BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THOA CẢM HỨNG LỊCH SỬ TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN HUY TƯỞNG LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Thành phố Hồ Chí Minh - 2007
Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Hữu Tá, người thầy đã tận tình
hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong
Tổ Văn học Việt Nam trường ĐHSP TP. Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em
trong thời gian em học tập tại trường.
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân: Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp...
đã luôn luôn động viên giúp đỡ tôi để có được kết quả này.
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
Nguyễn Thị Phương Thoa
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Nguyễn Huy Tưởng là một tác gia lớn của nền văn học Việt Nam thế kỷ XX, “chiếm
vị trí xứng đáng trên văn đàn trước và sau cách mạng tháng Tám” [76, 11]. Sinh năm 1912,
Nguyễn Huy Tưởng là bạn đồng thời với nhiều tác giả nổi tiếng trên văn đàn giai đoạn 1930
- 1945, nhưng ông chính thức gia nhập làng văn hơi muộn, đến đầu những năm 40 ông mới
thực sự sáng tác. Khát vọng một đời văn của ông vẫn còn dang dở khi ông ra đi ở tuổi 48,
dù vậy, khối lượng tác phẩm ông để lại khá đồ sộ. Ngoài sự đa dạng về thể loại, đề tài sáng
tác, sự nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng còn được đánh giá cao về giá trị tư tưởng và nghệ
thuật. Ông là một trong những nhà văn vinh dự được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn
học nghệ thuật (đợt I) năm 1996.
Văn nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng may mắn được các con ông và bạn hữu gìn giữ
rất cẩn thận, hầu như còn nguyên vẹn. Những sáng tác ấy bao gồm tiểu thuyết, kịch bản điện
ảnh , kịch nói, truyện phim, truyện thiếu nhi, bút ký..., thậm chí còn cả những trang nhật ký
viết từ thời ông còn là cậu học trò thành chung ở Hải Phòng (năm 1930) đến trang nhật ký
cuối cùng (đề ngày 21/6/1960) khi ông đang trên giường bệnh, ít ngày trước khi qua đời.
Thông thường khi tìm hiểu lịch sử tư tưởng của một nhà văn chúng ta chỉ có thể biết thông
qua việc nghiên cứu tác phẩm. Nhưng trong trường hợp nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, điều
may mắn hơn là chúng ta có thể xác định rõ ràng tư tưởng, cảm hứng và định hướng sáng
tác của tác giả qua những dòng nhật ký ông để lại. Có thể coi đó là kim chỉ nam hỗ trợ quá
trình nghiên cứu tác phẩm của nhà văn. Đề tài trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng khá
đa dạng và phong phú: quá khứ và hiện tại, nông thôn và thành thị, chiến trường và hậu
phương... nhưng trong những đề tài ấy, nhà văn có sở trường đặc biệt về đề tài lịch sử. Đây
cũng là bộ phận sáng tác có giá trị nhất trong văn nghiệp của ông. Đề tài lịch sử xuất hiện
trong nhiều thể loại sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng như: tiểu thuyết, kịch bản, truyện thiếu
nhi, truyện phim. Tâm huyết với nghề văn, nhưng Nguyễn Huy Tưởng còn đặc biệt tâm
huyết với lịch sử quê nhà, đó là vùng quê ngoại thành Hà Nội. Có lẽ vì thế mà ông gắn bó
với mảnh đất Thăng Long bằng mối tơ duyên kỳ lạ. Hầu hết các câu chuyện lịch sử mà ông
khai thác đều tập trung ở mảnh đất kinh kì, qua đó nhà văn thể hiện sự am hiểu sâu sắc tâm
lý, cá tính con người thủ đô, cũng như những truyền thống văn hóa, những giai thoại lịch sử
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
của vùng đất ngàn năm văn hiến này.
Đời văn của Nguyễn Huy Tưởng khởi đầu bằng vở kịch Vũ Như Tô và kết thúc với
cuốn tiểu thuyết còn dang dở Sống mãi với thủ đô. Chỉ xét riêng những tác phẩm lớn nầy
cũng đủ thấy tâm huyết nhà văn dồn cho Thăng Long. Đây là mảnh đất đã chứng kiến biết
bao thăng trầm của lịch sử dân tộc, nơi hội tụ hồn thiêng sông núi, gợi cho nhà văn niềm tự
hào vô bờ về quá khứ và niềm đau xót khi chứng kiến thủ đô ngập tràn trong khói lửa của
những ngày toàn quốc kháng chiến. Bằng những tri thức tự tìm tòi, học hỏi, Nguyễn Huy
Tưởng đã dựng lại một không gian lịch sử của Thăng Long xưa và Hà Nội nay, vừa chân
thật vừa sống động với những nét văn hóa sâu sắc, tinh tế. Đó vừa là tấm lòng vừa là sở
trường sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng. Có thể nói nhà văn Nguyễn Huy Tưởng là cây bút
tiêu biểu của khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử trong văn học Việt Nam hiện đại. Trong
những năm gần đây, giới nghiên cứu đã có nhiều công trình khoa học xoay quanh cuộc đời
và sự nghiệp của ông. Nhưng thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Nguyễn Huy Tưởng vẫn
còn những khoảng trống chưa được giới nghiên cứu tìm hiểu thấu đáo. Từ nhỏ, người
nghiên cứu để tài này đã được tiếp xúc với những truyện lịch sử dành cho thiếu nhi đầy
cuốn hút như Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Kể chuyện Quang Trung, cho đến những bộ tiểu
thuyết như Đêm hội Long Trì, An Tư, Sống mãi với thủ đô... do đó ít nhiều đã cảm nhận
về lịch sử dân tộc và phần nào cốt cách lịch lãm của văn phong Nguyễn Huy Tưởng. Trân
trọng và ngưỡng mộ tài hoa của nhà văn, chúng tôi chọn đề tài này với mục đích muốn có
một cái nhìn bao quát về cảm hứng chủ đạo trong sự nghiệp sáng tác nói chung và tiểu
thuyết nói riêng của Nguyễn Huy Tưởng, góp phần khẳng định vai trò và vị trí của một nhà
văn lớn đối với nền văn học Việt Nam hiện đại. Đó là lý do gợi dẫn chúng tôi tiếp cận với
đề tài: “Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng.”
2. Lịch sử vấn đề:
Cho đến thời điểm hiện tại, số lượng các bài viết, các công trình nghiên cứu, phê bình
và giới thiệu về con người và sự nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng tuy chưa sánh bằng những
tên tuổi cùng thời như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử... nhưng cũng
không phải là con số khiêm tốn. Hầu hết những bài viết và các công trình nghiên cứu về ông
đều là của các tác giả có tên tuổi, có uy tín trong giới nghiên cứu. Gần đây các tác giả
Nguyễn Bích Thu và Tôn Thảo Miên đã biên soạn, chọn lọc những bài phê bình, nghiên cứu
có chất lượng về nhà văn trong cuốn: Nguyễn Huy Tưởng - về tác gia và tác phẩm. Đây là
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
một công trình khá công phu, là nguồn tư liệu quý để chúng tôi có thể tham khảo, phục vụ
cho đề tài. Tổng hợp từ các ý kiến đánh giá, chúng tôi xin chọn lọc một số ý kiến và phân
loại như sau:
2.1. Những ý kiến đánh giá về đề tài lịch sử trong sáng tác của Nguyễn Huy
Tưởng:
Với vốn tri thức rộng và sâu, quá khứ dân tộc trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
không bao giờ là một nhát cắt đơn giản mà là nhiều đường mạch gắn bó với lịch sử “Và lịch
sử bao giờ cũng là sự kết nối từ quá khứ đến hiện đại, đó là sự song hành hoặc tương phản
giữa một bên là bạo lực của ngoại xâm, của cường quyền, của những rối ren và náo động
của xã hội, với một bên là sự mỏng manh, sự bấp bênh của những số phận, những cuộc tình,
những đam mê và khát vọng của con người, trong đó chiếm vị trí trung tâm là người trí
thức” [42,97]
Cũng là một trong những tác giả tâm huyết với văn học thiếu nhi, nhà văn Tô Hoài đã
từng coi Nguyễn Huy Tưởng là một cây bút sử thi hết sức hùng tráng. Đọc những sáng tác
của Nguyễn Huy Tưởng về đề tài này, ông đã nhận xét : “Anh thèm có những tài năng nào
đó đem được cả nghìn năm lịch sử dựng nước biến thành bộ truyện chói lọi hàng trăm,
hàng trăm nhân vật anh hùng (...) Từ lòng mong muốn đưa tâm hồn các em tới những đỉnh
cao đẹp trong tư tưởng tình cảm, Nguyễn Huy Tưởng chọn chủ đề truyền thống theo lối
riêng của mình thể hiện qua những đề tài cổ tích và lịch sử (...). Trong văn học thiếu nhi
của ta, kể chuyện lịch sử và cổ tích, cho đến bây giờ, chưa có ai chuyên và thành công như
Nguyễn Huy Tưởng” [ 23].
Trong chuyên khảo Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960) Hà Minh Đức và Phan Cự
Đệ, đã nhận định: “Trong số các tác giả, Nguyễn Huy Tưởng là người có thế giới quan tiến
bộ nhất và đã cố gắng khai thác đề tài lịch sử một cách nghiêm túc và sáng tạo. Riêng
Nguyễn Huy Tưởng, trong tác phẩm của mình đã tỏ ra khá trung thành với tinh thần của
những thời đại quá khứ xa xưa. Để xây dựng những vở kịch và tiểu thuyết lịch sử của mình
Nguyễn Huy Tưởng rất chú ý tìm tòi nghiên cứu những tài liệu lịch sử, những tác phẩm của
các nhà văn quá khứ”. Trên cơ sở đó, hai nhà nghiên cứu khẳng định sự sáng tạo của nhà
văn: “Nguyễn Huy Tưởng đã có công nghiên cứu lịch sử nhưng anh không nô lệ tài liệu lịch
sử... Nguyễn Huy Tưởng đã đi sâu vào đời sống nội tâm, vào đời sống riêng của nhân vật,
chứ không phải chỉ trình bày nhân vật trong lúc mang quân phục lịch sử để diễu hành” (chữ
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
dùng của V.G. Biêlinxky). Năm 1996, Nguyễn Huy Tưởng được truy tặng giải thưởng Hồ
Chí Minh về văn học nghệ thuật, Hà Minh Đức trong cuốn sách giới thiệu về Các nhà văn
được giải thưởng Hồ Chí Minh, đã nhấn mạnh đến cảm hứng chủ đạo của ngòi bút
Nguyễn Huy Tưởng như sau: “Nguyễn Huy Tưởng đã khơi nguồn cho tác phẩm của mình từ
dòng lịch sử của dân tộc với bao trang hào hùng rực rỡ chiến công chống xâm lược. Lịch sử
được cảm nhận sâu sắc trong những ngày đen tối của cuộc đời hiện tại. Hiện tại không chỉ
liên hệ với quá khứ theo dòng thời gian mà nhiều khi là điểm xuất phát và là cảm hứng trực
tiếp để khai thác đề tài lịch sử” [77.60]. Trong lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Huy
Tưởng tập 1 (NXB Văn hóa Hà Nội, 1984), Hà Minh Đức đã đề cập: “Những sự kiện lịch
sử lớn lao đã được làm sống dậy chân thực và hào hùng trong tác phẩm của Nguyễn Huy
Tưởng. Có thể nói chất sử thi đã nảy nở trong cảm hứng lịch sử sâu sắc về đất nước trong
những phút trọng đại với những trang viết nhiều khói lửa về một dân tộc anh hùng” [15].
Nguyễn Bích Thu và Tôn Thảo Miên trong bài viết Nguyễn Huy Tưởng - khát vọng
một đời văn đã nhận xét: “Đối với nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Huy Tưởng là
một trong số hiếm hoi những tiểu thuyết gia có sở trường về đề tài lịch sử”. Dẫn lời nhà văn
Nguyễn Minh Châu, các nhà nghiên cứu cũng khẳng định trong bài viết này rằng: “Nguyễn
Huy Tưởng là một nhà văn đồng thời cũng là một nhà văn hóa”, cái nhìn của ông về lịch sử
là cái nhìn từ góc độ văn hóa học. Bài viết phân tích rõ cảm hứng của nhà văn Nguyễn Huy
Tưởng có sự gắn bó sâu sắc với lịch sử Thăng Long - Hà Nội. Mạch cảm hứng này xuyên
suốt trong những sáng tác của ông trong nhiều thể loại, ở nhiều thời khắc quan trọng của
mảnh đất này, từ cảm hứng về lịch sử Thăng Long thời nhà Trần chống quân Nguyên Mông,
đến ngày Hà Nội rực lửa căm hờn của buổi đầu kháng chiến chống Pháp, như lời nhà văn
Nguyễn Tuân nhận xét: “Đọc lại những tiểu thuyết lịch sử, kể cả Sống mãi với thủ đô,
người đọc vẫn gây gây mùi khói vấn vương ngàn năm Thăng Long chốn cũ” [83,324]. Các
nhà nghiên cứu cho rằng: “Trong các tiểu thuyết lịch sử của mình, Nguyễn Huy Tưởng
không chỉ muốn diễn đạt tri thức của ông về lịch sử... mà điều quan trọng hơn là muốn gieo
vào lòng họ những câu hỏi, đặt ra các vấn đề đối thoại trong sáng tác để mọi người cùng
nghiền ngẫm” [76,19]. Nhận định về các vở kịch của Nguyễn Huy Tưởng, hai nữ tác giả
viết: “Ngòi bút sử thi mang màu sắc lịch sử kết hợp với phong vị lãng mạn, trữ tình là đặc
điểm cơ bản trong kịch Nguyễn Huy Tưởng” [76, 32]. Vở Vũ Như Tô - vở kịch xuất sắc
nhất của kịch tác gia Nguyễn Huy Tưởng - đã thành công “ở chỗ tác phẩm vừa bảo đảm
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
tính chân thực lịch sử vừa có tính chân thực nghệ thuật” [76,32].
Nhà sử học Lê Văn Lan trong bài viết Nguồn sáng ở một nhà văn đi trước [33] đã
công nhận những ảnh hưởng của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng tới mình như sau: “Trong
khoảng hai mươi năm làm truyện lịch sử cho thiếu nhi, dưới ảnh hưởng của Nguyễn Huy
Tưởng, điều mà tôi học được, chủ yếu là qua những truyện lịch sử viết cho thiếu nhi của
anh - kể cả học mà chưa hành được - là tính khoa học, tính văn học - văn nghệ, tính văn học
thiếu nhi, đều ở mức cao”.
Trong bài Khắc khoải một đời văn nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Anh có viết: “Đọc
Nguyễn Huy Tưởng, ai cũng nhận ra một cảm hứng lịch sử dồi dào bao trùm phần lớn các
tác phẩm. Cái nguồn dồi dào ấy đủ sức phân nhánh ra nhiều thể loại: kịch lịch sử, tiểu
thuyết lịch sử, truyện lịch sử viết cho thiếu nhi... và làm nên nét đặc sắc của văn ông” [77,
209]. Viết về Những trăn trở và khát khao sáng tạo của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng,
Mai Hương nhận xét: “Những suy nghĩ sâu sắc ấy về lịch sử về dân tộc đã góp phần khơi
gợi nguồn mạch riêng cho ngòi bút Nguyễn Huy Tưởng để rồi lịch sử dân tộc mãi gắn bó và
trở thành dòng mạch dào dạt, xuyên chảy suốt cả đời viết văn của ông, đến như thành một
nổi ám ảnh, một sự đam mê” [28].
Qua một vài ý kiến tiêu biểu nhận xét như đã dẫn ở trên có thể khẳng định đề tài lịch
sử là phần tâm huyết nhất trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng và ở đó người
đọc có thể nhận thấy một phong cách tài hoa lịch lãm của một nhà văn hóa lớn đầy tâm
huyết với lịch sử dân tộc và những khát khao sáng tạo.
2.2. Những ý kiến đánh giá về đề tài lịch sử trong bốn tiểu thuyết Đêm hội Long
Trì, An Tư, Lá cờ thêu sáu chữ vàng và Sống mãi với thủ đô:
Theo Hà Minh Đức: “Tác phẩm đầu tay Đêm hội Long Trì mở đầu cho quá trình sáng
tác của Nguyễn Huy Tưởng, tác phẩm dựa trên những tư liệu được đề cập đến trong Hoàng
Lê nhất thống chí và Việt Lam Xuân Thu, khai thác câu chuyện xoay quanh quan hệ giữa
chúa Trịnh Sâm và hai chị em Đặng Thị Huệ, Đặng Mậu Lân. Nguyễn Huy Tưởng không
chỉ muốn dừng sự việc lại ở đó. Anh muốn tìm đến một bàn tay dũng cảm vừa thể hiện tinh
thần công lý phù hợp với ý dân, vừa phải hợp với chân lý của lịch sử để trừng trị kẻ tàn
bạo” [77, 61].
Với An Tư, Hà Minh Đức nhận định: “Viết An Tư, Nguyễn Huy Tưởng muốn nói
nhiều hơn đến vận mệnh của dân tộc trong cơn sóng gió kinh hoàng của lịch sử. Chính vào
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
thời điểm như con thuyền sẽ bị chìm đắm, lại bộc lộ rõ sức mạnh hiệp đồng muôn người
như một của dân tộc...Qua An Tư, Nguyễn Huy Tưởng đã bắt được cái chất bi tráng của
một thời đại lịch sử thấm sâu trong số phận nhiều người. Nguyễn Huy Tưởng đã tránh được
cái nhìn sơ lược đối với những vấn đề lịch sử phức tạp”. Từ đó, ông nhận xét chung về
mảng đề tài lịch sử trong tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng: “Qua Đêm hội Long
Trì, Vũ Như Tô, Cột đồng Mã Viện, An Tư...có thể nói toàn bộ sáng tác của Nguyễn Huy
Tưởng ở thời kỳ trước cách mạng tháng tám đều dành cho đề tài lịch sử. Nguyễn Huy
Tưởng không khai thác lịch sử theo quan điểm phục cổ, sùng bái và thêu dệt quá khứ.
Nguyễn Huy Tưởng tìm hiểu và thể hiện lịch sử theo quan điểm tiến bộ”
[77, 69].
Với Sống mãi với Thủ Đô và Lũy hoa, Hà Minh Đức khẳng định: “Nguyễn Huy
Tưởng đã rất có ý thức về thời gian nghệ thuật trong tác phẩm. Chiều dài của lịch sử thời
điểm đầu của cuộc kháng chiến thủ đô có một ý nghĩa hết sức quan trọng để miêu tả cuộc
sống và con người trên mảnh đất thiêng liêng này” [77, 79]. Nguyễn Huy Tưởng chú ý
nhiều hơn đến sự chuyển biến của xã hội và con người trong những năm tháng thiêng liêng
ấy. Cũng vì vậy mà Sống mãi với thủ đô “không chỉ nhằm diễn tả lại hai ngày đêm chiến
đấu của quân dân Hà Nội, sâu xa hơn, tác giả muốn nói đến quá trình của từng người dân
Hà Nội đến với Cách mạng và tham gia đấu tranh cách mạng. Thời điểm lịch sử này bộc lộ
rõ nét nhất, đa dạng nhất, chi tiết nhất cái riêng của Hà Nội mà không một thời điểm nào
trước đó và sau này lặp lại nữa” [77, 80]. Cái tài của nhà tiểu thuyết lịch sử là khả năng lựa
chọn những bối cảnh, tình huống quan trọng của lịch sử để vừa có cái nhìn bao quát về vận
mệnh dân tộc vừa đi sâu khai thác những biến chuyển trong đời sống của cá nhân con
người. Theo nhà nghiên cứu, “Nguyễn Huy Tưởng đã dựng lại được một Hà Nội bao quát
trong không gian, chuyển động và lắng sâu trong thời gian...Bề dày lịch sử đã tạo nên một
truyền thống kiên cường trong đấu tranh và cũng tạo dựng nếp sống văn hóa lâu đời... Viết
Sống mãi với thủ đô, Nguyễn Huy Tưởng luôn có ý thức tìm tòi phát hiện ở mỗi cuộc đời,
mỗi căn nhà một điều gì đó còn ẩn tàng của hôm qua và hôm nay” [77, 80].
Nguyễn Bích Thu và Tôn Thảo Miên đặc biệt chú ý tới tiểu thuyết Sống mãi với thủ
đô bởi đây là tác phẩm được nhà văn nung nấu từ rất lâu, dù tác phẩm còn dang dở nhưng
cũng thể hiện được sự trưởng thành của ngòi bút đang độ sung sức của ông. Đánh giá về
tiểu thuyết này, hai nhà nghiên cứu viết: “Với Sống mãi với thủ đô, Nguyễn Huy Tưởng
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
không chỉ thành công trong tái tạo không khí hào hùng bi tráng của lịch sử mà cả trong
miêu tả diễn biến tâm lý phức tạp, tinh tế của đời sống tâm hồn nhân vật, mang ý nghĩa
nhân bản, đề cao lòng yêu nước và sự sống con người. Ở góc độ khác, chỉ với ngòi bút hào
hoa, tác giả cuốn tiểu thuyết mới tả được những nét sang trọng, lịch sự của thủ đô. Sang
trọng lịch sự mà vẫn yêu nước, ghét Tây, điều đó làm nên bản sắc riêng, không lẫn với các
trường thiên tiểu thuyết cùng thời của Sống mãi với thủ đô” [76,21]
Nhà văn Như Phong đã cảm nhận được bước ngoặt mới trong quá trình sáng tạo của
Nguyễn Huy Tưởng mà Sống mãi với thủ đô là một minh chứng: “Tập tiểu thuyết chưa
trọn vẹn này đã làm cho ta thấy được các tính chất phức tạp của thực tế. Kháng chiến
không còn cái vẻ tráng lệ hơi dễ dãi, cái lối lý tưởng hóa con người hơi ngây thơ mà nhiều
tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng trước đây vẫn có. Với tác phẩm cuối cùng này, anh đã tự
đổi mới trong phương pháp nghệ thuật của mình” [54]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc
Thiện cũng chỉ ra giá trị của tác phẩm là ở sự lựa chọn một thời khắc lịch sử đáng giá để tạo
nền cho tiểu thuyết, “trong độ dồn nén căng thẳng của thời gian và sự bức bối chật hẹp của
không gian, tức một trường không thời gian thử thách nghiệt ngã bản lĩnh dân tộc cũng như
từng số phận con người. Qua đó, ông khẳng định những giá trị thẩm mỹ mang thuộc tính
nhân bản, cao thượng, tốt đẹp” [73] và cho rằng Sống mãi với thủ đô đồng dạng với
Chiến tranh và hòa bình ở việc khai thác lịch sử như là một quá khứ gần, ở nghệ thuật đan
cài giữa kể và tả, giữa khắc họa chân dung, hành động nhân vật với những mổ xẻ diễn biến
nội tâm qua những xung đột của ý chí, dục vọng, tình cảm dưới tác động của hoàn cảnh bên
ngoài, của người khác cũng như sự tự vận động trong tiềm thức, ám ảnh và những lò so nội
lực bị kìm giữ. Bài viết cũng chỉ ra sự phản ánh hiện thực của tác phẩm ở cấp độ tổng kết,
soi sáng theo chiều rộng và chiều sâu của những vấn đề đạo đức, nhân sinh, khám phá
những lĩnh vực còn tiềm ẩn trong thế giới tinh thần của những người hôm qua, đưa tất cả
trở thành sống động trước mắt người đọc.
Vân Thanh trong bài Cuối thế kỷ nhìn lại Nguyễn Huy Tưởng với các tác phẩm
viết cho tuổi thơ có nêu nhận định như sau: “Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn viết cho thiếu
nhi rất có trách nhiệm. Hướng viết của ông là ca ngợi con người Việt Nam anh hùng trong
quá khứ và trong hiện tại. Truyện viết cho thiếu nhi của ông đều lấy truyền thống dân tộc
làm chủ đề miêu tả” .
Trong công trình nghiên cứu về tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng , Thiều Quang
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
khẳng định đây là một công trình sáng tác nghệ thuật đã đạt đến mức nghệ thuật rung cảm
được lòng người, cho nên mặc dù có đối tượng riêng của nó là thiếu nhi, nhưng thực tế nó
vẫn là một tác phẩm chung cho tất cả các giới, các tầng lớp bạn đọc.
Nhìn chung các bài phê bình và nghiên cứu xoay quanh đề tài tiểu thuyết lịch sử trong
sự nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng thường tập trung khai thác ở một vài điểm nổi bật như
góc nhìn, cách tiếp cận lịch sử, nghệ thuật xây dựng nhân vật... song chưa có cái nhìn bao
quát về cảm hứng lịch sử của nhà văn. Đặc biệt các nhà nghiên cứu thường tập trung vào
tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô ít có tài liệu viết về Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Những bài
viết có đề cập đến hai tác phẩm Đêm hội Long Trì và An Tư đều chưa khai thác sâu cả về
nội dung và giá trị nghệ thuật mà chỉ dừng lại ở mức giới thiệu nội dung tác phẩm. Như vậy
những giá trị của Đêm hội Long Trì và An Tư đã bị chìm khuất so với chính những sáng
tác của cùng tác giả. Do đó, chúng tôi hy vọng qua luận văn có thể làm rõ hơn những giá trị
trong các tiểu thuyết lịch sử này.
3/. Mục đích nghiên cứu:
Luận văn tiến hành khảo sát nghiên cứu một cách bao quát và hệ thống về cảm hứng
lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng trong các tiểu thuyết Đêm hội Long Trì, An Tư, Sống mãi
với thủ đô, Lá cờ thêu sáu chữ vàng, là những tiểu thuyết có tính chất như cái mới khởi
đầu và kết thúc văn nghiệp của ông. Chúng tôi mong muốn có cái nhìn khách quan và khoa
học về cảm hứng lịch sử của nhà văn từ góc độ thể loại. Trên cơ sở đó, ghi nhận những
đóng góp và khẳng định vị trí của nhà văn với sự phát triển thể loại tiểu thuyết lịch sử nói
riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung.
Xét ở góc độ sư phạm, người viết luận văn nhận thấy việc đưa những tác phẩm văn
học viết về đề tài lịch sử dân tộc vào trong nhà trường còn quá hạn chế. Đó là nguyên nhân
dẫn đến hiện tượng mà những người tâm huyết với sự nghiệp giáo dục đang đề cập đến như
một vấn đề bất ổn. Thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay còn thờ ơ với lịch sử nước nhà, trong khi
lại am hiểu về lịch sử Trung Quốc. Nguyên nhân chính là sự truyền bá tràn lan lịch sử, văn
hóa Trung Quốc qua phim ảnh, truyền thuyết, còn những pho tiểu thuyết lịch sử Việt Nam,
do ít được phổ biến trong thực tế cuộc sống nên còn quá xa lạ với thế hệ trẻ hiện nay. Khám
phá giá trị tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng, những tiểu thuyết được viết nên bởi
tình yêu tha thiết với lịch sử dân tộc và ước muốn của cố nhà văn lưu lại những niềm tự hào
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
trong quá khứ cho thế hệ mai sau, người viết luận văn mong sẽ được góp thêm tiếng nói
vào việc đưa tiểu thuyết lịch sử nói chung và tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng nói
riêng vào giảng dạy trong nhà trường.
4/. Đối tượng nghiên cứu:
Cảm hứng lịch sử là một vấn đề thuộc phạm trù lý luận văn học - vấn đề cảm hứng chủ
đạo - là một trong những yếu tố chính hợp thành tư tưởng tác phẩm.
Xuất phát từ điều kiện thời gian, tư liệu, khả năng còn hạn chế của bản thân, trên cơ sở
tiếp thu những vấn đề lý luận có liên quan từ các công trình lý luận văn học và mỹ học trong
và ngoài nước, người viết luận văn sẽ tiến hành khảo sát cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết
của Nguyễn Huy Tưởng qua hai vấn đề cơ bản:
a. Miêu tả, phân tích cảm hứng lịch sử trong một số tiểu thuyết tiêu biểu.
b. Dựa vào cảm hứng lịch sử bước đầu khái quát một vài đặc điểm chủ yếu của tiểu
thuyết Nguyễn Huy Tưởng.
5/. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu bốn tiểu thuyết: Đêm hội Long Trì (1942), An Tư
(1944), Lá cờ thêu sáu chữ vàng (1960), Sống mãi với thủ đô (1961). Bốn tiểu thuyết này
được viết theo trình tự thời gian từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc sự nghiệp của nhà văn.
Trong quá trình khảo sát bốn tác phẩm nói trên người viết luận văn có sự tham khảo và so
sánh với những tác phẩm của các nhà văn khác cùng đề tài.
6/. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài đóng góp thêm một cái nhìn mới có tính chất hệ thống và hoàn thiện hơn về
cảm hứng lịch sử trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng.
Trân trọng và kế thừa gợi ý của những người đi trước, bổ sung những tìm tòi mới, đề
tài tập trung nghiên cứu tương đối toàn diện, hệ thống và tỉ mỉ tiểu thuyết lịch sử của
Nguyễn Huy Tưởng trước và sau Cách mạng tháng tám trên phương diện tư tưởng thẩm mĩ.
Mong muốn của đề tài là sẽ góp thêm một tiếng nói hữu ích trong việc nghiên cứu văn
nghiệp Nguyễn Huy Tưởng, có thể làm tài liệu tham khảo cho việc dạy và học văn trong các
nhà trường phổ thông.
7/. Các phương pháp nghiên cứu:
7.1. Phương pháp lịch sử xã hội.
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
7.2. Phương pháp so sánh văn học.
7.3. Phương pháp phân tích, đối chiếu.
7.4. Vận dụng lý thuyết thi pháp tác phẩm và thi pháp thể loại.
8/. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thư mục, nội dung luận văn bao gồm 3 chương:
* Chương 1: Về một số khái niệm
Trình bày cách hiểu của người viết luận văn về một số khái niệm có liên quan đến đề
tài như cảm hứng, cảm hứng lịch sử, khái niệm tiểu thuyết, những đặc trưng cơ bản của thể
loại tiểu thuyết.
* Chương 2: Những chất liệu chủ yếu của cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết
Nguyễn Huy Tưởng
Miêu tả phân tích cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng trước và
sau cách mạng tháng Tám qua một số tác phẩm tiêu biểu.
* Chương 3: Một số đặc điểm chủ yếu của tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng.
Bước đầu tổng hợp, khái quát một số đặc điểm chung nhất của tiểu thuyết Nguyễn
Huy Tưởng gắn liền với đặc trưng tiểu thuyết và cảm hứng chủ đạo xuyên suốt những tác
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
phẩm.
CHƯƠNG 1: VỀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1. Về khái niệm cảm hứng và cảm hứng lịch sử.
1.1.1. Về khái niệm cảm hứng và cảm hứng chủ đạo.
Cảm hứng là gì?
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng rất tâm huyết với đề
tài lịch sử. Đó là mảng đề tài xuyên suốt hành trình sáng tạo của ông. Lịch sử dân tộc đối
với ông là niềm say mê, đầy cuốn hút và đã trở thành cảm hứng chủ đạo trong văn nghiệp
của Nguyễn Huy Tưởng. Trong luận văn của mình, chúng tôi muốn nhìn nhận các sáng tác
của nhà văn từ góc độ bao quát nhất là cảm hứng chủ đạo. Đó vừa là điểm khởi đầu trong
quá trình sáng tác vừa là định hướng cho cả quá trình của nhà văn.
Quá trình sáng tạo của nhà văn bắt đầu từ khi nảy sinh những dự tính rồi sau đó là quá
trình nảy sinh những quan niệm mang tư tưởng sáng tạo của tác phẩm văn học, những tư
tưởng ấy thường gắn liền với sự thụ cảm của nhà văn với cuộc sống dưới hình thức cảm
xúc. Trong cuốn Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học.
M.B.Khrapchenkô cho rằng: “Sự dồi dào về cảm xúc của tác phẩm nghệ thuật là một đặc
điểm hữu cơ của tái tạo hiện thực bằng hình tượng, là một đặc điểm của sự thể hiện những
tư tưởng sáng tạo, sự phát triển của các tính cách” [48,38]. Nhà phê bình V.G.Biêlinxky
xác định vai trò và nguồn gốc của tư tưởng trong tác phẩm: “Trong những tác phẩm nghệ
thuật chân chính, tư tưởng đâu phải là một khái niệm trừu tượng được thể hiện một cách
giáo điều mà nó là linh hồn của chúng, nó chan hòa trong chúng như ánh sáng chan hòa
trong pha lê. Trong những tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng là cảm hứng chủ đạo của chúng.
Cảm hứng chủ đạo là gì? Đó là sự thâm nhập say mê và sự ham thích một tư tưởng nào đó,
mỗi tác phẩm nghệ thuật phải là kết quả của cảm hứng chủ đạo, phải thấm đượm nó. Thiếu
cảm hứng chủ đạo thì không thể hiểu được là cái gì đã buộc nhà thơ cầm bút và cung cấp
cho anh ta sức lực và khả năng để khởi đầu và kết thúc một tác phẩm đôi khi khá đồ sộ”
[87,56].Cảm hứng sáng tạo ở nhà văn không thể hiểu một cách giản đơn thô thiển như là
phút say mê bất chợt hoặc coi nó như là thần hứng trong nhà văn nảy sinh từ những xúc cảm
tâm linh kì quái. Cảm hứng sáng tạo ở người nghệ sĩ đơn giản và thực tế: “Cảm hứng là một
trạng thái lao động nghiêm túc của con người. Sự cao hứng trong tâm hồn không biểu hiện
ở điệu bộ phường tuồng và trong sự bốc đồng” [31,62]. A. Puskin đã định nghĩa cảm hứng
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
một cách chính xác và giản dị như sau: “Cảm hứng là trạng thái tâm hồn thích hợp cho sự
tiếp nhận một cách sinh động những ấn tượng, do đó, cho sự lĩnh hội một cách nhanh chóng
những ý niệm tức là những cái tạo điều kiện cho việc giải thích những ấn tượng nói trên”.
K. Pautopxki nhấn mạnh: “Cảm hứng là trạng thái lao động nghiêm túc, nhưng nó có màu
sắc thơ riêng biệt của nó... cảm hứng đi vào tâm hồn chúng ta giống như một buổi sáng mùa
hạ rực rỡ mới rũ khỏi thân mình sương mù của một đêm yên ả, nhưng vẫn còn là hạt sương
sớm với những bụi cây ẩm ướt. Nó nhẹ nhàng thở cái tươi mát tốt lành của nó vào mặt
chúng ta. Cảm hứng giống như mối tình đầu, khi tim ta rộn ràng cảm thấy trước những
cuộc gặp gỡ ly kỳ, đôi mắt đẹp tuyệt trần, những nụ cười và những câu nói ngập ngừng
dang dở... lúc đó thế giới bên trong chúng ta trở nên tinh tế và chuẩn xác như một cây đàn
kỳ diệu, đáp lại mọi âm thanh của cuộc đời, kể cả những tiếng động thầm kín nhất, khó
nhận thấy nhất” [31,63]. Như vậy, cảm hứng sáng tác vừa là cuộc hành trình nhọc nhằn,
vừa là sự nghỉ ngơi thư thái trong tâm hồn nghệ sĩ. Nó buộc người nghệ sĩ vào trạng thái lao
động nghiêm túc, cẩn trọng bằng niềm say mê, bằng tất cả niềm hứng khởi.
Cảm hứng chủ đạo.
Tiềm ẩn trong mỗi con người là một tâm hồn nghệ sĩ, đó là khả năng rung động trước
cái đẹp trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Đối với nhà văn, những khoảnh khắc rung động
ấy càng nhiều hơn những người bình thường và cũng mãnh liệt hơn. Những cảm xúc mãnh
liệt nhất bộc lộ thành tác phẩm là những cảm hứng chủ đạo của nhà văn. Trong Từ điển
thuật ngữ văn học, các tác giả đã đưa ra khái niệm về cảm hứng chủ đạo như sau: Cảm
hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật,
gắn với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của
những người tiếp nhận tác phẩm (...) Về sau lý luận văn học xem cảm hứng chủ đạo là “một
yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng và xúc cảm ở nghệ sĩ đối với
thế giới được mô tả” [43,29]. V. G. Bêlinxki từng nói: “Cảm hứng chủ đạo là gì? - Sáng
tác, đó không phải là trò đùa, và tác phẩm nghệ thuật không phải là sản phẩm của nhàn hạ
hay tùy hứng, nó đòi hỏi lao động của nghệ sĩ...cảm hứng là sức mạnh hùng hậu. Trong cảm
hứng nhà thơ là người yêu say tư tưởng, như yêu cái đẹp, yêu một sinh thể, đắm đuối vào
trong đó và anh ta ngắm nó không phải bằng lý trí, lý tính, không phải bằng tình cảm hay
một năng lực nào đó của tâm hồn, mà là bằng tất cả sự tràn đầy và toàn vẹn của tồn tại tinh
thần của mình và do đó tư tưởng xuất hiện trong tác phẩm không phải là những suy nghĩ
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
trừu tượng, không phải là hình thức chết cứng, mà là một sáng tạo sống động” [88,111].
Cảm hứng được biểu hiện rõ nhất khi nhà văn bắt đầu viết, nó định hướng nhà văn
chọn lựa đề tài, nhân vật, v.v.. nhưng cũng có thể bàng bạc trong hầu hết các khâu của quá
trình sáng tác. Bất kỳ ngành nghề nào cũng cần cảm hứng, đặc biệt là nghề văn: “Viết văn là
gan ruột, tâm huyết, chỉ bộc lộ những gì đã thật sự tràn đầy trong lòng, không thể cho ra
những sản phẩm của một tâm hồn bằng lặng vô vị và miễn cưỡng. Cảm hứng là một trạng
thái tâm lý căng thẳng nhưng say mê khác thường. Sự căng thẳng của ý chí và trí tuệ, sự dồi
dào về cảm xúc, khi đã đạt đến sự hài hòa, kết tinh, sẽ cháy bùng trong tư duy nghệ thuật
của nhà văn, dẫn dắt họ đến những mục tiêu da diết bằng con đường gần như trực giác, bản
năng”. [43, 210]. Như vậy, cảm hứng nghệ thuật là yếu tố đầu tiên dẫn đến sự hình thành
của một tác phẩm. Đối với thi sĩ, cảm hứng có thể đến trong một giây phút xuất thần nhưng
với một tiểu thuyết gia, cảm hứng lại hình thành từ cả một quá trình tích tụ. Bởi lẽ, thơ là
cảm xúc bất chợt, nhưng tiểu thuyết là thể loại lớn có dung lượng đồ sộ, kết cấu phức tạp,
với hệ thống nhân vật phong phú và đa dạng. Để bắt tay vào quá trình xây dựng một tiểu
thuyết, nhà văn cần phải có sự say mê với hiện thực, phải hiểu hết những tình tiết trong hiện
thực được phản ánh. Trong cả quá trình sáng tác, cảm thức của nhà văn về thực tại không
thay đổi nhưng chính trong lúc làm việc, cảm hứng dấy lên những trận cuồng phong, những
dòng thác ý nghĩ mới và những từ mới. Cảm hứng ấy đòi hỏi nhà văn phải liên tục trau dồi
vốn sống, bởi nếu bỏ đói nó thì cảm hứng sẽ phụt tắt.
1.1.2 Cảm hứng lịch sử:
Cảm hứng chủ đạo là cái tạo nên nền tảng của giọng điệu trong tác phẩm của nhà văn,
nó chi phối việc xây dựng hệ thống hình tượng nhân vật, xác lập góc nhìn của tác giả đối
với hiện thực được phản ánh. Cảm hứng xuất hiện khi tác giả nói đến một cái gì cao cả, có ý
nghĩa tồn tại của con người, nói đến niềm vui, nỗi đau, lòng căm giận có ý nghĩa sâu rộng.
Ứng với mỗi nguồn cảm hứng ấy là một phương pháp sáng tác, một loại hình tác phẩm, một
giọng điệu riêng. Nếu cảm hứng là cao cả thì thế giới hình tượng là những hình tượng anh
hùng, giọng điệu tác phẩm là cao cả, nhà văn sẽ sử dụng các từ cao cả, to lớn, cổ kính, có
âm hưởng thống thiết. Nếu cảm hứng là chính luận, phê phán thì hệ thống nhân vật sẽ là
những nhân vật tầm thường, chứa đựng những nghịch lý trong tính cách và giọng điệu tác
phẩm thiên về phạm trù cái hài mang yếu tố mỉa mai, châm biếm,... Cảm hứng cảm thương
sẽ tạo nên thế giới hình tượng bi thương bằng giọng điệu ai oán. Chưa có nhà lý luận nào
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
đưa ra khái niệm cảm hứng lịch sử nhưng trong nhiều bài phê bình nghiên cứu về tiểu
thuyết lịch sử chúng ta dễ dàng bắt gặp thuật ngữ này. Căn cứ vào cách định nghĩa về cảm
hứng chủ đạo và các loại hình cảm hứng như trên, có thể thuật hiểu sơ lược về cảm hứng
lịch sử: Đó là cảm hứng sáng tác xuất phát từ cảm quan về hiện thực lịch sử, trong đó nhà
văn lấy lịch sử làm đề tài, chất liệu để tạo ra thế giới hình tượng, xác lập cho mình một điểm
nhìn vào quá khứ, tạo ra giọng điệu tác phẩm phù hợp với điểm thời gian mà nó tái hiện. Ở
các loại hình tiểu thuyết khác, trong quá trình sáng tạo, nhà văn có thể dựng lên hiện thực
hoàn toàn hư cấu; nhưng với tiểu thuyết lịch sử là thể loại viết về những con người và sự
việc có thật trong quá khứ nên yếu tố thực đòi hỏi chiếm một phần quan trọng trong tác
phẩm bên cạnh sự hư cấu, sáng tạo. Vì thế, khi chọn cho mình cảm hứng sáng tác là đề tài
lịch sử thì nhà văn không chỉ cần đến khả năng tưởng tượng, vốn ngôn ngữ, óc sáng tạo mà
còn phải thực sự am hiểu và say mê với những dữ liệu lịch sử ngắn ngủi khô khan, những
hiện thực đã hóa thạch, hiểu và tìm thấy trong đó sợi dây liên lạc giữa hôm qua và hôm nay.
