tang
Không ham nơi nhiều bạc lắm vàng
Mai sau sanh chuyện điếm đàng bỏ em
– Qua đây cũng muốn kiếm một nàng
Thạo thông đường buôn bán,
Rao cùng thôn quán mà chưa đáng chỗ nào,
Thiếu chi những chị má đào
Họ mê bài phé, bài cào, anh thất kinh.”
Người Việt tin rằng tuổi tác ảnh hưởng đến tình nghĩa vợ chồng. Niềm
tin này được tái hiện sinh động qua 16 bài ca dao. Khi có ý định tác hợp
lương duyên, cha mẹ hai bên trao đổi họ tên, tuổi tác của đôi trẻ “Bói khoa
năm bóng, bảy thầy/ Tuổi anh không đặng sum vầy với em”. Sau đó nhờ thầy
xem có hợp tuổi không? Việc xem tuổi dựa theo thuyết âm dương, ngũ hành
(kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), thiên can (giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân,
nhâm, quí) và địa chi (tí, sửu, dần, mẹo, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi)
để dự báo về số phận, hạnh phúc trong hôn nhân của con người. Theo thuyết
lí, Ngũ hành có tương sinh, tương khắc. Nếu tương sinh sẽ tạo ra sự hòa hợp
chặt chẽ, vợ chồng có sự gắn kết lâu dài, đồng tâm hiệp lực tạo nên hạnh phúc
lâu dài, còn tương khắc sẽ nảy sinh lục đục, bất hòa, đánh mất hòa khí, gây ra
nhiều hậu quả đáng tiếc.
Ca dao đã diễn tả niềm vui sướng của chàng trai, cô gái tìm được người
“xứng lứa vừa đôi”, lại hợp đường tuổi tác: “Đường xa mượn áo mà đi/ Miễn
cho tốt tuổi quản chi xa đường”; “Tuổi nàng vừa chẳn đôi mươi,/ Tuổi anh
41
hai mốt tốt tươi quá chừng”; tâm trạng lo sợ, né tránh khi không hợp tuổi:
“Xê ra đứng đứng một bên,/Thủy hỏa xung khắc không nên đứng gần/ Tuổi
anh mười chín tuổi dần/ Tuổi em tuổi tuất đứng gần can chi”; “– Dần, Thân,
Tỵ, Hợi tứ hành xung/ Khuyên anh hãy xét lại cùng/ Hiệp hôn giá thú em sợ
trùng không nên”. Nếu có yêu nhau mà hai tuổi không hợp nhau, thì đôi trẻ
cũng không được cha mẹ đồng ý cho kết hôn: “Công anh bứt choại bện
đăng,/ Cha mẹ nói rằng xấu tuổi, em thôi”; “Xấu lá gói chẳng đặng nem,/
Bởi anh xấu tuổi nên em có chồng”; “Anh thương em hồi áo mới may/ Bây
giờ áo rách thay tay vá quàng/ Màn treo sát đất gió phất màn lem/ Anh
không đặng tuổi nên em không gần”.
Ngày nay, việc coi tuổi khi kết hôn không còn phổ biến nữa. Bởi vì,
thanh niên nam nữ được tự do yêu đương, có cơ hội tìm hiểu người bạn đời
của mình. Và trên hết, họ ý thức được rằng: sự hòa hợp, đồng điệu về tâm
hồn, tính cách mới là yếu tố quyết định giá trị hạnh phúc của gia đình.
Ca dao Nam Bộ cất cao tiếng hát của tình yêu và khát vọng hạnh phúc.
Nam nữ chủ động, thề nguyền, hẹn ước chuyện trăm năm. Trong hôn sự, cha
mẹ cũng thuận theo ý con cái, lễ nghi giản dị, cốt yếu ở tình nghĩa dành cho
nhau. Có lẽ vì vậy, dù lễ dạm ngõ là một trong ba nghi lễ chính thức của
phong tục cưới hỏi nhưng được tổ chức đơn giản, phù hợp với gia cảnh của
đôi lứa yêu nhau.
2.1.2. Lễ hỏi
Nếu lễ dạm ngõ đánh dấu giai đoạn cầu thân thì lễ hỏi mở đầu giai đoạn
kết thân của gia đình hai bên, đôi nam nữ có cơ hội gần nhau để gắn kết hôn
nhân nên lễ này còn được gọi là lễ đính hôn. Lễ này được tổ chức long trọng
ở nhà gái và nhà trai mang sính lễ sang nạp tài cho gia đình cô dâu tương lai.
Theo Văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ: “Đồ sính lễ có nhiều không, có
đắt tiền không, có quý hiếm không… đều được xem là thước đo mức độ trân
trọng của nhà trai đối với nhà gái và cô dâu” (Trần Ngọc Thêm, 2013).
42
Sính lễ được mở ra trong 174 bài ca dao gồm trầu cau (112 bài) , rượu
(14 bài), trang sức (23 bài), lễ vật khác (25 bài). Như vậy, sính lễ được phản
ánh trong ca dao Nam Bộ là những lễ vật truyền thống trong phong tục hôn
nhân của người Việt.
Ca dao đã khắc họa nhiều cung bậc tình cảm của đôi lứa yêu nhau. Đó
là những khoảnh khắc thương nhớ, đợi chờ, tương tư và cả sự hân hoan, hớn
hở khi tình yêu “đơm hoa kết trái”. Chàng trai vui sướng chuẩn bị sính lễ để
hỏi cưới “người thương”:
“ Anh về hỏi mẹ cùng cha
Sắm sanh lễ vật để mà cưới em.
Tưng bừng hàng xóm ra xem
Cô dâu chú rể đẹp duyên vợ chồng.”
Trong trường ca “Mặt đường và khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm
(1974), hình ảnh “miếng trầu” là khởi nguồn của văn hóa, là dấu hiệu đánh
dấu đặc trưng văn hóa của người Việt:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa...” mẹ
thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Trầu cau đã đi vào tiềm thức hàng ngàn đời của dân tộc Việt nam. Trầu
cau là cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ với nhiều tác phẩm thấm đẫm hồn
cốt dân tộc. Những ca khúc ngọt ngào với hình ảnh “trầu cau” gắn liền với
giấc mơ tình yêu như: hoa cau vườn trầu, lá trầu xanh, cau thắm trầu xanh...
Trầu cau còn hiện diện trong những tích truyện cảm động “Sự tích trầu cau”
là câu chuyện mang tính nhân văn, vừa ca ngợi tình nghĩa vợ chồng chung
thủy, tình anh em keo sơn vừa lí giải phong tục ăn trầu của người Việt. Miếng
trầu têm cánh phượng là “tín vật tình yêu” giúp Tấm tìm được hạnh phúc bên
43
hoàng tử. Trong ca dao Nam Bộ, hình ảnh trầu cau gắn liền suốt chặng đường
nhân duyên từ lúc làm quen, tỏ tình, đến kết hôn.
Từ xa xưa, trầu cau là vật dẫn mối, định tình của nam nữ. Lá trầu thấm
đượm nghĩa tình, chuyển tải những tâm tư thầm kín của đôi lứa yêu nhau.
Thầm thương, trộm nhớ nhưng không dám thổ lộ, miếng trầu đã thay họ bày
tỏ nỗi lòng:
“Muốn trao miếng trầu, tôi sợ câu bất hiếu
Tôi để trên rào, ai có thiếu lấy ăn”
Miếng trầu không chỉ thể hiện khéo léo mà còn gói gọn tình cảm nồng
thắm của người têm. Cũng là trầu, cau, vôi nhưng cách cô gái chọn đã phần
nào nói lên tâm ý của mình, cau xanh vừa ngon bổ ra làm bốn, vôi tàu, có cả
quế và hoa chanh. Vị cay của trầu, vị nồng của vôi, mùi thơm của quế... hoà
quyện vào nhau đã thay lời tỏ tình ngọt ngào của cô gái. Miếng trầu chứa
đựng biết bao nghĩa tình để rồi trở thành trầu nhân, trầu ngãi, trầu mình, trầu
ta... Miếng trầu nhuộm thắm tình cảm lứa đôi:
“ Ra vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm bốn mời anh xơi trầu
Trầu này têm những vôi tàu
Ở giữa đệm quế, đôi đầu hoa chanh
Trầu này trầu lộc trầu danh
Trầu nhân trầu nghĩa trầu mình trầu ta
Trầu này nhuộm thắm duyên ta
Trầu xanh cho đến tuổi già không phai”.
Ở công trình Phong tục Việt Nam, Phan Kế Bính (2017) đã nhấn mạnh
vai trò của trầu cau, một phương tiện giao tiếp văn hóa quan trọng của người
Việt: “Trầu cau là một trong những thứ đầu của các sự lễ nghĩa. Phàm việc tế
tự, tang ma, việc cưới xin, việc vui mừng, việc gì cũng lấy miếng trầu làm
trọng. Tế tự thường khi dùng cả buồng cau để lễ, cưới xin nhà gái thường ăn
44
của nhà trai vài ba ngàn quả, để chia phần cho bà con”. Tục ngữ có câu
“Miếng trầu nên dâu nhà người”. Trong ca dao Nam Bộ, trầu cau một lần
nữa trở thành “vật định duyên” gắn kết tình nghĩa vợ chồng, thành lễ vật của
phong tục hôn nhân:
“Đi ra gặp em bán trầm, đi vô gặp em bán trầm
Thấy em đằm thắm trong dạ anh thương
Để anh về thưa lại với song đường
Trầu cau dạm hỏi cho nường lấy anh”
Ca dao là “tiếng hát đi từ trái tim lên miệng”, tiếng hát ấy hát nhiều về
tình yêu. Những lời đưa đẩy đầy tình cảm, ý vị của nhân vật trữ tình:
“– Có ai thương nhớ đợi chờ
Anh về bên ấy để nhờ trầu cau”
“– Ơi em nho nhỏ cắt cỏ chăn trâu,
Bước qua năm nữa anh bưng trầu cưới em”
“– Thương nhau đâu tính giàu nghèo
Gặt xong mùa lúa cau trầu đến em”
Bài ca dao chứa đựng bao nhiêu ý tình. Hành động “nhờ trầu cau”,
“bưng trầu cưới em”, “cau trầu đến em” không chỉ thể hiện sự nghiêm túc
của chàng trai trong chuyện tình yêu mà còn gắn với chuyện cưới hỏi. Phải
chăng, đó cũng là lời hứa hẹn chân thành, đáng tin nhất để cô gái đợi chờ?
Hình ảnh miếng trầu miếng cau trong các bài ca dao sau đã khơi gợi
một tình yêu son sắt, một cuộc sống vợ chồng gắn bó, thủy chung. Trầu cau là
“duyên nợ”, là nghĩa vợ tình chồng trọn đời không thay đổi:
“– Miếng trầu miếng cau là duyên là nợ,
Miếng vôi miếng thuốc là vợ là chồng”
“– Trầu têm đạo vợ nghĩa chồng
Xơi năm ba miếng thêm nồng ái ân”
“– Trầu xanh cau trắng chay hồng
45
Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên
Trăm năm ghi tạc chữ đồng
Dù ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai”...
Trầu xanh cau trắng hòa cùng lời mời thiết tha của cô gái đã chuyển tải
bao nhiêu tâm tình, khát vọng gắn kết:
“Trầu xanh cau trắng thuốc vàng
Cơi trầu bít bạc, thiếp mời chàng ăn chung”
Ngày nay, dù không còn nhiều người ăn trầu, nhưng mâm trầu vẫn là lễ
vật hàng đầu của phong tục hôn nhân. Và những bài ca dao về trầu cau của
vùng đất phương Nam đã phần nào lưu giữ tinh túy của văn hóa dân tộc, nhắc
nhở ta cuộc sống chốn thôn quê, về tình yêu đôi lứa trong sáng, thắm thiết,
mặn nồng.
Song hành với trầu cau, rượu là lễ vật không thiếu trong cưới hỏi. Hình
ảnh “mâm trầu, chai rượu” trở thành một hệ thống trong ca dao phong tục hôn
nhân. Mâm trầu chai rượu vừa thể hiện tình cảm vừa là lễ vật:
“– Phụ mẫu sinh ra có một mình em là gái
Dạy ăn, dạy nói, dạy lạy, dạy quỳ
Gả cho anh đây làm vợ
Anh lấy nghĩa gì anh đền ơn?
– Đôi đũa vàng anh dộng xuống mâm cơm
Mâm trầu cay, chén rượu bích
Anh đền ơn phụ mẫu nàng”
Bài ca dao là lời đối đáp của chàng trai, cô gái liên quan đến lễ vật cưới
hỏi. Lời của cô gái nhắc đến công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ và
nhắc khéo chàng trai về lễ vật cưới hỏi. Hình ảnh “Mâm trầu cay, chén rượu
bích” trong lời đáp như lời hứa, khẳng định mạnh mẽ, thể hiện sự hiếu đạo,
luôn lấy chữ lễ làm đầu của chàng trai.
46
Đôi khi, người con gái có cá tính mạnh mẽ, bộc trực bày tỏ quan điểm
của mình về tình yêu. Sự yêu thương chủ yếu ở tấm lòng. Vì vậy, “mâm trầu,
chai rượu” chỉ mang tính chất lễ nghi chứ không quá đặt nặng vấn đề vật chất
“đâu đòi vàng”. Hơn ai hết, họ hiểu rằng: đời sống vợ chồng sự đối đãi tử tế,
tình yêu thương quan trọng hơn bạc vàng: “Thương đây, đó nói một câu/
Mâm trầu chai rượu chứ đâu đòi vàng”. Ca dao còn khắc họa nét dịu dàng
của người con gái qua giọng điệu thủ thỉ, tâm tình: “Thương tôi rượu chén
trầu cơi,/ Đến cùng phụ mẫu đền nơi sanh thành”. Có lẽ, vị nồng ấm của trầu
cùng men rượu kết hợp với men say của tình yêu sẽ làm cho tình nghĩa lứa
đôi thêm bền chặt.
Ở những cuộc hò đối đáp, mặc dù mang tính giải trí, người hò kẻ hát có
thể tự do bày tỏ tình cảm rất táo bạo, nhưng họ vẫn xem mâm trầu hũ rượu là
lễ vật của hôn nhân:
“– Trứng vịt đổ lộn trứng gà
Anh thấy gò má trắng anh đà muốn hun.
– Hun em em cũng cho hun
Anh về nói với mẹ cha
Mâm trầu hũ rượu về nhà mới hun.
– Em ơi anh muốn hun chơi
Mâm trầu hũ rượu là nơi vợ chồng”
Trong phong tục cưới hỏi, nhà trai mang rượu trắng được gói cẩn thận
trong giấy đỏ thêm phần trang trọng đến nhà gái. Rượu này được gia đình cô
gái đặt trên bàn, coi như cô gái đã có nơi, có chốn. Tâm trạng hồi hộp, lo lắng
khi thấy “chai rượu trắng”, “hai chai rượu thuốc đỏ”, thường dò xét xem đó
có phải là “rượu nạp tài” hay không được thể hiện qua bài ca dao:
“– Bước vô nhà thấy chai rượu trắng
Bước ra ngoài than vắn, thở dài
Không biết phụ mẫu em sắm để xài
47
Hay là ai đến nộp tài cho em?”
“– Tôi đi ngang qua cái nhà ngói nhỏ
Tôi thấy hai chai rượu thuốc đỏ
Để trên cái bàn tròn nhỏ
Tôi bước lanh qua của ngõ mà than vắn thở dài
Em ơi! Rượu cha mua để uống
Hay là của thiên hạ nạp tài cưới em?”
Rượu trong đám hỏi thường được giữ lại. Khi người con gái muốn hồi
hôn thì rượu này được đem trả lại cho nhà trai. Hôn nhân không thành, đem
lại nhiều tiếc nuối, nhất là khi chàng trai bị cô gái “trả rượu”. Lời tâm sự,
nhắc nhở của chàng trong bài ca dao:
“– Con chim se sẻ nó đẻ nhành dâu
Thương không thương thì nói buổi ban đầu
Chớ đừng làm cho lỡ rượu, lỡ trầu của anh”.
Bởi vì, rượu trầu là vật định tình, nên chàng trai mong muốn cô gái thể
hiện tình cảm rạch ròi, dứt khoát trong buổi ban đầu để tình duyên được trọn
vẹn.
Còn đây là cách trả lời thật nhẹ nhàng mà thâm thúy của cô gái với
chàng trai:
“ Hồi buổi ban đầu,
Em biểu anh têm ba miếng trầu cùng li rượu lạt
Anh lắc đầu sợ tốn,
Giờ em đã có chồng, anh rủ trốn theo anh”
“Ba miếng trầu cùng li rượu lạt” không đáng là bao nhưng đó là minh
chứng cho đời sống hôn nhân được xã hội thừa nhận. Cho nên, cô gái trách
chàng trai vì “sợ tốn” nên không dám bước tới để rồi bây giờ lại rủ cô gái trốn
đi. Việc làm này không hợp với đạo lí truyền thống của người Việt. Lời
khước từ này vừa khéo léo vừa khắc họa vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ.
48
Trong lễ hỏi, nhà trai chuẩn bị một khoản tiền. Tiền này dùng để nộp
cheo cho làng và chuẩn bị thết đãi trong đám cưới. Trong Từ điển văn hóa
phong tục cổ truyền Việt Nam có ghi nhận:
Cheo là lễ vật và tiền do nhà gái nộp cho làng xã, khi con gái đi lấy
chồng, được coi là vật chứng có tính chất pháp lí về việc con gái của
gia đình đã gả bán chính thức. Xưa chưa có tờ giá thú thì tuy có lễ cưới
chính thức rồi vẫn phải nộp cheo cho làng, có khi chỉ là một miếng trầu
cho mỗi gia đình, thì cuộc hôn nhân mới coi là hợp pháp” (Nguyễn Như
Ý, Chu Huy, 2014).
Cheo xuất phát từ tục “lan nhai”. Ban đầu, đó là lời chúc phúc cho đôi
uyên ương, đoàn đưa dâu cũng có vật biếu tặng, càng về sau có những người
lợi dụng việc này để vòi vĩnh, trở thành lệ xấu. Để chấm dứt tình trạng này,
làng đặt ra lệ nộp cheo. Ghi nhận trong ca dao Nam Bộ, có 5 bài đề cập đến
vấn đề nộp cheo, cheo mang tính pháp lí, dân làng công nhận cho cuộc hôn
nhân, có giá trị như “tờ giá thú”:
“– Có cưới mà chẳng có cheo
Dẫu rằng có giết mười heo cũng hoài.”
“– Ai chồng ai vợ mặc ai
Bao giờ ra bản ra bài mới hay
Bao giờ tiền đám trao tay
Tiền cheo heo cưới mới hay vợ chồng”.
Ngoài ra, nhà trai còn chuẩn bị một khoản tiền để nhà gái chuẩn bị đám
cưới. Khoản tiền này nhiều hay ít tùy vào yêu cầu của nhà gái và khả năng
của nhà trai. Tuy nhiên, các chàng trai nghèo “miếng ăn không đủ no” thường
than thở: “Ví dầu ruột thắt gan teo/ Vì thế anh nghèo không đặng cưới em”.
Hay lời đùa vui chan chứa tình cảm, khát khao mái ấm gia đình: “Mạ non mà
cấy đất biền/ Vợ đà thấy đó anh chạy tiền không ra/ Em về thưa lại má ba/
Cho anh cưới chịu tháng ba anh chồng tiền”.
49
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có 8 bài ca dao bàn về
việc thách cưới. Tuy nhiên, đây là cách nói mang tính chất bông đùa, có phần
thách thức nhau của chàng trai, cô gái trong những chặng hát đối đáp:
“– Anh về bán đất cây da
Bán cặp trâu già mới cưới đặng em.
– Anh về bán ổ trứng gà
Anh qua cưới hết cả nhà của em”.
Những lễ vật mà cô gái đòi hỏi trong bài ca dao sau:
“Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra màu như sau:
Cưới em trăm tấm gấm đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời
Tráp tròn sắm đủ năm đôi
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng
Sắm xe tứ mã đem sang
Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu
Ba trăm nón nghệ đội đầu
Mỗi người một cái quạt Tàu thật xinh
Anh về sắm nhiễu nghi đình
May chăn cho rộng ta mình đắp chung
Cưới em chín chĩnh mật ong
Mười cỗ xôi trắng, mười mâm xôi vò
Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm
Lá đa mặt nguyệt đêm Rằm
Răng nanh thằng Cuội, râu cằm Thiên Lôi
Gan ruồi, mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng
50
Thách thế mới thỏa trong lòng
Chàng mà làm được thiếp thời theo chân”.
Trong bài ca dao này, những lễ vật như mâm xôi, mật ong, trâu bò, dê
lợn, rượu tăm, gấm đào, nhiễu, nón quạt, ống thuốc, ống vôi có thể tìm được
nhưng số lượng quá lớn, vượt quá điều kiện kinh tế thời bấy giờ. Còn những
thứ khác như ông sao trên trời, lá đa mặt nguyệt đêm Rằm, răng nanh thằng
Cuội, râu cằm Thiên Lôi, gan ruồi, mỡ muỗi, dơi góa chồng thì không thể tìm
được, thậm chí có thứ chưa từng hiện diện trên thế gian. Điều đó có nghĩa
rằng, lời thách cưới này mang tính chất đùa vui, thể hiện tâm hồn lạc quan,
yêu đời, khát khao cuộc sống no ấm, đủ đầy.
Ca dao cũng khắc họa chân dung con người đất phương Nam cần cù,
siêng năng lao động, lạc quan, luôn khao khát hạnh phúc gia đình. Những
chàng trai chân đất không ngại gian khổ để sắm “bộ nữ trang” cho người vợ
tương lai của mình:
“Cực khổ dầu mấy anh không than,
Để anh sắm bộ nữ trang cưới nàng”.
Theo Trần Ngọc Thêm (2013): “Trong số đồ sính lễ, quan trọng nhất là
đôi bông tai và nhẫn cưới, những lễ vật tiếp theo thường là vòng tay, lắc,
kiềng, dây chuyền,… làm bằng vàng bạc”.
Khám phá “nữ trang cưới” trong ca dao Nam Bộ, chúng tôi cảm nhận
được tấm lòng chân thành của chàng trai gửi đến cô gái mình thương. Trong
đó, đôi bông được nhắc đến nhiều nhất 15 bài, kiềng vàng 4 bài, nhẫn 4 bài.
Điều này chứng tỏ ca dao đã lưu giữ những vẻ đẹp truyền thống trong phong
tục hôn nhân.
Hình ảnh đôi bông trong ca dao Nam Bộ gắn liền với lễ vật cưới hỏi:
“ – Thấy em có đôi bông nhận hột, cái chột bằng đồng,
Phụ mẫu em sắm hay chồng em cho?
– Anh ơi đừng hỏi vòng vo,
51
Phụ mẫu em sắm chớ bên chồng cho hồi nào?
Đôi bông được miêu tả trong bài ca dao là đôi bông mù u hay cẩm
thạch của người xưa, loại bông tai này vặn đít “cái chột bằng đồng”, bề mặt
được cẩn hột tròn tròn giống hình dạng của hoa mù u, hay cẩm thạch tròn màu
xanh. Đôi bông thường được trao cho cô dâu trong lễ hỏi. Cho nên, chàng trai
thắc mắc về nguồn gốc đôi bông của cô gái, sợ là tín vật của nhà trai sang cầu
hôn. Lời đáp cô gái đã hóa giải những mối nghi ngờ của chàng trai và có thể
là một tín hiệu đẹp của tình yêu.
Trong quan niệm của người xưa, đôi bông là “kỉ vật tình yêu”. Do vậy,
việc trao – nhận đôi bông giữa chàng trai và cô gái là minh chứng cho sự
thuận tình:
“Gió lao xao tàu cau nhỏng nhảnh,
Em thương anh rồi thọ lãnh đôi bông”
Những từ ngữ “lao xao”, “nhỏng nhảnh” đã tái hiện không gian tình tự
của nam nữ xưa. Khung cảnh hữu tình khiến chàng trai cô gái dễ bày tỏ tình
cảm, trao kỉ vật đính ước, nhận đôi bông như một cách chấp nhận lời cầu hôn
của chàng trai. Vì vậy, trả đôi bông đồng nghĩa với việc từ hôn: “Chiều chiều
gọt mướp nấu canh/ Chạy vô lấy chảo gặp anh trèo giàn/ Thôi thôi tôi chẳng
yêu chàng/ Đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin”.
Ngoài đôi bông, nhà trai thường mang thêm một số nữ trang khác như:
kiềng vàng: “Anh câu tôm ngủ gục/ Anh giết hụt con tôm càng/ Phải chi anh
vớt đặng/ Anh sắm kiềng vàng cho em đeo”; nhẫn cưới: “Hột ngọc thủy tinh
anh giữ gìn sáng rõ/ Để dành chờ thợ làm nhẫn đeo tay/ Dù ai năn nỉ hỏi nài/
Anh đợi người biết nghĩa thì của này anh trao”.
Trong phong tục cưới hỏi của người Việt, lễ vật còn có những con vật
quen thuộc như heo, gà, vịt... Những con vật này dùng để làm cỗ thết đãi họ
hàng. Bài ca dao sau đã thể hiện niềm vui sướng, hân hoan của chàng trai khi
52
chuẩn bị chu đáo lễ vật để cưới vợ, hình ảnh “heo cưới” biểu trưng cho sự
giàu có, sung túc, phồn thịnh, đủ đầy:
“– Em ơi chớ vội chê nghèo,
Anh đây đã có đôi heo trong chuồng.”
“– Chuồn chuồn đậu ngọn dưa leo,
Trông trời mau sáng mần heo cưới nàng”
Nếu nhà có điều kiện thì chuẩn bị đầu heo nọng thịt thì gia đình nghèo
cũng có cặp vịt để thết đãi họ hàng, chung vui trong ngày trọng đại nhất của
đời người “Người ta giàu đầu heo nọng thịt,/ Hai đứa mình nghèo cặp vịt đôi
bông; “Người ta giàu nghinh thân giá thú/ Còn mình nghèo cặp vịt đôi bông/
Chứ lẽ nào xách gói về không”. Theo Sơn Nam (2017), lễ này bắt nguồn từ lệ
xưa, khi nhà trai đến nhà giá thường mang theo đôi chim nhạn. Chim nhạn là
biểu tượng của mối tình thắm thiết, sự trung trinh, chung thủy, một khi đã kết
đôi thì luôn bên nhau như hình với bóng, sống chết chỉ có một bạn đời. Hơn
nữa, khi di chuyển chim nhạn thường chịu sự chi phối của con chim đầu đàn
giống như nguyên tắc ứng xử của vợ chồng, có tôn ti, trật tự cùng hỗ trợ nhau
hoàn thành tốt bổn phận của mình, để xây dựng gia đình hạnh phúc. Người
Nam Bộ dùng cặp vịt con trống, con mái như biểu tượng của uyên ương, suốt
đời bên nhau. Hình ảnh “cặp vịt, đôi bông” trong ca dao Nam Bộ phản ánh
tinh thần trọng lễ nghĩa, trọng tình của con người xứ này.
Theo Văn hóa người Việt ở Nam Bộ, Thạch Phương và cộng sự (2014)
khi đề cập đến lễ hỏi có ghi nhận: “Ngày xưa, ở nông thôn, lễ vật mang theo
đặt trong một cặp dụng cụ bằng tre hoặc bằng mây đan rất khéo, gọi là cái
“siểng”. Người gánh siểng phải là một chàng trai khỏe mạnh dễ coi”. Cách
thức đưa lễ trang trọng, nhưng quan trọng vẫn là tấm lòng, tình cảm dành cho
nhau. Lời đối đáp của chàng trai – cô gái trong bài ca dao mang nét tinh
nghịch, đùa cợt tếu táo:
“– Cha anh cũng giỏi, chú anh cũng giỏi
53
Sao anh đi mộ lễ hỏi mà bỏ vô gói mà mang
Anh tiếc chi đôi siểng cặp tràng
Không bỏ vô mà gánh để bạn vàng cười chê.
– Cái của một đồng, cái công một lượng
Cái gói là trượng, đôi siểng là nan
Anh cũng muốn đi dù lọng thênh thang
Thêm thằng bán xiểng sợ cha mẹ nàng không cơm”.
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy ở Nam Bộ, việc dẫn
cưới chủ yếu tùy vào điều kiện gia đình nhà trai. Những lễ vật trong đám hỏi
mang tính tượng trưng, thể hiện sự gắn kết của hai gia đình, quan trọng nhất
vẫn là tình nghĩa dành cho nhau. Phong tục về lễ hỏi được ghi lại ấn tượng,
độc đáo qua ca dao, ngoài trầu cau, rượu thì “đôi bông, cặp vịt” mang đặc
trưng riêng của vùng đất Nam Bộ. Bên cạnh những lễ vật truyền thống, lễ vật
trong lễ hỏi của người Việt ở Nam Bộ có phần đơn giản, dân dã, mang đậm
nét văn hóa linh hoạt, thiết thực.
2.1.3. Lễ cưới
Lễ cưới là lễ cuối cùng và quan trọng nhất. Để cử hành lễ cưới, cả gia
đình nhà trai, nhà thống nhất chọn ngày lành tháng tốt để nhà trai đón dâu về.
Người Nam Bộ xưa không chuộng sự rườm rà, chỉ giữ lại những nghi lễ phù
hợp với đạo lí truyền thống. Số lượng ca dao Nam Bộ nói về phong tục trong
lễ cưới tuy không nhiều nhưng phản ánh đầy đủ ba lễ: lễ từ đường, đón – đưa
dâu, cúng tơ hồng.
Đám cưới xưa thường được tổ chức trong nhiều ngày. Trước khi rước
dâu một vài ngày, gia đình thường tổ chức nhóm họ. Đây là dịp để họ hàng,
cô bác gần xa gặp gỡ, tụ họp, tổ chức ăn uống, cùng chung vui với gia đình,
đồng thời giúp đỡ gia đình dựng rạp cưới, chuẩn bị lễ vật, làm cỗ thết đãi
trong ngày cưới:
“ Anh về dọn dẹp loan phòng
54
Mười ba nhóm họ, bữa rằm rước dâu
Cũng trong ngày nhóm họ, hai bên gia đình làm lễ từ đường: Từ đường
là nhà thờ họ, thờ các vị cao tằng thủy tổ và các tiên linh khác của họ tộc.
Trước ngày cưới, cha mẹ người con trai hoặc con gái mang rượu, trà, trầu cau
đến nhà từ đường thắp nhang, cáo cùng tổ tiên về việc “dựng vợ gả chồng”
cho con cái “Bước lên tấm cáo anh xắn tay áo làm lễ từ đường/ Dầu không
đặng bậu chớ cũng tình mẹ cha; Biết đặng hay không mà hòng xăn tay áo/
Vén bức sáo làm lễ từ đường/ Mai sao không đặng, ai thường công anh”.
Hay nói cách khác, sau khi làm lễ từ đường đôi vợ chồng trẻ được công nhận
là thành viên chính thức của hai gia đình:
“Tấm giấy vàng đề hàng chữ thọ,
Rước em về hai họ chứng minh”
Ca dao Nam Bộ đã tái hiện không khí trang nghiêm của lễ đón dâu
trong đám cưới xưa:
“Anh Hai đi với chị Hai,
Mâm trầu, hũ rượu tốn hai mươi tiền.
Còn dư mua chả mua nem,
Mua cặp lồng đèn hai họ cùng lên.
Ông cai, ông ký ngồi trên,
Sui gia ngồi dưới hai bên họ hàng”.
Ngày cưới đầy đủ lễ nghi, các bậc chức sắc trong làng, sui gia, cùng họ
hàng hai bên tham dự. Hình ảnh “cặp lồng đèn hai họ cùng lên” phản ánh
nghi thức truyền thống của vùng đất phương Nam. Nhà trai mang đến một đôi
đèn lớn, thắp lên bàn thờ, làm lễ xin ông bà chứng giám cho tình duyên của
đôi trẻ. Lễ lên đèn thay lời tuyên bố gắn kết trọn đời của đôi uyên ương trước
mặt tổ tiên và họ hàng:
“Thắp hương vái với ông bà,
Đôi ta kết ngãi, đến già an cư”.
55
Bài ca dao vừa phản ánh nghi thức trong lễ cưới vừa khắc họa khát
vọng xây dựng mái ấm đình của con người. Trước bàn thờ gia tiên, đôi vợ
chồng trẻ thành tâm khẩn nguyện, cầu mong ông bà tổ tiên phù hộ cho họ có
cuộc sống yên ổn, hạnh phúc đến lúc “đầu bạc răng long”.
Lễ vu qui được tổ chức ở nhà gái. Trong ngày thành hôn, li rượu vu qui
cô dâu cung kính dâng cha mẹ thay lời bày tỏ tấm lòng hiếu thảo. Hành động
“chân quỳ”, “tay rót” vừa tái hiện nghi thức trong lễ vu qui, vừa gửi gắm, kí
thác khát vọng hạnh phúc gia đình một cách thành kính, thiêng liêng:
“– Rượu vu quy anh xếp hai hàng
Chờ cha mẹ uống cho nàng theo anh”
“– Rượu vu quy chân quỳ tay rót
Cha mẹ uống rồi em dời gót theo anh”
“– Rượu lưu ly chân em quỳ tay em rót
Cha mẹ uống rồi em rời gót theo anh”.
Ca dao khắc họa thật cảm động giây phút người con gái lạy cha mẹ
trước khi cất bước theo chồng:
“Trước lạy cha, sau ra lạy má,
Con đã có chồng rồi xuất giá tòng phu”
Trong lễ vu qui, ông mai mời ông bà cha mẹ ngồi ở bộ ván giữa nhà,
với khay trầu rượu rồi rót rượu mời ông bà cha mẹ và ông bà uống, sau đó cha
mẹ khuyên nhủ, dạy dỗ con cái biết giữ gìn đạo lí, chăm lo làm ăn để gia đình
luôn hòa thuận, hạnh phúc. Con ngỏ lời tạ ơn sinh dưỡng, lạy tạ ơn cha mẹ
chịu bỏ công sức lo gia thất cho con. Rồi lạy hai lạy, xá ba xá.
Không khí tưng bừng của đám rước dâu cũng được tái hiện sinh động
qua ca dao:
“Anh về sắm lễ đi cưới người thương
Thằn lằn đi lọng, ễnh ương đi dù.
Cóc vàng chở rượu ba lu
56
Rắn mối đi họ, chuột xù làm mai”
Với cách nói trang trọng, buổi lễ rước dâu có ông mai, họ hàng đầy đủ
lễ vật cùng các vật dụng như dù, lọng đã mô phỏng cách thức của đám rước
dâu. Đây là một đám rước dâu linh đình, náo nhiệt nhưng nhân vật trong đám
rước dâu lại là những con vật quen thuộc trong đời sống hàng ngày như thằn
lằn, ễnh ương, cóc, rắn mối, chuột xù. Vì thế, bài ca dao trở nên vui nhộn, hài
hước như tâm hồn lạc của những con người phương Nam.
Theo Thạch Phương và cộng sự (2014) miền Đông Nam Bộ việc đón
dâu, đưa dâu đi đường bộ còn ở vùng Tây Nam Bộ nhiều sông ngòi, kênh
rạch, đám cưới thường di chuyển bằng ghe thuyền. Nhiều bài ca dao đã phản
ánh mơ ước của các cô gái xưa:
“– Trồng tre chẳng dám xắn măng,
Để cho măng lớn kết bè đưa dâu.
– Đưa dâu thì đưa bằng ghe,
Chớ đưa bằng bè ướt áo nàng dâu.”
Người Việt tin rằng những người có duyên, có nợ mới đến được với
nhau. Mối nhân duyên ấy được quyết định bởi trời “thiên duyên” và kết se bởi
ông tơ bà nguyệt. Cho nên, chàng trai mượn “ông tơ, bà nguyệt” để bày tỏ
tình yêu của mình:
Nguyệt lão hồi trước có xem
Ông tơ đã định anh với em vợ chồng.
Chính vì vậy, các đôi lứa yêu nhau thường cầu khẩn ông trời, van vái
ông tơ bà nguyệt se sợi chỉ hồng bền chặt để có thể chung sống với hạnh phúc
đến trọn đời. Những lễ vật cúng ông tơ, bà nguyệt rất đơn giản chỉ là nải
chuối, thẻ đường, chầu hát... nhưng trên hết là khát vọng “kết tóc trọn đời”:
“– Tôi vái ông Tơ năm ba nải chuối
Tôi vái bà Nguyệt năm bảy thẻ đường
Cho hai đứa tôi gá nghĩa can thường
57
Dầu ăn cơm quán, ngủ đình tôi cũng ưng”
“– Tôi vái ông tơ năm ba chầu hát
Tôi cầu nguyện lão năm bảy đêm kinh
Cho em cùng anh đây gá nghĩa chung tình
Dù ăn cơm quán ngủ đình em cũng cam.”
Trong 118 bài ca dao Nam Bộ, hình tượng “ông tơ, bà nguyệt” không
chỉ gắn liền với tình yêu khát khao giao hòa của tuổi trẻ mà còn gắn với
phong tục trong hôn nhân đó là lễ cúng tơ hồng.
Lễ cúng tơ hồng bắt nguồn từ truyện Nguyệt lão của Trung Quốc.
Truyện kể rằng: Đời nhà Đường, có một người Vi Cố vô tình gặp một ông cụ
ngồi dựa túi xem sách dưới bóng trăng. Khi anh ta hỏi, thì ông cụ bảo sách ấy
chép tên những người lấy nhau và túi ấy đựng những sợi chỉ hồng để buộc
chân hai người phải lấy nhau. Được biết người vợ tương lai là một cô bé ba
tuổi con của người đàn bà nghèo nên sai người giết chết. Nhưng đứa bé chỉ bị
thương. Thời gian sau, quả nhiên Vi Cố lấy người con gái ấy. Từ đó, Nguyệt
Lão được xem là vị thần se duyên.
Khi du nhập vào Việt Nam hình tượng Nguyệt Lão trở thành ông tơ, bà
nguyệt và tục cúng tơ hồng cũng bắt nguồn từ đây. Theo Sơn Nam (2017), lễ
tế tơ hồng được tiến hành vào buổi chiều, trên cái bàn nhỏ giữa nhà bày nhang
đèn, hoa quả, 12 miếng cau, 12 miếng trầu. Cô dâu, chú rể khăn áo chỉnh tề
nhờ ông lão lớn tuổi khấn vái những lời lẽ tốt đẹp, cầu mong cho đôi vợ
chồng trẻ được trăm năm hạnh phúc. Đến đêm “động phòng” đốt hai cây nến,
lễ vật là trầu cau, rượu, chè bún, muối, gừng, vợ chồng chấp tay khấn nguyện
ông tơ, bà nguyệt, hứa giữ gìn lòng chung thủy, lấy muối chấm gừng với ngụ
ý “gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”. Những nghi lễ ấy được tái hiện
một cách trang trọng trong ca dao:
“– Miếng trầu miếng cau là nhân đạo
Cái ly chén gạo là tình vợ nghĩa chồng
58
Tay tôi bưng quả cẩn vô phòng
Đèn thắp mòn hai ngọn
Tôi vái ông tơ hồng se tơ.”
“– Tay bưng quả nếp vô phòng
Đèn hương đôi ngọn chữ bá tòng còn ghi”
“– Tân hôn hai gối một mền,
Vái ông tơ bà nguyệt se bền đôi ta.”
Ông Tơ bà Nguyệt là vị thần tình yêu vừa thiêng liêng vừa gần gũi bình
dị. Khi lương duyên không thành, họ oán trách, thậm chí đánh, bắt, trói, đi
kiện ông tơ bà nguyệt. Sự tức giận mạnh mẽ đó nhằm vào những rào cản vô
hình đã ngăn cấm những trái tim yêu thương đến với nhau: “Bắt ông tơ đánh
sơ vài chục/ Duyên nợ sờ sờ ông ngủ gục quên se”; “Chiều nay tôi lên ông
tham biện/ Tôi kiện con, kiện nợ, kiện vợ, kiện chồng/ Tôi kiện ông tơ hồng,
tôi kiện bà nguyệt lão/ Se dây rồi sao lại tháo lộn trở ra”; “Đánh ông tơ cái
trót/ Ông nhảy tót trên ngọn trâm bầu/ Ông se đâu đó, ông thấy nhân nghĩa
nghèo ông không se”; “Trách mẹ trách cha qua không trách bậu/ Cha mẹ
ham giàu gả bậu đi xa/ Trách ông tơ sao se hoài se hủy/ Trách bà tơ sao se
chỉ lộn vòng/ Chỗ em không ưng thì bà muốn/ Chỗ em bằng lòng thì bà lại se
lơi”.
Lễ cưới đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong đời sống hôn nhân, hình
thành một gia đình mới. Ca dao Nam Bộ đã khắc họa không khí trang nghiêm
trong lễ bái từ đường, niềm thành kính với bậc sinh thành trong ngày đón dâu
và kí thác khát vọng hạnh phúc vào “ông tơ – bà nguyệt”. Tất cả những điều
đó góp phần nhắn nhủ đôi lứa về trách nhiệm của mình trong việc xây dựng
mái ấm gia đình.
Cuộc sống của người phương Nam vốn tự do, tự tại, táo bạo, phóng
khoáng. Cho nên, các nghi lễ trong hôn nhân chủ yếu hướng đến xây dựng gia
đình hạnh phúc. Họ tôn trọng lễ giáo nhưng không quá phụ thuộc vào những
59
qui tắc, luật lệ mà cốt yếu ở tình nghĩa. Hay nói cách khác, ca dao về phong
tục hôn nhân phản ánh sinh động quan niệm nhân sinh của người Nam Bộ.
2.2. Phong tục tang ma
Phàm làm người, ai cũng trải qua con đường sinh, lão, bệnh, tử. Chết là
biến cố lớn nhất trong đời. Sự ra đi của người thân làm cho người ở lại đau
xót khôn nguôi. Theo quan niệm Á Đông “Sự tử như sự sanh, sự vong như sự
tồn”. Cho nên, người sống tổ chức nhiều nghi lễ cúng bái người chết, lo hậu
chu đáo để người chết an lòng.
Ca dao Nam Bộ đã mở ra một thế giới tâm linh huyền bí, không gian
hư ảo trong trí tưởng tượng của con người. Đó là cõi âm phủ. Theo triết lí
phương Đông, âm phủ là thế giới nằm sâu trong lòng đất. Thế giới này được
tổ chức giống như cuộc sống ở dương gian “Dương gian, âm phủ cũng cộng
đồng”. Có ông Diêm Vương (còn gọi là Chủ biện) làm chủ, có văn võ bá
quan, ghi nhận việc làm của con người nơi trần thế, để xem xét công, tội của
con người sau khi chết.
“– Trên trời ông Ngọc Hoàng làm chủ
Dưới âm phủ ông Chủ Biện làm vua”
“– Ngó lên trời mây bay vần vũ,
Ngó xuống âm phủ đủ mặt bá quan.”
Dân gian tin rằng, sau khi chết linh hồn con người sẽ được đưa xuống
địa phủ, ở đó, Diêm Vương sẽ tra hỏi, căn cứ vào số mệnh và việc làm của
con người khi còn sống để quyết định kiếp tái sinh. Màn đối đáp trong bài ca
dao vừa dí dỏm, hài hước vừa phản ánh quan niệm về “cõi chết” của con
người:
“Anh đau tương tư nằm trên bộ vạt,
Hồn anh thất lạc, thác xuống Diêm đình.
Diêm Vương ông hỏi sự tình,
Tui lụy vì tình, tui mới thác oan.”
