BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THOA CẢM HỨNG LỊCH SỬ TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN HUY TƯỞNG LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Thành phố Hồ Chí Minh - 2007

Lời cảm ơn

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Hữu Tá, người thầy đã tận tình

hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn.

Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong

Tổ Văn học Việt Nam trường ĐHSP TP. Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em

trong thời gian em học tập tại trường.

Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân: Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp...

đã luôn luôn động viên giúp đỡ tôi để có được kết quả này.

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

Nguyễn Thị Phương Thoa

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài:

Nguyễn Huy Tưởng là một tác gia lớn của nền văn học Việt Nam thế kỷ XX, “chiếm

vị trí xứng đáng trên văn đàn trước và sau cách mạng tháng Tám” [76, 11]. Sinh năm 1912,

Nguyễn Huy Tưởng là bạn đồng thời với nhiều tác giả nổi tiếng trên văn đàn giai đoạn 1930

- 1945, nhưng ông chính thức gia nhập làng văn hơi muộn, đến đầu những năm 40 ông mới

thực sự sáng tác. Khát vọng một đời văn của ông vẫn còn dang dở khi ông ra đi ở tuổi 48,

dù vậy, khối lượng tác phẩm ông để lại khá đồ sộ. Ngoài sự đa dạng về thể loại, đề tài sáng

tác, sự nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng còn được đánh giá cao về giá trị tư tưởng và nghệ

thuật. Ông là một trong những nhà văn vinh dự được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn

học nghệ thuật (đợt I) năm 1996.

Văn nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng may mắn được các con ông và bạn hữu gìn giữ

rất cẩn thận, hầu như còn nguyên vẹn. Những sáng tác ấy bao gồm tiểu thuyết, kịch bản điện

ảnh , kịch nói, truyện phim, truyện thiếu nhi, bút ký..., thậm chí còn cả những trang nhật ký

viết từ thời ông còn là cậu học trò thành chung ở Hải Phòng (năm 1930) đến trang nhật ký

cuối cùng (đề ngày 21/6/1960) khi ông đang trên giường bệnh, ít ngày trước khi qua đời.

Thông thường khi tìm hiểu lịch sử tư tưởng của một nhà văn chúng ta chỉ có thể biết thông

qua việc nghiên cứu tác phẩm. Nhưng trong trường hợp nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, điều

may mắn hơn là chúng ta có thể xác định rõ ràng tư tưởng, cảm hứng và định hướng sáng

tác của tác giả qua những dòng nhật ký ông để lại. Có thể coi đó là kim chỉ nam hỗ trợ quá

trình nghiên cứu tác phẩm của nhà văn. Đề tài trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng khá

đa dạng và phong phú: quá khứ và hiện tại, nông thôn và thành thị, chiến trường và hậu

phương... nhưng trong những đề tài ấy, nhà văn có sở trường đặc biệt về đề tài lịch sử. Đây

cũng là bộ phận sáng tác có giá trị nhất trong văn nghiệp của ông. Đề tài lịch sử xuất hiện

trong nhiều thể loại sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng như: tiểu thuyết, kịch bản, truyện thiếu

nhi, truyện phim. Tâm huyết với nghề văn, nhưng Nguyễn Huy Tưởng còn đặc biệt tâm

huyết với lịch sử quê nhà, đó là vùng quê ngoại thành Hà Nội. Có lẽ vì thế mà ông gắn bó

với mảnh đất Thăng Long bằng mối tơ duyên kỳ lạ. Hầu hết các câu chuyện lịch sử mà ông

khai thác đều tập trung ở mảnh đất kinh kì, qua đó nhà văn thể hiện sự am hiểu sâu sắc tâm

lý, cá tính con người thủ đô, cũng như những truyền thống văn hóa, những giai thoại lịch sử

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

của vùng đất ngàn năm văn hiến này.

Đời văn của Nguyễn Huy Tưởng khởi đầu bằng vở kịch Vũ Như Tô và kết thúc với

cuốn tiểu thuyết còn dang dở Sống mãi với thủ đô. Chỉ xét riêng những tác phẩm lớn nầy

cũng đủ thấy tâm huyết nhà văn dồn cho Thăng Long. Đây là mảnh đất đã chứng kiến biết

bao thăng trầm của lịch sử dân tộc, nơi hội tụ hồn thiêng sông núi, gợi cho nhà văn niềm tự

hào vô bờ về quá khứ và niềm đau xót khi chứng kiến thủ đô ngập tràn trong khói lửa của

những ngày toàn quốc kháng chiến. Bằng những tri thức tự tìm tòi, học hỏi, Nguyễn Huy

Tưởng đã dựng lại một không gian lịch sử của Thăng Long xưa và Hà Nội nay, vừa chân

thật vừa sống động với những nét văn hóa sâu sắc, tinh tế. Đó vừa là tấm lòng vừa là sở

trường sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng. Có thể nói nhà văn Nguyễn Huy Tưởng là cây bút

tiêu biểu của khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử trong văn học Việt Nam hiện đại. Trong

những năm gần đây, giới nghiên cứu đã có nhiều công trình khoa học xoay quanh cuộc đời

và sự nghiệp của ông. Nhưng thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Nguyễn Huy Tưởng vẫn

còn những khoảng trống chưa được giới nghiên cứu tìm hiểu thấu đáo. Từ nhỏ, người

nghiên cứu để tài này đã được tiếp xúc với những truyện lịch sử dành cho thiếu nhi đầy

cuốn hút như Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Kể chuyện Quang Trung, cho đến những bộ tiểu

thuyết như Đêm hội Long Trì, An Tư, Sống mãi với thủ đô... do đó ít nhiều đã cảm nhận

về lịch sử dân tộc và phần nào cốt cách lịch lãm của văn phong Nguyễn Huy Tưởng. Trân

trọng và ngưỡng mộ tài hoa của nhà văn, chúng tôi chọn đề tài này với mục đích muốn có

một cái nhìn bao quát về cảm hứng chủ đạo trong sự nghiệp sáng tác nói chung và tiểu

thuyết nói riêng của Nguyễn Huy Tưởng, góp phần khẳng định vai trò và vị trí của một nhà

văn lớn đối với nền văn học Việt Nam hiện đại. Đó là lý do gợi dẫn chúng tôi tiếp cận với

đề tài: “Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng.”

2. Lịch sử vấn đề:

Cho đến thời điểm hiện tại, số lượng các bài viết, các công trình nghiên cứu, phê bình

và giới thiệu về con người và sự nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng tuy chưa sánh bằng những

tên tuổi cùng thời như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử... nhưng cũng

không phải là con số khiêm tốn. Hầu hết những bài viết và các công trình nghiên cứu về ông

đều là của các tác giả có tên tuổi, có uy tín trong giới nghiên cứu. Gần đây các tác giả

Nguyễn Bích Thu và Tôn Thảo Miên đã biên soạn, chọn lọc những bài phê bình, nghiên cứu

có chất lượng về nhà văn trong cuốn: Nguyễn Huy Tưởng - về tác gia và tác phẩm. Đây là

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

một công trình khá công phu, là nguồn tư liệu quý để chúng tôi có thể tham khảo, phục vụ

cho đề tài. Tổng hợp từ các ý kiến đánh giá, chúng tôi xin chọn lọc một số ý kiến và phân

loại như sau:

2.1. Những ý kiến đánh giá về đề tài lịch sử trong sáng tác của Nguyễn Huy

Tưởng:

Với vốn tri thức rộng và sâu, quá khứ dân tộc trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng

không bao giờ là một nhát cắt đơn giản mà là nhiều đường mạch gắn bó với lịch sử “Và lịch

sử bao giờ cũng là sự kết nối từ quá khứ đến hiện đại, đó là sự song hành hoặc tương phản

giữa một bên là bạo lực của ngoại xâm, của cường quyền, của những rối ren và náo động

của xã hội, với một bên là sự mỏng manh, sự bấp bênh của những số phận, những cuộc tình,

những đam mê và khát vọng của con người, trong đó chiếm vị trí trung tâm là người trí

thức” [42,97]

Cũng là một trong những tác giả tâm huyết với văn học thiếu nhi, nhà văn Tô Hoài đã

từng coi Nguyễn Huy Tưởng là một cây bút sử thi hết sức hùng tráng. Đọc những sáng tác

của Nguyễn Huy Tưởng về đề tài này, ông đã nhận xét : “Anh thèm có những tài năng nào

đó đem được cả nghìn năm lịch sử dựng nước biến thành bộ truyện chói lọi hàng trăm,

hàng trăm nhân vật anh hùng (...) Từ lòng mong muốn đưa tâm hồn các em tới những đỉnh

cao đẹp trong tư tưởng tình cảm, Nguyễn Huy Tưởng chọn chủ đề truyền thống theo lối

riêng của mình thể hiện qua những đề tài cổ tích và lịch sử (...). Trong văn học thiếu nhi

của ta, kể chuyện lịch sử và cổ tích, cho đến bây giờ, chưa có ai chuyên và thành công như

Nguyễn Huy Tưởng” [ 23].

Trong chuyên khảo Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960) Hà Minh Đức và Phan Cự

Đệ, đã nhận định: “Trong số các tác giả, Nguyễn Huy Tưởng là người có thế giới quan tiến

bộ nhất và đã cố gắng khai thác đề tài lịch sử một cách nghiêm túc và sáng tạo. Riêng

Nguyễn Huy Tưởng, trong tác phẩm của mình đã tỏ ra khá trung thành với tinh thần của

những thời đại quá khứ xa xưa. Để xây dựng những vở kịch và tiểu thuyết lịch sử của mình

Nguyễn Huy Tưởng rất chú ý tìm tòi nghiên cứu những tài liệu lịch sử, những tác phẩm của

các nhà văn quá khứ”. Trên cơ sở đó, hai nhà nghiên cứu khẳng định sự sáng tạo của nhà

văn: “Nguyễn Huy Tưởng đã có công nghiên cứu lịch sử nhưng anh không nô lệ tài liệu lịch

sử... Nguyễn Huy Tưởng đã đi sâu vào đời sống nội tâm, vào đời sống riêng của nhân vật,

chứ không phải chỉ trình bày nhân vật trong lúc mang quân phục lịch sử để diễu hành” (chữ

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

dùng của V.G. Biêlinxky). Năm 1996, Nguyễn Huy Tưởng được truy tặng giải thưởng Hồ

Chí Minh về văn học nghệ thuật, Hà Minh Đức trong cuốn sách giới thiệu về Các nhà văn

được giải thưởng Hồ Chí Minh, đã nhấn mạnh đến cảm hứng chủ đạo của ngòi bút

Nguyễn Huy Tưởng như sau: “Nguyễn Huy Tưởng đã khơi nguồn cho tác phẩm của mình từ

dòng lịch sử của dân tộc với bao trang hào hùng rực rỡ chiến công chống xâm lược. Lịch sử

được cảm nhận sâu sắc trong những ngày đen tối của cuộc đời hiện tại. Hiện tại không chỉ

liên hệ với quá khứ theo dòng thời gian mà nhiều khi là điểm xuất phát và là cảm hứng trực

tiếp để khai thác đề tài lịch sử” [77.60]. Trong lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Huy

Tưởng tập 1 (NXB Văn hóa Hà Nội, 1984), Hà Minh Đức đã đề cập: “Những sự kiện lịch

sử lớn lao đã được làm sống dậy chân thực và hào hùng trong tác phẩm của Nguyễn Huy

Tưởng. Có thể nói chất sử thi đã nảy nở trong cảm hứng lịch sử sâu sắc về đất nước trong

những phút trọng đại với những trang viết nhiều khói lửa về một dân tộc anh hùng” [15].

Nguyễn Bích Thu và Tôn Thảo Miên trong bài viết Nguyễn Huy Tưởng - khát vọng

một đời văn đã nhận xét: “Đối với nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Huy Tưởng là

một trong số hiếm hoi những tiểu thuyết gia có sở trường về đề tài lịch sử”. Dẫn lời nhà văn

Nguyễn Minh Châu, các nhà nghiên cứu cũng khẳng định trong bài viết này rằng: “Nguyễn

Huy Tưởng là một nhà văn đồng thời cũng là một nhà văn hóa”, cái nhìn của ông về lịch sử

là cái nhìn từ góc độ văn hóa học. Bài viết phân tích rõ cảm hứng của nhà văn Nguyễn Huy

Tưởng có sự gắn bó sâu sắc với lịch sử Thăng Long - Hà Nội. Mạch cảm hứng này xuyên

suốt trong những sáng tác của ông trong nhiều thể loại, ở nhiều thời khắc quan trọng của

mảnh đất này, từ cảm hứng về lịch sử Thăng Long thời nhà Trần chống quân Nguyên Mông,

đến ngày Hà Nội rực lửa căm hờn của buổi đầu kháng chiến chống Pháp, như lời nhà văn

Nguyễn Tuân nhận xét: “Đọc lại những tiểu thuyết lịch sử, kể cả Sống mãi với thủ đô,

người đọc vẫn gây gây mùi khói vấn vương ngàn năm Thăng Long chốn cũ” [83,324]. Các

nhà nghiên cứu cho rằng: “Trong các tiểu thuyết lịch sử của mình, Nguyễn Huy Tưởng

không chỉ muốn diễn đạt tri thức của ông về lịch sử... mà điều quan trọng hơn là muốn gieo

vào lòng họ những câu hỏi, đặt ra các vấn đề đối thoại trong sáng tác để mọi người cùng

nghiền ngẫm” [76,19]. Nhận định về các vở kịch của Nguyễn Huy Tưởng, hai nữ tác giả

viết: “Ngòi bút sử thi mang màu sắc lịch sử kết hợp với phong vị lãng mạn, trữ tình là đặc

điểm cơ bản trong kịch Nguyễn Huy Tưởng” [76, 32]. Vở Vũ Như Tô - vở kịch xuất sắc

nhất của kịch tác gia Nguyễn Huy Tưởng - đã thành công “ở chỗ tác phẩm vừa bảo đảm

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

tính chân thực lịch sử vừa có tính chân thực nghệ thuật” [76,32].

Nhà sử học Lê Văn Lan trong bài viết Nguồn sáng ở một nhà văn đi trước [33] đã

công nhận những ảnh hưởng của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng tới mình như sau: “Trong

khoảng hai mươi năm làm truyện lịch sử cho thiếu nhi, dưới ảnh hưởng của Nguyễn Huy

Tưởng, điều mà tôi học được, chủ yếu là qua những truyện lịch sử viết cho thiếu nhi của

anh - kể cả học mà chưa hành được - là tính khoa học, tính văn học - văn nghệ, tính văn học

thiếu nhi, đều ở mức cao”.

Trong bài Khắc khoải một đời văn nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Anh có viết: “Đọc

Nguyễn Huy Tưởng, ai cũng nhận ra một cảm hứng lịch sử dồi dào bao trùm phần lớn các

tác phẩm. Cái nguồn dồi dào ấy đủ sức phân nhánh ra nhiều thể loại: kịch lịch sử, tiểu

thuyết lịch sử, truyện lịch sử viết cho thiếu nhi... và làm nên nét đặc sắc của văn ông” [77,

209]. Viết về Những trăn trở và khát khao sáng tạo của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng,

Mai Hương nhận xét: “Những suy nghĩ sâu sắc ấy về lịch sử về dân tộc đã góp phần khơi

gợi nguồn mạch riêng cho ngòi bút Nguyễn Huy Tưởng để rồi lịch sử dân tộc mãi gắn bó và

trở thành dòng mạch dào dạt, xuyên chảy suốt cả đời viết văn của ông, đến như thành một

nổi ám ảnh, một sự đam mê” [28].

Qua một vài ý kiến tiêu biểu nhận xét như đã dẫn ở trên có thể khẳng định đề tài lịch

sử là phần tâm huyết nhất trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng và ở đó người

đọc có thể nhận thấy một phong cách tài hoa lịch lãm của một nhà văn hóa lớn đầy tâm

huyết với lịch sử dân tộc và những khát khao sáng tạo.

2.2. Những ý kiến đánh giá về đề tài lịch sử trong bốn tiểu thuyết Đêm hội Long

Trì, An Tư, Lá cờ thêu sáu chữ vàng và Sống mãi với thủ đô:

Theo Hà Minh Đức: “Tác phẩm đầu tay Đêm hội Long Trì mở đầu cho quá trình sáng

tác của Nguyễn Huy Tưởng, tác phẩm dựa trên những tư liệu được đề cập đến trong Hoàng

Lê nhất thống chí và Việt Lam Xuân Thu, khai thác câu chuyện xoay quanh quan hệ giữa

chúa Trịnh Sâm và hai chị em Đặng Thị Huệ, Đặng Mậu Lân. Nguyễn Huy Tưởng không

chỉ muốn dừng sự việc lại ở đó. Anh muốn tìm đến một bàn tay dũng cảm vừa thể hiện tinh

thần công lý phù hợp với ý dân, vừa phải hợp với chân lý của lịch sử để trừng trị kẻ tàn

bạo” [77, 61].

Với An Tư, Hà Minh Đức nhận định: “Viết An Tư, Nguyễn Huy Tưởng muốn nói

nhiều hơn đến vận mệnh của dân tộc trong cơn sóng gió kinh hoàng của lịch sử. Chính vào

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

thời điểm như con thuyền sẽ bị chìm đắm, lại bộc lộ rõ sức mạnh hiệp đồng muôn người

như một của dân tộc...Qua An Tư, Nguyễn Huy Tưởng đã bắt được cái chất bi tráng của

một thời đại lịch sử thấm sâu trong số phận nhiều người. Nguyễn Huy Tưởng đã tránh được

cái nhìn sơ lược đối với những vấn đề lịch sử phức tạp”. Từ đó, ông nhận xét chung về

mảng đề tài lịch sử trong tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng: “Qua Đêm hội Long

Trì, Vũ Như Tô, Cột đồng Mã Viện, An Tư...có thể nói toàn bộ sáng tác của Nguyễn Huy

Tưởng ở thời kỳ trước cách mạng tháng tám đều dành cho đề tài lịch sử. Nguyễn Huy

Tưởng không khai thác lịch sử theo quan điểm phục cổ, sùng bái và thêu dệt quá khứ.

Nguyễn Huy Tưởng tìm hiểu và thể hiện lịch sử theo quan điểm tiến bộ”

[77, 69].

Với Sống mãi với Thủ Đô và Lũy hoa, Hà Minh Đức khẳng định: “Nguyễn Huy

Tưởng đã rất có ý thức về thời gian nghệ thuật trong tác phẩm. Chiều dài của lịch sử thời

điểm đầu của cuộc kháng chiến thủ đô có một ý nghĩa hết sức quan trọng để miêu tả cuộc

sống và con người trên mảnh đất thiêng liêng này” [77, 79]. Nguyễn Huy Tưởng chú ý

nhiều hơn đến sự chuyển biến của xã hội và con người trong những năm tháng thiêng liêng

ấy. Cũng vì vậy mà Sống mãi với thủ đô “không chỉ nhằm diễn tả lại hai ngày đêm chiến

đấu của quân dân Hà Nội, sâu xa hơn, tác giả muốn nói đến quá trình của từng người dân

Hà Nội đến với Cách mạng và tham gia đấu tranh cách mạng. Thời điểm lịch sử này bộc lộ

rõ nét nhất, đa dạng nhất, chi tiết nhất cái riêng của Hà Nội mà không một thời điểm nào

trước đó và sau này lặp lại nữa” [77, 80]. Cái tài của nhà tiểu thuyết lịch sử là khả năng lựa

chọn những bối cảnh, tình huống quan trọng của lịch sử để vừa có cái nhìn bao quát về vận

mệnh dân tộc vừa đi sâu khai thác những biến chuyển trong đời sống của cá nhân con

người. Theo nhà nghiên cứu, “Nguyễn Huy Tưởng đã dựng lại được một Hà Nội bao quát

trong không gian, chuyển động và lắng sâu trong thời gian...Bề dày lịch sử đã tạo nên một

truyền thống kiên cường trong đấu tranh và cũng tạo dựng nếp sống văn hóa lâu đời... Viết

Sống mãi với thủ đô, Nguyễn Huy Tưởng luôn có ý thức tìm tòi phát hiện ở mỗi cuộc đời,

mỗi căn nhà một điều gì đó còn ẩn tàng của hôm qua và hôm nay” [77, 80].

Nguyễn Bích Thu và Tôn Thảo Miên đặc biệt chú ý tới tiểu thuyết Sống mãi với thủ

đô bởi đây là tác phẩm được nhà văn nung nấu từ rất lâu, dù tác phẩm còn dang dở nhưng

cũng thể hiện được sự trưởng thành của ngòi bút đang độ sung sức của ông. Đánh giá về

tiểu thuyết này, hai nhà nghiên cứu viết: “Với Sống mãi với thủ đô, Nguyễn Huy Tưởng

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

không chỉ thành công trong tái tạo không khí hào hùng bi tráng của lịch sử mà cả trong

miêu tả diễn biến tâm lý phức tạp, tinh tế của đời sống tâm hồn nhân vật, mang ý nghĩa

nhân bản, đề cao lòng yêu nước và sự sống con người. Ở góc độ khác, chỉ với ngòi bút hào

hoa, tác giả cuốn tiểu thuyết mới tả được những nét sang trọng, lịch sự của thủ đô. Sang

trọng lịch sự mà vẫn yêu nước, ghét Tây, điều đó làm nên bản sắc riêng, không lẫn với các

trường thiên tiểu thuyết cùng thời của Sống mãi với thủ đô” [76,21]

Nhà văn Như Phong đã cảm nhận được bước ngoặt mới trong quá trình sáng tạo của

Nguyễn Huy Tưởng mà Sống mãi với thủ đô là một minh chứng: “Tập tiểu thuyết chưa

trọn vẹn này đã làm cho ta thấy được các tính chất phức tạp của thực tế. Kháng chiến

không còn cái vẻ tráng lệ hơi dễ dãi, cái lối lý tưởng hóa con người hơi ngây thơ mà nhiều

tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng trước đây vẫn có. Với tác phẩm cuối cùng này, anh đã tự

đổi mới trong phương pháp nghệ thuật của mình” [54]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc

Thiện cũng chỉ ra giá trị của tác phẩm là ở sự lựa chọn một thời khắc lịch sử đáng giá để tạo

nền cho tiểu thuyết, “trong độ dồn nén căng thẳng của thời gian và sự bức bối chật hẹp của

không gian, tức một trường không thời gian thử thách nghiệt ngã bản lĩnh dân tộc cũng như

từng số phận con người. Qua đó, ông khẳng định những giá trị thẩm mỹ mang thuộc tính

nhân bản, cao thượng, tốt đẹp” [73] và cho rằng Sống mãi với thủ đô đồng dạng với

Chiến tranh và hòa bình ở việc khai thác lịch sử như là một quá khứ gần, ở nghệ thuật đan

cài giữa kể và tả, giữa khắc họa chân dung, hành động nhân vật với những mổ xẻ diễn biến

nội tâm qua những xung đột của ý chí, dục vọng, tình cảm dưới tác động của hoàn cảnh bên

ngoài, của người khác cũng như sự tự vận động trong tiềm thức, ám ảnh và những lò so nội

lực bị kìm giữ. Bài viết cũng chỉ ra sự phản ánh hiện thực của tác phẩm ở cấp độ tổng kết,

soi sáng theo chiều rộng và chiều sâu của những vấn đề đạo đức, nhân sinh, khám phá

những lĩnh vực còn tiềm ẩn trong thế giới tinh thần của những người hôm qua, đưa tất cả

trở thành sống động trước mắt người đọc.

Vân Thanh trong bài Cuối thế kỷ nhìn lại Nguyễn Huy Tưởng với các tác phẩm

viết cho tuổi thơ có nêu nhận định như sau: “Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn viết cho thiếu

nhi rất có trách nhiệm. Hướng viết của ông là ca ngợi con người Việt Nam anh hùng trong

quá khứ và trong hiện tại. Truyện viết cho thiếu nhi của ông đều lấy truyền thống dân tộc

làm chủ đề miêu tả” .

Trong công trình nghiên cứu về tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng , Thiều Quang

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

khẳng định đây là một công trình sáng tác nghệ thuật đã đạt đến mức nghệ thuật rung cảm

được lòng người, cho nên mặc dù có đối tượng riêng của nó là thiếu nhi, nhưng thực tế nó

vẫn là một tác phẩm chung cho tất cả các giới, các tầng lớp bạn đọc.

Nhìn chung các bài phê bình và nghiên cứu xoay quanh đề tài tiểu thuyết lịch sử trong

sự nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng thường tập trung khai thác ở một vài điểm nổi bật như

góc nhìn, cách tiếp cận lịch sử, nghệ thuật xây dựng nhân vật... song chưa có cái nhìn bao

quát về cảm hứng lịch sử của nhà văn. Đặc biệt các nhà nghiên cứu thường tập trung vào

tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô ít có tài liệu viết về Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Những bài

viết có đề cập đến hai tác phẩm Đêm hội Long Trì và An Tư đều chưa khai thác sâu cả về

nội dung và giá trị nghệ thuật mà chỉ dừng lại ở mức giới thiệu nội dung tác phẩm. Như vậy

những giá trị của Đêm hội Long Trì và An Tư đã bị chìm khuất so với chính những sáng

tác của cùng tác giả. Do đó, chúng tôi hy vọng qua luận văn có thể làm rõ hơn những giá trị

trong các tiểu thuyết lịch sử này.

3/. Mục đích nghiên cứu:

Luận văn tiến hành khảo sát nghiên cứu một cách bao quát và hệ thống về cảm hứng

lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng trong các tiểu thuyết Đêm hội Long Trì, An Tư, Sống mãi

với thủ đô, Lá cờ thêu sáu chữ vàng, là những tiểu thuyết có tính chất như cái mới khởi

đầu và kết thúc văn nghiệp của ông. Chúng tôi mong muốn có cái nhìn khách quan và khoa

học về cảm hứng lịch sử của nhà văn từ góc độ thể loại. Trên cơ sở đó, ghi nhận những

đóng góp và khẳng định vị trí của nhà văn với sự phát triển thể loại tiểu thuyết lịch sử nói

riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung.