Những nhà tiểu thuyết lịch sử xác định cho mình nhiệm vụ: dùng văn chương làm sống lại
quá khứ trong lòng hiện tại, để độc giả hôm nay và mai sau có thể tìm thấy sau những biến
cố thăng trầm của dân tộc, triều đại ấy là thế giới tâm linh, tình cảm của các cá nhân, những
anh hùng lịch sử và cả những con người nhỏ bé vô danh nhưng không thể thiếu trong mỗi
biến cố ấy, họ là đại diện của nhân dân. Tiểu thuyết lịch sử lấy đề tài, cảm hứng từ quá khứ
nhưng cái đích vươn tới là soi sáng thực tại và tương lai. Cảm hứng lịch sử không làm cho
hệ thống hình tượng trong tiểu thuyết xuất hiện đơn thuần trong tư thế của những tượng đài
lịch sử, người viết tiểu thuyết phải biến những tượng đài sẵn có ấy thành những con người
với cá tính đa dạng, phức tạp như chính họ trong cuộc sống. Nếu như những trang lịch sử
ghi lại được một phần, một mặt nào đó của con người, sự kiện trong quá khứ; tiểu thuyết
lịch sử có khả năng làm được điều kì diệu hơn là mô tả cả những phần khuất lấp sau những
bề mặt ấy. Những chi tiết kể như rất đời thường và vụn vặt, có thể dễ dàng bắt gặp trong
thực tại cuộc sống lại chính là những sinh khí tạo hồn cho nhân vật lịch sử.
Như vậy, có thể hiểu cảm hứng lịch sử chính là ngọn lửa say mê và nung nấu tâm can
nhà văn, nó thôi thúc và dẫn đường để nhà văn có thể làm công việc tạo nên da thịt và sinh
khí cho những xác ướp mà sử học cung cấp, để lịch sử được tái hiện sinh động hơn, sâu sắc
hơn trong những hình tượng văn học. Trong tác phẩm văn học cảm hứng lịch sử lắng sâu
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
trong ngôn ngữ, thấm đượm trong bối cảnh không gian và hiện hữu ở nhân vật, từ trang
phục đến cử chỉ, lời thoại, đặc biệt là tình huống chính của tác phẩm bao giờ cũng là một cái
mốc lịch sử trọng đại đối với hiện thực được phản ánh.
1.2 . Về đặc trưng tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử.
1.2.1. Khái niệm tiểu thuyết
Thuật ngữ tiểu thuyết chỉ thể loại tác phẩm tự sự trong đó sự trần thuật tập trung vào
số phận một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó. Sự trần thuật ở đây
được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ cấu”
của nhân cách.
V. G. Biêlinxky gọi tiểu thuyết là “sử thi của đời tư”, do chỗ nó “miêu tả những tình
cảm, dục vọng và những biến cố thuộc đời sống riêng tư và đời sống nội tâm của con
người”.
Tiểu thuyết trình bày đời sống cá nhân và đời sống xã hội như những tố chất có tính
độc lập tương đối, không làm cạn kiệt được nhau, không ngốn nuốt được nhau, đây là đặc
điểm quyết định nội dung thể loại của tiểu thuyết.
Tiểu thuyết phát triển trong những kết cấu cốt truyện rất đa dạng.
Ở Việt Nam, thể loại tiểu thuyết chí quái, tiểu thuyết truyền kỳ và tiểu thuyết chương
hồi đều được du nhập từ sớm. Nhưng thuật ngữ tiểu thuyết lại không du nhập cùng lúc với
thể loại. Trong một thời gian dài người Việt chỉ dùng một khái niệm truyện để định vị cho
nhiều hình thức tự sự khác nhau của mình. Trong truyện có cả văn xuôi, chủ yếu là văn xuôi
chữ Hán, và văn vần, chủ yếu là văn vần chữ nôm, về sau được học giả hiện đại định danh
là truyện thơ hay truyện nôm. Phải đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thuật ngữ tiểu thuyết
mới ra đời, lúc bấy giờ tiểu thuyết Pháp ngày càng được nhiều người Việt mô phỏng, nên
thuật ngữ tiểu thuyết ở Việt Nam sớm gắn bó với hình thức tiểu thuyết phương Tây, mặc dù
cũng được dùng để gọi tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc vốn được dịch khá ồ ạt ở miền Nam
và miền Bắc trong vài thập kỷ đầu thế kỷ XX. Tuy thế, khái niệm truyện vẫn không mất đi,
trái lại tồn tại song song cho đến nay.
1.2.2. Khái niệm tiểu thuyết lịch sử
1.2.2.1. Tiểu thuyết lịch sử là những tác phẩm mang trọn đặc trưng của tiểu thuyết
nhưng lại lấy đề tài lịch sử làm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật. Ở đây, tác giả dựa vào những
sự kiện trong quá khứ, hư cấu tưởng tượng thêm để tạo nên tác phẩm nhằm gây hứng thú
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
cho người đọc. Tiểu thuyết lịch sử tuy mượn đề tài và lấy cảm hứng từ lịch sử nhưng không
hề né tránh, xa rời với hiện tại, đúng như V. G. Biêlinxky đã khẳng định: “Chúng ta hỏi và
chúng ta chất vấn những cái đã qua để chúng ta giải thích cho hiện tại và chỉ ra tương lai
của chúng ta”. Mặc dù lấy những sự kiện, những nhân vật trong lịch sử nhưng các tác giả
của tiểu thuyết lịch sử không chỉ trình bày lại cái tư thế lịch sử mà còn cho chúng ta biết
nhiều mặt khác của đời sống con người, thậm chí cả những mặt sinh hoạt mang tính chất đời
tư của nhân vật “nhằm mang lại cho người đọc những khơi gợi bổ ích và những mỹ cảm văn
học”. Đặc biệt “về phương diện bút pháp, một mặt phải dựa vào lịch sử, nhưng mặt khác
vẫn cho phép hư cấu trong chừng mực thích hợp, nhằm phát huy trí tưởng tượng làm cho sự
chân thực lịch sử được thăng hoa thành chân thực nghệ thuật” [111,146].
Tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết thông thường có những điểm giống và khác nhau:
Môi trường của nhân vật tiểu thuyết lịch sử thuộc về thời quá khứ đòi hỏi nhà viết tiểu
thuyết lịch sử phải tìm cách dựng lại qua một quá trình nghiên cứu công phu. Vì thế nhà viết
tiểu thuyết lịch sử phải có sự hiểu biết như một nhà sử học. Tiểu thuyết lịch sử không chỉ
xây dựng những chi tiết, những sự kiện, nhân vật như trong lịch sử mà còn chú ý đến đời tư
của nhân vật. Yếu tố đời tư của nhân vật đã làm tăng tính chất văn chương, tính tiểu thuyết
và tính đời thường cho các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử. Trong tiểu thuyết lịch sử, người
đọc có thể bắt gặp mọi sự diễn ra như trong cuộc đời. Tiểu thuyết lịch sử cũng đòi hỏi nhà
văn không được sao chép lịch sử một cách giản đơn mà đòi hỏi phải có sự sáng tạo. Sáng
tạo là bản chất của nghệ thuật và cũng là đặc trưng của thể loại tiểu thuyết lịch sử. Bởi vậy,
yêu cầu đặt ra trong tiểu thuyết lịch sử là cần phải có sự kết hợp hài hòa giữa hư cấu tưởng
tượng và sự thật lịch sử.
1.2.2.2. Khái niệm tiểu thuyết lịch sử du nhập vào nước ta từ đầu thế kỷ XX cùng với
quá trình hiện đại hóa văn học. Ngay trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã phân biệt
khá rõ lịch sử, ký sự lịch sử và tiểu thuyết lịch sử. “Khi viết về một quyển lịch sử, nhà chép
sử không lưu tâm đến những việc cá nhân không ảnh hưởng đến xã hội. Nhưng khi viết
những bài lịch sử ký sự, nhà văn có thể viết một cách tỉ mỉ những việc cá nhân không ảnh
hưởng gì đến dân chúng chỉ có cái thú vị riêng của nó mà thôi. Không những thế, khi viết
một quyển lịch sử ký sự nhà văn lại cần phải lưu tâm đến những việc đời tư , lối ấy cũng
gần như lối chép sử vậy... còn như viết lịch sử tiểu thuyết, nhà văn chỉ phải căn cứ vào vài
việc con con đã qua rồi vẽ vời cho ra một chuyện lớn, cốt giữ cho mọi việc đừng trái với
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
thời đại, còn không cần phải hoàn toàn sự thật” [112, tr 342]. Với quan điểm này, Vũ Ngọc
Phan xếp các tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật, Đào Trinh Nhất, Phan Trần Chúc vào các
loại ký lịch sử mặc dù có những tác phẩm đã in khá rõ dấu ấn sáng tạo của tác giả ở cách
sắp xếp chi tiết, miêu tả nhân vật... có thể thấy mặc dù phân biệt các thể loại tương đối chính
xác nhưng Vũ Ngọc Phan vẫn còn khá mơ hồ về tiểu thuyết lịch sử.
Nguyễn Lương Bích trong lời giới thiệu tiểu thuyết Quận He khởi nghĩa đã trình bày
quan niệm của mình về tiểu thuyết lịch sử. “Đó là một loại hình văn học có tác dụng mạnh
trong việc giáo dục tư tưởng cho quần chúng, nó đem kiến thức lịch sử đến cho người đọc,
không bằng sử liệu, số liệu, không bằng lý luận, phân tích mà bằng con đường tình cảm. Nó
dùng nghệ thuật sáng tạo, dùng hình ảnh văn học để làm rung động người đọc, làm cho
người đọc hiểu lịch sử thông qua sự thưởng thức cái hay, cái đẹp của văn học nghệ thuật”
[118, tr 3].
Về mặt lý thuyết, các tác giả trên đều làm sáng tỏ được một vấn đề nào đó trong khái
niệm về tiểu thuyết lịch sử. Song trên thực tiễn sáng tác thì tiểu thuyết lịch sử của ta qua các
thời kỳ nhìn chung còn chưa đạt đến cái chuẩn lý tưởng mà thế giới đã biết đến. Phần lớn
các tiểu thuyết lịch sử của ta đều coi việc tái hiện sự kiện lịch sử, không khí lịch sử là mục
đích chính, nghĩa là tiểu thuyết lịch sử Việt Nam coi trọng nội dung phản ánh hơn là tính
tiểu thuyết. Nguyễn Tử Siêu đã xác định một quan điểm rõ ràng là “Bồi đắp được chút đỉnh
về cái quan niệm đối với tổ quốc, nhắc nhở cái nghĩa vụ đối với dân nước”. [63, 32]. Xu
hướng khai thác bài học lịch sử để rút ra bài học đạo đức và phản ánh trung thành lịch sử đã
dần trở nên tiêu biểu cho tiểu thuyết lịch sử nước ta. Thái Vũ cũng bày tỏ quan điểm của
mình: “Khi tôi nói, tôi viết tiểu thuyết lịch sử sự thật là tôi không biết tiểu thuyết mà tôi viết
lịch sử... trước hết, phải trung thực với mọi chi tiết lịch sử mà sử biên niên có ghi. Hư cấu
nhưng không phải bịa. Tôi viết tiểu thuyết về lịch sử nhưng tôi không viết tiểu thuyết mà qua
cách hư cấu của tôi: tôn trọng tính chân xác của lịch sử” [113].
Từ nửa đầu thế kỷ XX, giai đoạn từ 1930-1945, các nhà văn lãng mạn đã bắt đầu chú ý
đến cách viết tiểu thuyết lịch sử “Chú ý đến việc làm người đọc say đắm mơ màng bởi
những cái có thể có được” (Lan Khai). Đặc biệt, họ bắt đầu đổi mới cách viết theo kiểu của
những cuốn tiểu thuyết lịch sử hiện đại ở phương Tây mà biểu hiện rõ nhất là việc đưa tình
yêu lứa đôi vào để giữ vai trò trọng yếu của tác phẩm. Tình yêu trong trắng và đau xót của
Quỳnh Hoa và Bảo Kim trong Đêm hội Long Trì, của An Tư và Trần Thông trong tác
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
phẩm An Tư của Nguyễn Huy Tưởng, của Bội Ngọc và Lý Công Uẩn trong tác phẩm Cái
hột mận của Lan Khai... là những dẫn chứng tiêu biểu. Nếu quan niệm tiểu thuyết lịch sử
phải tái hiện sự kiện, không khí lịch sử là mục đích chính đã tạo nên thói quen đọc đối chiếu
như trước đây thì đến những tác giả này, họ chú ý nhiều hơn đến nghệ thuật tiểu thuyết như
xây dựng nhân vật, sự phong phú về đề tài... bước đầu đã làm cho tiểu thuyết lịch sử khởi
sắc, đỡ tẻ nhạt.
1.3. Hướng tiếp cận, lý giải cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy
Tưởng.
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, số lượng những tiểu thuyết gia có sở trường về
đề tài lịch sử không nhiều. Trong giai đoạn 1930 – 1945, nhiều tiểu thuyết lấy đề tài lịch sử
ra đời nhưng phần lớn mang dáng dấp của tiểu thuyết kiếm hiệp hay rơi vào sự li kì hóa đời
tư các nhân vật lịch sử, biến những câu chuyện lịch sử thành những chuyện tình dễ dãi, lâm
li. Rất ít tác giả tôn trọng tinh thần của tiểu thuyết lịch sử là sáng tạo văn học dựa trên tinh
thần cơ bản của hiện thực lịch sử. Nguyễn Huy Tưởng nằm trong con số ít ỏi đó.
Phong cách, cảm hứng sáng tác của nhà văn do nhiều yếu tố tạo thành. Trước hết là
yếu tố con người, cuộc đời, môi trường hoàn cảnh sống, thứ đến là sự chi phối cảm quan
của thời đại. Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960) sinh ra trong một gia đình nhà nho tại làng
Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội). Ngay từ khi còn ngồi
trên ghế nhà trường, ông đã say mê những truyền thuyết, những câu chuyện về các nhân vật
anh hùng trong lịch sử. Cảm hứng lịch sử trong ông được vun đắp từ rất nhiều yếu tố và trở
thành niềm say mê thực thụ, sau này trở thành cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của ông.
Nguồn cảm hứng ấy được hình thành từ hai nhân tố: Khách quan và chủ quan.
1.3.1 Nhân tố khách quan.
1.3.1.1 Bối cảnh thời đại.
Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực. Mỗi nhà văn là thư kí trung thành của thời
đại,sinh ra để làm tròn sứ mạng nào đó với thời đại của mình, điều đó dường như là qui luật.
Nguyễn Huy Tưởng sống chưa đầy nửa thế kỷ nhưng có cái may mắn là được chứng kiến
những trang sử đau thương nhất và cũng rất hào hùng của đất nước. Những bão táp lịch sử
tác động mạnh mẽ tới tâm hồn nhà văn. Bằng sự nhạy cảm riêng, ông tìm thấy cho mình
niềm cảm hứng trong những điểm mốc thời gian, ghi lại những biến động của dân tộc Việt
Nam và của thế giới. Thế kỷ XX là quãng thời gian nhiều thăng trầm nhất của lịch sử nhân
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
loại nói chung và của đất nước Việt Nam nói riêng. Đầu thế kỷ XX, hệ thống thuộc địa của
thế giới hình thành, cùng với nó là sự phát triển của chủ nghĩa thực dân đế quốc, chủ nghĩa
phát xít. Hai cuộc đại chiến thế giới nổ ra gây ảnh hưởng lớn tới đời sống của nhân loại. Sau
mỗi cuộc chiến tranh thảm khốc ấy, con người lại thúc đẩy nền khoa học kỹ thuật của mình
phát triển mạnh mẽ hơn. Đời sống vật chất thay đổi dẫn tới sự biến động trong đời sống tinh
thần của con người. Biểu hiện rõ nhất là sự ra đời của vô số những hệ thống tư tưởng triết
học, những trường phái văn học nghệ thuật với cảm quan đầy bế tắc trước thực tại cuộc
sống. Những lối sống ”nổi loạn”, những tư tưởng tiêu cực về nhân sinh rút cục chỉ là biểu
hiện của sự chán ghét thực tại, là mong ước tìm ra lối thoát một cách tuyệt vọng cho cuộc
sống hiện thực. Những học thuyết tư tưởng ấy theo con đường khai thác thuộc địa xâm nhập
vào đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam - cái xã hội đã ngủ quên trong một ngàn năm
thống trị của ý thức hệ phong kiến. Luồng gió mới của cuộc cách tân Âu hóa đầu thế kỷ,
cùng với sự ra đời của một thế hệ những trí thức Tây học đã thay thế những nhà nho truyền
thống, đã làm thay đổi diện mạo văn hóa nước nhà. Đời sống văn học cũng sôi động hơn
nhưng cũng phức tạp hơn với nhiều trào lưu và trường phái sáng tác khác nhau. Nhìn chung
ở trào lưu văn học công khai, các nhà văn đều cố gắng tìm lối thoát tư tưởng cho mình bằng
văn học. Quay trở về với quá khứ, với lịch sử cũng là một lối thoát trong tư tưởng đối với
một thế hệ những người sống trong thời đại ấy.
Lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX là khoảng thời gian có nhiều biến động nhất. Chỉ
tính riêng quãng thời gian non nửa thế kỷ mà nhà văn Nguyễn Huy Tưởng được sống và
chứng kiến, đã có bao biến cố thay đổi vận mệnh của mỗi con người. Đó là những năm
tháng cả dân tộc lầm than trong ách nô lệ của thực dân, phong kiến và phát xít, đỉnh điểm là
nạn đói thảm khốc năm 1945. Đó là những ngày tháng đấu tranh không mệt mỏi của một
dân tộc bé nhỏ nhưng có sức sống dẻo dai, mãnh liệt, với quyết tâm giành bằng được độc
lập tự do. Đó là những thời khắc hào hùng của cuộc cách mạng tháng Tám, khi người Việt
Nam dõng dạc tuyên bố nền độc lập trước nhân dân thế giới, kiêu hãnh xác lập vị trí của
mình trên bản đồ thế giới trong tư cách một quốc gia mang tư tưởng tiến bộ, có lập trường
kiên định trong công cuộc chống chủ nghĩa thực dân và phát xít. Đó cũng là bối cảnh đầy
sóng gió đối với một thể chế chính quyền dân chủ cộng hòa non trẻ vừa lập lên ngày
2/9/1945, ngay lập tức ngày 23/9/1945 đã bị thực dân Pháp quay trở lại xâm lược. Nam Bộ
đã phải đối phó với nguy cơ thù trong giặc ngoài. Là người con của thủ đô, Nguyễn Huy
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
Tưởng không khỏi đau xót khi chứng kiến những ngày cả thủ đô kháng chiến chìm trong
khói lửa (tháng 12-1946) và sung sướng, tự hào trong ngày về chiến thắng của người Hà
Nội sau chín năm trường gian khổ (10-10-1954). Ngay sau ngày hòa bình, nhà văn sống
trong không khí của một thời kỳ lịch sử đầy biến động, với những công cuộc cải cách có tác
động sâu sắc tới đời sống vật chất và tinh thần xã hội. Bản thân bối cảnh lịch sử ấy vừa là
vốn sống, vừa khơi lên niềm say mê mãnh liệt của nhà văn với lịch sử dân tộc. Đây chính là
một cơ may đối với thế hệ những “nhà văn trưởng thành qua hai chế độ”, khơi lên ngọn lửa
say mê đối với lịch sử dân tộc trong tâm hồn tác giả. Tuy nhiên yếu tố khách quan chưa phải
là yếu tố quyết định đối với sự hình thành cảm hứng trong quá trình sáng tạo, nhân tố chủ
quan mới là quan trọng hơn cả đối với nhà văn.
1.3.1.2 Quê hương
Quê hương không những là nơi “chôn rau cắt rốn”, mà còn là nơi con người tiếp nhận
những bài học làm người đầu tiên. Quê hương là nơi tạo nên nhân cách của mỗi cá nhân.
Những phong tục tập quán của quê hương ăn sâu trong tính cách con người đến mức dù khi
trưởng thành, con người có rời xa nơi ấy vẫn mang trong mình nếp nghĩ, lối sống đặc trưng
của nơi mình sinh ra. Đối với nhà văn, quê hương còn là cội nguồn cảm hứng sáng tạo, như
nhà văn Raxun Gamzatop từng ví quê hương Đaghextan của mình là “khung cửa nhỏ nhìn
ra đại dương”, là ngưỡng cửa đầu tiên đưa con người hòa nhập với thế giới bao la, quê
hương là đề tài vĩnh cửu trong sáng tạo nghệ thuật.
Làng Dục Tú - quê hương của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng là mảnh đất mà các nhà
nghiên cứu cho là “tất cả mọi cái đều là lịch sử”.Mảnh đất Đông Ngàn là quê hương của
những làng cổ, thuộc phủ Từ Sơn ngày trước. Trên mảnh đất ấy thấm đẫm những dòng lịch
sử: lịch sử dựng nước, lịch sử chống ngoại xâm, lịch sử văn hóa, lịch sử xã hội. Liền ngay
Dục Tú là Cổ Loa, đế đô của nhà Thục, nơi có ba vòng thành Ốc, có những đình miếu nguy
nga, giếng Ngọc sâu thẳm dưới một cây đa nghìn tuổi như nhân chứng lịch sử kiên định
trước bão táp cuộc đời. Xa hơn chút nữa là Đình Bảng, quê hương phát tích của nhà Lý với
ngôi đền Đô thờ tám vị hoàng đế của triều đại này; làng Phù Đổng, quê ông Gióng, người
anh hùng đánh đuổi giặc Ân. Đây cũng là nơi rộn rã bước chân hành quân của đạo quân
dưới sự chỉ huy của thái úy Lý Thường Kiệt lên phòng tuyến sông Cầu, là ngã ba Xà, nơi
vang lên bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư...”
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
trong cuộc kháng chiến hào hùng chống quân Tống xâm lược. Mỗi thời đại ghi dấu trên
mảnh đất quê ông bằng những chiến công tiếp nối chiến công, bằng truyền thống đáng tự
hào của dân tộc.
Đất Đông Ngàn còn là vùng quê văn hiến của tỉnh Kinh Bắc xưa, người dân ở đây vẫn
tự hào rằng: “Đất Đông Ngàn hơn người ngoan thiên hạ”. Đây là cái nôi của nhiều ông
Cống, ông Nghè, của Trạng Me, Trạng Ngọt, là quê hương của nhiều nhà thơ, nhà văn nổi
tiếng. Trên vùng đất này còn lưu dấu nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng đậm chất dân tộc
như chùa Dâu, chùa Tháp Bút, với những tác phẩm điêu khắc là sản phẩm từ bàn tay những
con người tài hoa của làng nghề Kiêu Kị, Đồng Kị. Nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cổ
truyền còn được người dân nơi đây lưu giữ qua những hội hè đình đám mùa xuân: “Mồng
bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu, mồng chín đâu đâu về xem hội Gióng”, rộn rã náo nức
trong khúc hát quan họ say đắm lòng người và tiếng trống quân, nhịp phách quanh chiếu
chèo. Chất tài hoa, vẻ đẹp văn hóa ngấm vào trong mạch máu của mọi người dân nơi đây,
và tự bao giờ thấm trong họ chất hào hoa, nghệ sĩ.
Đối với Nguyễn Huy Tưởng, quê hương vừa là mảnh đất thực tế sống động vừa là
mảnh đất huyền thoại, chuyện của nó vừa là chuyện của một vùng, một miền vừa là chuyện
của cả nước, cả dân tộc với ngàn năm lịch sử. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất ấy, có thể nói
Nguyễn Huy Tưởng được “tắm mình trong bầu không khí của lịch sử, văn hóa truyền
thống”. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Huy Tưởng có một vốn sử phong phú
đến như vậy. Những câu ca, những huyền thoại dân gian là những bài học lịch sử dễ thấm
vào lòng người nhất, và những kí ức tuổi thơ cũng là những kí ức sâu sắc nhất ở trong cuộc
đời mỗi người. Sống ở buổi giao thời của văn hóa Đông Tây, trong lúc quốc gia chìm đắm
trong tủi nhục nô lệ, tình yêu quê hương càng thôi thúc ông tìm đến với lịch sử như tìm về
cội nguồn để thấy điểm sáng, hướng đi vượt qua những ngày tăm tối. Ông viết trong nhật kí:
“Tôi đi tìm chân lý từ những sách triết học, từ thuyết nhân nghĩa của đạo Nho, đến lý thuyết
từ bi bác ái của đạo Phật, tôi rơi vào chủ nghĩa sức mạnh của Nietzche, bởi vì tôi nghĩ đối
với một dân tộc yếu hèn thì sức mạnh là con đường giải thoát. Tôi vùi đầu vào trong đống
sách lịch sử để lấy cái vinh quang của ông cha mà bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho mình.
Tôi chuẩn bị viết văn để ca ngợi lịch sử, ca ngợi dân tộc, kích động lòng yêu nước của đồng
bào”. [105]
1.3.2 Nhân tố chủ quan: Cuộc đời, con người và sự hình thành khuynh hướng sáng
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
tác nghiêng về cảm hứng lịch sử.
Năm lên bảy tuổi, cha Nguyễn Huy Tưởng qua đời. Tuổi thơ ông diễn ra khá êm đềm
dưới bàn tay săn sóc ân cần của người mẹ” đôn hậu, tảo tần, cởi mở, thanh lịch và giản dị”
[77,170].”Dòng họ Nguyễn của ông là một trong hai dòng tộc lớn nhất làng , đời đời gìn
giữ nho phong , vui trong cảnh thanh bạch”[77,169]. Suốt cuộc đời nhà văn vẫn ấp ủ ước
mơ sáng tác một tác phẩm tặng mẹ như một sự tri ân, có lẽ vì thế mà trong những trang văn
của ông luôn bàng bạc một thứ tình mẫu tử tha thiết. Nếp nhà giản dị, đạm bạc nhưng không
hề có bóng dáng của sự bần cùng là môi trường trong sạch để hình thành nên một nhân cách
hào hoa lịch lãm ở Nguyễn Huy Tưởng, một nhân cách vững bền, bất chấp những sóng gió
ngả nghiêng trong cuộc đời sau này. Mấy năm sau khi cha mất, mẹ ông gửi ông ra Hải
Phòng theo học, ở cùng chị gái và anh rể. Suốt thời gian học, Nguyễn Huy Tưởng không hề
nổi bật ở môn văn và những môn học khác nói chung cũng không có gì xuất sắc. Không giỏi
văn nhưng Nguyễn Huy Tưởng lại say mê văn học. Từ nhỏ, với một chút vốn Hán học do
ông bác dạy cho, Nguyễn Huy Tưởng đã mày mò tự học thêm để có thể đọc Đường thi và
tập sáng tác thơ Đường luật. Khi học lớp đệ nhất, cậu học trò nghèo đã dành dụm tiền tiêu
vặt để mua những sách văn học cổ điển phương Tây, loại rẻ tiền dành cho học sinh. Nhờ
vậy mà ông được tiếp xúc với những cây bút mẫu mực của văn học thế giới như F.Rabelais,
W.Shakespeare, A.Dante, Homère,F. Schiller... Quá trình Nguyễn Huy Tưởng đến với nghề
văn là quá trình mang tính tự học. Đây cũng là con đường chung của những nhà văn cùng
thời. Chỉ có khác là ở những nhà văn khác, con đường đến với nhà văn chỉ thuần là sự say
mê và mục đích mưu sinh; ở Nguyễn Huy Tưởng, nó xuất phát từ tâm nguyện của một
chàng thanh niên sớm giác ngộ ý thức công dân và tinh thần dân tộc: “Phận sự của một
người tầm thường như tôi muốn tỏ lòng yêu nước thì chỉ có việc viết văn quốc ngữ thôi”
(Nhật ký ngày 19/12/1930) [105]. Chàng thanh niên 20 tuổi ấy đã ghi vào nhật ký những
dòng cảm xúc: “Ta đây tuổi còn trẻ, tính còn ngây thơ, đọc sử Bình Nguyên mà lòng yêu
quý non sông phơi phới, trong lúc thán phục các vị anh hùng, muốn nêu các vị vào khúc anh
hùng ca để truyền về hậu thế, cho muôn nghìn đời sau soi vào...Than ôi ! ta chẳng biết,
nhưng ta cảm các vị anh hùng, thì ta nêu các vị anh hùng lên, đó là chức trách của một
người quốc dân vậy” (ngày 12/10/1933) [105]. Ông sớm đã ý thức rõ tầm quan trọng của
việc truyền bá sử sách nước nhà đối với thế hệ trẻ, đặc biệt trong buổi giao thời của văn hóa
Đông Tây mà phần thắng thế đang ngả dần về phía văn minh Âu châu. “Người không biết
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
sử nước mình là một con trâu đi cày ruộng. Cày với ai cũng được, mà cày ruộng nào cũng
được” (Ngày 13/01/1932) [105]. Con đường truyền bá tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân
tộc qua văn chương chính là ngọn lửa thắp lên cảm hứng lịch sử trong tác phẩm văn học của
ông.
Lưu Văn Lợi là người bạn thân từ thuở thiếu thời của ông trong bài Nguyễn Huy
Tưởng trước khi là một nhà văn đã kể lại cuộc sống của nhà văn sau khi tốt nghiệp, đi
làm ở nhà Đoan. Công việc tẻ nhạt của một công chức lại là cái vỏ khá tốt để nhà văn có
được sự tự do thực hiện ao ước của mình. Nhiều trang bản thảo của Đêm hội Long Trì đã
ra đời trên bàn giấy, giữa ngổn ngang hồ sơ sổ sách về các vụ vi phạm luật lệ nhà Đoan toàn
miền Bắc. Trong những câu chuyện giữa hai người bạn, ngoài chuyện gia đình, sự nghiệp,
còn nỗi trăn trở trước thời cuộc, vận mệnh dân tộc. Những nỗi trăn trở trong cảnh “quốc gia
hưng vong” đòi hỏi kẻ “thất phu hữu trách”, là nỗi băn khoăn của những thanh niên một
thời tự tìm cho mình hướng đi. Chọn con đường viết kịch và tiểu thuyết lịch sử, trong thời
điểm bấy giờ, quả là một con đường mạo hiểm, vì độc giả còn đang say mê với văn học lãng
mạn, văn học hiện thực phê phán hay những trang tiểu thuyết đậm chất li kỳ của những
chuyện kinh dị, ít người quan tâm đến đề tài mang tính chất khô khan như thế. Tin vào vốn
sử phong phú của mình và với quyết tâm định sẵn từ năm hai mươi tuổi, Nguyễn Huy
Tưởng viết một cách miệt mài, say mê nhưng đầy khó khăn và trăn trở. Từ năm 1939, ông
đã xác định con đường đi cho mình là phải dựng lại pho sử thi về hành trình dựng nước và
giữ nước của dân tộc, về những vị anh hùng đã lưu danh trong sử sách như: Trần Hưng Đạo,
Trần Quốc Toản, Lê Thái Tổ, Quang Trung...Những tác phẩm đầu tay ra đời tuy chưa thật
hoàn thiện như chính nhà văn tự nhận định nhưng đó chính là những pho lịch sử sống động,
nhanh chóng nhận được sự động viên tán thưởng của các bạn văn, giúp ông thêm vững tin
vào con đường mà mình đã lựa chọn bằng tất cả sự say mê. Trong những năm 40, Nguyễn
Huy Tưởng tích cực tham gia hội Truyền bá quốc ngữ ở Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định...,từ
đây ông bắt đầu tham gia hội Văn hóa cứu quốc, và trở thành thành viên trong ban biên tập
Báo Tiền Phong, tờ báo của hội. Những tác phẩm ra đời trong giai đoạn này (Đêm hội Long
Trì, An Tư, Vũ Như Tô, Cột đồng Mã Viện) tập trung chủ yếu vào đề tài lịch sử, trên tinh
thần truyền bá lịch sử để khơi lại truyền thống yêu nước và tự hào dân tộc trong bối cảnh
tăm tối nhất của đất nước. Khi cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Huy Tưởng là
một trong những người lãnh đạo chủ chốt của Hội văn hóa cứu quốc. Đây là thời kỳ ông
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
chuyển hướng sáng tác từ những đề tài lịch sử sang những đề tài mang tính thời sự (hồi kí
Lên chiến khu, kịch Bắc Sơn, Những người ở lại). Tham gia vào thực tế kháng chiến,
Nguyễn Huy Tưởng có cơ hội hiểu rõ hơn về những biến cố lịch sử, những anh hùng của
chính thời đại mà ông đang sống. Năm 1947, sau khi gặp những chiến sĩ của Trung đoàn thủ
đô từ Hà Nội rút ra, ông bắt đầu nhen nhóm ý tưởng dựng lại toàn cảnh cuộc kháng chiến
của quân dân Hà Nội trong những ngày mùa đông năm 1946. Vở kịch Những người ở lại ra
đời năm 1948 có thể coi như bức phác thảo đầu tiên cho một công trình đồ sộ mà ông đang
ấp ủ. Nhưng ngay khi vừa công diễn, vở kịch đã gây những dư luận phức tạp về phía người
tiếp nhận, những lời khen mang tính công thức, còn lời phê bình mang tính công kích và chỉ
trích nặng nề, tác giả tâm sự: “Buồn… Kịch của ta chỉ là một cái cớ để tả Trung đoàn Thủ
đô. Cũng nhận được những lời khen. Nhưng đã bắt đầu những lời công kích và gièm pha...
Ta có cho Những người ở lại là một tác phẩm hoàn toàn đâu. Ngay bây giờ ta đã thấy nó
non, nó xộc xệ, nhiều khi có kệch cỡm... Lòng ta trống chếnh quá. Ta muốn tắm lại trong
tình yêu. Ta đã hết yêu đâu? Không. Ta vẫn cần yêu và ta muốn được yêu. Ta muốn quên
hết những cái bẫy đang quây chung quanh ta, sống với tình yêu và nghệ thuật. Ta cần phải
có tình yêu.Ta cần phải sáng tác một cái gì mới” (nhật kí 15-2-1949) [105]. Những suy nghĩ
ấy cho thấy Nguyễn Huy Tưởng không phải là người sợ những lời phê bình, điều làm ông
ngao ngán là phải đón nhận những thái độ hằn học, những sự phê bình nặng tính giáo điều.
Khi ấy những suy nghĩ của nhà văn lại quay về với đề tài lịch sử như tìm về cội nguồn cảm
hứng với văn chương: “Mung lung trong đầu An Tư - Nhà họ Trần - càng ngày càng thấy
rằng tiểu thuyết này là sáng tác chính của ta” (19-7-1949) [105-454].
Những năm tháng đi theo văn nghệ kháng chiến, do yêu cầu của thời đại, những tác
phẩm phục vụ cho chiến đấu và sản xuất vẫn ra đời nhưng đó không phải là những đứa con
mà nhà văn dành nhiều sự quan tâm nhất. Tập kịch Anh Sơ đầu quân, tiểu thuyết Truyện
anh Lục (3 tập), Bốn năm sau,...chỉ là những tác phẩm có giá trị nhất thời. Dù khi đó,
những tác phẩm ấy được đón nhận và đánh giá cao nhưng chính bản thân tác giả cũng nhận
ra sự hời hợt và nông cạn của nó: “mình đã lăn lộn trong nghề văn hơn 10 năm, đã có ít
nhiều tiếng tăm, cũng có ít nhiều địa vị. Than ôi! Nhưng mà sao mờ mờ nhân ảnh. Tất cả
những tác phẩm của mình đều vội vàng hấp tấp, nhất thời. Chẳng xây dựng được chút tâm
hồn...Mà chính ta, cũng không muốn nhìn lại nữa” [105-501]. Trong thâm tâm ông cảm
thấy xót xa cho một nền văn nghệ bị gò bó bởi những quy tắc, giáo điều, khô khan và thiếu
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
sức sống.Những dòng nhật kí viết năm 1956 còn ghi lại: “Kiểm điểm lại mười năm kháng
chiến, tác phẩm văn học không được là bao. Mà cũng chỉ là kể sự việc, không có tư tưởng,
không có vấn đề, không có những bài học gì cho tâm hồn...Quan niệm phục vụ kịp thời, nó
đã lãng phí bao nhiêu tài năng, dẫn đến biết bao nhiêu tác phẩm vô giá trị, những nghệ sĩ
cơ hội. Thậm chí cá tính của một người nghệ sĩ không còn. Một thứ nghệ thuật chung
chung, giống nhau, không có khía nhìn, khía cảm, khía suy nghĩ của người tác giả. Công
thức lạ lùng” [105,489] Những tư tưởng ấy của ông phải đến gần ba mươi năm sau người ta
mới dám đưa ra công luận như một bước đột phá cho văn học cuối thế kỷ XX, đó là khi
Nguyễn Minh Châu công bố bài viết của mình: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn
nghệ minh họa (Văn nghệ, số 49-50-1987). Hòa bình lập lại ở miền Bắc, ông trở về với thủ
đô thân yêu, vẫn với niềm ao ước được viết một tác phẩm tương xứng với sự cao cả, vĩ đại
của con người và mảnh đất này nhưng những dự tính ấy luôn gặp những trở ngại. Tùy bút
Một ngày chủ nhật nêu lên những trăn trở của nhà văn trước thực tại buồn của cuộc sống
thủ đô sau ngày giải phóng, đã bị Tiểu ban văn nghệ đem ra phê phán không thương tiếc và
chính trong những ngày tháng ấy, Nguyễn Huy Tưởng đã gặp phải “tai nạn nghề nghiệp”.
Ông từ bỏ công tác lãnh đạo ở hội và chuyển hẳn sang sáng tác. Nguyễn Huy Tưởng thấu
hiểu hơn ai hết những đau đớn của cuộc tự lột xác để thích ứng với hoàn cảnh, cùng sẻ chia
với ông còn có Nguyễn Tuân, nhà văn tài hoa phóng túng, ghét khuôn khổ nhàm chán và tẻ
nhạt. Trong những ngày mất phương hướng ấy, ông đã suy ngẫm rất nhiều về con đường
sáng tác của mình: “ngồi nghĩ lơ mơ về công việc phải làm để sinh sống. Kịch? Xuất bản tập
nhi đồng? Viết truyện lịch sử. Tiếc trong kháng chiến đã phá tiểu thuyết An Tư. Thật là ngu
ngốc. Mất bao nhiêu tài liệu. Viết: Sát Thát - Cuốn tiểu thuyết lịch sử ra đời sẽ được hoan
nghênh nhất định. Bởi vì chán tai với cái phục vụ kịp thời trắng trợn, cái lối ăn xổi sẽ dẫn
nghệ thuật đi đến đâu?” [105,538]. Dường như, cảm hứng lịch sử là cảm hứng thường trực
trong ông, nó giúp ông vượt qua những ngày tháng khó khăn nhất, khơi lại xúc cảm trong
một tâm hồn tưởng như đã quá mỏi mệt và chán nản, thắp lại ngọn lửa nhiệt tình với văn
chương. Nguyễn Huy Tưởng xác định: “Thời đại nào cũng có những công thức của nó...
Thời đại nào cũng có những anh hiu hiu, nhạt nhẽo. Vấn đề của nhà văn là phá cái công
thức và chống cái một chiều, cái hiu hiu, cái nhạt nhẽo của con người.” [105, 539]. Là
người tâm huyết với tuổi thơ, Nguyễn Huy Tưởng là một trong những sáng lập viên đầu tiên
của nhà xuất bản Kim Đồng (tháng 6-1957). Cũng thời gian đó ông khởi bút viết tác phẩm
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
Sống mãi với thủ đô. Quá trình sáng tác đầy những day dứt, ngổn ngang giữa những bộn bề
lo toan cuộc sống gia đình và sự nghiệp, lý tưởng và hiện thực, chính trị và văn chương, tâm
huyết và bổn phận, thêm vào đó là những giày vò về thể xác do căn bệnh ung thư. Tháng
4/1958, tập I tiểu thuyết sau khi sửa lại lần thứ hai đã hoàn thành, nhưng đây cũng là lúc nhà
văn muốn bỏ nó đi để viết lại từ đầu, bởi ông cho rằng chủ đề chính chưa nổi bật, bố cục tác
phẩm loãng, nhân vật chưa bộc lộ rõ cá tính. Chưa kịp làm điều đó thì Nguyễn Huy Tưởng
bị gọi đi lớp văn nghệ mà trên thực tế là tập hợp những nhà văn “có vấn đề” về tư tưởng đi
cải tạo lao động. Ông thôi chức giám đốc nhà xuất bản Kim Đồng, đi thực tế Điện Biên
cùng Nguyễn Tuân, Văn Cao, Lưu Quang Thuận (từ tháng 07 đến tháng 12). Những trang
nhật ký thời gian này của ông cho thấy phần nào đời sống tinh thần của văn nghệ sĩ những
ngày ấy: “thấy cuộc sống vẫn có cái gì không phải là đúng là cuộc sống của con người.
