BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngô Bích Phượng

CA DAO NAM BỘ

TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA PHONG TỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2019

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngô Bích Phượng

CA DAO NAM BỘ

TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA PHONG TỤC

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã ngành

: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS. TS. NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh – 2019

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết

quả nêu trong luận văn là trung thực, các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất

xứ rõ ràng. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của

mình.

TP. Tây Ninh, ngày 28 tháng 9 năm 2019

Tác giả

Ngô Bích Phượng

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

hướng dẫn tận tình, theo dõi sát sao, đầy tinh thần trách nhiệm của PGS. TS

Nguyễn Thị Ngọc Điệp. Tôi xin bày tỏ lòng tri ân và kính chúc cô sức khỏe.

Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ của Thư viện Trường Đại học Sư

phạm TP. Hồ Chí Minh, thư viện tỉnh Bình Dương, thư viện tỉnh Tây Ninh đã

hỗ trợ tận tình trong việc tìm kiếm tư liệu nghiên cứu.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư

phạm TP. Hồ Chí Minh, quý thầy cô trong khoa Ngữ văn đã tạo môi trường

và điều kiện học tập tốt để học viên hoàn thành khóa học.

Trân trọng cảm ơn gia đình, quý bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ủng hộ

tôi hoàn thiện luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

TP. Tây Ninh, ngày 28 tháng 9 năm 2019

Tác giả

Ngô Bích Phượng

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt, ký hiệu

Danh mục các bảng

PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1

Chương 1. CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

PHONG TỤC – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ........................ 11

1.1. Sơ lược về đất và người Nam Bộ ............................................................. 11

1.2. Khái lược về văn hóa phong tục ............................................................... 18

1.3. Vài nét về ca dao Nam Bộ ........................................................................ 20

1.4. Tình hình nguồn tư liệu tác phẩm được khảo sát ..................................... 25

Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 31

Chương 2. CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN PHONG TỤC

GẮN VỚI VÒNG ĐỜI CON NGƯỜI ..................................... 32

2.1. Phong tục hôn nhân .................................................................................. 32

2.1.1. Lễ dạm ngõ ........................................................................................ 33

2.1.2. Lễ hỏi ................................................................................................. 41

2.1.3. Lễ cưới ............................................................................................... 53

2.2. Phong tục tang ma .................................................................................... 59

2.2.1. An táng .............................................................................................. 61

2.2.2. Tang chế ............................................................................................ 65

Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 70

Chương 3. CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN PHONG TỤC

GẮN VỚI TÍN NGƯỠNG ........................................................ 71

3.1. Phong tục thờ cúng đa thần ...................................................................... 71

3.1.1. Phong tục thờ Trời, Phật ................................................................. 72

3.1.2. Phong tục thờ Thần ......................................................................... 79

3.1.3. Phong tục thờ Mẫu và Quan Công .................................................. 87

3.2. Phong tục thờ cúng người thân trong gia đình ......................................... 92

3.2.1. Thờ cúng tổ tiên, cha mẹ ................................................................. 93

3.2.2. Thờ cúng người thân khác ............................................................... 99

Tiểu kết chương 3 ........................................................................................ 102

KẾT LUẬN ................................................................................................... 103

CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ............................................. 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 107

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU

Viết tắt, kí hiệu

Viết đầy đủ

Nxb

Nhà xuất bản

PL

Phụ lục

tr

Trang

VHDG

Văn học dân gian

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Thống kê nguồn tư liệu về ca dao dân gian Nam Bộ ...................... 28

Bảng 1.2. Thống kê ca dao dân gian Nam Bộ theo phong tục ........................ 30

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Khám phá vẻ đẹp của văn chương không chỉ là quá trình đi tìm cái hay

của ngôn từ mà còn là khơi dậy sức sống của cả một nền văn hóa dân tộc. Văn

học nói chung và văn học dân gian nói riêng là “kho báu” chứa đựng những

giá trị tinh thần tốt đẹp của cả cộng đồng, biểu hiện qua những lối sống,

phong tục, tập quán, nếp nhà... Từ góc nhìn văn hóa phong tục, chúng tôi soi

vào tác phẩm văn học dân gian để đi tìm tính cách, tâm hồn của ông cha thuở

trước. Hành trình khám phá văn hóa phong tục trong văn học là một hành

trình thưởng lãm “cái ngon ngoài cả vị ngon, cái đẹp ngoài cả sắc đẹp” (Dẫn

theo SGK Ngữ văn 10, 2018).

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu rõ nhất tâm hồn dân tộc.

Trong tất cả các thể loại của văn học dân gian, ca dao biểu hiện rõ nhất điệu

hồn dân tộc, đời sống sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người. Trong đó,

ca dao đã ngân vang biết bao cung bậc tâm trạng của con người trong các mối

quan hệ đời sống. A. N. Ghersen đã diễn đạt một cách biểu cảm “Trong các

bài hát dân gian người ta nhận thấy sự diễn đạt sáng rõ nhất tất cả những

khởi đầu của thơ ca, cuộc du ngoạn trong tâm hồn nhân dân” (Dẫn theo Vũ

Anh Tuấn, 2015).

Ca dao Nam Bộ đã góp phần diễn tả thế giới tinh thần phong phú của

người dân vùng đất phương Nam. Thể loại văn học này đã góp phần làm đầy

hơn vẻ đẹp văn hóa của một miền đất mới. Là một bộ phận của ca dao Việt

Nam, ca dao Nam Bộ đã góp phần biểu hiện những cung bậc trữ tình của đời

sống dân tộc. Những giai điệu ngọt ngào lan tỏa theo dòng chảy thời gian,

chuyên chở những tâm tư tình cảm, những khát vọng cao đẹp của con người,

cùng truyền thống của vùng văn hóa trẻ.

Cũng vì sự hấp dẫn và sức sống mãnh liệt, ca dao Việt Nam trở thành

nguồn tài sản quý thu hút các nhà nghiên cứu, rất nhiều công trình nghiên cứu

2

có chiều sâu về vẻ đẹp của thể loại này. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công

trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa phong tục trong ca dao nói chung,

trong ca dao Nam Bộ nói riêng. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Ca dao Nam

Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục” để góp phần làm rõ thêm một cái nhìn,

một cách tiếp cận về giá trị của thể loại văn học dân gian này.

2. Lịch sử nghiên cứu

2.1. Những công trình sưu tầm ca dao Nam Bộ

Ca dao Nam Bộ có sức hấp dẫn với nhiều nhà nghiên cứu văn hóa –

văn học, vì vậy, đã có nhiều công trình sưu tầm như:

Ca dao Đồng Tháp Mười (Đỗ Văn Tân), xuất bản năm 1984, Nxb. Sở

VH – TT Đồng Tháp; Kiên Giang qua ca dao (Giang Minh Đoán), xuất bản

năm 1997, Nxb. Tp.HCM; Văn học dân gian Đồng Bằng sông Cửu Long

(trường Đại học Cần Thơ), xuất bản năm 1997, Nxb. Giáo dục; Ca dao – Dân

ca Nam kỳ lục tỉnh (Huỳnh Ngọc Trảng), xuất bản năm 1998, Nxb Đồng Nai;

Văn học dân gian Bạc Liêu (Chu Xuân Diên), xuất bản năm 2011, Nxb. Đại

học Quốc gia Hà Nội; Văn học dân gian Sóc Trăng (Chu Xuân Diên), xuất

bản năm 2011, Nxb. Văn hóa – Thông tin; Văn học dân gian Bến Tre

(Nguyễn Ngọc Quang), xuất bản năm 2015, Nxb. Giáo dục; Văn học dân gian

An Giang (tập 3) (Nguyễn Ngọc Quang), xuất bản năm 2015, Nxb. Giáo dục.

Đây là những công trình sưu tầm có đóng góp lớn đến việc lưu giữ “kho báu”

tinh thần của dân gian. Nguồn tư liệu điền dã phong phú này đã được tác giả

sắp hệ thống theo chủ đề: tình yêu quê hương, đất nước; tình yêu đôi lứa; tình

cảm gia đình; các mối quan hệ xã hội khác. Đây là cơ sở ngữ liệu quan trọng

để chúng tôi chọn lọc những bài ca dao có phản ánh văn hóa phong tục phục

vụ cho mục đích nghiên cứu.

3

2.2. Những công trình nghiên cứu ca dao Nam Bộ

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi không chỉ nghiên cứu những công

trình về ca dao nói chung mà còn đi vào tìm hiểu công trình nghiên cứu ca

dao của từng địa phương vùng Nam Bộ.

Ca dao dân ca Nam Bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần

Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, xuất bản 1984, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.

Công trình này gồm hai phần: phần đầu tác giả khái quát những nét chính về

nội dung và nghệ thuật của ca dao Nam Bộ, phần sau là công trình sưu tầm ca

dao Nam Bộ. Đây là công trình vừa có ý nghĩa phương pháp luận cho việc

nghiên cứu tổng thể về ca dao Nam Bộ vừa là thành quả của sự lao động

nghiêm túc trong quá trình sưu tầm điền dã, tổng hợp ca dao Nam Bộ. Công

trình của tập thể tác giả này là nguồn tài liệu chính để chúng tôi kế thừa triển

khai luận văn.

Tìm hiểu văn hóa Vĩnh Long (1732 – 2000) xuất bản năm 2003, Nxb.

Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh là đề tài nghiên cứu tìm hiểu quá trình hình thành

văn hóa tỉnh Vĩnh Long từ năm 1732 đến năm 2000 của Ban tuyên giáo tỉnh

Vĩnh Long. Nội dung được chia làm hai phần. Phần một giới thiệu khái quát

đất và người Vĩnh Long. Phần 2, các tác giả đã dành 30 trang để khảo sát thể

loại ca dao, dân ca Vĩnh Long, chú trọng đến những bài ca dao phản ánh tên

đất, tên người cùng vẻ đẹp của non sông và thắng tích địa phương. Tác giả

cho rằng “Những lời thơ trữ tình, đằm thắm, ngọt ngào là những bài học đầu

đời về tình yêu đất nước và con người” (Nguyễn Chiến Thắng, 2003).

Miền Nam và văn học dân gian địa phương trong bộ Văn học miền Nam

lục tỉnh (Tập 1) của Nguyễn Văn Hầu xuất bản năm 2012, Nxb. Trẻ Tp. Hồ

Chí Minh là một trong các tài liệu quý và hiếm khi nghiên cứu riêng về văn

học dân gian Nam Bộ. Bức tranh miền Nam từ ngày đầu mở cõi cũng như

diện mạo của văn học dân gian nơi đây đã được trình bày cô đọng, súc tích

trong tập sách này. Cùng với các thể loại văn học dân gian, tác giả cung cấp

4

một số cách nhìn nhận, đánh giá sơ lược về chủ đề, phương pháp, nghệ thuật

ca dao Nam Bộ. Đây là kiến thức nền tảng, định hướng cho chúng tôi khi

nghiên cứu và triển khai luận văn.

Luận văn Thạc sĩ Khảo sát ca dao – dân ca Bến Tre của Đặng Thị Thùy

Dương – Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh – năm 2009 và Đặc điểm ca dao

Đồng Tháp của Trần Thị Thúy Hằng – Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh –

năm 2018 đã góp phần làm rõ điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm nội

dung, nghệ thuật của ca dao mỗi địa phương. Phần phụ lục của hai luận văn

có nguồn tư liệu điền dã được tổng hợp, sắp xếp khá công phu. Những công

trình này đã giúp chúng tôi hiểu thêm những đặc trưng của vùng đất và con

người kiến tạo nên nền văn hóa Nam Bộ.

2.3. Những công trình nghiên cứu ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa

Đào Văn Hội trong Phong tục miền Nam qua mấy vần ca dao đã phân

chia ca dao thành sáu mục: tả cảnh, tu thân, tình gia tộc, phong tục thôn quê,

ngoài xã hội và những câu hát vặt. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu

phong tục miền Nam trong ca dao. Tác giả cho rằng ca dao là “tấm gương

trong sáng phản ánh cả phong tục của giống nòi”, “là tiếng gọi của dân quê,

linh hồn của dân tộc, không có thứ văn chương nào hơn được” (Đào Văn

Hội, 1961).

Năm 2004, Lê Anh Dũng trong bài viết “Văn hóa dân gian phản ánh

tín ngưỡng

tổng hợp

của người Việt” đăng

trên

trang web

http://www.nhipcaugiaoly.com đã trình bày một cách khái quát về dấu ấn của

Lão giáo, Nho giáo và Phật giáo cùng tín ngưỡng thờ Trời của người Việt đã

đi vào kho tàng văn học dân gian Việt Nam trong đó có ca dao. Điều đó cho

thấy tinh thần bình đẳng trước mọi tôn giáo và khả năng tiếp biến, chuyển hóa

Tam giáo cho phù hợp với văn hóa bản địa thành tín ngưỡng tổng hợp, tạo

thành nét văn hóa truyền thống của người Việt.

5

Trên website: http://www.vusta.vn/vi/news/, Phan Thị Phượng (2010)

trong bài viết “Bàn về một khía cạnh tâm linh trong ca dao người Việt” đã

cung cấp một cách khái quát về những giá trị tâm linh thiết thực được in dấu

trong ca dao người Việt: “Ca dao cũng là một kho tàng lưu giữ những tín

ngưỡng của người Việt từ xa xưa rất phong phú, không những thế nó còn là

pho sách khái quát được cả một vấn đề lớn của xã hội”. Trên cơ sở đó, tác giả

đã làm rõ tín ngưỡng thờ cúng trong ca dao người Việt.

Trong luận văn thạc sĩ Văn hóa người Việt qua ca dao Nam Bộ –

trường Đại học Cần Thơ – năm 2010, Cao Minh Liễu đã phân tích biểu hiện

của văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần trong ca dao Nam Bộ cụ thể qua các

phương diện: sinh hoạt đi lại – phương tiện giao thông; sinh hoạt lao động sản

xuất; sinh hoạt ăn, mặc, ở; phong tục tập quán; tín ngưỡng; tôn giáo; lễ hội và

diễn xướng dân gian; tính cách người Nam Bộ. Đó là những kiến thức quí báu

để chúng tôi kế thừa khi triển khai luận văn.

Qua bài viết Sự hợp dung văn hóa trong ca dao Việt Nam in trong tạp

chí khoa học ĐHSP TP. Hồ Chí Minh số 32 năm 2011, Đoàn Thị Thu Vân đã

phân tích sự linh hoạt và dung hòa trong văn hóa ứng xử của người Việt được

thể hiện qua ca dao. Từ đó, tác giả nhấn mạnh: “Ca dao Việt Nam đã thể hiện

một tinh thần hợp dung văn hóa rộng rãi và cởi mở”.

Trong bài viết “Đạo trời và tín ngưỡng dân gian qua ca dao” in trên

tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 360 tháng 6 năm 2014, tác giả Nguyễn Thị

Kim Ngân đã khẳng định ca dao phản ánh một cõi thiêng liêng, là nơi tín

ngưỡng dân gian tồn tại và thể hiện bộ mặt sinh hoạt văn hóa của người Việt.

Tác giả cho rằng hình ảnh ông Trời trong ca dao là một đấng thiêng liêng mà

người dân tôn kính và cầu xin và khẳng định rằng: “Ca dao không phải chỉ là

giá trị văn hóa trực tiếp nảy sinh từ những nghi thức tín ngưỡng mà khúc hát

tình gắn với đời sống sản xuất và sinh hoạt của người nông dân”.

6

Nguyễn Thanh Trang trong luận văn Văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn

nhân trong ca dao người Việt – trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

– năm 2014 đã tìm hiểu văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao

Việt. Từ đó, tác giả khẳng định sự bền vững của bản sắc văn hóa dân tộc và

đưa ra cái nhìn đúng đắn về tình yêu, hôn nhân trong cuộc sống hiện đại.

Văn hóa dân gian về tình yêu đôi lứa trong ca dao người Việt của

Nguyễn Nghĩa Dân xuất bản năm 2015, Nxb. Khoa học Xã hội. Đây là công

trình nghiên cứu, sưu tầm ca dao Việt Nam. Ở phần đầu, sau khi đưa ra các

khái niệm văn hóa, văn hóa dân tộc, văn hóa dân gian, định nghĩa ca dao, dân

ca, ca dao trữ tình, tác giả đi sâu vào tìm hiểu vấn đề văn hóa dân gian về tình

yêu lứa đôi được biểu hiện trong ca dao người Việt. Đặc biệt, tác giả còn so

sánh để tìm hiểu sự khác biệt của văn hóa dân gian về tình yêu, hôn nhân và

vợ chồng trong hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long

và rút ra kết luận: “Ở Nam Bộ, tinh thần dân chủ, bình đẳng trong tự do yêu

đương, hôn nhân, vợ chồng giữa đôi trai gái rõ nét hơn ở Bắc Bộ và Trung

Bộ” (Nguyễn Nghĩa Dân, 2015). Ở phần sau, tác giả đã tuyển chọn và xếp

theo vần chữ cái tiếng Việt. Điểm đặc biệt ở phần tuyển chọn có chú thích đầy

đủ những điển tích, điển cố hoặc từ ngữ khó hiểu, đồng thời đưa ra những

bình luận sắc sảo. Đây là công trình bổ ích, định hướng cho chúng tôi tìm

hiểu phong tục hôn nhân được biểu hiện qua ca dao Nam Bộ.

Năm 2015, Đoàn Thị Thùy Hương trong luận văn thạc sĩ Yếu tố sông

nước trong văn học dân gian Nam Bộ (trường hợp ca dao) – trường Đại học

Trà Vinh – đã đưa ra cái nhìn khái quát về biểu hiện của văn hóa sông nước

trong đời sống vật chất và tinh thần của người Nam Bộ qua ca dao.

Trong luận văn Ứng xử của vợ chồng người Việt qua ca dao tục ngữ

Nam Bộ – trường Đại học Trà Vinh – năm 2015, Lê Kim Chiêu đã nghiên cứu

văn hóa ứng xử trong gia đình người Việt qua ca dao, tục ngữ Nam Bộ. Việc

7

khảo sát giúp chúng tôi thấy được tính chất dân chủ, bình đẳng, khoan hòa

trong cách ứng xử của con người đất phương Nam.

Tín ngưỡng dân gian của người Việt xuất bản năm 2017 của nhà xuất

bản Văn hóa – Nghệ thuật có bài viết “Tín ngưỡng thờ ông Thiên và tính cách

người Việt” (khảo sát qua ca dao – dân ca, tục ngữ miền Tây) của Trần Minh

Thương. Bài viết đã khẳng định sức sống mãnh liệt của niềm tin thiêng liêng

này trong đời sống tinh thần của người Nam Bộ xưa.

Qua những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi thấy rằng các tác giả

đã tìm hiểu cả chiều rộng và chiều sâu, có cái nhìn hệ thống về văn hóa được

biểu hiện trong ca dao. Tuy nhiên vấn đề văn hóa phong tục của ca dao vẫn

còn nhiều khoảng trống. Cho nên khi triển khai đề tài “Ca dao Nam Bộ từ góc

nhìn văn hóa phong tục”, chúng tôi vừa kế thừa kiến thức quý giá của người

đi trước vừa tiếp tục khơi sâu tìm hiểu giá trị của văn hóa phong tục trong ca

dao người Việt ở Nam Bộ.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Về ca dao Nam Bộ có rất nhiều vấn đề đáng quan tâm, tuy nhiên, trong

giới hạn về thời gian nghiên cứu, người viết chỉ tiến hành khảo sát, phân tích

biểu hiện văn hóa phong tục trong ca dao của người Việt ở Nam Bộ.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi tập trung nghiên cứu ca dao Nam Bộ trong các tuyển tập:

Ca dao dân ca Nam Bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần

Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, xuất bản 1984, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.

Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường do Lê Trí Viễn biên soạn, xuất bản

năm 1994, Nxb. Giáo dục.

Văn học dân gian Đồng Bằng sông Cửu Long của trường Đại học Cần

Thơ, xuất bản năm 1997.

8

Ca dao, hò, vè Vĩnh Long do Nguyễn Chiến Thắng (chủ biên), xuất bản

năm 2005, Nxb. Trẻ.

Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục Tỉnh do Huỳnh Ngọc Trảng biên soạn, xuất

bản năm 2006, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai.

Văn học dân gian Bạc Liêu do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản năm

2011, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

Văn học dân gian Sóc Trăng do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản

năm 2011, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.

Văn học Miền Nam Lục Tỉnh tập 1 do Nguyễn Văn Hầu biên soạn, xuất

bản năm 2012, Nxb Trẻ.

Văn học dân gian Bến Tre do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên), xuất bản

năm 2015, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

Văn học dân gian An Giang (tập 3) do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên),

xuất bản năm 2015, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

Luận văn Khảo sát ca dao – dân ca Bến Tre của Đặng Thị Thùy Dương,

năm 2009, trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.

4. Đóng góp của đề tài

Phần lớn các công trình nghiên cứu ca dao chủ yếu được tiếp cận từ

phương diện ngôn ngữ học, thi pháp học, văn hóa học nhưng chưa có nhiều

công trình khám phá vẻ đẹp của văn hóa phong tục ẩn tàng trong thể loại này.

Vì thế, xuất phát từ mục đích nghiên cứu “Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn văn

hóa phong tục”, chúng tôi đi sâu phân tích các phương diện như phong tục

gắn với vòng đời con người, phong tục gắn với tín ngưỡng. Hy vọng những

đóng góp của luận văn sẽ góp phần làm rõ hơn nét văn hóa phong tục độc đáo

trong đời sống của đất và người Nam Bộ qua thể loại này. Từ đó, khẳng định

giá trị của ca dao Nam Bộ trong diện mạo chung của văn học dân gian Việt

Nam.

9

5. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên

cứu sau đây:

Phương pháp hệ thống: đặt ca dao Nam Bộ trong hệ thống thể loại

văn học dân gian Việt Nam nói chung để phát hiện điểm mới, nét đặc sắc của

thể loại này. Trên cơ sở đó, chúng tôi có cái nhìn hệ thống, toàn diện và tìm ra

được nhiều điều thú vị liên quan đến truyền thống văn hóa dân tộc.

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: sử dụng kết quả nghiên cứu của

các ngành văn hóa học, dân tộc học, nhân học văn hóa… để khám phá các

phong tục ẩn tàng trong ca dao. Từ đó, cảm nhận sâu sắc hơn đời sống tinh

thần dân gian.

Phương pháp loại hình: ca dao là một thể loại có ở nhiều vùng miền

trong hệ thống tổng thể các thể loại văn học dân gian. Khi nghiên cứu ca dao

Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục, người viết chú ý đến dấu ấn văn hóa

vùng miền trong ca dao để tìm ra điểm gặp gỡ cũng như khác biệt so với các

thể loại văn học dân gian khác như tục ngữ, truyện dân gian.

Phương pháp thống kê: sử dụng kết quả thống kê nhằm có số liệu

khách quan, chính xác, tạo lập nên cơ sở nghiên cứu ban đầu về ca dao Nam

Bộ để có những kết luận khoa học, tránh sự võ đoán.

Bên cạnh đó, chúng tôi vận dụng thao tác phân tích, bình luận, tổng

hợp để minh họa cho những lí lẽ, diễn giải, lập luận của cá nhân trên cơ sở

khai thác phân tích các dẫn chứng trích từ những công trình sưu tầm, biên

soạn ca dao Nam Bộ.

6. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung chính

của luận văn gồm ba chương:

Chương 1. Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục – những vấn

đề chung.

10

Trong chương 1, luận văn đề cập một số vấn đề có tính chất khái quát

về vùng văn hóa phong tục Nam Bộ và ca dao. Sau khi giới thiệu về lịch sử

hình thành mảnh đất Nam Bộ, những nét tính cách đặc trưng của con người

Nam Bộ, chúng tôi tổng thuật các cách giới thuyết về văn hóa phong tục, khái

niệm ca dao Việt Nam và đưa ra kết luận vài nét về cách tiếp cận ca dao

người Việt ở Nam Bộ. Đồng thời, chúng tôi cũng điểm qua nguồn tư liệu để

khảo sát, phục vụ nghiên cứu.

Chương 2. Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn phong tục gắn với vòng đời con người

Chương này tập trung khai thác ca dao Nam Bộ ở các phương diện phong

tục vòng đời con người như hôn nhân và tang ma. Thông qua việc thống kê,

chọn lựa, khảo sát nguồn tư liệu, chúng tôi có thể rút ra kết luận bước đầu về

dấu ấn phong tục gắn với vòng đời con người trong ca dao Nam Bộ.

Chương 3. Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn phong tục gắn với tín ngưỡng

Nhiệm vụ của chương này là khảo sát ca dao, từ đó mô tả, phân tích, phát

hiện vẻ đẹp đời sống tín ngưỡng của người Việt qua thể loại văn học này trên

các góc nhìn phong tục thờ cúng đa thần và phong tục thờ cúng người thân

trong gia đình.

Ngoài ra, luận văn còn có phần phụ lục tổng hợp ca dao Nam Bộ từ các

nguồn tư liệu để khảo sát phân tích nhằm có cái nhìn hệ thống, sâu sắc vấn đề

mà đề tài nghiên cứu đặt ra.

11

Chương 1

CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA PHONG TỤC

– NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Sơ lược về đất và người Nam Bộ

1.1.1. Lịch sử hình thành đất Nam Bộ

Nam Bộ là nơi lưu dấu những bước chân cuối cùng của tiền nhân trong

dặm trường bôn ba, mở rộng và xác lập lãnh thổ của người Việt về phía nam

của tổ quốc. Nam Bộ là vùng đất thiêng liêng, có vị trí quan trọng trong quá

trình phát triển của đất nước ta. Một khu vực có tiềm năng về kinh tế, vững về

chính trị cũng như thấm đượm tình yêu thương giữa những người con miền

sông nước. Nhưng trước khi Nam Bộ hội tụ lại để dệt nên bức họa đồ Việt

Nam hình chữ S, vùng đất này đã trải qua ba thời kỳ lịch sử lớn: Vùng đất

Nam Bộ dưới thời Phù Nam; Vùng đất Nam Bộ dưới thời Chân Lạp và Vùng

đất Nam Bộ của Việt Nam.

Các nhà khoa học đã khẳng định rằng nước Phù Nam đã xuất hiện vào

khoảng đầu Công nguyên, với trung tâm là vùng đất Nam Bộ Việt Nam hiện

nay. Trong thời kì hưng thịnh, nước Phù Nam phát triển thành một đế chế

gồm: toàn bộ phần phía nam bán đảo Đông Dương (Nam Bộ Việt Nam,

Campuchia, một phần nam Lào), một phần Thái Lan và bán đảo Malacca,

trung tâm vẫn là vùng Nam Bộ Việt Nam – một khu vực phát triển nhanh vào

lúc bấy giờ, cư dân chủ thể này là nhóm người Mã Lai – Đa Đảo ven biển.

Những ngư dân với truyền thống về hàng hải cùng nguồn kinh nghiệm tích

lũy lâu dài và tài nghệ trong làm thủy lợi, khai phá và canh tác ở đồng bằng

trũng thấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho thương nghiệp phát triển cải thiện

cuộc sống ổn định.

Đến giai đoạn vào cuối thế kỷ VI, Đế chế Phù Nam hưng thịnh đã bắt

đầu quá trình suy yếu. Lợi dụng cơ hội này, một thuộc quốc của Phù Nam –

12

Chân Lạp, do người Khmer xây dựng, vào đầu thế kỷ VII đã đánh chiếm một

phần lãnh thổ của Phù Nam ở vùng hạ lưu sông MeKong – vùng Nam Bộ

Việt Nam. Đây một bước ngoặt mới trong lịch sử hình thành vùng đất Nam

Bộ. Vùng đất Nam Bộ sau 627 năm từng là vùng đất thuộc Phù Nam, nay lại

bị phụ thuộc vào Chân Lạp và được đổi tên thành Thuỷ Chân Lạp để phân

biệt với vùng đất Lục Chân Lạp – vùng đất gốc của nước Chân Lạp.

Với truyền thống quen khai thác các vùng đất cao nhưng với dân số ít,

người Khmer khi đó không có khả năng tổ chức khai thác vùng đồng bằng

rộng lớn mới bồi lấp, còn ngập nước và sình lầy. Song song đó, việc khai

khẩn đất đai trên vùng đất gốc – Lục Chân Lạp đang đòi hỏi rất nhiều thời

gian và sức lực. Việc cai quản vùng đất Lục Chân Lạp trên thực tế gặp rất

nhiều khó khăn. Càng khó khăn hơn khi quân đội nước Srivijaya2 của người

Java liên tục tấn công và lấn chiếm Thủy Chân Lạp vào nửa sau thế kỷ VIII.

Chính điều này đã làm cho cả vương quốc Chân Lạp gần như lệ thuộc hoàn

toàn vào Srivijaya2.

Khó khăn chồng chất khó khăn, khi mà tình trạng chiến tranh giữa

Chân Lạp và Chămpa diễn ra thường xuyên làm cho việc cai quản và khai phá

vùng Thủy Chân Lạp lại càng gặp nhiều trở ngại. Chân Lạp lúc này chỉ dồn

sức phát triển ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mekong và mở rộng ảnh

hưởng sang phía Tây. Từ thế kỷ IX đến cuối thế kỷ XI, vùng đất Chân Lạp

cường thịnh đã mở rộng lãnh thổ ra tận Nam Lào. Trong khi đó, dấu ấn Chân

Lạp trên vùng đất phía Nam không nhiều và ảnh hưởng văn minh Angkor ở

vùng này cũng không đậm nét.

Cho đến thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ còn thưa thớt. Chu Đạt

Quan, một người có dịp đến vùng đất Nam Bộ đã mô tả vùng đất này như sau:

“Hầu hết là rừng thấp cây rậm. Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm cổ

thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở trong đó.

Đến nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây.

13

Nhìn xa chỉ thấy cây lúa rờn rờn mà thôi. Trâu rừng họp nhau thành từng đàn

trăm ngàn con, tụ tập ở đấy.” (dẫn theo Trịnh Hoài Đức, 1972). Bắt đầu từ

cuối thế kỷ XIV, nước Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng của các

vương triều Xiêm từ phía Tây, đặc biệt là từ sau khi Vương triều Ayuthaya

hình thành vào giữa thế kỷ XIV. Trong suốt 78 năm (từ 1353 đến 1431),

Ayuthaya liên tiếp tiến công Chân Lạp. Sang thế kỷ XVI, và nhất là thế kỷ

XVII, do sự can thiệp của nước Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc,

rơi vào thời kì suy vong. Dưới tình trạng này, nước Chân Lạp hầu như không

có khả năng kiểm soát, cũng như quản lý vùng đất còn ngập nước ở phía

Nam, vốn là địa phận của vương quốc Phù Nam ở thời điểm bấy giờ.

Trong bối cảnh Chân Lạp không đủ sức quản lý vùng đất phía Nam, từ

đầu thế kỷ XVII, vùng đất Chân Lạp đã bắt đầu có lưu dân người Việt ở vùng

đất Thuận – Quảng đến Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hòa) đến khai

khẩn đất hoang, lập ra những làng người Việt trên vùng này, tạo ra cho vùng

đất này một cánh cửa tương lai tốt đẹp hơn.

Năm 1620, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cho Quốc vương

Chân Lạp Chey Chettha II. Từ đó, Chúa Nguyễn trở thành chỗ dựa cho vua

Chân Lạp để đối phó với nước Xiêm. Đồng thời cư dân Việt ở vùng đất Nam

Bộ cũng bắt đầu tự do khai khẩn đất, làm ăn sinh sống, tự tạo lập cuộc sống

mới cho chính mình. Năm 1623, khi mà cư dân Việt đã có mặt hầu khắp miền

Đông Nam Bộ, Chúa Nguyễn đã lập thương điếm ở vị trí tương ứng với Sài

Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) để thu thuế. Đến năm 1628, sau cái

chết của Chey Chetta II, chính quyền Chân Lạp bị chia rẽ, xuất hiện nhiều lỗ

hổng, nhiều cuộc chiến đã diễn ra, điển hình là giữa các phe phái với nhau,

với sự trợ giúp quân sự của một bên là nước Xiêm và một bên là chúa

Nguyễn. Bối cảnh này vừa giúp cho người Việt có thể dễ dàng tiến hành khai

phá những vùng đất hoang hoá ở đồng bằng sông Cửu Long vừa tạo điều kiện

14

cho chúa Nguyễn thiết lập quyền kiểm soát chính thức của mình trên những

vùng đất cư dân Việt đã dựng nghiệp.

Song song đó, cùng với các nhóm cư dân người Việt, trong khoảng thời

gian này cũng xuất hiện một số người trung thành với nhà Minh chống nhà

Thanh đến tiến hành khai khẩn đất hoang và sinh sống làm ăn ở vùng đất

Nam Bộ, giúp đẩy nhanh quá trình khai phá vùng đất đồng bằng Nam Bộ.

Vào năm 1708, để bảo vệ cư dân vùng đất Hà Tiên trước sự tiến công

cướp bóc của người Xiêm vào thời điểm đó, Mạc Cửu đã xin và được nội

thuộc vào triều đình chúa Nguyễn. Đây là một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt

quan trọng. Cho đến năm 1757, đất Tầm Phong Long (tương đương với vùng

Tứ Giác Long Xuyên) được vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng cho chúa Nguyễn

để đền ơn cứu giúp lúc hoạn nạn và giành lại ngôi vua. Qua đó, quá trình xác

lập chủ quyền lãnh thổ của người Việt trên vùng đất Nam Bộ cơ bản đã hoàn

thành.

Để thực thi chủ quyền, từ thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn đã tiến hành

tổ chức các đơn vị hành chính, sắp đặt quan cai trị, lập sổ sách quản lý dân

đinh, ruộng đất và lập ra các loại thuế. Năm 1698, Phủ Gia Định được thành

lập gồm hai dinh là Trấn Biên (Biên Hoà) và Phiên Trấn (Gia Định) quản lý

hơn 4 vạn hộ. Sau năm 1774, vùng đất Nam Bộ chia thành 4 dinh (Trấn Biên,

Phiên Trấn, Long Hồ, Hà Tiên), mỗi dinh quản hạt một phủ, dưới phủ có

huyện, tổng hay xã. Từ đó, về cơ bản tổ chức hành chính của Việt Nam trên

vùng đất Nam Bộ đã được kiện toàn.

Năm 1802, Triều Nguyễn được thành lập, họ tiếp tục con đường sự

nghiệp của các chúa Nguyễn. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống hành chính và

thống nhất quản lý trong cả nước. Năm 1836, vua Minh Mạng cho lập sổ địa

bạ toàn bộ Lục tỉnh Nam kỳ (vùng đất Nam Bộ ngày nay). Bên cạnh chính

sách chính trị, quân sự, triều đình còn khuyến khích phát triển kinh tế – xã

hội, mở mang phát triển dinh điền, đồn điền, xây dựng thuỷ lợi, phát triển

15

giao thông, nâng cao đời sống của người dân ở một mức độ tốt hơn, phát triển

hơn.

Như vậy, vùng đất phương Nam chính là nơi hợp lưu của nhiều lớp,

nhiều dòng văn hóa. Xét về thời gian, Phù Nam, Khme rồi sau này là Việt,

Hoa, Chăm đã tạo nên các lớp văn hóa nối tiếp nhau, có khi đan xen nhau.

Xét về không gian, có những vùng văn hóa tiếp giáp nhau, có khi giao nhau,

hòa hợp vào nhau. Từ thế kỷ I đến thế kỷ VII, Văn hoá Phù Nam rồi đến văn

hoá Khmer vào thế kỷ VII đến thế kỷ XVII, hai nền văn hóa này đã tiếp thu

mạnh mẽ nền văn hoá Ấn Độ. Tiếp đến là văn hoá Việt với sự kế thừa văn

hoá từ vùng đồng bằng sông Hồng. Đối với người Hoa, tuy rằng họ có mặt ở

miền đất này muộn hơn nhưng vẫn kịp hình thành một nét văn hóa riêng độc

đáo của chính mình, tô thêm cho bảng màu văn hóa miền Nam một màu sắc

mới, sống động hơn, đẹp đẽ hơn. Sau người Hoa là người Chăm, họ cũng đã

trở thành một thành viên không thể thiếu trong cộng đồng Việt Nam.

Riêng đối với người Việt, khi tới đây khẩn hoang lập ấp, họ đã luôn

trân trọng và cố gắng “làm sống lại những nền văn hóa thuộc cổ sử và sơ sử

đã lắng sâu dưới lòng đất thấp” (dẫn theo Trần Nam Tiến, 2018). Họ vừa giữ

gìn được bản sắc đậm đà của văn hóa riêng mình, vừa ở tư thế kế thừa, đón

nhận, giao lưu văn hóa với các dân tộc người Khmer, Chăm, Hoa... để cùng

xây dựng một vùng văn hóa đặc sắc. Vùng đất Nam Bộ vừa kế thừa những di

sản tinh thần, văn hóa lâu đời của dân tộc, vừa phát huy và tiếp nhận những

nhân tố mới từ thực tiễn lịch sử, sáng tạo nên những nếp sinh hoạt văn hóa

mới nhằm đáp ứng những nhu cầu của đời sống cư dân nơi vùng đất mới:

“Sớm biết thích ứng với hoàn cảnh, thổ ngơi, tận dụng địa lợi, tạo ra nhân

hòa, sáng tạo vượt khó khăn, giao hòa với con người và văn hóa khác mà vẫn

giữ được phong cách của mình là việc mà tổ tiên ta đã làm được từ lúc đầu đi

khai thác vùng đất mới.” (Sơn Nam, 2017).

16

1.1.2. Điều kiện tự nhiên vùng đất Nam Bộ

Trong hệ thống phân loại 8 vùng địa lý – kinh tế, Nam Bộ gồm 2 bộ

phận hợp thành là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.

Đông Nam Bộ nằm trong lưu vực sông Đồng Nai. Phạm vi của vùng

bao gồm 6 tỉnh/ thành phố là: Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai,

Bà Rịa Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh.

Tây Nam Bộ là vùng đất được khai phá muộn nhất trong lịch sử phát

triển của đất nước. Phạm vi của vùng gồm 13 tỉnh/ thành phố: Long An, Tiền

Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang,

Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.

Đồng bằng Nam Bộ bao gồm hai bộ phận có đặc điểm khác hẳn nhau.

Đó là vùng đồng bằng cao bao gồm các thềm phù sa cổ, bán bình nguyên đất

đỏ ba dan (bazan) ở phía đông, thuộc Đông Nam Bộ; và khu vực đồng bằng

châu thổ sông Cửu Long tương đối bằng phẳng ở phía tây, thuộc Tây Nam

Bộ.

Nam Bộ nằm trong lưu vực của hệ thống sông Đồng Nai – Vàm Cỏ và

hệ thống sông MeKong. Nguồn nước mặt nơi đây khá dồi dào với hệ thống

sông ngòi và kênh đào chằng chịt mang nước dàn trải rộng khắp đồng bằng,

thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp.

Nam Bộ từng là một vùng đất có rất ít người sinh sống. Theo những tài

liệu cổ từ khoảng 300 năm trước đều nói: nơi đây như một vùng đất toàn là

rừng rậm hàng nghìn dặm hoặc những cánh đồng hoang vu không có một gốc

cây, là nơi hàng trăm hàng nghìn con trâu rừng tụ tập thành bầy. Nhưng chỉ

trong vài thế kỉ, người Nam Bộ đã làm thu hẹp một diện tích khổng lồ rừng tự

nhiên để phát triển kinh tế, biến vùng đất hoang vu thành thành vùng kinh tế

trọng điểm phía Nam.

Trải qua hàng trăm năm, văn hóa vật chất và tinh thần của người Kinh

ở Nam Bộ đã hình thành những nét riêng so với miền đất tổ ở phía Bắc. Sự

17

khác biệt đó thể hiện trên nhiều phương diện: khung cảnh làng mạc, cấu trúc

nhà cửa, cơ cấu xã hội... Đặc biệt là sự thay đổi rõ rệt về ngôn ngữ, cá tính,

thói quen, phong tục đã tạo nên diện mạo văn hóa đặc sắc riêng của vùng đất

cực Nam tổ quốc.

1.1.3. Con người Nam Bộ

Nam Bộ là một vùng đa dân tộc, nơi định cư và sinh sống của những

tộc người có lịch sử, văn hóa rất khác biệt, đến từ khắp mọi vùng miền trong

cả nước. Vùng đất Nam Bộ nắng nhiều, nước lắm, những rừng cây rậm rạp,

đầm lầy, lau lách trong buổi đầu khẩn hoang đã góp phần làm nên diện mạo

con người Nam Bộ. Từ những mảnh đất khác nhau, những hành trang văn hóa

của đất Thăng Long, vùng Ngũ Quảng và văn hóa Trung Hoa, họ đã cùng

nhau hội ngộ ở nơi đây, cùng chạm khắc nên cá tính miền Nam và thuần

phong mĩ tục Việt Nam. Họ ra đi vì những khắc nghiệt của cuộc sống nhiều

thăng trầm biến động, đó là những nông dân nghèo khó nhưng gai góc, những

tội đồ bướng bỉnh, những lính thú cứng đầu, và cả những người Hoa không

hàng phục nhà Minh... Ở họ vừa có cái nền tảng văn hóa nghìn năm nơi quê

cha đất tổ, vừa có những thích ứng hòa nhập và biến cải thành một đời sống,

tính cách, tâm hồn, tình cảm rất phương Nam: “Thiên nhiên Nam Bộ còn khá

rộng rãi và hào phóng với con người, đã thế, ở đây lại không có tâm lý phân

biệt người chính cư và người ngụ cư nên người dân sẵn sàng bỏ đi nơi khác

nếu ở nơi cũ, họ cảm thấy không còn sống được nữa, cả về vật chất lẫn tinh

thần.” (Thạch Phương – Hồ Lê, 2014).

Những người sống không bị ràng buộc và cũng không bao giờ chấp

nhận sự ràng buộc bởi một lý do sâu xa là tất cả những lưu dân có mặt ở nơi

đây đều có chung một khát vọng tự do – khát vọng được giải phóng. Họ đến

đây khi nhà Nguyễn chưa thể vươn dài bàn tay phong kiến của mình để chế

ngự hết đất đai điền thổ “dân mở đất trước, nhà nước cai trị sau” (dẫn theo

18

Trần Nam Tiến, 2018). Vì vậy, họ cảm thấy thực sự được tự do, thực sự được

giải phóng, cả trong ý thức:

Trời sinh cây cứng lá dai

Gió lay mặc gió chiều ai chẳng chiều

Cái ý thức vẫy vùng sông nước ấy, cái hùng tâm tráng chí của những

con người không khép mình khuất phục ấy đã được hun đúc trong hoàn cảnh

mới, trở thành tinh thần bất khuất, hiên ngang, thành tâm thế cứng cỏi, ngang

tàng, quyết liệt và táo bạo.

Nam Bộ, dù thiên nhiên có ưu đãi thì thuở “tiền sử” của nó cũng là

một nơi “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn/ Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma”. Có

lẽ, vì vậy mà con người Nam Bộ đã biết kề vai sát cánh, chung lưng đấu cật

với nhau trong một tình tương thân tương ái, giúp đỡ thật lòng và hết mình

“Lao xao sóng bủa dưới lùm/ Thò tay vớt bạn, chết chùm cũng ưng”. Nói đến

họ – những người con đất Nam Bộ – chính là nói đến những con người trọng

nghĩa, khinh tài, nhân nghĩa trước sau với nhau... trong quan hệ bằng hữu,

trong tình làng nghĩa xóm, dân ấp, dân lân...

Qua không ham rộng ruộng lớn vườn

Ham vì nhân nghĩa, cang thường mà thôi

Bằng bản lĩnh, trí tuệ của những con người quyết “dứt áo ra đi”, những

lưu dân Việt đã làm nên sức sống mới cho vùng đất này. Vì lẽ đó, sau nhiều

thế kỉ bị hoang hóa, chiến tranh liên miên, Nam Bộ đã bừng nên sinh khí mới

khi người dân Việt cùng người Hoa đến đây từ thế kỉ XVII. Cùng với người

dân bản địa, lưu dân Việt đã gieo trồng văn hóa riêng của đất và người Nam

Bộ, góp phần tạo nên một nền văn hóa – văn học dân gian đa dạng ở vùng đất

mới này.

1.2. Khái lược về văn hóa phong tục

Trong Cửa vào phong tục Việt Nam, Phạm Việt Tuyển (1974) đã định

nghĩa như sau:

19

Phong tục là thói quen trong đời sống xã hội trải qua thời gian và không

gian. Những thói quen này nhập nhiễm tư tưởng và tình cảm cũng như

chi phối đời sống thực tế hàng ngày của cá nhân, gia đình, xóm làng và

xã hội. Những thói quen ấy có thể liện quan tới tín ngưỡng và tôn giáo,

luân lí và pháp luật, văn nghệ và văn hóa ...

Bàn về phong tục, trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc

Thêm (2001) đã đưa ra nhận định: “Đó là những thói quen đã ăn sâu vào đời

sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo”.

Từ Xuân Lãnh (2019) đã lí giải về phong tục ở Lời nói đầu trong công

trình Phong tục đất phương Nam như sau: “phong tục tập quán là nếp sống

của người dân được tích lũy từ nhiều đời, phản ánh cách nghĩ, cách sống của

một dân tộc, là một bộ phận quan trọng hình thành nên nền văn hóa, góp

phần tạo ra sắc thái riêng của dân tộc ấy”.

Như vậy, khi định nghĩa về phong tục, các nhà nghiên cứu đều gặp gỡ

nhau ở khía cạnh “phong tục là nếp sống, là thói quen được cộng đồng thừa

nhận, lưu truyền”. Điều này có nghĩa là, phong tục, tập quán không tồn tại bất

biến mà có sự thay đổi theo thời gian lẫn không gian để phù hợp với tâm lí địa

phương, vùng miền, dân tộc và xu thế phát triển của thời đại. Phong tục tốt

đẹp sẽ được bảo tồn, phát huy; ngược lại, những phong tục lạc hậu, không còn

phù hợp sẽ bị đào thải.

Theo công tình Nghiên cứu văn học dân gian từ mã văn hóa dân gian,

Nguyễn Thị Bích Hà (2014) đã phân chia phong tục như sau: phong tục gắn

với vòng đời con người gồm: phong tục lúc mang thai và sinh con, phong tục

gắn với nam giới khi vào tuổi thành đinh, phong tục hôn nhân, phong tục lên

lão, phong tục ma chay tang chế; phong tục tập quán gắn với sinh hoạt cộng

đồng như: tục ăn trầu, nhuộm răng,...; phong tục tập quán gắn với tín ngưỡng

như: tục thờ cúng thần linh, thờ cúng tổ tiên.

20

Ở luận văn này, với hướng nghiên cứu văn học dân gian từ góc nhìn

văn hóa, chúng tôi kế thừa và tiếp nhận cách hiểu về văn hóa phong tục như

sau: phong tục là một thành tố của văn hóa, là biểu hiện cụ thể của các giá trị

tinh thần (văn hóa tinh thần/ văn hóa phi vật thể) do con người sáng tạo, vừa

có sự kế thừa vừa có sự thích ứng phù hợp với các mối quan hệ gia đình, cộng

đồng, xã hội. Phong tục có thể là biểu hiện cụ thể sinh động của tín ngưỡng

hoặc là thói quen được lưu giữ trong cộng đồng. Văn hóa phong tục là nét đặc

trưng riêng của mỗi địa phương, cộng đồng, dân tộc, thời đại.

1.3. Vài nét về ca dao Nam Bộ

1.3.1. Khái niệm ca dao

Qua nghiên cứu, chúng tôi phát hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau

về ca dao:

Trong công trình Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm (1968)

cho rằng: “Ca dao (ca: hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài

hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình, phong tục của người

bình dân”.

Ở công trình Văn học dân gian Việt Nam (tập 2), Hoàng Tiến Tựu

(1990) khẳng định: “Ca dao là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất của thơ

dân gian, là loại thơ dân gian truyền thống có phong cách riêng, được hình

thành và phát triển trên cơ sở của thành phần nghệ thuật ngôn từ trong các

loại dân ca trữ tình ngắn (đoản ca) của người Việt”.

Từ điển thuật ngữ văn học, (Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc

Phi chủ biên, 1992) định nghĩa:

Ca dao còn gọi phong dao. Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều

nghĩa rộng hẹp khác nhau. Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc

điệu, dao là bài hát không có khúc điệu. Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn

bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có

khúc điệu. Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca.

21

Trong công trình Văn học dân gian Việt Nam tái bản lần thứ 5, Đinh

Gia Khánh (chủ biên), chương III, phần Ca dao, Chu Xuân Diên (2001) cho

rằng:

Ca dao là những bài hát thường ngắn, hoặc hai, bốn, sáu hay tám câu,

âm điệu lưu loát, phong phú… Theo cách hiểu thông thường, thì ca dao

là lời các bài dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc

ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành làn điệu dân ca.

Khái niệm ca dao được diễn giải trong công trình nghiên cứu Văn học

miền Nam Lục Tỉnh tập 1, như sau: “Dân ca bao gồm lời ca, giọng điệu và lề

lối ca diễn; còn ca dao ngoài những sáng tác riêng, thì là những câu thơ, bài

ca được chắt lọc, rút tỉa ra trong các loại dân ca rồi gạn bỏ những tiếng đệm

thường được dùng để đẩy đưa cho giọng hát” (Nguyễn Văn Hầu, 2012).

Theo Giáo trình văn học dân gian, chương VI, phần Ca dao, Phạm Thu

Yến (2015) nêu định nghĩa: “Ca dao là thơ dân gian tồn tại ở dạng lời thơ

hoặc điệu hát, gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt của nhân dân. Với bản

chất trữ tình, ca dao có chức năng diễn tả một cách trực tiếp tâm hồn tình

cảm của nhân dân lao động”.

Như vậy, xét về bản chất, ca dao và dân ca hầu như không có ranh giới

rõ rệt. Khái niệm ca dao dùng để chỉ bộ phận cốt lõi nhất, tiêu biểu nhất; đó là

bộ phận những câu hát mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong

cách, đã trở thành cổ truyền của dân tộc. Dù ca dao được quan niệm rộng hẹp

khác nhau nhưng không mâu thuẫn về bản chất. Một bài ca dao không cần

tiếng đệm, luyến láy nhạc điệu thì là ca dao; còn một bài ca dao dùng để hát

có thêm tiếng nhạc đệm, đưa hơi thì sẽ thành dân ca.

Có nhiều định nghĩa khác nhau về ca dao nhưng tựu trung lại, chúng tôi

đề xuất cách hiểu ca dao như sau: Ca dao là sáng tác trữ tình dân gian, là sản

phẩm chung của dân tộc, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được

sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người.

22

1.3.2. Khái niệm ca dao Nam Bộ

Từ cơ sở lý luận về ca dao Việt Nam, chúng tôi đề xuất cách hiểu về ca

dao Nam Bộ như sau: Ca dao Nam Bộ là những câu ca dao được sử dụng, lưu

truyền ở Nam Bộ hoặc được sáng tác ở Nam Bộ.

Nội dung của ca dao Nam Bộ tập trung thể hiện các chủ đề sau: tình

cảm của con người đối với quê hương, đất nước; tình yêu lứa đôi; tình cảm

gia đình; phong tục và các mối quan hệ xã hội. Các chủ đề này cũng nằm

trong chủ đề phản ánh chung của ca dao các vùng miền khác trên đất nước

Việt Nam. Sự giống nhau này góp phần khẳng định ca dao Nam Bộ là một bộ

phận của ca dao Việt Nam.

Tuy nhiên, cũng như các thể loại văn học dân gian, ca dao cũng mang

đậm dấu ấn địa phương trong nội dung thể hiện. Ca dao Nam Bộ phản ánh

những nét đặc thù của vùng đất cực nam tổ quốc. Đó là hình ảnh chốn rừng

rậm, khắc nghiệt “Cà Mau khỉ khọt trên bưng/ Dưới sông sấu lội, trên rừng

cọp um”; sự giàu có của thiên nhiên “Ai ơi về miệt Tháp Mười/ Cá tôm sẵn

bắt, lúa trời sẵn ăn” và trên hết sự lao động của con người đã biến mảnh đất

hoang vu thành một vùng trù phú với nhiều sản vật nổi tiếng “Bến Tre giàu

mía Mỏ Cày/ Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn/ Bến Tre biển cá,

sông tôm/ Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng”. Đó là lịch sử đau thương

mà anh dũng “Bần gie đóm đậu sáng ngời/ Rạch Gầm soi dấu muôn đời oai

linh”. Đó là sự bộc trực, thẳng thắn trong tình yêu “Anh thương em từ thuở

tóc bỏ lòng thòng,/ Đến bây giờ một ngọn ba bốn vòng cũng thương”...

Như vậy, nằm trong hệ thống của ca dao Việt Nam, nên về hình thức,

nội dung, ý nghĩa, ca dao Nam Bộ cũng như ca dao các miền khác, vừa có nét

chung của đặc trưng thể loại vừa có nét riêng gắn với hoàn cảnh lịch sử, tự

nhiên, xã hội, văn hóa, tâm lý, tính cách con người ở vùng đất phương Nam.

Ca dao Nam Bộ là tiếng nói tâm hồn được cất lên thành làn điệu của

lưu dân xa xứ như cách nói của Đào Văn Hội (1961): “cười nên tiếng khóc,

23

hát nên giọng sầu, hoặc gay gắt như nắng mùa hè, hoặc sảng khoái như tiếng

gọi non sông”. Ca dao gắn liền với cuộc sống người dân nơi đây: từ không

gian sinh hoạt đời thường, dân dã đến không gian sinh hoạt cộng đồng nghi

lễ, hội hè; đó là câu hò mênh mang sông nước, đó là bài ca dao đối đáp trong

những ngày mùa, đó là câu hát nghi lễ trong ngày hội…

Tóm lại, trong hành trình về đất phương Nam, ca dao Nam Bộ cùng với

các thể loại văn học dân gian khác đã góp phần làm giàu hơn màu sắc văn hóa

của vùng đất mới.

1.3.3. Mối quan hệ giữa ca dao và văn hóa phong tục

Phong tục hình thành từ đời sống thực tế của con người xa xưa, từ các

tập tục, thói quen đến các nghi lễ tôn giáo. Văn chương cũng không tách khỏi

cuộc sống và con người. Vì thế, phong tục đi vào văn chương một cách rất tự

nhiên. Đặc biệt là văn học dân gian, đây là mảnh đất tươi tốt để phong tục, tập

quán ăn sâu, bám rễ.

Trong Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, Nguyễn Thị Bích Hà

(2018) đã khẳng định:

Văn học dân gian là một bộ phận của văn hóa dân gian. Văn học dân

gian liên quan chặt chẽ với mọi phương diện khác nhau của sinh hoạt đời

sống xã hội. Nó gắn bó với tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục tập quán, sinh

hoạt lớn nhỏ trong các làng quê Việt Nam, với tính chất lưu giữ, minh

giải, nâng cao và thể hiện bản sắc. Văn học dân gian có cội nguồn từ đời

sống sinh hoạt xã hội, nó được kết tinh và cách điệu từ sinh hoạt cộng

đồng, rồi quay trở lại phục vụ cho đời sống sinh hoạt ấy thêm hiệu quả.