Xét ở góc độ sư phạm, người viết luận văn nhận thấy việc đưa những tác phẩm văn

học viết về đề tài lịch sử dân tộc vào trong nhà trường còn quá hạn chế. Đó là nguyên nhân

dẫn đến hiện tượng mà những người tâm huyết với sự nghiệp giáo dục đang đề cập đến như

một vấn đề bất ổn. Thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay còn thờ ơ với lịch sử nước nhà, trong khi

lại am hiểu về lịch sử Trung Quốc. Nguyên nhân chính là sự truyền bá tràn lan lịch sử, văn

hóa Trung Quốc qua phim ảnh, truyền thuyết, còn những pho tiểu thuyết lịch sử Việt Nam,

do ít được phổ biến trong thực tế cuộc sống nên còn quá xa lạ với thế hệ trẻ hiện nay. Khám

phá giá trị tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng, những tiểu thuyết được viết nên bởi

tình yêu tha thiết với lịch sử dân tộc và ước muốn của cố nhà văn lưu lại những niềm tự hào

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

trong quá khứ cho thế hệ mai sau, người viết luận văn mong sẽ được góp thêm tiếng nói

vào việc đưa tiểu thuyết lịch sử nói chung và tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng nói

riêng vào giảng dạy trong nhà trường.

4/. Đối tượng nghiên cứu:

Cảm hứng lịch sử là một vấn đề thuộc phạm trù lý luận văn học - vấn đề cảm hứng chủ

đạo - là một trong những yếu tố chính hợp thành tư tưởng tác phẩm.

Xuất phát từ điều kiện thời gian, tư liệu, khả năng còn hạn chế của bản thân, trên cơ sở

tiếp thu những vấn đề lý luận có liên quan từ các công trình lý luận văn học và mỹ học trong

và ngoài nước, người viết luận văn sẽ tiến hành khảo sát cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết

của Nguyễn Huy Tưởng qua hai vấn đề cơ bản:

a. Miêu tả, phân tích cảm hứng lịch sử trong một số tiểu thuyết tiêu biểu.

b. Dựa vào cảm hứng lịch sử bước đầu khái quát một vài đặc điểm chủ yếu của tiểu

thuyết Nguyễn Huy Tưởng.

5/. Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu bốn tiểu thuyết: Đêm hội Long Trì (1942), An Tư

(1944), Lá cờ thêu sáu chữ vàng (1960), Sống mãi với thủ đô (1961). Bốn tiểu thuyết này

được viết theo trình tự thời gian từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc sự nghiệp của nhà văn.

Trong quá trình khảo sát bốn tác phẩm nói trên người viết luận văn có sự tham khảo và so

sánh với những tác phẩm của các nhà văn khác cùng đề tài.

6/. Nhiệm vụ nghiên cứu:

Đề tài đóng góp thêm một cái nhìn mới có tính chất hệ thống và hoàn thiện hơn về

cảm hứng lịch sử trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng.

Trân trọng và kế thừa gợi ý của những người đi trước, bổ sung những tìm tòi mới, đề

tài tập trung nghiên cứu tương đối toàn diện, hệ thống và tỉ mỉ tiểu thuyết lịch sử của

Nguyễn Huy Tưởng trước và sau Cách mạng tháng tám trên phương diện tư tưởng thẩm mĩ.

Mong muốn của đề tài là sẽ góp thêm một tiếng nói hữu ích trong việc nghiên cứu văn

nghiệp Nguyễn Huy Tưởng, có thể làm tài liệu tham khảo cho việc dạy và học văn trong các

nhà trường phổ thông.

7/. Các phương pháp nghiên cứu:

7.1. Phương pháp lịch sử xã hội.

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

7.2. Phương pháp so sánh văn học.

7.3. Phương pháp phân tích, đối chiếu.

7.4. Vận dụng lý thuyết thi pháp tác phẩm và thi pháp thể loại.

8/. Cấu trúc luận văn:

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thư mục, nội dung luận văn bao gồm 3 chương:

* Chương 1: Về một số khái niệm

Trình bày cách hiểu của người viết luận văn về một số khái niệm có liên quan đến đề

tài như cảm hứng, cảm hứng lịch sử, khái niệm tiểu thuyết, những đặc trưng cơ bản của thể

loại tiểu thuyết.

* Chương 2: Những chất liệu chủ yếu của cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết

Nguyễn Huy Tưởng

Miêu tả phân tích cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng trước và

sau cách mạng tháng Tám qua một số tác phẩm tiêu biểu.

* Chương 3: Một số đặc điểm chủ yếu của tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng.

Bước đầu tổng hợp, khái quát một số đặc điểm chung nhất của tiểu thuyết Nguyễn

Huy Tưởng gắn liền với đặc trưng tiểu thuyết và cảm hứng chủ đạo xuyên suốt những tác

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

phẩm.

CHƯƠNG 1: VỀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM

1.1. Về khái niệm cảm hứng và cảm hứng lịch sử.

1.1.1. Về khái niệm cảm hứng và cảm hứng chủ đạo.

Cảm hứng là gì?

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng rất tâm huyết với đề

tài lịch sử. Đó là mảng đề tài xuyên suốt hành trình sáng tạo của ông. Lịch sử dân tộc đối

với ông là niềm say mê, đầy cuốn hút và đã trở thành cảm hứng chủ đạo trong văn nghiệp

của Nguyễn Huy Tưởng. Trong luận văn của mình, chúng tôi muốn nhìn nhận các sáng tác

của nhà văn từ góc độ bao quát nhất là cảm hứng chủ đạo. Đó vừa là điểm khởi đầu trong

quá trình sáng tác vừa là định hướng cho cả quá trình của nhà văn.

Quá trình sáng tạo của nhà văn bắt đầu từ khi nảy sinh những dự tính rồi sau đó là quá

trình nảy sinh những quan niệm mang tư tưởng sáng tạo của tác phẩm văn học, những tư

tưởng ấy thường gắn liền với sự thụ cảm của nhà văn với cuộc sống dưới hình thức cảm

xúc. Trong cuốn Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học.

M.B.Khrapchenkô cho rằng: “Sự dồi dào về cảm xúc của tác phẩm nghệ thuật là một đặc

điểm hữu cơ của tái tạo hiện thực bằng hình tượng, là một đặc điểm của sự thể hiện những

tư tưởng sáng tạo, sự phát triển của các tính cách” [48,38]. Nhà phê bình V.G.Biêlinxky

xác định vai trò và nguồn gốc của tư tưởng trong tác phẩm: “Trong những tác phẩm nghệ

thuật chân chính, tư tưởng đâu phải là một khái niệm trừu tượng được thể hiện một cách

giáo điều mà nó là linh hồn của chúng, nó chan hòa trong chúng như ánh sáng chan hòa

trong pha lê. Trong những tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng là cảm hứng chủ đạo của chúng.

Cảm hứng chủ đạo là gì? Đó là sự thâm nhập say mê và sự ham thích một tư tưởng nào đó,

mỗi tác phẩm nghệ thuật phải là kết quả của cảm hứng chủ đạo, phải thấm đượm nó. Thiếu

cảm hứng chủ đạo thì không thể hiểu được là cái gì đã buộc nhà thơ cầm bút và cung cấp

cho anh ta sức lực và khả năng để khởi đầu và kết thúc một tác phẩm đôi khi khá đồ sộ”

[87,56].Cảm hứng sáng tạo ở nhà văn không thể hiểu một cách giản đơn thô thiển như là

phút say mê bất chợt hoặc coi nó như là thần hứng trong nhà văn nảy sinh từ những xúc cảm

tâm linh kì quái. Cảm hứng sáng tạo ở người nghệ sĩ đơn giản và thực tế: “Cảm hứng là một

trạng thái lao động nghiêm túc của con người. Sự cao hứng trong tâm hồn không biểu hiện

ở điệu bộ phường tuồng và trong sự bốc đồng” [31,62]. A. Puskin đã định nghĩa cảm hứng

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

một cách chính xác và giản dị như sau: “Cảm hứng là trạng thái tâm hồn thích hợp cho sự

tiếp nhận một cách sinh động những ấn tượng, do đó, cho sự lĩnh hội một cách nhanh chóng

những ý niệm tức là những cái tạo điều kiện cho việc giải thích những ấn tượng nói trên”.

K. Pautopxki nhấn mạnh: “Cảm hứng là trạng thái lao động nghiêm túc, nhưng nó có màu

sắc thơ riêng biệt của nó... cảm hứng đi vào tâm hồn chúng ta giống như một buổi sáng mùa

hạ rực rỡ mới rũ khỏi thân mình sương mù của một đêm yên ả, nhưng vẫn còn là hạt sương

sớm với những bụi cây ẩm ướt. Nó nhẹ nhàng thở cái tươi mát tốt lành của nó vào mặt

chúng ta. Cảm hứng giống như mối tình đầu, khi tim ta rộn ràng cảm thấy trước những

cuộc gặp gỡ ly kỳ, đôi mắt đẹp tuyệt trần, những nụ cười và những câu nói ngập ngừng

dang dở... lúc đó thế giới bên trong chúng ta trở nên tinh tế và chuẩn xác như một cây đàn

kỳ diệu, đáp lại mọi âm thanh của cuộc đời, kể cả những tiếng động thầm kín nhất, khó

nhận thấy nhất” [31,63]. Như vậy, cảm hứng sáng tác vừa là cuộc hành trình nhọc nhằn,

vừa là sự nghỉ ngơi thư thái trong tâm hồn nghệ sĩ. Nó buộc người nghệ sĩ vào trạng thái lao

động nghiêm túc, cẩn trọng bằng niềm say mê, bằng tất cả niềm hứng khởi.

Cảm hứng chủ đạo.

Tiềm ẩn trong mỗi con người là một tâm hồn nghệ sĩ, đó là khả năng rung động trước

cái đẹp trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Đối với nhà văn, những khoảnh khắc rung động

ấy càng nhiều hơn những người bình thường và cũng mãnh liệt hơn. Những cảm xúc mãnh

liệt nhất bộc lộ thành tác phẩm là những cảm hứng chủ đạo của nhà văn. Trong Từ điển

thuật ngữ văn học, các tác giả đã đưa ra khái niệm về cảm hứng chủ đạo như sau: Cảm

hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật,

gắn với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của

những người tiếp nhận tác phẩm (...) Về sau lý luận văn học xem cảm hứng chủ đạo là “một

yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng và xúc cảm ở nghệ sĩ đối với

thế giới được mô tả” [43,29]. V. G. Bêlinxki từng nói: “Cảm hứng chủ đạo là gì? - Sáng

tác, đó không phải là trò đùa, và tác phẩm nghệ thuật không phải là sản phẩm của nhàn hạ

hay tùy hứng, nó đòi hỏi lao động của nghệ sĩ...cảm hứng là sức mạnh hùng hậu. Trong cảm

hứng nhà thơ là người yêu say tư tưởng, như yêu cái đẹp, yêu một sinh thể, đắm đuối vào

trong đó và anh ta ngắm nó không phải bằng lý trí, lý tính, không phải bằng tình cảm hay

một năng lực nào đó của tâm hồn, mà là bằng tất cả sự tràn đầy và toàn vẹn của tồn tại tinh

thần của mình và do đó tư tưởng xuất hiện trong tác phẩm không phải là những suy nghĩ

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

trừu tượng, không phải là hình thức chết cứng, mà là một sáng tạo sống động” [88,111].

Cảm hứng được biểu hiện rõ nhất khi nhà văn bắt đầu viết, nó định hướng nhà văn

chọn lựa đề tài, nhân vật, v.v.. nhưng cũng có thể bàng bạc trong hầu hết các khâu của quá

trình sáng tác. Bất kỳ ngành nghề nào cũng cần cảm hứng, đặc biệt là nghề văn: “Viết văn là

gan ruột, tâm huyết, chỉ bộc lộ những gì đã thật sự tràn đầy trong lòng, không thể cho ra

những sản phẩm của một tâm hồn bằng lặng vô vị và miễn cưỡng. Cảm hứng là một trạng

thái tâm lý căng thẳng nhưng say mê khác thường. Sự căng thẳng của ý chí và trí tuệ, sự dồi

dào về cảm xúc, khi đã đạt đến sự hài hòa, kết tinh, sẽ cháy bùng trong tư duy nghệ thuật

của nhà văn, dẫn dắt họ đến những mục tiêu da diết bằng con đường gần như trực giác, bản

năng”. [43, 210]. Như vậy, cảm hứng nghệ thuật là yếu tố đầu tiên dẫn đến sự hình thành

của một tác phẩm. Đối với thi sĩ, cảm hứng có thể đến trong một giây phút xuất thần nhưng

với một tiểu thuyết gia, cảm hứng lại hình thành từ cả một quá trình tích tụ. Bởi lẽ, thơ là

cảm xúc bất chợt, nhưng tiểu thuyết là thể loại lớn có dung lượng đồ sộ, kết cấu phức tạp,

với hệ thống nhân vật phong phú và đa dạng. Để bắt tay vào quá trình xây dựng một tiểu

thuyết, nhà văn cần phải có sự say mê với hiện thực, phải hiểu hết những tình tiết trong hiện

thực được phản ánh. Trong cả quá trình sáng tác, cảm thức của nhà văn về thực tại không

thay đổi nhưng chính trong lúc làm việc, cảm hứng dấy lên những trận cuồng phong, những

dòng thác ý nghĩ mới và những từ mới. Cảm hứng ấy đòi hỏi nhà văn phải liên tục trau dồi

vốn sống, bởi nếu bỏ đói nó thì cảm hứng sẽ phụt tắt.

1.1.2 Cảm hứng lịch sử:

Cảm hứng chủ đạo là cái tạo nên nền tảng của giọng điệu trong tác phẩm của nhà văn,

nó chi phối việc xây dựng hệ thống hình tượng nhân vật, xác lập góc nhìn của tác giả đối

với hiện thực được phản ánh. Cảm hứng xuất hiện khi tác giả nói đến một cái gì cao cả, có ý

nghĩa tồn tại của con người, nói đến niềm vui, nỗi đau, lòng căm giận có ý nghĩa sâu rộng.

Ứng với mỗi nguồn cảm hứng ấy là một phương pháp sáng tác, một loại hình tác phẩm, một

giọng điệu riêng. Nếu cảm hứng là cao cả thì thế giới hình tượng là những hình tượng anh

hùng, giọng điệu tác phẩm là cao cả, nhà văn sẽ sử dụng các từ cao cả, to lớn, cổ kính, có

âm hưởng thống thiết. Nếu cảm hứng là chính luận, phê phán thì hệ thống nhân vật sẽ là

những nhân vật tầm thường, chứa đựng những nghịch lý trong tính cách và giọng điệu tác

phẩm thiên về phạm trù cái hài mang yếu tố mỉa mai, châm biếm,... Cảm hứng cảm thương

sẽ tạo nên thế giới hình tượng bi thương bằng giọng điệu ai oán. Chưa có nhà lý luận nào

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

đưa ra khái niệm cảm hứng lịch sử nhưng trong nhiều bài phê bình nghiên cứu về tiểu

thuyết lịch sử chúng ta dễ dàng bắt gặp thuật ngữ này. Căn cứ vào cách định nghĩa về cảm

hứng chủ đạo và các loại hình cảm hứng như trên, có thể thuật hiểu sơ lược về cảm hứng

lịch sử: Đó là cảm hứng sáng tác xuất phát từ cảm quan về hiện thực lịch sử, trong đó nhà

văn lấy lịch sử làm đề tài, chất liệu để tạo ra thế giới hình tượng, xác lập cho mình một điểm

nhìn vào quá khứ, tạo ra giọng điệu tác phẩm phù hợp với điểm thời gian mà nó tái hiện. Ở

các loại hình tiểu thuyết khác, trong quá trình sáng tạo, nhà văn có thể dựng lên hiện thực

hoàn toàn hư cấu; nhưng với tiểu thuyết lịch sử là thể loại viết về những con người và sự

việc có thật trong quá khứ nên yếu tố thực đòi hỏi chiếm một phần quan trọng trong tác

phẩm bên cạnh sự hư cấu, sáng tạo. Vì thế, khi chọn cho mình cảm hứng sáng tác là đề tài

lịch sử thì nhà văn không chỉ cần đến khả năng tưởng tượng, vốn ngôn ngữ, óc sáng tạo mà

còn phải thực sự am hiểu và say mê với những dữ liệu lịch sử ngắn ngủi khô khan, những

hiện thực đã hóa thạch, hiểu và tìm thấy trong đó sợi dây liên lạc giữa hôm qua và hôm nay.

Những nhà tiểu thuyết lịch sử xác định cho mình nhiệm vụ: dùng văn chương làm sống lại

quá khứ trong lòng hiện tại, để độc giả hôm nay và mai sau có thể tìm thấy sau những biến

cố thăng trầm của dân tộc, triều đại ấy là thế giới tâm linh, tình cảm của các cá nhân, những

anh hùng lịch sử và cả những con người nhỏ bé vô danh nhưng không thể thiếu trong mỗi

biến cố ấy, họ là đại diện của nhân dân. Tiểu thuyết lịch sử lấy đề tài, cảm hứng từ quá khứ

nhưng cái đích vươn tới là soi sáng thực tại và tương lai. Cảm hứng lịch sử không làm cho

hệ thống hình tượng trong tiểu thuyết xuất hiện đơn thuần trong tư thế của những tượng đài

lịch sử, người viết tiểu thuyết phải biến những tượng đài sẵn có ấy thành những con người

với cá tính đa dạng, phức tạp như chính họ trong cuộc sống. Nếu như những trang lịch sử

ghi lại được một phần, một mặt nào đó của con người, sự kiện trong quá khứ; tiểu thuyết

lịch sử có khả năng làm được điều kì diệu hơn là mô tả cả những phần khuất lấp sau những

bề mặt ấy. Những chi tiết kể như rất đời thường và vụn vặt, có thể dễ dàng bắt gặp trong

thực tại cuộc sống lại chính là những sinh khí tạo hồn cho nhân vật lịch sử.

Như vậy, có thể hiểu cảm hứng lịch sử chính là ngọn lửa say mê và nung nấu tâm can

nhà văn, nó thôi thúc và dẫn đường để nhà văn có thể làm công việc tạo nên da thịt và sinh

khí cho những xác ướp mà sử học cung cấp, để lịch sử được tái hiện sinh động hơn, sâu sắc

hơn trong những hình tượng văn học. Trong tác phẩm văn học cảm hứng lịch sử lắng sâu

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

trong ngôn ngữ, thấm đượm trong bối cảnh không gian và hiện hữu ở nhân vật, từ trang

phục đến cử chỉ, lời thoại, đặc biệt là tình huống chính của tác phẩm bao giờ cũng là một cái

mốc lịch sử trọng đại đối với hiện thực được phản ánh.

1.2 . Về đặc trưng tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử.

1.2.1. Khái niệm tiểu thuyết

Thuật ngữ tiểu thuyết chỉ thể loại tác phẩm tự sự trong đó sự trần thuật tập trung vào

số phận một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó. Sự trần thuật ở đây

được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ cấu”

của nhân cách.

V. G. Biêlinxky gọi tiểu thuyết là “sử thi của đời tư”, do chỗ nó “miêu tả những tình

cảm, dục vọng và những biến cố thuộc đời sống riêng tư và đời sống nội tâm của con

người”.

Tiểu thuyết trình bày đời sống cá nhân và đời sống xã hội như những tố chất có tính

độc lập tương đối, không làm cạn kiệt được nhau, không ngốn nuốt được nhau, đây là đặc

điểm quyết định nội dung thể loại của tiểu thuyết.

Tiểu thuyết phát triển trong những kết cấu cốt truyện rất đa dạng.

Ở Việt Nam, thể loại tiểu thuyết chí quái, tiểu thuyết truyền kỳ và tiểu thuyết chương

hồi đều được du nhập từ sớm. Nhưng thuật ngữ tiểu thuyết lại không du nhập cùng lúc với

thể loại. Trong một thời gian dài người Việt chỉ dùng một khái niệm truyện để định vị cho

nhiều hình thức tự sự khác nhau của mình. Trong truyện có cả văn xuôi, chủ yếu là văn xuôi

chữ Hán, và văn vần, chủ yếu là văn vần chữ nôm, về sau được học giả hiện đại định danh

là truyện thơ hay truyện nôm. Phải đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thuật ngữ tiểu thuyết

mới ra đời, lúc bấy giờ tiểu thuyết Pháp ngày càng được nhiều người Việt mô phỏng, nên

thuật ngữ tiểu thuyết ở Việt Nam sớm gắn bó với hình thức tiểu thuyết phương Tây, mặc dù

cũng được dùng để gọi tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc vốn được dịch khá ồ ạt ở miền Nam

và miền Bắc trong vài thập kỷ đầu thế kỷ XX. Tuy thế, khái niệm truyện vẫn không mất đi,

trái lại tồn tại song song cho đến nay.

1.2.2. Khái niệm tiểu thuyết lịch sử

1.2.2.1. Tiểu thuyết lịch sử là những tác phẩm mang trọn đặc trưng của tiểu thuyết

nhưng lại lấy đề tài lịch sử làm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật. Ở đây, tác giả dựa vào những

sự kiện trong quá khứ, hư cấu tưởng tượng thêm để tạo nên tác phẩm nhằm gây hứng thú

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

cho người đọc. Tiểu thuyết lịch sử tuy mượn đề tài và lấy cảm hứng từ lịch sử nhưng không

hề né tránh, xa rời với hiện tại, đúng như V. G. Biêlinxky đã khẳng định: “Chúng ta hỏi và

chúng ta chất vấn những cái đã qua để chúng ta giải thích cho hiện tại và chỉ ra tương lai

của chúng ta”. Mặc dù lấy những sự kiện, những nhân vật trong lịch sử nhưng các tác giả

của tiểu thuyết lịch sử không chỉ trình bày lại cái tư thế lịch sử mà còn cho chúng ta biết

nhiều mặt khác của đời sống con người, thậm chí cả những mặt sinh hoạt mang tính chất đời

tư của nhân vật “nhằm mang lại cho người đọc những khơi gợi bổ ích và những mỹ cảm văn

học”. Đặc biệt “về phương diện bút pháp, một mặt phải dựa vào lịch sử, nhưng mặt khác

vẫn cho phép hư cấu trong chừng mực thích hợp, nhằm phát huy trí tưởng tượng làm cho sự

chân thực lịch sử được thăng hoa thành chân thực nghệ thuật” [111,146].

Tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết thông thường có những điểm giống và khác nhau:

Môi trường của nhân vật tiểu thuyết lịch sử thuộc về thời quá khứ đòi hỏi nhà viết tiểu

thuyết lịch sử phải tìm cách dựng lại qua một quá trình nghiên cứu công phu. Vì thế nhà viết

tiểu thuyết lịch sử phải có sự hiểu biết như một nhà sử học. Tiểu thuyết lịch sử không chỉ

xây dựng những chi tiết, những sự kiện, nhân vật như trong lịch sử mà còn chú ý đến đời tư

của nhân vật. Yếu tố đời tư của nhân vật đã làm tăng tính chất văn chương, tính tiểu thuyết

và tính đời thường cho các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử. Trong tiểu thuyết lịch sử, người

đọc có thể bắt gặp mọi sự diễn ra như trong cuộc đời. Tiểu thuyết lịch sử cũng đòi hỏi nhà

văn không được sao chép lịch sử một cách giản đơn mà đòi hỏi phải có sự sáng tạo. Sáng

tạo là bản chất của nghệ thuật và cũng là đặc trưng của thể loại tiểu thuyết lịch sử. Bởi vậy,

yêu cầu đặt ra trong tiểu thuyết lịch sử là cần phải có sự kết hợp hài hòa giữa hư cấu tưởng

tượng và sự thật lịch sử.

1.2.2.2. Khái niệm tiểu thuyết lịch sử du nhập vào nước ta từ đầu thế kỷ XX cùng với

quá trình hiện đại hóa văn học. Ngay trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã phân biệt

khá rõ lịch sử, ký sự lịch sử và tiểu thuyết lịch sử. “Khi viết về một quyển lịch sử, nhà chép

sử không lưu tâm đến những việc cá nhân không ảnh hưởng đến xã hội. Nhưng khi viết

những bài lịch sử ký sự, nhà văn có thể viết một cách tỉ mỉ những việc cá nhân không ảnh

hưởng gì đến dân chúng chỉ có cái thú vị riêng của nó mà thôi. Không những thế, khi viết

một quyển lịch sử ký sự nhà văn lại cần phải lưu tâm đến những việc đời tư , lối ấy cũng

gần như lối chép sử vậy... còn như viết lịch sử tiểu thuyết, nhà văn chỉ phải căn cứ vào vài

việc con con đã qua rồi vẽ vời cho ra một chuyện lớn, cốt giữ cho mọi việc đừng trái với

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

thời đại, còn không cần phải hoàn toàn sự thật” [112, tr 342]. Với quan điểm này, Vũ Ngọc

Phan xếp các tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật, Đào Trinh Nhất, Phan Trần Chúc vào các

loại ký lịch sử mặc dù có những tác phẩm đã in khá rõ dấu ấn sáng tạo của tác giả ở cách

sắp xếp chi tiết, miêu tả nhân vật... có thể thấy mặc dù phân biệt các thể loại tương đối chính

xác nhưng Vũ Ngọc Phan vẫn còn khá mơ hồ về tiểu thuyết lịch sử.

Nguyễn Lương Bích trong lời giới thiệu tiểu thuyết Quận He khởi nghĩa đã trình bày

quan niệm của mình về tiểu thuyết lịch sử. “Đó là một loại hình văn học có tác dụng mạnh

trong việc giáo dục tư tưởng cho quần chúng, nó đem kiến thức lịch sử đến cho người đọc,

không bằng sử liệu, số liệu, không bằng lý luận, phân tích mà bằng con đường tình cảm. Nó

dùng nghệ thuật sáng tạo, dùng hình ảnh văn học để làm rung động người đọc, làm cho

người đọc hiểu lịch sử thông qua sự thưởng thức cái hay, cái đẹp của văn học nghệ thuật”

[118, tr 3].