Không thể bất cứ lúc nào cũng đưa ra lập trường và quyền lợi của tập thể. Biết bao nhiêu là
các cái hợp lý lấy tập thể ra để mà hạ cái nhân phẩm của con người” [105,582]. Những
biến cố trong đời sống không làm mất đi tình yêu với nghệ thuật trong ông, dù bị phê bình,
bị đánh giá sai, không vì thế mà nhà văn nguôi đi cảm hứng với những điều ông tâm huyết.
Sau chuyến đi, năm 1959, Nguyễn Huy Tưởng bắt tay vào sáng tác tiểu thuyết Bốn năm
sau và truyện phim Lũy hoa (với cái tên ban đầu là Hoa trên chiến lũy) - tác phẩm như
một dàn ý cho tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô. Cuối năm đó Kể chuyện Quang Trung là
món quà dành cho thiếu nhi ra đời. Đây là một chuyện lịch sử xây dựng hình tượng người
anh hùng áo vải cờ đào mà nhà văn dự định sáng tác từ những năm 30. Trong kế hoạch đặt
ra năm 1960, nhà văn dự định viết lại và hoàn thành tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô, sửa
lại vở Vũ Như Tô và sáng tác Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Bệnh tật khiến ông chỉ kịp hoàn
thành tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Những ngày tháng phát bệnh, Nguyễn Huy
Tưởng vẫn đau đáu với ý nghĩ tìm lối thoát cho văn chương: “Bao giờ cho có sinh khí của
một nền văn học thật đúng? Bao giờ cải thiện tình hình đình đốn này của văn học Việt
Nam?”. Khao khát có được bộ sử thi về hình ảnh người mẹ dân tộc lại đưa xúc cảm của nhà
văn về với lịch sử: “Trong cuốn tiểu thuyết này cái yêu đời, cái hóm hỉnh của người Việt
Nam xen lẫn với những cái đau thương, khốn khổ của dân tộc. Nhìn vào đây thấy cả lịch sử
Việt Nam. Ta sẽ làm nó sau khi hoàn thành cuốn tiểu thuyết về thủ đô” [105,614]. Ước vọng
ấy mãi mãi không thể thực hiện được, pho tiểu thuyết về thủ đô thân yêu vẫn là sự dang dở
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
đầy nuối tiếc đối với chính tác giả và độc giả. Nhưng có lẽ vì sự dang dở ấy mà tiểu thuyết
Sống mãi với thủ đô trở thành biểu tượng cho khát vọng một đời văn không bao giờ tắt,
khát vọng đó đã bất tử hóa một cuộc đời.
Con đường văn chương của Nguyễn Huy Tưởng là như vậy, bắt nguồn từ khát vọng
viết những tác phẩm có tầm vóc, chất lượng về đề tài lịch sử và khép lại khi ước mơ ấy vẫn
còn chưa hoàn kết. Cả hành trình văn chương gần hai mươi năm chưa từng có một thời khắc
nào nhà văn xao nhãng với bổn phận đặt ra từ những ngày đầu cầm bút, là phải làm điều gì
đó cho lịch sử dân tộc bằng văn chương. Ngay trong những tác phẩm mang tính thời sự của
ông, người ta vẫn thấy bóng dáng cảm hứng lịch sử bàng bạc trong đó, có lẽ bởi giọng văn
độc đáo của riêng ông có chất lịch lãm, uyên thâm của một nhà văn hóa, một nhà sử học,
một nhà Hà Nội học. Có thể nói, cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết nói riêng và sự nghiệp
văn học nói chung của Nguyễn Huy Tưởng hình thành từ những cá tính, phong cách con
người ông, đồng thời cũng trở thành bản sắc riêng của cây bút hào hoa ấy.
Điều cần nhấn mạnh thêm, đó là cảm hứng lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng gắn bó
chặt chẽ với mảnh đất Thăng Long - Hà Nội bằng một tình yêu tha thiết, đầy tự hào. Mỗi
con phố, mỗi nếp nhà, từng lớp đất chứa đựng trong nó biết bao buồn vui, bao thăng trầm
của lịch sử của một dân tộc. Bởi lẽ, đây là kinh đô lâu đời nhất của đất Việt, là trái tim của
cả nước. Mọi biến cố lớn lao của dân tộc, dù ở thời đại nào, đều liên quan tới mảnh đất kinh
kỳ này, Nguyễn Huy Tưởng yêu Thăng Long không chỉ với tình yêu của người con với quê
hương, bằng niềm say mê, tâm huyết của một nhà văn hóa, mà hơn thế bằng cảm hứng lịch
sử, ông đã đưa Thăng Long vượt qua tầm vóc của một địa phương thành gương mặt đại diện
cho cả dân tộc, từ Thăng Long ấy mở ra tầm vóc của những Bạch Đằng, Vạn Kiếp.. Trước
cách mạng, bộ ba tác phẩm nổi tiếng nhất của ông đều lấy đề tài về đất kinh kỳ, kịch Vũ
Như Tô, tiểu thuyết Đêm hội Long Trì và An Tư. Tiểu thuyết Đêm hội Long Trì ngoài
khía cạnh phản ánh hiện thực về những cảnh bất công trong thời phong kiến, còn là bức
tranh lãng mạn, đầy chất thơ về kinh thành Thăng Long thế kỷ XVIII. Trong tiểu thuyết An
Tư, Thăng Long hiện lên với gương mặt đau thương trong những ngày bị giặc Nguyên
chiếm đóng, hủy hoại nhưng cũng vô cùng rạng rỡ trong khúc khải hoàn Tụng giá hoàn
kinh sư của vị thượng tướng thái sư Trần Quang Khải. Thăng Long là cái nôi của những
người con ưu tú, là biểu tượng của ý chí, tài hoa trong con người Đại Việt, những người đã
dược lưu danh sử sách và cả những con người vô danh trong quá khứ. Sau cách mạng,
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
những sáng tác của ông có sự mở rộng hơn về đề tài và hiện thực phản ánh, nhưng phần tâm
huyết nhất vẫn là những tác phẩm viết về con người Hà Nội xưa và nay: Kịch Những người
ở lại, tùy bút Một ngày chủ nhật, truyện phim Lũy Hoa, tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô,
truyện thiếu nhi Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Kể chuyện Quang Trung, An Dương Vương
xây thành Ốc. Nhưng đáng kể nhất phải là tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô, một tác phẩm
tái hiện quá khứ gần, một thời điểm trọng đại trong lịch sử thủ đô - những ngày đầu toàn
quốc kháng chiến, qua đó người đọc hiểu rõ hơn về con người và linh hồn của mảnh đất
kinh kỳ. Chiều sâu tri thức, cũng như tính nghệ thuật của tác phẩm này hơn hẳn hai tiểu
thuyết trên có lẽ bởi nó được viết vào độ chín của tài năng tác giả và cũng vì nó là tác phẩm
tâm huyết, được ấp ủ suốt nửa hành trình sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng. Có nhiều người
vẫn cho rằng Sống mãi với thủ đô không phải là tiểu thuyết mang cảm hứng lịch sử mà
thiên về cảm hứng sử thi, do đề tài mà tác giả lựa chọn chưa có độ giãn cách về thời gian
giữa hiện thực và phản ánh. Theo quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu, những gì được coi
là lịch sử phải là hiện thực đã lùi xa so với hiện tại, và phải trải qua những sự đánh giá và
bình xét của nhiều thế hệ. Cuộc chiến đấu của Trung đoàn thủ đô xảy ra trước thời điểm nhà
văn sáng tác mới có mười năm, cái nhìn của tác giả vẫn là cái nhìn của người đương thời
với cảm hứng ngợi ca là chính. Tuy nhiên, nếu không có tác phẩm này, cho tới nay, độc giả
vẫn không thể hiểu hết được những ngày gian khổ của thủ đô trong một thời khắc lịch sử
quan trọng đến thế. Tác phẩm có thể coi là tiểu thuyết lịch sử bởi nó chọn đề tài là biến cố
lịch sử trọng đại, những nhân vật trong đó dù không phải là những danh nhân được lưu
trong sử sách nhưng là những con người có thực, họ đã sống và chết để bảo vệ thủ đô thân
yêu. Bằng giọng điệu trang nghiêm, từ góc nhìn khách quan của nhà sử học, Nguyễn Huy
Tưởng đã dày công sưu tầm tư liệu để dựng lại bầu không khí trang trọng khi thủ đô phát
lệnh kháng chiến, một thời điểm kéo theo những biến động trong đời sống của những cá
nhân. Cho đến thời điểm hiện tại, tiểu thuyết lịch sử viết về “quá khứ xa” (thời phong kiến)
khá nhiều, tiểu thuyết viết về những cuộc kháng chiến của đất nước trong thế kỷ XX cũng
không ít nhưng thường là đi theo cảm hứng sử thi hoành tráng hoặc cảm hứng bi kịch, nặng
về những nỗi đau thân phận của con người. Có thể mạnh dạn mà nói rằng, chưa có nhà văn
nào viết về cuộc chiến đấu trong “quá khứ gần” bằng cảm hứng lịch sử như Nguyễn Huy
Tưởng viết Sống mãi với thủ đô. Do vậy cuốn tiểu thuyết này cùng với ba tiểu thuyết kể
trên có thể coi như là những tác phẩm điển hình thể hiện cảm hứng chủ đạo trong sự nghiệp
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
sáng tác của tác giả Nguyễn Huy Tưởng. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Huy Tưởng
chọn thời điểm chiến tranh làm đề tài phản ánh của hai trong ba tiểu thuyết lịch sử của
mình. Chiến tranh là ngả rẽ của lịch sử dân tộc, là thước đo phẩm giá con người khi mỗi cá
nhân phải đối mặt trước sự sống và cái chết, buộc họ phải lựa chọn giữa quyền lợi cá nhân
và quyền lợi dân tộc. Lịch sử dân tộc được làm nên từ những sự lựa chọn ấy; tình huống bất
thường đó là nơi thử thách khả năng, bản lĩnh, không chỉ của một người, một vùng, mà là sự
thử lửa đối với cả một cộng đồng lớn.
Cảm hứng lịch sử ở ngòi bút Nguyễn Huy Tưởng mang một phong cách riêng: thiên
về cảm hứng ngợi ca, có lẽ cũng vì tạng người ông ưa những gì trang trọng, cao cả. Trong
con người ông có phẩm chất của người Hà Nội điềm đạm, thanh lịch, hào hoa trong bất cứ
hoàn cảnh nào. Đó là biểu hiện của tâm hồn biết trân trọng cái đẹp, biết sống đẹp. Phẩm
chất ấy in đậm dấu ấn trong mỗi trang tiểu thuyết về Thăng Long - Hà Nội. Điều đó được
thể hiện trong giọng văn, cách xây dựng nhân vật, chủ đề của tác phẩm. Ở Đêm hội Long
Trì, sự tương phản giữa hai tuyến nhân vật Đặng Lân và Bảo Kim, Quỳnh Hoa , Nguyễn
Mại là thủ pháp quen thuộc làm nổi bật sự đề cao cái đẹp, tài hoa, dũng khí trong chủ đề tác
phẩm. Nét đặc sắc của tác phẩm còn ở cách tạo mâu thuẫn ngay trong bản thân cá tính của
nhân vật, để sự đấu tranh giữa cao cả và thấp hèn, đam mê và bổn phận tôn lên những giá trị
nhân văn. Đó là cách xây dựng nhân vật Trịnh Sâm, nhân vật đầy mâu thuẫn trong nội tâm,
bị giằng xé giữa một bên là niềm đam mê với Tuyên phi họ Đặng, một bên là tình thương
con, đạo hiếu với mẹ già, trọng trách với dân với nước. Niềm say mê mù quáng khiến cho
ông đôi khi không phân định nổi thiện - ác, tốt - xấu, nhưng cuối cùng chính nghĩa đã chiến
thắng, Trịnh Sâm thứ tội cho Nguyễn Mại, người dám chém chết tên quốc cửu ngông cuồng,
dâm loạn. Sự sáng suốt ấy là biểu hiện của chất lý tưởng trong cảm húng lịch sử của nhà
văn, bởi điều này không có trong lịch sử (theo Tang thương ngẫu lục thì số phận Đặng
Mậu Lân kết thúc sau loạn kiêu binh).
Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của nhà Trần là cuộc kháng chiến lẫy lừng
nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Ba lần vó ngựa Thát Đát sang xâm lược nước ta là
ba lần thảm bại của chúng. Làm nên những chiến công hào hùng ấy phải kể đến tầm nhìn
chiến lược của những thân vương tài ba của dòng máu Đông A, sự đoàn kết thống nhất một
lòng của vua tôi nhà Trần và cả sự hy sinh thầm lặng của công chúa An Tư. Cuộc đời của
An Tư đã được nhiều nhà tiểu thuyết lịch sử sau này chọn làm đề tài sáng tác, bởi đó là một
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
trong số ít những người phụ nữ xứng danh” nữ trung hào kiệt” của lịch sử dân tộc Việt
Nam. Khi vận nước lâm nguy, An Tư gạt lệ, chia tay mối tình trong trắng với Chiêu Thành
Vương, đem thân làm kế mỹ nhân cứu trăm họ khỏi cơn nguy khốn. Không chỉ ngợi ca nhân
vật ở góc độ hy sinh tình cảm cá nhân và dân tộc, Nguyễn Huy Tưởng còn cho thấy sự cao
thượng từ trong góc độ đời tư của các nhân vật Trần Thông, An Tư. Chia tay vị hôn thê,
lòng đau như cắt khi tiễn nàng vào trại giặc nhưng Trần Thông vẫn đinh ninh lời hẹn đón
người về trong ngày Thăng Long sạch bóng quân thù. Dù An Tư phải thất thân với giặc
nhưng trong trái tim chàng, người con gái ấy mãi mãi “băng thanh ngọc khiết”, không gì có
thể làm hoen ố. Trần Thông hy sinh trước trận thắng, trong vòng tay người yêu, An Tư lựa
chọn cái chết lặng lẽ trong đêm Thăng Long ngập tràn khúc khải hoàn để đến với tình yêu
của mình. Đó là cái kết mang màu sắc bi tráng nhưng không hề bi lụy, nó làm nổi bật lên
chủ đề tác phẩm ca ngợi: nghĩa lớn vẹn toàn, tình yêu chung thủy, ở góc độ bi kịch thì đó là
cái bi của những giá trị cao cả.
Trong Sống mãi với thủ đô, thế giới nhân vật khá đông đảo, cá tính phức tạp, nhưng
nổi bật lên trong tư tưởng chủ đề vẫn là cảm hứng ngợi ca đối với những người con thủ đô
anh dũng. Họ vốn xuất thân từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, từ những con người thấp
kém trong xã hội như cậu bé đánh giày, bán báo, cô gái nhà thổ, tên lưu manh, con sen,
thằng ở... khá hơn một chút là những nghệ sĩ nghèo, anh công nhân, người thầy giáo, chị
hàng hoa.... cho tới những cậu ấm cô chiêu quanh năm sống trong nhung lụa, những chiến sĩ
cách mạng từng chịu tù đày. Tất cả đám đông ấy, thời bình, có thể là những người bình
thường với tất cả những thói hư tật xấu nhưng trước cuộc chiến đấu bảo vệ thủ đô thân yêu,
họ đã thay đổi. Cái phần cá tính nhỏ mọn, tầm thường trong con người chìm xuống, kề cận
với gian khổ, với mất mát, hy sinh, họ bỗng lớn vụt lên về nhân cách. Nghĩa vụ với đất
nước, khát vọng hòa bình đã kết nối họ lại trong một khối đoàn kết, không phân biệt xuất
thân cao thấp, sự đố kị nhỏ nhen cũng tan biến, thay vào những dục vọng thấp hèn là những
khát vọng cao cả. Thời khắc lịch sử trọng đại ấy khiến cho con người biết sống có ý nghĩa
hơn vì những điều lớn lao mà thường ngày ít ai nghĩ đến. Trong tác phẩm có nhiều trang nói
về những mất mát, đau thương, có cả những nhân vật ích kỷ, vụ lợi, thờ ơ với vận mệnh dân
tộc nhưng tất cả những cái đó chỉ làm nền để tôn lên chất men say trong cảm hứng ngợi ca
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
hào hùng của tác phẩm.
CHƯƠNG 2:NHỮNG CHẤT LIỆU CHỦ YẾU CỦA CẢM HỨNG
LỊCH SỬ TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN HUY TƯỞNG.
2.1. Quan niệm về cảm hứng lịch sử qua bốn tiểu thuyết:
2.1.1. Mối quan hệ giữa hiện thực và sáng tạo trong loại hình tiểu thuyết lịch sử.
“Giá trị của những tư tưởng sáng tạo sinh động ấy chính là ở chỗ chúng hướng dẫn
những tìm tòi sáng tạo của nhà văn, chính là ở chỗ, chúng dẫn đến những khám phá nghệ
thuật chứ không thay thế cho những khám phá ấy, chúng soi sáng cuộc sống chứ không che
lấp cuộc sống” [48,26]. Vì văn học phản ánh hiện thực qua lăng kính sáng tạo của nhà văn
nên tưởng tượng và hư cấu là yếu tố luôn luôn tồn tại trong quá trình sáng tác.Khi sáng tạo
nên hình tượng văn học , ngoài những việc yêu cầu về tính chân thực, độ khái quát hoá hiện
thực, tính cá biệt thì hình tượng văn học chứa đựng tính tư tưởng Tư tưởng chính là cái làm
nên sự khác biệt giữa hiện thực và sáng tạo nghệ thuật.
Bất kỳ một hình thức thể loại văn học nào cũng cần cái gốc cơ bản là hiện thực. Nhà
văn có thể tích lũy những tri thức về hiện thực cuộc sống ngay trong quá trình sáng tác hoặc
trước đó, khi mới hình thành ý đồ, cảm hứng, sự tích lũy ấy càng phong phú thì trường sáng
tạo của nhà văn càng được mở rộng. Cơ sở của ý tưởng sáng tác ở nhà văn thường là những
quan sát của anh ta về hiện thực, là những ấn tượng do những hiện tượng trong cuộc sống,
những sự kiện lịch sử, xã hội tạo nên. Trong các loại hình tiểu thuyết thì tiểu thuyết lịch sử
là loại bám sát chất liệu từ cuộc sống nhất, nhưng dù vậy nó vẫn là sản phẩm của trí sáng
tạo. Lịch sử là những sự kiện có thật, do những con người đã từng tồn tại trong quá khứ tạo
ra, được ghi chép lại tỉ mỉ, chính xác và được một cộng đồng thừa nhận. Đó là bộ khung
xương cố định, nhiệm vụ của nhà văn là phải tạo ra da thịt cho nó bằng trí tưởng tượng, sự
hư cấu. Tài năng của nhà tiểu thuyết lịch sử thể hiện ở khả năng tái hiện những không gian,
bối cảnh phù hợp với thời đại được phản ánh, ở sự sống động, linh hoạt của các nhân vật với
chiều sâu nội tâm, cá tính. Muốn đạt được như vậy thì người viết tiểu thuyết lịch sử phải
tích lũy một lượng phong phú những kiến thức sử học, kiến thức liên ngành về văn hóa, xã
hội, ngôn ngữ. Đặc biệt nhà văn phải tìm ra những điểm tương đồng trong nếp nghĩ của
nhân vật trong quá khứ với con người hiện đại, bởi chỗ đứng của người viết và người tiếp
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
nhận tác phẩm đã cách đối tượng được phản ánh một khoảng thời gian khá dài.
Tiểu thuyết lịch sử ra đời tương đối sớm cả ở văn học phương Đông và văn học
phương Tây. Ở mỗi nền văn học, luôn tồn tại những quan niệm rất khác nhau về mối quan
hệ giữa hiện thực lịch sử và hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử. Là một loại hình mang đầy đủ
những đặc trưng của tiểu thuyết, tiểu thuyết lịch sử lấy nội dung lịch sử làm đề tài và cảm
hứng sáng tạo, dựa vào những sự kiện trong quá khứ để hư cấu, tưởng tượng, để tạo nên
hứng thú mới lạ từ những điều vốn quen thuộc. Sự khác biệt cơ bản giữa lịch sử và tiểu
thuyết lịch sử là ở chỗ những nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết không xuất hiện trong tư thế
duy nhất mà lịch sử đã đóng khung cho nó mà xuất hiện trong những hành động, suy nghĩ
của cuộc sống ở cả tư cách xã hội và ở cả khía cạnh đời tư. Tiểu thuyết lịch sử, nói như Chế
Lan Viên là nhảy qua hai vòng lửa: vòng lửa lịch sử và vòng lửa tiểu thuyết, hư cấu lịch sử
phải đạt tới độ làm cho nó thật hơn cả sự thật đã diễn ra trong chính sử. Tính chân thực của
tiểu thuyết lịch sử chính là độ điển hình của nhân vật và hoàn cảnh,đạt được nhờ sự chi tiết
hóa và khái quát hóa trong bút pháp của nhà văn. Xét ở góc độ đề tài và tư tưởng chủ đề của
tác phẩm, việc chọn đề tài lớn nhỏ không quan trọng bằng cách nhà văn khai thác đề tài ấy
nông hay sâu và tư tưởng gởi gắm trong đó nhiều hay ít. Điều này phụ thuộc cảm quan của
nhà văn trước hiện thực lịch sử được phản ánh và tầm tri thức của nhà văn về những yếu tố
cấu thành nên sự kiện lịch sử ấy.
Công việc của người viết tiểu thuyết nói chung và người viết tiểu thuyết lịch sử nói
riêng là công việc đòi hỏi khả năng quan sát, tư duy tưởng tượng rất lớn. Trong tiểu thuyết
lịch sử, thế giới hiện thực là quá khứ, nhân vật và sự kiện đều đã mang những quan niệm
đánh giá của nhiều thế hệ và là những điều đã trở thành bất biến trong sử sách dân tộc.
Trong tiểu thuyết lịch sử, dù nhà văn có hư cấu đến đâu cũng không thể nói sai về những gì
lịch sử đã công nhận. Nhân vật của tiểu thuyết lịch sử vừa phải sống động vừa phải nhất
quán với những cá tính và hành động đã được lưu trong sử sách. Nhà văn vì vậy buộc phải
nghiêm túc và tôn trọng thành quả của nhà sử học trong quá trình sáng tác, mặt khác không
quá lệ thuộc vào những tư liệu ít ỏi của lịch sử.
Theo Milan Kundera, nhà tiểu thuyết Pháp gốc Tiệp (trong Tiểu thuyết gia không phải
thằng hầu của sử gia): “Anh không thể kể về, hay bàn về lịch sử, nhưng khám phá ra những
khía cạnh chưa biết tới của hiện hữu con người. Những biến động lớn lao của lịch sử đối
với anh ta như cái đèn rọi bất thình lình làm sáng tỏ những khía cạnh ẩn giấu và vạch trần
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
chúng ta”. Những khía cạnh còn ẩn giấu ấy là những nét nhân văn mà lịch sử không dễ phô
bày, ở đó có phần “con người” đúng nghĩa của những thần tượng lịch sử. Trong những ngôi
đền thiêng liêng mà lịch sử dựng lên, người ta hầu như chỉ thấy hương hoa, thấy những
tượng đài đẹp đẽ cao cả. Văn học tuy không phải làm chức năng “hạ bệ”, “giải thiêng”
những thần tượng ấy, không tô son điểm phấn cho nó mà làm nhiệm vụ đưa những gì xa xôi
trở thành gần gũi, phát hiện trong những điều cao cả, lý tưởng có cả những điều bình
thường, và phát hiện ra những hiện thực bình thường có những giá trị phi thường mà lịch sử
bỏ qua. Nhà văn Hà Ân cũng đề cập tới vấn đề này ở phạm vi nhỏ hơn, trong truyện lịch sử
viết cho thiếu nhi: “Người sáng tác phải xem các nguồn tài liệu và phải có những kiến giải
riêng”, khi ông ta xây dựng nhân vật lịch sử thành nhân vật tiểu thuyết trong một khung
cảnh lịch sử là “đem tới cho các em một triết lý mà mình ứng tâm chứ không nhằm mục đích
trình bày đầy đủ bối cảnh lịch sử” [1]. Nhận xét về tiểu thuyết lịch sử trong dòng văn hóa
dân tộc, nhà văn Thái Vũ cho rằng: “Viết tiểu thuyết lịch sử cứu nước chống xâm lăng của
dân tộc không phải chỉ đơn thuần viết về con người lịch sử có thật nào đó, mấy tình tiết chủ
đạo nào đó. Rồi thêm thắt này nọ để tạo hình cụ thể cho nhân vật chính là ổn” mà “Trước
khi đi vào chi tiết với nhân vật lịch sử, người cầm bút nên nghiên cứu và tái hiện nội dung
xã hội của giai đoạn lịch sử đó, đánh giá đúng mức như một nhà khoa học về thời đại đó,
nhân vật đó” (tạp chí Sông Hương số 6 năm 2001). Nhà văn G.Lukacs nhấn mạnh: “Trong
lĩnh vực xây dựng tiểu thuyết lịch sử, tài năng bộc lộ qua việc phản ánh những nguyên nhân
dẫn đến sự thật trong trái tim con người, những sự thật mà biến động của chúng đã bị giới
sử học bỏ qua. Các nhân vật của tiểu thuyết lịch sử phải sinh động hơn các nhân vật lịch sử,
vì các nhân vật của tiểu thuyết lịch sử được trao sự sống, còn các nhân vật lịch sử thì đã
sống”. (Trương Đăng Dung - Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mỹ học của G.Lukacs,
tạp chí Văn học số 5/1994).
Hình thức tiểu thuyết chương hồi Việt Nam vốn là hình thức vay mượn từ Trung Hoa,
chỉ có điều, tiểu thuyết chương hồi của Trung Hoa ngoài những bộ giảng sử như: Tam
Quốc diễn nghĩa, Tùy Đường diễn nghĩa, Thủy Hử truyện... còn có những tiểu thuyết về
đề tài thế sự hay tâm lý: Hồng Lâu mộng, Nho lâm ngoại sử, Kim Bình Mai... Tiểu thuyết
lịch sử trung đại của Việt Nam mang đầy đủ những đặc trưng của tiểu thuyết chương hồi:
nội dung truyện chủ yếu xây dựng theo những hành động của nhân vật, ít khắc họa tâm lý,
tính cách nhân vật, nhân vật miêu tả theo bút pháp ước lệ tượng trưng, cốt truyện phát triển
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
theo trật tự thời gian tuyến tính. “Tiểu thuyết lịch sử trung đại ở Việt Nam ít hư cấu tuy đã
có sự quan tâm miêu tả những số phận bi kịch, vì vậy, tác phẩm đã phần nào thoát khỏi sự
hạn hẹp về chức năng để tái hiện gương mặt bề bộn, phức tạp của lịch sử” [51,10]. Tác
phẩm Hoàng Lê nhất thống chí là một ví dụ điển hình, các tác giả đã vượt qua lối chép sử
biên niên bằng cách kết hợp sự kiện hiện tại với dòng hồi tưởng, phá bỏ lối kể chuyện theo
trình tự thời gian, nhân vật khá sống động với cá tính rõ rệt chứ không đơn thuần là những
yếu nhân lịch sử đã định hình trong khuôn khổ tượng đài.
Trong nửa đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại hóa, cùng
với nó, tiểu thuyết lịch sử đã mang những dấu ấn mới với số lượng tác phẩm khá lớn:
Nguyễn Tử Siêu có Tiếng sấm đêm đông, Hai Bà đánh giặc, Trần Nguyên chiến kỷ, Việt
Thanh chiến sử... Nguyễn Triệu Luật có Bà chúa Chè, Loạn kiêu binh, Chúa Trịnh
Khải, Hòm đựng người, Ngô Tất Tố có Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ,
Lịch sử Đề Thám và Nguyễn Huy Tưởng với An Tư, Đêm hội Long Trì... sự xuất hiện
phong phú và đa dạng của những tác phẩm trên góp phần làm phát triển thể loại tiểu thuyết
hiện đại cả về hình thức lẫn nội dung. Ban đầu, đa số các tác phẩm vẫn theo hình thức tiểu
thuyết chương hồi, dần dần, chịu ảnh hưởng từ hình thức, kết cấu của tiểu thuyết phương
Tây. Tiểu thuyết lịch sử không những ngày càng xa hình thức của tiểu thuyết chương hồi,
mà nó có nội dung khá độc lập với lịch sử. Nhà văn không quá chú trọng vào việc thể hiện tỉ
mỉ những tình tiết lịch sử y như nó vốn có mà tập trung vào sự khai thác những góc khuất
của lịch sử. Nổi bật trong số những cây bút viết về đề tài lịch sử cùng thời, Nguyễn Huy
Tưởng đem đến một phong thái trang nghiêm đúng với tinh thần của lịch sử. Trong tiểu
thuyết của mình, nhà văn đã tạo ra thế giới hình tượng với những mối quan hệ chung và
riêng, cá nhân và cộng đồng khá đa dạng nhưng không hỗn tạp, không xa lạ với những
gương mặt đã quen từ quá khứ.
Cuối thế kỷ XX văn học Việt Nam đã phát triển theo nhiều khuynh hướng mới, trong
số đó có những khuynh hướng khá táo bạo trong cách khai thác đề tài lịch sử. Vàng lửa,
Kiếm sắc, Phẩm tiết (Nguyễn Huy Thiệp) và Giàn thiêu (Võ Thị Hảo) được viết theo
môtíp huyền thoại hóa, giễu nhại lịch sử, “giải thiêng” các “thần tượng” của lịch sử nhằm
đưa ra những góc nhìn mới từ điểm nhìn của con người hiện đại về quá khứ. Điều đáng nói
là những tiểu thuyết và truyện ngắn ấy lại không xuất phát từ cảm hứng lịch sử. Nhà văn
dựa vào nhân vật và sự kiện lịch sử để sáng tác theo nguồn cảm hứng về thế sự, về tôn giáo,
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
cảm hứng về bi kịch thân phận con người.... và như vậy, tiểu thuyết lịch sử ngày càng xa rời
cảm hứng về lịch sử. Tôn trọng tinh thần của lịch sử, đáng kể đến trong số những tiểu thuyết
cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI là bộ tiểu thuyết về triều đại nhà Trần của Hoàng Quốc Hải
và tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh. Đọc tiểu thuyết của Hoàng Quốc Hải,
nhất là tập Thăng Long nổi giận, ta được đắm mình trong cảm hứng tự hào về lịch sử dân
tộc và đâu đó bắt gặp bóng dáng của tiểu thuyết An Tư của Nguyễn Huy Tưởng. So với An
Tư, Thăng Long nổi giận có cái kỳ vĩ hơn của một quần thể tượng đài hoành tráng về
những anh hùng hào kiệt nhà Trần, nhưng đôi chỗ về nội dung tư tưởng lại không sâu sắc
bằng. Hoàng Quốc Hải đem đến một bức tranh lịch sử toàn diện về những con người trong
buổi bình Nguyên, cả những nhân vật chính diện và nhân vật phản diện, cả người trung
thành lẫn kẻ phản bội, cả phe ta và địch. Tư tưởng chủ đề của Thăng Long nổi giận vẫn tập
trung vào việc ngợi ca lịch sử, đề cao khí tiết của những bậc anh hùng. Khác với kết thúc
của An Tư, trong Thăng Long nổi giận, An Tư hy sinh trước giờ chiến thắng, nàng được
phong là “Dực bảo trùng hưng liệt nữ”, Chiêu Thành Vương không chết mà bỏ đi biệt tích.
Đó là một cái kết có hậu khác hẳn với kết thúc đau đớn, đậm sắc thái bi kịch trong tiểu
thuyết của Nguyễn Huy Tưởng. Lịch sử vốn chưa công bằng với người phụ nữ, người ta
quen với việc ngợi ca các đấng mày râu xả thân ngoài chiến trận, hay đôi khi cũng có lưu
tâm đến những bậc anh thư xông pha nơi mũi tên hòn đạn mà quên đi những người phụ nữ
đã hy sinh thầm lặng để làm nên những chiến công ấy. Những nhân vật nữ trong sáng tác
của Nguyễn Huy Tưởng đã bổ sung vào cái phần khiếm khuyết ấy trong lịch sử.
Với cảm hứng sâu sắc về thời Trần, thời đại của những chiến công hiển hách, sau tiểu
thuyết An Tư (1944), Nguyễn Huy Tưởng đã viết tiếp tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng.
Tuy là để phục vụ cho độc giả thiếu nhi nhưng tác phẩm này của ông lại đã chinh phục được
độc giả các giới cũng như các tầng lớp bạn đọc bởi sự hấp dẫn đặc biệt của nó.
Hiện thực lịch sử được khai thác ở đây là cuộc kháng chiến lẫy lừng của dân tộc Đại
Việt chống quân Nguyên dưới sự lãnh đạo của vị anh hùng kiệt xuất Trần Hưng Đạo, nhưng
hình tượng nhân vật trung tâm của truyện lại là Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản.
Truyện được viết bằng lối văn trần thuật tưởng như bình thản “khách quan” nhưng thật
ra đầy ắp trong đó là cả một tình cảm nồng nhiệt của nhà văn dành cho nhân vật của mình.
Bằng rất nhiều tình tiết sáng tạo, nhà văn đã đưa người đọc đi theo bước chân hăm hở
“nhập cuộc” của trang thiếu niên anh dũng Trần Quốc Toản. Tuổi tuy còn nhỏ nhưng đã xác
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
lập được một vị trí nhất định trên trang sử nhà Trần và đã đi vào “Quốc sử diễn ca”.
“Hoài Văn tuổi trẻ chí cao
Cờ đề sáu chữ quyết vào lập công”
Thật ra, xoay quanh tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng có một số vấn đề đặt ra:
- Có đúng là quân của Trần Quốc Toản thích vào tay hai chữ” Sát Thát” trước nhất
không? (ý kiến của Hoàng Nguyên Cát) “Cảm nhận về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng qua
công việc biên tập Lá cờ thêu sáu chữ vàng” [77,367].
Thiều Quang, trong bài viết Lá cờ thêu sáu chữ vàng thì bày tỏ thái độ không đồng
tình với Nguyễn Huy Tưởng ở chỗ đã sử dụng và sáng tác hư cấu quá xa với cơ sở dữ liệu.
Ví dụ: “Tên vương thân bán nước chạy xuyên qua rừng đi theo địch, bị quân Thế Lộc
bắn chết, không phải là Trần Ích Tắc, theo tài liệu của nhiều cuốn sử cũ có thể tin được, là
kẻ đã đem cả vợ con ra hàng giặc, khi giặc mới tiến đến chân thành” [77,363].
Để cho Trần Quốc Toản đánh thắng Toa Đô là không hợp lý, vì thực tế, Toa Đô là
kiện tướng đáng tin cậy nhất của vua Nguyên, hai lần được cử đi đánh Đại Việt với hàng
chục vạn quân, trong khi Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản có thể anh hùng, dũng cảm nhưng
sức mạnh bản thân của người thiếu niên mảnh dẻ như nhi nữ, yếu như cánh hoa thì không
thể không có giới hạn nhất định (ý kiến của Thiều Quang) [77,364].
Hoàng Nguyên Cát, trong bài viết đã nêu, cũng không đồng tình việc quá đề cao Trần
Quốc Toản, vì có thể như vậy sẽ làm mờ các vị anh hùng khác: “Ta chưa có những truyện
lịch sử về các vị ấy, các em chưa hình dung được tài năng của họ, bây giờ Trần Quốc Toản
tài giỏi thế này, e sẽ không đánh giá đúng các vị ấy, dẫn đến nhìn nhận sai về lịch sử”
[77,364] .
Không biết bản nháp đầu tiên của Nguyễn Huy Tưởng viết cụ thể những chi tiết nêu
trên như thế nào. Căn cứ vào bài viết của Hoàng Nguyên Cát thì Nguyễn Huy Tưởng chỉ
sửa có chi tiết mũi tên cắm vào lưng Toa Đô không phải của Trần Quốc Toản nữa, mà là
của Nguyễn Khoái.
Dựa vào Nguyễn Huy Tưởng toàn tập - tập 2, NXB Văn học Hà Nội, 1996. và theo
Trang viết cho thiếu nhi - NXB Văn học 1966, thì chẳng phải đội quân của Trần Quốc
Toản thích vào cánh tay là một mẩu đối thoại giữa Hoài Văn Hầu và quân sĩ.
Hoài Văn hỏi:
- Ai bày cho anh em cái việc này?
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
Một người nói:
- Thấy các đạo quân khác có anh em thích hai chữ “Sát Thát” vào tay thì chúng tôi
cũng làm theo. Thích vào người mới không quên được mối tử thù. Sông có thể cạn, đá có
thể mòn, hai chữ này không thể nào phai được. Sống thì ở trên vai, chết thì tan đi với xương
cốt, nhập vào hồn phách bay đi giết giặc [106, tập 28/38].
Cũng thế trong bản in đã dẫn, Nguyễn Huy Tưởng không hề để cho Trần Ích Tắc bị
bắn chết, tuy là hắn bị trúng tên vào vai (do Nguyễn Thế Lộc bắn) nhưng hắn cứ đeo tên mà
chạy và đã chạy thoát khỏi sự truy đuổi của quan quân và Thế Lộc.
Ở chi tiết chém đầu nguyên soái Toa Đô, Đại Việt sử ký toàn thư có chú thích: Trong
An Nam chí lược ghi là Toa Đô chết ở sông Cầu.
Như vậy, cái chết của Toa Đô không được sử sách nói rõ là do vị tướng nào của ta
giết.
Dựa vào sử liệu, Nguyễn Huy Tưởng có thể đã sáng tạo sự việc Trần Quốc Toản bắt
Toa Đô thiết tưởng cũng chẳng có gì quá đáng, vì Đại Việt sử ký toàn thư cũng đã có ghi
về khí phách của Trần Quốc Toản như sau: “Khi đối trận với giặc tự mình xông lên trước
quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám đối địch” [116,49]. Như vậy, thế mạnh
về vũ khí của đội quân “phá cường địch, báo Hoàng Ân” là gì nếu không phải là cung tên
phát huy được sức mạnh từ xa, chứ phải đâu chiếm thế thượng phong ở đường gươm, mũi
giáo. Mà cung tên thì một tên quân thường cũng có thể hạ gục được một viên chủ tướng. Sự
sáng tạo hư cấu này, ở góc độ tiểu thuyết lịch sử là chấp nhận được.
Còn vấn đề e rằng quá đề cao Trần Quốc Toản sẽ làm mờ đi các vị anh hùng khác, các
độc giả nhỏ tuổi có thể sẽ không hình dung được tài năng của các vị anh hùng ấy, điều này
không khó giải quyết khi nhà văn có đủ bản lĩnh sáng tạo để tái hiện cho được các vị anh
hùng khác ấy trên trang viết của mình.
Cũng thế, sự việc hình người đan bằng tre để lừa giặc được Đại Việt sử ký toàn thư
ghi lại như sau: “Dụ binh giặc đến huyện Từ Ninh (nay thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh
Phú) việc phụ đạo huyện ấy là Hà Đặc lên núi Trĩ Sơn cố thủ. Giặc đóng ở đông Cư Đà
(Phong Châu - Vĩnh Phú). Hà Đặc lấy tre đan thành những hình người to lớn, cho mặc áo,
cứ đến chiều tối thì dẫn ra dẫn vào. Lại dùi thủng cây to cắm tên lớn vào giữa lỗ để giặc
ngờ là sức bắn khỏe xuyên suốt được. Giặc sợ không dám đánh nhau với Đặc. Quân ta hăng
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
hái xông ra đánh lại được giặc” [116, 56].
Còn trong truyện của Nguyễn Huy Tưởng thì đó sáng kiến của Hoài Văn Hầu, nảy
sinh trên cơ sở được nhìn thấy những hình người có được bên trong cái thế đang giương
cung định bắn của các tráng sĩ người Mán. Họ dùng những hình người này để nghi binh với
giặc vì quân họ ít. Hoài Văn Hầu nhớ đến thần tướng Lý Ông Trọng khi xưa, thác rồi mà
tinh anh vẫn còn lưu trên tượng khiến quân hung nô khiếp sợ. Chi tiết sáng tạo này cho thấy
sự kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc của Hoài Văn Hầu - một con người văn võ toàn
tài, là niềm tự hào của cả dòng tộc.
Như vậy vấn đề dùng sử liệu để viết truyện lịch sử, đúng như Nguyễn Huy Tưởng đã
từng thổ lộ quan niệm của ông:“Về chính xác lịch sử thì tiểu thuyết chỉ không cần mâu
thuẫn với sử mà cũng trong những cái lớn, còn thì cái gì sử sách không nói, ta có quyền
nói” [77,367].
Những điều bộc bạch của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã làm nổi bật đặc trưng của
tiểu thuyết lịch sử.
2.1.2. Nhận diện cảm hứng lịch sử ở nhà văn Nguyễn Huy Tưởng
Theo Thuỵ Khuê, đọc tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng , ta thấy toát lên một cách
nhìn lịch sử lành mạnh và quân bình: “Đối với ông, lịch sử không là một sản phẩm quảng bá
chiến tranh, cũng không là bộ máy phân biệt chính tà, lịch sử chỉ là sự chuyển biến nhân
sinh trong những điều kiện đặc dị mà từ đó nhà văn có thể triển khai những băn khoăn sâu
sắc về thân phận con người, thân phận nghệ thuật” (Thụy Khuê, Nguyễn Huy Tưởng -
Một quan niệm về lòng yêu nước. Sóng từ trường II, tr 141). Như vậy cảm hứng lịch sử ở
Nguyễn Huy tưởng gắn với lòng yêu nước của một trí thức tài hoa chân chính.