60
Thế giới “âm phủ” còn đi vào trong những câu ca dao tình cảm gia
đình, cất cao tiếng hát thể hiện tấm lòng chân thành, chung thủy, sắt son. Dù
dương gian âm phủ cách biệt đôi đường thì tình nghĩa vợ chồng vẫn “không
thay đổi”:
“Nước đựng trong lu bít bù còn cạn
Để nghĩa vợ chồng xanh đứt đoạn giữa trời
Anh không coi Phạm Công – Cúc Hoa
Kẻ dương gian người đà âm phủ
Đạo nghĩa vợ chồng vẫn giữ được thay”.
Theo truyền thuyết “Trịnh Bá khắc Đoạn vu Yên” của Trung Hoa, âm
phủ còn được gọi là “cửu tuyền” hay “huỳnh tuyền”, người Việt gọi là “suối
vàng”. Trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Jean Chevalier–Alain
heerbrant (1997): “Nước là dạng thức thực thể của thế giới, là nguồn gốc của
sự sống và là yếu tố tái sinh thể xác và tinh thần, là biểu tượng của khả năng
sinh sôi nảy nở, của tính thanh khiết, tính hiền minh, tính khoan dung và đức
hạnh”. Hình ảnh “hồn về chín suối”, “huỳnh tuyền”, “suối vàng” xuất hiện
trong ca dao là biến thể của biểu tượng “nước”, hình ảnh dòng sông của cõi
âm, mang ý nghĩa tái sinh. Hình ảnh này thường xuất hiện trong các câu ca
dao thề nguyền, những người yêu nhau dùng cái chết để khẳng định sự chung
thủy, nguyện đồng lòng sống chết có nhau:
“– Anh nguyền với em có mặt nhật, mặt nguyệt
Có dòng thủy kiệt, có núi sơn lâm
Nếu anh lỗi đạo tình thâm
Hồn về chín suối, xác còn dương gian.”
Người Việt tin vào sự luân hồi, chuyển kiếp. Sau khi chết, qua phán xét
ở chốn Diêm Đình, người làm điều tốt sẽ đầu thai làm người, hưởng cuộc
sống đầy đủ, hạnh phúc. Trong ca dao Nam Bộ, sự hóa thân nhằm thể hiện lời
thề chung thủy, sống thác có nhau, luôn luôn bên nhau như “chim liền cánh
61
như cây liền cành”. Dù thác sinh kiếp khác cũng mong được gần gũi bên
nhau, như chim nhạn suốt đời chỉ có một bạn tình chung:
“– Em chết ba năm xương rũ cốt mòn
Em đầu thai lên con chim nhạn mà đậu nhánh mai mòn chờ anh”.
Ca dao là khúc nhạc lòng, bên cạnh những nốt cao ngân vang âm điệu
hạnh phúc, còn có những nốt trầm khi tình yêu dang dở, khi đối diện với tử
biệt, sinh li. So với ca dao phản ánh phong tục hôn nhân thì ca dao phản ánh
phong tục tang chiếm số lượng ít hơn, chỉ 152 bài. Trong đó, có 104 bài nói
về cái chết và cõi âm, 20 bài nói về mồ mả, 1 bài nói về việc coi ngày chôn
cất, 6 bài nói về quan tài, 5 bài về nghi lễ, 16 bài nói về việc để tang. Căn cứ
vào ngữ liệu này, chúng tôi nghiên cứu biểu hiện của phong tục tang ma trong
ca dao Nam Bộ ở hai phương diện: an táng và tang chế.
2.2.1. An táng
Với quan niệm “sống cái nhà, thác cái mồ” nên người Việt xem mồ mả
là nơi gửi thân xác chốn phàm trần, lưu giữ nắm xương còn lại để người thân
ngày sau thắp hương tưởng nhớ, thể hiện tấm lòng tôn kính đối với người
chết. Ca dao Nam Bộ đã miêu tả “ngôi nhà ấy” thật sinh động. Hình ảnh
“loan”, “phụng” trên mồ mả được chạm khắc tinh xảo càng tôn thêm vẻ uy
nghiêm:
“Nhà lầu bốn cột một căn,
Con loan con phụng chạm trong chạm ngoài.
Cửa bằng pha không đóng không cài,
Biết nam hay nữ nằm hoài trong cung”.
Nếu mồ mả của những gia đình giàu có được xây cất cẩn thận thì với
người nghèo đó là cái mả đất. Ca dao Nam Bộ đã miêu tả tình cảnh khốn khó
của người lao động xưa. Khi cuộc sống dương trần nghèo khó, không chốn
nương thân “cù bơ cù bất” đến chết cũng chỉ có cái “mả đất” mà không có bia
mộ đề tên “bản đề”, “cái lề”. Hình ảnh “mả đất” “cái lề”, “bảng đề” như cái
62
nhà, cửa ngõ, đánh dấu lối về của người chết, nếu không có thì vong linh
người chết sẽ cô đơn, lạnh lẽo, phiêu bạt khắp nơi không tìm được lối về:
“– Sống dương trần tôi mần cù bơ cù bất
Thác đi rồi anh chôn mả đất không có đắp cái lề”
“– Sống trên dương trần em mần cù bơ cù bất
Thác dưới ba tất đất mà chưa được tấm bảng đề
Để nước vô lạnh lẽo làm sao em về thăm anh”.
Hình ảnh “mồ” trong ca dao Nam Bộ còn gắn với lời thề hẹn thủy
chung, khát vọng tình yêu vĩnh cửu: “chết chung một mồ”: “Sống dương trần
anh Hớn em Hồ/ Thà rằng thác đặng chung mồ với nhau”; “Hồi nào thề thốt
đêm đông/ Sống thời một chiếu chết chung một mồ”...
Ca dao cũng phản ánh niềm tin của dân gian vào bói toán. Khi có người
chết, người thân thường xem ngày để thực hiện tang lễ. Việc này nhằm xem
người chết có phạm vào giờ trùng tang hay quỉ tinh ám ảnh hay không? Nếu
có thì dùng bùa trấn áp để tránh điềm xấu, ảnh hưởng đến con cháu. Chọn
ngày giờ tốt, tránh chạm tuổi người chết lúc nhập quan, với mong mỏi người
ra đi được siêu thoát nhẹ nhàng:
“Cò mẹ chết rũ trên cây
Cò con giở sách coi ngày đưa tang.”
Sau đó tiến hành khâm liệm, người chết được tắm rửa sạch sẽ và đưa
vào quan tài (người miền Nam gọi là hàn, hàng, hòm). Theo Từ điển văn hóa
phong tục Việt Nam “gỗ tốt nhất để làm quan tài là vàng tâm, giổi, hai thứ gỗ
có đặc tính thích hợp với sơn mài, vì gỗ có nhiều dầu giữ cho sơn được bền
tốt không bong tróc” (Nguyễn Như Ý, Chu Huy, 2014). Nhà giàu thì dùng gỗ
tốt nhà nghèo thì dùng gỗ xấu, đều cố gắng sắm sửa cho người chết đàng
hoàng, để không tủi vong linh người đã khuất. Ca dao Nam Bộ chuyển tải tâm
tư của người chồng, người vợ:
“– Em ở với anh mần có bạc ngàn
63
Sau rủi thời em có chết trước
Chớ anh chôn em bằng hàn hay bó mo
– Em chết rồi anh có lòng lo
Mua hàn quán xứng đáng chứ bó mo anh không có đành.”
“– Hôm nay anh chết sớm
Em sắm cái hòm huỳnh đàn
Chạm đủ bốn con
Lên non xuống núi em thỉnh luôn bộ nhà vòng
Vi mô tấn nguyệt vợ chồng từ biệt nghĩa nhân.”
Lời tâm sự trên vừa khắc họa tình cảm vợ chồng vừa thể hiện phong tục
tang lễ của người Việt. Khi một người qua đời, người còn lại cố gắng lo hậu
sự chu đáo, để trọn nghĩa vẹn tình. Hình ảnh “hàn quán xứng đáng” hay chiếc
“hòm huỳnh đàn” quí giá được chạm trổ tinh xảo “hàng huỳnh chín chục mà
có chạm mặt trăng hai đầu” đã nói hộ tấm lòng thương nhớ của người còn
sống. Bởi lẽ, vợ chồng là nghĩa tào khang đã cùng nhau vượt qua những thăng
trầm của cuộc sống, từng thề nguyền sinh tử có nhau. Tình nghĩa ấy không chỉ
lúc còn sống mà ngay khi chết vẫn nồng nàn, tha thiết.
Đám tang xưa thường tổ chức trong nhiều ngày để người thân ở xa có
thể về kịp tiễn đưa lần cuối. Ông bà xưa có câu “Sống dầu đèn, chết kèn
trống” nên gia đình có tang sự thường mời ban nhạc để vừa thực hiện nghi lễ
đám tang vừa giảm bớt ưu sầu, đau đớn của gia đình. Ca dao chứa đựng cả
một nền âm nhạc dân gian Nam Bộ “hò, sự, xang, xê, cống” và mô phỏng âm
thanh của dàn nhạc lễ dân gian đờn, trống,... Còn cả lễ động quan, có nhưn
bông (người điều khiển nghi thức trong lễ động quan) và đạo tì hò hát cùng
những động tác thuần thục thực hành nghi thức phá quàn. Âm thanh nhạc lễ
của những đứa con hòa vào tiếng học trò đọc văn tế vang lên, hình ảnh của
“người quá cố” như hiện về trong tâm trí của người thân. Bài ca dao vừa thể
64
hiện nỗi đau xót của người còn sống đã khắc họa nghi thức quan trọng của
đám tang:
“Anh ơi! Hồi anh còn sống dương gian chồng vợ đàng hoàng
Giờ đây anh dẫu vô phần xấu phước
Anh chết trước để lại một nén vàng hai ngàn đồng bạc
Em nhắc cho anh một cái huỳnh đàn lọng lạc, rước nhạc Gò Công,
đạo tỳ Gò Cát.
Lúc động quan kẻ hát người hò, rước học trò đọc văn tế cho mình
Ngày bữa nay con trai thứ hai phò đầu xăng giá triệu
Thằng con thứ ba phò cây đàn cò chỉ sợi dây dừng kêu tì, ti, tí ,tỉ
Sợi dây thẳng kêu hò cống, xê, xang
Ngày mai tâm can rời ra, hai ngả biệt ly
Phu lìa thê, tợ chim kia chích cánh
Thê lìa phu liễu nọ lìa cành
Ngày kia chôn anh đã ra rành rành
Trở về nhà nghe tiếng trống cơm kêu bùm bum ruột rung từng đoạn
Em muốn thác theo chàng hai mạng nằm chung”.
Khi động quan, các đạo tì múa và lạy để thực hiện nghi lễ. Trong lúc
đó, người nhà mang minh tinh (dải lụa ghi tên họ, tuổi tác ... của người chết
treo trên giàn nhỏ, khiêng trước quan tài khi đưa tang), giá triệu là bài vị của
người quá cố, nghinh quan tài (bưng bát hương đi thụt lùi phía trước quan tài
để dẫn đường) cùng theo ra mộ phần. Nếu ở miền Bắc, những việc này
thường do con trai trưởng, con thừa tự, cháu đích tôn thực hiện thì ở miền
Nam các con cùng chung vai góp sức thực hiện các nghi thức đó: con trai
khiêng minh sinh, con gái phò giá triệu và con dâu nghinh quan tài. Quan
điểm này được diễn tả trong bài ca dao sau:
“– Một mai ai đứng minh sinh,
Ai phò giá triệu, ai rinh quan tài?
65
– Minh sinh đã có con trai
Giá triệu con gái, quan tài nàng dâu.”
Giọng điệu trữ tình của ca dao Nam Bộ đã truyền tải tình cảm sâu nặng
của những con người xứ này với những người thân yêu trong giây phút tử biệt
sinh li. Đồng thời, ca dao cũng lưu giữ những nghi lễ truyền thống của việc an
táng từ việc chọn ngày, chuẩn bị mồ mả, quan tài cho đến nghi thức động
quan. Dù đau khổ ngậm ngùi nhưng tang lễ vẫn được chuẩn bị chu đáo. Có lẽ,
trong tâm hồn lạc quan yêu đời của vùng đất phương Nam, cái chết nhẹ tựa
lông hồng nên những câu hát tâm tình thường hướng về những đạo lí truyền
thống tốt đẹp thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc.
2.2.2. Tang chế
Sau khi nhập quan, khâm liệm, người nhà tổ chức lễ thành phục. Theo
Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính (2017) ghi nhận: “Tang phục: con trai,
con gái, con dâu, đội khăn xô, mũ chuối, mặc áo xô, quàng ngoài sợi dây
chuối, thắt lưng bằng chạc. Cháu nội thì đội mũ mấn, khăn trắng, mặc áo
thụng trắng, thân thuộc cũng mặc đồ trắng cả”.
Ca dao vừa bộc lộ nỗi lòng đau đớn, xót xa của người vợ khi chồng qua
đời vừa khắc họa phong tục để tang cho người đã khuất:
“Anh chết rồi em quấn chế khăn tang
Lo đãi đằng cô bác mà vào phòng loan khóc thầm”
Theo Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (tập 1), Nguyễn Đổng Chi
(1957) đã ghi lại câu chuyện “Sự tích chiếc khăn tang” như sau: Nhà phú hộ
có năm cô con gái đi lấy chồng, lần lượt cha mẹ đến thăm nhưng đều thờ ơ
lãnh đạm. Phú ông buồn bã, đi tìm một đứa con nuôi để nương tựa lúc tuổi
già. Trong bộ dạng của kẻ nghèo khó, ông rao bán “Có ai mua cha thì ra mà
mua. Mua ta về làm cha chỉ mất năm quan tiền thôi”. Điều đó làm mọi người
chê cười. Duy có đôi vợ chồng mồ côi với khao khát tình cảm muốn mua về.
Nhưng gia đình nghèo quá, người vợ phải bán tóc để đủ tiền mua cha. Họ
66
hiếu thuận, chăm sóc chu đáo, nghe lời cha, dù phải ăn xin. Khi về đến nhà
mới biết cha của mình là gia đình giàu có. Từ đó, họ được hưởng cuộc sống
yên vui, hạnh phúc. Khi người cha chết đã dặn rằng: “Việc để tang thì đứa
con trai cứ theo cổ tục cắt tóc đội mũ quấn rơm trên đầu để chứng tỏ mình
chịu cực chịu khổ với cha mẹ thì thôi cũng được, nhưng đứa con dâu thì bà
bảo nó khỏi cắt tóc, vì tôi chưa bao giờ quên cái việc nó đã phải bán mớ tóc
dài của nó để mua cha, vậy nó chỉ cần đội khăn tang là đủ” và không cho
năm người con gái biết. Người mẹ vì thương nên cho con gái hay và khi cho
họ đưa tang đã lấy miếng vải vuông che mặt. Câu chuyện nói về chiếc khăn
tang nhưng qua đó ca ngợi tấm lòng hiếu thảo, hết lòng chăm sóc cha mẹ khi
còn sống.
Ca dao bộc lộ nỗi trăn trở của các bậc làm cha mẹ xưa. Khi xã hội còn
tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, việc tang ma do con trai và cháu nội phụ
trách, nên câu hỏi “Mũ rơm ai đội, áo thùng ai mang ?” luôn canh cánh
trong lòng:
“Một mai bóng xế cội tùng
Mũ rơm ai đội, áo thùng ai mang ?”
Lệ xưa còn qui định việc để tang nhằm tưởng nhớ người đã khuất. Theo
Sơn Nam (2017), cha mẹ chết, con cháu trở thành kẻ khốn cùng trên đời. Có
lệ, con cháu không lau mặt, ngồi ăn cơm dưới đất, không cạo râu, không cắt
móng tay... làm ra vẻ tiều tụy. Ca dao đã khắc ghi hình ảnh ấy như sau:
“Râu dài để chế cho cha
Tóc dài theo lệ ông bà ngày xưa”
Theo Đất lề quê thói, Nhất Thanh (2016) ghi rõ: “cháu để tang ông
nội, chắt để tang cụ, chút để tang kị, cũng ba năm áo trảm thôi, như con trai
để tang cha mẹ”. Cảnh sinh li tử biệt khiến người trong cuộc đau khổ khôn
nguôi. Con cháu thương tiếc nhớ nhung người đã khuất, nên chẳng màng đến
chuyện riêng tư, giữ mãi tình cảm thiết tha với người đã mất. Trong thời gian
67
đó, gia đình thường kiêng kị việc cưới gả, cho nên đôi lứa yêu cũng nén lòng
chờ đợi mãn tang mới tính chuyện trăm năm. Tình cảm ấy cũng được gửi gắm
vào ca dao:
“– Bắt lấy tay em anh không sợ tội
Ngó lên trên đầu còn đội tang cha”
“– Hai đứa mình trai gái bụi tre gai
Anh năn năn nỉ nỉ, ỉ ỉ ôi ôi
Còn tang bà nội tội lắm anh ơi
Hết tang bà nội em sẽ đứng ngồi với anh”.
Theo Đức Thành (2019), trong Thọ Mai gia lễ, việc để tang của người
chia làm đại tang và tiểu tang. Đại tang là con để tang cha mẹ ruột, nàng dâu
để tang cha mẹ chồng, vợ để tang chồng, cháu đích tôn để tang ông bà thời
gian ba năm. Tiểu tang có nhiều bậc trong đó chồng để tang vợ là một năm.
Trong ca dao Nam Bộ tấm lòng hiếu thuận của nàng dâu đối với cha mẹ
chồng được thể hiện:
“Em để chế cho ai mà tóc mai rành rạnh
Em để chế cho cha mẹ chồng hiếu hạnh của em”
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa nàng dâu và mẹ chồng khi xưa đôi khi
không được suôn sẻ lắm. Lúc mẹ chồng chết, nàng dâu dường như thoát khỏi
những áp chế về quyền lực nên có thể chưng diện, sắm sửa:
“Nàng dâu để chế mẹ chồng,
Đôi bông hột lựu, đôi vòng sáng trưng”.
Đặc biệt, khảo sát những câu ca dao về tang chế, chúng tôi nhận thấy
có 6 bài ca dao phản ánh việc vợ để tang cho chồng. Vợ để tang chồng theo
đại tang, trong thời gian còn tang chế, người vợ không được quyền tái giá.
Cho nên trong ca dao, lời than nghe não nuột:
“Em vô phần vô phước
Anh chết trước, em đem chôn nhằm giọt nước chảy quanh
68
Em cầm quạt Tàu em quạt, ráo mồ anh em mới lấy chồng.”
Câu ca dao mượn hình ảnh “quạt Tàu”, vốn xuất phát từ câu chuyện
Trang Tử thử vợ. Qua câu chuyện này, chúng tôi thấy rằng tang chế ngoài
việc thể hiện nghi lễ còn phản ánh tấm lòng chung thủy của vợ chồng. Bài ca
dao vừa là lời than thở của người phụ nữ khi người chồng chết trước vừa thể
hiện khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ. Vốn chịu nhiều ràng buộc bởi lễ
giáo, người phụ nữ mong muốn vượt thoát để đi theo tiếng gọi của tình yêu,
tìm kiếm hạnh phúc của mình mà không phải chịu tiếng đời dị nghị, dèm pha.
Sau ba năm để tang, có lẽ người mất cũng thấu hiểu tâm tình của người
còn sống, người ta làm lễ xả tang. Sau lễ này, người dân Việt tin rằng người
chết đã tìm được cuộc sống khác, bình yên ở thế giới bên kia, nên có thể “tùy
duyên” mà sống tiếp, tìm lại hạnh phúc. Ca dao cũng góp phần diễn tả điều
đó:
“Ba năm tang chế mãn rồi
Đầu dơ em gội chuỗi vòng đeo vô”.
Đây là tình cảm của người vợ đối với người chồng quá cố. Sau ba năm
để tang theo đúng lễ nghi truyền thống. Người phụ nữ muốn tìm lại niềm vui
trong cuộc sống, hình ảnh “đầu dơ em gội”, “chuỗi vòng đeo vô” như sự vực
dậy tinh thần, khiến họ phấn chấn hơn, hướng đến giá trị nhân bản sâu sắc.
Tiếng nói của những anh trai làng hiền lương, chân chất, muốn phá vỡ
những rào cản của tư tưởng Nho giáo. Thấy người con gái để tang, chàng trai
cũng muốn chia sẻ, nếu là tang cha mẹ thì chịu tang chung coi như con rể
trong nhà:
Để chế mẹ cha xé hai cho mình một nửa
Việc để tang tưởng nhớ nhằm thể hiện tấm lòng thương cảm của người
còn sống đối với người đã khuất, mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc.
Trong phong tục tang ma, ca dao Nam bộ đã tái hiện thế giới “cõi âm
huyền bí” cùng với những nghi lễ đưa tang thể hiện niềm tin vào sự bất tử của
69
linh hồn. Tang lễ như buổi tiễn đưa linh hồn về cõi vĩnh hằng, sum họp cùng
tổ tiên, xây mồ mả đẹp để ấm lòng người đã khuất. Những nghi lễ ấy không
chỉ thể hiện sự cung kính đối với người chết mà còn là sự thương nhớ, tiếc
nuối của người còn sống.
70
Tiểu kết chương 2
Phong tục của Nam Bộ là sự tiếp tục của mạch ngầm truyền thống được
người dân mang theo trong hành trang lập nghiệp. Từ góc nhìn phong tục gắn
với vòng đời con người, chúng tôi nhận thấy những câu hát ngọt ngào là dòng
chảy của phong tục truyền thống ở vùng đất mới. Ở đây, những phong tục hôn
nhân và tang ma vừa có nét kế thừa vừa có nét biến đổi để phù hợp với quan
điểm, suy nghĩ của cộng đồng.
Hôn nhân là kết quả của tình yêu lứa đôi, là nền tảng của gia đình. Sự
gắn kết của vợ chồng không chỉ là ở mặt sinh lí và tình cảm mà còn gắn kết
về mặt tâm linh thông qua những nghi lễ cưới hỏi. Ca dao Nam Bộ đã phác
họa phong tục cưới hỏi với những nghi lễ quan trọng như: lễ dạm ngõ, lễ hỏi,
lễ cưới. Lễ vật cưới hỏi đơn giản, không đặt nặng về giá trị vật chất, chủ yếu
thể hiện tấm lòng yêu thương, khao khát xây dựng mái ấm gia đình; các lễ
nghi cũng thể hiện tinh thần trọng nghĩa, cởi mở. Qua phong tục cưới hỏi,
chúng ta cảm nhận được khát vọng hạnh phúc lứa đôi, tâm hồn vui tươi, hóm
hỉnh và tinh thần lạc quan, yêu đời của người lao động.
Ca dao là nơi kí thác tình cảm của con người. Có lẽ vì vậy, phong tục
tang ma thể hiện trong ca dao bằng giọng điệu bi thiết, cảm thương, nỗi lòng
nhớ tiếc dành cho người quá cố. Những bài ca dao về phong tục tang ma đã
góp phần biểu lộ đời sống tình cảm, cảm xúc của con người Việt Nam. Suy
rộng ra, những nghi lễ tang ma biểu thị tấm lòng thành kính, ngưỡng vọng của
người còn sống đối với người đã chết.
Tóm lại, ca dao Nam Bộ đã phản ánh khá rõ nét đẹp của văn hóa phong
tục người Việt trong đời sống xã hội, góp phần làm thể hiện chiều sâu trong
sinh hoạt cộng đồng. Hay nói một cách khác, ca dao Nam Bộ đã lưu giữ các
phong tục truyền thống, làm giàu hơn đời sống tinh thần của con người.
71
Chương 3
CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN
PHONG TỤC GẮN VỚI TÍN NGƯỠNG
Trước khi trở thành một vùng đất trù phú, Nam Bộ là không gian bao
la, rợn ngợp, mênh mông, vời vợi. Đây là chốn rừng thiêng, thú dữ, muỗi
mòng, sình lầy ... luôn là mối đe dọa của con người. Trước cái bí hiểm của
trời đất, con người cần một chốn nương tựa về mặt tinh thần, từ đó hình thành
những phong tục tín ngưỡng dân gian độc đáo. Điều này được thể hiện ấn
tượng trong ca dao. Đó là sự thành kính với thế giới linh thiêng qua phong tục
thờ cúng đa thần, phong tục thờ cúng người thân trong gia đình.
3.1. Phong tục thờ cúng đa thần
Nam Bộ nằm trên đường giao thoa văn hóa. Quá trình Nam tiến của
những lưu dân Việt với hành trang của văn hóa truyền thống, với tư tưởng
tam giáo đồng nguyên, cùng tinh thần thoáng mở đã tạo nên sự hợp dung văn
hóa ở vùng đất mới. Quá trình làm ăn sinh sống, tiếp xúc với văn hóa tín
ngưỡng của các dân tộc Hoa, Chăm và Khmer, người Việt đã tiếp thu và biến
đổi để làm giàu hơn tín ngưỡng dân tộc.
Hệ thống tín ngưỡng ở Nam Bộ rất đang dạng. Chùa chiền, đình, miếu
thờ cúng Phật, Thần và những người có công với cộng đồng. Trong tâm hồn
của người Việt, hình ảnh đình, chùa, miếu đã trở thành chỗ dựa tinh thần, một
“miền đất thiêng”, lưu giữ tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào về
truyền thống văn hóa dân tộc. Những địa danh chợ Thủ, Long Điền, đền Quán
Thánh, chùa Bửu Linh nổi tiếng ở Nam Bộ được lưu giữ trong bài ca dao
chan chứa nỗi nhớ niềm thương, khơi gợi kí ức về một vùng quê trù phú:
“Ai về chợ Thủ, Long Điền
Ghé đền Quan Thánh, thăm chùa Bửu Linh
Xa xa thấp thoáng mái đình
72
Điệu hò, câu lý quê mình đẹp sao!”
Vùng đất biên giới phía Tây Nam của tổ quốc, có dãy Thất Sơn huyền
bí, có núi Sam linh thiêng với tín ngưỡng bà chúa Xứ và các bậc tiền nhân
như Nguyễn Hữu Cảnh, Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Tri Phương ... trở thành
niềm tự hào của người dân An Giang. Bài ca dao đã chuyên chở bao nhiêu
tình hay ý đẹp, sự trìu mến thân thương về mảnh đất “địa linh nhân kiệt” này:
“ Ai về Châu Đốc, An Giang
Nhớ viếng núi Cấm, Thất Sơn quê mình
Danh lam thắng cảnh hữu tình
Đình chùa, di tích, hiển linh, diệu huyền
Địa linh, nhân kiệt, thánh tiên
Dâu ngoan, rể thảo, tôi hiền trung can
Quê tôi Châu Đốc, An Giang”.
Sự hợp dung trong tín ngưỡng dân gian tạo thành nét sinh hoạt cộng
đồng độc đáo. Miếu và chùa, ngoài việc tế lễ còn là dịp để người dân vui chơi
sau vụ mùa vất vả:
“Phụng hoàng đua, se sẻ cũng đua,
Dạo chơi trước miễu sau chùa,
Dụng người buôn bán quê mùa thiếu chi”.
Sự đa dạng này đã ghi đậm dấu ấn trong ca dao Nam Bộ. Qua nghiên
cứu, chúng tôi thấy rằng tín ngưỡng dân gian đã hòa nhập vào tôn giáo tạo
nên nét độc đáo trong phong tục thờ Trời, Phật; phong tục thờ Thần; phong
tục thờ Mẫu và Quan Công.
3.1.1. Phong tục thờ Trời, Phật
Trong tâm thức người Việt, Trời và Phật là các đấng thiêng liêng, có
quyền năng tối thượng, cứu giúp con người thoát khỏi những tai ương trong
cuộc sống. Tư tưởng thờ Trời kính Phật được người Việt mang theo từ cội
nguồn đến vùng đất mới sớm đâm chồi nẩy lộc. Chính niềm tin vào Trời, Phật
73
đã giúp những lưu dân vượt qua những bí hiểm rùng rợn của đất phương Nam
những ngày đầu lập nghiệp.
Trong đời sống phong tục thờ Trời, Phật là biểu hiện của lòng thành
kính tuyệt đối vào lực lượng siêu nhiên qua các nghi thức tế, bái... Nhưng
trong ca dao, phong tục thờ Trời, Phật chủ yếu phản ánh niềm tin của con
người vào các đấng thiêng liêng.
Mở ra trong 270 bài ca dao Nam Bộ là thế giới thiêng kí gửi khát vọng
về cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Người xưa cho rằng trời đất chia làm ba cõi:
thiên đình, dương gian, âm phủ. Nếu ở cõi âm phủ, ông Chủ biện làm vua
phán xét linh hồn con người sau khi mất thì cõi dương gian, con người cất
miếu, xây chùa để thờ Phật và ở thiên đình do Ngọc Hoàng làm chủ có khả
năng nhìn thấu cả ba cõi. Danh xưng ông Trời là tên gọi thân mật của Ngọc
Hoàng Đại đế. Theo quan niệm của người Việt, Trời nằm ở cõi cao nhất, có
triều đình riêng, cai quản cuộc sống trên trời dưới đất. Trời, Phật đã hình
thành một cõi thiêng trong tâm hồn con người. Nếu trong truyện cổ tích cõi
Trời, Phật được miêu tả chi tiết, cụ thể thì trong ca dao như là một duyên cớ
để chàng trai, cô gái bày tỏ tình cảm:
“– Thấy anh hay chữ em hỏi thử mấy lời:
Trên trời ai làm chủ?
Dưới âm phủ ai làm vua?
Trước đây ai lập miếu làm chùa?
Trai như anh đối đặng mà em làm mùa cho anh.
– Thấy em hỏi tức anh nói phức cho rồi
Trên trời ông Ngọc Hoàng làm chủ
Dưới âm phủ ông Chủ Biện làm vua
Ở dương gian ông Cả, ông Xã lập miếu cất chùa
Trai như anh đối đặng em làm mùa cho anh không”
74
Những ngày đầu đến vùng đất mới, đối diện với những trở lực khủng
khiếp của tự nhiên đến con cá bơi, con chim bay cũng khiến con người giật
mình “Tới đây xứ xở lạ lùng/ Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh”.
Cùng với quan niệm “vạn vật hữu linh”, mỗi gốc cây, ngọn cỏ dường như có
linh khí có thể phù trợ hoặc đe dọa con người. Có lẽ để trấn an cảm giác sợ
hãi khi đối diện với sự rợn ngợp của tự nhiên, con người tìm đến Trời như
một điểm tựa thiêng liêng:
“Tới đây lạ bến đậu nhờ
Lạy trời bớt gió cho sóng trong bờ đừng chao”
Hành động “Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời” thể hiện tấm lòng của con cái
đối với cha mẹ. Hình ảnh “đèn trời” trong ca dao là vết tích của phong tục thờ
Trời, Phật của vùng đất phương Nam:
“Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời,
Cầu cho cha mẹ sống đời với con”.
Ở Nam Bộ, mỗi nhà đều có một bàn thờ Trời (ông Thiên). Bàn thờ đơn
giản chỉ gồm một cây cột, trên có một tấm ván hình vuông. Bàn thờ vừa thể
hiện bản chất mộc mạc, chân thành của người dân phương Nam vừa ẩn chứa
triết lí âm dương sâu sắc. Trên bàn thờ bày lư hương, vài chung trà chén rượu,
lọ hoa... Bàn thờ ông Thiên là nơi kết nối tâm linh của con người và trời đất.
Vào khoảnh khắc giao nhau giữa ngày và đêm, gia chủ thắp nén nhang tế
cùng trời đất cầu mong Trời ban phước lành, bình an... cho cha mẹ và các
thành viên khác gia đình. Ngọn đèn trời soi sáng tấm lòng của người con hiếu
thảo.
Trời có quyền năng vô hạn, chi phối vận mệnh con người. Người xưa
cho rằng cây cỏ sinh ra từ đất, lấy dinh dưỡng từ đất để trưởng thành cũng
như mỗi người có một số phận, có phước phần riêng “Thiên sinh nhơn hà
nhơn vô lộc/ Địa sinh thảo hà thảo vô căn/ Trời sinh ra người đều có lộc trời/
Đất thì sinh cỏ rễ chồi nào không”; “Chữ rằng: Phú quý tại thiên/ Giàu sang
75
tại số hiển nhiên tại trời; Ai ai cũng ở trong trời/ Phần ai nấy hưởng ngạo
đời làm chi?”
Ẩn trong những câu hát bày tỏ nỗi lòng là niềm tin vào duyên nợ trời
định. Các đôi lứa yêu nhau tin rằng ông Trời đã xui khiến, tạo cho họ cơ
duyên gặp nhau, cùng nhau “kết tóc se tơ” đến trọn đời: “Màn rồng một bức
giăng ngang,/ Tôi với mình trời định, tam cang ngũ thường./ Mình về thưa
lại thung đường/ Qua đây gá nghĩa cang thường với em”. Vì vậy, họ thường
cầu nguyện ông Trời để được gần nhau: “Vái trời cho đặng vuông tròn,/
Trăm năm giữ vẹn lòng son cũng chàng”; “Vái trời cưới được cô Năm,/ Làm
chay bảy ngọ, mười lăm ông thầy”; “Vái trời cho đặng vuông tròn,/ Trăm
năm giữa vẹn lòng son cùng chàng”; để người yêu vừa lòng: “Lạy trời đừng
gió đừng mưa/ Êm êm dịu dịu cho vừa lòng em”. Hành động vái, lạy thể hiện
sự kính cẩn, thành tâm hướng đến cõi trời, cất lên tiếng nói của tình yêu. Hay
nói cách khác, niềm tin vào Trời đã chấp thêm đôi cánh cho tình yêu, giúp đôi
trẻ vượt qua những chướng ngại để xây tổ ấm gia đình hạnh phúc.
Ca dao cũng lấp lánh niềm tin vào đạo trời:
“Ở hiền thời lại gặp lành
Những người nhân đức trời dành phúc cho”.
Người Việt tin rằng “Ông Trời có mắt”, luôn chứng giám, can thiệp
mọi việc làm của con người. Điều đó chi phối cách hành xử của con người,
kết tinh thành đạo trời trở thành qui tắc ứng xử chốn nhân gian. Trời vốn
chuộng công bằng, lẽ phải, khuyến khích con người biết sống nhân nghĩa nên
những người hiền lành sẽ được phúc báo của trời.
Vì vậy, con người nhắc nhở nhau sống có tình có nghĩa, nhất là đối đãi
với những người thân trong gia đình, biết thờ cha, kính mẹ, yêu thương vợ
con:
“Ai ơi muốn hưởng lộc trời
Trước thờ cha mẹ, sau là vợ con”.
76
Trong ca dao, những lời nhắn nhủ chân tình, khuyên nhủ con người nên
siêng năng, cần mẫn, lo lắng làm ăn để có được cuộc sống giàu sang, sung
sướng. Việc này đã phần nào khắc họa niềm tin vào trời, nhưng trên hết, đó là
tinh thần lạc quan, yêu lao động của người dân lao động:
“Mần cực khổ anh đừng than,
Chừng trời đất ngó lại giàu sang mấy hồi”.
Ca dao Nam Bộ khuyến khích con người sống trọn đạo trời: “Chim trời
thì hưởng lộc trời/ Ăn chi của bạn nghe lời đắng cay”; “Của trời trời lại lấy
đi,/ Giương hai con mắt làm chi được đời”; đồng thời răn đe những kẻ bất
hiếu: “Ai bỏ cha mẹ cơ hàn/ Ngày sau trời phạt mò đàng ăn xin”. Điều này
góp phần xây dựng cách ứng xử văn minh của con người, không tham lam,
không bất nghĩa.
Niềm tin ông Trời cũng bênh vực, bảo vệ người ngay, trừng trị những
kẻ có tâm địa xấu xa cũng phát triển mạnh mẽ trong ca dao Nam Bộ: “Bắc
thang lên hỏi ông trời/ Mấy thằng ác đức sống đời được không/ Ông trời ổng
bảo rằng không/ Mấy thằng ác đức thì không sống đời”; những kẻ bạc tình,
tham sang phụ khó: “Nghiêng tai dưới gió/ Em kể công khó cho chàng nghe/
Kể từ ngày anh đau ban cua lưỡi trắng/ Miệng đắng cơm hôi/ Cha mẹ không
cho em vô/ Em cũng ráng vô để bế đứng bồng ngồi/ Bây giờ anh ở bạc, ông
trời nào để anh”; “Cuốn sách Minh Tâm,/ Tay em cầm anh đọc/ Thiện ác
dáo dầu chung hữu báo,/ Cao phi viễn tẩu giả nam tàng./ Hồi nào anh lấy
em,/ Nay đem dạ điếm đàng,/ Anh ơi! Trời cao có mắt,/ Ông trời nào để
anh”.
Ca dao là con đò chuyên chở cảm xúc, không chỉ là niềm vui mà cả nỗi
buồn. Khi tình yêu dang dở để lại nỗi day dứt không nguôi, con người cho
rằng trời đã gây ra nỗi đau ấy: “Trách trời phân rẽ tóc tơ,/ Kẻ thác âm phủ,
người chờ dương gian!/ Chiều chiều ra mộ khóc than,/ Cảm thương bậu phải
cơ hàn nắng mưa”; “Nhìn nhau lụy nhỏ thấm bâu/ Than trời trách đất cớ
77
đâu phân lìa”; khi cho số mệnh của mình hẩm hiu: “Ca rô ăn móng dợn sóng
đường cày/ Vợ anh còn, con anh đó, ông trời đày em phải thương; Trời
chuyển mưa giông, mây phủ mình rồng/ Phần anh nay hết số lấy gái có chồng
hai con”.
Những người lưu dân nương tựa vào tự nhiên, tìm cách hòa hợp để tồn
tại. Nhưng họ vẫn có niềm tin vào chính bản thân mình, không quá phụ thuộc
vào mệnh trời. Điều này được thể hiện sinh động trong ca dao:
“– Bần de đóm đậu sáng ngời
Lỡ duyên chịu vậy trách trời làm chi.”
“– Đèn treo trước gió bốc cháy sáng ngời
Ưng không tự bụng trời nào ép duyên.”
“– Đừng nên trông đợi ở trời
Hãy tin vào sức con người lớn lao.”
Không những kính Trời, người dân phương Nam còn thờ Phật. Những
con người “tứ xứ” đến sinh sống tại đây đều có tinh thần đoàn kết, nghĩa hiệp,
cùng nương tựa vào nhau vượt qua những khó khăn trong thời kì lập nghiệp.
Quá trình mở làng lập ấp, người Việt đã tiếp thu văn hóa, phong tục, tín
ngưỡng của người Hoa, người Chăm, người Khmer. Nghiên cứu Đạo Phật
trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ – Việt Nam từ thế kỷ XVII đến 1975,
Trần Hồng Liên (1995) đã khẳng định đạo Phật ở đây được kết hợp từ các tư
tưởng Phật giáo của cư dân Thuận – Quảng, thiền sư Trung Hoa và Phật giáo
Nam tông. Trên mảnh đất Nam Bộ, Phật giáo đã chuyển mình tìm sự dung
hòa với phong tục tập quán tạo sức sống bền vững trong cộng đồng.
Trong ca dao Nam Bộ, những ngôi chùa thâm nghiêm, cổ kính từng
chứng kiến bao lời cầu nguyện của người dân di cư. Họ tin rằng đức Phật từ
bi sẽ cứu họ thoát qua khỏi những tai ương, phù hộ cho họ được bình an. Ngôi
chùa là cơ sở của tín ngưỡng tôn giáo, gắn liền với sinh hoạt văn hóa, lễ hội
khác của cộng đồng. Người dân đến dâng hương lễ Phật nguyện cầu những
78
điều kinh tâm, gửi tấm lòng thành đến Phật mong tìm được sự an nhiên trong
cuộc sống:
“Dù có đi đâu về đâu
Tháng giêng hai chín nhớ câu hội về
Trà Ôn – Phước Hậu chùa quê
Dâng hương tưởng nguyện niệm lời kinh tâm”.
Phật giáo Nam Bộ đan xen, hòa quyện cùng tín ngưỡng dân gian trở
thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho con người. Việc cúng tế cũng chuộng
sự đơn giản, không cầu kì, có gì cúng nấy theo tinh thần “tùy duyên” của
Phật. Những lễ vật cúng tế được phản ánh trong ca dao là các loại bánh, trái
quen thuộc như: bánh, chè, quả mít, nếp, cam, quýt, xoài ... Với sự thành
kính, họ đến với Phật không cầu được mong được thành Phật cứu độ chúng
sinh, cũng không mong được giải thoát mà chỉ cầu mong những điều gần gũi,
thiết thực trong cuộc sống như “xin bùa làm duyên”, “xin bùa em đeo”...
“– Tay bưng dĩa bánh đi chùa
Đốt nhang lạy Phật xin bùa làm duyên”
“– Nấu chè van vái Phật Bà,
Muốn cho chung hiệp một nhà phụng loan”.
“– Tay bưng quả mít vô chùa
Đốt nhang lạy phật, xin bùa em đeo.”
“– Tay bưng quả nếp vô chùa
Đốt nhang lạy phật, xin bùa em đeo”
“– Ba cô đi cúng chùa ngoài,
Cúng cam, cúng quýt, cúng xoài cà lăm.”
Những con người phương Nam mang trong mình tinh thần tự do, phóng
khoáng, họ thờ Phật nhưng không quá xem trọng giáo lí. Tinh thần “tùy
duyên” của Phật giáo đi vào ca dao một cách tự nhiên: “Ra đi gặp vịt thì lùa/
Gặp duyên thì kết, gặp chùa thì tu”. Hướng đến Phật cũng là cách “tu tâm sửa
79
tánh” khiến con người phát triển theo chiều hướng tích cực, biết giữ đạo đức,
nghĩa nhân: “Ai ơi cứ ở cho lành/ Tu nhân tích đức để dành về sau”; cầu gia
đạo thuận hòa: “Tu cầu gia đạo vuông tròn/ Chồng hòa vợ thuận, cháu con
thảo hiền”; tìm cuộc sống an nhiên, tự tại: “Rủ nhau xuống biển bắt cua/ Lên
non bắn nhạn, vô chùa nghe kinh”.
Trong ca dao Nam Bộ, hình ảnh Trời, Phật vừa là những vị thần vừa có
quyền năng vô hạn vừa là gần gũi thân thương mà con người gửi gắm nỗi
niềm thầm kín, nhất là chuyện tình cảm. Họ cầu Trời, Phật cho họ cơ hội gặp
gỡ, kết tóc se tơ, xây dựng hạnh phúc gia đình:
“– Đường trơn trượt em còn lặn lội
Vái Phật trời cho tương hội sum vầy”
“– Ăn chay một thắng ba giạ muối trường
Vái trời vái phật ra đường gặp em.”
“– Cầu trời khấn bụt cho tóc mai dài
Bao giờ tóc chấm ngang vai
Thì ta kết nghĩa làm hai vợ chồng”.
Thờ Trời, kính Phật là niềm tin thiêng liêng trong tâm hồn con người.
Đi vào trong ca dao Nam Bộ phong tục thờ Trời, Phật khoác một diện mạo
mới, mang tinh thần nhập thế tích cực, phản ánh vẻ đẹp tinh thần và phong
tục tập quán của người phương Nam.
3.1.2. Phong tục thờ Thần
Khám phá vùng đất xa lạ, con người luôn không chỉ đối diện với rừng
rậm, thú hoang mà còn đối diện với những nỗi sợ hãi của chính mình. Trong
ca dao Nam Bộ, đình miếu là chốn thần linh ngự trị, người phàm trần không
dám đến gần:
“Chẳng thiêng ai gọi là thần
Lối ngang đường dọc chẳng gần ai đi”.
80
Dù hoàn cảnh vật đổi sao dời, đình đổ miếu xiêu thì vị thần cai quản
vẫn linh thiêng, phù trợ con người, không em dám xem thường, nói lời xúc
phạm:
“Bị rách mà lại có vàng
Tuy rằng miếu đổ, thần hoàng còn thiêng.”