Về mặt lý thuyết, các tác giả trên đều làm sáng tỏ được một vấn đề nào đó trong khái

niệm về tiểu thuyết lịch sử. Song trên thực tiễn sáng tác thì tiểu thuyết lịch sử của ta qua các

thời kỳ nhìn chung còn chưa đạt đến cái chuẩn lý tưởng mà thế giới đã biết đến. Phần lớn

các tiểu thuyết lịch sử của ta đều coi việc tái hiện sự kiện lịch sử, không khí lịch sử là mục

đích chính, nghĩa là tiểu thuyết lịch sử Việt Nam coi trọng nội dung phản ánh hơn là tính

tiểu thuyết. Nguyễn Tử Siêu đã xác định một quan điểm rõ ràng là “Bồi đắp được chút đỉnh

về cái quan niệm đối với tổ quốc, nhắc nhở cái nghĩa vụ đối với dân nước”. [63, 32]. Xu

hướng khai thác bài học lịch sử để rút ra bài học đạo đức và phản ánh trung thành lịch sử đã

dần trở nên tiêu biểu cho tiểu thuyết lịch sử nước ta. Thái Vũ cũng bày tỏ quan điểm của

mình: “Khi tôi nói, tôi viết tiểu thuyết lịch sử sự thật là tôi không biết tiểu thuyết mà tôi viết

lịch sử... trước hết, phải trung thực với mọi chi tiết lịch sử mà sử biên niên có ghi. Hư cấu

nhưng không phải bịa. Tôi viết tiểu thuyết về lịch sử nhưng tôi không viết tiểu thuyết mà qua

cách hư cấu của tôi: tôn trọng tính chân xác của lịch sử” [113].

Từ nửa đầu thế kỷ XX, giai đoạn từ 1930-1945, các nhà văn lãng mạn đã bắt đầu chú ý

đến cách viết tiểu thuyết lịch sử “Chú ý đến việc làm người đọc say đắm mơ màng bởi

những cái có thể có được” (Lan Khai). Đặc biệt, họ bắt đầu đổi mới cách viết theo kiểu của

những cuốn tiểu thuyết lịch sử hiện đại ở phương Tây mà biểu hiện rõ nhất là việc đưa tình

yêu lứa đôi vào để giữ vai trò trọng yếu của tác phẩm. Tình yêu trong trắng và đau xót của

Quỳnh Hoa và Bảo Kim trong Đêm hội Long Trì, của An Tư và Trần Thông trong tác

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

phẩm An Tư của Nguyễn Huy Tưởng, của Bội Ngọc và Lý Công Uẩn trong tác phẩm Cái

hột mận của Lan Khai... là những dẫn chứng tiêu biểu. Nếu quan niệm tiểu thuyết lịch sử

phải tái hiện sự kiện, không khí lịch sử là mục đích chính đã tạo nên thói quen đọc đối chiếu

như trước đây thì đến những tác giả này, họ chú ý nhiều hơn đến nghệ thuật tiểu thuyết như

xây dựng nhân vật, sự phong phú về đề tài... bước đầu đã làm cho tiểu thuyết lịch sử khởi

sắc, đỡ tẻ nhạt.

1.3. Hướng tiếp cận, lý giải cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy

Tưởng.

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, số lượng những tiểu thuyết gia có sở trường về

đề tài lịch sử không nhiều. Trong giai đoạn 1930 – 1945, nhiều tiểu thuyết lấy đề tài lịch sử

ra đời nhưng phần lớn mang dáng dấp của tiểu thuyết kiếm hiệp hay rơi vào sự li kì hóa đời

tư các nhân vật lịch sử, biến những câu chuyện lịch sử thành những chuyện tình dễ dãi, lâm

li. Rất ít tác giả tôn trọng tinh thần của tiểu thuyết lịch sử là sáng tạo văn học dựa trên tinh

thần cơ bản của hiện thực lịch sử. Nguyễn Huy Tưởng nằm trong con số ít ỏi đó.

Phong cách, cảm hứng sáng tác của nhà văn do nhiều yếu tố tạo thành. Trước hết là

yếu tố con người, cuộc đời, môi trường hoàn cảnh sống, thứ đến là sự chi phối cảm quan

của thời đại. Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960) sinh ra trong một gia đình nhà nho tại làng

Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội). Ngay từ khi còn ngồi

trên ghế nhà trường, ông đã say mê những truyền thuyết, những câu chuyện về các nhân vật

anh hùng trong lịch sử. Cảm hứng lịch sử trong ông được vun đắp từ rất nhiều yếu tố và trở

thành niềm say mê thực thụ, sau này trở thành cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của ông.

Nguồn cảm hứng ấy được hình thành từ hai nhân tố: Khách quan và chủ quan.

1.3.1 Nhân tố khách quan.

1.3.1.1 Bối cảnh thời đại.

Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực. Mỗi nhà văn là thư kí trung thành của thời

đại,sinh ra để làm tròn sứ mạng nào đó với thời đại của mình, điều đó dường như là qui luật.

Nguyễn Huy Tưởng sống chưa đầy nửa thế kỷ nhưng có cái may mắn là được chứng kiến

những trang sử đau thương nhất và cũng rất hào hùng của đất nước. Những bão táp lịch sử

tác động mạnh mẽ tới tâm hồn nhà văn. Bằng sự nhạy cảm riêng, ông tìm thấy cho mình

niềm cảm hứng trong những điểm mốc thời gian, ghi lại những biến động của dân tộc Việt

Nam và của thế giới. Thế kỷ XX là quãng thời gian nhiều thăng trầm nhất của lịch sử nhân

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

loại nói chung và của đất nước Việt Nam nói riêng. Đầu thế kỷ XX, hệ thống thuộc địa của

thế giới hình thành, cùng với nó là sự phát triển của chủ nghĩa thực dân đế quốc, chủ nghĩa

phát xít. Hai cuộc đại chiến thế giới nổ ra gây ảnh hưởng lớn tới đời sống của nhân loại. Sau

mỗi cuộc chiến tranh thảm khốc ấy, con người lại thúc đẩy nền khoa học kỹ thuật của mình

phát triển mạnh mẽ hơn. Đời sống vật chất thay đổi dẫn tới sự biến động trong đời sống tinh

thần của con người. Biểu hiện rõ nhất là sự ra đời của vô số những hệ thống tư tưởng triết

học, những trường phái văn học nghệ thuật với cảm quan đầy bế tắc trước thực tại cuộc

sống. Những lối sống ”nổi loạn”, những tư tưởng tiêu cực về nhân sinh rút cục chỉ là biểu

hiện của sự chán ghét thực tại, là mong ước tìm ra lối thoát một cách tuyệt vọng cho cuộc

sống hiện thực. Những học thuyết tư tưởng ấy theo con đường khai thác thuộc địa xâm nhập

vào đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam - cái xã hội đã ngủ quên trong một ngàn năm

thống trị của ý thức hệ phong kiến. Luồng gió mới của cuộc cách tân Âu hóa đầu thế kỷ,

cùng với sự ra đời của một thế hệ những trí thức Tây học đã thay thế những nhà nho truyền

thống, đã làm thay đổi diện mạo văn hóa nước nhà. Đời sống văn học cũng sôi động hơn

nhưng cũng phức tạp hơn với nhiều trào lưu và trường phái sáng tác khác nhau. Nhìn chung

ở trào lưu văn học công khai, các nhà văn đều cố gắng tìm lối thoát tư tưởng cho mình bằng

văn học. Quay trở về với quá khứ, với lịch sử cũng là một lối thoát trong tư tưởng đối với

một thế hệ những người sống trong thời đại ấy.

Lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX là khoảng thời gian có nhiều biến động nhất. Chỉ

tính riêng quãng thời gian non nửa thế kỷ mà nhà văn Nguyễn Huy Tưởng được sống và

chứng kiến, đã có bao biến cố thay đổi vận mệnh của mỗi con người. Đó là những năm

tháng cả dân tộc lầm than trong ách nô lệ của thực dân, phong kiến và phát xít, đỉnh điểm là

nạn đói thảm khốc năm 1945. Đó là những ngày tháng đấu tranh không mệt mỏi của một

dân tộc bé nhỏ nhưng có sức sống dẻo dai, mãnh liệt, với quyết tâm giành bằng được độc

lập tự do. Đó là những thời khắc hào hùng của cuộc cách mạng tháng Tám, khi người Việt

Nam dõng dạc tuyên bố nền độc lập trước nhân dân thế giới, kiêu hãnh xác lập vị trí của

mình trên bản đồ thế giới trong tư cách một quốc gia mang tư tưởng tiến bộ, có lập trường

kiên định trong công cuộc chống chủ nghĩa thực dân và phát xít. Đó cũng là bối cảnh đầy

sóng gió đối với một thể chế chính quyền dân chủ cộng hòa non trẻ vừa lập lên ngày

2/9/1945, ngay lập tức ngày 23/9/1945 đã bị thực dân Pháp quay trở lại xâm lược. Nam Bộ

đã phải đối phó với nguy cơ thù trong giặc ngoài. Là người con của thủ đô, Nguyễn Huy

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

Tưởng không khỏi đau xót khi chứng kiến những ngày cả thủ đô kháng chiến chìm trong

khói lửa (tháng 12-1946) và sung sướng, tự hào trong ngày về chiến thắng của người Hà

Nội sau chín năm trường gian khổ (10-10-1954). Ngay sau ngày hòa bình, nhà văn sống

trong không khí của một thời kỳ lịch sử đầy biến động, với những công cuộc cải cách có tác

động sâu sắc tới đời sống vật chất và tinh thần xã hội. Bản thân bối cảnh lịch sử ấy vừa là

vốn sống, vừa khơi lên niềm say mê mãnh liệt của nhà văn với lịch sử dân tộc. Đây chính là

một cơ may đối với thế hệ những “nhà văn trưởng thành qua hai chế độ”, khơi lên ngọn lửa

say mê đối với lịch sử dân tộc trong tâm hồn tác giả. Tuy nhiên yếu tố khách quan chưa phải

là yếu tố quyết định đối với sự hình thành cảm hứng trong quá trình sáng tạo, nhân tố chủ

quan mới là quan trọng hơn cả đối với nhà văn.

1.3.1.2 Quê hương

Quê hương không những là nơi “chôn rau cắt rốn”, mà còn là nơi con người tiếp nhận

những bài học làm người đầu tiên. Quê hương là nơi tạo nên nhân cách của mỗi cá nhân.

Những phong tục tập quán của quê hương ăn sâu trong tính cách con người đến mức dù khi

trưởng thành, con người có rời xa nơi ấy vẫn mang trong mình nếp nghĩ, lối sống đặc trưng

của nơi mình sinh ra. Đối với nhà văn, quê hương còn là cội nguồn cảm hứng sáng tạo, như

nhà văn Raxun Gamzatop từng ví quê hương Đaghextan của mình là “khung cửa nhỏ nhìn

ra đại dương”, là ngưỡng cửa đầu tiên đưa con người hòa nhập với thế giới bao la, quê

hương là đề tài vĩnh cửu trong sáng tạo nghệ thuật.

Làng Dục Tú - quê hương của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng là mảnh đất mà các nhà

nghiên cứu cho là “tất cả mọi cái đều là lịch sử”.Mảnh đất Đông Ngàn là quê hương của

những làng cổ, thuộc phủ Từ Sơn ngày trước. Trên mảnh đất ấy thấm đẫm những dòng lịch

sử: lịch sử dựng nước, lịch sử chống ngoại xâm, lịch sử văn hóa, lịch sử xã hội. Liền ngay

Dục Tú là Cổ Loa, đế đô của nhà Thục, nơi có ba vòng thành Ốc, có những đình miếu nguy

nga, giếng Ngọc sâu thẳm dưới một cây đa nghìn tuổi như nhân chứng lịch sử kiên định

trước bão táp cuộc đời. Xa hơn chút nữa là Đình Bảng, quê hương phát tích của nhà Lý với

ngôi đền Đô thờ tám vị hoàng đế của triều đại này; làng Phù Đổng, quê ông Gióng, người

anh hùng đánh đuổi giặc Ân. Đây cũng là nơi rộn rã bước chân hành quân của đạo quân

dưới sự chỉ huy của thái úy Lý Thường Kiệt lên phòng tuyến sông Cầu, là ngã ba Xà, nơi

vang lên bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư...”

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

trong cuộc kháng chiến hào hùng chống quân Tống xâm lược. Mỗi thời đại ghi dấu trên

mảnh đất quê ông bằng những chiến công tiếp nối chiến công, bằng truyền thống đáng tự

hào của dân tộc.

Đất Đông Ngàn còn là vùng quê văn hiến của tỉnh Kinh Bắc xưa, người dân ở đây vẫn

tự hào rằng: “Đất Đông Ngàn hơn người ngoan thiên hạ”. Đây là cái nôi của nhiều ông

Cống, ông Nghè, của Trạng Me, Trạng Ngọt, là quê hương của nhiều nhà thơ, nhà văn nổi

tiếng. Trên vùng đất này còn lưu dấu nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng đậm chất dân tộc

như chùa Dâu, chùa Tháp Bút, với những tác phẩm điêu khắc là sản phẩm từ bàn tay những

con người tài hoa của làng nghề Kiêu Kị, Đồng Kị. Nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cổ

truyền còn được người dân nơi đây lưu giữ qua những hội hè đình đám mùa xuân: “Mồng

bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu, mồng chín đâu đâu về xem hội Gióng”, rộn rã náo nức

trong khúc hát quan họ say đắm lòng người và tiếng trống quân, nhịp phách quanh chiếu

chèo. Chất tài hoa, vẻ đẹp văn hóa ngấm vào trong mạch máu của mọi người dân nơi đây,

và tự bao giờ thấm trong họ chất hào hoa, nghệ sĩ.

Đối với Nguyễn Huy Tưởng, quê hương vừa là mảnh đất thực tế sống động vừa là

mảnh đất huyền thoại, chuyện của nó vừa là chuyện của một vùng, một miền vừa là chuyện

của cả nước, cả dân tộc với ngàn năm lịch sử. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất ấy, có thể nói

Nguyễn Huy Tưởng được “tắm mình trong bầu không khí của lịch sử, văn hóa truyền

thống”. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Huy Tưởng có một vốn sử phong phú

đến như vậy. Những câu ca, những huyền thoại dân gian là những bài học lịch sử dễ thấm

vào lòng người nhất, và những kí ức tuổi thơ cũng là những kí ức sâu sắc nhất ở trong cuộc

đời mỗi người. Sống ở buổi giao thời của văn hóa Đông Tây, trong lúc quốc gia chìm đắm

trong tủi nhục nô lệ, tình yêu quê hương càng thôi thúc ông tìm đến với lịch sử như tìm về

cội nguồn để thấy điểm sáng, hướng đi vượt qua những ngày tăm tối. Ông viết trong nhật kí:

“Tôi đi tìm chân lý từ những sách triết học, từ thuyết nhân nghĩa của đạo Nho, đến lý thuyết

từ bi bác ái của đạo Phật, tôi rơi vào chủ nghĩa sức mạnh của Nietzche, bởi vì tôi nghĩ đối

với một dân tộc yếu hèn thì sức mạnh là con đường giải thoát. Tôi vùi đầu vào trong đống

sách lịch sử để lấy cái vinh quang của ông cha mà bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho mình.

Tôi chuẩn bị viết văn để ca ngợi lịch sử, ca ngợi dân tộc, kích động lòng yêu nước của đồng

bào”. [105]

1.3.2 Nhân tố chủ quan: Cuộc đời, con người và sự hình thành khuynh hướng sáng

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

tác nghiêng về cảm hứng lịch sử.

Năm lên bảy tuổi, cha Nguyễn Huy Tưởng qua đời. Tuổi thơ ông diễn ra khá êm đềm

dưới bàn tay săn sóc ân cần của người mẹ” đôn hậu, tảo tần, cởi mở, thanh lịch và giản dị”

[77,170].”Dòng họ Nguyễn của ông là một trong hai dòng tộc lớn nhất làng , đời đời gìn

giữ nho phong , vui trong cảnh thanh bạch”[77,169]. Suốt cuộc đời nhà văn vẫn ấp ủ ước

mơ sáng tác một tác phẩm tặng mẹ như một sự tri ân, có lẽ vì thế mà trong những trang văn

của ông luôn bàng bạc một thứ tình mẫu tử tha thiết. Nếp nhà giản dị, đạm bạc nhưng không

hề có bóng dáng của sự bần cùng là môi trường trong sạch để hình thành nên một nhân cách

hào hoa lịch lãm ở Nguyễn Huy Tưởng, một nhân cách vững bền, bất chấp những sóng gió

ngả nghiêng trong cuộc đời sau này. Mấy năm sau khi cha mất, mẹ ông gửi ông ra Hải

Phòng theo học, ở cùng chị gái và anh rể. Suốt thời gian học, Nguyễn Huy Tưởng không hề

nổi bật ở môn văn và những môn học khác nói chung cũng không có gì xuất sắc. Không giỏi

văn nhưng Nguyễn Huy Tưởng lại say mê văn học. Từ nhỏ, với một chút vốn Hán học do

ông bác dạy cho, Nguyễn Huy Tưởng đã mày mò tự học thêm để có thể đọc Đường thi và

tập sáng tác thơ Đường luật. Khi học lớp đệ nhất, cậu học trò nghèo đã dành dụm tiền tiêu

vặt để mua những sách văn học cổ điển phương Tây, loại rẻ tiền dành cho học sinh. Nhờ

vậy mà ông được tiếp xúc với những cây bút mẫu mực của văn học thế giới như F.Rabelais,

W.Shakespeare, A.Dante, Homère,F. Schiller... Quá trình Nguyễn Huy Tưởng đến với nghề

văn là quá trình mang tính tự học. Đây cũng là con đường chung của những nhà văn cùng

thời. Chỉ có khác là ở những nhà văn khác, con đường đến với nhà văn chỉ thuần là sự say

mê và mục đích mưu sinh; ở Nguyễn Huy Tưởng, nó xuất phát từ tâm nguyện của một

chàng thanh niên sớm giác ngộ ý thức công dân và tinh thần dân tộc: “Phận sự của một

người tầm thường như tôi muốn tỏ lòng yêu nước thì chỉ có việc viết văn quốc ngữ thôi”

(Nhật ký ngày 19/12/1930) [105]. Chàng thanh niên 20 tuổi ấy đã ghi vào nhật ký những

dòng cảm xúc: “Ta đây tuổi còn trẻ, tính còn ngây thơ, đọc sử Bình Nguyên mà lòng yêu

quý non sông phơi phới, trong lúc thán phục các vị anh hùng, muốn nêu các vị vào khúc anh

hùng ca để truyền về hậu thế, cho muôn nghìn đời sau soi vào...Than ôi ! ta chẳng biết,

nhưng ta cảm các vị anh hùng, thì ta nêu các vị anh hùng lên, đó là chức trách của một

người quốc dân vậy” (ngày 12/10/1933) [105]. Ông sớm đã ý thức rõ tầm quan trọng của

việc truyền bá sử sách nước nhà đối với thế hệ trẻ, đặc biệt trong buổi giao thời của văn hóa

Đông Tây mà phần thắng thế đang ngả dần về phía văn minh Âu châu. “Người không biết

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

sử nước mình là một con trâu đi cày ruộng. Cày với ai cũng được, mà cày ruộng nào cũng

được” (Ngày 13/01/1932) [105]. Con đường truyền bá tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân

tộc qua văn chương chính là ngọn lửa thắp lên cảm hứng lịch sử trong tác phẩm văn học của

ông.

Lưu Văn Lợi là người bạn thân từ thuở thiếu thời của ông trong bài Nguyễn Huy

Tưởng trước khi là một nhà văn đã kể lại cuộc sống của nhà văn sau khi tốt nghiệp, đi

làm ở nhà Đoan. Công việc tẻ nhạt của một công chức lại là cái vỏ khá tốt để nhà văn có

được sự tự do thực hiện ao ước của mình. Nhiều trang bản thảo của Đêm hội Long Trì đã

ra đời trên bàn giấy, giữa ngổn ngang hồ sơ sổ sách về các vụ vi phạm luật lệ nhà Đoan toàn

miền Bắc. Trong những câu chuyện giữa hai người bạn, ngoài chuyện gia đình, sự nghiệp,

còn nỗi trăn trở trước thời cuộc, vận mệnh dân tộc. Những nỗi trăn trở trong cảnh “quốc gia

hưng vong” đòi hỏi kẻ “thất phu hữu trách”, là nỗi băn khoăn của những thanh niên một

thời tự tìm cho mình hướng đi. Chọn con đường viết kịch và tiểu thuyết lịch sử, trong thời

điểm bấy giờ, quả là một con đường mạo hiểm, vì độc giả còn đang say mê với văn học lãng

mạn, văn học hiện thực phê phán hay những trang tiểu thuyết đậm chất li kỳ của những

chuyện kinh dị, ít người quan tâm đến đề tài mang tính chất khô khan như thế. Tin vào vốn

sử phong phú của mình và với quyết tâm định sẵn từ năm hai mươi tuổi, Nguyễn Huy

Tưởng viết một cách miệt mài, say mê nhưng đầy khó khăn và trăn trở. Từ năm 1939, ông

đã xác định con đường đi cho mình là phải dựng lại pho sử thi về hành trình dựng nước và

giữ nước của dân tộc, về những vị anh hùng đã lưu danh trong sử sách như: Trần Hưng Đạo,

Trần Quốc Toản, Lê Thái Tổ, Quang Trung...Những tác phẩm đầu tay ra đời tuy chưa thật

hoàn thiện như chính nhà văn tự nhận định nhưng đó chính là những pho lịch sử sống động,

nhanh chóng nhận được sự động viên tán thưởng của các bạn văn, giúp ông thêm vững tin

vào con đường mà mình đã lựa chọn bằng tất cả sự say mê. Trong những năm 40, Nguyễn

Huy Tưởng tích cực tham gia hội Truyền bá quốc ngữ ở Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định...,từ

đây ông bắt đầu tham gia hội Văn hóa cứu quốc, và trở thành thành viên trong ban biên tập

Báo Tiền Phong, tờ báo của hội. Những tác phẩm ra đời trong giai đoạn này (Đêm hội Long

Trì, An Tư, Vũ Như Tô, Cột đồng Mã Viện) tập trung chủ yếu vào đề tài lịch sử, trên tinh

thần truyền bá lịch sử để khơi lại truyền thống yêu nước và tự hào dân tộc trong bối cảnh

tăm tối nhất của đất nước. Khi cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Huy Tưởng là

một trong những người lãnh đạo chủ chốt của Hội văn hóa cứu quốc. Đây là thời kỳ ông

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

chuyển hướng sáng tác từ những đề tài lịch sử sang những đề tài mang tính thời sự (hồi kí

Lên chiến khu, kịch Bắc Sơn, Những người ở lại). Tham gia vào thực tế kháng chiến,

Nguyễn Huy Tưởng có cơ hội hiểu rõ hơn về những biến cố lịch sử, những anh hùng của

chính thời đại mà ông đang sống. Năm 1947, sau khi gặp những chiến sĩ của Trung đoàn thủ

đô từ Hà Nội rút ra, ông bắt đầu nhen nhóm ý tưởng dựng lại toàn cảnh cuộc kháng chiến

của quân dân Hà Nội trong những ngày mùa đông năm 1946. Vở kịch Những người ở lại ra

đời năm 1948 có thể coi như bức phác thảo đầu tiên cho một công trình đồ sộ mà ông đang

ấp ủ. Nhưng ngay khi vừa công diễn, vở kịch đã gây những dư luận phức tạp về phía người

tiếp nhận, những lời khen mang tính công thức, còn lời phê bình mang tính công kích và chỉ

trích nặng nề, tác giả tâm sự: “Buồn… Kịch của ta chỉ là một cái cớ để tả Trung đoàn Thủ

đô. Cũng nhận được những lời khen. Nhưng đã bắt đầu những lời công kích và gièm pha...

Ta có cho Những người ở lại là một tác phẩm hoàn toàn đâu. Ngay bây giờ ta đã thấy nó

non, nó xộc xệ, nhiều khi có kệch cỡm... Lòng ta trống chếnh quá. Ta muốn tắm lại trong

tình yêu. Ta đã hết yêu đâu? Không. Ta vẫn cần yêu và ta muốn được yêu. Ta muốn quên

hết những cái bẫy đang quây chung quanh ta, sống với tình yêu và nghệ thuật. Ta cần phải

có tình yêu.Ta cần phải sáng tác một cái gì mới” (nhật kí 15-2-1949) [105]. Những suy nghĩ

ấy cho thấy Nguyễn Huy Tưởng không phải là người sợ những lời phê bình, điều làm ông

ngao ngán là phải đón nhận những thái độ hằn học, những sự phê bình nặng tính giáo điều.

Khi ấy những suy nghĩ của nhà văn lại quay về với đề tài lịch sử như tìm về cội nguồn cảm

hứng với văn chương: “Mung lung trong đầu An Tư - Nhà họ Trần - càng ngày càng thấy

rằng tiểu thuyết này là sáng tác chính của ta” (19-7-1949) [105-454].