Ông tìm về những giá trị cổ điển: “Ở tiểu thuyết lịch sử, văn ông mang âm hưởng biền
ngẫu trang nghiêm, đài các. Ngòi bút đãi lọc, cổ điển hóa văn phong trong cách chỉnh lời,
chuốt ý làm toát ra cái không khí cổ sử, đối thoại gắn bó với triều nghi, với tâm uất giai
nhân trong nội cảnh vàng son, kích thế uy hùng của những chiến thắng Vân Đồn, Vạn Kiếp,
Bạch Đằng...” (Thụy Khuê, Nguyễn Huy Tưởng -Một quan niệm về lòng yêu nước.Sóng
từ trường II, tr141). Đó là biểu hiện của tham vọng muốn tái thiết không gian và tâm thức
quá khứ trong ngôn ngữ xưa:đồng thời tân trang hóa tiểu thuyết lịch sử bằng cách đưa ra
những chủ đề về ý nghĩa của lòng yêu nước,về mối tương quan giữa nghệ thuật và quần
chúng, về sự đe dọa của áp lực thần quyền, áp lực thị dân trên số phận sáng tác. Những tác
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
phẩm tâm huyết nhất của Nguyễn Huy Tưởng là những tác phẩm đã ra đời từ trước 1945 và
còn được viết đi viết lại nhiều lần trong suốt thời kỳ kháng chiến, phản ánh nỗi băn khoăn
của nhà văn về tư tưởng yêu nước. Lòng yêu nước trong quan niệm của Nguyễn Huy Tưởng
không máy móc đơn chiều mà nó hòa hợp với lòng nhân đạo. Trong sáng tác của mình, dù
là trước hay sau cách mạng, nhà văn luôn thể hiện sự day dứt giữa một bên là lòng ái quốc
và một bên là chiến tranh, một bên là tinh thần phản chiến nhân bản và một bên là bạo lực
cách mạng. Cho dù cuối cùng, tinh thần yêu nước chủ chiến có chiến thắng thì người đọc
vẫn thấy vinh quang ấy có nỗi kinh hoàng, xót xa của con người trước cảnh đầu rơi máu
chảy. Những tư tưởng ấy được thể hiện trong tâm tư của ông vua Thiệu Bảo (An Tư) lúc
vận nước lâm nguy; nhưng dao động muốn chủ hòa vì thương dân chịu cảnh binh lửa của
ông là sự tương phản với tinh thần chủ chiến cương quyết của Hưng Đạo. Đặc biệt lòng yêu
nước trong quan niệm của ông thể hiện ý niệm tự do lựa chọn và hội nhập với tình yêu cuộc
sống, là một giá trị nhân bản, không thể dập vùi, thổi phồng theo đòi hỏi chủ quan của chính
trị lịch sử. Trong cái nhìn về lịch sử ấy, còn đau đáu một nỗi niềm trăn trở của muôn đời
nghệ sĩ: nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh? Nó đặt ra các vấn đề đối thoại
về tương quan giữa bạo lực và nghệ thuật, nghệ thuật với cường quyền. Tài hoa của Bảo
Kim (Đêm hội Long Trì) cũng bất lực trước sự chuyên quyền bạo ngược của Đặng Lân.
Chủ nghĩa yêu nước của Nguyễn Huy Tưởng ẩn dưới chiều sâu của lịch sử, trong bản
chất sâu xa của con người và gắn bó với thân phận sống, với đất đai bờ cõi, với vầng trăng,
ngọn cỏ quê hương. Cái chủ nghĩa yêu nước ấy không cần phết sơn, bôi hồ, không cần đến
những lời hô hào, tuyên truyền, cổ động; nó âm thầm, lặng lẽ chảy tự ngàn xưa và chảy mãi
tới ngàn sau. Nó không là độc quyền của một thời đại nào cả.
Và cảm hứng lịch sử ấy không thuần nhất là vấn đề của thời gian đã mất, nó là sợi dây
gắn kết vô hình nối liền quá khứ với tương lai. Do vậy mà những câu chuyện lịch sử của
ông không đơn thuần chỉ để nói về một không gian và thời gian được giới hạn trên bề mặt
câu chữ, mà tất cả chỉ là điểm tựa để nhà văn mở rộng và xác định rõ hơn ý niệm về đất
nước một cách toàn diện theo hai trục không gian và thời gian; ý niệm về dân tộc từ những
con người cụ thể đến cả cộng đồng rộng lớn.
2.2 Những chất liệu lịch sử khơi nguồn cảm hứng.
2.2.1 Đề tài.
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
2.2.1.1 Cuộc đấu tranh giữa Chính - Tà, bài toán muôn đời của lịch sử.
Đêm hội Long Trì là tiểu thuyết đầu tiên của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Tác phẩm
hình thành từ năm 1942 và được in thành sách năm 1944, trước đó được đăng trên Tri tân
(từ 24-11-1942 đến 12-08-1943). Tuy nhiên, những trăn trở của tác giả về tác phẩm này còn
kéo dài đến những năm sau này (1945), điều đó còn được ghi lại trong nhật ký của nhà văn.
Không bao giờ tự hài lòng với mình, luôn cầu tiến, vươn tới sự hoàn thiện, đó chính là cá
tính của Nguyễn Huy Tưởng.
Trước thế kỷ XX có bộ tiểu thuyết lịch sử Hoàng Lê thống nhất chí của Ngô gia
văn phái đã phản ánh bộ mặt phong kiến thời Lê - Trịnh, ngoài ra còn có Việt Lam xuân
thu của Lê Hoan. Đến đầu thế kỷ XX, có rất nhiều nhà tiểu thuyết lịch sử đã dựa trên
những tác phẩm ấy để viết lên những pho tiểu thuyết mới. Ngô gia văn phái trình bày bộ
mặt lịch sử từ năm Trịnh Sâm lên ngôi (1768) kéo dài tới 30 năm với nhiều biến cố: lúc cuối
đời của Trịnh Sâm nội bộ tập đoàn Lê - Trịnh lục đục, chúa chết, loạn kiêu binh, Tây Sơn
kéo quân ra Bắc và họ Trịnh mất nghiệp chúa. Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế và đại phá hai
mươi vạn quân Thanh. Nhà Tây Sơn lại sụp đổ, Gia Long lên ngôi (1802). Thời kỳ lịch sử
này được sử sách miêu tả một cách có hệ thống và toàn diện cái xã hội nhiễu nhương của
thời phong kiến suy tàn. Sự thật xã hội Việt Nam thời Lê Cảnh Hưng là một xã hội vô cùng
rối ren và thối nát, vua chẳng ra vua, chúa chẳng ra chúa. Với hình thức tiểu thuyết chương
hồi, tác phẩm còn in dấu ấn của thời văn sử bất phân, yếu tố tiểu thuyết ít hơn yếu tố lịch sử.
Đặc biệt chất liệu lịch sử trong đó mang tính thời sự bởi bản thân nhà văn là nhân chứng của
thời đại được phản ánh. Cục diện lịch sử được trình bày dưới dạng chất liệu sống, khá khách
quan, chưa chịu sự bình giá của người đời. Nhưng tác phẩm của Ngô gia văn phái đã khéo
léo lồng vào những sự kiện và nhân vật cái nhìn bình xét rất tinh tế khiến độc giả thấy được
tác phẩm rất chân thực và sống động. Ví như chi tiết Trịnh Tông lên ngôi sau vụ nổi loạn
của kiêu binh ở phủ Chúa, một trong những trường đoạn hay nhất của tiểu thuyết, chân dung
nhân vật hiện ra rất sinh động mang tính chất châm biếm thật thâm thúy . Những người đi
sau như Phan Trần Chúc, Lan Khai v.v... thường dựa vào Hoàng Lê thống nhất chí để
dựng nên tác phẩm của mình (Bà Chúa Chè, Tĩnh Đô Vương, Chúa Trịnh Khải...). Các
nhà văn này sáng tác theo lối phóng tác từ nguyên mẫu tác phẩm, hoặc xoáy sâu vào chuyện
tình của Trịnh Sâm và Đặng Thị Huệ, hoặc tập trung khắc họa cuộc đời của Đặng Thị Huệ,
từ khi là cô thôn nữ làng Chè trở thành Tuyên phi sủng ái bậc nhất của chúa Trịnh, đến khi
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
thất thế sau loạn kiêu bình, thản nhiên đón nhận sự trừng phạt từ phe đối địch, coi như hoàn
thành trò chơi với số phận. Các tác giả đôi khi tò mò, đi quá sâu vào những chuyện đời tư
trong phủ chúa như lễ thí nhi của Trịnh Tông, bệnh cổ của Trịnh Cán, vụ đánh ghen của
Dương Thị Ngọc Hoan với Đặng Thị Huệ v.v... trong khi đó lại không mấy quan tâm đến
những vấn đề lớn lao hơn của lịch sử: mâu thuẫn xã hội đang bị đẩy đến cao trào.
Trong tác phẩm của mình , Nguyễn Huy Tưởng đã sáng tạo ra một bầu không khí lịch
sử riêng. Dựa trên những sự kiện lịch sử có thật, đã được lưu lại trong văn chương và sử
sách thời phong kiến, Nguyễn Huy Tưởng đã sáng tạo ra một không gian lịch sử riêng với
những số phận, những tính cách, những xung đột chứa đựng những tư tưởng sâu xa của
đương đại. Đêm hội Long Trì là cuốn tiểu thuyết lịch sử viết về thời Trịnh Sâm. Truyện
phản ánh sự thối nát, hủ bại trong phủ chúa, khởi phát từ niềm đam mê mù quáng của Trịnh
Sâm với Đặng Thị Huệ, dẫn đến sự lộng hành, bạo ngược của Đặng Lân - em trai thị. Tác
giả tố cáo những tội ác chất chồng của tên quốc cữu với biệt danh “Cậu Trời”, sự xảo quyệt
của người đẹp xứ Bắc Ninh đã làm khuynh đảo cả gia pháp tôn nghiêm nơi phủ chúa cũng
như trật tự xã hội. Đối lập với sự dâm ác, bạo ngược, hèn hạ của bè lũ Đặng Lân là những
con người tượng trưng cho cái đẹp cao khiết (quận chúa Quỳnh Hoa), tài hoa và nghĩa khí
(Bảo Kim, Nguyễn Mại...). Bên cạnh sự đối lập này là sự mâu thuẫn của chính lòng dân với
những bất công mà phủ chúa gây ra. Đặng Lân ỷ thế chị, hoành hành ngang ngược, đòi cưới
Quỳnh Hoa, phá tan mối tình thơ mộng của nàng với Bảo Kim, đồng thời đày đọa người
thiếu nữ ấy đến nước yểu mệnh. Không những thế, y còn ngang nhiên làm những trò đồi bại
và tàn ác ngay giữa phố phường, làm điên đảo cuộc sống của bao gia đình lương thiện trong
kinh thành. Lân chính là bộ mặt dục vọng ghê tởm nhất của tầng lớp thống trị trong xã hội
ấy, núp dưới bóng quyền lực. Sự ngang ngược hống hách của y dường như hàm chứa tất cả
những điều ác của các tên bạo chúa khét tiếng trong lịch sử, nó ngang nhiên diễn ra vì
không một thế lực nào dám cản trở. Bao sinh mạng, phẩm giá của những con người vô tội
không có ý nghĩa gì trước một giọt lệ, một cái chau mày của Tuyên phi. Tĩnh Đô Vương
không còn là người cầm cân nảy mực sáng suốt trong triều đại ấy nữa, khi quyền lực bị che
mắt thì công lý còn đâu? Nhân dân tưởng như đã tuyệt vọng trước chị em người đàn bà xảo
quyệt xứ Bắc Ninh. Nhưng đại nghĩa cuối cùng đã chiến thắng, Nguyễn Mại với lưỡi gươm
công lý đã thay mặt dân chém bay đầu Đặng Lân, đòi lại sự công bằng cho những kiếp
người khốn khổ. Chấp nhận hy sinh bản thân, chàng quyết tâm diệt trừ kẻ bạo ngược. Chàng
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
chính là hiện thân của ước vọng công lý cho nhân dân của nhà văn. Mối tình của Quỳnh
Hoa - Bảo Kim, vai trò của Nguyễn Mại hoàn toàn là sự sáng tạo của riêng tác giả Nguyễn
Huy Tưởng bên cạnh những tình tiết lịch sử có thật như: những đêm hội Long Trì (có ghi lại
trong Vũ trung tùy bút), chúa Tĩnh Đô gả con gái cho Đặng Lân, sự say mê mù quáng của
Trịnh Sâm với Thị Huệ, sự tàn ác của Đặng Lân, thậm chí cả chi tiết Đặng Lân giết Khê
trung hầu và Lương Ngự sử là sự phát triển đoạn Đặng Mậu Lân giết Sử Trung, viên quan
theo hầu Ngọc Lan công chúa trong Hoàng Lê thống nhất chí.
Nguyễn Huy Tưởng chọn cho mình đề tài không lớn nhưng tư tưởng chủ đề của tác
phẩm thì vượt qua đề tài nó phản ánh. Xung đột giữa hai tuyến nhân vật (Đặng Thị Huệ,
Đặng Lân với Quỳnh Hoa, Nguyễn Mại, Bảo Kim và dân Thăng Long) thực chất là cuộc
tranh đấu giữa Thiện - Ác, Chính - Tà, dục vọng - lương tri, lý tưởng, lòng nghĩa hiệp với
cường quyền bạo ngược. Đặc biệt, nhân vật Trịnh Sâm - nguồn gốc của tất cả những bi kịch
được nhà văn xây dựng rất sinh động, là nhân vật thể hiện rõ nhất những mâu thuẫn, giằng
xé trong nội tâm, là con người lưỡng hóa. Trịnh Sâm không rõ rệt ở phía nào trong cuộc
chiến tranh trên, có lúc là vị vua sáng, có lúc lại u mê. Nguyễn Mại là nhân vật không có
thật trong lịch sử nhưng dưới ngòi bút sáng tạo của nhà văn, nhân vật đại diện cho mơ ước
về công lý của nhân dân này trở nên chân thực, có sức sống đến mức độc giả cảm thấy đây
đích thực là một nhân vật lịch sử. Đây chính là thủ pháp lợi dụng tính cách ngụy tín
(mauvaise foi - chữ dùng của Sartre) tức là sự “thông đồng” giữa độc giả và tác giả (biết là
bịa vẫn tin) trong loại hình tiểu thuyết đồng thời lại chiếm hữu lòng tin của độc giả qua
những sự kiện có thật, để đưa ra những chủ đề suy tưởng về tâm thức và hành động của con
người bị quy định trong hoàn cảnh lịch sử.
Bước vào phủ chúa trong Đêm hội Long Trì ta bắt gặp khung cảnh xa hoa (từng được
lưu lại trong những trang Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác), và những cảnh trụy lạc
đẫm máu ở phủ quốc cữu, tận hưởng không khí của cảnh sắc Thăng Long trong quá khứ với
những đêm hội Long Trì thơ mộng (như đã từng được miêu tả lại trong Tang thương ngẫu
lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án). Ở đó có một Tĩnh Đô uy nghi, chao đảo giữa quyền
uy và nữ sắc. Người đàn bà họ Đặng đã vượt lên thân phận của người phụ nữ thấp cổ bé
họng trong xã hội phong kiến, lấn lướt vai trò của chính cung và hơn thế, còn điều khiển cả
con người mạnh mẽ và giàu quyền lực nhất trong xã hội ấy. Nữ sắc bành trướng trong môi
trường xa xỉ của quốc gia, dưới những lộng hành của loạn thần và sự bất lực của những
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
người ngay thẳng. Đây là chủ đề thứ nhất của tác phẩm.
Kẻ sĩ, võ cũng như văn trong truyện luôn có trách nhiệm đối với dân với nước, là chủ
đề thứ hai của tác phẩm. Ở thời buổi nhiễu nhương, sở học từ chương, ngâm vịnh của bọn
văn sĩ như Bảo Kim có tác dụng gì cho đất nước? Chàng thư sinh tài hoa bậc nhất đất kinh
thành cùng nhóm bạn tài tử không cam tâm nhìn Quỳnh Hoa bị rơi vào tay kẻ thô bỉ, dâm ác
như Đặng Lân. Họ vạch ra kế hoạch giải cứu nàng ngay chính ngày tân hôn. Tiếc thay, sức
thư sinh trói gà không chặt chẳng những không cứu được nàng mà còn hại đến thân. Dù bị
bắt trói, hành hạ, họ vẫn khẳng khái, giữ khí tiết bậc quân tử “uy vũ bất năng khuất” trước
kẻ thù, nhưng một kẻ đê tiện vô học như Đặng Lân đâu cần đếm xỉa đến điều đó. Hình ảnh
tám thư sinh kiêu dũng mà đau đớn bị trói giật cánh khuỷu, bất lực giương mắt nhìn nàng
con gái yếu đuối chấp nhận hy sinh thân mình để cứu họ, gợi lên trong tâm thức của người
đọc cảm giác ngột ngạt, uất ức, day dứt. Những sách vở thánh hiền, thơ từ chương phú, khi
đối diện với cái ác, bạo lực so với thực lực võ tài của Nguyễn Mại cái nào đắc dụng hơn?
Câu trả lời không chỉ ở hành động một mình Nguyễn Mại giải thoát cho tám vị huynh đệ
trong ngục thất, mà còn thể hiện ở uy vũ của chàng lúc trừng phạt lũ thầy tớ Đặng Lân khi
chúng quấy phá đêm hội Long Trì, ở sự bình yên của kinh thành từ lúc chàng nhận chức
quan hộ thành. Xông pha nơi chiến địa, Mại không hề run sợ, không phải băn khoăn khi
trừng phạt kẻ thù, nhưng khi làm quan hộ thành, chàng luôn phải trăn trở trước bọn hoàng
thân quốc thích vô đạo. Và cũng chỉ có Nguyễn Mại mới có đủ can đảm một mình xông vào
giữa đám tay chân tiền hô hậu ứng của Đặng Lân để chém bay đầu tên phò mã đốn mạt.
Cùng là kẻ sĩ Thăng Long, cùng có bầu nhiệt huyết khao khát sự nghiệp phò vua giúp nước,
nhưng người đọc không khỏi không so sánh giữa Nguyễn Mại và Bảo Kim. Đồng thời, có
thể thấy được câu hỏi mà nhà văn đặt ra về vị trí yếu hèn của người trí thức, vấn đề nhập thế
của kẻ sĩ trong thời loạn.
2.2.1.2 Lịch sử chống ngoại xâm và những bài học về lòng yêu nước.
Trong lịch sử giữ nước thời phong kiến, triều đại nhà Trần đã ghi nhiều chiến công
hiển hách nhất. Ba lần chiến thắng đại quân Mông Cổ, một lực lượng quân sự hùng mạnh
nhất cả châu Âu và châu Á thời bấy giờ, là những mốc son chói lọi chứng tỏ tài trí của con
người Đại Việt. Đây cũng là triều đại tập trung nhiều bậc hiền tài, nhân sĩ nhất trong lịch sử
dân tộc. Trong cuộc đời sáng tác của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã từng ấp ủ mơ ước được
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
viết bộ tiểu thuyết về đề tài mà ông tâm huyết nhất về lịch sử “họ nhà Trần” Từ khi chưa
cầm bút sáng tác, Nguyễn Huy Tưởng đã bộc bạch mơ ước ấy trong những dòng nhật ký của
mình: “Tôi tưởng đến Trần Hưng Đạo, cái tên thần thánh đã quyến rũ tôi từ mười mấy năm
giời. Tôi còn nhớ khi tôi còn bé chưa biết quốc ngữ là gì, cứ nằng nặc đòi anh tôi đi mượn
sách Trần Hưng Đạo Đại Vương về đọc... Tôi nức nở nghe chuyện Trần Bình Trọng tử tiết,
và ngẩn ngơ hỏi anh tôi rằng sau này ông có sống lại không? Truyện Trần Quốc Toản làm
cho tôi thét lên vì cảm phục. Dẫu sao, lúc trẻ thơ, tôi đã có những phút cảm động thật say
sưa và chân thật” (Nhật ký năm 1938). Quãng thời gian “Mười mấy năm” về trước mà ông
ghi trong nhật ký là cậu trò nhỏ đang theo học ở vùng quê ngoại Đáp Cầu. Duyên nợ với
lịch sử nhà Trần trở thành duyên nghiệp văn chương, và là mối quan tâm sâu sắc nhất của
nhà văn: “Tôi vẩn vơ nghĩ đến quyển anh hùng ca mà tôi định đem hết tâm trí của tôi mà
cống hiến quốc gia tôi. Quyển ấy là quyển Thái Bình diên yến. Trong đó, tôi kể chuyện bậc
đại anh hùng nước ta là ông Hưng Đạo, là cái gương nghị lực, kiên nhẫn, ái quốc, trung
quân, là biểu hiện của cả tinh thần dân tộc.” (Nhật ký ngày 12-10-1933) [106,16].
Không kể những trang nhật ký từ tuổi mười tám, đôi mươi,bài tiểu luận Hội nghị
Diên Hồng đăng trên tạp chí Tri Tân năm 1941 là bài viết đầu tiên của Nguyễn Huy Tưởng
về đời Trần. Một năm sau ông sáng tác bài thơ về nhân vật lịch sử Trần Bình Trọng, Phạm
Ngũ Lão. Cũng trong khoảng thời gian này, một truyện về người anh hùng Trần Quốc Toản
do nhà văn sáng tác trong quá trình hoạt động hướng đạo ở Hải Phòng ra mắt bạn đọc. Năm
1943, Nguyễn Huy Tưởng gia nhập tổ chức Văn hóa cứu quốc bí mật của Đảng.Do thôi thúc
của thời đại và định hướng của đoàn thể là cần có những tác phẩm yêu nước, niềm say mê
lịch sử giữ nước thời Đông A trong Nguyễn Huy Tưởng đã được thổi bùng lên thành cảm
hứng sáng tạo. Nguyễn Huy Tưởng chọn đề tài về cuộc kháng chiến lần thứ hai của dân tộc
Đại Việt chống Nguyên Mông, trong đó nổi bật vai trò của một nhân vật ít được sử sách
nhắc tới – đó là An Tư công chúa để sáng tác tiểu thuyết An Tư. Tiểu thuyết lịch sử An Tư
kể về mối tình tan vỡ của nàng công chúa nhà Trần với chàng dũng sĩ Chiêu Thành vương
trên cái nền chính là cuộc kháng chiến hào hùng oanh liệt của nhân dân Đại Việt trong lần
thứ hai chống quân xâm lược Nguyên Mông. Trước thế giặc ào ạt như “trúc chẻ, ngói tan”,
vua tôi nhà Trần từ già đến trẻ, từ người trên đến kẻ dưới thống nhất một lòng theo lá cờ Sát
Thát, làm nên chiến công hiển hách mùa hè năm 1258. Cảm hứng đối với lịch sử thời nhà
Trần còn trở đi trở lại trong những năm sáng tác sau này của nhà văn. Mối quan tâm của nhà
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
văn tới những nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử triều đại nhà Trần trở thành niềm say mê sâu
sắc, mãnh liệt. sau cách mạng tháng Tám, Nguyễn Huy Tưởng lên chiến khu, phục vụ công
tác kháng chiến. Giữa những tác phẩm kịp thời phục vụ cho việc chiến đấu, ít ai biết rằng
trong tâm tưởng nhà văn vẫn dành một góc kín đáo, lặng lẽ nhưng thiêng liêng cho đề tài mà
ông hằng ấp ủ, một tác phẩm lớn để tái hiện một thời kỳ lịch sử hào hùng trong quá khứ của
dân tộc: “Mung lung trong đầu An Tư - Nhà họ Trần (càng ngày càng thấy rằng tiểu thuyết
này là sáng tác chính của ta)” (Nhật ký ngày 19-07-1949). Thời gian không cho phép
Nguyễn Huy Tưởng thực hiện mong ước ấy, bởi những yêu cầu của thời đại là rất lớn, cần
kíp hơn niềm đam mê cá nhân. Những ngày cuối đời, dường như nhà văn dồn sức để trả nốt
những món nợ tinh thần cho đam mê của mình: hoàn thành cuốn tiểu thuyết lịch sử cho
thiếu nhi - Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Lá cờ thêu sáu chữ vàng không chỉ là câu chuyện về
người anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản, mà còn là bức tranh khá toàn cảnh về cuộc
kháng chiến chống Nguyên Mông của quân dân nhà Trần dưới sự lãnh đạo của vị anh hùng
kiệt xuất Trần Hưng Đạo. Một cuốn phim sinh động tái hiện được chân dung của những anh
hùng dân tộc như vua Thiệu Bảo, Hưng Đạo Vương, Chiêu Văn vương... và khung cảnh hội
nghị bến Bình Than, trận Hàm Tử, cả những sinh hoạt thân mật của hoàng tộc chỉ có ở đời
Trần. Lá cờ thêu sáu chữ vàng kể lại một phần rất nhỏ về chiến thắng vĩ đại của quân dân
ta chống quân Nguyên và cũng chỉ thuật lại một phần cuộc đời của Hoài Văn Hầu, Trần
Quốc Toản vị anh hùng niên thiếu của dân tộc ta xưa kia.
Xưa kia, vào thời nhà Trần, khi giặc Nguyên định xâm chiếm nước ta ,vua quan nhà
Trần liền mở hội nghị Bình Than để bàn kế đối phó với âm mưu của giặc. Được tin ấy,
Quốc Toản đến nơi định dự họp nhưng bị quân lính và Chiêu Thành Vương ngăn cản, Quốc
Toản hậm hực bóp nát quả cam của vua Nhân Tông ban cho. Về nhà Quốc Toản giương cao
lá cờ thêu sáu chữ vàng “Phá cường địch báo Hoàng ân” (nghĩa là phá giặc mạnh trả ơn
vua) và chiêu mộ sáu trăm dũng sĩ thiếu niên làm lễ tế cờ xuất quân đánh giặc. Sau Quốc
Toản gặp Hưng Đạo Vương và tham gia trận Hàm Tử Quan, mở đường thu phục kinh đô
Thăng Long, đuổi năm mươi vạn quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi.
Mặc dù còn nhỏ tuổi nhưng Trần Quốc Toản rất đáng khâm phục .Dù chưa được dự
họp bàn việc nước nhưng Quốc Toản cũng tìm đến nơi vua quan họp để biểu lộ lòng yêu
nước và chí căm thù giặc sâu sắc của mình. Cái khí tiết đẹp đẽ ấy đã thể hiện rõ trong câu
nói của Quốc Toản với vua Nhân Tông: Quyết xin đánh chứ không cho giặc Nguyên mượn
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
đường. Tinh thần quyết tâm chiến đấu của Quốc Toản cũng là tinh thần quyết tâm chiến
thắng của toàn dân và toàn quân ta thời đó, khắc sâu vào hai chữ “Sát Thát” trên những cánh
tay trai trẻ ứa máu căm thù.
Câu chuyện lịch sử sinh động này đã khơi gợi truyền thống yêu nước và đấu tranh bất
khuất của dân tộc ta, của thiếu nhi chúng ta từ xưa đến nay trong suốt lịch sử chống ngoại
xâm từ Thánh Gióng, Lý Tự Trọng đến Kim Đồng. Bộ tác phẩm liên hoàn về “Nhà họ
Trần” gồm thơ, truyện ngắn, tiểu luận, tiểu thuyết mà nhà văn để lại là minh chứng cho
niềm say mê lịch sử đời Trần. Có thể nói trong đó, An Tư là tiểu thuyết lớn nhất, trình bày
lý tưởng của nhà văn về sức mạnh hiệp đồng của dân tộc trong cơn phong ba kinh hoàng
của lịch sử.
Không ít lần, Nguyễn Huy Tưởng đã băn khoăn về vị trí của người phụ nữ trong cách
mạng: “Sao không thấy người ta nói gì đến vai trò phụ nữ?”. Sự quan tâm đến số phận An
Tư chẳng phải là điều ngẫu nhiên, bởi trong sử sách, người phụ nữ hầu như ít khi được nhắc
tới. Nhà văn dường như nhận rõ những bất công ấy cả ở sử học và văn học qua nhiều đời.
Từ thời phong kiến, người phụ nữ, ngay cả những bậc quyền quý như An Tư công chúa
,Quỳnh Hoa quận chúa cũng chỉ là vật đổi trao, món hàng chính trị trong tay bậc huynh phụ.
Quỳnh Hoa, An Tư chỉ là hai mẫu hàng nhỏ của một lịch sử lớn lao; những Lý Chiêu
Hoàng, Trần Huyền Trân cũng chỉ là những con bài chính trị. Cuộc đời, thân phận của họ
đầy những xót xa cay đắng, oan khiên. Thân phận những người phụ nữ trong lịch sử Á
Đông có mấy khi vinh hiển, có công hay tội rút cụt cũng chỉ mang tiếng “Cái sắc khuynh
thành, hại vua hại nước”. Nguyễn Huy Tưởng đặc biệt dành sự quan tâm ưu ái cho số phận
của những người phụ nữ ấy. trong tác phẩm của ông, họ là những thiếu nữ có sắc có tài,
giàu lòng ái quốc nhưng số phận lại bi thảm, đầy nước mắt. An Tư, Quỳnh Hoa tuy không
bị giày vò về nổi khổ cơm áo nhưng vẫn bị ràng buộc bởi luân lý lễ giáo phong kiến. Họ là
nô lệ của những” tam tòng, tứ đức” khắc nghiệt, là vật hy sinh cho thế lực phong kiến (và
đôi khi may mắn hơn là sự hy sinh đôi khi cũng đạt được mục đích cao cả là vì quốc gia đại
sự). Cùng là cách nhìn về vai trò của người phụ nữ trong chính trường, nếu như Đêm hội
Long Trì đưa ra khía cạnh tiêu cực của nữ sắc thì An Tư lại là cách nhìn tích cực về vai trò
nữ sắc có thể xoay chuyển cục diện chiến tranh, mang nội lực cao thâm, hữu hiệu hơn ngàn
binh đao.
Em gái út của Thượng hoàng Trần Thánh Tông là An Tư - cô ruột của vua Nhân Tông
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
(Thiệu Bảo). Tháng hai năm Ất Dậu (1285), triều đình dâng nàng cho thái tử Thoát Hoan
làm kế hưu chiến, mong Thoát Hoan đắm vào vòng tửu sắc, để quân nhà Trần có thời gian
chuẩn bị phản công. Sự kiện này chỉ được ghi vắn tắt trong Đại Việt sử ký toàn thư: “Khiển
nhân tống An Tư công chúa, vu Thoát Hoan dục thư quốc nạn dã” (cho người đưa công
chúa An Tư đến chỗ Thoát Hoan để làm thuyên giảm nạn nước). Mười lăm chữ ấy đã gợi ra
nguồn cảm hứng cho tác giả, để viết nên pho tiểu thuyết lịch sử bề thế, có khuynh hướng sử
thi hoành tráng, có chiều sâu nhân văn. Nhân vật An Tư trong lịch sử không mấy người biết
đến, vai trò của nàng lu mờ trước những trí lược của Hưng Đạo Vương, tài đảm của Chiêu
Minh vương, Chiêu Văn vương, dũng khí của Hoài Văn Hầu, Bảo Nghĩa vương,... bao đấng
anh hùng tài ba xuất chúng với những hành động khẩu khí oai hùng trước quân giặc mà lịch
sử hết lời ngợi ca. Người ta mãi lưu tâm đến những chiến công hiển hách mà ít khi nói đến
những trường đoạn bi thương của lịch sử. Vì thế, việc An Tư hy sinh bản thân làm kế mỹ
nhân trong khi vận nước như chỉ mành treo chuông, âu cũng là điều lịch sử cố tình né tránh.
Có thể vì thế mà cuộc sống của nàng ở trong trại giặc ra sao, nàng đã dùng mưu kế làm lung
lạc ý chí của Thoát Hoan như thế nào, lịch sử cũng chẳng buồn đoái hoài. Ký ức lịch sử đôi
khi tàn phũ, không chút ngậm ngùi, không dành cho thân phận những người phụ nữ “bán
mình vì tổ quốc” một giọt nước mắt cảm thông đích thực. Nguyễn Huy Tưởng xé lại vết
thương hướng về những ngậm ngùi ấy, trang trải cho lịch sử món nợ tinh thần với An Tư,
đồng thời bổ sung vào niềm tự hào về các chiến thắng Hàm Tử, Chương Dương, Vân Đồn,
Vạn Kiếp những nỗi xót xa về thân phận con người. tiểu thuyết lịch sử An Tư là tấm huân
chương hai mặt, một mặt vẫn có không khí hào hùng của các chiến công hiển hách, vẫn là
hào khí Đông A bất ngờ nhưng mặt khác còn có cả những đau thương, mất mát không gì bù
đắp nổi của những thân phận cá nhân trong dòng thác lũ lịch sử. Nguyễn Huy Tưởng bên
cạnh việc thể hiện chất sử thi hoành tráng của một thời đại, còn lưu tâm đến đời sống tinh
thần của một con người bé nhỏ trong số đông. Nhà văn đã dùng trí tưởng tượng và cảm
hứng nhân văn để dựng lại đời sống của An Tư trong trại giặc, với những giằng xé nội tâm
giữa nợ nước và tình nhà, giữa những tủi hổ vì bị giày vò thể xác và mặc cảm trước mối tình
đầu trong sáng với chàng dũng sĩ si tình, chung thủy. Những đau đớn của An Tư cho thấy sự
thấu hiểu sâu sắc về tình người, tình đời ở một nhà văn còn trẻ ở cả về tuổi đời và tuổi nghề.
Tiểu thuyết An Tư còn là cái nhìn mới,là sự trăn trở về lịch sử hôm qua và hôm nay.
Chiến hay hoà đó là vấn đề lựa chọn con đường yêu nước của ông cha ta trong suốt trường
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
kỳ lịch sử ? Nổi nhục quốc thể không thể không rửa, nhưng khi chứng kiến sức giặc bạo tàn,
vua Thiệu Bảo, ông vua nhân từ đã do dự trước chiến tranh. “Vua Thiệu Bảo biết chiến
tranh tai hại, khốc liệt, không lợi gì cho kẻ dự chiến. Bên thắng cũng như bên bại, và ông
vua giỏi không phải là một người cùng binh độc vũ, tìm những thủ đoạn oanh liệt trên chiến
địa, mà là người biết mưu hạnh phúc cho dân.” [102, 241]. Nghĩ đến” biết bao quỷ không
đầu đang bơ vơ bên phần mộ tiên tổ! Những người còn sống ngẩn ngơ trước bàn thờ giá
lạnh, nhớ đến kẻ thân yêu không bao giờ về nữa (...) Vua bỗng xúc động trong lòng và cảm
thấy một niềm thương vô biên, bao trùm cả chúng sinh, cây cỏ”. [102, 249-250]. Bên cạnh
đó còn có một Hưng Đạo Vương nghĩa khí, đặt việc nước lên trên tình cảm cá nhân, chọn
đổi An Tư như một thế tận của chiến trường, sẵn sàng chém bay đầu hàng trăm quân đào
ngũ để giữ nghiêm quân lệnh. Nhưng cũng chính con người có cái uy át vía hàng vạn quân
Mông Cổ ấy, khi thoát khỏi tư thế thần thánh, vương chỉ là một con người cô đơn và hoang
mang ở mỗi một quyết định, mỗi một thế cờ, ở trong cả những niềm u ẩn không thể sẻ chia
với bất kì ai. Không riêng gì vua Nhân Tông, Hưng Đạo, mà ngay cả Thoát Hoan, từ cương
vị người thắng đến kẻ thua đều có những nỗi xót xa riêng chung về chiến tranh, về chiến
hay hòa. Trong tiềm thức những nhân vật ấy, chiến tranh chỉ là cực điểm của ngõ cụt, của
tai ương, của tham vọng và của tuyệt vọng. Không chỉ đóng vai trò chia rẽ nội bộ hàng ngũ
chủ soái trong quân địch, An Tư đã cảm hóa được một vị tướng nhà Nguyên đầy tham vọng.
Không ít lần vẻ đẹp trong trắng của An Tư đã thức tỉnh lương tri của tên thái tử nhà
Nguyên, đã đôi lần lưỡi gươm của y đã vung lên rồi lại rơi xuống dưới chân người con gái
bé nhỏ - tạo phẩm tuyệt vời của hóa công. Biết nâng niu, trân trọng cái đẹp, Thoát Hoan đã
bao lần ao ước giá không phải tiếp tục cuộc chiến với dân tộc nàng, để không còn phải
“uống dòng lệ mặn trên khuôn mặt An Tư”. Nhưng chiến tranh là điều không thể tránh khỏi
đối với một dân tộc quật cường như Đại Việt. Hưng Đạo Vương chọn con đường chủ chiến
bởi cách nghĩ của ông không chỉ là vì cái nhất thời, nếu nước rơi vào tay giặc thì đâu chỉ có
năm vạn quân chết oan mà sẽ có hàng vạn, hàng triệu sinh mạng nữa bị tước đoạt cái quyền
được sống như một con người. Chân lý của ông là: “Thương dân không phải thương kẻ
đương thời, còn phải thương đến con cháu muôn đời sau nữa” [102, 259]. Cùng một lòng
yêu nước thương dân, Nhân Tông cầu hoà, Hưng Đạo chủ chiến. Chiến tranh hay hòa bình?
Cái thế lưỡng cực ấy day dứt tâm linh, dày vò bao nhiêu thế hệ, là nỗi trăn trở muôn đời của
lịch sử. Đó mãi là câu hỏi không có lời đáp. Dân tộc này chỉ có cách lựa chọn tùy cơ ứng
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
biến. Chủ trương của Hưng Đạo đưa đến nền độc lập tự chủ, nhưng chủ trương của Nhân
Tông mở ra một khía cạnh đạo đức và nhân ái sau chiến tranh mà thời nào cũng cần phải có
để xây dựng hòa bình. Lịch sử vì thế vừa có thương đau mất mát nhưng cũng thật hào hùng;
có sự mạnh mẽ, cương quyết nhưng cũng có sự hài hòa uyển chuyển đầy tính nhân văn.
Cảm thức lịch sử và những trăn trở này còn xuyên thấm tới sáng tác cuối cùng của nhà văn
Nguyễn Huy Tưởng - tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô.
Từ năm 1945 đến nay, trong văn học Việt Nam, có rất nhiều tác phẩm viết về đề tài
chiến tranh, nhưng Sống mãi với thủ đô và Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng
mang một bản sắc riêng, biệt lập với những tác phẩm khác. Từ Xung kích, Vỡ bờ của
Nguyễn Đình Thi, trải qua Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Gia đình má
Bảy của Phan Tứ, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh v.v... mỗi tác phẩm có một giá trị
khác, có tác phẩm hay, có giá trị vượt xa các tác phẩm khác, nhưng điều cốt yếu là chưa
phản ảnh được bao quát và toàn diện về con người trong chiến tranh. Hay nói đúng hơn, mỗi
tác phẩm trên đều chỉ nêu lên một khía cạnh của chiến tranh, hoặc là từ góc độ bi kịch của
người lính, phơi bày tội ác chiến tranh, hoặc mang tính tuyên truyền từ góc độ thành phần
xã hội, bằng những sự hy sinh can đảm của người lính và sự hào hùng của những chiến
công... Nguyễn Huy Tưởng không đi theo con đường đó, ông chọn góc nhìn bằng nhãn quan
lịch sử. Ông phản ánh tâm tư và tình cảm, thái độ của mỗi cá nhân, mỗi thân phận trong
chiến tranh theo một giọng văn trang nghiêm, khách quan và chân thực. Những con người bị
lôi vào cuộc chiến không chỉ có người lính, mà còn có cả người dân từ nhiều thành phần
xuất thân, thuộc nhiều giai tầng trong xã hội. Ở đó, có người theo kháng chiến, người theo
Pháp, người cứu nước, kẻ bán nước, người theo cộng sản, kẻ Việt gian, có anh hùng, có cả
bọn tiểu nhân hèn nhát, có người can đảm trượng nghĩa, nhưng cũng có kẻ ích kỷ, tự tư tự
lợi... mỗi người đều có những quyết định riêng cho mình trước ngã ba lịch sử. Nguyễn Huy
Tưởng không quá say sưa để ngợi ca một cách cực đoan cuộc chiến như tất cả những nhà
văn cùng thời, trái lại, cảm hứng lịch sử đã giữ cho ông cái nhìn chính xác, chừng mực về số
phận con người trong cơn bão táp lịch sử. Vượt lên trên lối viết tuyên truyền dễ dãi thông
thường, hai tác phẩm của nhà văn, kịch tác gia Nguyễn Huy Tưởng trở thành hai tác phẩm
cổ điển, thể hiện tính nhân văn cao độ. Ông đã nắm được cái hồn trang nghiêm hào hùng
của sáu mươi ngày đêm tự vệ thành trấn giữ thủ đô, nhưng hơn thế, ông còn hiểu thấu đáo
cả tiểu vũ trụ trong tâm hồn các nhân vật. tác phẩm mang tên Sống mãi với thủ đô đã phần
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
nào cho thấy tư tưởng chủ đạo đầy nhân bản của nhà văn: đề cao khát vọng sống của con
người, khát vọng được bất tử cùng với mảnh đất thủ đô. Không quá thần thánh hóa cuộc
chiến, nói chính xác hơn, tác giả đứng ở góc độ chống chiến tranh và đề cao sự sống. Lòng
yêu nước ở đây không còn là những khẩu hiệu chung chung, khuôn sáo, nó gắn với những
điều rất cụ thể, là hy sinh mạng của con người. Giữ thủ đô thực chất là để bảo toàn cuộc
sống của những con người vô tội, để ngăn chặn những vụ thảm sát như ở ngõ Yên Ninh, để
không còn cảnh lính Pháp ngang nhiên bắt và giết những người dân Hà Nội, Hải Phòng và ở
những nơi khác trên Tổ quốc Việt Nam này. Khẩu hiệu “Sống chết với thủ đô” của những
người lính tự vệ đi vào trong tác phẩm chỉ còn lại một vế, Nguyễn Huy Tưởng bây giờ cũng
thiết tha hướng tới sự sống, cái chết không bao giờ tồn tại trong tư tưởng của ông.