Khảo sát ca dao Nam Bộ, có 130 bài ca dao có hình ảnh đình miếu, các
vị anh hùng có công mở cõi đất phương Nam. Số lượng ca dao tuy không
nhiều nhưng trong từng bài ca dao, chúng tôi phát hiện vẻ đẹp của tín ngưỡng
thờ Thần ở vùng đất này.
Theo Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ, Nguyễn Hữu Hiếu (2013):
Đình trên vùng đất mới ra đời cùng quá trình khai hoang lập ấp với tất cả đặc
điểm của đình Việt Nam. Việc thành lập đình nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh
thần, tình cảm hướng về quê cũ. Đình Nam Bộ có những nét đặc sắc riêng.
Việc thờ Thành hoàng bổn cảnh, do điều kiện lịch sử, chỉ có một số ít
nhân vật lịch sử được sắc phong thần, còn đa số là những nhân vật vô danh
tính, được thờ với chữ Thần ở chính điện. Thần ngự ở đình, bảo hộ dân cư của
làng mình, đại diện Ngọc hoàng, xem xét công tội của dân làng.
Thờ những người có công với làng nước, được dân gian thần hóa như:
tiền hiền, hậu hiền, anh hùng liệt sĩ,…
Ngoài ra, đình còn thờ các vị thần phối tự như: Thần Nông, Thần Tài,
Thổ Địa, Thanh Long, Bạch Hổ… các vị thần linh bản địa: Bà Chúa Xứ,
Chúa Ngọc, Quan Thánh Đế Quân, Bà Thiên Hậu…
Đào Duy Anh, (1992): “Đối với dân làng Thành Hoàng là biểu hiện
của lịch sử, phong tục, đạo đức, pháp luật cùng hy vọng của cả làng, lại cũng
là một thứ quyền uy siêu việt, một mối liên lạc vô hình khiến cho hương thôn
thành một đoàn thể có tổ chức và hệ thống chặt chẽ”.
Như vậy, trong đời sống tâm linh của Việt ở Nam Bộ, đình làng là nơi
thờ cúng các vị thần có công với dân làng, được dân làng tôn sùng kính bái.
81
Đình làng không chỉ là nơi thờ tự mà còn là không gian sinh hoạt lễ hội của
cộng đồng. Hơn nữa, trong đình thường có miếu, kiến trúc đình miếu hài hòa
tạo nên nét độc đáo riêng của Nam Bộ.
Trong tâm thức Việt , đình miếu là “miền đất thiêng”, là chỗ dựa tinh
thần vững chắc của con người. Những mái đình, ngôi miếu linh đi vào ca dao
Nam Bộ gắn liền với tình yêu lứa đôi, chứng giám lời thề chung thủy, khát
vọng hạnh phúc:
“– Cây đa bến đá
Rụng lá trước sân đình
Nhớ lời thệ hải minh sơn
Cây đa còn đó hai đứa mình còn thương”.
“– Anh than một tiếng sập miếu xiêu đình
Nước ngoài sông cứ chảy, mà lục bình cứ trôi”.
“– Anh thề với em
Bên kia là miễu
Bên này là đình
Đình kia miếu nọ cho linh
Đừng cho bạn cũ tư tình với ai”
Ngay cả những vật được bài trí trong đó cũng trở thành vật chứng giám
của tình yêu lứa đôi.
Hình ảnh hạc trong đình biểu tượng cho đạo lí và niềm thành kính
thiêng liêng, hai chim hạc chầu hai bên tượng trưng cho sự hòa hợp âm
dương. Theo Từ điển văn hóa, phong tục cổ truyền Việt Nam ghi nhận:
“Trong đình, hai tượng hạc tư thế trên lung con rùa đứng chầu hai bên bàn
thờ trong đình, tượng trưng cho sự bay bổng, chân hạc ra đi từ đất, lung hạc
cõng bầu trời, cánh hạc là gió, lông hạc là cỏ cây”. Trong ca dao Nam Bộ,
đôi hạc là duyên cớ thể hiện khát vọng tình yêu:
“– Vô đình lột nón xá đình
82
Hạc chầu thần đủ cặp mà sao hai đứa mình lẻ đôi”.
“– Đi ngang qua đình lột nón xá thần,
Thấy hạc chầu đủ cặp, sao mình lẻ đôi”
“– Ngó vô tấm kiếng thấy hình
Hạc chầu đủ cặp hai đứa mình lẻ đôi”
“– Hạc chầu thần, hạc đứng uy nghi
Sầu anh tôi đứng dựa ghế nghi khóc ròng”.
Bài ca dao sau đã khắc họa một không gian vừa linh thiêng vừa gần gũi
trong đời sống thường nhật. Đứng trước hương án, con người thành tâm khấn
nguyện, cất lời thề chung thủy, sắt son. Hạc luôn ngự trị trên hương án cũng
như tình yêu của đôi nam nữ sẽ vững bền theo thời gian:
“Chừng nào hạc đáo về đình
Hạc xa hương án hai đứa mình cùng xa”.
Đặc trưng của đình miếu Nam Bộ là thờ “Hội đồng thần”, Miếu Công
Thần thờ các vị thần có công với làng với nước, có thể hữu danh cũng có thể
vô danh. Những người không quản ngại gian lao, đổ biết bao công sức, mồ
hôi, nước mắt thậm chí là máu xương để mở mang bờ cõi, khai phá miền đất
hoang vu thành một vùng đất trù phú với những cánh đồng lúa phì nhiêu,
những ruộng vườn xanh mát.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhiều ngôi đình cổ ở mảnh đất
Nam Bộ vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Qua những biến thiên lịch sử, những
ngôi đình cổ này luôn được nhân dân tu bổ, nhang khói phụng thờ các vị tiền
nhân đã dày công vun đắp, bảo vệ mảnh đất quê hương. Tân Giai là ngôi đình
cổ ở Vĩnh Long được xây dựng từ thời Gia Long đến giờ vẫn còn giữ được
kiến trúc cổ ban đầu. Người dân đồng bằng sông Cửu Long thường truyền
nhau bài ca dao:
“Đình Tân Giai mấy trăm năm
Có từ triều đại Gia Long đến giờ
83
Ngày xưa dân biết kính thờ
Những người xây dựng cơ đồ bình yên”.
Thánh Văn miếu được xem là “Quốc Tử Giám” ở Nam Bộ. Khi thực
dân Pháp xâm lược, ngôi miếu là nơi các sĩ phu tổ chức các hoạt động văn
hóa nhằm khích lệ tinh thần yêu nước. Ngày nay, Thánh Văn miếu là biểu
tượng của tinh thần hiếu học, ý thức giữ gìn truyền thống đạo đức và thuần
phong mĩ tục của dân tộc:
“Hà Nội có đền Văn Thánh
Vĩnh Long có miếu Thánh Văn
Một thời văn hóa mở đường
Truyền thống còn đó chớ xem thường ai ơi!”
Ca dao Nam Bộ có 6 bài ghi nhận công lao của Thoại Ngọc Hầu đối
với nhân dân miền Nam. Thoại Ngọc Hầu có công khai kênh Đông Xuyên,
đào kênh Vĩnh Tế... Ông còn được vua cử giữ chức Bảo Hộ nước Cao Miên.
Nhân dân vùng đồng bằng sông Cửu Long xem ông như vị thần hộ mệnh nên
lập đình, lăng thờ ở nhiều nơi: làng Quới Thiện có đình ông Bảo Hộ, núi Sam
có lăng ông Thoại, Đồng Tháp có mộ ông Thiên Hộ. Những bài ca dao đã ca
ngợi “công lao dựng làng mở cõi”, vì dân vì đời mà “hy sinh tài sản” đào
kênh Vĩnh Tế nối biển Hà Tiên mở đường giúp dân làm ăn thuận lợi, thông
thương mua bán, phát triển kinh tế của vợ chồng ông Thoại Ngọc Hầu, những
tình cảm đó bắt nguồn từ lòng biết ơn các vị tiền nhân đã có công khai hoang
lập ấp:
“– Mạnh lệ quân anh thư tuấn kiệt
Gái nước Việt chẳng kém tài trai
Gương bà Châu Thị hiền tài
Giúp chồng nên việc tiếng đời ngàn năm”
“– Đồng An Trường chó ngáp
Làng Quới Thiện trồng lác bốn mùa
84
Nhớ ông Bảo Hộ ngày xưa
Dựng làng mở cõi nắng mưa dãi dầu.”
“– Đi ngang qua đỉnh núi Sam
Thấy lăng ông Thoại hai hàng lụy rơi
Ông người vì nước vì đời
Hy sinh tài sản đổi dời nước non.
Kinh Vĩnh Tế, biển Hà Tiên
Thuyền về xuôi ngược thông thiên hai miền”
Ngoài việc thờ phụng khói nhang, hằng năm còn tổ chức lễ giỗ rất long
trọng:
“– Ai về Đồng Tháp mà coi,
Mộ ông Thiên Hộ trăng soi lạnh lùng,
Bà con đùm đậu quanh vùng,
Tháng giêng ngày giỗ xin đừng ai quên.”
“– Tết về nhớ viếng Trà Ôn
Tháng giêng mồng bốn giỗ ông Ngọc Hầu”
Ngoài ra, ca dao Nam Bộ còn khắc ghi công đức của Điều Bát Nguyễn
Văn Tồn, Phan Thanh Giản, Trần Quang Diệu, Trương Định,... Đây là các vị
anh hùng vừa có công giúp dân khẩn hoang, vừa giúp dân chống kẻ thù xâm
lược. Nhân dân tôn kính gọi là các bậc tiền hiền, hậu hiền và thờ cúng trong
các đình miếu:
“Lịch thay địa phận Trà Ôn
Miếu ông Điều Bát lưu tồn ngày nay
Giồng Thanh Bạch tự ngày xưa
Có lăng Ông Lớn dựng bia lưu truyền”
“– Cá đâu nhiều bằng cá U Minh
Thần nào linh bằng thần Trần Quang Diệu.”
“– Vĩnh Long có cặp rồng vàng,
85
Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Công Thần.”
“– Gò Công anh dũng tuyệt vời
Ông Trương, Đám Lá Tối Trời đánh Tây”
Ở Nam Bộ, các đình làng tổ chức lễ Kì yên theo ngày âm lịch, mỗi
đình lựa chọn ngày cúng đình riêng thường vào dịp cuối xuân đầu hạ. Việc
cúng tế có nhiều nghi thức như: lễ cúng tại đàn ngoại, lễ phát tấu ở đàn nội để
dâng sớ với trời, phật cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, làng xóm
yên vui, trừ diệt ôn dịch đem lại sự yên lành cho dân làng. Đồng thời bày tỏ
tấm lòng tri ân các vị có công với nước theo đạo lí “uống nước nhớ nguồn”.
Những dịp cúng đình, ngày giỗ của các vị, thường được tổ chức lớn, người
dân xa xứ thường đến cầu mong các vị thần cho họ cuộc sống bình an, no đủ.
“– Dù ai xa xứ sinh nhai
Nhớ ngày 17 tháng 2 thì về
Dù ai công việc bộn bề
Tháng 2.17 nhớ ngày kỳ yên.”
“– Đi qua Thiện Mỹ mới nghĩ chuyện cúng đình
Ghé viếng cụ Điều Bát, vái cha mẹ mình sống lâu.”
Theo Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, Thạch Phương và cộng
sự (2014) cho rằng: “Lễ được tiến hành trong làn khói hương trầm, trong
tiếng nhạc lễ cổ truyền, các vị bô lão đầu vấn khăn đen, mặc áo dài đứng
trang nghiêm hai bên bàn thờ thần, mắt hướng về hộp đựng sắc như đang hồi
tưởng lại công lao, sự nghiệp của những người có công khai mở đất đai, xây
dựng cuộc sống từ buổi đầu”. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy ca dao Nam
Bộ chỉ giữ lại “nén nhang” cùng tấm lòng thành dâng lên các vị thần đã có
công mang lại cuộc sống yên bình cho nhân dân:
“Miếu Công Thần thắp nén nhang
Nhớ ơn ai đã khai hoang đất này
Nhớ người mở cõi miền Tây
86
Hy sinh xương máu, có ngày vinh quang”
Trong các lễ vật cúng đình, heo là vật cúng tế được phản ánh nhiều
nhất trong ca dao. Bài ca dao phản ánh niềm tin của người dân vào các vị thần
linh được thờ trong đình. Ngay cả khi đau ốm, họ cũng vô đình cầu khẩn các
vị thần để được mạnh khỏe. Khi tâm nguyện đạt thành, người dân “cúng heo”
để tạ ơn:
“Anh đau em vái tận tình,
Vái cho anh mạnh, mở cửa đình cúng heo.”
Trong tín ngưỡng dân gian, thần linh tham gia vào mọi hoạt động của
con người. Không gian thiêng của miếu đình, ngoài những ngày hội hè, đình
đám, là nơi con người có thể cầu nguyện những việc riêng tư nhất, như lời
tâm sự với các bậc trưởng lão trong gia đình: “Hồi hôm tôi có lại đình,/ Ông
thần ổng biểu hai đứa mình kết đôi”; đôi khi câu trả lời bông lơn, vui nhộn
khiến người khác phải bậc cười: “Đốt nhang lên miếu cầu chồng/ Nghe ông
thần nói: đàn ông hết rồi!”; thăm dò ý tứ người yêu: “Tới đây dầu đói giả no/
Dầu khôn giả dại đặng dò ý em/ Tới đây trước miếu ông thần linh/ Cột đứng
tre đòn tay sắt/ Đôi ta xung khắc”; chứng kiến lời thề đồng cam cộng khổ của
đôi lứa yêu nhau: “Cầu bà nguyệt năm bảy cuốn kinh/ Cho đôi ta gá nghĩa
chung tình/ Dầu ăn cơm quán ngủ đình cũng ưng”; “Ngọc sa xuống giếng
thủy tinh/ Anh với em kết nghĩa chung tình/ Dẫu ăn cơm quán ngủ đình em
cũng ưng”.
Tin vào thần linh, nhưng người dân không mù quáng. Họ sẵn sàng phê
phán những kẻ dựa vào thần linh để làm việc trái với luân thường đạo lí:
– Cái nợ nhảy lên bàn tổ nhảy xuống bàn binh
Bên kia cái miễu bên đây cái đình
Đình đình miễu miễu chẳng linh
Làm cho con vợ bỏ mình theo trai.
– Con gà trống cồ nhảy lên bàn tổ
87
Con gà mái ổ nhảy lên bàn binh
Bên kia cái miễu, bên đây cái đình
Đình đình, miễu miễu, sao chẳng có linh?
Làm cho cô Hai nọ thất tình
Cổ về xứ cổ bỏ bạn mình bơ vơ.
Trong quá trình mở cõi, dân đi đến đâu đều lập miếu đình đến đó. Ca
dao Nam Bộ đã phác họa không gian linh thiêng của đình miếu, cùng tấm
lòng ngưỡng vọng, biết ơn các vị tiền hiền, hậu hiền đã có công khai phá để
làng xóm phát triển đến ngày hôm nay.
3.1.3. Phong tục thờ Mẫu và Quan Công
Hệ thống đình miếu Nam Bộ còn thờ Bà Chúa Xứ là dấu tích của tín
ngưỡng thờ Mẫu được người dân mang đến vùng đất mới. Trong tâm thức
con người, Mẹ thật vĩ đại, luôn yêu thương, che chở, bảo vệ cho con mình
tránh những bất trắc, rủi ro trong cuộc sống. Đồng thời, Mẹ còn dạy những
điều hay lẽ phải, biết làm điều thiện, biết đối nhân xử thế... Cho nên, thờ Mẫu
là tìm một chỗ dựa tâm linh vững chắc, cầu mong cuộc sống no ấm, đủ đầy,
bình yên, hạnh phúc.
Tín ngưỡng thờ Mẫu là loại hình tín ngưỡng dân gian bản địa, là một
dạng tín ngưỡng đa thần, chứa đựng nhiều triết lí nhân sinh sâu sắc về mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên và giữa con người với con người trong
đời sống xã hội. Xuôi theo bước chân người Việt về phương Nam, tín ngưỡng
thờ Mẫu có sự dung hợp với tín ngưỡng của các dân tộc Chăm, Khmer, Hoa...
đan xen, hòa đồng với các yếu tố của Đạo giáo và Phật giáo tạo nên diện mạo
mới của tín ngưỡng này ở vùng đất mới.
Tiếp thu tín ngưỡng thờ Thiên Hậu của người Hoa, thờ Thiên Y A Na
của người Chăm, thờ Mẹ Lúa, thờ bà chúa Sơn Lâm, Mẹ Sanh, Mẹ Độ ...
cùng với tinh thần hướng về truyền thống cội nguồn, người dân nơi đây tin
vào sự linh thiêng của miếu bà Chúa Xứ, bà Đen.
88
Tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ rất phổ biến ở Nam Bộ. Miếu Bà Chúa Xứ
được xây dựng khắp nơi, nhưng lớn nhất là miếu Bà Chúa Xứ ở núi Sam,
Châu Đốc, An Giang.
Ai về Châu Đốc núi Sam
Viếng bà chúa Xứ, thăm ông Ngọc Hầu
Nếu truyền thuyết thiên về cắt nghĩa, lí giải sự hình thành tín ngưỡng
thờ Bà Chúa Xứ với những yếu tố kì ảo nhằm tăng tính linh thiêng huyền bí,
thì ca dao chủ yếu phản ánh tấm lòng thành kính của người dân hướng đến
Bà. Đặc biệt là nghi thức tế lễ trong ngày cúng miếu Bà:
Gió mát, gió mát cùng lợi trăng thanh
Trăng thanh (mà) gió mát là đến đây con thỉnh bà.
Di Đà Di Lặc con thỉnh vào
Phật thầy tình trong mà Phật tổ con thỉnh vào miếu chung.
Giọng con mời thái thượng thời lão bằng Quân.
Thời ngài độc ác thời ngài bình an
Cái trời nằm giữa trời
Giữa trời có cặp đèn thần
Cung nương mà mỹ nữ là hai bên chầu bà
Bà về cuồn cuộn sao giăng
Lụa vàng lụa đỏ mà giăng ngang giữa trời
Chủ gia bổn hộ mới sắm lễ vật
Trên chay dưới mặn là dâng lên cho bà
Bà về chứng lễ hôm nay
Ngày lành tháng tốt con đây chầu mời
Bà về phò hộ trông gia, vợ chồng hòa thuận,
Cháu con đặng lành
Lệnh bà ơi! Bà đi cung bảy cung ba
Bà về cung chín mà bước qua cung mười
89
Bà còn ở chốn non cao
Nay con vọng thỉnh bà mau mau về
Bước về chứng lễ mâm vàng
Mâm vàng tam cấp quá cao.
Bài ca dao đã khắc họa không gian sinh hoạt của buổi lễ cúng miếu Bà
Chúa Xứ: Lễ tắm Bà, Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về Miếu Bà, Lễ Túc Yết,
Lễ xây chầu, Lễ Chánh tế. Lễ tắm Bà bắt đầu lúc nửa đêm “gió mát, trăng
thanh”, những người được chọn sẽ thay trang phục mới cho Bà. Trong khoảng
không thanh tịnh, ngọn đèn được thắp lên, người chủ tế dâng hương, kính cẩn,
tôn nghiêm “thỉnh Bà” cùng Phật và Lão quân về miếu. Những mảnh vải “lụa
vàng, lụa đỏ” trang trí càng rực rỡ, tăng thêm vẻ huyền bí, linh thiêng. Lễ Túc
Yết dâng lễ vật cúng tế gồm cả chay và mặn gồm có: một con heo trắng (đã
được cạo lông mổ bụng sạch sẽ, chưa nấu chín), một đĩa đựng huyết có ít lông
heo gọi chung là “mao huyết”, một mâm xôi, một mâm trái cây, một mâm
trầu cau, một đĩa gạo muối. Lễ Chánh tế có hát bóng rỗi và xây chầu thật long
trọng. Lời hát, điệu múa chuyển tải biết bao khát vọng của con người. Đó là
niềm thành kính với thần linh ban phước lành cho con người, niềm mơ ước về
cuộc sống bình an, gia đạo thuận hòa, mùa màng tươi tốt, làm ăn phát đạt,
giàu có:
“Lạy bà chứng kiến dùm con
Cho con cúng bát huê cho bà
Từ ngày con xuống trần gian
Luôn lo cúng tế mà cầu an cho lệnh bà
Lễ này an tạ cho bà
Lạy bà phù hộ gia đình, gia đạo làm an thuận hòa
Có lúa có tiền, làm ăn dư để
Con cháu giàu sang đặng làm quan
Nhà cửa cất ngói xê xang
90
Sống lâu trăm tuổi làm ăn thuận hòa.”
Nếu thủ phủ của tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc, thì tín
ngưỡng thờ Bà Đen rất thịnh hành ở vùng đất Tây Ninh. Trong Gia Định
thành thông chí, Trịnh Hoài Đức (1972) mô tả ngọn núi này như sau: “Giữa
đất đồng bằng nổi lên ngọn núi Bà Đinh (Bà Đen), ngày đẹp trời, từ Sài Gòn
có thể thấy ngọn núi này mờ mờ hiện ra trong mây mù, tương truyền đây là
ngọn núi thiêng, có chuông vàng ẩn hiện trong hồ, đêm trăng, có thuyền rồng
bơi lượn múa hát du dương…”
Theo một số nghiên cứu, tín ngưỡng thờ Bà Đen có sự dung hợp với tín
ngưỡng thờ Nữ thần của người Chăm và Khmer. Trong khi truyền thuyết tìm
cách lí giải về nguồn gốc tín ngưỡng thờ Bà Đen thì ca dao Nam Bộ bộc lộ
niềm tự hào về vẻ đẹp của quê hương cùng tấm lòng thành kính hướng về
Điện Bà uy linh tọa lạc trên nóc nhà của vùng Đông Nam Bộ:
– Biên Hòa có bưởi Thanh Trà
Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh
– Tây Ninh có núi Điện Bà
Có sông Vàm Cỏ, có tòa Cao Sơn.
– Tây Ninh danh thắng Núi Bà
Uy linh trời tạc một tòa nên thơ
– Em giã bàng đươn đệm cho siêng
Để anh lên núi cầu duyên chúng mình
Cùng được thờ trong đình miếu là Quan Công, thường gọi là chùa Ông.
Quan Công là nhân vật có thật trong lịch sử Trung Hoa. Quan Công cùng Lưu
Bị và Trương Phi “kết nghĩa vườn đào”, thề sống chết có nhau. Với tấm lòng
trung thành, nghĩa dũng, chính trực, liêm khiết, trọng chữ tín, Quan Công trở
thành biểu tượng của đấng “trung quân” mẫu mực thời phong kiến, được thần
thánh hóa và chiếm giữ vị trí quan trọng trong hệ thống thần linh Trung Hoa.
Khi du nhập vào Việt Nam, tín ngưỡng thờ Quan Công kết hợp với tam giáo,
91
Quan Công trở thành vị thần cố hữu trong tôn giáo. Nhiều nhà nghiên cứu cho
rằng: Quan Công thờ ở chùa là Hộ pháp già lam hộ trì tam bảo, thờ ở Đạo
quán là Hiệp Thiên đại đế chuyên trừ ma diệt ác, thờ ở đình miếu là vị thần
bảo hộ cộng đồng, thờ ở gia đình là thần bảo mạng của đàn ông.
Theo bước chân lưu dân Trung Hoa do Trần Thượng Xuyên, Dương
Ngạn Địch và Mạc Cửu dẫn đầu, tín ngưỡng thờ Quan Công được người Hoa
duy trì vừa thỏa mãn nhu cầu tâm linh vừa thể hiện hoài niệm cố hương và ý
thức bảo tồn truyền thống tổ tiên. Trong quá trình sinh sống, người dân Nam
Bộ đã tiếp thu và cải biến tôn giáo ngoại lai cho phù hợp với bản sắc văn hóa
Việt Nam. Nét đẹp tín ngưỡng được khắc họa trong ca dao nghi lễ Sóc Trăng:
Đèn chong hương đốt
Con thỉnh ông
Nghe ba tiếng trống lệnh
Là đâu đâu ông cũng bước về
Kể từ ngày hội bàn đào
Đào viên (mà) thời kết nghĩa ông nào chớ quên
Ông ơi! Tài lý hùng anh, tà ma khiếp sợ
Nước nào cũng nghe danh
Kể từ ngày ông thất thủ ở Hạ Bì
Ngày phò nhị tẩu là ngày mới sang qua Tàu
Đến Dương Châu con đi đầu khẩn nguyện
Con vái hồn ngài chứng kiến hôm nay
Lễ này an tạ cùng ngài
Ngài về phò hộ trong gia đình, trong gia đạo làm ăn cho thuận hòa
Có lúa có tiền làm ăn dư để
Nhà cửa cất ngói xê xang
Sống lâu trăm tuổi làm ăn đủ đầy.
92
Bài ca dao tái hiện nghi lễ thờ cúng Quan Công. Mở đầu là không gian
huyền ảo, nghi ngút khói nhang cùng lời khẩn nguyện mong Ngài chứng giám
tấm lòng của người cúng bái. Tâm niệm gửi cùng lời khấn về cuộc đời cùng
bao hoạn nạn ông đã trải qua, đặc biệt là những phẩm chất tốt đẹp của vị thần
đáng kính. Cuối cùng là ước vọng về cuộc sống bình an, gia đạo thuận hòa,
làm ăn thuận lợi,...
Đời sống tín ngưỡng tôn giáo của người dân Nam Bộ có sự đan xen
của nhiều luồng văn hóa. Người Việt tiếp thu và biến đổi để vừa thích nghi
được với cuộc sống vừa giữ gìn bản sắc của chính mình. Trong ca dao, phong
tục thờ cúng đa thần thể hiện niềm tin của con người vào các thiên thần và
nhân thần có khả năng phù trợ con người. Ngoài ra, con người cũng tin vào
chính mình. Chính điều này đã tạo nên sức mạnh tinh thần giúp những người
con xa xứ vượt qua những trở lực ở vùng đất mới để xây dựng một cuộc sống
ấm no, hạnh phúc.
3.2. Phong tục thờ cúng người thân trong gia đình
Gia đình có vai trò quan trọng trong đời sống của người Việt Nam. Gia
đình là cái nôi nuôi dưỡng, giáo dục con người. Ở đó, các thành viên luôn có
mối quan hệ gần gũi, gắn bó với nhau tạo nên tình cảm thiêng liêng, sâu nặng.
Nơi đó, chứa đựng nhiều kí ức đẹp, là chỗ dựa tinh thần vững chắc để con
người vượt qua những thăng trầm của cuộc sống.
Là thể loại trữ tình, ca dao đã phản ánh đầy đủ và sâu sắc các mối quan
hệ gia đình. Đó là tình cảm vợ chồng chung thủy, sắt son, đồng cam cộng
khổ, sống chết có nhau. Đó cũng là tình yêu thương vô bờ bến của ông bà, cha
mẹ đối với con cái và sự hiếu thảo tôn thờ của con cháu không chỉ lúc sống
mà cả sau khi ông bà cha mẹ đã qui tiên. Có thể nói, những mối quan hệ ấy
đan xen, hòa quyện thành sợi dây tình nghĩa thiêng liêng cao quí, bền vững
theo thời gian, dù con người còn sống hay đã chết.
93
Người Á Đông quan niệm: “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”.
Người Việt cũng tin rằng, con người dù chết đi nhưng linh hồn vẫn tồn tại,
theo dõi hoạt động, che chở, phù hộ cho người thân còn sống. Thờ thể hiện
tình cảm biết ơn, hướng về cội nguồn với niềm thành kính thiêng liêng. Cúng
là nghi lễ thực hành các động tác được qui định bởi phong tục, tập quán. Giỗ
là lễ cúng để tưởng nhớ, tri ân người quá cố hằng năm vào ngày chết. Thờ
cúng người thân sau khi qua đời tạo nên nét đẹp độc đáo trong phong tục
người Việt.
Thờ cúng người thân trong gia đình gắn với tập tục văn hóa, đạo đức
của dân tộc. Phong tục này thể hiện niềm tin bất tử vào linh hồn. Khảo sát 147
bài ca dao Nam Bộ, chúng tôi nhận thấy có phong tục thờ cúng người thân
trong gia đình thể hiện qua việc thờ cúng tổ tiên, cha mẹ và thờ cúng những
người thân khác.
3.2.1. Thờ cúng tổ tiên, cha mẹ
Trong Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm (1996) đã
cho rằng con người là một thể thống nhất giữa linh hồn và thể xác. Và linh
hồn trở thành đầu mối của tín ngưỡng. Người xưa cũng tin: Chết tức là cơ thể
chuyển từ trạng thái động trở thành tĩnh, linh hồn đi từ cõi Dương sang cõi
Âm. Chết là về với tổ tiên nơi chín suối và người đã khuất vẫn thường xuyên
đi về thăm nom, phù hộ cho người thân. Đây là cơ sở hình thành tín ngưỡng
thờ cúng người thân trong gia đình.
Trong Đặc khảo về tín ngưỡng thờ gia thần, Huỳnh Ngọc Trảng (2013)
đã khẳng định: “Phụng thờ tổ tiên là nghĩa vụ của đạo Hiếu được chế định
trong cổ luật hẳn hòi nên không gian thờ tự năm đời (Ngũ đại mai thần chủ)
ở mỗi gia đình là một thiết chế cụ thể”.
Nhận xét về phong tục tín ngưỡng này, Vũ Minh Chi (2004) cho rằng
trong xã hội có tập tục cúng bái tổ tiên, linh hồn của tổ tiên vẫn tham gia vào
mạng lưới hoạt động xã hội của những người còn đang sống, tác động đến
94
việc duy trì quan hệ gắn kết xã hội của những người còn đang sống như lúc
sinh tiền, song ảnh hưởng của các linh hồn tổ tiên chỉ tác động đến con cháu
họ mà thôi. Như vậy, con người vẫn duy trì mối quan hệ họ hàng với người đã
chết. Sự giao tiếp này được thể hiện qua các nghi lễ thờ cúng.
Con cháu được hưởng thành quả ngày hôm nay là do tổ tiên đã không
quản ngại gian lao tạo dựng. Ông bà, cha mẹ đã dày công làm ra của cải vật
chất và tinh thần, truyền dạy những kinh nghiệm quí báu, tu nhân tích đức...
để thế hệ sau có cuộc sống ấm no. Cho nên, bổn phận làm con phải biết
thương yêu, hiếu thuận với ông bà, cha mẹ không chỉ lúc còn sống mà cả khi
đã chết. Hay nói cách khác, thờ cúng tổ tiên là biểu hiện của chữ “Hiếu”,
đồng thời đây là một truyền thống tốt đẹp khắc họa đạo lí uống nước nhớ
nguồn:
“– Khôn ngoan nhờ đức cha ông
Làm nên phải nhớ tổ tông phụng thờ
Đạo làm con chớ hững hờ
Phải đem chữ hiếu phụng thờ cho nghiêm.
“– Làm con chữ hiếu lo tròn
Đáp ơn cha mẹ để còn tiếng thơm.”
Xuôi dần về miền đất phương Nam, dấu ấn của Nho giáo nhạt dần. Nếu
trong quan niệm Nho giáo quan hệ vua tôi được đặt lên hàng đầu, thì trong ca
dao Nam Bộ, quan hệ gia đình được xem là cốt lõi. Trong ca dao Nam Bộ,
hành động “lập miếu thờ vua, lập trang chờ mẹ, lập chùa thờ cha” được nhắc
lại nhiều lần cho thấy vị trí quan trọng của cha mẹ. Phải chăng, nơi thờ tự thể
hiện tấm lòng của con cái? Hình ảnh “miếu, trang, chùa, lăng” là không gian
thiêng gắn liền với tín ngưỡng tôn giáo đã trở thành nơi thờ tự cha mẹ. Điều
này góp phần tạo nên vẻ đẹp của văn hóa Việt, thờ cúng cha mẹ nói riêng và
thờ cúng tổ tiên nói chung đã trở thành đạo lí dân tộc, thể hiện niềm thành
kính của con cháu dành cho các vị “truyền nhân thủy tổ” của mình:
95
“– Ngó lên trời thấy cặp cu đang đá
Ngó về biển thấy cặp cá đang đua.
Anh bảo em về lập miếu thờ vua
Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.”
“– Biết lấy chi đền nghĩa khó khăn,
Hai đứa mình lên non lấy đá xây lăng phụng thờ.”
“ Quyết lòng lập miếu chạm rồng,
Đền ơn phụ mẫu ẵm bồng ngày xưa.”
Ở vùng đất mới, hành trang mang theo của những con người dũng cảm
dám gửi lại mồ mả tổ tiên để tìm nơi lập nghiệp là truyền thống văn hóa lâu
đời. Dù dứt áo để ra đi nhưng họ vẫn hướng tấm lòng thành kính thiêng liêng
về tổ tiên dòng tộc. Ca dao Nam Bộ khắc họa nỗi niềm thương nhớ của người
con xa xứ. Khi hướng về cội nguồn, lúc nào cũng đau đáu một tâm tình quê
cha đất tổ, nơi ấy có cha mẹ già ngày đêm trong ngóng, có tổ tiên đang dõi
theo ngàn dặm hành trình. Cho nên, người con lúc nào cũng khắc khoải “ai
nuôi cha mẹ, ai thờ tổ tiên”:
– Anh đi ghe cá cao cờ
Ai nuôi cha mẹ, ai thờ tổ tiên ?
Ở miền Bắc, khi người con gái lấy chồng, theo chồng thì chỉ tưởng nhớ
cha mẹ, ông bà trong tâm khảm, hoàn toàn không có quyền thờ tự. Tuy nhiên,
ở vùng đất phương Nam, người dân chân chất, thật thà, chuộng nghĩa khí,
không quá quan trọng gia phong lễ giáo. Việc thờ cúng tôn trọng tình cảm,
không phân biệt đối xử. Bàn thờ Cửu huyền thất tổ thờ cả tổ tiên của hai bên
nội ngoại của vợ và chồng. Chính sự dung hòa này đã tạo nên mối keo kết
dính tình nghĩa, gia đình luôn êm ấm, an vui. Con cái được hưởng phúc:
“– Phụ mẫu anh như phụ mẫu nàng
Mai sau có thác, chạm chữ vàng thờ chung”
“– Phụ mẫu bên anh như phụ mẫu bên nàng
96
Bôi tranh vẽ tượng phết vàng anh thờ chung”
Trong mỗi gia đình, bàn thờ là không gian thiêng nhất, là nơi cư ngụ
của các vị tiền nhân thủy tổ, những người đã khuất. Bàn thờ được bố trí ở gian
chính trong nhà. Bàn thờ là nơi hội tụ hồn thiêng của gia tộc. Nơi đó, họ có
thể quan sát, dõi theo hành động của các thành viên trong gia tộc mình để
giúp đỡ, phù hộ cho con cháu, đồng thời trừng phạt những kẻ có hành vi trái
với luân thường đạo lí. Hình ảnh bàn thờ được khắc họa trong ca dao mang ý
nghĩa thiêng liêng, cao quí, là một “cội nguồn” sâu thẳm nhất, nơi đó, con
cháu làm gì cũng phải suy tính thiệt hơn, giữ gìn phẩm hạnh để làm rạng rỡ
tông môn họ hàng:
“Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn
Nước có nguồn mới bể cả sông sâu
Người ta nguồn gốc ở đâu
Gốc từ trên tổ rồi từ sau mới có mình
Nguồn gốc ấy đinh ninh luôn nhớ
Phải lo làm rạng rỡ tông môn.”
Họ cũng cảm thấy có lỗi khi cuộc sống nghèo khó, mảng lo làm ăn mà
quên chăm sóc bàn thờ tổ tiên:
“Ngó lên tổ nễ chau mày,
Mảng lo sự khó, quên ngày muối dưa.”
Bàn về nghi thức thờ cúng, người Việt thường thắp nhang trên bàn thờ
tổ tiên hàng ngày. Nén nhang đã đi vào đời sống tâm linh của người Việt như
một nét đẹp gần gũi mà thiêng liêng cao quí. Thông thường, mùi hương của
nhang sẽ tạo không khí thanh tịnh, xua tan lạnh lẽo. Không những thế, nén
nhang kết nối thế giới âm dương. Tâm thành của con cháu theo khói để đến
với tổ tiên, hương hồn tổ tiên dựa theo hương thơm để trở về quây quần cùng
con cháu. Sự kết nối keo sơn ấy khiến mối quan hệ gia đình ngày càng bền
chặt hơn. Đặc biệt, khi còn tang chế, con cháu luôn thắp nhang trên bàn thờ
97
người đã khuất. Có lẽ, hương của nhang đặc biệt là trầm hương có thể thanh
tẩy không khí trong nhà. Hơn thế nữa, trong làn khói nhang mờ ảo, trong tâm
tình của con cháu anh linh của người đã khuất vẫn còn hiển hiện:
“Thắp nhang cho sáng bàn thờ
Kẻo cha mẹ quở không nhờ rể con.”
Hay nỗi lòng của đứa con khi không tròn hiếu đạo. Nhìn bàn thờ khói
nhang nguội lạnh, hương hồn của mẹ cũng không còn hiện hữu xung quanh,
con cái không khỏi chạnh lòng, cảm thấy cô đơn, lạnh lẽo. Cái lạnh này
không chỉ của không gian tự nhiên mà còn là cái lạnh của cõi lòng, sự ân hận,
giày vò trong tâm khảm. Theo lệ xưa, sau ba năm tang chế người xưa chỉ đốt
nhang một lần trong ngày, nhìn thấy bàn thờ lạnh tanh cũng có nghĩa là mẹ đã
rời xa lâu rồi, nỗi nhớ niềm thương càng sâu sắc hơn:
“Ngó lên nhang tắt đèn mờ
Mẫu thân đâu vắng, bàn thờ lạnh tanh”
Có lẽ vì vậy, người Việt ở Nam Bộ thường thắp nhang vào mỗi tối để
bày tỏ tấm lòng hướng về ông bà, những người đã không quản công lao để
nuôi dạy con cháu nên người.
Người Việt quan trọng ngày mất hơn ngày sinh. Vì ngày mất là ngày
trở về đoàn tụ cùng tổ tiên. Tuy thể xác không còn tồn tại nhưng linh hồn vẫn
hằng dõi theo, phù hộ cho người thân. Người còn sống tổ chức lễ giỗ nhằm
tưởng nhớ công ơn và họ hàng con cháu gặp gỡ nhau. Hay nói cách khác, lễ
giỗ là sợi dây kết nối tình cảm thiêng liêng của con người.
Người xưa tổ chức ba lễ giỗ đầu đánh dấu mốc quan trọng của con
người sau khi chết. Những lần đó, con cháu mặc áo tang, quây quần đầy đủ,
bày tỏ lòng thương tiếc. Sau ba năm, đám giỗ được tổ chức vào ngày mất.
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chỉ thấy ca dao phản ánh lễ giỗ sau khi
mãn tang. Lễ giỗ là tấm lòng của người còn sống đối với người đã khuất. Dù
giàu hay nghèo, con cái cũng cố gắng làm lễ giỗ tươm tất “thờ phụ mẫu mâm
98
cao cỗ đầy”. Nhà giàu thì tổ chức lễ giỗ linh đình trong vài ba ngày, thậm chí
làm trâu để cúng bái:
“Cồng cộc bắt cá ở bàu
Cha mẹ mày giàu, đám giỗ làm trâu”
Những người đến tham dự lễ giỗ thường được gia chủ biếu một ít bánh
trái về làm quà cho trẻ nhỏ ở nhà. Chỉ vài cái bánh nhưng chan chứa tình cảm
họ hàng, lối xóm:
“Anh đi ăn cỗ nhà giàu
Lột lưng bánh ít đem dìa cho em.”
Dù là vùng đất mới, có sự thay đổi về phong tục lễ nghi, nhưng lễ giỗ
vẫn thường do con trai hoặc con thừa tự đảm nhiệm. Việc cháu ngoại không
thờ giỗ ông là việc đương nhiên trong xã hội phụ hệ, đây là phong tục được
người Việt mang từ cội nguồn theo hành trình khai hoang, lập ấp:
“– Cồng cộc bắt cá dưới sông
Mấy đời cháu ngoại giỗ ông bao giờ.
– Cá sặc muốn bắt dùng lờ
Mấy đời cháu ngoại mà thờ giỗ ông”
Nhưng đôi lúc, gia cảnh nhà ngoại không có con trai, thì con gái, cháu
ngoại đảm nhận cúng giỗ hằng năm. Thậm chí, cháu ngoại còn mổ heo để
cúng tế và thiết đãi họ hàng:
“Cồng cộc bắt cá dưới hào
Ông ngoại tôi giàu, tôi giỗ thịt heo.”
Không chỉ thờ tự ở nhà, cúng giỗ hằng năm, người Việt còn tảo mộ vào
dịp tết, tiết thanh minh. Bài ca dao sau đã khắc họa đậm nét truyền thống văn
hóa tốt đẹp này. Việc rủ nhau “viếng mả cha”, “tảo lăng mồ mẹ”, chứng
minh cho tấm lòng hiếu thảo của con cái:
“Ào ào gió giục mây Tần,
Một xe trong cõi hồng trần bước ra.
99
Rủ nhau lên viếng mả cha,
Tảo lăng mồ mẹ lụy đà tuôn rơi.
Công cha trượng lắm cha ôi,
Ngãi mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.”
Phong tục này bắt nguồn từ đạo lí “Chim có tổ, người có tông”, “Uống
nước nhớ nguồn”, trọng tình trọng nghĩa, có trước có sau của nhân dân ta. Đi
vào ca dao, việc cúng giỗ của người Nam Bộ chuộng sự giản dị, cốt yếu ở tấm
lòng chân thành tưởng nhớ.
3.2.2. Thờ cúng người thân khác
Trong quan hệ gia đình, người phụ nữ vẫn bị chi phối bởi tư tưởng
“xuất giá tòng phu”, vẫn lấy đạo cang thường làm qui tắc ứng xử vợ chồng.
Vợ chồng chung thủy, tài bồi, dùng tình yêu để cảm hóa, chinh phục bản năng
xây dựng gia đình hạnh phúc Đứng làm người trong đạo tào khương/ Thủy
chung như nhứt, giữ đường ngãi nhân. Đặc biệt, người phụ nữ phải giữ “đạo
tam tòng” Thương cha nhớ mẹ điệu tam tòng em phải theo. Có lẽ, mong
muốn lớn nhất của người phụ nữ là chăm lo phụng sự gia đình chồng, lâu dần
trở thành kẻ phụ thuộc, mong mỏi chồng che chở, bảo bọc. Điều đó không chỉ
tồn tại lúc sống mà ngay khi chết cũng vậy.
Khi đề cập đến việc thờ cúng “người chồng quá cố”, ca dao Nam Bộ
thường mở đầu bằng “ước nguyện” xem chừng vô lí của người chồng, có thể
“sống lại” hoặc “giả chết” để thử lòng người vợ của mình. Cũng qua những
bài ca dao này, phong tục bài trí bàn thờ trong gia đình hiện lên rõ nét:
– Anh chết ba năm sống lại một giờ
Để xem bạn cũ nó phụng thờ làm sao?
– Em thờ mình em đóng ghế cho cao
Bình khuôn nghi cẩn nóc bộ chân đèn thau em thờ mình.
Theo tục lệ xưa, bàn thờ gồm có bốn chân cao, rất đơn giản, trên là mặt
phẳng dùng bày trí đồ cúng. Sau này, bàn thờ được thay thế bằng tủ thờ.