Những năm tháng đi theo văn nghệ kháng chiến, do yêu cầu của thời đại, những tác

phẩm phục vụ cho chiến đấu và sản xuất vẫn ra đời nhưng đó không phải là những đứa con

mà nhà văn dành nhiều sự quan tâm nhất. Tập kịch Anh Sơ đầu quân, tiểu thuyết Truyện

anh Lục (3 tập), Bốn năm sau,...chỉ là những tác phẩm có giá trị nhất thời. Dù khi đó,

những tác phẩm ấy được đón nhận và đánh giá cao nhưng chính bản thân tác giả cũng nhận

ra sự hời hợt và nông cạn của nó: “mình đã lăn lộn trong nghề văn hơn 10 năm, đã có ít

nhiều tiếng tăm, cũng có ít nhiều địa vị. Than ôi! Nhưng mà sao mờ mờ nhân ảnh. Tất cả

những tác phẩm của mình đều vội vàng hấp tấp, nhất thời. Chẳng xây dựng được chút tâm

hồn...Mà chính ta, cũng không muốn nhìn lại nữa” [105-501]. Trong thâm tâm ông cảm

thấy xót xa cho một nền văn nghệ bị gò bó bởi những quy tắc, giáo điều, khô khan và thiếu

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

sức sống.Những dòng nhật kí viết năm 1956 còn ghi lại: “Kiểm điểm lại mười năm kháng

chiến, tác phẩm văn học không được là bao. Mà cũng chỉ là kể sự việc, không có tư tưởng,

không có vấn đề, không có những bài học gì cho tâm hồn...Quan niệm phục vụ kịp thời, nó

đã lãng phí bao nhiêu tài năng, dẫn đến biết bao nhiêu tác phẩm vô giá trị, những nghệ sĩ

cơ hội. Thậm chí cá tính của một người nghệ sĩ không còn. Một thứ nghệ thuật chung

chung, giống nhau, không có khía nhìn, khía cảm, khía suy nghĩ của người tác giả. Công

thức lạ lùng” [105,489] Những tư tưởng ấy của ông phải đến gần ba mươi năm sau người ta

mới dám đưa ra công luận như một bước đột phá cho văn học cuối thế kỷ XX, đó là khi

Nguyễn Minh Châu công bố bài viết của mình: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn

nghệ minh họa (Văn nghệ, số 49-50-1987). Hòa bình lập lại ở miền Bắc, ông trở về với thủ

đô thân yêu, vẫn với niềm ao ước được viết một tác phẩm tương xứng với sự cao cả, vĩ đại

của con người và mảnh đất này nhưng những dự tính ấy luôn gặp những trở ngại. Tùy bút

Một ngày chủ nhật nêu lên những trăn trở của nhà văn trước thực tại buồn của cuộc sống

thủ đô sau ngày giải phóng, đã bị Tiểu ban văn nghệ đem ra phê phán không thương tiếc và

chính trong những ngày tháng ấy, Nguyễn Huy Tưởng đã gặp phải “tai nạn nghề nghiệp”.

Ông từ bỏ công tác lãnh đạo ở hội và chuyển hẳn sang sáng tác. Nguyễn Huy Tưởng thấu

hiểu hơn ai hết những đau đớn của cuộc tự lột xác để thích ứng với hoàn cảnh, cùng sẻ chia

với ông còn có Nguyễn Tuân, nhà văn tài hoa phóng túng, ghét khuôn khổ nhàm chán và tẻ

nhạt. Trong những ngày mất phương hướng ấy, ông đã suy ngẫm rất nhiều về con đường

sáng tác của mình: “ngồi nghĩ lơ mơ về công việc phải làm để sinh sống. Kịch? Xuất bản tập

nhi đồng? Viết truyện lịch sử. Tiếc trong kháng chiến đã phá tiểu thuyết An Tư. Thật là ngu

ngốc. Mất bao nhiêu tài liệu. Viết: Sát Thát - Cuốn tiểu thuyết lịch sử ra đời sẽ được hoan

nghênh nhất định. Bởi vì chán tai với cái phục vụ kịp thời trắng trợn, cái lối ăn xổi sẽ dẫn

nghệ thuật đi đến đâu?” [105,538]. Dường như, cảm hứng lịch sử là cảm hứng thường trực

trong ông, nó giúp ông vượt qua những ngày tháng khó khăn nhất, khơi lại xúc cảm trong

một tâm hồn tưởng như đã quá mỏi mệt và chán nản, thắp lại ngọn lửa nhiệt tình với văn

chương. Nguyễn Huy Tưởng xác định: “Thời đại nào cũng có những công thức của nó...

Thời đại nào cũng có những anh hiu hiu, nhạt nhẽo. Vấn đề của nhà văn là phá cái công

thức và chống cái một chiều, cái hiu hiu, cái nhạt nhẽo của con người.” [105, 539]. Là

người tâm huyết với tuổi thơ, Nguyễn Huy Tưởng là một trong những sáng lập viên đầu tiên

của nhà xuất bản Kim Đồng (tháng 6-1957). Cũng thời gian đó ông khởi bút viết tác phẩm

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

Sống mãi với thủ đô. Quá trình sáng tác đầy những day dứt, ngổn ngang giữa những bộn bề

lo toan cuộc sống gia đình và sự nghiệp, lý tưởng và hiện thực, chính trị và văn chương, tâm

huyết và bổn phận, thêm vào đó là những giày vò về thể xác do căn bệnh ung thư. Tháng

4/1958, tập I tiểu thuyết sau khi sửa lại lần thứ hai đã hoàn thành, nhưng đây cũng là lúc nhà

văn muốn bỏ nó đi để viết lại từ đầu, bởi ông cho rằng chủ đề chính chưa nổi bật, bố cục tác

phẩm loãng, nhân vật chưa bộc lộ rõ cá tính. Chưa kịp làm điều đó thì Nguyễn Huy Tưởng

bị gọi đi lớp văn nghệ mà trên thực tế là tập hợp những nhà văn “có vấn đề” về tư tưởng đi

cải tạo lao động. Ông thôi chức giám đốc nhà xuất bản Kim Đồng, đi thực tế Điện Biên

cùng Nguyễn Tuân, Văn Cao, Lưu Quang Thuận (từ tháng 07 đến tháng 12). Những trang

nhật ký thời gian này của ông cho thấy phần nào đời sống tinh thần của văn nghệ sĩ những

ngày ấy: “thấy cuộc sống vẫn có cái gì không phải là đúng là cuộc sống của con người.

Không thể bất cứ lúc nào cũng đưa ra lập trường và quyền lợi của tập thể. Biết bao nhiêu là

các cái hợp lý lấy tập thể ra để mà hạ cái nhân phẩm của con người” [105,582]. Những

biến cố trong đời sống không làm mất đi tình yêu với nghệ thuật trong ông, dù bị phê bình,

bị đánh giá sai, không vì thế mà nhà văn nguôi đi cảm hứng với những điều ông tâm huyết.

Sau chuyến đi, năm 1959, Nguyễn Huy Tưởng bắt tay vào sáng tác tiểu thuyết Bốn năm

sau và truyện phim Lũy hoa (với cái tên ban đầu là Hoa trên chiến lũy) - tác phẩm như

một dàn ý cho tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô. Cuối năm đó Kể chuyện Quang Trung là

món quà dành cho thiếu nhi ra đời. Đây là một chuyện lịch sử xây dựng hình tượng người

anh hùng áo vải cờ đào mà nhà văn dự định sáng tác từ những năm 30. Trong kế hoạch đặt

ra năm 1960, nhà văn dự định viết lại và hoàn thành tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô, sửa

lại vở Vũ Như Tô và sáng tác Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Bệnh tật khiến ông chỉ kịp hoàn

thành tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Những ngày tháng phát bệnh, Nguyễn Huy

Tưởng vẫn đau đáu với ý nghĩ tìm lối thoát cho văn chương: “Bao giờ cho có sinh khí của

một nền văn học thật đúng? Bao giờ cải thiện tình hình đình đốn này của văn học Việt

Nam?”. Khao khát có được bộ sử thi về hình ảnh người mẹ dân tộc lại đưa xúc cảm của nhà

văn về với lịch sử: “Trong cuốn tiểu thuyết này cái yêu đời, cái hóm hỉnh của người Việt

Nam xen lẫn với những cái đau thương, khốn khổ của dân tộc. Nhìn vào đây thấy cả lịch sử

Việt Nam. Ta sẽ làm nó sau khi hoàn thành cuốn tiểu thuyết về thủ đô” [105,614]. Ước vọng

ấy mãi mãi không thể thực hiện được, pho tiểu thuyết về thủ đô thân yêu vẫn là sự dang dở

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

đầy nuối tiếc đối với chính tác giả và độc giả. Nhưng có lẽ vì sự dang dở ấy mà tiểu thuyết

Sống mãi với thủ đô trở thành biểu tượng cho khát vọng một đời văn không bao giờ tắt,

khát vọng đó đã bất tử hóa một cuộc đời.

Con đường văn chương của Nguyễn Huy Tưởng là như vậy, bắt nguồn từ khát vọng

viết những tác phẩm có tầm vóc, chất lượng về đề tài lịch sử và khép lại khi ước mơ ấy vẫn

còn chưa hoàn kết. Cả hành trình văn chương gần hai mươi năm chưa từng có một thời khắc

nào nhà văn xao nhãng với bổn phận đặt ra từ những ngày đầu cầm bút, là phải làm điều gì

đó cho lịch sử dân tộc bằng văn chương. Ngay trong những tác phẩm mang tính thời sự của

ông, người ta vẫn thấy bóng dáng cảm hứng lịch sử bàng bạc trong đó, có lẽ bởi giọng văn

độc đáo của riêng ông có chất lịch lãm, uyên thâm của một nhà văn hóa, một nhà sử học,

một nhà Hà Nội học. Có thể nói, cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết nói riêng và sự nghiệp

văn học nói chung của Nguyễn Huy Tưởng hình thành từ những cá tính, phong cách con

người ông, đồng thời cũng trở thành bản sắc riêng của cây bút hào hoa ấy.

Điều cần nhấn mạnh thêm, đó là cảm hứng lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng gắn bó

chặt chẽ với mảnh đất Thăng Long - Hà Nội bằng một tình yêu tha thiết, đầy tự hào. Mỗi

con phố, mỗi nếp nhà, từng lớp đất chứa đựng trong nó biết bao buồn vui, bao thăng trầm

của lịch sử của một dân tộc. Bởi lẽ, đây là kinh đô lâu đời nhất của đất Việt, là trái tim của

cả nước. Mọi biến cố lớn lao của dân tộc, dù ở thời đại nào, đều liên quan tới mảnh đất kinh

kỳ này, Nguyễn Huy Tưởng yêu Thăng Long không chỉ với tình yêu của người con với quê

hương, bằng niềm say mê, tâm huyết của một nhà văn hóa, mà hơn thế bằng cảm hứng lịch

sử, ông đã đưa Thăng Long vượt qua tầm vóc của một địa phương thành gương mặt đại diện

cho cả dân tộc, từ Thăng Long ấy mở ra tầm vóc của những Bạch Đằng, Vạn Kiếp.. Trước

cách mạng, bộ ba tác phẩm nổi tiếng nhất của ông đều lấy đề tài về đất kinh kỳ, kịch Vũ

Như Tô, tiểu thuyết Đêm hội Long Trì và An Tư. Tiểu thuyết Đêm hội Long Trì ngoài

khía cạnh phản ánh hiện thực về những cảnh bất công trong thời phong kiến, còn là bức

tranh lãng mạn, đầy chất thơ về kinh thành Thăng Long thế kỷ XVIII. Trong tiểu thuyết An

Tư, Thăng Long hiện lên với gương mặt đau thương trong những ngày bị giặc Nguyên

chiếm đóng, hủy hoại nhưng cũng vô cùng rạng rỡ trong khúc khải hoàn Tụng giá hoàn

kinh sư của vị thượng tướng thái sư Trần Quang Khải. Thăng Long là cái nôi của những

người con ưu tú, là biểu tượng của ý chí, tài hoa trong con người Đại Việt, những người đã

dược lưu danh sử sách và cả những con người vô danh trong quá khứ. Sau cách mạng,

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

những sáng tác của ông có sự mở rộng hơn về đề tài và hiện thực phản ánh, nhưng phần tâm

huyết nhất vẫn là những tác phẩm viết về con người Hà Nội xưa và nay: Kịch Những người

ở lại, tùy bút Một ngày chủ nhật, truyện phim Lũy Hoa, tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô,

truyện thiếu nhi Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Kể chuyện Quang Trung, An Dương Vương

xây thành Ốc. Nhưng đáng kể nhất phải là tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô, một tác phẩm

tái hiện quá khứ gần, một thời điểm trọng đại trong lịch sử thủ đô - những ngày đầu toàn

quốc kháng chiến, qua đó người đọc hiểu rõ hơn về con người và linh hồn của mảnh đất

kinh kỳ. Chiều sâu tri thức, cũng như tính nghệ thuật của tác phẩm này hơn hẳn hai tiểu

thuyết trên có lẽ bởi nó được viết vào độ chín của tài năng tác giả và cũng vì nó là tác phẩm

tâm huyết, được ấp ủ suốt nửa hành trình sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng. Có nhiều người

vẫn cho rằng Sống mãi với thủ đô không phải là tiểu thuyết mang cảm hứng lịch sử mà

thiên về cảm hứng sử thi, do đề tài mà tác giả lựa chọn chưa có độ giãn cách về thời gian

giữa hiện thực và phản ánh. Theo quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu, những gì được coi

là lịch sử phải là hiện thực đã lùi xa so với hiện tại, và phải trải qua những sự đánh giá và

bình xét của nhiều thế hệ. Cuộc chiến đấu của Trung đoàn thủ đô xảy ra trước thời điểm nhà

văn sáng tác mới có mười năm, cái nhìn của tác giả vẫn là cái nhìn của người đương thời

với cảm hứng ngợi ca là chính. Tuy nhiên, nếu không có tác phẩm này, cho tới nay, độc giả

vẫn không thể hiểu hết được những ngày gian khổ của thủ đô trong một thời khắc lịch sử

quan trọng đến thế. Tác phẩm có thể coi là tiểu thuyết lịch sử bởi nó chọn đề tài là biến cố

lịch sử trọng đại, những nhân vật trong đó dù không phải là những danh nhân được lưu

trong sử sách nhưng là những con người có thực, họ đã sống và chết để bảo vệ thủ đô thân

yêu. Bằng giọng điệu trang nghiêm, từ góc nhìn khách quan của nhà sử học, Nguyễn Huy

Tưởng đã dày công sưu tầm tư liệu để dựng lại bầu không khí trang trọng khi thủ đô phát

lệnh kháng chiến, một thời điểm kéo theo những biến động trong đời sống của những cá

nhân. Cho đến thời điểm hiện tại, tiểu thuyết lịch sử viết về “quá khứ xa” (thời phong kiến)

khá nhiều, tiểu thuyết viết về những cuộc kháng chiến của đất nước trong thế kỷ XX cũng

không ít nhưng thường là đi theo cảm hứng sử thi hoành tráng hoặc cảm hứng bi kịch, nặng

về những nỗi đau thân phận của con người. Có thể mạnh dạn mà nói rằng, chưa có nhà văn

nào viết về cuộc chiến đấu trong “quá khứ gần” bằng cảm hứng lịch sử như Nguyễn Huy

Tưởng viết Sống mãi với thủ đô. Do vậy cuốn tiểu thuyết này cùng với ba tiểu thuyết kể

trên có thể coi như là những tác phẩm điển hình thể hiện cảm hứng chủ đạo trong sự nghiệp

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

sáng tác của tác giả Nguyễn Huy Tưởng. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Huy Tưởng

chọn thời điểm chiến tranh làm đề tài phản ánh của hai trong ba tiểu thuyết lịch sử của

mình. Chiến tranh là ngả rẽ của lịch sử dân tộc, là thước đo phẩm giá con người khi mỗi cá

nhân phải đối mặt trước sự sống và cái chết, buộc họ phải lựa chọn giữa quyền lợi cá nhân

và quyền lợi dân tộc. Lịch sử dân tộc được làm nên từ những sự lựa chọn ấy; tình huống bất

thường đó là nơi thử thách khả năng, bản lĩnh, không chỉ của một người, một vùng, mà là sự

thử lửa đối với cả một cộng đồng lớn.

Cảm hứng lịch sử ở ngòi bút Nguyễn Huy Tưởng mang một phong cách riêng: thiên

về cảm hứng ngợi ca, có lẽ cũng vì tạng người ông ưa những gì trang trọng, cao cả. Trong

con người ông có phẩm chất của người Hà Nội điềm đạm, thanh lịch, hào hoa trong bất cứ

hoàn cảnh nào. Đó là biểu hiện của tâm hồn biết trân trọng cái đẹp, biết sống đẹp. Phẩm

chất ấy in đậm dấu ấn trong mỗi trang tiểu thuyết về Thăng Long - Hà Nội. Điều đó được

thể hiện trong giọng văn, cách xây dựng nhân vật, chủ đề của tác phẩm. Ở Đêm hội Long

Trì, sự tương phản giữa hai tuyến nhân vật Đặng Lân và Bảo Kim, Quỳnh Hoa , Nguyễn

Mại là thủ pháp quen thuộc làm nổi bật sự đề cao cái đẹp, tài hoa, dũng khí trong chủ đề tác

phẩm. Nét đặc sắc của tác phẩm còn ở cách tạo mâu thuẫn ngay trong bản thân cá tính của

nhân vật, để sự đấu tranh giữa cao cả và thấp hèn, đam mê và bổn phận tôn lên những giá trị

nhân văn. Đó là cách xây dựng nhân vật Trịnh Sâm, nhân vật đầy mâu thuẫn trong nội tâm,

bị giằng xé giữa một bên là niềm đam mê với Tuyên phi họ Đặng, một bên là tình thương

con, đạo hiếu với mẹ già, trọng trách với dân với nước. Niềm say mê mù quáng khiến cho

ông đôi khi không phân định nổi thiện - ác, tốt - xấu, nhưng cuối cùng chính nghĩa đã chiến

thắng, Trịnh Sâm thứ tội cho Nguyễn Mại, người dám chém chết tên quốc cửu ngông cuồng,

dâm loạn. Sự sáng suốt ấy là biểu hiện của chất lý tưởng trong cảm húng lịch sử của nhà

văn, bởi điều này không có trong lịch sử (theo Tang thương ngẫu lục thì số phận Đặng

Mậu Lân kết thúc sau loạn kiêu binh).

Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của nhà Trần là cuộc kháng chiến lẫy lừng

nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Ba lần vó ngựa Thát Đát sang xâm lược nước ta là

ba lần thảm bại của chúng. Làm nên những chiến công hào hùng ấy phải kể đến tầm nhìn

chiến lược của những thân vương tài ba của dòng máu Đông A, sự đoàn kết thống nhất một

lòng của vua tôi nhà Trần và cả sự hy sinh thầm lặng của công chúa An Tư. Cuộc đời của

An Tư đã được nhiều nhà tiểu thuyết lịch sử sau này chọn làm đề tài sáng tác, bởi đó là một

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

trong số ít những người phụ nữ xứng danh” nữ trung hào kiệt” của lịch sử dân tộc Việt

Nam. Khi vận nước lâm nguy, An Tư gạt lệ, chia tay mối tình trong trắng với Chiêu Thành

Vương, đem thân làm kế mỹ nhân cứu trăm họ khỏi cơn nguy khốn. Không chỉ ngợi ca nhân

vật ở góc độ hy sinh tình cảm cá nhân và dân tộc, Nguyễn Huy Tưởng còn cho thấy sự cao

thượng từ trong góc độ đời tư của các nhân vật Trần Thông, An Tư. Chia tay vị hôn thê,

lòng đau như cắt khi tiễn nàng vào trại giặc nhưng Trần Thông vẫn đinh ninh lời hẹn đón

người về trong ngày Thăng Long sạch bóng quân thù. Dù An Tư phải thất thân với giặc

nhưng trong trái tim chàng, người con gái ấy mãi mãi “băng thanh ngọc khiết”, không gì có

thể làm hoen ố. Trần Thông hy sinh trước trận thắng, trong vòng tay người yêu, An Tư lựa

chọn cái chết lặng lẽ trong đêm Thăng Long ngập tràn khúc khải hoàn để đến với tình yêu

của mình. Đó là cái kết mang màu sắc bi tráng nhưng không hề bi lụy, nó làm nổi bật lên

chủ đề tác phẩm ca ngợi: nghĩa lớn vẹn toàn, tình yêu chung thủy, ở góc độ bi kịch thì đó là

cái bi của những giá trị cao cả.

Trong Sống mãi với thủ đô, thế giới nhân vật khá đông đảo, cá tính phức tạp, nhưng

nổi bật lên trong tư tưởng chủ đề vẫn là cảm hứng ngợi ca đối với những người con thủ đô

anh dũng. Họ vốn xuất thân từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, từ những con người thấp

kém trong xã hội như cậu bé đánh giày, bán báo, cô gái nhà thổ, tên lưu manh, con sen,

thằng ở... khá hơn một chút là những nghệ sĩ nghèo, anh công nhân, người thầy giáo, chị

hàng hoa.... cho tới những cậu ấm cô chiêu quanh năm sống trong nhung lụa, những chiến sĩ

cách mạng từng chịu tù đày. Tất cả đám đông ấy, thời bình, có thể là những người bình

thường với tất cả những thói hư tật xấu nhưng trước cuộc chiến đấu bảo vệ thủ đô thân yêu,

họ đã thay đổi. Cái phần cá tính nhỏ mọn, tầm thường trong con người chìm xuống, kề cận

với gian khổ, với mất mát, hy sinh, họ bỗng lớn vụt lên về nhân cách. Nghĩa vụ với đất

nước, khát vọng hòa bình đã kết nối họ lại trong một khối đoàn kết, không phân biệt xuất

thân cao thấp, sự đố kị nhỏ nhen cũng tan biến, thay vào những dục vọng thấp hèn là những

khát vọng cao cả. Thời khắc lịch sử trọng đại ấy khiến cho con người biết sống có ý nghĩa

hơn vì những điều lớn lao mà thường ngày ít ai nghĩ đến. Trong tác phẩm có nhiều trang nói

về những mất mát, đau thương, có cả những nhân vật ích kỷ, vụ lợi, thờ ơ với vận mệnh dân

tộc nhưng tất cả những cái đó chỉ làm nền để tôn lên chất men say trong cảm hứng ngợi ca

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

hào hùng của tác phẩm.

CHƯƠNG 2:NHỮNG CHẤT LIỆU CHỦ YẾU CỦA CẢM HỨNG

LỊCH SỬ TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN HUY TƯỞNG.

2.1. Quan niệm về cảm hứng lịch sử qua bốn tiểu thuyết:

2.1.1. Mối quan hệ giữa hiện thực và sáng tạo trong loại hình tiểu thuyết lịch sử.

“Giá trị của những tư tưởng sáng tạo sinh động ấy chính là ở chỗ chúng hướng dẫn

những tìm tòi sáng tạo của nhà văn, chính là ở chỗ, chúng dẫn đến những khám phá nghệ

thuật chứ không thay thế cho những khám phá ấy, chúng soi sáng cuộc sống chứ không che

lấp cuộc sống” [48,26]. Vì văn học phản ánh hiện thực qua lăng kính sáng tạo của nhà văn

nên tưởng tượng và hư cấu là yếu tố luôn luôn tồn tại trong quá trình sáng tác.Khi sáng tạo

nên hình tượng văn học , ngoài những việc yêu cầu về tính chân thực, độ khái quát hoá hiện

thực, tính cá biệt thì hình tượng văn học chứa đựng tính tư tưởng Tư tưởng chính là cái làm

nên sự khác biệt giữa hiện thực và sáng tạo nghệ thuật.

Bất kỳ một hình thức thể loại văn học nào cũng cần cái gốc cơ bản là hiện thực. Nhà

văn có thể tích lũy những tri thức về hiện thực cuộc sống ngay trong quá trình sáng tác hoặc

trước đó, khi mới hình thành ý đồ, cảm hứng, sự tích lũy ấy càng phong phú thì trường sáng

tạo của nhà văn càng được mở rộng. Cơ sở của ý tưởng sáng tác ở nhà văn thường là những

quan sát của anh ta về hiện thực, là những ấn tượng do những hiện tượng trong cuộc sống,

những sự kiện lịch sử, xã hội tạo nên. Trong các loại hình tiểu thuyết thì tiểu thuyết lịch sử

là loại bám sát chất liệu từ cuộc sống nhất, nhưng dù vậy nó vẫn là sản phẩm của trí sáng

tạo. Lịch sử là những sự kiện có thật, do những con người đã từng tồn tại trong quá khứ tạo

ra, được ghi chép lại tỉ mỉ, chính xác và được một cộng đồng thừa nhận. Đó là bộ khung

xương cố định, nhiệm vụ của nhà văn là phải tạo ra da thịt cho nó bằng trí tưởng tượng, sự

hư cấu. Tài năng của nhà tiểu thuyết lịch sử thể hiện ở khả năng tái hiện những không gian,

bối cảnh phù hợp với thời đại được phản ánh, ở sự sống động, linh hoạt của các nhân vật với

chiều sâu nội tâm, cá tính. Muốn đạt được như vậy thì người viết tiểu thuyết lịch sử phải

tích lũy một lượng phong phú những kiến thức sử học, kiến thức liên ngành về văn hóa, xã

hội, ngôn ngữ. Đặc biệt nhà văn phải tìm ra những điểm tương đồng trong nếp nghĩ của

nhân vật trong quá khứ với con người hiện đại, bởi chỗ đứng của người viết và người tiếp

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

nhận tác phẩm đã cách đối tượng được phản ánh một khoảng thời gian khá dài.

Tiểu thuyết lịch sử ra đời tương đối sớm cả ở văn học phương Đông và văn học

phương Tây. Ở mỗi nền văn học, luôn tồn tại những quan niệm rất khác nhau về mối quan

hệ giữa hiện thực lịch sử và hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử. Là một loại hình mang đầy đủ

những đặc trưng của tiểu thuyết, tiểu thuyết lịch sử lấy nội dung lịch sử làm đề tài và cảm

hứng sáng tạo, dựa vào những sự kiện trong quá khứ để hư cấu, tưởng tượng, để tạo nên

hứng thú mới lạ từ những điều vốn quen thuộc. Sự khác biệt cơ bản giữa lịch sử và tiểu

thuyết lịch sử là ở chỗ những nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết không xuất hiện trong tư thế

duy nhất mà lịch sử đã đóng khung cho nó mà xuất hiện trong những hành động, suy nghĩ

của cuộc sống ở cả tư cách xã hội và ở cả khía cạnh đời tư. Tiểu thuyết lịch sử, nói như Chế

Lan Viên là nhảy qua hai vòng lửa: vòng lửa lịch sử và vòng lửa tiểu thuyết, hư cấu lịch sử

phải đạt tới độ làm cho nó thật hơn cả sự thật đã diễn ra trong chính sử. Tính chân thực của

tiểu thuyết lịch sử chính là độ điển hình của nhân vật và hoàn cảnh,đạt được nhờ sự chi tiết

hóa và khái quát hóa trong bút pháp của nhà văn. Xét ở góc độ đề tài và tư tưởng chủ đề của

tác phẩm, việc chọn đề tài lớn nhỏ không quan trọng bằng cách nhà văn khai thác đề tài ấy

nông hay sâu và tư tưởng gởi gắm trong đó nhiều hay ít. Điều này phụ thuộc cảm quan của

nhà văn trước hiện thực lịch sử được phản ánh và tầm tri thức của nhà văn về những yếu tố

cấu thành nên sự kiện lịch sử ấy.