Sống mãi với thủ đô là tiểu thuyết cuối cùng còn dang dở trong đời văn của Nguyễn
Huy Tưởng. Cho đến khi từ giã cuộc đời, nhà văn vẫn còn băn khoăn vì nhiều dự đồ sáng
tác chưa thực hiện được ở tác phẩm này. Cảm hứng sáng tác Sống mãi với thủ đô bắt
nguồn từ những cảm xúc về buổi bình minh của nền độc lập dân chủ của dân tộc, tìm những
khoảnh khắc lịch sử vừa đau thương, vừa hào hùng. Ngay sau ngày tuyên bố quyền độc lập,
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, hiểm họa:
giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Rất kiên định và thống nhất, Đảng mới chèo lái được
con thuyền dân tộc lần lượt vượt qua những ghềnh thác trên các mặt trận kinh tế, văn hóa xã
hội, đến chính trị, ngoại giao. Thế nhưng, như Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm
1946 của Hồ Chí Minh đã nêu: “Chúng ta muốn hòa bình. Chúng ta càng nhân nhượng,
thực dân Pháp càng lấn tới”, thế cục buộc nhân dân ta một lần nữa lại phải cầm vũ khí để
bảo vệ nền độc lập tự do của mình. Thủ đô Hà Nội những ngày mùa đông năm 1946 nóng
lên bởi khí thế đấu tranh của đồng bào, chống lại những vụ tàn sát đẫm máu mà thực dân
Pháp gây ra để châm lên ngọn lửa chiến tranh.Hơn một năm được sống trong không khí của
tự do, độc lập, người Hà Nội lại phải đối diện với một cuộc chiến “hứa hẹn” nhiều hy sinh
mất mát, một cuộc chiến mà trong đó ngay cả những con người lạc quan nhất cũng thấy rõ
những hình ảnh thành phố đổ nát phía trước. Nhưng họ vẫn dũng cảm chiến đấu, chấp nhận
tất cả vì một ý nghĩ: “Sống, chúng ta sẽ được trông thấy thủ đô ngàn năm không còn bóng
giặc. Chết, chúng ta sẽ có cái tự hào của một thế hệ đã hy sinh lần cuối cùng cho tự do của
Tổ quốc. Chúng ta là những người nô lệ cuối cùng đồng thời cũng là những người tự do đầu
tiên” [102, 152]. Hà Nội trong những ngày khói lửa ấy được bảo vệ không phải bằng một
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
đội quân chính quy hùng hậu, võ trang đầy đủ mà chỉ là những người dân có lòng yêu nước,
khao khát được sống có ý nghĩa, tự trang bị cho mình những vũ khí thô sơ nhất. Họ là một
tập hợp những con người ở mọi tầng lớp xã hội và cũng mang những cái tính tốt xấu lẫn lộn.
Họ đến với kháng chiến với những tâm trạng khác nhau. Bên cạnh chất men hào hùng ấy,
tác phẩm xen lẫn cả những dư vị chua chát nhưng đó lại là những dư vị rất đời, làm cho chất
men say hùng tráng không trở nên quá bốc đồng, phi hiện thực. Hà Nội đã hiện lên trong
từng trang sách của Nguyễn Huy Tưởng như là một bãi chiến trường thô sơ, ảm đạm, trong
cái đêm đông lịch sử ấy. Người trong cuộc, nhân tâm chưa hoàn toàn thống nhất, bên cạnh
những phẩm chất cao cả, chịu đựng hy sinh, vẫn có lòng tị hiềm, sự bon chen ích kỷ ngay
trong những người có thể coi là nắm vai trò đứng mũi chịu sào trong các liên khu (Hồng
Lưu, Văn Việt, Quốc Vinh). Trong cái say sưa của những người ra trận, ta bắt gặp đâu đó
những bi quan thời cuộc, sự rệu rã mang màu sắc tiểu tư sản mà những tác phẩm văn học
cùng thời né tránh nói đến. Nguyễn Huy Tưởng không nhấn vào những điểm tối ấy nhưng
cũng không bỏ qua, đảm bảo tính chân thực lịch sử.
Là nơi phát lệnh toàn quốc kháng chiến, Hà Nội đã mở màn cho cuộc kháng chiến
trường kỳ chín năm ròng rã bằng sáu mươi ngày đêm gian khổ, kết thúc trong “Đêm ra đi
đất trời bốc lửa / cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng” (Ngày về - Chính Hữu) của những
chiến sĩ tự vệ, khi đó, họ chưa mang danh hiệu Trung đoàn Thủ đô. Ý đồ của nhà văn là xây
dựng trọn vẹn 60 ngày chiến đấu ấy và cả khúc hoan ca của ngày trở về trong mùa thu chín
năm sau. Nhưng căn bệnh quái ác không để ông hoàn thành bộ tiểu thuyết này, dự đồ chỉ
còn lại bộ khung là truyện phim Lũy hoa. Hai ngày đầu của cuộc kháng chiến, phần đầu của
tiểu thuyết đã thành hình trên năm trăm trang bản thảo đủ cho thấy tài hoa, bút lực của nhà
văn. Chỉ một phần ấy thôi đã đủ để nhận diện gương mặt lịch sử thời đại hào hùng, đau
thương nhưng cũng chan chứa niềm tin và hy vọng vào tương lai.
Bước vào thế giới của Sống mãi với thủ đô, người đọc như được sống trong thời khắc
nóng bỏng nhất của lịch sử. Thủ đô trong những ngày đầu đông không khí se lạnh mà trái
lại người ta cảm thấy ngột ngạt và oi bức vì áp lực và yêu sách của bọn thực dân đang o ép
chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những cuộc thương thuyết nhượng bộ bất thành,
những cuộc tàn sát, khiêu khích của lính Pháp ngang nhiên trên đường phố Hà Nội đã gợi
lên mối căm hờn trong lòng những người dân thủ đô, đặc biệt là tầng lớp thanh niên. Người
Hà Nội buộc phải tản cư để bảo toàn lực lượng cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Những
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
đường phố ngày nào náo nức, sôi động trong khí thế của mùa thu độc lập giờ đây lặng lẽ,
ngổn ngang những đổ nát. Dưới những mái ngói thâm nâu của những dãy phố cổ vang lên
tiếng đục tường, lúc nhịp nhàng, khi dồn dập, những âm thanh như nhịp đập trái tim thành
phố, nó báo hiệu một sức sống tiềm tàng và mãnh liệt của mảnh đất đã có ngàn năm tuổi.
Những người ở lại giữ thủ đô đều mang một tình yêu lớn lao với mảnh đất này, đều mang
một trái tim căm thù quân xâm lược và đặc biệt là họ mang trong mình quyết tâm Sống mãi
với thủ đô. Cảm hứng lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng trong đề tài này ít nhiều mang chất
thời sự. Thời điểm hình thành cảm hứng là khi nhà văn được tiếp xúc với những người
chiến sĩ tự vệ thành vừa rút khỏi thủ đô sau sáu mươi ngày chiến đấu gian khổ. Nhà văn
được sống trong chính không khí bão táp ấy, và được gặp gỡ những nhân chứng sống của
lịch sử. Khác với những cuộc kháng chiến xa xưa, cuộc kháng chiến này đích thực mang
tính nhân dân, người dân đóng vai trò trọng yếu. Do vậy, những danh nhân lịch sử như Hồ
Chủ Tịch, đại tướng Giáp cũng trở nên thân thiết, giản dị đối với những người lính bình
thường, vô danh; ở họ không có cái khoảng cách xa lạ như của quân tướng, vua tôi nhà
Trần. Vì thế nên thế giới nhân vật hầu hết là hư cấu từ những người lính vô danh của Trung
đoàn Thủ đô mà nhà văn được tiếp xúc. Không có độ giãn cách về thời gian, hiện thực đi
vào tác phẩm chưa qua sự phẩm bình của lịch sử. Nhưng bằng niềm say mê, khát vọng
muốn xây dựng bộ sử thi hoành tráng cho lịch sử nước nhà, Nguyễn Huy Tưởng đem đến
bức chân dung những người lính tự vệ của thủ đô kháng chiến vừa hào hùng, vừa chân thực.
Đây là một trong số hiếm những tác phẩm viết về quá khứ gần đạt đến độ điển hình trong
khái quát thực hiện.
2.2.2 Sự kiện.
Không tham lam trong việc khai thác lịch sử, Nguyễn Huy Tưởng không phô diễn hết
những hiểu biết của mình mà đi sâu vào những chi tiết, sự kiện có tính chất bước ngoặt đối
với cộng đồng, với mỗi cá nhân trong dòng lịch sử; từ đó ông phân tích tỉ mỉ những diễn
biến trong sâu xa tâm hồn nhân vật, kéo những sự kiện từ quá khứ về hiện tại để người đọc
có cơ hội nắm bắt tường tận nó. Đêm hội Long Trì không khai thác cả trường đoạn lịch sử
từ cuối đời Lê Cảnh Hưng đến khi nhà Tây Sơn lên nắm quyền như ở Hoàng Lê nhất
thống chí, mà chỉ tập trung khai thác một sự kiện có thể nói là rất nhỏ trong toàn bộ cả diễn
biến lịch sử đầy bão táp cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Tiểu thuyết mở đầu là quang
cảnh đêm hội Long Trì, khởi điểm của những bi kịch chốn cung son điện ngọc. Ngay ở màn
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
khởi đầu, tất cả những nhân vật chính đều đã xuất hiện và lần lượt bộc lộ tính chất, mâu
thuẫn xung đột chính cũng được tạo ra từ đây. Tiểu thuyết này phảng phất bóng dáng của vở
bi kịch cổ điển. Trong đêm hội xa hoa của phủ chúa Tĩnh Đô, người đọc lần lượt chứng kiến
tài hoa của Bảo Kim, nhan sắc, vẻ dịu dàng của Quỳnh Hoa và cả mối tình trong trắng, lãng
mạn của họ. Đặng Lân xuất hiện như một hung thần phá tan bầu không khí nên thơ của đêm
hội bằng sự tàn ác, dâm đãng, hống hách của y; chỉ có bàn tay dũng mãnh của Nguyễn Mại,
người không sợ uy quyền của Tuyên Phi mới có thể ngăn chặn được sự bạo ngược của tên
cậu Trời, đem lại sự bình yên. Chúa Tĩnh Đô xuất hiện cuối màn cùng Tuyên Phi, chỉ một
thoáng chốc, ta có thể cảm nhận được bàn tay nữ sắc đã át cả quyền uy tối thượng; tất cả
những chi tiết ấy cứ diễu qua như một sự tiên liệu số phận từng nhân vật. Cốt truyện triển
khai trong thời gian ngắn, nhưng nhiều tình tiết. Xét ở góc nhìn lịch sử thì những sự kiện
như chúa Tĩnh Đô vì đắm say nhan sắc của Thị Huệ mà trở nên mù quáng, làm cho nếp nhà
tan nát, phép nước rối loạn, gây nên cái chết thương tâm của quận chúa Quỳnh Hoa là có
thật; sự tàn ác của” cậu Trời” - Đặng Lân cũng là điều từng có trong lịch sử. Xét trong toàn
bộ những biến cố lịch sử của thế kỷ này thì đây chưa phải là những sự kiện tiêu biểu nhưng
lại có ảnh hưởng không nhỏ tới toàn bộ quá trình lịch sử. Việc Trịnh Sâm vì mê nhan sắc
của Đặng Thị Huệ rồi phế trưởng lập thứ là sự kiện có thật, là dấu hiệu của sự mục nát trong
nội bộ phủ chúa. Sự rối loạn trong tập đoàn nhà Lê - Trịnh là khởi điểm dẫn tới loạn kiêu
binh, Tây Sơn kéo quân ra Bắc “phò Lê, diệt Trịnh”, đại phá quân xâm lược Mãn Thanh,
dẫn đến sự thất thế của phong trào khởi nghĩa nông dân lớn nhất trong lịch sử phong kiến
Việt Nam.
Nguyễn Huy Tưởng không cố tình coi việc phơi bày sự thối nát của xã hội phong kiến
và của chốn cung đình xa hoa là mục đích của mình. Ông chỉ muốn đề cao lý tưởng và nêu
bật khát vọng về sự chính nghĩa.
Nhà văn đã sáng tạo ra sự kiện Đặng Lân bị trừng phạt bởi bàn tay Nguyễn Mại, chúa
Tĩnh Đô cuối cùng cũng đã tỉnh ngộ và trở nên sáng suốt công minh, lại được lòng dân. Cái
ác bị đền tội. Chính nghĩa thuộc về muôn dân. Điều đáng nói là cảm hứng ngợi ca và đề cao
lịch sử ở nhà văn đã hòa hợp với chất lý tưởng, chất lãng mạn trong sáng, khỏe khoắn, nên
tác phẩm không bị sa vào tình trạng lãng mạn tiêu cực hay li kỳ hóa chuyện thâm cung như
một số tiểu thuyết lịch sử đương thời.
Trong tiểu thuyết An Tư, Nguyễn Huy Tưởng đã khai thác sự kiện lịch sử ở góc độ
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
lớn lao hơn, đó là sự kiện toàn dân Đại Việt đứng trước hiểm họa xâm lăng của quân Mông
Cổ lần thứ hai. Đây là lúc mọi người dân phải đồng lòng nhất trí, gắng sức chèo lái con
thuyền dân tộc vượt qua thác ghềnh lịch sử. Tất cả tập trung cho một mục đích là làm thế
nào để bảo toàn sinh mệnh của dân tộc. Trước thế giặc hung hãn, mạnh như bão dâng, lũ
cuốn, chẳng một ai có thể bàng quan. Thượng hoàng Thánh Tông cùng vua Thiệu Bảo như
ngồi trên đống lửa, phần lo giặc mạnh, phần lo trên dưới chẳng đồng lòng. Ngay cả vị chủ
tướng tài ba Trần Quốc Tuấn cũng mất ăn, mất ngủ lo lắng cho vận nước. Nếu đem quân cự
giặc ngay lúc này chẳng khác gì đem trứng chọi với đá, nếu lui quân cầu hòa thì khác gì đã
phụ lòng dân. Hội nghị Diên Hồng tập trung tiếng nói của ba trăm bô lão từ mọi miền đất
nước, là tiếng lòng nhân dân quyết chí không chịu làm nô lệ, đã rung lên trong tiếng hô:
“Sát Thát”. Công chúa An Tư trở thành phương tiện thi hành” mỹ nhân kế”. Lịch sử không
nói nhiều về nàng, thậm chí đã quên công lao của nàng trong chiến thắng chung của dân tộc.
Nguyễn Huy Tưởng lựa chọn một sự kiện ít người quan tâm này để xây dựng tiểu thuyết
của mình. Dưới ngòi bút tài hoa của nhà văn, từ một cái tên An Tư mờ nhạt trong Đại Việt
sử kí toàn thư trở thành một con người sống động, với diện mạo của trang quốc sắc thiên
hương, trí tuệ sắc sảo, cũng đủ cả đam mê, cả hy sinh, tủi nhục. Nhà văn đã khéo léo tạo nên
mối tình say đắm giữa Chiêu Thành vương với nàng công chúa An Tư. Không theo cách
xây dựng tiểu thuyết lịch sử thông thường là thêm thắt một vài mối tình cho cốt truyện thêm
phần hấp dẫn, Nguyễn Huy Tưởng xây dựng mối tình này thành nòng cốt chính của câu
chuyện. Bên trong bản anh hùng ca chiến trận của thời đại Đông A, có đan quyện giai điệu
ngọt ngào của mối tình chung thủy, còn cả tiếng khóc nghẹn ngào cho số phận của cá nhân
đằng sau vinh quang của dân tộc.
Chiến tranh là khúc quanh, là bước ngoặt bất ngờ của người đời cũng như của lịch sử.
Đứng trước mỗi cuộc chiến, mỗi nhà văn lại có xúc cảm riêng. Với người này là bản hùng
ca của những chiến công, với người kia là khúc bi ca của những cuộc đời bị cuốn vào cuộc
chơi đỏ đen của số phận. Nguyễn Huy Tưởng điềm tĩnh nhìn nó từ góc nhìn của một nhà sử
học, chiêm nghiệm về nó như một quy luật tất yếu của sự vận động lịch sử, trong đó có cả
thắng và bại, bi và hùng, khổ đau và vui sướng. Nhưng tất cả những điều ấy không khiến
người ta bi quan mà trái lại, củng cố niềm tin cho người đọc về vận động theo chiều hướng
đi lên tất yếu của lịch sử. Theo An Nam chí lược của Lê Tắc, thân phận của An Tư thật tủi
hổ: “Trần thị theo Thoát Hoan về Trung Quốc và có hai con trai với Hoan”. Sự thật trong
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
cuộc đời rất có thể xảy ra như vậy nhưng nhà văn không để nhân vật của mình đi theo con
đường ấy. An Tư nhận sứ mạng là một nữ anh hùng dân tộc, có thể nào lại hành xử như một
người đàn bà tầm thường. Nhà văn chọn một kết thúc đau đớn nhưng hợp với logic lịch sử
và quy tắc ứng xử của người Việt: chết vinh còn hơn sống nhục. Khác hẳn với cách nhìn
theo quan niệm Nho giáo về đạo tam tòng, An Tư chỉ coi mình như một cống phẩm để làm
kế lui binh chứ chưa bao giờ tự coi mình là người của Thoát Hoan. Hai tháng trời sống
chung cùng tên tướng giặc là hai tháng sống trong địa ngục của nàng, luôn bị giày vò bởi ý
nghĩ thân mình bị nhơ nhuốc không xứng đáng với người tình chung thủy, liệu An Tư còn
đủ dũng khí để đối mặt với chàng trong ngày đoàn tụ? Thấu hiểu nội tâm nhân vật bằng trái
tim nhân hậu, nhà văn đã lựa chọn cái kết tuy bi thương nhưng là hợp tình, hợp lý. Trần
Thông ngã xuống ngay trước giờ chiến thắng, được trút hơi thở trong vòng tay người yêu,
được tận mắt nhìn lá cờ Tinh Cương phất phới trên cổng thành Thăng Long. An Tư cũng
không luyến tiếc gì thêm cuộc sống mà vì nó nàng đã phải đánh đổi cả hạnh phúc riêng tư.
Trong cái đêm thành Thăng Long ngập tràn ca khúc khải hoàn, nàng đã đi theo tiếng gọi
của tình yêu và tự vẫn trên dòng sông Cái ngầu đỏ phù sa. An Tư chết trong sự mãn nguyện,
nàng đã được nhìn tận mắt thành quả hy sinh của mình. Cái chết đối với nàng không còn
đáng sợ vì nó là cầu nối đưa nàng đến với tình yêu trong cõi vĩnh hằng. Nguyễn Huy Tưởng
khép lại tác phẩm vẫn để lại cho người đọc thấm thía những điều mà nhà văn trăn trở, đó là
vấn đề quan niệm về nhân sinh, về vận mệnh cá nhân trong mối quan hệ với dân tộc. Dù vô
tình hay cố ý nhưng hình ảnh An Tư vừa từ trại giặc trở về trong ngổn ngang đau thương
tang tóc, cô đơn lạc lõng giữa hoàng cung rộn rã tiếng nhạc mừng công, không khỏi làm dấy
lên trong lòng người đọc những băn khoăn. Liệu có phải sự vô tình của lịch sử cũng bắt đầu
từ thái độ vô tâm của chính những con người làm nên trang sử ấy? Không một ai bên nàng
trong cái thời khắc tuyệt vọng ấy. Đau đớn hơn là An Tư phải đối diện với cảnh cũ, hoàng
cung - ấy là nơi nàng thề thốt yêu đương với Trần Thông, cũng là nơi diễn ra những cuộc
hoan lạc với Thoát Hoan, nơi ghi dấu tủi nhục của nàng. Ngần ấy nỗi niềm chồng chất, liệu
có trang sử nào ghi lại không? Không. Lịch sử chỉ dành chỗ cho niềm tự hào dân tộc, nỗi
đau cũng phải là nỗi đau chung của cả cộng đồng. Không có chỗ cho những vấn đề của một
cá nhân, nhất là khi đó chỉ là một người phụ nữ.
Tiểu thuyết An Tư còn có cái nhìn chân thực về lịch sử dân tộc. Nếu như những trang
viết của Hà Ân (Tập tiểu thuyết Trăng nước Chương Dương) về cuộc kháng chiến lần thứ
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
hai chống Nguyên Mông của nhà Trần mang dáng vẻ hào hùng, cốt truyện được dệt lên từ
những chiến thắng ròn rã của Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, bằng sự đoàn kết một lòng
từ quan quân triều đình tới những dân đen, những gia nô trong các thái ấp; những trang viết
của Hoàng Quốc Hải về Thăng Long nổi giận cũng đầy nhuệ khí anh hùng, thậm chí cả
những nhân vật phản diện nhưng tài hoa như Chiêu Quốc vương cũng dành được không ít
sự ngưỡng mộ, cảm phục của người đọc; thì Nguyễn Huy Tưởng lại cấp cho người đọc góc
nhìn sát với đời thực hơn. Không chỉ có cái khí thế Sát Thát hừng hực cháy trong đêm
truyền hịch xuất quân, ngời cháy trên cánh tay những chiến sĩ ra trận, người đọc còn thấy cả
những lúc lòng dân rối loạn, những lúc những người lãnh đạo cuộc kháng chiến nản lòng,
thoái chí. Vua Thiệu Bảo trước thế giặc mạnh, quân triều đình liên tiếp bại trận, trong lòng
không khỏi nao núng. Ông lặng lẽ rời kinh thành trong một sớm đông, đến tìm Hưng Đạo
Vương để bàn lại kế sách. “Càng nghĩ càng lo, lòng vua càng hoang mang, rối như canh hẹ.
Bất giác không trấn nổi được tiếng thở dài” [102, 269]. “Ở Hải Đông biết thêm nhiều tin
tức mới, vua càng lo ngại. Đến đây vua mới càng nhận thấy sức mạnh tuyệt đối của quân
Nguyên, đánh đâu được đấy, thực có cái thế trúc chẻ, ngói tan. Còn quân nhà từ ngày thất
thế trên mặt Bắc, thua ở Chi Lăng, tướng sĩ tan vỡ, phần thì trốn tránh tan nát, mười phần
không còn được một… Thoát Hoan giận triều đình nước Nam ngang ngạnh, được dịp trả
thù, dung túng cho quân càn rỡ, thành thử quân Mông tự do hoành hành tàn hại lương dân,
phá từng làng từng tổng, đi đến đâu là lửa cháy rực trời, khói bốc ngùn ngụt, là tội cả đến
tiểu nhi, hãm hiếp đàn bà con gái, những thảm họa ở miền Bắc chỉ có những cảnh ở âm ty
địa ngục sánh kịp.” [102, 273-274].
Thiệu Bảo vốn là một ông vua nhân nghĩa, đã tính đến nước tạm hàng cho dân bớt
khổ. Những giây phút mềm lòng của vị vua ấy, không một trang sử nào có thể tái hiện sinh
động và sâu sắc đến như vậy. Đã có nhiều người cho rằng, nhà tiểu thuyết lịch sử có quyền
hư cấu, thoát ly lịch sử để văn học thực sự có một đời sống riêng. Các nhà lí luận vẫn cho
rằng bám sát lịch sử quá, sẽ làm cho tiểu thuyết lịch sử mang tính minh họa giản đơn mà
thiếu đi chất sáng tạo văn chương. Nhưng với Nguyễn Huy Tưởng, sự tái hiện chân thực các
sự kiện, các biến cố lịch sử theo đúng tinh thần của nó không phải là sự minh họa, mô
phỏng một cách dễ dãi lịch sử; mà đó là cả quá trình khám phá, phát hiện, tái tạo những
trầm tích ẩn dưới những dòng chính sử ngắn ngủi.
Sống mãi với thủ đô đã đưa người đọc đến với những sự kiện lịch sử của một quá
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
khứ gần, còn mang tính thời sự nóng hổi. Những gì nhà văn được chứng kiến và trải nghiệm
đã trở thành những ấn tượng sâu sắc, tạo nên cốt lõi của tiểu thuyết, khiến độc giả không
còn cảm giác đó là hư cấu. Hà Nội cuối năm 1946 đang ở trong tình thế vô cùng căng thẳng.
Quân Pháp không ngừng khiêu khích chính phủ mới lập, với âm mưu gây chiến để quay lại
thống trị nước ta. Hơn một năm trước, những tiếng súng đầu tiên của đồng bào Nam Bộ
chống Pháp đã mở ra cục diện chiến tranh tất yếu của dân tộc. Lời Tuyên ngôn độc lập còn
văng vẳng bên tai mọi người dân cùng lời thề quyết tâm giữ vững nền đập lập dân chủ, cho
dù phải hy sinh xương máu. Pháp tiến đánh Hải Phòng, dã tâm đã bộc lộ. Hà Nội trải qua
một năm độc lập đầy sóng gió, hết quân Tàu Tưởng, lại đến quân Pháp quấy nhiễu, tài lực
suy yếu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải cố gắng hết mình trên mặt trận ngoại giao nhưng
cũng nhận thấy rằng cục diện chiến tranh là tất yếu, không thể tránh khỏi. Hà Nội là nơi đặt
những cơ quan đầu não của chính phủ Việt Nam, cái đích mà thực dân nhắm tới, chúng hy
vọng nhờ vào việc khống chế được nơi đây, sẽ làm chủ được cả nước. Chính phủ kêu gọi
đồng bào Hà Nội đi tản cư, không hợp tác với giặc để cô lập chúng trong tình huống thủ đô
bị chiếm đóng. Rời bỏ Hà Nội là yêu nước, người Hà Nội hiểu điều đó nhưng không khỏi
đau xót khi buộc phải rời bỏ mái phố thân yêu để chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến trường
kì; chỉ còn những thanh niên tự nguyện hy sinh ở lại, chuẩn bị cho cuộc chiến cầm chân kẻ
thù. Sống mãi với thủ đô nhập đề bằng hình ảnh sân ga Hàng Cỏ một sớm mùa đông,
những cuộc chia ly đầy nước mắt, tiếng thở dài của những người ra đi và người ở lại, không
biết còn có ngày gặp lại hay không. Trần Văn, nhân vật chính, tiễn người mẹ già tản cư về
quê; bản thân anh ở lại vì tình yêu thủ đô và ý thức trách nhiệm của người công dân với đất
nước. Dù đã xác định quyết tâm cho bản thân, Trần Văn vẫn không khỏi bùi ngùi khi nhìn
lại Hà thành xơ xác tiêu điều trong một sớm cuối năm, lạnh ngắt như một bãi tha ma. Trên
những con phố là lũ lượt những đoàn người tay xách nách mang, nét mặt hớt hải ngơ ngác,
dắt díu nhau đi tản cư. Có lẽ sau này sử học sẽ dành nhiều trang hơn để mô tả lại khung
cảnh của thủ đô trong những ngày ấy, nhưng có lẽ sẽ chẳng thể làm cho thế hệ sau cảm
động bằng khi họ đọc những dòng này: “Một tiếng ho sù sụ làm cho anh quay lại. Một ông
già lê bước tới. Lão không có nón, không có mũ, tóc nửa trắng nửa màu đất, túm lại thành
một cái búi đằng sau, nhỏ như một hòn bi. Mắt lão mờ dại như mắt người hấp hối, mồm há
ra để hớp không khí, cổ chỉ còn hai miếng da mỏng như tờ giấy dính cằm. Vai lão đeo một
cái đai nhỏ, lưng gãy gập cõng một đứa bé độ hai tuổi. Đứa trẻ ngủ, cái đầu ngoẹo xuống.
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
Thảm nhất là nó lại chít một cái khăn đại tang còn mới. Ông cụ cứ loạng choạng, thỉnh
thoảng dừng bước để thở rồi lại thất thiểu đi. (…) Trần Văn nhìn theo trong đám bụi mù cái
bóng ông già xiêu vẹo mỏng manh như chiếc lá rụng bay theo cơn gió dữ.” [104, 21-22].
Những người tản cư, mỗi người một cảnh ngộ nhưng có lẽ hình ảnh hai ông cháu ấy là
gương mặt chân thực nhất của chiến tranh - cõi tan cửa nát nhà, chốn thương đau, tang tóc.
Hai con người, một quá non nớt, một kề cận cái chết, phải nương tựa vào nhau, cõng trên
vai những cái tang của những người thân yêu, liệu sẽ tồn tại bằng cách nào trong cơn binh
lửa này?
Trong tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng, sớm mai Hà Nội không còn bầu không khí
yên bình. Dáng vẻ suy tư của những mái nhà thâm nâu, trầm mặc bỗng bị phá tan bởi
“những tiếng ầm ầm từ phía Cột Cờ đưa lại. Một đoàn xe gíp, háp - tờ - rắc tiến rầm rộ vào
phố Tràng Thi. Người đi xe đạp ở đầu phố bị một xe gíp thúc vào. Người ấy chỉ kịp nằm
sõng xoài trên hè đường, lặng đi như một xác chết. Hết xe này đến xe khác lao đi chồm
chồm, phố xá chung quanh rung chuyển, dọc Cột Cờ, Tràng Thi, bụi bốc như trong một cơn
lốc rối mù. Xe chở toàn tụi Tây mũ đỏ, kèm theo mấy con nhà thổ, me tây lòe loẹt.” [104,
54]. Thực dân Pháp liên tục phá hoại những hòa ước đã kí với chính phủ, chúng gây ra
những vụ bạo động ở nhà thông tin phố Tràng Tiền, vụ thảm sát hai mươi ba đồng bào trong
ngõ Yên Ninh, bắt người vô cớ ở chợ Đồng Xuân, khiêu khích tự vệ thành trên các trục phố
chính. Áp lực đè nặng lên tâm lý người dân thủ đô. Căm hờn, uất ức, thương đau phải dồn
nén lại, họ trông chờ lệnh đánh từ phía chính phủ như nắng hạn chờ mưa. Những người dân
thủ đô tự chọn cho mình những cách đấu tranh riêng, người bãi thị, người lo chuẩn bị thuốc
men, lương thực, đào đường, đắp ụ để cản cơ giới của giặc. Âm thanh nổi bật của thành phố
trong những thời khắc sát cuộc chiến là tiếng đục tường thông nhà, lúc khoan lúc mau, lúc
gần lúc xa. Máu đã đổ, thành phố đã bị tàn phá nhưng không ai nhụt chí cả. Họ bình thản
đón đợi những ngày đen tối sắp tới không phải bằng sự vô vọng mà bằng niềm tin, hy vọng:
“Hải Phòng không đục tường, Hải Phòng mất. Hà Nội đục tường, Hà Nội vĩnh viễn còn”
Nhân vật Trần Văn, một giáo viên lịch sử như là hóa thân của chính Nguyễn Huy Tưởng,
mang trong mình một niềm say mê mãnh liệt với lịch sử của thủ đô. Khi cầm cuốc, xẻng
đứng trong chiến hào, trong dòng suy nghĩ miên man, anh thấy mình sống lại với quá khứ
đau thương nhưng rất mực hào hùng của thủ đô. Những dòng tâm tưởng ấy là những thước
phim tư liệu về quá khứ gần và quá khứ xa, về những gì Hà Nội đã và đang trải qua. Trần
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
Văn ra trận với sức mạnh của lòng tự hào về lịch sử cha ông, anh yêu Hà Nội không chỉ vì
lịch sử thăng trầm của nó. Với chàng trí thức tiểu tư sản ấy, đây là gương mặt của dân tộc
Việt Nam. Từ Thăng Long ấy mở ra những Bạch Đằng, Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa, Hạ
Hồi. Từ mùa thu lịch sử năm 1945 ấy mở ra những chiến công hào hùng vang dội với những
mốc lịch sử chẳng thể nào quên ở mỗi triều đại xưa nay. Trần Văn hay chính hóa thân của
tác giả, yêu Hà Nội chính vì niềm cảm hứng mãnh liệt với lịch sử dân tộc, anh đi vào cuộc
chiến đấu với khát vọng viết tiếp những trang đầy tự hào cho đất nước, tiếp nối chí hướng
ông cha, những con người từng truyền nhau ngọn lửa của lòng tự tôn dân tộc.
Biết chọn thời điểm chuẩn bị bước vào cuộc chiến, Nguyễn Huy Tưởng giúp người
đọc nắm được từng nước cờ đấu tranh chính trị. Những thông tin về các cuộc đấu tranh trên
mặt trận chính trị ngoại giao được những người dân thủ đô hồi hộp đón đợi. Họ không mong
đợi chiến tranh nổ ra, nhưng họ không cam tâm nhìn cảnh đồng bào phải chết oan, thành
phố bị lăng nhục thêm một lần nữa. Ngay cả khi đưa ra phương án: nếu phải rút lui, tự vệ
phải đốt thành phố; chính những người trong cuộc đưa ra quyết định cũng không đành lòng.
Nguyễn Gia Định, người chính trị viên đại đội bảo vệ phủ Bắc Bộ và dinh Hồ Chủ Tịch
thầm đinh ninh một quyết tâm “nếu như phải rút khỏi dinh, anh sẽ là người cuối cùng ở lại,
và cả cái lâu đài kia sẽ đổ sập xuống quân thù” [104, 286]. Những con người đã sinh ra và
lớn lên trên mảnh đất này như Oanh, Quốc Vinh, Quyên, Trần Văn, Nhật Tân,… dù không
nói ra, họ đều có chung ý nghĩ sẽ bảo vệ thủ đô đến hơi thở cuối cùng. Giữ thủ đô đâu chỉ là
giữ những xác nhà vô hồn, mà phải giữ cho nó một linh hồn và cốt cách của người Hà Nội.
Nguyễn Huy Tưởng đã để những nhân vật của mình bước vào trận chiến ác liệt bằng phong
thái, cốt cách hào hoa lịch lãm. Kháng chiến tuy thiếu thốn về vật chất nhưng đời sống tâm
hồn và tình cảm của những người ở lại thủ đô vẫn giàu và đẹp. Những đôi lứa như Oanh -
Phúc, Nhật Tân - Hiền, Quốc Vinh - Phượng, vẫn nuôi mộng đẹp về ngày hợp hôn. Những
cô thiếu nữ như Quyên, Hương vẫn ý toát lên sức sống tươi trẻ, lòng nhiệt tình, những điều
rất cần cho một cuộc kháng chiến trường kì gian khổ, nó tạo nên sức sống cho niềm tin và
hy vọng. Trần Văn trước khi tham gia kháng chiến đã nhìn Trinh - người yêu cũ bằng con
mắt khinh bỉ, coi thường, lạnh lùng xa cách; nhưng khi bước vào cuộc chiến thực sự, anh
thấy thương cho cảnh ngộ của cô, thậm chí những giận hờn bấy lâu tan biến hết… Ở họ,
người đọc thấy được không chỉ tinh thần dũng cảm mà còn cả vẻ đẹp thanh cao của các giá
trị văn hóa phi vật thể của đất kinh kỳ ngàn năm. Chọn thời khắc lịch sử này để tái hiện,
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
Nguyễn Huy Tưởng một lần nữa muốn chứng minh sức mạnh quật cường của dân tộc nằm ở
chính lòng dân. Từ mùa thu năm 1945 đến mùa đông năm 1946, thời gian chưa phải là quá
dài nhưng lòng dân đã có những chuyển biến sâu sắc không ngờ. Cái tên gọi “Bộ đội Cụ
Hồ” vốn còn xa lạ với người Hà Nội một năm về trước đã nhanh chóng chiếm được lòng tin
yêu của họ. Người dân thủ đô dốc lòng đi theo kháng chiến, sẵn sàng hy sinh tài sản và bản
thân mình để gìn giữ Hà Nội, mà sâu xa hơn là giữ nền độc lập cho dân tộc.
2.2.3 Nhân vật.
Trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng thường có không khí lịch sử trang nghiêm,
không phải chỉ ở đề tài mà ngay cả trong nhân vật. Nhân vật thường dồi dào những tâm sự,
hay trầm ngâm suy nghiệm về quá trình lịch sử, về truyền thống của ông cha; hay nhìn cuộc
sống với con mắt lịch sử để rồi rút ra triết lý cho cuộc đời hay xác định cho mình một vị trí
trong sự vận động của lịch sử dân tộc.
Bên cạnh những nhân vật hư cấu như nhóm bạn Bảo Kim, Nguyễn Mại trong Đêm hội
Long Trì, ta bắt gặp những chân dung lịch sử như chúa Tĩnh Đô, Tuyên Phi, Đặng Lân.
Những nhân vật có thật trong sử sách, qua ngòi bút sáng tạo của nhà văn đã mang dáng vẻ
sống động. Lịch sử miêu tả khá tỉ mỉ về Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm: vốn là người cơ mưu,
quyết đoán, khi lên ngôi đã đoạt quyền của vua Lê Hiển Tông, xông vào tận cung bắt, giết
thái tử Lê Duy Vĩ, tuy là phó vương nhưng quyền cao nhất nước. Miêu tả nhân vật này một
cách sinh động và sáng tạo quả không phải là việc đơn giản. Nguyễn Huy Tưởng khá
nghiêm túc trong công việc tôn trọng tính hiện thực chính xác của lịch sử, thể hiện một
Trịnh Sâm vừa với tư cách là nạn nhân, vừa là thủ phạm, vừa có cái sáng suốt của vị phó
vương quyền thế nghiêng trời, vừa đam mê mù quáng, đáng phê phán, mà cũng đáng thương
xót trong con mắt của nhân vật trong truyện, chúa Tĩnh Đô vốn là người sáng suốt, “từ ngày
sủng ái Tuyên Phi, việc triều chính mỗi ngày một nát”. Đáng giận là “Tĩnh vương chỉ vì say
đắm Tuyên Phi mà làm toàn những điều bất chính; bao nhiêu lời can gián đều vô hiệu cả.
Việc gì cũng nghe Tuyên Phi”. [102, 50-51]. Quyền uy của Trịnh Sâm đã trở thành thế lực
che chở cho cái ác lộng hành; ông ta đã u mê, mù quáng trước nhan sắc kiều mị đầy ma lực
của người đàn bà xứ Kinh Bắc. Tính cách của Trịnh Sâm không đơn giản thuần nhất mà đầy
phức tạp. Có lúc ông ta mụ mẫm trong vòng tửu sắc, nhưng cũng có lúc “là bậc cương
minh, anh đoán, trí tuệ hơn người, có đủ cả văn tài, võ lược, xem khắp sử sách, lại biết làm
văn thơ, không phải là một người tầm thường” (Hoàng Lê nhất thống chí). Dưới ngòi bút
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
của Nguyễn Huy Tưởng, Trịnh Sâm có mặt tích cực, anh minh, có tinh thần dân tộc rất
mạnh, ngày ngày lo khuếch trương cơ nghiệp họ Trịnh. Trịnh Sâm biết thưởng thức, yêu
văn chương, mến mộ văn tài của Bảo Kim. Chúa biết trọng bậc hiền sĩ, thương tướng tá,
những người có tài lược thao, trung nghĩa như Nguyễn Mại. Lòng dân oán hận không dồn
vào chúa mà chỉ đổ cho thị Huệ, “ả hồ ly tinh” làm mờ mắt chúa. Yêu con hết mực, nhưng
chúa không giữ được hạnh phúc cho con, trước những đòi hỏi của ái thiếp. Là một người
cha tâm lý, Trịnh Sâm biết từ lâu trái tim của Quỳnh Hoa đã hướng về chàng danh sĩ Bảo
Kim, chúa định tâm gây dựng cho con: “Ít lâu nay, chúa để ý đến chàng Bảo Kim. Chàng
không những là con nhà vọng tộc, lại là người tài mạo song toàn. Ý chúa muốn khuyến
khích văn chương, đem lại cho nước Nam một thời đại rực rỡ như Hán Đường. Vì thế chúa
rất trọng bậc văn tài”. Nhưng thật không may, cái đêm hội Long Trì mà chúa mở ra để
chiều lòng quận chúa lại là khởi điểm của sự bất hạnh. Đặng Lân đến phá rối, gặp Quỳnh
Hoa, ẩu đả với nhóm Bảo Kim, những biến cố ấy làm thay đổi đường đời mỗi người. Hận
Bảo Kim, Nguyễn Mại, say nhan sắc Quỳnh Hoa, lại thêm sự ngạo mạng hống hách của một
kẻ coi trời bằng vung, Lân quyết tâm lấy bằng được quận chúa. Một việc khó khăn tưởng
như hái sao trên trời như vậy mà chỉ bằng vài lời ton hót, Tuyên Phi đã giúp em mình toại
nguyện. Nghe lời cầu hôn quận chúa cho Đặng Lân của Tuyên Phi, dù đang lúc say đắm
nhất chúa cũng “ giật bắn người lên, hoang mang như một người bị ngất. Tuyên Phi ngước
mắt nhìn chúa, thấy Tĩnh Đô tái mặt đi. Thoáng một cái, nàng đã nhận thấy trong nét mặt
rất dễ thay đổi kia, vẻ giận dữ, vẻ đau đớn, vẻ hoài nghi, xen với một vẻ kiêu ngạo không bờ
bến. Nàng cầm lấy tay chúa lúc nào chúa cũng không biết” [102, 96]. Giận giữ nhưng khi
được hưởng những phút êm đềm ngọt ngào bên người đẹp ngài lại ân hận vì làm nàng chạnh
lòng.” Chiều hôm ấy, về Bội Lan thất, chúa vẫn thấy lòng bối rối. Phần vì nể Tuyên Phi,
phần vì thương con, không lẽ ngài lại gả con gái yêu cho một kẻ ăn chơi phóng đãng. (…)
Nhưng khi xe đỗ trước cung Tuyên Phi, ngài lại thay đổi ý định. Ngài không nỡ làm phật
lòng người tuyệt sắc đã cho ngài những phút đầm ấm nhất đời. Luôn ba ngày chúa Tĩnh Đô
ở trong một tình trạng vô cùng khó xử. Ngày thứ tư, chúa thất kinh được tin nàng ốm. Chúa
giậm chân nghĩ: chỉ tại ta thôi. Người ngọc ấy mà có mệnh hệ nào thì ta sống làm sao được.