100
Trong Nói về miền Nam, Cá tính miền Nam và Thuần phong mỹ tục Việt Nam,
Sơn Nam (2017) cho rằng: Chiếc tủ thờ được thiết kế theo mẫu tủ của Pháp
thời Lu–i XVI, mặt trước kín, cửa mở hai bên hông, được các thợ mộc Việt
Nam sáng tạo thêm, cẩn xà cừ ở phía trước tủ thờ theo kiểu thức Á Đông,
trang trí các điển tích Trung Hoa, hoa mẫu đơn, chữ Thọ... Đặc biệt những gia
đình quan quyền, gia đình giàu có, chiếc tủ thờ là một trong những yếu tố
quan trọng đem lại thể diện cho gia chủ.
Hình ảnh bàn thờ được bài trí một cách trang trọng, tôn nghiêm. Bàn
thờ được đóng cao, trên bàn có mặt bằng để bày biện đồ để cúng tế. Để tạo
không gian thanh tịnh, thiêng liêng cho nơi thờ tự, có nhà làm bức bình phong
cẩn ốc xà cừ che chắn trước bàn thờ với niềm tin “người quá cố” không bị
quấy rầy, đó là niềm thành kính thiêng liêng.
Tùy theo gia cảnh, đồ bài trí có thể khác nhau, nhưng không thể thiếu:
cặp chân đèn, tranh thờ, lư hương.
“Anh đau một canh, chết một giờ,
Để coi người nghĩa phụng thờ làm sao?
Tôi thờ mình bộ lư đồng cao,
Sáp treo cùng cặp chân đèn thau bóng vàng”
Theo Sơn Nam (2017), lư hương hay còn gọi là “lư đốt trầm hương,
phần lớn đúc bằng đồng, rỗng, để chứa tro than, mồi lửa cho trầm hương.
Trên nóc, có cái nắp đậy lại, khoét lỗ nhỏ chung quanh để khói trầm xông lên,
lan tỏa ra đều đặn bốn phía, nắp thường nhô lên, với trái đào hoặc con kỳ
lân”. Bộ lư đồng, chân đèn được lau chùi sáng bóng càng làm tăng thêm tôn
kính đối với “người quá cố”. Hình ảnh “chân đèn”, “sáp” thắp sáng bàn thờ,
soi tỏ lòng thành của người còn sống đối với “người đã khuất”. Ánh sáng sưởi
ấm cho linh hồn, thoát khỏi sự u tối lạnh lẽo, ánh sáng dẫn dắt người còn sống
thoát khỏi u mê, lạc lối. Bàn thờ vì vậy cũng trang nghiêm, cổ kính hơn.
101
Những gia đình Nam Bộ xưa thường treo thêm tranh thờ, có thể là tranh
sơn thủy, sau này tranh vẽ sau tấm kiếng. Theo Sơn Nam (2017), tranh kiếng
là sáng kiến của các người thợ Lái Thiêu vẽ tranh sau mặt kiếng với màu sắc
vui tươi. Đó là bức họa với con rạch hiền lành, bên cạnh cây to, nhà ngói, xa
xa là vùng biển, vài hải đảo, đàn chim bay. Hai bên bức tranh vẽ hai câu liễn
đối, phía trên là chữ Đức Lưu Phương, vẽ thêm bông mẫu đơn hoặc trái đào
(tiêu biểu cho chữ thọ). Trong ca dao Nam Bộ, hình ảnh này được thể hiện
trang trọng:
“Bước vô nhà ngói nhỏ,
Thấy đôi liễn đỏ,
Chữ thọ phết vàng”
Tình cảm gia đình của người Việt không chỉ được xây dựng trên cơ sở
của tình yêu mà còn được bồi đắp trong hoàn cảnh lao động. Những gian khổ,
vất vả, cực nhọc, đói nghèo là lò đúc tình cảm gia đình thêm bền chặt, họ
đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi cùng đấu tranh với những khó khăn để
tìm ra lẽ sống hợp với quan niệm chung của hai vợ chồng. Từ đó, tình cảm gia
đình được bảo vệ chặt chẽ, ngoài tình còn có nghĩa; nghĩa giúp tình nồng
đượm, thắm thiết hơn không chỉ trong khi sống mà cả lúc chết. Người chồng
thờ vợ dù dĩa mắm, dĩa rau cũng trọn nghĩa vẹn tình:
“Anh thờ em dĩa mắm, dĩa rau
Anh nghèo em khó, có đâu mâm cao cỗ đầy”
Phong tục thờ cúng trong gia đình của người Việt được biểu hiện khá
đầy đủ trong ca dao Nam Bộ. Từ đó, chúng tôi cảm nhận sâu sắc hơn tình cảm
thiêng liêng, kết nối giữa các thế hệ qua phong tục thờ cúng tổ tiên và thờ
cúng người thân. Đây là một nét phong tục văn hóa vừa kế thừa những nề nếp
cũ vừa có nhưng màu sắc khác biệt.
102
Tiểu kết chương 3
Được hun đúc trong đời sống tâm linh, ca dao Nam Bộ là một pho sử
liệu lưu giữ tín ngưỡng thờ cúng đa thần. Ca dao đã phác họa một miền đất
thiêng trong cõi tâm linh người Việt. Ở cõi thiêng đó, thần linh vừa có sức
mạnh vô biên vừa thân thuộc, gần gũi, có khả năng cứu rỗi linh hồn con
người, giúp họ vượt qua những khó khăn, bế tắc nơi trần thế.
Từ góc nhìn phong tục thờ cúng người thân trong gia đình, chúng tôi
phát hiện ca dao Nam Bộ hàm chứa vẻ đẹp tâm hồn và những giá trị tinh thần
đáng trân trọng của con người vùng đất phương Nam. Phong tục thờ cúng
người thân trong gia đình là sợi dây liên kết thiêng liêng giữa người cõi
dương và người cõi âm. Sợi dây liên kết thiêng liêng ấy được biểu hiện nén
nhang, nhang tỏa hương thơm ngát, khói bay nghi ngút trên bàn thờ là thời
khắc âm dương hội ngộ, người còn sống có thể bày tỏ tấm lòng thành, “người
quá cố” có thể chứng giám việc làm của người thân trên dương thế. Trang
hoàng bàn thờ tử tế, cúng giỗ hằng năm để “người quá cố” an lòng là một nét
đẹp trong phong tục Việt Nam. Điều đó cho thấy, ca dao đã góp phần duy trì
và phát triển văn hóa phong tục của người Việt ở Nam Bộ.
Từ góc nhìn văn hóa phong tục tín ngưỡng, chúng tôi phát hiện ca dao
Nam Bộ hàm chứa vẻ đẹp tâm hồn và những giá trị tinh thần đáng trân trọng
của con người vùng đất phương Nam. Đó là tinh thần phóng khoáng, linh hoạt
trong việc tiếp nhận tôn giáo góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của
con người. Đó là những khao khát mãnh liệt, mang vẻ đẹp nhân bản và nhân
văn. Điều đó cho thấy, ca dao đã góp phần duy trì và phát triển văn hóa phong
tục tín ngưỡng của người Việt ở Nam Bộ.
103
KẾT LUẬN
Nam Bộ là miền đất ẩn chứa nhiều lớp trầm tích văn hóa đặc sắc. Văn
hóa Nam Bộ là dòng chảy hợp lưu, hội tụ, kết tinh nhiều nguồn văn hóa của
các dân tộc Kinh, Chăm, Hoa, Khmer... Hạt giống văn hóa truyền thống theo
bước chân của những lưu dân được gieo trên mảnh đất Nam Bộ màu mỡ đã
kết thành những thuần phong mĩ tục giàu giá trị nhân văn, thể hiện bản lĩnh,
tâm hồn Việt Nam. Những phong tục này được phản ánh đậm nét trong văn
học dân gian từ truyện kể, tục ngữ, câu đố, ca dao... Khi tiếp cận văn học dân
gian nói chung và ca dao nói riêng từ góc nhìn văn hóa phong tục, chúng tôi
đã thu hoạch được những kết quả bước đầu khá thú vị về giá trị của thể loại
văn học này.
Ca dao Nam Bộ là chuỗi ngọc thơ ca trữ tình trong sáng, long lanh vẻ
đẹp của những tâm hồn người lao động chốn này. Ca dao không chỉ là khúc
hát tình cảm mà còn ẩn chứa những phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian
góp phần làm giàu thêm thế giới tinh thần của con người. Từ kho báu truyền
ca dao, chúng tôi hiểu hơn về tổ tiên, về giá trị tinh thần của các bậc tiền
nhân, bồi dưỡng tình yêu mảnh đất quê hương xứ sở.
Nếu tục ngữ là bộ lịch ghi lại danh mục và thời gian sinh hoạt, phong
tục cưới hỏi “Cưới vợ không cheo như néo không mấu”, phong tục tang ma
“Chồng cô, vợ cậu, chồng dì, trong ba người ấy chết thì không tang”... thì ca
dao biểu hiện một cách tinh tế phong tục, tập quán, tín ngưỡng. Tiếng nói
được cất lên từ những tâm hồn, tính cánh, số phận, cuộc đời ghi tạc dấu ấn
văn hóa tốt đẹp nghìn đời của dân tộc. Hay nói cách khác, ca dao vừa khái
quát phong tục tập quán vừa chuyên chở những giá trị tinh thần tốt đẹp của
con người.
Từ góc nhìn phong tục gắn với vòng đời con người, ca dao tái hiện
những nghi thức cưới hỏi và tang ma. Qua ca dao Nam Bộ, phong tục hôn
nhân phản ánh khát vọng hạnh phúc gia đình bằng những thanh âm trong trẻo,
104
tươi vui. Dạm hỏi trong ca dao gắn liền với hình ảnh “người mai dong”, với
những nếp nghĩ, qui tắc trong việc chọn bạn trăm năm. Ca dao về lễ hỏi với
đầy đủ sính lễ cưới truyền thống, trong đó trầu cau xuất hiện với tầng số khá
cao. Những nghi lễ quan trọng như: lễ từ đường, lễ vu qui, lễ cúng tơ hồng
được biểu hiện sinh động trong ca dao bằng những lời lẽ trang nghiêm, chứa
đựng tình cảm tha thiết, dạt dào, thấm đượm nghĩa tình.
Có thể nói, tất cả những qui định trong tiến trình hôn lễ của người Việt
xuất hiện trong ca dao. Bằng hệ thống biểu tượng, hình ảnh quen thuộc, ca
dao đã khơi gợi trường liên tưởng phong phú về ứng xử trong hôn nhân của
người Việt ở Nam Bộ. Từ đó, chúng tôi phát hiện những nghi lễ như lễ từ
đường, vu qui vẫn còn được lưu truyền trong lễ cưới hiện đại còn tục cúng tơ
hồng đã bị mai một. Như vậy, nghiên cứu ca dao về phong tục hôn nhân đã
giúp chúng tôi nhìn về quá khứ, từ đó có cái nhìn so sánh về truyền thống
cưới hỏi của người Việt xưa và nay.
Những bài ca dao phản ánh nghi lễ của phong tục tang ma cũng chính
là tài sản tinh thần vô giá của thế hệ trước dành cho thế hệ sau. Những nghi lễ
trong ca dao Nam Bộ không xa lạ, cầu kì, phức tạp mà nó hướng tới khát
vọng sum vầy, hướng về đạo lí làm người, lẽ sống tốt đẹp trong cuộc đời.
Người dân Nam Bộ khi nói về cõi chết, nghi lễ đưa tang, thời gian để tang
đồng thời cũng thể hiện con người nghệ sĩ. Tác giả dân gian sử dụng nhiều lối
diễn đạt hấp dẫn, nhiều điển tích, đậm hình ảnh so sánh làm nổi bật thế giới
tâm linh cùng vẻ đẹp tín ngưỡng trong các mối quan hệ giữa con người với
con người, con người với thần linh.
Từ ngàn xưa, thờ cúng là vấn đề tâm linh mang ý nghĩa thiêng liêng đã
trở thành phong tục văn hóa của dân tộc. Người Việt thờ cúng nhiên thần và
nhân thần. Đó là Trời, Phật, các vị thần có công mở mang và bảo vệ bờ cõi
đất nước và gần nhất tổ tiên, ông bà. Việc thờ cúng vừa thỏa mãn nhu cầu tâm
linh vừa thể hiện đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của người Việt. Điều này
105
được khắc họa đậm nét trong ca dao. Hay nói cách khác, ca dao Nam Bộ phản
ánh niềm tin của con người vào thế giới thiêng huyền bí, giúp con người vượt
qua những thăng trầm của cuộc sống ở vùng đất mới.
Ca dao là “bầu sữa ngọt” nuôi dưỡng ước mơ, khát vọng của con
người. Từ xưa đến nay, ca dao luôn luôn song hành cùng đời sống dân tộc, ca
dao không chỉ đi vào các tác phẩm văn học viết mà còn tỏa sáng ở các lĩnh
vực khác như báo chí, âm nhạc. Cho nên nghiên cứu tìm hiểu thể loại văn học
dân gian này chính là cách để tôn vinh vẻ đẹp văn hóa của dân tộc.
Trên đây, chúng tôi vừa trình bày kết quả nghiên cứu của đề tài “Ca
dao Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục”. Ở đề tài này, chúng tôi đã cố
gắng từng bước đi vào bề sâu của các phong tục được ẩn chứa trong ca dao.
Tuy nhiên, do điều kiện và khả năng còn hạn chế nên có những vấn đề chưa
sâu sắc và trọn vẹn. Chúng tôi hi vọng luận văn sẽ đóng góp một cái nhìn sơ
khởi về giá trị của ca dao Nam Bộ trong diện mạo chung của văn học – văn
hóa dân gian Việt Nam.
Trước những biến động của khoa học kĩ thuật, kinh tế thị trường nhiều
giá trị xã hội thay đổi tuy nhiên vẫn có những giá trị bền vững với thời gian
đó là những giá trị gắn liền với bản sắc văn hóa Việt như tục thờ cúng tổ tiên,
cưới hỏi, tang ma... Ca dao đã phục nguyên không gian văn hóa, thời gian văn
hóa, góp phần kiến lưu giữ và bồi đắp “hồn tính của dân tộc”.
106
CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
Ngô Bích Phượng (2019), Phong tục cúng giỗ trong ca dao Nam Bộ, Kỷ yếu
số 2, Hội thảo khoa học cho học viên cao học và nghiên cứu sinh năm
2019 – 2020, Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh.
107
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị (1984). Ca dao
dân ca Nam Bộ . TP. Hồ Chí Minh: Nxb TP. Hồ Chí Minh.
Bùi Mạnh Nhị. (2001). Văn học dân gian – Những công trình nghiên cứu. TP. Hồ
Chí Minh: Nxb. Giáo dục.
Chu Xuân Diên (chủ biên). (2011). Văn học dân gian Bạc Liêu. HN: Nxb. Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Chu Xuân Diên (chủ biên). (2011). Văn học dân gian Sóc Trăng. HN: Nxb. Văn hóa
– Thông tin Hà Nội.
Đại học Cần Thơ. (1997). Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long. Hà Nội:
Nxb. Giáo dục.
Đào Duy Anh. (1992). Việt Nam văn hóa sử cương. TP. HCM: Nxb. Tp. Hồ
Chí Minh.
Đinh Gia Khánh (chủ biên). (2001). Văn học dân gian Việt Nam. HN: Nxb.
Giáo dục.
Đinh Kiều Nga. (20/07/2019). Bản sắc Văn hóa Việt Nam qua Di sản văn hóa tôn
giáo (Phần II) , http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/3611.
Đức Thành (2019). Thọ Mai Gia Lễ. TP. HCM: Nxb. Hồng Đức.
Dương Quảng Hàm. (1968). Việt Nam văn học sử yếu. HN: Nxb. Trung tâm
học liệu.
Hoàng Tiến Tựu (1990). Văn học dân gian Việt Nam, tập 2. TP. HCM: Nxb:
Giáo dục.
Hoàng Xuân. (2010). Nguyễn Bính – Thơ và Đời. HN: Nxb. Văn học.
Hội thảo khoa học với chủ đề Văn học và Văn hoá tâm linh. (08/03/2014).Văn học
và Văn hoá tâm linh, những biến chuyển xưa – nay. http://khoavanhoc–
ngonngu.edu.vn/hoi–thao/kh–ngu–van–2013/4658–vn–hc–va–vn–hoa–tam–
linh–nhng–bin–chuyn–xa–nay.html
Huỳnh Ngọc Trảng (2016). Ca dao dân ca Nam kỳ Lục Tỉnh. ĐN: Nxb. Tổng hợp
Đồng Nai.
108
Huỳnh Ngọc Trảng. (2013). Đặc khảo về tín ngưỡng thờ gia thần. TPHCM: Nxb.
Văn hóa Văn nghệ.
Jean Chevalier –Alianheerbrant. (1997). Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới. ĐN:
Nxb. Đà Nẵng.
Lê Anh Dũng. (11/05/2004).Văn hóa dân gian phản ánh tín ngưỡng tổng hợp của
người Việt. http://www.nhipcaugiaoly.com/post?id=160
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi. (2007). Từ Điển Thuật Ngữ Văn Học.
HN: Nxb. Giáo dục.
Lê Trí Viễn (1994).Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường. TP. HCM: Nxb. Giáo dục
Ngô Đức Thịnh. (2002). Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam. TP Hồ Chí
Minh: Nxb. Trẻ.
Nguyễn Chiến Thắng. (1984). Ca dao, hò, vè Vĩnh Long. TPHCM: Nxb. Trẻ.
Nguyễn Đổng Chi. (1957). Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. HN: Nxb. Giáo dục
Nguyễn Du. (1999). Truyện Kiều. Hà Nội: Nxb. Văn học.
Nguyễn Hữu Hiếu (2011). Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ. TPHCM: Nxb.
Thanh Niên
Nguyễn Như Ý, Chu Huy. (2014). Từ điển văn hóa, phong tục cổ truyền Việt Nam.
Hà Nội: Nxb. Giáo dục Việt Nam.
Nguyễn Như Ý. (2013). Từ điển Ngữ văn. HN: Nxb. Giáo dục Việt Nam.
Nguyễn Phương Thảo. (2008). Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo. HN:
Nxb. Văn hóa Thông tin.
Nguyễn Thị Bích Hà. (2014). Nghiên cứu văn học dân gian từ mã văn hóa dân
gian. HN: Nxb. Đại học Sư phạm.
Nguyễn Thị Bích Hà. (2018). Giáo trình văn học dân gian Việt Nam. HN: Nxb. Đại
học Sư phạm.
Nguyễn Thị Kim Ngân (2014). Đạo trời và tín ngưỡng dân gian qua ca dao, Tạp
chí VHNT số 360, tháng 6 – 2014. http://vhnt.org.vn/tin–tuc/van–hoa–co–
truyen/27874/dao–troi–va–tin–nguong–dan–gian–qua–ca–dao
Nguyễn Văn Dân. (2006). Phương pháp luận nghiên cứu văn học. HN: Nxb. Khoa
học Xã hội, Hà Nội.
109
Nguyễn Văn Hầu. (2012). Văn học miền Nam lục tỉnh (tập 1). TP.HCM: Nxb Trẻ.
TP.HCM.
Nguyễn Văn Quang. (2015). Văn học dân gian An Giang. Hà Nội: Nxb. Khoa học
Xã hội.
Nguyễn Văn Quang. (2015). Văn học dân gian Bến Tre. Hà Nội: Nxb. Khoa học
Xã hội.
Nhất Thanh (2016). Đất lề quê thói. HN:Nxb. Văn học.
Nhiều tác giả. (2017). Tín ngưỡng dân gian. Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Văn hóa –
Văn nghệ.
Phạm Việt Tuyển. (1974). Cửa vào phong tục Việt Nam. TP. HCM: Nxb. Đại học
Văn Khoa Sài Gòn.
Phan Kế Bính. (2017). Việt Nam phong tục. HN: Nxb. Văn học.
Phan Thị Phượng. (18/08/2010). Bàn về một khía cạn tâm linh trong ca dao người
Việt,
http://www.vusta.vn/vi/news/Thong–tin–Su–kien–Thanh–tuu–KH–
CN/Ban–ve–mot–khia–can–tam–linh–trong–ca–dao–nguoi–Viet–34757.html
Phan Trọng Luận (2018). Ngữ Văn 10, tập 2. TP. HCM: Nxb. Giáo dục.
Sơn Nam. (2017). Đồng bằng sông Cửu Long, Nét sinh hoạt xưa và Văn minh miệt
vườn. Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Trẻ.
Sơn Nam. (2017). Nói về miền Nam, Cá tính miền Nam và Thuần phong mĩ tục.
TPHCM: Nxb Trẻ.
Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh. (2014). Văn hóa dân gian
người Việt ở Nam Bộ. TPHCM: Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
Trần Hồng Liên (1995). Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ Việt Nam
từ thế kỉ XVII đến 1975. TP. HCM: Nxb. Khoa học Xã hội.
Trần Minh Thương. (2017). Đặc điểm văn hóa sông nước miền tây Nam Bộ. HN:
Nxb. Mỹ Thuật.
Trần Nam Tiến. (2018). Nam Bộ dưới thời chúa Nguyễn. Hà Nội: Nxb. Khoa học
Xã hội.
Trần Ngọc Thêm. (2001). Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam. Tp. Hồ Chí Minh:
Nxb. Tp. Hồ Chí Minh.
110
Trần Thuận. (2014). Nam Bộ – Vài nét lịch sử – văn hóa. Tp. Hồ Chí Minh:
Nxb.Văn nghệ.
Trịnh Hoài Đức. (1972). Gia Định thành thông chí. Bản dịch của Tu Trai Nguyễn
Tạo. Nha Văn hóa, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa xuất bản, 1972.
Từ Xuân Lãnh. (2019). Phong tục Đất Phương Nam. TP. HCM: Nxb. Tổng hợp TP.
Hồ Chí Minh.
Vũ Anh Tuấn (chủ biên), Phạm Thu Yến, Nguyễn Việt Hùng, Phạm Đặng Xuân
Hương. (2015). Giáo trình văn học dân gian. HN: Nxb: Giáo dục Việt Nam.
Vũ Minh Chi. (2004). Nhân học văn hóa – Con người với thiên nhiên, xã hội và thế
giới siêu nhiên. HN: Nxb. Chính trị Quốc gia.
Vương Đằng. (2004). Phong tục miền Nam. HN: Nxb. Văn hóa Thông tin.
PL1
PHỤ LỤC
CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA PHONG TỤC
1. MỞ ĐẦU
1.1. Mục đích của việc xây dựng phụ lục
Số lượng ca dao sử dụng khảo sát trong nghiên cứu đề tài Ca dao Nam Bộ từ góc
nhìn văn hóa phong là 1.188 bài. Số lượng ca dao đưa vào làm dẫn chứng trong phần nội
dung chính cũng hạn chế, vì đưa nhiều quá sẽ dễ sa vào liệt kê.
Vì vậy, nhằm góp phần minh họa cụ thể, hệ thống và chặt chẽ cho các vấn đề triển
khai nghiên cứu chúng tôi tiến hành xây dựng phụ lục.
1.2. Nội dung và cách thức trình bày phụ lục
Do số lượng ca dao sử dụng khảo sát trong nghiên cứu là: 1.188 bài nên chúng tôi chỉ
chọn lọc những bài ca dao tiêu biểu theo từng nội dung để minh họa ở phụ lục.
Sau khi tiến hành sưu tầm, chọn lựa, phân loại ca dao của người Việt ở Nam Bộ từ
các nguồn tư liệu tham khảo, chúng tôi sắp xếp nội dung phụ lục theo chủ đề liên quan đến
các chương, mục nghiên cứu của luận văn.
Vì nguồn tư liệu được tuyển chọn trong các công trình thuộc nhiều địa phương khác
nhau nên không có sự thống nhất qui tắc chính tả chung, có một số từ cổ hiện nay ít dùng
nhưng tôn trọng nguyên tác nên chúng tôi không sửa theo qui tắc hiện hành. Một số từ
được sử dụng theo nghĩa giống nhau như: se duyên – xe duyên; dươn – duyên, nhứt – nhất,
miếu – miễu, hàng – hàn – hòm, huỳnh tuyền – huỳnh tiền – quỳnh tiền, sói – xối, ...
Phụ lục được trình bày cụ thể như sau:
STT Nội dung phụ lục Trang
1. Phụ lục 1: Ca dao Nam Bộ phản ánh phong tục cưới hỏi PL3
2. Phụ lục 2: Ca dao Nam Bộ phản ánh phong tục tang ma PL31
3. Phụ lục 3: Ca dao Nam Bộ phản ánh phong tục thờ cúng đa thần PL42
4. Phụ lục 4: Ca dao Nam Bộ phản ánh phong tục thờ cúng trong gia PL68
đình
1.3. Phạm vi tư liệu tham khảo
Chúng tôi sử dụng nguồn tư liệu từ các công trình:
1. Ca dao dân ca Nam Bộ, Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi
Mạnh Nhị, xuất bản 1984, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.
PL2
2. Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường, Lê Trí Viễn, xuất bản năm 1994, Nxb.
Giáo dục.
3. Văn học dân gian Đồng Bằng sông Cửu Long của trường Đại học Cần Thơ, xuất
bản năm 1997, Nxb Giáo dục.
4. Ca dao, hò, vè Vĩnh Long do Nguyễn Chiến Thắng (chủ biên), xuất bản năm 2005,
Nxb. Trẻ.
5. Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục Tỉnh, Huỳnh Ngọc Trảng, xuất bản năm 2006, Nxb.
Tổng hợp Đồng Nai.
6. Văn học dân gian Bạc Liêu, Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản năm 2011, Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội.
7. Văn học dân gian Sóc Trăng, Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản năm 2011,
Nxb. Văn hóa – thông tin.
8. Văn học Miền Nam Lục Tỉnh tập 1, Nguyễn Văn Hầu, xuất bản năm 2012,
Nxb. Trẻ.
9. Văn học dân gian Bến Tre, Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên), xuất bản năm 2015,
Nxb. Giáo dục.
10. Văn học dân gian An Giang (tập 3) do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên), xuất bản
năm 2015, Nxb. Giáo dục.
11. Luận văn Khảo sát ca dao – dân ca Bến Tre của Đặng Thị Thùy Dương, năm
2009, trường Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
PL3
PHỤ LỤC 1
CA DAO PHẢN ÁNH PHONG TỤC CƯỚI HỎI
CA DAO – XUẤT XỨ CA DAO – XUẤT XỨ
1. Trai trưởng thành định đôi can lệ, 178. Nghinh hôn giá thú bất khả luận tài
Gái khôn rồi đặng chữ vu qui. Trăm năm chẳng hiệp dươn dài,
Trăm năm có một lần đi, Anh nằm lăn xuống bệ, anh lạy dài ông Tơ
Trai thì trọn hiếu, gái thì thủy chung. (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 112)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 453) 179. – Cha anh cũng giỏi, chú anh cũng giỏi
2. Bảo đừng sầu muộn tương tư Sao anh đi mộ lễ hỏi mà bỏ vô gói mà mang
Để về thưa lại mẫu từ sẽ hay.
Anh tiếc chi đôi siểng cặp tràng Không bỏ vô mà gánh để bạn vàng cười chê. Em về thưa lại mẹ hay,
Cho đành rồi sẽ sinh bày lễ nghi – Cái của một đồng, cái công một lượng Cái gói là trượng, đôi siểng là nan (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 101)
3. Mảng nói chơi mà trời gần sáng, Anh cũng muốn đi dù lọng thênh thang Thêm thằng bán xiểng sợ cha mẹ nàng không
Xin anh bỏ lảng duyên nợ đôi ta. cơm.
(VHDG Bến Tre – tr. 288) Dằn lòng về thưa với má ba,
180. Người ta giàu nghinh thân giá thú Sắm lo sáu lễ đến nhà nói em.
Còn mình nghèo cặp vịt đôi bông (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 315)
Chứ lẽ nào xách gói về không 4. Qua đã than cùng bậu:
Bỏ mẹ già cù lao Sơn Ngãi Nhà qua hàn lậu,
Bỏ cha già sao phải sao đành Lòng qua giữ tín thành.
Trở về nhà nuôi cội bông xanh Xin em một tiếng cho rành,
Chừng nào lá rụng đôi nhành hãy thôi (rơi). Em ôi,
Tay bưng sổ tiếng Sau dâng sáu lễ, mới đành dạ qua.
Bước tiện xuống ghe (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 269)
Miệng kêu em dạ. 5. Màn rồng một bức giăng ngang,
(VHDG Sóc Trăng – tr. 655) Tôi với mình trời định, tam cang ngũ
181. – Anh về hỏi mẹ cùng cha thường.
Sắm sanh lễ vật để mà cưới em. Mình về thưa lại thung đường
Tưng bừng hàng xóm ra xem Qua đây gá nghĩa cang thường với em.
Cô dâu chú rể đẹp duyên vợ chồng. (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 315)
(VHDG An Giang – tr. 61)
PL4
6. Cha mẹ ơi nhận lễ cho con rể nó nhờ 182. Anh về sắm lễ đi cưới người thương
Đừng để trai trông gái đợi lâu ngày lỡ duyên. Thằn lằn đi lọng, ễnh ương đi dù.
(VHDG An Giang – tr. 245) Cóc vàng chở rượu ba lu
7. – Anh về dọn dẹp loan phòng Rắn mối đi họ, chuột xù làm mai.
Mười ba nhóm họ, bữa rằm rước dâu (VHDG An Giang – tr. 72)
– Rước dâu phải rước bằng đò 183. Rượu lưu ly chân quỳ tay rót
Đừng đi rước bộ, lấm giò cô dâu. Cha mẹ uống rồi em dời gót theo anh.
(VHDG Bến Tre – tr. 259) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 364)
8. Tuy anh nghèo nhưng dòng họ anh đông, 184. Rượu vu quy anh xếp hai hàng
Người giúp một đồng, cũng đủ cưới em. Chờ cha mẹ uống cho nàng theo anh.
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 472) (VHDG Bến Tre – tr. 275)
9. Biết đặng hay không mà hòng xăn tay áo 185. Rượu vu quy chân quỳ tay rót
Vén bức sáo làm lễ từ đường Cha mẹ uống rồi em dời gót theo anh.
Mai sao không đặng, ai thường công anh. (VHDG Bến Tre – tr. 377)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 190) 186.Chén rượu lưu li, chân quỳ tay rót,
10. Bước lên tấm cáo anh xắn tay áo làm lễ Cha mẹ rót rồi, dời gót theo anh.
từ đường (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 360)
Dầu không đặng bậu chớ cũng tình mẹ cha. 187. Bắt lấy tay em bằng ăn nem gỏi cuốn,
(VHDG An Giang – tr. 87) Hai má giao kề bằng uống chén rượu ngon.
11. Tấm giấy vàng đề hàng chữ thọ, (VHDG ĐBS Cửu Long – trang 342)
Rước em về hai họ chứng minh 188. Trước lạy cha, sau ra lạy má,
(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 120) Con đã có chồng rồi xuất giá tòng phu
12. Thắp hương vái với ông bà, (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 59)
Đôi ta kết ngãi, đến già an cư. 189. Chữ rằng chi tử vu quy
(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 221) Làm thân con gái phải đi theo chồng.
13. Anh Hai đi với chị Hai, (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 432)
Mâm trầu, hũ rượu tốn hai mươi tiền. 190. Muốn cưới được em phải trầy da tróc vẩy
Còn dư mua chả mua nem, Đầu heo một cái với một mâm trầu
Mua cặp lồng đèn hai họ cùng lên. Lọng vàng qua rước nàng dâu
Ông cai, ông ký ngồi trên, Anh còn phải lạy xối đầu được chưa?
Sui gia ngồi dưới hai bên họ hàng. (VHDG Bến Tre – tr. 355, 356)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 423)
PL5
14. Đi ra có cặp lọng vàng, 191. – Muốn cưới được em phải trầy vi tróc vảy,
Hiển vinh ba má, rỡ ràng đôi ta Đầu heo với một mâm trầu,
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 62) Lọng vàng qua rước nàng dâu,
15. Tân hôn hai gối một mền, Anh còn phải lạy sói đầu, biết được hay chưa.
Vái ông tơ bà nguyệt xe bền đôi ta. – Có giỏi mấy mươi cũng là phụ nữ,
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 450) Dầu cho hay chữ cũng thể đàn bà,
16. Ngày anh làm lễ tơ hồng Tao về bán đất ông cha,
Đêm em bẻ gãy chữ đồng với anh. Cưới được rồi, củi bửa, roi da tao đánh hoài.
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 437) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 482)
17. Đèn nào cao bằng đèn Ba Giáo 192. Ra đồng ruộng thấy con cò trắng tựa như vôi
Gái nào bạo bằng gái chợ Giồng Hai đứa mình còn nhỏ mà xứng đôi quá chừng
Ngày em làm lễ tơ hồng – Anh ơi đừng vội mà mừng
Là ngày em bẻ gãy chữ đồng với tôi. Cá ra sông con cá lội
(VHDG Sóc Trăng – tr. – 593) Anh có thương em thì bước tới
18. Tay bưng quả nếp vô phòng Bỏ miếng trầu hờ cho chắc tay.
Đèn hương đôi ngọn chữ bá tòng còn ghi. (VHDG Bến Tre – tr. 375)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 373) 193. Công sanh dưỡng bằng công tạo hóa,
19. Tay bưng quả nếp vô phòng, Có mẹ cha sau mới có chồng,
Thắp hương cầu vái: chữ bá tòng cầu hôn Nhớ khi dìu dắt ẵm bồng,
(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 166) Nay đi xuất giá não lòng lắm thay.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 463)
20. Miếng trầu miếng cau là nhân là đạo Cái ly chén gạo là tình vợ nghĩa chồng 194. – Trồng tre chẳng dám xắn măng,
Để cho măng lớn kết bè đưa dâu. Tay tôi bưng quả cẩn vô phòng Đèn thắp mòn hai ngọn – Đưa dâu thì đưa bằng ghe, Tôi vái ông tơ hồng xe tơ. Chớ đưa bằng bè ướt áo nàng dâu. (VHDG An Giang – tr. 166) (VHDG Bến Tre – tr. 409) 21. Đèn loan hiệp cẩn trong phòng, 195. Trồng tre không dám ăn măng Trăm năm chí quyết bá tòng gầy duyên. Để cho măng lớn kết bè đưa dâu (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 252) Đưa dâu thì đưa bằng ghe 22. Cha sanh mẹ đẻ không lẽ theo mình, Đừng đưa bằng bè ướt áo cô dâu. Xấu cha xấu mẹ, hai đứa mình tốt chi. (VHDG Bạc Liêu – tr. 872) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 460)
PL6
23. Anh đi ghe từ Vĩnh Long đi Vĩnh Mỹ 196. Trồng tre chẳng dám ăn măng,
Xuống tàu thủy đi tuốt Vĩnh Bình Để cho măng lớn kết bè đưa dâu,
Trước là thăm viếng gia đình Đưa dâu thì đưa bằng ghe,
Sau nhờ mai mối cho hai đứa mình kết duyên. Đừng đưa bằng bè rách áo cô dâu!
(VHDG Bạc Liêu – tr. 822) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 471)
24. Nay em còn cha, còn mẹ, còn cô, còn bác 197. Anh thương em đừng vội bắt tay,
Nên em không dám tự tung tự tác một mình Anh về cậy mối cậy mai đến nhà,
Anh có thương em thì cậy mai dong đến nói Phải chi ta ở cùng ta.
Che mẹ có bằng lòng, em mới ưng. Thức khuya dậy sớm, phụ mẫu già nuôi chung
(VHDG An Giang – tr. 178) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 169)
25. Đa tình chi lắm 198. Đợi lịnh song thần anh đành phải vậy
Chỉ thắm khó buộc tai Em quyết một lời, anh sẽ cậy mai dong.
Nếu anh muốn kết duyên hài, (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 267)
Xin anh lo cậy mối mai đến nhà 199. Đợi tin song thân em là phải vậy
(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 214) Em ôi
26. Em ừ bây giờ Song quyết một lời rồi, anh hãy cậy mai dong
Cha mẹ từ chẳng khứng (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 248)
Có phải hại anh, 200. Ba Lai cầu gối đầu Rạch Miễu
Đau ngồi đau đứng, Anh thương em hiểu,
Bảo anh lo ngược lo xuôi. Chứ em chưa hiểu song thân
Trước sau lại không vui, Mẹ biểu thì anh phải vâng,
Bớ anh ơi, Thôi về mai mối ngày gần anh qua.
Chi bằng anh cậy mối nói hồi ban sơ (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 178)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 249) 201. Tàu ông Chánh chạy trước
27. Đó quyết cậy mai dong đây phân hoài Tàu ông Phó chạy sau
chẳng khứng, Hai chiếc gặp nhau quanh neo cái rổn
Bớ em ôi, Anh tưởng đâu tàu Nhật Bổn đi gánh nước
Cha chả: chỉ có một tiếng ừ, vàng xứng mấy cân Chiêm Thành
(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 249) Anh thương em thì đừng dỗ đừng dành
28. Mâm trầu hũ rượu, đâu đó đàng hoàng Cậy mai dong tới nói, cha mẹ đành thì em ưng.
Cậy mai đến nói, phụ mẫu tàng là xong (VHDG An Giang – tr. 208)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 191)
PL7
29. Ngó lên trời thấy sao giăng phụng vẽ, 202. Đắng khổ qua, chua lè chanh giấy
Ngó xuống phàm trần thấy một lẽ gần em. Dẫu ngọt cho mấy cũng trái cam xanh
Anh về cậy mối cậy mai, Anh thương em đừng dỗ đừng dành
Chớ đừng có liếc mắt xem, họ cười. Cậy mai dong đến nói phụ mẫu đành em ưng.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 333) (VHDG Bến Tre – tr. 315)
30. Gương mặt em anh nhớ hằng ngày, 203. Đắng khổ qua, chua là chanh giấy
Thế nào anh cũng cậy mai đến nhà Ngọt thế mấy cũng tiếng cam sành
Đến nhà nói với mẹ cha, Thương em đừng dỗ đừng dành
Nay em đúng tuổi gả qua cho rồi Cậy mai dong đến nói cha mẹ đành, em ưng.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 128) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 380)
31. Em có mẹ cha, 204. Cũng nhờ cô bác đôi bên
Anh đến nhà thưa lại, Mỗi người một tiếng mới nên cang thường
Riêng tình ân ái, (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 243)
Nhân ngãi chẳng phai, 205. Cây oằn vì bởi trái sai
Sợ hiềm trắc trở duyên hài, Anh xa em vì bởi ông mai ít lời.
Phải cho có mối có mai lễ trầu (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 178)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 274) 206. Cây oằn vì bởi trái sai
32. Anh thấy em chắc chắn, Anh thương em còn sợ ông mai ít lời.
Cặp chân mày ngay ngắn, anh cũng vừa lòng. (VHDG Bạc Liêu – tr. 878)
Cậy cùng cô bác mai dong, 207. Cây oằn vì bởi trái sai
Vái cho em bậu xiêu lòng ưng anh. Xa nhau vì bởi ông mai ít lời.
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 335) (VHDG Bến Tre – tr. 278)
33. Tay cầm ly rượu Sơn Đông 208. Cây oằn vì bởi trái sai
Hiểu em chưa chồng, anh muốn làm mai Anh xa nàng vì bởi ông mai ít lời
Bàn tay ngón ngắn, ngón dài (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.78)
Hơi đâu kén chọn, chờ hoài hỡi em 209. Cây oằn vì bởi trái sai
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.136) Anh xa em vì bởi ông mai ít lời
34. Khế với chanh cùng chua hơi ngọt Ít lời nên ba má chẳng nhận lời
Mật với gừng, mật ngọt gừng cay Phận em là gái bẻ nạng chống trời sao nên?
Cùng xóm nhau, hai ta hiểu biết lâu dài (VHDG An Giang – tr. 112)
Phụ mẫu em ừ một tiếng ông mai đến liền 210. Đũa vàng dội xuống mâm son
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.92) Lâu nay mới gặp nguồn cơn hội này
PL8
35. Em đây như tấm lụa đào Gắng công nối sợi chỉ mành
Nếu anh có ý thì vào cậy mối mai Nối ba lần nối mà sự bất thành tại ai
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.186) Cây oằn vì bởi trái sai
36. Cậy người giá thú trao lời Anh xa em vì bởi ông mai ít lời.
Đôi ta sum hợp, ơn người tạ ơn (VHDG Bến Tre – tr. 366)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 211) 211. Xa nàng vì bởi mối mai
37. Bí đao non không ngon cũng nấu, Ông mai ít tiếng, bà mai ít lời.
Thiếp xa chàng tại xấu mai dong. (Ca dao dân ca Nam Bộ– tr. 419)
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 347) 212. Ông mai xe lỡ mối duyên
38. Lộ bất hành bất đáo, Thuyền quyên phải chịu truân chuyên suốt đời.
Chung bất đả bất minh, (VHDG Bến Tre – tr. 372)
Bây giờ anh mới rõ sự tình, 213. Anh đi ngang cầu sắt,
Tại bà mai ở độc, hai đứa mình mới xa. Anh nắm tay em thật chắc,
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 423) Miệng hỏi gắt chung tình,
39. Rắn có chưn (chân) rắn biết Bướm xa bông tại nhụy, anh xa mình tại ai?
Ngọc ẩn đá ngọc hay Cây cằn vì bởi trái sai,
Anh nó ôi! Lòng anh muốn kết duyên hài, Anh xa xem bởi bà mai ít lời.
Khá về thưa lại cậy mai đến nhà (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 328)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 188) 214. Đường đi xa hai đứa ta nói chuyện 40. Xấu tre uốn chẳng nên cần Lúc giã từ còn quyến luyến nhau hoài, Xấu mai nên chẳng được gần với em Về nhà anh cậy mối mai, (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 420) Cha mẹ em nói khó, hỏi hoài không xong. 41. – Tiếc công anh lau dĩa chùi bình (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 272) Cậy mai dong tới nói ba má nhìn bà con. 215. Thấp tay với chẳng tới kèo – Trời mưa nhà thiếc dột lon ton Thân phận anh nghèo nên phải cậy người mai chước Ổng bả không thương nên nói vậy, chứ bà Sông ngân nguyện bắc cầu Ô Thước con hồi nào? Duyên nợ này không trước thì sau (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 390)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 379) 42.– Tiếc công anh lau kỷ, súc bình
216. Xấu dao cắt chẳng đặng gừng Cậy mai dong tới nói phụ mẫu nhìn bà con.
Xấu người mai ước cầm chừng đôi ta – Cục đá tròn rớt xuống cái boong
(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 108) Cha mẹ em không thương thì nói vậy, chứ bà con hồi nào?
(VHDG An Giang – tr. 203)
PL9
43. Ngũ lý nhất đoản đỉnh 217. Con gà trống tía
Thập lý nhất trường đình Cái lông cũng tía
Tiếc công anh lau đĩa chùi bình Ngọn lang dâm
Cậy mai dong tới nói phụ mẫu nhìn bà con Ngọn mía cũng dâm
Trời mưa nhà thiếc dột bon bon Ông mai ngọt miệng em lầm
Phụ mẫu không thương nói vậy Bây giờ nghĩ lại, em giận thầm ông mai.