Công việc của người viết tiểu thuyết nói chung và người viết tiểu thuyết lịch sử nói

riêng là công việc đòi hỏi khả năng quan sát, tư duy tưởng tượng rất lớn. Trong tiểu thuyết

lịch sử, thế giới hiện thực là quá khứ, nhân vật và sự kiện đều đã mang những quan niệm

đánh giá của nhiều thế hệ và là những điều đã trở thành bất biến trong sử sách dân tộc.

Trong tiểu thuyết lịch sử, dù nhà văn có hư cấu đến đâu cũng không thể nói sai về những gì

lịch sử đã công nhận. Nhân vật của tiểu thuyết lịch sử vừa phải sống động vừa phải nhất

quán với những cá tính và hành động đã được lưu trong sử sách. Nhà văn vì vậy buộc phải

nghiêm túc và tôn trọng thành quả của nhà sử học trong quá trình sáng tác, mặt khác không

quá lệ thuộc vào những tư liệu ít ỏi của lịch sử.

Theo Milan Kundera, nhà tiểu thuyết Pháp gốc Tiệp (trong Tiểu thuyết gia không phải

thằng hầu của sử gia): “Anh không thể kể về, hay bàn về lịch sử, nhưng khám phá ra những

khía cạnh chưa biết tới của hiện hữu con người. Những biến động lớn lao của lịch sử đối

với anh ta như cái đèn rọi bất thình lình làm sáng tỏ những khía cạnh ẩn giấu và vạch trần

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

chúng ta”. Những khía cạnh còn ẩn giấu ấy là những nét nhân văn mà lịch sử không dễ phô

bày, ở đó có phần “con người” đúng nghĩa của những thần tượng lịch sử. Trong những ngôi

đền thiêng liêng mà lịch sử dựng lên, người ta hầu như chỉ thấy hương hoa, thấy những

tượng đài đẹp đẽ cao cả. Văn học tuy không phải làm chức năng “hạ bệ”, “giải thiêng”

những thần tượng ấy, không tô son điểm phấn cho nó mà làm nhiệm vụ đưa những gì xa xôi

trở thành gần gũi, phát hiện trong những điều cao cả, lý tưởng có cả những điều bình

thường, và phát hiện ra những hiện thực bình thường có những giá trị phi thường mà lịch sử

bỏ qua. Nhà văn Hà Ân cũng đề cập tới vấn đề này ở phạm vi nhỏ hơn, trong truyện lịch sử

viết cho thiếu nhi: “Người sáng tác phải xem các nguồn tài liệu và phải có những kiến giải

riêng”, khi ông ta xây dựng nhân vật lịch sử thành nhân vật tiểu thuyết trong một khung

cảnh lịch sử là “đem tới cho các em một triết lý mà mình ứng tâm chứ không nhằm mục đích

trình bày đầy đủ bối cảnh lịch sử” [1]. Nhận xét về tiểu thuyết lịch sử trong dòng văn hóa

dân tộc, nhà văn Thái Vũ cho rằng: “Viết tiểu thuyết lịch sử cứu nước chống xâm lăng của

dân tộc không phải chỉ đơn thuần viết về con người lịch sử có thật nào đó, mấy tình tiết chủ

đạo nào đó. Rồi thêm thắt này nọ để tạo hình cụ thể cho nhân vật chính là ổn” mà “Trước

khi đi vào chi tiết với nhân vật lịch sử, người cầm bút nên nghiên cứu và tái hiện nội dung

xã hội của giai đoạn lịch sử đó, đánh giá đúng mức như một nhà khoa học về thời đại đó,

nhân vật đó” (tạp chí Sông Hương số 6 năm 2001). Nhà văn G.Lukacs nhấn mạnh: “Trong

lĩnh vực xây dựng tiểu thuyết lịch sử, tài năng bộc lộ qua việc phản ánh những nguyên nhân

dẫn đến sự thật trong trái tim con người, những sự thật mà biến động của chúng đã bị giới

sử học bỏ qua. Các nhân vật của tiểu thuyết lịch sử phải sinh động hơn các nhân vật lịch sử,

vì các nhân vật của tiểu thuyết lịch sử được trao sự sống, còn các nhân vật lịch sử thì đã

sống”. (Trương Đăng Dung - Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mỹ học của G.Lukacs,

tạp chí Văn học số 5/1994).

Hình thức tiểu thuyết chương hồi Việt Nam vốn là hình thức vay mượn từ Trung Hoa,

chỉ có điều, tiểu thuyết chương hồi của Trung Hoa ngoài những bộ giảng sử như: Tam

Quốc diễn nghĩa, Tùy Đường diễn nghĩa, Thủy Hử truyện... còn có những tiểu thuyết về

đề tài thế sự hay tâm lý: Hồng Lâu mộng, Nho lâm ngoại sử, Kim Bình Mai... Tiểu thuyết

lịch sử trung đại của Việt Nam mang đầy đủ những đặc trưng của tiểu thuyết chương hồi:

nội dung truyện chủ yếu xây dựng theo những hành động của nhân vật, ít khắc họa tâm lý,

tính cách nhân vật, nhân vật miêu tả theo bút pháp ước lệ tượng trưng, cốt truyện phát triển

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

theo trật tự thời gian tuyến tính. “Tiểu thuyết lịch sử trung đại ở Việt Nam ít hư cấu tuy đã

có sự quan tâm miêu tả những số phận bi kịch, vì vậy, tác phẩm đã phần nào thoát khỏi sự

hạn hẹp về chức năng để tái hiện gương mặt bề bộn, phức tạp của lịch sử” [51,10]. Tác

phẩm Hoàng Lê nhất thống chí là một ví dụ điển hình, các tác giả đã vượt qua lối chép sử

biên niên bằng cách kết hợp sự kiện hiện tại với dòng hồi tưởng, phá bỏ lối kể chuyện theo

trình tự thời gian, nhân vật khá sống động với cá tính rõ rệt chứ không đơn thuần là những

yếu nhân lịch sử đã định hình trong khuôn khổ tượng đài.

Trong nửa đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại hóa, cùng

với nó, tiểu thuyết lịch sử đã mang những dấu ấn mới với số lượng tác phẩm khá lớn:

Nguyễn Tử Siêu có Tiếng sấm đêm đông, Hai Bà đánh giặc, Trần Nguyên chiến kỷ, Việt

Thanh chiến sử... Nguyễn Triệu Luật có Bà chúa Chè, Loạn kiêu binh, Chúa Trịnh

Khải, Hòm đựng người, Ngô Tất Tố có Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ,

Lịch sử Đề Thám và Nguyễn Huy Tưởng với An Tư, Đêm hội Long Trì... sự xuất hiện

phong phú và đa dạng của những tác phẩm trên góp phần làm phát triển thể loại tiểu thuyết

hiện đại cả về hình thức lẫn nội dung. Ban đầu, đa số các tác phẩm vẫn theo hình thức tiểu

thuyết chương hồi, dần dần, chịu ảnh hưởng từ hình thức, kết cấu của tiểu thuyết phương

Tây. Tiểu thuyết lịch sử không những ngày càng xa hình thức của tiểu thuyết chương hồi,

mà nó có nội dung khá độc lập với lịch sử. Nhà văn không quá chú trọng vào việc thể hiện tỉ

mỉ những tình tiết lịch sử y như nó vốn có mà tập trung vào sự khai thác những góc khuất

của lịch sử. Nổi bật trong số những cây bút viết về đề tài lịch sử cùng thời, Nguyễn Huy

Tưởng đem đến một phong thái trang nghiêm đúng với tinh thần của lịch sử. Trong tiểu

thuyết của mình, nhà văn đã tạo ra thế giới hình tượng với những mối quan hệ chung và

riêng, cá nhân và cộng đồng khá đa dạng nhưng không hỗn tạp, không xa lạ với những

gương mặt đã quen từ quá khứ.

Cuối thế kỷ XX văn học Việt Nam đã phát triển theo nhiều khuynh hướng mới, trong

số đó có những khuynh hướng khá táo bạo trong cách khai thác đề tài lịch sử. Vàng lửa,

Kiếm sắc, Phẩm tiết (Nguyễn Huy Thiệp) và Giàn thiêu (Võ Thị Hảo) được viết theo

môtíp huyền thoại hóa, giễu nhại lịch sử, “giải thiêng” các “thần tượng” của lịch sử nhằm

đưa ra những góc nhìn mới từ điểm nhìn của con người hiện đại về quá khứ. Điều đáng nói

là những tiểu thuyết và truyện ngắn ấy lại không xuất phát từ cảm hứng lịch sử. Nhà văn

dựa vào nhân vật và sự kiện lịch sử để sáng tác theo nguồn cảm hứng về thế sự, về tôn giáo,

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

cảm hứng về bi kịch thân phận con người.... và như vậy, tiểu thuyết lịch sử ngày càng xa rời

cảm hứng về lịch sử. Tôn trọng tinh thần của lịch sử, đáng kể đến trong số những tiểu thuyết

cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI là bộ tiểu thuyết về triều đại nhà Trần của Hoàng Quốc Hải

và tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh. Đọc tiểu thuyết của Hoàng Quốc Hải,

nhất là tập Thăng Long nổi giận, ta được đắm mình trong cảm hứng tự hào về lịch sử dân

tộc và đâu đó bắt gặp bóng dáng của tiểu thuyết An Tư của Nguyễn Huy Tưởng. So với An

Tư, Thăng Long nổi giận có cái kỳ vĩ hơn của một quần thể tượng đài hoành tráng về

những anh hùng hào kiệt nhà Trần, nhưng đôi chỗ về nội dung tư tưởng lại không sâu sắc

bằng. Hoàng Quốc Hải đem đến một bức tranh lịch sử toàn diện về những con người trong

buổi bình Nguyên, cả những nhân vật chính diện và nhân vật phản diện, cả người trung

thành lẫn kẻ phản bội, cả phe ta và địch. Tư tưởng chủ đề của Thăng Long nổi giận vẫn tập

trung vào việc ngợi ca lịch sử, đề cao khí tiết của những bậc anh hùng. Khác với kết thúc

của An Tư, trong Thăng Long nổi giận, An Tư hy sinh trước giờ chiến thắng, nàng được

phong là “Dực bảo trùng hưng liệt nữ”, Chiêu Thành Vương không chết mà bỏ đi biệt tích.

Đó là một cái kết có hậu khác hẳn với kết thúc đau đớn, đậm sắc thái bi kịch trong tiểu

thuyết của Nguyễn Huy Tưởng. Lịch sử vốn chưa công bằng với người phụ nữ, người ta

quen với việc ngợi ca các đấng mày râu xả thân ngoài chiến trận, hay đôi khi cũng có lưu

tâm đến những bậc anh thư xông pha nơi mũi tên hòn đạn mà quên đi những người phụ nữ

đã hy sinh thầm lặng để làm nên những chiến công ấy. Những nhân vật nữ trong sáng tác

của Nguyễn Huy Tưởng đã bổ sung vào cái phần khiếm khuyết ấy trong lịch sử.

Với cảm hứng sâu sắc về thời Trần, thời đại của những chiến công hiển hách, sau tiểu

thuyết An Tư (1944), Nguyễn Huy Tưởng đã viết tiếp tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng.

Tuy là để phục vụ cho độc giả thiếu nhi nhưng tác phẩm này của ông lại đã chinh phục được

độc giả các giới cũng như các tầng lớp bạn đọc bởi sự hấp dẫn đặc biệt của nó.

Hiện thực lịch sử được khai thác ở đây là cuộc kháng chiến lẫy lừng của dân tộc Đại

Việt chống quân Nguyên dưới sự lãnh đạo của vị anh hùng kiệt xuất Trần Hưng Đạo, nhưng

hình tượng nhân vật trung tâm của truyện lại là Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản.

Truyện được viết bằng lối văn trần thuật tưởng như bình thản “khách quan” nhưng thật

ra đầy ắp trong đó là cả một tình cảm nồng nhiệt của nhà văn dành cho nhân vật của mình.

Bằng rất nhiều tình tiết sáng tạo, nhà văn đã đưa người đọc đi theo bước chân hăm hở

“nhập cuộc” của trang thiếu niên anh dũng Trần Quốc Toản. Tuổi tuy còn nhỏ nhưng đã xác

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

lập được một vị trí nhất định trên trang sử nhà Trần và đã đi vào “Quốc sử diễn ca”.

“Hoài Văn tuổi trẻ chí cao

Cờ đề sáu chữ quyết vào lập công”

Thật ra, xoay quanh tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng có một số vấn đề đặt ra:

- Có đúng là quân của Trần Quốc Toản thích vào tay hai chữ” Sát Thát” trước nhất

không? (ý kiến của Hoàng Nguyên Cát) “Cảm nhận về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng qua

công việc biên tập Lá cờ thêu sáu chữ vàng” [77,367].

Thiều Quang, trong bài viết Lá cờ thêu sáu chữ vàng thì bày tỏ thái độ không đồng

tình với Nguyễn Huy Tưởng ở chỗ đã sử dụng và sáng tác hư cấu quá xa với cơ sở dữ liệu.

Ví dụ: “Tên vương thân bán nước chạy xuyên qua rừng đi theo địch, bị quân Thế Lộc

bắn chết, không phải là Trần Ích Tắc, theo tài liệu của nhiều cuốn sử cũ có thể tin được, là

kẻ đã đem cả vợ con ra hàng giặc, khi giặc mới tiến đến chân thành” [77,363].

Để cho Trần Quốc Toản đánh thắng Toa Đô là không hợp lý, vì thực tế, Toa Đô là

kiện tướng đáng tin cậy nhất của vua Nguyên, hai lần được cử đi đánh Đại Việt với hàng

chục vạn quân, trong khi Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản có thể anh hùng, dũng cảm nhưng

sức mạnh bản thân của người thiếu niên mảnh dẻ như nhi nữ, yếu như cánh hoa thì không

thể không có giới hạn nhất định (ý kiến của Thiều Quang) [77,364].

Hoàng Nguyên Cát, trong bài viết đã nêu, cũng không đồng tình việc quá đề cao Trần

Quốc Toản, vì có thể như vậy sẽ làm mờ các vị anh hùng khác: “Ta chưa có những truyện

lịch sử về các vị ấy, các em chưa hình dung được tài năng của họ, bây giờ Trần Quốc Toản

tài giỏi thế này, e sẽ không đánh giá đúng các vị ấy, dẫn đến nhìn nhận sai về lịch sử”

[77,364] .

Không biết bản nháp đầu tiên của Nguyễn Huy Tưởng viết cụ thể những chi tiết nêu

trên như thế nào. Căn cứ vào bài viết của Hoàng Nguyên Cát thì Nguyễn Huy Tưởng chỉ

sửa có chi tiết mũi tên cắm vào lưng Toa Đô không phải của Trần Quốc Toản nữa, mà là

của Nguyễn Khoái.

Dựa vào Nguyễn Huy Tưởng toàn tập - tập 2, NXB Văn học Hà Nội, 1996. và theo

Trang viết cho thiếu nhi - NXB Văn học 1966, thì chẳng phải đội quân của Trần Quốc

Toản thích vào cánh tay là một mẩu đối thoại giữa Hoài Văn Hầu và quân sĩ.

Hoài Văn hỏi:

- Ai bày cho anh em cái việc này?

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

Một người nói:

- Thấy các đạo quân khác có anh em thích hai chữ “Sát Thát” vào tay thì chúng tôi

cũng làm theo. Thích vào người mới không quên được mối tử thù. Sông có thể cạn, đá có

thể mòn, hai chữ này không thể nào phai được. Sống thì ở trên vai, chết thì tan đi với xương

cốt, nhập vào hồn phách bay đi giết giặc [106, tập 28/38].

Cũng thế trong bản in đã dẫn, Nguyễn Huy Tưởng không hề để cho Trần Ích Tắc bị

bắn chết, tuy là hắn bị trúng tên vào vai (do Nguyễn Thế Lộc bắn) nhưng hắn cứ đeo tên mà

chạy và đã chạy thoát khỏi sự truy đuổi của quan quân và Thế Lộc.

Ở chi tiết chém đầu nguyên soái Toa Đô, Đại Việt sử ký toàn thư có chú thích: Trong

An Nam chí lược ghi là Toa Đô chết ở sông Cầu.

Như vậy, cái chết của Toa Đô không được sử sách nói rõ là do vị tướng nào của ta

giết.

Dựa vào sử liệu, Nguyễn Huy Tưởng có thể đã sáng tạo sự việc Trần Quốc Toản bắt

Toa Đô thiết tưởng cũng chẳng có gì quá đáng, vì Đại Việt sử ký toàn thư cũng đã có ghi

về khí phách của Trần Quốc Toản như sau: “Khi đối trận với giặc tự mình xông lên trước

quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám đối địch” [116,49]. Như vậy, thế mạnh

về vũ khí của đội quân “phá cường địch, báo Hoàng Ân” là gì nếu không phải là cung tên

phát huy được sức mạnh từ xa, chứ phải đâu chiếm thế thượng phong ở đường gươm, mũi

giáo. Mà cung tên thì một tên quân thường cũng có thể hạ gục được một viên chủ tướng. Sự

sáng tạo hư cấu này, ở góc độ tiểu thuyết lịch sử là chấp nhận được.

Còn vấn đề e rằng quá đề cao Trần Quốc Toản sẽ làm mờ đi các vị anh hùng khác, các

độc giả nhỏ tuổi có thể sẽ không hình dung được tài năng của các vị anh hùng ấy, điều này

không khó giải quyết khi nhà văn có đủ bản lĩnh sáng tạo để tái hiện cho được các vị anh

hùng khác ấy trên trang viết của mình.

Cũng thế, sự việc hình người đan bằng tre để lừa giặc được Đại Việt sử ký toàn thư

ghi lại như sau: “Dụ binh giặc đến huyện Từ Ninh (nay thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh

Phú) việc phụ đạo huyện ấy là Hà Đặc lên núi Trĩ Sơn cố thủ. Giặc đóng ở đông Cư Đà

(Phong Châu - Vĩnh Phú). Hà Đặc lấy tre đan thành những hình người to lớn, cho mặc áo,

cứ đến chiều tối thì dẫn ra dẫn vào. Lại dùi thủng cây to cắm tên lớn vào giữa lỗ để giặc

ngờ là sức bắn khỏe xuyên suốt được. Giặc sợ không dám đánh nhau với Đặc. Quân ta hăng

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

hái xông ra đánh lại được giặc” [116, 56].

Còn trong truyện của Nguyễn Huy Tưởng thì đó sáng kiến của Hoài Văn Hầu, nảy

sinh trên cơ sở được nhìn thấy những hình người có được bên trong cái thế đang giương

cung định bắn của các tráng sĩ người Mán. Họ dùng những hình người này để nghi binh với

giặc vì quân họ ít. Hoài Văn Hầu nhớ đến thần tướng Lý Ông Trọng khi xưa, thác rồi mà

tinh anh vẫn còn lưu trên tượng khiến quân hung nô khiếp sợ. Chi tiết sáng tạo này cho thấy

sự kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc của Hoài Văn Hầu - một con người văn võ toàn

tài, là niềm tự hào của cả dòng tộc.

Như vậy vấn đề dùng sử liệu để viết truyện lịch sử, đúng như Nguyễn Huy Tưởng đã

từng thổ lộ quan niệm của ông:“Về chính xác lịch sử thì tiểu thuyết chỉ không cần mâu

thuẫn với sử mà cũng trong những cái lớn, còn thì cái gì sử sách không nói, ta có quyền

nói” [77,367].

Những điều bộc bạch của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã làm nổi bật đặc trưng của

tiểu thuyết lịch sử.

2.1.2. Nhận diện cảm hứng lịch sử ở nhà văn Nguyễn Huy Tưởng

Theo Thuỵ Khuê, đọc tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng , ta thấy toát lên một cách

nhìn lịch sử lành mạnh và quân bình: “Đối với ông, lịch sử không là một sản phẩm quảng bá

chiến tranh, cũng không là bộ máy phân biệt chính tà, lịch sử chỉ là sự chuyển biến nhân

sinh trong những điều kiện đặc dị mà từ đó nhà văn có thể triển khai những băn khoăn sâu

sắc về thân phận con người, thân phận nghệ thuật” (Thụy Khuê, Nguyễn Huy Tưởng -

Một quan niệm về lòng yêu nước. Sóng từ trường II, tr 141). Như vậy cảm hứng lịch sử ở

Nguyễn Huy tưởng gắn với lòng yêu nước của một trí thức tài hoa chân chính.

Ông tìm về những giá trị cổ điển: “Ở tiểu thuyết lịch sử, văn ông mang âm hưởng biền

ngẫu trang nghiêm, đài các. Ngòi bút đãi lọc, cổ điển hóa văn phong trong cách chỉnh lời,

chuốt ý làm toát ra cái không khí cổ sử, đối thoại gắn bó với triều nghi, với tâm uất giai

nhân trong nội cảnh vàng son, kích thế uy hùng của những chiến thắng Vân Đồn, Vạn Kiếp,

Bạch Đằng...” (Thụy Khuê, Nguyễn Huy Tưởng -Một quan niệm về lòng yêu nước.Sóng

từ trường II, tr141). Đó là biểu hiện của tham vọng muốn tái thiết không gian và tâm thức

quá khứ trong ngôn ngữ xưa:đồng thời tân trang hóa tiểu thuyết lịch sử bằng cách đưa ra

những chủ đề về ý nghĩa của lòng yêu nước,về mối tương quan giữa nghệ thuật và quần

chúng, về sự đe dọa của áp lực thần quyền, áp lực thị dân trên số phận sáng tác. Những tác

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

phẩm tâm huyết nhất của Nguyễn Huy Tưởng là những tác phẩm đã ra đời từ trước 1945 và

còn được viết đi viết lại nhiều lần trong suốt thời kỳ kháng chiến, phản ánh nỗi băn khoăn

của nhà văn về tư tưởng yêu nước. Lòng yêu nước trong quan niệm của Nguyễn Huy Tưởng

không máy móc đơn chiều mà nó hòa hợp với lòng nhân đạo. Trong sáng tác của mình, dù

là trước hay sau cách mạng, nhà văn luôn thể hiện sự day dứt giữa một bên là lòng ái quốc

và một bên là chiến tranh, một bên là tinh thần phản chiến nhân bản và một bên là bạo lực

cách mạng. Cho dù cuối cùng, tinh thần yêu nước chủ chiến có chiến thắng thì người đọc

vẫn thấy vinh quang ấy có nỗi kinh hoàng, xót xa của con người trước cảnh đầu rơi máu

chảy. Những tư tưởng ấy được thể hiện trong tâm tư của ông vua Thiệu Bảo (An Tư) lúc

vận nước lâm nguy; nhưng dao động muốn chủ hòa vì thương dân chịu cảnh binh lửa của

ông là sự tương phản với tinh thần chủ chiến cương quyết của Hưng Đạo. Đặc biệt lòng yêu

nước trong quan niệm của ông thể hiện ý niệm tự do lựa chọn và hội nhập với tình yêu cuộc

sống, là một giá trị nhân bản, không thể dập vùi, thổi phồng theo đòi hỏi chủ quan của chính

trị lịch sử. Trong cái nhìn về lịch sử ấy, còn đau đáu một nỗi niềm trăn trở của muôn đời

nghệ sĩ: nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh? Nó đặt ra các vấn đề đối thoại

về tương quan giữa bạo lực và nghệ thuật, nghệ thuật với cường quyền. Tài hoa của Bảo

Kim (Đêm hội Long Trì) cũng bất lực trước sự chuyên quyền bạo ngược của Đặng Lân.

Chủ nghĩa yêu nước của Nguyễn Huy Tưởng ẩn dưới chiều sâu của lịch sử, trong bản

chất sâu xa của con người và gắn bó với thân phận sống, với đất đai bờ cõi, với vầng trăng,

ngọn cỏ quê hương. Cái chủ nghĩa yêu nước ấy không cần phết sơn, bôi hồ, không cần đến

những lời hô hào, tuyên truyền, cổ động; nó âm thầm, lặng lẽ chảy tự ngàn xưa và chảy mãi

tới ngàn sau. Nó không là độc quyền của một thời đại nào cả.

Và cảm hứng lịch sử ấy không thuần nhất là vấn đề của thời gian đã mất, nó là sợi dây

gắn kết vô hình nối liền quá khứ với tương lai. Do vậy mà những câu chuyện lịch sử của

ông không đơn thuần chỉ để nói về một không gian và thời gian được giới hạn trên bề mặt

câu chữ, mà tất cả chỉ là điểm tựa để nhà văn mở rộng và xác định rõ hơn ý niệm về đất

nước một cách toàn diện theo hai trục không gian và thời gian; ý niệm về dân tộc từ những

con người cụ thể đến cả cộng đồng rộng lớn.

2.2 Những chất liệu lịch sử khơi nguồn cảm hứng.

2.2.1 Đề tài.

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

2.2.1.1 Cuộc đấu tranh giữa Chính - Tà, bài toán muôn đời của lịch sử.

Đêm hội Long Trì là tiểu thuyết đầu tiên của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Tác phẩm

hình thành từ năm 1942 và được in thành sách năm 1944, trước đó được đăng trên Tri tân

(từ 24-11-1942 đến 12-08-1943). Tuy nhiên, những trăn trở của tác giả về tác phẩm này còn

kéo dài đến những năm sau này (1945), điều đó còn được ghi lại trong nhật ký của nhà văn.