Nàng hay lo nghĩ, hơi một tí thì se mình. Con gái thì đặt đâu phải ngồi đấy, tùy trời, tính
làm sao cho hết được?”. Chúa bị giằng xé giữa hai thứ tình yêu, chỉ mấy ngày mà già thêm
cả chục tuổi. Trước mắt Quỳnh Hoa “Mới bốn chục, ngài đã có vẻ nhọc mệt của người năm
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
mươi. Nàng hồi tưởng lại mấy năm xưa cha nàng vẫn còn cường tráng linh lợi, uy phong
lẫm liệt, đường đường là một vị chúa tể của muôn dân. Đem so sánh với bây giờ, thật là một
trời một vực. Trên mặt đã chạy những nét răn, mắt đã mất vẻ tinh anh sáng quắc, và ngôn
ngữ cử chỉ nhất nhất đều để lộ vẻ suy đồi” [102, 116]. Trước sự nhu thuận của quận chúa,
ngài vừa giận, vừa thương con. “Chúa Tĩnh Đô thân lấy khăn tay chùi nước mắt cho con.
Mắt ngài bỗng trố ra, ngài như nhận thấy hết tội ác của mình: Quỳnh Hoa còn quá trẻ
trung ngây dại, tay nàng mảnh khảnh và xanh xao. Nhưng cùng lúc ấy cái sắc đẹp mê hồn
của Tuyên Phi như đứng trấn không cho ngài lùi bước. Lòng ngài chia sẻ. Những khi việc
nước khó khăn nhất ngài cũng chưa bao giờ phân vân như thế!” [102, 117, 118]. Trở về
cung chúa, Tĩnh Đô càng bị vò xé giữa trăm mối, một bên là thương con đứt ruột, một bên
là sợ mất lòng ái phi, sợ mang tiếng thất tín trước bàn dân thiên hạ. Người đàn bàn nham
hiểm họ Đặng đã dùng khổ nhục kế, định tự sát trước mặt chúa, tức thì “lòng ngài tan trong
tình yêu, bao nhiêu ý phân vân bay hết”. Ngài biết Lân là “quân bần tiện, thô lậu”, nhưng
dù có căm ghét, khinh bỉ y đến đâu, ngài cũng không dám làm mếch lòng người đẹp ngồi
bên. Đưa con lên kiệu hoa, “Không gượng được nữa, vị tổng nguyên súy, nhiếp chính quốc,
Thái sư thược phụ, uy quyền hống hách, cầm cân nảy mực cho muôn dân, loạng choạng đi
vào nằm lăn trên giường, thốt tiếng kêu:
- Quỳnh Hoa! Cha hại con!
Hàng lệ tuôn ra, chúa thổn thức khóc như một đứa con nít” [102, 144].
Chúa đã phải đối mặt với mối phân vân lớn nhất đời, đó là việc Đặng Lân bị trừng
phạt. Bởi vì, một bên là quốc cửu kiêm phò mã, tình máu mủ với ái phi và một bên là dũng
tướng trung thành, vị quan tốt, muôn dân yêu quý, Tĩnh Đô thật sự không biết nên xử trí
như thế nào. Nhờ lời khuyên nhủ của Thái Phi, chúa lại tận mắt nhìn thấy sự tàn tạ của con
gái yêu sau một thời gian bị đày đọa, “Chúa không còn là một gã si tình nữa, chúa là một vị
quốc trưởng biết lo đến vương nghiệp và đặt quốc gia lên trên mọi sự” [102, 220]. “Lòng
thương Quỳnh Hoa chiếm cả tâm hồn của chúa Tĩnh Đô và đồng thời tất cả lòng chán ghét
Đặng Lân cũng nổi dậy. Chúa căm giận Lân đến nổi lúc ấy, nếu em Tuyên Phi còn sống,
chúa cũng chính tay giết chết” [102, 222]. Tha tội cho Nguyễn Mại, chúa tỏ rõ mình là
người vì nghĩa lớn bỏ tình riêng, khôi phục lại lòng tin trong dân. Xây dựng nhân vật lịch sử
theo chiều hướng tích cực như ngòi bút của nhà văn không hề dễ dãi một chiều. Những đau
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
khổ dằn vặt trong lòng chúa Trịnh thực chất là quá trình vận động theo quy luật biện chứng,
quy luật đấu tranh nội tại của con người, nơi chứa đựng cả tốt và xấu, cả u mê và sáng suốt,
cũng là chiều hướng vận động và phát triển của lịch sử.
Trong Đêm hội Long Trì các nhân vật đều được bồi đắp vóc dáng cụ thể, sống động.
Nhân vật Đặng Mậu Lân trong lịch sử được tái hiện rõ nét hơn, tỉ mỉ hơn. Y là hiện thân của
dục vọng, tội ác,…, y giống như một con dã thú khát máu, điên cuồng hãm hiếp và giết
chóc, chà đạp lên kỷ cương, đạo lý. Đó là một kẻ đầy thú tính. Lân xuất hiện ở đâu, dù là hồ
Long Trì xa hoa của phủ chúa, hay trong cái phủ quốc cữu dâm ô trác táng của y hoặc chốn
phố phường Thăng Long, đều làm cho nơi đó trở thành chốn hỗn loạn, là vòng tủi nhục của
biết bao người phụ nữ thành Thăng Long. “Lân cùng Tuyên Phi là con một ông đồ nghèo ở
làng Chè. Thuở bé, Lân đã ngỗ nghịch không chịu học hành. Khoảng 13, 14 tuổi đã nát
rượu tham cờ bạc, và đã dự vào những trận ăn cướp quanh vùng. Lớn lên càng lăng loàn,
đầu óc chỉ thích sắp đặt những mưu mô chim chuột đàn bà con gái, đã thích người nào thì
kỳ cho thỏa mãn lòng dục mới thôi. Đào tường khoét vách, hãm hiếp giữa đường, Lân
không từ một thủ đoạn nào, nhiều khi bị đánh gần chết mà vẫn không bỏ. Đến khi Tuyên Phi
đắc thế, được chị gọi vào kinh, Lân tha hồ phóng túng thả lòng dục trác táng tuổi thanh
niên”. [102, 82]. Sự dâm đãng của y đi liền với tính khát máu và thú tính trong y. Sau mỗi
cuộc truy hoan của” cậu Trời” thế nào cũng có máu đổ. Người con gái vừa bị y giày vò
xong, bị ông chủ khi tỉnh rượu cầm gươm đâm chết ngay.” Những sự chém giết không mấy
ngày không diễn ra trong phủ Đặng Lân. Con người tửu sắc dâm dật và có máu điên ấy
thích cái thú quái gở là giết đàn bà con gái, sau những khi hành lạc, hay trong lúc say rượu.
Khi đã làm xong tội ác, Đặng Lân quăng kiếm cười ha hả, chân nam đá chân xiêu, bước lên
sập nằm thản nhiên như không có sự gì xảy ra.” [102, 85]. Nghĩ đến Quỳnh Hoa, y có lòng
say mê nhưng Đặng Lân chỉ coi đó là một phương tiện thỏa lòng dục không hơn: “Con
Quỳnh Hoa đã cao quý gì mà ta không lấy được? Ta quyết lấy được nó mới thôi. Được làm
chủ bông hoa ấy, mở khóa động đào, kể thực là một điều sung sướng nhất đời ta.” [102,
87]. Y đã chán ghét tất cả những con gái đã qua tay, thèm muốn một chút gì mới lạ, “hương
vị đặc biệt” của bậc tuyệt sắc giai nhân chốn khuê các. Bất chấp lệnh chúa ban, ngang nhiên
giết hai cận thần đặc phái của chúa, Đặng Lân xông vào giày vò Quỳnh Hoa, và cũng chẳng
mấy chốc y cũng chán ngấy bông hoa vương giả ấy. Cái danh con rể chúa chỉ là cái thế để
hắn dựa vào để tiếp tục lộng hành. Nếu có e sợ, y chỉ sợ cái uy của quan hộ thành mới mà
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
thôi. Thú vui đầu tiên mà Đặng Lân nghĩ đến sau ngày lấy vợ là “đi săn” con mồi y đã nhắm
từ trước: “Mau dàn bày nghi trượng, tàn quạt, màn giường, chăn đệm, tao phải phá một bữa
cho thật thỏa chí, bắt con Ngọc, bẻ nhụy hoa mới thôi” [102, 149]. Hình ảnh đám rước cậu
trời dạo phố vừa lố bịch, vừa hống hách làm tan hoang cả khung cảnh thanh bình của kinh
thành. “Khi cổng phủ Đặng Lân mở rộng, và cờ quạt ở trong nước ra, mấy nhà hàng phố
kêu thất thanh: “Cậu Trời đấy!” tức thì người ta chạy toán loạn, nhất là những đàn bà con
gái. Tiếng kêu trời, kêu đất, xen lẫn với tiếng đóng cửa ầm ầm” [102, 195]. Tất cả những
chi tiết đó đã hoàn thiện chân dung nhân vật Đặng Lân, biến một nhân vật chỉ được thoáng
qua trong lịch sử thành một bạo chúa điển hình, toàn vẹn từ ngoại hình đến tính cách. Đặng
Lân là sự tập trung những sự thối nát, đồi bại nhất của lịch sử giai cấp phong kiến, là mầm
loạn trong xã hội. Trong tiểu thuyết của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã để Nguyễn Mại trừng
trị đích đáng Đặng Lân ngay trên chiếc giường dâm ô của y, giữa đường phố Thăng Long,
trong sự hả hê của dân chúng.
Nhân vật Tuyên Phi Đặng Thị Huệ cũng là một trong những người đàn bà nổi tiếng
trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Xưa nay, bà chúa làng Chè vẫn bị xếp vào hàng những
người đẹp ỷ vào nhan sắc làm loạn triều chính. Trong Hoàng Lê thống nhất chí, Ngô gia
văn phái tập trung nói về quãng đời bước vào phủ chúa, một bước lên ngôi cao của Thị Huệ,
những âm mưu tranh quyền đạt ngôi của thị. Ở Đêm hội Long Trì, tuy Nguyễn Huy Tưởng
không thể hiện nhân vật ở trên sân khấu chính trường mà chỉ khai thác một chi tiết nhỏ
trong hiện thực về cuộc đời Thị Huệ, nhưng người đọc vẫn cảm nhận được uy quyền, sự
mưu mô của ả. Nhân vật này được miêu tả toàn diện về ngoại hình, với vẻ đẹp quyến rũ, đầy
ma lực, khác hẳn vẻ đẹp thanh tân trong trắng của quận chúa. Tuyên Phi xuất hiện trong
đêm hội ngay sau khi em trai đã vừa dở trò côn đồ tại đó, vậy mà không một ai dám hé ra
nửa lời tố giác, kể cả quận chúa, khi bắt gặp đôi mắt sắc của Đặng Phi. Tất cả đều biết
chẳng một lời nào lọt tai chúa khi có Tuyên Phi ở đó. Khi được miêu tả là “Trang tuyệt thế
giai nhân, trạc 25, 26 tuổi. Bên cạnh phi thì bao nhiêu cung nữ, kể cả Quỳnh Hoa cũng bị
lu mờ, vì phi trông rực rỡ, toàn thắm, toàn tươi. Đẹp mà không nhạt nhẻo, hơi đẫy mà
không thô, nồng nàn mà không lơi lả. Phi là một người đàn bà có một nhan sắc quyến rũ
yêu quái. Người phi là tiếng gọi của dục tình” [102, 54]. Ngay cả viên võ quan Nguyễn Mại
trong lần gặp đầu tiên khiến cũng phải thốt lên: “Người đẹp thế kia làm gì mà chẳng gây
vạ.” [102, 54]. Chúa Tĩnh Đô uy phong cũng trở nên yếu mềm khi gặp nàng. “Nàng liếc
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
mắt nhìn chúa, chúa cả cười không uống đã say sưa”. Khác hẳn với người em cục súc, thô
thiển, phi là người khéo léo, tinh tế. “Tài khéo của Tuyên Phi đã làm cho khu nàng ở thành
một nơi mộng ảo, và chốn thâm cung thành một cái tổ thần tiên… Mắt vào đây được yên
nghỉ, màu sắc điều hòa êm dịu, và vườn hoa, một công trình mỹ thuật vô song thoang
thoảng đưa vào gió mát và hương thơm. Những màn hoa bay phất phới, như những cờ
mừng chúa, nhưng có vẻ đầm ấm hơn là uy nghi. Đây toàn là sinh thú, toàn là ái tình.”
[102, 92]. Chúa Tĩnh Đô khi đặt chân tới nơi đây thì không còn hứng thú với bất kỳ một hậu
cung nào khác. Nguyễn Huy Tưởng miêu tả người đẹp bằng bút pháp lãng mạn, thả ngòi bút
theo trí tưởng tượng. Trong Hoàng Lê nhất thống chí, người đẹp chỉ được giới thiệu qua
vài ba nét ước lệ; ở đây, tác giả miêu tả tỉ mỉ: “khuôn mặt trái xoan, làn môi tình tứ, đôi mắt
đen nhánh đẹp tuyệt trần ẩn dưới đôi lông mày lá liễu, như suối chảy dục tình. Thân nàng
mềm mại, uyển chuyển, vừa phong lưu, vừa quyến rũ, phảng phất như một thứ hương mê
ly” [102, 93]. Nhan sắc của Tuyên Phi như một thứ bùa mê, sự khéo léo của ả như một sợi
thòng lọng, mỗi lúc một thít sâu vào cổ con người quyền uy nhất Bắc hà. Phi là điểm yếu,
gót chân Asin trong con người Trịnh Sâm.
Từ nguyên mẫu Ngọc Lan quận chúa trong Hoàng Lê nhất thống chí, Nguyễn Huy
Tưởng đã xây dựng nhân vật công chúa Quỳnh Hoa. Cũng là một trang tuyệt sắc, nhưng
nhan sắc của Quỳnh Hoa hiện lên khác hẳn với vẻ đẹp của Tuyên Phi. Trong đêm hội định
mệnh ấy, Quỳnh Hoa đã trà trộn trong đám cung nữ, mở quán văn chương và mong gặp
được người trong mộng. Khi đối diện với Bảo Kim, nàng thẹn thùng, bẽn lẽn đúng cốt cách
của con nhà khuê các mặc dù đã ăn vận giả trang thôn nữ: “Áo đồng lầm, chít khăn mỏ
quạ”. “Quận chúa trạc 16, 17 tuổi, nàng hơi xanh dưới ánh trăng thu, người hơi gầy, nhưng
vẻ thanh tú”. Vẻ đẹp ấy càng được tôn lên trong con mắt Bảo Kim - kẻ si tình. Giọng nói
của nàng “nhẹ như tơ, nó đã có một nhạc điệu tuyệt vời”. Nhan sắc của Quỳnh Hoa là thứ
nhan sắc yểu mệnh, mong manh như một thứ hoa quý không chịu nổi sương gió. Tâm hồn
của nàng trong sáng và thanh khiết như suối nguồn. Mối thâm tình với Bảo Kim dù say đắm
nhưng vẫn chỉ là ẩn ý, kín đáo, vẫn luôn ở trong khuôn phép lễ giáo. Nàng chỉ dám bộc bạch
điều đó với người cha yêu thương hết mực vào cái thời khắc tuyệt vọng nhất đời, khi bước
chân lên kiệu hoa. Cũng chính tấm thân mảnh mai ấy đã tự nguyện hy sinh để cứu lấy tám
chàng tài tử ấy ở Thăng Long. Mặc dù rất bất mãn với quyết định của cha, Quỳnh Hoa
không thể làm trái lời người. “Quỳnh Hoa vẫn định tâm nếu gặp cha thì hỏi cho ra lẽ, và
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
hơn nữa, định vượt bổn phận làm con, nói cho cha bõ giận. Nhưng trước mặt cha, bao
nhiêu ý định của nàng đều tiêu tan đi. Nàng không dám, và cùng một lúc, nàng thấy yêu cha
rất mực và thương cha vô cùng” [102, 115]. Nhìn nét mặt cha đầy đau khổ, nàng thấu hiểu
những giằng xé trong lòng Tĩnh Đô vương, hiểu cái thế tiến thoái lưỡng nan của ông. Vua
không nói chơi, chúa không giữ chữ tín thì lòng dân bất phục, nghĩ vậy nên nàng lo cho
thanh danh của cha. Lòng uất hận Tuyên Phi, lòng thương cha, nhớ người mẹ đã khuất, hòa
trong nỗi thương thân, làm nàng cạn không nước mắt. Quỳnh Hoa là vật hy sinh cho đam
mê của cha và danh dự của vương phủ họ Trịnh. Quỳnh Hoa từ nhân vật mờ nhạt trong lịch
sử, qua ngòi bút của Nguyễn Huy Tưởng đã trở thành một thiên sứ làm xoay chuyển thế
cuộc, làm tan cơn oán giận giữa dân chúng với phủ chúa, vén đám mây mờ che mắt Trịnh
Sâm. Tính cách của Quỳnh Hoa có phần đơn giản, thuần nhất, nhưng cũng có thể coi là
thành công trong việc tái hiện nhân vật lịch sử.
Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã tỏ ra có vốn hiểu biết khá sâu rộng về các anh hùng
lịch sử mà ông yêu mến từ thời thơ ấu trong tiểu thuyết An Tư. Nguyễn Huy Tưởng đặc biệt
say mê với những nhân vật ấy, tìm thấy ở họ những vẻ ly kỳ đầy cuốn hút. Trong trí tưởng
tượng của nhà văn, mỗi nhân vật lịch sử ấy đã hiện lên với vóc dáng sinh động và cụ thể, có
tính cách rõ ràng, sống động chứ không chỉ là một cái danh xưng trong những dòng chữ cô
đọng của sử sách.
Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết An Tư chia thành hai tuyến, tuyến thứ nhất là
những nhân vật thuộc về phe quân dân Đại Việt, tuyến thứ hai là phe quân tướng nhà
Nguyên. Ở tuyến thứ nhất, An Tư, Trần Thông, vua Thiệu Bảo, Hưng Đạo Vương là những
nhân vật chính, là những yếu nhân lịch sử. Trong đó, An Tư và Trần Thông là hai nhân vật
ít xuất hiện trong sử sách nên khi viết về họ, ngòi bút của nhà văn có đất sáng tạo hơn.
Trong nhật ký của mình, cái tên An Tư đã được nhà văn nhắc tới suốt từ năm 1943 liên tục
đến năm 1945, và cả trong nhật kỳ thời hòa bình lập lại. Còn tên tuổi Hưng Đạo Vương đối
với nhà văn còn là niềm tín ngưỡng thiêng liêng, lưu lại trong trang nhật ký từ năm 1933
đến 1942. Vậy nên thật dễ hiểu vì sao cuốn tiểu thuyết lịch sử này là sự dồn đúc tâm huyết
thời trai trẻ của ông với lịch sử nước nhà.
Công chúa An Tư vốn chỉ được nhắc đến trong sử sách bằng 18 chữ, nhưng qua ngòi
bút của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng chúng ta có thể hình dung rõ hơn về nàng. Về diện
mạo, An Tư là một trong số những người đẹp mà nhà văn dày công trau chuốt. Vẻ đẹp của
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
An Tư không mảnh mai, yếu đuối như Quỳnh Hoa, không đẫy đà khêu gợi như Tuyên phi
mà là vẻ đẹp khỏe khoắn của người phụ nữ họ Trần, một nhan sắc khuynh thành, hoàn mỹ
và trong sáng. Có thể nói, Nguyễn Huy Tưởng đã tập trung nhiều bút lực để miêu tả nhan
sắc của An Tư: “Đôi mắt đen, to là một trời huyền ảo, và đôi môi khao khát là một bến đợi
chờ, cổ nàng tròn trắng, thân nàng yểu điệu, lẳn mà không thô. Toàn thể là một sắc đẹp say
sưa quyến rũ, âm ỉ nguồn nhựa sống dồi dào và mãnh liệt của những vua tướng anh hùng,
đầy bão phụ và dục vọng, đã dựng lên cơ nghiệp họ Đông A (...) Vẻ đẹp không kiểu sức mà
đầy duyên thầm kín, hiện ra trong từng cử chỉ” [102, 288]. Sắc đẹp ấy đủ làm điên đảo cả
đạo quân Mông Cổ hùng mạnh. Thái tử Thoát Hoan coi nàng như bảo vật, bị hút hồn bởi vẻ
đẹp tràn trề sức sống và sự thông minh của nàng. Đám quân sĩ nhà Nguyên nhìn nàng bằng
sự cảm phục vì nàng đã đem đến chốn doanh trại ấy một nguồn vui sống, an ủi phần nào
nỗi nhớ quê hương của họ. Nhan sắc của nàng khiến Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp điên cuồng tức
tối vì nhận ra đó là sự nguy hiểm mà không có cách gì hủy diệt được. Nếu chỉ có cái sắc
khuynh thành thì việc An Tư vào trại giặc cũng không làm người ta day dứt đến thế. Là
công chúa, nhưng An Tư không thờ ơ với cuộc sống bên ngoài. Vận nước lâm nguy, cùng
với các chị em vương hậu trong cung, nàng tham gia nhiệt tình vào việc hậu cần cho người
ra trận. Trong số phi tần, công chúa An Tư là người may vá thêu thùa giỏi nhất và cũng là
người biết nhiều nhất về tin chiến sự, nên đêm nào chị em cũng kéo đến cung nàng để hỏi
han tình hình và đón nhận ở nàng những lời động viên an ủi. Nếu như những người phụ nữ
hậu phương là chỗ dựa tinh thần vững chắc của người ra trận thì An Tư lại là điểm tựa chính
của bức tường hậu phương ấy. Mối tình của nàng được cả nước biết đến và cảm thương khi
tan vỡ vì nghiệp chung của nước nhà. Người ta bàn tán, thở than, cảm thương cho họ. So
với mối tình Ngưu Lang Chức Nữ thì mối tình của nàng còn thê thảm hơn bội phần. Trong
tâm tưởng của mình, An Tư chấp nhận hy sinh để san sẻ trách nhiệm với những người thân
yêu. Nhưng nàng vẫn ao ước có được cuộc đời “Một đôi vợ chồng yêu nhau trong bóng tối,
một túp liều tranh miễn là sum họp, nàng nghĩ đến cảnh nay mai. Thất thân cùng thái tử nhà
Nguyên. Lòng nàng bị tàn phá như một sa trường.” [102,310]. Quan niệm “Quốc gia hưng
vong, thất phu hữu trách”, An Tư dù đau đớn đến chết cả cõi lòng vẫn phải gạt tình riêng lo
cho đại cục. Nhan sắc của An Tư không chỉ cứu cho mười vạn quân dân Đại Việt khỏi bay
đầu, mà giống như Tây Tử năm xưa làm nản lòng tướng giặc, nàng khéo léo buộc Thoát
Hoan vào vòng cám dỗ, làm kế hoãn binh cho quân Đại Việt có thời cơ rửa hận. Say
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
nàng,Thoát Hoan bị lòng quân oán hận, y không thiết đến lời của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp nữa.
So với chiến công “phá cường địch, báo Hoàng ân” của Trần Quốc Toản, nghĩa khí “ninh
vi Nam quỷ, bất vi Bắc vương” của Trần Bình Trọng, công lao ấy, khí tiết ấy đâu nhỏ. Hai
tháng trời chịu nhục trong trại giặc, dù biết rằng Thoát Hoan yêu và trân trọng nàng biết
nhường nào nhưng An Tư vẫn thấy đau đớn và tủi hổ. Càng sốt ruột trông mong tin quân
nhà bao nhiêu, nàng càng lo lắng cho thân mình bấy nhiêu. “Đã hai tháng bị giày vò, thân
nàng ê chề, nhơ nhuốc. Nàng không có một hứng thú gì, ngoài những lúc cuồng mê của xác
thịt trong những cuộc ái ân vô độ và điên cuồng của người đàn ông đã làm chúa tể thân
nàng. Nàng cố đem những lời cao thượng của Chiêu Thành vương, khi nàng cùng chàng từ
biệt ở Thanh Hóa, để an ủi mình, thân tuy nhơ, lòng nàng vẫn không bợn, nhưng nàng cảm
thấy cái ý tưởng ấy không sao đứng vững được, và mỗi ngày, càng tụt sâu hơn xuống dốc
trụy lạc, nàng càng thấy buồn chán như mang tội với tình lang” [102, 416]. Cái ngày nàng
mong đợi cuối cùng đã tới. Nhưng bất hạnh thay, giờ phút gặp lại người yêu thương lại là
giờ phút chia tay vĩnh viễn. Trần Thông đã ngã xuống trước cổng thành Thăng Long, ngay
cận giờ chiến thắng. An Tư đau đớn, không kịp nói với chàng một lời cuối. Nàng tự ý mặc
áo đại tang như bổn phận của một người vợ. Chiến thắng ấy không có niềm hạnh phúc cho
cá nhân nàng. “Bấy giờ nàng ao ước chàng sống, dù phải đem thân nhơ nhuốc hiến dâng
chàng, miễn là chàng được sống. Càng nghĩ càng xót xa, lắm lúc nàng nghiến răng hờn
oán, hay đứng lên vùng vằng như muốn phá những ngang trái của hóa công, (...). Đến đây,
nàng không còn điều chi ràng buộc với đời nữa. (...) Nàng thu mình giữa đám vui. Và chính
tiệc khao quân tưng bừng náo nhiệt đã xua đuổi nàng đi, người duy nhất không có cái
quyền được hưởng cái vinh quang ấy” [102, 449]. Hình ảnh Chiêu Thành vương như đang
vẫy gọi nàng đi theo. An Tư không ngần ngại gieo mình xuống dòng sông Cái ngầu đỏ,
trong tiếng ca mừng công vang vọng từ hoàng thành. Nhân vật An Tư, thân phận hồng nhan,
được tái hiện lại sống động với nhan sắc tuyệt mỹ và hơn cả là với chiều sâu nội tâm, đã trả
lại cho nhân vật lịch sử sự công bằng mà nàng đáng được hưởng. Qua ngòi bút của Nguyễn
Huy Tưởng, An Tư không chỉ là lời ngợi ca những phẩm chất cao quý của người phụ nữ
Việt Nam truyền thống mà còn là cách nhà văn trang trải món nợ cho lịch sử. Viết về số
phận An Tư, nhà văn bày tỏ nỗi bức xúc của mình về thân phận con người trước ngã ba lịch
sử. Trước mối lo chung của cả dân tộc, mọi người cùng phải hy sinh quyền lợi cá nhân,
nhưng khi cái chung đã đạt được thì những bi kịch cá nhân vẫn còn là cái dằm nhức nhối ẩn
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
trên tấm thảm chung của vinh quang cộng đồng. Lịch sử lạnh lùng, ghi lại chiến công, bỏ
qua thất bại, điểm mặt anh hùng nhưng lại cố tình quên lãng những con người đứng ở hậu
trường lịch sử. Chỉ có những nhà tiểu thuyết lịch sử mới dám mạnh dạn khơi lại nỗi đau ấy.
Chính họ làm cho gương mặt lịch sử thêm phong phú và sống động, tìm thấy trong những
chiến thắng vinh quang của ngày hôm qua nỗi đau của ngày hôm nay và cả những vấn đề
của ngày mai. An Tư hay số phận người phụ nữ trong kháng chiến của dân tộc, luôn luôn là
vấn đề trăn trở của những nhà văn chủ nghĩa, những con người khao khát mong tìm thấy sự
công bằng trong các giá trị lịch sử.
Trong tiểu thuyết An Tư, nổi bật là chân dung của hai nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến
dân tộc. Đó là vua Nhân Tông (Thiệu Bảo) và Hưng Đạo vương. Hai con người đứng mũi
chịu sào, đưa con thuyền quốc gia vượt qua cơn phong ba lịch sử, thể hiện những cách nhìn
tưởng như đối lập mà thống nhất trong vẹn toàn cá tính của con người Việt Nam. Nhân
Tông là vị vua khoan dung độ lượng. Nguyễn Huy Tưởng đã dựng lại chân dung vị quân
vương ấy: “Người vào trạc 27, 28 tuổi, chít khăn vàng, mặc áo bào vàng chẽn, đeo kiếm
dài, mặt trái xoan, điểm những đường vân tía, trông hao hao nét mặt Khổng Phu Tử, thần
khí quang thái, dáng trông uy nghiêm tôn kính, nhưng đạo mạo rất nhân từ” [102, 255]. Ở
ông toát lên sự mộc mạc chân tình của vị vua nhân đức. Nhà vua xuôi thuyền về Thăng
Long đi tìm quốc công, không cần tiền hô hậu ủng. Ở giữa chốn dân gian, vua không phải
nề hà hiểm nguy hay gian khổ vì biết lòng dân quy thuận theo mình.” Dân gian biết là vua
đi, kéo nhau lũ lượt theo sau, khắp các phố phường người ta đổ ra, tiếng hô vạn tuế vang
lừng, vui vầy và đầm ấm. (...) Vua vốn là người nhân từ, công chính, hằng ngày thường cúi
xuống bách tính, xem xét dân tình, có khi vi hành để thân dân. Vua không bỏ lỡ dịp nào để
giúp họ: đói kém thì phát gạo, rách rưới thì ban quần áo. Vua không nề hà gì, vào cả túp
liều tranh ẩm thấp, trò chuyện cùng ông già bà cả có khi ôm ẵm trẻ nhỏ giữa những tiếng
cười hồn nhiên của những đám người bình dân” [102, 259]. Sự gần gũi thân mật ấy mang
tính lý tưởng và có lẽ còn xa rời thực tế. Đây có lẽ cũng là niềm khao khát có được minh
chủ lãnh đạo dân tộc trong những năm đất nước còn nô lệ lầm than của tác giả. Nhưng
người đọc sẽ thấy vô cùng hợp lý khi thấy tính cách nhân từ ấy là khởi điểm để nhà Trần có
được sự ủng hộ của lòng dân lớn lao đến thế. “Họ đã coi vua như một thế tôn, một Bồ tát
đầy lòng từ bi hỉ xả, họ chỉ đợi dịp đến báo ơn vua nhân hậu”. Sẽ chẳng thể có ba lần chiến
thắng quân Nguyên Mông nếu chỉ trông chờ vào tài thao lược của binh tướng. Nguyễn Huy
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
Tưởng từ trước khi giác ngộ cách mạng đã ý thức rõ ràng về vai trò của quần chúng . Nếu
không được lòng dân sẽ không có hội nghị Diên Hồng, không có hội quân bến Bình Than,
càng chẳng có Chương Dương, Hàm Tử, Vân Đồn - những chiến công chói lọi.
Trần Hưng Đạo, nhân vật lịch sử kiệt xuất, đối với người Việt Nam chúng ta từ xưa
đến nay đã trở thành một vị thánh. Với Nguyễn Huy Tưởng, hình ảnh Hưng Đạo vương là
một thần tượng mà ông tôn thờ, khơi lên trong ông niềm tự hào mãnh liệt về quá khứ hào
hùng của dân tộc. Những trang viết của Hà Ân trong tập Trăng nước Chương Dương cho
ta thấy một Trần Quốc Tuấn trăn trở trước di mệnh của cha và đạo quân thần, một Hưng
Đạo vương ân cần với từng gia nô trong thái ấp, trọng nhân tài, một người hào hoa nhưng
tâm trí luôn gắn với việc quốc gia đại sự. Trong An Tư, ta vẫn gặp một Hưng Đạo vương
của Hà Ân. Nguyễn Huy Tưởng không đi sâu miêu tả cách đối đãi chăm lo của Hưng Đạo
vương với bề tôi của mình nhưng bằng cách thuật lại những tình tiết đầy thử thách đối với
lòng trung thành của các tướng lĩnh dưới quyền vương, ta có thể cảm nhận phần nào cái uy
cũng như đức nhân của ngài. Khi Thoát Hoan kéo quân tràn qua biên ải, sức giặc quá mạnh,
quân triều đình liên tiếp thất bại, vua Thiệu Bảo lòng rối như canh hẹ, hoang mang muốn
hàng cho dân đỡ khổ. Chờ đợi Quốc công ở hành cung Hải Đông, lòng Nhân Tông như có
lửa đốt. Vậy mà thoáng từ xa nhìn thấy con thuyền, “Lòng vua đã trở lại bình tĩnh như
thường”. Bởi lẽ “Quốc công như có một uy quyền kỳ dị. Giữa lúc mọi người hoang mang,
hoài nghi và chán nản, đại vương đem lại một nguồn nghị lực dồi dào. Lòng tin đã bị lung
lay trong thâm tâm nhà vua nay đã gần như chôn vững” [102,277]. Mối băn khoăn của vua
Thiệu Bảo như được trút bỏ khi nghe lời tâu khẳng khái của vị nguyên lão đầu triều “Quan
gia muốn hàng, xin trước hết chém đầu lão phu đi đã” [102,277]. “Giọng Quốc công đã
hay, lời Quốc công lại mạnh câu nói đanh thép đầy tự tin, như giội một luồng sinh khí vào
ông vua héo hon vì do dự. Bao nhiêu lòng hoài nghi tan hết, vua như choàng tỉnh một cơn
mê. Vua nâng đại vương dậy, thẹn thò vì lời nói hèn nhát của mình. Tất cả những người
đứng chung quanh ngây người vì câu nói rắn rỏi, nhìn vào Quốc công, lòng kính ái, và
mạch máu cuồn cuộn say sưa phấn đấu. Tiếng đáp còn quyện trong gió mây.Chiêu Thành
vương cũng ngạc nhiên vì câu nói bất ngờ của vua Thiệu Bảo càng lại nhận thấy nỗi thẹn
của vua. Càng có cảm tưởng rằng khi ấy Quốc công là một bó đuốc dẫn đường. Ngay trong
lòng chàng, những tro tàn chán nản cũng biến thành than hồng.” [102, 278]. Mỗi lý lẽ
Hưng Đạo vương đưa ra là một trận gió xua tan từng lớp mây mờ bao phủ trong tâm trí mọi
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
người, khiến họ thêm vững tâm vào con đường cả dân tộc đã lựa chọn, tin tưởng hơn vào
thắng lợi trước mắt. Chiêu Thành vương sau khi biết tin vua quyết định đưa An Tư làm kế
hoãn binh, vô cùng căm giận Quốc công và Thượng hoàng, giận nàng, giận thân, giận cả
non sông Tổ quốc; chàng đã lâm vào tình thế tuyệt vọng, nhưng khi bị triệu tập theo lệnh
Quốc công, “nhìn thấy Quốc công, chàng đã dịu những bão táp trong lòng. (...) Chỉ một lời
nói của con người khoan hồng kia cũng đủ làm cho vương trở lại thăng bằng.” [102, 314].
Không những lòng oán hận tiêu tan mà uy lực của Quốc công đã truyền cho chàng trai si
tình ấy một sức sống mới, để chàng không những tự đứng dậy trong khổ đau mà còn đủ sức
truyền cho người yêu niềm hy vọng, động viên nàng bằng những lời cao thượng nhất. Là vị
tướng giỏi, Trần Quốc Tuấn biết phải nắm vững được thiên thời, địa lợi, nhơn hòa. Các
tướng sĩ dưới quyền của ông không chỉ giỏi mà còn nặng lòng trung nghĩa. Chính Quốc
công cũng phải cảm khái mà thốt lên rằng: “Chim hồng hộc bay cao được là nhờ lông cánh,
nếu không có lông cánh thì cũng chỉ là chim thường thôi vậy.” [102, 290]. Vì thế trong thái
ấp của ông, những gia nô đối với ông không chỉ bằng tình chủ tớ, họ yêu thương và kính
trọng ông bằng tình thương đối với cha, sẵn sàng xả thân, bất chấp hiểm nguy vì mệnh lệnh
của chủ tướng. Lệnh chiêu binh của phủ Quốc công vừa ban ra thì “nhân tài kéo ra như
nước, về cả Vạn Kiếp để chịu quyền tiết chế của đại vương” [102, 291]. Hội quân ở Vạn
Kiếp là niềm mơ ước của bất kỳ một thân vương nào, ngay cả cậu bé Hoài Văn Hầu cũng nỗ
lực tự chiêu mộ 600 nghĩa sĩ, tự đi lùng giặc lập công để mong được ra mắt Quốc công. Ông
tin tưởng họ, không bao giờ để lộ ra một chút nghi ngờ về lòng trung nghĩa của họ. Đó là
nguyên nhân tạo nên uy tín của đại vương. Cùng với bài hịch vô tiền khoáng hậu mà mỗi lời
hịch như được viết bằng dòng máu Đông A đầy kiêu hãnh, bằng nhiệt huyết yêu nước, chí
căm thù giặc sục sôi, Hưng Đạo vương đã thức tỉnh được lòng quân tập hợp họ thành một
khối đoàn kết, quyết tâm luyện rèn để chiến đấu. Kẻ địch cũng phải nhìn Quốc công bằng
con mắt kính phục, tài dụng binh của đại vương khiến cho từ Thoát Hoan đến Ô Mã Nhi nổi
tiếng gian xảo cũng phải nể sợ. Xét ở góc độ tình người, Hưng Đạo vương không cứng nhắc
mà rất am hiểu tâm lý, chân tình. Đợt phản công mùa hè ấy, ông sai Chiêu Thành vương
xuất quân tiên phong ra tấn công Thăng Long. Ông hiểu rằng hơn ai hết, người trông mong
trận đánh này nhất là Chiêu Thành vương và Quốc muội An Tư. Thắng không kiêu, thua
không nản, đó là bản lĩnh của Hưng Đạo vương. Tiểu thuyết An Tư đã tái hiện chân dung
của vị tổng tư lệnh tối cao này một cách toàn diện nhất. Có thể coi đây là một sự tôn vinh
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
của nhà văn với thần tượng của mình. Những nhân vật lịch sử như Chiêu Thành vương,
Chiêu Văn vương, Bảo Nghĩa vương, Hoài Văn Hầu... tuy không phải là nhân vật chính
trong tiểu thuyết nhưng cũng được nhà văn xây dựng khá chi tiết, từ ngoại hình, hành động,
đến tính cách, đều là những nhân vật lịch sử sống động, thậm chí cả những con người vô
danh trong lịch sử như Trần Lai, xuất hiện một lần nhưng làm người đọc nhớ mãi. Đó chính
là tài năng sáng tạo của nhà văn.