Chớ bà con đâu mà nhìn (VHDG Bến Tre – tr. 301)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 297) 218. Bây giờ em ở lại với ai,
44. – Tiếc công anh chùi đĩa lau bình Rồi đây đáng trách ông mai ít lời
Cậy mai dong đến nói phụ mẫu nhìn bà con (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 181)
– Trời mưa nhà thiếp dột nghe boong boong 219. Trách ông tơ cùng bà nguyệt tháo
Phụ mẫu hổng thương nói vậy chứ bà con Đôi ta lơ láo tại bởi mai dong
đâu mà nhìn. Trách ai ăn ở hai lòng (VHDG Bến Tre – tr. 389, 390) Chỗ thương không vấn, chỗ không đành em 45. Tiếc công anh lau chùi bình lại vấn vương. Cây mai mối đến phụ mẫu nhìn bà con. (VHDG An Giang – tr. 206) (VHDG Bạc Liêu – tr. 867) 220. Bơi xuồng qua kinh Mới, bơi dọc kinh Ngang 46. Cây oằn vì bởi trái sai Em thương anh ăn nói dịu dàng Xa chàng vì bởi ông mai ít lời. Trách anh không mai mối, để lỡ làng đôi ta Sắt lâu còn có khi mòn (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.83) Mẹ cha ép buộc duyên con 221. Bờ Tràm ngay thẳng Phụ tình lỗi ấy chẳng còn ăn năn. Sao anh dậm cẳng kêu trời (VHDG Sóc Trăng – tr. 621, 622) Chiếc Cầu Đôi còn có nhịp 47. Gió xoáy vần, cát vận bờ đê Sao anh chẳng có lời mối mai Phụ mẫu anh cậy mai tới nói, sao em chê (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.75) anh nghèo? 222. Sông Cái Cá không rộng không dài (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 290) Trăm năm xuôi chảy miệt mài 48. Con cá tróc vi hiềm vì nước chảy Tiếc cho người nghĩa thiếu ông mai dẫn đường Cần câu gãi vì bụi gốc vướng công (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.124) Bởi vì mai mối không xong, 223. Bà mai muốn ăn đầu heo Nên duyên đôi ta trắc trở chứ tấm lòng không quên. Nói chuyện giàu nghèo, đưa đẩy, đẩy đưa (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 233) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.138)
PL10
49. Cây tre lóng cụt lóng dài, 224. Ở đời có bốn cái ngu
Anh lấy em vì bởi ông mai lắm lời. Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 359) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.139)
50. Đố anh tìm được cái vảy con cá trê vàng 225. Thò tay ngắt ngọn trâm bầu
Tìm gan con tép bạc, mà em nguyền theo không. Thương thì thương đại đừng cầu ông mai.
Ra đi một bước dòn dòn (VHDG An Giang – tr. 216)
Hai tay ôm áo vo tròn khóc than 226. Bướm vàng đậu ngọn cây bần
Tưởng là mình thiếp với chàng Tui với mình lân cận chẳng cần ông mai.
Ai hay có kẻ đón đàng giả nai (VHDG Bến Tre – tr.188)
Cây oằn vì bởi trái sai 227. Vẻ ngân hà dọi khơi mặt nước
Em than vì bởi ông mai ít lời. Biết em vô phước hay được hữu phần
(VHDG Sóc Trăng – tr. 627, 628) Gặp mặt nhau đây, em phải phân trần
51. – Trước em gái chào cây lê lựu Bớ anh ôi,
Sau em chào kẻ cựu người tân E em tuổi Hợi, anh tuổi Dần khắc xung
Chào người cận lân em mới bước vào hỏi anh: (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 263)
Cha mẹ anh còn song toàn hay cỡi hạc quy tiên? 228. Dẫu có khắc xung,
Bên ngoại nhà còn mấy cậu dì? Là mang chung xung khắc
Bên nội anh còn mấy chú mấy cô? Em ôi! Xin hai đứa mình ở chắc thì thôi.
Vậy chứ tên họ anh là chi, nhà anh ở đâu? (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 263)
Nói cho em gái biết em gái chào gá nghĩa anh em. 229. Giáp, Ất, Bính là tam bất hạp
– Trước anh chào cây lê cây lựu Dần, Thân, Tị, Hợi tứ hành xung
Sau anh chào kẻ cựu người tân. Khuyên anh hãy xét lại cho cùng
Cha mẹ anh còn song toàn không có cỡi hạc quy tiên Bớ anh ơi,
Bên ngoại anh còn hai cậu một dì Hiệp hôn giá thú em sợ trùng không nên
Bên nội còn ba chú, bốn bác không cô (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 263)
Anh còn bốn chị gái em trai 230. Cọp mà vật mấy ông thầy địa
Năm nay anh hai mốt tuổi tốt tợ như rồng Yêu mà nhai mấy chú coi ngày
Anh chưa có nơi gá nghĩa vợ chồng. Trớ trêu họ khéo đặt bày
Nhà anh tán đá chẳng phải tán dầu. Bớ anh ơi,
Bấy lâu anh nhung nhớ anh mới tìm đến em. Đôi ta thương nhau thiệt, ông trời định đôi.
(VHDG An Giang – tr. 217) (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 263)
PL11
52. Ông mai chân thấp chân cao 231. Cọp mà vật mấy ông thầy địa
Muốn ăn thịt mỡ nói vào nói ra Voi mà giày mấy gã coi ngày
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.138) Trớ trêu họ khéo đặt bày
53. – Anh ơi xê ra đừng đứng một bên Đôi ta thương nhau thiệt, lẽ nào trời không định đôi.
Em có chồng, anh có vợ, không nên đứng gần (VHDG Bến Tre – tr. 302)
– Tuổi em mười chín tuổi Dần 232. – Dần, Thân, Tỵ, Hợi tứ hành xung
Tuổi anh tuổi Tuất đứng gần can chi? Khuyên anh hãy xét lại cùng
(VHDG An Giang – tr. 70) Hiệp hôn giá thú em sợ trùng không nên.
54. Đường xa mượn áo mà đi – Cọp mà rượt mấy anh thầy địa
Miễn cho tốt tuổi quản chi xa đường Yêu mà nhai mấy chú chọn ngày
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 273) Chớ kêu họ khéo đặt bày
55. Đường xa mượn ngựa mà đị Mình thương nhau thật ông trời gài định thôi.
Xin cho tốt tuổi, luận chi xa đàng (VHDG An Giang – tr. 122)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 104) 233. Mưa lâm thâm ướt dầm lá hẹ
56. Tuổi nàng vừa chẳn đôi mươi, Anh thương một người có mẹ không cha
Tuổi anh hai mốt tốt tươi quá chừng. Mưa lâm thâm ướt dầm lá bí
Đó xa nhân ngãi đó mừng, Anh thương một người tuổi Tí ở không.
Đây xa nhân ngãi như gừng xát dao. (VHDG An Giang – tr. 162)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 411) 234. Quất ông tơ một cái “chót”
57. Tuổi nàng đã chẳn hai mươi Ông nhảy thót lên đọt bần
Tuổi anh hai mốt, tốt đôi quá chừng. Trách ông xe quanh xe quất
(VHDG Bến Tre – tr. 393) Cái tuổi Tuất với tuổi Dần sao ông không xe!
58. Bói khoa năm bóng, bảy thầy Quả năm ngăn trong lòng sơn đỏ
Tuổi anh không đặng sum vầy với em Mấy lời to nhỏ bỏ bạn sao đành
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.42) Chừng nào ông vua Trụ ăn ở hiền lành
59. Công anh bứt choại bện đăng, Ông Trương Phi mà nguội tánh, anh mới đành xa em.
Cha mẹ nói rằng xấu tuổi, em thôi (VHDG An Giang – tr. 192)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 240) 235. Anh thương em hồi áo mới may
60. Em kiếm nơi mô có tình nghĩa vợ chồng Bây giờ áo rách thay tay vá quàng.
Ơn cha nghĩa mẹ đạo chồng em theo. Màn treo sát đất gió phất màn lem
(VHDG An Giang – tr. 137) Anh không đặng tuổi nên em không gần
(VHDG Sóc Trăng – tr. 635)
PL12
61. Xê ra đứng đứng một bên, 236. Chẳng thà em lấy chồng khờ, chồng dại
Thủy hỏa xung khắc không nên đứng gần. Lo kinh thương mãi mại
Tuổi anh mười chín tuổi dần Tính công nghệ nông tang
Tuổi em tuổi tuất đứng gần can chi. Không ham nơi nhiều bạc lắm vàng
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 420) Mai sau sanh chuyện điếm đàng bỏ em
62. Xấu lá gói chẳng đặng nem, – Qua đây cũng muốn kiếm một nàng
Bởi anh xấu tuổi nên em có chồng. Thạo thông đường buôn bán,
Cá xuống sông còn mến nước trên đồng. Rao cùng thôn quán mà chưa đáng chỗ nào,
Sao em lấy chồng không ở vậy chờ anh? Thiếu chi những chị má đào
Xấu lá gói chẳng đặng nem, Họ mê bài phé, bài cào, anh thất kinh.
Anh ở gần mà chậm bước nên em lấy (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 213)
237. Quế già quế lại càng tốt chồng.
Mía già mía lại càng ngon (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 420)
Anh ơi anh có thương em mà đạo nghĩa vuông tròn 63. Chim khôn lót ổ lựa nhành
Cách mấy sông em cũng lội mà mấy đò em cũng đưa. Gái khôn lựa chốn trai lành gửi thân (VHDG Sóc Trăng – tr. 633) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 221) 238. Ở sao trung hiếu đạo đồng 64. Quốc kêu khắc khoải mùa hè Làm sao cũng kết vợ chồng với anh. Làm than con gái lấy chồng xuất gia (VHDG Sóc Trăng – tr. 652) Anh cưới thiếp về thờ kính mẹ cha 239. Chẳng tham rộng ruộng lớn vườn Thờ cha kính mẹ cho tròn đạo dâu. Ham vì nhơn ngãi, cang thường mà thôi Ánh trăng trải chiếu hai hang (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 214) Trên anh đọc sách dưới nàng quay tơ 240. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền
Quay tơ phải giữ mối tơ Anh thương em thì đừng cho bạc cho tiền
Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh. Cho nhơn, cho nghĩa, kẻo xóm giềng cười chê
(VHDG Bạc Liêu – tr. 864, 865) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 145)
65. Tìm nơi cha thảo mẹ hiền 241. Chí quân tử cửu châu lập nghiệp,
Gác lưng vô mà dựa, chớ của tiền đừng ham. Đại trượng phu từ hải đi xa
(VHDG Bến Tre – tr. 390) Thương em vì nết hiền hòa,
66. Chim khôn đừng ngại kiểng tàn Thiếu chi người thiên hạ vậy mà anh không thương.
Gái khôn đừng thấy trai cơ hàn mà xa (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 215)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 221)
PL13
67. Một vũng nước trong năm bảy dòng nước đục 242. Khó giúp nhau mới thảo
Một trăm người tục một chục người thanh Giàu tương trợ ai màng,
Biết đâu nhơn đạo hiền lành Kiếm người giữ đạo chứ điếm đàng thiếu chi.
Trao thân gửi phận mới đành dạ em (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 302)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 220) 243. Mặt trời đỏ tựa tơ đốt
68. Chữ đồng thanh tương ứng Mặt trăng tươi tốt tợ bông hường.
Chữ đồng khí tương cầu Lựa chồng lựa người chữ nghĩa văn chương,
Dầu mưa, dầu gió mặc dầu, Quang minh trí tuệ cao cường hơn em.
Kiếm nơi có nghĩa, anh hầu kết duyên (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 317)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 228) 244. Chim khôn kiếm nơi mà đậu,
69. Chim quyên đứng dựa bụi riềng Gái khôn chọn nơi nhân hậu mà nhờ,
Kiếm nơi đức hạnh trai hiền gửi thân. Đừng ham lấy công tử bột dật dờ tấm thân.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 222) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 430)
70. Con chim khôn kiếm nhành cây xanh nó đậu, 245. Trên trời có cụm mây xanh
Gái khôn kiếm trai đôn hậu làm chồng, Dưới sông dòng nước chảy quanh chân cầu
Cô bác xa dòm ngó nói phụng với rồng sánh đôi Người ta đòi ruộng đòi trâu
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 234) Còn em đòi một khay trầu mà thôi.
71. Dốc một lòng lấy chồng hay chữ (VHDG An Giang – tr. 207)
Để ra vào kinh sử mà nghe 246. Thời buổi ban đầu em bảo anh têm ba
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 246) miếng trầu anh sợ tốn.
72. Dốc một lòng lấy chồng dốt nát, Giờ em có chồng rồi anh bảo trốn theo anh.
Để ra vào rửa bát nấu cơm. (VHDG An Giang – tr. 222)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 246) 247. Têm trầu chọn những lá xanh
73. Độc bình bát giác, cắm các bông hường, Bỏ vô tráp bạc để anh đi đường.
Cha mẹ em chọn nơi rể quý, anh tầm (VHDG Bến Tre – tr. 395)
thường biết có đặng không? 248. Đi ra gặp em bán trầm, đi vô gặp em bán trầm
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 265) Thấy em đằm thắm trong dạ anh thương
74. Kẹo Mỏ Cày năm đồng một kí, Để anh về thưa lại với song đường
Đường Giồng Trôm một kí năm đồng. Trầu cau dạm hỏi cho nường lấy anh.
Em đi bán đi buôn mong kiếm một tấm chồng, (VHDG An Giang – tr. 130)
Đêm năm canh con gà gáy sáng, chốn cô phòng đỡ lẻ loi
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 300)
PL14
75. Anh thương em không phải thương bạc với tiền, 249. Đi đâu cho đổ mồ hôi
Mà thương người nhân hậu, lưu truyền kiếp sau. Chiếu trải không ngồi, trầu đãi không ăn.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 169) Đêm khuya vắng vẻ anh thỏ thẻ hỏi nàng
76. – Phụ mẫu sinh ra có một mình em là gái Tiền riêng mấy chục, vòng vàng được mấy đôi.
Dạy ăn, dạy nói, dạy lạy, dạy quỳ (VHDG An Giang – tr. 131)
Gả cho anh đây làm vợ 250. Đèn mù u khi lu khi tỏ
Anh lấy nghĩa gì anh đền ơn? Quả cau nho nhỏ để cạnh miếng trầu vàng
– Đôi đũa vàng anh dựng xuống mâm cơm Thương em phận gái hồng nhan
Mâm trầu cay, chén rượu bích Lấy chồng xa xứ gia đàng ai coi?
Anh đền ơn phụ mẫu nàng. (VHDG An Giang – tr. 134)
(VHDG Bến Tre – tr. 373) 251. Miếng trầu têm là nghĩa
77. Thương đây, đó nói một câu Miếng thuốc xỉa là tình
Mân trầu chai rượu chứ đâu đòi vàng. Thiên minh minh, địa cũng minh minh
(VHDG Bạc Liêu – tr. 869) Tuôn rơi lệ nhỏ dầm mình
78. Trầu với cau là duyên là nợ Họ hàng xa mặt, hai đứa mình đừng xa.
Còn vôi với thuốc là vợ là chồng (VHDG An Giang – tr. 168)
Vái ông tơ hồng ông se sao mà se cho chặt 252. Trầu này trầu nghĩa trầu tình
Ông đừng có se nữa chừng mà lặt vặt tình thương. Trầu loan trầu phụng trầu mình lấy ta
(VHDG Bạc Liêu – tr. 872) Trầu này têm tối hôm qua
79. Mặc ai ép liễu nài tình Giấu cha giấu mẹ đem ra cho chàng.
Phận mình là gái chữ trinh đứng đầu Trầu này không phải trầu hàng
Dầu cho mưa nắng dãi dầu Không bùa không phép sao chàng không ăn
Phận mình là gái cau trầu đẹp duyên. Hay là chê khó chê khăn
(VHDG Bến Tre – tr. 352) Xin chàng đứng lại mà ăn miếng trầu.
80. Con chim se sẻ nó đẻ nhành dâu (VHDG Bến Tre – tr. 407)
Thương không thương thì nói buổi ban đầu 253. Trầu têm ba miếng thẳng hàng
Chớ đừng làm cho lỡ rượu, lỡ trầu của anh. Bửa cau sáu cạnh đón đàng trao tay.
(VHDG An Giang – tr. 102) (VHDG Bến Tre – tr. 407)
81. Có trầu mà chẳng có cau 254. Trầu xanh cau trắng thuốc vàng
Có tình không nghĩa làm sao vuông tròn? Cơi trầu bít bạc, thiếp mời chàng ăn chung.
(VHDG An Giang – tr. 253) (VHDG Bến Tre – tr. 408)
PL15
82. Trầu nhạt thì bởi tại vôi 255. Vườn em đất tốt trồng cau
Duyên em vụng nết nhiều người gièm pha Cho anh trồng ké bụi trầu một bên.
Rượu ngon trong hũ rót ra (VHDG Bến Tre – tr. 413)
Để lâu còn nhạt nữa là duyên em. 256. Ai ăn cau cưới thì têm
(VHDG An Giang – tr. 210, 211) Tuổi em còn nhỏ chưa nên lấy chồng.
83. Anh về cuốc đất trồng cau Khối tình mang đã oằn vai
Cho em giâm ké dây trầu một bên. Anh ôi! Anh lo sao gấp ngày mai bỏ trầu
Chừng nào trầu nọ bén lên (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 126)
Cau kia ra trái lập nên cửa nhà. 257. Ăn trầu thì phải ăn cau
(VHDG An Giang – tr. 62) Anh thương em phải tính làm sao vuông
84. Con cá lý ngư sầu tư biếng lội tròn
Con chim trên cành sầu cội biếng bay (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 148)
Ai đành phụ nghĩa cùng ai 258. Em cầm trái cau vừa lau vừa róc
Để sầu ly biệt để dài ngàn năm. Em cầm lá trầu vừa rọc vừa nêm
Có ai thương nhớ đợi chờ Để vợ chồng lời thuận nghĩa êm
Anh về bên ấy để nhờ trầu cau? Chồng kêu vợ dạ mới thật là con gái khôn.
(VHDG An Giang – tr. 102, 103) (VHDG Bạc Liêu – tr. 886)
85. Miếng trầu ăn ngọt như đường 259. Đêm qua mây kéo đen đầm,
Đã ăn lấy của phải thương lấy người. Thấy hai người ấy thì thầm với nhau,
(VHDG An Giang – tr. 169) Tưởng rằng tính chuyện trầu cau,
86. Mẹ mong gả thiếp về đồng Ai ngờ vụng trộm với nhau bao giờ.
Thiếp than phận thiếp gánh gồng chưa quen. (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 384, 385)
Miếng trầu ăn ngọt như đường 260. Ơi em nho nhỏ cắt cỏ chăn trâu,
Đã ăn lấy của phải thương lấy người. Bước qua năm nữa anh bưng trầu cưới em.
(VHDG Bến Tre – tr. 348) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 353)
87. Miếng trầu em tẩm hoa nhài 261. Vì sông ta phải lụy đò
Miếng cau em bổ có mười hai đạo bùa. Vì chiều ta phải lụy cô bán hàng
(VHDG Bến Tre – tr. 348) Vì tình nên phải đa mang
88. Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng Vì duyên thiếp biết quê chàng ở đâu.
Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng? Cơi trầu đã sắp ra đây
(VHDG Bến Tre – tr. 311) Nhân duyên chưa định trầu này chưa ăn.
(VHDG Bến Tre – tr. 303)
PL16
89. Vì chưng ăn miếng trầu xanh 262. Nhà anh có rạch cái Cau,
Cho nên má đỏ tóc xanh đến giờ. Nhà nàng có rạch cái Trầu gần bên.
(VHDG Bạc Liêu – tr. 877) Cau trầu kết lại thành duyên,
90. – Trứng vịt đổ lộn trứng gà Muốn sang bên ấy lời nguyền bài phân
Thấy em má trắng anh đà muốn hôn Thương nhau đâu nệ xa gần, – Muốn hôn thì nói mẹ cha Đường bộ ông hổ, đường sông thủy thần. Mâm trầu hũ rượu về nhà anh hôn (VHDG Bến Tre – tr. 367, 368) – Em ơi anh muốn hôn một chút mà chơi 263. Hai tay bưng chén rượu nồng, Cái mâm trầu hũ rượu thì ra nơi vợ chồng Nửa say nửa tỉnh, xuống sông kêu đò. – Anh về lấy kiếng anh soi Đò ơi, bậu chớ so đo, Anh đen như mọi mà anh đòi cưới em. Qua đây rước khách, khách cho trầu vàng. (VHDG Bến Tre – tr. 384) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 407) 91. Trứng vịt đổ lộn trứng gà 264. Trầu Đồng Nai, trầu ăn nhả bã, Anh thấy gò má trắng anh đà muốn hun. Thuốc Đồng Môn, thuốc hút phà hơi. Hun em em cũng cho hun Tôi với mình gá nghĩa ăn chơi, Anh về nói với mẹ cha Không dè gá nghĩa ở đời trăm năm. Mâm trầu hũ rượu về nhà mới hun. (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 404) Em ơi anh muốn hun chơi 265. Vợ lớn của anh là gốc là rễ Mâm trầu hũ rượu là nơi vợ chồng. Còn em vợ nhỏ là ngọn là ngành (VHDG Bạc Liêu – tr. 874) Vợ lớn anh dẫu chua hơn chanh 92. Trầu xanh cau trắng cháy hồng Phụ mẫu anh đem trầu cau cưới hỏi Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên Con gái như em ngọt cách mấy Trăm năm ghi tạc chữ đồng Cũng không có giấy lộn mành cầm tay Dù ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.118) (TLST KS Ca dao Bến Tre) 266. Hai đứa mình như thể cây cau, 93. Thương tôi rượu chén trầu cơi, Anh bẹ, em bẹ nương nhau ở đời. Đến cùng phụ mẫu đền nơi sanh thành Anh đừng thấy khó đổi đổi dời, (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 396) Tiền tài phấn thổ, nhân ngỡi dời thiên kim 94. Miếng trầu miếng cau là duyên là nợ, (Ca dao dân ca Nam Bộ – trang 293) Miếng vôi miếng thuốc là vợ là chồng.
267. Chuồn chuồn đậu ngọn dưa leo, Trách ai xin con cá rô đồng,
Trông trời mau sáng mần heo cưới nàng Lân la chi đó để chồng em ghen?
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 227) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 429)
PL17
95. Con chim nho nhỏ, 268. Hồi buổi ban đầu,
Cái lông nó đỏ Em biểu anh têm ba miếng trầu cùng li rượu lạt
Cái mỏ nó vàng. Anh lắc đầu sợ tốn,
Nó đậu trước cửa tam quan, Giờ em đã có chồng, anh rủ trốn theo anh.
Nó kêu nam tắc, nữ tế. (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 409, 410) Nam quế, nữ châu, 269. Một chờ hai đợi ba trông Bớ chị Ba nhỏ ơi, xin chị đừng rầu, Bốn thương năm nhớ, bảy tám chín mong mười tìm. Vài ba hôm nữa, mâm trầu tới đây. Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 375) Thất bát sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng băng 96. Đôi ta ăn một trái cau Sông sâu cá lội mất tăm Giấu cha giấu mẹ ăn sau bóng đèn Chín tháng cũng đợi mười năm cũng chờ. (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 265) Khổ qua xanh khổ qua đắng, khổ qua rám 97. Trầu ăn nhả bã, hút thuốc phì phà, nắng khổ qua đèo Xay rồi cối lúa hai đứa dắt về nhà mới vui. Anh thương em không kể giàu nghèo (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 404) Ba năm nghĩa vụ cau trầu anh bưng qua. 98. Trầu têm đạo vợ nghĩa chồng (VHDG Sóc Trăng – tr. 624, 625) Xơi năm ba miếng thêm nồng ái ân. 270. Một miếng trầu năm ba lời dặn (VHDG Bến Tre – tr. 306) Một chén rượu năm bảy lời giao 99. Dây trầu ôm lấy thân cau Anh chớ nghe ai sóng bể ba đào Cầu cho hai đứa bên nhau trọn đời Em đây giữ niềm tiết hạnh chớ sao anh buồn. Dù cho vật đổi sao dời (VHDG Bến Tre – tr. 350) Trăm năm vẫn giữ một lời thủy chung. 271. Khổ qua xanh khổ qua trắng (VHDG Bến Tre – tr. 308) Khổ qua mắc nắng khổ qua đèo 100. Tôi trao miếng trầu thì mang câu bất hiếu, Thương nhau đâu tính giàu nghèo Vậy tôi để hàng rào, ai hiểu ý thời ăn. Gặt xong mùa lúa cau trầu đến em (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 466) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.75) 101. Cau vàng bỏ đẫy trầu nhung 272. Hai tay bưng chén rượu nồng, Hỡi người quân tử có dùng hay chăng. Nửa say nửa tỉnh, xuống sông kêu đò. (VHDG Bến Tre – tr. 307) Đò ơi, bậu chớ so đo, 102. Có trầu mà chẳng có cau Qua đây rước khách, khách cho trầu vàng. Có tình không nghĩa làm sao vuông tròn. (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 407) (VHDG Bến Tre – tr. 283)
PL18
103. Ơi em nho nhỏ, cắt cỏ giữ trâu, 273. Muối ba năm muối vẫn còn mặn
Bước qua năm nữa, anh bưng trầu cưới em. Gừng sáu tháng gừng vẫn còn cay
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 446) Anh với em phải vợ phải chồng
104. Trầu vàng ăn với cau xanh, Em ưng anh đại đừng có đèo bồng giàu sang.
Thương anh cho đến tóc xanh bạc đầu. Con chim nho nhỏ
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 469) Nó đậu ngay đám cỏ
105. – Đi đâu cho đổ mồ hôi Nó kêu bớ cô Hai nhỏ đừng có rầu
Chiếu trải không ngồi, trầu để không ăn. Không mai thì mốt mâm trầu tới cô.
– Mẹ em hằng vẫn khuyên răn (VHDG Sóc Trăng – tr. 653)
Làm thân con gái chớ ăn trầu người. 274. Anh ở gần sao anh chậm trễ, phụ
(VHDG Bến Tre – tr. 319) mẫu em nhận lễ sơ giao
106. – Em ra ngoài đồng em hò em hát Mâm trầu khiên, tỉnh rượu gánh, em biết
Về nhà ba má đánh em nát đòn làm sao thối hồi
Trai nam nhân anh đứng đó mà để cho gái Đời văn minh bó buộc, em về lập cuộc hồi chồng
hồng nhan chịu đòn hay sao Đồ nữ trang em xin trả hết, bạc một đồng em trả hai.
– Ba má đánh em, anh đứng hàng rào (TLST KS Ca dao Bến Tre)
Trầu cau chưa có, anh đâu dám leo vào thế em. 275. Trèo lên đỉnh núi mà coi
(VHDG Bến Tre – tr. 324) Thấy ông quan trượng cưỡi voi che dù
107. Có trầu mà chẳng có vôi, Có che thì che dù đỏ dù xanh
Có chăn, có chiếu, không người nằm chung. Đừng che dù trắng mà anh tôi buồn
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 372) Anh buồn nhân ngãi hay buồn chuyện chi
108.Cho anh một miếng trầu vàng Anh buồn con gái đương thì
Mai sau anh trả lại nàng đôi bông. Cha mẹ thách cưới làm chi vội vàng.
(VHDG An Giang – tr. 112) (VHDG Bến Tre – tr. 408)
109. Lỡ khi ăn miếng trầu anh, 276. Cha mẹ nàng muốn ăn cá thu
Đêm lo ngày sợ, mặt xanh như chàm. Bắt anh đánh lưới tù mù tăm tăm
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 423) Cha mẹ nàng đòi lễ một trăm
110. Xin em một miếng trầu vàng Anh đi chín chục mười lăm quan ngoài
Mai sau anh trả cho nàng hoa tai Cha mẹ nàng đòi bông tai
Xin em một miếng trầu cay Anh ra thợ bạc làm hai đôi vòng
Mai sau sẽ trả hoa tai cho nàng. (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 62)
(VHDG An Giang – tr. 234)
PL19
111. Ra vườn hái quả cau xanh 277. – Anh về bán đất cây da
Bổ ra làm bốn mời anh xơi trầu Bán cặp trâu già mới cưới đặng em.
Trầu này têm những vôi tàu – Anh về bán ổ trứng gà
Ở giữa đệm quế, đôi đầu hoa chanh. Anh qua cưới hết cả nhà của em.
Trầu này trầu lộc trầu danh (VHDG An Giang – tr. 69 )
Trầu nhân trầu nghĩa trầu mình trầu ta 278. Đỉa đâu, đỉa đeo chân hạc,
Trầu này nhuộm thắm duyên ta Ác đâu ác đậu cành mai.
Trầu xanh cho đến tuổi già không phai. Phụ mẫu sanh em là út, đòi rút một cây
(VHDG Bến Tre – tr. 374, 375) kiềng huỳnh,
112. Đó có trầu lại đây anh xin một miếng Áo thủy ba dợn sóng, hỏi mình chịu không?
Đây có trầu anh làm biếng quên têm (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 262)
Anh quên têm mà anh đem cất 279. Chuồn chuồn bay thấp
Em cho miếng trầu này là đức ngãi nhân Nước ngập trong vườn
Đức ngãi nhân là đức ngãi nhân phải Nghe lời em nói lại càng thương
Anh cất đem về ông vải anh ăn. Thương em anh muốn lập vườn cưới em
(VHDG Bạc Liêu – tr. 842, 843) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 227)
113. Bèo kia ai thả mà trôi 280. Một bộ chén lớn sơn đỏ
Chim kia lẻ bạn mồ côi trên cành Một bộ chén nhỏ sơn vàng
Anh tiếc chi miếng trầu xanh Đền ơn cha mẹ để nàng vu quy.
Để em lỡ chuyến đò tình anh ơi. (VHDG Bạc Liêu – tr. 890)
Anh đâu tiếc miếng trầu xanh 281. Đôi bông của em để trong hộp thiếc
Chỉ tại chúng mình không nợ không duyên Lòng anh chí quyết cha mẹ biểu không
Em là con gái thuyền quyên Chỗ không ưng thì mẹ biểu ưng
Còn anh chỉ kiếp con thuyền lênh đênh. Mặt nhìn nhau nước mắt rưng rưng
(VHDG Bạc Liêu – tr. 827) Phải chi hồi đó ai đừng biết ai.
114. Qua về bán ruộng cây da, (VHDG An Giang – tr. 132)
Bán cả đất nhà cưới chẳng đặng em. 282. Nước ròng lộ bãi xà cừ
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 448) Mặt em có thẹo, anh trừ đôi bông.
115. Anh ở khác tổng em ở khác làng (VHDG An Giang – tr. 173)
Ưng không thời nói bữa đầu 283. Một mai thiếp có xa chàng,
Làm chi cho lỡ rượu lỡ trầu anh ra. Đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin.
(VHDG Bến Tre – tr. 185) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 431)
PL20
116. Em là con gái nhà giàu 284. Một mai thiếp có xa chàng
Mẹ cha thách cưới ra màu như sau: Đôi bông thiêp trả con chàng thiếp xin.
Cưới em trăm tấm gấm đào (VHDG Bến Tre – tr. 350)
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời 285. Gió lao xao tàu cau nhỏng nhảnh,
Tráp tròn sắm đủ năm đôi Em thương anh rồi thọ lãnh đôi bông
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 289)
Sắm xe tứ mã đem sang 286. Dù ai cho bạc cho vàng
Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu Chẳng bằng trông thấy mặt chàng hôm nay.
Ba trăm nón nghệ đội đầu Dù ai cho nhẫn cầm tay
Mỗi người một cái quạt Tàu thật xinh Chẳng bằng trông thấy chàng ngay bây giờ.
Anh về sắm nhiễu nghi đình (VHDG Bến Tre – tr. 306)
May chăn cho rộng ta mình đắp chung 287. Giã bàng đương đệm cho siêng,
Cưới em chín chĩnh mật ong Anh đi Châu Đốc kéo kiềng em đeo.
Mười cỗ xôi trắng, mười mâm xôi vò (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 285)
Cưới em tám vạn trâu bò 288. Người ta giàu mâm cao rượu thịt
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm Hai đứa mình nghèo cặp vịt cũng xong
Lá đa mặt nguyệt đêm Rằm (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.74)
Răng nanh thằng Cuội, râu cằm Thiên Lôi 289. Người ta giàu, người ta đầu heo nọng thịt
Gan ruồi, mỡ muỗi cho tươi Hai đứa mình nghèo thời cặp vịt với đôi bông
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng Chớ anh đừng biểu theo không người ta cười
Thách thế mới thỏa trong lòng (VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 139)
Chàng mà làm được thiếp thời theo chân. 290. Người ta giàu thời đầu heo nọng thịt
(VHDG An Giang – tr. 139, 140) Hai đứa mình nghèo: cặp vịt với đôi bông
117. Anh sắm trước một con heo bỏ cũi, Sách có câu: Tố phú quới hành hồ phú quới
Tố bần tiện hành hồ bần tiện
Vài lượng chuỗi đeo tay Xin cho sum hiệp mặt mày. Chớ anh đừng biểu theo không người ta cười
(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 229) Bớ anh ơi, Dẫu cho tiền tháng bạc ngày cũng lo 291. Rượu ngon trong hũ rót ra (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 268) Để lâu cũng nhạt nữa là duyên em.
(VHDG An Giang – tr. 194) 118. Bụi cỏ le the, bụi tre lúp xúp Em có nơi nào, anh giúp đôi bông
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 194)
PL21
292. Mưa lâm râm ướt dầm bông cúc
119.Bụi cỏ le the, bụi tre lút chút, Nghe em có chồng, anh giúp đôi bông. Cảm thương nàng áo rách vá vai.
Mưa trên trời mưa xa lác đác (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 350) 120. Thấy em có đôi bông nhận hột, cái chột bằng đồng, Rớt xuống bãi hột cát nằm nghiêng
Rượu thuyền quyên rót đãi bạn hiền Phụ mẫu em sắm hay chồng em cho? Anh ơi đừng hỏi vòng vo, Kiếp này không gặp xin nguyền kiếp sau. Phụ mẫu em sắm chớ bên chồng cho hồi nào?
(VHDG Bến Tre – tr. 351) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 380)
293. Anh gánh nước dưới đồng lên đây tưới cội, 121. Chiều chiều gọt mướp nấu canh
Tưới cọi rồi gặp hội mưa dông Chạy vô lấy chảo gặp anh trèo giàn
Bởi anh sa cơ nên em đã có chồng Thôi thôi tôi chẳng yêu chàng
Mời anh uống chén rượu nồng giải khuây. Đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin.
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 330) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.63)
294. Khế với sung, khế chua, sung chát 122. Anh câu tôm ngủ gục
Mật với gừng, mật ngọt gừng cay, Anh giết hụt con tôm càng
Đó với đây chẳng duyên thì nợ Phải chi anh vớt đặng
Đây với đó chẳng vợ cũng chồng, Anh sắm kiềng vàng cho em đeo.
Dây tơ hồng chưa xe đã mắc, (VHDG Bến Tre – tr. 261)
Rượu huỳnh tương chưa nhấp đã say. 123. Hột thủy tinh anh gìn sáng rỡ,
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 413) Để dành chờ, thuở làm nhẫn đeo tay.
295. Ai chồng ai vợ mặc ai Dù ai năn nỉ hỏi hoài,
Bao giờ ra bản ra bài mới hay Đời người biết đạo, vật này anh trao.
Bao giờ tiền đám trao tay (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 411)
Tiền cheo heo cưới mới hay vợ chồng. 124. Hột ngọc thủy tinh anh giữ gìn sáng rõ
(VHDG Bến Tre – tr. 260) Để dành chờ thợ làm nhẫn đeo tay
296. Có cưới mà chẳng có cheo Dù ai năn nỉ hỏi nài
Dẫu rằng có giết mười heo cũng hoài. Anh đợi người biết nghĩa thì của này anh trao.
(VHDG Bến Tre – tr. 289) (VHDG An Giang – tr. 147)
297.– Anh về em muốn xách gói theo liền 125. Người ta giàu đầu heo nọng thịt,
Sợ cha với mẹ nói con dâu không tiền con dâu hư. Hai đứa mình nghèo cặp vịt đôi bông.
– Em về lập đặng căn cư (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 483)
Cha mẹ nào có nói con dâu hư bao giờ.
(VHDG Bến Tre – tr. 265)
PL22
126. Bước vô nhà thấy chai rượu trắng 298. Bước lên cầu, cầu quằn cầu quại
Bước ra ngoài than vắn, thở dài Bước xuống tàu, tàu chạy tàu nghiêng
Không biết phụ mẫu em sắm để xài Vịn vai cô Bảy đùng phiền
Hay là anh đến nộp tài cho em? Tôi về xứ biển tôi kiếm tiền qua cưới em.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 197) Bước xuống sông cái
127. Tôi đi ngang qua cái nhà ngói nhỏ Tôi tự ải cho rồi
Tôi thấy hai chai rượu thuốc đỏ Sống làm chi biệt li quân tử
Để trên cái bàn tròn nhỏ Thác xuống cho rồi mà đặng hiếu trung.
Tôi bước lanh qua của ngõ mà than vắn thở dài (VHDG Bạc Liêu – tr. 828)
Em ơi! Rượu cha mua để uống 299. Bí nào ngon bằng bí Cao Lãnh,
Hay là của thiên hạ nạp tài cưới em? Đèn nào đỏ bằng đèn Nam Vang,
(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 230) Trai nào sang bằng trai Cao Lãnh,
128. Rượu nằm trong nhạo rượu lại chờ nem Gái nào bảnh bằng gái Hòa An,
Bởi anh chậm bước nên em có chồng. Anh thương em, không nệ tiền vàng,
(VHDG Bến Tre – tr. 340) Lòng anh ưng, dạ anh muốn, bạc ngàn anh cũng theo.
129. Hôm qua tắt gió đổ mưa (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 347)
Tay cầm cành ngọc tay đưa lá vàng 300. Thương nhau đừng có đắn đo
Vì cây nên lá phải vàng Thương nhau ta phải liệu lo thế nào
Vì chàng nên phải đôi đàng chàng ơi Thương nhau cuốn gói cho tròn
Tay bưng chén rượu lên cơi Chờ cha mẹ ngủ em lòn cửa sau
Tay gạt nước mắt chàng ơi thiếp về. Hai cô đứng lại cho đồng
(VHDG An Giang – tr. 149) Để anh đứng giữa làm chồng hai cô.
130. Rượu nằm trong nhạo chờ nem Ba cô đi ấy thong dong
Anh nằm phòng vắng chờ em một mình. Anh lấy cô giữa mất lòng hai cô
(VHDG Bến Tre – tr. 377) Một cô thì trắng cổ tay
131. Mạ non mà cấy đất biền Cô thì má phấn cô này răng đen
Vợ đà thấy đó anh chạy tiền không ra Anh về tạ lỗi tổ tiên
Em về thưa lại má ba Để anh bán ruộng tư điền lấy tiền cưới cả ba cô.
Cho anh cưới chịu tháng ba anh chồng tiền. (VHDG Sóc Trăng – tr. 623 )
(VHDG Bến Tre – tr. 347, 348) 301. Đêm trăng thanh anh thở vắn than dài
Vái cùng Tơ lão: trúc mai một nhà
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 123)
PL23
132. Rượu nằm trong chậu chờ nem 302. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền
Em nằm phòng vắng chờ anh đôi ngày. Anh thương em thì đừng cho bạc cho tiền
(VHDG Bạc Liêu – tr. 863) Cho nhơn, cho nghĩa, kẻo xóm giềng cười chê
133. Chiều chiều lo bảy lo ba (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 145)
Lo cau trổ muộn lo già hết duyên. 303. Bước lên cầu, cầu quằn cầu quại
Còn duyên anh cưới con heo Bước xuống đò, đò ngả, đò nghiêng
Hết duyên anh cưới con mèo cụt đuôi. Vịn vai cô em nọ đừng phiền
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 218) Để anh đi làm mướn kiếm tiền cưới em.
134. Kiếm nơi nước vãn cắm sào (VHDG Bến Tre – tr. 277)
Chừng che mẹ định nơi sao em sẽ hay. 304. Nghe em phân như dần khúc ruột,
Chừng nào tiền cưới trao tay Gần nhau chưa được, lại nói cuộc chia xa.
Tiền trao đến chỗ mới hay vợ chồng. Thế nào cũng ráng chờ qua,
(VHDG An Giang – tr. 156) Tiền lo không kịp, qua sẽ bán nhà cưới em.
135. Mạ non mà cấy đất biền Hỏi thử anh cho biết tình nhơn ngãi,
Thương em đứt ruột, không tiền phải ngó lơ. Em đâu có ngại sự đợi chờ,
(VHDG An Giang – tr. 163) Một lời hứa đạo tóc tơ,
136. Em ơi chớ vội chê nghèo, Trăm năm cũng chẳng hững hờ dạ riêng.
Anh đây đã có đôi heo trong chuồng. (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 338)
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 396) 305. Bắt ông tơ đánh sơ ít chục,
137. Sáu cô cùng đứng một hàng Mối chỉ sậm sờ, ông ngủ gục không xe.
Tui chào cô giữa mất lòng năm cô (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 180)
Phải chi tui có tiền bồ 306. Bắt ông tơ đánh sơ vài chục
Tui ra tui cưới sáu cô một lần Duyên nợ sờ sờ ông ngủ gục quên se.
Cô một cô tảo cô tần (VHDG An Giang – tr. 88)
Cô hai sắc thuốc dưỡng thân mẹ già 307. Đắng khổ qua, chua là chanh giấy
Cô ba dọn dẹp trong nhà Ngọt thứ mấy cũng tiếng cam sành
Cô bốn nấu nước bỏ trà uống chơi. Đôi ta duyên nợ không thành
Cô năm trải chiếu giăng mùng Cũng do nguyệt lão, chỉ mành se lơi.
Cô sáu nhỏ nhắn nằm chung với chàng. (VHDG An Giang – tr. 125)
(VHDG An Giang – tr. 198) 308. Ông tơ quá lão, bà nguyệt chết rồi
Còn ai đâu nữa mà xe đôi đứa mình.
(VHDG An Giang – tr. 224)
PL24
138. Hỡi ai đi xuôi về ngược
309. Quất ông tơ một cái “chót” Ông nhảy thót lên đọt bần Nếu thuận nước, thuận tình ghé chợ Ngang Dừa
Cho em thưa một chuyện Trách ông xe quanh xe quất Cái tuổi Tuất với tuổi Dần sao ông không xe! Nếu có duyên có nợ ghé chợ ăn bánh giúp em.
Anh thì chưa vợ, lại sợ hổng có duyên Quả năm ngăn trong lòng sơn đỏ Mấy lời to nhỏ bỏ bạn sao đành Ngặt trong túi không có tiền
Thuận nước nhưng chưa thuận tình Chừng nào ông vua Trụ ăn ở hiền lành Ông Trương Phi mà nguội tánh, anh mới
đành xa em. Lại sợ mình không rảnh
(VHDG An Giang – tr. 192) Ăn bánh ngồi lì e sợ ế duyên em.
310. Trách ông tơ sao không nhỏ phước cho con nhờ Hỡi cô gái bán đèn giấy hồng
Trai chông, gái đợi, nữ chờ Đèn hồng cô bán má hồng bán không
Phòng loan vắng vẻ hai đàng lỡ duyên. Má hồng phải hỏi song thân
(VHDG Bạc Liêu – tr. 872) Em đây chỉ bán cho anh đèn hồng.
311. Trách mẹ trách cha qua không trách bậu (VHDG Bạc Liêu – tr. 851)
Cha mẹ ham giàu gả bậu đi xa 139. Má ơi con má hư rồi
Trách ông tơ sao se hoài se hủy Còn đâu má gả má đòi bạc trăm.
Trách bà tơ sao se chỉ lộn vòng Bạc trăm bạc lục tam tứ lịch tính tình lại
Chỗ em không ưng thì bà muốn cửu chương
Chỗ em bằng lòng thì bà lại se rơi. Liệu bề đắc đặng thì thương
(VHDG Bạc Liêu – tr. 870, 871) Đừng rầy rà má bỏ thế thường cười chê.