Là một trong những thể loại tiêu biểu của văn học dân gian Việt Nam, ca

dao là tiếng nói phản ánh đời sống tâm hồn, tình cảm của quần chúng nhân

dân, phản ánh lịch sử xã hội, và do vậy, nó là một nguồn tư liệu phong phú

thể hiện phong tục, tập quán của từng địa phương, của từng thời đại lịch sử.

Nói cách khác, ca dao có nội dung phản ánh và biểu đạt rất rộng lớn. Ca dao

24

là nơi cất giữ tâm hồn dân tộc, có màu tươi xanh của ước vọng, có nỗi đau

thân phận, cảnh ngộ trái ngang, có niềm nhớ thương vời vợi... của nhiều

người, nhiều lứa tuổi khác nhau, ở các vùng miền khác nhau trên đất nước.

Những bài ca dao với những vần điệu trữ tình đã đi vào đời sống văn hóa

– tinh thần của người dân Việt một cách nhẹ nhàng, dung dị, thanh tao. Nó

không chỉ vẽ nên khung cảnh sinh hoạt lễ hội tưng bừng: “Ví dầu cá bống

xích đu/ Tôm càng hát bội, cá thu cầm chầu” những bức tranh sinh hoạt nơi

đồng lúa, dòng sông, rừng rậm, đồi núi: “Trèo lên thanh trục đứng cao,/ Thấy

lưng em cấy dạ nào không thương”; “Cha chài, mẹ lưới, con câu/ Chàng rể

đóng đáy, con dâu ngồi nò”; “Ngó qua bên núi Tô Châu,/ Thấy cô gánh nước

trên đầu cài ghim”… mà đó còn là giọng da diết của kẻ chung tình: “Song

song đôi ngọn gươm vàng/ Thác thời chịu thác chứ buông nàng không

buông”; giọng thành kính của người con thảo: “Nước trên nguồn đổ xuống/

Cây dưới cội mọc lên/ Ai ơi chữ hiếu lo bền/ Trước đền ơn nước, sau đền mẹ

cha”; giọng dịu dàng, thân ái của vợ hiền: “Lầu nào cao bằng lầu ông

Chánh/ Bánh nào trắng bằng bánh bò bông/ Đạo nào thương bằng đạo vợ

chồng/ Dầu lâm cơn bệnh hoạn cũng bế bồng nuôi nhau”, giọng hài hước,

mỉa mai: “Áo dài chẳng nệ quần thưa/ Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm”;

“Bao giờ ông Chánh về Tây/ Cô Ba ở lại lấy thầy thông ngôn”… Có thể ví ca

dao như một chuyến đò chuyên chở biết bao tình cảm của người dân Việt từ

xưa đến nay, cùng với các thể loại văn học dân gian khác, ca dao đã góp phần

làm sâu sắc, phong phú hơn kho tàng văn hóa Việt Nam. Theo cách nói của

Nguyễn Thị Bích Hà (2018): “Ca dao có giọt nước mắt và nụ cười, có cả nền

văn hóa Việt thấp thoáng che nghiêng”. Có thể nói, những thói quen sinh hoạt

diễn ra trong đời sống hàng ngày của người lao động đều đi vào ca dao.

Trong Lời bạt Dân ca miền Nam Trung Bộ, Xuân Diệu khẳng định:

“Những câu ca dao từ Nam chí Bắc như có đất, như có nước, như có cát, có

biển như có mồ hôi người, chúng ta sẽ cảm thấy dần dần tụ lại nơi khóe mắt

25

một giọt ướt sáng ngời. Đó là một giọt tinh túy chắt ra từ ruột của non sông”

(Dẫn theo Phạm Thu Yến, 2015).

Từ trong các lĩnh vực sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhân dân lao

động, ca dao đã biểu lộ văn hóa phong tục một cách phong phú. Từ góc nhìn

này, chúng ta có thể hiểu được “tảng băng trôi” mà phần chìm là giọt tâm

hồn, là kí ức lưu giữ trong tâm thức dân gian những phong tục vòng đời,

phong tục lễ hội, phong tục thờ cúng tổ tiên...

Đặc điểm dân tộc được thể hiện rất rõ trong ca dao của bất kì dân tộc

nào, trên cái nền chung ấy, mỗi bài ca dao lại có vẻ đẹp độc đáo riêng, làm

nên diện mạo riêng của từng vùng văn hóa. Ca dao Nam Bộ vẫn thể hiện đầy

đủ những chủ đề của ca dao Việt Nam. Tuy nhiên, vùng đất phương Nam với

lịch sử hình thành khá “đặc biệt” đã tạo nên những nét riêng độc đáo trong

cách quan sát, cảm nhận, nếp sống, sinh hoạt giao tiếp của lớp người “lưu dân

tứ xứ”. Do đó, ca dao Nam Bộ vừa phản ánh tâm hồn phóng khoáng của con

người đất phương Nam trong hành trình mạo hiểm khám phá vùng đất mới

vừa mang đậm dấu ấn văn hóa phong tục của người Việt ở vùng đất này.

1.4. Tình hình nguồn tư liệu tác phẩm được khảo sát

Trong quá trình sưu tầm tài liệu, chúng tôi nhận thấy có khoảng cách

khá lớn trong việc lưu giữ ca dao giữa hai tiểu vùng Đông Nam Bộ và Tây

Nam Bộ.

Ở Đông Nam Bộ, chưa có những công trình sưu tầm, biên soạn ca dao

riêng biệt của từng tỉnh nên chúng tôi tìm đọc các công trình địa chí của địa

phương, cụ thể:

1. Địa chí Bình Dương (tập 4: Văn hóa – Xã hội), Phan Xuân Biên

(2010), Nxb. Chính trị Quốc gia.

2. Địa chí Bình Phước (tập 2: Kinh tế – Văn hóa – xã Hội), Lê Hữu

Phước, Giang Văn Khoa (2015), Nxb. Chính trị Quốc gia.

26

3. Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (tập 2: Văn học – Báo chí

– Giáo dục), Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (1998), Nxb. Tổng hợp Thành

phố Hồ Chí Minh.

4. Địa chí Tây Ninh (Chương VI. Đời sống Văn hóa – Xã hội), Viện

Khoa học Xã hội Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh (2006), Sở Văn hóa –

Thông tin Tây Ninh.

Những công trình này được biên soạn công phu, thuyết minh chi tiết về

địa lí, lịch sử, kinh tế đặc biệt là truyền thống văn hóa – văn nghệ địa phương.

Mục ca dao dân ca được nhắc đến với nội dung chủ yếu là lịch sử vùng đất, vẻ

đẹp quê hương và con người. Do đó, số lượng ca dao sưu tầm không đáng kể.

Kết quả tìm hiểu về ca dao ở Tây Nam Bộ thì khác hẳn, văn học dân

gian có một sức sống mạnh mẽ trong lòng người dân xứ này. Hầu như, mỗi

tỉnh đều có những công trình địa chí ghi nhận lại lịch sử, địa lí, kinh tế, văn

hóa, văn học địa phương. Đặc biệt một số tỉnh còn có cả công trình sưu tầm,

nghiên cứu văn học dân gian địa phương như Bến Tre, Bạc Liêu, Sóc Trăng...

Ca dao dân ca Nam Bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần

Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, xuất bản 1984, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.

Tài liệu gồm 2760 bài ca dao với các chủ đề: tình yêu quê hương đất nước

(152 bài); tình yêu nam nữ (1965 bài); tình cảm gia đình (278 bài); tình cảm

cha mẹ – con cái (116 bài); các mối quan hệ khác (249 bài). Chúng tôi tuyển

chọn được 300 bài ca dao phản ánh phong tục Việt Nam.

Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường do Lê Trí Viễn biên soạn, xuất bản

năm 1994, Nxb. Giáo dục. Đây là tài liệu giảng dạy cho học sinh THPT tỉnh

Tây Ninh. Số lượng ca chỉ có 12 bài và chúng tôi chọn được 4 bài phù hợp

với nội dung nghiên cứu.

Văn học dân gian Đồng Bằng sông Cửu Long của trường Đại học Cần

Thơ, xuất bản năm 1997. Mục “Ca dao – dân ca” có số lượng ca dao 1003 bài

chia theo các chủ đề: quê hương đất nước (36 bài); lao động sản xuất (27 bài);

27

đời sống tình cảm (874 bài); phong tục tập quán và tâm lý xã hội (66 bài).

Chúng tôi tổng hợp được 202 bài.

Ca dao, hò, vè Vĩnh Long do Nguyễn Chiến Thắng (chủ biên), xuất bản

năm 2005, Nxb. Trẻ. Phần ca dao có nội dung phong phú: ca dao về thiên

nhiên, con người (170 bài); ca dao về tình yêu đôi lứa (503 bài); ca dao về

tình cảm gia đình, quan hệ xã hội (295 bài); ca dao về thời cuộc (127 bài).

Phần hò có hò trên sông (16 bài); hò trên đồng (19 bài); hò đối đáp (13 bài);

hò truyện (18 bài); hò thời sự (44 bài); hò xay lúa (1 bài). Trong 1206 đơn vị

tác phẩm, chúng tôi tuyển chọn được 152 bài.

Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục Tỉnh do Huỳnh Ngọc Trảng biên soạn, xuất

bản năm 2006, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai. Đây là công trình sưu tầm gồm có

câu hát góp, hát và hò góp, hò xay lúa, câu hát đối đáp, câu hát huê tình, hò

miền Nam. Tổng cộng được 2273 bài và chúng tôi chọn được 147 bài.

Văn học dân gian Bạc Liêu do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản năm

2011, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. Mục “Ca dao – dân ca” số lượng ca dao

là: 676 bài gồm: quê hương đất nước 100 bài; tình yêu đôi lứa 410 bài; hôn

nhân gia đình 98 bài; các mối quan hệ khác 68 bài. Chúng tôi tổng hợp được

75 bài ca dao từ tuyển tập này.

Văn học dân gian Sóc Trăng do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản

năm 2011, Nxb. Văn hóa – thông tin, Hà Nội. Mục “Ca dao – dân ca” số

lượng ca dao có 311 bài, chúng tôi tuyển chọn 138 bài.

Văn học Miền Nam Lục Tỉnh tập 1 do Nguyễn Văn Hầu biên soạn, xuất

bản năm 2012, Nxb. Trẻ. Số lượng ca dao là 478 bài. Chúng tôi tuyển chọn

được 125 bài.

Văn học dân gian Bến Tre do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên), xuất bản

năm 2015, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. Mục “Ca dao – dân ca” số lượng ca dao

là 1460 bài được chia theo các chủ đề: ca dao về tình yêu quê hương đất nước

28

và lao động sản xuất; ca dao về tình yêu nam nữ. Chúng tôi tổng hợp được

216 bài.

Văn học dân gian An Giang (tập 3) do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên),

xuất bản năm 2015, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. Mục “Ca dao – dân ca” số lượng

ca dao là 1319 bài gồm các chủ đề: quê hương đất nước; lao động sản xuất;

tình yêu nam nữ; tình cảm gia đình; các mối quan hệ khác. Chúng tôi tuyển

chọn được 155 bài.

Luận văn Khảo sát ca dao – dân ca Bến Tre của Đặng Thị Thùy Dương,

năm 2009, trường Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh, phần sưu tầm điền dã

chúng tôi chọn được 8 bài.

Do thời gian và điều kiện có hạn nên chúng tôi chưa thể tiến hành điều

tra điền dã ở các tỉnh của Nam Bộ.

Từ thực tế trên, nguồn tư liệu ca dao Nam Bộ chúng tôi khảo sát,

nghiên cứu là từ những công trình điền dã công phu, được sắp xếp hệ thống,

phân chia cụ thể, chứa đựng giá trị tinh thần quí báu của người dân đất

phương Nam như:

Số lượng bài ca dao trong các tài liệu được chúng tôi thống kê theo

bảng sau (xem Bảng 1.1)

Bảng 1.1. Thống kê nguồn tư liệu về ca dao dân gian Nam Bộ

SL

SL

SL bài

NGUỒN TƯ LIỆU

SL dị

STT

ca dao

bài

không

SƯU TẦM

bản

(bài)

trùng

trùng

00

1

Ca dao dân ca Nam Bộ

300

00

300

Thơ văn Tây Ninh

00

2

4

00

4

trong nhà trường

VHDG Đồng Bằng

3

202

60

55

87

sông Cửu Long

29

SL

SL

SL bài

NGUỒN TƯ LIỆU

SL dị

STT

ca dao

bài

không

SƯU TẦM

bản

(bài)

trùng

trùng

Ca dao, hò, vè Vĩnh

152

65

4

01

86

Long

Ca dao dân ca Nam Kì

147

03

5

02

142

Lục Tỉnh

Văn học dân gian Bạc

75

25

6

02

48

Liêu

Văn học dân gian Sóc

138

20

7

82

36

Trăng

Văn học Miền Nam

125

80

8

30

15

Lục Tỉnh

Văn học dân gian Bến

216

79

9

06

138

Tre

Văn học dân gian An

155

02

10

01

153

Giang

Khảo sát ca dao – dân

8

00

11

00

8

ca Bến Tre

Tổng cộng

1522

334

179

1009

Tổng số câu khảo sát

1.188

Như vậy, từ các nguồn tài liệu chính là 11 công trình trên, chúng tôi

tổng hợp được 1522 bài ca dao Nam Bộ.

Trong đó, có 334 bài ca dao bị trùng nhau giữa các tuyển tập, chúng tôi

chỉ giữ lại một bài. Đối với 179 dị bản, chúng tôi vẫn giữ lại để khảo sát. Bởi

vì, những dị bản này cho thấy sự phong phú cũng như sức lan tỏa sâu rộng

của ca dao Nam Bộ trong dân gian.

30

Do tập hợp từ nhiều nguồn tư liệu nên số liệu cuối cùng chúng tôi có

được chỉ ở mức độ gần đúng chứ chưa phải là chính xác tuyệt đối. Chúng tôi

chọn những bài không trùng nhau giữa các tài liệu, khoảng trên 1.188 bài

(tính luôn dị bản). Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi tạm phân loại

như sau: (xem Bảng 1.2)

Bảng 1.2. Thống kê ca dao dân gian Nam Bộ theo phong tục

STT

Chủ đề

Số lượng (bài)

Tỉ lệ %

Hôn nhân

470

39,5

1

Tang ma

152

12,8

2

Thờ cúng đa thần

419

35,3

3

Thờ cúng trong gia đình

147

12,4

4

Tổng cộng

1.188

100

5

Dựa trên biểu hiện của văn hóa phong tục, chúng tôi nghiên cứu ca dao

Nam Bộ trên hai phương diện: phong tục gắn với vòng đời con người và

phong tục gắn với tín ngưỡng.

31

Tiểu kết chương 1

Mở đầu chương 1, chúng tôi đã giới thiệu một số vấn đề có tính chất

khái quát về đất và người Nam Bộ. Quá trình hình thành và phát triển vùng

đất này đã tạo nên chân dung văn hóa đầy cá tính của vùng đất mới Nam Bộ.

Tiếp theo, chúng tôi tổng thuật các giới thuyết về khái niệm ca dao, từ

đó, chúng tôi đưa ra cách hiểu về ca dao Nam Bộ để xác lập đối tượng, phạm

vi nghiên cứu phù hợp với đề tài. Đồng thời, chúng tôi đã trình bày khái niệm

về văn hóa phong tục cũng như chỉ ra mối quan hệ của ca dao và văn hóa

phong tục để thấy được dòng chảy truyền thống của văn hóa Việt trên mảnh

đất phương Nam. Những âm điệu du dương, ngọt ngào, ca dao Nam Bộ đã tạo

thành “điệu hồn” của dân tộc. Nơi đó không chỉ chứa đựng tình cảm của con

người mà còn phản ánh những giá trị văn hóa của ông cha. Nghiên cứu ca dao

dưới góc nhìn phong tục giúp ta hiểu hơn giá trị truyền thống trong đời sống

tinh thần, để trân trọng những di sản văn hóa của dân tộc.

Phần cuối chương, chúng tôi giới thiệu quá trình tìm hiểu, tập hợp

nguồn tư liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu. Số lượng tác phẩm mà chúng tôi

thống kê, sưu tầm, chọn lọc là nguồn tư liệu quí giá để chúng tôi khảo sát,

phân tích làm sáng tỏ văn hóa phong tục của người Việt qua ca dao Nam Bộ.

Tóm lại, tất cả các vấn đề chung về vùng văn hóa Nam Bộ, ca dao Nam

Bộ cùng việc tổng hợp nguồn tư liệu là tiền đề để hiểu được bản chất của vấn

đề, xác lập cở sở lí luận, từ đó đi sâu vào các nội dung nghiên cứu ở hai

chương tiếp theo.

32

Chương 2

CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN PHONG TỤC GẮN VỚI

VÒNG ĐỜI CON NGƯỜI

Phong tục là một nét đẹp góp phần làm nên văn hóa Việt. Trên bước

đường trường chinh tiến về phương Nam, những lưu dân Việt đã mang theo

nét đẹp phong tục văn hóa từ cội nguồn. Khi đến Nam Bộ, những phong tục

ấy được bảo tồn và phát triển tạo nên nét đặc sắc riêng của vùng văn hóa mới.

Trong chương này, chúng tôi triển khai nghiên cứu ca dao Nam Bộ từ

góc nhìn phong tục gắn với vòng đời con người qua hai phương diện: hôn

nhân và tang ma.

2.1. Phong tục hôn nhân

Hôn nhân là phương thức để xây dựng, duy trì và phát triển gia đình. Vì

vậy, hôn nhân vừa ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của mỗi cá nhân, liên

quan chặt chẽ tới toàn bộ hệ thống xã hội, vừa là biểu hiện sinh động sắc thái

của văn hóa tộc người. Đối với người Việt hôn nhân không chỉ là sự thừa

nhận hợp pháp về giới tính mà còn mang nhiều ý nghĩa văn hóa. Để thành vợ,

thành chồng, cha mẹ đôi bên tiến hành tổ chức hôn lễ cho đôi trẻ. Việc tổ

chức hôn lễ này trở thành một phong tục đẹp trong văn hóa Việt Nam. Theo

tập Biên khảo Nói về miền Nam, cá tính miền Nam và thuần phong mỹ tục

Việt Nam: “Hôn lễ được xem như quan trọng hàng đầu, dính dấp trực tiếp

đến việc nối dõi dòng họ, sanh con đẻ cháu, để rồi dân đông, nước mạnh”

(Sơn Nam, 2017).

Quan niệm hôn nhân trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ đã được

phản ánh cụ thể trong ca dao: “Trai trưởng thành định đôi can lệ,/ Gái khôn

rồi đặng chữ vu qui/ Trăm năm có một lần đi,/ Trai thì trọn hiếu, gái thì thủy

chung”. Bài ca dao là lời dặn dò về trách nhiệm trong hôn nhân, thấm đẫm

đạo lí của dân tộc. Hôn nhân đời người chỉ có một lần nên phải biết giữ gìn

33

hiếu đạo, nghĩa tình. Các bậc làm cha mẹ thường dạy con cái tuân thủ theo

tam cương, ngũ thường. Trai thì trọn đạo trung hiếu, gái giữ gìn tiết hạnh,

thủy chung, lớn lên thì “dựng vợ gả chồng” cho cái. Đến khi con cái thành

thất gia, cha mẹ mới yên tâm con mình đã trưởng thành, khôn lớn, có đủ khả

năng để chăm sóc bảo vệ gia đình.

Phong tục hôn nhân với những lễ nghi quan trọng như nạp tài, vấn

danh, nạp cát, nạp tệ, thỉnh kì, thân nghinh được cất lên bằng tiếng nói đằm

thắm, yêu thương qua bài ca dao: “Mảng nói chơi mà trời gần sáng,/ Xin anh

bỏ lảng duyên nợ đôi ta./Dằn lòng về thưa với má ba,/ Sắm lo sáu lễ đến nhà

nói em”. Tục ngữ nêu cách chọn vợ, chọn chồng: “Cưới vợ xem tông, lấy

chồng xem giống”. Nét đẹp của phong tục cưới trong bài Giấc mơ anh lái đò

của Nguyễn Bính gợi lên không khí vui tươi, náo nhiệt:

“Đồn rằng đám cưới cô to

Nhà trai thuê chín chiếc đò đưa dâu

Nhà gái ăn chín nghìn cau,

Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu chín nghìn ...”

Qua khảo sát ca dao tình yêu, hôn nhân chúng tôi tìm được 65 bài về

ông mai, 54 bài về quan niệm “chọn vợ, chọn chồng”, 16 bài về xem tuổi kết

hôn, 174 bài về lễ vật cưới, 8 bài nói về việc thách cưới, 118 bài nói về “ông

tơ, bà nguyệt” và 35 bài nói về các nghi lễ cưới hỏi (đám nói, đám hỏi, đám

cưới). Từ nguồn tư liệu này, chúng tôi nghiên cứu phong tục hôn nhân trong

ca dao Nam Bộ qua các nghi lễ sau: lễ dạm ngõ, lễ hỏi, lễ cưới.

2.1.1. Lễ dạm ngõ

Không gian lao động, sinh hoạt, hội hè đã tạo điều kiện cho thanh niên

nam nữ có cơ hội bày tỏ tình cảm yêu đương. Khi tình cảm đong đầy, họ cùng

khao khát về một mái ấm gia đình, cùng chung tay xây dựng tương lai. Những

cung bậc cảm xúc ấy được thể hiện vô cùng sinh động trong ca dao:

“– Ra đồng ruộng thấy con cò trắng tựa như vôi

34

Hai đứa mình còn nhỏ mà xứng đôi quá chừng

– Anh ơi đừng vội mà mừng

Cá ra sông con cá lội

Anh có thương em thì bước tới

Bỏ miếng trầu hờ cho chắc tay.”

Cùng quan niệm tình yêu gắn với hôn nhân, hành động “bỏ miếng trầu

hờ” thể hiện một nét đẹp trong phong tục cưới xin của người Nam Bộ xưa.

Khi nhà chàng trai cậy mối mai, mang trầu rượu đến nhà cô gái để gặp gỡ,

chính thức đặt vấn đề hôn sự, cho đôi trẻ tìm hiểu nhau kĩ càng hơn để tiến tới

hôn nhân gọi là lễ dạm ngõ. So với các lễ khác thì lễ dạm ngõ đơn giản hơn.

Đôi khi, cả hai gia đình thoải mái, không đặt nặng lễ vật thì chỉ cần khay trầu,

chai rượu là được: “Mâm trầu hũ rượu, đâu đó đàng hoàng/ Cậy mai đến nói,

phụ mẫu tàng là xong”. Vì vậy, người miền Nam còn gọi bằng tên dân dã là

đám nói hay lễ bỏ rượu.

Có 65 bài ca dao nói về “người mai dong” (còn được gọi là ông mai),

chiếm tỉ lệ 13,8% trong tổng số ca dao phản ánh phong tục hôn nhân. Kết quả

này cho thấy vai trò quan trọng của “người mai dong” trong cưới hỏi. Trong

ca dao Nam Bộ, người mai dong thường làm nam. Bởi vì việc giao tiếp xã hội

ngày xưa, nhất là những việc có tính chất lễ nghi thường do đàn ông phụ trách

còn người phụ nữ chỉ quản lí cuộc sống gia đình.

Hình ảnh “người mai dong” trong ca dao là những người thân cận, gần

gũi với gia đình cô gái để dễ dàng tới lui bàn bạc vấn đề cưới hỏi: “Thương

em chẳng dám lại gần/ Cậy người thân cận phân trần với em”; “Cũng nhờ

cô bác đôi bên/ Mỗi người một tiếng mới nên cang thường”. Ông mai có vai

trò kết nối hai gia đình nhà trai và nhà gái. Người xưa tin rằng, người mai

dong có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống sau này của đôi trẻ. Cho nên, những

người làm ông mai bà mối phải là người có tính tình vui vẻ, hoạt bát, đặc biệt

35

là gia đình phải toàn vẹn, con cái đủ nếp đủ tẻ để đôi vợ chồng trẻ được

“hưởng phước” hạnh phúc đủ đầy (Từ Xuân Lãnh, 2019).

Trong lễ dạm ngõ, ông mai được ví như chiếc cầu nối nhịp tình yêu.

Điều này được thể hiện rõ trong bài ca dao sau:

“Nay em còn cha, còn mẹ, còn cô, còn bác

Nên em không dám tự tung tự tác một mình

Anh có thương em thì cậy mai dong đến nói

Cha mẹ có bằng lòng, em mới ưng”.

Bài ca dao thể hiện tâm ý của cô gái khi đứng trước vấn đề trọng đại

của cuộc đời. Hôn sự của con, đặc biệt là con gái thường do cha mẹ sắp đặt,

con cái không được vượt quyền. Cho nên, dù yêu thương, họ vẫn phải đợi sự

đồng thuận của mẹ cha, đợi mối mai đến dạm hỏi “cậy mai dong” cho đúng

lễ nghi.

Công việc của người mai dong được phác họa trong những câu ca dao sau:

“– Cây tre lóng cụt lóng dài,

Anh lấy em vì bởi ông mai lắm lời

“– Bà mai muốn ăn đầu heo

Nói chuyện giàu nghèo, đưa đẩy, đẩy đưa”

“– Ông mai chân thấp chân cao

Muốn ăn thịt mỡ nói vào nói ra”.

Người mai dong có mặt trong suốt chặng đường cưới hỏi từ lễ dạm

ngõ, lễ hỏi cho đến lễ cưới. Có thể ví người mai dong như con thoi đi lại giữa

hai gia đình để chấp mối lương duyên cho đôi trẻ. Khi được cậy nhờ, người

mai dong thường sang nhà gái thuyết phục cha mẹ cô gái bằng lòng. Việc này

cần “tài ăn nói”, khả năng đưa đẩy khéo léo, cốt sao để nhà gái thấy thành ý,

mong muốn được kết thông gia của nhà trai. Vì vậy, họ thường hết lời khen

ngợi những đức tính tốt của chàng trai cũng như cách sống có tình, có nghĩa

của nhà trai, cả chuyện giàu nghèo, được mất khi cô gái về nhà chồng để nhà

36

gái chấp thuận. Nói cách khác, khi chọn được người mai dong tốt, cơ hội kết

hôn của đôi nam nữ sẽ cao hơn.

Ở ca dao Nam Bộ, cụm từ “cậy mai dong” hay “cậy mai” xuất hiện

nhiều lần như một tín hiệu tốt đẹp của tình yêu: “Đắng khổ qua, chua lè

chanh giấy/ Dẫu ngọt cho mấy cũng trái cam xanh/ Anh thương em đừng dỗ

đừng dành/ Cậy mai dong đến nói, phụ mẫu đành em ưng”; “Đợi lịnh song

thân anh đành phải vậy,/ Em quyết một lời, anh cậy mai dong”. Phải chăng,

khi đồng ý cho người mai dong đến nhà là cô gái đã ngầm ý chấp nhận lời cầu

hôn của chàng trai?

Bên cạnh đó, cách nói “Cây oằn vì bởi trái sai/ Anh xa em vì bởi ông

mai ít lời” phản ánh sự đau khổ, tiếc nuối của những chàng trai, cô gái khi

duyên nợ không thành. Điều này đã góp phần khẳng định vai trò quan trọng

của người mai dong trong việc kết nên duyên đôi lứa: “Đũa vàng dộng xuống

mâm son/ Lâu nay mới gặp nguồn cơn hội này/ Gắng công nối sợi chỉ mành/

Nối ba lần nối mà sự bất thành tại ai/Cây oằn vì bởi trái sai/ Anh xa em vì bởi

ông mai ít lời”; “Cây oằn vì bởi trái sai/ Xa chàng vì bởi ông mai ít lời/ Sắt

lâu còn có khi mòn/ Mẹ cha ép buộc duyên con/ Phụ tình lỗi ấy chẳng còn ăn

năn”; “Cây oằn vì bởi trái sai/ Anh xa em vì bởi ông mai ít lời/ Ít lời nên ba

má chẳng nhận lời/ Phận em là gái bẻ nạng chống trời sao nên?”. Chính vì

ông mai có vai trò “đưa đường chỉ lối” nên thiếu ông mai thì hôn sự khó

thành: “Sông Cái Cá không rộng không dài/ Trăm năm xuôi chảy miệt mài/

Tiếc cho người nghĩa thiếu ông mai dẫn đường”.

Ca dao Nam Bộ còn phản ánh sự biết ơn của đôi vợ chồng trẻ đối với

ông mai: “Cậy người giá thú trao lời/ Đôi ta sum họp, ơn người tạ ơn”. Việc

“tạ ơn” cốt yếu ở tấm lòng quí mến người mai dong đã có công kết mối duyên

lành. Theo Phong tục đất phương Nam “Khi đám cưới xong, nhà trai có mâm

lễ vật đưa đến nhà người mai dong và rót rượu nói lời tạ ơn, trong mâm lễ vật

37

thường có cái đầu heo để tỏ lòng kính trọng, nhưng cũng có khi chỉ cần cặp

trà, cặp rượu mà thôi” (Từ Xuân Lãnh, 2019).

Bên cạnh sự nồng nàn của hạnh phúc lứa đôi, ca dao Nam Bộ còn

chuyển tải nỗi giận hờn, trách móc trong quan hệ vợ chồng. Đời sống vợ

chồng không thể tránh những lúc “cơm không lành, canh không ngọt”, khi

không thể oán cha trách mẹ, trách vợ, trách chồng, người bình dân xưa trách

ông mai: “Con gà trống tía/ Cái lông cũng tía/ Ngọn lang dâm/ Ngọn mía

cũng dâm/ Ông mai ngọt miệng em lầm/ Bây giờ nghĩ lại, em giận thầm ông

mai”. Do vậy, việc làm mai không phải dễ dàng, đôi lúc lại mang tai tiếng.

Có phải vì điều đó mà dân gian thường nói: “Trên đời có bốn cái ngu/ Làm

mai, nhận nợ, gác cu, cầm chầu?”

Ở lễ dạm ngõ, nhà trai và nhà gái trao đổi thông tin về gia đình để

thuận lợi tìm hiểu. Theo phong tục hôn nhân người Việt, những người có

quan hệ huyết thống ba đời thì không được kết hôn với nhau. Với tính chất trữ

tình, ca dao Nam Bộ đã khắc họa tâm trạng đau khổ của chàng trai cậy người

mai dong đến bàn về hôn sự thì cha mẹ cô gái nhìn nhận có “bà con họ hàng”

nên ngăn cấm chuyện “kết duyên”:

“– Ông tơ hồng, bà nguyệt lão về tây

Còn ai ở lại se dây hai đứa mình

Tiếc công tôi súc ông lau bình

Cậy mai tới nói phụ mẫu cùng bà con”.

“– Tiếc công anh chùi đĩa lau bình

Cậy mai dong đến nói phụ mẫu nhìn bà con”

Bàn về việc “chọn vợ chọn chồng” thì trong truyện dân gian, các bậc

cha mẹ thường chú ý đến gia cảnh, chọn những người “môn đăng hộ đối”

hoặc là những người tài giỏi... Tính cách của người phụ nữ là tiêu chí quan

trọng để chàng trai chọn vợ, tục ngữ có câu: “lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng

nam”; còn trong Truyện Kiều việc tìm hiểu nề nếp, gia cảnh được đề cao:

38

“Trăm năm tính cuộc vuông tròn,/ Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông”.

Như vậy, việc “chọn vợ, chọn chồng” từ thực tế đời sống đã được phản ánh

rất đậm nét trong kho tàng văn học Việt Nam, theo đó tiêu chí để chọn người

hôn phối là căn cứ vào gia cảnh, vẻ đẹp, tài đức, nhân cách, tuổi tác. Ca dao

Nam Bộ cũng góp thêm một tiếng nói thân thương, trìu mến, phản ánh khát

vọng xây dựng gia đình qua việc chọn “bạn trăm năm”.

Bức chân dung “người bạn đời lí tưởng” của chàng trai, cô gái được tô

điểm trong 54 bài ca dao. Mỗi bài ca dao là một nét phác thảo về mẫu người

mơ ước. Và tựu chung lại chính là hình ảnh của người Nam Bộ với những

tính cách phẩm chất tốt đẹp như bộc trực, cần cù, yêu lao động, nhân nghĩa,

đạo đức, cang thường.

Theo quan niệm Nho giáo, người phụ nữ chịu nhiều ràng buộc, khi lấy

chồng người phụ nữ phải theo chồng, chăm lo cho gia đình chồng, thờ cha mẹ

chồng như chính cha mẹ của mình. Thế nên, các cô gái thường mơ ước tìm

được những gia đình hiền đức để nương tựa:

“– Tìm nơi cha thảo mẹ hiền

Gác lưng vô mà dựa, chớ của tiền đừng ham”

“– Biết đâu nhơn đạo hiền lành

Trao thân gửi phận mới đành dạ em”.

Người phụ nữ mong tìm người chồng hiền lành, nhân hậu: “Kiếm nơi

đức hạnh trai hiền gửi thân”; “Gái khôn kiếm trai đôn hậu làm chồng”; biết

trọng đạo thủy chung: “Em kiếm nơi mô có tình nghĩa vợ chồng/ Ơn cha

nghĩa mẹ đạo chồng em theo”; người chồng có tài để người phụ nữ có thể

nương tựa tấm thân, yên phận với công việc nội trợ, vá may, nuôi chồng ăn

học để sau này hiển vinh:

“– Ánh trăng trải chiếu hai hàng

Trên anh đọc sách dưới nàng quay tơ”

“– Dốc một lòng lấy chồng hay chữ

39

Để ra vào kinh sử mà nghe”

“– Lựa chồng lựa người chữ nghĩa văn chương,

Quang minh trí tuệ cao cường hơn em”.

Các chàng trai cũng chú trọng đến nết na để chọn vợ. Họ chuộng người

phụ nữ dịu dàng, đôn hậu “nết hiền hòa”, yêu chồng thương con, biết “thờ

kính mẹ cha”, có khả năng vun vén gia đình, biết giữ “lửa hôn nhân” để gia

đình luôn êm ấm:

“– Chí quân tử cửu châu lập nghiệp,

Đại trượng phu từ hải đi xa

Thương em vì nết hiền hòa,

Thiếu chi người thiên hạ vậy mà anh không thương”

“– Anh cưới thiếp về thờ kính mẹ cha

Thờ cha kính mẹ cho tròn đạo dâu.”

“– Dầu mưa, dầu gió mặc dầu,

Kiếm nơi có nghĩa, anh hầu kết duyên”

Theo quan niệm của người bình dân, không chỉ hiền lương mà còn phải

cần cù lao động thì con người mới có thể xây dựng hạnh phúc lâu dài. Bài ca

dao diễn tả niềm tự hào về sự siêng năng, cần mẫn, tháo vát, thạo việc ruộng

đồng của cô gái đồng thời thể hiện tâm ý chọn bạn đời “kết tóc se tơ”:

“Gái xóm này biết cày biết cấy

Ghe nước chảy gánh lúa giữa đồng

Trai thanh niên chữ nghĩa không thông

Cuốc cày chẳng hiểu đừng hòng nên duyên”.

Nền kinh tế ở phương Nam không những quan tâm đầu tư cho nông

nghiệp mà còn chú trọng phát triển thương nghiệp. Các chàng trai lo việc kinh

tế, phát triển ruộng vườn, các cô gái thông thạo bán buôn. Cùng với tinh thần

dân chủ, tự do, những đôi thanh niên nam nữ đều khát khao đem sức lao động

để tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân và gia đình. Đặc biệt, họ phê

40

phán đả kích những người giàu có mà trọng phú khinh bần, không giữ đạo lí,

ham mê bóng sắc, ăn chơi sa đọa, quên nghĩa tào khang hay mê bài bạc mà bỏ

bê công việc gia đình. Điều này được thể hiện qua bài ca dao sau:

“– Chẳng thà em lấy chồng khờ, chồng dại

Lo kinh thương mãi mại

Tính công nghệ nông tang

Không ham nơi nhiều bạc lắm vàng

Mai sau sanh chuyện điếm đàng bỏ em

– Qua đây cũng muốn kiếm một nàng

Thạo thông đường buôn bán,

Rao cùng thôn quán mà chưa đáng chỗ nào,

Thiếu chi những chị má đào

Họ mê bài phé, bài cào, anh thất kinh.”

Người Việt tin rằng tuổi tác ảnh hưởng đến tình nghĩa vợ chồng. Niềm

tin này được tái hiện sinh động qua 16 bài ca dao. Khi có ý định tác hợp

lương duyên, cha mẹ hai bên trao đổi họ tên, tuổi tác của đôi trẻ “Bói khoa

năm bóng, bảy thầy/ Tuổi anh không đặng sum vầy với em”. Sau đó nhờ thầy

xem có hợp tuổi không? Việc xem tuổi dựa theo thuyết âm dương, ngũ hành

(kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), thiên can (giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân,

nhâm, quí) và địa chi (tí, sửu, dần, mẹo, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi)

để dự báo về số phận, hạnh phúc trong hôn nhân của con người. Theo thuyết

lí, Ngũ hành có tương sinh, tương khắc. Nếu tương sinh sẽ tạo ra sự hòa hợp

chặt chẽ, vợ chồng có sự gắn kết lâu dài, đồng tâm hiệp lực tạo nên hạnh phúc

lâu dài, còn tương khắc sẽ nảy sinh lục đục, bất hòa, đánh mất hòa khí, gây ra

nhiều hậu quả đáng tiếc.

Ca dao đã diễn tả niềm vui sướng của chàng trai, cô gái tìm được người

“xứng lứa vừa đôi”, lại hợp đường tuổi tác: “Đường xa mượn áo mà đi/ Miễn

cho tốt tuổi quản chi xa đường”; “Tuổi nàng vừa chẳn đôi mươi,/ Tuổi anh

41

hai mốt tốt tươi quá chừng”; tâm trạng lo sợ, né tránh khi không hợp tuổi:

“Xê ra đứng đứng một bên,/Thủy hỏa xung khắc không nên đứng gần/ Tuổi

anh mười chín tuổi dần/ Tuổi em tuổi tuất đứng gần can chi”; “– Dần, Thân,

Tỵ, Hợi tứ hành xung/ Khuyên anh hãy xét lại cùng/ Hiệp hôn giá thú em sợ

trùng không nên”. Nếu có yêu nhau mà hai tuổi không hợp nhau, thì đôi trẻ

cũng không được cha mẹ đồng ý cho kết hôn: “Công anh bứt choại bện

đăng,/ Cha mẹ nói rằng xấu tuổi, em thôi”; “Xấu lá gói chẳng đặng nem,/

Bởi anh xấu tuổi nên em có chồng”; “Anh thương em hồi áo mới may/ Bây

giờ áo rách thay tay vá quàng/ Màn treo sát đất gió phất màn lem/ Anh

không đặng tuổi nên em không gần”.

Ngày nay, việc coi tuổi khi kết hôn không còn phổ biến nữa. Bởi vì,

thanh niên nam nữ được tự do yêu đương, có cơ hội tìm hiểu người bạn đời

của mình. Và trên hết, họ ý thức được rằng: sự hòa hợp, đồng điệu về tâm

hồn, tính cách mới là yếu tố quyết định giá trị hạnh phúc của gia đình.

Ca dao Nam Bộ cất cao tiếng hát của tình yêu và khát vọng hạnh phúc.

Nam nữ chủ động, thề nguyền, hẹn ước chuyện trăm năm. Trong hôn sự, cha

mẹ cũng thuận theo ý con cái, lễ nghi giản dị, cốt yếu ở tình nghĩa dành cho

nhau. Có lẽ vì vậy, dù lễ dạm ngõ là một trong ba nghi lễ chính thức của

phong tục cưới hỏi nhưng được tổ chức đơn giản, phù hợp với gia cảnh của

đôi lứa yêu nhau.

2.1.2. Lễ hỏi

Nếu lễ dạm ngõ đánh dấu giai đoạn cầu thân thì lễ hỏi mở đầu giai đoạn

kết thân của gia đình hai bên, đôi nam nữ có cơ hội gần nhau để gắn kết hôn

nhân nên lễ này còn được gọi là lễ đính hôn. Lễ này được tổ chức long trọng

ở nhà gái và nhà trai mang sính lễ sang nạp tài cho gia đình cô dâu tương lai.

Theo Văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ: “Đồ sính lễ có nhiều không, có

đắt tiền không, có quý hiếm không… đều được xem là thước đo mức độ trân

trọng của nhà trai đối với nhà gái và cô dâu” (Trần Ngọc Thêm, 2013).

42

Sính lễ được mở ra trong 174 bài ca dao gồm trầu cau (112 bài) , rượu

(14 bài), trang sức (23 bài), lễ vật khác (25 bài). Như vậy, sính lễ được phản

ánh trong ca dao Nam Bộ là những lễ vật truyền thống trong phong tục hôn

nhân của người Việt.

Ca dao đã khắc họa nhiều cung bậc tình cảm của đôi lứa yêu nhau. Đó

là những khoảnh khắc thương nhớ, đợi chờ, tương tư và cả sự hân hoan, hớn

hở khi tình yêu “đơm hoa kết trái”. Chàng trai vui sướng chuẩn bị sính lễ để

hỏi cưới “người thương”:

“ Anh về hỏi mẹ cùng cha

Sắm sanh lễ vật để mà cưới em.

Tưng bừng hàng xóm ra xem

Cô dâu chú rể đẹp duyên vợ chồng.”

Trong trường ca “Mặt đường và khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm

(1974), hình ảnh “miếng trầu” là khởi nguồn của văn hóa, là dấu hiệu đánh

dấu đặc trưng văn hóa của người Việt:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa...” mẹ

thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Trầu cau đã đi vào tiềm thức hàng ngàn đời của dân tộc Việt nam. Trầu

cau là cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ với nhiều tác phẩm thấm đẫm hồn

cốt dân tộc. Những ca khúc ngọt ngào với hình ảnh “trầu cau” gắn liền với

giấc mơ tình yêu như: hoa cau vườn trầu, lá trầu xanh, cau thắm trầu xanh...

Trầu cau còn hiện diện trong những tích truyện cảm động “Sự tích trầu cau”

là câu chuyện mang tính nhân văn, vừa ca ngợi tình nghĩa vợ chồng chung

thủy, tình anh em keo sơn vừa lí giải phong tục ăn trầu của người Việt. Miếng

trầu têm cánh phượng là “tín vật tình yêu” giúp Tấm tìm được hạnh phúc bên

43

hoàng tử. Trong ca dao Nam Bộ, hình ảnh trầu cau gắn liền suốt chặng đường

nhân duyên từ lúc làm quen, tỏ tình, đến kết hôn.

Từ xa xưa, trầu cau là vật dẫn mối, định tình của nam nữ. Lá trầu thấm

đượm nghĩa tình, chuyển tải những tâm tư thầm kín của đôi lứa yêu nhau.

Thầm thương, trộm nhớ nhưng không dám thổ lộ, miếng trầu đã thay họ bày

tỏ nỗi lòng:

“Muốn trao miếng trầu, tôi sợ câu bất hiếu

Tôi để trên rào, ai có thiếu lấy ăn”

Miếng trầu không chỉ thể hiện khéo léo mà còn gói gọn tình cảm nồng

thắm của người têm. Cũng là trầu, cau, vôi nhưng cách cô gái chọn đã phần

nào nói lên tâm ý của mình, cau xanh vừa ngon bổ ra làm bốn, vôi tàu, có cả

quế và hoa chanh. Vị cay của trầu, vị nồng của vôi, mùi thơm của quế... hoà

quyện vào nhau đã thay lời tỏ tình ngọt ngào của cô gái. Miếng trầu chứa

đựng biết bao nghĩa tình để rồi trở thành trầu nhân, trầu ngãi, trầu mình, trầu

ta... Miếng trầu nhuộm thắm tình cảm lứa đôi:

“ Ra vườn hái quả cau xanh

Bổ ra làm bốn mời anh xơi trầu

Trầu này têm những vôi tàu

Ở giữa đệm quế, đôi đầu hoa chanh

Trầu này trầu lộc trầu danh

Trầu nhân trầu nghĩa trầu mình trầu ta

Trầu này nhuộm thắm duyên ta

Trầu xanh cho đến tuổi già không phai”.

Ở công trình Phong tục Việt Nam, Phan Kế Bính (2017) đã nhấn mạnh

vai trò của trầu cau, một phương tiện giao tiếp văn hóa quan trọng của người

Việt: “Trầu cau là một trong những thứ đầu của các sự lễ nghĩa. Phàm việc tế

tự, tang ma, việc cưới xin, việc vui mừng, việc gì cũng lấy miếng trầu làm

trọng. Tế tự thường khi dùng cả buồng cau để lễ, cưới xin nhà gái thường ăn

44

của nhà trai vài ba ngàn quả, để chia phần cho bà con”. Tục ngữ có câu

“Miếng trầu nên dâu nhà người”. Trong ca dao Nam Bộ, trầu cau một lần

nữa trở thành “vật định duyên” gắn kết tình nghĩa vợ chồng, thành lễ vật của

phong tục hôn nhân:

“Đi ra gặp em bán trầm, đi vô gặp em bán trầm

Thấy em đằm thắm trong dạ anh thương

Để anh về thưa lại với song đường

Trầu cau dạm hỏi cho nường lấy anh”

Ca dao là “tiếng hát đi từ trái tim lên miệng”, tiếng hát ấy hát nhiều về

tình yêu. Những lời đưa đẩy đầy tình cảm, ý vị của nhân vật trữ tình:

“– Có ai thương nhớ đợi chờ

Anh về bên ấy để nhờ trầu cau”

“– Ơi em nho nhỏ cắt cỏ chăn trâu,

Bước qua năm nữa anh bưng trầu cưới em”

“– Thương nhau đâu tính giàu nghèo

Gặt xong mùa lúa cau trầu đến em”

Bài ca dao chứa đựng bao nhiêu ý tình. Hành động “nhờ trầu cau”,

“bưng trầu cưới em”, “cau trầu đến em” không chỉ thể hiện sự nghiêm túc

của chàng trai trong chuyện tình yêu mà còn gắn với chuyện cưới hỏi. Phải

chăng, đó cũng là lời hứa hẹn chân thành, đáng tin nhất để cô gái đợi chờ?

Hình ảnh miếng trầu miếng cau trong các bài ca dao sau đã khơi gợi

một tình yêu son sắt, một cuộc sống vợ chồng gắn bó, thủy chung. Trầu cau là

“duyên nợ”, là nghĩa vợ tình chồng trọn đời không thay đổi:

“– Miếng trầu miếng cau là duyên là nợ,

Miếng vôi miếng thuốc là vợ là chồng”

“– Trầu têm đạo vợ nghĩa chồng

Xơi năm ba miếng thêm nồng ái ân”

“– Trầu xanh cau trắng chay hồng

45

Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên

Trăm năm ghi tạc chữ đồng

Dù ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai”...

Trầu xanh cau trắng hòa cùng lời mời thiết tha của cô gái đã chuyển tải

bao nhiêu tâm tình, khát vọng gắn kết:

“Trầu xanh cau trắng thuốc vàng

Cơi trầu bít bạc, thiếp mời chàng ăn chung”

Ngày nay, dù không còn nhiều người ăn trầu, nhưng mâm trầu vẫn là lễ

vật hàng đầu của phong tục hôn nhân. Và những bài ca dao về trầu cau của

vùng đất phương Nam đã phần nào lưu giữ tinh túy của văn hóa dân tộc, nhắc

nhở ta cuộc sống chốn thôn quê, về tình yêu đôi lứa trong sáng, thắm thiết,

mặn nồng.

Song hành với trầu cau, rượu là lễ vật không thiếu trong cưới hỏi. Hình

ảnh “mâm trầu, chai rượu” trở thành một hệ thống trong ca dao phong tục hôn

nhân. Mâm trầu chai rượu vừa thể hiện tình cảm vừa là lễ vật:

“– Phụ mẫu sinh ra có một mình em là gái

Dạy ăn, dạy nói, dạy lạy, dạy quỳ

Gả cho anh đây làm vợ

Anh lấy nghĩa gì anh đền ơn?

– Đôi đũa vàng anh dộng xuống mâm cơm

Mâm trầu cay, chén rượu bích

Anh đền ơn phụ mẫu nàng”

Bài ca dao là lời đối đáp của chàng trai, cô gái liên quan đến lễ vật cưới

hỏi. Lời của cô gái nhắc đến công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ và

nhắc khéo chàng trai về lễ vật cưới hỏi. Hình ảnh “Mâm trầu cay, chén rượu

bích” trong lời đáp như lời hứa, khẳng định mạnh mẽ, thể hiện sự hiếu đạo,

luôn lấy chữ lễ làm đầu của chàng trai.

46

Đôi khi, người con gái có cá tính mạnh mẽ, bộc trực bày tỏ quan điểm

của mình về tình yêu. Sự yêu thương chủ yếu ở tấm lòng. Vì vậy, “mâm trầu,

chai rượu” chỉ mang tính chất lễ nghi chứ không quá đặt nặng vấn đề vật chất

“đâu đòi vàng”. Hơn ai hết, họ hiểu rằng: đời sống vợ chồng sự đối đãi tử tế,

tình yêu thương quan trọng hơn bạc vàng: “Thương đây, đó nói một câu/

Mâm trầu chai rượu chứ đâu đòi vàng”. Ca dao còn khắc họa nét dịu dàng

của người con gái qua giọng điệu thủ thỉ, tâm tình: “Thương tôi rượu chén

trầu cơi,/ Đến cùng phụ mẫu đền nơi sanh thành”. Có lẽ, vị nồng ấm của trầu

cùng men rượu kết hợp với men say của tình yêu sẽ làm cho tình nghĩa lứa

đôi thêm bền chặt.

Ở những cuộc hò đối đáp, mặc dù mang tính giải trí, người hò kẻ hát có

thể tự do bày tỏ tình cảm rất táo bạo, nhưng họ vẫn xem mâm trầu hũ rượu là

lễ vật của hôn nhân:

“– Trứng vịt đổ lộn trứng gà

Anh thấy gò má trắng anh đà muốn hun.

– Hun em em cũng cho hun

Anh về nói với mẹ cha

Mâm trầu hũ rượu về nhà mới hun.

– Em ơi anh muốn hun chơi

Mâm trầu hũ rượu là nơi vợ chồng”

Trong phong tục cưới hỏi, nhà trai mang rượu trắng được gói cẩn thận

trong giấy đỏ thêm phần trang trọng đến nhà gái. Rượu này được gia đình cô

gái đặt trên bàn, coi như cô gái đã có nơi, có chốn. Tâm trạng hồi hộp, lo lắng

khi thấy “chai rượu trắng”, “hai chai rượu thuốc đỏ”, thường dò xét xem đó

có phải là “rượu nạp tài” hay không được thể hiện qua bài ca dao:

“– Bước vô nhà thấy chai rượu trắng

Bước ra ngoài than vắn, thở dài

Không biết phụ mẫu em sắm để xài

47

Hay là ai đến nộp tài cho em?”

“– Tôi đi ngang qua cái nhà ngói nhỏ

Tôi thấy hai chai rượu thuốc đỏ

Để trên cái bàn tròn nhỏ

Tôi bước lanh qua của ngõ mà than vắn thở dài

Em ơi! Rượu cha mua để uống

Hay là của thiên hạ nạp tài cưới em?”

Rượu trong đám hỏi thường được giữ lại. Khi người con gái muốn hồi

hôn thì rượu này được đem trả lại cho nhà trai. Hôn nhân không thành, đem

lại nhiều tiếc nuối, nhất là khi chàng trai bị cô gái “trả rượu”. Lời tâm sự,

nhắc nhở của chàng trong bài ca dao:

“– Con chim se sẻ nó đẻ nhành dâu

Thương không thương thì nói buổi ban đầu

Chớ đừng làm cho lỡ rượu, lỡ trầu của anh”.

Bởi vì, rượu trầu là vật định tình, nên chàng trai mong muốn cô gái thể

hiện tình cảm rạch ròi, dứt khoát trong buổi ban đầu để tình duyên được trọn

vẹn.

Còn đây là cách trả lời thật nhẹ nhàng mà thâm thúy của cô gái với

chàng trai:

“ Hồi buổi ban đầu,

Em biểu anh têm ba miếng trầu cùng li rượu lạt

Anh lắc đầu sợ tốn,

Giờ em đã có chồng, anh rủ trốn theo anh”

“Ba miếng trầu cùng li rượu lạt” không đáng là bao nhưng đó là minh

chứng cho đời sống hôn nhân được xã hội thừa nhận. Cho nên, cô gái trách

chàng trai vì “sợ tốn” nên không dám bước tới để rồi bây giờ lại rủ cô gái trốn

đi. Việc làm này không hợp với đạo lí truyền thống của người Việt. Lời

khước từ này vừa khéo léo vừa khắc họa vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ.

48

Trong lễ hỏi, nhà trai chuẩn bị một khoản tiền. Tiền này dùng để nộp

cheo cho làng và chuẩn bị thết đãi trong đám cưới. Trong Từ điển văn hóa

phong tục cổ truyền Việt Nam có ghi nhận:

Cheo là lễ vật và tiền do nhà gái nộp cho làng xã, khi con gái đi lấy

chồng, được coi là vật chứng có tính chất pháp lí về việc con gái của

gia đình đã gả bán chính thức. Xưa chưa có tờ giá thú thì tuy có lễ cưới

chính thức rồi vẫn phải nộp cheo cho làng, có khi chỉ là một miếng trầu

cho mỗi gia đình, thì cuộc hôn nhân mới coi là hợp pháp” (Nguyễn Như

Ý, Chu Huy, 2014).

Cheo xuất phát từ tục “lan nhai”. Ban đầu, đó là lời chúc phúc cho đôi

uyên ương, đoàn đưa dâu cũng có vật biếu tặng, càng về sau có những người

lợi dụng việc này để vòi vĩnh, trở thành lệ xấu. Để chấm dứt tình trạng này,

làng đặt ra lệ nộp cheo. Ghi nhận trong ca dao Nam Bộ, có 5 bài đề cập đến

vấn đề nộp cheo, cheo mang tính pháp lí, dân làng công nhận cho cuộc hôn

nhân, có giá trị như “tờ giá thú”:

“– Có cưới mà chẳng có cheo

Dẫu rằng có giết mười heo cũng hoài.”

“– Ai chồng ai vợ mặc ai

Bao giờ ra bản ra bài mới hay

Bao giờ tiền đám trao tay

Tiền cheo heo cưới mới hay vợ chồng”.

Ngoài ra, nhà trai còn chuẩn bị một khoản tiền để nhà gái chuẩn bị đám

cưới. Khoản tiền này nhiều hay ít tùy vào yêu cầu của nhà gái và khả năng

của nhà trai. Tuy nhiên, các chàng trai nghèo “miếng ăn không đủ no” thường

than thở: “Ví dầu ruột thắt gan teo/ Vì thế anh nghèo không đặng cưới em”.