Không bao giờ tự hài lòng với mình, luôn cầu tiến, vươn tới sự hoàn thiện, đó chính là cá

tính của Nguyễn Huy Tưởng.

Trước thế kỷ XX có bộ tiểu thuyết lịch sử Hoàng Lê thống nhất chí của Ngô gia

văn phái đã phản ánh bộ mặt phong kiến thời Lê - Trịnh, ngoài ra còn có Việt Lam xuân

thu của Lê Hoan. Đến đầu thế kỷ XX, có rất nhiều nhà tiểu thuyết lịch sử đã dựa trên

những tác phẩm ấy để viết lên những pho tiểu thuyết mới. Ngô gia văn phái trình bày bộ

mặt lịch sử từ năm Trịnh Sâm lên ngôi (1768) kéo dài tới 30 năm với nhiều biến cố: lúc cuối

đời của Trịnh Sâm nội bộ tập đoàn Lê - Trịnh lục đục, chúa chết, loạn kiêu binh, Tây Sơn

kéo quân ra Bắc và họ Trịnh mất nghiệp chúa. Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế và đại phá hai

mươi vạn quân Thanh. Nhà Tây Sơn lại sụp đổ, Gia Long lên ngôi (1802). Thời kỳ lịch sử

này được sử sách miêu tả một cách có hệ thống và toàn diện cái xã hội nhiễu nhương của

thời phong kiến suy tàn. Sự thật xã hội Việt Nam thời Lê Cảnh Hưng là một xã hội vô cùng

rối ren và thối nát, vua chẳng ra vua, chúa chẳng ra chúa. Với hình thức tiểu thuyết chương

hồi, tác phẩm còn in dấu ấn của thời văn sử bất phân, yếu tố tiểu thuyết ít hơn yếu tố lịch sử.

Đặc biệt chất liệu lịch sử trong đó mang tính thời sự bởi bản thân nhà văn là nhân chứng của

thời đại được phản ánh. Cục diện lịch sử được trình bày dưới dạng chất liệu sống, khá khách

quan, chưa chịu sự bình giá của người đời. Nhưng tác phẩm của Ngô gia văn phái đã khéo

léo lồng vào những sự kiện và nhân vật cái nhìn bình xét rất tinh tế khiến độc giả thấy được

tác phẩm rất chân thực và sống động. Ví như chi tiết Trịnh Tông lên ngôi sau vụ nổi loạn

của kiêu binh ở phủ Chúa, một trong những trường đoạn hay nhất của tiểu thuyết, chân dung

nhân vật hiện ra rất sinh động mang tính chất châm biếm thật thâm thúy . Những người đi

sau như Phan Trần Chúc, Lan Khai v.v... thường dựa vào Hoàng Lê thống nhất chí để

dựng nên tác phẩm của mình (Bà Chúa Chè, Tĩnh Đô Vương, Chúa Trịnh Khải...). Các

nhà văn này sáng tác theo lối phóng tác từ nguyên mẫu tác phẩm, hoặc xoáy sâu vào chuyện

tình của Trịnh Sâm và Đặng Thị Huệ, hoặc tập trung khắc họa cuộc đời của Đặng Thị Huệ,

từ khi là cô thôn nữ làng Chè trở thành Tuyên phi sủng ái bậc nhất của chúa Trịnh, đến khi

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

thất thế sau loạn kiêu bình, thản nhiên đón nhận sự trừng phạt từ phe đối địch, coi như hoàn

thành trò chơi với số phận. Các tác giả đôi khi tò mò, đi quá sâu vào những chuyện đời tư

trong phủ chúa như lễ thí nhi của Trịnh Tông, bệnh cổ của Trịnh Cán, vụ đánh ghen của

Dương Thị Ngọc Hoan với Đặng Thị Huệ v.v... trong khi đó lại không mấy quan tâm đến

những vấn đề lớn lao hơn của lịch sử: mâu thuẫn xã hội đang bị đẩy đến cao trào.

Trong tác phẩm của mình , Nguyễn Huy Tưởng đã sáng tạo ra một bầu không khí lịch

sử riêng. Dựa trên những sự kiện lịch sử có thật, đã được lưu lại trong văn chương và sử

sách thời phong kiến, Nguyễn Huy Tưởng đã sáng tạo ra một không gian lịch sử riêng với

những số phận, những tính cách, những xung đột chứa đựng những tư tưởng sâu xa của

đương đại. Đêm hội Long Trì là cuốn tiểu thuyết lịch sử viết về thời Trịnh Sâm. Truyện

phản ánh sự thối nát, hủ bại trong phủ chúa, khởi phát từ niềm đam mê mù quáng của Trịnh

Sâm với Đặng Thị Huệ, dẫn đến sự lộng hành, bạo ngược của Đặng Lân - em trai thị. Tác

giả tố cáo những tội ác chất chồng của tên quốc cữu với biệt danh “Cậu Trời”, sự xảo quyệt

của người đẹp xứ Bắc Ninh đã làm khuynh đảo cả gia pháp tôn nghiêm nơi phủ chúa cũng

như trật tự xã hội. Đối lập với sự dâm ác, bạo ngược, hèn hạ của bè lũ Đặng Lân là những

con người tượng trưng cho cái đẹp cao khiết (quận chúa Quỳnh Hoa), tài hoa và nghĩa khí

(Bảo Kim, Nguyễn Mại...). Bên cạnh sự đối lập này là sự mâu thuẫn của chính lòng dân với

những bất công mà phủ chúa gây ra. Đặng Lân ỷ thế chị, hoành hành ngang ngược, đòi cưới

Quỳnh Hoa, phá tan mối tình thơ mộng của nàng với Bảo Kim, đồng thời đày đọa người

thiếu nữ ấy đến nước yểu mệnh. Không những thế, y còn ngang nhiên làm những trò đồi bại

và tàn ác ngay giữa phố phường, làm điên đảo cuộc sống của bao gia đình lương thiện trong

kinh thành. Lân chính là bộ mặt dục vọng ghê tởm nhất của tầng lớp thống trị trong xã hội

ấy, núp dưới bóng quyền lực. Sự ngang ngược hống hách của y dường như hàm chứa tất cả

những điều ác của các tên bạo chúa khét tiếng trong lịch sử, nó ngang nhiên diễn ra vì

không một thế lực nào dám cản trở. Bao sinh mạng, phẩm giá của những con người vô tội

không có ý nghĩa gì trước một giọt lệ, một cái chau mày của Tuyên phi. Tĩnh Đô Vương

không còn là người cầm cân nảy mực sáng suốt trong triều đại ấy nữa, khi quyền lực bị che

mắt thì công lý còn đâu? Nhân dân tưởng như đã tuyệt vọng trước chị em người đàn bà xảo

quyệt xứ Bắc Ninh. Nhưng đại nghĩa cuối cùng đã chiến thắng, Nguyễn Mại với lưỡi gươm

công lý đã thay mặt dân chém bay đầu Đặng Lân, đòi lại sự công bằng cho những kiếp

người khốn khổ. Chấp nhận hy sinh bản thân, chàng quyết tâm diệt trừ kẻ bạo ngược. Chàng

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

chính là hiện thân của ước vọng công lý cho nhân dân của nhà văn. Mối tình của Quỳnh

Hoa - Bảo Kim, vai trò của Nguyễn Mại hoàn toàn là sự sáng tạo của riêng tác giả Nguyễn

Huy Tưởng bên cạnh những tình tiết lịch sử có thật như: những đêm hội Long Trì (có ghi lại

trong Vũ trung tùy bút), chúa Tĩnh Đô gả con gái cho Đặng Lân, sự say mê mù quáng của

Trịnh Sâm với Thị Huệ, sự tàn ác của Đặng Lân, thậm chí cả chi tiết Đặng Lân giết Khê

trung hầu và Lương Ngự sử là sự phát triển đoạn Đặng Mậu Lân giết Sử Trung, viên quan

theo hầu Ngọc Lan công chúa trong Hoàng Lê thống nhất chí.

Nguyễn Huy Tưởng chọn cho mình đề tài không lớn nhưng tư tưởng chủ đề của tác

phẩm thì vượt qua đề tài nó phản ánh. Xung đột giữa hai tuyến nhân vật (Đặng Thị Huệ,

Đặng Lân với Quỳnh Hoa, Nguyễn Mại, Bảo Kim và dân Thăng Long) thực chất là cuộc

tranh đấu giữa Thiện - Ác, Chính - Tà, dục vọng - lương tri, lý tưởng, lòng nghĩa hiệp với

cường quyền bạo ngược. Đặc biệt, nhân vật Trịnh Sâm - nguồn gốc của tất cả những bi kịch

được nhà văn xây dựng rất sinh động, là nhân vật thể hiện rõ nhất những mâu thuẫn, giằng

xé trong nội tâm, là con người lưỡng hóa. Trịnh Sâm không rõ rệt ở phía nào trong cuộc

chiến tranh trên, có lúc là vị vua sáng, có lúc lại u mê. Nguyễn Mại là nhân vật không có

thật trong lịch sử nhưng dưới ngòi bút sáng tạo của nhà văn, nhân vật đại diện cho mơ ước

về công lý của nhân dân này trở nên chân thực, có sức sống đến mức độc giả cảm thấy đây

đích thực là một nhân vật lịch sử. Đây chính là thủ pháp lợi dụng tính cách ngụy tín

(mauvaise foi - chữ dùng của Sartre) tức là sự “thông đồng” giữa độc giả và tác giả (biết là

bịa vẫn tin) trong loại hình tiểu thuyết đồng thời lại chiếm hữu lòng tin của độc giả qua

những sự kiện có thật, để đưa ra những chủ đề suy tưởng về tâm thức và hành động của con

người bị quy định trong hoàn cảnh lịch sử.

Bước vào phủ chúa trong Đêm hội Long Trì ta bắt gặp khung cảnh xa hoa (từng được

lưu lại trong những trang Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác), và những cảnh trụy lạc

đẫm máu ở phủ quốc cữu, tận hưởng không khí của cảnh sắc Thăng Long trong quá khứ với

những đêm hội Long Trì thơ mộng (như đã từng được miêu tả lại trong Tang thương ngẫu

lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án). Ở đó có một Tĩnh Đô uy nghi, chao đảo giữa quyền

uy và nữ sắc. Người đàn bà họ Đặng đã vượt lên thân phận của người phụ nữ thấp cổ bé

họng trong xã hội phong kiến, lấn lướt vai trò của chính cung và hơn thế, còn điều khiển cả

con người mạnh mẽ và giàu quyền lực nhất trong xã hội ấy. Nữ sắc bành trướng trong môi

trường xa xỉ của quốc gia, dưới những lộng hành của loạn thần và sự bất lực của những

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

người ngay thẳng. Đây là chủ đề thứ nhất của tác phẩm.

Kẻ sĩ, võ cũng như văn trong truyện luôn có trách nhiệm đối với dân với nước, là chủ

đề thứ hai của tác phẩm. Ở thời buổi nhiễu nhương, sở học từ chương, ngâm vịnh của bọn

văn sĩ như Bảo Kim có tác dụng gì cho đất nước? Chàng thư sinh tài hoa bậc nhất đất kinh

thành cùng nhóm bạn tài tử không cam tâm nhìn Quỳnh Hoa bị rơi vào tay kẻ thô bỉ, dâm ác

như Đặng Lân. Họ vạch ra kế hoạch giải cứu nàng ngay chính ngày tân hôn. Tiếc thay, sức

thư sinh trói gà không chặt chẳng những không cứu được nàng mà còn hại đến thân. Dù bị

bắt trói, hành hạ, họ vẫn khẳng khái, giữ khí tiết bậc quân tử “uy vũ bất năng khuất” trước

kẻ thù, nhưng một kẻ đê tiện vô học như Đặng Lân đâu cần đếm xỉa đến điều đó. Hình ảnh

tám thư sinh kiêu dũng mà đau đớn bị trói giật cánh khuỷu, bất lực giương mắt nhìn nàng

con gái yếu đuối chấp nhận hy sinh thân mình để cứu họ, gợi lên trong tâm thức của người

đọc cảm giác ngột ngạt, uất ức, day dứt. Những sách vở thánh hiền, thơ từ chương phú, khi

đối diện với cái ác, bạo lực so với thực lực võ tài của Nguyễn Mại cái nào đắc dụng hơn?

Câu trả lời không chỉ ở hành động một mình Nguyễn Mại giải thoát cho tám vị huynh đệ

trong ngục thất, mà còn thể hiện ở uy vũ của chàng lúc trừng phạt lũ thầy tớ Đặng Lân khi

chúng quấy phá đêm hội Long Trì, ở sự bình yên của kinh thành từ lúc chàng nhận chức

quan hộ thành. Xông pha nơi chiến địa, Mại không hề run sợ, không phải băn khoăn khi

trừng phạt kẻ thù, nhưng khi làm quan hộ thành, chàng luôn phải trăn trở trước bọn hoàng

thân quốc thích vô đạo. Và cũng chỉ có Nguyễn Mại mới có đủ can đảm một mình xông vào

giữa đám tay chân tiền hô hậu ứng của Đặng Lân để chém bay đầu tên phò mã đốn mạt.

Cùng là kẻ sĩ Thăng Long, cùng có bầu nhiệt huyết khao khát sự nghiệp phò vua giúp nước,

nhưng người đọc không khỏi không so sánh giữa Nguyễn Mại và Bảo Kim. Đồng thời, có

thể thấy được câu hỏi mà nhà văn đặt ra về vị trí yếu hèn của người trí thức, vấn đề nhập thế

của kẻ sĩ trong thời loạn.

2.2.1.2 Lịch sử chống ngoại xâm và những bài học về lòng yêu nước.

Trong lịch sử giữ nước thời phong kiến, triều đại nhà Trần đã ghi nhiều chiến công

hiển hách nhất. Ba lần chiến thắng đại quân Mông Cổ, một lực lượng quân sự hùng mạnh

nhất cả châu Âu và châu Á thời bấy giờ, là những mốc son chói lọi chứng tỏ tài trí của con

người Đại Việt. Đây cũng là triều đại tập trung nhiều bậc hiền tài, nhân sĩ nhất trong lịch sử

dân tộc. Trong cuộc đời sáng tác của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã từng ấp ủ mơ ước được

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

viết bộ tiểu thuyết về đề tài mà ông tâm huyết nhất về lịch sử “họ nhà Trần” Từ khi chưa

cầm bút sáng tác, Nguyễn Huy Tưởng đã bộc bạch mơ ước ấy trong những dòng nhật ký của

mình: “Tôi tưởng đến Trần Hưng Đạo, cái tên thần thánh đã quyến rũ tôi từ mười mấy năm

giời. Tôi còn nhớ khi tôi còn bé chưa biết quốc ngữ là gì, cứ nằng nặc đòi anh tôi đi mượn

sách Trần Hưng Đạo Đại Vương về đọc... Tôi nức nở nghe chuyện Trần Bình Trọng tử tiết,

và ngẩn ngơ hỏi anh tôi rằng sau này ông có sống lại không? Truyện Trần Quốc Toản làm

cho tôi thét lên vì cảm phục. Dẫu sao, lúc trẻ thơ, tôi đã có những phút cảm động thật say

sưa và chân thật” (Nhật ký năm 1938). Quãng thời gian “Mười mấy năm” về trước mà ông

ghi trong nhật ký là cậu trò nhỏ đang theo học ở vùng quê ngoại Đáp Cầu. Duyên nợ với

lịch sử nhà Trần trở thành duyên nghiệp văn chương, và là mối quan tâm sâu sắc nhất của

nhà văn: “Tôi vẩn vơ nghĩ đến quyển anh hùng ca mà tôi định đem hết tâm trí của tôi mà

cống hiến quốc gia tôi. Quyển ấy là quyển Thái Bình diên yến. Trong đó, tôi kể chuyện bậc

đại anh hùng nước ta là ông Hưng Đạo, là cái gương nghị lực, kiên nhẫn, ái quốc, trung

quân, là biểu hiện của cả tinh thần dân tộc.” (Nhật ký ngày 12-10-1933) [106,16].

Không kể những trang nhật ký từ tuổi mười tám, đôi mươi,bài tiểu luận Hội nghị

Diên Hồng đăng trên tạp chí Tri Tân năm 1941 là bài viết đầu tiên của Nguyễn Huy Tưởng

về đời Trần. Một năm sau ông sáng tác bài thơ về nhân vật lịch sử Trần Bình Trọng, Phạm

Ngũ Lão. Cũng trong khoảng thời gian này, một truyện về người anh hùng Trần Quốc Toản

do nhà văn sáng tác trong quá trình hoạt động hướng đạo ở Hải Phòng ra mắt bạn đọc. Năm

1943, Nguyễn Huy Tưởng gia nhập tổ chức Văn hóa cứu quốc bí mật của Đảng.Do thôi thúc

của thời đại và định hướng của đoàn thể là cần có những tác phẩm yêu nước, niềm say mê

lịch sử giữ nước thời Đông A trong Nguyễn Huy Tưởng đã được thổi bùng lên thành cảm

hứng sáng tạo. Nguyễn Huy Tưởng chọn đề tài về cuộc kháng chiến lần thứ hai của dân tộc

Đại Việt chống Nguyên Mông, trong đó nổi bật vai trò của một nhân vật ít được sử sách

nhắc tới – đó là An Tư công chúa để sáng tác tiểu thuyết An Tư. Tiểu thuyết lịch sử An Tư

kể về mối tình tan vỡ của nàng công chúa nhà Trần với chàng dũng sĩ Chiêu Thành vương

trên cái nền chính là cuộc kháng chiến hào hùng oanh liệt của nhân dân Đại Việt trong lần

thứ hai chống quân xâm lược Nguyên Mông. Trước thế giặc ào ạt như “trúc chẻ, ngói tan”,

vua tôi nhà Trần từ già đến trẻ, từ người trên đến kẻ dưới thống nhất một lòng theo lá cờ Sát

Thát, làm nên chiến công hiển hách mùa hè năm 1258. Cảm hứng đối với lịch sử thời nhà

Trần còn trở đi trở lại trong những năm sáng tác sau này của nhà văn. Mối quan tâm của nhà

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

văn tới những nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử triều đại nhà Trần trở thành niềm say mê sâu

sắc, mãnh liệt. sau cách mạng tháng Tám, Nguyễn Huy Tưởng lên chiến khu, phục vụ công

tác kháng chiến. Giữa những tác phẩm kịp thời phục vụ cho việc chiến đấu, ít ai biết rằng

trong tâm tưởng nhà văn vẫn dành một góc kín đáo, lặng lẽ nhưng thiêng liêng cho đề tài mà

ông hằng ấp ủ, một tác phẩm lớn để tái hiện một thời kỳ lịch sử hào hùng trong quá khứ của

dân tộc: “Mung lung trong đầu An Tư - Nhà họ Trần (càng ngày càng thấy rằng tiểu thuyết

này là sáng tác chính của ta)” (Nhật ký ngày 19-07-1949). Thời gian không cho phép

Nguyễn Huy Tưởng thực hiện mong ước ấy, bởi những yêu cầu của thời đại là rất lớn, cần

kíp hơn niềm đam mê cá nhân. Những ngày cuối đời, dường như nhà văn dồn sức để trả nốt

những món nợ tinh thần cho đam mê của mình: hoàn thành cuốn tiểu thuyết lịch sử cho

thiếu nhi - Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Lá cờ thêu sáu chữ vàng không chỉ là câu chuyện về

người anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản, mà còn là bức tranh khá toàn cảnh về cuộc

kháng chiến chống Nguyên Mông của quân dân nhà Trần dưới sự lãnh đạo của vị anh hùng

kiệt xuất Trần Hưng Đạo. Một cuốn phim sinh động tái hiện được chân dung của những anh

hùng dân tộc như vua Thiệu Bảo, Hưng Đạo Vương, Chiêu Văn vương... và khung cảnh hội

nghị bến Bình Than, trận Hàm Tử, cả những sinh hoạt thân mật của hoàng tộc chỉ có ở đời

Trần. Lá cờ thêu sáu chữ vàng kể lại một phần rất nhỏ về chiến thắng vĩ đại của quân dân

ta chống quân Nguyên và cũng chỉ thuật lại một phần cuộc đời của Hoài Văn Hầu, Trần

Quốc Toản vị anh hùng niên thiếu của dân tộc ta xưa kia.

Xưa kia, vào thời nhà Trần, khi giặc Nguyên định xâm chiếm nước ta ,vua quan nhà

Trần liền mở hội nghị Bình Than để bàn kế đối phó với âm mưu của giặc. Được tin ấy,

Quốc Toản đến nơi định dự họp nhưng bị quân lính và Chiêu Thành Vương ngăn cản, Quốc

Toản hậm hực bóp nát quả cam của vua Nhân Tông ban cho. Về nhà Quốc Toản giương cao

lá cờ thêu sáu chữ vàng “Phá cường địch báo Hoàng ân” (nghĩa là phá giặc mạnh trả ơn

vua) và chiêu mộ sáu trăm dũng sĩ thiếu niên làm lễ tế cờ xuất quân đánh giặc. Sau Quốc

Toản gặp Hưng Đạo Vương và tham gia trận Hàm Tử Quan, mở đường thu phục kinh đô

Thăng Long, đuổi năm mươi vạn quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi.

Mặc dù còn nhỏ tuổi nhưng Trần Quốc Toản rất đáng khâm phục .Dù chưa được dự

họp bàn việc nước nhưng Quốc Toản cũng tìm đến nơi vua quan họp để biểu lộ lòng yêu

nước và chí căm thù giặc sâu sắc của mình. Cái khí tiết đẹp đẽ ấy đã thể hiện rõ trong câu

nói của Quốc Toản với vua Nhân Tông: Quyết xin đánh chứ không cho giặc Nguyên mượn

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

đường. Tinh thần quyết tâm chiến đấu của Quốc Toản cũng là tinh thần quyết tâm chiến

thắng của toàn dân và toàn quân ta thời đó, khắc sâu vào hai chữ “Sát Thát” trên những cánh

tay trai trẻ ứa máu căm thù.

Câu chuyện lịch sử sinh động này đã khơi gợi truyền thống yêu nước và đấu tranh bất

khuất của dân tộc ta, của thiếu nhi chúng ta từ xưa đến nay trong suốt lịch sử chống ngoại

xâm từ Thánh Gióng, Lý Tự Trọng đến Kim Đồng. Bộ tác phẩm liên hoàn về “Nhà họ

Trần” gồm thơ, truyện ngắn, tiểu luận, tiểu thuyết mà nhà văn để lại là minh chứng cho

niềm say mê lịch sử đời Trần. Có thể nói trong đó, An Tư là tiểu thuyết lớn nhất, trình bày

lý tưởng của nhà văn về sức mạnh hiệp đồng của dân tộc trong cơn phong ba kinh hoàng

của lịch sử.

Không ít lần, Nguyễn Huy Tưởng đã băn khoăn về vị trí của người phụ nữ trong cách

mạng: “Sao không thấy người ta nói gì đến vai trò phụ nữ?”. Sự quan tâm đến số phận An

Tư chẳng phải là điều ngẫu nhiên, bởi trong sử sách, người phụ nữ hầu như ít khi được nhắc

tới. Nhà văn dường như nhận rõ những bất công ấy cả ở sử học và văn học qua nhiều đời.

Từ thời phong kiến, người phụ nữ, ngay cả những bậc quyền quý như An Tư công chúa

,Quỳnh Hoa quận chúa cũng chỉ là vật đổi trao, món hàng chính trị trong tay bậc huynh phụ.

Quỳnh Hoa, An Tư chỉ là hai mẫu hàng nhỏ của một lịch sử lớn lao; những Lý Chiêu

Hoàng, Trần Huyền Trân cũng chỉ là những con bài chính trị. Cuộc đời, thân phận của họ

đầy những xót xa cay đắng, oan khiên. Thân phận những người phụ nữ trong lịch sử Á

Đông có mấy khi vinh hiển, có công hay tội rút cụt cũng chỉ mang tiếng “Cái sắc khuynh

thành, hại vua hại nước”. Nguyễn Huy Tưởng đặc biệt dành sự quan tâm ưu ái cho số phận

của những người phụ nữ ấy. trong tác phẩm của ông, họ là những thiếu nữ có sắc có tài,

giàu lòng ái quốc nhưng số phận lại bi thảm, đầy nước mắt. An Tư, Quỳnh Hoa tuy không

bị giày vò về nổi khổ cơm áo nhưng vẫn bị ràng buộc bởi luân lý lễ giáo phong kiến. Họ là

nô lệ của những” tam tòng, tứ đức” khắc nghiệt, là vật hy sinh cho thế lực phong kiến (và

đôi khi may mắn hơn là sự hy sinh đôi khi cũng đạt được mục đích cao cả là vì quốc gia đại

sự). Cùng là cách nhìn về vai trò của người phụ nữ trong chính trường, nếu như Đêm hội

Long Trì đưa ra khía cạnh tiêu cực của nữ sắc thì An Tư lại là cách nhìn tích cực về vai trò

nữ sắc có thể xoay chuyển cục diện chiến tranh, mang nội lực cao thâm, hữu hiệu hơn ngàn

binh đao.

Em gái út của Thượng hoàng Trần Thánh Tông là An Tư - cô ruột của vua Nhân Tông

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

(Thiệu Bảo). Tháng hai năm Ất Dậu (1285), triều đình dâng nàng cho thái tử Thoát Hoan

làm kế hưu chiến, mong Thoát Hoan đắm vào vòng tửu sắc, để quân nhà Trần có thời gian

chuẩn bị phản công. Sự kiện này chỉ được ghi vắn tắt trong Đại Việt sử ký toàn thư: “Khiển

nhân tống An Tư công chúa, vu Thoát Hoan dục thư quốc nạn dã” (cho người đưa công

chúa An Tư đến chỗ Thoát Hoan để làm thuyên giảm nạn nước). Mười lăm chữ ấy đã gợi ra

nguồn cảm hứng cho tác giả, để viết nên pho tiểu thuyết lịch sử bề thế, có khuynh hướng sử

thi hoành tráng, có chiều sâu nhân văn. Nhân vật An Tư trong lịch sử không mấy người biết

đến, vai trò của nàng lu mờ trước những trí lược của Hưng Đạo Vương, tài đảm của Chiêu

Minh vương, Chiêu Văn vương, dũng khí của Hoài Văn Hầu, Bảo Nghĩa vương,... bao đấng

anh hùng tài ba xuất chúng với những hành động khẩu khí oai hùng trước quân giặc mà lịch

sử hết lời ngợi ca. Người ta mãi lưu tâm đến những chiến công hiển hách mà ít khi nói đến

những trường đoạn bi thương của lịch sử. Vì thế, việc An Tư hy sinh bản thân làm kế mỹ

nhân trong khi vận nước như chỉ mành treo chuông, âu cũng là điều lịch sử cố tình né tránh.