312. Ông tơ xe, bà nguyệt buộc, Mạ non mà cấy đấy biền
Phải chi xe tôi là vợ ruột của mình, Vợ thời thấy đó không có tiền cưới em.
Ăn chung một mâm, ngủ chung một chiếu (VHDG Bạc Liêu – tr. 854)
thỏa nỗi tâm tình nhớ thương 140. Bước xuống cầu, cầu oằn, cầu oại,
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 352) Bước xuống tàu, tàu chạy, tàu nghiêng.
313. Chiều nay tôi lên ông tham biện, Em thương anh bóp bụng đừng phiền,
Toi kiện căn, kiện nợ, kiện vợ, kiện chồng, Đợi anh về xứ kiếm tiền cưới em.
Tôi kiện ông tơ hồng, tôi kiện bà nguyệt lão, (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 351)
Se dây rồi sao tháo lộn trở ra. 141. Bắt ông tơ oánh sơ vài chục
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 363) Duyên nợ rõ ràng mà ổng ngủ gục hông xe.
(VHDG Bến Tre – tr. 268)
PL25
142. Người ta giàu người ta nên duyên giá thú 314. Chiều nay tôi lên ông tham biện
Hai đứa mình nghèo dụ dỗ dắt đi Tôi kiện con, kiện nợ, kiện vợ, kiện chồng
Năm nay anh kẹt chữ gia bần Tôi kiện ông tơ hồng, tôi kiện bà nguyệt lão
Đồng quê hết lúa tiền nào cưới em. Se dây rồi sao lại tháo lộn trở ra.
Nước mắm ngon em còn hưởng thụ (VHDG Bến Tre – tr. 281)
Thả trái đu đủ nó nổi lững lờ 315. Chiều nay tôi lên ông quan huyện Lý
Anh thấy em con nhỏ còn khờ Tôi kiện ông tơ hồng
Muốn gá duyên chồng vợ phải chờ đôi năm. Chỗ tôi thương sao ông không vương vấn
(VHDG Bạc Liêu – tr. 859, 860) Chỗ tôi không bằng lòng sao ông lại vấn vương.
143. Trách ông tơ cùng bà nguyệt tháo (VHDG Bến Tre – tr. 290)
Đôi ta lơ láo tại bởi mai dong 316. Tơ hồng nay đã về ta
Trách ai ăn ở hai lòng Bà Nguyệt ở lại xe dây hai đứa mình
Chỗ thương không vấn, chỗ không đành em (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 169)
lại vấn vương. 317. Vái cho bà Nguyệt ông Tơ hồng
(VHDG An Giang – tr. 206) Xe đôi ta cho chắc, kết lòng mới an
144. Trách ông Tơ cùng bà Nguyệt Lão, (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 167)
Xe dây vào lại đảo dây ra 318. Chiều chiều đi ngang xóm cái,
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 37) Gió mát tận xương,
145. Công bất thành, danh bất toại nàng ơi Dây tơ hồng ai khéo vấn vương,
Đứt dây bà Nguyệt, ỷ thôi rồi tình thương. Gặp nhau một bữa mà thương cả đời.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 110) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 218)
146. Đa mang lấy mối đoạn trường 319. Ông Tơ sao khéo thày lay,
Ông Tơ bà Nguyệt dẫn đường lạc sai Khiến chi thương tưởng mặt mày của anh
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 123) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 145)
147. Duyên gì hai trẻ truân chuyên 320. Tôi vái ông tơ năm ba chầu hát
Hay là Nguyệt Lão ghét thuyền quyên anh hùng Tôi cầu nguyện lão năm bảy đêm kinh
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 143) Cho em cùng anh đây gá nghĩa chung tình
148. Đêm nằm em trách Tơ ông Dù ăn cơm quán ngủ đình em cũng cam.
Đương xe sao nỡ mở vợ chồng mới xa (VHDG Bạc Liêu – tr. 875)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 134) 321. Đố ai bứt xé cho rời
Ông tơ ổng buộc, ông trời ổng vương.
(VHDG Bến Tre – tr. 320)
PL26
149. Lạc bầy chim nhạn bơ vơ 322. Vái ông tơ năm ba chầu hát
Đôi ta không nợ ông Tơ bỏ liều Vái bà nguyệt năm bảy đêm kinh
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 123) Xuôi cho đôi lứa tôi thuận một tấm tình
150. Ngày nay Nguyệt Lão dẫn đem Dầu ăn hột muối ngủ đình em cũng ưng.
Ông Tơ buộc chặt ông Trời biểu thương (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 117)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 133) 323. Vái ông Tơ năm ba chầu hát,
151. Em đừng đem dạ trách qua Vái bà Nguyệt năm bảy cuốn kinh,
Bởi ông Tơ bà Nguyệt đôi ta chia lìa Cho đó với đây gá nghĩa chung tình,
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 134) Dẫu ăn cơm quán ngủ đình cũng ưng.
152. Trách thay Tơ Lão cơ cầu (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 473)
Không duyên sao lại buổi đầu gặp nhau 324. Vái ông tơ năm ba chầu hát
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 145) Vái bà nguyệt năm bảy cuốn kinh
153. Cũng vì trời đất khiến xui Đôi ta gá nghĩa chung tình
Nhờ ông Tơ lão mình với tui một nhà Dầu ăn cơm quán ngủ đình em cũng ưng.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 148) (VHDG Sóc Trăng – tr. 627)
154. Nguyệt lão hồi trước có xem 325. Dầu mà lao khổ cũng đánh liều
Ông tơ đã định anh với em vợ chồng. Xin ông xe sợi chỉ điều cho săng
(VHDG Bến Tre – tr. 358) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 155)
155. Nguyệt Lão ôi sao ông nỡ đành lòng 326. Hôm qua gặp gỡ giữa đàng
Làm cho đôi lứa như chỉ lộn vòng gian nan Ông Tơ bà Nguyệt khiến thiếp chàng gặp nhau
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 154) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 243)
156. Đôi lứa mình ông tơ vận, bà Nguyệt xe, 327. Bạc tình phú có tơ ông
Lương duyên túc đế, chốn phòng the giao hòa Dầu mà lao khổ, tôi không bỏ chàng.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 155) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 179)
157. Trách ông tơ sao ngủ hoài ngủ kĩ 328. Bấy lâu em Sở, anh Tề
Này bà nguyệt lão ơi se mối chỉ lộn vòng Giờ như tơ với nguyệt hai đứa về một nơi.
Xin ông tháo ra mà se lại (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 187)
Để chốn loan phòng kẻ đợi người trông 329. Bước chơn đi xuống thuyền quyên
Tôi thỉnh ông tơ năm ba chầu hát Khen thay bà Nguyệt vẽ duyên chi vầy
Tôi thỉnh bà nguyệt lão năm bảy cuốn kinh (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 171)
Làm sao cho đôi lứa hợp tình
Dầu ăn cơm quán mà ngủ đình cũng vui.
PL27
(VHDG Bến Tre – tr. 405) 330. Vái cho bà Nguyệt bắc cầu
158. Chỉ tơ quấn ống tre bông Đôi ta mới giải chữ sầu làm vui
Gá duyên không đặng xuống sông trầm mình (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 179)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 215) 331. Ra vào vò võ, ngọn cỏ phất phơ,
159. Thương em anh để kín trong lòng Nhớ anh nay đợi mai chờ
Em chưa có chồng, anh đây có vợ Bớ quan tử ôi! Đôi ta duyên nợ hững hờ
Ai biểu ông Tơ hồng mãi vấn vương? Trách thay Nguyệt lão xe tơ lạc đường
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.101) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 193)
160. Chữ tình ai bứt cho rời 332. Nguyệt lão ôi sao ông đành dạ đành lòng
Tơ hồng đã định, đổi dời đặng lâu Đôi đứa tôi như sợi chỉ lộn vòng
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 229) Ông không xe lại kẻo lòng nhớ thương
161. Đem lòng xa lánh sao đành, (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 243)
Chẳng duyên tơ tóc cũng tình ngãi nhơn 333. Em vái ông Tơ vài ve rượu thiệt
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 251) Càu bà Nguyệt năm bảy con gà
162. Đố ai sinh cái cái tháng, Xuôi cho đôi lứa hiệp hòa
Ai táng cái ngày? Bớ anh ôi,
Ai biểu anh nhớ, ai bày anh thương? Rồi sau em trả lễ đặng mà đền ơn
Ông trời sanh cái tháng, (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 268)
Ông trạng táng cái ngày, 334. Một trăm năm, một trăm cái tết
Ông tơ biểu nhớ, bà nguyệt bày biểu thương. Nếu không kết đặng duyên hài
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 264) Nằm lăng xuống đất lạy hoài ông tơ
163. Ông tơ nói nhỏ anh nghe, (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 356)
Để xong mùa cấy, ông sẽ xe anh với nàng. 335. Anh với em gá nghĩa cang thường,
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 352) Nhờ ông tơ bà nguyệt chỉ đường xuống lên.
164. Lời nguyền chứng có ông tơ hồng, (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 330)
Thác thời mới dứt, sống không bỏ chàng. 336. Căn duyên này phá cho rồi,
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 312) Ông tơ biểu buộc, ông trời biểu không,
165. Ông tơ xe, bà nguyệt buộc, Phải gặp ông tơ hỏi sơ cho biết,
Phải chi xe tôi là vợ ruột của mình, Gặp bà nguyêt hỏi thiệt cho rành,
Ăn chung một mâm, ngủ chung một chiếu Vì đâu hoa nọ lìa cành,
thỏa nỗi tâm tình, bớt thương. Nợ duyên sớm đứt, cho đành dạ em.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 352) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 356)
PL28
166. Bâng khuâng bát ngát câu hát hữu tình 337. Phải gặp ông Tơ hỏi sơ cho biết,
Căn duyên tiền định, hai đứa mình gặp nhau. Phải gặp bà Nguyệt gạn thiệt cho rành,
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 182) Vì đâu hoa nọ lìa nhành,
167. Bồn hư cỏ mọc thêm hoài Nợ duyên sao sớm dứt, chẳng đành dạ em?
Gá duyên không đặng, giận hoài ông tơ (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 447)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 191) 338. Hai đứa mình đứng xích một bên
168. Ông tơ đành vấn, bà nguyệt đành vương, Ông tơ se quyết mới nên can trường.
Phụ mẫu đành gả, hỏi nàng thương không nàng? (VHDG Sóc Trăng – tr. 617 )
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 356) 339. Đèo nào cao bằng đèn Ba Giác
169. Năm thìn trời bão thình lình, Gái nào bạc bằng gái đất Giồng
Kẻ trôi người nổi, hai đứa mình còn đây, Thấy ai làm lễ tơ hồng
Tơ hồng nay đã về tây, Đi theo tiếng gọi quên chồng bỏ con.
Bà nguyệt ở lại xe dây hai đứa mình. (VHDG Sóc Trăng – tr. 627)
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 436) 340. Thương rồi giả bộ ngó lơ
170. Bãi cỏ lau khô sầu ai rã rượi, Mai sao đừng trách ông Tơ bạc tình
Thỏ núp lùm chờ đợi bóng trăng. (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.77)
Bãi dài cát nhỏ tăm tăm, 341. Tôi vái ông Tơ năm ba nải chuối
Phải duyên tiền định ngàn năm cũng chờ. Tôi vái bà Nguyệt năm bảy thẻ đường
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 179) Cho hai đứa tôi gá nghĩa can thường
171. Chữ tình ai bứt cho rời Dầu ăn cơm quán, ngủ đình tôi cũng ưng
Tơ hồng đã định, đổi dời đặng lâu (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.78)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 229) 342. Con mèo trèo lên cây gáo
172. Ông tơ hồng mắc kẹt bụi tre Mẹ chồng ác đức mắng chửi nàng dâu
Hai đứa mình lại gỡ đặng mai ông se liền Mẹ ơi, con không sợ mẹ đâu
Biểu ông tơ bóp bụng chịu phiền Mẹ đừng kiếm chuyện đổ đầu con dâu
Xe người má phấn mặt chữ điền cho tôi. Mẹ cưới con có rượu có trầu
(VHDG Sóc Trăng – tr. 636) Kẻ đưa người rước con dâu mới về
173. Ông tơ hồng, bà nguyệt lão về tây Về đâu có phải về không
Còn ai ở lại xe dây hai đứa mình Về có cặp gối, đôi bông, cây kiềng
Tiếc công tôi súc ông lau bình Con dâu mẹ đáng vạn tiền
Cậy mai tới nói phụ mẫu cùng bà con. Phải đâu cái thứ vô duyên lỡ làng.
(VHDG Sóc Trăng – tr. 636) (VHDG An Giang – tr. 245 )
PL29
174. Ngó lên cồn Lác, ngó xuống cồn Bàng 343. Gái xóm này biết cày biết cấy
Anh thương em ruột thắt gan vàng Ghe nước chảy gánh lúa giữa đồng
Biết ông Tơ, bà Nguyệt sẵn sàng xe duyên Trai thanh niên chữ nghĩa không thông
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.67) Cuốc cày chẳng hiểu đừng hòng nên duyên.
175. Chợ Sài Gòn ham mua, ham bán Phải lứa phải đôi thì ừ cho đặng
Chợ Vĩnh Long lập quán cầu hiền Đừng làm mặt bảnh lắm tiếng đèo bồng
Gặp ông Tơ lột nón xá liền Bốn mùa gió hạ thu đông
Biểu chỉ dùm chỗ khác, nơi có chồng rồi sao ổng se Ngày qua tháng lại ế chồng bậu ơi.
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.86) (VHDG Sóc Trăng – trang 655)
176. Con mèo trèo lên cây táo
Mẹ chồng láu kháu đánh chửi nàng dâu
Bà ơi tui không sợ bà đâu
Hồi nào bà cưới bà xin tui về
Bây giờ bà nhúng bà trề
Sai con bà đuổi tui về xứ tui
Tui đòi cặp áo đôi hồng
Hai họ đừng phiền đưa tui qua sông.
(VHDG Bạc Liêu – tr. 884)
177. Anh rằng, anh tưởng anh thương
Xin anh mau kíp lo lường sính nghi
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 168)
Tổng câu: 343 câu
PL30
PHỤ LỤC 2
CA DAO NAM BỘ PHẢN ÁNH PHONG TỤC TANG MA
CA DAO – XUẤT XỨ CA DAO – XUẤT XỨ
1. Bấy lâu chàng đợi, thiếp trông 60. Nước Cửu Long sóng dồn cuồn cuộn,
Bây giờ chàng hỏi thiếp nói không sao đành Cửa Hàm Luông mây cuốn cánh buồm xuôi.
Mình nghiêng tai tôi nói nhỏ cho rành Bậu với qua hai mặt một lời,
Theo mình có thác cũng đành dạ tôi Trên có trời, dưới có đất,
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 187) Ngãi trăm năm vương vất sợi tơ mành.
2. Dầu là bữa đói bữa no Tử sanh, sanh tử chung tình,
Thác thời một chỗ, sống cho trọn niềm Dầu ai ngăn đón, tôi với mình cứ thương.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 245) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 345)
3. Anh thác rồi đặng chữ hiển vinh, 61. Xa cây xa cội chẳng vội xa cành
Để em ở lại linh đinh một mình. Thác vong cam chịu, sống không đành xa anh
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 424) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 419)
4. Dốc lòng trả nợ áo cơm, 62. Chết đi thôi bớ vợ chồng đời
Sống cho trọn thảo, thác thơm nhân hiền. Sông sâu anh không dọ để giữa vời hạt châu
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 486) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 429)
5. Chiều nay em ra sông Cái, 63.Tay cắt tay sao nỡ,
Em tự ải cho rồi, Ruột cắt ruột sao đành.
Sống làm chi biệt ly quân tử, Lời anh thề nước biếc non xanh,
Thác cho rồi đặng chữ hiếu trung Theo anh cho trọn, tử sanh tại trời.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 220) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 373)
6. Lời thề hai mái tóc xanh 64. Còn cha gót đỏ như son
Theo nhau cho trọn, tử sanh cũng liều Đến khi cha thác gót son đen sì
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 312) Còn cha nhiều kẻ yêu vì
7. Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược Đến khi cha thác ai thì thương con
Ngước chảy ngược, con cá vượt lội xuôi (VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 180)
Anh với em xa cách ngậm ngùi 65. Bước lên phòng vắng thấy bốn cây
Mong cho gặp mặt xác vùi cũng ưng phương trường
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 345) Thương em đến đỗi quên đường tử sanh
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 83)
PL31
8. Trăm năm giữ vẹn chữ tòng 66. Chiều nay em ra sông tự ải cho rồi
Sống so thác vậy một chồng mà thôi Sống mà chi biệt ly quân tử
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 453) Thác cho rồi đặng chữ thủy chung.
9. Trăm năm nhân ngãi vẹn toàn, (VHDG Bến Tre – tr. 280)
Tử sanh tạc dạ đá vàng nào phai 67. Theo em dầu thác cũng đành
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 453) Đấng nam nhi úy tử sao thành nghĩa nhơn
10. Cùng nhau cho trọn đạo ba (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 139)
Thà là lìa thác, chẳng thà lìa sinh 68. Ai mà lòng một dạ hai
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 83) Thì cho thác xuống tuyền đài hôm ni
11.Tử sanh mặc kệ tử sanh (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 151)
Tử sanh tại số cũng đành theo em 69. Đêm khuya nguyệt lặn sao dời,
(VHDG An Giang – tr. 80) Sống thì gửi nạc thác thời gửi xương
12. Nước chảy bon bon (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 158)
Con khỉ bồng con 70. Sự vong vì bởi sự tồn
Lên non hái trái Dầu anh có thác vong hồn còn thương
Bước qua sông cái (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 177)
Tự tử cho rồi 71. Vô duyên xấu phước qua chết trước
Sống làm chi biệt ly quân tử chung tình
Thác cho rồi đặng chữ thủy chung. Thiên hạ đồn rằng vắn số, tại tôi sầu tình
(VHDG An Giang – tr. 187, 188) thác oan
13. Chiều nay em xách cái lưỡi hái, (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 179)
Đi ra sông cái, em tự ải (tự vẫn) cho rồi, 72. Ngó lên trời mây bay vần vũ,
Sống làm chi mà biệt li quân tử, Ngó xuống âm phủ đủ mặt bá quan.
Thác cho rồi, đặng chữ thủy chung. (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 333)
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 364) 73. Ngó lên trời thấy sao vần vũ
14. Em giả đò chết thử vài canh, Ngó xuống âm phủ thấy đủ bá quan
Em chết không đặng thấy ngọn đèn xanh Nghe tiếng anh than hai hàng lệ nhỏ
trên đầu Em đây có chút mẹ già biết bỏ ai nuôi.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 276) (VHDG Bạc Liêu – tr. 859)
15. Sống làm chi hai ngả cách phân 74. Đi sông đi biển còn về
Thác mà trọn tiết trọn ân cùng chàng Đường về âm phủ chẳng hề vãng lai.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 139) (VHDG Bến Tre – tr. 465)
PL32
16. – Em đố anh từ trên trời xuống mặt 75. Nước đựng trong lu bít bù còn cạn
nước mấy chục ngàn thước? Để nghĩa vợ chồng xanh đứt đoạn giữa trời
Từ mặt nước xuống âm phủ mấy chục tầm đường? Anh không coi Phạm Công – Cúc Hoa
Trong cuốn truyện Thuyết Đường, một cuốn Kẻ dương gian người đà âm phủ
bao nhiêu tờ, một tờ bao nhiêu hàng chữ? Đạo nghĩa vợ chồng vẫn giữ được thay.
Trên dương gian có mấy ông tướng dữ, mấy (VHDG Bến Tre – tr. 449)
ông tướng hiền? 76. Người ta có phần, mẹ với cha chốn
Trai nam nhân anh mà đối đặng, gái nữ dương gian còn đủ
nguyền em xin theo Em vô phần, cha âm phủ mẹ dương gian
– Từ trên trời xuống mặt nước bảy chục ngàn thước Cơm bữa đói bữa no nên bạn lang không nhìn.
Từ mặt nước xuống âm phủ ba chục tầm đường (VHDG Bến Tre – tr. 359)
Trong cuốn truyện Thuyết Đường, một cuốn 77. Hai tay nâng đỡ đèn rồng
hai mươi bốn tờ, một tờ hai mươi bốn hàng chữ Đầu đội chữ hiếu tay bồng con thơ
Trên dương gian có bảy ông tướng dữ, ba Trách ai phân tóc rẽ tơ
ông tướng hiền Kẻ đi âm phủ người chờ dương gian.
Trai nam nhân anh đà đối đặng, gái nữ (VHDG Bạc Liêu – tr. 888)
nguyền em liệu sao? 78. Sống dương trần mình tôi nổi tôi trôi
(VHDG An Giang – tr. 136, 137) Bớ anh ôi,
Âm cung có biết sánh đôi chăng là
17. – Em nghe anh hay chữ em hỏi thử đôi lời Trên trời mấy bậc, dưới âm phủ mấy vua? (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 226)
79. Ngó lên nguyệt lặn sao mờ, Dương gian mấy miếu mấy chùa? Bữa ăn mấy món, ngoài chợ bán mua mấy Bớ bạn ôi,
Sống thời gửi nạc, thác thời gửi xương. người? – Anh nghe em hỏi tức anh nói phức cho rồi (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 240)
80. Sầu căn sầu nợ mình ơi Trên trời một bậc, dưới âm phủ một vua. Dương gian một miếu một chùa.
Bữa ăn hai món, ngoài chợ bán mua hai người. Anh liều một thác, thây trôi dòng hà
(VHDG An Giang – tr. 138) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 235)
18. Anh ở ngoài vàm, anh có lòng mong đợi, 81. – Nghe anh hay chữ, em hỏi thử đôi lời
Em ở trong ngọn, em có dạ đợi trông, Từ mặt nước lên trời mấy trăm ngàn thước?
Dương gian, âm phủ cũng cộng đồng, Từ mặt nước đo xuống âm phủ, mấy trăm
Sống sao thác vậy, anh vẫn giữ một lòng với em. dặm đường?
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 334) Em kể chuyện từ đời Tống đến đời Đường,
PL33
19. Ngó lên trời thấy mây vần vũ Ông vua Đường có cuốn sách Minh Tâm,
Ngó xuống âm phủ thấy đủ mặt bá quan Một cuốn có mấy chục tờ,
Ngó về Nam Vang thấy bốn chữ quết vàng Một tờ có mấy chục chữ,
Ngó thấu Ngọc Hoàng thấy hàng chữ đỏ Anh đừng làm trai quân tử tỏ lại em tường
Ngó về biển nhỏ thấy sóng bủa lao xao Trăm năm kết nghĩa cang (cương) thường
Anh thương em ruột thắt gan bào với anh.
Biết em có thương lại chút nào hay không? – Nghe em hỏi tức, anh đáp phứt cho rồi,
(VHDG An Giang – tr. 179) Từ mặt nước lên đến trời ba trăm ngàn thước,
20. – Thấy anh hay chữ em hỏi thử mấy lời: Từ mặt nước đo xuống âm phủ ba trăm dặm đường,
Trên trời ai làm chủ? Anh kể chuyện từ đời Tống cho đến đời Đường,
Dưới âm phủ ai làm vua? Ông vua Đường có cuốn sách Minh Tâm,
Trước đây ai lập miếu làm chùa? Một cuốn có ba trăm tờ,
Trai như anh đối đặng mà em làm mùa cho anh. Một tờ có ba trăm chữ, – Thấy em hỏi tức anh nói phức cho rồi Anh đứng làm trai quân tử tỏ lại cho em tường, Trên trời ông Ngọc Hoàng làm chủ Trăm năm gá nghĩa cang thường hay chưa? Dưới âm phủ ông Chủ Biện làm vua (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 441) Ở dương gian ông Cả, ông Xã lập miếu cất chùa 82. Anh ngó lên trời thấy mưa vần mưa vũ Trai như anh đối đặng em làm mùa cho anh không Anh ngó xuống âm phủ thấy đủ mặt bá quan (VHDG An Giang – tr. 225, 226) Anh ngó lên dương gian thì thấy ông Phật 21. Anh đau tương tư nằm trên bộ vạt, vàng có hai hàng chữ đỏ Hồn anh thất lạc, thác xuống Diêm đình. Anh ngó xuống sông nhỏ thấy sóng bỏ lao xao Diêm Vương ông hỏi sự tình, Anh thương em ruột thắt gan bào Tui lụy vì tình, tui mới thác oan. Biết em có thương lại chút nào hay không? (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 335) (VHDG Bến Tre – tr. 263) 22. Bận này bậu dứt nghĩa qua 83. Than với anh có nhật, có nguyệt, có đàn Cũng liều thác xuống Diêm La cho rồi thủy kiệt, có núi sơn lâm (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 129) Ai mà lỗi đạo tình thâm 23. Hồi nào thề thốt đêm đông Hồn về chín suối xác cầm dương gian. Sống thời một chiếu chết chung một mồ (VHDG Bến Tre – tr. 395, 396) Sống dương gian kẻ Hán người Hồ, 84. Kiếp này đã lỡ làng duyên Nơi âm cung biết đặng một mồ hay không. Kiếp sau xin đợi cửu tuyền gặp nhau. (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 132) (VHDG Bến Tre – tr. 342)
PL34
24. Dầu mà không đặng kết duyên, 85. Thương sao thấy mặt thương liền
Sống thì gửi nạc thác thì gửi xương. Dẫu cho thác xuống huỳnh tiền cũng ưng
Chốn dương trần không đặng tào khương, Nhìn anh nước mắt rưng rưng
Thác âm cung tôi chắc hai đường biệt ly Xuống lên hỏng đặng vì chưng phụ mẫu rầy.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 134) (VHDG Bến Tre – tr. 400)
25. Dạ bảo đành hai ngả phân ly, 86. Chim loan, chim én, chim phụng, chim nhàn
Thà để cho em thác xuống âm ty cho rồi Ba bốn con bay thẳng một đàn
Ngày nay duyên mãn tình rồi Bỏ con tước rũ, đậu cây liễu ủ, cây tùng đàn,
Kẻ dương gian người âm phủ qua đứng ngồi sao an Mai sau anh có thác xuống vàng,
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 150) Hồn khôn anh dật dựa bên nàng anh chơi.
26. Sống dương trần mình nổi tôi trôi (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 110)
Thác âm cung biết đặng kết đôi không mình 87. Dầu em có thác xuống suối vàng,
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 153) Oan hồn em cũng theo chàng báo oan.
27. Ngó lên nguyệt lặn sao dời (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 224)
Bớ bạn ôi, 88. Em dầu có thác xuống suối vàng
Sống thời gửi nạc, thác thời gửi xương Hồn em bận bịu, theo chàng xứng đôi.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 240) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 226)
28. Con rắn hổ mây nằm trên cây thục địa 89. Chết hai năm thịt nát thành đồng
Con ngựa nhà trời cắn lá chỉ thiêng Đầu thai chim điểu, đậu nhành tùng kêu sương
Trách lòng anh bạn đảo điên Chết tôi tôi chịu, xin đừng bận bịu bớ điệu chung tình.
Gạt em xuống chốn quỳnh tiền hại em. Con nhạn bay cao khó bắn, cá ở ao quỳnh
(VHDG Bến Tre – tr. 301) khó câu.
29. Biển Đông con tép lội tang tình (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 215)
Thấy em lam lũ một mình anh thương. 90. Đây anh không giận, đó em cũng chớ hờn
Anh đây gặp em tại chốn huỳnh tiền. Kiếp tái sinh ta sẽ nối phiếm đờn tri âm
Lời anh than chưa dứt mà nước mắt liền (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 251)
như mưa. 91. Thôi anh không giận, thì đó em cũng đừng buồn
(VHDG An Giang – tr. 75) Kiếp tái sinh ta sẽ nối phiếm đờn tri âm
30. Trách ai vội thác suối vàng (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 284)
Ngãi nhơn trôi hết thiếp chàng xa nhau 92. Thôi thôi đừng cơ ưu phiền
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 45) Kiếp này không đặng ta nguyền kiếp sau
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 384)
PL35
31. Nhà anh trai tráng (chớ) cửa ván kèo 93. Thương anh cốt rã xương mòn
nghiêng Thương anh đến thác cũng còn thương anh
Phụ mẫu anh bên lớn chức, cao quyền (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 387)
Phụ mẫu bên em nghèo khổ, biết kết nguyền 94. Bước xuống cầu, cầu quằn cầu quặt
đặng không Bước xuống ghe, ghe lắc ghe nghiêng
Đặng không anh cũng kết nguyền Lữ Phụng Tiên sánh với Điêu Thuyền
Sống dương gian gửi nạc, Kiếp này không đặng xin nguyền kiếp sau
Thác xuống huỳnh tuyền gửi xương. (VHDG An Giang – tr. 74)
(VHDG Bạc Liêu – tr. 860) 95. Anh vô duyên, xấu phước, chết trước chung tình,
32. Mình ôi ở lại bình an Anh hóa ra con nhạn bạch, đậu nhánh
Liều mình thác xuống suối vàng cho xong dương đình chờ em.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 129) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 334)
33. Sống làm chi em một ngả anh một đàng 96. Tôi với mình thề trước miễu ông
Nắm tay nhảy xuống suối vàng có đôi Sống nằm một chiếu, chết chung một mồ.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 174) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 348)
34. Anh muốn làm sao gặp mặt liền liền 97. Sống chi vầy kẻ Hán người Hồ,
Dầu anh có thác, xuống huỳnh tiền cũng vui. Một mai thác xuống chôn một mồ mới vui.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 226) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 369)
35. Ba năm xương cốt rụi tàn, 98. Tôi theo anh lập lấy cơ đồ,
Dầu ai ve bậu, chẳng màng tới ai. Để sau thác xuống mả mồ ấm cao
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 339) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 395)
36. Em chết ba năm xương rũ cốt mòn 99. Nhà lầu bốn cột một căn,
Em đầu thai lên con chim nhạn mà đậu Con loan con phụng chạm trong chạm ngoài.
nhánh mai mòn chờ anh. Của bằng pha không đóng không cài,
(VHDG Bến Tre – tr. 323) Biết nam hay nữ nằm hoài trong cung.
37. Mưa lâm râm ướt dầm bông cúc (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 340)
Cảm thương nàng áo rách vá vai. 100. Sống dương trần anh Hớn em Hồ
Mưa trên trời mưa xa lác đác Thà rằng thác đặng chung mồ với nhau.
Rớt xuống bãi hột cát nằm nghiêng (VHDG An Giang – tr. 197)
Rượu thuyền quyên rót đãi bạn hiền 101. Sống làm chi kẻ Hán, người Hồ
Kiếp này không gặp xin nguyền kiếp sau. Một mai thác xuống chôn một mồ mới vui
(VHDG Bến Tre – tr. 351) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 452)
PL36
38. Ngó lên nguyệt lặn sao rời 102. Sống dương trần anh Hớn em Hồ,
Sống thời gởi nạc, chết thời gởi xương Bớ anh ôi,
Huệ sầu vì bởi thiếu xương Em muốn làm sao đặng chung mồ với anh
Em xanh xao vì bởi nhớ thương người tình. (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 231)
(VHDG Bến Tre – tr. 358) 103. Trách trời phân rẽ tóc tơ,
39. Trăm năm cốt rụi xương tàn Kẻ thác âm phủ, người chờ dương gian!
Anh có đầu thai kiếp khác, dạ anh còn nhớ em. Chiều chiều ra mộ khóc than,
Em cũng chẳng lo cốt rụi xương tàn Cảm thương bậu phải cơ hàn nắng mưa.
Tiền nhựt em xảnh, hậu đoàn rã thây. (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 468)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 113) 104. Cò mẹ chết rũ trên cây
40. Chẳng thà anh chết một mình, Cò con giở sách coi ngày đưa tang.
Để em ở lại cắt tranh đậy mồ (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 483)
Sống làm chi kẻ Hớn, người Hồ 105. Anh chết rồi em quấn chế khăn tang
Nghiêng mình nằm xuống một mồ với anh Lo đãi đằng cô bác mà vào phòng lang khóc thầm.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 213) (VHDG Bến Tre – tr. 416)
41. Em ở với anh cực khổ quá 106. Một mai ai đứng minh sinh,
Mai sau em thác rồi đừng mả đá làm chi Ai phò giá triệu, ai rinh quan tài
Bạc đôi trăm để lại cho ấu nhi nó nhờ. Minh sinh đã có con trai
(VHDG Bến Tre – tr. 233) Giá triệu con gái, quan tài nàng dâu.
42. Sống ở dương gian không bắt được tay chàng, (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 96)
Thác xuống âm phủ em giở nắp hàng cho anh vô. 107. Một mai bóng xế cội tùng
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 370) Mũ rơm ai đội, áo thùng ai mang.
43. – Em ở với anh mần có bạc ngàn (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 100)
Sau rủi thời em có chết trước 108. Ba năm xương rụi cốt tàn
Chớ anh chôn em bằng hàn hay bó mo Dầu ai ve bậu, bậu làm bậu ăn.
– Em chết rồi anh có lòng lo (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 178)
Mua hàn quán xứng đáng chứ bó mo anh 109. Thôi thôi đã lỡ nước cờ,
không có đành. Có thương xin hãy đợi chờ kiếp sau.
(VHDG Bến Tre – tr. 437) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 384)
44. Anh sống dương gian 110. Biết mấy năm qua tấm hình cũ em vẫn thờ,
Anh làm ra có bạc ngàn Lòng em thương ai biết, dạ em chờ ai hay?
Hôm nay anh chết sớm (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 190)
PL37
Em sắm cái hòm huỳnh đàn 111. Thôi thôi đừng có ưu phiền,
Chạm đủ bốn con Kiếp này không gặp để nguyền kiếp sau.
Lên non xuống núi em thỉnh luôn bộ nhà vòng (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 384)
Vi mô tấn nguyệt vợ chồng từ biệt nghĩa nhân. 112. Anh ơi!
(VHDG An Giang – tr. 236) Trâu sống không ai làm cả
45. Anh ơi! Hồi anh còn sống dương gian Trâu ngả không thiếu kẻ cầm dao
chồng vợ đàng hoàng Tôi còn sống đây anh ở với tôi nhiều điều
Giờ đây anh dẫu vô phần xấu phước chẳng phải
Anh chết trước để lại một nén vàng hai ngàn Mai kia tôi có vô phần thác trước
đồng bạc Mà anh đắp cái nấm mộ cao làm gì?
Em nhắc cho anh một cái huỳnh đàn lọng – Mình ơi!
lạc, rước nhạc Gò Công, đạo tỳ Gò Cát. Sách có câu phu xướng phụ tùy
Lúc động quan kẻ hát người hò, rước học So hơn tính thiệt ích gì gia cang
trò đọc văn tế cho mình Hai đứa mình sống ở dương gian, làm có
Ngày bữa nay con trai thứ hai phò đầu xăng giá triệu bạc ngàn
Thằng con thứ ba phò cây đàn cò chỉ sợ dây Nếu mai kia mình có vô phần thác trước
dừng kêu tì, ti, tí, tỉ Để lại cho anh một nén vàng, hai ngàn đồng bạc
Sợi dây thẳng kêu hò cống, xê, xang Đây anh tưởng tình chồng nghĩa vợ
Ngày mai tâm can rời ra, hai ngả biệt ly Anh ra ngoài chợ
Phu lìa thê, tợ chim kia chích cánh Nhắc một cái hàng
Thê lìa phu liễu nọ lìa cành Sơn son thiếp vàng
Ngày kia chôn anh đã ra rành rành Có cung có bán
Trở về nhà nghe tiếng trống cơm kêu bùm Anh quàn xác em chín tháng
bum ruột rung từng đoạn Có rước thầy nhưng bông tụng táu
Em muốn thác theo chàng hai mạng nằm chung. Có thỉnh ông hòa thượng phá quàn
Em ơi anh chết năm rán sống dậy một giờ Anh mướn nhà vàng khoái lạc
Để xem người nghĩa phụng thờ ra sao? Mướn nhạc Gò Công
Em thờ anh đóng ghế cho cao, Mướn dân Gò Cát
Ly hương để giữa hai đèn thau để bìa Đem về anh tống táng cho nàng
Em ơi, ba năm tang chết mãn rồi Khi động quan tài:
Đầu dơ sao em không gội vòng vàng đeo vô! Ở trong có nhạc
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr. 192,193) Ở ngoài có cây đờn cò chỉ
PL38
46. Chim có đôi có bạn, Nó kêu tăng tăng tỉ tỉ
Kìa hãy xem cặp nhạn mà làm gương, Sanh kí tử qui
Đứng làm người trong đạo tào khương Có một sợi dây nó kêu rằng:
Thủy chung như nhứt, giữ đường ngãi nhân Hò xư xang, ôi! Tam cang rời rã
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 221) Phía trước hàng có hai anh học trò lễ
47. Ví dầu chẳng đặng làm đôi, Ảnh xướng đọc văn tế rằng:
Kiếp sau ta sẽ làm sui một nhà. Phu lìa thê như chim kia chích cánh
Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 416) Thê lìa phu như nhạn nọ lạc bầy
48. Đạo nào bằng đạo phu thê, Khi phát hành ra đi
Tay ấp má kề sinh tử có nhau Tay anh bợ đòn rồng
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 435) Tay anh nưng giá kiệu
49. Sông sâu sào vắn khó dò Anh lóng tai nghe tiếng trống cơm
Kia kìa con tạo đưa đò âm cung Nó vỗ kêu bịch bịch bùng bùng
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 500) Úy trời đất ôi!
50. Bậu để chế cho ai, xé hai, anh nửa Ruột anh đau từng đoạn
Bậu để chế cho chồng châm lửa đốt đi. Anh muốn thác theo nàng
(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 218–219)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 183) Cho đôi bạn nằm chung
51. Để chế cho ai, xé hai anh phân nửa,
113. Sáng mai tôi đi chợ Gò Vấp, Để chế cho chồng, chất lửa đốt đi.
Tôi mua một trái bắp, (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 255)
Chân tôi đi, tay tôi lột, 52. Bậu để chế cho ai, xé hai, anh nửa,
Miệng tôi cạp, hàm tôi nhai. Bậu để chế cho chồng, châm lửa đốt đi.
Tôi lắng nghe hai đứa nhỏ nó nói: (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 343)
Còn tang bà nội, tội lắm anh ơi, 53. Bậu để chế cho ai tóc mây rành rạnh
Chờ cho tang hết đứng ngồi mới yên. Bậu để chế cho chồng hiếu hạnh bậu đâu.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 365) (VHDG Bến Tre – tr. 275)
114. Râu dài để chế cho cha 54. Em để chế cho ai mà tóc mai rành rạnh
Tóc dài theo lệ ông bà ngày xưa. Em để chế cho cha mẹ chồng hiếu hạnh của em
(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 176) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 275)
115. Bắt lấy tay em anh không sợ tội 55. Nàng dâu để chế mẹ chồng,
Ngó lên trên đầu còn đội tang cha Đôi bông hột lựu, đôi vòng sáng trưng.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 86) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 467)
PL39
56. Ba năm tang chế mãn nguyền, 116. Bậu để chế cho ai tóc mai vòng bạch
Đầu dơ em gội, chuỗi chuyền em đeo. Bậu để chế cho chồng đức hạnh bậu đâu.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 475) (VHDG An Giang – tr. 87)
57. Em đưa khăn trắng anh gắn hai chữ đồng 117. Bậu để chế mẹ cha xé hai anh phân nửa
Mai sau anh chết trước em lén chồng để tang. Bậu để chế cho chồng thì chất lửa đổ đi.
(VHDG Bến Tre – tr. 325) (VHDG An Giang – tr. 126)
58. Tưởng là khăn trắng em để tang 118. Hai đứa mình trai gái bụi tre gai
Dè đâu khăn trắng sửa sang lấy chồng. Anh năn năn nỉ nỉ, ỉ ỉ ôi ôi
(VHDG Bến Tre – tr. 394) Còn tang bà nội tội lắm anh ơi
59. Em đội khăn lông trắng, em gắn hai chữ Hết tang bà nội em sẽ đứng ngồi với anh.
tam tòng, (VHDG An Giang – tr. 152)
Mai sau anh có chết, em lén chồng để tang. 119. Mưa lâm râm ướt dầm lá khế.
Anh đội khăn rằn trắng, anh gắn chữ huỳnh Hỏi bạn rồi để chế cho ai.
Mai sau em lưu lạc, anh nhìn cái khăn Để khế mẹ cha xé hai cho mình một nửa
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 276) Để khế người tình thổi lửa đốt đi.
(VHDG An Giang – tr. 166)
120. Em vô phần vô phước
Anh chết trước, em đem chôn nhằm giọt
nước chảy quanh
Em cầm quạt Tàu em quạt, ráo mồ anh em
mới lấy chồng.
(TLST KS Ca dao Bến Tre)
121. Sống dương trần tôi mần cù bơ cù bất
Thác đi rồi anh chôn mã đất không có đắp
cái lề
Anh sẵn lòng lo mua hàn huỳnh chín chục
mà có chạm mặt trăng hai đầu?
(TLST KS Ca dao Bến Tre)
Tổng câu: 121 câu
PL40
PHỤ LỤC 3
CA DAO NAM BỘ PHẢN ÁNH PHONG TỤC THỜ CÚNG ĐA THẦN
CA DAO – XUẤT XỨ CA DAO – XUẤT XỨ
1. Nắm tóc ngôi, tóc ngôi dài 174. Nghe chàng phân thiệt dạ em nguôi
Nắm tóc mai, tóc mai cụt Vái cùng trời đất, khiến xui cang trường
Cầu trời khấn bụt cho tóc mai dài (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 179)
Bao giờ tóc chấm ngang vai 175. Ba bốn năm trời em trải tuyết nằm sương
Thì ta kết nghĩa làm hai vợ chồng. Cầu trời khẩn phật, đạo tào khương vợ chồng
(VHDG An Giang – tr. 179) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 180)
2. Ăn chay một thắng ba giạ muối trường 176. Ngó lên trời thấy mây vần vũ
Vái trời vái phật ra đường gặp em. Ngó xuống âm phủ thấy đủ mặt bá quan
(VHDG An Giang – tr. 66) Ngó về Nam Vang thấy bốn chữ quết vàng
3. Anh thương em thương dại thương dột Ngó thấu Ngọc Hoàng thấy hàng chữ đỏ
Thương lột da óc, thương tróc da đầu Ngó về biển nhỏ thấy sóng bủa lao xao
Ngủ đi thì nhớ, thức dậy thì thương Anh thương em ruột thắt gan bào
Giục ngựa buông cương lên đường thượng lộ Biết em có thương lại chút nào hay không?
Vái trời vái Phật phù hộ gặp em. (VHDG An Giang – tr. 179)
(VHDG An Giang – tr. 67) 177. Anh ngó lên trời thấy mưa vần mưa vũ
4. Đường trơn trượt em còn lặn lội Anh ngó xuống âm phủ thấy đủ mặt bá quan
Vái Phật trời cho tương hội sum vầy Anh ngó lên dương gian thì thấy ông Phật
Cực khổ bao nhiêu em cũng chịu vàng có hai hàng chữ đỏ
Miễn loan với phụng hợp bầy thì thôi. Anh ngó xuống sông nhỏ thấy sóng bỏ lao xao
(VHDG Bến Tre – tr. 322) Anh thương em ruột thắt gan bào
5. Lên non khấn vái Phật trời Biết em có thương lại chút nào hay không?
Cầu mong cha mẹ sống đời với con (VHDG Bến Tre – tr. 263)
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.143) 178. Trển xuống đây cách ba ngàn thước
6. Trước sau chứng có Phật Trời Trời mưa đất ướt, dẫu lần từng bước em
Ai mà ở bạc vậy thời mặt ai cũng ráng lòng
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 131) Dù khổ đau bao nhiêu em cũng chịu, mà sao
7. – Thấy anh hay chữ em hỏi thử mấy lời: chốn loan phòng lẻ loi?