Hay lời đùa vui chan chứa tình cảm, khát khao mái ấm gia đình: “Mạ non mà

cấy đất biền/ Vợ đà thấy đó anh chạy tiền không ra/ Em về thưa lại má ba/

Cho anh cưới chịu tháng ba anh chồng tiền”.

49

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có 8 bài ca dao bàn về

việc thách cưới. Tuy nhiên, đây là cách nói mang tính chất bông đùa, có phần

thách thức nhau của chàng trai, cô gái trong những chặng hát đối đáp:

“– Anh về bán đất cây da

Bán cặp trâu già mới cưới đặng em.

– Anh về bán ổ trứng gà

Anh qua cưới hết cả nhà của em”.

Những lễ vật mà cô gái đòi hỏi trong bài ca dao sau:

“Em là con gái nhà giàu

Mẹ cha thách cưới ra màu như sau:

Cưới em trăm tấm gấm đào

Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời

Tráp tròn sắm đủ năm đôi

Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng

Sắm xe tứ mã đem sang

Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu

Ba trăm nón nghệ đội đầu

Mỗi người một cái quạt Tàu thật xinh

Anh về sắm nhiễu nghi đình

May chăn cho rộng ta mình đắp chung

Cưới em chín chĩnh mật ong

Mười cỗ xôi trắng, mười mâm xôi vò

Cưới em tám vạn trâu bò

Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm

Lá đa mặt nguyệt đêm Rằm

Răng nanh thằng Cuội, râu cằm Thiên Lôi

Gan ruồi, mỡ muỗi cho tươi

Xin chàng chín chục con dơi góa chồng

50

Thách thế mới thỏa trong lòng

Chàng mà làm được thiếp thời theo chân”.

Trong bài ca dao này, những lễ vật như mâm xôi, mật ong, trâu bò, dê

lợn, rượu tăm, gấm đào, nhiễu, nón quạt, ống thuốc, ống vôi có thể tìm được

nhưng số lượng quá lớn, vượt quá điều kiện kinh tế thời bấy giờ. Còn những

thứ khác như ông sao trên trời, lá đa mặt nguyệt đêm Rằm, răng nanh thằng

Cuội, râu cằm Thiên Lôi, gan ruồi, mỡ muỗi, dơi góa chồng thì không thể tìm

được, thậm chí có thứ chưa từng hiện diện trên thế gian. Điều đó có nghĩa

rằng, lời thách cưới này mang tính chất đùa vui, thể hiện tâm hồn lạc quan,

yêu đời, khát khao cuộc sống no ấm, đủ đầy.

Ca dao cũng khắc họa chân dung con người đất phương Nam cần cù,

siêng năng lao động, lạc quan, luôn khao khát hạnh phúc gia đình. Những

chàng trai chân đất không ngại gian khổ để sắm “bộ nữ trang” cho người vợ

tương lai của mình:

“Cực khổ dầu mấy anh không than,

Để anh sắm bộ nữ trang cưới nàng”.

Theo Trần Ngọc Thêm (2013): “Trong số đồ sính lễ, quan trọng nhất là

đôi bông tai và nhẫn cưới, những lễ vật tiếp theo thường là vòng tay, lắc,

kiềng, dây chuyền,… làm bằng vàng bạc”.

Khám phá “nữ trang cưới” trong ca dao Nam Bộ, chúng tôi cảm nhận

được tấm lòng chân thành của chàng trai gửi đến cô gái mình thương. Trong

đó, đôi bông được nhắc đến nhiều nhất 15 bài, kiềng vàng 4 bài, nhẫn 4 bài.

Điều này chứng tỏ ca dao đã lưu giữ những vẻ đẹp truyền thống trong phong

tục hôn nhân.

Hình ảnh đôi bông trong ca dao Nam Bộ gắn liền với lễ vật cưới hỏi:

“ – Thấy em có đôi bông nhận hột, cái chột bằng đồng,

Phụ mẫu em sắm hay chồng em cho?

– Anh ơi đừng hỏi vòng vo,

51

Phụ mẫu em sắm chớ bên chồng cho hồi nào?

Đôi bông được miêu tả trong bài ca dao là đôi bông mù u hay cẩm

thạch của người xưa, loại bông tai này vặn đít “cái chột bằng đồng”, bề mặt

được cẩn hột tròn tròn giống hình dạng của hoa mù u, hay cẩm thạch tròn màu

xanh. Đôi bông thường được trao cho cô dâu trong lễ hỏi. Cho nên, chàng trai

thắc mắc về nguồn gốc đôi bông của cô gái, sợ là tín vật của nhà trai sang cầu

hôn. Lời đáp cô gái đã hóa giải những mối nghi ngờ của chàng trai và có thể

là một tín hiệu đẹp của tình yêu.

Trong quan niệm của người xưa, đôi bông là “kỉ vật tình yêu”. Do vậy,

việc trao – nhận đôi bông giữa chàng trai và cô gái là minh chứng cho sự

thuận tình:

“Gió lao xao tàu cau nhỏng nhảnh,

Em thương anh rồi thọ lãnh đôi bông”

Những từ ngữ “lao xao”, “nhỏng nhảnh” đã tái hiện không gian tình tự

của nam nữ xưa. Khung cảnh hữu tình khiến chàng trai cô gái dễ bày tỏ tình

cảm, trao kỉ vật đính ước, nhận đôi bông như một cách chấp nhận lời cầu hôn

của chàng trai. Vì vậy, trả đôi bông đồng nghĩa với việc từ hôn: “Chiều chiều

gọt mướp nấu canh/ Chạy vô lấy chảo gặp anh trèo giàn/ Thôi thôi tôi chẳng

yêu chàng/ Đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin”.

Ngoài đôi bông, nhà trai thường mang thêm một số nữ trang khác như:

kiềng vàng: “Anh câu tôm ngủ gục/ Anh giết hụt con tôm càng/ Phải chi anh

vớt đặng/ Anh sắm kiềng vàng cho em đeo”; nhẫn cưới: “Hột ngọc thủy tinh

anh giữ gìn sáng rõ/ Để dành chờ thợ làm nhẫn đeo tay/ Dù ai năn nỉ hỏi nài/

Anh đợi người biết nghĩa thì của này anh trao”.

Trong phong tục cưới hỏi của người Việt, lễ vật còn có những con vật

quen thuộc như heo, gà, vịt... Những con vật này dùng để làm cỗ thết đãi họ

hàng. Bài ca dao sau đã thể hiện niềm vui sướng, hân hoan của chàng trai khi

52

chuẩn bị chu đáo lễ vật để cưới vợ, hình ảnh “heo cưới” biểu trưng cho sự

giàu có, sung túc, phồn thịnh, đủ đầy:

“– Em ơi chớ vội chê nghèo,

Anh đây đã có đôi heo trong chuồng.”

“– Chuồn chuồn đậu ngọn dưa leo,

Trông trời mau sáng mần heo cưới nàng”

Nếu nhà có điều kiện thì chuẩn bị đầu heo nọng thịt thì gia đình nghèo

cũng có cặp vịt để thết đãi họ hàng, chung vui trong ngày trọng đại nhất của

đời người “Người ta giàu đầu heo nọng thịt,/ Hai đứa mình nghèo cặp vịt đôi

bông; “Người ta giàu nghinh thân giá thú/ Còn mình nghèo cặp vịt đôi bông/

Chứ lẽ nào xách gói về không”. Theo Sơn Nam (2017), lễ này bắt nguồn từ lệ

xưa, khi nhà trai đến nhà giá thường mang theo đôi chim nhạn. Chim nhạn là

biểu tượng của mối tình thắm thiết, sự trung trinh, chung thủy, một khi đã kết

đôi thì luôn bên nhau như hình với bóng, sống chết chỉ có một bạn đời. Hơn

nữa, khi di chuyển chim nhạn thường chịu sự chi phối của con chim đầu đàn

giống như nguyên tắc ứng xử của vợ chồng, có tôn ti, trật tự cùng hỗ trợ nhau

hoàn thành tốt bổn phận của mình, để xây dựng gia đình hạnh phúc. Người

Nam Bộ dùng cặp vịt con trống, con mái như biểu tượng của uyên ương, suốt

đời bên nhau. Hình ảnh “cặp vịt, đôi bông” trong ca dao Nam Bộ phản ánh

tinh thần trọng lễ nghĩa, trọng tình của con người xứ này.

Theo Văn hóa người Việt ở Nam Bộ, Thạch Phương và cộng sự (2014)

khi đề cập đến lễ hỏi có ghi nhận: “Ngày xưa, ở nông thôn, lễ vật mang theo

đặt trong một cặp dụng cụ bằng tre hoặc bằng mây đan rất khéo, gọi là cái

“siểng”. Người gánh siểng phải là một chàng trai khỏe mạnh dễ coi”. Cách

thức đưa lễ trang trọng, nhưng quan trọng vẫn là tấm lòng, tình cảm dành cho

nhau. Lời đối đáp của chàng trai – cô gái trong bài ca dao mang nét tinh

nghịch, đùa cợt tếu táo:

“– Cha anh cũng giỏi, chú anh cũng giỏi

53

Sao anh đi mộ lễ hỏi mà bỏ vô gói mà mang

Anh tiếc chi đôi siểng cặp tràng

Không bỏ vô mà gánh để bạn vàng cười chê.

– Cái của một đồng, cái công một lượng

Cái gói là trượng, đôi siểng là nan

Anh cũng muốn đi dù lọng thênh thang

Thêm thằng bán xiểng sợ cha mẹ nàng không cơm”.

Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy ở Nam Bộ, việc dẫn

cưới chủ yếu tùy vào điều kiện gia đình nhà trai. Những lễ vật trong đám hỏi

mang tính tượng trưng, thể hiện sự gắn kết của hai gia đình, quan trọng nhất

vẫn là tình nghĩa dành cho nhau. Phong tục về lễ hỏi được ghi lại ấn tượng,

độc đáo qua ca dao, ngoài trầu cau, rượu thì “đôi bông, cặp vịt” mang đặc

trưng riêng của vùng đất Nam Bộ. Bên cạnh những lễ vật truyền thống, lễ vật

trong lễ hỏi của người Việt ở Nam Bộ có phần đơn giản, dân dã, mang đậm

nét văn hóa linh hoạt, thiết thực.

2.1.3. Lễ cưới

Lễ cưới là lễ cuối cùng và quan trọng nhất. Để cử hành lễ cưới, cả gia

đình nhà trai, nhà thống nhất chọn ngày lành tháng tốt để nhà trai đón dâu về.

Người Nam Bộ xưa không chuộng sự rườm rà, chỉ giữ lại những nghi lễ phù

hợp với đạo lí truyền thống. Số lượng ca dao Nam Bộ nói về phong tục trong

lễ cưới tuy không nhiều nhưng phản ánh đầy đủ ba lễ: lễ từ đường, đón – đưa

dâu, cúng tơ hồng.

Đám cưới xưa thường được tổ chức trong nhiều ngày. Trước khi rước

dâu một vài ngày, gia đình thường tổ chức nhóm họ. Đây là dịp để họ hàng,

cô bác gần xa gặp gỡ, tụ họp, tổ chức ăn uống, cùng chung vui với gia đình,

đồng thời giúp đỡ gia đình dựng rạp cưới, chuẩn bị lễ vật, làm cỗ thết đãi

trong ngày cưới:

“ Anh về dọn dẹp loan phòng

54

Mười ba nhóm họ, bữa rằm rước dâu

Cũng trong ngày nhóm họ, hai bên gia đình làm lễ từ đường: Từ đường

là nhà thờ họ, thờ các vị cao tằng thủy tổ và các tiên linh khác của họ tộc.

Trước ngày cưới, cha mẹ người con trai hoặc con gái mang rượu, trà, trầu cau

đến nhà từ đường thắp nhang, cáo cùng tổ tiên về việc “dựng vợ gả chồng”

cho con cái “Bước lên tấm cáo anh xắn tay áo làm lễ từ đường/ Dầu không

đặng bậu chớ cũng tình mẹ cha; Biết đặng hay không mà hòng xăn tay áo/

Vén bức sáo làm lễ từ đường/ Mai sao không đặng, ai thường công anh”.

Hay nói cách khác, sau khi làm lễ từ đường đôi vợ chồng trẻ được công nhận

là thành viên chính thức của hai gia đình:

“Tấm giấy vàng đề hàng chữ thọ,

Rước em về hai họ chứng minh”

Ca dao Nam Bộ đã tái hiện không khí trang nghiêm của lễ đón dâu

trong đám cưới xưa:

“Anh Hai đi với chị Hai,

Mâm trầu, hũ rượu tốn hai mươi tiền.

Còn dư mua chả mua nem,

Mua cặp lồng đèn hai họ cùng lên.

Ông cai, ông ký ngồi trên,

Sui gia ngồi dưới hai bên họ hàng”.

Ngày cưới đầy đủ lễ nghi, các bậc chức sắc trong làng, sui gia, cùng họ

hàng hai bên tham dự. Hình ảnh “cặp lồng đèn hai họ cùng lên” phản ánh

nghi thức truyền thống của vùng đất phương Nam. Nhà trai mang đến một đôi

đèn lớn, thắp lên bàn thờ, làm lễ xin ông bà chứng giám cho tình duyên của

đôi trẻ. Lễ lên đèn thay lời tuyên bố gắn kết trọn đời của đôi uyên ương trước

mặt tổ tiên và họ hàng:

“Thắp hương vái với ông bà,

Đôi ta kết ngãi, đến già an cư”.

55

Bài ca dao vừa phản ánh nghi thức trong lễ cưới vừa khắc họa khát

vọng xây dựng mái ấm đình của con người. Trước bàn thờ gia tiên, đôi vợ

chồng trẻ thành tâm khẩn nguyện, cầu mong ông bà tổ tiên phù hộ cho họ có

cuộc sống yên ổn, hạnh phúc đến lúc “đầu bạc răng long”.

Lễ vu qui được tổ chức ở nhà gái. Trong ngày thành hôn, li rượu vu qui

cô dâu cung kính dâng cha mẹ thay lời bày tỏ tấm lòng hiếu thảo. Hành động

“chân quỳ”, “tay rót” vừa tái hiện nghi thức trong lễ vu qui, vừa gửi gắm, kí

thác khát vọng hạnh phúc gia đình một cách thành kính, thiêng liêng:

“– Rượu vu quy anh xếp hai hàng

Chờ cha mẹ uống cho nàng theo anh”

“– Rượu vu quy chân quỳ tay rót

Cha mẹ uống rồi em dời gót theo anh”

“– Rượu lưu ly chân em quỳ tay em rót

Cha mẹ uống rồi em rời gót theo anh”.

Ca dao khắc họa thật cảm động giây phút người con gái lạy cha mẹ

trước khi cất bước theo chồng:

“Trước lạy cha, sau ra lạy má,

Con đã có chồng rồi xuất giá tòng phu”

Trong lễ vu qui, ông mai mời ông bà cha mẹ ngồi ở bộ ván giữa nhà,

với khay trầu rượu rồi rót rượu mời ông bà cha mẹ và ông bà uống, sau đó cha

mẹ khuyên nhủ, dạy dỗ con cái biết giữ gìn đạo lí, chăm lo làm ăn để gia đình

luôn hòa thuận, hạnh phúc. Con ngỏ lời tạ ơn sinh dưỡng, lạy tạ ơn cha mẹ

chịu bỏ công sức lo gia thất cho con. Rồi lạy hai lạy, xá ba xá.

Không khí tưng bừng của đám rước dâu cũng được tái hiện sinh động

qua ca dao:

“Anh về sắm lễ đi cưới người thương

Thằn lằn đi lọng, ễnh ương đi dù.

Cóc vàng chở rượu ba lu

56

Rắn mối đi họ, chuột xù làm mai”

Với cách nói trang trọng, buổi lễ rước dâu có ông mai, họ hàng đầy đủ

lễ vật cùng các vật dụng như dù, lọng đã mô phỏng cách thức của đám rước

dâu. Đây là một đám rước dâu linh đình, náo nhiệt nhưng nhân vật trong đám

rước dâu lại là những con vật quen thuộc trong đời sống hàng ngày như thằn

lằn, ễnh ương, cóc, rắn mối, chuột xù. Vì thế, bài ca dao trở nên vui nhộn, hài

hước như tâm hồn lạc của những con người phương Nam.

Theo Thạch Phương và cộng sự (2014) miền Đông Nam Bộ việc đón

dâu, đưa dâu đi đường bộ còn ở vùng Tây Nam Bộ nhiều sông ngòi, kênh

rạch, đám cưới thường di chuyển bằng ghe thuyền. Nhiều bài ca dao đã phản

ánh mơ ước của các cô gái xưa:

“– Trồng tre chẳng dám xắn măng,

Để cho măng lớn kết bè đưa dâu.

– Đưa dâu thì đưa bằng ghe,

Chớ đưa bằng bè ướt áo nàng dâu.”

Người Việt tin rằng những người có duyên, có nợ mới đến được với

nhau. Mối nhân duyên ấy được quyết định bởi trời “thiên duyên” và kết se bởi

ông tơ bà nguyệt. Cho nên, chàng trai mượn “ông tơ, bà nguyệt” để bày tỏ

tình yêu của mình:

Nguyệt lão hồi trước có xem

Ông tơ đã định anh với em vợ chồng.

Chính vì vậy, các đôi lứa yêu nhau thường cầu khẩn ông trời, van vái

ông tơ bà nguyệt se sợi chỉ hồng bền chặt để có thể chung sống với hạnh phúc

đến trọn đời. Những lễ vật cúng ông tơ, bà nguyệt rất đơn giản chỉ là nải

chuối, thẻ đường, chầu hát... nhưng trên hết là khát vọng “kết tóc trọn đời”:

“– Tôi vái ông Tơ năm ba nải chuối

Tôi vái bà Nguyệt năm bảy thẻ đường

Cho hai đứa tôi gá nghĩa can thường

57

Dầu ăn cơm quán, ngủ đình tôi cũng ưng”

“– Tôi vái ông tơ năm ba chầu hát

Tôi cầu nguyện lão năm bảy đêm kinh

Cho em cùng anh đây gá nghĩa chung tình

Dù ăn cơm quán ngủ đình em cũng cam.”

Trong 118 bài ca dao Nam Bộ, hình tượng “ông tơ, bà nguyệt” không

chỉ gắn liền với tình yêu khát khao giao hòa của tuổi trẻ mà còn gắn với

phong tục trong hôn nhân đó là lễ cúng tơ hồng.

Lễ cúng tơ hồng bắt nguồn từ truyện Nguyệt lão của Trung Quốc.

Truyện kể rằng: Đời nhà Đường, có một người Vi Cố vô tình gặp một ông cụ

ngồi dựa túi xem sách dưới bóng trăng. Khi anh ta hỏi, thì ông cụ bảo sách ấy

chép tên những người lấy nhau và túi ấy đựng những sợi chỉ hồng để buộc

chân hai người phải lấy nhau. Được biết người vợ tương lai là một cô bé ba

tuổi con của người đàn bà nghèo nên sai người giết chết. Nhưng đứa bé chỉ bị

thương. Thời gian sau, quả nhiên Vi Cố lấy người con gái ấy. Từ đó, Nguyệt

Lão được xem là vị thần se duyên.

Khi du nhập vào Việt Nam hình tượng Nguyệt Lão trở thành ông tơ, bà

nguyệt và tục cúng tơ hồng cũng bắt nguồn từ đây. Theo Sơn Nam (2017), lễ

tế tơ hồng được tiến hành vào buổi chiều, trên cái bàn nhỏ giữa nhà bày nhang

đèn, hoa quả, 12 miếng cau, 12 miếng trầu. Cô dâu, chú rể khăn áo chỉnh tề

nhờ ông lão lớn tuổi khấn vái những lời lẽ tốt đẹp, cầu mong cho đôi vợ

chồng trẻ được trăm năm hạnh phúc. Đến đêm “động phòng” đốt hai cây nến,

lễ vật là trầu cau, rượu, chè bún, muối, gừng, vợ chồng chấp tay khấn nguyện

ông tơ, bà nguyệt, hứa giữ gìn lòng chung thủy, lấy muối chấm gừng với ngụ

ý “gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”. Những nghi lễ ấy được tái hiện

một cách trang trọng trong ca dao:

“– Miếng trầu miếng cau là nhân đạo

Cái ly chén gạo là tình vợ nghĩa chồng

58

Tay tôi bưng quả cẩn vô phòng

Đèn thắp mòn hai ngọn

Tôi vái ông tơ hồng se tơ.”

“– Tay bưng quả nếp vô phòng

Đèn hương đôi ngọn chữ bá tòng còn ghi”

“– Tân hôn hai gối một mền,

Vái ông tơ bà nguyệt se bền đôi ta.”

Ông Tơ bà Nguyệt là vị thần tình yêu vừa thiêng liêng vừa gần gũi bình

dị. Khi lương duyên không thành, họ oán trách, thậm chí đánh, bắt, trói, đi

kiện ông tơ bà nguyệt. Sự tức giận mạnh mẽ đó nhằm vào những rào cản vô

hình đã ngăn cấm những trái tim yêu thương đến với nhau: “Bắt ông tơ đánh

sơ vài chục/ Duyên nợ sờ sờ ông ngủ gục quên se”; “Chiều nay tôi lên ông

tham biện/ Tôi kiện con, kiện nợ, kiện vợ, kiện chồng/ Tôi kiện ông tơ hồng,

tôi kiện bà nguyệt lão/ Se dây rồi sao lại tháo lộn trở ra”; “Đánh ông tơ cái

trót/ Ông nhảy tót trên ngọn trâm bầu/ Ông se đâu đó, ông thấy nhân nghĩa

nghèo ông không se”; “Trách mẹ trách cha qua không trách bậu/ Cha mẹ

ham giàu gả bậu đi xa/ Trách ông tơ sao se hoài se hủy/ Trách bà tơ sao se

chỉ lộn vòng/ Chỗ em không ưng thì bà muốn/ Chỗ em bằng lòng thì bà lại se

lơi”.

Lễ cưới đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong đời sống hôn nhân, hình

thành một gia đình mới. Ca dao Nam Bộ đã khắc họa không khí trang nghiêm

trong lễ bái từ đường, niềm thành kính với bậc sinh thành trong ngày đón dâu

và kí thác khát vọng hạnh phúc vào “ông tơ – bà nguyệt”. Tất cả những điều

đó góp phần nhắn nhủ đôi lứa về trách nhiệm của mình trong việc xây dựng

mái ấm gia đình.

Cuộc sống của người phương Nam vốn tự do, tự tại, táo bạo, phóng

khoáng. Cho nên, các nghi lễ trong hôn nhân chủ yếu hướng đến xây dựng gia

đình hạnh phúc. Họ tôn trọng lễ giáo nhưng không quá phụ thuộc vào những

59

qui tắc, luật lệ mà cốt yếu ở tình nghĩa. Hay nói cách khác, ca dao về phong

tục hôn nhân phản ánh sinh động quan niệm nhân sinh của người Nam Bộ.

2.2. Phong tục tang ma

Phàm làm người, ai cũng trải qua con đường sinh, lão, bệnh, tử. Chết là

biến cố lớn nhất trong đời. Sự ra đi của người thân làm cho người ở lại đau

xót khôn nguôi. Theo quan niệm Á Đông “Sự tử như sự sanh, sự vong như sự

tồn”. Cho nên, người sống tổ chức nhiều nghi lễ cúng bái người chết, lo hậu

chu đáo để người chết an lòng.

Ca dao Nam Bộ đã mở ra một thế giới tâm linh huyền bí, không gian

hư ảo trong trí tưởng tượng của con người. Đó là cõi âm phủ. Theo triết lí

phương Đông, âm phủ là thế giới nằm sâu trong lòng đất. Thế giới này được

tổ chức giống như cuộc sống ở dương gian “Dương gian, âm phủ cũng cộng

đồng”. Có ông Diêm Vương (còn gọi là Chủ biện) làm chủ, có văn võ bá

quan, ghi nhận việc làm của con người nơi trần thế, để xem xét công, tội của

con người sau khi chết.

“– Trên trời ông Ngọc Hoàng làm chủ

Dưới âm phủ ông Chủ Biện làm vua”

“– Ngó lên trời mây bay vần vũ,

Ngó xuống âm phủ đủ mặt bá quan.”

Dân gian tin rằng, sau khi chết linh hồn con người sẽ được đưa xuống

địa phủ, ở đó, Diêm Vương sẽ tra hỏi, căn cứ vào số mệnh và việc làm của

con người khi còn sống để quyết định kiếp tái sinh. Màn đối đáp trong bài ca

dao vừa dí dỏm, hài hước vừa phản ánh quan niệm về “cõi chết” của con

người:

“Anh đau tương tư nằm trên bộ vạt,

Hồn anh thất lạc, thác xuống Diêm đình.

Diêm Vương ông hỏi sự tình,

Tui lụy vì tình, tui mới thác oan.”

60

Thế giới “âm phủ” còn đi vào trong những câu ca dao tình cảm gia

đình, cất cao tiếng hát thể hiện tấm lòng chân thành, chung thủy, sắt son. Dù

dương gian âm phủ cách biệt đôi đường thì tình nghĩa vợ chồng vẫn “không

thay đổi”:

“Nước đựng trong lu bít bù còn cạn

Để nghĩa vợ chồng xanh đứt đoạn giữa trời

Anh không coi Phạm Công – Cúc Hoa

Kẻ dương gian người đà âm phủ

Đạo nghĩa vợ chồng vẫn giữ được thay”.

Theo truyền thuyết “Trịnh Bá khắc Đoạn vu Yên” của Trung Hoa, âm

phủ còn được gọi là “cửu tuyền” hay “huỳnh tuyền”, người Việt gọi là “suối

vàng”. Trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Jean Chevalier–Alain

heerbrant (1997): “Nước là dạng thức thực thể của thế giới, là nguồn gốc của

sự sống và là yếu tố tái sinh thể xác và tinh thần, là biểu tượng của khả năng

sinh sôi nảy nở, của tính thanh khiết, tính hiền minh, tính khoan dung và đức

hạnh”. Hình ảnh “hồn về chín suối”, “huỳnh tuyền”, “suối vàng” xuất hiện

trong ca dao là biến thể của biểu tượng “nước”, hình ảnh dòng sông của cõi

âm, mang ý nghĩa tái sinh. Hình ảnh này thường xuất hiện trong các câu ca

dao thề nguyền, những người yêu nhau dùng cái chết để khẳng định sự chung

thủy, nguyện đồng lòng sống chết có nhau:

“– Anh nguyền với em có mặt nhật, mặt nguyệt

Có dòng thủy kiệt, có núi sơn lâm

Nếu anh lỗi đạo tình thâm

Hồn về chín suối, xác còn dương gian.”

Người Việt tin vào sự luân hồi, chuyển kiếp. Sau khi chết, qua phán xét

ở chốn Diêm Đình, người làm điều tốt sẽ đầu thai làm người, hưởng cuộc

sống đầy đủ, hạnh phúc. Trong ca dao Nam Bộ, sự hóa thân nhằm thể hiện lời

thề chung thủy, sống thác có nhau, luôn luôn bên nhau như “chim liền cánh

61

như cây liền cành”. Dù thác sinh kiếp khác cũng mong được gần gũi bên

nhau, như chim nhạn suốt đời chỉ có một bạn tình chung:

“– Em chết ba năm xương rũ cốt mòn

Em đầu thai lên con chim nhạn mà đậu nhánh mai mòn chờ anh”.

Ca dao là khúc nhạc lòng, bên cạnh những nốt cao ngân vang âm điệu

hạnh phúc, còn có những nốt trầm khi tình yêu dang dở, khi đối diện với tử

biệt, sinh li. So với ca dao phản ánh phong tục hôn nhân thì ca dao phản ánh

phong tục tang chiếm số lượng ít hơn, chỉ 152 bài. Trong đó, có 104 bài nói

về cái chết và cõi âm, 20 bài nói về mồ mả, 1 bài nói về việc coi ngày chôn

cất, 6 bài nói về quan tài, 5 bài về nghi lễ, 16 bài nói về việc để tang. Căn cứ

vào ngữ liệu này, chúng tôi nghiên cứu biểu hiện của phong tục tang ma trong

ca dao Nam Bộ ở hai phương diện: an táng và tang chế.

2.2.1. An táng

Với quan niệm “sống cái nhà, thác cái mồ” nên người Việt xem mồ mả

là nơi gửi thân xác chốn phàm trần, lưu giữ nắm xương còn lại để người thân

ngày sau thắp hương tưởng nhớ, thể hiện tấm lòng tôn kính đối với người

chết. Ca dao Nam Bộ đã miêu tả “ngôi nhà ấy” thật sinh động. Hình ảnh

“loan”, “phụng” trên mồ mả được chạm khắc tinh xảo càng tôn thêm vẻ uy

nghiêm:

“Nhà lầu bốn cột một căn,

Con loan con phụng chạm trong chạm ngoài.

Cửa bằng pha không đóng không cài,

Biết nam hay nữ nằm hoài trong cung”.

Nếu mồ mả của những gia đình giàu có được xây cất cẩn thận thì với

người nghèo đó là cái mả đất. Ca dao Nam Bộ đã miêu tả tình cảnh khốn khó

của người lao động xưa. Khi cuộc sống dương trần nghèo khó, không chốn

nương thân “cù bơ cù bất” đến chết cũng chỉ có cái “mả đất” mà không có bia

mộ đề tên “bản đề”, “cái lề”. Hình ảnh “mả đất” “cái lề”, “bảng đề” như cái

62

nhà, cửa ngõ, đánh dấu lối về của người chết, nếu không có thì vong linh

người chết sẽ cô đơn, lạnh lẽo, phiêu bạt khắp nơi không tìm được lối về:

“– Sống dương trần tôi mần cù bơ cù bất

Thác đi rồi anh chôn mả đất không có đắp cái lề”

“– Sống trên dương trần em mần cù bơ cù bất

Thác dưới ba tất đất mà chưa được tấm bảng đề

Để nước vô lạnh lẽo làm sao em về thăm anh”.

Hình ảnh “mồ” trong ca dao Nam Bộ còn gắn với lời thề hẹn thủy

chung, khát vọng tình yêu vĩnh cửu: “chết chung một mồ”: “Sống dương trần

anh Hớn em Hồ/ Thà rằng thác đặng chung mồ với nhau”; “Hồi nào thề thốt

đêm đông/ Sống thời một chiếu chết chung một mồ”...

Ca dao cũng phản ánh niềm tin của dân gian vào bói toán. Khi có người

chết, người thân thường xem ngày để thực hiện tang lễ. Việc này nhằm xem

người chết có phạm vào giờ trùng tang hay quỉ tinh ám ảnh hay không? Nếu

có thì dùng bùa trấn áp để tránh điềm xấu, ảnh hưởng đến con cháu. Chọn

ngày giờ tốt, tránh chạm tuổi người chết lúc nhập quan, với mong mỏi người

ra đi được siêu thoát nhẹ nhàng:

“Cò mẹ chết rũ trên cây

Cò con giở sách coi ngày đưa tang.”

Sau đó tiến hành khâm liệm, người chết được tắm rửa sạch sẽ và đưa

vào quan tài (người miền Nam gọi là hàn, hàng, hòm). Theo Từ điển văn hóa

phong tục Việt Nam “gỗ tốt nhất để làm quan tài là vàng tâm, giổi, hai thứ gỗ

có đặc tính thích hợp với sơn mài, vì gỗ có nhiều dầu giữ cho sơn được bền

tốt không bong tróc” (Nguyễn Như Ý, Chu Huy, 2014). Nhà giàu thì dùng gỗ

tốt nhà nghèo thì dùng gỗ xấu, đều cố gắng sắm sửa cho người chết đàng

hoàng, để không tủi vong linh người đã khuất. Ca dao Nam Bộ chuyển tải tâm

tư của người chồng, người vợ:

“– Em ở với anh mần có bạc ngàn

63

Sau rủi thời em có chết trước

Chớ anh chôn em bằng hàn hay bó mo

– Em chết rồi anh có lòng lo

Mua hàn quán xứng đáng chứ bó mo anh không có đành.”

“– Hôm nay anh chết sớm

Em sắm cái hòm huỳnh đàn

Chạm đủ bốn con

Lên non xuống núi em thỉnh luôn bộ nhà vòng

Vi mô tấn nguyệt vợ chồng từ biệt nghĩa nhân.”

Lời tâm sự trên vừa khắc họa tình cảm vợ chồng vừa thể hiện phong tục

tang lễ của người Việt. Khi một người qua đời, người còn lại cố gắng lo hậu

sự chu đáo, để trọn nghĩa vẹn tình. Hình ảnh “hàn quán xứng đáng” hay chiếc

“hòm huỳnh đàn” quí giá được chạm trổ tinh xảo “hàng huỳnh chín chục mà

có chạm mặt trăng hai đầu” đã nói hộ tấm lòng thương nhớ của người còn

sống. Bởi lẽ, vợ chồng là nghĩa tào khang đã cùng nhau vượt qua những thăng

trầm của cuộc sống, từng thề nguyền sinh tử có nhau. Tình nghĩa ấy không chỉ

lúc còn sống mà ngay khi chết vẫn nồng nàn, tha thiết.

Đám tang xưa thường tổ chức trong nhiều ngày để người thân ở xa có

thể về kịp tiễn đưa lần cuối. Ông bà xưa có câu “Sống dầu đèn, chết kèn

trống” nên gia đình có tang sự thường mời ban nhạc để vừa thực hiện nghi lễ

đám tang vừa giảm bớt ưu sầu, đau đớn của gia đình. Ca dao chứa đựng cả

một nền âm nhạc dân gian Nam Bộ “hò, sự, xang, xê, cống” và mô phỏng âm

thanh của dàn nhạc lễ dân gian đờn, trống,... Còn cả lễ động quan, có nhưn

bông (người điều khiển nghi thức trong lễ động quan) và đạo tì hò hát cùng

những động tác thuần thục thực hành nghi thức phá quàn. Âm thanh nhạc lễ

của những đứa con hòa vào tiếng học trò đọc văn tế vang lên, hình ảnh của

“người quá cố” như hiện về trong tâm trí của người thân. Bài ca dao vừa thể

64

hiện nỗi đau xót của người còn sống đã khắc họa nghi thức quan trọng của

đám tang:

“Anh ơi! Hồi anh còn sống dương gian chồng vợ đàng hoàng

Giờ đây anh dẫu vô phần xấu phước

Anh chết trước để lại một nén vàng hai ngàn đồng bạc

Em nhắc cho anh một cái huỳnh đàn lọng lạc, rước nhạc Gò Công,

đạo tỳ Gò Cát.

Lúc động quan kẻ hát người hò, rước học trò đọc văn tế cho mình

Ngày bữa nay con trai thứ hai phò đầu xăng giá triệu

Thằng con thứ ba phò cây đàn cò chỉ sợi dây dừng kêu tì, ti, tí ,tỉ

Sợi dây thẳng kêu hò cống, xê, xang

Ngày mai tâm can rời ra, hai ngả biệt ly

Phu lìa thê, tợ chim kia chích cánh

Thê lìa phu liễu nọ lìa cành

Ngày kia chôn anh đã ra rành rành

Trở về nhà nghe tiếng trống cơm kêu bùm bum ruột rung từng đoạn

Em muốn thác theo chàng hai mạng nằm chung”.

Khi động quan, các đạo tì múa và lạy để thực hiện nghi lễ. Trong lúc

đó, người nhà mang minh tinh (dải lụa ghi tên họ, tuổi tác ... của người chết

treo trên giàn nhỏ, khiêng trước quan tài khi đưa tang), giá triệu là bài vị của

người quá cố, nghinh quan tài (bưng bát hương đi thụt lùi phía trước quan tài

để dẫn đường) cùng theo ra mộ phần. Nếu ở miền Bắc, những việc này

thường do con trai trưởng, con thừa tự, cháu đích tôn thực hiện thì ở miền

Nam các con cùng chung vai góp sức thực hiện các nghi thức đó: con trai

khiêng minh sinh, con gái phò giá triệu và con dâu nghinh quan tài. Quan

điểm này được diễn tả trong bài ca dao sau:

“– Một mai ai đứng minh sinh,

Ai phò giá triệu, ai rinh quan tài?

65

– Minh sinh đã có con trai

Giá triệu con gái, quan tài nàng dâu.”

Giọng điệu trữ tình của ca dao Nam Bộ đã truyền tải tình cảm sâu nặng

của những con người xứ này với những người thân yêu trong giây phút tử biệt

sinh li. Đồng thời, ca dao cũng lưu giữ những nghi lễ truyền thống của việc an

táng từ việc chọn ngày, chuẩn bị mồ mả, quan tài cho đến nghi thức động

quan. Dù đau khổ ngậm ngùi nhưng tang lễ vẫn được chuẩn bị chu đáo. Có lẽ,

trong tâm hồn lạc quan yêu đời của vùng đất phương Nam, cái chết nhẹ tựa

lông hồng nên những câu hát tâm tình thường hướng về những đạo lí truyền

thống tốt đẹp thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc.

2.2.2. Tang chế

Sau khi nhập quan, khâm liệm, người nhà tổ chức lễ thành phục. Theo

Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính (2017) ghi nhận: “Tang phục: con trai,

con gái, con dâu, đội khăn xô, mũ chuối, mặc áo xô, quàng ngoài sợi dây

chuối, thắt lưng bằng chạc. Cháu nội thì đội mũ mấn, khăn trắng, mặc áo

thụng trắng, thân thuộc cũng mặc đồ trắng cả”.

Ca dao vừa bộc lộ nỗi lòng đau đớn, xót xa của người vợ khi chồng qua

đời vừa khắc họa phong tục để tang cho người đã khuất:

“Anh chết rồi em quấn chế khăn tang

Lo đãi đằng cô bác mà vào phòng loan khóc thầm”

Theo Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (tập 1), Nguyễn Đổng Chi

(1957) đã ghi lại câu chuyện “Sự tích chiếc khăn tang” như sau: Nhà phú hộ

có năm cô con gái đi lấy chồng, lần lượt cha mẹ đến thăm nhưng đều thờ ơ

lãnh đạm. Phú ông buồn bã, đi tìm một đứa con nuôi để nương tựa lúc tuổi

già. Trong bộ dạng của kẻ nghèo khó, ông rao bán “Có ai mua cha thì ra mà

mua. Mua ta về làm cha chỉ mất năm quan tiền thôi”. Điều đó làm mọi người

chê cười. Duy có đôi vợ chồng mồ côi với khao khát tình cảm muốn mua về.

Nhưng gia đình nghèo quá, người vợ phải bán tóc để đủ tiền mua cha. Họ

66

hiếu thuận, chăm sóc chu đáo, nghe lời cha, dù phải ăn xin. Khi về đến nhà

mới biết cha của mình là gia đình giàu có. Từ đó, họ được hưởng cuộc sống

yên vui, hạnh phúc. Khi người cha chết đã dặn rằng: “Việc để tang thì đứa

con trai cứ theo cổ tục cắt tóc đội mũ quấn rơm trên đầu để chứng tỏ mình

chịu cực chịu khổ với cha mẹ thì thôi cũng được, nhưng đứa con dâu thì bà

bảo nó khỏi cắt tóc, vì tôi chưa bao giờ quên cái việc nó đã phải bán mớ tóc

dài của nó để mua cha, vậy nó chỉ cần đội khăn tang là đủ” và không cho

năm người con gái biết. Người mẹ vì thương nên cho con gái hay và khi cho

họ đưa tang đã lấy miếng vải vuông che mặt. Câu chuyện nói về chiếc khăn

tang nhưng qua đó ca ngợi tấm lòng hiếu thảo, hết lòng chăm sóc cha mẹ khi

còn sống.

Ca dao bộc lộ nỗi trăn trở của các bậc làm cha mẹ xưa. Khi xã hội còn

tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, việc tang ma do con trai và cháu nội phụ

trách, nên câu hỏi “Mũ rơm ai đội, áo thùng ai mang ?” luôn canh cánh

trong lòng:

“Một mai bóng xế cội tùng

Mũ rơm ai đội, áo thùng ai mang ?”

Lệ xưa còn qui định việc để tang nhằm tưởng nhớ người đã khuất. Theo

Sơn Nam (2017), cha mẹ chết, con cháu trở thành kẻ khốn cùng trên đời. Có

lệ, con cháu không lau mặt, ngồi ăn cơm dưới đất, không cạo râu, không cắt

móng tay... làm ra vẻ tiều tụy. Ca dao đã khắc ghi hình ảnh ấy như sau:

“Râu dài để chế cho cha

Tóc dài theo lệ ông bà ngày xưa”

Theo Đất lề quê thói, Nhất Thanh (2016) ghi rõ: “cháu để tang ông

nội, chắt để tang cụ, chút để tang kị, cũng ba năm áo trảm thôi, như con trai

để tang cha mẹ”. Cảnh sinh li tử biệt khiến người trong cuộc đau khổ khôn

nguôi. Con cháu thương tiếc nhớ nhung người đã khuất, nên chẳng màng đến

chuyện riêng tư, giữ mãi tình cảm thiết tha với người đã mất. Trong thời gian

67

đó, gia đình thường kiêng kị việc cưới gả, cho nên đôi lứa yêu cũng nén lòng

chờ đợi mãn tang mới tính chuyện trăm năm. Tình cảm ấy cũng được gửi gắm

vào ca dao:

“– Bắt lấy tay em anh không sợ tội

Ngó lên trên đầu còn đội tang cha”

“– Hai đứa mình trai gái bụi tre gai

Anh năn năn nỉ nỉ, ỉ ỉ ôi ôi

Còn tang bà nội tội lắm anh ơi

Hết tang bà nội em sẽ đứng ngồi với anh”.

Theo Đức Thành (2019), trong Thọ Mai gia lễ, việc để tang của người

chia làm đại tang và tiểu tang. Đại tang là con để tang cha mẹ ruột, nàng dâu

để tang cha mẹ chồng, vợ để tang chồng, cháu đích tôn để tang ông bà thời

gian ba năm. Tiểu tang có nhiều bậc trong đó chồng để tang vợ là một năm.

Trong ca dao Nam Bộ tấm lòng hiếu thuận của nàng dâu đối với cha mẹ

chồng được thể hiện:

“Em để chế cho ai mà tóc mai rành rạnh

Em để chế cho cha mẹ chồng hiếu hạnh của em”

Tuy nhiên, mối quan hệ giữa nàng dâu và mẹ chồng khi xưa đôi khi

không được suôn sẻ lắm. Lúc mẹ chồng chết, nàng dâu dường như thoát khỏi

những áp chế về quyền lực nên có thể chưng diện, sắm sửa:

“Nàng dâu để chế mẹ chồng,

Đôi bông hột lựu, đôi vòng sáng trưng”.

Đặc biệt, khảo sát những câu ca dao về tang chế, chúng tôi nhận thấy

có 6 bài ca dao phản ánh việc vợ để tang cho chồng. Vợ để tang chồng theo

đại tang, trong thời gian còn tang chế, người vợ không được quyền tái giá.

Cho nên trong ca dao, lời than nghe não nuột:

“Em vô phần vô phước

Anh chết trước, em đem chôn nhằm giọt nước chảy quanh

68

Em cầm quạt Tàu em quạt, ráo mồ anh em mới lấy chồng.”

Câu ca dao mượn hình ảnh “quạt Tàu”, vốn xuất phát từ câu chuyện

Trang Tử thử vợ. Qua câu chuyện này, chúng tôi thấy rằng tang chế ngoài

việc thể hiện nghi lễ còn phản ánh tấm lòng chung thủy của vợ chồng. Bài ca

dao vừa là lời than thở của người phụ nữ khi người chồng chết trước vừa thể

hiện khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ. Vốn chịu nhiều ràng buộc bởi lễ

giáo, người phụ nữ mong muốn vượt thoát để đi theo tiếng gọi của tình yêu,

tìm kiếm hạnh phúc của mình mà không phải chịu tiếng đời dị nghị, dèm pha.

Sau ba năm để tang, có lẽ người mất cũng thấu hiểu tâm tình của người

còn sống, người ta làm lễ xả tang. Sau lễ này, người dân Việt tin rằng người

chết đã tìm được cuộc sống khác, bình yên ở thế giới bên kia, nên có thể “tùy

duyên” mà sống tiếp, tìm lại hạnh phúc. Ca dao cũng góp phần diễn tả điều

đó:

“Ba năm tang chế mãn rồi

Đầu dơ em gội chuỗi vòng đeo vô”.

Đây là tình cảm của người vợ đối với người chồng quá cố. Sau ba năm

để tang theo đúng lễ nghi truyền thống. Người phụ nữ muốn tìm lại niềm vui

trong cuộc sống, hình ảnh “đầu dơ em gội”, “chuỗi vòng đeo vô” như sự vực

dậy tinh thần, khiến họ phấn chấn hơn, hướng đến giá trị nhân bản sâu sắc.

Tiếng nói của những anh trai làng hiền lương, chân chất, muốn phá vỡ

những rào cản của tư tưởng Nho giáo. Thấy người con gái để tang, chàng trai

cũng muốn chia sẻ, nếu là tang cha mẹ thì chịu tang chung coi như con rể

trong nhà:

Để chế mẹ cha xé hai cho mình một nửa

Việc để tang tưởng nhớ nhằm thể hiện tấm lòng thương cảm của người

còn sống đối với người đã khuất, mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc.

Trong phong tục tang ma, ca dao Nam bộ đã tái hiện thế giới “cõi âm

huyền bí” cùng với những nghi lễ đưa tang thể hiện niềm tin vào sự bất tử của

69

linh hồn. Tang lễ như buổi tiễn đưa linh hồn về cõi vĩnh hằng, sum họp cùng

tổ tiên, xây mồ mả đẹp để ấm lòng người đã khuất. Những nghi lễ ấy không

chỉ thể hiện sự cung kính đối với người chết mà còn là sự thương nhớ, tiếc

nuối của người còn sống.

70

Tiểu kết chương 2

Phong tục của Nam Bộ là sự tiếp tục của mạch ngầm truyền thống được

người dân mang theo trong hành trang lập nghiệp. Từ góc nhìn phong tục gắn

với vòng đời con người, chúng tôi nhận thấy những câu hát ngọt ngào là dòng

chảy của phong tục truyền thống ở vùng đất mới. Ở đây, những phong tục hôn

nhân và tang ma vừa có nét kế thừa vừa có nét biến đổi để phù hợp với quan

điểm, suy nghĩ của cộng đồng.

Hôn nhân là kết quả của tình yêu lứa đôi, là nền tảng của gia đình. Sự

gắn kết của vợ chồng không chỉ là ở mặt sinh lí và tình cảm mà còn gắn kết

về mặt tâm linh thông qua những nghi lễ cưới hỏi. Ca dao Nam Bộ đã phác

họa phong tục cưới hỏi với những nghi lễ quan trọng như: lễ dạm ngõ, lễ hỏi,

lễ cưới. Lễ vật cưới hỏi đơn giản, không đặt nặng về giá trị vật chất, chủ yếu

thể hiện tấm lòng yêu thương, khao khát xây dựng mái ấm gia đình; các lễ

nghi cũng thể hiện tinh thần trọng nghĩa, cởi mở. Qua phong tục cưới hỏi,

chúng ta cảm nhận được khát vọng hạnh phúc lứa đôi, tâm hồn vui tươi, hóm

hỉnh và tinh thần lạc quan, yêu đời của người lao động.

Ca dao là nơi kí thác tình cảm của con người. Có lẽ vì vậy, phong tục

tang ma thể hiện trong ca dao bằng giọng điệu bi thiết, cảm thương, nỗi lòng

nhớ tiếc dành cho người quá cố. Những bài ca dao về phong tục tang ma đã

góp phần biểu lộ đời sống tình cảm, cảm xúc của con người Việt Nam. Suy

rộng ra, những nghi lễ tang ma biểu thị tấm lòng thành kính, ngưỡng vọng của

người còn sống đối với người đã chết.

Tóm lại, ca dao Nam Bộ đã phản ánh khá rõ nét đẹp của văn hóa phong

tục người Việt trong đời sống xã hội, góp phần làm thể hiện chiều sâu trong

sinh hoạt cộng đồng. Hay nói một cách khác, ca dao Nam Bộ đã lưu giữ các

phong tục truyền thống, làm giàu hơn đời sống tinh thần của con người.

71

Chương 3

CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN

PHONG TỤC GẮN VỚI TÍN NGƯỠNG

Trước khi trở thành một vùng đất trù phú, Nam Bộ là không gian bao

la, rợn ngợp, mênh mông, vời vợi. Đây là chốn rừng thiêng, thú dữ, muỗi

mòng, sình lầy ... luôn là mối đe dọa của con người. Trước cái bí hiểm của

trời đất, con người cần một chốn nương tựa về mặt tinh thần, từ đó hình thành

những phong tục tín ngưỡng dân gian độc đáo. Điều này được thể hiện ấn

tượng trong ca dao. Đó là sự thành kính với thế giới linh thiêng qua phong tục

thờ cúng đa thần, phong tục thờ cúng người thân trong gia đình.

3.1. Phong tục thờ cúng đa thần

Nam Bộ nằm trên đường giao thoa văn hóa. Quá trình Nam tiến của

những lưu dân Việt với hành trang của văn hóa truyền thống, với tư tưởng

tam giáo đồng nguyên, cùng tinh thần thoáng mở đã tạo nên sự hợp dung văn

hóa ở vùng đất mới. Quá trình làm ăn sinh sống, tiếp xúc với văn hóa tín

ngưỡng của các dân tộc Hoa, Chăm và Khmer, người Việt đã tiếp thu và biến

đổi để làm giàu hơn tín ngưỡng dân tộc.

Hệ thống tín ngưỡng ở Nam Bộ rất đang dạng. Chùa chiền, đình, miếu

thờ cúng Phật, Thần và những người có công với cộng đồng. Trong tâm hồn

của người Việt, hình ảnh đình, chùa, miếu đã trở thành chỗ dựa tinh thần, một

“miền đất thiêng”, lưu giữ tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào về

truyền thống văn hóa dân tộc. Những địa danh chợ Thủ, Long Điền, đền Quán

Thánh, chùa Bửu Linh nổi tiếng ở Nam Bộ được lưu giữ trong bài ca dao

chan chứa nỗi nhớ niềm thương, khơi gợi kí ức về một vùng quê trù phú:

“Ai về chợ Thủ, Long Điền

Ghé đền Quan Thánh, thăm chùa Bửu Linh

Xa xa thấp thoáng mái đình

72

Điệu hò, câu lý quê mình đẹp sao!”

Vùng đất biên giới phía Tây Nam của tổ quốc, có dãy Thất Sơn huyền

bí, có núi Sam linh thiêng với tín ngưỡng bà chúa Xứ và các bậc tiền nhân

như Nguyễn Hữu Cảnh, Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Tri Phương ... trở thành

niềm tự hào của người dân An Giang. Bài ca dao đã chuyên chở bao nhiêu

tình hay ý đẹp, sự trìu mến thân thương về mảnh đất “địa linh nhân kiệt” này:

“ Ai về Châu Đốc, An Giang

Nhớ viếng núi Cấm, Thất Sơn quê mình

Danh lam thắng cảnh hữu tình

Đình chùa, di tích, hiển linh, diệu huyền

Địa linh, nhân kiệt, thánh tiên

Dâu ngoan, rể thảo, tôi hiền trung can

Quê tôi Châu Đốc, An Giang”.

Sự hợp dung trong tín ngưỡng dân gian tạo thành nét sinh hoạt cộng

đồng độc đáo. Miếu và chùa, ngoài việc tế lễ còn là dịp để người dân vui chơi

sau vụ mùa vất vả:

“Phụng hoàng đua, se sẻ cũng đua,

Dạo chơi trước miễu sau chùa,

Dụng người buôn bán quê mùa thiếu chi”.

Sự đa dạng này đã ghi đậm dấu ấn trong ca dao Nam Bộ. Qua nghiên

cứu, chúng tôi thấy rằng tín ngưỡng dân gian đã hòa nhập vào tôn giáo tạo

nên nét độc đáo trong phong tục thờ Trời, Phật; phong tục thờ Thần; phong

tục thờ Mẫu và Quan Công.

3.1.1. Phong tục thờ Trời, Phật

Trong tâm thức người Việt, Trời và Phật là các đấng thiêng liêng, có

quyền năng tối thượng, cứu giúp con người thoát khỏi những tai ương trong

cuộc sống. Tư tưởng thờ Trời kính Phật được người Việt mang theo từ cội

nguồn đến vùng đất mới sớm đâm chồi nẩy lộc. Chính niềm tin vào Trời, Phật

73

đã giúp những lưu dân vượt qua những bí hiểm rùng rợn của đất phương Nam

những ngày đầu lập nghiệp.

Trong đời sống phong tục thờ Trời, Phật là biểu hiện của lòng thành

kính tuyệt đối vào lực lượng siêu nhiên qua các nghi thức tế, bái... Nhưng

trong ca dao, phong tục thờ Trời, Phật chủ yếu phản ánh niềm tin của con

người vào các đấng thiêng liêng.

Mở ra trong 270 bài ca dao Nam Bộ là thế giới thiêng kí gửi khát vọng

về cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Người xưa cho rằng trời đất chia làm ba cõi:

thiên đình, dương gian, âm phủ. Nếu ở cõi âm phủ, ông Chủ biện làm vua

phán xét linh hồn con người sau khi mất thì cõi dương gian, con người cất

miếu, xây chùa để thờ Phật và ở thiên đình do Ngọc Hoàng làm chủ có khả

năng nhìn thấu cả ba cõi. Danh xưng ông Trời là tên gọi thân mật của Ngọc

Hoàng Đại đế. Theo quan niệm của người Việt, Trời nằm ở cõi cao nhất, có

triều đình riêng, cai quản cuộc sống trên trời dưới đất. Trời, Phật đã hình

thành một cõi thiêng trong tâm hồn con người. Nếu trong truyện cổ tích cõi

Trời, Phật được miêu tả chi tiết, cụ thể thì trong ca dao như là một duyên cớ

để chàng trai, cô gái bày tỏ tình cảm:

“– Thấy anh hay chữ em hỏi thử mấy lời:

Trên trời ai làm chủ?

Dưới âm phủ ai làm vua?

Trước đây ai lập miếu làm chùa?

Trai như anh đối đặng mà em làm mùa cho anh.

– Thấy em hỏi tức anh nói phức cho rồi

Trên trời ông Ngọc Hoàng làm chủ

Dưới âm phủ ông Chủ Biện làm vua

Ở dương gian ông Cả, ông Xã lập miếu cất chùa

Trai như anh đối đặng em làm mùa cho anh không”

74

Những ngày đầu đến vùng đất mới, đối diện với những trở lực khủng

khiếp của tự nhiên đến con cá bơi, con chim bay cũng khiến con người giật

mình “Tới đây xứ xở lạ lùng/ Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh”.

Cùng với quan niệm “vạn vật hữu linh”, mỗi gốc cây, ngọn cỏ dường như có

linh khí có thể phù trợ hoặc đe dọa con người. Có lẽ để trấn an cảm giác sợ

hãi khi đối diện với sự rợn ngợp của tự nhiên, con người tìm đến Trời như

một điểm tựa thiêng liêng:

“Tới đây lạ bến đậu nhờ

Lạy trời bớt gió cho sóng trong bờ đừng chao”

Hành động “Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời” thể hiện tấm lòng của con cái

đối với cha mẹ. Hình ảnh “đèn trời” trong ca dao là vết tích của phong tục thờ

Trời, Phật của vùng đất phương Nam:

“Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời,

Cầu cho cha mẹ sống đời với con”.