Có thể vì thế mà cuộc sống của nàng ở trong trại giặc ra sao, nàng đã dùng mưu kế làm lung

lạc ý chí của Thoát Hoan như thế nào, lịch sử cũng chẳng buồn đoái hoài. Ký ức lịch sử đôi

khi tàn phũ, không chút ngậm ngùi, không dành cho thân phận những người phụ nữ “bán

mình vì tổ quốc” một giọt nước mắt cảm thông đích thực. Nguyễn Huy Tưởng xé lại vết

thương hướng về những ngậm ngùi ấy, trang trải cho lịch sử món nợ tinh thần với An Tư,

đồng thời bổ sung vào niềm tự hào về các chiến thắng Hàm Tử, Chương Dương, Vân Đồn,

Vạn Kiếp những nỗi xót xa về thân phận con người. tiểu thuyết lịch sử An Tư là tấm huân

chương hai mặt, một mặt vẫn có không khí hào hùng của các chiến công hiển hách, vẫn là

hào khí Đông A bất ngờ nhưng mặt khác còn có cả những đau thương, mất mát không gì bù

đắp nổi của những thân phận cá nhân trong dòng thác lũ lịch sử. Nguyễn Huy Tưởng bên

cạnh việc thể hiện chất sử thi hoành tráng của một thời đại, còn lưu tâm đến đời sống tinh

thần của một con người bé nhỏ trong số đông. Nhà văn đã dùng trí tưởng tượng và cảm

hứng nhân văn để dựng lại đời sống của An Tư trong trại giặc, với những giằng xé nội tâm

giữa nợ nước và tình nhà, giữa những tủi hổ vì bị giày vò thể xác và mặc cảm trước mối tình

đầu trong sáng với chàng dũng sĩ si tình, chung thủy. Những đau đớn của An Tư cho thấy sự

thấu hiểu sâu sắc về tình người, tình đời ở một nhà văn còn trẻ ở cả về tuổi đời và tuổi nghề.

Tiểu thuyết An Tư còn là cái nhìn mới,là sự trăn trở về lịch sử hôm qua và hôm nay.

Chiến hay hoà đó là vấn đề lựa chọn con đường yêu nước của ông cha ta trong suốt trường

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

kỳ lịch sử ? Nổi nhục quốc thể không thể không rửa, nhưng khi chứng kiến sức giặc bạo tàn,

vua Thiệu Bảo, ông vua nhân từ đã do dự trước chiến tranh. “Vua Thiệu Bảo biết chiến

tranh tai hại, khốc liệt, không lợi gì cho kẻ dự chiến. Bên thắng cũng như bên bại, và ông

vua giỏi không phải là một người cùng binh độc vũ, tìm những thủ đoạn oanh liệt trên chiến

địa, mà là người biết mưu hạnh phúc cho dân.” [102, 241]. Nghĩ đến” biết bao quỷ không

đầu đang bơ vơ bên phần mộ tiên tổ! Những người còn sống ngẩn ngơ trước bàn thờ giá

lạnh, nhớ đến kẻ thân yêu không bao giờ về nữa (...) Vua bỗng xúc động trong lòng và cảm

thấy một niềm thương vô biên, bao trùm cả chúng sinh, cây cỏ”. [102, 249-250]. Bên cạnh

đó còn có một Hưng Đạo Vương nghĩa khí, đặt việc nước lên trên tình cảm cá nhân, chọn

đổi An Tư như một thế tận của chiến trường, sẵn sàng chém bay đầu hàng trăm quân đào

ngũ để giữ nghiêm quân lệnh. Nhưng cũng chính con người có cái uy át vía hàng vạn quân

Mông Cổ ấy, khi thoát khỏi tư thế thần thánh, vương chỉ là một con người cô đơn và hoang

mang ở mỗi một quyết định, mỗi một thế cờ, ở trong cả những niềm u ẩn không thể sẻ chia

với bất kì ai. Không riêng gì vua Nhân Tông, Hưng Đạo, mà ngay cả Thoát Hoan, từ cương

vị người thắng đến kẻ thua đều có những nỗi xót xa riêng chung về chiến tranh, về chiến

hay hòa. Trong tiềm thức những nhân vật ấy, chiến tranh chỉ là cực điểm của ngõ cụt, của

tai ương, của tham vọng và của tuyệt vọng. Không chỉ đóng vai trò chia rẽ nội bộ hàng ngũ

chủ soái trong quân địch, An Tư đã cảm hóa được một vị tướng nhà Nguyên đầy tham vọng.

Không ít lần vẻ đẹp trong trắng của An Tư đã thức tỉnh lương tri của tên thái tử nhà

Nguyên, đã đôi lần lưỡi gươm của y đã vung lên rồi lại rơi xuống dưới chân người con gái

bé nhỏ - tạo phẩm tuyệt vời của hóa công. Biết nâng niu, trân trọng cái đẹp, Thoát Hoan đã

bao lần ao ước giá không phải tiếp tục cuộc chiến với dân tộc nàng, để không còn phải

“uống dòng lệ mặn trên khuôn mặt An Tư”. Nhưng chiến tranh là điều không thể tránh khỏi

đối với một dân tộc quật cường như Đại Việt. Hưng Đạo Vương chọn con đường chủ chiến

bởi cách nghĩ của ông không chỉ là vì cái nhất thời, nếu nước rơi vào tay giặc thì đâu chỉ có

năm vạn quân chết oan mà sẽ có hàng vạn, hàng triệu sinh mạng nữa bị tước đoạt cái quyền

được sống như một con người. Chân lý của ông là: “Thương dân không phải thương kẻ

đương thời, còn phải thương đến con cháu muôn đời sau nữa” [102, 259]. Cùng một lòng

yêu nước thương dân, Nhân Tông cầu hoà, Hưng Đạo chủ chiến. Chiến tranh hay hòa bình?

Cái thế lưỡng cực ấy day dứt tâm linh, dày vò bao nhiêu thế hệ, là nỗi trăn trở muôn đời của

lịch sử. Đó mãi là câu hỏi không có lời đáp. Dân tộc này chỉ có cách lựa chọn tùy cơ ứng

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

biến. Chủ trương của Hưng Đạo đưa đến nền độc lập tự chủ, nhưng chủ trương của Nhân

Tông mở ra một khía cạnh đạo đức và nhân ái sau chiến tranh mà thời nào cũng cần phải có

để xây dựng hòa bình. Lịch sử vì thế vừa có thương đau mất mát nhưng cũng thật hào hùng;

có sự mạnh mẽ, cương quyết nhưng cũng có sự hài hòa uyển chuyển đầy tính nhân văn.

Cảm thức lịch sử và những trăn trở này còn xuyên thấm tới sáng tác cuối cùng của nhà văn

Nguyễn Huy Tưởng - tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô.

Từ năm 1945 đến nay, trong văn học Việt Nam, có rất nhiều tác phẩm viết về đề tài

chiến tranh, nhưng Sống mãi với thủ đô và Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng

mang một bản sắc riêng, biệt lập với những tác phẩm khác. Từ Xung kích, Vỡ bờ của

Nguyễn Đình Thi, trải qua Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Gia đình má

Bảy của Phan Tứ, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh v.v... mỗi tác phẩm có một giá trị

khác, có tác phẩm hay, có giá trị vượt xa các tác phẩm khác, nhưng điều cốt yếu là chưa

phản ảnh được bao quát và toàn diện về con người trong chiến tranh. Hay nói đúng hơn, mỗi

tác phẩm trên đều chỉ nêu lên một khía cạnh của chiến tranh, hoặc là từ góc độ bi kịch của

người lính, phơi bày tội ác chiến tranh, hoặc mang tính tuyên truyền từ góc độ thành phần

xã hội, bằng những sự hy sinh can đảm của người lính và sự hào hùng của những chiến

công... Nguyễn Huy Tưởng không đi theo con đường đó, ông chọn góc nhìn bằng nhãn quan

lịch sử. Ông phản ánh tâm tư và tình cảm, thái độ của mỗi cá nhân, mỗi thân phận trong

chiến tranh theo một giọng văn trang nghiêm, khách quan và chân thực. Những con người bị

lôi vào cuộc chiến không chỉ có người lính, mà còn có cả người dân từ nhiều thành phần

xuất thân, thuộc nhiều giai tầng trong xã hội. Ở đó, có người theo kháng chiến, người theo

Pháp, người cứu nước, kẻ bán nước, người theo cộng sản, kẻ Việt gian, có anh hùng, có cả

bọn tiểu nhân hèn nhát, có người can đảm trượng nghĩa, nhưng cũng có kẻ ích kỷ, tự tư tự

lợi... mỗi người đều có những quyết định riêng cho mình trước ngã ba lịch sử. Nguyễn Huy

Tưởng không quá say sưa để ngợi ca một cách cực đoan cuộc chiến như tất cả những nhà

văn cùng thời, trái lại, cảm hứng lịch sử đã giữ cho ông cái nhìn chính xác, chừng mực về số

phận con người trong cơn bão táp lịch sử. Vượt lên trên lối viết tuyên truyền dễ dãi thông

thường, hai tác phẩm của nhà văn, kịch tác gia Nguyễn Huy Tưởng trở thành hai tác phẩm

cổ điển, thể hiện tính nhân văn cao độ. Ông đã nắm được cái hồn trang nghiêm hào hùng

của sáu mươi ngày đêm tự vệ thành trấn giữ thủ đô, nhưng hơn thế, ông còn hiểu thấu đáo

cả tiểu vũ trụ trong tâm hồn các nhân vật. tác phẩm mang tên Sống mãi với thủ đô đã phần

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

nào cho thấy tư tưởng chủ đạo đầy nhân bản của nhà văn: đề cao khát vọng sống của con

người, khát vọng được bất tử cùng với mảnh đất thủ đô. Không quá thần thánh hóa cuộc

chiến, nói chính xác hơn, tác giả đứng ở góc độ chống chiến tranh và đề cao sự sống. Lòng

yêu nước ở đây không còn là những khẩu hiệu chung chung, khuôn sáo, nó gắn với những

điều rất cụ thể, là hy sinh mạng của con người. Giữ thủ đô thực chất là để bảo toàn cuộc

sống của những con người vô tội, để ngăn chặn những vụ thảm sát như ở ngõ Yên Ninh, để

không còn cảnh lính Pháp ngang nhiên bắt và giết những người dân Hà Nội, Hải Phòng và ở

những nơi khác trên Tổ quốc Việt Nam này. Khẩu hiệu “Sống chết với thủ đô” của những

người lính tự vệ đi vào trong tác phẩm chỉ còn lại một vế, Nguyễn Huy Tưởng bây giờ cũng

thiết tha hướng tới sự sống, cái chết không bao giờ tồn tại trong tư tưởng của ông.

Sống mãi với thủ đô là tiểu thuyết cuối cùng còn dang dở trong đời văn của Nguyễn

Huy Tưởng. Cho đến khi từ giã cuộc đời, nhà văn vẫn còn băn khoăn vì nhiều dự đồ sáng

tác chưa thực hiện được ở tác phẩm này. Cảm hứng sáng tác Sống mãi với thủ đô bắt

nguồn từ những cảm xúc về buổi bình minh của nền độc lập dân chủ của dân tộc, tìm những

khoảnh khắc lịch sử vừa đau thương, vừa hào hùng. Ngay sau ngày tuyên bố quyền độc lập,

nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, hiểm họa:

giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Rất kiên định và thống nhất, Đảng mới chèo lái được

con thuyền dân tộc lần lượt vượt qua những ghềnh thác trên các mặt trận kinh tế, văn hóa xã

hội, đến chính trị, ngoại giao. Thế nhưng, như Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm

1946 của Hồ Chí Minh đã nêu: “Chúng ta muốn hòa bình. Chúng ta càng nhân nhượng,

thực dân Pháp càng lấn tới”, thế cục buộc nhân dân ta một lần nữa lại phải cầm vũ khí để

bảo vệ nền độc lập tự do của mình. Thủ đô Hà Nội những ngày mùa đông năm 1946 nóng

lên bởi khí thế đấu tranh của đồng bào, chống lại những vụ tàn sát đẫm máu mà thực dân

Pháp gây ra để châm lên ngọn lửa chiến tranh.Hơn một năm được sống trong không khí của

tự do, độc lập, người Hà Nội lại phải đối diện với một cuộc chiến “hứa hẹn” nhiều hy sinh

mất mát, một cuộc chiến mà trong đó ngay cả những con người lạc quan nhất cũng thấy rõ

những hình ảnh thành phố đổ nát phía trước. Nhưng họ vẫn dũng cảm chiến đấu, chấp nhận

tất cả vì một ý nghĩ: “Sống, chúng ta sẽ được trông thấy thủ đô ngàn năm không còn bóng

giặc. Chết, chúng ta sẽ có cái tự hào của một thế hệ đã hy sinh lần cuối cùng cho tự do của

Tổ quốc. Chúng ta là những người nô lệ cuối cùng đồng thời cũng là những người tự do đầu

tiên” [102, 152]. Hà Nội trong những ngày khói lửa ấy được bảo vệ không phải bằng một

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

đội quân chính quy hùng hậu, võ trang đầy đủ mà chỉ là những người dân có lòng yêu nước,

khao khát được sống có ý nghĩa, tự trang bị cho mình những vũ khí thô sơ nhất. Họ là một

tập hợp những con người ở mọi tầng lớp xã hội và cũng mang những cái tính tốt xấu lẫn lộn.

Họ đến với kháng chiến với những tâm trạng khác nhau. Bên cạnh chất men hào hùng ấy,

tác phẩm xen lẫn cả những dư vị chua chát nhưng đó lại là những dư vị rất đời, làm cho chất

men say hùng tráng không trở nên quá bốc đồng, phi hiện thực. Hà Nội đã hiện lên trong

từng trang sách của Nguyễn Huy Tưởng như là một bãi chiến trường thô sơ, ảm đạm, trong

cái đêm đông lịch sử ấy. Người trong cuộc, nhân tâm chưa hoàn toàn thống nhất, bên cạnh

những phẩm chất cao cả, chịu đựng hy sinh, vẫn có lòng tị hiềm, sự bon chen ích kỷ ngay

trong những người có thể coi là nắm vai trò đứng mũi chịu sào trong các liên khu (Hồng

Lưu, Văn Việt, Quốc Vinh). Trong cái say sưa của những người ra trận, ta bắt gặp đâu đó

những bi quan thời cuộc, sự rệu rã mang màu sắc tiểu tư sản mà những tác phẩm văn học

cùng thời né tránh nói đến. Nguyễn Huy Tưởng không nhấn vào những điểm tối ấy nhưng

cũng không bỏ qua, đảm bảo tính chân thực lịch sử.

Là nơi phát lệnh toàn quốc kháng chiến, Hà Nội đã mở màn cho cuộc kháng chiến

trường kỳ chín năm ròng rã bằng sáu mươi ngày đêm gian khổ, kết thúc trong “Đêm ra đi

đất trời bốc lửa / cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng” (Ngày về - Chính Hữu) của những

chiến sĩ tự vệ, khi đó, họ chưa mang danh hiệu Trung đoàn Thủ đô. Ý đồ của nhà văn là xây

dựng trọn vẹn 60 ngày chiến đấu ấy và cả khúc hoan ca của ngày trở về trong mùa thu chín

năm sau. Nhưng căn bệnh quái ác không để ông hoàn thành bộ tiểu thuyết này, dự đồ chỉ

còn lại bộ khung là truyện phim Lũy hoa. Hai ngày đầu của cuộc kháng chiến, phần đầu của

tiểu thuyết đã thành hình trên năm trăm trang bản thảo đủ cho thấy tài hoa, bút lực của nhà

văn. Chỉ một phần ấy thôi đã đủ để nhận diện gương mặt lịch sử thời đại hào hùng, đau

thương nhưng cũng chan chứa niềm tin và hy vọng vào tương lai.

Bước vào thế giới của Sống mãi với thủ đô, người đọc như được sống trong thời khắc

nóng bỏng nhất của lịch sử. Thủ đô trong những ngày đầu đông không khí se lạnh mà trái

lại người ta cảm thấy ngột ngạt và oi bức vì áp lực và yêu sách của bọn thực dân đang o ép

chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những cuộc thương thuyết nhượng bộ bất thành,

những cuộc tàn sát, khiêu khích của lính Pháp ngang nhiên trên đường phố Hà Nội đã gợi

lên mối căm hờn trong lòng những người dân thủ đô, đặc biệt là tầng lớp thanh niên. Người

Hà Nội buộc phải tản cư để bảo toàn lực lượng cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Những

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

đường phố ngày nào náo nức, sôi động trong khí thế của mùa thu độc lập giờ đây lặng lẽ,

ngổn ngang những đổ nát. Dưới những mái ngói thâm nâu của những dãy phố cổ vang lên

tiếng đục tường, lúc nhịp nhàng, khi dồn dập, những âm thanh như nhịp đập trái tim thành

phố, nó báo hiệu một sức sống tiềm tàng và mãnh liệt của mảnh đất đã có ngàn năm tuổi.

Những người ở lại giữ thủ đô đều mang một tình yêu lớn lao với mảnh đất này, đều mang

một trái tim căm thù quân xâm lược và đặc biệt là họ mang trong mình quyết tâm Sống mãi

với thủ đô. Cảm hứng lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng trong đề tài này ít nhiều mang chất

thời sự. Thời điểm hình thành cảm hứng là khi nhà văn được tiếp xúc với những người

chiến sĩ tự vệ thành vừa rút khỏi thủ đô sau sáu mươi ngày chiến đấu gian khổ. Nhà văn

được sống trong chính không khí bão táp ấy, và được gặp gỡ những nhân chứng sống của

lịch sử. Khác với những cuộc kháng chiến xa xưa, cuộc kháng chiến này đích thực mang

tính nhân dân, người dân đóng vai trò trọng yếu. Do vậy, những danh nhân lịch sử như Hồ

Chủ Tịch, đại tướng Giáp cũng trở nên thân thiết, giản dị đối với những người lính bình

thường, vô danh; ở họ không có cái khoảng cách xa lạ như của quân tướng, vua tôi nhà

Trần. Vì thế nên thế giới nhân vật hầu hết là hư cấu từ những người lính vô danh của Trung

đoàn Thủ đô mà nhà văn được tiếp xúc. Không có độ giãn cách về thời gian, hiện thực đi

vào tác phẩm chưa qua sự phẩm bình của lịch sử. Nhưng bằng niềm say mê, khát vọng

muốn xây dựng bộ sử thi hoành tráng cho lịch sử nước nhà, Nguyễn Huy Tưởng đem đến

bức chân dung những người lính tự vệ của thủ đô kháng chiến vừa hào hùng, vừa chân thực.

Đây là một trong số hiếm những tác phẩm viết về quá khứ gần đạt đến độ điển hình trong

khái quát thực hiện.

2.2.2 Sự kiện.

Không tham lam trong việc khai thác lịch sử, Nguyễn Huy Tưởng không phô diễn hết

những hiểu biết của mình mà đi sâu vào những chi tiết, sự kiện có tính chất bước ngoặt đối

với cộng đồng, với mỗi cá nhân trong dòng lịch sử; từ đó ông phân tích tỉ mỉ những diễn

biến trong sâu xa tâm hồn nhân vật, kéo những sự kiện từ quá khứ về hiện tại để người đọc

có cơ hội nắm bắt tường tận nó. Đêm hội Long Trì không khai thác cả trường đoạn lịch sử

từ cuối đời Lê Cảnh Hưng đến khi nhà Tây Sơn lên nắm quyền như ở Hoàng Lê nhất

thống chí, mà chỉ tập trung khai thác một sự kiện có thể nói là rất nhỏ trong toàn bộ cả diễn

biến lịch sử đầy bão táp cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Tiểu thuyết mở đầu là quang

cảnh đêm hội Long Trì, khởi điểm của những bi kịch chốn cung son điện ngọc. Ngay ở màn

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

khởi đầu, tất cả những nhân vật chính đều đã xuất hiện và lần lượt bộc lộ tính chất, mâu

thuẫn xung đột chính cũng được tạo ra từ đây. Tiểu thuyết này phảng phất bóng dáng của vở

bi kịch cổ điển. Trong đêm hội xa hoa của phủ chúa Tĩnh Đô, người đọc lần lượt chứng kiến

tài hoa của Bảo Kim, nhan sắc, vẻ dịu dàng của Quỳnh Hoa và cả mối tình trong trắng, lãng

mạn của họ. Đặng Lân xuất hiện như một hung thần phá tan bầu không khí nên thơ của đêm

hội bằng sự tàn ác, dâm đãng, hống hách của y; chỉ có bàn tay dũng mãnh của Nguyễn Mại,

người không sợ uy quyền của Tuyên Phi mới có thể ngăn chặn được sự bạo ngược của tên

cậu Trời, đem lại sự bình yên. Chúa Tĩnh Đô xuất hiện cuối màn cùng Tuyên Phi, chỉ một

thoáng chốc, ta có thể cảm nhận được bàn tay nữ sắc đã át cả quyền uy tối thượng; tất cả

những chi tiết ấy cứ diễu qua như một sự tiên liệu số phận từng nhân vật. Cốt truyện triển

khai trong thời gian ngắn, nhưng nhiều tình tiết. Xét ở góc nhìn lịch sử thì những sự kiện

như chúa Tĩnh Đô vì đắm say nhan sắc của Thị Huệ mà trở nên mù quáng, làm cho nếp nhà

tan nát, phép nước rối loạn, gây nên cái chết thương tâm của quận chúa Quỳnh Hoa là có

thật; sự tàn ác của” cậu Trời” - Đặng Lân cũng là điều từng có trong lịch sử. Xét trong toàn

bộ những biến cố lịch sử của thế kỷ này thì đây chưa phải là những sự kiện tiêu biểu nhưng

lại có ảnh hưởng không nhỏ tới toàn bộ quá trình lịch sử. Việc Trịnh Sâm vì mê nhan sắc

của Đặng Thị Huệ rồi phế trưởng lập thứ là sự kiện có thật, là dấu hiệu của sự mục nát trong

nội bộ phủ chúa. Sự rối loạn trong tập đoàn nhà Lê - Trịnh là khởi điểm dẫn tới loạn kiêu

binh, Tây Sơn kéo quân ra Bắc “phò Lê, diệt Trịnh”, đại phá quân xâm lược Mãn Thanh,

dẫn đến sự thất thế của phong trào khởi nghĩa nông dân lớn nhất trong lịch sử phong kiến

Việt Nam.

Nguyễn Huy Tưởng không cố tình coi việc phơi bày sự thối nát của xã hội phong kiến

và của chốn cung đình xa hoa là mục đích của mình. Ông chỉ muốn đề cao lý tưởng và nêu

bật khát vọng về sự chính nghĩa.

Nhà văn đã sáng tạo ra sự kiện Đặng Lân bị trừng phạt bởi bàn tay Nguyễn Mại, chúa

Tĩnh Đô cuối cùng cũng đã tỉnh ngộ và trở nên sáng suốt công minh, lại được lòng dân. Cái

ác bị đền tội. Chính nghĩa thuộc về muôn dân. Điều đáng nói là cảm hứng ngợi ca và đề cao

lịch sử ở nhà văn đã hòa hợp với chất lý tưởng, chất lãng mạn trong sáng, khỏe khoắn, nên

tác phẩm không bị sa vào tình trạng lãng mạn tiêu cực hay li kỳ hóa chuyện thâm cung như

một số tiểu thuyết lịch sử đương thời.

Trong tiểu thuyết An Tư, Nguyễn Huy Tưởng đã khai thác sự kiện lịch sử ở góc độ

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

lớn lao hơn, đó là sự kiện toàn dân Đại Việt đứng trước hiểm họa xâm lăng của quân Mông

Cổ lần thứ hai. Đây là lúc mọi người dân phải đồng lòng nhất trí, gắng sức chèo lái con

thuyền dân tộc vượt qua thác ghềnh lịch sử. Tất cả tập trung cho một mục đích là làm thế

nào để bảo toàn sinh mệnh của dân tộc. Trước thế giặc hung hãn, mạnh như bão dâng, lũ

cuốn, chẳng một ai có thể bàng quan. Thượng hoàng Thánh Tông cùng vua Thiệu Bảo như

ngồi trên đống lửa, phần lo giặc mạnh, phần lo trên dưới chẳng đồng lòng. Ngay cả vị chủ

tướng tài ba Trần Quốc Tuấn cũng mất ăn, mất ngủ lo lắng cho vận nước. Nếu đem quân cự

giặc ngay lúc này chẳng khác gì đem trứng chọi với đá, nếu lui quân cầu hòa thì khác gì đã

phụ lòng dân. Hội nghị Diên Hồng tập trung tiếng nói của ba trăm bô lão từ mọi miền đất

nước, là tiếng lòng nhân dân quyết chí không chịu làm nô lệ, đã rung lên trong tiếng hô:

“Sát Thát”. Công chúa An Tư trở thành phương tiện thi hành” mỹ nhân kế”. Lịch sử không

nói nhiều về nàng, thậm chí đã quên công lao của nàng trong chiến thắng chung của dân tộc.