Trên trời ai làm chủ? (VHDG An Giang – tr. 213)
Dưới âm phủ ai làm vua?
PL41
Trước đây ai lập miếu làm chùa? 179. – Nghe anh hay chữ, em hỏi thử đôi lời
Trai như anh đối đặng mà em làm mùa cho anh. Từ mặt nước lên trời mấy trăm ngàn thước?
– Thấy em hỏi tức anh nói phức cho rồi Từ mặt nước đo xuống âm phủ, mấy trăm
Trên trời ông Ngọc Hoàng làm chủ dặm đường?
Dưới âm phủ ông Chủ Biện làm vua Em kể chuyện từ đời Tống đến đời Đường,
Ở dương gian ông Cả, ông Xã lập miếu cất chùa Ông vua Đường có cuốn sách Minh Tâm,
Trai như anh đối đặng em làm mùa cho anh không Một cuốn có mấy chục tờ,
(VHDG An Giang – tr. 225, 226) Một tờ có mấy chục chữ,
8. – Em nghe anh hay chữ em hỏi thử đôi lời Anh đừng làm trai quân tử tỏ lại em tường
Trên trời mấy bậc, dưới âm phủ mấy vua? Trăm năm kết nghĩa cang (cương) thường
Dương gian mấy miếu mấy chùa? với anh.
Bữa ăn mấy món, ngoài chợ bán mua mấy người? – Nghe em hỏi tức, anh đáp phứt cho rồi,
– Anh nghe em hỏi tức anh nói phức cho rồi Từ mặt nước lên đến trời ba trăm ngàn thước,
Trên trời một bậc, dưới âm phủ một vua. Từ mặt nước đo xuống âm phủ ba trăm dặm đường,
Dương gian một miếu một chùa. Anh kể chuyện từ đời Tống cho đến đời Đường,
Bữa ăn hai món, ngoài chợ bán mua hai người. Ông vua Đường có cuốn sách Minh Tâm,
(VHDG An Giang – tr. 138) Một cuốn có ba trăm tờ,
9. Thiên sinh nhơn hà nhơn vô lộc Một tờ có ba trăm chữ,
Địa sinh thảo hà thảo vô căn Anh đứng làm trai quân tử tỏ lại cho em tường,
Trời sinh ra người đều có lộc trời Trăm năm gá nghĩa cang thường hay chưa?
Đất thì sinh cỏ rễ chồi nào không (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 441)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 69) 180. Em đố anh từ trên trời xuống mặt nước
10. Giữ từng tấc đất bãi bồi mấy chục ngàn thước?
Khác nào của báu ông trời đền cho Từ mặt nước xuống âm phủ mấy chục tầm đường?
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.134)
Trong cuốn truyện Thuyết Đường, một cuốn bao nhiêu tờ, một tờ bao nhiêu hàng chữ? 11. Ai ai cũng ở trong trời
Phần ai nấy hưởng ngạo đời làm chi? Trên dương gian có mấy ông tướng dữ, mấy ông tướng hiền? (VHDG An Giang – tr. 275)
12. Chim trời thì hưởng lộc trời
Ăn chi của bạn nghe lời đắng cay. Trai nam nhân anh mà đối đặng, gái nữ nguyền em xin theo – Từ trên trời xuống mặt nước bảy chục
(VHDG An Giang – tr. 279)
ngàn thước Từ mặt nước xuống âm phủ ba chục tầm đường
PL42
13. Ở hiền thời lại gặp lành
Trong cuốn truyện Thuyết Đường, một cuốn hai mươi bốn tờ, một tờ hai mươi bốn hàng chữ Những người nhân đức trời dành phúc cho.
(VHDG Bạc Liêu – tr. 895) Trên dương gian có bảy ông tướng dữ, ba ông tướng hiền 14. Đừng nên trông đợi ở trời
Hãy tin vào sức con người lớn lao. Trai nam nhân anh đà đối đặng, gái nữ nguyền em liệu sao? (VHDG An Giang – tr. 283) (VHDG An Giang – tr. 136, 137)
15. Chữ rằng: Phú quý tại thiên 181. Thiện ác đáo đầu chung hữu báo
Giàu sang tại số hiển nhiên tại trời Cao phi, viễn tẩu giả nan tàng
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 89) Anh thương em có chứng mặt trời vàng
16. Nghĩ sao mà lụy tuôn rơi Chừng nào anh ở bạc cho tôm càng cắn anh
Thắp nhang mà vái ông trời định phân (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.77)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 100) 182. Lên Sài Gòn phải qua cầu Mĩ Thuận
17. Trời cao đất thấp Có thương không sao em lựng bựng không
Anh dện tam cấp chịu trả lời
Anh lập cửu trùng đài Năm đợi năm, tháng đợi tháng, anh hỏi ông
Vận hư trời xui khiến trời ổng làm thinh
Anh lập hoài cũng hư (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.99)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 110) 183. Trời vần vũ, mây giăng tứ phía
18. Ai ơi muốn hưởng lộc trời Đất biển đông sóng gợn tứ bề
Trước thờ cha mẹ, sau là vợ con. Làm sao nên nghĩa phu thê
(VHDG Bạc Liêu – tr. 879) Đó chồng đây vợ, ra về có đôi!
19. Mần cực khổ anh đừng than, (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.104)
Chừng trời đất ngó lại giàu sang mấy hồi. 184. Đưa tay phân chứng với trời
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 494) Người này gá nghĩa ở đời với tôi
20. Bắc thang lên hỏi ông trời Nước ròng sông Hậu chảy xuôi
Mấy thằng ác đức sống đời được không Trời đà xây định mình với tôi vợ chồng.
Ông trời ổng bảo rằng không (VHDG An Giang – tr. 129)
Mấy thằng ác đức thì không sống đời. 185. Ngó lên trời thấy sao giăng tứ diện
(VHDG An Giang – tr. 277) Ngó ra ngoài biển thấy biển rộng tứ bề
21. Thế gian lắm kẻ mơ màng Em thề một mái tóc xanh
Thấy hòn son thắm ngỡ vàng trời cho. Em không bỏ bạn mà bạn đành bỏ em
(VHDG Bạc Liêu – tr. 902) (VHDG An Giang – tr. 178)
PL43
22. Của trời trời lại lấy đi, 186. Bây giờ giấy trắng mực đen
Giương hai con mắt làm chi được đời. Em xin viết giấy làm tờ cam đoan
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 486) Em đứng giữa trời em chẳng nói gian
23. Mấy lời vàng đá phân trời Em xa người nghĩa mà ruột gan héo bầm.
Vái trên trời đất, quỉ thần chứng tri (VHDG An Giang – tr. 80)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 166) 187. Ngó lên trời trời trong lại trắng
24. Em thương anh chứng có thượng thiên Dòm xuống nước nước trắng lại trong
Cùng nhau hiệp mặt mới yên tấm lòng Nhỏ như ai chứ nhỏ như em đây
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 166) Chắc dạ bền lòng
25. Nước Cửu Long sóng dồn cuồn cuộn Lỡ duyên thì em chịu lỡ
Cửa Hàm Luông mây cuốn cánh buồm xuôi Em đóng cửa loan phòng đợi anh.
Bậu với qua hai mặt một lời (VHDG An Giang – tr. 178)
Trên có trời dưới có đất 188. Đã đành phận bạc duyên phần,
Nghĩa trăm năm vương vấn sợi tơ mành Ngân giang chia rẽ, ai kẻ Bắc Nam, Chức
Tử sanh, sanh tử chung tình nữ đau xót đành cam
Dầu ai ngăn đón, tôi với mình cứ thương Thục nữ ôi!
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.57) Số định trời vậy biết làm sao xong
26. Mình có thương nhau, mình cắt tóc (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 197)
mình thề 189. Nhạn kêu sương biển Bắc,
Chỉ trời rạch đất chớ hề bỏ nhau. Én khóc bạn trời Nam.
(VHDG Bến Tre – tr. 353) Chữ sầu em mang nặng chẳng kham
27. Ba mươi sáu cái răng đóng trăn cái lưỡi, Duyên may nợ rủi đành cam
Bớ em ôi!
Anh là người quân tử, ăn một đọi, nói một lời. Giơ tay phân chứng có trời, Tại trời khiến vậy biết làm sao đây Anh đây nhất nguyện ở đời với em. (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 199) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 339) 190. Đêm ngày than thở kêu bớ ông trời, 28. Đừng giữa trời chẳng dám nói gian Đôi ta đang nguyện trọn đời, Dẫu nghèo cũng đợi dẫu sang cũng chờ. Anh ôi! Trách ai gây cuộc đổi dời hôm nay (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 391) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 202) 29. Mình có thương chặt tóc mình thề, 191. Cây cao bóng mát không ngồi Chỉ trời vạch đất chớ hề bỏ nhau. Ra ngồi chỗ nắng, trách trời không râm (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 428) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.148)
PL44
30. Con cóc trèo trẹo kêu trời 192. Trời xui cho nên gặp bạn mình
Cúm núm gõ mõ, than trời bất công Anh đây thệ nguyện sắt đinh một thời.
Nhái bầu lặn hụp phùng mang Ai đừng bạc nghĩa ai ôi!
Cá lóc phóng tới, tôm càng thụt lui Em mà đoản hậu ông Trời phạt em
Con mèo rửa mặt bùi ngùi (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 124)
Con chó tức giận tới lui sủa hoài 193. Anh lên Bảy Núi
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.138) Anh chạy thẳng Tà Lơn
31. Chẳng qua duyên phận số phần Căn nợ keo sơn thấu đến ông trời
Căn dươn trời định chẳng gần thời thôi Trời cao đất thấp
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 137) Anh đến tam cấp lập cửu trùng đài
32. Anh chặt sao đứt, anh bứt sao rời, Thời hư khiến vậy, khiến lập hoài cũng nên.
Em ôi bởi duyên tiền định ông Trời khiến thương (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 128)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 153) 194. Giơ tay hứng giọt sương trời
33. Vắn tiếng tăm kêu chẳng thấu trời Trời hòa cho đôi ta uống, sống đời trăm năm
Hỏi thăm duyên nợ, đổi dời tại ai (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.83)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 169) 195. Đó chưa chồng, anh đây chưa vợ
34. Trời ra điềm lạ khó bàn, Chẳng qua duyên nợ vần xoay
Hay là ổng khiến tôi với nàng cách xa Tình cờ đó lại gặp đây
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 177) Trời xoay đất trở, nên đây gặp nàng
35. Nước trong khe chảy xuôi về vịnh, Một lòng nghĩa nặng, đá vàng
Trời cao đã định nước chảy vòng cung. Trăm năm đã hẹn, giữ tròn nợ duyên
Nào ai thương khó với cùng, (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.91)
Thuyền quyên lỡ lứa, anh hùng lỡ đôi. 196. Trời đem điều lạ khó bàn
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 350) Hay là trời khiến, thiếp với chàng gặp nhau
36. Anh phụ em, em tự vẫn cho rồi (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.93)
Để anh ở lại nghe lời thị phi 197. Trời năng mưa năng chuyển
Anh về em ở hai nơi Đất ngoài biển năng lở năng bồi
Cắn răng cách mặt cơ trời khó toan Đôi ta thương lỡ nhau rồi
Dằn lòng phân rẽ anh sẽ xuống thoàn Chàng than, thiếp khóc, phụ mẫu ngồi sao yên?
Thương em rớt lụy can tràng quặn đau. (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.93)
(VHDG An Giang – tr. 66)
PL45
37. Bần gie con diệc đậu chờ mồi 198. Cá lòng tong ở móng ăn rong
Thương em đứt ruột, tại ông trời ngó lơ. Anh đi lục tỉnh giáp vòng
(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 178) Tới đây trời khiến đem lòng thương em.
38. Anh về em ở hai nơi (VHDG Bến Tre – tr. 291)
Cắn răng cách mặt cơ trời khó toan 199. Bánh canh trắng, con vắn, con dài,
Dằn lòng phân rẽ anh xuống thoàn (thuyền) Bánh canh ngọt chui tọt khỏi nhai.
Thương ai rớt lụy, can tràng quặn đau. Ai kêu tui đó, dạ có tui đây.
(VHDG Sóc Trăng – tr. 618) Bốn mùa cúc nở vần xây,
39. Trời ôi, ai đánh trời gầm, Để xem trời định duyên này về đâu.
Mây mưa dứt đoạn tư bề âm can (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 340)
Cơ trời dâu bể đa đoan 200. Trồng tre lộn mặt xuống bùn
Tơ duyên vắn vỏi thiếp chàng xa nhau Trời xui đất khiến hai đứa lùn gặp nhau.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 103) (VHDG An Giang – tr. 206)
40. Con người như nước đầy vơi 201. Cớ sao thấy mặt thì thương
Nên hư cũng bởi tại trời Phải chăng trời đất vấn vương cho mình.
Trượng phu đã hứa một lời há quên. (VHDG An Giang – tr. 98)
(VHDG Sóc Trăng – tr. – 610) 202. Canh một anh thắp ngọn đèn vàng
41. Nhớ xưa lên xuống đứng ngồi Chờ người bạn cũ thở than đôi lời
Cái bờ mòn lẳng, bởi duyên trời không xe Canh hai nguyệt đổi sao dời
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.153) Tính sao nàng tính cho trọn lời thủy chung
Canh ba cờ phất trống rung 42. Cọp mà vật mấy ông thầy địa Voi mà giày mấy gã coi ngày Mặc ai ai thẳng, ai chùng mặc ai
Canh tư hạc đậu nhành mai Trớ trêu họ khéo đặt bày Đôi ta thương nhau thiệt, lẽ nào trời không định đôi.
Sương sa lác đác biết đâu mà tầm (VHDG Bến Tre – tr. 302)
Canh năm nằm giữa phòng loan 43. – Dần, Thân, Tỵ, Hợi tứ hành xung
Mỏi mòn chờ đợi con bạn vàng của anh. Khuyên anh hãy xét lại cùng
Thương làm chi mà ngày thấy mặt, tối Hiệp hôn giá thú em sợ trùng không nên.
chẳng đặng giao hòa – Cọp mà rượt mấy anh thầy địa
Phải chi trời khiến được sum họp một nhà Yêu mà nhai mấy chú chọn ngày
cho vui. Chớ kêu họ khéo đặt bày
(VHDG An Giang – tr. 110, 111) Mình thương nhau thật ông trời gài định thôi.
(VHDG An Giang – tr. 122)
PL46
44. Cớ sao thấy mặt thì thương 203. Lên rừng hóa hổ về đồng nội hóa long
Hay là trời đất vấn vương cho mình. Trời xui đất khiến hai đứa con dòng gặp nhau.
(VHDG Bến Tre – tr. 303) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 309)
45. Dậm chân xuống đất đất bằng 204. Rồng nằm kẹt đá hóa long
Trời xui trời khiến tui thấy cô đội khăn rằn Anh đi lục tỉnh giáp vòng
tui thương. Tới đây trời khiến mà đem lòng thương em.
(VHDG Bến Tre – tr. 304) Thương em tam tứ núi phải chúi vô mùng
46. Sóng bên voi bỏ vòi bên vịnh. Thất bát giang anh cũng lội
Hai đứa mình trời định đã lâu. Thập nhị đèo anh cũng theo.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 366) Chợ Kinh Xáng mới đào
47. Cây so đủa lá cũng so đủa Tàu tây mới chạy
Cây mùng tơi lá cũng mùng tơi Anh có thương em thì thương cho đại
Anh gặp em đây chẳng trao lời Đừng ngại chung tình
Em ơi thuận bườm xuôi gió mà nhờ trời tính sao. Dao phay hai ngọn một mình em bao.
(VHDG Bạc Liêu – tr. 830, 831) (VHDG Sóc Trăng – tr. 626)
48. Ngày gặp mặt em tối chẳng được giao hòa 205. Lư chung, lư chạ, lư đồng
Giá trời xui khiến ở một nhà mới vui Qua thương em bậy hơn chồng bậu thương.
(VHDG Bến Tre – tr. 363) Ông trời định chữ tào khương
49. Bấy lâu mang tiếng chịu lời; Thiếu chi thiên hạ, anh thương mình nàng.
Dẫu xa nhau chăng nữa, tại ông trời biểu xa. (VHDG An Giang – tr. 148)
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 345) 206. Bắt con cá rô bỏ trong rổ, nó nhảy rồ rồ
50. – Hai tay đeo bốn chiếc đồng, Tui thương cổ thấy mồ mà cổ hổng thương tui.
Em xin thưa thiệt: em chưa chồng, đợi anh! Bốn mùa bông cúc trổ sai
– Đó em chưa chồng, đây anh chưa vợ, Để xem trời định duyên này về ai?
Chẳng qua duyên nợ vần xoay. (VHDG An Giang – tr. 77)
Tình cờ đó lại gặp đây, 207. Cây trên rừng hóa kiểng,
Trời xoay đất trở nên đây gặp nàng. Cá dưới biển hóa long.
Quyết lòng tình nghĩa đá vàng, Anh đi lục tỉnh giáp vòng,
Trăm năm cùng bậu cho toàn nợ duyên. Tới đây trời định đem lòng thương em.
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 406) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 359)
PL47
51. Ngó lên trời có con chim hóa phụng 208. Đũa tre tốt nước nhờ sơn
Ngó xuống biển có con cá hóa long Hai đứa mình gá nghĩa nhờ ơn ông trời.
Anh đi lục tỉnh giáp vòng (VHDG Bến Tre – tr. 321)
Đến Bến Tre trời khiến động lòng thương em. 209. Bánh canh trắng, con vắn, con dài,
(VHDG Bến Tre – tr. 365) Bánh canh ngọt chui tọt khỏi nhai.
52. Màn rồng một bức giăng ngang, Ai kêu tui đó, dạ có tui đây.
Tôi với mình trời định, tam cang ngũ Bốn mùa cúc nở vần xây,
thường. Để xem trời định duyên này về đâu.
Mình về thưa lại thung đường (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 340)
Qua đây gá nghĩa cang thường với em. 210. Nước chảy liu riu
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 315) Lục bình trôi liu ríu
53. Vừa đi là gặp em đây Sở chiếu vu quy
Một là duyên Kỳ ngộ hai là trời xoay đất vần Thương làm chi ban ngày thấy mặt
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 418) Tối chẳng đặng nằm gần
54. Bâng khuâng bắt ngát, tôi nghe em hát Phải chi ông trời ổng khiến một nhà cho vui.
trữ tình (VHDG An Giang – tr. 186)
Bớ anh ơi, căn duyên ông trời định hai đứa 211. Em bước vô mùng con mắt ngó quanh,
mình gặp nhau. Nghiêng mình nằm xuống tư sanh nhớ trời.
(VHDG An Giang – tr. 88) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 394)
55. Sớm mai xách lưỡi ra rìa 212. Bắt con cá rô bỏ trong rổ, nó nhảy rồ rồ
Đốn cây bịt lại Tui thương cổ thấy mồ mà cổ hổng thương tui.
Đem về để đó Bốn mùa bông cúc trổ sai
Rước thợ mộc về Để xem trời định duyên này về ai?
Chẻ tư chẻ tám (VHDG An Giang – tr. 77)
Chẻ dọc chẻ ngang 213. Thuyền của anh đi nước xuôi
Anh bắc cái thang Thuyền của em đi nước ngược,
Hai mươi sáu tấc Làm sao em trao được đôi lời,
Bắc từ dưới đất Thuận buồm xuôi gió, nhớ trời kiếp sau.
Lên tới trên trời (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 461)
Hỏi thăm duyên nợ 214. Chẳng qua duyên nợ trời xui
Đổi dời về đâu. Dầu cha mẹ giết chết tôi cũng đành.
(VHDG An Giang – tr. 199, 200) (VHDG Sóc Trăng – tr. 632)
PL48
56. Ngọn gió đâm ngang nên chàng xa thiếp 215. Bâng khuâng bắt ngát, tôi nghe em hát
Duyên nợ tự trời ai quyết xa ai. trữ tình
(VHDG Bến Tre – tr. 358) Bớ anh ơi, căn duyên ông trời định hai đứa
57. Tới đây lạ bến đậu nhờ mình gặp nhau.
Lạy trời bớt gió cho sóng trong bờ đừng chao (VHDG An Giang – tr. 88)
(TLST KS Ca dao Bến Tre) 216. Mái chèo khi khoan khi nhặt
58. Cá lòng tong ngậm rong chờ đá Ngó lên trời vằng vặc ánh trăng
Cá dưới biển ngậm đá chờ rong Hôm nay vầy nghĩa xích thằng
Ai đi lục tỉnh giáp vòng Nghĩa tình luyến ái bởi căn duyên trời
Sao ông trời ổng khiến đem lòng thương em. Nước một nguồn khi trong khi đục
(VHDG Bạc Liêu – tr. 828) Làm con người hết nhục, đến vinh
59. Cây trên rừng hóa kiểng, con cá dưới Đôi ta nên nghĩa bố kinh
biển hóa long Thề rằng dầu có tử sinh
Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong Vợ chồng ta quyết giữ chữ tình vẹn hai.
Anh đi lục tỉnh giáp vòng (VHDG Sóc Trăng – tr. – 610, 611)
Tới đây ông trời khiến đem lòng thương em. 217. Chuyến này anh chở cát
(VHDG An Giang – tr. 114) Chuyến khác anh chở vôi
60. Mưa ướt lá sả, thương em cha chả tưởng Duyên nợ lôi thôi nay đổi mai dời
đã xa rồi Làm sao lên đặng ông trời
May đâu trời xui đất khiến mà lần hồi gặp em. Hỏi coi duyên đó đổi dời về đâu?
(VHDG An Giang – tr. 162) (VHDG An Giang – tr. 113, 114)
61. Bốn mùa bông cúc nở xây 218. Chẳng qua duyên nợ trời sanh
Để coi trời khiến duyên này về ai. Tham vì nhân nghĩa lợi danh chẳng màng
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 191) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 46)
62. Đèn chong phòng hạnh biếng xem, 219. Chẳng qua duyên nợ trời sinh
Phải chi trời định anh với em vợ chồng Nhiều nơi cao lũy cả thành vốn không
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 252) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 76)
63. Gặp lúc trăng thanh gió mắt, 220. Vị tầm vô giá bửu nan đắc hữu tình
Thú nào vui bằng thú hát huê tình, lang,
Trời xui hội ngộ, hai đứa mình kết duyên. Em nó ôi! Trời xui nên gặp giữa đàng,
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 283) Từ nay chắc phải đa mang khối tình
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 188)
PL49
64. Gặp anh đây không dám trao lời, 221. Phải chi lên đặng Ngọc Hoàng,
Thuận buồm xuôi gió, nhờ trời chứ sao. Để coi sổ bộ duyên nàng về đâu
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 283) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 79)
65. Phải chi lên được Ngọc Hoàng, 222. Vợ chồng nợ bởi Hoàng thiên,
Anh cùng em nay gặp là duyên định rồi Anh coi sổ bộ duyên nàng với ai!
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 126) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 447) 223. Đêm nằm sầu bạn thở than 66. Lư chung, lư chạ, lư đồng Thiếp chàng trời định tam cang ngũ thường Qua thương em bậu hơn chồng bậu thương. (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 180) Ông trời định chữ tào khương 224. Trăm năm nhứt nguyện, Thiếu chi thiên hạ, anh thương mình nàng. Cũng vì trời khiến nợ duyên, (VHDG An Giang – tr. 148) Bớ anh ôi! Nghe anh than thở ưu phiền,
67. Hoàng kim vạn lượng vị vi quí Ai hoài tấc dạ thuyền quyên hẫn hờ
Đắc nhơn nhất ngữ thắng thiên kim (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 189)
225. Hôm nay thề có đất trời, Bớ anh ôi! Hữu tình lang thật khó tìm
Ai mà dối trá giả lời Hôm nay trời định trọn niềm ân ái Bớ em nó ôi! Anh đây chí quyết ở đời cùng em. (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 192) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 189) 68. Hoa sầu héo nhụy, giọt lụy chan hòa 226. Em đau tương tư mẹ em đổ hồ bằng muỗng Bớ em nó ôi! Căn phần trời định đôi ta Cha dặm cẳng kêu trời tiếc uổng công sanh! Em đừng than thở xót xa tấm lòng Thuốc năm bảy thang uống hoài không mạnh (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 192) Gặp mặt em rồi anh tỉnh như xưa.
69. Mái chèo khi khoan khi nhặt (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.118)
Ngó lên trời vằng vặc ánh trăng 227. Trách trời sao lắm bất công
Bớ anh nó ôi! Giàu nghèo khó sống, sinh lòng hại nhau
Hôm nay vầy nghĩa xích thằng (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.132)
Chữ duyên tình luyến ái bởi căn duyên trời 228. Nhìn nhau lụy nhỏ thấm bâu
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 195) Than trời trách đất cớ đâu phân lìa.
70. Đó xa đây vì bởi ông trời (VHDG An Giang – tr. 181)
Đây xa đó vì bởi cô bác 229. Nắm mắm láng lai chùi hoài vẫn ướt,
Mưa xa lác đác, hột cát nhỏ lầm dầm Trời hỡi trời sao chẳng bớt nhớ thương,
Tuy không ăn nằm gá nghĩa cũng thương. Sợi tơ hồng em lỡ vấn vương,
(VHDG An Giang – tr. 125) Gặp anh một bữa nhớ thương ngàn ngày.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 348)
PL50
71. Thương nhau đã lỡ, 230. Anh thương em, thương dại thương dột,
Cách trở chẳng phiền Thương lột da óc, thương tróc da đầu
Trời đà định sẵn tơ duyên Ngủ đi thì nhớ, thức dậy thì thương,
Bớ anh ôi! Giục ngựa buông cương lên đường thượng lộ,
Đắng cay lao khổ truân chuyên Hỡi ông trời, mới ngộ lại xa.
Dọn nhà ta quyết ra riêng thỏa tình (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 333)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 206) 231. Căn duyên này phá cho rồi,
72. Trách trời sao lại bất công Ông tơ biểu buộc, ông trời biểu không,
Kẻ đôi ba vợ, người phòng không suốt đời Phải gặp ông tơ hỏi sơ cho biết,
Bắc thang lên hỏi ông trời Gặp bà nguyêt hỏi thiệt cho rành,
Công bằng không thấy, thấy đời bất công? Vì đâu hoa nọ lìa cành,
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.89) Nợ duyên sớm đứt, cho đành dạ em.
73. Thấy em chèo lái, anh khoái bóng hình (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 356)
Chờ khi mà trời xui khiến, để hai đứa mình 232. Anh thương em thương lún, thương lụn
gặp nhau Thương lột da óc, thương tróc da đầu
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.137) Ngủ đi thì nhớ, thức dậy thì thương
74. Con gái xứ Bà Phong trong lòng hớn hở Giục ngựa buông cương, lên đường thượng lộ
Con trai xứ ông Nam chưa vợ đi tới đi lui Trời hỡi trời, mới ngộ lại xa.
Sáng bơi xuồng ra, tối lại thả trôi (VHDG Bến Tre – tr. 257)
Tìm bến chưa ghé được, ngửa mặt lên trời 233. Bước lên cầu cầu cao ván nhịp
thở than! Anh đi không kịp nhắn với bạn vàng
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.104) Nghĩa tào khang sao nàng vội dứt
75. Nhìn anh lụy nhỏ thấm bâu Đêm nằm thao thức ruột đứt gan rơi
Than trời cách đất cớ đâu phận lìa Mấy lâu nay anh mang tiếng chịu lời
Mình nói rằng vài bữa mình vìa (về) Ngày nay xa bạn chắc tại trời khiến xui.
Hay là mình muốn phân chia chữ tình. (VHDG Bến Tre – tr. 272, 273)
Đem cái thương trà phức, anh đừng nỡ bức 234. Chia tay hệ bởi ông trời,
làm chi Sao em đành dạ vui cười việc chi
Gạt làm chi cái phận nữ nhi (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 156)
Đêm ngày giọt lụy, lâm ly thảm sầu. 235. Có vợ rồi còn gian còn giấu
(VHDG Sóc Trăng – tr. 618, 619) Tui vạch mây hồng cho thấu trời xanh
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 231)
PL51
76. Thương không thương cũng nghĩ chút tình, 236. Ca rô ăn móng dợn sóng đường cày
Cũng người vợ cũ của mình thuở xưa, Vợ anh còn, con anh đó, ông trời đày em
Gặp mình đây đứng bóng ban trưa phải thương.
Trách trời mau tối, em phân chưa hết lời. (VHDG Bến Tre – tr. 291)
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 463) 237.–Trách trời sao dội mưa giông
77. Giục ngựa buông cương, lên đàng Trách em sao vội lấy chồng bỏ anh
thượng lộ – Phụ mẫu sinh phụ mẫu xử định
Trời hỡi trời, duyên nợ về đâu? Em đâu dám tư tình cãi lịnh mẹ cha
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 82) (VHDG An Giang – tr. 196)
78. Khăn xéo vuông để luôn bốn chữ 238. Em đi qua cầu, qua trăm cái nhịp
Đây duyên nam, đây nợ nữ, bốn chữ để đời Em đi không kịp kêu bớ anh ơi!
Đó xa đây tại bởi ông trời Nghĩa tào khang sao anh đành vội dứt?
Đây xa đó tại lời cô với bác Đêm em nằm ấm ức, ngày lệ úa tuôn rơi.
Trên mưa sa lác đác Bấy lâu nay em mang tiếng chịu lời
Dưới hột cát nhỏ nằm nghiêng Xa nhau bởi tại ông trời biểu xa.
Rượu thuyền quyên rót đãi bạn hiền (VHDG Bến Tre – tr. 326, 327)
Kiếp này không gặp thề nguyền kiếp sau. 239. Ai về nhắn với ông câu
(VHDG An Giang – tr. 154) Cá ăn thì giật để lâu hết mồi
79. Trời sao bẻ lá không đồng Ai lên nhắn với ông trời
Kẻ hai ba vợ còn người không có gì. Yêu như sam sao nỡ rời tác xa?
Trời mưa ướt bụi, ướt bờ (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.107)
Ướt cây, ướt lá, ai ngờ ướt em. 240. Bần gie con diệc đậu chờ mồi
(VHDG Bến Tre – tr. 393) Thương em đứt ruột tại ông trời ngó lơ
80. Em than một tiếng, trời đất xoay vần, (VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 178)
Chim trên rừng còn rơi lụy, anh là người trần 241. Anh nghiêng tai dưới gió,
Sao anh lại không thương? Cho thiếp kể công khó anh nghe.
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 397) Từ ngày anh đau ban cua lưỡi trắng,
81. Trách ông Tơ, bà Nguyệt chẳng xe, Miếng đắng, cơm ôi,
Một mình ngồi lén bụi tre khóc ròng Cõng em bồng đứng, đỡ ngồi,
Trời sao trời ở không công, Bây giờ anh ở bạc ông trời nào để anh.
Riêng tôi như chỉ lộn vòng rối ren. (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 336)
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 467, 468)
PL52
82. Trách trời phân rẽ tóc tơ, 242. Nghiêng tai dưới gió
Kẻ thác âm phủ, người chờ dương gian! Em kể công khó cho chàng nghe
Chiều chiều ra mộ khóc than, Kể từ ngày anh đau ban cua lưỡi trắng
Cảm thương bậu phải cơ hàn nắng mưa. Miệng đắng cơm hôi
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 468) Cha mẹ không cho em vô
83. Ngày hôm nay anh cùng bậu lao đao, Em cũng ráng vô để bế đứng bồng ngồi
Cũng bởi trời sở định dạ nào phiền anh. Bây giờ anh ở bạc, ông trời nào để anh.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 146) (VHDG An Giang – tr. 184)
84. Bần de con đom đóm đậu sáng ngời 243. Anh lại đây nghiêng tai với gió mà
Lỡ duyên cam chịu trách trời sao nên nghe em kể khó đôi lời
Trách trời sao vội mưa giông Hồi nào anh đau ban cua lưỡi trắng
Trách sao em vội lấy chồng xứ xa. Cá chê đắng, cơm chê hôi
(VHDG Sóc Trăng – tr. 654) Em đâu có tiếc công đỡ đứng vịn ngồi
85. Chim đâu chim bay về tổ Bây giờ anh ở bạc, ông trời nào để anh.
Nước đâu nước đổ về nguồn (VHDG An Giang – tr. 123)
Em không thương lòng dạ anh buồn 244. Anh đừng tưởng vàng nọ là thau
Ông trời vần vũ, bốn cửa nguồn đều mưa Thuyền quyên đúng mực lễ nào
Gặp mặt anh đây con bóng đương trưa Ham giàu phụ khó trời cao phạt hành
Trách ông trời sao vội tối mà chưa phân hết lời. (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 215)
(VHDG Sóc Trăng – tr. 636) 245. Phụ mẫu đánh con ba, bốn roi quằn
86. Trời ôi ông chẳng xét xem, quại kêu réo tại cửa thành
Hai đứa tôi mới gặp ông không đem cho gần Phụ mẫu biển con từ người nghĩa mà dạ sao
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 135) đánh ông trời ơi!
86. Nghĩ nhơn duyên quá bở, căn nợ quá rời (VHDG An Giang – tr. 191)
Đau lòng tôi lắm bớ ông trời 246. Ai bỏ cha mẹ cơ hàn
Ông xui chi gặp gỡ chẳng trọn đời với nhau Ngày sau trời phạt mò đàng ăn xin.
(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 224) (VHDG An Giang – tr. 236)
87. Dầu mà trời đất phân chia 247. Thùng thùng cắc cắc lửa cháy thành than
Đôi ta như khóa với chìa đừng rơi Vắng nhau một bữa ruột gan rã rời
Xa mình thở chẳng ra hơi Dậm chân xuống đất kêu trời
Chồng Nam, vợ Bắc, trời ơi là trời! Người thương còn đó trao lời khó trao.
(VHDG An Giang – tr. 254) (VHDG An Giang – tr. 227)
PL53
88. Cuốn sách Minh Tâm, 248. Bần gie đóm đậu sáng ngời,
Tay em cầm anh đọc. Lỡ duyên tại bậu, trách trời sao nên.
Thiện ác dáo dầu chung hữu báo, (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 342)
Cao phi viễn tẩu giả nam tàng. 249. Cây bần de đom đóm đậu sáng ngời
Hồi nào anh lấy em, Lỡ duyên tại bậu, oán trời sao nên.
Nay đem dạ điếm đàng, (VHDG Bạc Liêu – tr. 830)
Anh ơi! 250. Bần gie con đom đóm đậu sáng ngời
Trời cao có mắt, Lỡ duyên tại bậu oán trời sao nên?
Ông trời nào để anh. Bần gie bần liệt, con diệc nó đậu bờ kênh
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 298) Lột khăn quăng nón day mặt lại cho anh nhìn
89. Dậm chân, dậm cẳng kêu trời Phải duyên anh kết, phải người tình anh thương.
Cùng người một xóm kẻ mời người không. (VHDG An Giang – tr. 79)
(VHDG Bến Tre – tr. 464) 251. Đèn treo trước gió bốc cháy sáng ngời
90. Cóc kêu còn động lòng trời, Ưng không tự bụng trời nào ép duyên.
Huống chi em bậu trao lời thiệt hơn. (VHDG Bến Tre – tr. 311)
(VHDG Bến Tre – tr. 284) 252. Em có chồng trước mắc vòng lao khổ,
91. Bước ra cửa ngỏ thấy vợ lớn đánh vợ nhỏ Anh có vợ sau đặng chỗ thảnh thơi,
Cắn cỏ kêu trời, Trời đất ơi! Ngày sau em đừng than đất than trời,
Xuất giá tòng phu, nhất phu mà lưỡng phụ ở Trước kia anh có nói mấy lời với em.
đời được đâu (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 394, 395)
Bước lên xe lửa mở cửa chín tầng mây 253. Bần gie đom đóm đậu sáng ngời
Mần thơ gửi vợ xin đừng nhớ thương. Lỡ duyên tại bậu trách trời sao nên.
(VHDG Bạc Liêu – tr. 880) (VHDG An Giang – tr. 83)
92. Con lành cha đặng hưởng xuân 254. Chữ lương duyên thiên số hỏi tại trời
Sanh ra con dữ, dậm chân kêu trời. Mẹ cha tùng bởi, ý thời của con
(VHDG An Giang – tr. 249) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 165)
93. Thùng thùng, cắc cắc lửa cháy thành than, 255. Lạy trời cho gió cả nồm
Vắng nhau một bữa ruột gan rã rời. Cho cha tôi chết tôi ôm gia tài.
Dậm chân xuống đất kêu trời, (VHDG Bạc Liêu – tr. 888)
Người thương còn đó, trao lời khó trao. 256. Lạy trời đừng gió đừng mưa
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 461) Êm êm dịu dịu cho vừa lòng em.
(VHDG Bến Tre – tr. 344)
PL54
94. Bần de đóm đậu sáng ngời 257. Anh về, em chẳng biết lấy chi đưa,
Lỡ duyên chịu vậy trách trời làm chi. Vái trời đừng nắng, đừng mưa cho anh về.
(VHDG Bến Tre – tr. 275) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 330)
95. Chàng đi thì thiếp xin đưa 258. Vái trời giọt nước xoay vần
Cầu cho trời nắng, đừng mưa, trơn đường. Ngãi nhân xoay lại cho gần với nhau.
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 360) (VHDG Bạc Liêu – tr. 877)
96. Em như hoa gạo trên cành 259. Vái trời cưới được cô Năm,
Anh như là đám cỏ may ven đường Làm chay bảy ngọ, mười lăm ông thầy.
Lạy trời cho gió cả sương (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 473)
Em như hoa gạo rụng xuống chịu lòn cỏ may. 260. Vái trời cho đặng vuông tròn,
(VHDG Bạc Liêu – tr. 846) Trăm năm giữ vẹn lòng son cùng chàng.
97. Thân em như cái chuông vàng (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 474)
Ở trong thành nội có vài lính canh 261. Vái trời cho đặng vuông tròn,
Thân em như cái sạp vàng Trăm năm giữa vẹn lòng son cùng chàng.
Anh như chiếu rách bên đàng bỏ quên (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 413)
Lạy trời cho gió thổi lên 262.Vái trời giúp gió vừa dươn
Cho manh chiếu rách bay lên sạp vàng. Hai đứa mình sum hợp nhờ ơn ông Trời
(VHDG Bạc Liêu – tr. 867) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 132)
98. Thân em như thể đóa sen 263. Anh xa em chưa đầy một tháng
Anh như bèo bọt chẳng chen được vào Nước mắt lai láng, hai tám đêm ngày
Lạy trời cho đổ mưa rào Bao giờ cạn lạch Thầy Cai
Cho sen lắng xuống cho bèo lên trên. Nát chùa Phước Hậu em mới sai lời nguyền
(VHDG Bạc Liêu – tr. 868) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.76)
99. Lạy trời trời thổi gió đông, 264. Lên non khấn vái Phật trời
Cho chúa tàu lại, cho chồng tôi sang Cầu mong cha mẹ sống đời với con
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 100) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.143)
100. Em về xin để anh đưa 265. Nghĩ sao mà lụy tuôn rơi
Vái ông trời nắng, đừng mưa trơn đường Thắp nhang mà vái ông Trời định phân
Em về để quạt lại đây (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 100)
Mở ra xếp lại để khuây cơn buồn. 266. Bao giờ cạn lạch Đồng Nai
(VHDG Bến Tre – tr. 327) Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 130)
PL55
101. Tay bưng chén thuốc miệng em vái trời
267. Thương thay thân phận con rùa Lên đình đội hạc, xuống chùa đội bia Cho anh khỏi bệnh sống trọn đời với em.
(VHDG An Giang – tr. 272) Thân em khuya sớm đi về Một thân chiếc bóng trăm bề cô đơn 102. Vái trời khoan nắng khoan mưa, (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.105) Đôi đứa tôi gặp còn ngừa nhau đây 268. Đèn trong chùa hết dầu đèn tắt (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 135)
103. Vái cùng trời tôi cúng một heo, Nhang ông Bắc hết nhị hết thơm Anh thương em đừng lai vãng đêm hôm
Thế gian đàm tiếu dẫu gần cũng xa. Xui cho nàng phải đi theo về nhà
(VHDG An Giang – tr. 127) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 159)
104. Chùa Tiên Châu dưới cây xanh 269. Bên đây sông lập cái chùa Tây Thiên Bên kia sông lập cái huyện Hà Đông Ngôi chùa cổ kính gần thành Vĩnh Long
Ngày xưa tiên xuống tắm sông Quan công xử kiện, chùa Tây Thiên nhiều kẻ tu hành
Ngày nay nhà cửa, ruộng vườn sum suê
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.59) Cả tiếng kêu này hỡi con bạn lành Sao anh không bỏ bạn mà bạn đành bỏ anh.
(VHDG An Giang – tr. 82) 105. Tay bưng dĩa bánh đi chùa
270. Anh có thương em thì thương cho trót Đốt nhang lạy Phật xin bùa làm duyên
Đừng mê bóng sắc bỏ sót bạn tình (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.136)
Chừng nào cầu ván hết đinh 106. Nấu chè van vái Phật Bà,
Mái chùa hết ngói chúng mình mới xa. Muốn cho chung hiệp một nhà phụng loan.
(VHDG Bến Tre – tr. 261) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 328)
271. Sống làm chi loan phụng lẻ đôi 107. Ba cô đi cúng chùa ngoài,
Dứt xong trần thế cho rồi, Cúng cam, cúng quýt, cúng xoài cà lăm.
Bớ anh ôi! Nhứt gia chẳng đặng trọn đời đi tu (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 474)
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 194) 108. Năm cô đội nếp lên chùa
272. Vô Chùa thấy Phật muốn tu Thương sư không được, bỏ bùa cho sư
Về nhà thấy mẹ đi tu không đành (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.71)
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.129) 109. Tay bưng quả mít vô chùa
273. Thứ nhất là tu tại gia Đốt nhang lạy phật, xin bùa em đeo.
Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa (VHDG An Giang – tr. 219)
Thứ tư xin một lá bùa 110. Tay bưng quả nếp vô chùa
Xếp vào đãi phái, đợi mùa mới tu! Đốt nhang lạy phật, xin bùa em đeo.
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.129) (TLST KS Ca dao Bến Tre)
PL56
111. Ngó lên hòn núi Điện Bà 274. Tu cầu gia đạo vuông tròn
Đạo chồng ngãi vợ do hà biệt ly Chồng hòa vợ thuận, cháu con thảo hiền
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 84) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.135)
112. Tay bưng quả bánh vô chùa 275. Chổi thưa quét sạch chùa vàng
Đốt nhang lạy phật xin bùa em đeo. Sửa sang Phật lại cho nàng đi tu
Tay cắt tay sao nỡ Đó đi tu thì mình ở sãi
Mà ruột cắt ruột sao đành Ăn một dĩa tương chùa trọn ngãi với em.
Lời thề biển cạn non xanh (VHDG An Giang – tr. 118) Sao anh đen bạc nỡ đành phụ em. 276. Cha già như phật Thích Ca (VHDG Bến Tre – tr. 395) Mẹ già như thể phật bà Quan Âm. 113. Đèn cầu tàu cái xanh cái đỏ (VHDG An Giang – tr. 242) Đèn Cây Gõ cái tỏ cái lu 277. Ai ơi cứ ở cho lành Nước ròng bỏ trái mù u, Tu nhân tích đức để dành về sau. Lỡ duyên cạo trọc đi tu chùa Bà (VHDG An Giang – tr. 275) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 252)
278. Chuối chát măng chua bốn mùa anh chịu khổ 114. Ngó lên am tự chùa vàng,
Em muốn tu hành anh chỉ chỗ em tu. Tu thời đặng đó bỏ nàng ai nuôi?