Ở Nam Bộ, mỗi nhà đều có một bàn thờ Trời (ông Thiên). Bàn thờ đơn

giản chỉ gồm một cây cột, trên có một tấm ván hình vuông. Bàn thờ vừa thể

hiện bản chất mộc mạc, chân thành của người dân phương Nam vừa ẩn chứa

triết lí âm dương sâu sắc. Trên bàn thờ bày lư hương, vài chung trà chén rượu,

lọ hoa... Bàn thờ ông Thiên là nơi kết nối tâm linh của con người và trời đất.

Vào khoảnh khắc giao nhau giữa ngày và đêm, gia chủ thắp nén nhang tế

cùng trời đất cầu mong Trời ban phước lành, bình an... cho cha mẹ và các

thành viên khác gia đình. Ngọn đèn trời soi sáng tấm lòng của người con hiếu

thảo.

Trời có quyền năng vô hạn, chi phối vận mệnh con người. Người xưa

cho rằng cây cỏ sinh ra từ đất, lấy dinh dưỡng từ đất để trưởng thành cũng

như mỗi người có một số phận, có phước phần riêng “Thiên sinh nhơn hà

nhơn vô lộc/ Địa sinh thảo hà thảo vô căn/ Trời sinh ra người đều có lộc trời/

Đất thì sinh cỏ rễ chồi nào không”; “Chữ rằng: Phú quý tại thiên/ Giàu sang

75

tại số hiển nhiên tại trời; Ai ai cũng ở trong trời/ Phần ai nấy hưởng ngạo

đời làm chi?”

Ẩn trong những câu hát bày tỏ nỗi lòng là niềm tin vào duyên nợ trời

định. Các đôi lứa yêu nhau tin rằng ông Trời đã xui khiến, tạo cho họ cơ

duyên gặp nhau, cùng nhau “kết tóc se tơ” đến trọn đời: “Màn rồng một bức

giăng ngang,/ Tôi với mình trời định, tam cang ngũ thường./ Mình về thưa

lại thung đường/ Qua đây gá nghĩa cang thường với em”. Vì vậy, họ thường

cầu nguyện ông Trời để được gần nhau: “Vái trời cho đặng vuông tròn,/

Trăm năm giữ vẹn lòng son cũng chàng”; “Vái trời cưới được cô Năm,/ Làm

chay bảy ngọ, mười lăm ông thầy”; “Vái trời cho đặng vuông tròn,/ Trăm

năm giữa vẹn lòng son cùng chàng”; để người yêu vừa lòng: “Lạy trời đừng

gió đừng mưa/ Êm êm dịu dịu cho vừa lòng em”. Hành động vái, lạy thể hiện

sự kính cẩn, thành tâm hướng đến cõi trời, cất lên tiếng nói của tình yêu. Hay

nói cách khác, niềm tin vào Trời đã chấp thêm đôi cánh cho tình yêu, giúp đôi

trẻ vượt qua những chướng ngại để xây tổ ấm gia đình hạnh phúc.

Ca dao cũng lấp lánh niềm tin vào đạo trời:

“Ở hiền thời lại gặp lành

Những người nhân đức trời dành phúc cho”.

Người Việt tin rằng “Ông Trời có mắt”, luôn chứng giám, can thiệp

mọi việc làm của con người. Điều đó chi phối cách hành xử của con người,

kết tinh thành đạo trời trở thành qui tắc ứng xử chốn nhân gian. Trời vốn

chuộng công bằng, lẽ phải, khuyến khích con người biết sống nhân nghĩa nên

những người hiền lành sẽ được phúc báo của trời.

Vì vậy, con người nhắc nhở nhau sống có tình có nghĩa, nhất là đối đãi

với những người thân trong gia đình, biết thờ cha, kính mẹ, yêu thương vợ

con:

“Ai ơi muốn hưởng lộc trời

Trước thờ cha mẹ, sau là vợ con”.

76

Trong ca dao, những lời nhắn nhủ chân tình, khuyên nhủ con người nên

siêng năng, cần mẫn, lo lắng làm ăn để có được cuộc sống giàu sang, sung

sướng. Việc này đã phần nào khắc họa niềm tin vào trời, nhưng trên hết, đó là

tinh thần lạc quan, yêu lao động của người dân lao động:

“Mần cực khổ anh đừng than,

Chừng trời đất ngó lại giàu sang mấy hồi”.

Ca dao Nam Bộ khuyến khích con người sống trọn đạo trời: “Chim trời

thì hưởng lộc trời/ Ăn chi của bạn nghe lời đắng cay”; “Của trời trời lại lấy

đi,/ Giương hai con mắt làm chi được đời”; đồng thời răn đe những kẻ bất

hiếu: “Ai bỏ cha mẹ cơ hàn/ Ngày sau trời phạt mò đàng ăn xin”. Điều này

góp phần xây dựng cách ứng xử văn minh của con người, không tham lam,

không bất nghĩa.

Niềm tin ông Trời cũng bênh vực, bảo vệ người ngay, trừng trị những

kẻ có tâm địa xấu xa cũng phát triển mạnh mẽ trong ca dao Nam Bộ: “Bắc

thang lên hỏi ông trời/ Mấy thằng ác đức sống đời được không/ Ông trời ổng

bảo rằng không/ Mấy thằng ác đức thì không sống đời”; những kẻ bạc tình,

tham sang phụ khó: “Nghiêng tai dưới gió/ Em kể công khó cho chàng nghe/

Kể từ ngày anh đau ban cua lưỡi trắng/ Miệng đắng cơm hôi/ Cha mẹ không

cho em vô/ Em cũng ráng vô để bế đứng bồng ngồi/ Bây giờ anh ở bạc, ông

trời nào để anh”; “Cuốn sách Minh Tâm,/ Tay em cầm anh đọc/ Thiện ác

dáo dầu chung hữu báo,/ Cao phi viễn tẩu giả nam tàng./ Hồi nào anh lấy

em,/ Nay đem dạ điếm đàng,/ Anh ơi! Trời cao có mắt,/ Ông trời nào để

anh”.

Ca dao là con đò chuyên chở cảm xúc, không chỉ là niềm vui mà cả nỗi

buồn. Khi tình yêu dang dở để lại nỗi day dứt không nguôi, con người cho

rằng trời đã gây ra nỗi đau ấy: “Trách trời phân rẽ tóc tơ,/ Kẻ thác âm phủ,

người chờ dương gian!/ Chiều chiều ra mộ khóc than,/ Cảm thương bậu phải

cơ hàn nắng mưa”; “Nhìn nhau lụy nhỏ thấm bâu/ Than trời trách đất cớ

77

đâu phân lìa”; khi cho số mệnh của mình hẩm hiu: “Ca rô ăn móng dợn sóng

đường cày/ Vợ anh còn, con anh đó, ông trời đày em phải thương; Trời

chuyển mưa giông, mây phủ mình rồng/ Phần anh nay hết số lấy gái có chồng

hai con”.

Những người lưu dân nương tựa vào tự nhiên, tìm cách hòa hợp để tồn

tại. Nhưng họ vẫn có niềm tin vào chính bản thân mình, không quá phụ thuộc

vào mệnh trời. Điều này được thể hiện sinh động trong ca dao:

“– Bần de đóm đậu sáng ngời

Lỡ duyên chịu vậy trách trời làm chi.”

“– Đèn treo trước gió bốc cháy sáng ngời

Ưng không tự bụng trời nào ép duyên.”

“– Đừng nên trông đợi ở trời

Hãy tin vào sức con người lớn lao.”

Không những kính Trời, người dân phương Nam còn thờ Phật. Những

con người “tứ xứ” đến sinh sống tại đây đều có tinh thần đoàn kết, nghĩa hiệp,

cùng nương tựa vào nhau vượt qua những khó khăn trong thời kì lập nghiệp.

Quá trình mở làng lập ấp, người Việt đã tiếp thu văn hóa, phong tục, tín

ngưỡng của người Hoa, người Chăm, người Khmer. Nghiên cứu Đạo Phật

trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ – Việt Nam từ thế kỷ XVII đến 1975,

Trần Hồng Liên (1995) đã khẳng định đạo Phật ở đây được kết hợp từ các tư

tưởng Phật giáo của cư dân Thuận – Quảng, thiền sư Trung Hoa và Phật giáo

Nam tông. Trên mảnh đất Nam Bộ, Phật giáo đã chuyển mình tìm sự dung

hòa với phong tục tập quán tạo sức sống bền vững trong cộng đồng.

Trong ca dao Nam Bộ, những ngôi chùa thâm nghiêm, cổ kính từng

chứng kiến bao lời cầu nguyện của người dân di cư. Họ tin rằng đức Phật từ

bi sẽ cứu họ thoát qua khỏi những tai ương, phù hộ cho họ được bình an. Ngôi

chùa là cơ sở của tín ngưỡng tôn giáo, gắn liền với sinh hoạt văn hóa, lễ hội

khác của cộng đồng. Người dân đến dâng hương lễ Phật nguyện cầu những

78

điều kinh tâm, gửi tấm lòng thành đến Phật mong tìm được sự an nhiên trong

cuộc sống:

“Dù có đi đâu về đâu

Tháng giêng hai chín nhớ câu hội về

Trà Ôn – Phước Hậu chùa quê

Dâng hương tưởng nguyện niệm lời kinh tâm”.

Phật giáo Nam Bộ đan xen, hòa quyện cùng tín ngưỡng dân gian trở

thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho con người. Việc cúng tế cũng chuộng

sự đơn giản, không cầu kì, có gì cúng nấy theo tinh thần “tùy duyên” của

Phật. Những lễ vật cúng tế được phản ánh trong ca dao là các loại bánh, trái

quen thuộc như: bánh, chè, quả mít, nếp, cam, quýt, xoài ... Với sự thành

kính, họ đến với Phật không cầu được mong được thành Phật cứu độ chúng

sinh, cũng không mong được giải thoát mà chỉ cầu mong những điều gần gũi,

thiết thực trong cuộc sống như “xin bùa làm duyên”, “xin bùa em đeo”...

“– Tay bưng dĩa bánh đi chùa

Đốt nhang lạy Phật xin bùa làm duyên”

“– Nấu chè van vái Phật Bà,

Muốn cho chung hiệp một nhà phụng loan”.

“– Tay bưng quả mít vô chùa

Đốt nhang lạy phật, xin bùa em đeo.”

“– Tay bưng quả nếp vô chùa

Đốt nhang lạy phật, xin bùa em đeo”

“– Ba cô đi cúng chùa ngoài,

Cúng cam, cúng quýt, cúng xoài cà lăm.”

Những con người phương Nam mang trong mình tinh thần tự do, phóng

khoáng, họ thờ Phật nhưng không quá xem trọng giáo lí. Tinh thần “tùy

duyên” của Phật giáo đi vào ca dao một cách tự nhiên: “Ra đi gặp vịt thì lùa/

Gặp duyên thì kết, gặp chùa thì tu”. Hướng đến Phật cũng là cách “tu tâm sửa

79

tánh” khiến con người phát triển theo chiều hướng tích cực, biết giữ đạo đức,

nghĩa nhân: “Ai ơi cứ ở cho lành/ Tu nhân tích đức để dành về sau”; cầu gia

đạo thuận hòa: “Tu cầu gia đạo vuông tròn/ Chồng hòa vợ thuận, cháu con

thảo hiền”; tìm cuộc sống an nhiên, tự tại: “Rủ nhau xuống biển bắt cua/ Lên

non bắn nhạn, vô chùa nghe kinh”.

Trong ca dao Nam Bộ, hình ảnh Trời, Phật vừa là những vị thần vừa có

quyền năng vô hạn vừa là gần gũi thân thương mà con người gửi gắm nỗi

niềm thầm kín, nhất là chuyện tình cảm. Họ cầu Trời, Phật cho họ cơ hội gặp

gỡ, kết tóc se tơ, xây dựng hạnh phúc gia đình:

“– Đường trơn trượt em còn lặn lội

Vái Phật trời cho tương hội sum vầy”

“– Ăn chay một thắng ba giạ muối trường

Vái trời vái phật ra đường gặp em.”

“– Cầu trời khấn bụt cho tóc mai dài

Bao giờ tóc chấm ngang vai

Thì ta kết nghĩa làm hai vợ chồng”.

Thờ Trời, kính Phật là niềm tin thiêng liêng trong tâm hồn con người.

Đi vào trong ca dao Nam Bộ phong tục thờ Trời, Phật khoác một diện mạo

mới, mang tinh thần nhập thế tích cực, phản ánh vẻ đẹp tinh thần và phong

tục tập quán của người phương Nam.

3.1.2. Phong tục thờ Thần

Khám phá vùng đất xa lạ, con người luôn không chỉ đối diện với rừng

rậm, thú hoang mà còn đối diện với những nỗi sợ hãi của chính mình. Trong

ca dao Nam Bộ, đình miếu là chốn thần linh ngự trị, người phàm trần không

dám đến gần:

“Chẳng thiêng ai gọi là thần

Lối ngang đường dọc chẳng gần ai đi”.

80

Dù hoàn cảnh vật đổi sao dời, đình đổ miếu xiêu thì vị thần cai quản

vẫn linh thiêng, phù trợ con người, không em dám xem thường, nói lời xúc

phạm:

“Bị rách mà lại có vàng

Tuy rằng miếu đổ, thần hoàng còn thiêng.”

Khảo sát ca dao Nam Bộ, có 130 bài ca dao có hình ảnh đình miếu, các

vị anh hùng có công mở cõi đất phương Nam. Số lượng ca dao tuy không

nhiều nhưng trong từng bài ca dao, chúng tôi phát hiện vẻ đẹp của tín ngưỡng

thờ Thần ở vùng đất này.

Theo Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ, Nguyễn Hữu Hiếu (2013):

Đình trên vùng đất mới ra đời cùng quá trình khai hoang lập ấp với tất cả đặc

điểm của đình Việt Nam. Việc thành lập đình nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh

thần, tình cảm hướng về quê cũ. Đình Nam Bộ có những nét đặc sắc riêng.

Việc thờ Thành hoàng bổn cảnh, do điều kiện lịch sử, chỉ có một số ít

nhân vật lịch sử được sắc phong thần, còn đa số là những nhân vật vô danh

tính, được thờ với chữ Thần ở chính điện. Thần ngự ở đình, bảo hộ dân cư của

làng mình, đại diện Ngọc hoàng, xem xét công tội của dân làng.

Thờ những người có công với làng nước, được dân gian thần hóa như:

tiền hiền, hậu hiền, anh hùng liệt sĩ,…

Ngoài ra, đình còn thờ các vị thần phối tự như: Thần Nông, Thần Tài,

Thổ Địa, Thanh Long, Bạch Hổ… các vị thần linh bản địa: Bà Chúa Xứ,

Chúa Ngọc, Quan Thánh Đế Quân, Bà Thiên Hậu…

Đào Duy Anh, (1992): “Đối với dân làng Thành Hoàng là biểu hiện

của lịch sử, phong tục, đạo đức, pháp luật cùng hy vọng của cả làng, lại cũng

là một thứ quyền uy siêu việt, một mối liên lạc vô hình khiến cho hương thôn

thành một đoàn thể có tổ chức và hệ thống chặt chẽ”.

Như vậy, trong đời sống tâm linh của Việt ở Nam Bộ, đình làng là nơi

thờ cúng các vị thần có công với dân làng, được dân làng tôn sùng kính bái.

81

Đình làng không chỉ là nơi thờ tự mà còn là không gian sinh hoạt lễ hội của

cộng đồng. Hơn nữa, trong đình thường có miếu, kiến trúc đình miếu hài hòa

tạo nên nét độc đáo riêng của Nam Bộ.

Trong tâm thức Việt , đình miếu là “miền đất thiêng”, là chỗ dựa tinh

thần vững chắc của con người. Những mái đình, ngôi miếu linh đi vào ca dao

Nam Bộ gắn liền với tình yêu lứa đôi, chứng giám lời thề chung thủy, khát

vọng hạnh phúc:

“– Cây đa bến đá

Rụng lá trước sân đình

Nhớ lời thệ hải minh sơn

Cây đa còn đó hai đứa mình còn thương”.

“– Anh than một tiếng sập miếu xiêu đình

Nước ngoài sông cứ chảy, mà lục bình cứ trôi”.

“– Anh thề với em

Bên kia là miễu

Bên này là đình

Đình kia miếu nọ cho linh

Đừng cho bạn cũ tư tình với ai”

Ngay cả những vật được bài trí trong đó cũng trở thành vật chứng giám

của tình yêu lứa đôi.

Hình ảnh hạc trong đình biểu tượng cho đạo lí và niềm thành kính

thiêng liêng, hai chim hạc chầu hai bên tượng trưng cho sự hòa hợp âm

dương. Theo Từ điển văn hóa, phong tục cổ truyền Việt Nam ghi nhận:

“Trong đình, hai tượng hạc tư thế trên lung con rùa đứng chầu hai bên bàn

thờ trong đình, tượng trưng cho sự bay bổng, chân hạc ra đi từ đất, lung hạc

cõng bầu trời, cánh hạc là gió, lông hạc là cỏ cây”. Trong ca dao Nam Bộ,

đôi hạc là duyên cớ thể hiện khát vọng tình yêu:

“– Vô đình lột nón xá đình

82

Hạc chầu thần đủ cặp mà sao hai đứa mình lẻ đôi”.

“– Đi ngang qua đình lột nón xá thần,

Thấy hạc chầu đủ cặp, sao mình lẻ đôi”

“– Ngó vô tấm kiếng thấy hình

Hạc chầu đủ cặp hai đứa mình lẻ đôi”

“– Hạc chầu thần, hạc đứng uy nghi

Sầu anh tôi đứng dựa ghế nghi khóc ròng”.

Bài ca dao sau đã khắc họa một không gian vừa linh thiêng vừa gần gũi

trong đời sống thường nhật. Đứng trước hương án, con người thành tâm khấn

nguyện, cất lời thề chung thủy, sắt son. Hạc luôn ngự trị trên hương án cũng

như tình yêu của đôi nam nữ sẽ vững bền theo thời gian:

“Chừng nào hạc đáo về đình

Hạc xa hương án hai đứa mình cùng xa”.

Đặc trưng của đình miếu Nam Bộ là thờ “Hội đồng thần”, Miếu Công

Thần thờ các vị thần có công với làng với nước, có thể hữu danh cũng có thể

vô danh. Những người không quản ngại gian lao, đổ biết bao công sức, mồ

hôi, nước mắt thậm chí là máu xương để mở mang bờ cõi, khai phá miền đất

hoang vu thành một vùng đất trù phú với những cánh đồng lúa phì nhiêu,

những ruộng vườn xanh mát.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhiều ngôi đình cổ ở mảnh đất

Nam Bộ vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Qua những biến thiên lịch sử, những

ngôi đình cổ này luôn được nhân dân tu bổ, nhang khói phụng thờ các vị tiền

nhân đã dày công vun đắp, bảo vệ mảnh đất quê hương. Tân Giai là ngôi đình

cổ ở Vĩnh Long được xây dựng từ thời Gia Long đến giờ vẫn còn giữ được

kiến trúc cổ ban đầu. Người dân đồng bằng sông Cửu Long thường truyền

nhau bài ca dao:

“Đình Tân Giai mấy trăm năm

Có từ triều đại Gia Long đến giờ

83

Ngày xưa dân biết kính thờ

Những người xây dựng cơ đồ bình yên”.

Thánh Văn miếu được xem là “Quốc Tử Giám” ở Nam Bộ. Khi thực

dân Pháp xâm lược, ngôi miếu là nơi các sĩ phu tổ chức các hoạt động văn

hóa nhằm khích lệ tinh thần yêu nước. Ngày nay, Thánh Văn miếu là biểu

tượng của tinh thần hiếu học, ý thức giữ gìn truyền thống đạo đức và thuần

phong mĩ tục của dân tộc:

“Hà Nội có đền Văn Thánh

Vĩnh Long có miếu Thánh Văn

Một thời văn hóa mở đường

Truyền thống còn đó chớ xem thường ai ơi!”

Ca dao Nam Bộ có 6 bài ghi nhận công lao của Thoại Ngọc Hầu đối

với nhân dân miền Nam. Thoại Ngọc Hầu có công khai kênh Đông Xuyên,

đào kênh Vĩnh Tế... Ông còn được vua cử giữ chức Bảo Hộ nước Cao Miên.

Nhân dân vùng đồng bằng sông Cửu Long xem ông như vị thần hộ mệnh nên

lập đình, lăng thờ ở nhiều nơi: làng Quới Thiện có đình ông Bảo Hộ, núi Sam

có lăng ông Thoại, Đồng Tháp có mộ ông Thiên Hộ. Những bài ca dao đã ca

ngợi “công lao dựng làng mở cõi”, vì dân vì đời mà “hy sinh tài sản” đào

kênh Vĩnh Tế nối biển Hà Tiên mở đường giúp dân làm ăn thuận lợi, thông

thương mua bán, phát triển kinh tế của vợ chồng ông Thoại Ngọc Hầu, những

tình cảm đó bắt nguồn từ lòng biết ơn các vị tiền nhân đã có công khai hoang

lập ấp:

“– Mạnh lệ quân anh thư tuấn kiệt

Gái nước Việt chẳng kém tài trai

Gương bà Châu Thị hiền tài

Giúp chồng nên việc tiếng đời ngàn năm”

“– Đồng An Trường chó ngáp

Làng Quới Thiện trồng lác bốn mùa

84

Nhớ ông Bảo Hộ ngày xưa

Dựng làng mở cõi nắng mưa dãi dầu.”

“– Đi ngang qua đỉnh núi Sam

Thấy lăng ông Thoại hai hàng lụy rơi

Ông người vì nước vì đời

Hy sinh tài sản đổi dời nước non.

Kinh Vĩnh Tế, biển Hà Tiên

Thuyền về xuôi ngược thông thiên hai miền”

Ngoài việc thờ phụng khói nhang, hằng năm còn tổ chức lễ giỗ rất long

trọng:

“– Ai về Đồng Tháp mà coi,

Mộ ông Thiên Hộ trăng soi lạnh lùng,

Bà con đùm đậu quanh vùng,

Tháng giêng ngày giỗ xin đừng ai quên.”

“– Tết về nhớ viếng Trà Ôn

Tháng giêng mồng bốn giỗ ông Ngọc Hầu”

Ngoài ra, ca dao Nam Bộ còn khắc ghi công đức của Điều Bát Nguyễn

Văn Tồn, Phan Thanh Giản, Trần Quang Diệu, Trương Định,... Đây là các vị

anh hùng vừa có công giúp dân khẩn hoang, vừa giúp dân chống kẻ thù xâm

lược. Nhân dân tôn kính gọi là các bậc tiền hiền, hậu hiền và thờ cúng trong

các đình miếu:

“Lịch thay địa phận Trà Ôn

Miếu ông Điều Bát lưu tồn ngày nay

Giồng Thanh Bạch tự ngày xưa

Có lăng Ông Lớn dựng bia lưu truyền”

“– Cá đâu nhiều bằng cá U Minh

Thần nào linh bằng thần Trần Quang Diệu.”

“– Vĩnh Long có cặp rồng vàng,

85

Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Công Thần.”

“– Gò Công anh dũng tuyệt vời

Ông Trương, Đám Lá Tối Trời đánh Tây”

Ở Nam Bộ, các đình làng tổ chức lễ Kì yên theo ngày âm lịch, mỗi

đình lựa chọn ngày cúng đình riêng thường vào dịp cuối xuân đầu hạ. Việc

cúng tế có nhiều nghi thức như: lễ cúng tại đàn ngoại, lễ phát tấu ở đàn nội để

dâng sớ với trời, phật cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, làng xóm

yên vui, trừ diệt ôn dịch đem lại sự yên lành cho dân làng. Đồng thời bày tỏ

tấm lòng tri ân các vị có công với nước theo đạo lí “uống nước nhớ nguồn”.

Những dịp cúng đình, ngày giỗ của các vị, thường được tổ chức lớn, người

dân xa xứ thường đến cầu mong các vị thần cho họ cuộc sống bình an, no đủ.

“– Dù ai xa xứ sinh nhai

Nhớ ngày 17 tháng 2 thì về

Dù ai công việc bộn bề

Tháng 2.17 nhớ ngày kỳ yên.”

“– Đi qua Thiện Mỹ mới nghĩ chuyện cúng đình

Ghé viếng cụ Điều Bát, vái cha mẹ mình sống lâu.”

Theo Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, Thạch Phương và cộng

sự (2014) cho rằng: “Lễ được tiến hành trong làn khói hương trầm, trong

tiếng nhạc lễ cổ truyền, các vị bô lão đầu vấn khăn đen, mặc áo dài đứng

trang nghiêm hai bên bàn thờ thần, mắt hướng về hộp đựng sắc như đang hồi

tưởng lại công lao, sự nghiệp của những người có công khai mở đất đai, xây

dựng cuộc sống từ buổi đầu”. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy ca dao Nam

Bộ chỉ giữ lại “nén nhang” cùng tấm lòng thành dâng lên các vị thần đã có

công mang lại cuộc sống yên bình cho nhân dân:

“Miếu Công Thần thắp nén nhang

Nhớ ơn ai đã khai hoang đất này

Nhớ người mở cõi miền Tây

86

Hy sinh xương máu, có ngày vinh quang”

Trong các lễ vật cúng đình, heo là vật cúng tế được phản ánh nhiều

nhất trong ca dao. Bài ca dao phản ánh niềm tin của người dân vào các vị thần

linh được thờ trong đình. Ngay cả khi đau ốm, họ cũng vô đình cầu khẩn các

vị thần để được mạnh khỏe. Khi tâm nguyện đạt thành, người dân “cúng heo”

để tạ ơn:

“Anh đau em vái tận tình,

Vái cho anh mạnh, mở cửa đình cúng heo.”

Trong tín ngưỡng dân gian, thần linh tham gia vào mọi hoạt động của

con người. Không gian thiêng của miếu đình, ngoài những ngày hội hè, đình

đám, là nơi con người có thể cầu nguyện những việc riêng tư nhất, như lời

tâm sự với các bậc trưởng lão trong gia đình: “Hồi hôm tôi có lại đình,/ Ông

thần ổng biểu hai đứa mình kết đôi”; đôi khi câu trả lời bông lơn, vui nhộn

khiến người khác phải bậc cười: “Đốt nhang lên miếu cầu chồng/ Nghe ông

thần nói: đàn ông hết rồi!”; thăm dò ý tứ người yêu: “Tới đây dầu đói giả no/

Dầu khôn giả dại đặng dò ý em/ Tới đây trước miếu ông thần linh/ Cột đứng

tre đòn tay sắt/ Đôi ta xung khắc”; chứng kiến lời thề đồng cam cộng khổ của

đôi lứa yêu nhau: “Cầu bà nguyệt năm bảy cuốn kinh/ Cho đôi ta gá nghĩa

chung tình/ Dầu ăn cơm quán ngủ đình cũng ưng”; “Ngọc sa xuống giếng

thủy tinh/ Anh với em kết nghĩa chung tình/ Dẫu ăn cơm quán ngủ đình em

cũng ưng”.

Tin vào thần linh, nhưng người dân không mù quáng. Họ sẵn sàng phê

phán những kẻ dựa vào thần linh để làm việc trái với luân thường đạo lí:

– Cái nợ nhảy lên bàn tổ nhảy xuống bàn binh

Bên kia cái miễu bên đây cái đình

Đình đình miễu miễu chẳng linh

Làm cho con vợ bỏ mình theo trai.

– Con gà trống cồ nhảy lên bàn tổ

87

Con gà mái ổ nhảy lên bàn binh

Bên kia cái miễu, bên đây cái đình

Đình đình, miễu miễu, sao chẳng có linh?

Làm cho cô Hai nọ thất tình

Cổ về xứ cổ bỏ bạn mình bơ vơ.

Trong quá trình mở cõi, dân đi đến đâu đều lập miếu đình đến đó. Ca

dao Nam Bộ đã phác họa không gian linh thiêng của đình miếu, cùng tấm

lòng ngưỡng vọng, biết ơn các vị tiền hiền, hậu hiền đã có công khai phá để

làng xóm phát triển đến ngày hôm nay.

3.1.3. Phong tục thờ Mẫu và Quan Công

Hệ thống đình miếu Nam Bộ còn thờ Bà Chúa Xứ là dấu tích của tín

ngưỡng thờ Mẫu được người dân mang đến vùng đất mới. Trong tâm thức

con người, Mẹ thật vĩ đại, luôn yêu thương, che chở, bảo vệ cho con mình

tránh những bất trắc, rủi ro trong cuộc sống. Đồng thời, Mẹ còn dạy những

điều hay lẽ phải, biết làm điều thiện, biết đối nhân xử thế... Cho nên, thờ Mẫu

là tìm một chỗ dựa tâm linh vững chắc, cầu mong cuộc sống no ấm, đủ đầy,

bình yên, hạnh phúc.

Tín ngưỡng thờ Mẫu là loại hình tín ngưỡng dân gian bản địa, là một

dạng tín ngưỡng đa thần, chứa đựng nhiều triết lí nhân sinh sâu sắc về mối

quan hệ giữa con người với tự nhiên và giữa con người với con người trong

đời sống xã hội. Xuôi theo bước chân người Việt về phương Nam, tín ngưỡng

thờ Mẫu có sự dung hợp với tín ngưỡng của các dân tộc Chăm, Khmer, Hoa...

đan xen, hòa đồng với các yếu tố của Đạo giáo và Phật giáo tạo nên diện mạo

mới của tín ngưỡng này ở vùng đất mới.

Tiếp thu tín ngưỡng thờ Thiên Hậu của người Hoa, thờ Thiên Y A Na

của người Chăm, thờ Mẹ Lúa, thờ bà chúa Sơn Lâm, Mẹ Sanh, Mẹ Độ ...

cùng với tinh thần hướng về truyền thống cội nguồn, người dân nơi đây tin

vào sự linh thiêng của miếu bà Chúa Xứ, bà Đen.

88

Tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ rất phổ biến ở Nam Bộ. Miếu Bà Chúa Xứ

được xây dựng khắp nơi, nhưng lớn nhất là miếu Bà Chúa Xứ ở núi Sam,

Châu Đốc, An Giang.

Ai về Châu Đốc núi Sam

Viếng bà chúa Xứ, thăm ông Ngọc Hầu

Nếu truyền thuyết thiên về cắt nghĩa, lí giải sự hình thành tín ngưỡng

thờ Bà Chúa Xứ với những yếu tố kì ảo nhằm tăng tính linh thiêng huyền bí,

thì ca dao chủ yếu phản ánh tấm lòng thành kính của người dân hướng đến

Bà. Đặc biệt là nghi thức tế lễ trong ngày cúng miếu Bà:

Gió mát, gió mát cùng lợi trăng thanh

Trăng thanh (mà) gió mát là đến đây con thỉnh bà.

Di Đà Di Lặc con thỉnh vào

Phật thầy tình trong mà Phật tổ con thỉnh vào miếu chung.

Giọng con mời thái thượng thời lão bằng Quân.

Thời ngài độc ác thời ngài bình an

Cái trời nằm giữa trời

Giữa trời có cặp đèn thần

Cung nương mà mỹ nữ là hai bên chầu bà

Bà về cuồn cuộn sao giăng

Lụa vàng lụa đỏ mà giăng ngang giữa trời

Chủ gia bổn hộ mới sắm lễ vật

Trên chay dưới mặn là dâng lên cho bà

Bà về chứng lễ hôm nay

Ngày lành tháng tốt con đây chầu mời

Bà về phò hộ trông gia, vợ chồng hòa thuận,

Cháu con đặng lành

Lệnh bà ơi! Bà đi cung bảy cung ba

Bà về cung chín mà bước qua cung mười

89

Bà còn ở chốn non cao

Nay con vọng thỉnh bà mau mau về

Bước về chứng lễ mâm vàng

Mâm vàng tam cấp quá cao.

Bài ca dao đã khắc họa không gian sinh hoạt của buổi lễ cúng miếu Bà

Chúa Xứ: Lễ tắm Bà, Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về Miếu Bà, Lễ Túc Yết,

Lễ xây chầu, Lễ Chánh tế. Lễ tắm Bà bắt đầu lúc nửa đêm “gió mát, trăng

thanh”, những người được chọn sẽ thay trang phục mới cho Bà. Trong khoảng

không thanh tịnh, ngọn đèn được thắp lên, người chủ tế dâng hương, kính cẩn,

tôn nghiêm “thỉnh Bà” cùng Phật và Lão quân về miếu. Những mảnh vải “lụa

vàng, lụa đỏ” trang trí càng rực rỡ, tăng thêm vẻ huyền bí, linh thiêng. Lễ Túc

Yết dâng lễ vật cúng tế gồm cả chay và mặn gồm có: một con heo trắng (đã

được cạo lông mổ bụng sạch sẽ, chưa nấu chín), một đĩa đựng huyết có ít lông

heo gọi chung là “mao huyết”, một mâm xôi, một mâm trái cây, một mâm

trầu cau, một đĩa gạo muối. Lễ Chánh tế có hát bóng rỗi và xây chầu thật long

trọng. Lời hát, điệu múa chuyển tải biết bao khát vọng của con người. Đó là

niềm thành kính với thần linh ban phước lành cho con người, niềm mơ ước về

cuộc sống bình an, gia đạo thuận hòa, mùa màng tươi tốt, làm ăn phát đạt,

giàu có:

“Lạy bà chứng kiến dùm con

Cho con cúng bát huê cho bà

Từ ngày con xuống trần gian

Luôn lo cúng tế mà cầu an cho lệnh bà

Lễ này an tạ cho bà

Lạy bà phù hộ gia đình, gia đạo làm an thuận hòa

Có lúa có tiền, làm ăn dư để

Con cháu giàu sang đặng làm quan

Nhà cửa cất ngói xê xang

90

Sống lâu trăm tuổi làm ăn thuận hòa.”

Nếu thủ phủ của tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc, thì tín

ngưỡng thờ Bà Đen rất thịnh hành ở vùng đất Tây Ninh. Trong Gia Định

thành thông chí, Trịnh Hoài Đức (1972) mô tả ngọn núi này như sau: “Giữa

đất đồng bằng nổi lên ngọn núi Bà Đinh (Bà Đen), ngày đẹp trời, từ Sài Gòn

có thể thấy ngọn núi này mờ mờ hiện ra trong mây mù, tương truyền đây là

ngọn núi thiêng, có chuông vàng ẩn hiện trong hồ, đêm trăng, có thuyền rồng

bơi lượn múa hát du dương…”

Theo một số nghiên cứu, tín ngưỡng thờ Bà Đen có sự dung hợp với tín

ngưỡng thờ Nữ thần của người Chăm và Khmer. Trong khi truyền thuyết tìm

cách lí giải về nguồn gốc tín ngưỡng thờ Bà Đen thì ca dao Nam Bộ bộc lộ

niềm tự hào về vẻ đẹp của quê hương cùng tấm lòng thành kính hướng về

Điện Bà uy linh tọa lạc trên nóc nhà của vùng Đông Nam Bộ:

– Biên Hòa có bưởi Thanh Trà

Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh

– Tây Ninh có núi Điện Bà

Có sông Vàm Cỏ, có tòa Cao Sơn.

– Tây Ninh danh thắng Núi Bà

Uy linh trời tạc một tòa nên thơ

– Em giã bàng đươn đệm cho siêng

Để anh lên núi cầu duyên chúng mình

Cùng được thờ trong đình miếu là Quan Công, thường gọi là chùa Ông.

Quan Công là nhân vật có thật trong lịch sử Trung Hoa. Quan Công cùng Lưu

Bị và Trương Phi “kết nghĩa vườn đào”, thề sống chết có nhau. Với tấm lòng

trung thành, nghĩa dũng, chính trực, liêm khiết, trọng chữ tín, Quan Công trở

thành biểu tượng của đấng “trung quân” mẫu mực thời phong kiến, được thần

thánh hóa và chiếm giữ vị trí quan trọng trong hệ thống thần linh Trung Hoa.

Khi du nhập vào Việt Nam, tín ngưỡng thờ Quan Công kết hợp với tam giáo,

91

Quan Công trở thành vị thần cố hữu trong tôn giáo. Nhiều nhà nghiên cứu cho

rằng: Quan Công thờ ở chùa là Hộ pháp già lam hộ trì tam bảo, thờ ở Đạo

quán là Hiệp Thiên đại đế chuyên trừ ma diệt ác, thờ ở đình miếu là vị thần

bảo hộ cộng đồng, thờ ở gia đình là thần bảo mạng của đàn ông.

Theo bước chân lưu dân Trung Hoa do Trần Thượng Xuyên, Dương

Ngạn Địch và Mạc Cửu dẫn đầu, tín ngưỡng thờ Quan Công được người Hoa

duy trì vừa thỏa mãn nhu cầu tâm linh vừa thể hiện hoài niệm cố hương và ý

thức bảo tồn truyền thống tổ tiên. Trong quá trình sinh sống, người dân Nam

Bộ đã tiếp thu và cải biến tôn giáo ngoại lai cho phù hợp với bản sắc văn hóa

Việt Nam. Nét đẹp tín ngưỡng được khắc họa trong ca dao nghi lễ Sóc Trăng:

Đèn chong hương đốt

Con thỉnh ông

Nghe ba tiếng trống lệnh

Là đâu đâu ông cũng bước về

Kể từ ngày hội bàn đào

Đào viên (mà) thời kết nghĩa ông nào chớ quên

Ông ơi! Tài lý hùng anh, tà ma khiếp sợ

Nước nào cũng nghe danh

Kể từ ngày ông thất thủ ở Hạ Bì

Ngày phò nhị tẩu là ngày mới sang qua Tàu

Đến Dương Châu con đi đầu khẩn nguyện

Con vái hồn ngài chứng kiến hôm nay

Lễ này an tạ cùng ngài

Ngài về phò hộ trong gia đình, trong gia đạo làm ăn cho thuận hòa

Có lúa có tiền làm ăn dư để

Nhà cửa cất ngói xê xang

Sống lâu trăm tuổi làm ăn đủ đầy.

92

Bài ca dao tái hiện nghi lễ thờ cúng Quan Công. Mở đầu là không gian

huyền ảo, nghi ngút khói nhang cùng lời khẩn nguyện mong Ngài chứng giám

tấm lòng của người cúng bái. Tâm niệm gửi cùng lời khấn về cuộc đời cùng

bao hoạn nạn ông đã trải qua, đặc biệt là những phẩm chất tốt đẹp của vị thần

đáng kính. Cuối cùng là ước vọng về cuộc sống bình an, gia đạo thuận hòa,

làm ăn thuận lợi,...

Đời sống tín ngưỡng tôn giáo của người dân Nam Bộ có sự đan xen

của nhiều luồng văn hóa. Người Việt tiếp thu và biến đổi để vừa thích nghi

được với cuộc sống vừa giữ gìn bản sắc của chính mình. Trong ca dao, phong

tục thờ cúng đa thần thể hiện niềm tin của con người vào các thiên thần và

nhân thần có khả năng phù trợ con người. Ngoài ra, con người cũng tin vào

chính mình. Chính điều này đã tạo nên sức mạnh tinh thần giúp những người

con xa xứ vượt qua những trở lực ở vùng đất mới để xây dựng một cuộc sống

ấm no, hạnh phúc.

3.2. Phong tục thờ cúng người thân trong gia đình

Gia đình có vai trò quan trọng trong đời sống của người Việt Nam. Gia

đình là cái nôi nuôi dưỡng, giáo dục con người. Ở đó, các thành viên luôn có

mối quan hệ gần gũi, gắn bó với nhau tạo nên tình cảm thiêng liêng, sâu nặng.

Nơi đó, chứa đựng nhiều kí ức đẹp, là chỗ dựa tinh thần vững chắc để con

người vượt qua những thăng trầm của cuộc sống.

Là thể loại trữ tình, ca dao đã phản ánh đầy đủ và sâu sắc các mối quan

hệ gia đình. Đó là tình cảm vợ chồng chung thủy, sắt son, đồng cam cộng

khổ, sống chết có nhau. Đó cũng là tình yêu thương vô bờ bến của ông bà, cha

mẹ đối với con cái và sự hiếu thảo tôn thờ của con cháu không chỉ lúc sống

mà cả sau khi ông bà cha mẹ đã qui tiên. Có thể nói, những mối quan hệ ấy

đan xen, hòa quyện thành sợi dây tình nghĩa thiêng liêng cao quí, bền vững

theo thời gian, dù con người còn sống hay đã chết.

93

Người Á Đông quan niệm: “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”.

Người Việt cũng tin rằng, con người dù chết đi nhưng linh hồn vẫn tồn tại,

theo dõi hoạt động, che chở, phù hộ cho người thân còn sống. Thờ thể hiện

tình cảm biết ơn, hướng về cội nguồn với niềm thành kính thiêng liêng. Cúng

là nghi lễ thực hành các động tác được qui định bởi phong tục, tập quán. Giỗ

là lễ cúng để tưởng nhớ, tri ân người quá cố hằng năm vào ngày chết. Thờ

cúng người thân sau khi qua đời tạo nên nét đẹp độc đáo trong phong tục

người Việt.

Thờ cúng người thân trong gia đình gắn với tập tục văn hóa, đạo đức

của dân tộc. Phong tục này thể hiện niềm tin bất tử vào linh hồn. Khảo sát 147

bài ca dao Nam Bộ, chúng tôi nhận thấy có phong tục thờ cúng người thân

trong gia đình thể hiện qua việc thờ cúng tổ tiên, cha mẹ và thờ cúng những

người thân khác.

3.2.1. Thờ cúng tổ tiên, cha mẹ

Trong Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm (1996) đã

cho rằng con người là một thể thống nhất giữa linh hồn và thể xác. Và linh

hồn trở thành đầu mối của tín ngưỡng. Người xưa cũng tin: Chết tức là cơ thể

chuyển từ trạng thái động trở thành tĩnh, linh hồn đi từ cõi Dương sang cõi

Âm. Chết là về với tổ tiên nơi chín suối và người đã khuất vẫn thường xuyên

đi về thăm nom, phù hộ cho người thân. Đây là cơ sở hình thành tín ngưỡng

thờ cúng người thân trong gia đình.

Trong Đặc khảo về tín ngưỡng thờ gia thần, Huỳnh Ngọc Trảng (2013)

đã khẳng định: “Phụng thờ tổ tiên là nghĩa vụ của đạo Hiếu được chế định

trong cổ luật hẳn hòi nên không gian thờ tự năm đời (Ngũ đại mai thần chủ)

ở mỗi gia đình là một thiết chế cụ thể”.

Nhận xét về phong tục tín ngưỡng này, Vũ Minh Chi (2004) cho rằng

trong xã hội có tập tục cúng bái tổ tiên, linh hồn của tổ tiên vẫn tham gia vào

mạng lưới hoạt động xã hội của những người còn đang sống, tác động đến

94

việc duy trì quan hệ gắn kết xã hội của những người còn đang sống như lúc

sinh tiền, song ảnh hưởng của các linh hồn tổ tiên chỉ tác động đến con cháu

họ mà thôi. Như vậy, con người vẫn duy trì mối quan hệ họ hàng với người đã

chết. Sự giao tiếp này được thể hiện qua các nghi lễ thờ cúng.

Con cháu được hưởng thành quả ngày hôm nay là do tổ tiên đã không

quản ngại gian lao tạo dựng. Ông bà, cha mẹ đã dày công làm ra của cải vật

chất và tinh thần, truyền dạy những kinh nghiệm quí báu, tu nhân tích đức...

để thế hệ sau có cuộc sống ấm no. Cho nên, bổn phận làm con phải biết

thương yêu, hiếu thuận với ông bà, cha mẹ không chỉ lúc còn sống mà cả khi

đã chết. Hay nói cách khác, thờ cúng tổ tiên là biểu hiện của chữ “Hiếu”,

đồng thời đây là một truyền thống tốt đẹp khắc họa đạo lí uống nước nhớ

nguồn:

“– Khôn ngoan nhờ đức cha ông

Làm nên phải nhớ tổ tông phụng thờ

Đạo làm con chớ hững hờ

Phải đem chữ hiếu phụng thờ cho nghiêm.

“– Làm con chữ hiếu lo tròn

Đáp ơn cha mẹ để còn tiếng thơm.”

Xuôi dần về miền đất phương Nam, dấu ấn của Nho giáo nhạt dần. Nếu

trong quan niệm Nho giáo quan hệ vua tôi được đặt lên hàng đầu, thì trong ca

dao Nam Bộ, quan hệ gia đình được xem là cốt lõi. Trong ca dao Nam Bộ,

hành động “lập miếu thờ vua, lập trang chờ mẹ, lập chùa thờ cha” được nhắc

lại nhiều lần cho thấy vị trí quan trọng của cha mẹ. Phải chăng, nơi thờ tự thể

hiện tấm lòng của con cái? Hình ảnh “miếu, trang, chùa, lăng” là không gian

thiêng gắn liền với tín ngưỡng tôn giáo đã trở thành nơi thờ tự cha mẹ. Điều

này góp phần tạo nên vẻ đẹp của văn hóa Việt, thờ cúng cha mẹ nói riêng và

thờ cúng tổ tiên nói chung đã trở thành đạo lí dân tộc, thể hiện niềm thành

kính của con cháu dành cho các vị “truyền nhân thủy tổ” của mình:

95

“– Ngó lên trời thấy cặp cu đang đá

Ngó về biển thấy cặp cá đang đua.

Anh bảo em về lập miếu thờ vua

Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.”

“– Biết lấy chi đền nghĩa khó khăn,

Hai đứa mình lên non lấy đá xây lăng phụng thờ.”

“ Quyết lòng lập miếu chạm rồng,

Đền ơn phụ mẫu ẵm bồng ngày xưa.”

Ở vùng đất mới, hành trang mang theo của những con người dũng cảm

dám gửi lại mồ mả tổ tiên để tìm nơi lập nghiệp là truyền thống văn hóa lâu

đời. Dù dứt áo để ra đi nhưng họ vẫn hướng tấm lòng thành kính thiêng liêng

về tổ tiên dòng tộc. Ca dao Nam Bộ khắc họa nỗi niềm thương nhớ của người

con xa xứ. Khi hướng về cội nguồn, lúc nào cũng đau đáu một tâm tình quê

cha đất tổ, nơi ấy có cha mẹ già ngày đêm trong ngóng, có tổ tiên đang dõi

theo ngàn dặm hành trình. Cho nên, người con lúc nào cũng khắc khoải “ai

nuôi cha mẹ, ai thờ tổ tiên”:

– Anh đi ghe cá cao cờ

Ai nuôi cha mẹ, ai thờ tổ tiên ?

Ở miền Bắc, khi người con gái lấy chồng, theo chồng thì chỉ tưởng nhớ

cha mẹ, ông bà trong tâm khảm, hoàn toàn không có quyền thờ tự. Tuy nhiên,

ở vùng đất phương Nam, người dân chân chất, thật thà, chuộng nghĩa khí,

không quá quan trọng gia phong lễ giáo. Việc thờ cúng tôn trọng tình cảm,

không phân biệt đối xử. Bàn thờ Cửu huyền thất tổ thờ cả tổ tiên của hai bên

nội ngoại của vợ và chồng. Chính sự dung hòa này đã tạo nên mối keo kết

dính tình nghĩa, gia đình luôn êm ấm, an vui. Con cái được hưởng phúc:

“– Phụ mẫu anh như phụ mẫu nàng

Mai sau có thác, chạm chữ vàng thờ chung”

“– Phụ mẫu bên anh như phụ mẫu bên nàng

96

Bôi tranh vẽ tượng phết vàng anh thờ chung”

Trong mỗi gia đình, bàn thờ là không gian thiêng nhất, là nơi cư ngụ

của các vị tiền nhân thủy tổ, những người đã khuất. Bàn thờ được bố trí ở gian

chính trong nhà. Bàn thờ là nơi hội tụ hồn thiêng của gia tộc. Nơi đó, họ có

thể quan sát, dõi theo hành động của các thành viên trong gia tộc mình để

giúp đỡ, phù hộ cho con cháu, đồng thời trừng phạt những kẻ có hành vi trái

với luân thường đạo lí. Hình ảnh bàn thờ được khắc họa trong ca dao mang ý

nghĩa thiêng liêng, cao quí, là một “cội nguồn” sâu thẳm nhất, nơi đó, con

cháu làm gì cũng phải suy tính thiệt hơn, giữ gìn phẩm hạnh để làm rạng rỡ

tông môn họ hàng:

“Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn

Nước có nguồn mới bể cả sông sâu

Người ta nguồn gốc ở đâu

Gốc từ trên tổ rồi từ sau mới có mình

Nguồn gốc ấy đinh ninh luôn nhớ

Phải lo làm rạng rỡ tông môn.”

Họ cũng cảm thấy có lỗi khi cuộc sống nghèo khó, mảng lo làm ăn mà

quên chăm sóc bàn thờ tổ tiên:

“Ngó lên tổ nễ chau mày,

Mảng lo sự khó, quên ngày muối dưa.”

Bàn về nghi thức thờ cúng, người Việt thường thắp nhang trên bàn thờ

tổ tiên hàng ngày. Nén nhang đã đi vào đời sống tâm linh của người Việt như

một nét đẹp gần gũi mà thiêng liêng cao quí. Thông thường, mùi hương của

nhang sẽ tạo không khí thanh tịnh, xua tan lạnh lẽo. Không những thế, nén

nhang kết nối thế giới âm dương. Tâm thành của con cháu theo khói để đến

với tổ tiên, hương hồn tổ tiên dựa theo hương thơm để trở về quây quần cùng

con cháu. Sự kết nối keo sơn ấy khiến mối quan hệ gia đình ngày càng bền

chặt hơn. Đặc biệt, khi còn tang chế, con cháu luôn thắp nhang trên bàn thờ

97

người đã khuất. Có lẽ, hương của nhang đặc biệt là trầm hương có thể thanh

tẩy không khí trong nhà. Hơn thế nữa, trong làn khói nhang mờ ảo, trong tâm

tình của con cháu anh linh của người đã khuất vẫn còn hiển hiện:

“Thắp nhang cho sáng bàn thờ

Kẻo cha mẹ quở không nhờ rể con.”

Hay nỗi lòng của đứa con khi không tròn hiếu đạo. Nhìn bàn thờ khói

nhang nguội lạnh, hương hồn của mẹ cũng không còn hiện hữu xung quanh,

con cái không khỏi chạnh lòng, cảm thấy cô đơn, lạnh lẽo. Cái lạnh này

không chỉ của không gian tự nhiên mà còn là cái lạnh của cõi lòng, sự ân hận,

giày vò trong tâm khảm. Theo lệ xưa, sau ba năm tang chế người xưa chỉ đốt

nhang một lần trong ngày, nhìn thấy bàn thờ lạnh tanh cũng có nghĩa là mẹ đã

rời xa lâu rồi, nỗi nhớ niềm thương càng sâu sắc hơn:

“Ngó lên nhang tắt đèn mờ

Mẫu thân đâu vắng, bàn thờ lạnh tanh”

Có lẽ vì vậy, người Việt ở Nam Bộ thường thắp nhang vào mỗi tối để

bày tỏ tấm lòng hướng về ông bà, những người đã không quản công lao để

nuôi dạy con cháu nên người.

Người Việt quan trọng ngày mất hơn ngày sinh. Vì ngày mất là ngày

trở về đoàn tụ cùng tổ tiên. Tuy thể xác không còn tồn tại nhưng linh hồn vẫn

hằng dõi theo, phù hộ cho người thân. Người còn sống tổ chức lễ giỗ nhằm

tưởng nhớ công ơn và họ hàng con cháu gặp gỡ nhau. Hay nói cách khác, lễ

giỗ là sợi dây kết nối tình cảm thiêng liêng của con người.

Người xưa tổ chức ba lễ giỗ đầu đánh dấu mốc quan trọng của con

người sau khi chết. Những lần đó, con cháu mặc áo tang, quây quần đầy đủ,

bày tỏ lòng thương tiếc. Sau ba năm, đám giỗ được tổ chức vào ngày mất.

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chỉ thấy ca dao phản ánh lễ giỗ sau khi

mãn tang. Lễ giỗ là tấm lòng của người còn sống đối với người đã khuất. Dù

giàu hay nghèo, con cái cũng cố gắng làm lễ giỗ tươm tất “thờ phụ mẫu mâm

98

cao cỗ đầy”. Nhà giàu thì tổ chức lễ giỗ linh đình trong vài ba ngày, thậm chí

làm trâu để cúng bái:

“Cồng cộc bắt cá ở bàu

Cha mẹ mày giàu, đám giỗ làm trâu”

Những người đến tham dự lễ giỗ thường được gia chủ biếu một ít bánh

trái về làm quà cho trẻ nhỏ ở nhà. Chỉ vài cái bánh nhưng chan chứa tình cảm

họ hàng, lối xóm:

“Anh đi ăn cỗ nhà giàu

Lột lưng bánh ít đem dìa cho em.”

Dù là vùng đất mới, có sự thay đổi về phong tục lễ nghi, nhưng lễ giỗ

vẫn thường do con trai hoặc con thừa tự đảm nhiệm. Việc cháu ngoại không

thờ giỗ ông là việc đương nhiên trong xã hội phụ hệ, đây là phong tục được

người Việt mang từ cội nguồn theo hành trình khai hoang, lập ấp:

“– Cồng cộc bắt cá dưới sông

Mấy đời cháu ngoại giỗ ông bao giờ.

– Cá sặc muốn bắt dùng lờ

Mấy đời cháu ngoại mà thờ giỗ ông”

Nhưng đôi lúc, gia cảnh nhà ngoại không có con trai, thì con gái, cháu

ngoại đảm nhận cúng giỗ hằng năm. Thậm chí, cháu ngoại còn mổ heo để

cúng tế và thiết đãi họ hàng:

“Cồng cộc bắt cá dưới hào

Ông ngoại tôi giàu, tôi giỗ thịt heo.”

Không chỉ thờ tự ở nhà, cúng giỗ hằng năm, người Việt còn tảo mộ vào

dịp tết, tiết thanh minh. Bài ca dao sau đã khắc họa đậm nét truyền thống văn

hóa tốt đẹp này. Việc rủ nhau “viếng mả cha”, “tảo lăng mồ mẹ”, chứng

minh cho tấm lòng hiếu thảo của con cái:

“Ào ào gió giục mây Tần,

Một xe trong cõi hồng trần bước ra.

99

Rủ nhau lên viếng mả cha,

Tảo lăng mồ mẹ lụy đà tuôn rơi.

Công cha trượng lắm cha ôi,

Ngãi mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.”

Phong tục này bắt nguồn từ đạo lí “Chim có tổ, người có tông”, “Uống

nước nhớ nguồn”, trọng tình trọng nghĩa, có trước có sau của nhân dân ta. Đi

vào ca dao, việc cúng giỗ của người Nam Bộ chuộng sự giản dị, cốt yếu ở tấm

lòng chân thành tưởng nhớ.