Nhà văn vẫn giữ một thái độ rất khách quan trong việc xây dựng các nhân vật theo
phía quân Mông Cổ. Không thoá mạ kẻ thù, không bôi nhọ chân dung lịch sử, đó là thái độ
đúng mực đáng trân trọng của người viết tiểu thuyết lịch sử. Nhà văn đã viết trong nhật ký
của mình: “còn như bên địch cũng nhiều tướng ly kỳ. Thoát Hoan kiêu ngạo, dùng binh cực
giỏi. Ô Mã Nhi tàn bạo giết người không tiếc tay, thực là kẻ tiêu biểu cho dòng Mông Cổ và
những kẻ đi chinh phục người. Lại còn Toa Đô. Tôi không biết lai lịch và tâm tính vị này ra
sao, nhưng tôi xem Đô là người dũng cảm, võ nghệ siêu quần, binh lính nghiêm trang, đi
đến đâu không tàn phá, một người tướng tâm linh sáng suốt, ngay thẳng…” (Nhật ký ngày
12/10/1933). Nhân vật Thoát Hoan được nhà văn tạo dựng hoàn toàn khác với những gì
người ta vẫn hình dung về một tên tướng Mông Cổ hoang dã, tàn bạo. Khi An Tư được đưa
đến giặc Thoát Hoan, ấn tượng ban đầu của nàng về tên giặc này là “Một người bước ra, ăn
mặc quân phục rất là lịch sự.” Con người ấy là kẻ thù số một của dân Việt, “người tàn ác
đã gieo bao nhiêu thảm họa, giết hại bao nhiêu sinh linh, mà ai ai cũng hình dung như một
viên tướng hung tợn, mắt to, râu rậm, thân thể to lớn, kỳ thực chỉ là một người tầm thước,
đầu lớn, to gan, trạc ngoài 30 tuổi, mỗi tay đeo lủng lẳng, theo tục Mông Cổ một viên ngọc
quý, lông mày rậm, môi dày, dáng đi có vẻ nhanh nhẹn và mạnh mẽ” [102, 338]. Thoát
Hoan say đắm nhan sắc và trí tuệ An Tư, nhất là khi nàng là niềm an ủi để” chàng quên hết
nỗi buồn lữ thứ”. Chinh phục được nhan sắc ấy, Hoan thêm tự tin rằng mình đã chắc thắng,
đã hoàn toàn chiếm được Thăng Long, và cả mảnh đất Đại Việt này. Trước sự cầu khẩn dồn
ép bằng lý lẽ khẩn thiết của cả Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp, Hoan đã đôi lần quyết tâm hạ sát An
Tư để tập trung cho việc quân nhưng không thể xuống tay “Uy phong của thanh kiếm, vẻ
kiều diễm của giai nhân, hai thứ cùng quý, đối chọi với nhau trong óc nóng nảy của Thái tử
nhà Nguyên. Lòng Thoát Hoan càng bất nhẫn. (...) Hình ảnh các tướng sĩ chờ đợi đầu lâu
người quốc sắc, và bóng dáng kiều lệ của An Tư trộn lẫn trong óc chàng, mịt mù như đêm
giông tố, không biết soi đường nào đi cả” [102, 354]. Trong nhân vật có sự giằng xé rất lớn
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
giữa khát vọng sự nghiệp và lòng tôn thờ giai nhân. Trước tình cảnh quân sĩ đau ốm, đói
khát “Mắt người nào cũng ngơ ngác, sợ hãi, đợi chờ cái bệnh khủng khiếp đến lôi đi, họ,
những chiến sĩ vinh quang thường làm chúa nơi sa trường”; “Hoan chợt thấy thương hại
quân sĩ, lênh đênh nơi đất khách quê người, đi tìm chút vinh quang, bỗng phải chết một
cách vô cùng tủi nhục!” [102, 412]. Bản thân chính người chủ tướng ấy, sau những ngày
tháng đắm chìm trong tửu sắc, kiêu ngạo, giờ đây “Nét mặt có phần hốc hác, nước da cũng
hơi xanh xanh, (...) Có cái vẻ gì như lo sợ không yên, và cái mặt lạnh lùng nham hiểm ấy
trên môi có điểm một vẻ đau thương” [102, 420]. Tái hiện chân dung Thoát Hoan, Nguyễn
Huy Tưởng đã làm được hơn rất nhiều nhà văn khác cùng thời. Ông khai thác nhân vật
trong góc độ rất con người từ một cách nhìn khách quan. Không thóa mạ, không bài xích
nhân vật, Nguyễn Huy Tưởng nhìn nhân vật như một anh hùng thất thế. Dù có trở nên bệ
rạc khi chìm đắm trong tửu sắc, Thoát Hoan vẫn là một vị tướng có lòng khoan dung với
tướng sĩ, biết lẽ phải trái, và hơn hết là oán ghét chiến tranh. Tóm lại, thế giới các nhân vật
lịch sử trong tiểu thuyết An Tư đã vượt xa sự hư cấu của những tiểu thuyết cùng đề tài
trước và sau nó ở sự toàn diện, sinh động và tính chất khách quan của lịch sử.
Nhà văn thường quan tâm khai thác những trang sử vẻ vang của dân tộc, những sự tích
anh hùng của nhân dân trong đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội.Trong Lá cờ thêu
sáu chữ vàng được viết vào năm 1960, Nguyễn Huy Tưởng đã làm sống lại hình ảnh một
nhân vật rất đẹp và rất đáng tự hào của dân tộc ta, một nhân vật thiếu niên là Trần Quốc
Toản. Bên cạnh nhân vật chính Trần Quốc Toản -Hoài Văn hầu tuổi trẻ chí cao - là hình ảnh
nhân dân và vai trò lớn lao của họ trong lịch sử.
Trên cơ sở mấy nét tóm tắt lịch sử được ghi lại đó, Nguyễn Huy Tưởng với vốn kiến
thức lịch sử uyên bác và với sức tưởng tượng phong phú đã mở mang cốt truyện, phát triển
các chi tiết và xây dựng hình ảnh nhân vật.
Trần Quốc Toản theo tưởng tượng của ông, có hình dáng xinh như con gái “Mặt trái
xoan với đôi má phinh phính còn bụ sữa, nước da trắng mịn óng ánh những lông tơ, môi
dày đỏ chót. Đôi mắt to đen vừa trong sáng vừa mơ màng”.
Ra chiến trường, Trần Quốc Toản “Mặc áo bào đỏ, vai mang cung tên, lưng đeo thanh
gươm gia truyền, mình ngồi trên một con ngựa trắng phau”.
Thế nhưng trước bà mẹ, chàng trai khôi ngô ấy cũng chỉ là đứa con mảnh dẻ như nữ
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
sinh, yếu như cành hoa chưa chịu được sương gió.
Hình ảnh Trần Quốc Toản còn được soi sáng qua nhiều mối quan hệ, như với người
chú là Chiêu Thành vương,với anh em Thế Lộc ở trại Mã Lực, với người tướng già, với mẹ,
với quân lính mà Quốc Toản xem như anh em ruột thịt. Nhìn chung nhân vật Quốc Toản đã
được phát triển qua nhiều mặt khác nhau nhưng tất cả lại bổ sung cho nhau, giải thích lẫn
nhau tạo nên một tính cách hoàn chỉnh. Đồng thời nhà văn cho ta thấy, không phải ngẫu
nhiên mà Trần Quốc Toản có được tinh thần yêu nước nồng nàn như vậy. Chính hoàn cảnh
gia đình và xã hội đã góp phần tạo nên tính cách người anh hùng trẻ tuổi.
Bên cạnh hình ảnh Trần Quốc Toản, Nguyễn Huy Tưởng còn cho ta thấy hình ảnh cả
nước một lòng quyết thắng đuổi giặc. Đó là hội nghị Bình Than, hình ảnh các bậc già cả tiễn
đưa con cháu lên đường, những bà mẹ nén lòng thương nhớ, khích lệ con lập công, những
chàng trai khắc chữ “Sát Thát” vào cánh tay.
Khác với ba tiểu thuyết trên, Sống mãi với thủ đô tạo dựng một thế giới hiện thực của
một quá khứ gần, nhân vật của thời đại cũng khác xa so với các tiểu thuyết lịch sử ở trên.
Nhân vật của Sống mãi với thủ đô không phải là những yếu tố đã từng lưu danh trong sử
sách với những cái tên, những hành động, những câu nói bất hủ. Họ là những con người
bình dị và vô danh trong lịch sử, một đám đông được gọi chung là nhân dân thủ đô. Họ đi
vào trang sử chống Pháp như những tượng đài sống động, với những gương mặt thuộc mọi
lứa tuổi, mọi thành phần giai cấp.
So với Những người ở lại, Sống mãi với thủ đô đã dựng được một tượng đài kỳ vĩ
và toàn diện hơn. Trong đó có một đội ngũ đông đảo những người dân lao động, các lớp dân
nghèo Hà Nội, lực lượng quan trọng của cuộc kháng chiến. Trong quần thể tượng đài lịch sử
ấy, nổi bật lên là những con người trung kiên như Nguyễn Gia Định, Quốc Vinh, Vi Dân,
Nhân, Sinh... Mỗi người một dáng vẻ, một nét riêng trong cá tính, họ đưa người đọc vào
trung tâm của cuộc chiến đấu gian lao nhưng đậm chất hào sảng. Những nhân vật được nhà
văn dành nhiều sự ưu ái nhất là Nhân, Dân và cậu bé Thắng. Tên của ba con người ấy nói
lên khát vọng và niềm tin mãnh liệt của nhà văn về sức mạnh của nhân dân, những con
người làm nên lịch sử. Trong cuộc chiến đấu cam go này, người chiến thắng tất yếu là nhân
dân. Những nhân vật chính yếu của lịch sử như chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng Võ
Nguyên Giáp, chỉ thoáng xuất hiện trong những lời trao đổi của nhân dân nhưng người đọc
vẫn nhận ra sự gửi gắm tin yêu, tấm lòng sùng kính của nhà văn với những người đang chèo
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
lái con thuyền dân tộc.
Số lượng nhân vật trong Sống mãi với thủ đô tuy đông đảo nhưng mỗi một chân dung
lại có những nét riêng, không thể lẫn. Từ một Quốc Vinh với dáng vẻ nhỏ bé, vẻ ngoài ốm o
của một người trở về từ tù ngục thực dân, với tình yêu tha thiết với cách mạng với thủ đô, dễ
dàng phân biệt với một Gia Định tận tụy trung thành với sứ mệnh bảo vệ Bắc Bộ phủ. Họ
giống nhau ở điểm ít nói, cùng mẫn cán trong công việc, nhưng ở Gia Định, thái độ yêu ghét
rõ rệt. Anh khó chịu ra mặt trước sự thiếu đứng đắn của Hồng Lưu, và thản nhiên đón nhận
sự hy sinh cùng với nơi làm việc của Bác. Quốc Vinh thì tế nhị hơn, chất hòa nhã của một
người Hà Nội trong anh giữ cho anh sự điềm đạm chín chắn trước những lời châm chọc của
Hồng Lưu, và vẫn sáng suốt chỉ huy anh em chiến đấu. Cùng trong hàng ngũ của những
người kháng chiến, Hồng Lưu và Văn Việt lại có những thói ganh tị hẹp hòi nhưng không ai
giống ai. Hồng Lưu luôn tỏ vẻ là người thủ đô, với xuất thân chẳng lấy gì làm đẹp đẽ, nên
anh ta luôn tìm cách che giấu nguồn gốc của mình. Là cán bộ kháng chiến nhưng Hồng Lưu
vẫn lén lút đến nhà thổ, đôi lần bị Quốc Vinh bắt gặp nên thành ra nuôi mối ác cảm với
người đồng chí của mình. Văn Việt lại ghét Quốc Vinh vì anh ta luôn sợ mình bị lu mờ
trước con người ấy. Các nhân vật tuy chưa được khắc họa sâu về nội tâm, tạo bề dày tính
cách nhưng đều có những nét riêng sinh động. Vẻ tươi trẻ, khỏe khoắn của Nhân, người con
gái của làng hoa Ngọc Hà đã tạo nên những tương phản với dáng vẻ đài các và kiêu sa của
Trinh, người đàn bà xa rời thời cuộc, ích kỷ. Cùng thuộc một lứa tuổi, một tầng lớp, nhưng
Oanh, Quyên, Lan, Hương, Trinh lại có những cá tính riêng, dù được khắc họa rất ít nhưng
để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm trí độc giả. Sự hồn nhiên của Quyên, Hương, sự nhiệt tình
năng nổ của Oanh, Nhân, vẻ rụt rè bỡ ngỡ của Lan trong buổi đầu đến với kháng chiến đã
làm nên chất thơ cho một giai đoạn lịch sử khốc liệt. Chiến tranh đã tác động sâu sắc đến
đời sống của từng gia đình, từng cá thể, nó phân định rạch ròi từng loại người trong xã hội
nhưng thảm kịch của nó thì chẳng chừa một ai. Gia đình nhỏ của Bao và Trinh vốn là một lô
cốt yên ấm, ngay cả khi bên cạnh phố Yên Ninh vừa trải qua cuộc tàn sát hãi hùng. Bao,
chồng Trinh, là tay sai của Pháp, vốn vô cùng tự tin nhưng sớm nhận kết cục bi thảm ngay
khi cuộc chiến vừa mới bắt đầu. Trinh,” bà hoàng phố Quan Thánh” ngày nào, đã trở thành
thảm hại, như chiếc lá, bị vò nhàu cuốn đi trong cơn lốc. Gia đình Cự Lâm cũng là một
thành lũy ngoan cố của những đầu óc bảo thủ, cuối cùng cũng bị phân đôi. Những kẻ bảo
thủ, trì trệ, âm mưu thân Pháp đã phải cuốn gói khỏi Hà thành, nhưng chính những đứa con
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
sinh trưởng trong gia đình ấy lại trở thành những chiến sĩ tự vệ quả cảm, nhanh chóng hòa
mình vào không khí thời đại. Kháng chiến - guồng quay của lịch sử - đã đưa những con
người xa lạ xích lại gần nhau hơn, cậu chủ Phúc muốn trở thành bạn tâm giao với anh công
nhân Sinh nghèo khó. Những cô gái nhà thổ, tên lưu manh cũng từ bỏ những thói xấu để
cùng kề vai sát cánh những cậu học trò hồn nhiên, trong sáng trong cuộc chiến đấu.
Khi xây dựng những nhân vật thuộc nhiều thành phần giai cấp ấy, Nguyễn Huy Tưởng
đặc biệt quan tâm đến những con người thuộc tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Hình bóng của
những nhân vật kẻ sĩ Thăng Long xuất hiện khá nhiều trong sáng tác của ông. Ông muốn
đánh giá và tìm ra vai trò, vị trí của họ trong cuộc chiến đấu bảo vệ thủ đô. Nguyễn Huy
Tưởng tập trung đi sâu, phản ánh những chuyển biến trong nhận thức của những trí thức tiểu
tư sản ấy trước luồng gió cách mạng. Trong số các nhân vật trí thức tiểu tư sản như Trần
Văn, Văn Việt, Nhật Tân, Quốc Vinh... Nguyễn Huy Tưởng quan tâm nhiều hơn cả đến
Trần Văn - nhân vật mang sắc thái tự biểu hiện. Trần Văn tự nguyện gắn bó với vận mệnh
dân tộc. Nhưng anh cũng sợ gian khổ, cũng xót xa ân hận với những hèn yếu mà chính mình
chưa khắc phục nổi. Anh muốn được đóng góp vào công việc chung cho xứng đáng với
trách nhiệm, để bù đắp lại những thiếu sót của ngày qua. Trong hành trang ra trận của anh
có truyền thống văn hóa hàng ngàn năm lịch sử đất Thăng Long. Trần Văn là hiện thân của
người trí thức nuôi khát vọng gìn giữ nền văn hóa của dân tộc, yêu quý và trân trọng những
giá trị truyền thống văn hóa đó. Nét mơ mộng, lãng mạn mà một thời người ta quy kết là
“mộng rớt tiểu tư sản” trong anh thực chất chỉ là biểu hiện của nhiệt tình yêu nước. Trần
Văn, chân dung điển hình của trí thức tiểu tư sản thời ấy, đã sống và suy ngẫm về cuộc đời
bằng chiêm nghiệm lịch sử: “Hôm qua còn là giáo học, hôm nay đã là người chiến đấu sắp
xông ra trận. Anh vừa nói như giảng một bài sử, chỉ khác là trước đây trong lớp học trò
nghe như câu chuyện xa xôi, mà lúc này thì họ sắp làm cái việc mà cha ông ngày trước đã
làm. Chính anh sẽ lao vào trong cuộc, có ít nhiều chịu đựng và liều lĩnh như theo một định
mệnh kéo đi, nhưng cũng có cái vui của một người đã dứt khoát chọn một con đường, dù là
nguy hiểm” [105, 249]. Những suy tư xen giữa hành động của nhân vật đã đem đến cho
thiên truyện một không khí riêng, trầm lặng, hòa hợp giữa hiện tại, quá khứ và tương lai.
Bằng cảm hứng lịch sử, nhà văn đã tái hiện chân thực và rõ nét chân dung những con người
thời đại trong cái hối hả gấp gáp của một sự chuẩn bị cho kháng chiến, từ góc nhìn nhân
chứng lịch sử. Giống như một nhà quay phim tài tình, trong một khoảng thời gian ngắn
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
ngủi, nhà văn đã thu được những thước phim cận cảnh đặc tả, bao quát đám đông vừa sinh
động, khách quan mà vẫn chân thực, biểu cảm. Những nhân vật tham gia trong sáu mươi
ngày đêm khói lửa ấy, đến nay người ta chỉ còn biết đến họ trong cái tên chung: Trung đoàn
Thủ đô. Họ không để lại trong lịch sử những cái tên riêng gắn với từng chiến công hiển
hách, họ mang một gương mặt chung của con người thủ đô. Từ ý tưởng ấy mà nhà văn đã
sáng tạo nên những chân dung con người thời đại với niềm gửi gắm tin yêu vào sức mạnh
nhân dân. Cảm xúc về vai trò lớn lao của nhân dân trong không gian và thời gian lịch sử,
suy nghĩ về chủ nghĩa yêu nước anh hùng thắm đượm trong tình cảm, hành động của các
nhân vật, tất cả đã góp phần tạo nên chất sử thi trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng.
Trên đây là những chất liệu gợi cảm hứng lịch sử cho nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đặt
bút viết bốn tiểu thuyết. Chúng tôi sẽ tiến hành phân tích một số đặc điểm của tiểu thuyết
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
lịch sử Nguyễn Huy Tưởng qua chương thứ 3 của luận văn.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ
NGUYỄN HUY TƯỞNG
3.1. Sự kết hợp giữa tiểu thuyết và lịch sử.
Nhà văn Tô Hoài từng coi Nguyễn Huy Tưởng là cây bút sử thi hết sức hùng tráng “Vì
tấm lòng đối với quê hương từ tiềm thức gắn bó và thôi thúc”, Nguyễn Huy Tưởng đã dành
rất nhiều tâm huyết và ý thức cho lịch sử dân tộc. Ông từng đinh ninh ghi tạc: “Dù chuyện
gì, việc gì cũng không nên bỏ tinh thần Việt Nam”. Năm hai mươi tuổi trong nhật ký của
mình ông đã viết nên những câu chữ đáng coi là một châm ngôn sâu sắc: “Người không biết
lịch sử nước mình là một con trâu đi cày ruộng. Cày với ai cũng được, mà cày ruộng nào
cũng được” [14]. Từ những tâm huyết đó, ông đã có ý thức muốn sáng tác tiểu thuyết lịch
sử để bồi dưỡng và khích lệ lòng yêu nước, ý thức tự tôn tự hào dân tộc, nêu cao tinh thần
trách nhiệm của mỗi người dân đối với vận mệnh của nước nhà trong những lúc nguy nan,
cố gắng đưa người đọc nhập cuộc, tin tưởng vào cuộc đấu tranh cho nền độc lập dân tộc,
bằng cách đưa họ tìm về với truyền thống vẻ vang của cha ông. Và để đi tìm sức mạnh, tìm
con đường giải thoát cho dân tộc ông đã “vùi đầu trong đống sách lịch sử để lấy cái vinh
quang của cha ông mà bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho mình. Tôi chuẩn bị viết văn để ca
ngợi lịch sử, ca ngợi dân tộc, kích động lòng yêu nước của đồng bào” [14]. Đó là động lực
tinh thần cơ bản thúc đẩy Nguyễn Huy Tưởng viết tiểu thuyết lịch sử.
Như vậy ,với một trí thức yêu nước, có tinh thần dân tộc như Nguyễn Huy Tưởng thì
viết tiểu thuyết lịch sử như là một tất yếu khách quan xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống
dân tộc. Hơn nữa, trong hoàn cảnh mất nước của những năm đầu thế kỷ XX, trong sự kiểm
duyệt khắt khe của chế độ thực dân Pháp đối với những sáng tạo nghệ thuật thì không còn
cách nào hơn là mượn chuyện đời xưa để nói bóng gió chuyện ngày nay.Nguyễn Huy
Tưởng đã tái hiện lại quá khứ vẻ vang của dân tộc để nhắc nhở hậu thế đừng quên cái nhục
mất nước và đừng quên trách nhiệm của mình trước vận mệnh sống còn của dân tộc. Vì thế
tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng chính là thái độ dấn thân, nhập cuộc hết sức tích
cực của nhà văn. Ở đó ông vừa trình bày những quan niệm của mình về lịch sử, vừa gửi
gắm những suy tư chiêm nghiệm về con người, về cuộc đời, về thời đại. Tiểu thuyết lịch sử
của ông là sự nối liền giữa quá khứ và hiện tại.
Khi sử dụng chất liệu lịch sử trong tác phẩm, mỗi nhà văn thường hướng tới một mục
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
đích riêng và thể hiện một quan điểm riêng. Có nhà văn coi việc tái hiện chính xác lịch sử
làm mục đích của tiểu thuyết như Lan Khai nhưng cũng có nhà văn chỉ giả vờ mượn chiếc
vỏ lịch sử cho “trò chơi” độc đáo của mình như Nguyễn Huy Thiệp. Với Nguyễn Huy
Tưởng thì khác hẳn, “Một mặt anh trung thành với lịch sử nhưng một mặt anh vẫn phát huy
vai trò sáng tạo của mình” [77,tr 121].Nghĩa là nhà văn vừa coi trọng yếu tố lịch sử lại vừa
coi trọng yếu tố tiểu thuyết, sử dụng một cách nhuần nhuyễn mối quan hệ giữa lịch sử và hư
cấu nghệ thuật, tạo nên những” Tác phẩm bề thế, có một dáng dấp ổn định và chững chạc”
(Vũ Tuấn Anh}. Coi trọng yếu tố lịch sử là để làm thành một thứ vũ khí tinh thần hữu hiệu
nhằm vào thực tại xã hội, đánh thức nhân tâm và cổ vũ lòng người, ưu tiên chất tiểu thuyết
là để đi sâu khám phá mọi ngõ ngách sâu kín trong tâm hồn và tính cách của nhân vật -
những ngõ ngách đã bị lịch sử bỏ qua,từ đó nhà văn đã lãng mạn hóa, đời thường hóa một
số nhân vật lịch sử, tạo ra một cái nhìn đa chiều về đời sống. Lịch sử không phải là cái gì
diễn ra một cách xác định để nhà văn kể lại cho bạn đọc nghe và cho lời phán xét cuối cùng.
Lịch sử phải được soi chiếu từ nhiều phía. Các nhân vật lịch sử không đơn thuần là những
tượng đài “đơn nghĩa”, như một tấm gương tối hoặc sáng như trong định kiến của các sử gia
phong kiến hay trong cách đánh giá của nhiều nhà tiểu thuyết lịch sử trước đó. Trong thời
kỳ 1930 - 1945, một số nhà văn lãng mạn Việt Nam khi viết tiểu thuyết lịch sử để làm nơi
trốn tránh thoát ly [77,tr.118] như Khái Hưng (Tiêu Sơn tráng sĩ), Nguyễn Tế Mỹ (Hai bà
Trưng khởi nghĩa)... Giá trị hiện thực của những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử này rất mờ
nhạt. Như trên đã nói, Nguyễn Huy Tưởng một mặt ưu tiên chất tiểu thuyết, mặt khác lại rất
tỉ mỉ và khắt khe đối với các chi tiết lịch sử. Đây là công việc mới nhìn tưởng đơn giản,
nhưng lại đòi hỏi rất nhiều công phu của nhà văn khi tái tạo lại chất liệu lịch sử vốn khô
cứng trong quá khứ đã xa, nhào nặn chúng theo ý đồ nghệ thuật của mình. Đồng thời nhà
văn sẽ phát huy được sở trường nếu lợi dụng được mối quan hệ “quen biết” của người đọc
với lịch sử để tạo nên hiệu quả tối ưu. Trong quá trình viết tiểu thuyết lịch sử, Nguyễn Huy
Tưởng luôn lấy “sự thực” làm gốc, nhưng nhà văn không bê nguyên xi lịch sử mà chỉ chọn
một sự việc, một chi tiết nào đó rồi hư cấu tưởng tượng thêm rất nhiều để tạo thành tác
phẩm. Trong tác phẩm Đêm hội Long Trì, tác giả chỉ chọn một chi tiết điển hình trong một
đêm để xây dựng thành kết cấu câu chuyện. Hay trong tác phẩm An Tư, tác giả lại chọn
mối tình tan vỡ của nàng công chúa An Tư với Chiêu Thành Vương Trần Thông để xây
dựng cốt truyện, dẫn dắt người đọc đến tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm và những chiến
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
thắng lẫy lừng của quân dân nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm
lược. Chính điều này đã làm cho tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng giảm đi tính
chất lịch sử, tính sử thi và tăng thêm tính chất tiểu thuyết nhiều hơn. Vì thế các tác phẩm
của ông có sức hấp dẫn đối với người đọc của thời hiện đại và cũng mang hơi thở đậm đà
của cuộc sống hơn. Và như thế “Bản thân lịch sử đã được tái hiện một cách nghệ thuật
hơn”. Nó là lời “thông báo thời sự” được khoác bộ áo lịch sử. Lịch sử với tư cách là chất
liệu nghệ thuật trong tiểu thuyết tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng đã được dùng
như một thứ vũ khí hữu hiệu nhất để chuyển tải tư tưởng của nhà văn.
Nhận xét về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng, nhiều nhà nghiên cứu đã
khẳng định chính xác : “Nguyễn Huy Tưởng đã rất nghiêm túc, bám sát chính sử, tôn trọng
các sự kiện chính của lịch sử” (Hà Minh Đức), “Anh tỏ ra khá trung thành với tinh thần của
các thời đại quá khứ xa xưa” (Phan Cự Đệ), “Tác giả nghiền ngẫm từng chi tiết lịch sử để
chuyển hóa vào tiểu thuyết” (Lại Nguyên Ân)... Thực ra đây cũng là điều mà nhiều nhà văn
viết tiểu thuyết lịch sử trước Nguyễn Huy Tưởng cũng đã làm được, cũng đã thành công.
Tuy nhiên mỗi người có một cách thức “chế biến” riêng. Ở Nguyễn Huy Tưởng, nhà văn đã
kết hợp hài hòa giữa yêu cầu chính xác về mặt sử liệu với sự phóng khoáng bay bổng trong
hư cấu tự do thể hiện ở một số phương diện như cảm hứng chủ đạo, không gian lịch sử,
nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử.
3.2. Cảm hứng lịch sử một nét phong cách đã sớm định hình trong tiểu thuyết
Nguyễn Huy Tưởng.
Muốn sáng tạo nên những áng văn chương, những tác phẩm nghệ thuật,người nghệ sĩ
phải có cảm xúc, cảm hứng trong tâm hồn. Cảm hứng có vai trò vô cùng quan trọng trong
sáng tạo của nghệ sĩ. Không có cảm hứng, nhà văn không thể sáng tạo được những tác phẩm
có giá trị. L.Tônxtôi đã từng tâm sự với vợ rằng: “Không có xúc động thì nghề văn của
chúng ta không nhích lên được”. Chính cảm hứng của người nghệ sĩ sẽ làm nên tâm cái hồn
của tác phẩm. Cảm hứng càng cao, càng mãnh liệt, càng sâu sắc thì tác phẩm càng có giá trị
và người đọc càng yêu thích tác phẩm. Yếu tố cảm hứng có vai trò vô cùng quan trọng trong
việc hình thành chủ đề của tác phẩm: “Khi tư tưởng người viết không dứt khoát, không rõ
ràng, không mãnh liệt thì không thể nào thổi bùng lên ngọn lửa chủ đề tư tưởng của tác
phẩm dự định viết” (Nguyễn Minh Châu )
Cảm hứng trong sáng tạo nghệ thuật là một tình cảm mạnh mẽ mang tính tư tưởng. Nó
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
thể hiện phần tư tưởng nghệ thuật của nhà văn. Đó chính là sự ham muốn tích cực trong con
người của họ, thôi thúc họ hành động. Cảm hứng trong tác phẩm trước hết là sự đam mê.
Khẳng định chân lý, lý tưởng mà nhà văn theo đuổi hoặc phủ định những sự xấu xa tiêu cực
đối lập hoàn toàn với lý tưởng mà nhà văn ca ngợi trong cuộc sống. Nó được cụ thể hoá ở
thái độ của người nghệ sĩ, đồng tình ca ngợi nhân vật chính diện hay phê phán những hiện
tượng thấp hèn phi đạo đức...
Vì thế, cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm sẽ chi phối hệ thống nghệ thuật biểu hiện
cảm xúc của tác phẩm như việc lựa chọn đề tài, chủ đề, kết cấu và nghệ thuật xây dựng hình
tượng nhân vật. Nó “chính là năng lượng tình cảm của tác phẩm được tập trung nén lại chỉ
chờ độc giả để bùng cháy lên” [41.tr.141].
Mỗi một tác phẩm, thậm chí mỗi một thể loại văn học là một niềm say mê riêng, một
niềm cảm xúc riêng của tâm hồn nhà văn phản chiếu vào trong đó. Với Nguyễn Huy Tưởng,
tiểu thuyết lịch sử và kịch lịch sử cũng là những thể loại đã phản ánh những cảm hứng riêng
của ông.
Trong những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, xã hội phong kiến Việt Nam
đang bước nhanh trên con đường suy vong dẫn đến chỗ sụp đổ, nhường chỗ cho một chế độ
xã hội mới - chế độ thực dân nửa phong kiến ra đời: hoàn cảnh ấy đã làm lung lạc tinh thần
của người Việt Nam và đã dẫn tới “cái vạ chết lòng”. Tình trạng phi dân tộc, phản dân tộc
đã trở thành một nguy cơ, một thảm họa và để góp phần cứu vãn đời sống tinh thần của dân
tộc, tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời kỳ này đều có khuynh hướng ngợi ca truyền thống dân
tộc và đều qui tụ cảm hứng yêu nước, cảm hứng dân tộc. Tùy thuộc vào thế giới quan của
tác giả, có người tập trung ở cảm hứng yêu nước, có người thì mượn lịch sử để nêu gương
cho thế hệ mai sau và nhìn chung mọi vấn đề của cuộc sống đều quy chiếu về lịch sử. Sang
giai đoạn 1930-1945 văn học Việt Nam có thể chuyển dịch từ cảm hứng sử thi sang cảm
hứng thế sự, hướng mối quan tâm đến con người, điều đó đã tác động không nhỏ tới tiểu
thuyết lịch sử. Bà chúa chè của Nguyễn Triệu Luật viết về Đặng Thị Huệ trong phủ chúa
với “Những lỗi lầm, mưu mô và phản trắc, những ganh tị nhỏ nhen của hạng đàn bà không
hiểu được cảnh ngộ thê thảm của chính mình” [7,tr48]. Các tác phẩm này thường tập trung
thể hiện một cảm hứng chủ đạo,bởi vậy hệ thống nhân vật, cốt truyện, kết cấu tác phẩm đều
chịu sự chi phối của cảm hứng đó.
Tiểu thuyết An Tư của Nguyễn Huy Tưởng là sự kết hợp của hai nguồn cảm hứng. Ở
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
đây có niềm tự hào về những nét truyền thống của dân tộc trong cuộc giữ nước chống giặc
ngoại xâm của quân dân nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân nguyên xâm lược.Tác
giả giành nhiều trang tâm huyết ca ngợi những sự kiện lịch sử lớn như Hội Nghị Diên Hồng,
hay cuộc hội quân ở bến Bình Than và những trận đánh lẫy lừng như Đông Bộ Đầu, Bạch
Đằng, Chương Dương, Vạn Kiếp... tất cả đã được Nguyễn Huy Tưởng tái hiện lại với một
niềm tự hào và lòng ngưỡng mộ chân thành: “Những chiếc thuyền cảm tử lao cả vào thuyền
giặc, lửa bốc lên ngùn ngụt và một vài tráng sĩ nhảy tót lên thuyền mới cháy, vung kiếm
sáng đánh quân thù, nhưng ngọn giáo lao trúng ngực, chàng ngã lăn xuống nước. Bốn
chiếc thuyền dẫn hỏa sau đi tới, chỉ trong nháy mắt, hàng thuyền đầu của giặc cháy bùng
lên, cả khúc sông cũng đỏ rực và lửa cháy tung hoành trên mặt sông. Trong bão đạn âm
vang tiếng hô “Sát Thát” [102, tr 429]. Cùng với sự kiện này, thu hút bút lực, tài hoa tâm
huyết của nhà văn hơn cả mối tình của nàng công chúa An Tư với Chiêu Thành Vương Trần
Thông, đặc biệt là số phận của nàng công chúa nhà Trần trong những giây phút nghiệt ngã
của lịch sử dân tộc. Trước những lẽ đời, lẽ người Nguyễn Huy Tưởng đã tìm thấy trong đó
sự lựa chọn đớn đau giữa hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc chung, giữa vận mệnh sống còn
của dân tộc với số phận của cá nhân con người, với những ngổn ngang, vò xé, khóc cười...
Tất cả đều đặt lên đôi vai bé nhỏ của người con gái nhà Trần. Sau cái bi tráng hào hùng lẫm
liệt của chiến thắng, của tự hào là cả một bi kịch của cá nhân con người, bi kịch của lịch sử.
Viết An Tư, Nguyễn Huy Tưởng bị ảnh hưởng sâu sắc cảm hứng lịch sử dân tộc song
cảm hứng này luôn đan cài và có sự kết hợp khá nhuần nhuyễn với cảm hứng nhận thức,
chiêm nghiệm lịch sử từ điểm nhìn hiện tại. Xuất phát từ cảm hứng thế sự kết hợp với cảm
hứng lịch sử dân tộc, tác giả đã đề cập đến vấn đề không phải riêng một thời đại nào mà có
ý nghĩa chung cho mọi thời đại: Số phận của cá nhân con người trong những biến động dữ
dội của lịch sử, để từ đó lý giải những hiện tượng phức tạp của lịch sử, đặt ra nhiều câu hỏi
để mọi người cùng suy nghĩ, nhận thức, đánh giá và kiến giải về lịch sử, về thời đại.
Trước An Tư, Nguyễn Huy Tưởng viết tiểu thuyết Đêm hội Long Trì. Đây là một tác
phẩm mang nguồn cảm hứng thế sự rõ nét nhất. Những éo le, rắc rối, nhố nhăng, phi lý và
phức tạp trong cuộc đời với những khổ đau, điêu đứng của con người do những thế lực đen
tối được tiếp tay dung túng từ những người cầm quyền trong xã hội thời vua Lê, chúa Trịnh.
Thế kỷ XVIII đã trở thành nguồn cảm hứng mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc cho nhà văn tài
hoa Nguyễn Huy Tưởng. Thông qua mối tình giữa Quỳnh Hoa và Bảo Kim, Trịnh Sâm và
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
Đặng Thị Huệ, thông qua hình tượng Đặng Lân, nhà văn đã phơi bày tất cả sự thực trần trụi
mà vô cùng sinh động về một xã hội với những lọc lừa, xảo trá, mưu mô và phản trắc bất
công, những tội ác và sự lộng hành... tất cả đã làm đảo lộn những kỷ cương phép tắc trật tự
trong xã hội. Xuất phát từ cảm hứng thế sự nhà văn đã giúp người đọc nhận thức, lý giải về
nguyên nhân sâu xa của những bất ổn trong xã hội. Nếu không có sự tiếp tay dung túng bao
che của những kẻ cầm quyền và những kẻ đứng sau đó thì không thể có một Đặng Lân “Cậu
Trời” ngang nhiên quây màn giữa đường phố bắt con gái nhà lành hãm hiếp, ngang nhiên
giết người, ngang nhiên tung hoành trong xã hội như vậy. Phải chăng đó cũng là câu hỏi
nhức nhói mà Nguyễn Huy Tưởng đã đặt ra cho chính thời đại mà chúng ta đang sống?
Cảm hứng lịch sử và cảm hứng thế sự trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy
Tưởng đã thể hiện sức mạnh của tiểu thuyết hiện đại: “luôn nhận thức lại”, đánh giá và kiến
giải lại đời sống. Đó chính là thành công và đóng góp quan trọng nhất của Nguyễn Huy
Tưởng trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.
3.3. Con người lịch sử - kiểu nhân vật đặc thù trong văn xuôi nghệ thuật Nguyễn
Huy Tưởng.
Trong một cuốn tiểu thuyết lịch sử, nhân vật là nơi thử thách nhà văn nhiều nhất. Nhà
văn phải bồi da đắp thịt để phục sinh nhân vật từ một cái xác cứng đờ, thổi sức sống cho nó,
bắt nó phục vụ tư tưởng của mình. Nhân vật thành công là nhân vật không quá xa lạ với
người đọc, mà vẫn phù hợp với thời đại nhân vật sống.
Các nhà tiểu thuyết lịch sử Việt Nam chịu ảnh hưởng khá nhiều của Hoàng Lê nhất
thống chí, từ hệ thống tư liệu cho đến cảm hứng, nhân vật. Nhiều người đã khẳng định tính
chất tiểu thuyết của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí ở phương diện nghệ thuật xây dựng
nhân vật. Mặc dù đây là một tác phẩm sử biên niên nhưng không thể phủ nhận khả năng hư
cấu, tưởng tượng (thể hiện ở những chỗ nhà văn nhấn mạnh tính cách nhân vật, ở những chi
tiết, ở những lời đối thoại của nhân vật) đã tạo nên chất văn chương thực sự cho tác phẩm.
Các nhân vật được cá tính hóa và đã “Có những nhân vật mang dáng dấp của hình tượng
văn học như Đặng Thị Huệ”. Trong các tiểu thuyết lịch sử nước ta, nhiều nhân vật lịch sử
in đậm dấu ấn sáng tạo của nhà văn như Nguyễn Hữu Cầu trong Quận He khởi nghĩa, Ngô
Quyền trong Tiếng sấm đêm đông, Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư trong Gươm thần
Vạn Kiếp, Nguyễn Huệ trong Sông Côn mùa lũ....
Trong tiểu thuyết An Tư của Nguyễn Huy Tưởng có mặt hầu hết những nhân vật quan
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
trọng thời Trần đã được sử sách nhắc đến như Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Trần
Quang Khải, Trần Quốc Toản, An Tư...nhà văn đã cân nhắc lại dung lượng miêu tả nhằm
khắc họa nổi bật tính cách và làm sáng rõ lý lịch của từng nhân vật. Chẳng hạn Trần Thông
trong Việt sử thông giám cương mục khi nhắc đến những người tham gia trận Hàm Tử
Quan có nói đến Chiêu Thành Vương nhưng không ghi rõ họ tên. Trong An Tư, Chiêu
Thành Vương được xây dựng thành một nhân vật đầy đặn có nguồn gốc xuất thân, có hình
dáng, tính cách và có cuộc sống cá nhân phong phú. Chiêu Thành Vương thuộc dòng dõi
quý tộc, có tên là Trần Thông, con của Khâm Thiên Đại vương Trần Nhật Hiệu. Và đạo
quân của Trần Thông lấy tên là Tịnh Cương (tên đội quân của Trần Nhật Hiệu tuyển ở làng
Tịnh Cương). Trần Thông là con người tinh thông võ nghệ, cơ thể cường tráng, là người
cương quyết, thông minh, hiếu thắng, ham đánh vật, bơi lội, săn bắn... tuy còn trẻ nhưng
thông minh đã là một viên tướng giỏi, tráng kiện và quả cảm. Trần Thông yêu An Tư với tất
cả đam mê cuồng nhiệt của tuổi trẻ. Một tình yêu đằm thắm, bồng bột mà sôi nổi, tự do
thoát hẳn ngoài luân lý của những đạo luật phong kiến hà khắc. Khi biết người yêu bị đem
đi cống nạp cho tướng giặc Thoát Hoan, chàng như cuồng dại, đau khổ tuyệt vọng, căm giận
cả Thượng Hoàng, hờn ghét Quốc Công và cả công chúa,ngay cả mình chàng cũng muốn
chết, chàng tìm đến cái chết. Nhưng tinh thần trọng kỷ luật cùng với sự an ủi động viên của
đoàn quân Tịnh Cương của Trần Quốc Toản đã giúp chàng thắng được những nhỏ nhen đau
đớn tinh thần, nuôi hy vọng đến mùa hè sẽ giải cứu được người yêu ... Có thể thấy nhà văn
đã sáng tạo một Chiêu Thành Vương Trần Thông với những tính cách sắc nét. Trần Thông
là một danh tướng nhưng ở một góc khuất của tâm hồn chàng vẫn là con người “rất người”
với đúng nghĩa của nó. Chỉ với một cái tên trong sử liệu, Nguyễn Huy Tưởng đã tưởng
tượng ra một Chiêu Thành Vương Trần Thông - một nhân vật giàu cá tính, sinh động, hấp
dẫn, tiêu biểu cho một con người vừa lý tưởng vừa đời thường.
Phò mã Đặng Lân trong lịch sử được nói đến rất ít.Sử sách chỉ ghi rằng Huệ có em trai
là Đặng Mậu Lân. Lân nhờ thế chị.., ỷ thế chị làm càn. Quần áo xe kiệu của Lân đều rập
theo vua chúa. Hàng ngày Lân đem theo vài chục tay chân cầm gươm, vác giáo nghênh
ngang kinh thành cướp bóc, cưỡng hiếp đàn bà con gái.... Trong Đêm Hội Long Trì, Đặng
Lân trở thành nhân vật chính hung ác hơn, quyền hành hơn. Hắn tiêu biểu cho những thế lực
cường bạo dâm dục, vũ phu, côn đồ. Nguyễn Huy Tưởng đã bộc lộ sự căm ghét cao độ. Nhà
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
văn đã tô đậm thêm tính cách và phóng đại nhân vật này lên rất nhiều. So với Đặng Lân
trong Hoàng Lê nhất thống chí, Đặng Lân trong Đêm hội Long Trì cường bạo hơn và
dâm ác hơn.
Ở Đặng Lân, hầu như đã mất hẳn tính người không thể tìm thấy một chút ánh sáng của
lương tri. Hắn sống hoàn toàn bằng bản năng, chà đạp lên pháp luật một cách trắng trợn.