(VHDG An Giang – tr. 120) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 330)
279. Đó đi tu, đây xin ở sãi 115. Muốn đi tu công phu chưa có
Ăn dĩa tương chùa trọn ngãi cùng nhau. Muốn lên chùa chuông mõ cũng không.
(VHDG Bến Tre – tr. 311) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 496)
280. Tu đâu cho tớ theo cùng 116. Ở dưới sông sóng vận cát đùa,
Mai sau thành Phật ngồi chung một bàn Gá duyên không đặng, vô chùa em tu.
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.139) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 352)
281. Tu đâu cho tớ theo cùng 117. Dốc lòng tìm chốn tiền đình
Mai sau thành Phật ngồi chung một bàn Ẩn vương nương Phật lánh mình đi tu
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.139) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 84)
282. Ra đi gặp vịt thì lùa 118. Tai nghe chuông mõ vang dầy,
Gặp gái cũng chọc, gặp chùa cũng tu Ghé vô am tự nghe thầy giảng kinh
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.147) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 89)
283. Ra đi gặp vịt thì lùa 119. Đã đành cắt tóc đi tu,
Gặp duyên thì kết, gặp chùa thì tu. Một ngày cửa Phật mười thu cõi trần
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 360) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 118)
PL57
120. – Nếu mà không cưới được em 284. Chuối chát măng chua bốn mùa chịu khổ
Anh về đóng cửa cài rèm đi tu Em muốn tu hành anh chỉ chỗ em tu,
– Tu đâu cho em tu cùng Kìa kia hai vị phật sanh
May ra thành phật thờ chung một chùa. Cha già, mẹ yếu sao em đành đi tu
(VHDG Bến Tre – tr. 363) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 460)
121. Tu đâu cho bằng tu nhà 285. Đèn cầu tàu cái xanh cái đỏ
Thờ cha kính mẹ hơn là đi tu Đèn Cây Gõ cái tỏ cái lu
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.139) Nước ròng bỏ trái mù u,
122. Ngó lên mây trắng trời hồng, Lỡ duyên cạo trọc đi tu chùa Bà
Trai chưa có vợ ghẹo gái có chồng đặng không? (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 252)
Ông Phật đồng ổng nói rằng không, 286. Phụng hoàng đua, se sẻ cũng đua,
Trai chưa có vợ chọc gái có chồng mang gông. Dạo chơi trước miễu sau chùa,
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 332) Dụng người buôn bán quê mùa thiếu chi.
123. Nghiêng tai hỏi nhỏ Phật đồng (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 358)
Trai tơ lấy gái có chồng đặng không 287. Bên đây cái đình Cá Cỏ
Phật đồng mới trả lời không Bên kia cái cửa ngõ thằng cai
Trai tơ thì lấy gái tơ Thấy nhà cô Hai cửa đóng then cài
Mắc chi mày phải đi quơ đàn bà. Biết làm sao đặng, anh đứng ngoài ngó vô.
(VHDG An Giang – tr. 187) (VHDG An Giang – tr. 85)
124. Rủ nhau bắt ốc hái rau 288. Con gà trống đứng trên bàn thờ tổ,
Lên non tìm bạn, vô chùa nghe kinh. Con gà mái đứng dưới bàn binh.
(VHDG Bến Tre – tr. 248) Bên kia cái miễu, bên đây cái đình,
125. Xuống sông xuống biển bắt cua Gá duyên chẳng đặng, tức mình đi tu.
Lên non bắt nhạn, vô chùa khai kinh. (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 372)
(VHDG An Giang – tr. 289) 289. Con gà trống cộ
126. Rủ nhau xuống biển bắt cua Nằm dự bàn binh
Lên non bắt nhạn lên chùa nghe kinh Anh thề với em
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 70) Bên kia là miễu
127. Thân em buôn bán tảo tần Bên này là đình
Lòng anh sao nỡ từ trần xuất gia Đình kia miếu nọ cho linh
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 118) Đừng cho bạn cũ tư tình với ai.
(VHDG An Giang – tr. 90, 91)
PL58
128. Tai nghe chuông mõ vang dầy 290. Chừng nào hạc đáo về đình
Ghé vô am tự nghe thầy giảng kinh Hạc xa hương án hai đứa mình cùng xa.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 89) (VHDG Bến Tre – tr. 299)
129. Nào khi tôm luộc, mướp bào 291. Vô đình để nón sau đình,
Anh ăn anh phụ trời nào để anh Họ thì đủ cặp, tôi với mình cũng đủ đôi.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 67) (VHDG Bến Tre – tr. 412)
130. Đã đành cắt tóc đi tu 292. Vô đình lột nón xá đình
Một ngày cửa Phật mười thu cõi trần Hạt chầu thần đủ cặp mà sao hai đứa mình
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 118) lẻ đôi.
131. Ai về chợ Thủ, Long Điền (VHDG Bến Tre – tr. 413)
Ghé đền Quan Thánh, thăm chùa Bửu Linh 292. Chừng nào cho mõ xa đình
Xa xa thấp thoáng mái đình Đỉa đeo chân hạc hai đứa mình mới xa.
Điệu hò, câu lý quê mình đẹp sao! (VHDG Bạc Liêu – tr. 833)
(VHDG An Giang – tr. 34) 293. Tôi vái ông tơ năm ba chầu hát
132. Ai về Châu Đốc, An Giang Tôi cầu nguyện lão năm bảy đêm kinh
Nhớ viếng núi Cấm, Thất Sơn quê mình Cho em cùng anh đây gá nghĩa chung tình
Danh lam thắng cảnh hữu tình Dù ăn cơm quán ngủ đình em cũng cam.
Đình chùa, di tích, hiển linh, diệu huyền (VHDG Bạc Liêu – tr. 875)
Địa linh, nhân kiệt, thánh tiên 294. Tôi vái ông Tơ năm ba nải chuối
Dâu ngoan, rể thảo, tôi hiền trung can Tôi vái bà Nguyệt năm bảy thẻ đường
Quê tôi Châu Đốc, An Giang. Cho hai đứa tôi gá nghĩa can thường
(VHDG An Giang – tr. 36) Dầu ăn cơm quán, ngủ đình tôi cũng ưng
133. Nhìn chiếc lá xanh cây đa cửa hữu (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.78)
Anh tìm dấu vết một cửa thành xưa 295. Thấy bảy cô đi giăng giăng lòng tôi
Ông cha xây lũy đắp bờ thương cô chính giữa
Máu xương đã đổ đến bây giờ đẹp tươi Nhưng sợ sáu cô kia phiền
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.58) Phải chi tôi có lúa thiên
134. Cây da trốc gốc, cái miễu còn ngồi Cưới đặng một lần cho hết bảy cô.
Người thương đau mất, chỗ ngồi còn đây Cô Một mua tảo bán tần
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 208) Cô Hai sắc thuốc dưỡng thân
Cô Ba dọn dẹp cửa nhà
Cô Bốn trà nước cho cha mẹ dùng
PL59
135. Nước trong thấy đá, con cá lội thấy hình Cô Năm trải chiếu giăng mùng
Thân em như tấm trấn treo đình Cô Sáu thì sẽ nằm chung với mình
Không nơi nương tựa một mình bơ vơ. Phải chi cô Bảy thuận tình
(VHDG An Giang – tr. 177) Dù ăn cơm quán ngủ đình tôi cũng ưng.
136. Bị rách mà lại có vàng (VHDG Bến Tre – tr. 385, 386)
Tuy ràng miếu đổ, thần hoàng còn thiêng. 296. Ngọc sa xuống giếng thủy tinh
(VHDG Bến Tre – tr. 456) Anh với em kết nghĩa chung tình
137. Không thiêng ai bảo rằng thần Dẫu ăn cơm quán ngủ đình em cũng ưng.
Đường ngang ngõ tắt chẳng gần ai đi? (VHDG An Giang – tr. 186)
(VHDG An Giang – tr. 286) 297. Cây đa bến đá
138. Miễu linh chẳng dám đứng gần, Rụng lá trước sân đình
Đứng xa mà vái thánh thần cũng linh. Nhớ lời thệ hải minh sơn
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 494) Cây đa còn đó hai đứa mình còn thương.
139. Chẳng thiêng ai gọi là thần (VHDG Bến Tre – tr. 294)
Lối ngang đường dọc chẳng gần ai đi. 298. Lá đa rụng xuống bên đình,
(VHDG Bến Tre – tr. 461) Bà ngoại sanh má, má sanh mình dễ thương.
140. Đi ngang qua đình lột nón xá thần, (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 417)
Thấy hạc chầu đủ cặp, sao mình lẻ đôi 299. – Anh thương em thì thương cho trót
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 262) Đừng mê bóng sáo bỏ sót bạn tình
141. Hạc chầu thần trước của đình, – Chừng nào cầu ván hết đinh
Anh với em chồng vợ như đá gập ghềnh Mái đình hết ngói hai đứa mình xa nhau.
chưa chêm. (VHDG An Giang – tr. 71)
Đá gập ghềnh ai vịn em chêm, 300. Lá đa rụng trước sân đình
Anh với em còn nhỏ lấy lời êm ở đời Người ta không nghĩ tới mình thì thôi.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 292) (VHDG An Giang – tr. 158)
142. Hạc chầu thần, hạc đứng uy nghi 301. Trăng thanh nguyệt rạng mái đình
Sầu anh tôi đứng dựa ghế nghi khóc ròng. Chén son chưa cạn sao tình đã quên.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 292) (VHDG An Giang – tr. 227)
143. Bao giờ cho mõ xa đình 302. Cây da trước miễu ai bảo cây da tàn
Hạc xa hương án chung tình mới xa Bao nhiêu lá rụng thương nàng bấy nhiêu.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 41) (VHDG Bạc Liêu – tr. 830)
PL60
144. Cầu bà nguyệt năm bảy cuốn kinh 303. Hỡi người gánh nước giếng đình
Cho đôi ta gá nghĩa chung tình Còn không hay đã trao tình cho ai.
Dầu ăn cơm quán ngủ đình cũng ưng. (VHDG Bến Tre – tr. 338)
(VHDG Bến Tre – tr. 293) 304. Con quạ nó đứng cột đình
145. Ngó lên Rạch Chiếc Nó kêu bác me cho mình lấy ta.
Ngó xuống Tân Dinh (VHDG An Giang – tr. 113)
Sông cách sông, xóm cách xóm, đình cách đình 305. Thân em con nhạn một mình
Hỏi ai là người nghĩa có vẹn tình thủy chung? Ngày kiếm ăn ngoài ruộng, tối đậu mé đình
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.74) kêu sương.
146. Trách ông tơ sao ngủ hoài ngủ kĩ (VHDG Bến Tre – tr. 382)
Này bà nguyệt lão ơi se mối chỉ lộn vòng 306. Thằn lằn chắt lưỡi mé đình
Xin ông tháo ra mà se lại Em quay mặt lại anh nhìn kẻo quên.
Để chốn loan phòng kẻ đợi người trông (VHDG Bến Tre – tr. 381)
Tôi thỉnh ông tơ năm ba chầu hát 307. Trăng thanh vượt rạng mái đình
Tôi thỉnh bà nguyệt lão năm bảy cuốn kinh Chén trà chưa cạn sao tình đã quên.
Làm sao cho đôi lứa hợp tình (VHDG Bến Tre – tr. 392)
Dầu ăn cơm quán mà ngủ đình cũng vui. 308. Ở trên Châu Đốc ngó xuống Vàm Nao
(VHDG Bến Tre – tr. 405) Thấy con cá đao nó nhảy nhào vô lưới
147 Miễu linh đá rách còn thờ Anh ngồi anh chắc lưỡi
Phải dươn xa cách, cũng chờ ngãi xưa Không biết chừng nào mới cưới đặng em.
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 242) Ơi người gánh nước giếng đình
148. Anh than một tiếng sập miếu xiêu đình Còn không hay đã trao tình cho ai.
Nước ngoài sông cứ chảy, mà lục bình cứ trôi. (VHDG An Giang – tr. 188, 189)
(VHDG Bến Tre – tr. 256) 309. Ở cho phải phải phân phân
149. Anh than một tiếng nát miễu xiêu đình, Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa
Cây huệ kia đang xanh lại héo, cá ở ao (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 70)
quỳnh vội xếp vi. 310. Ngày nào anh đứng trước miễu đình
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 168) Đem lời thề thốt nay sinh đổi đời
150. Miếu thần gà gáy tiếng đôi, (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 131)
Trông bậu, trông đứng trông ngồi 311. Vĩnh Long có cặp rồng vàng,
Trông người có nghĩa bồi hồi lá gan Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Công Thần.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 322) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 320)
PL61
151. Tới đây dầu đói giả no 312. Gò Công anh dũng tuyệt vời
Dầu khôn giả dại đặng dò ý em. Ông Trương, Đám Lá Tối Trời đánh Tây
Tới đây trước miếu ông thần linh (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 140)
Cột đứng tre đòn tay sắt 313. Mạnh lệ quân anh thư tuấn kiệt
Đôi ta xung khắc Gái nước Việt chẳng kém tài trai
(VHDG Bạc Liêu – tr. 875) Gương bà Châu Thị hiền tài
152. Đốt nhang lên miếu cầu chồng Giúp chồng nên việc tiếng đời ngàn năm
Nghe ông thần nói: đàn ông hết rồi! (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.42)
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 389) 314. Đi qua Thiện Mỹ mới nghĩ chuyện
153. Hồi hôm tôi có lại đình, cúng đình
Ông thần ổng biểu hai đứa mình kết đôi. Ghé viếng cụ Điều Bát, vái cha mẹ mình
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 410) sống lâu.
154. Tôi với mình thề trước miếu Ông, (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.45)
Sống nằm một chiếu, thác chung một hòm. 315. Lịch thay cuộc địa Trà Ôn
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 466) Miếu ông Điều Bát lưu tồn đến nay
155. Đình Tân Giai mấy trăm năm (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.46)
Có từ triều đại Gia Long đến giờ 316. Ai về Đồng Tháp mà coi
Ngày xưa dân biết kính thờ Mộ ông Thiên Hộ trăng soi lạnh lùng
Những người xây dựng cơ đồ bình yên Bà con đùm đậu quanh vùng
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.60) Tháng giêng ngày giỗ xin đừng ai quên
156. Hà Nội có đền Văn Thánh (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 127)
Vĩnh Long có miếu Thánh Văn 317. Tết về nhớ viếng Trà Ôn
Một thời văn hóa mở đường Tháng giêng mồng bốn giỗ ông Ngọc Hầu
Truyền thống còn đó chớ xem thường ai ơi! (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.46)
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.58) 318. Dù ai ăn đâu, làm đâu,
157. Bồng bồng mà nấu canh tôm Có dòng có dõi cùa lao Trâu nhớ về
Ăn vào mát ruột đến gan lại bồng. (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 136)
Cá đâu nhiều bằng cá U Minh 319. Đồng Nai có bốn rồng vàng,
Thần nào linh bằng thần Trần Quang Diệu. Lộc: họa, Lễ: phú, Sang: đàn, Nghĩa: thi.
(VHDG Bạc Liêu – tr. 810) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 138)
PL62
158. Lịch thay địa phận Trà Ôn, 320. Con gà trống cồ nhảy lên bàn tổ
Miếu ông Điều Bát lưu tồn đến nay. Con gà mái ổ nhảy lên bàn binh
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 318) Bên kia cái miễu, bên đây cái đình
159. Đi ngang qua đỉnh núi Sam Đình đình, miễu miễu, sao chẳng có linh?
Thấy lăng ông Thoại hai hàng lụy rơi Làm cho cô Hai nọ thất tình
Ông người vì nước vì đời Cổ về xứ cổ bỏ bạn mình bơ vơ.
Hy sinh tài sản đổi dời nước non. (VHDG An Giang – tr. 117)
Kinh Vĩnh Tế, biển Hà Tiên 321. Gió đưa ông Đội về dinh Thuyền về xuôi ngược thông thiên hai miền. Bà Đội tan đình xách nón về theo. (VHDG An Giang – tr. 47) (VHDG Bạc Liêu – tr. 899) 160. Nước kinh Vĩnh Tế lờ đờ 322. Em như phụng hoàng chấp cánh nóc đình Nhớ ông Bảo Hộ cặm cờ chiêu an. Anh như rồng lộn uốn mình sánh đôi (VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 174) Anh ơi, phụng với rồng cũng đồng nhan sắc 161. Đồng An Trường chó ngáp Em đâu ngờ phụng bắc rồng nam. Làng Quới Thiện trồng lác bốn mùa
(TLST KS Ca dao Bến Tre) Nhớ ông Bảo Hộ ngày xưa
323. Nước kinh Vĩnh Tế lờ đờ Dựng làng mở cõi nắng mưa dãi dầu.
Nhớ ông Bảo Hộ cặm cờ chiêu an. (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.48)
(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 174) 162. Giồng Thanh Bạch tự ngày xưa
324. Ngó lên Doi Lửa thấy cửa sông dài Có lăng Ông Lớn dựng bia lưu truyền
Nhớ công ông Thống Suất đuổi đặng loài (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.46)
man di. 163. Năm nay lúa chín đầy đồng
(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 183) Trà Ôn mở hội lăng Ông tưng bừng
325. Tôi trồng cây chuối ngược phía trước (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.52)
miễu ông Tà 164. Miếu Công Thần thắp nén nhang
Ung ngai đất nước ông bà Nhớ ơn ai đã khai hoang đất này
Kẻ gian phải tiệt đứa tà cũng tiêu Nhớ người mở cõi miền Tây
(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 186) Hy sinh xương máu, có ngày vinh quang
326. Rủ nhau lên miễu mà thề (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.60)
Bỏ quên hương khói lộn về tay không 165. Ông Chang, ông Cống, ông Tường
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 84) Đào kinh, mở ruộng, đắp đường dân đi
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.51)
PL63
166. Anh đau tận tử, em vái tận tình, 327. Bần gie đóm đậu sáng ngời
Vái cho anh mạnh mở đình cúng heo. Rạch Gầm soi dấu muôn đời oai linh.
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 476) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 130)
167 – Anh đau tương tư tận từ 328. Cái nợ nhảy lên bàn tổ nhảy xuống bàn binh
Bên kia cái miễu bên đây cái đình Em vái câu chữ tận tình
Đình đình miễu miễu chẳng linh Vái cho anh hết, vô đình em cũng theo
Làm cho con vợ bỏ mình theo trai. Vái rồi trở lại xin keo
(VHDG An Giang – tr. 117) Vái cho anh hết em mần heo ăn mừng.
329. Chim bay về núi Điện Bà (VHDG An Giang – tr. 63)
168. Anh đau em vái tận tình, Phân chồng rẽ vợ ai mà chẳng thương
Vái cho anh mạnh, mở cửa đình cúng heo. (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 430)
Em vái rồi, anh cũng vọt miệng nói theo, 330. Biên Hòa có bưởi Thanh Trà
Đau nam vái bắc, biết mấy heo bịnh chày. Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 159) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 131) 169. Mình vái rồi tôi lại vái theo, 331. Tây Ninh có núi Điện Bà Vái cho mình mạnh mấy heo chẳng cần. Có sông Vàm Cỏ, có tòa Cao Sơn. Phải chi năm ngoái thì gần, (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 149) Năm nay vái miễu cúng thần cũng xa. 332. Ngó lên trên núi Điện Bà, (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 368) Đôi ta mới ngộ, do hà biệt ly? 170. Chiều chiều gió giục mây vần (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 333) Cảm thương ông Thiên Hộ xả thân cứu đời 333. Tây Ninh danh thắng núi Bà (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 134) Uy linh trời tạc một tòa nên thơ 171. Ai về Châu Đốc núi Sam (Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường – tr. 3) Viếng bà chúa Xứ, thăm ông Ngọc Hầu. 334. Hỡi cô em gái đô thành (VHDG An Giang – tr. 33) Có đi viếng núi quê anh thì về 172. Gió mát, gió mát cùng lợi trăng thanh Núi Bà cây phủ mây che Trăng thanh (mà) gió mát là đến đây con Em đến em về đừng lạc lối nghe em thỉnh bà.
(Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường – tr. 3) Di Đà Di Lặc con thỉnh vào
335. Em giã bàng đương đệm cho siêng Phật thầy tình trong mà Phật tổ con thỉnh
Để anh lên núi cầu duyên chúng mình vào miếu chung.
Giọng con mời thái thượng thời lão bằng (Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường – tr. 3)
Quân.
Thời ngài độc ác thời ngài bình an
PL64
Cái trời nằm giữa trời 336. Đèn chong hương đốt
Giữa trời có cặp đèn thần Con thỉnh ông
Cung nương mà mỹ nữ là hai bên chầu bà Nghe ba tiếng trống lệnh
Bà về cuồn cuộn sao giăng Là đâu đâu ông cũng bước về
Lụa vàng lụa đỏ mà giăng ngang giữa trời Kể từ ngày hội bàn đào Chủ gia bổn hộ mới sắm lễ vật Đào viên (mà) thời kết nghĩa ông nào chớ Trên chay dưới mặn là dâng lên cho bà quên Bà về chứng lễ hôm nay Ông ơi! Tài lý hùng anh, tà ma khiếp sợ Ngày lành tháng tốt con đây chầu mời Nước nào cũng nghe danh Bà về phò hộ trông gia, vợ chồng hòa thuận, Kể từ ngày ông thất thủ ở Hạ Bì Cháu con đặng lành Ngày phò nhị tẩu là ngày mới sang qua Tàu Lệnh bà ơi! Bà đi cung bảy cung ba
Đến Dương Châu con đi đầu khẩn nguyện Bà về cung chín mà bước qua cung mười
Con vái hồn ngài chứng kiến hôm nay Bà còn ở chốn non cao
Lễ này an tạ cùng ngài Nay con vọng thỉnh bà mau mau về
Bước về chứng lễ mâm vàng Ngài về phò hộ trong gia đình, trong gia đạo
Mâm vàng tam cấp quá cao. làm ăn cho thuận hòa
(CÚNG BÀ CHÚA XỨ) Có lúa có tiền làm ăn dư để
(VHDG Sóc Trăng – tr. – 596) Nhà cửa cất ngói xê xang
173. Lạy bà chứng kiến dùm con Sống lâu trăm tuổi làm ăn đủ đầy.
Cho con cúng bát huê cho bà (CÚNG ÔNG QUAN CÔNG THÁNH ĐẾ)
Từ ngày con xuống trần gian (VHDG Sóc Trăng – tr. – 595, 596)
Luôn lo cúng tế mà cầu an cho lệnh bà 337. Sông sâu sống bổ lang cò,
Lễ này an tạ cho bà Thương anh vì bở câu hò có duyên.
Lạy bà phù hộ gia đình, gia đạo làm an Làm thơ chẳng biết ai đem.
thuận hòa Cậy con chim nhạn nó đem cho mình.
Có lúa có tiền, làm ăn dư để Mình đau tương tư tôi vái cho mình.
Con cháu giàu sang đặng làm quan Vái cho mình mạnh vô đình cúng heo.
Nhà cửa cất ngói xê xang (TLST KS Ca dao Bến Tre)
Sống lâu trăm tuổi làm ăn thuận hòa.
(DÂNG BÔNG)
(VHDG Sóc Trăng – tr. – 595)
Tổng câu: 337 câu
PL65
PHỤ LỤC 4
CA DAO PHẢN ÁNH PHONG TỤC THỜ CÚNG NGƯỜI THÂN TRONG
GIA ĐÌNH
CA DAO – XUẤT XỨ CA DAO – XUẤT XỨ
1. – Anh đi ghe cá cao cờ 56. Ngó lên trời thấy cặp cu đang đá
Ai nuôi cha mẹ, ai thờ tổ tiên Ngó về biển thấy cặp cá đang đua.
– Tổ tiên tôi có người thờ Anh bảo em về lập miếu thờ vua
Tôi đi ghe cá cao cờ tôi chơi. Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.
(VHDG Bến Tre – tr. 254) (VHDG An Giang – tr. 267)
2. Anh đi ghe cá cao cờ 57. Ngó lên trời thấy mây giăng tứ diện,
Ai nuôi cha mẹ, ai thờ tổ tiên Ngó xuống biển thấy chim liệng cá đua.
(Ca dao dân ca Nam kỳ Lục tỉnh – tr. 88) Anh về lập miễu thờ vua,
3. Phụ mẫu anh như phụ mẫu nàng Lập trang thờ mẹ, lên chùa thờ cha.
Mai sau có thác chạm chữ vàng thờ chung. (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 468)
Phải chi em có cánh như chim 58. Ngó lên rừng thấy cặp chim đương đá,
Bay lên đáp xuống đi tìm bạn xa. Ngó ra ngoài biển thấy cặp cá đương đua.
(VHDG An Giang – tr. 191) Anh về lập miếu thờ vua,
4. – Phụ mẫu anh như phụ mẫu nàng, Lập trang chờ mẹ, lập chùa thờ cha
Mai sau có thác, chạm chữ vàng thờ chung. Anh về bán gốc cây đa,
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 469) Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em.
5. – Phụ mẫu bên anh cũng như phụ mẫu (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 439)
bên nàng 59. Nhìn lên trời thấy mây bay cuồn cuộn
Bôi tranh vẽ tượng phết vàng anh thờ chung Nhìn xuống ruộng thấy cặp cá đang đua
(VHDG Bến Tre – tr. 449) Anh về lập miễu thờ vua
6. Công cha ba năm tình thâm lai láng Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha
Nghĩa mẹ đêm dài chín tháng cưu mang (VHDG Bến Tre – tr. 448)
Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn 60. Quyết lòng lập miếu chạm rồng,
Biết lấy chi đền nghĩa khó khăn Đền ơn phụ mẫu ẵm bồng ngày xưa.
Hai đứa mình lên non lấy đá xây lăng phụng thờ. (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 449)
(TLST KS Ca dao Bến Tre) 61. Ngó lên tổ nễ chau mày,
Mảng lo sự khó, quên ngày muối dưa.
(Ca dao dân ca Nam kỳ Lục tỉnh – tr. 48)
PL66
7. Ngó lên nhang tắt đèn mờ, 62. Ngó lên nuột lạt mái nhà
Mẫu thân đâu vắng, bàn thờ lạnh tanh. Bao nhiêu nuột lạt nhớ bà bấy nhiêu
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 467) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.143)
8. Ngó lên nhang tắt đèn lờ 63. Khôn ngoan nhờ đức cha ông
Cha mẹ đâu vắng giường thờ quạnh hiu Làm nên phải nhớ tổ tông phụng thờ
(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh) Đạo làm con chớ hững hờ
9. Thắp nhang cho sáng bàn thờ Phải đem chữ hiếu phụng thờ cho nghiêm.
Kẻo cha mẹ quở không nhờ rể con. Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 470) Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu.
10. Cồng cộc bắt cá dưới sông (VHDG Bạc Liêu – tr. 888)
Mấy đời cháy ngoại giỗ ông bao giờ. 64. Chữ rằng vấn tổ tầm tông,
(VHDG An Giang – tr. 247) Cháu con sao nỡ bỏ, cha ông sao chẳng màng.
11. Cồng cộc bắt cá dưới hào (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 483)
Ông ngoại tôi giàu, tôi giỗ thịt heo. 65. Đạo làm con chớ hững hờ
(VHDG An Giang – tr. 248) Phải đem hiếu kính phụng thờ song thân.
12. Cá sặc muốn bắt dùng lờ (VHDG An Giang – tr. 255)
Mấy đời cháu ngoại mà thờ giỗ ông 66. Phụ mẫu tình thâm
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.142) Phu thê nghĩa trọng,
13. Cồng cộc bắt cá ở bàu Một mai anh có xa em rồi, thờ vọng mẹ cha
Cha mẹ mày giàu, đám giỗ làm trâu (Ca dao dân ca Nam kỳ Lục tỉnh – tr. 58)
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.142) 67. Thương thay chín chữ cù lao,
14. Gà cồ mà ăn tấm nong Tam niên nhũ bộ, biết bao nhiêu tình.
Mấy đời cháu ngoại giỗ ông bao giờ (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 470)
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.131) 68. Thà tôi mặc rách, để cha mẹ mặc lành
15. Anh đi ăn cỗ nhà giàu Công cha mẹ sinh thành mới có con vợ của tôi
Lột lưng bánh ít đem dìa cho em. (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.106)
(VHDG Bến Tre – tr. 261) 69. Công cha ba năm tình thâm lai láng
16. Khó nghèo củi núi rau non Nghĩa mẹ đậm đà chín tháng cưu mang
Nuôi cha nuôi mẹ cho tròn nghĩa con Bên ướt mẹ nằm, bên khô con lăn
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 464) Biết lấy chi đền đáp nghĩa ơn sinh thành
Làm con phải có hiếu, nhớ thâm ân đời đời
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.142)
PL67
17. Lên non mới biết non cao, 70. Ơn cha nặng lắm ai ơi,
Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 465) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 469)
18. Ơn hoài thai như biển, 71. Ru con con ngủ cho hời,
Ngãi dưỡng dục tợ sông, Công cha như núi ngất trời,
Em nguyền ở vậy không chồng. Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông.
Lo nuôi cha mẹ hết lòng đạo con. Núi cao biển rộng mênh mông,
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 469) Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi.
19. Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 470)
Nước có nguồn mới bể cả sông sâu 72. Anh hiếu bao nhiêu gọi là hiếu nghĩa?
Người ta nguồn gốc ở đâu Em hiếu thế nào được gọi Hiếu – Ân?
Gốc từ trên tổ rồi từ sau mới có mình Chớ qua đây Trung Hiếu vẹn toàn
Nguồn gốc ấy đinh ninh luôn nhớ Như sông Cổ Chiên ngày đêm xuôi chảy
Phải lo làm rạng rỡ tông môn chẳng màng lợi danh!
(VHDG Bến Tre – tr. 432) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.144)
20. Cây có gốc mới nở cành xanh lá 73. Công hoài thai như biển,
Nước có nguồn mới bể cả sông sâu Nghĩa dưỡng dục tợ sông.
Người ta nguồn gốc từ đâu Em nguyện ở vậy không chồng,
Có tổ tiên trước rồi sau có mình Dưỡng cha nuôi mẹ, hết lòng làm con.
(VHDG Bến Tre – tr. 421) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 376)
21. Nước trên nguồn đổ xuống, 74. Có cha mẹ mới có ta
Cây dưới cội mọc lên. Mình nên cũng bỏi mẹ cha vun trồng
Ai ơi chữ hiếu lo bền, Đừng nên trọng quá bạc vàng
Trước đền ơn nước, sau đền mẹ cha. Đền bù sao hết muôn vàng công ơn.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 469) (VHDG An Giang – tr. 243)
22. Con người có tổ có tông 75. Làm sao hiệp mặt đôi ta
Cái cây có cội, con sông có nguồn Đặng tôi báo hiếu mẹ cha bên mình
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.52) Không xuống lên mình nói bạc tình
23. Thương thay chín chữ cù lao, Xuống lên phụ mẫu đánh mình thấy không.
Tam niên nhũ bộ, biết bao nhiêu tình. (VHDG Bến Tre – tr. 440)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 470)
PL68
24. Cha mẹ em sanh thành – tạo hóa 76. – Em thấy anh hay chữ em hỏi thử đôi lời
Nhai cơm lừa cá Chớ chữ trung, chữ hiếu, chữ hòa
Nhai cá lừa xương Chữ nào anh thờ mẹ, chữ nào thờ cha
Nghĩa chưa trả ơn chưa đền Chữ nào anh để đặng mà cho em?
Biểu thương anh xa xứ sao đành anh ơi? – Em hỏi chi mà hỏi mắc, hỏi ngặt quá chừng
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.106) Chữ hiếu anh để thờ cha, chữ trung anh thờ
25. Làm con chữ hiếu lo tròn mẹ, chữ hòa cho em.
Đáp ơn cha mẹ để còn tiếng thơm (VHDG An Giang – tr. 135)
(VHDG Bến Tre – tr. 444) 77. Em thấy anh hay chữ em hỏi thử đôi lời
26. Thờ cha mẹ phải hết lòng Chớ chữ trung, chữ hiếu, chữ hòa
Đó là chữ hiếu dạy trong luân thường Chữ nào anh thờ mẹ, chữ nào thờ cha
(VHDG Bến Tre – tr. 451) Chữ nào anh để đặng mà cho em?
27. Thức khuya dậy sớm chuyên cần – Em hỏi chi mà hỏi mắc, hỏi ngặt quá chừng
Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con Chữ hiếu anh để thờ cha, chữ trung anh thờ
(VHDG Bến Tre – tr. 452) mẹ, chữ hòa cho em.
28. Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi, (VHDG An Giang – tr. 135)
Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già. 78. Có cha mẹ mới có ta
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 471) Làm nên là bởi mẹ cha sinh thành
29. Cha già như phật Thích Ca (VHDG Bến Tre – tr. 429)
Mẹ già như thể phật bà Quan Âm. 79. Công cha nghĩa mẹ cao dày
(VHDG An Giang – tr. 242) Cưu mang trứng nước những ngày thơ ngây
30. Con ơi chớ cãi mẹ cha (VHDG Bến Tre – tr. 431)
Vì công sinh dưỡng khó mà đền ơn. 80. Cây khô chưa dễ mọc chồi,
(VHDG An Giang – tr. 244) Mẹ già chưa dễ ở đời với ta.
31. Trời cao lồng lộng (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 459)
Đất rộng thinh thinh 81. Anh ngó vô nhà nhỏ,
Đi ra bỏ mẹ sao đành Thấy có đôi liễn đỏ,
Công cha nghĩa mẹ sinh thành ra em Có bốn chữ vàng,
Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 471) Gia đường chưa biết, thấy nàng vội thương.
32. Đạo mẹ cha mất đà khó kiếm (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 166)
Nghĩa can thường chẳng hiếm chi nơi!
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.151)
PL69
33. Ơi con! Con giữ cho rành 82. Ngó vô nhà nhỏ thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng,
Kính thương cha mẹ sanh thành nghĩa sâu Thạnh suy chưa biết, thấy nàng vội thương.
Vâng lời, chịu lụy làm hầu (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 335)
Những khi đau yếu trực hầu thuốc thang 83. Quốc kêu khắc khoải mùa hè
Mẹ cưu mang chín tháng tròn Làm thân con gái lấy chồng xuất gia
Chịu bề khó ngọc mà nào quản chi Anh cưới thiếp về thờ kính mẹ cha
Thân con một chút không yên Thờ cha kính mẹ cho tròn đạo dâu.
Lo thầy kiếm thuốc thêm sầu tâm can Ánh trăng trải chiếu hai hang
Ru con, con ngủ bước quan san dài Trên anh đọc sách dưới nàng quay tơ
Áo quần có rách vá may Quay tơ phải giữ mối tơ
Sắm ăn sắm mặc đêm ngày xiết bao Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh.
Công lao sanh dưỡng ngàn vàng (VHDG Bạc Liêu – tr. 864, 865)
Gẫm như trời biển sánh bằng núi non. 84. Những người bội bạc mẹ cha
(VHDG Sóc Trăng – tr. – 604) Ngày sau con trả gấp ba bốn lần.
34. Kẻ nào khinh mẹ cãi cha Đổi lòng yêu mến vợ con
Là đồ bất hiếu không ra con người. Để mà báo hiếu mới tròn chữ nhân.
(VHDG An Giang – tr. 260) (VHDG Sóc Trăng – tr. 654)
35. Kẻ nào khinh mẹ cãi cha 85. Anh về báo bổ sinh thành
Là đồ bất hiếu không ra con người. Chừng nào bóng xế rũ mành sẽ hay
(VHDG An Giang – tr. 260) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 172)
36. Đèn nào cao bằng đèn Sở Thượng 86. Trai nào tài bằng trai Cao Lãnh
Nghĩa nào trượng bằng nghĩa phu thê Gái nào bảnh bằng gái Tân Châu
Em xách gối theo anh thiên hạ cười chê Tháng ngày dệt lụa, trồng dâu
Để em trở về nuôi mẹ trọn bề hiếu trung. Thờ cha, nuôi mẹ biết bao nhọc nhằn.
(VHDG Bạc Liêu – tr. 885) (VHDG An Giang – tr. 60)
37. Trai nào bằng trai Nhơn Ai 87. Thảo chân thảo hỏi lo đền
Gái nào lịch bằng gái Tân Châu Giữ câu thần tính cho bền lòng son
Tháng ngày dệt lụa trồng dâu Vẹn mình trọn đạo làm con
Thờ cha dưỡng mẹ quản bao nhọc nhằn. Dẫu cho ra cúi vào lòng cũng ưng
(VHDG An Giang – tr. 51) Cha sai mẹ bảo thì vâng
38. Áo ào gió giục mây Tần, Lầm bầm quạo quọ là đừng nghe con!
Một xe trong cõi hồng trần bước ra. Tích xưa gương thảo những còn.
PL70
Rủ nhau lên viếng mả cha, Mấy ai cờ bạc làm giàu
Tảo lăng mồ mẹ lụy đà tuôn rơi. Mua vườn sắm ruộng mẫu sào nào chưa?
Công cha trượng lắm cha ôi, Quanh năm nghe một tiếng thua
Ngãi mẹ bằng trời chín tháng cưu mang. Nằm đâu rên đó như cua rụng càng
(Ca dao dân ca Nam kỳ Lục tỉnh – tr. 82) Tứ mùa, tám tiết thở than
39. Biết mấy năm qua tấm hình cũ em vẫn thờ, Ai ai mê nó đà mang chữ nghèo
Lòng em thương ai biết, dạ em chờ ai hay? Hồi ăn kẻ hú người kêu
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 190) Chừng thua chẳng thấy ai theo một người
40. Tượng linh dầu rách cũng thờ Ăn năn thì sự đã rồi
Lỡ thì chịu lỡ cũng chờ đợi anh Gác tay nằm nghĩ bồi hồi tính toan
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 412) Tính rồi lại tính mưu gian
41. Anh theo vợ bé nào hay Tính gian tính lận mà tan cửa nhà
Mình em gánh vác nhà này sớm hôm. Thua nhiều đem dạ tà dâm
Một mình thờ mẹ nuôi con, Tham gia trộm cướp, ai ai cũng phiền
Lại lo đám thuốc bia son tới kỳ. Cờ bạc nó hại người hiền
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 424) Tan gia bại sản, điền viên tiêu điều.
42. Ở sao trung hiếu đạo đồng (VHDG Sóc Trăng – tr. – 605)
Làm sao cũng kết vợ chồng với anh. 88. Quế già quế lại càng tốt
(VHDG Sóc Trăng – tr. 652) Mía già mía lại càng ngon
43. Mình đừng sầu muộn ốm đau Anh ơi anh có thương em mà đạo nghĩa
Bây giờ cách mặt, ngày sau vợ chồng vuông tròn
Ngôn phải thuận, lý phải đồng Cách mấy sông em cũng lội mà mấy đò em
Can thường ly biệt, đạo vợ chồng còn thương. cũng đưa.
(VHDG Bến Tre – tr. 353) (VHDG Sóc Trăng – tr. 633)
44. Làm sao ướt ngọt như đường 89. Anh chết ba năm sống thử một giờ
Khổ qua hết đắng, đạo can thường mới xa Để xem người nghĩa phụng thờ ra sao?
(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.145) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.133)
45. Muối ba năm muối hãy còn mặn 90. Anh chết ba năm anh sống lại một giờ
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Để coi người nghĩa phượng thờ làm sao?
Đạo nghĩa vợ chồng chớ đổi đừng thay (VHDG Bến Tre – tr. 260)
Dẫu có ăn mày ta cũng theo nhau. 91. Em ơi anh chết năm rán sống dậy một giờ
(VHDG Sóc Trăng – tr. 654) Để xem người nghĩa phụng thờ ra sao?
PL71
46. Tai em nghe anh đau đầu chưa khá Em thờ anh đóng ghế cho cao,
Băng đồng chi sá, em hái nắm lá cho anh xông, Ly hương để giữa hai đèn thau để bìa
Miễn làm sao cho nên đạo vợ chồng, Em ơi, ba năm tang chết mãn rồi
Đổ mồ hôi ra em chậm, ngọn gió lồng em lo. Đầu dơ sao em không gội vòng vàng đeo vô!
(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 453) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr. 192,193)
47. Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh 92.– Anh chết ba năm sống lại một giờ
Bánh nào trắng bằng bánh bò bông Để xem bạn cũ nó phụng thờ làm sao
Đạo nào thương bằng đạo vợ chồng – Em thờ mình em đóng ghế cho cao
Dầu lâm cơn bệnh hoạn cũng bế bồng nuôi nhau. Bình khuôn nghi cẩn nóc bộ chân đèn thau
(VHDG Sóc Trăng – tr. 655) em thờ mình.
48. Đã rằng là nghĩa vợ chồng (VHDG An Giang – tr. 237)
Dù cho nghiêng núi, cạn sông chẳng rời 93. Chết ba năm hồn bướm dật dờ
(VHDG Bến Tre – tr. 435) Đặng coi người nghĩa ở lại phụng thờ làm sao?
49. Mình đừng sầu muộn ốm đau Tôi thờ tôi đóng ghế cao
Bây giờ cách mặt, ngày sau vợ chồng Bình phuông (bình phong) cần ốc, hai bộ
Ngôn phải thuận, lý phải đồng bài cào hai bên.
Can thường ly biệt, đạo vợ chồng còn thương. (VHDG Sóc Trăng – tr. 657)
(VHDG Bến Tre – tr. 353) 94. Tai em nghe anh đau đầu chưa khá
50. Đã rằng là nghĩa vợ chồng Băng đồng chi sá, em hái nắm lá cho anh xông,
Dẫu cho nghiêng núi cạn sông chẳng rời. Miễn làm sao cho nên đạo vợ chồng,
(VHDG Bến Tre – tr. 314) Đổ mồ hôi ra em chậm, ngọn gió lồng em lo.
51. Anh đau một canh, chết một giờ, (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 453)
Để coi người nghĩa phụng thờ làm sao? 95. Ai chèo ghe bí qua sông
Tôi thờ mình bộ lư đồng cao, Đạo nghĩa vợ chồng nặng lắm anh ơi.
Sáp treo cùng cặp chân đèn thau bóng vàng (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 422)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 159) 96. Cầu nào cao bằng cầu danh vọng
52. Chết ba năm, sống lại một giờ Nghĩa nào trọng bằng nghĩa chồng con
Để xem người cũ phụng thờ ra sao? Vì đâu nước chảy đá mòn
Thờ mình dĩa muối, dĩa rau, Xa nhau ngàn dặm, lòng còn nhớ thương
Còn thờ phụ mẫu mâm cao cổ đầy. (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.84)
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 215)
PL72
54. Anh thờ em dĩa mắm, dĩa rau 97. Ba năm tượng rách còn thờ,
Anh nghèo em khó, có đâu mâm cao cổ đầy. Hường nhan chi bậu ngó bề đứng côi.
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 169) Anh đừng nói vậy anh ơi
54. Anh giả đò chết thử đôi giờ, Hình dung khô héo có đôi ba người.
Để coi vợ ruột phụng thờ ra sao? (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 178)
Tôi thờ mình, đóng ghế cho cao, 98. Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh
Bạc đồng để dưới, bài cào để trên. Bánh nào trắng bằng bánh bò bông
(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 423) Đạo nào thương bằng đạo vợ chồng
55. Chết ba năm sống thử một giờ Dầu lâm cơn bệnh hoạn cũng bế bồng nuôi
Để xem người nghĩa phụng thờ ra sao ? nhau.
Em thờ chồng một bộ lư cổ, một cặp chân (VHDG Sóc Trăng – tr. 655)
đèn thau
Đồng bạc em để dưới, bộ bài cào để trên.
(TLST KS Ca dao Bến Tre)