3.2.2. Thờ cúng người thân khác

Trong quan hệ gia đình, người phụ nữ vẫn bị chi phối bởi tư tưởng

“xuất giá tòng phu”, vẫn lấy đạo cang thường làm qui tắc ứng xử vợ chồng.

Vợ chồng chung thủy, tài bồi, dùng tình yêu để cảm hóa, chinh phục bản năng

xây dựng gia đình hạnh phúc Đứng làm người trong đạo tào khương/ Thủy

chung như nhứt, giữ đường ngãi nhân. Đặc biệt, người phụ nữ phải giữ “đạo

tam tòng” Thương cha nhớ mẹ điệu tam tòng em phải theo. Có lẽ, mong

muốn lớn nhất của người phụ nữ là chăm lo phụng sự gia đình chồng, lâu dần

trở thành kẻ phụ thuộc, mong mỏi chồng che chở, bảo bọc. Điều đó không chỉ

tồn tại lúc sống mà ngay khi chết cũng vậy.

Khi đề cập đến việc thờ cúng “người chồng quá cố”, ca dao Nam Bộ

thường mở đầu bằng “ước nguyện” xem chừng vô lí của người chồng, có thể

“sống lại” hoặc “giả chết” để thử lòng người vợ của mình. Cũng qua những

bài ca dao này, phong tục bài trí bàn thờ trong gia đình hiện lên rõ nét:

– Anh chết ba năm sống lại một giờ

Để xem bạn cũ nó phụng thờ làm sao?

– Em thờ mình em đóng ghế cho cao

Bình khuôn nghi cẩn nóc bộ chân đèn thau em thờ mình.

Theo tục lệ xưa, bàn thờ gồm có bốn chân cao, rất đơn giản, trên là mặt

phẳng dùng bày trí đồ cúng. Sau này, bàn thờ được thay thế bằng tủ thờ.

100

Trong Nói về miền Nam, Cá tính miền Nam và Thuần phong mỹ tục Việt Nam,

Sơn Nam (2017) cho rằng: Chiếc tủ thờ được thiết kế theo mẫu tủ của Pháp

thời Lu–i XVI, mặt trước kín, cửa mở hai bên hông, được các thợ mộc Việt

Nam sáng tạo thêm, cẩn xà cừ ở phía trước tủ thờ theo kiểu thức Á Đông,

trang trí các điển tích Trung Hoa, hoa mẫu đơn, chữ Thọ... Đặc biệt những gia

đình quan quyền, gia đình giàu có, chiếc tủ thờ là một trong những yếu tố

quan trọng đem lại thể diện cho gia chủ.

Hình ảnh bàn thờ được bài trí một cách trang trọng, tôn nghiêm. Bàn

thờ được đóng cao, trên bàn có mặt bằng để bày biện đồ để cúng tế. Để tạo

không gian thanh tịnh, thiêng liêng cho nơi thờ tự, có nhà làm bức bình phong

cẩn ốc xà cừ che chắn trước bàn thờ với niềm tin “người quá cố” không bị

quấy rầy, đó là niềm thành kính thiêng liêng.

Tùy theo gia cảnh, đồ bài trí có thể khác nhau, nhưng không thể thiếu:

cặp chân đèn, tranh thờ, lư hương.

“Anh đau một canh, chết một giờ,

Để coi người nghĩa phụng thờ làm sao?

Tôi thờ mình bộ lư đồng cao,

Sáp treo cùng cặp chân đèn thau bóng vàng”

Theo Sơn Nam (2017), lư hương hay còn gọi là “lư đốt trầm hương,

phần lớn đúc bằng đồng, rỗng, để chứa tro than, mồi lửa cho trầm hương.

Trên nóc, có cái nắp đậy lại, khoét lỗ nhỏ chung quanh để khói trầm xông lên,

lan tỏa ra đều đặn bốn phía, nắp thường nhô lên, với trái đào hoặc con kỳ

lân”. Bộ lư đồng, chân đèn được lau chùi sáng bóng càng làm tăng thêm tôn

kính đối với “người quá cố”. Hình ảnh “chân đèn”, “sáp” thắp sáng bàn thờ,

soi tỏ lòng thành của người còn sống đối với “người đã khuất”. Ánh sáng sưởi

ấm cho linh hồn, thoát khỏi sự u tối lạnh lẽo, ánh sáng dẫn dắt người còn sống

thoát khỏi u mê, lạc lối. Bàn thờ vì vậy cũng trang nghiêm, cổ kính hơn.

101

Những gia đình Nam Bộ xưa thường treo thêm tranh thờ, có thể là tranh

sơn thủy, sau này tranh vẽ sau tấm kiếng. Theo Sơn Nam (2017), tranh kiếng

là sáng kiến của các người thợ Lái Thiêu vẽ tranh sau mặt kiếng với màu sắc

vui tươi. Đó là bức họa với con rạch hiền lành, bên cạnh cây to, nhà ngói, xa

xa là vùng biển, vài hải đảo, đàn chim bay. Hai bên bức tranh vẽ hai câu liễn

đối, phía trên là chữ Đức Lưu Phương, vẽ thêm bông mẫu đơn hoặc trái đào

(tiêu biểu cho chữ thọ). Trong ca dao Nam Bộ, hình ảnh này được thể hiện

trang trọng:

“Bước vô nhà ngói nhỏ,

Thấy đôi liễn đỏ,

Chữ thọ phết vàng”

Tình cảm gia đình của người Việt không chỉ được xây dựng trên cơ sở

của tình yêu mà còn được bồi đắp trong hoàn cảnh lao động. Những gian khổ,

vất vả, cực nhọc, đói nghèo là lò đúc tình cảm gia đình thêm bền chặt, họ

đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi cùng đấu tranh với những khó khăn để

tìm ra lẽ sống hợp với quan niệm chung của hai vợ chồng. Từ đó, tình cảm gia

đình được bảo vệ chặt chẽ, ngoài tình còn có nghĩa; nghĩa giúp tình nồng

đượm, thắm thiết hơn không chỉ trong khi sống mà cả lúc chết. Người chồng

thờ vợ dù dĩa mắm, dĩa rau cũng trọn nghĩa vẹn tình:

“Anh thờ em dĩa mắm, dĩa rau

Anh nghèo em khó, có đâu mâm cao cỗ đầy”

Phong tục thờ cúng trong gia đình của người Việt được biểu hiện khá

đầy đủ trong ca dao Nam Bộ. Từ đó, chúng tôi cảm nhận sâu sắc hơn tình cảm

thiêng liêng, kết nối giữa các thế hệ qua phong tục thờ cúng tổ tiên và thờ

cúng người thân. Đây là một nét phong tục văn hóa vừa kế thừa những nề nếp

cũ vừa có nhưng màu sắc khác biệt.

102

Tiểu kết chương 3

Được hun đúc trong đời sống tâm linh, ca dao Nam Bộ là một pho sử

liệu lưu giữ tín ngưỡng thờ cúng đa thần. Ca dao đã phác họa một miền đất

thiêng trong cõi tâm linh người Việt. Ở cõi thiêng đó, thần linh vừa có sức

mạnh vô biên vừa thân thuộc, gần gũi, có khả năng cứu rỗi linh hồn con

người, giúp họ vượt qua những khó khăn, bế tắc nơi trần thế.

Từ góc nhìn phong tục thờ cúng người thân trong gia đình, chúng tôi

phát hiện ca dao Nam Bộ hàm chứa vẻ đẹp tâm hồn và những giá trị tinh thần

đáng trân trọng của con người vùng đất phương Nam. Phong tục thờ cúng

người thân trong gia đình là sợi dây liên kết thiêng liêng giữa người cõi

dương và người cõi âm. Sợi dây liên kết thiêng liêng ấy được biểu hiện nén

nhang, nhang tỏa hương thơm ngát, khói bay nghi ngút trên bàn thờ là thời

khắc âm dương hội ngộ, người còn sống có thể bày tỏ tấm lòng thành, “người

quá cố” có thể chứng giám việc làm của người thân trên dương thế. Trang

hoàng bàn thờ tử tế, cúng giỗ hằng năm để “người quá cố” an lòng là một nét

đẹp trong phong tục Việt Nam. Điều đó cho thấy, ca dao đã góp phần duy trì

và phát triển văn hóa phong tục của người Việt ở Nam Bộ.

Từ góc nhìn văn hóa phong tục tín ngưỡng, chúng tôi phát hiện ca dao

Nam Bộ hàm chứa vẻ đẹp tâm hồn và những giá trị tinh thần đáng trân trọng

của con người vùng đất phương Nam. Đó là tinh thần phóng khoáng, linh hoạt

trong việc tiếp nhận tôn giáo góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của

con người. Đó là những khao khát mãnh liệt, mang vẻ đẹp nhân bản và nhân

văn. Điều đó cho thấy, ca dao đã góp phần duy trì và phát triển văn hóa phong

tục tín ngưỡng của người Việt ở Nam Bộ.

103

KẾT LUẬN

Nam Bộ là miền đất ẩn chứa nhiều lớp trầm tích văn hóa đặc sắc. Văn

hóa Nam Bộ là dòng chảy hợp lưu, hội tụ, kết tinh nhiều nguồn văn hóa của

các dân tộc Kinh, Chăm, Hoa, Khmer... Hạt giống văn hóa truyền thống theo

bước chân của những lưu dân được gieo trên mảnh đất Nam Bộ màu mỡ đã

kết thành những thuần phong mĩ tục giàu giá trị nhân văn, thể hiện bản lĩnh,

tâm hồn Việt Nam. Những phong tục này được phản ánh đậm nét trong văn

học dân gian từ truyện kể, tục ngữ, câu đố, ca dao... Khi tiếp cận văn học dân

gian nói chung và ca dao nói riêng từ góc nhìn văn hóa phong tục, chúng tôi

đã thu hoạch được những kết quả bước đầu khá thú vị về giá trị của thể loại

văn học này.

Ca dao Nam Bộ là chuỗi ngọc thơ ca trữ tình trong sáng, long lanh vẻ

đẹp của những tâm hồn người lao động chốn này. Ca dao không chỉ là khúc

hát tình cảm mà còn ẩn chứa những phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian

góp phần làm giàu thêm thế giới tinh thần của con người. Từ kho báu truyền

ca dao, chúng tôi hiểu hơn về tổ tiên, về giá trị tinh thần của các bậc tiền

nhân, bồi dưỡng tình yêu mảnh đất quê hương xứ sở.

Nếu tục ngữ là bộ lịch ghi lại danh mục và thời gian sinh hoạt, phong

tục cưới hỏi “Cưới vợ không cheo như néo không mấu”, phong tục tang ma

“Chồng cô, vợ cậu, chồng dì, trong ba người ấy chết thì không tang”... thì ca

dao biểu hiện một cách tinh tế phong tục, tập quán, tín ngưỡng. Tiếng nói

được cất lên từ những tâm hồn, tính cánh, số phận, cuộc đời ghi tạc dấu ấn

văn hóa tốt đẹp nghìn đời của dân tộc. Hay nói cách khác, ca dao vừa khái

quát phong tục tập quán vừa chuyên chở những giá trị tinh thần tốt đẹp của

con người.

Từ góc nhìn phong tục gắn với vòng đời con người, ca dao tái hiện

những nghi thức cưới hỏi và tang ma. Qua ca dao Nam Bộ, phong tục hôn

nhân phản ánh khát vọng hạnh phúc gia đình bằng những thanh âm trong trẻo,

104

tươi vui. Dạm hỏi trong ca dao gắn liền với hình ảnh “người mai dong”, với

những nếp nghĩ, qui tắc trong việc chọn bạn trăm năm. Ca dao về lễ hỏi với

đầy đủ sính lễ cưới truyền thống, trong đó trầu cau xuất hiện với tầng số khá

cao. Những nghi lễ quan trọng như: lễ từ đường, lễ vu qui, lễ cúng tơ hồng

được biểu hiện sinh động trong ca dao bằng những lời lẽ trang nghiêm, chứa

đựng tình cảm tha thiết, dạt dào, thấm đượm nghĩa tình.

Có thể nói, tất cả những qui định trong tiến trình hôn lễ của người Việt

xuất hiện trong ca dao. Bằng hệ thống biểu tượng, hình ảnh quen thuộc, ca

dao đã khơi gợi trường liên tưởng phong phú về ứng xử trong hôn nhân của

người Việt ở Nam Bộ. Từ đó, chúng tôi phát hiện những nghi lễ như lễ từ

đường, vu qui vẫn còn được lưu truyền trong lễ cưới hiện đại còn tục cúng tơ

hồng đã bị mai một. Như vậy, nghiên cứu ca dao về phong tục hôn nhân đã

giúp chúng tôi nhìn về quá khứ, từ đó có cái nhìn so sánh về truyền thống

cưới hỏi của người Việt xưa và nay.

Những bài ca dao phản ánh nghi lễ của phong tục tang ma cũng chính

là tài sản tinh thần vô giá của thế hệ trước dành cho thế hệ sau. Những nghi lễ

trong ca dao Nam Bộ không xa lạ, cầu kì, phức tạp mà nó hướng tới khát

vọng sum vầy, hướng về đạo lí làm người, lẽ sống tốt đẹp trong cuộc đời.

Người dân Nam Bộ khi nói về cõi chết, nghi lễ đưa tang, thời gian để tang

đồng thời cũng thể hiện con người nghệ sĩ. Tác giả dân gian sử dụng nhiều lối

diễn đạt hấp dẫn, nhiều điển tích, đậm hình ảnh so sánh làm nổi bật thế giới

tâm linh cùng vẻ đẹp tín ngưỡng trong các mối quan hệ giữa con người với

con người, con người với thần linh.

Từ ngàn xưa, thờ cúng là vấn đề tâm linh mang ý nghĩa thiêng liêng đã

trở thành phong tục văn hóa của dân tộc. Người Việt thờ cúng nhiên thần và

nhân thần. Đó là Trời, Phật, các vị thần có công mở mang và bảo vệ bờ cõi

đất nước và gần nhất tổ tiên, ông bà. Việc thờ cúng vừa thỏa mãn nhu cầu tâm

linh vừa thể hiện đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của người Việt. Điều này

105

được khắc họa đậm nét trong ca dao. Hay nói cách khác, ca dao Nam Bộ phản

ánh niềm tin của con người vào thế giới thiêng huyền bí, giúp con người vượt

qua những thăng trầm của cuộc sống ở vùng đất mới.

Ca dao là “bầu sữa ngọt” nuôi dưỡng ước mơ, khát vọng của con

người. Từ xưa đến nay, ca dao luôn luôn song hành cùng đời sống dân tộc, ca

dao không chỉ đi vào các tác phẩm văn học viết mà còn tỏa sáng ở các lĩnh

vực khác như báo chí, âm nhạc. Cho nên nghiên cứu tìm hiểu thể loại văn học

dân gian này chính là cách để tôn vinh vẻ đẹp văn hóa của dân tộc.

Trên đây, chúng tôi vừa trình bày kết quả nghiên cứu của đề tài “Ca

dao Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục”. Ở đề tài này, chúng tôi đã cố

gắng từng bước đi vào bề sâu của các phong tục được ẩn chứa trong ca dao.

Tuy nhiên, do điều kiện và khả năng còn hạn chế nên có những vấn đề chưa

sâu sắc và trọn vẹn. Chúng tôi hi vọng luận văn sẽ đóng góp một cái nhìn sơ

khởi về giá trị của ca dao Nam Bộ trong diện mạo chung của văn học – văn

hóa dân gian Việt Nam.

Trước những biến động của khoa học kĩ thuật, kinh tế thị trường nhiều

giá trị xã hội thay đổi tuy nhiên vẫn có những giá trị bền vững với thời gian

đó là những giá trị gắn liền với bản sắc văn hóa Việt như tục thờ cúng tổ tiên,

cưới hỏi, tang ma... Ca dao đã phục nguyên không gian văn hóa, thời gian văn

hóa, góp phần kiến lưu giữ và bồi đắp “hồn tính của dân tộc”.

106

CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

Ngô Bích Phượng (2019), Phong tục cúng giỗ trong ca dao Nam Bộ, Kỷ yếu

số 2, Hội thảo khoa học cho học viên cao học và nghiên cứu sinh năm

2019 – 2020, Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh.

107

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị (1984). Ca dao

dân ca Nam Bộ . TP. Hồ Chí Minh: Nxb TP. Hồ Chí Minh.

Bùi Mạnh Nhị. (2001). Văn học dân gian – Những công trình nghiên cứu. TP. Hồ

Chí Minh: Nxb. Giáo dục.

Chu Xuân Diên (chủ biên). (2011). Văn học dân gian Bạc Liêu. HN: Nxb. Đại học

Quốc gia Hà Nội.

Chu Xuân Diên (chủ biên). (2011). Văn học dân gian Sóc Trăng. HN: Nxb. Văn hóa

– Thông tin Hà Nội.

Đại học Cần Thơ. (1997). Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long. Hà Nội:

Nxb. Giáo dục.

Đào Duy Anh. (1992). Việt Nam văn hóa sử cương. TP. HCM: Nxb. Tp. Hồ

Chí Minh.

Đinh Gia Khánh (chủ biên). (2001). Văn học dân gian Việt Nam. HN: Nxb.

Giáo dục.

Đinh Kiều Nga. (20/07/2019). Bản sắc Văn hóa Việt Nam qua Di sản văn hóa tôn

giáo (Phần II) , http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/3611.

Đức Thành (2019). Thọ Mai Gia Lễ. TP. HCM: Nxb. Hồng Đức.

Dương Quảng Hàm. (1968). Việt Nam văn học sử yếu. HN: Nxb. Trung tâm

học liệu.

Hoàng Tiến Tựu (1990). Văn học dân gian Việt Nam, tập 2. TP. HCM: Nxb:

Giáo dục.

Hoàng Xuân. (2010). Nguyễn Bính – Thơ và Đời. HN: Nxb. Văn học.

Hội thảo khoa học với chủ đề Văn học và Văn hoá tâm linh. (08/03/2014).Văn học

và Văn hoá tâm linh, những biến chuyển xưa – nay. http://khoavanhoc–

ngonngu.edu.vn/hoi–thao/kh–ngu–van–2013/4658–vn–hc–va–vn–hoa–tam–

linh–nhng–bin–chuyn–xa–nay.html

Huỳnh Ngọc Trảng (2016). Ca dao dân ca Nam kỳ Lục Tỉnh. ĐN: Nxb. Tổng hợp

Đồng Nai.

108

Huỳnh Ngọc Trảng. (2013). Đặc khảo về tín ngưỡng thờ gia thần. TPHCM: Nxb.

Văn hóa Văn nghệ.

Jean Chevalier –Alianheerbrant. (1997). Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới. ĐN:

Nxb. Đà Nẵng.

Lê Anh Dũng. (11/05/2004).Văn hóa dân gian phản ánh tín ngưỡng tổng hợp của

người Việt. http://www.nhipcaugiaoly.com/post?id=160

Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi. (2007). Từ Điển Thuật Ngữ Văn Học.

HN: Nxb. Giáo dục.

Lê Trí Viễn (1994).Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường. TP. HCM: Nxb. Giáo dục

Ngô Đức Thịnh. (2002). Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam. TP Hồ Chí

Minh: Nxb. Trẻ.

Nguyễn Chiến Thắng. (1984). Ca dao, hò, vè Vĩnh Long. TPHCM: Nxb. Trẻ.

Nguyễn Đổng Chi. (1957). Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. HN: Nxb. Giáo dục

Nguyễn Du. (1999). Truyện Kiều. Hà Nội: Nxb. Văn học.

Nguyễn Hữu Hiếu (2011). Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ. TPHCM: Nxb.

Thanh Niên

Nguyễn Như Ý, Chu Huy. (2014). Từ điển văn hóa, phong tục cổ truyền Việt Nam.

Hà Nội: Nxb. Giáo dục Việt Nam.

Nguyễn Như Ý. (2013). Từ điển Ngữ văn. HN: Nxb. Giáo dục Việt Nam.

Nguyễn Phương Thảo. (2008). Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo. HN:

Nxb. Văn hóa Thông tin.

Nguyễn Thị Bích Hà. (2014). Nghiên cứu văn học dân gian từ mã văn hóa dân

gian. HN: Nxb. Đại học Sư phạm.

Nguyễn Thị Bích Hà. (2018). Giáo trình văn học dân gian Việt Nam. HN: Nxb. Đại

học Sư phạm.

Nguyễn Thị Kim Ngân (2014). Đạo trời và tín ngưỡng dân gian qua ca dao, Tạp

chí VHNT số 360, tháng 6 – 2014. http://vhnt.org.vn/tin–tuc/van–hoa–co–

truyen/27874/dao–troi–va–tin–nguong–dan–gian–qua–ca–dao

Nguyễn Văn Dân. (2006). Phương pháp luận nghiên cứu văn học. HN: Nxb. Khoa

học Xã hội, Hà Nội.

109

Nguyễn Văn Hầu. (2012). Văn học miền Nam lục tỉnh (tập 1). TP.HCM: Nxb Trẻ.

TP.HCM.

Nguyễn Văn Quang. (2015). Văn học dân gian An Giang. Hà Nội: Nxb. Khoa học

Xã hội.

Nguyễn Văn Quang. (2015). Văn học dân gian Bến Tre. Hà Nội: Nxb. Khoa học

Xã hội.

Nhất Thanh (2016). Đất lề quê thói. HN:Nxb. Văn học.

Nhiều tác giả. (2017). Tín ngưỡng dân gian. Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Văn hóa –

Văn nghệ.

Phạm Việt Tuyển. (1974). Cửa vào phong tục Việt Nam. TP. HCM: Nxb. Đại học

Văn Khoa Sài Gòn.

Phan Kế Bính. (2017). Việt Nam phong tục. HN: Nxb. Văn học.

Phan Thị Phượng. (18/08/2010). Bàn về một khía cạn tâm linh trong ca dao người

Việt,

http://www.vusta.vn/vi/news/Thong–tin–Su–kien–Thanh–tuu–KH–

CN/Ban–ve–mot–khia–can–tam–linh–trong–ca–dao–nguoi–Viet–34757.html

Phan Trọng Luận (2018). Ngữ Văn 10, tập 2. TP. HCM: Nxb. Giáo dục.

Sơn Nam. (2017). Đồng bằng sông Cửu Long, Nét sinh hoạt xưa và Văn minh miệt

vườn. Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Trẻ.

Sơn Nam. (2017). Nói về miền Nam, Cá tính miền Nam và Thuần phong mĩ tục.

TPHCM: Nxb Trẻ.

Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh. (2014). Văn hóa dân gian

người Việt ở Nam Bộ. TPHCM: Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.

Trần Hồng Liên (1995). Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ Việt Nam

từ thế kỉ XVII đến 1975. TP. HCM: Nxb. Khoa học Xã hội.

Trần Minh Thương. (2017). Đặc điểm văn hóa sông nước miền tây Nam Bộ. HN:

Nxb. Mỹ Thuật.

Trần Nam Tiến. (2018). Nam Bộ dưới thời chúa Nguyễn. Hà Nội: Nxb. Khoa học

Xã hội.

Trần Ngọc Thêm. (2001). Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam. Tp. Hồ Chí Minh:

Nxb. Tp. Hồ Chí Minh.

110

Trần Thuận. (2014). Nam Bộ – Vài nét lịch sử – văn hóa. Tp. Hồ Chí Minh:

Nxb.Văn nghệ.

Trịnh Hoài Đức. (1972). Gia Định thành thông chí. Bản dịch của Tu Trai Nguyễn

Tạo. Nha Văn hóa, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa xuất bản, 1972.

Từ Xuân Lãnh. (2019). Phong tục Đất Phương Nam. TP. HCM: Nxb. Tổng hợp TP.

Hồ Chí Minh.

Vũ Anh Tuấn (chủ biên), Phạm Thu Yến, Nguyễn Việt Hùng, Phạm Đặng Xuân

Hương. (2015). Giáo trình văn học dân gian. HN: Nxb: Giáo dục Việt Nam.

Vũ Minh Chi. (2004). Nhân học văn hóa – Con người với thiên nhiên, xã hội và thế

giới siêu nhiên. HN: Nxb. Chính trị Quốc gia.

Vương Đằng. (2004). Phong tục miền Nam. HN: Nxb. Văn hóa Thông tin.

PL1

PHỤ LỤC

CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA PHONG TỤC

1. MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích của việc xây dựng phụ lục

Số lượng ca dao sử dụng khảo sát trong nghiên cứu đề tài Ca dao Nam Bộ từ góc

nhìn văn hóa phong là 1.188 bài. Số lượng ca dao đưa vào làm dẫn chứng trong phần nội

dung chính cũng hạn chế, vì đưa nhiều quá sẽ dễ sa vào liệt kê.

Vì vậy, nhằm góp phần minh họa cụ thể, hệ thống và chặt chẽ cho các vấn đề triển

khai nghiên cứu chúng tôi tiến hành xây dựng phụ lục.

1.2. Nội dung và cách thức trình bày phụ lục

Do số lượng ca dao sử dụng khảo sát trong nghiên cứu là: 1.188 bài nên chúng tôi chỉ

chọn lọc những bài ca dao tiêu biểu theo từng nội dung để minh họa ở phụ lục.

Sau khi tiến hành sưu tầm, chọn lựa, phân loại ca dao của người Việt ở Nam Bộ từ

các nguồn tư liệu tham khảo, chúng tôi sắp xếp nội dung phụ lục theo chủ đề liên quan đến

các chương, mục nghiên cứu của luận văn.

Vì nguồn tư liệu được tuyển chọn trong các công trình thuộc nhiều địa phương khác

nhau nên không có sự thống nhất qui tắc chính tả chung, có một số từ cổ hiện nay ít dùng

nhưng tôn trọng nguyên tác nên chúng tôi không sửa theo qui tắc hiện hành. Một số từ

được sử dụng theo nghĩa giống nhau như: se duyên – xe duyên; dươn – duyên, nhứt – nhất,

miếu – miễu, hàng – hàn – hòm, huỳnh tuyền – huỳnh tiền – quỳnh tiền, sói – xối, ...

Phụ lục được trình bày cụ thể như sau:

STT Nội dung phụ lục Trang

1. Phụ lục 1: Ca dao Nam Bộ phản ánh phong tục cưới hỏi PL3

2. Phụ lục 2: Ca dao Nam Bộ phản ánh phong tục tang ma PL31

3. Phụ lục 3: Ca dao Nam Bộ phản ánh phong tục thờ cúng đa thần PL42

4. Phụ lục 4: Ca dao Nam Bộ phản ánh phong tục thờ cúng trong gia PL68

đình

1.3. Phạm vi tư liệu tham khảo

Chúng tôi sử dụng nguồn tư liệu từ các công trình:

1. Ca dao dân ca Nam Bộ, Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi

Mạnh Nhị, xuất bản 1984, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.

PL2

2. Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường, Lê Trí Viễn, xuất bản năm 1994, Nxb.

Giáo dục.

3. Văn học dân gian Đồng Bằng sông Cửu Long của trường Đại học Cần Thơ, xuất

bản năm 1997, Nxb Giáo dục.

4. Ca dao, hò, vè Vĩnh Long do Nguyễn Chiến Thắng (chủ biên), xuất bản năm 2005,

Nxb. Trẻ.

5. Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục Tỉnh, Huỳnh Ngọc Trảng, xuất bản năm 2006, Nxb.

Tổng hợp Đồng Nai.

6. Văn học dân gian Bạc Liêu, Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản năm 2011, Nxb.

Đại học Quốc gia Hà Nội.

7. Văn học dân gian Sóc Trăng, Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản năm 2011,

Nxb. Văn hóa – thông tin.

8. Văn học Miền Nam Lục Tỉnh tập 1, Nguyễn Văn Hầu, xuất bản năm 2012,

Nxb. Trẻ.

9. Văn học dân gian Bến Tre, Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên), xuất bản năm 2015,

Nxb. Giáo dục.

10. Văn học dân gian An Giang (tập 3) do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên), xuất bản

năm 2015, Nxb. Giáo dục.

11. Luận văn Khảo sát ca dao – dân ca Bến Tre của Đặng Thị Thùy Dương, năm

2009, trường Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh.

PL3

PHỤ LỤC 1

CA DAO PHẢN ÁNH PHONG TỤC CƯỚI HỎI

CA DAO – XUẤT XỨ CA DAO – XUẤT XỨ

1. Trai trưởng thành định đôi can lệ, 178. Nghinh hôn giá thú bất khả luận tài

Gái khôn rồi đặng chữ vu qui. Trăm năm chẳng hiệp dươn dài,

Trăm năm có một lần đi, Anh nằm lăn xuống bệ, anh lạy dài ông Tơ

Trai thì trọn hiếu, gái thì thủy chung. (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 112)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 453) 179. – Cha anh cũng giỏi, chú anh cũng giỏi

2. Bảo đừng sầu muộn tương tư Sao anh đi mộ lễ hỏi mà bỏ vô gói mà mang

Để về thưa lại mẫu từ sẽ hay.

Anh tiếc chi đôi siểng cặp tràng Không bỏ vô mà gánh để bạn vàng cười chê. Em về thưa lại mẹ hay,

Cho đành rồi sẽ sinh bày lễ nghi – Cái của một đồng, cái công một lượng Cái gói là trượng, đôi siểng là nan (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 101)

3. Mảng nói chơi mà trời gần sáng, Anh cũng muốn đi dù lọng thênh thang Thêm thằng bán xiểng sợ cha mẹ nàng không

Xin anh bỏ lảng duyên nợ đôi ta. cơm.

(VHDG Bến Tre – tr. 288) Dằn lòng về thưa với má ba,

180. Người ta giàu nghinh thân giá thú Sắm lo sáu lễ đến nhà nói em.

Còn mình nghèo cặp vịt đôi bông (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 315)

Chứ lẽ nào xách gói về không 4. Qua đã than cùng bậu:

Bỏ mẹ già cù lao Sơn Ngãi Nhà qua hàn lậu,

Bỏ cha già sao phải sao đành Lòng qua giữ tín thành.

Trở về nhà nuôi cội bông xanh Xin em một tiếng cho rành,

Chừng nào lá rụng đôi nhành hãy thôi (rơi). Em ôi,

Tay bưng sổ tiếng Sau dâng sáu lễ, mới đành dạ qua.

Bước tiện xuống ghe (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 269)

Miệng kêu em dạ. 5. Màn rồng một bức giăng ngang,

(VHDG Sóc Trăng – tr. 655) Tôi với mình trời định, tam cang ngũ

181. – Anh về hỏi mẹ cùng cha thường.

Sắm sanh lễ vật để mà cưới em. Mình về thưa lại thung đường

Tưng bừng hàng xóm ra xem Qua đây gá nghĩa cang thường với em.

Cô dâu chú rể đẹp duyên vợ chồng. (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 315)

(VHDG An Giang – tr. 61)

PL4

6. Cha mẹ ơi nhận lễ cho con rể nó nhờ 182. Anh về sắm lễ đi cưới người thương

Đừng để trai trông gái đợi lâu ngày lỡ duyên. Thằn lằn đi lọng, ễnh ương đi dù.

(VHDG An Giang – tr. 245) Cóc vàng chở rượu ba lu

7. – Anh về dọn dẹp loan phòng Rắn mối đi họ, chuột xù làm mai.

Mười ba nhóm họ, bữa rằm rước dâu (VHDG An Giang – tr. 72)

– Rước dâu phải rước bằng đò 183. Rượu lưu ly chân quỳ tay rót

Đừng đi rước bộ, lấm giò cô dâu. Cha mẹ uống rồi em dời gót theo anh.

(VHDG Bến Tre – tr. 259) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 364)

8. Tuy anh nghèo nhưng dòng họ anh đông, 184. Rượu vu quy anh xếp hai hàng

Người giúp một đồng, cũng đủ cưới em. Chờ cha mẹ uống cho nàng theo anh.

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 472) (VHDG Bến Tre – tr. 275)

9. Biết đặng hay không mà hòng xăn tay áo 185. Rượu vu quy chân quỳ tay rót

Vén bức sáo làm lễ từ đường Cha mẹ uống rồi em dời gót theo anh.

Mai sao không đặng, ai thường công anh. (VHDG Bến Tre – tr. 377)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 190) 186.Chén rượu lưu li, chân quỳ tay rót,

10. Bước lên tấm cáo anh xắn tay áo làm lễ Cha mẹ rót rồi, dời gót theo anh.

từ đường (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 360)

Dầu không đặng bậu chớ cũng tình mẹ cha. 187. Bắt lấy tay em bằng ăn nem gỏi cuốn,

(VHDG An Giang – tr. 87) Hai má giao kề bằng uống chén rượu ngon.

11. Tấm giấy vàng đề hàng chữ thọ, (VHDG ĐBS Cửu Long – trang 342)

Rước em về hai họ chứng minh 188. Trước lạy cha, sau ra lạy má,

(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 120) Con đã có chồng rồi xuất giá tòng phu

12. Thắp hương vái với ông bà, (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 59)

Đôi ta kết ngãi, đến già an cư. 189. Chữ rằng chi tử vu quy

(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 221) Làm thân con gái phải đi theo chồng.

13. Anh Hai đi với chị Hai, (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 432)

Mâm trầu, hũ rượu tốn hai mươi tiền. 190. Muốn cưới được em phải trầy da tróc vẩy

Còn dư mua chả mua nem, Đầu heo một cái với một mâm trầu

Mua cặp lồng đèn hai họ cùng lên. Lọng vàng qua rước nàng dâu

Ông cai, ông ký ngồi trên, Anh còn phải lạy xối đầu được chưa?

Sui gia ngồi dưới hai bên họ hàng. (VHDG Bến Tre – tr. 355, 356)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 423)

PL5

14. Đi ra có cặp lọng vàng, 191. – Muốn cưới được em phải trầy vi tróc vảy,

Hiển vinh ba má, rỡ ràng đôi ta Đầu heo với một mâm trầu,

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 62) Lọng vàng qua rước nàng dâu,

15. Tân hôn hai gối một mền, Anh còn phải lạy sói đầu, biết được hay chưa.

Vái ông tơ bà nguyệt xe bền đôi ta. – Có giỏi mấy mươi cũng là phụ nữ,

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 450) Dầu cho hay chữ cũng thể đàn bà,

16. Ngày anh làm lễ tơ hồng Tao về bán đất ông cha,

Đêm em bẻ gãy chữ đồng với anh. Cưới được rồi, củi bửa, roi da tao đánh hoài.

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 437) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 482)

17. Đèn nào cao bằng đèn Ba Giáo 192. Ra đồng ruộng thấy con cò trắng tựa như vôi

Gái nào bạo bằng gái chợ Giồng Hai đứa mình còn nhỏ mà xứng đôi quá chừng

Ngày em làm lễ tơ hồng – Anh ơi đừng vội mà mừng

Là ngày em bẻ gãy chữ đồng với tôi. Cá ra sông con cá lội

(VHDG Sóc Trăng – tr. – 593) Anh có thương em thì bước tới

18. Tay bưng quả nếp vô phòng Bỏ miếng trầu hờ cho chắc tay.

Đèn hương đôi ngọn chữ bá tòng còn ghi. (VHDG Bến Tre – tr. 375)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 373) 193. Công sanh dưỡng bằng công tạo hóa,

19. Tay bưng quả nếp vô phòng, Có mẹ cha sau mới có chồng,

Thắp hương cầu vái: chữ bá tòng cầu hôn Nhớ khi dìu dắt ẵm bồng,

(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 166) Nay đi xuất giá não lòng lắm thay.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 463)

20. Miếng trầu miếng cau là nhân là đạo Cái ly chén gạo là tình vợ nghĩa chồng 194. – Trồng tre chẳng dám xắn măng,

Để cho măng lớn kết bè đưa dâu. Tay tôi bưng quả cẩn vô phòng Đèn thắp mòn hai ngọn – Đưa dâu thì đưa bằng ghe, Tôi vái ông tơ hồng xe tơ. Chớ đưa bằng bè ướt áo nàng dâu. (VHDG An Giang – tr. 166) (VHDG Bến Tre – tr. 409) 21. Đèn loan hiệp cẩn trong phòng, 195. Trồng tre không dám ăn măng Trăm năm chí quyết bá tòng gầy duyên. Để cho măng lớn kết bè đưa dâu (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 252) Đưa dâu thì đưa bằng ghe 22. Cha sanh mẹ đẻ không lẽ theo mình, Đừng đưa bằng bè ướt áo cô dâu. Xấu cha xấu mẹ, hai đứa mình tốt chi. (VHDG Bạc Liêu – tr. 872) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 460)

PL6

23. Anh đi ghe từ Vĩnh Long đi Vĩnh Mỹ 196. Trồng tre chẳng dám ăn măng,

Xuống tàu thủy đi tuốt Vĩnh Bình Để cho măng lớn kết bè đưa dâu,

Trước là thăm viếng gia đình Đưa dâu thì đưa bằng ghe,

Sau nhờ mai mối cho hai đứa mình kết duyên. Đừng đưa bằng bè rách áo cô dâu!

(VHDG Bạc Liêu – tr. 822) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 471)

24. Nay em còn cha, còn mẹ, còn cô, còn bác 197. Anh thương em đừng vội bắt tay,

Nên em không dám tự tung tự tác một mình Anh về cậy mối cậy mai đến nhà,

Anh có thương em thì cậy mai dong đến nói Phải chi ta ở cùng ta.

Che mẹ có bằng lòng, em mới ưng. Thức khuya dậy sớm, phụ mẫu già nuôi chung

(VHDG An Giang – tr. 178) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 169)

25. Đa tình chi lắm 198. Đợi lịnh song thần anh đành phải vậy

Chỉ thắm khó buộc tai Em quyết một lời, anh sẽ cậy mai dong.

Nếu anh muốn kết duyên hài, (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 267)

Xin anh lo cậy mối mai đến nhà 199. Đợi tin song thân em là phải vậy

(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 214) Em ôi

26. Em ừ bây giờ Song quyết một lời rồi, anh hãy cậy mai dong

Cha mẹ từ chẳng khứng (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 248)

Có phải hại anh, 200. Ba Lai cầu gối đầu Rạch Miễu

Đau ngồi đau đứng, Anh thương em hiểu,

Bảo anh lo ngược lo xuôi. Chứ em chưa hiểu song thân

Trước sau lại không vui, Mẹ biểu thì anh phải vâng,

Bớ anh ơi, Thôi về mai mối ngày gần anh qua.

Chi bằng anh cậy mối nói hồi ban sơ (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 178)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 249) 201. Tàu ông Chánh chạy trước

27. Đó quyết cậy mai dong đây phân hoài Tàu ông Phó chạy sau

chẳng khứng, Hai chiếc gặp nhau quanh neo cái rổn

Bớ em ôi, Anh tưởng đâu tàu Nhật Bổn đi gánh nước

Cha chả: chỉ có một tiếng ừ, vàng xứng mấy cân Chiêm Thành

(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 249) Anh thương em thì đừng dỗ đừng dành

28. Mâm trầu hũ rượu, đâu đó đàng hoàng Cậy mai dong tới nói, cha mẹ đành thì em ưng.

Cậy mai đến nói, phụ mẫu tàng là xong (VHDG An Giang – tr. 208)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 191)

PL7

29. Ngó lên trời thấy sao giăng phụng vẽ, 202. Đắng khổ qua, chua lè chanh giấy

Ngó xuống phàm trần thấy một lẽ gần em. Dẫu ngọt cho mấy cũng trái cam xanh

Anh về cậy mối cậy mai, Anh thương em đừng dỗ đừng dành

Chớ đừng có liếc mắt xem, họ cười. Cậy mai dong đến nói phụ mẫu đành em ưng.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 333) (VHDG Bến Tre – tr. 315)

30. Gương mặt em anh nhớ hằng ngày, 203. Đắng khổ qua, chua là chanh giấy

Thế nào anh cũng cậy mai đến nhà Ngọt thế mấy cũng tiếng cam sành

Đến nhà nói với mẹ cha, Thương em đừng dỗ đừng dành

Nay em đúng tuổi gả qua cho rồi Cậy mai dong đến nói cha mẹ đành, em ưng.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 128) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 380)

31. Em có mẹ cha, 204. Cũng nhờ cô bác đôi bên

Anh đến nhà thưa lại, Mỗi người một tiếng mới nên cang thường

Riêng tình ân ái, (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 243)

Nhân ngãi chẳng phai, 205. Cây oằn vì bởi trái sai

Sợ hiềm trắc trở duyên hài, Anh xa em vì bởi ông mai ít lời.

Phải cho có mối có mai lễ trầu (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 178)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 274) 206. Cây oằn vì bởi trái sai

32. Anh thấy em chắc chắn, Anh thương em còn sợ ông mai ít lời.

Cặp chân mày ngay ngắn, anh cũng vừa lòng. (VHDG Bạc Liêu – tr. 878)

Cậy cùng cô bác mai dong, 207. Cây oằn vì bởi trái sai

Vái cho em bậu xiêu lòng ưng anh. Xa nhau vì bởi ông mai ít lời.

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 335) (VHDG Bến Tre – tr. 278)

33. Tay cầm ly rượu Sơn Đông 208. Cây oằn vì bởi trái sai

Hiểu em chưa chồng, anh muốn làm mai Anh xa nàng vì bởi ông mai ít lời

Bàn tay ngón ngắn, ngón dài (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.78)

Hơi đâu kén chọn, chờ hoài hỡi em 209. Cây oằn vì bởi trái sai

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.136) Anh xa em vì bởi ông mai ít lời

34. Khế với chanh cùng chua hơi ngọt Ít lời nên ba má chẳng nhận lời

Mật với gừng, mật ngọt gừng cay Phận em là gái bẻ nạng chống trời sao nên?

Cùng xóm nhau, hai ta hiểu biết lâu dài (VHDG An Giang – tr. 112)

Phụ mẫu em ừ một tiếng ông mai đến liền 210. Đũa vàng dội xuống mâm son

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.92) Lâu nay mới gặp nguồn cơn hội này

PL8

35. Em đây như tấm lụa đào Gắng công nối sợi chỉ mành

Nếu anh có ý thì vào cậy mối mai Nối ba lần nối mà sự bất thành tại ai

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.186) Cây oằn vì bởi trái sai

36. Cậy người giá thú trao lời Anh xa em vì bởi ông mai ít lời.

Đôi ta sum hợp, ơn người tạ ơn (VHDG Bến Tre – tr. 366)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 211) 211. Xa nàng vì bởi mối mai

37. Bí đao non không ngon cũng nấu, Ông mai ít tiếng, bà mai ít lời.

Thiếp xa chàng tại xấu mai dong. (Ca dao dân ca Nam Bộ– tr. 419)

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 347) 212. Ông mai xe lỡ mối duyên

38. Lộ bất hành bất đáo, Thuyền quyên phải chịu truân chuyên suốt đời.

Chung bất đả bất minh, (VHDG Bến Tre – tr. 372)

Bây giờ anh mới rõ sự tình, 213. Anh đi ngang cầu sắt,

Tại bà mai ở độc, hai đứa mình mới xa. Anh nắm tay em thật chắc,

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 423) Miệng hỏi gắt chung tình,

39. Rắn có chưn (chân) rắn biết Bướm xa bông tại nhụy, anh xa mình tại ai?

Ngọc ẩn đá ngọc hay Cây cằn vì bởi trái sai,

Anh nó ôi! Lòng anh muốn kết duyên hài, Anh xa xem bởi bà mai ít lời.

Khá về thưa lại cậy mai đến nhà (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 328)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 188) 214. Đường đi xa hai đứa ta nói chuyện 40. Xấu tre uốn chẳng nên cần Lúc giã từ còn quyến luyến nhau hoài, Xấu mai nên chẳng được gần với em Về nhà anh cậy mối mai, (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 420) Cha mẹ em nói khó, hỏi hoài không xong. 41. – Tiếc công anh lau dĩa chùi bình (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 272) Cậy mai dong tới nói ba má nhìn bà con. 215. Thấp tay với chẳng tới kèo – Trời mưa nhà thiếc dột lon ton Thân phận anh nghèo nên phải cậy người mai chước Ổng bả không thương nên nói vậy, chứ bà Sông ngân nguyện bắc cầu Ô Thước con hồi nào? Duyên nợ này không trước thì sau (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 390)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 379) 42.– Tiếc công anh lau kỷ, súc bình

216. Xấu dao cắt chẳng đặng gừng Cậy mai dong tới nói phụ mẫu nhìn bà con.

Xấu người mai ước cầm chừng đôi ta – Cục đá tròn rớt xuống cái boong

(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 108) Cha mẹ em không thương thì nói vậy, chứ bà con hồi nào?

(VHDG An Giang – tr. 203)

PL9

43. Ngũ lý nhất đoản đỉnh 217. Con gà trống tía

Thập lý nhất trường đình Cái lông cũng tía

Tiếc công anh lau đĩa chùi bình Ngọn lang dâm

Cậy mai dong tới nói phụ mẫu nhìn bà con Ngọn mía cũng dâm

Trời mưa nhà thiếc dột bon bon Ông mai ngọt miệng em lầm

Phụ mẫu không thương nói vậy Bây giờ nghĩ lại, em giận thầm ông mai.

Chớ bà con đâu mà nhìn (VHDG Bến Tre – tr. 301)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 297) 218. Bây giờ em ở lại với ai,

44. – Tiếc công anh chùi đĩa lau bình Rồi đây đáng trách ông mai ít lời

Cậy mai dong đến nói phụ mẫu nhìn bà con (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 181)

– Trời mưa nhà thiếp dột nghe boong boong 219. Trách ông tơ cùng bà nguyệt tháo

Phụ mẫu hổng thương nói vậy chứ bà con Đôi ta lơ láo tại bởi mai dong

đâu mà nhìn. Trách ai ăn ở hai lòng (VHDG Bến Tre – tr. 389, 390) Chỗ thương không vấn, chỗ không đành em 45. Tiếc công anh lau chùi bình lại vấn vương. Cây mai mối đến phụ mẫu nhìn bà con. (VHDG An Giang – tr. 206) (VHDG Bạc Liêu – tr. 867) 220. Bơi xuồng qua kinh Mới, bơi dọc kinh Ngang 46. Cây oằn vì bởi trái sai Em thương anh ăn nói dịu dàng Xa chàng vì bởi ông mai ít lời. Trách anh không mai mối, để lỡ làng đôi ta Sắt lâu còn có khi mòn (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.83) Mẹ cha ép buộc duyên con 221. Bờ Tràm ngay thẳng Phụ tình lỗi ấy chẳng còn ăn năn. Sao anh dậm cẳng kêu trời (VHDG Sóc Trăng – tr. 621, 622) Chiếc Cầu Đôi còn có nhịp 47. Gió xoáy vần, cát vận bờ đê Sao anh chẳng có lời mối mai Phụ mẫu anh cậy mai tới nói, sao em chê (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.75) anh nghèo? 222. Sông Cái Cá không rộng không dài (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 290) Trăm năm xuôi chảy miệt mài 48. Con cá tróc vi hiềm vì nước chảy Tiếc cho người nghĩa thiếu ông mai dẫn đường Cần câu gãi vì bụi gốc vướng công (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.124) Bởi vì mai mối không xong, 223. Bà mai muốn ăn đầu heo Nên duyên đôi ta trắc trở chứ tấm lòng không quên. Nói chuyện giàu nghèo, đưa đẩy, đẩy đưa (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 233) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.138)

PL10

49. Cây tre lóng cụt lóng dài, 224. Ở đời có bốn cái ngu

Anh lấy em vì bởi ông mai lắm lời. Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 359) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.139)

50. Đố anh tìm được cái vảy con cá trê vàng 225. Thò tay ngắt ngọn trâm bầu

Tìm gan con tép bạc, mà em nguyền theo không. Thương thì thương đại đừng cầu ông mai.

Ra đi một bước dòn dòn (VHDG An Giang – tr. 216)

Hai tay ôm áo vo tròn khóc than 226. Bướm vàng đậu ngọn cây bần

Tưởng là mình thiếp với chàng Tui với mình lân cận chẳng cần ông mai.

Ai hay có kẻ đón đàng giả nai (VHDG Bến Tre – tr.188)

Cây oằn vì bởi trái sai 227. Vẻ ngân hà dọi khơi mặt nước

Em than vì bởi ông mai ít lời. Biết em vô phước hay được hữu phần

(VHDG Sóc Trăng – tr. 627, 628) Gặp mặt nhau đây, em phải phân trần

51. – Trước em gái chào cây lê lựu Bớ anh ôi,

Sau em chào kẻ cựu người tân E em tuổi Hợi, anh tuổi Dần khắc xung

Chào người cận lân em mới bước vào hỏi anh: (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 263)

Cha mẹ anh còn song toàn hay cỡi hạc quy tiên? 228. Dẫu có khắc xung,

Bên ngoại nhà còn mấy cậu dì? Là mang chung xung khắc

Bên nội anh còn mấy chú mấy cô? Em ôi! Xin hai đứa mình ở chắc thì thôi.

Vậy chứ tên họ anh là chi, nhà anh ở đâu? (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 263)

Nói cho em gái biết em gái chào gá nghĩa anh em. 229. Giáp, Ất, Bính là tam bất hạp

– Trước anh chào cây lê cây lựu Dần, Thân, Tị, Hợi tứ hành xung

Sau anh chào kẻ cựu người tân. Khuyên anh hãy xét lại cho cùng

Cha mẹ anh còn song toàn không có cỡi hạc quy tiên Bớ anh ơi,

Bên ngoại anh còn hai cậu một dì Hiệp hôn giá thú em sợ trùng không nên

Bên nội còn ba chú, bốn bác không cô (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 263)

Anh còn bốn chị gái em trai 230. Cọp mà vật mấy ông thầy địa

Năm nay anh hai mốt tuổi tốt tợ như rồng Yêu mà nhai mấy chú coi ngày

Anh chưa có nơi gá nghĩa vợ chồng. Trớ trêu họ khéo đặt bày

Nhà anh tán đá chẳng phải tán dầu. Bớ anh ơi,

Bấy lâu anh nhung nhớ anh mới tìm đến em. Đôi ta thương nhau thiệt, ông trời định đôi.

(VHDG An Giang – tr. 217) (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 263)

PL11

52. Ông mai chân thấp chân cao 231. Cọp mà vật mấy ông thầy địa

Muốn ăn thịt mỡ nói vào nói ra Voi mà giày mấy gã coi ngày

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.138) Trớ trêu họ khéo đặt bày

53. – Anh ơi xê ra đừng đứng một bên Đôi ta thương nhau thiệt, lẽ nào trời không định đôi.

Em có chồng, anh có vợ, không nên đứng gần (VHDG Bến Tre – tr. 302)

– Tuổi em mười chín tuổi Dần 232. – Dần, Thân, Tỵ, Hợi tứ hành xung

Tuổi anh tuổi Tuất đứng gần can chi? Khuyên anh hãy xét lại cùng

(VHDG An Giang – tr. 70) Hiệp hôn giá thú em sợ trùng không nên.

54. Đường xa mượn áo mà đi – Cọp mà rượt mấy anh thầy địa

Miễn cho tốt tuổi quản chi xa đường Yêu mà nhai mấy chú chọn ngày

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 273) Chớ kêu họ khéo đặt bày

55. Đường xa mượn ngựa mà đị Mình thương nhau thật ông trời gài định thôi.

Xin cho tốt tuổi, luận chi xa đàng (VHDG An Giang – tr. 122)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 104) 233. Mưa lâm thâm ướt dầm lá hẹ

56. Tuổi nàng vừa chẳn đôi mươi, Anh thương một người có mẹ không cha

Tuổi anh hai mốt tốt tươi quá chừng. Mưa lâm thâm ướt dầm lá bí

Đó xa nhân ngãi đó mừng, Anh thương một người tuổi Tí ở không.

Đây xa nhân ngãi như gừng xát dao. (VHDG An Giang – tr. 162)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 411) 234. Quất ông tơ một cái “chót”

57. Tuổi nàng đã chẳn hai mươi Ông nhảy thót lên đọt bần

Tuổi anh hai mốt, tốt đôi quá chừng. Trách ông xe quanh xe quất

(VHDG Bến Tre – tr. 393) Cái tuổi Tuất với tuổi Dần sao ông không xe!

58. Bói khoa năm bóng, bảy thầy Quả năm ngăn trong lòng sơn đỏ

Tuổi anh không đặng sum vầy với em Mấy lời to nhỏ bỏ bạn sao đành

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.42) Chừng nào ông vua Trụ ăn ở hiền lành

59. Công anh bứt choại bện đăng, Ông Trương Phi mà nguội tánh, anh mới đành xa em.

Cha mẹ nói rằng xấu tuổi, em thôi (VHDG An Giang – tr. 192)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 240) 235. Anh thương em hồi áo mới may

60. Em kiếm nơi mô có tình nghĩa vợ chồng Bây giờ áo rách thay tay vá quàng.

Ơn cha nghĩa mẹ đạo chồng em theo. Màn treo sát đất gió phất màn lem

(VHDG An Giang – tr. 137) Anh không đặng tuổi nên em không gần

(VHDG Sóc Trăng – tr. 635)

PL12

61. Xê ra đứng đứng một bên, 236. Chẳng thà em lấy chồng khờ, chồng dại

Thủy hỏa xung khắc không nên đứng gần. Lo kinh thương mãi mại

Tuổi anh mười chín tuổi dần Tính công nghệ nông tang

Tuổi em tuổi tuất đứng gần can chi. Không ham nơi nhiều bạc lắm vàng

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 420) Mai sau sanh chuyện điếm đàng bỏ em

62. Xấu lá gói chẳng đặng nem, – Qua đây cũng muốn kiếm một nàng

Bởi anh xấu tuổi nên em có chồng. Thạo thông đường buôn bán,

Cá xuống sông còn mến nước trên đồng. Rao cùng thôn quán mà chưa đáng chỗ nào,

Sao em lấy chồng không ở vậy chờ anh? Thiếu chi những chị má đào

Xấu lá gói chẳng đặng nem, Họ mê bài phé, bài cào, anh thất kinh.

Anh ở gần mà chậm bước nên em lấy (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 213)

237. Quế già quế lại càng tốt chồng.

Mía già mía lại càng ngon (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 420)

Anh ơi anh có thương em mà đạo nghĩa vuông tròn 63. Chim khôn lót ổ lựa nhành

Cách mấy sông em cũng lội mà mấy đò em cũng đưa. Gái khôn lựa chốn trai lành gửi thân (VHDG Sóc Trăng – tr. 633) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 221) 238. Ở sao trung hiếu đạo đồng 64. Quốc kêu khắc khoải mùa hè Làm sao cũng kết vợ chồng với anh. Làm than con gái lấy chồng xuất gia (VHDG Sóc Trăng – tr. 652) Anh cưới thiếp về thờ kính mẹ cha 239. Chẳng tham rộng ruộng lớn vườn Thờ cha kính mẹ cho tròn đạo dâu. Ham vì nhơn ngãi, cang thường mà thôi Ánh trăng trải chiếu hai hang (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 214) Trên anh đọc sách dưới nàng quay tơ 240. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền

Quay tơ phải giữ mối tơ Anh thương em thì đừng cho bạc cho tiền

Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh. Cho nhơn, cho nghĩa, kẻo xóm giềng cười chê

(VHDG Bạc Liêu – tr. 864, 865) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 145)

65. Tìm nơi cha thảo mẹ hiền 241. Chí quân tử cửu châu lập nghiệp,

Gác lưng vô mà dựa, chớ của tiền đừng ham. Đại trượng phu từ hải đi xa

(VHDG Bến Tre – tr. 390) Thương em vì nết hiền hòa,

66. Chim khôn đừng ngại kiểng tàn Thiếu chi người thiên hạ vậy mà anh không thương.

Gái khôn đừng thấy trai cơ hàn mà xa (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 215)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 221)

PL13

67. Một vũng nước trong năm bảy dòng nước đục 242. Khó giúp nhau mới thảo

Một trăm người tục một chục người thanh Giàu tương trợ ai màng,

Biết đâu nhơn đạo hiền lành Kiếm người giữ đạo chứ điếm đàng thiếu chi.