Cảnh hắn quây màn cưỡng hiếp con gái nhà lành ngay trên đường phố,cảnh hắn đem quân
đi bắt gái tơ về trong phủ thực hiện những hành vi dâm đãng thâu đêm suốt sáng, cảnh
những vụ giết người rùng rợn không gớm tay:
- “Cậu trời sấn lại, chém nhát dao, lấy chân đá cái thây văng ra xa”
- “Đặng Lân rút dao ra, đâm luôn mười mấy nhát đá cái thây sang một bên” [102,
tr.148].
Đặng Lân chém giết người thản nhiên như chém cây, chém củi. Những sự chém giết
ấy không mấy ngày không diễn ra trong phủ của hắn. Con người tửu sắc dâm dật và cái máu
điên thích thú quái gở là bắt giam hàng trăm thiếu nữ vô tội để hành lạc. Sau mỗi đêm thoả
mãn thú tính là hắn lại giết người, không chỉ là một mà có lúc hai ba người... tất cả những
cảnh đó đều được Nguyễn Huy Tưởng miêu tả tỉ mỉ và chi tiết với một thái độ căm giận sâu
sắc. Tuy nhiên Nguyễn Huy Tưởng không phải lúc nào cũng để cho Đặng Lân mê man đi
trong những hành động hiếp dâm, giết người đầy thú tính. Có những lúc Nguyễn Huy
Tưởng cũng để cho hắn tỉnh dậy làm người. Nhưng chỉ là những phút giây ngắn ngủi. Sống
bằng thú tính vẫn là bản chất của hắn. Với Đặng Mậu Lân, Nguyễn Huy Tưởng không bị
trói chặt vào sử liệu. Bằng cái nhìn tiểu thuyết, nhà văn làm sống lại một Đặng Mậu Lân
vừa vô lại, vừa ghê tởm. Qua ngòi bút miêu tả của Nguyễn Huy Tưởng, Đặng Mậu Lân đã
được sáng tạo trở thành một tính cách trọn vẹn nhất của bóng tối, của tội ác và sự lộng hành.
Bằng cái nhìn tiểu thuyết, các nhân vật lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng đã được soi
chiếu ở nhiều góc độ, từ lý lịch, diện mạo, tính cách đến tâm hồn... Tất cả đã tạo nên những
hình tượng nghệ thuật giàu sức sống, giàu tính hiện thực. Có thể nói không quá lời, nhiều
nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng sống động “Chân thực hơn cả
lịch sử”. Nhân vật lịch sử do ông sáng tạo khác xa với nhân vật của Phan Bội Châu trong
Trùng Quang tâm sử.
Bên cạnh những nhân vật có tên trong lịch sử, nhà văn còn chú tâm xây dựng tuyến
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
nhân vật hư cấu: Nguyễn Mại, Bảo Kim.... ông gắn kết các nhân vật hư cấu vào cốt chuyện
một cách hợp lý, nhuần nhuyễn. Mỗi nhân vật là một dáng vóc cụ thể, tính cách rõ nét và
một số phận đặc biệt.
Tóm lại: Cách xử lý lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng khá linh hoạt mà công phu. Sự
đào sâu vào những tâm tư của con người, sự nhấn mạnh vào số phận của từng nhân vật, nhu
cầu cắt nghĩa mọi việc theo những điều mình chiêm nghiệm, suy ngẫm đã khiến người đọc
nghĩ rằng lịch sử đích thực của tác phẩm là lịch sử hư cấu. Nhưng nó là như thế. Điều này
hoàn toàn phù hợp với tinh thần của tiểu thuyết, không ngừng “nhận thức lại” lịch sử. Và
như vậy, bức tranh lịch sử không mang giá trị tự thân mà được sáng tạo theo những ý nghĩa
mới mang tính chân thực thời đại. Cái vỏ lịch sử thời Trần (An Tư), thời Lê (Đêm hội
Long Trì) có những điểm tương đồng thú vị nhất với điều đang ám ảnh nhà văn từ hiện tại.
Quan niệm này chính là một đóng góp của Nguyễn Huy Tưởng trong quá trình hiện đại hóa
văn học.
3.4. Không gian lịch sử.
Việc tái tạo lại không gian lịch sử đòi hỏi nhà văn phải có vốn liếng giàu có về truyền
thống, văn hóa, địa lý, phong tục tập quán, ngôn ngữ, trang phục của thời đại lịch sử đã qua.
Nguyễn Tử Siêu, Nguyễn Huy Tưởng, Chu Thiên, Hà Ân...là những tác giả đã rất thành
công trong việc dùng vốn kiến thức uyên thâm, phong phú của mình tạo được không khí
thời đại cho tiểu thuyết lịch sử.
Trong cảnh Đêm hội Long Trì, không gian lịch sử được cảm nhận qua bức tranh toàn
cảnh của xã hội Việt Nam thời Lê Cảnh Hưng mà Nguyễn Huy Tưởng đã tái tạo một cách
chân thực và sinh động. Đằng sau cái vẻ nhàn tản, mơ mộng có vẻ như thái bình thịnh trị
của xã hội thời Trịnh Sâm là cả những giông tố, rối ren, thối nát, suy tàn và sự ăn chơi xa
xỉ... nhà Lê thì bạc nhược, chúa Trịnh Sâm thì bị Đặng Thị Huệ thao túng. Thấp thoáng sau
cái bóng của những nhân vật đã từng được ghi trong sử sách như Đặng Thị Huệ, Đặng Mậu
Lân, là cảnh triều chính mục ruỗng, tranh giành quyền lực, sát hại trung thần, dung túng cho
cái ác hoành hành, ức hiếp nhân dân, mọi kỷ cương phép tắc bị đảo lộn. Theo lời của Bảo
Kim và Lưu Sĩ Trực, “Chán vạn người công thần chỉ vì một tội nhỏ mà chết, vua chúa có
luận công bao giờ”, còn quan lại “bênh dân thì ít, hại dân thì nhiều”. Bối cảnh đó còn được
tô đậm qua những cảnh Đặng Lân chém giết người một cách “vô tư” và ngang nhiên làm
điều xằng bậy, quây màn ức hiếp con gái nhà lành ngay trên đường phố. Đặng Lân xuất hiện
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
nơi nào là nơi đó có loạn lạc, rụng rời, khiếp sợ hơn cả chạy giặc ngoại xâm.
“Tưởng như có một trận cuồng phong thổi trong đám hội, người chạy như ong: tiếng
kêu, tiếng thét, tiếng gọi nhau liên tiếp... một thiếu phụ đầu tóc rũ rượi chạy vào hổn hển:
- Ai cứu tôi với. Cậu trời...” [102,tr44].
Hay: Khi thấy cửa phủ Đặng Lân mở rộng và cờ quạt ở trong ra, mấy người hàng phố
kêu lên ba tiếng thất thanh:
- Cậu trời đấy!
Tức thì người ta chạy tán loạn, nhất là những đàn bà con gái. Tiếng kêu trời kêu đất,
xen lẫn với những tiếng đóng cửa ầm ầm”.
Không gian lịch sử của Đêm hội Long Trì đã hiện dần qua từng chi tiết như vậy.
Trong An Tư, không khí loạn của những ngày binh lửa chiến tranh và không khí hừng
hực, sục sôi âm vang của những ngày hào hùng đánh giặc cũng in dấu lên mỗi số phận, lên
từng sinh hoạt của quân dân nhà Trần một cách chân thực. Bức tranh đất nước trong những
ngày chuẩn bị đánh giặc thật điển hình: “Người khuân vác, người luyện tập, tiếng đóng
thuyền xen lẫn với tiếng rèn binh khí... Vạn Kiếp tấp nập trong một bầu không khí tưng
bừng sửa soạn. Binh khí chất đống lên trong các kho, lương thảo quyên được của dân gian
tải về như mắc cửi...” [102. tr273]. Tái hiện lại bức tranh trong quá khứ, nhà văn còn gợi
được cả không khí căng thẳng phập phồng những lo âu, chết chóc: “Người dân đương thổn
thức lo âu. Các gia đình chỉ còn trơ những mái tóc điểm sương tựa cửa, những khăn yếm
chạy quanh, những miệng thơ gọi bố... Nhiều nhà mang trăn trở vì tin dữ đã đưa về. Biết
bao người chết đang bơ vơ bên mộ phần tiên tổ! Người còn sống ngẩn ngơ trước bàn thờ
lạnh giá...” [102.tr.269].
Diện mạo thời đại cũng được nhà văn tập trung miêu tả qua không gian văn hóa lịch
sử. Bằng vốn kiến thức sâu rộng, Nguyễn Huy Tưởng đã cung cấp cho người đọc những
hiểu biết tỉ mỉ, sống động về lễ hội Long Trì ở Thăng Long thời Trịnh Sâm. Nhà văn đã vẽ
lại một cách cụ thể lai lịch, ý nghĩa của đêm hội cho đến trang phục, quang cảnh, cách bài
trí, tục lệ... Trong những đoạn viết về đêm hội Long Trì, Nguyễn Huy Tưởng thực sự là
người am tường và rất công phu nghiên cứu địa chí Thăng Long thế kỷ XVIII để có được sự
chính xác trong việc miêu tả hồ Long Trì với những hàng phù dung, dương liễu treo muôn
thứ đèn lồng bằng gấm vóc, phủ cung phi đầy hương sắc các loại hoa thoang thoảng đưa vào
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
trong gió mát... Tái hiện lại bức tranh trong quá khứ, nhà văn còn gợi được cái không khí
khi tưng bừng náo nhiệt, khi thi vị du dương của những cảnh, những tình, với những tài tử
giai nhân “ngựa xe như nước áo quần như nem” trong đêm hội.
Sự chính xác, tỉ mỉ về việc sử liệu được kết hợp với trí tưởng tượng phóng khoáng,
bay bổng tạo nên những trang viết uyển chuyển, tài hoa giàu sức hấp dẫn đã hoàn toàn thủ
tiêu ở người đọc cảm giác đan xen những mẫu vật hóa thạch trong viện bảo tàng hay đang
đọc ký sự lịch sử. Tác giả tỏ ra khá linh hoạt khi xử lý chất liệu lịch sử. Cảm quan văn hóa
phương Đông cũng là một lợi thế giúp nhà văn nhạy cảm khi nắm bắt những chuyển động
âm thầm của bản chất lịch sử để khái quát chính xác cái “hằng số lịch sử”. Những đoạn kể,
tả, đối thoại giữa nam nữ thanh niên cách đây gần hai thế kỷ, hoàn toàn do tác giả sáng tạo
ra mà vẫn tự nhiên, không gây phản cảm vì được sử dụng hợp lý, đúng chỗ. Đó là phương
thức “nhào nặn” lịch sử đầy tính sáng tạo của một nhà văn thông minh tài hoa, giàu bản
lĩnh. Nhờ đó mà cái đã quen bỗng trở nên mới lạ hấp dẫn.
3.5. Những thời điểm, giai đoạn lịch sử có nhiều biến động dữ dội mạnh mẽ với
Đêm hội Long Trì, An Tư, Sống mãi với thủ đô, Lá cờ thêu sáu chữ vàng.
Nguyễn Huy Tưởng là một trong số hiếm hoi những tiểu thuyết gia có sở trường về đề
tài lịch sử.
Với cảm quan lịch sử nhạy bén, Nguyễn Huy Tưởng đã tái hiện lịch sử theo lối riêng
của mình, khai thác những sự kiện nằm ở khúc quanh của lịch sử, trong thời điểm xảy ra các
biến cố dữ dội, đầy sóng gió, thác ghềnh với con người và đất nước.
Tiểu thuyết Đêm hội Long Trì viết về thời điểm nhân dân oán ghét đến tột độ bọn quý
tộc phong kiến Trịnh Sâm, Đặng Thị Huệ, Đặng Mậu Lân. Đó là thời điểm lịch sử xã hội
phong kiến Việt Nam suy tàn, những mâu thuẫn giữa nhân dân và tập đoàn thống trị ngày
càng bộc lộ một cách sâu sắc. An Tư viết về giai đoạn nhà Trần chuẩn bị lực lượng chiến
đấu chống quân Nguyên xâm lược 1284 - 1285. Tác phẩm là bức tranh hoành tráng về cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên. Thời Trần là một trong những thời đẹp đẽ của dân tộc
Việt Nam, của chế độ phong kiến Việt Nam. Nguyễn Huy Tưởng đã biết nắm bắt điểm mốc
vàng son này trong lịch sử dân tộc để sáng tác.
An Tư là một thiên truyện hùng tráng viết về một thời oanh liệt của dân tộc. Trong tác
phẩm ông mô tả hội nghị Diên Hồng, những khoảnh khắc thế trận giữa ta và địch.
Lá cờ thêu sáu chữ vàng kể lại một phần rất nhỏ về chiến thắng vĩ đại của quân dân
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
ta chống quân Nguyên và cũng chỉ thuật lại một phần cuộc đời của Hoài Văn Hầu, Trần
Quốc Toản, vị anh hùng niên thiếu của dân tộc ta xưa kia. Viết tác phẩm này, Nguyễn Huy
Tưởng đã biết khai thác sự kiện lịch sử Hội nghị Bình Than ở đời Trần, sự kiện không được
vào dự họp khiến Trần Quốc Toản đã hậm hực bóp nát quả cam của vua Nhân Tông ban
cho, về nhà Trần Quốc Toản giương cao lá cờ thêu sáu chữ vàng” Phá cường địch báo
hoàng ân” ( phá giặc mạnh, trả ơn vua) và chiêu mộ sáu trăm dũng sĩ thiếu niên làm lễ tế cờ,
xuất quân đánh giặc.
Sống mãi với thủ đô là tiểu thuyết lịch sử viết về giai đoạn lịch sử gần đây nhất với sự
kiện Hà Nội trong đêm nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc vào cuối năm 1946.
Nguyễn Huy Tưởng rất có ý thức về thời gian nghệ thuật trong tác phẩm. Chiều dài của lịch
sử, thời điểm đầu của cuộc kháng chiến thủ đô có ý nghĩa hết sức quan trọng để miêu tả
cuộc sống và con người trên mảnh đất thiêng liêng này. Đông Đô, Thăng Long, Hà Nội, đất
đế đô ngàn năm văn vật đã có biết bao nhiêu trang sử oanh liệt, nhưng cũng đã từ một thế kỷ
nay, âm thầm rên xiết dưới ách nô lệ của bọn thực dân xâm lược. Hà Nội đón chào cách
mạng tháng Tám giữa một mùa thu với niềm vui trào dâng của những thác người cuồn cuộn
xuống đường biểu dương sức mạnh, với hàng rừng cờ đỏ sao vàng rực rỡ trong khí thế chiến
thắng. Hà Nội nén lòng chịu đựng những gian khổ mỗi khi bóng đen của kẻ thù lại xuất hiện
với dáng vẻ khiêu khích và nghênh ngang trên đường phố. Tình thế đổi thay từng ngày,
không khí chính trị và xã hội phức tạp, lịch sử như bị dồn nén lại trong từng bước đi nặng
nề, dè dặt báo hiệu cho sự bùng nổ quyết liệt. Quá trình ấy tích tụ ở bên trong một sự
chuyển biến mạnh mẽ của quần chúng cách mạng. Từ 19/08/1945 đến 19/12/1946, khoảng
thời gian thật ngắn ngủi nhưng chính quyền cách mạng đã tạo được trong lòng nhân dân nền
móng tư tưởng và tình cảm vững chắc của chủ nghĩa yêu nước. Nỗi nhục nhã ê chề của cuộc
đời nô lệ và niềm vui tự do đầu tiên, ý thức về tổ quốc độc lập, về chính quyền nhân dân
trong những nhận thức ban đầu thiêng liêng và mới mẻ, tình cảm với đồng bào, đồng chí...
Tất cả đã thấm sâu và làm đổi thay tận gốc, cuộc sống tinh thần của nhiều người. Nguyễn
Huy Tưởng đã nắm bắt và thể hiện khá trọn vẹn những chuyển động sâu sắc và điển hình
của những năm tháng ấy, những năm tháng đã đi vào lịch sử. Từng sự kiện lịch sử, từng
hiện tượng chính trị xã hội nổi bật đã được đóng khung thời gian theo khuôn khổ lịch sử
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
trong từng trang viết của nhà văn.
PHẦN KẾT LUẬN
Khảo sát “Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng”là tìm hiểu mối
liên hệ giữa phong cách và thể loại, bởi vì cảm hứng lịch sử vừa là một phương diện của nội
dung tư tưởng tác phẩm vừa là một phương diện của phong cách nghệ thuật.
Từ việc tìm hiểu, khảo sát trên, có thể rút ra mấy kết luận sau đây về cảm hứng lịch sử
trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng.
1.Tiểu thuyết lịch sử lâu nay vẫn là mảng văn học chìm khuất so với những loại hình
tiểu thuyết khác nhưng với Nguyễn Huy Tưởng tiểu thuyết lịch sử là một thành tựu quan
trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông.Nó thể hiện tài năng, tâm huyết và chứa đựng những
tư tưởng lớn của nhà văn. Càng chiêm nghiệm về thời đại, về lịch sử, Nguyễn Huy Tưởng
càng day dứt khôn nguôi về số phận con người, số phận dân tộc. Ông luôn trăn trở và đi tìm
cái mới cho tư tưởng của người cầm bút.
2.Nguyễn Huy Tưởng đã viết tiểu thuyết lịch sử với một phong cách riêng. Sự kết hợp
giữa tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử trong tác phẩm của ông là một trong những bước bức
phá ngoạn mục đầy thú vị.Vừa coi trọng yếu tố lịch sử, vừa coi trọng yếu tố tiểu thuyết, nhà
văn đã sử dụng một cách nhuần nhuyễn mối quan hệ giữa lịch sử và hư cấu nghệ thuật, tạo
nên những tác phẩm bề thế nhưng có một dáng dấp ổn định và chững chạc. Ông đã kết hợp
các thủ pháp tự sự truyền thống với kỹ thuật tiểu thuyết hiện đại để sáng tạo nên một hệ
thống nhân vật giàu tính biểu tượng và sinh động. Đặc biệt với nghệ thuật trần thuật linh
hoạt, luân chuyển điểm nhìn trần thuật, nhất là việc tạo ra các tình huống thử thách, và xây
dựng độc thoại nội tâm, tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng đã thật sự thoát ra khỏi lối đi
quen thuộc và trở thành tiền đề cho một hướng đi mới của tiểu thuyết lịch sử sau này. Ngôn
ngữ trong tiểu thuyết của ông đã thuyết phục được nhiều độc giả khó tính, có sức hấp dẫn
đối với đông đảo bạn đọc.Bởi ông đã “hoà giải” được ngôn ngữ lịch sử cổ kính trang nhã và
ngôn ngữ tiểu thuyết,vửa sang trọng đài các, vừa dân dã nôm na, vừa đậm màu sắc triết
lý,vừa giàu chất trữ tình.
3.Nhiều nhà văn khi khai thác những đề tài lịch sử thường ít khi đi theo đúng mạch
cảm hứng lịch sử. Họ có thể nhìn hiện thực lịch sử bằng con mắt phán xét của người đời
sau, gán cho những hiện thực lịch sử ấy một sắc thái tiểu thuyết nào đó, tùy theo cảm hứng
sáng tác khơi nguồn ở họ. Khái niệm cảm hứng lịch sử là một khái niệm chưa được định
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
danh.Dựa trên cách lập thuyết về cảm hứng sáng tác, qua quá trình khảo cứu, chúng tôi sơ
bộ đưa ra khái niệm như sau: Cảm hứng lịch sử là cảm hứng sáng tác xuất phát từ cảm quan
về hiện thực lịch sử, trong đó nhà văn lấy lịch sử làm đề tài, chất liệu để tạo ra thế giới hình
tượng, xác lập cho mình một điểm nhìn vào quá khứ, tạo ra giọng điệu phù hợp với điểm
thời gian mà nó tái hiện.
4.Nguyễn Huy Tưởng là một trong số ít những nhà văn viết về quá khứ bằng cảm
hứng lịch sử. Cảm hứng lịch sử là cảm hứng chủ đạo trong văn nghiệp của ông, nó xuất phát
từ tình yêu, lòng đam mê đầy tự hào của nhà văn với lịch sử dân tộc. Cảm hứng ấy gắn liền
với lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm của người công dân Nguyễn Huy Tưởng, đồng thời
cũng chứa đựng cả chất nhân văn cao cả trong cái nhìn của nhà văn đối với cuộc đời. Với
cảm hứng lịch sử thấm đượm chất nhân văn ấy, Nguyễn Huy Tưởng là một trong số những
tác giả hàng đầu của thế kỷ XX, có đóng góp lớn cho một thể loại quan trọng trong nền văn
học dân tộc là tiểu thuyết lịch sử.
5.Cảm hứng lịch sử ở Nguyễn Huy Tưởng mang dấu ấn lịch lãm, uyên thâm của một
ngòi bút am tường về văn hóa, giàu triết lý, suy tư sâu sắc về cuộc đời và con người. Dù viết
về quá khứ bằng giọng văn trang nghiêm, cổ kính nhưng những tiểu thuyết lịch sử của ông
vẫn cuốn hút người đọc ở hơi thở gần gũi của nhịp sống thực tại. Thế giới hình tượng trong
tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng là sợi dây kết nối những chiêm nghiệm của nhà
văn từ quá khứ về hiện tại và ẩn chứa cả những suy nghiệm đối với mai hậu. Đọc văn ông,
ta không chỉ hiểu sâu sắc hơn về những gì đã diễn ra trong trường kỳ lịch sử của dân tộc mà
còn thấu rõ tâm tư và suy nghĩ của những con người làm nên lịch sử ấy. Những trang viết
của ông chứa đựng cả niềm đau và tự hào. Cả phần sáng lẫn phần tối của quá khứ, rất chân
thực mà cũng đầy hư cấu. Điều đáng nói là nhà văn luôn hướng người đọc tới những giá trị
nhân bản, nhân văn, dù ở trong bất kỳ đề tài nào, thời chiến hay thời bình. Vì vậy, cho đến
hôm nay, dù đề tài lịch sử đã đi vào rất nhiều trong sáng tác của các nhà văn hiện đại, với
những hình thức mới lạ, những khuynh hướng cách tân nhưng những tiểu thuyết của
Nguyễn Huy Tưởng vẫn còn nguyên giá trị của nó và đã trở thành cổ điển, mẫu mực.
5.Nhìn lại vấn đề văn học và nhà trường, chúng tôi nhận thấy việc đưa tiểu thuyết lịch
sử vào nhà trường là rất cần thiết. Với những tiểu thuyết lịch sử mang tính giáo dục như
Đêm hội Long Trì, An Tư hay Sống mãi với thủ đô, học sinh sẽ tiếp nhận những tri thức về
quá khứ dân tộc một cách hào hứng hơn. Trong chương trình hiện hành, các soạn giả đã đưa
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
vào hai tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng và Vũ Như Tô. Tuy nhiên, Lá cờ thêu sáu chữ
vàng có thể phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh song Vũ Như Tô là một tác phẩm
có tầm tưởng tượng quá lớn, triết lý quá sâu sắc, e rằng không phù hợp với nhận thức của
lứa tuổi học sinh phổ thông. Vậy nên chúng tôi mạnh dạn đề xuất với những người biên
soạn chương trình: Nên đưa một trong các tiểu thuyết Đêm hội Long Trì, An Tư, Sống
mãi với thủ đô vào giới thiệu và bước đầu cho học sinh tìm hiểu. Đây cũng là tâm ý của
nhà văn khi sáng tác, là mong muốn để thế hệ sau không quay lưng lại với lịch sử nước nhà
nhất là trong bối cảnh hội nhập toàn cầu như hiện nay.
Trong khuôn khổ cho phép, luận văn không thể trình bày hết những cảm nhận, phân
tích trong quá trình nghiên cứu về cảm hứng lịch sử của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng qua
bốn tiểu thuyết. Chúng tôi hy vọng đã đóng góp môt phần nhỏ ý kiến vào công trình nghiên
cứu về tác giả Nguyễn Huy Tưởng, đồng thời mong muốn có thể thêm tiếng nói khẳng định
giá trị của một thể loại tiểu thuyết quan trọng nhưng lâu nay vẫn bị khuất lấp. Chúng tôi
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
mong sẽ có thể phát triển, hoàn thiện hơn đề tài này trong một tương lai không xa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hà Ân, Vài ý kiến về sự thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong truyện lịch
sử phục vụ các em, Tạp chí văn học số 3 /1979.
2. Lại Nguyên Ân, Suy nghĩ về một lối tiếp cận lịch sử, Tạp chí Nghệ thuật điện
ảnh, số 3/ 1990.
3. Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1990.
4. Hoàng Nguyên Cát, Một phong cách uyên thâm lịch lãm (trong “Nguyễn Huy
Tưởng - Một sự nghiệp chưa kết thúc”), Viện văn học, 1992.
5. Nguyễn Minh Châu, Bên nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cùng ngắm Hồ Gươm -
Trang giấy trước đèn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,1994.
6. Nguyễn Phương Chi, Sống mãi với thủ đô (mục từ), Từ điển văn học, tập II,
NXB Khoa học Xã Hội, Hà Nội, 1984
7. Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Huy Tưởng nhật ký, tập I-II-III, NXB Thanh
niên Hà Nội, 2006.
8. Hoàng Định, Đêm hội Long Trì, Hà Nội mới chủ nhật, 25/3/1990.
9. Anh Đức, Nhớ anh Nguyễn Huy Tưởng, Văn nghệ 3/8/1985.
10. Hà Minh Đức, Nguyễn Huy Tưởng - nhà văn trưởng thành dưới chế độ mới,
Tạp chí Nghiên cứu Văn học 10/1960.
11. Hà Minh Đức, Sống mãi với thủ đô tác phẩm cuối cùng của Nguyễn Huy
Tưởng, Nhân dân 18/6/1961.
12. Hà Minh Đức - Phan Cự Đệ, Nguyễn Huy Tưởng (19/12/1960),NXB Văn học,
Hà Nội, 1966.
13. Hà Minh Đức, Lời giới thiệu kịch Nguyễn Huy Tưởng (Vũ Như Tô, Cột đồng
Mã Viện, Bắc Sơn, Những người ở lại), NXB Văn học, Hà Nội,1963.
14. Hà Minh Đức, Nguyễn Huy Tưởng - Nhà văn Việt Nam (1945 - 1975), NXB
Đại học và THCN, Hà Nội, 1979.
15. Hà Minh Đức, Lời giới thiệu tuyển tập Nguyễn Huy Tưởng, NXB Văn học,
Hà Nội, 1984.
16. Hà Minh Đức, Đêm hội Long Trì trên màn ảnh, TC Nghiên cứu nghệ thuật điện
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
ảnh, tháng 3/1990.
17. Hà Minh Đức, Nguyễn Huy Tưởng - Khảo luận văn chương, NXB khoa học xã
hội,Hà Nội, 1997
18. Đoàn Giỏi, Nguyễn Huy Tưởng, một người thầy, một người bạn, một người
anh, Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh 26/7/1985.
19. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên),Từ điển thuật ngữ
văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1997.
20. Đỗ Đức Hiếu, Bi kịch Vũ Như Tô, Tạp chí văn học số 10,1997
21. Tô Hoài, Lời giới thiệu Nguyễn Huy Tưởng tuyển tập, NXB Tác phẩm mới,
Hà Nội,1978.
22. Tô Hoài, Nhà văn Hà Nội Nguyễn Huy Tưởng, NXB Tác phẩm mới, Hà
Nội,1978.
23. Tô Hoài, Lời giới thiệu” Truyện viết cho thiếu nhi” của Nguyễn Huy Tưởng,
NXB Văn học, Hà Nội, 1996.
24. Phạm Hổ, Nguyễn Huy Tưởng và những truyện viết cho thiếu nhi- Lời giới
thiệu tập truyện Tìm mẹ. NXB Kim Đồng,Hà Nội, 1982.
25. Nguyên Hồng, Gác Nguyễn Huy Tưởng,Tạp chí văn học số 4, 1984.
26. Nguyên Hồng, Những câu chuyện bỏ dở, Tạp chí Văn nghệ số 40, 1956.
27. Thanh Huyền, Nguyễn Huy Tưởng - người viết sử bằng văn chương. Tạp chí
Xưa và nay, số 32, 10/1996.
28. Mai Hương, Nguyễn Huy Tưởng với những trăn trở và khát khao sáng tạo,
Tạp chí Văn học 11 + 12/6/1992.
29. Mai Hương, Trở về với tuổi thơ Nguyễn Huy Tưởng ( trong “Nguyễn Huy
Tưởng - Một sự nghiệp chưa kết thúc”), Viện Văn học, 1992.
30. Mai Thị Hương, Thao thức Nguyễn Huy Tưởng, Văn hóa số 24, 30/10/1996.
31. K.Pauxtopxki, Bông hồng vàng và bình minh mưa, NXB Văn học Hà Nội,
1999.
32. Nguyễn Khải, Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Văn học Hà Nội
số 177, 1961.
33. Lê Văn Lan, Nguồn sáng ở một nhà văn đi trước, (trong “Nguyễn Huy Tưởng
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
- Một sự nghiệp chưa kết thúc”), Viện Văn học, 1992.
34. Kim Lân, Những ngày cuối cùng của Nguyễn Huy Tưởng, Tạp chí Văn học số
106/ 1960.
35. Kim Lân, Nguyễn Huy Tưởng và sự làm việc của anh, Văn nghệ số 9, 1961.
36. Phong Lê, Sống mãi với thủ đô trong “Quá trình sáng tác của Nguyễn Huy
Tưởng”, Nghiên cứu văn học số 12/1961.
37. Phong Lê, Bàn thêm về Nguyễn Huy Tưởng, Nghiên cứu văn học số 7/1967.
38. Phong Lê, Sống mãi với thủ đô trong Quá trình sáng của Nguyễn Huy Tưởng,
(trong Nguyễn Huy Tưởng - Văn và người), NXB Văn học, Hà Nội ,1976.
39. Phong Lê, Nguyễn Huy Tưởng qua hai chế độ - Tác gia văn xuôi Việt Nam
hiện đại, NXB KHXH, 1977.
40. Phong Lê, Nguyễn Huy Tưởng - những vấn đề còn bỏ ngỏ,(trong Nguyễn Huy
Tưởng-Một sự nghiệp chưa kết thúc), Viện văn học, 1992.
41. Phong Lê, Nguyễn Huy Tưởng trong vầng sáng hồi nhớ, Đại đoàn kết,
12/4/1997.
42. Phong Lê, Nguyễn Huy Tưởng - văn xuôi và kịch, (trong Văn học trên hành
trình của thế kỷ XX), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997.
43. Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa,
Thành Thế Thái Bình, Lý luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002.
44. Nguyễn Thị Liên, Một số vấn đề lý luận về tiểu thuyết lịch sử (qua Sông Côn
mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác và Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh). Luận
văn thạc sĩ khoa học. Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội , 2004.
45. Nguyễn Văn Long, Nguyễn Huy Tưởng (mục từ) - Từ điển Văn học, tập II,
NXB khoa học xã hội, Hà Nội,1984.
46. Bùi Văn Lợi, Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến
1945, Luận án tiến sĩ năm 1999, ĐH sư phạm Hà Nội.
47. Lưu Văn Lợi, Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trước khi là nhà văn, Tạp Chí Văn
học 5 + 6/1992.
48. M.B. Khrapchenkô, Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn
học, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1978.
49. Trần Đình Nam, Nguyễn Phương Chi, Lời giới thiệu Đêm hội Long Trì NXB
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
Hà Nội, 1985.
50. Trần Đình Nam, Nguyễn Huy Tưởng với đề tài lịch sử, Văn nghệ, 23/12/1985.
51. Đỗ Hải Ninh, Tiểu thuyết Hồ Quý Ly trong sự vận động của tiểu thuyết lịch
sử nửa sau thế kỷ XX, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003.
52. Nguyên Ngọc, Nguyễn Huy Tưởng và quan niệm kẻ sĩ - Nguyễn Huy Tưởng
toàn tập, tập V, NXB Văn học Hà Nội, 1996.
53. Mai Ngữ, Nhớ về Nguyễn Huy Tưởng, ( trong “ Nguyễn Huy Tưởng Một sự
nghiệp chưa kết thúc”), Viện văn học, 1992.
54. Như Phong, Vài điều ghi nhận trên một số tác phẩm văn học gần đây, Văn
nghệ, 9/1991.
55. Duy Phương, Một nhà văn Nguyễn Huy Tưởng về Dục Tú, Người Hà Nội,
3/2/1990.
56. Dương Trung Quốc, Lời giới thiệu Đêm hội Long Trì (Bộ ba tác phẩm gồm
Đêm hội Long Trì, An Tư, Vũ Như Tô), NXB Hà Nội, 1999.
57. Trần Đình Sử, Thi pháp học hiện đại - khuynh hướng - hệ hình -thành tựu,
NXB Giáo dục, Hà Nội,2003.
58. Ngô Thảo, Văn nghệ một thời nhìn qua lỗ khóa-(trong “Nguyễn Huy Tưởng
- Một sự nghiệp chưa kết thúc”), Viện văn học, 1992.
59. Nguyễn Huy Thắng, Cha tôi - hình ảnh dệt từ trí tưởng tượng, Tạp chí Văn
học, số 4, 7 + 8/1990.
60. Nguyễn Huy Thắng biên soạn, Nguyễn Huy Tưởng - văn và người, NXB Hội
nhà văn Hà Nội,1991.
61. Nguyễn Huy Thắng, Ấn tượng về những nhân vật cùng cảnh ngộ, (trong
“Nguyễn Huy Tưởng - văn và người”), NXB Hội nhà văn Hà Nội, 1991.
62. Nguyễn Huy Thắng, Cha tôi viết Sống mãi với thủ đô, Tạp chí Văn học, 6/1995.
63. Nguyễn Huy Thắng, Xây Cửu trùng đài sân khấu, Thế giới mới, số 168,
15/1/1996.
64. Nguyễn Huy Thắng, Những khúc sông, mảnh hồ trong cuộc đời cha tôi,Tạp
chí Tia sáng, 11/1996.
65. Nguyễn Huy Thắng, Cha tôi trong Sống mãi với thủ đô, Giáo dục và thời đại,
3/1/1997.
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
66. Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Huy Tưởng sống mãi, Tác phẩm mới, số 12/1996.
67. Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Huy Tưởng - khát vọng một đời văn, Tuổi trẻ
chủ nhật, số 10, 27/4/1997.
68. Nguyễn Huy Thắng, Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, Giáo dục và thời đại chủ
nhật, 27/4/1997.
69. Nhiều tác giả - Nguyễn Huy Thắng biên soạn, Nguyễn Huy Tưởng trong vầng
sáng hồi nhớ, NXB Hà Nội, 1997.
70. Nguyễn Huy Thắng, Từ một tập giấy mỏng cha tôi để lại, Khoa học và Tổ
quốc, 5/1999.
71. Nguyễn Huy Thắng, Cụ Cử - người thầy của cha tôi, Giáo dục và thời đại chủ
nhật, số 52/2000.
72. Nguyễn Đình Thi, Vĩnh biệt Nguyễn Huy Tưởng, Văn học số 105, 1960.
73. Nguyễn Ngọc Thiện, Sống mãi với thủ đô - “Không chỉ là phản ánh, mà còn là
tổng kết, soi sáng”,( In trong “Văn chương và tác giả”). NXB Thanh niên, Hà
Nội, 1995.
74. Thiều Quang, Lá cờ thêu sáu chữ vàng- truyện lịch sử của Nguyễn Huy
Tưởng, Tạp chí Văn nghệ 1961.
75. Hoàng Trung Thông, Nhớ lại đôi điều về Nguyễn Huy Tưởng, TC Văn học số
4/1984.
76. Nguyễn Bích Thu - Tôn Thảo Miên, Nguyễn Huy Tưởng - khát vọng một đời
văn, (trong “Nguyễn Huy Tưởng về tác giả và tác phẩm”), NXB Giáo dục, Hà
Nội, 1999.
77. Nguyễn Bích Thu - Tôn Thảo Miên tuyển chọn và giới thiệu, Nguyễn Huy
Tưởng về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999.
78. Phan Đình Dũng, Cảm hứng lịch sử trong kịch nói của Nguyễn Huy Tưởng,
Luận văn thạc sĩ khoa học. Trường ĐH Sư phạm TP. HCM, 2003.
79. Cao Xuân Thử - “Cung đình” trong bộ ba tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng -
Nguyễn Huy Tưởng, một sự nghiệp chưa kết thúc, Viện văn học, 1992.
80. Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Huy Tưởng - nghệ sĩ và công dân, Nhân dân,
17/4/1997.
81. Hoàng Tiến, Nguyễn Huy Tưởng với đề tài Hà Nội, Tạp Chí Văn học số
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
5/1984.
82. Nguyễn Tuân, Lũy Hoa - Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập 3, NXB Văn học, Hà
Nội,1996.
83. Nguyễn Tuân, Sống mãi với thủ đô - Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập 3, NXB Văn
học,Hà Nội, 1996.
84. Đinh Trọng Tuấn, Đêm hội Long Trì - Một bộ phim thành công, Văn nghệ,
31/3/1990.
85. Trịnh Thị Uyên, Nhà tôi - kỷ niệm của một thời và mãi mãi, Tạp chí văn học,
số 5, 9+10,1991.
86. Nguyễn Huy Tưởng với Hà Nội, Văn nghệ 6/10/1990.
87. V.G. Biêlinxky, Toàn tập tác phẩm, tập VII,(bản dịch), NXB Viện Hàn Lâm
Khoa Học Liên Xô, 1955.
88. V.G. Biêlinxky, Tác phẩm chọn lọc,(bản dịch), M.1975.
89. Hà Ân ,Trăng nước Chương Dương, NXB Văn học, Hà Nội,2000.
90. Phan Trần Chúc ,Tĩnh Đô Vương, NXB Văn học, Hà Nội,2000.
91. Hoàng Quốc Hải, Thăng Long nổi giận,NXB Văn học,Hà Nội,2000.
92. Lan Khai, Ái tình và sự nghiệp, NXB Văn học, Hà Nội,2000.
93. Nguyễn Triệu Luật, Loạn kiêu binh, NXB Văn học, Hà Nội,2000.
94. Nguyễn Triệu Luật, Hòm đựng người, NXB Văn học,Hà Nội,2000.
95. Nguyễn Triệu Luật, Bà Chúa Chè, NXB Văn học, Hà Nội,2000.
96. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí, NXB Văn học,Hà Nội,2000
97. Nguyễn Tử Siêu, Trần Nguyên Chiến kỷ,NXB Văn học, Hà Nội,2000.
98. Nguyễn Huy Tưởng, An Tư,NXB Kim đồng, Hà Nội,2005.
99. Nguyễn Huy Tưởng, Đêm hội Long Trì,NXB Kim Đồng,Hà Nội,2005.
100. Nguyễn Huy Tưởng, Sống mãi với thủ đô, NXB Kim Đồng,Hà Nội,2005.
101. Nguyễn Huy Tưởng toàn tập - tập I - NXB Văn học, Hà Nội, 1996.
102. Nguyễn Huy Tưởng toàn tập - tập II - NXB Văn học, Hà Nội, 1996.
103. Nguyễn Huy Tưởng toàn tập - tập III - NXB Văn học, Hà Nội, 1996.
104. Nguyễn Huy Tưởng toàn tập - tập IV - NXB Văn học, Hà Nội, 1996.
105. Nguyễn Huy Tưởng toàn tập - tập V - NXB Văn học, Hà Nội, 1996.
106. Nguyễn Huy Tưởng - Nhà Trần - NXB Kim Đồng,Hà Nội, 2005.
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
107. Nguyễn Huy Tưởng - Lá cờ thêu sáu chữ vàng, NXB Kim Đồng,Hà Nội, 2005.
108. Nhiều tác giả , Những vấn đề thi pháp Dostoeveski, NXB Giáo dục, Hà Nội,
1993.
109. Nguyễn Văn Dân , Lý luận Văn học so sánh, NXB Khoa học Xã hội Hà
Nội,1998.
110. .M.BA KHTIN , Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), Bộ Văn
hóa Thông tin , trường viết văn Nguyễn Du,1992.
111. .Nguyễn Đình Chú,Các thế hệ nhà văn ngót 100 năm kế tiếp nhau soi lại lịch
sử, Văn học Việt Nam trên những chặng đường chống phong kiến Trung
Quốc xâm lược. NXB KHXH Hà Nội,1981.
112. Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại Việt Nam,NXB KHXH,Hà Nội,1989.
113. Nguyễn Tý , Thái Vũ - Nhà văn hiện đại Việt Nam người trung thành viết
tiểu thuyết lịch sử, Báo Văn nghệ số 39, 2003.
114. Lan Khai, Ai lên phố Cát, Phổ thông bán nguyệt san (số 4).
115. Nguyễn Triệu Luật, Tuyển tập lịch sử Nguyễn Triệu Luật, NXB Văn
học,1998.
116. Viện KHXH Việt Nam, Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, NXB KHXH, Hà
Nội,1993.
117. Trung tâm KHXH và NV Quốc gia, Viện nghiên cứu Hà Nội, Đại Việt sử ký
tiền biên, NXB KHXH , Hà Nội,1997.
118. Hà Ân , Quận He khởi nghĩa, NXB Quân đội Nhân dân,1963.
119. Lê Thanh, Cuộc phỏng vấn các nhà văn, NXB Đời mới (không có năm xuất
Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thị Phương Thoa
bản).