Trao thân gửi phận mới đành dạ em (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 302)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 220) 243. Mặt trời đỏ tựa tơ đốt

68. Chữ đồng thanh tương ứng Mặt trăng tươi tốt tợ bông hường.

Chữ đồng khí tương cầu Lựa chồng lựa người chữ nghĩa văn chương,

Dầu mưa, dầu gió mặc dầu, Quang minh trí tuệ cao cường hơn em.

Kiếm nơi có nghĩa, anh hầu kết duyên (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 317)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 228) 244. Chim khôn kiếm nơi mà đậu,

69. Chim quyên đứng dựa bụi riềng Gái khôn chọn nơi nhân hậu mà nhờ,

Kiếm nơi đức hạnh trai hiền gửi thân. Đừng ham lấy công tử bột dật dờ tấm thân.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 222) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 430)

70. Con chim khôn kiếm nhành cây xanh nó đậu, 245. Trên trời có cụm mây xanh

Gái khôn kiếm trai đôn hậu làm chồng, Dưới sông dòng nước chảy quanh chân cầu

Cô bác xa dòm ngó nói phụng với rồng sánh đôi Người ta đòi ruộng đòi trâu

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 234) Còn em đòi một khay trầu mà thôi.

71. Dốc một lòng lấy chồng hay chữ (VHDG An Giang – tr. 207)

Để ra vào kinh sử mà nghe 246. Thời buổi ban đầu em bảo anh têm ba

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 246) miếng trầu anh sợ tốn.

72. Dốc một lòng lấy chồng dốt nát, Giờ em có chồng rồi anh bảo trốn theo anh.

Để ra vào rửa bát nấu cơm. (VHDG An Giang – tr. 222)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 246) 247. Têm trầu chọn những lá xanh

73. Độc bình bát giác, cắm các bông hường, Bỏ vô tráp bạc để anh đi đường.

Cha mẹ em chọn nơi rể quý, anh tầm (VHDG Bến Tre – tr. 395)

thường biết có đặng không? 248. Đi ra gặp em bán trầm, đi vô gặp em bán trầm

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 265) Thấy em đằm thắm trong dạ anh thương

74. Kẹo Mỏ Cày năm đồng một kí, Để anh về thưa lại với song đường

Đường Giồng Trôm một kí năm đồng. Trầu cau dạm hỏi cho nường lấy anh.

Em đi bán đi buôn mong kiếm một tấm chồng, (VHDG An Giang – tr. 130)

Đêm năm canh con gà gáy sáng, chốn cô phòng đỡ lẻ loi

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 300)

PL14

75. Anh thương em không phải thương bạc với tiền, 249. Đi đâu cho đổ mồ hôi

Mà thương người nhân hậu, lưu truyền kiếp sau. Chiếu trải không ngồi, trầu đãi không ăn.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 169) Đêm khuya vắng vẻ anh thỏ thẻ hỏi nàng

76. – Phụ mẫu sinh ra có một mình em là gái Tiền riêng mấy chục, vòng vàng được mấy đôi.

Dạy ăn, dạy nói, dạy lạy, dạy quỳ (VHDG An Giang – tr. 131)

Gả cho anh đây làm vợ 250. Đèn mù u khi lu khi tỏ

Anh lấy nghĩa gì anh đền ơn? Quả cau nho nhỏ để cạnh miếng trầu vàng

– Đôi đũa vàng anh dựng xuống mâm cơm Thương em phận gái hồng nhan

Mâm trầu cay, chén rượu bích Lấy chồng xa xứ gia đàng ai coi?

Anh đền ơn phụ mẫu nàng. (VHDG An Giang – tr. 134)

(VHDG Bến Tre – tr. 373) 251. Miếng trầu têm là nghĩa

77. Thương đây, đó nói một câu Miếng thuốc xỉa là tình

Mân trầu chai rượu chứ đâu đòi vàng. Thiên minh minh, địa cũng minh minh

(VHDG Bạc Liêu – tr. 869) Tuôn rơi lệ nhỏ dầm mình

78. Trầu với cau là duyên là nợ Họ hàng xa mặt, hai đứa mình đừng xa.

Còn vôi với thuốc là vợ là chồng (VHDG An Giang – tr. 168)

Vái ông tơ hồng ông se sao mà se cho chặt 252. Trầu này trầu nghĩa trầu tình

Ông đừng có se nữa chừng mà lặt vặt tình thương. Trầu loan trầu phụng trầu mình lấy ta

(VHDG Bạc Liêu – tr. 872) Trầu này têm tối hôm qua

79. Mặc ai ép liễu nài tình Giấu cha giấu mẹ đem ra cho chàng.

Phận mình là gái chữ trinh đứng đầu Trầu này không phải trầu hàng

Dầu cho mưa nắng dãi dầu Không bùa không phép sao chàng không ăn

Phận mình là gái cau trầu đẹp duyên. Hay là chê khó chê khăn

(VHDG Bến Tre – tr. 352) Xin chàng đứng lại mà ăn miếng trầu.

80. Con chim se sẻ nó đẻ nhành dâu (VHDG Bến Tre – tr. 407)

Thương không thương thì nói buổi ban đầu 253. Trầu têm ba miếng thẳng hàng

Chớ đừng làm cho lỡ rượu, lỡ trầu của anh. Bửa cau sáu cạnh đón đàng trao tay.

(VHDG An Giang – tr. 102) (VHDG Bến Tre – tr. 407)

81. Có trầu mà chẳng có cau 254. Trầu xanh cau trắng thuốc vàng

Có tình không nghĩa làm sao vuông tròn? Cơi trầu bít bạc, thiếp mời chàng ăn chung.

(VHDG An Giang – tr. 253) (VHDG Bến Tre – tr. 408)

PL15

82. Trầu nhạt thì bởi tại vôi 255. Vườn em đất tốt trồng cau

Duyên em vụng nết nhiều người gièm pha Cho anh trồng ké bụi trầu một bên.

Rượu ngon trong hũ rót ra (VHDG Bến Tre – tr. 413)

Để lâu còn nhạt nữa là duyên em. 256. Ai ăn cau cưới thì têm

(VHDG An Giang – tr. 210, 211) Tuổi em còn nhỏ chưa nên lấy chồng.

83. Anh về cuốc đất trồng cau Khối tình mang đã oằn vai

Cho em giâm ké dây trầu một bên. Anh ôi! Anh lo sao gấp ngày mai bỏ trầu

Chừng nào trầu nọ bén lên (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 126)

Cau kia ra trái lập nên cửa nhà. 257. Ăn trầu thì phải ăn cau

(VHDG An Giang – tr. 62) Anh thương em phải tính làm sao vuông

84. Con cá lý ngư sầu tư biếng lội tròn

Con chim trên cành sầu cội biếng bay (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 148)

Ai đành phụ nghĩa cùng ai 258. Em cầm trái cau vừa lau vừa róc

Để sầu ly biệt để dài ngàn năm. Em cầm lá trầu vừa rọc vừa nêm

Có ai thương nhớ đợi chờ Để vợ chồng lời thuận nghĩa êm

Anh về bên ấy để nhờ trầu cau? Chồng kêu vợ dạ mới thật là con gái khôn.

(VHDG An Giang – tr. 102, 103) (VHDG Bạc Liêu – tr. 886)

85. Miếng trầu ăn ngọt như đường 259. Đêm qua mây kéo đen đầm,

Đã ăn lấy của phải thương lấy người. Thấy hai người ấy thì thầm với nhau,

(VHDG An Giang – tr. 169) Tưởng rằng tính chuyện trầu cau,

86. Mẹ mong gả thiếp về đồng Ai ngờ vụng trộm với nhau bao giờ.

Thiếp than phận thiếp gánh gồng chưa quen. (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 384, 385)

Miếng trầu ăn ngọt như đường 260. Ơi em nho nhỏ cắt cỏ chăn trâu,

Đã ăn lấy của phải thương lấy người. Bước qua năm nữa anh bưng trầu cưới em.

(VHDG Bến Tre – tr. 348) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 353)

87. Miếng trầu em tẩm hoa nhài 261. Vì sông ta phải lụy đò

Miếng cau em bổ có mười hai đạo bùa. Vì chiều ta phải lụy cô bán hàng

(VHDG Bến Tre – tr. 348) Vì tình nên phải đa mang

88. Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng Vì duyên thiếp biết quê chàng ở đâu.

Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng? Cơi trầu đã sắp ra đây

(VHDG Bến Tre – tr. 311) Nhân duyên chưa định trầu này chưa ăn.

(VHDG Bến Tre – tr. 303)

PL16

89. Vì chưng ăn miếng trầu xanh 262. Nhà anh có rạch cái Cau,

Cho nên má đỏ tóc xanh đến giờ. Nhà nàng có rạch cái Trầu gần bên.

(VHDG Bạc Liêu – tr. 877) Cau trầu kết lại thành duyên,

90. – Trứng vịt đổ lộn trứng gà Muốn sang bên ấy lời nguyền bài phân

Thấy em má trắng anh đà muốn hôn Thương nhau đâu nệ xa gần, – Muốn hôn thì nói mẹ cha Đường bộ ông hổ, đường sông thủy thần. Mâm trầu hũ rượu về nhà anh hôn (VHDG Bến Tre – tr. 367, 368) – Em ơi anh muốn hôn một chút mà chơi 263. Hai tay bưng chén rượu nồng, Cái mâm trầu hũ rượu thì ra nơi vợ chồng Nửa say nửa tỉnh, xuống sông kêu đò. – Anh về lấy kiếng anh soi Đò ơi, bậu chớ so đo, Anh đen như mọi mà anh đòi cưới em. Qua đây rước khách, khách cho trầu vàng. (VHDG Bến Tre – tr. 384) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 407) 91. Trứng vịt đổ lộn trứng gà 264. Trầu Đồng Nai, trầu ăn nhả bã, Anh thấy gò má trắng anh đà muốn hun. Thuốc Đồng Môn, thuốc hút phà hơi. Hun em em cũng cho hun Tôi với mình gá nghĩa ăn chơi, Anh về nói với mẹ cha Không dè gá nghĩa ở đời trăm năm. Mâm trầu hũ rượu về nhà mới hun. (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 404) Em ơi anh muốn hun chơi 265. Vợ lớn của anh là gốc là rễ Mâm trầu hũ rượu là nơi vợ chồng. Còn em vợ nhỏ là ngọn là ngành (VHDG Bạc Liêu – tr. 874) Vợ lớn anh dẫu chua hơn chanh 92. Trầu xanh cau trắng cháy hồng Phụ mẫu anh đem trầu cau cưới hỏi Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên Con gái như em ngọt cách mấy Trăm năm ghi tạc chữ đồng Cũng không có giấy lộn mành cầm tay Dù ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.118) (TLST KS Ca dao Bến Tre) 266. Hai đứa mình như thể cây cau, 93. Thương tôi rượu chén trầu cơi, Anh bẹ, em bẹ nương nhau ở đời. Đến cùng phụ mẫu đền nơi sanh thành Anh đừng thấy khó đổi đổi dời, (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 396) Tiền tài phấn thổ, nhân ngỡi dời thiên kim 94. Miếng trầu miếng cau là duyên là nợ, (Ca dao dân ca Nam Bộ – trang 293) Miếng vôi miếng thuốc là vợ là chồng.

267. Chuồn chuồn đậu ngọn dưa leo, Trách ai xin con cá rô đồng,

Trông trời mau sáng mần heo cưới nàng Lân la chi đó để chồng em ghen?

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 227) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 429)

PL17

95. Con chim nho nhỏ, 268. Hồi buổi ban đầu,

Cái lông nó đỏ Em biểu anh têm ba miếng trầu cùng li rượu lạt

Cái mỏ nó vàng. Anh lắc đầu sợ tốn,

Nó đậu trước cửa tam quan, Giờ em đã có chồng, anh rủ trốn theo anh.

Nó kêu nam tắc, nữ tế. (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 409, 410) Nam quế, nữ châu, 269. Một chờ hai đợi ba trông Bớ chị Ba nhỏ ơi, xin chị đừng rầu, Bốn thương năm nhớ, bảy tám chín mong mười tìm. Vài ba hôm nữa, mâm trầu tới đây. Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 375) Thất bát sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng băng 96. Đôi ta ăn một trái cau Sông sâu cá lội mất tăm Giấu cha giấu mẹ ăn sau bóng đèn Chín tháng cũng đợi mười năm cũng chờ. (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 265) Khổ qua xanh khổ qua đắng, khổ qua rám 97. Trầu ăn nhả bã, hút thuốc phì phà, nắng khổ qua đèo Xay rồi cối lúa hai đứa dắt về nhà mới vui. Anh thương em không kể giàu nghèo (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 404) Ba năm nghĩa vụ cau trầu anh bưng qua. 98. Trầu têm đạo vợ nghĩa chồng (VHDG Sóc Trăng – tr. 624, 625) Xơi năm ba miếng thêm nồng ái ân. 270. Một miếng trầu năm ba lời dặn (VHDG Bến Tre – tr. 306) Một chén rượu năm bảy lời giao 99. Dây trầu ôm lấy thân cau Anh chớ nghe ai sóng bể ba đào Cầu cho hai đứa bên nhau trọn đời Em đây giữ niềm tiết hạnh chớ sao anh buồn. Dù cho vật đổi sao dời (VHDG Bến Tre – tr. 350) Trăm năm vẫn giữ một lời thủy chung. 271. Khổ qua xanh khổ qua trắng (VHDG Bến Tre – tr. 308) Khổ qua mắc nắng khổ qua đèo 100. Tôi trao miếng trầu thì mang câu bất hiếu, Thương nhau đâu tính giàu nghèo Vậy tôi để hàng rào, ai hiểu ý thời ăn. Gặt xong mùa lúa cau trầu đến em (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 466) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.75) 101. Cau vàng bỏ đẫy trầu nhung 272. Hai tay bưng chén rượu nồng, Hỡi người quân tử có dùng hay chăng. Nửa say nửa tỉnh, xuống sông kêu đò. (VHDG Bến Tre – tr. 307) Đò ơi, bậu chớ so đo, 102. Có trầu mà chẳng có cau Qua đây rước khách, khách cho trầu vàng. Có tình không nghĩa làm sao vuông tròn. (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 407) (VHDG Bến Tre – tr. 283)

PL18

103. Ơi em nho nhỏ, cắt cỏ giữ trâu, 273. Muối ba năm muối vẫn còn mặn

Bước qua năm nữa, anh bưng trầu cưới em. Gừng sáu tháng gừng vẫn còn cay

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 446) Anh với em phải vợ phải chồng

104. Trầu vàng ăn với cau xanh, Em ưng anh đại đừng có đèo bồng giàu sang.

Thương anh cho đến tóc xanh bạc đầu. Con chim nho nhỏ

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 469) Nó đậu ngay đám cỏ

105. – Đi đâu cho đổ mồ hôi Nó kêu bớ cô Hai nhỏ đừng có rầu

Chiếu trải không ngồi, trầu để không ăn. Không mai thì mốt mâm trầu tới cô.

– Mẹ em hằng vẫn khuyên răn (VHDG Sóc Trăng – tr. 653)

Làm thân con gái chớ ăn trầu người. 274. Anh ở gần sao anh chậm trễ, phụ

(VHDG Bến Tre – tr. 319) mẫu em nhận lễ sơ giao

106. – Em ra ngoài đồng em hò em hát Mâm trầu khiên, tỉnh rượu gánh, em biết

Về nhà ba má đánh em nát đòn làm sao thối hồi

Trai nam nhân anh đứng đó mà để cho gái Đời văn minh bó buộc, em về lập cuộc hồi chồng

hồng nhan chịu đòn hay sao Đồ nữ trang em xin trả hết, bạc một đồng em trả hai.

– Ba má đánh em, anh đứng hàng rào (TLST KS Ca dao Bến Tre)

Trầu cau chưa có, anh đâu dám leo vào thế em. 275. Trèo lên đỉnh núi mà coi

(VHDG Bến Tre – tr. 324) Thấy ông quan trượng cưỡi voi che dù

107. Có trầu mà chẳng có vôi, Có che thì che dù đỏ dù xanh

Có chăn, có chiếu, không người nằm chung. Đừng che dù trắng mà anh tôi buồn

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 372) Anh buồn nhân ngãi hay buồn chuyện chi

108.Cho anh một miếng trầu vàng Anh buồn con gái đương thì

Mai sau anh trả lại nàng đôi bông. Cha mẹ thách cưới làm chi vội vàng.

(VHDG An Giang – tr. 112) (VHDG Bến Tre – tr. 408)

109. Lỡ khi ăn miếng trầu anh, 276. Cha mẹ nàng muốn ăn cá thu

Đêm lo ngày sợ, mặt xanh như chàm. Bắt anh đánh lưới tù mù tăm tăm

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 423) Cha mẹ nàng đòi lễ một trăm

110. Xin em một miếng trầu vàng Anh đi chín chục mười lăm quan ngoài

Mai sau anh trả cho nàng hoa tai Cha mẹ nàng đòi bông tai

Xin em một miếng trầu cay Anh ra thợ bạc làm hai đôi vòng

Mai sau sẽ trả hoa tai cho nàng. (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 62)

(VHDG An Giang – tr. 234)

PL19

111. Ra vườn hái quả cau xanh 277. – Anh về bán đất cây da

Bổ ra làm bốn mời anh xơi trầu Bán cặp trâu già mới cưới đặng em.

Trầu này têm những vôi tàu – Anh về bán ổ trứng gà

Ở giữa đệm quế, đôi đầu hoa chanh. Anh qua cưới hết cả nhà của em.

Trầu này trầu lộc trầu danh (VHDG An Giang – tr. 69 )

Trầu nhân trầu nghĩa trầu mình trầu ta 278. Đỉa đâu, đỉa đeo chân hạc,

Trầu này nhuộm thắm duyên ta Ác đâu ác đậu cành mai.

Trầu xanh cho đến tuổi già không phai. Phụ mẫu sanh em là út, đòi rút một cây

(VHDG Bến Tre – tr. 374, 375) kiềng huỳnh,

112. Đó có trầu lại đây anh xin một miếng Áo thủy ba dợn sóng, hỏi mình chịu không?

Đây có trầu anh làm biếng quên têm (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 262)

Anh quên têm mà anh đem cất 279. Chuồn chuồn bay thấp

Em cho miếng trầu này là đức ngãi nhân Nước ngập trong vườn

Đức ngãi nhân là đức ngãi nhân phải Nghe lời em nói lại càng thương

Anh cất đem về ông vải anh ăn. Thương em anh muốn lập vườn cưới em

(VHDG Bạc Liêu – tr. 842, 843) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 227)

113. Bèo kia ai thả mà trôi 280. Một bộ chén lớn sơn đỏ

Chim kia lẻ bạn mồ côi trên cành Một bộ chén nhỏ sơn vàng

Anh tiếc chi miếng trầu xanh Đền ơn cha mẹ để nàng vu quy.

Để em lỡ chuyến đò tình anh ơi. (VHDG Bạc Liêu – tr. 890)

Anh đâu tiếc miếng trầu xanh 281. Đôi bông của em để trong hộp thiếc

Chỉ tại chúng mình không nợ không duyên Lòng anh chí quyết cha mẹ biểu không

Em là con gái thuyền quyên Chỗ không ưng thì mẹ biểu ưng

Còn anh chỉ kiếp con thuyền lênh đênh. Mặt nhìn nhau nước mắt rưng rưng

(VHDG Bạc Liêu – tr. 827) Phải chi hồi đó ai đừng biết ai.

114. Qua về bán ruộng cây da, (VHDG An Giang – tr. 132)

Bán cả đất nhà cưới chẳng đặng em. 282. Nước ròng lộ bãi xà cừ

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 448) Mặt em có thẹo, anh trừ đôi bông.

115. Anh ở khác tổng em ở khác làng (VHDG An Giang – tr. 173)

Ưng không thời nói bữa đầu 283. Một mai thiếp có xa chàng,

Làm chi cho lỡ rượu lỡ trầu anh ra. Đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin.

(VHDG Bến Tre – tr. 185) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 431)

PL20

116. Em là con gái nhà giàu 284. Một mai thiếp có xa chàng

Mẹ cha thách cưới ra màu như sau: Đôi bông thiêp trả con chàng thiếp xin.

Cưới em trăm tấm gấm đào (VHDG Bến Tre – tr. 350)

Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời 285. Gió lao xao tàu cau nhỏng nhảnh,

Tráp tròn sắm đủ năm đôi Em thương anh rồi thọ lãnh đôi bông

Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 289)

Sắm xe tứ mã đem sang 286. Dù ai cho bạc cho vàng

Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu Chẳng bằng trông thấy mặt chàng hôm nay.

Ba trăm nón nghệ đội đầu Dù ai cho nhẫn cầm tay

Mỗi người một cái quạt Tàu thật xinh Chẳng bằng trông thấy chàng ngay bây giờ.

Anh về sắm nhiễu nghi đình (VHDG Bến Tre – tr. 306)

May chăn cho rộng ta mình đắp chung 287. Giã bàng đương đệm cho siêng,

Cưới em chín chĩnh mật ong Anh đi Châu Đốc kéo kiềng em đeo.

Mười cỗ xôi trắng, mười mâm xôi vò (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 285)

Cưới em tám vạn trâu bò 288. Người ta giàu mâm cao rượu thịt

Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm Hai đứa mình nghèo cặp vịt cũng xong

Lá đa mặt nguyệt đêm Rằm (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.74)

Răng nanh thằng Cuội, râu cằm Thiên Lôi 289. Người ta giàu, người ta đầu heo nọng thịt

Gan ruồi, mỡ muỗi cho tươi Hai đứa mình nghèo thời cặp vịt với đôi bông

Xin chàng chín chục con dơi góa chồng Chớ anh đừng biểu theo không người ta cười

Thách thế mới thỏa trong lòng (VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 139)

Chàng mà làm được thiếp thời theo chân. 290. Người ta giàu thời đầu heo nọng thịt

(VHDG An Giang – tr. 139, 140) Hai đứa mình nghèo: cặp vịt với đôi bông

117. Anh sắm trước một con heo bỏ cũi, Sách có câu: Tố phú quới hành hồ phú quới

Tố bần tiện hành hồ bần tiện

Vài lượng chuỗi đeo tay Xin cho sum hiệp mặt mày. Chớ anh đừng biểu theo không người ta cười

(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 229) Bớ anh ơi, Dẫu cho tiền tháng bạc ngày cũng lo 291. Rượu ngon trong hũ rót ra (Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh – tr. 268) Để lâu cũng nhạt nữa là duyên em.

(VHDG An Giang – tr. 194) 118. Bụi cỏ le the, bụi tre lúp xúp Em có nơi nào, anh giúp đôi bông

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 194)

PL21

292. Mưa lâm râm ướt dầm bông cúc

119.Bụi cỏ le the, bụi tre lút chút, Nghe em có chồng, anh giúp đôi bông. Cảm thương nàng áo rách vá vai.

Mưa trên trời mưa xa lác đác (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 350) 120. Thấy em có đôi bông nhận hột, cái chột bằng đồng, Rớt xuống bãi hột cát nằm nghiêng

Rượu thuyền quyên rót đãi bạn hiền Phụ mẫu em sắm hay chồng em cho? Anh ơi đừng hỏi vòng vo, Kiếp này không gặp xin nguyền kiếp sau. Phụ mẫu em sắm chớ bên chồng cho hồi nào?

(VHDG Bến Tre – tr. 351) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 380)

293. Anh gánh nước dưới đồng lên đây tưới cội, 121. Chiều chiều gọt mướp nấu canh

Tưới cọi rồi gặp hội mưa dông Chạy vô lấy chảo gặp anh trèo giàn

Bởi anh sa cơ nên em đã có chồng Thôi thôi tôi chẳng yêu chàng

Mời anh uống chén rượu nồng giải khuây. Đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin.

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 330) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.63)

294. Khế với sung, khế chua, sung chát 122. Anh câu tôm ngủ gục

Mật với gừng, mật ngọt gừng cay, Anh giết hụt con tôm càng

Đó với đây chẳng duyên thì nợ Phải chi anh vớt đặng

Đây với đó chẳng vợ cũng chồng, Anh sắm kiềng vàng cho em đeo.

Dây tơ hồng chưa xe đã mắc, (VHDG Bến Tre – tr. 261)

Rượu huỳnh tương chưa nhấp đã say. 123. Hột thủy tinh anh gìn sáng rỡ,

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 413) Để dành chờ, thuở làm nhẫn đeo tay.

295. Ai chồng ai vợ mặc ai Dù ai năn nỉ hỏi hoài,

Bao giờ ra bản ra bài mới hay Đời người biết đạo, vật này anh trao.

Bao giờ tiền đám trao tay (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 411)

Tiền cheo heo cưới mới hay vợ chồng. 124. Hột ngọc thủy tinh anh giữ gìn sáng rõ

(VHDG Bến Tre – tr. 260) Để dành chờ thợ làm nhẫn đeo tay

296. Có cưới mà chẳng có cheo Dù ai năn nỉ hỏi nài

Dẫu rằng có giết mười heo cũng hoài. Anh đợi người biết nghĩa thì của này anh trao.

(VHDG Bến Tre – tr. 289) (VHDG An Giang – tr. 147)

297.– Anh về em muốn xách gói theo liền 125. Người ta giàu đầu heo nọng thịt,

Sợ cha với mẹ nói con dâu không tiền con dâu hư. Hai đứa mình nghèo cặp vịt đôi bông.

– Em về lập đặng căn cư (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 483)

Cha mẹ nào có nói con dâu hư bao giờ.

(VHDG Bến Tre – tr. 265)

PL22

126. Bước vô nhà thấy chai rượu trắng 298. Bước lên cầu, cầu quằn cầu quại

Bước ra ngoài than vắn, thở dài Bước xuống tàu, tàu chạy tàu nghiêng

Không biết phụ mẫu em sắm để xài Vịn vai cô Bảy đùng phiền

Hay là anh đến nộp tài cho em? Tôi về xứ biển tôi kiếm tiền qua cưới em.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 197) Bước xuống sông cái

127. Tôi đi ngang qua cái nhà ngói nhỏ Tôi tự ải cho rồi

Tôi thấy hai chai rượu thuốc đỏ Sống làm chi biệt li quân tử

Để trên cái bàn tròn nhỏ Thác xuống cho rồi mà đặng hiếu trung.

Tôi bước lanh qua của ngõ mà than vắn thở dài (VHDG Bạc Liêu – tr. 828)

Em ơi! Rượu cha mua để uống 299. Bí nào ngon bằng bí Cao Lãnh,

Hay là của thiên hạ nạp tài cưới em? Đèn nào đỏ bằng đèn Nam Vang,

(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 230) Trai nào sang bằng trai Cao Lãnh,

128. Rượu nằm trong nhạo rượu lại chờ nem Gái nào bảnh bằng gái Hòa An,

Bởi anh chậm bước nên em có chồng. Anh thương em, không nệ tiền vàng,

(VHDG Bến Tre – tr. 340) Lòng anh ưng, dạ anh muốn, bạc ngàn anh cũng theo.

129. Hôm qua tắt gió đổ mưa (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 347)

Tay cầm cành ngọc tay đưa lá vàng 300. Thương nhau đừng có đắn đo

Vì cây nên lá phải vàng Thương nhau ta phải liệu lo thế nào

Vì chàng nên phải đôi đàng chàng ơi Thương nhau cuốn gói cho tròn

Tay bưng chén rượu lên cơi Chờ cha mẹ ngủ em lòn cửa sau

Tay gạt nước mắt chàng ơi thiếp về. Hai cô đứng lại cho đồng

(VHDG An Giang – tr. 149) Để anh đứng giữa làm chồng hai cô.

130. Rượu nằm trong nhạo chờ nem Ba cô đi ấy thong dong

Anh nằm phòng vắng chờ em một mình. Anh lấy cô giữa mất lòng hai cô

(VHDG Bến Tre – tr. 377) Một cô thì trắng cổ tay

131. Mạ non mà cấy đất biền Cô thì má phấn cô này răng đen

Vợ đà thấy đó anh chạy tiền không ra Anh về tạ lỗi tổ tiên

Em về thưa lại má ba Để anh bán ruộng tư điền lấy tiền cưới cả ba cô.

Cho anh cưới chịu tháng ba anh chồng tiền. (VHDG Sóc Trăng – tr. 623 )

(VHDG Bến Tre – tr. 347, 348) 301. Đêm trăng thanh anh thở vắn than dài

Vái cùng Tơ lão: trúc mai một nhà

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 123)

PL23

132. Rượu nằm trong chậu chờ nem 302. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền

Em nằm phòng vắng chờ anh đôi ngày. Anh thương em thì đừng cho bạc cho tiền

(VHDG Bạc Liêu – tr. 863) Cho nhơn, cho nghĩa, kẻo xóm giềng cười chê

133. Chiều chiều lo bảy lo ba (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 145)

Lo cau trổ muộn lo già hết duyên. 303. Bước lên cầu, cầu quằn cầu quại

Còn duyên anh cưới con heo Bước xuống đò, đò ngả, đò nghiêng

Hết duyên anh cưới con mèo cụt đuôi. Vịn vai cô em nọ đừng phiền

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 218) Để anh đi làm mướn kiếm tiền cưới em.

134. Kiếm nơi nước vãn cắm sào (VHDG Bến Tre – tr. 277)

Chừng che mẹ định nơi sao em sẽ hay. 304. Nghe em phân như dần khúc ruột,

Chừng nào tiền cưới trao tay Gần nhau chưa được, lại nói cuộc chia xa.

Tiền trao đến chỗ mới hay vợ chồng. Thế nào cũng ráng chờ qua,

(VHDG An Giang – tr. 156) Tiền lo không kịp, qua sẽ bán nhà cưới em.

135. Mạ non mà cấy đất biền Hỏi thử anh cho biết tình nhơn ngãi,

Thương em đứt ruột, không tiền phải ngó lơ. Em đâu có ngại sự đợi chờ,

(VHDG An Giang – tr. 163) Một lời hứa đạo tóc tơ,

136. Em ơi chớ vội chê nghèo, Trăm năm cũng chẳng hững hờ dạ riêng.

Anh đây đã có đôi heo trong chuồng. (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 338)

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 396) 305. Bắt ông tơ đánh sơ ít chục,

137. Sáu cô cùng đứng một hàng Mối chỉ sậm sờ, ông ngủ gục không xe.

Tui chào cô giữa mất lòng năm cô (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 180)

Phải chi tui có tiền bồ 306. Bắt ông tơ đánh sơ vài chục

Tui ra tui cưới sáu cô một lần Duyên nợ sờ sờ ông ngủ gục quên se.

Cô một cô tảo cô tần (VHDG An Giang – tr. 88)

Cô hai sắc thuốc dưỡng thân mẹ già 307. Đắng khổ qua, chua là chanh giấy

Cô ba dọn dẹp trong nhà Ngọt thứ mấy cũng tiếng cam sành

Cô bốn nấu nước bỏ trà uống chơi. Đôi ta duyên nợ không thành

Cô năm trải chiếu giăng mùng Cũng do nguyệt lão, chỉ mành se lơi.

Cô sáu nhỏ nhắn nằm chung với chàng. (VHDG An Giang – tr. 125)

(VHDG An Giang – tr. 198) 308. Ông tơ quá lão, bà nguyệt chết rồi

Còn ai đâu nữa mà xe đôi đứa mình.

(VHDG An Giang – tr. 224)

PL24

138. Hỡi ai đi xuôi về ngược

309. Quất ông tơ một cái “chót” Ông nhảy thót lên đọt bần Nếu thuận nước, thuận tình ghé chợ Ngang Dừa

Cho em thưa một chuyện Trách ông xe quanh xe quất Cái tuổi Tuất với tuổi Dần sao ông không xe! Nếu có duyên có nợ ghé chợ ăn bánh giúp em.

Anh thì chưa vợ, lại sợ hổng có duyên Quả năm ngăn trong lòng sơn đỏ Mấy lời to nhỏ bỏ bạn sao đành Ngặt trong túi không có tiền

Thuận nước nhưng chưa thuận tình Chừng nào ông vua Trụ ăn ở hiền lành Ông Trương Phi mà nguội tánh, anh mới

đành xa em. Lại sợ mình không rảnh

(VHDG An Giang – tr. 192) Ăn bánh ngồi lì e sợ ế duyên em.

310. Trách ông tơ sao không nhỏ phước cho con nhờ Hỡi cô gái bán đèn giấy hồng

Trai chông, gái đợi, nữ chờ Đèn hồng cô bán má hồng bán không

Phòng loan vắng vẻ hai đàng lỡ duyên. Má hồng phải hỏi song thân

(VHDG Bạc Liêu – tr. 872) Em đây chỉ bán cho anh đèn hồng.

311. Trách mẹ trách cha qua không trách bậu (VHDG Bạc Liêu – tr. 851)

Cha mẹ ham giàu gả bậu đi xa 139. Má ơi con má hư rồi

Trách ông tơ sao se hoài se hủy Còn đâu má gả má đòi bạc trăm.

Trách bà tơ sao se chỉ lộn vòng Bạc trăm bạc lục tam tứ lịch tính tình lại

Chỗ em không ưng thì bà muốn cửu chương

Chỗ em bằng lòng thì bà lại se rơi. Liệu bề đắc đặng thì thương

(VHDG Bạc Liêu – tr. 870, 871) Đừng rầy rà má bỏ thế thường cười chê.

312. Ông tơ xe, bà nguyệt buộc, Mạ non mà cấy đấy biền

Phải chi xe tôi là vợ ruột của mình, Vợ thời thấy đó không có tiền cưới em.

Ăn chung một mâm, ngủ chung một chiếu (VHDG Bạc Liêu – tr. 854)

thỏa nỗi tâm tình nhớ thương 140. Bước xuống cầu, cầu oằn, cầu oại,

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 352) Bước xuống tàu, tàu chạy, tàu nghiêng.

313. Chiều nay tôi lên ông tham biện, Em thương anh bóp bụng đừng phiền,

Toi kiện căn, kiện nợ, kiện vợ, kiện chồng, Đợi anh về xứ kiếm tiền cưới em.

Tôi kiện ông tơ hồng, tôi kiện bà nguyệt lão, (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 351)

Se dây rồi sao tháo lộn trở ra. 141. Bắt ông tơ oánh sơ vài chục

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 363) Duyên nợ rõ ràng mà ổng ngủ gục hông xe.

(VHDG Bến Tre – tr. 268)

PL25

142. Người ta giàu người ta nên duyên giá thú 314. Chiều nay tôi lên ông tham biện

Hai đứa mình nghèo dụ dỗ dắt đi Tôi kiện con, kiện nợ, kiện vợ, kiện chồng

Năm nay anh kẹt chữ gia bần Tôi kiện ông tơ hồng, tôi kiện bà nguyệt lão

Đồng quê hết lúa tiền nào cưới em. Se dây rồi sao lại tháo lộn trở ra.

Nước mắm ngon em còn hưởng thụ (VHDG Bến Tre – tr. 281)

Thả trái đu đủ nó nổi lững lờ 315. Chiều nay tôi lên ông quan huyện Lý

Anh thấy em con nhỏ còn khờ Tôi kiện ông tơ hồng

Muốn gá duyên chồng vợ phải chờ đôi năm. Chỗ tôi thương sao ông không vương vấn

(VHDG Bạc Liêu – tr. 859, 860) Chỗ tôi không bằng lòng sao ông lại vấn vương.

143. Trách ông tơ cùng bà nguyệt tháo (VHDG Bến Tre – tr. 290)

Đôi ta lơ láo tại bởi mai dong 316. Tơ hồng nay đã về ta

Trách ai ăn ở hai lòng Bà Nguyệt ở lại xe dây hai đứa mình

Chỗ thương không vấn, chỗ không đành em (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 169)

lại vấn vương. 317. Vái cho bà Nguyệt ông Tơ hồng

(VHDG An Giang – tr. 206) Xe đôi ta cho chắc, kết lòng mới an

144. Trách ông Tơ cùng bà Nguyệt Lão, (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 167)

Xe dây vào lại đảo dây ra 318. Chiều chiều đi ngang xóm cái,

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 37) Gió mát tận xương,

145. Công bất thành, danh bất toại nàng ơi Dây tơ hồng ai khéo vấn vương,

Đứt dây bà Nguyệt, ỷ thôi rồi tình thương. Gặp nhau một bữa mà thương cả đời.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 110) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 218)

146. Đa mang lấy mối đoạn trường 319. Ông Tơ sao khéo thày lay,

Ông Tơ bà Nguyệt dẫn đường lạc sai Khiến chi thương tưởng mặt mày của anh

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 123) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 145)

147. Duyên gì hai trẻ truân chuyên 320. Tôi vái ông tơ năm ba chầu hát

Hay là Nguyệt Lão ghét thuyền quyên anh hùng Tôi cầu nguyện lão năm bảy đêm kinh

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 143) Cho em cùng anh đây gá nghĩa chung tình

148. Đêm nằm em trách Tơ ông Dù ăn cơm quán ngủ đình em cũng cam.

Đương xe sao nỡ mở vợ chồng mới xa (VHDG Bạc Liêu – tr. 875)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 134) 321. Đố ai bứt xé cho rời

Ông tơ ổng buộc, ông trời ổng vương.

(VHDG Bến Tre – tr. 320)

PL26

149. Lạc bầy chim nhạn bơ vơ 322. Vái ông tơ năm ba chầu hát

Đôi ta không nợ ông Tơ bỏ liều Vái bà nguyệt năm bảy đêm kinh

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 123) Xuôi cho đôi lứa tôi thuận một tấm tình

150. Ngày nay Nguyệt Lão dẫn đem Dầu ăn hột muối ngủ đình em cũng ưng.

Ông Tơ buộc chặt ông Trời biểu thương (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 117)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 133) 323. Vái ông Tơ năm ba chầu hát,

151. Em đừng đem dạ trách qua Vái bà Nguyệt năm bảy cuốn kinh,

Bởi ông Tơ bà Nguyệt đôi ta chia lìa Cho đó với đây gá nghĩa chung tình,

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 134) Dẫu ăn cơm quán ngủ đình cũng ưng.

152. Trách thay Tơ Lão cơ cầu (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 473)

Không duyên sao lại buổi đầu gặp nhau 324. Vái ông tơ năm ba chầu hát

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 145) Vái bà nguyệt năm bảy cuốn kinh

153. Cũng vì trời đất khiến xui Đôi ta gá nghĩa chung tình

Nhờ ông Tơ lão mình với tui một nhà Dầu ăn cơm quán ngủ đình em cũng ưng.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 148) (VHDG Sóc Trăng – tr. 627)

154. Nguyệt lão hồi trước có xem 325. Dầu mà lao khổ cũng đánh liều

Ông tơ đã định anh với em vợ chồng. Xin ông xe sợi chỉ điều cho săng

(VHDG Bến Tre – tr. 358) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 155)

155. Nguyệt Lão ôi sao ông nỡ đành lòng 326. Hôm qua gặp gỡ giữa đàng

Làm cho đôi lứa như chỉ lộn vòng gian nan Ông Tơ bà Nguyệt khiến thiếp chàng gặp nhau

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 154) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 243)

156. Đôi lứa mình ông tơ vận, bà Nguyệt xe, 327. Bạc tình phú có tơ ông

Lương duyên túc đế, chốn phòng the giao hòa Dầu mà lao khổ, tôi không bỏ chàng.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 155) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 179)

157. Trách ông tơ sao ngủ hoài ngủ kĩ 328. Bấy lâu em Sở, anh Tề

Này bà nguyệt lão ơi se mối chỉ lộn vòng Giờ như tơ với nguyệt hai đứa về một nơi.

Xin ông tháo ra mà se lại (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 187)

Để chốn loan phòng kẻ đợi người trông 329. Bước chơn đi xuống thuyền quyên

Tôi thỉnh ông tơ năm ba chầu hát Khen thay bà Nguyệt vẽ duyên chi vầy

Tôi thỉnh bà nguyệt lão năm bảy cuốn kinh (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 171)

Làm sao cho đôi lứa hợp tình

Dầu ăn cơm quán mà ngủ đình cũng vui.

PL27

(VHDG Bến Tre – tr. 405) 330. Vái cho bà Nguyệt bắc cầu

158. Chỉ tơ quấn ống tre bông Đôi ta mới giải chữ sầu làm vui

Gá duyên không đặng xuống sông trầm mình (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 179)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 215) 331. Ra vào vò võ, ngọn cỏ phất phơ,

159. Thương em anh để kín trong lòng Nhớ anh nay đợi mai chờ

Em chưa có chồng, anh đây có vợ Bớ quan tử ôi! Đôi ta duyên nợ hững hờ

Ai biểu ông Tơ hồng mãi vấn vương? Trách thay Nguyệt lão xe tơ lạc đường

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.101) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 193)

160. Chữ tình ai bứt cho rời 332. Nguyệt lão ôi sao ông đành dạ đành lòng

Tơ hồng đã định, đổi dời đặng lâu Đôi đứa tôi như sợi chỉ lộn vòng

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 229) Ông không xe lại kẻo lòng nhớ thương

161. Đem lòng xa lánh sao đành, (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 243)

Chẳng duyên tơ tóc cũng tình ngãi nhơn 333. Em vái ông Tơ vài ve rượu thiệt

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 251) Càu bà Nguyệt năm bảy con gà

162. Đố ai sinh cái cái tháng, Xuôi cho đôi lứa hiệp hòa

Ai táng cái ngày? Bớ anh ôi,

Ai biểu anh nhớ, ai bày anh thương? Rồi sau em trả lễ đặng mà đền ơn

Ông trời sanh cái tháng, (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 268)

Ông trạng táng cái ngày, 334. Một trăm năm, một trăm cái tết

Ông tơ biểu nhớ, bà nguyệt bày biểu thương. Nếu không kết đặng duyên hài

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 264) Nằm lăng xuống đất lạy hoài ông tơ

163. Ông tơ nói nhỏ anh nghe, (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 356)

Để xong mùa cấy, ông sẽ xe anh với nàng. 335. Anh với em gá nghĩa cang thường,

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 352) Nhờ ông tơ bà nguyệt chỉ đường xuống lên.

164. Lời nguyền chứng có ông tơ hồng, (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 330)

Thác thời mới dứt, sống không bỏ chàng. 336. Căn duyên này phá cho rồi,

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 312) Ông tơ biểu buộc, ông trời biểu không,

165. Ông tơ xe, bà nguyệt buộc, Phải gặp ông tơ hỏi sơ cho biết,

Phải chi xe tôi là vợ ruột của mình, Gặp bà nguyêt hỏi thiệt cho rành,

Ăn chung một mâm, ngủ chung một chiếu Vì đâu hoa nọ lìa cành,

thỏa nỗi tâm tình, bớt thương. Nợ duyên sớm đứt, cho đành dạ em.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 352) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 356)

PL28

166. Bâng khuâng bát ngát câu hát hữu tình 337. Phải gặp ông Tơ hỏi sơ cho biết,

Căn duyên tiền định, hai đứa mình gặp nhau. Phải gặp bà Nguyệt gạn thiệt cho rành,

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 182) Vì đâu hoa nọ lìa nhành,

167. Bồn hư cỏ mọc thêm hoài Nợ duyên sao sớm dứt, chẳng đành dạ em?

Gá duyên không đặng, giận hoài ông tơ (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 447)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 191) 338. Hai đứa mình đứng xích một bên

168. Ông tơ đành vấn, bà nguyệt đành vương, Ông tơ se quyết mới nên can trường.

Phụ mẫu đành gả, hỏi nàng thương không nàng? (VHDG Sóc Trăng – tr. 617 )

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 356) 339. Đèo nào cao bằng đèn Ba Giác

169. Năm thìn trời bão thình lình, Gái nào bạc bằng gái đất Giồng

Kẻ trôi người nổi, hai đứa mình còn đây, Thấy ai làm lễ tơ hồng

Tơ hồng nay đã về tây, Đi theo tiếng gọi quên chồng bỏ con.

Bà nguyệt ở lại xe dây hai đứa mình. (VHDG Sóc Trăng – tr. 627)

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 436) 340. Thương rồi giả bộ ngó lơ

170. Bãi cỏ lau khô sầu ai rã rượi, Mai sao đừng trách ông Tơ bạc tình

Thỏ núp lùm chờ đợi bóng trăng. (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.77)

Bãi dài cát nhỏ tăm tăm, 341. Tôi vái ông Tơ năm ba nải chuối

Phải duyên tiền định ngàn năm cũng chờ. Tôi vái bà Nguyệt năm bảy thẻ đường

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 179) Cho hai đứa tôi gá nghĩa can thường

171. Chữ tình ai bứt cho rời Dầu ăn cơm quán, ngủ đình tôi cũng ưng

Tơ hồng đã định, đổi dời đặng lâu (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.78)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 229) 342. Con mèo trèo lên cây gáo

172. Ông tơ hồng mắc kẹt bụi tre Mẹ chồng ác đức mắng chửi nàng dâu

Hai đứa mình lại gỡ đặng mai ông se liền Mẹ ơi, con không sợ mẹ đâu

Biểu ông tơ bóp bụng chịu phiền Mẹ đừng kiếm chuyện đổ đầu con dâu

Xe người má phấn mặt chữ điền cho tôi. Mẹ cưới con có rượu có trầu

(VHDG Sóc Trăng – tr. 636) Kẻ đưa người rước con dâu mới về

173. Ông tơ hồng, bà nguyệt lão về tây Về đâu có phải về không

Còn ai ở lại xe dây hai đứa mình Về có cặp gối, đôi bông, cây kiềng

Tiếc công tôi súc ông lau bình Con dâu mẹ đáng vạn tiền

Cậy mai tới nói phụ mẫu cùng bà con. Phải đâu cái thứ vô duyên lỡ làng.

(VHDG Sóc Trăng – tr. 636) (VHDG An Giang – tr. 245 )

PL29

174. Ngó lên cồn Lác, ngó xuống cồn Bàng 343. Gái xóm này biết cày biết cấy

Anh thương em ruột thắt gan vàng Ghe nước chảy gánh lúa giữa đồng

Biết ông Tơ, bà Nguyệt sẵn sàng xe duyên Trai thanh niên chữ nghĩa không thông

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.67) Cuốc cày chẳng hiểu đừng hòng nên duyên.

175. Chợ Sài Gòn ham mua, ham bán Phải lứa phải đôi thì ừ cho đặng

Chợ Vĩnh Long lập quán cầu hiền Đừng làm mặt bảnh lắm tiếng đèo bồng

Gặp ông Tơ lột nón xá liền Bốn mùa gió hạ thu đông

Biểu chỉ dùm chỗ khác, nơi có chồng rồi sao ổng se Ngày qua tháng lại ế chồng bậu ơi.

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.86) (VHDG Sóc Trăng – trang 655)

176. Con mèo trèo lên cây táo

Mẹ chồng láu kháu đánh chửi nàng dâu

Bà ơi tui không sợ bà đâu

Hồi nào bà cưới bà xin tui về

Bây giờ bà nhúng bà trề

Sai con bà đuổi tui về xứ tui

Tui đòi cặp áo đôi hồng

Hai họ đừng phiền đưa tui qua sông.

(VHDG Bạc Liêu – tr. 884)

177. Anh rằng, anh tưởng anh thương

Xin anh mau kíp lo lường sính nghi

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 168)

Tổng câu: 343 câu

PL30

PHỤ LỤC 2

CA DAO NAM BỘ PHẢN ÁNH PHONG TỤC TANG MA

CA DAO – XUẤT XỨ CA DAO – XUẤT XỨ

1. Bấy lâu chàng đợi, thiếp trông 60. Nước Cửu Long sóng dồn cuồn cuộn,

Bây giờ chàng hỏi thiếp nói không sao đành Cửa Hàm Luông mây cuốn cánh buồm xuôi.

Mình nghiêng tai tôi nói nhỏ cho rành Bậu với qua hai mặt một lời,

Theo mình có thác cũng đành dạ tôi Trên có trời, dưới có đất,

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 187) Ngãi trăm năm vương vất sợi tơ mành.

2. Dầu là bữa đói bữa no Tử sanh, sanh tử chung tình,

Thác thời một chỗ, sống cho trọn niềm Dầu ai ngăn đón, tôi với mình cứ thương.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 245) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 345)

3. Anh thác rồi đặng chữ hiển vinh, 61. Xa cây xa cội chẳng vội xa cành

Để em ở lại linh đinh một mình. Thác vong cam chịu, sống không đành xa anh

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 424) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 419)

4. Dốc lòng trả nợ áo cơm, 62. Chết đi thôi bớ vợ chồng đời

Sống cho trọn thảo, thác thơm nhân hiền. Sông sâu anh không dọ để giữa vời hạt châu

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 486) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 429)

5. Chiều nay em ra sông Cái, 63.Tay cắt tay sao nỡ,

Em tự ải cho rồi, Ruột cắt ruột sao đành.

Sống làm chi biệt ly quân tử, Lời anh thề nước biếc non xanh,

Thác cho rồi đặng chữ hiếu trung Theo anh cho trọn, tử sanh tại trời.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 220) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 373)

6. Lời thề hai mái tóc xanh 64. Còn cha gót đỏ như son

Theo nhau cho trọn, tử sanh cũng liều Đến khi cha thác gót son đen sì

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 312) Còn cha nhiều kẻ yêu vì

7. Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược Đến khi cha thác ai thì thương con

Ngước chảy ngược, con cá vượt lội xuôi (VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 180)

Anh với em xa cách ngậm ngùi 65. Bước lên phòng vắng thấy bốn cây

Mong cho gặp mặt xác vùi cũng ưng phương trường

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 345) Thương em đến đỗi quên đường tử sanh

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 83)

PL31

8. Trăm năm giữ vẹn chữ tòng 66. Chiều nay em ra sông tự ải cho rồi

Sống so thác vậy một chồng mà thôi Sống mà chi biệt ly quân tử

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 453) Thác cho rồi đặng chữ thủy chung.

9. Trăm năm nhân ngãi vẹn toàn, (VHDG Bến Tre – tr. 280)

Tử sanh tạc dạ đá vàng nào phai 67. Theo em dầu thác cũng đành

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 453) Đấng nam nhi úy tử sao thành nghĩa nhơn

10. Cùng nhau cho trọn đạo ba (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 139)

Thà là lìa thác, chẳng thà lìa sinh 68. Ai mà lòng một dạ hai

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 83) Thì cho thác xuống tuyền đài hôm ni

11.Tử sanh mặc kệ tử sanh (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 151)

Tử sanh tại số cũng đành theo em 69. Đêm khuya nguyệt lặn sao dời,

(VHDG An Giang – tr. 80) Sống thì gửi nạc thác thời gửi xương

12. Nước chảy bon bon (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 158)

Con khỉ bồng con 70. Sự vong vì bởi sự tồn

Lên non hái trái Dầu anh có thác vong hồn còn thương

Bước qua sông cái (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 177)

Tự tử cho rồi 71. Vô duyên xấu phước qua chết trước

Sống làm chi biệt ly quân tử chung tình

Thác cho rồi đặng chữ thủy chung. Thiên hạ đồn rằng vắn số, tại tôi sầu tình

(VHDG An Giang – tr. 187, 188) thác oan

13. Chiều nay em xách cái lưỡi hái, (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 179)

Đi ra sông cái, em tự ải (tự vẫn) cho rồi, 72. Ngó lên trời mây bay vần vũ,

Sống làm chi mà biệt li quân tử, Ngó xuống âm phủ đủ mặt bá quan.

Thác cho rồi, đặng chữ thủy chung. (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 333)

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 364) 73. Ngó lên trời thấy sao vần vũ

14. Em giả đò chết thử vài canh, Ngó xuống âm phủ thấy đủ bá quan

Em chết không đặng thấy ngọn đèn xanh Nghe tiếng anh than hai hàng lệ nhỏ

trên đầu Em đây có chút mẹ già biết bỏ ai nuôi.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 276) (VHDG Bạc Liêu – tr. 859)

15. Sống làm chi hai ngả cách phân 74. Đi sông đi biển còn về

Thác mà trọn tiết trọn ân cùng chàng Đường về âm phủ chẳng hề vãng lai.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 139) (VHDG Bến Tre – tr. 465)

PL32

16. – Em đố anh từ trên trời xuống mặt 75. Nước đựng trong lu bít bù còn cạn

nước mấy chục ngàn thước? Để nghĩa vợ chồng xanh đứt đoạn giữa trời

Từ mặt nước xuống âm phủ mấy chục tầm đường? Anh không coi Phạm Công – Cúc Hoa

Trong cuốn truyện Thuyết Đường, một cuốn Kẻ dương gian người đà âm phủ

bao nhiêu tờ, một tờ bao nhiêu hàng chữ? Đạo nghĩa vợ chồng vẫn giữ được thay.

Trên dương gian có mấy ông tướng dữ, mấy (VHDG Bến Tre – tr. 449)

ông tướng hiền? 76. Người ta có phần, mẹ với cha chốn

Trai nam nhân anh mà đối đặng, gái nữ dương gian còn đủ

nguyền em xin theo Em vô phần, cha âm phủ mẹ dương gian

– Từ trên trời xuống mặt nước bảy chục ngàn thước Cơm bữa đói bữa no nên bạn lang không nhìn.

Từ mặt nước xuống âm phủ ba chục tầm đường (VHDG Bến Tre – tr. 359)

Trong cuốn truyện Thuyết Đường, một cuốn 77. Hai tay nâng đỡ đèn rồng

hai mươi bốn tờ, một tờ hai mươi bốn hàng chữ Đầu đội chữ hiếu tay bồng con thơ

Trên dương gian có bảy ông tướng dữ, ba Trách ai phân tóc rẽ tơ

ông tướng hiền Kẻ đi âm phủ người chờ dương gian.

Trai nam nhân anh đà đối đặng, gái nữ (VHDG Bạc Liêu – tr. 888)

nguyền em liệu sao? 78. Sống dương trần mình tôi nổi tôi trôi

(VHDG An Giang – tr. 136, 137) Bớ anh ôi,

Âm cung có biết sánh đôi chăng là

17. – Em nghe anh hay chữ em hỏi thử đôi lời Trên trời mấy bậc, dưới âm phủ mấy vua? (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 226)

79. Ngó lên nguyệt lặn sao mờ, Dương gian mấy miếu mấy chùa? Bữa ăn mấy món, ngoài chợ bán mua mấy Bớ bạn ôi,

Sống thời gửi nạc, thác thời gửi xương. người? – Anh nghe em hỏi tức anh nói phức cho rồi (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 240)

80. Sầu căn sầu nợ mình ơi Trên trời một bậc, dưới âm phủ một vua. Dương gian một miếu một chùa.

Bữa ăn hai món, ngoài chợ bán mua hai người. Anh liều một thác, thây trôi dòng hà

(VHDG An Giang – tr. 138) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 235)

18. Anh ở ngoài vàm, anh có lòng mong đợi, 81. – Nghe anh hay chữ, em hỏi thử đôi lời

Em ở trong ngọn, em có dạ đợi trông, Từ mặt nước lên trời mấy trăm ngàn thước?

Dương gian, âm phủ cũng cộng đồng, Từ mặt nước đo xuống âm phủ, mấy trăm

Sống sao thác vậy, anh vẫn giữ một lòng với em. dặm đường?

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 334) Em kể chuyện từ đời Tống đến đời Đường,

PL33

19. Ngó lên trời thấy mây vần vũ Ông vua Đường có cuốn sách Minh Tâm,

Ngó xuống âm phủ thấy đủ mặt bá quan Một cuốn có mấy chục tờ,

Ngó về Nam Vang thấy bốn chữ quết vàng Một tờ có mấy chục chữ,

Ngó thấu Ngọc Hoàng thấy hàng chữ đỏ Anh đừng làm trai quân tử tỏ lại em tường

Ngó về biển nhỏ thấy sóng bủa lao xao Trăm năm kết nghĩa cang (cương) thường

Anh thương em ruột thắt gan bào với anh.

Biết em có thương lại chút nào hay không? – Nghe em hỏi tức, anh đáp phứt cho rồi,

(VHDG An Giang – tr. 179) Từ mặt nước lên đến trời ba trăm ngàn thước,

20. – Thấy anh hay chữ em hỏi thử mấy lời: Từ mặt nước đo xuống âm phủ ba trăm dặm đường,

Trên trời ai làm chủ? Anh kể chuyện từ đời Tống cho đến đời Đường,

Dưới âm phủ ai làm vua? Ông vua Đường có cuốn sách Minh Tâm,

Trước đây ai lập miếu làm chùa? Một cuốn có ba trăm tờ,

Trai như anh đối đặng mà em làm mùa cho anh. Một tờ có ba trăm chữ, – Thấy em hỏi tức anh nói phức cho rồi Anh đứng làm trai quân tử tỏ lại cho em tường, Trên trời ông Ngọc Hoàng làm chủ Trăm năm gá nghĩa cang thường hay chưa? Dưới âm phủ ông Chủ Biện làm vua (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 441) Ở dương gian ông Cả, ông Xã lập miếu cất chùa 82. Anh ngó lên trời thấy mưa vần mưa vũ Trai như anh đối đặng em làm mùa cho anh không Anh ngó xuống âm phủ thấy đủ mặt bá quan (VHDG An Giang – tr. 225, 226) Anh ngó lên dương gian thì thấy ông Phật 21. Anh đau tương tư nằm trên bộ vạt, vàng có hai hàng chữ đỏ Hồn anh thất lạc, thác xuống Diêm đình. Anh ngó xuống sông nhỏ thấy sóng bỏ lao xao Diêm Vương ông hỏi sự tình, Anh thương em ruột thắt gan bào Tui lụy vì tình, tui mới thác oan. Biết em có thương lại chút nào hay không? (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 335) (VHDG Bến Tre – tr. 263) 22. Bận này bậu dứt nghĩa qua 83. Than với anh có nhật, có nguyệt, có đàn Cũng liều thác xuống Diêm La cho rồi thủy kiệt, có núi sơn lâm (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 129) Ai mà lỗi đạo tình thâm 23. Hồi nào thề thốt đêm đông Hồn về chín suối xác cầm dương gian. Sống thời một chiếu chết chung một mồ (VHDG Bến Tre – tr. 395, 396) Sống dương gian kẻ Hán người Hồ, 84. Kiếp này đã lỡ làng duyên Nơi âm cung biết đặng một mồ hay không. Kiếp sau xin đợi cửu tuyền gặp nhau. (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 132) (VHDG Bến Tre – tr. 342)

PL34

24. Dầu mà không đặng kết duyên, 85. Thương sao thấy mặt thương liền

Sống thì gửi nạc thác thì gửi xương. Dẫu cho thác xuống huỳnh tiền cũng ưng

Chốn dương trần không đặng tào khương, Nhìn anh nước mắt rưng rưng

Thác âm cung tôi chắc hai đường biệt ly Xuống lên hỏng đặng vì chưng phụ mẫu rầy.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 134) (VHDG Bến Tre – tr. 400)

25. Dạ bảo đành hai ngả phân ly, 86. Chim loan, chim én, chim phụng, chim nhàn

Thà để cho em thác xuống âm ty cho rồi Ba bốn con bay thẳng một đàn

Ngày nay duyên mãn tình rồi Bỏ con tước rũ, đậu cây liễu ủ, cây tùng đàn,

Kẻ dương gian người âm phủ qua đứng ngồi sao an Mai sau anh có thác xuống vàng,

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 150) Hồn khôn anh dật dựa bên nàng anh chơi.

26. Sống dương trần mình nổi tôi trôi (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 110)

Thác âm cung biết đặng kết đôi không mình 87. Dầu em có thác xuống suối vàng,

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 153) Oan hồn em cũng theo chàng báo oan.

27. Ngó lên nguyệt lặn sao dời (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 224)

Bớ bạn ôi, 88. Em dầu có thác xuống suối vàng

Sống thời gửi nạc, thác thời gửi xương Hồn em bận bịu, theo chàng xứng đôi.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 240) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 226)

28. Con rắn hổ mây nằm trên cây thục địa 89. Chết hai năm thịt nát thành đồng

Con ngựa nhà trời cắn lá chỉ thiêng Đầu thai chim điểu, đậu nhành tùng kêu sương

Trách lòng anh bạn đảo điên Chết tôi tôi chịu, xin đừng bận bịu bớ điệu chung tình.

Gạt em xuống chốn quỳnh tiền hại em. Con nhạn bay cao khó bắn, cá ở ao quỳnh

(VHDG Bến Tre – tr. 301) khó câu.

29. Biển Đông con tép lội tang tình (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 215)

Thấy em lam lũ một mình anh thương. 90. Đây anh không giận, đó em cũng chớ hờn

Anh đây gặp em tại chốn huỳnh tiền. Kiếp tái sinh ta sẽ nối phiếm đờn tri âm

Lời anh than chưa dứt mà nước mắt liền (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 251)

như mưa. 91. Thôi anh không giận, thì đó em cũng đừng buồn

(VHDG An Giang – tr. 75) Kiếp tái sinh ta sẽ nối phiếm đờn tri âm

30. Trách ai vội thác suối vàng (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 284)

Ngãi nhơn trôi hết thiếp chàng xa nhau 92. Thôi thôi đừng cơ ưu phiền

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 45) Kiếp này không đặng ta nguyền kiếp sau

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 384)

PL35

31. Nhà anh trai tráng (chớ) cửa ván kèo 93. Thương anh cốt rã xương mòn

nghiêng Thương anh đến thác cũng còn thương anh

Phụ mẫu anh bên lớn chức, cao quyền (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 387)

Phụ mẫu bên em nghèo khổ, biết kết nguyền 94. Bước xuống cầu, cầu quằn cầu quặt

đặng không Bước xuống ghe, ghe lắc ghe nghiêng

Đặng không anh cũng kết nguyền Lữ Phụng Tiên sánh với Điêu Thuyền

Sống dương gian gửi nạc, Kiếp này không đặng xin nguyền kiếp sau

Thác xuống huỳnh tuyền gửi xương. (VHDG An Giang – tr. 74)

(VHDG Bạc Liêu – tr. 860) 95. Anh vô duyên, xấu phước, chết trước chung tình,

32. Mình ôi ở lại bình an Anh hóa ra con nhạn bạch, đậu nhánh

Liều mình thác xuống suối vàng cho xong dương đình chờ em.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 129) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 334)

33. Sống làm chi em một ngả anh một đàng 96. Tôi với mình thề trước miễu ông

Nắm tay nhảy xuống suối vàng có đôi Sống nằm một chiếu, chết chung một mồ.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 174) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 348)

34. Anh muốn làm sao gặp mặt liền liền 97. Sống chi vầy kẻ Hán người Hồ,

Dầu anh có thác, xuống huỳnh tiền cũng vui. Một mai thác xuống chôn một mồ mới vui.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 226) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 369)

35. Ba năm xương cốt rụi tàn, 98. Tôi theo anh lập lấy cơ đồ,

Dầu ai ve bậu, chẳng màng tới ai. Để sau thác xuống mả mồ ấm cao

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 339) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 395)

36. Em chết ba năm xương rũ cốt mòn 99. Nhà lầu bốn cột một căn,

Em đầu thai lên con chim nhạn mà đậu Con loan con phụng chạm trong chạm ngoài.

nhánh mai mòn chờ anh. Của bằng pha không đóng không cài,

(VHDG Bến Tre – tr. 323) Biết nam hay nữ nằm hoài trong cung.

37. Mưa lâm râm ướt dầm bông cúc (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 340)

Cảm thương nàng áo rách vá vai. 100. Sống dương trần anh Hớn em Hồ

Mưa trên trời mưa xa lác đác Thà rằng thác đặng chung mồ với nhau.

Rớt xuống bãi hột cát nằm nghiêng (VHDG An Giang – tr. 197)

Rượu thuyền quyên rót đãi bạn hiền 101. Sống làm chi kẻ Hán, người Hồ

Kiếp này không gặp xin nguyền kiếp sau. Một mai thác xuống chôn một mồ mới vui

(VHDG Bến Tre – tr. 351) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 452)

PL36

38. Ngó lên nguyệt lặn sao rời 102. Sống dương trần anh Hớn em Hồ,

Sống thời gởi nạc, chết thời gởi xương Bớ anh ôi,

Huệ sầu vì bởi thiếu xương Em muốn làm sao đặng chung mồ với anh

Em xanh xao vì bởi nhớ thương người tình. (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 231)

(VHDG Bến Tre – tr. 358) 103. Trách trời phân rẽ tóc tơ,

39. Trăm năm cốt rụi xương tàn Kẻ thác âm phủ, người chờ dương gian!

Anh có đầu thai kiếp khác, dạ anh còn nhớ em. Chiều chiều ra mộ khóc than,

Em cũng chẳng lo cốt rụi xương tàn Cảm thương bậu phải cơ hàn nắng mưa.

Tiền nhựt em xảnh, hậu đoàn rã thây. (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 468)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 113) 104. Cò mẹ chết rũ trên cây

40. Chẳng thà anh chết một mình, Cò con giở sách coi ngày đưa tang.

Để em ở lại cắt tranh đậy mồ (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 483)

Sống làm chi kẻ Hớn, người Hồ 105. Anh chết rồi em quấn chế khăn tang

Nghiêng mình nằm xuống một mồ với anh Lo đãi đằng cô bác mà vào phòng lang khóc thầm.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 213) (VHDG Bến Tre – tr. 416)

41. Em ở với anh cực khổ quá 106. Một mai ai đứng minh sinh,

Mai sau em thác rồi đừng mả đá làm chi Ai phò giá triệu, ai rinh quan tài

Bạc đôi trăm để lại cho ấu nhi nó nhờ. Minh sinh đã có con trai

(VHDG Bến Tre – tr. 233) Giá triệu con gái, quan tài nàng dâu.

42. Sống ở dương gian không bắt được tay chàng, (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 96)

Thác xuống âm phủ em giở nắp hàng cho anh vô. 107. Một mai bóng xế cội tùng

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 370) Mũ rơm ai đội, áo thùng ai mang.

43. – Em ở với anh mần có bạc ngàn (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 100)

Sau rủi thời em có chết trước 108. Ba năm xương rụi cốt tàn

Chớ anh chôn em bằng hàn hay bó mo Dầu ai ve bậu, bậu làm bậu ăn.

– Em chết rồi anh có lòng lo (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 178)

Mua hàn quán xứng đáng chứ bó mo anh 109. Thôi thôi đã lỡ nước cờ,

không có đành. Có thương xin hãy đợi chờ kiếp sau.

(VHDG Bến Tre – tr. 437) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 384)

44. Anh sống dương gian 110. Biết mấy năm qua tấm hình cũ em vẫn thờ,

Anh làm ra có bạc ngàn Lòng em thương ai biết, dạ em chờ ai hay?

Hôm nay anh chết sớm (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 190)

PL37

Em sắm cái hòm huỳnh đàn 111. Thôi thôi đừng có ưu phiền,

Chạm đủ bốn con Kiếp này không gặp để nguyền kiếp sau.

Lên non xuống núi em thỉnh luôn bộ nhà vòng (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 384)

Vi mô tấn nguyệt vợ chồng từ biệt nghĩa nhân. 112. Anh ơi!

(VHDG An Giang – tr. 236) Trâu sống không ai làm cả

45. Anh ơi! Hồi anh còn sống dương gian Trâu ngả không thiếu kẻ cầm dao

chồng vợ đàng hoàng Tôi còn sống đây anh ở với tôi nhiều điều

Giờ đây anh dẫu vô phần xấu phước chẳng phải

Anh chết trước để lại một nén vàng hai ngàn Mai kia tôi có vô phần thác trước

đồng bạc Mà anh đắp cái nấm mộ cao làm gì?

Em nhắc cho anh một cái huỳnh đàn lọng – Mình ơi!

lạc, rước nhạc Gò Công, đạo tỳ Gò Cát. Sách có câu phu xướng phụ tùy

Lúc động quan kẻ hát người hò, rước học So hơn tính thiệt ích gì gia cang

trò đọc văn tế cho mình Hai đứa mình sống ở dương gian, làm có

Ngày bữa nay con trai thứ hai phò đầu xăng giá triệu bạc ngàn

Thằng con thứ ba phò cây đàn cò chỉ sợ dây Nếu mai kia mình có vô phần thác trước

dừng kêu tì, ti, tí, tỉ Để lại cho anh một nén vàng, hai ngàn đồng bạc

Sợi dây thẳng kêu hò cống, xê, xang Đây anh tưởng tình chồng nghĩa vợ

Ngày mai tâm can rời ra, hai ngả biệt ly Anh ra ngoài chợ

Phu lìa thê, tợ chim kia chích cánh Nhắc một cái hàng

Thê lìa phu liễu nọ lìa cành Sơn son thiếp vàng

Ngày kia chôn anh đã ra rành rành Có cung có bán

Trở về nhà nghe tiếng trống cơm kêu bùm Anh quàn xác em chín tháng

bum ruột rung từng đoạn Có rước thầy nhưng bông tụng táu

Em muốn thác theo chàng hai mạng nằm chung. Có thỉnh ông hòa thượng phá quàn

Em ơi anh chết năm rán sống dậy một giờ Anh mướn nhà vàng khoái lạc

Để xem người nghĩa phụng thờ ra sao? Mướn nhạc Gò Công

Em thờ anh đóng ghế cho cao, Mướn dân Gò Cát

Ly hương để giữa hai đèn thau để bìa Đem về anh tống táng cho nàng

Em ơi, ba năm tang chết mãn rồi Khi động quan tài:

Đầu dơ sao em không gội vòng vàng đeo vô! Ở trong có nhạc

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr. 192,193) Ở ngoài có cây đờn cò chỉ

PL38

46. Chim có đôi có bạn, Nó kêu tăng tăng tỉ tỉ

Kìa hãy xem cặp nhạn mà làm gương, Sanh kí tử qui

Đứng làm người trong đạo tào khương Có một sợi dây nó kêu rằng:

Thủy chung như nhứt, giữ đường ngãi nhân Hò xư xang, ôi! Tam cang rời rã

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 221) Phía trước hàng có hai anh học trò lễ

47. Ví dầu chẳng đặng làm đôi, Ảnh xướng đọc văn tế rằng:

Kiếp sau ta sẽ làm sui một nhà. Phu lìa thê như chim kia chích cánh

Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 416) Thê lìa phu như nhạn nọ lạc bầy

48. Đạo nào bằng đạo phu thê, Khi phát hành ra đi

Tay ấp má kề sinh tử có nhau Tay anh bợ đòn rồng

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 435) Tay anh nưng giá kiệu

49. Sông sâu sào vắn khó dò Anh lóng tai nghe tiếng trống cơm

Kia kìa con tạo đưa đò âm cung Nó vỗ kêu bịch bịch bùng bùng

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 500) Úy trời đất ôi!

50. Bậu để chế cho ai, xé hai, anh nửa Ruột anh đau từng đoạn

Bậu để chế cho chồng châm lửa đốt đi. Anh muốn thác theo nàng

(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 218–219)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 183) Cho đôi bạn nằm chung

51. Để chế cho ai, xé hai anh phân nửa,

113. Sáng mai tôi đi chợ Gò Vấp, Để chế cho chồng, chất lửa đốt đi.

Tôi mua một trái bắp, (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 255)

Chân tôi đi, tay tôi lột, 52. Bậu để chế cho ai, xé hai, anh nửa,

Miệng tôi cạp, hàm tôi nhai. Bậu để chế cho chồng, châm lửa đốt đi.

Tôi lắng nghe hai đứa nhỏ nó nói: (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 343)

Còn tang bà nội, tội lắm anh ơi, 53. Bậu để chế cho ai tóc mây rành rạnh

Chờ cho tang hết đứng ngồi mới yên. Bậu để chế cho chồng hiếu hạnh bậu đâu.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 365) (VHDG Bến Tre – tr. 275)

114. Râu dài để chế cho cha 54. Em để chế cho ai mà tóc mai rành rạnh

Tóc dài theo lệ ông bà ngày xưa. Em để chế cho cha mẹ chồng hiếu hạnh của em

(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 176) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 275)

115. Bắt lấy tay em anh không sợ tội 55. Nàng dâu để chế mẹ chồng,

Ngó lên trên đầu còn đội tang cha Đôi bông hột lựu, đôi vòng sáng trưng.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 86) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 467)

PL39

56. Ba năm tang chế mãn nguyền, 116. Bậu để chế cho ai tóc mai vòng bạch

Đầu dơ em gội, chuỗi chuyền em đeo. Bậu để chế cho chồng đức hạnh bậu đâu.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 475) (VHDG An Giang – tr. 87)

57. Em đưa khăn trắng anh gắn hai chữ đồng 117. Bậu để chế mẹ cha xé hai anh phân nửa

Mai sau anh chết trước em lén chồng để tang. Bậu để chế cho chồng thì chất lửa đổ đi.

(VHDG Bến Tre – tr. 325) (VHDG An Giang – tr. 126)

58. Tưởng là khăn trắng em để tang 118. Hai đứa mình trai gái bụi tre gai

Dè đâu khăn trắng sửa sang lấy chồng. Anh năn năn nỉ nỉ, ỉ ỉ ôi ôi

(VHDG Bến Tre – tr. 394) Còn tang bà nội tội lắm anh ơi

59. Em đội khăn lông trắng, em gắn hai chữ Hết tang bà nội em sẽ đứng ngồi với anh.

tam tòng, (VHDG An Giang – tr. 152)

Mai sau anh có chết, em lén chồng để tang. 119. Mưa lâm râm ướt dầm lá khế.

Anh đội khăn rằn trắng, anh gắn chữ huỳnh Hỏi bạn rồi để chế cho ai.

Mai sau em lưu lạc, anh nhìn cái khăn Để khế mẹ cha xé hai cho mình một nửa

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 276) Để khế người tình thổi lửa đốt đi.

(VHDG An Giang – tr. 166)

120. Em vô phần vô phước

Anh chết trước, em đem chôn nhằm giọt

nước chảy quanh

Em cầm quạt Tàu em quạt, ráo mồ anh em

mới lấy chồng.

(TLST KS Ca dao Bến Tre)

121. Sống dương trần tôi mần cù bơ cù bất

Thác đi rồi anh chôn mã đất không có đắp

cái lề

Anh sẵn lòng lo mua hàn huỳnh chín chục

mà có chạm mặt trăng hai đầu?

(TLST KS Ca dao Bến Tre)

Tổng câu: 121 câu

PL40

PHỤ LỤC 3

CA DAO NAM BỘ PHẢN ÁNH PHONG TỤC THỜ CÚNG ĐA THẦN

CA DAO – XUẤT XỨ CA DAO – XUẤT XỨ

1. Nắm tóc ngôi, tóc ngôi dài 174. Nghe chàng phân thiệt dạ em nguôi

Nắm tóc mai, tóc mai cụt Vái cùng trời đất, khiến xui cang trường

Cầu trời khấn bụt cho tóc mai dài (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 179)

Bao giờ tóc chấm ngang vai 175. Ba bốn năm trời em trải tuyết nằm sương

Thì ta kết nghĩa làm hai vợ chồng. Cầu trời khẩn phật, đạo tào khương vợ chồng

(VHDG An Giang – tr. 179) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 180)

2. Ăn chay một thắng ba giạ muối trường 176. Ngó lên trời thấy mây vần vũ

Vái trời vái phật ra đường gặp em. Ngó xuống âm phủ thấy đủ mặt bá quan

(VHDG An Giang – tr. 66) Ngó về Nam Vang thấy bốn chữ quết vàng

3. Anh thương em thương dại thương dột Ngó thấu Ngọc Hoàng thấy hàng chữ đỏ

Thương lột da óc, thương tróc da đầu Ngó về biển nhỏ thấy sóng bủa lao xao

Ngủ đi thì nhớ, thức dậy thì thương Anh thương em ruột thắt gan bào

Giục ngựa buông cương lên đường thượng lộ Biết em có thương lại chút nào hay không?

Vái trời vái Phật phù hộ gặp em. (VHDG An Giang – tr. 179)

(VHDG An Giang – tr. 67) 177. Anh ngó lên trời thấy mưa vần mưa vũ

4. Đường trơn trượt em còn lặn lội Anh ngó xuống âm phủ thấy đủ mặt bá quan

Vái Phật trời cho tương hội sum vầy Anh ngó lên dương gian thì thấy ông Phật

Cực khổ bao nhiêu em cũng chịu vàng có hai hàng chữ đỏ

Miễn loan với phụng hợp bầy thì thôi. Anh ngó xuống sông nhỏ thấy sóng bỏ lao xao

(VHDG Bến Tre – tr. 322) Anh thương em ruột thắt gan bào

5. Lên non khấn vái Phật trời Biết em có thương lại chút nào hay không?

Cầu mong cha mẹ sống đời với con (VHDG Bến Tre – tr. 263)

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.143) 178. Trển xuống đây cách ba ngàn thước

6. Trước sau chứng có Phật Trời Trời mưa đất ướt, dẫu lần từng bước em

Ai mà ở bạc vậy thời mặt ai cũng ráng lòng

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 131) Dù khổ đau bao nhiêu em cũng chịu, mà sao

7. – Thấy anh hay chữ em hỏi thử mấy lời: chốn loan phòng lẻ loi?

Trên trời ai làm chủ? (VHDG An Giang – tr. 213)

Dưới âm phủ ai làm vua?

PL41

Trước đây ai lập miếu làm chùa? 179. – Nghe anh hay chữ, em hỏi thử đôi lời

Trai như anh đối đặng mà em làm mùa cho anh. Từ mặt nước lên trời mấy trăm ngàn thước?

– Thấy em hỏi tức anh nói phức cho rồi Từ mặt nước đo xuống âm phủ, mấy trăm

Trên trời ông Ngọc Hoàng làm chủ dặm đường?

Dưới âm phủ ông Chủ Biện làm vua Em kể chuyện từ đời Tống đến đời Đường,

Ở dương gian ông Cả, ông Xã lập miếu cất chùa Ông vua Đường có cuốn sách Minh Tâm,

Trai như anh đối đặng em làm mùa cho anh không Một cuốn có mấy chục tờ,

(VHDG An Giang – tr. 225, 226) Một tờ có mấy chục chữ,

8. – Em nghe anh hay chữ em hỏi thử đôi lời Anh đừng làm trai quân tử tỏ lại em tường

Trên trời mấy bậc, dưới âm phủ mấy vua? Trăm năm kết nghĩa cang (cương) thường

Dương gian mấy miếu mấy chùa? với anh.

Bữa ăn mấy món, ngoài chợ bán mua mấy người? – Nghe em hỏi tức, anh đáp phứt cho rồi,

– Anh nghe em hỏi tức anh nói phức cho rồi Từ mặt nước lên đến trời ba trăm ngàn thước,

Trên trời một bậc, dưới âm phủ một vua. Từ mặt nước đo xuống âm phủ ba trăm dặm đường,

Dương gian một miếu một chùa. Anh kể chuyện từ đời Tống cho đến đời Đường,

Bữa ăn hai món, ngoài chợ bán mua hai người. Ông vua Đường có cuốn sách Minh Tâm,

(VHDG An Giang – tr. 138) Một cuốn có ba trăm tờ,

9. Thiên sinh nhơn hà nhơn vô lộc Một tờ có ba trăm chữ,

Địa sinh thảo hà thảo vô căn Anh đứng làm trai quân tử tỏ lại cho em tường,

Trời sinh ra người đều có lộc trời Trăm năm gá nghĩa cang thường hay chưa?

Đất thì sinh cỏ rễ chồi nào không (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 441)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 69) 180. Em đố anh từ trên trời xuống mặt nước

10. Giữ từng tấc đất bãi bồi mấy chục ngàn thước?

Khác nào của báu ông trời đền cho Từ mặt nước xuống âm phủ mấy chục tầm đường?

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.134)

Trong cuốn truyện Thuyết Đường, một cuốn bao nhiêu tờ, một tờ bao nhiêu hàng chữ? 11. Ai ai cũng ở trong trời

Phần ai nấy hưởng ngạo đời làm chi? Trên dương gian có mấy ông tướng dữ, mấy ông tướng hiền? (VHDG An Giang – tr. 275)

12. Chim trời thì hưởng lộc trời

Ăn chi của bạn nghe lời đắng cay. Trai nam nhân anh mà đối đặng, gái nữ nguyền em xin theo – Từ trên trời xuống mặt nước bảy chục

(VHDG An Giang – tr. 279)

ngàn thước Từ mặt nước xuống âm phủ ba chục tầm đường

PL42

13. Ở hiền thời lại gặp lành

Trong cuốn truyện Thuyết Đường, một cuốn hai mươi bốn tờ, một tờ hai mươi bốn hàng chữ Những người nhân đức trời dành phúc cho.

(VHDG Bạc Liêu – tr. 895) Trên dương gian có bảy ông tướng dữ, ba ông tướng hiền 14. Đừng nên trông đợi ở trời

Hãy tin vào sức con người lớn lao. Trai nam nhân anh đà đối đặng, gái nữ nguyền em liệu sao? (VHDG An Giang – tr. 283) (VHDG An Giang – tr. 136, 137)

15. Chữ rằng: Phú quý tại thiên 181. Thiện ác đáo đầu chung hữu báo

Giàu sang tại số hiển nhiên tại trời Cao phi, viễn tẩu giả nan tàng

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 89) Anh thương em có chứng mặt trời vàng

16. Nghĩ sao mà lụy tuôn rơi Chừng nào anh ở bạc cho tôm càng cắn anh

Thắp nhang mà vái ông trời định phân (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.77)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 100) 182. Lên Sài Gòn phải qua cầu Mĩ Thuận

17. Trời cao đất thấp Có thương không sao em lựng bựng không

Anh dện tam cấp chịu trả lời

Anh lập cửu trùng đài Năm đợi năm, tháng đợi tháng, anh hỏi ông

Vận hư trời xui khiến trời ổng làm thinh

Anh lập hoài cũng hư (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.99)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 110) 183. Trời vần vũ, mây giăng tứ phía

18. Ai ơi muốn hưởng lộc trời Đất biển đông sóng gợn tứ bề

Trước thờ cha mẹ, sau là vợ con. Làm sao nên nghĩa phu thê

(VHDG Bạc Liêu – tr. 879) Đó chồng đây vợ, ra về có đôi!

19. Mần cực khổ anh đừng than, (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.104)

Chừng trời đất ngó lại giàu sang mấy hồi. 184. Đưa tay phân chứng với trời

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 494) Người này gá nghĩa ở đời với tôi

20. Bắc thang lên hỏi ông trời Nước ròng sông Hậu chảy xuôi

Mấy thằng ác đức sống đời được không Trời đà xây định mình với tôi vợ chồng.

Ông trời ổng bảo rằng không (VHDG An Giang – tr. 129)

Mấy thằng ác đức thì không sống đời. 185. Ngó lên trời thấy sao giăng tứ diện

(VHDG An Giang – tr. 277) Ngó ra ngoài biển thấy biển rộng tứ bề

21. Thế gian lắm kẻ mơ màng Em thề một mái tóc xanh

Thấy hòn son thắm ngỡ vàng trời cho. Em không bỏ bạn mà bạn đành bỏ em

(VHDG Bạc Liêu – tr. 902) (VHDG An Giang – tr. 178)

PL43

22. Của trời trời lại lấy đi, 186. Bây giờ giấy trắng mực đen

Giương hai con mắt làm chi được đời. Em xin viết giấy làm tờ cam đoan

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 486) Em đứng giữa trời em chẳng nói gian

23. Mấy lời vàng đá phân trời Em xa người nghĩa mà ruột gan héo bầm.

Vái trên trời đất, quỉ thần chứng tri (VHDG An Giang – tr. 80)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 166) 187. Ngó lên trời trời trong lại trắng

24. Em thương anh chứng có thượng thiên Dòm xuống nước nước trắng lại trong

Cùng nhau hiệp mặt mới yên tấm lòng Nhỏ như ai chứ nhỏ như em đây

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 166) Chắc dạ bền lòng

25. Nước Cửu Long sóng dồn cuồn cuộn Lỡ duyên thì em chịu lỡ

Cửa Hàm Luông mây cuốn cánh buồm xuôi Em đóng cửa loan phòng đợi anh.

Bậu với qua hai mặt một lời (VHDG An Giang – tr. 178)

Trên có trời dưới có đất 188. Đã đành phận bạc duyên phần,

Nghĩa trăm năm vương vấn sợi tơ mành Ngân giang chia rẽ, ai kẻ Bắc Nam, Chức

Tử sanh, sanh tử chung tình nữ đau xót đành cam

Dầu ai ngăn đón, tôi với mình cứ thương Thục nữ ôi!

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.57) Số định trời vậy biết làm sao xong

26. Mình có thương nhau, mình cắt tóc (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 197)

mình thề 189. Nhạn kêu sương biển Bắc,

Chỉ trời rạch đất chớ hề bỏ nhau. Én khóc bạn trời Nam.

(VHDG Bến Tre – tr. 353) Chữ sầu em mang nặng chẳng kham

27. Ba mươi sáu cái răng đóng trăn cái lưỡi, Duyên may nợ rủi đành cam

Bớ em ôi!

Anh là người quân tử, ăn một đọi, nói một lời. Giơ tay phân chứng có trời, Tại trời khiến vậy biết làm sao đây Anh đây nhất nguyện ở đời với em. (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 199) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 339) 190. Đêm ngày than thở kêu bớ ông trời, 28. Đừng giữa trời chẳng dám nói gian Đôi ta đang nguyện trọn đời, Dẫu nghèo cũng đợi dẫu sang cũng chờ. Anh ôi! Trách ai gây cuộc đổi dời hôm nay (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 391) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 202) 29. Mình có thương chặt tóc mình thề, 191. Cây cao bóng mát không ngồi Chỉ trời vạch đất chớ hề bỏ nhau. Ra ngồi chỗ nắng, trách trời không râm (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 428) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.148)

PL44

30. Con cóc trèo trẹo kêu trời 192. Trời xui cho nên gặp bạn mình

Cúm núm gõ mõ, than trời bất công Anh đây thệ nguyện sắt đinh một thời.

Nhái bầu lặn hụp phùng mang Ai đừng bạc nghĩa ai ôi!

Cá lóc phóng tới, tôm càng thụt lui Em mà đoản hậu ông Trời phạt em

Con mèo rửa mặt bùi ngùi (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 124)

Con chó tức giận tới lui sủa hoài 193. Anh lên Bảy Núi

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.138) Anh chạy thẳng Tà Lơn

31. Chẳng qua duyên phận số phần Căn nợ keo sơn thấu đến ông trời

Căn dươn trời định chẳng gần thời thôi Trời cao đất thấp

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 137) Anh đến tam cấp lập cửu trùng đài

32. Anh chặt sao đứt, anh bứt sao rời, Thời hư khiến vậy, khiến lập hoài cũng nên.

Em ôi bởi duyên tiền định ông Trời khiến thương (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 128)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 153) 194. Giơ tay hứng giọt sương trời

33. Vắn tiếng tăm kêu chẳng thấu trời Trời hòa cho đôi ta uống, sống đời trăm năm

Hỏi thăm duyên nợ, đổi dời tại ai (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.83)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 169) 195. Đó chưa chồng, anh đây chưa vợ

34. Trời ra điềm lạ khó bàn, Chẳng qua duyên nợ vần xoay

Hay là ổng khiến tôi với nàng cách xa Tình cờ đó lại gặp đây

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 177) Trời xoay đất trở, nên đây gặp nàng

35. Nước trong khe chảy xuôi về vịnh, Một lòng nghĩa nặng, đá vàng

Trời cao đã định nước chảy vòng cung. Trăm năm đã hẹn, giữ tròn nợ duyên

Nào ai thương khó với cùng, (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.91)

Thuyền quyên lỡ lứa, anh hùng lỡ đôi. 196. Trời đem điều lạ khó bàn

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 350) Hay là trời khiến, thiếp với chàng gặp nhau

36. Anh phụ em, em tự vẫn cho rồi (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.93)

Để anh ở lại nghe lời thị phi 197. Trời năng mưa năng chuyển

Anh về em ở hai nơi Đất ngoài biển năng lở năng bồi

Cắn răng cách mặt cơ trời khó toan Đôi ta thương lỡ nhau rồi

Dằn lòng phân rẽ anh sẽ xuống thoàn Chàng than, thiếp khóc, phụ mẫu ngồi sao yên?

Thương em rớt lụy can tràng quặn đau. (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.93)

(VHDG An Giang – tr. 66)

PL45

37. Bần gie con diệc đậu chờ mồi 198. Cá lòng tong ở móng ăn rong

Thương em đứt ruột, tại ông trời ngó lơ. Anh đi lục tỉnh giáp vòng

(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 178) Tới đây trời khiến đem lòng thương em.

38. Anh về em ở hai nơi (VHDG Bến Tre – tr. 291)

Cắn răng cách mặt cơ trời khó toan 199. Bánh canh trắng, con vắn, con dài,

Dằn lòng phân rẽ anh xuống thoàn (thuyền) Bánh canh ngọt chui tọt khỏi nhai.

Thương ai rớt lụy, can tràng quặn đau. Ai kêu tui đó, dạ có tui đây.

(VHDG Sóc Trăng – tr. 618) Bốn mùa cúc nở vần xây,

39. Trời ôi, ai đánh trời gầm, Để xem trời định duyên này về đâu.

Mây mưa dứt đoạn tư bề âm can (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 340)

Cơ trời dâu bể đa đoan 200. Trồng tre lộn mặt xuống bùn

Tơ duyên vắn vỏi thiếp chàng xa nhau Trời xui đất khiến hai đứa lùn gặp nhau.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 103) (VHDG An Giang – tr. 206)

40. Con người như nước đầy vơi 201. Cớ sao thấy mặt thì thương

Nên hư cũng bởi tại trời Phải chăng trời đất vấn vương cho mình.

Trượng phu đã hứa một lời há quên. (VHDG An Giang – tr. 98)

(VHDG Sóc Trăng – tr. – 610) 202. Canh một anh thắp ngọn đèn vàng

41. Nhớ xưa lên xuống đứng ngồi Chờ người bạn cũ thở than đôi lời

Cái bờ mòn lẳng, bởi duyên trời không xe Canh hai nguyệt đổi sao dời

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.153) Tính sao nàng tính cho trọn lời thủy chung

Canh ba cờ phất trống rung 42. Cọp mà vật mấy ông thầy địa Voi mà giày mấy gã coi ngày Mặc ai ai thẳng, ai chùng mặc ai

Canh tư hạc đậu nhành mai Trớ trêu họ khéo đặt bày Đôi ta thương nhau thiệt, lẽ nào trời không định đôi.

Sương sa lác đác biết đâu mà tầm (VHDG Bến Tre – tr. 302)

Canh năm nằm giữa phòng loan 43. – Dần, Thân, Tỵ, Hợi tứ hành xung

Mỏi mòn chờ đợi con bạn vàng của anh. Khuyên anh hãy xét lại cùng

Thương làm chi mà ngày thấy mặt, tối Hiệp hôn giá thú em sợ trùng không nên.

chẳng đặng giao hòa – Cọp mà rượt mấy anh thầy địa

Phải chi trời khiến được sum họp một nhà Yêu mà nhai mấy chú chọn ngày

cho vui. Chớ kêu họ khéo đặt bày

(VHDG An Giang – tr. 110, 111) Mình thương nhau thật ông trời gài định thôi.

(VHDG An Giang – tr. 122)

PL46

44. Cớ sao thấy mặt thì thương 203. Lên rừng hóa hổ về đồng nội hóa long

Hay là trời đất vấn vương cho mình. Trời xui đất khiến hai đứa con dòng gặp nhau.

(VHDG Bến Tre – tr. 303) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 309)

45. Dậm chân xuống đất đất bằng 204. Rồng nằm kẹt đá hóa long

Trời xui trời khiến tui thấy cô đội khăn rằn Anh đi lục tỉnh giáp vòng

tui thương. Tới đây trời khiến mà đem lòng thương em.

(VHDG Bến Tre – tr. 304) Thương em tam tứ núi phải chúi vô mùng

46. Sóng bên voi bỏ vòi bên vịnh. Thất bát giang anh cũng lội

Hai đứa mình trời định đã lâu. Thập nhị đèo anh cũng theo.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 366) Chợ Kinh Xáng mới đào

47. Cây so đủa lá cũng so đủa Tàu tây mới chạy

Cây mùng tơi lá cũng mùng tơi Anh có thương em thì thương cho đại

Anh gặp em đây chẳng trao lời Đừng ngại chung tình

Em ơi thuận bườm xuôi gió mà nhờ trời tính sao. Dao phay hai ngọn một mình em bao.

(VHDG Bạc Liêu – tr. 830, 831) (VHDG Sóc Trăng – tr. 626)

48. Ngày gặp mặt em tối chẳng được giao hòa 205. Lư chung, lư chạ, lư đồng

Giá trời xui khiến ở một nhà mới vui Qua thương em bậy hơn chồng bậu thương.

(VHDG Bến Tre – tr. 363) Ông trời định chữ tào khương

49. Bấy lâu mang tiếng chịu lời; Thiếu chi thiên hạ, anh thương mình nàng.

Dẫu xa nhau chăng nữa, tại ông trời biểu xa. (VHDG An Giang – tr. 148)

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 345) 206. Bắt con cá rô bỏ trong rổ, nó nhảy rồ rồ

50. – Hai tay đeo bốn chiếc đồng, Tui thương cổ thấy mồ mà cổ hổng thương tui.

Em xin thưa thiệt: em chưa chồng, đợi anh! Bốn mùa bông cúc trổ sai

– Đó em chưa chồng, đây anh chưa vợ, Để xem trời định duyên này về ai?

Chẳng qua duyên nợ vần xoay. (VHDG An Giang – tr. 77)

Tình cờ đó lại gặp đây, 207. Cây trên rừng hóa kiểng,

Trời xoay đất trở nên đây gặp nàng. Cá dưới biển hóa long.

Quyết lòng tình nghĩa đá vàng, Anh đi lục tỉnh giáp vòng,

Trăm năm cùng bậu cho toàn nợ duyên. Tới đây trời định đem lòng thương em.

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 406) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 359)

PL47

51. Ngó lên trời có con chim hóa phụng 208. Đũa tre tốt nước nhờ sơn

Ngó xuống biển có con cá hóa long Hai đứa mình gá nghĩa nhờ ơn ông trời.

Anh đi lục tỉnh giáp vòng (VHDG Bến Tre – tr. 321)

Đến Bến Tre trời khiến động lòng thương em. 209. Bánh canh trắng, con vắn, con dài,

(VHDG Bến Tre – tr. 365) Bánh canh ngọt chui tọt khỏi nhai.

52. Màn rồng một bức giăng ngang, Ai kêu tui đó, dạ có tui đây.

Tôi với mình trời định, tam cang ngũ Bốn mùa cúc nở vần xây,

thường. Để xem trời định duyên này về đâu.

Mình về thưa lại thung đường (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 340)

Qua đây gá nghĩa cang thường với em. 210. Nước chảy liu riu

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 315) Lục bình trôi liu ríu

53. Vừa đi là gặp em đây Sở chiếu vu quy

Một là duyên Kỳ ngộ hai là trời xoay đất vần Thương làm chi ban ngày thấy mặt

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 418) Tối chẳng đặng nằm gần

54. Bâng khuâng bắt ngát, tôi nghe em hát Phải chi ông trời ổng khiến một nhà cho vui.

trữ tình (VHDG An Giang – tr. 186)

Bớ anh ơi, căn duyên ông trời định hai đứa 211. Em bước vô mùng con mắt ngó quanh,

mình gặp nhau. Nghiêng mình nằm xuống tư sanh nhớ trời.

(VHDG An Giang – tr. 88) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 394)

55. Sớm mai xách lưỡi ra rìa 212. Bắt con cá rô bỏ trong rổ, nó nhảy rồ rồ

Đốn cây bịt lại Tui thương cổ thấy mồ mà cổ hổng thương tui.

Đem về để đó Bốn mùa bông cúc trổ sai

Rước thợ mộc về Để xem trời định duyên này về ai?

Chẻ tư chẻ tám (VHDG An Giang – tr. 77)

Chẻ dọc chẻ ngang 213. Thuyền của anh đi nước xuôi

Anh bắc cái thang Thuyền của em đi nước ngược,

Hai mươi sáu tấc Làm sao em trao được đôi lời,

Bắc từ dưới đất Thuận buồm xuôi gió, nhớ trời kiếp sau.

Lên tới trên trời (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 461)

Hỏi thăm duyên nợ 214. Chẳng qua duyên nợ trời xui

Đổi dời về đâu. Dầu cha mẹ giết chết tôi cũng đành.

(VHDG An Giang – tr. 199, 200) (VHDG Sóc Trăng – tr. 632)

PL48

56. Ngọn gió đâm ngang nên chàng xa thiếp 215. Bâng khuâng bắt ngát, tôi nghe em hát

Duyên nợ tự trời ai quyết xa ai. trữ tình

(VHDG Bến Tre – tr. 358) Bớ anh ơi, căn duyên ông trời định hai đứa

57. Tới đây lạ bến đậu nhờ mình gặp nhau.

Lạy trời bớt gió cho sóng trong bờ đừng chao (VHDG An Giang – tr. 88)

(TLST KS Ca dao Bến Tre) 216. Mái chèo khi khoan khi nhặt

58. Cá lòng tong ngậm rong chờ đá Ngó lên trời vằng vặc ánh trăng

Cá dưới biển ngậm đá chờ rong Hôm nay vầy nghĩa xích thằng

Ai đi lục tỉnh giáp vòng Nghĩa tình luyến ái bởi căn duyên trời

Sao ông trời ổng khiến đem lòng thương em. Nước một nguồn khi trong khi đục

(VHDG Bạc Liêu – tr. 828) Làm con người hết nhục, đến vinh

59. Cây trên rừng hóa kiểng, con cá dưới Đôi ta nên nghĩa bố kinh

biển hóa long Thề rằng dầu có tử sinh

Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong Vợ chồng ta quyết giữ chữ tình vẹn hai.

Anh đi lục tỉnh giáp vòng (VHDG Sóc Trăng – tr. – 610, 611)

Tới đây ông trời khiến đem lòng thương em. 217. Chuyến này anh chở cát

(VHDG An Giang – tr. 114) Chuyến khác anh chở vôi

60. Mưa ướt lá sả, thương em cha chả tưởng Duyên nợ lôi thôi nay đổi mai dời

đã xa rồi Làm sao lên đặng ông trời

May đâu trời xui đất khiến mà lần hồi gặp em. Hỏi coi duyên đó đổi dời về đâu?

(VHDG An Giang – tr. 162) (VHDG An Giang – tr. 113, 114)

61. Bốn mùa bông cúc nở xây 218. Chẳng qua duyên nợ trời sanh

Để coi trời khiến duyên này về ai. Tham vì nhân nghĩa lợi danh chẳng màng

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 191) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 46)

62. Đèn chong phòng hạnh biếng xem, 219. Chẳng qua duyên nợ trời sinh

Phải chi trời định anh với em vợ chồng Nhiều nơi cao lũy cả thành vốn không

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 252) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 76)

63. Gặp lúc trăng thanh gió mắt, 220. Vị tầm vô giá bửu nan đắc hữu tình

Thú nào vui bằng thú hát huê tình, lang,

Trời xui hội ngộ, hai đứa mình kết duyên. Em nó ôi! Trời xui nên gặp giữa đàng,

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 283) Từ nay chắc phải đa mang khối tình

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 188)

PL49

64. Gặp anh đây không dám trao lời, 221. Phải chi lên đặng Ngọc Hoàng,

Thuận buồm xuôi gió, nhờ trời chứ sao. Để coi sổ bộ duyên nàng về đâu

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 283) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 79)

65. Phải chi lên được Ngọc Hoàng, 222. Vợ chồng nợ bởi Hoàng thiên,

Anh cùng em nay gặp là duyên định rồi Anh coi sổ bộ duyên nàng với ai!

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 126) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 447) 223. Đêm nằm sầu bạn thở than 66. Lư chung, lư chạ, lư đồng Thiếp chàng trời định tam cang ngũ thường Qua thương em bậu hơn chồng bậu thương. (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 180) Ông trời định chữ tào khương 224. Trăm năm nhứt nguyện, Thiếu chi thiên hạ, anh thương mình nàng. Cũng vì trời khiến nợ duyên, (VHDG An Giang – tr. 148) Bớ anh ôi! Nghe anh than thở ưu phiền,

67. Hoàng kim vạn lượng vị vi quí Ai hoài tấc dạ thuyền quyên hẫn hờ

Đắc nhơn nhất ngữ thắng thiên kim (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 189)

225. Hôm nay thề có đất trời, Bớ anh ôi! Hữu tình lang thật khó tìm

Ai mà dối trá giả lời Hôm nay trời định trọn niềm ân ái Bớ em nó ôi! Anh đây chí quyết ở đời cùng em. (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 192) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 189) 68. Hoa sầu héo nhụy, giọt lụy chan hòa 226. Em đau tương tư mẹ em đổ hồ bằng muỗng Bớ em nó ôi! Căn phần trời định đôi ta Cha dặm cẳng kêu trời tiếc uổng công sanh! Em đừng than thở xót xa tấm lòng Thuốc năm bảy thang uống hoài không mạnh (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 192) Gặp mặt em rồi anh tỉnh như xưa.

69. Mái chèo khi khoan khi nhặt (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.118)

Ngó lên trời vằng vặc ánh trăng 227. Trách trời sao lắm bất công

Bớ anh nó ôi! Giàu nghèo khó sống, sinh lòng hại nhau

Hôm nay vầy nghĩa xích thằng (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.132)

Chữ duyên tình luyến ái bởi căn duyên trời 228. Nhìn nhau lụy nhỏ thấm bâu

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 195) Than trời trách đất cớ đâu phân lìa.

70. Đó xa đây vì bởi ông trời (VHDG An Giang – tr. 181)

Đây xa đó vì bởi cô bác 229. Nắm mắm láng lai chùi hoài vẫn ướt,

Mưa xa lác đác, hột cát nhỏ lầm dầm Trời hỡi trời sao chẳng bớt nhớ thương,

Tuy không ăn nằm gá nghĩa cũng thương. Sợi tơ hồng em lỡ vấn vương,

(VHDG An Giang – tr. 125) Gặp anh một bữa nhớ thương ngàn ngày.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 348)

PL50

71. Thương nhau đã lỡ, 230. Anh thương em, thương dại thương dột,

Cách trở chẳng phiền Thương lột da óc, thương tróc da đầu

Trời đà định sẵn tơ duyên Ngủ đi thì nhớ, thức dậy thì thương,

Bớ anh ôi! Giục ngựa buông cương lên đường thượng lộ,

Đắng cay lao khổ truân chuyên Hỡi ông trời, mới ngộ lại xa.

Dọn nhà ta quyết ra riêng thỏa tình (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 333)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 206) 231. Căn duyên này phá cho rồi,

72. Trách trời sao lại bất công Ông tơ biểu buộc, ông trời biểu không,

Kẻ đôi ba vợ, người phòng không suốt đời Phải gặp ông tơ hỏi sơ cho biết,

Bắc thang lên hỏi ông trời Gặp bà nguyêt hỏi thiệt cho rành,

Công bằng không thấy, thấy đời bất công? Vì đâu hoa nọ lìa cành,

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.89) Nợ duyên sớm đứt, cho đành dạ em.

73. Thấy em chèo lái, anh khoái bóng hình (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 356)

Chờ khi mà trời xui khiến, để hai đứa mình 232. Anh thương em thương lún, thương lụn

gặp nhau Thương lột da óc, thương tróc da đầu

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.137) Ngủ đi thì nhớ, thức dậy thì thương

74. Con gái xứ Bà Phong trong lòng hớn hở Giục ngựa buông cương, lên đường thượng lộ

Con trai xứ ông Nam chưa vợ đi tới đi lui Trời hỡi trời, mới ngộ lại xa.

Sáng bơi xuồng ra, tối lại thả trôi (VHDG Bến Tre – tr. 257)

Tìm bến chưa ghé được, ngửa mặt lên trời 233. Bước lên cầu cầu cao ván nhịp

thở than! Anh đi không kịp nhắn với bạn vàng

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.104) Nghĩa tào khang sao nàng vội dứt

75. Nhìn anh lụy nhỏ thấm bâu Đêm nằm thao thức ruột đứt gan rơi

Than trời cách đất cớ đâu phận lìa Mấy lâu nay anh mang tiếng chịu lời

Mình nói rằng vài bữa mình vìa (về) Ngày nay xa bạn chắc tại trời khiến xui.

Hay là mình muốn phân chia chữ tình. (VHDG Bến Tre – tr. 272, 273)

Đem cái thương trà phức, anh đừng nỡ bức 234. Chia tay hệ bởi ông trời,

làm chi Sao em đành dạ vui cười việc chi

Gạt làm chi cái phận nữ nhi (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 156)

Đêm ngày giọt lụy, lâm ly thảm sầu. 235. Có vợ rồi còn gian còn giấu

(VHDG Sóc Trăng – tr. 618, 619) Tui vạch mây hồng cho thấu trời xanh

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 231)

PL51

76. Thương không thương cũng nghĩ chút tình, 236. Ca rô ăn móng dợn sóng đường cày

Cũng người vợ cũ của mình thuở xưa, Vợ anh còn, con anh đó, ông trời đày em

Gặp mình đây đứng bóng ban trưa phải thương.

Trách trời mau tối, em phân chưa hết lời. (VHDG Bến Tre – tr. 291)

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 463) 237.–Trách trời sao dội mưa giông

77. Giục ngựa buông cương, lên đàng Trách em sao vội lấy chồng bỏ anh

thượng lộ – Phụ mẫu sinh phụ mẫu xử định

Trời hỡi trời, duyên nợ về đâu? Em đâu dám tư tình cãi lịnh mẹ cha

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 82) (VHDG An Giang – tr. 196)

78. Khăn xéo vuông để luôn bốn chữ 238. Em đi qua cầu, qua trăm cái nhịp

Đây duyên nam, đây nợ nữ, bốn chữ để đời Em đi không kịp kêu bớ anh ơi!

Đó xa đây tại bởi ông trời Nghĩa tào khang sao anh đành vội dứt?

Đây xa đó tại lời cô với bác Đêm em nằm ấm ức, ngày lệ úa tuôn rơi.

Trên mưa sa lác đác Bấy lâu nay em mang tiếng chịu lời

Dưới hột cát nhỏ nằm nghiêng Xa nhau bởi tại ông trời biểu xa.

Rượu thuyền quyên rót đãi bạn hiền (VHDG Bến Tre – tr. 326, 327)

Kiếp này không gặp thề nguyền kiếp sau. 239. Ai về nhắn với ông câu

(VHDG An Giang – tr. 154) Cá ăn thì giật để lâu hết mồi

79. Trời sao bẻ lá không đồng Ai lên nhắn với ông trời

Kẻ hai ba vợ còn người không có gì. Yêu như sam sao nỡ rời tác xa?

Trời mưa ướt bụi, ướt bờ (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.107)

Ướt cây, ướt lá, ai ngờ ướt em. 240. Bần gie con diệc đậu chờ mồi

(VHDG Bến Tre – tr. 393) Thương em đứt ruột tại ông trời ngó lơ

80. Em than một tiếng, trời đất xoay vần, (VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 178)

Chim trên rừng còn rơi lụy, anh là người trần 241. Anh nghiêng tai dưới gió,

Sao anh lại không thương? Cho thiếp kể công khó anh nghe.

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 397) Từ ngày anh đau ban cua lưỡi trắng,

81. Trách ông Tơ, bà Nguyệt chẳng xe, Miếng đắng, cơm ôi,

Một mình ngồi lén bụi tre khóc ròng Cõng em bồng đứng, đỡ ngồi,

Trời sao trời ở không công, Bây giờ anh ở bạc ông trời nào để anh.

Riêng tôi như chỉ lộn vòng rối ren. (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 336)

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 467, 468)

PL52

82. Trách trời phân rẽ tóc tơ, 242. Nghiêng tai dưới gió

Kẻ thác âm phủ, người chờ dương gian! Em kể công khó cho chàng nghe

Chiều chiều ra mộ khóc than, Kể từ ngày anh đau ban cua lưỡi trắng

Cảm thương bậu phải cơ hàn nắng mưa. Miệng đắng cơm hôi

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 468) Cha mẹ không cho em vô

83. Ngày hôm nay anh cùng bậu lao đao, Em cũng ráng vô để bế đứng bồng ngồi

Cũng bởi trời sở định dạ nào phiền anh. Bây giờ anh ở bạc, ông trời nào để anh.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 146) (VHDG An Giang – tr. 184)

84. Bần de con đom đóm đậu sáng ngời 243. Anh lại đây nghiêng tai với gió mà

Lỡ duyên cam chịu trách trời sao nên nghe em kể khó đôi lời

Trách trời sao vội mưa giông Hồi nào anh đau ban cua lưỡi trắng

Trách sao em vội lấy chồng xứ xa. Cá chê đắng, cơm chê hôi

(VHDG Sóc Trăng – tr. 654) Em đâu có tiếc công đỡ đứng vịn ngồi

85. Chim đâu chim bay về tổ Bây giờ anh ở bạc, ông trời nào để anh.

Nước đâu nước đổ về nguồn (VHDG An Giang – tr. 123)

Em không thương lòng dạ anh buồn 244. Anh đừng tưởng vàng nọ là thau

Ông trời vần vũ, bốn cửa nguồn đều mưa Thuyền quyên đúng mực lễ nào

Gặp mặt anh đây con bóng đương trưa Ham giàu phụ khó trời cao phạt hành

Trách ông trời sao vội tối mà chưa phân hết lời. (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 215)

(VHDG Sóc Trăng – tr. 636) 245. Phụ mẫu đánh con ba, bốn roi quằn

86. Trời ôi ông chẳng xét xem, quại kêu réo tại cửa thành

Hai đứa tôi mới gặp ông không đem cho gần Phụ mẫu biển con từ người nghĩa mà dạ sao

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 135) đánh ông trời ơi!

86. Nghĩ nhơn duyên quá bở, căn nợ quá rời (VHDG An Giang – tr. 191)

Đau lòng tôi lắm bớ ông trời 246. Ai bỏ cha mẹ cơ hàn

Ông xui chi gặp gỡ chẳng trọn đời với nhau Ngày sau trời phạt mò đàng ăn xin.

(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 224) (VHDG An Giang – tr. 236)

87. Dầu mà trời đất phân chia 247. Thùng thùng cắc cắc lửa cháy thành than

Đôi ta như khóa với chìa đừng rơi Vắng nhau một bữa ruột gan rã rời

Xa mình thở chẳng ra hơi Dậm chân xuống đất kêu trời

Chồng Nam, vợ Bắc, trời ơi là trời! Người thương còn đó trao lời khó trao.

(VHDG An Giang – tr. 254) (VHDG An Giang – tr. 227)

PL53

88. Cuốn sách Minh Tâm, 248. Bần gie đóm đậu sáng ngời,

Tay em cầm anh đọc. Lỡ duyên tại bậu, trách trời sao nên.

Thiện ác dáo dầu chung hữu báo, (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 342)

Cao phi viễn tẩu giả nam tàng. 249. Cây bần de đom đóm đậu sáng ngời

Hồi nào anh lấy em, Lỡ duyên tại bậu, oán trời sao nên.

Nay đem dạ điếm đàng, (VHDG Bạc Liêu – tr. 830)

Anh ơi! 250. Bần gie con đom đóm đậu sáng ngời

Trời cao có mắt, Lỡ duyên tại bậu oán trời sao nên?

Ông trời nào để anh. Bần gie bần liệt, con diệc nó đậu bờ kênh

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 298) Lột khăn quăng nón day mặt lại cho anh nhìn

89. Dậm chân, dậm cẳng kêu trời Phải duyên anh kết, phải người tình anh thương.

Cùng người một xóm kẻ mời người không. (VHDG An Giang – tr. 79)

(VHDG Bến Tre – tr. 464) 251. Đèn treo trước gió bốc cháy sáng ngời

90. Cóc kêu còn động lòng trời, Ưng không tự bụng trời nào ép duyên.

Huống chi em bậu trao lời thiệt hơn. (VHDG Bến Tre – tr. 311)

(VHDG Bến Tre – tr. 284) 252. Em có chồng trước mắc vòng lao khổ,

91. Bước ra cửa ngỏ thấy vợ lớn đánh vợ nhỏ Anh có vợ sau đặng chỗ thảnh thơi,

Cắn cỏ kêu trời, Trời đất ơi! Ngày sau em đừng than đất than trời,

Xuất giá tòng phu, nhất phu mà lưỡng phụ ở Trước kia anh có nói mấy lời với em.

đời được đâu (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 394, 395)

Bước lên xe lửa mở cửa chín tầng mây 253. Bần gie đom đóm đậu sáng ngời

Mần thơ gửi vợ xin đừng nhớ thương. Lỡ duyên tại bậu trách trời sao nên.

(VHDG Bạc Liêu – tr. 880) (VHDG An Giang – tr. 83)

92. Con lành cha đặng hưởng xuân 254. Chữ lương duyên thiên số hỏi tại trời

Sanh ra con dữ, dậm chân kêu trời. Mẹ cha tùng bởi, ý thời của con

(VHDG An Giang – tr. 249) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 165)

93. Thùng thùng, cắc cắc lửa cháy thành than, 255. Lạy trời cho gió cả nồm

Vắng nhau một bữa ruột gan rã rời. Cho cha tôi chết tôi ôm gia tài.

Dậm chân xuống đất kêu trời, (VHDG Bạc Liêu – tr. 888)

Người thương còn đó, trao lời khó trao. 256. Lạy trời đừng gió đừng mưa

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 461) Êm êm dịu dịu cho vừa lòng em.

(VHDG Bến Tre – tr. 344)

PL54

94. Bần de đóm đậu sáng ngời 257. Anh về, em chẳng biết lấy chi đưa,

Lỡ duyên chịu vậy trách trời làm chi. Vái trời đừng nắng, đừng mưa cho anh về.

(VHDG Bến Tre – tr. 275) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 330)

95. Chàng đi thì thiếp xin đưa 258. Vái trời giọt nước xoay vần

Cầu cho trời nắng, đừng mưa, trơn đường. Ngãi nhân xoay lại cho gần với nhau.

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 360) (VHDG Bạc Liêu – tr. 877)

96. Em như hoa gạo trên cành 259. Vái trời cưới được cô Năm,

Anh như là đám cỏ may ven đường Làm chay bảy ngọ, mười lăm ông thầy.

Lạy trời cho gió cả sương (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 473)

Em như hoa gạo rụng xuống chịu lòn cỏ may. 260. Vái trời cho đặng vuông tròn,

(VHDG Bạc Liêu – tr. 846) Trăm năm giữ vẹn lòng son cùng chàng.

97. Thân em như cái chuông vàng (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 474)

Ở trong thành nội có vài lính canh 261. Vái trời cho đặng vuông tròn,

Thân em như cái sạp vàng Trăm năm giữa vẹn lòng son cùng chàng.

Anh như chiếu rách bên đàng bỏ quên (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 413)

Lạy trời cho gió thổi lên 262.Vái trời giúp gió vừa dươn

Cho manh chiếu rách bay lên sạp vàng. Hai đứa mình sum hợp nhờ ơn ông Trời

(VHDG Bạc Liêu – tr. 867) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 132)

98. Thân em như thể đóa sen 263. Anh xa em chưa đầy một tháng

Anh như bèo bọt chẳng chen được vào Nước mắt lai láng, hai tám đêm ngày

Lạy trời cho đổ mưa rào Bao giờ cạn lạch Thầy Cai

Cho sen lắng xuống cho bèo lên trên. Nát chùa Phước Hậu em mới sai lời nguyền

(VHDG Bạc Liêu – tr. 868) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.76)

99. Lạy trời trời thổi gió đông, 264. Lên non khấn vái Phật trời

Cho chúa tàu lại, cho chồng tôi sang Cầu mong cha mẹ sống đời với con

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 100) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.143)

100. Em về xin để anh đưa 265. Nghĩ sao mà lụy tuôn rơi

Vái ông trời nắng, đừng mưa trơn đường Thắp nhang mà vái ông Trời định phân

Em về để quạt lại đây (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 100)

Mở ra xếp lại để khuây cơn buồn. 266. Bao giờ cạn lạch Đồng Nai

(VHDG Bến Tre – tr. 327) Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 130)

PL55

101. Tay bưng chén thuốc miệng em vái trời

267. Thương thay thân phận con rùa Lên đình đội hạc, xuống chùa đội bia Cho anh khỏi bệnh sống trọn đời với em.

(VHDG An Giang – tr. 272) Thân em khuya sớm đi về Một thân chiếc bóng trăm bề cô đơn 102. Vái trời khoan nắng khoan mưa, (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.105) Đôi đứa tôi gặp còn ngừa nhau đây 268. Đèn trong chùa hết dầu đèn tắt (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 135)

103. Vái cùng trời tôi cúng một heo, Nhang ông Bắc hết nhị hết thơm Anh thương em đừng lai vãng đêm hôm

Thế gian đàm tiếu dẫu gần cũng xa. Xui cho nàng phải đi theo về nhà

(VHDG An Giang – tr. 127) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 159)

104. Chùa Tiên Châu dưới cây xanh 269. Bên đây sông lập cái chùa Tây Thiên Bên kia sông lập cái huyện Hà Đông Ngôi chùa cổ kính gần thành Vĩnh Long

Ngày xưa tiên xuống tắm sông Quan công xử kiện, chùa Tây Thiên nhiều kẻ tu hành

Ngày nay nhà cửa, ruộng vườn sum suê

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.59) Cả tiếng kêu này hỡi con bạn lành Sao anh không bỏ bạn mà bạn đành bỏ anh.

(VHDG An Giang – tr. 82) 105. Tay bưng dĩa bánh đi chùa

270. Anh có thương em thì thương cho trót Đốt nhang lạy Phật xin bùa làm duyên

Đừng mê bóng sắc bỏ sót bạn tình (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.136)

Chừng nào cầu ván hết đinh 106. Nấu chè van vái Phật Bà,

Mái chùa hết ngói chúng mình mới xa. Muốn cho chung hiệp một nhà phụng loan.

(VHDG Bến Tre – tr. 261) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 328)

271. Sống làm chi loan phụng lẻ đôi 107. Ba cô đi cúng chùa ngoài,

Dứt xong trần thế cho rồi, Cúng cam, cúng quýt, cúng xoài cà lăm.

Bớ anh ôi! Nhứt gia chẳng đặng trọn đời đi tu (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 474)

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 194) 108. Năm cô đội nếp lên chùa

272. Vô Chùa thấy Phật muốn tu Thương sư không được, bỏ bùa cho sư

Về nhà thấy mẹ đi tu không đành (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.71)

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.129) 109. Tay bưng quả mít vô chùa

273. Thứ nhất là tu tại gia Đốt nhang lạy phật, xin bùa em đeo.

Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa (VHDG An Giang – tr. 219)

Thứ tư xin một lá bùa 110. Tay bưng quả nếp vô chùa

Xếp vào đãi phái, đợi mùa mới tu! Đốt nhang lạy phật, xin bùa em đeo.

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.129) (TLST KS Ca dao Bến Tre)

PL56

111. Ngó lên hòn núi Điện Bà 274. Tu cầu gia đạo vuông tròn

Đạo chồng ngãi vợ do hà biệt ly Chồng hòa vợ thuận, cháu con thảo hiền

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 84) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.135)

112. Tay bưng quả bánh vô chùa 275. Chổi thưa quét sạch chùa vàng

Đốt nhang lạy phật xin bùa em đeo. Sửa sang Phật lại cho nàng đi tu

Tay cắt tay sao nỡ Đó đi tu thì mình ở sãi

Mà ruột cắt ruột sao đành Ăn một dĩa tương chùa trọn ngãi với em.

Lời thề biển cạn non xanh (VHDG An Giang – tr. 118) Sao anh đen bạc nỡ đành phụ em. 276. Cha già như phật Thích Ca (VHDG Bến Tre – tr. 395) Mẹ già như thể phật bà Quan Âm. 113. Đèn cầu tàu cái xanh cái đỏ (VHDG An Giang – tr. 242) Đèn Cây Gõ cái tỏ cái lu 277. Ai ơi cứ ở cho lành Nước ròng bỏ trái mù u, Tu nhân tích đức để dành về sau. Lỡ duyên cạo trọc đi tu chùa Bà (VHDG An Giang – tr. 275) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 252)

278. Chuối chát măng chua bốn mùa anh chịu khổ 114. Ngó lên am tự chùa vàng,

Em muốn tu hành anh chỉ chỗ em tu. Tu thời đặng đó bỏ nàng ai nuôi?

(VHDG An Giang – tr. 120) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 330)

279. Đó đi tu, đây xin ở sãi 115. Muốn đi tu công phu chưa có

Ăn dĩa tương chùa trọn ngãi cùng nhau. Muốn lên chùa chuông mõ cũng không.

(VHDG Bến Tre – tr. 311) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 496)

280. Tu đâu cho tớ theo cùng 116. Ở dưới sông sóng vận cát đùa,

Mai sau thành Phật ngồi chung một bàn Gá duyên không đặng, vô chùa em tu.

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.139) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 352)

281. Tu đâu cho tớ theo cùng 117. Dốc lòng tìm chốn tiền đình

Mai sau thành Phật ngồi chung một bàn Ẩn vương nương Phật lánh mình đi tu

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.139) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 84)

282. Ra đi gặp vịt thì lùa 118. Tai nghe chuông mõ vang dầy,

Gặp gái cũng chọc, gặp chùa cũng tu Ghé vô am tự nghe thầy giảng kinh

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.147) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 89)

283. Ra đi gặp vịt thì lùa 119. Đã đành cắt tóc đi tu,

Gặp duyên thì kết, gặp chùa thì tu. Một ngày cửa Phật mười thu cõi trần

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 360) (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 118)

PL57

120. – Nếu mà không cưới được em 284. Chuối chát măng chua bốn mùa chịu khổ

Anh về đóng cửa cài rèm đi tu Em muốn tu hành anh chỉ chỗ em tu,

– Tu đâu cho em tu cùng Kìa kia hai vị phật sanh

May ra thành phật thờ chung một chùa. Cha già, mẹ yếu sao em đành đi tu

(VHDG Bến Tre – tr. 363) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 460)

121. Tu đâu cho bằng tu nhà 285. Đèn cầu tàu cái xanh cái đỏ

Thờ cha kính mẹ hơn là đi tu Đèn Cây Gõ cái tỏ cái lu

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.139) Nước ròng bỏ trái mù u,

122. Ngó lên mây trắng trời hồng, Lỡ duyên cạo trọc đi tu chùa Bà

Trai chưa có vợ ghẹo gái có chồng đặng không? (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 252)

Ông Phật đồng ổng nói rằng không, 286. Phụng hoàng đua, se sẻ cũng đua,

Trai chưa có vợ chọc gái có chồng mang gông. Dạo chơi trước miễu sau chùa,

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 332) Dụng người buôn bán quê mùa thiếu chi.

123. Nghiêng tai hỏi nhỏ Phật đồng (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 358)

Trai tơ lấy gái có chồng đặng không 287. Bên đây cái đình Cá Cỏ

Phật đồng mới trả lời không Bên kia cái cửa ngõ thằng cai

Trai tơ thì lấy gái tơ Thấy nhà cô Hai cửa đóng then cài

Mắc chi mày phải đi quơ đàn bà. Biết làm sao đặng, anh đứng ngoài ngó vô.

(VHDG An Giang – tr. 187) (VHDG An Giang – tr. 85)

124. Rủ nhau bắt ốc hái rau 288. Con gà trống đứng trên bàn thờ tổ,

Lên non tìm bạn, vô chùa nghe kinh. Con gà mái đứng dưới bàn binh.

(VHDG Bến Tre – tr. 248) Bên kia cái miễu, bên đây cái đình,

125. Xuống sông xuống biển bắt cua Gá duyên chẳng đặng, tức mình đi tu.

Lên non bắt nhạn, vô chùa khai kinh. (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 372)

(VHDG An Giang – tr. 289) 289. Con gà trống cộ

126. Rủ nhau xuống biển bắt cua Nằm dự bàn binh

Lên non bắt nhạn lên chùa nghe kinh Anh thề với em

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 70) Bên kia là miễu

127. Thân em buôn bán tảo tần Bên này là đình

Lòng anh sao nỡ từ trần xuất gia Đình kia miếu nọ cho linh

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 118) Đừng cho bạn cũ tư tình với ai.

(VHDG An Giang – tr. 90, 91)

PL58

128. Tai nghe chuông mõ vang dầy 290. Chừng nào hạc đáo về đình

Ghé vô am tự nghe thầy giảng kinh Hạc xa hương án hai đứa mình cùng xa.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 89) (VHDG Bến Tre – tr. 299)

129. Nào khi tôm luộc, mướp bào 291. Vô đình để nón sau đình,

Anh ăn anh phụ trời nào để anh Họ thì đủ cặp, tôi với mình cũng đủ đôi.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 67) (VHDG Bến Tre – tr. 412)

130. Đã đành cắt tóc đi tu 292. Vô đình lột nón xá đình

Một ngày cửa Phật mười thu cõi trần Hạt chầu thần đủ cặp mà sao hai đứa mình

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 118) lẻ đôi.

131. Ai về chợ Thủ, Long Điền (VHDG Bến Tre – tr. 413)

Ghé đền Quan Thánh, thăm chùa Bửu Linh 292. Chừng nào cho mõ xa đình

Xa xa thấp thoáng mái đình Đỉa đeo chân hạc hai đứa mình mới xa.

Điệu hò, câu lý quê mình đẹp sao! (VHDG Bạc Liêu – tr. 833)

(VHDG An Giang – tr. 34) 293. Tôi vái ông tơ năm ba chầu hát

132. Ai về Châu Đốc, An Giang Tôi cầu nguyện lão năm bảy đêm kinh

Nhớ viếng núi Cấm, Thất Sơn quê mình Cho em cùng anh đây gá nghĩa chung tình

Danh lam thắng cảnh hữu tình Dù ăn cơm quán ngủ đình em cũng cam.

Đình chùa, di tích, hiển linh, diệu huyền (VHDG Bạc Liêu – tr. 875)

Địa linh, nhân kiệt, thánh tiên 294. Tôi vái ông Tơ năm ba nải chuối

Dâu ngoan, rể thảo, tôi hiền trung can Tôi vái bà Nguyệt năm bảy thẻ đường

Quê tôi Châu Đốc, An Giang. Cho hai đứa tôi gá nghĩa can thường

(VHDG An Giang – tr. 36) Dầu ăn cơm quán, ngủ đình tôi cũng ưng

133. Nhìn chiếc lá xanh cây đa cửa hữu (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.78)

Anh tìm dấu vết một cửa thành xưa 295. Thấy bảy cô đi giăng giăng lòng tôi

Ông cha xây lũy đắp bờ thương cô chính giữa

Máu xương đã đổ đến bây giờ đẹp tươi Nhưng sợ sáu cô kia phiền

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.58) Phải chi tôi có lúa thiên

134. Cây da trốc gốc, cái miễu còn ngồi Cưới đặng một lần cho hết bảy cô.

Người thương đau mất, chỗ ngồi còn đây Cô Một mua tảo bán tần

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 208) Cô Hai sắc thuốc dưỡng thân

Cô Ba dọn dẹp cửa nhà

Cô Bốn trà nước cho cha mẹ dùng

PL59

135. Nước trong thấy đá, con cá lội thấy hình Cô Năm trải chiếu giăng mùng

Thân em như tấm trấn treo đình Cô Sáu thì sẽ nằm chung với mình

Không nơi nương tựa một mình bơ vơ. Phải chi cô Bảy thuận tình

(VHDG An Giang – tr. 177) Dù ăn cơm quán ngủ đình tôi cũng ưng.

136. Bị rách mà lại có vàng (VHDG Bến Tre – tr. 385, 386)

Tuy ràng miếu đổ, thần hoàng còn thiêng. 296. Ngọc sa xuống giếng thủy tinh

(VHDG Bến Tre – tr. 456) Anh với em kết nghĩa chung tình

137. Không thiêng ai bảo rằng thần Dẫu ăn cơm quán ngủ đình em cũng ưng.

Đường ngang ngõ tắt chẳng gần ai đi? (VHDG An Giang – tr. 186)

(VHDG An Giang – tr. 286) 297. Cây đa bến đá

138. Miễu linh chẳng dám đứng gần, Rụng lá trước sân đình

Đứng xa mà vái thánh thần cũng linh. Nhớ lời thệ hải minh sơn

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 494) Cây đa còn đó hai đứa mình còn thương.

139. Chẳng thiêng ai gọi là thần (VHDG Bến Tre – tr. 294)

Lối ngang đường dọc chẳng gần ai đi. 298. Lá đa rụng xuống bên đình,

(VHDG Bến Tre – tr. 461) Bà ngoại sanh má, má sanh mình dễ thương.

140. Đi ngang qua đình lột nón xá thần, (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 417)

Thấy hạc chầu đủ cặp, sao mình lẻ đôi 299. – Anh thương em thì thương cho trót

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 262) Đừng mê bóng sáo bỏ sót bạn tình

141. Hạc chầu thần trước của đình, – Chừng nào cầu ván hết đinh

Anh với em chồng vợ như đá gập ghềnh Mái đình hết ngói hai đứa mình xa nhau.

chưa chêm. (VHDG An Giang – tr. 71)

Đá gập ghềnh ai vịn em chêm, 300. Lá đa rụng trước sân đình

Anh với em còn nhỏ lấy lời êm ở đời Người ta không nghĩ tới mình thì thôi.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 292) (VHDG An Giang – tr. 158)

142. Hạc chầu thần, hạc đứng uy nghi 301. Trăng thanh nguyệt rạng mái đình

Sầu anh tôi đứng dựa ghế nghi khóc ròng. Chén son chưa cạn sao tình đã quên.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 292) (VHDG An Giang – tr. 227)

143. Bao giờ cho mõ xa đình 302. Cây da trước miễu ai bảo cây da tàn

Hạc xa hương án chung tình mới xa Bao nhiêu lá rụng thương nàng bấy nhiêu.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 41) (VHDG Bạc Liêu – tr. 830)

PL60

144. Cầu bà nguyệt năm bảy cuốn kinh 303. Hỡi người gánh nước giếng đình

Cho đôi ta gá nghĩa chung tình Còn không hay đã trao tình cho ai.

Dầu ăn cơm quán ngủ đình cũng ưng. (VHDG Bến Tre – tr. 338)

(VHDG Bến Tre – tr. 293) 304. Con quạ nó đứng cột đình

145. Ngó lên Rạch Chiếc Nó kêu bác me cho mình lấy ta.

Ngó xuống Tân Dinh (VHDG An Giang – tr. 113)

Sông cách sông, xóm cách xóm, đình cách đình 305. Thân em con nhạn một mình

Hỏi ai là người nghĩa có vẹn tình thủy chung? Ngày kiếm ăn ngoài ruộng, tối đậu mé đình

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.74) kêu sương.

146. Trách ông tơ sao ngủ hoài ngủ kĩ (VHDG Bến Tre – tr. 382)

Này bà nguyệt lão ơi se mối chỉ lộn vòng 306. Thằn lằn chắt lưỡi mé đình

Xin ông tháo ra mà se lại Em quay mặt lại anh nhìn kẻo quên.

Để chốn loan phòng kẻ đợi người trông (VHDG Bến Tre – tr. 381)

Tôi thỉnh ông tơ năm ba chầu hát 307. Trăng thanh vượt rạng mái đình

Tôi thỉnh bà nguyệt lão năm bảy cuốn kinh Chén trà chưa cạn sao tình đã quên.

Làm sao cho đôi lứa hợp tình (VHDG Bến Tre – tr. 392)

Dầu ăn cơm quán mà ngủ đình cũng vui. 308. Ở trên Châu Đốc ngó xuống Vàm Nao

(VHDG Bến Tre – tr. 405) Thấy con cá đao nó nhảy nhào vô lưới

147 Miễu linh đá rách còn thờ Anh ngồi anh chắc lưỡi

Phải dươn xa cách, cũng chờ ngãi xưa Không biết chừng nào mới cưới đặng em.

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 242) Ơi người gánh nước giếng đình

148. Anh than một tiếng sập miếu xiêu đình Còn không hay đã trao tình cho ai.

Nước ngoài sông cứ chảy, mà lục bình cứ trôi. (VHDG An Giang – tr. 188, 189)

(VHDG Bến Tre – tr. 256) 309. Ở cho phải phải phân phân

149. Anh than một tiếng nát miễu xiêu đình, Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa

Cây huệ kia đang xanh lại héo, cá ở ao (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 70)

quỳnh vội xếp vi. 310. Ngày nào anh đứng trước miễu đình

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 168) Đem lời thề thốt nay sinh đổi đời

150. Miếu thần gà gáy tiếng đôi, (Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 131)

Trông bậu, trông đứng trông ngồi 311. Vĩnh Long có cặp rồng vàng,

Trông người có nghĩa bồi hồi lá gan Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Công Thần.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 322) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 320)

PL61

151. Tới đây dầu đói giả no 312. Gò Công anh dũng tuyệt vời

Dầu khôn giả dại đặng dò ý em. Ông Trương, Đám Lá Tối Trời đánh Tây

Tới đây trước miếu ông thần linh (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 140)

Cột đứng tre đòn tay sắt 313. Mạnh lệ quân anh thư tuấn kiệt

Đôi ta xung khắc Gái nước Việt chẳng kém tài trai

(VHDG Bạc Liêu – tr. 875) Gương bà Châu Thị hiền tài

152. Đốt nhang lên miếu cầu chồng Giúp chồng nên việc tiếng đời ngàn năm

Nghe ông thần nói: đàn ông hết rồi! (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.42)

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 389) 314. Đi qua Thiện Mỹ mới nghĩ chuyện

153. Hồi hôm tôi có lại đình, cúng đình

Ông thần ổng biểu hai đứa mình kết đôi. Ghé viếng cụ Điều Bát, vái cha mẹ mình

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 410) sống lâu.

154. Tôi với mình thề trước miếu Ông, (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.45)

Sống nằm một chiếu, thác chung một hòm. 315. Lịch thay cuộc địa Trà Ôn

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 466) Miếu ông Điều Bát lưu tồn đến nay

155. Đình Tân Giai mấy trăm năm (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.46)

Có từ triều đại Gia Long đến giờ 316. Ai về Đồng Tháp mà coi

Ngày xưa dân biết kính thờ Mộ ông Thiên Hộ trăng soi lạnh lùng

Những người xây dựng cơ đồ bình yên Bà con đùm đậu quanh vùng

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.60) Tháng giêng ngày giỗ xin đừng ai quên

156. Hà Nội có đền Văn Thánh (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 127)

Vĩnh Long có miếu Thánh Văn 317. Tết về nhớ viếng Trà Ôn

Một thời văn hóa mở đường Tháng giêng mồng bốn giỗ ông Ngọc Hầu

Truyền thống còn đó chớ xem thường ai ơi! (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.46)

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.58) 318. Dù ai ăn đâu, làm đâu,

157. Bồng bồng mà nấu canh tôm Có dòng có dõi cùa lao Trâu nhớ về

Ăn vào mát ruột đến gan lại bồng. (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 136)

Cá đâu nhiều bằng cá U Minh 319. Đồng Nai có bốn rồng vàng,

Thần nào linh bằng thần Trần Quang Diệu. Lộc: họa, Lễ: phú, Sang: đàn, Nghĩa: thi.

(VHDG Bạc Liêu – tr. 810) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 138)

PL62

158. Lịch thay địa phận Trà Ôn, 320. Con gà trống cồ nhảy lên bàn tổ

Miếu ông Điều Bát lưu tồn đến nay. Con gà mái ổ nhảy lên bàn binh

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 318) Bên kia cái miễu, bên đây cái đình

159. Đi ngang qua đỉnh núi Sam Đình đình, miễu miễu, sao chẳng có linh?

Thấy lăng ông Thoại hai hàng lụy rơi Làm cho cô Hai nọ thất tình

Ông người vì nước vì đời Cổ về xứ cổ bỏ bạn mình bơ vơ.

Hy sinh tài sản đổi dời nước non. (VHDG An Giang – tr. 117)

Kinh Vĩnh Tế, biển Hà Tiên 321. Gió đưa ông Đội về dinh Thuyền về xuôi ngược thông thiên hai miền. Bà Đội tan đình xách nón về theo. (VHDG An Giang – tr. 47) (VHDG Bạc Liêu – tr. 899) 160. Nước kinh Vĩnh Tế lờ đờ 322. Em như phụng hoàng chấp cánh nóc đình Nhớ ông Bảo Hộ cặm cờ chiêu an. Anh như rồng lộn uốn mình sánh đôi (VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 174) Anh ơi, phụng với rồng cũng đồng nhan sắc 161. Đồng An Trường chó ngáp Em đâu ngờ phụng bắc rồng nam. Làng Quới Thiện trồng lác bốn mùa

(TLST KS Ca dao Bến Tre) Nhớ ông Bảo Hộ ngày xưa

323. Nước kinh Vĩnh Tế lờ đờ Dựng làng mở cõi nắng mưa dãi dầu.

Nhớ ông Bảo Hộ cặm cờ chiêu an. (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.48)

(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 174) 162. Giồng Thanh Bạch tự ngày xưa

324. Ngó lên Doi Lửa thấy cửa sông dài Có lăng Ông Lớn dựng bia lưu truyền

Nhớ công ông Thống Suất đuổi đặng loài (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.46)

man di. 163. Năm nay lúa chín đầy đồng

(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 183) Trà Ôn mở hội lăng Ông tưng bừng

325. Tôi trồng cây chuối ngược phía trước (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.52)

miễu ông Tà 164. Miếu Công Thần thắp nén nhang

Ung ngai đất nước ông bà Nhớ ơn ai đã khai hoang đất này

Kẻ gian phải tiệt đứa tà cũng tiêu Nhớ người mở cõi miền Tây

(VH Miền Nam Lục tỉnh, tập 1 – tr. 186) Hy sinh xương máu, có ngày vinh quang

326. Rủ nhau lên miễu mà thề (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.60)

Bỏ quên hương khói lộn về tay không 165. Ông Chang, ông Cống, ông Tường

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh – tr. 84) Đào kinh, mở ruộng, đắp đường dân đi

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.51)

PL63

166. Anh đau tận tử, em vái tận tình, 327. Bần gie đóm đậu sáng ngời

Vái cho anh mạnh mở đình cúng heo. Rạch Gầm soi dấu muôn đời oai linh.

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 476) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 130)

167 – Anh đau tương tư tận từ 328. Cái nợ nhảy lên bàn tổ nhảy xuống bàn binh

Bên kia cái miễu bên đây cái đình Em vái câu chữ tận tình

Đình đình miễu miễu chẳng linh Vái cho anh hết, vô đình em cũng theo

Làm cho con vợ bỏ mình theo trai. Vái rồi trở lại xin keo

(VHDG An Giang – tr. 117) Vái cho anh hết em mần heo ăn mừng.

329. Chim bay về núi Điện Bà (VHDG An Giang – tr. 63)

168. Anh đau em vái tận tình, Phân chồng rẽ vợ ai mà chẳng thương

Vái cho anh mạnh, mở cửa đình cúng heo. (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 430)

Em vái rồi, anh cũng vọt miệng nói theo, 330. Biên Hòa có bưởi Thanh Trà

Đau nam vái bắc, biết mấy heo bịnh chày. Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 159) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 131) 169. Mình vái rồi tôi lại vái theo, 331. Tây Ninh có núi Điện Bà Vái cho mình mạnh mấy heo chẳng cần. Có sông Vàm Cỏ, có tòa Cao Sơn. Phải chi năm ngoái thì gần, (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 149) Năm nay vái miễu cúng thần cũng xa. 332. Ngó lên trên núi Điện Bà, (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 368) Đôi ta mới ngộ, do hà biệt ly? 170. Chiều chiều gió giục mây vần (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 333) Cảm thương ông Thiên Hộ xả thân cứu đời 333. Tây Ninh danh thắng núi Bà (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 134) Uy linh trời tạc một tòa nên thơ 171. Ai về Châu Đốc núi Sam (Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường – tr. 3) Viếng bà chúa Xứ, thăm ông Ngọc Hầu. 334. Hỡi cô em gái đô thành (VHDG An Giang – tr. 33) Có đi viếng núi quê anh thì về 172. Gió mát, gió mát cùng lợi trăng thanh Núi Bà cây phủ mây che Trăng thanh (mà) gió mát là đến đây con Em đến em về đừng lạc lối nghe em thỉnh bà.

(Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường – tr. 3) Di Đà Di Lặc con thỉnh vào

335. Em giã bàng đương đệm cho siêng Phật thầy tình trong mà Phật tổ con thỉnh

Để anh lên núi cầu duyên chúng mình vào miếu chung.

Giọng con mời thái thượng thời lão bằng (Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường – tr. 3)

Quân.

Thời ngài độc ác thời ngài bình an

PL64

Cái trời nằm giữa trời 336. Đèn chong hương đốt

Giữa trời có cặp đèn thần Con thỉnh ông

Cung nương mà mỹ nữ là hai bên chầu bà Nghe ba tiếng trống lệnh

Bà về cuồn cuộn sao giăng Là đâu đâu ông cũng bước về

Lụa vàng lụa đỏ mà giăng ngang giữa trời Kể từ ngày hội bàn đào Chủ gia bổn hộ mới sắm lễ vật Đào viên (mà) thời kết nghĩa ông nào chớ Trên chay dưới mặn là dâng lên cho bà quên Bà về chứng lễ hôm nay Ông ơi! Tài lý hùng anh, tà ma khiếp sợ Ngày lành tháng tốt con đây chầu mời Nước nào cũng nghe danh Bà về phò hộ trông gia, vợ chồng hòa thuận, Kể từ ngày ông thất thủ ở Hạ Bì Cháu con đặng lành Ngày phò nhị tẩu là ngày mới sang qua Tàu Lệnh bà ơi! Bà đi cung bảy cung ba

Đến Dương Châu con đi đầu khẩn nguyện Bà về cung chín mà bước qua cung mười

Con vái hồn ngài chứng kiến hôm nay Bà còn ở chốn non cao

Lễ này an tạ cùng ngài Nay con vọng thỉnh bà mau mau về

Bước về chứng lễ mâm vàng Ngài về phò hộ trong gia đình, trong gia đạo

Mâm vàng tam cấp quá cao. làm ăn cho thuận hòa

(CÚNG BÀ CHÚA XỨ) Có lúa có tiền làm ăn dư để

(VHDG Sóc Trăng – tr. – 596) Nhà cửa cất ngói xê xang

173. Lạy bà chứng kiến dùm con Sống lâu trăm tuổi làm ăn đủ đầy.

Cho con cúng bát huê cho bà (CÚNG ÔNG QUAN CÔNG THÁNH ĐẾ)

Từ ngày con xuống trần gian (VHDG Sóc Trăng – tr. – 595, 596)

Luôn lo cúng tế mà cầu an cho lệnh bà 337. Sông sâu sống bổ lang cò,

Lễ này an tạ cho bà Thương anh vì bở câu hò có duyên.

Lạy bà phù hộ gia đình, gia đạo làm an Làm thơ chẳng biết ai đem.

thuận hòa Cậy con chim nhạn nó đem cho mình.

Có lúa có tiền, làm ăn dư để Mình đau tương tư tôi vái cho mình.

Con cháu giàu sang đặng làm quan Vái cho mình mạnh vô đình cúng heo.

Nhà cửa cất ngói xê xang (TLST KS Ca dao Bến Tre)

Sống lâu trăm tuổi làm ăn thuận hòa.

(DÂNG BÔNG)

(VHDG Sóc Trăng – tr. – 595)

Tổng câu: 337 câu

PL65

PHỤ LỤC 4

CA DAO PHẢN ÁNH PHONG TỤC THỜ CÚNG NGƯỜI THÂN TRONG

GIA ĐÌNH

CA DAO – XUẤT XỨ CA DAO – XUẤT XỨ

1. – Anh đi ghe cá cao cờ 56. Ngó lên trời thấy cặp cu đang đá

Ai nuôi cha mẹ, ai thờ tổ tiên Ngó về biển thấy cặp cá đang đua.

– Tổ tiên tôi có người thờ Anh bảo em về lập miếu thờ vua

Tôi đi ghe cá cao cờ tôi chơi. Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

(VHDG Bến Tre – tr. 254) (VHDG An Giang – tr. 267)

2. Anh đi ghe cá cao cờ 57. Ngó lên trời thấy mây giăng tứ diện,

Ai nuôi cha mẹ, ai thờ tổ tiên Ngó xuống biển thấy chim liệng cá đua.

(Ca dao dân ca Nam kỳ Lục tỉnh – tr. 88) Anh về lập miễu thờ vua,

3. Phụ mẫu anh như phụ mẫu nàng Lập trang thờ mẹ, lên chùa thờ cha.

Mai sau có thác chạm chữ vàng thờ chung. (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 468)

Phải chi em có cánh như chim 58. Ngó lên rừng thấy cặp chim đương đá,

Bay lên đáp xuống đi tìm bạn xa. Ngó ra ngoài biển thấy cặp cá đương đua.

(VHDG An Giang – tr. 191) Anh về lập miếu thờ vua,

4. – Phụ mẫu anh như phụ mẫu nàng, Lập trang chờ mẹ, lập chùa thờ cha

Mai sau có thác, chạm chữ vàng thờ chung. Anh về bán gốc cây đa,

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 469) Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em.

5. – Phụ mẫu bên anh cũng như phụ mẫu (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 439)

bên nàng 59. Nhìn lên trời thấy mây bay cuồn cuộn

Bôi tranh vẽ tượng phết vàng anh thờ chung Nhìn xuống ruộng thấy cặp cá đang đua

(VHDG Bến Tre – tr. 449) Anh về lập miễu thờ vua

6. Công cha ba năm tình thâm lai láng Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha

Nghĩa mẹ đêm dài chín tháng cưu mang (VHDG Bến Tre – tr. 448)

Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn 60. Quyết lòng lập miếu chạm rồng,

Biết lấy chi đền nghĩa khó khăn Đền ơn phụ mẫu ẵm bồng ngày xưa.

Hai đứa mình lên non lấy đá xây lăng phụng thờ. (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 449)

(TLST KS Ca dao Bến Tre) 61. Ngó lên tổ nễ chau mày,

Mảng lo sự khó, quên ngày muối dưa.

(Ca dao dân ca Nam kỳ Lục tỉnh – tr. 48)

PL66

7. Ngó lên nhang tắt đèn mờ, 62. Ngó lên nuột lạt mái nhà

Mẫu thân đâu vắng, bàn thờ lạnh tanh. Bao nhiêu nuột lạt nhớ bà bấy nhiêu

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 467) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.143)

8. Ngó lên nhang tắt đèn lờ 63. Khôn ngoan nhờ đức cha ông

Cha mẹ đâu vắng giường thờ quạnh hiu Làm nên phải nhớ tổ tông phụng thờ

(Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh) Đạo làm con chớ hững hờ

9. Thắp nhang cho sáng bàn thờ Phải đem chữ hiếu phụng thờ cho nghiêm.

Kẻo cha mẹ quở không nhờ rể con. Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 470) Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu.

10. Cồng cộc bắt cá dưới sông (VHDG Bạc Liêu – tr. 888)

Mấy đời cháy ngoại giỗ ông bao giờ. 64. Chữ rằng vấn tổ tầm tông,

(VHDG An Giang – tr. 247) Cháu con sao nỡ bỏ, cha ông sao chẳng màng.

11. Cồng cộc bắt cá dưới hào (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 483)

Ông ngoại tôi giàu, tôi giỗ thịt heo. 65. Đạo làm con chớ hững hờ

(VHDG An Giang – tr. 248) Phải đem hiếu kính phụng thờ song thân.

12. Cá sặc muốn bắt dùng lờ (VHDG An Giang – tr. 255)

Mấy đời cháu ngoại mà thờ giỗ ông 66. Phụ mẫu tình thâm

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.142) Phu thê nghĩa trọng,

13. Cồng cộc bắt cá ở bàu Một mai anh có xa em rồi, thờ vọng mẹ cha

Cha mẹ mày giàu, đám giỗ làm trâu (Ca dao dân ca Nam kỳ Lục tỉnh – tr. 58)

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.142) 67. Thương thay chín chữ cù lao,

14. Gà cồ mà ăn tấm nong Tam niên nhũ bộ, biết bao nhiêu tình.

Mấy đời cháu ngoại giỗ ông bao giờ (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 470)

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.131) 68. Thà tôi mặc rách, để cha mẹ mặc lành

15. Anh đi ăn cỗ nhà giàu Công cha mẹ sinh thành mới có con vợ của tôi

Lột lưng bánh ít đem dìa cho em. (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.106)

(VHDG Bến Tre – tr. 261) 69. Công cha ba năm tình thâm lai láng

16. Khó nghèo củi núi rau non Nghĩa mẹ đậm đà chín tháng cưu mang

Nuôi cha nuôi mẹ cho tròn nghĩa con Bên ướt mẹ nằm, bên khô con lăn

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 464) Biết lấy chi đền đáp nghĩa ơn sinh thành

Làm con phải có hiếu, nhớ thâm ân đời đời

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.142)

PL67

17. Lên non mới biết non cao, 70. Ơn cha nặng lắm ai ơi,

Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 465) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 469)

18. Ơn hoài thai như biển, 71. Ru con con ngủ cho hời,

Ngãi dưỡng dục tợ sông, Công cha như núi ngất trời,

Em nguyền ở vậy không chồng. Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông.

Lo nuôi cha mẹ hết lòng đạo con. Núi cao biển rộng mênh mông,

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 469) Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi.

19. Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 470)

Nước có nguồn mới bể cả sông sâu 72. Anh hiếu bao nhiêu gọi là hiếu nghĩa?

Người ta nguồn gốc ở đâu Em hiếu thế nào được gọi Hiếu – Ân?

Gốc từ trên tổ rồi từ sau mới có mình Chớ qua đây Trung Hiếu vẹn toàn

Nguồn gốc ấy đinh ninh luôn nhớ Như sông Cổ Chiên ngày đêm xuôi chảy

Phải lo làm rạng rỡ tông môn chẳng màng lợi danh!

(VHDG Bến Tre – tr. 432) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.144)

20. Cây có gốc mới nở cành xanh lá 73. Công hoài thai như biển,

Nước có nguồn mới bể cả sông sâu Nghĩa dưỡng dục tợ sông.

Người ta nguồn gốc từ đâu Em nguyện ở vậy không chồng,

Có tổ tiên trước rồi sau có mình Dưỡng cha nuôi mẹ, hết lòng làm con.

(VHDG Bến Tre – tr. 421) (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 376)

21. Nước trên nguồn đổ xuống, 74. Có cha mẹ mới có ta

Cây dưới cội mọc lên. Mình nên cũng bỏi mẹ cha vun trồng

Ai ơi chữ hiếu lo bền, Đừng nên trọng quá bạc vàng

Trước đền ơn nước, sau đền mẹ cha. Đền bù sao hết muôn vàng công ơn.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 469) (VHDG An Giang – tr. 243)

22. Con người có tổ có tông 75. Làm sao hiệp mặt đôi ta

Cái cây có cội, con sông có nguồn Đặng tôi báo hiếu mẹ cha bên mình

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.52) Không xuống lên mình nói bạc tình

23. Thương thay chín chữ cù lao, Xuống lên phụ mẫu đánh mình thấy không.

Tam niên nhũ bộ, biết bao nhiêu tình. (VHDG Bến Tre – tr. 440)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 470)

PL68

24. Cha mẹ em sanh thành – tạo hóa 76. – Em thấy anh hay chữ em hỏi thử đôi lời

Nhai cơm lừa cá Chớ chữ trung, chữ hiếu, chữ hòa

Nhai cá lừa xương Chữ nào anh thờ mẹ, chữ nào thờ cha

Nghĩa chưa trả ơn chưa đền Chữ nào anh để đặng mà cho em?

Biểu thương anh xa xứ sao đành anh ơi? – Em hỏi chi mà hỏi mắc, hỏi ngặt quá chừng

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.106) Chữ hiếu anh để thờ cha, chữ trung anh thờ

25. Làm con chữ hiếu lo tròn mẹ, chữ hòa cho em.

Đáp ơn cha mẹ để còn tiếng thơm (VHDG An Giang – tr. 135)

(VHDG Bến Tre – tr. 444) 77. Em thấy anh hay chữ em hỏi thử đôi lời

26. Thờ cha mẹ phải hết lòng Chớ chữ trung, chữ hiếu, chữ hòa

Đó là chữ hiếu dạy trong luân thường Chữ nào anh thờ mẹ, chữ nào thờ cha

(VHDG Bến Tre – tr. 451) Chữ nào anh để đặng mà cho em?

27. Thức khuya dậy sớm chuyên cần – Em hỏi chi mà hỏi mắc, hỏi ngặt quá chừng

Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con Chữ hiếu anh để thờ cha, chữ trung anh thờ

(VHDG Bến Tre – tr. 452) mẹ, chữ hòa cho em.

28. Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi, (VHDG An Giang – tr. 135)

Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già. 78. Có cha mẹ mới có ta

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 471) Làm nên là bởi mẹ cha sinh thành

29. Cha già như phật Thích Ca (VHDG Bến Tre – tr. 429)

Mẹ già như thể phật bà Quan Âm. 79. Công cha nghĩa mẹ cao dày

(VHDG An Giang – tr. 242) Cưu mang trứng nước những ngày thơ ngây

30. Con ơi chớ cãi mẹ cha (VHDG Bến Tre – tr. 431)

Vì công sinh dưỡng khó mà đền ơn. 80. Cây khô chưa dễ mọc chồi,

(VHDG An Giang – tr. 244) Mẹ già chưa dễ ở đời với ta.

31. Trời cao lồng lộng (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 459)

Đất rộng thinh thinh 81. Anh ngó vô nhà nhỏ,

Đi ra bỏ mẹ sao đành Thấy có đôi liễn đỏ,

Công cha nghĩa mẹ sinh thành ra em Có bốn chữ vàng,

Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 471) Gia đường chưa biết, thấy nàng vội thương.

32. Đạo mẹ cha mất đà khó kiếm (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 166)

Nghĩa can thường chẳng hiếm chi nơi!

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.151)

PL69

33. Ơi con! Con giữ cho rành 82. Ngó vô nhà nhỏ thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng,

Kính thương cha mẹ sanh thành nghĩa sâu Thạnh suy chưa biết, thấy nàng vội thương.

Vâng lời, chịu lụy làm hầu (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 335)

Những khi đau yếu trực hầu thuốc thang 83. Quốc kêu khắc khoải mùa hè

Mẹ cưu mang chín tháng tròn Làm thân con gái lấy chồng xuất gia

Chịu bề khó ngọc mà nào quản chi Anh cưới thiếp về thờ kính mẹ cha

Thân con một chút không yên Thờ cha kính mẹ cho tròn đạo dâu.

Lo thầy kiếm thuốc thêm sầu tâm can Ánh trăng trải chiếu hai hang

Ru con, con ngủ bước quan san dài Trên anh đọc sách dưới nàng quay tơ

Áo quần có rách vá may Quay tơ phải giữ mối tơ

Sắm ăn sắm mặc đêm ngày xiết bao Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh.

Công lao sanh dưỡng ngàn vàng (VHDG Bạc Liêu – tr. 864, 865)

Gẫm như trời biển sánh bằng núi non. 84. Những người bội bạc mẹ cha

(VHDG Sóc Trăng – tr. – 604) Ngày sau con trả gấp ba bốn lần.

34. Kẻ nào khinh mẹ cãi cha Đổi lòng yêu mến vợ con

Là đồ bất hiếu không ra con người. Để mà báo hiếu mới tròn chữ nhân.

(VHDG An Giang – tr. 260) (VHDG Sóc Trăng – tr. 654)

35. Kẻ nào khinh mẹ cãi cha 85. Anh về báo bổ sinh thành

Là đồ bất hiếu không ra con người. Chừng nào bóng xế rũ mành sẽ hay

(VHDG An Giang – tr. 260) (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 172)

36. Đèn nào cao bằng đèn Sở Thượng 86. Trai nào tài bằng trai Cao Lãnh

Nghĩa nào trượng bằng nghĩa phu thê Gái nào bảnh bằng gái Tân Châu

Em xách gối theo anh thiên hạ cười chê Tháng ngày dệt lụa, trồng dâu

Để em trở về nuôi mẹ trọn bề hiếu trung. Thờ cha, nuôi mẹ biết bao nhọc nhằn.

(VHDG Bạc Liêu – tr. 885) (VHDG An Giang – tr. 60)

37. Trai nào bằng trai Nhơn Ai 87. Thảo chân thảo hỏi lo đền

Gái nào lịch bằng gái Tân Châu Giữ câu thần tính cho bền lòng son

Tháng ngày dệt lụa trồng dâu Vẹn mình trọn đạo làm con

Thờ cha dưỡng mẹ quản bao nhọc nhằn. Dẫu cho ra cúi vào lòng cũng ưng

(VHDG An Giang – tr. 51) Cha sai mẹ bảo thì vâng

38. Áo ào gió giục mây Tần, Lầm bầm quạo quọ là đừng nghe con!

Một xe trong cõi hồng trần bước ra. Tích xưa gương thảo những còn.

PL70

Rủ nhau lên viếng mả cha, Mấy ai cờ bạc làm giàu

Tảo lăng mồ mẹ lụy đà tuôn rơi. Mua vườn sắm ruộng mẫu sào nào chưa?

Công cha trượng lắm cha ôi, Quanh năm nghe một tiếng thua

Ngãi mẹ bằng trời chín tháng cưu mang. Nằm đâu rên đó như cua rụng càng

(Ca dao dân ca Nam kỳ Lục tỉnh – tr. 82) Tứ mùa, tám tiết thở than

39. Biết mấy năm qua tấm hình cũ em vẫn thờ, Ai ai mê nó đà mang chữ nghèo

Lòng em thương ai biết, dạ em chờ ai hay? Hồi ăn kẻ hú người kêu

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 190) Chừng thua chẳng thấy ai theo một người

40. Tượng linh dầu rách cũng thờ Ăn năn thì sự đã rồi

Lỡ thì chịu lỡ cũng chờ đợi anh Gác tay nằm nghĩ bồi hồi tính toan

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 412) Tính rồi lại tính mưu gian

41. Anh theo vợ bé nào hay Tính gian tính lận mà tan cửa nhà

Mình em gánh vác nhà này sớm hôm. Thua nhiều đem dạ tà dâm

Một mình thờ mẹ nuôi con, Tham gia trộm cướp, ai ai cũng phiền

Lại lo đám thuốc bia son tới kỳ. Cờ bạc nó hại người hiền

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 424) Tan gia bại sản, điền viên tiêu điều.

42. Ở sao trung hiếu đạo đồng (VHDG Sóc Trăng – tr. – 605)

Làm sao cũng kết vợ chồng với anh. 88. Quế già quế lại càng tốt

(VHDG Sóc Trăng – tr. 652) Mía già mía lại càng ngon

43. Mình đừng sầu muộn ốm đau Anh ơi anh có thương em mà đạo nghĩa

Bây giờ cách mặt, ngày sau vợ chồng vuông tròn

Ngôn phải thuận, lý phải đồng Cách mấy sông em cũng lội mà mấy đò em

Can thường ly biệt, đạo vợ chồng còn thương. cũng đưa.

(VHDG Bến Tre – tr. 353) (VHDG Sóc Trăng – tr. 633)

44. Làm sao ướt ngọt như đường 89. Anh chết ba năm sống thử một giờ

Khổ qua hết đắng, đạo can thường mới xa Để xem người nghĩa phụng thờ ra sao?

(Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.145) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.133)

45. Muối ba năm muối hãy còn mặn 90. Anh chết ba năm anh sống lại một giờ

Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Để coi người nghĩa phượng thờ làm sao?

Đạo nghĩa vợ chồng chớ đổi đừng thay (VHDG Bến Tre – tr. 260)

Dẫu có ăn mày ta cũng theo nhau. 91. Em ơi anh chết năm rán sống dậy một giờ

(VHDG Sóc Trăng – tr. 654) Để xem người nghĩa phụng thờ ra sao?

PL71

46. Tai em nghe anh đau đầu chưa khá Em thờ anh đóng ghế cho cao,

Băng đồng chi sá, em hái nắm lá cho anh xông, Ly hương để giữa hai đèn thau để bìa

Miễn làm sao cho nên đạo vợ chồng, Em ơi, ba năm tang chết mãn rồi

Đổ mồ hôi ra em chậm, ngọn gió lồng em lo. Đầu dơ sao em không gội vòng vàng đeo vô!

(VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 453) (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr. 192,193)

47. Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh 92.– Anh chết ba năm sống lại một giờ

Bánh nào trắng bằng bánh bò bông Để xem bạn cũ nó phụng thờ làm sao

Đạo nào thương bằng đạo vợ chồng – Em thờ mình em đóng ghế cho cao

Dầu lâm cơn bệnh hoạn cũng bế bồng nuôi nhau. Bình khuôn nghi cẩn nóc bộ chân đèn thau

(VHDG Sóc Trăng – tr. 655) em thờ mình.

48. Đã rằng là nghĩa vợ chồng (VHDG An Giang – tr. 237)

Dù cho nghiêng núi, cạn sông chẳng rời 93. Chết ba năm hồn bướm dật dờ

(VHDG Bến Tre – tr. 435) Đặng coi người nghĩa ở lại phụng thờ làm sao?

49. Mình đừng sầu muộn ốm đau Tôi thờ tôi đóng ghế cao

Bây giờ cách mặt, ngày sau vợ chồng Bình phuông (bình phong) cần ốc, hai bộ

Ngôn phải thuận, lý phải đồng bài cào hai bên.

Can thường ly biệt, đạo vợ chồng còn thương. (VHDG Sóc Trăng – tr. 657)

(VHDG Bến Tre – tr. 353) 94. Tai em nghe anh đau đầu chưa khá

50. Đã rằng là nghĩa vợ chồng Băng đồng chi sá, em hái nắm lá cho anh xông,

Dẫu cho nghiêng núi cạn sông chẳng rời. Miễn làm sao cho nên đạo vợ chồng,

(VHDG Bến Tre – tr. 314) Đổ mồ hôi ra em chậm, ngọn gió lồng em lo.

51. Anh đau một canh, chết một giờ, (VHDG ĐBS Cửu Long – tr. 453)

Để coi người nghĩa phụng thờ làm sao? 95. Ai chèo ghe bí qua sông

Tôi thờ mình bộ lư đồng cao, Đạo nghĩa vợ chồng nặng lắm anh ơi.

Sáp treo cùng cặp chân đèn thau bóng vàng (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 422)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 159) 96. Cầu nào cao bằng cầu danh vọng

52. Chết ba năm, sống lại một giờ Nghĩa nào trọng bằng nghĩa chồng con

Để xem người cũ phụng thờ ra sao? Vì đâu nước chảy đá mòn

Thờ mình dĩa muối, dĩa rau, Xa nhau ngàn dặm, lòng còn nhớ thương

Còn thờ phụ mẫu mâm cao cổ đầy. (Ca dao, hò, vè Vĩnh Long – tr.84)

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 215)

PL72

54. Anh thờ em dĩa mắm, dĩa rau 97. Ba năm tượng rách còn thờ,

Anh nghèo em khó, có đâu mâm cao cổ đầy. Hường nhan chi bậu ngó bề đứng côi.

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 169) Anh đừng nói vậy anh ơi

54. Anh giả đò chết thử đôi giờ, Hình dung khô héo có đôi ba người.

Để coi vợ ruột phụng thờ ra sao? (Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 178)

Tôi thờ mình, đóng ghế cho cao, 98. Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh

Bạc đồng để dưới, bài cào để trên. Bánh nào trắng bằng bánh bò bông

(Ca dao dân ca Nam Bộ – tr. 423) Đạo nào thương bằng đạo vợ chồng

55. Chết ba năm sống thử một giờ Dầu lâm cơn bệnh hoạn cũng bế bồng nuôi

Để xem người nghĩa phụng thờ ra sao ? nhau.

Em thờ chồng một bộ lư cổ, một cặp chân (VHDG Sóc Trăng – tr. 655)

đèn thau

Đồng bạc em để dưới, bộ bài cào để trên.

(TLST KS Ca dao Bến Tre)

Tổng câu: 98 câu