Nguyễn Huy Tưởng lựa chọn một sự kiện ít người quan tâm này để xây dựng tiểu thuyết

của mình. Dưới ngòi bút tài hoa của nhà văn, từ một cái tên An Tư mờ nhạt trong Đại Việt

sử kí toàn thư trở thành một con người sống động, với diện mạo của trang quốc sắc thiên

hương, trí tuệ sắc sảo, cũng đủ cả đam mê, cả hy sinh, tủi nhục. Nhà văn đã khéo léo tạo nên

mối tình say đắm giữa Chiêu Thành vương với nàng công chúa An Tư. Không theo cách

xây dựng tiểu thuyết lịch sử thông thường là thêm thắt một vài mối tình cho cốt truyện thêm

phần hấp dẫn, Nguyễn Huy Tưởng xây dựng mối tình này thành nòng cốt chính của câu

chuyện. Bên trong bản anh hùng ca chiến trận của thời đại Đông A, có đan quyện giai điệu

ngọt ngào của mối tình chung thủy, còn cả tiếng khóc nghẹn ngào cho số phận của cá nhân

đằng sau vinh quang của dân tộc.

Chiến tranh là khúc quanh, là bước ngoặt bất ngờ của người đời cũng như của lịch sử.

Đứng trước mỗi cuộc chiến, mỗi nhà văn lại có xúc cảm riêng. Với người này là bản hùng

ca của những chiến công, với người kia là khúc bi ca của những cuộc đời bị cuốn vào cuộc

chơi đỏ đen của số phận. Nguyễn Huy Tưởng điềm tĩnh nhìn nó từ góc nhìn của một nhà sử

học, chiêm nghiệm về nó như một quy luật tất yếu của sự vận động lịch sử, trong đó có cả

thắng và bại, bi và hùng, khổ đau và vui sướng. Nhưng tất cả những điều ấy không khiến

người ta bi quan mà trái lại, củng cố niềm tin cho người đọc về vận động theo chiều hướng

đi lên tất yếu của lịch sử. Theo An Nam chí lược của Lê Tắc, thân phận của An Tư thật tủi

hổ: “Trần thị theo Thoát Hoan về Trung Quốc và có hai con trai với Hoan”. Sự thật trong

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

cuộc đời rất có thể xảy ra như vậy nhưng nhà văn không để nhân vật của mình đi theo con

đường ấy. An Tư nhận sứ mạng là một nữ anh hùng dân tộc, có thể nào lại hành xử như một

người đàn bà tầm thường. Nhà văn chọn một kết thúc đau đớn nhưng hợp với logic lịch sử

và quy tắc ứng xử của người Việt: chết vinh còn hơn sống nhục. Khác hẳn với cách nhìn

theo quan niệm Nho giáo về đạo tam tòng, An Tư chỉ coi mình như một cống phẩm để làm

kế lui binh chứ chưa bao giờ tự coi mình là người của Thoát Hoan. Hai tháng trời sống

chung cùng tên tướng giặc là hai tháng sống trong địa ngục của nàng, luôn bị giày vò bởi ý

nghĩ thân mình bị nhơ nhuốc không xứng đáng với người tình chung thủy, liệu An Tư còn

đủ dũng khí để đối mặt với chàng trong ngày đoàn tụ? Thấu hiểu nội tâm nhân vật bằng trái

tim nhân hậu, nhà văn đã lựa chọn cái kết tuy bi thương nhưng là hợp tình, hợp lý. Trần

Thông ngã xuống ngay trước giờ chiến thắng, được trút hơi thở trong vòng tay người yêu,

được tận mắt nhìn lá cờ Tinh Cương phất phới trên cổng thành Thăng Long. An Tư cũng

không luyến tiếc gì thêm cuộc sống mà vì nó nàng đã phải đánh đổi cả hạnh phúc riêng tư.

Trong cái đêm thành Thăng Long ngập tràn ca khúc khải hoàn, nàng đã đi theo tiếng gọi

của tình yêu và tự vẫn trên dòng sông Cái ngầu đỏ phù sa. An Tư chết trong sự mãn nguyện,

nàng đã được nhìn tận mắt thành quả hy sinh của mình. Cái chết đối với nàng không còn

đáng sợ vì nó là cầu nối đưa nàng đến với tình yêu trong cõi vĩnh hằng. Nguyễn Huy Tưởng

khép lại tác phẩm vẫn để lại cho người đọc thấm thía những điều mà nhà văn trăn trở, đó là

vấn đề quan niệm về nhân sinh, về vận mệnh cá nhân trong mối quan hệ với dân tộc. Dù vô

tình hay cố ý nhưng hình ảnh An Tư vừa từ trại giặc trở về trong ngổn ngang đau thương

tang tóc, cô đơn lạc lõng giữa hoàng cung rộn rã tiếng nhạc mừng công, không khỏi làm dấy

lên trong lòng người đọc những băn khoăn. Liệu có phải sự vô tình của lịch sử cũng bắt đầu

từ thái độ vô tâm của chính những con người làm nên trang sử ấy? Không một ai bên nàng

trong cái thời khắc tuyệt vọng ấy. Đau đớn hơn là An Tư phải đối diện với cảnh cũ, hoàng

cung - ấy là nơi nàng thề thốt yêu đương với Trần Thông, cũng là nơi diễn ra những cuộc

hoan lạc với Thoát Hoan, nơi ghi dấu tủi nhục của nàng. Ngần ấy nỗi niềm chồng chất, liệu

có trang sử nào ghi lại không? Không. Lịch sử chỉ dành chỗ cho niềm tự hào dân tộc, nỗi

đau cũng phải là nỗi đau chung của cả cộng đồng. Không có chỗ cho những vấn đề của một

cá nhân, nhất là khi đó chỉ là một người phụ nữ.

Tiểu thuyết An Tư còn có cái nhìn chân thực về lịch sử dân tộc. Nếu như những trang

viết của Hà Ân (Tập tiểu thuyết Trăng nước Chương Dương) về cuộc kháng chiến lần thứ

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

hai chống Nguyên Mông của nhà Trần mang dáng vẻ hào hùng, cốt truyện được dệt lên từ

những chiến thắng ròn rã của Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, bằng sự đoàn kết một lòng

từ quan quân triều đình tới những dân đen, những gia nô trong các thái ấp; những trang viết

của Hoàng Quốc Hải về Thăng Long nổi giận cũng đầy nhuệ khí anh hùng, thậm chí cả

những nhân vật phản diện nhưng tài hoa như Chiêu Quốc vương cũng dành được không ít

sự ngưỡng mộ, cảm phục của người đọc; thì Nguyễn Huy Tưởng lại cấp cho người đọc góc

nhìn sát với đời thực hơn. Không chỉ có cái khí thế Sát Thát hừng hực cháy trong đêm

truyền hịch xuất quân, ngời cháy trên cánh tay những chiến sĩ ra trận, người đọc còn thấy cả

những lúc lòng dân rối loạn, những lúc những người lãnh đạo cuộc kháng chiến nản lòng,

thoái chí. Vua Thiệu Bảo trước thế giặc mạnh, quân triều đình liên tiếp bại trận, trong lòng

không khỏi nao núng. Ông lặng lẽ rời kinh thành trong một sớm đông, đến tìm Hưng Đạo

Vương để bàn lại kế sách. “Càng nghĩ càng lo, lòng vua càng hoang mang, rối như canh hẹ.

Bất giác không trấn nổi được tiếng thở dài” [102, 269]. “Ở Hải Đông biết thêm nhiều tin

tức mới, vua càng lo ngại. Đến đây vua mới càng nhận thấy sức mạnh tuyệt đối của quân

Nguyên, đánh đâu được đấy, thực có cái thế trúc chẻ, ngói tan. Còn quân nhà từ ngày thất

thế trên mặt Bắc, thua ở Chi Lăng, tướng sĩ tan vỡ, phần thì trốn tránh tan nát, mười phần

không còn được một… Thoát Hoan giận triều đình nước Nam ngang ngạnh, được dịp trả

thù, dung túng cho quân càn rỡ, thành thử quân Mông tự do hoành hành tàn hại lương dân,

phá từng làng từng tổng, đi đến đâu là lửa cháy rực trời, khói bốc ngùn ngụt, là tội cả đến

tiểu nhi, hãm hiếp đàn bà con gái, những thảm họa ở miền Bắc chỉ có những cảnh ở âm ty

địa ngục sánh kịp.” [102, 273-274].

Thiệu Bảo vốn là một ông vua nhân nghĩa, đã tính đến nước tạm hàng cho dân bớt

khổ. Những giây phút mềm lòng của vị vua ấy, không một trang sử nào có thể tái hiện sinh

động và sâu sắc đến như vậy. Đã có nhiều người cho rằng, nhà tiểu thuyết lịch sử có quyền

hư cấu, thoát ly lịch sử để văn học thực sự có một đời sống riêng. Các nhà lí luận vẫn cho

rằng bám sát lịch sử quá, sẽ làm cho tiểu thuyết lịch sử mang tính minh họa giản đơn mà

thiếu đi chất sáng tạo văn chương. Nhưng với Nguyễn Huy Tưởng, sự tái hiện chân thực các

sự kiện, các biến cố lịch sử theo đúng tinh thần của nó không phải là sự minh họa, mô

phỏng một cách dễ dãi lịch sử; mà đó là cả quá trình khám phá, phát hiện, tái tạo những

trầm tích ẩn dưới những dòng chính sử ngắn ngủi.

Sống mãi với thủ đô đã đưa người đọc đến với những sự kiện lịch sử của một quá

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

khứ gần, còn mang tính thời sự nóng hổi. Những gì nhà văn được chứng kiến và trải nghiệm

đã trở thành những ấn tượng sâu sắc, tạo nên cốt lõi của tiểu thuyết, khiến độc giả không

còn cảm giác đó là hư cấu. Hà Nội cuối năm 1946 đang ở trong tình thế vô cùng căng thẳng.

Quân Pháp không ngừng khiêu khích chính phủ mới lập, với âm mưu gây chiến để quay lại

thống trị nước ta. Hơn một năm trước, những tiếng súng đầu tiên của đồng bào Nam Bộ

chống Pháp đã mở ra cục diện chiến tranh tất yếu của dân tộc. Lời Tuyên ngôn độc lập còn

văng vẳng bên tai mọi người dân cùng lời thề quyết tâm giữ vững nền đập lập dân chủ, cho

dù phải hy sinh xương máu. Pháp tiến đánh Hải Phòng, dã tâm đã bộc lộ. Hà Nội trải qua

một năm độc lập đầy sóng gió, hết quân Tàu Tưởng, lại đến quân Pháp quấy nhiễu, tài lực

suy yếu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải cố gắng hết mình trên mặt trận ngoại giao nhưng

cũng nhận thấy rằng cục diện chiến tranh là tất yếu, không thể tránh khỏi. Hà Nội là nơi đặt

những cơ quan đầu não của chính phủ Việt Nam, cái đích mà thực dân nhắm tới, chúng hy

vọng nhờ vào việc khống chế được nơi đây, sẽ làm chủ được cả nước. Chính phủ kêu gọi

đồng bào Hà Nội đi tản cư, không hợp tác với giặc để cô lập chúng trong tình huống thủ đô

bị chiếm đóng. Rời bỏ Hà Nội là yêu nước, người Hà Nội hiểu điều đó nhưng không khỏi

đau xót khi buộc phải rời bỏ mái phố thân yêu để chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến trường

kì; chỉ còn những thanh niên tự nguyện hy sinh ở lại, chuẩn bị cho cuộc chiến cầm chân kẻ

thù. Sống mãi với thủ đô nhập đề bằng hình ảnh sân ga Hàng Cỏ một sớm mùa đông,

những cuộc chia ly đầy nước mắt, tiếng thở dài của những người ra đi và người ở lại, không

biết còn có ngày gặp lại hay không. Trần Văn, nhân vật chính, tiễn người mẹ già tản cư về

quê; bản thân anh ở lại vì tình yêu thủ đô và ý thức trách nhiệm của người công dân với đất

nước. Dù đã xác định quyết tâm cho bản thân, Trần Văn vẫn không khỏi bùi ngùi khi nhìn

lại Hà thành xơ xác tiêu điều trong một sớm cuối năm, lạnh ngắt như một bãi tha ma. Trên

những con phố là lũ lượt những đoàn người tay xách nách mang, nét mặt hớt hải ngơ ngác,

dắt díu nhau đi tản cư. Có lẽ sau này sử học sẽ dành nhiều trang hơn để mô tả lại khung

cảnh của thủ đô trong những ngày ấy, nhưng có lẽ sẽ chẳng thể làm cho thế hệ sau cảm

động bằng khi họ đọc những dòng này: “Một tiếng ho sù sụ làm cho anh quay lại. Một ông

già lê bước tới. Lão không có nón, không có mũ, tóc nửa trắng nửa màu đất, túm lại thành

một cái búi đằng sau, nhỏ như một hòn bi. Mắt lão mờ dại như mắt người hấp hối, mồm há

ra để hớp không khí, cổ chỉ còn hai miếng da mỏng như tờ giấy dính cằm. Vai lão đeo một

cái đai nhỏ, lưng gãy gập cõng một đứa bé độ hai tuổi. Đứa trẻ ngủ, cái đầu ngoẹo xuống.

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

Thảm nhất là nó lại chít một cái khăn đại tang còn mới. Ông cụ cứ loạng choạng, thỉnh

thoảng dừng bước để thở rồi lại thất thiểu đi. (…) Trần Văn nhìn theo trong đám bụi mù cái

bóng ông già xiêu vẹo mỏng manh như chiếc lá rụng bay theo cơn gió dữ.” [104, 21-22].

Những người tản cư, mỗi người một cảnh ngộ nhưng có lẽ hình ảnh hai ông cháu ấy là

gương mặt chân thực nhất của chiến tranh - cõi tan cửa nát nhà, chốn thương đau, tang tóc.

Hai con người, một quá non nớt, một kề cận cái chết, phải nương tựa vào nhau, cõng trên

vai những cái tang của những người thân yêu, liệu sẽ tồn tại bằng cách nào trong cơn binh

lửa này?

Trong tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng, sớm mai Hà Nội không còn bầu không khí

yên bình. Dáng vẻ suy tư của những mái nhà thâm nâu, trầm mặc bỗng bị phá tan bởi

“những tiếng ầm ầm từ phía Cột Cờ đưa lại. Một đoàn xe gíp, háp - tờ - rắc tiến rầm rộ vào

phố Tràng Thi. Người đi xe đạp ở đầu phố bị một xe gíp thúc vào. Người ấy chỉ kịp nằm

sõng xoài trên hè đường, lặng đi như một xác chết. Hết xe này đến xe khác lao đi chồm

chồm, phố xá chung quanh rung chuyển, dọc Cột Cờ, Tràng Thi, bụi bốc như trong một cơn

lốc rối mù. Xe chở toàn tụi Tây mũ đỏ, kèm theo mấy con nhà thổ, me tây lòe loẹt.” [104,

54]. Thực dân Pháp liên tục phá hoại những hòa ước đã kí với chính phủ, chúng gây ra

những vụ bạo động ở nhà thông tin phố Tràng Tiền, vụ thảm sát hai mươi ba đồng bào trong

ngõ Yên Ninh, bắt người vô cớ ở chợ Đồng Xuân, khiêu khích tự vệ thành trên các trục phố

chính. Áp lực đè nặng lên tâm lý người dân thủ đô. Căm hờn, uất ức, thương đau phải dồn

nén lại, họ trông chờ lệnh đánh từ phía chính phủ như nắng hạn chờ mưa. Những người dân

thủ đô tự chọn cho mình những cách đấu tranh riêng, người bãi thị, người lo chuẩn bị thuốc

men, lương thực, đào đường, đắp ụ để cản cơ giới của giặc. Âm thanh nổi bật của thành phố

trong những thời khắc sát cuộc chiến là tiếng đục tường thông nhà, lúc khoan lúc mau, lúc

gần lúc xa. Máu đã đổ, thành phố đã bị tàn phá nhưng không ai nhụt chí cả. Họ bình thản

đón đợi những ngày đen tối sắp tới không phải bằng sự vô vọng mà bằng niềm tin, hy vọng:

“Hải Phòng không đục tường, Hải Phòng mất. Hà Nội đục tường, Hà Nội vĩnh viễn còn”

Nhân vật Trần Văn, một giáo viên lịch sử như là hóa thân của chính Nguyễn Huy Tưởng,

mang trong mình một niềm say mê mãnh liệt với lịch sử của thủ đô. Khi cầm cuốc, xẻng

đứng trong chiến hào, trong dòng suy nghĩ miên man, anh thấy mình sống lại với quá khứ

đau thương nhưng rất mực hào hùng của thủ đô. Những dòng tâm tưởng ấy là những thước

phim tư liệu về quá khứ gần và quá khứ xa, về những gì Hà Nội đã và đang trải qua. Trần

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

Văn ra trận với sức mạnh của lòng tự hào về lịch sử cha ông, anh yêu Hà Nội không chỉ vì

lịch sử thăng trầm của nó. Với chàng trí thức tiểu tư sản ấy, đây là gương mặt của dân tộc

Việt Nam. Từ Thăng Long ấy mở ra những Bạch Đằng, Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa, Hạ

Hồi. Từ mùa thu lịch sử năm 1945 ấy mở ra những chiến công hào hùng vang dội với những

mốc lịch sử chẳng thể nào quên ở mỗi triều đại xưa nay. Trần Văn hay chính hóa thân của

tác giả, yêu Hà Nội chính vì niềm cảm hứng mãnh liệt với lịch sử dân tộc, anh đi vào cuộc

chiến đấu với khát vọng viết tiếp những trang đầy tự hào cho đất nước, tiếp nối chí hướng

ông cha, những con người từng truyền nhau ngọn lửa của lòng tự tôn dân tộc.

Biết chọn thời điểm chuẩn bị bước vào cuộc chiến, Nguyễn Huy Tưởng giúp người

đọc nắm được từng nước cờ đấu tranh chính trị. Những thông tin về các cuộc đấu tranh trên

mặt trận chính trị ngoại giao được những người dân thủ đô hồi hộp đón đợi. Họ không mong

đợi chiến tranh nổ ra, nhưng họ không cam tâm nhìn cảnh đồng bào phải chết oan, thành

phố bị lăng nhục thêm một lần nữa. Ngay cả khi đưa ra phương án: nếu phải rút lui, tự vệ

phải đốt thành phố; chính những người trong cuộc đưa ra quyết định cũng không đành lòng.

Nguyễn Gia Định, người chính trị viên đại đội bảo vệ phủ Bắc Bộ và dinh Hồ Chủ Tịch

thầm đinh ninh một quyết tâm “nếu như phải rút khỏi dinh, anh sẽ là người cuối cùng ở lại,

và cả cái lâu đài kia sẽ đổ sập xuống quân thù” [104, 286]. Những con người đã sinh ra và

lớn lên trên mảnh đất này như Oanh, Quốc Vinh, Quyên, Trần Văn, Nhật Tân,… dù không

nói ra, họ đều có chung ý nghĩ sẽ bảo vệ thủ đô đến hơi thở cuối cùng. Giữ thủ đô đâu chỉ là

giữ những xác nhà vô hồn, mà phải giữ cho nó một linh hồn và cốt cách của người Hà Nội.

Nguyễn Huy Tưởng đã để những nhân vật của mình bước vào trận chiến ác liệt bằng phong

thái, cốt cách hào hoa lịch lãm. Kháng chiến tuy thiếu thốn về vật chất nhưng đời sống tâm

hồn và tình cảm của những người ở lại thủ đô vẫn giàu và đẹp. Những đôi lứa như Oanh -

Phúc, Nhật Tân - Hiền, Quốc Vinh - Phượng, vẫn nuôi mộng đẹp về ngày hợp hôn. Những

cô thiếu nữ như Quyên, Hương vẫn ý toát lên sức sống tươi trẻ, lòng nhiệt tình, những điều

rất cần cho một cuộc kháng chiến trường kì gian khổ, nó tạo nên sức sống cho niềm tin và

hy vọng. Trần Văn trước khi tham gia kháng chiến đã nhìn Trinh - người yêu cũ bằng con

mắt khinh bỉ, coi thường, lạnh lùng xa cách; nhưng khi bước vào cuộc chiến thực sự, anh

thấy thương cho cảnh ngộ của cô, thậm chí những giận hờn bấy lâu tan biến hết… Ở họ,

người đọc thấy được không chỉ tinh thần dũng cảm mà còn cả vẻ đẹp thanh cao của các giá

trị văn hóa phi vật thể của đất kinh kỳ ngàn năm. Chọn thời khắc lịch sử này để tái hiện,

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

Nguyễn Huy Tưởng một lần nữa muốn chứng minh sức mạnh quật cường của dân tộc nằm ở

chính lòng dân. Từ mùa thu năm 1945 đến mùa đông năm 1946, thời gian chưa phải là quá

dài nhưng lòng dân đã có những chuyển biến sâu sắc không ngờ. Cái tên gọi “Bộ đội Cụ

Hồ” vốn còn xa lạ với người Hà Nội một năm về trước đã nhanh chóng chiếm được lòng tin

yêu của họ. Người dân thủ đô dốc lòng đi theo kháng chiến, sẵn sàng hy sinh tài sản và bản

thân mình để gìn giữ Hà Nội, mà sâu xa hơn là giữ nền độc lập cho dân tộc.

2.2.3 Nhân vật.

Trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng thường có không khí lịch sử trang nghiêm,

không phải chỉ ở đề tài mà ngay cả trong nhân vật. Nhân vật thường dồi dào những tâm sự,

hay trầm ngâm suy nghiệm về quá trình lịch sử, về truyền thống của ông cha; hay nhìn cuộc

sống với con mắt lịch sử để rồi rút ra triết lý cho cuộc đời hay xác định cho mình một vị trí

trong sự vận động của lịch sử dân tộc.

Bên cạnh những nhân vật hư cấu như nhóm bạn Bảo Kim, Nguyễn Mại trong Đêm hội

Long Trì, ta bắt gặp những chân dung lịch sử như chúa Tĩnh Đô, Tuyên Phi, Đặng Lân.

Những nhân vật có thật trong sử sách, qua ngòi bút sáng tạo của nhà văn đã mang dáng vẻ

sống động. Lịch sử miêu tả khá tỉ mỉ về Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm: vốn là người cơ mưu,

quyết đoán, khi lên ngôi đã đoạt quyền của vua Lê Hiển Tông, xông vào tận cung bắt, giết

thái tử Lê Duy Vĩ, tuy là phó vương nhưng quyền cao nhất nước. Miêu tả nhân vật này một

cách sinh động và sáng tạo quả không phải là việc đơn giản. Nguyễn Huy Tưởng khá

nghiêm túc trong công việc tôn trọng tính hiện thực chính xác của lịch sử, thể hiện một

Trịnh Sâm vừa với tư cách là nạn nhân, vừa là thủ phạm, vừa có cái sáng suốt của vị phó

vương quyền thế nghiêng trời, vừa đam mê mù quáng, đáng phê phán, mà cũng đáng thương

xót trong con mắt của nhân vật trong truyện, chúa Tĩnh Đô vốn là người sáng suốt, “từ ngày

sủng ái Tuyên Phi, việc triều chính mỗi ngày một nát”. Đáng giận là “Tĩnh vương chỉ vì say

đắm Tuyên Phi mà làm toàn những điều bất chính; bao nhiêu lời can gián đều vô hiệu cả.

Việc gì cũng nghe Tuyên Phi”. [102, 50-51]. Quyền uy của Trịnh Sâm đã trở thành thế lực

che chở cho cái ác lộng hành; ông ta đã u mê, mù quáng trước nhan sắc kiều mị đầy ma lực

của người đàn bà xứ Kinh Bắc. Tính cách của Trịnh Sâm không đơn giản thuần nhất mà đầy

phức tạp. Có lúc ông ta mụ mẫm trong vòng tửu sắc, nhưng cũng có lúc “là bậc cương

minh, anh đoán, trí tuệ hơn người, có đủ cả văn tài, võ lược, xem khắp sử sách, lại biết làm

văn thơ, không phải là một người tầm thường” (Hoàng Lê nhất thống chí). Dưới ngòi bút

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

của Nguyễn Huy Tưởng, Trịnh Sâm có mặt tích cực, anh minh, có tinh thần dân tộc rất

mạnh, ngày ngày lo khuếch trương cơ nghiệp họ Trịnh. Trịnh Sâm biết thưởng thức, yêu

văn chương, mến mộ văn tài của Bảo Kim. Chúa biết trọng bậc hiền sĩ, thương tướng tá,

những người có tài lược thao, trung nghĩa như Nguyễn Mại. Lòng dân oán hận không dồn

vào chúa mà chỉ đổ cho thị Huệ, “ả hồ ly tinh” làm mờ mắt chúa. Yêu con hết mực, nhưng

chúa không giữ được hạnh phúc cho con, trước những đòi hỏi của ái thiếp. Là một người

cha tâm lý, Trịnh Sâm biết từ lâu trái tim của Quỳnh Hoa đã hướng về chàng danh sĩ Bảo

Kim, chúa định tâm gây dựng cho con: “Ít lâu nay, chúa để ý đến chàng Bảo Kim. Chàng

không những là con nhà vọng tộc, lại là người tài mạo song toàn. Ý chúa muốn khuyến

khích văn chương, đem lại cho nước Nam một thời đại rực rỡ như Hán Đường. Vì thế chúa

rất trọng bậc văn tài”. Nhưng thật không may, cái đêm hội Long Trì mà chúa mở ra để

chiều lòng quận chúa lại là khởi điểm của sự bất hạnh. Đặng Lân đến phá rối, gặp Quỳnh

Hoa, ẩu đả với nhóm Bảo Kim, những biến cố ấy làm thay đổi đường đời mỗi người. Hận

Bảo Kim, Nguyễn Mại, say nhan sắc Quỳnh Hoa, lại thêm sự ngạo mạng hống hách của một

kẻ coi trời bằng vung, Lân quyết tâm lấy bằng được quận chúa. Một việc khó khăn tưởng

như hái sao trên trời như vậy mà chỉ bằng vài lời ton hót, Tuyên Phi đã giúp em mình toại

nguyện. Nghe lời cầu hôn quận chúa cho Đặng Lân của Tuyên Phi, dù đang lúc say đắm

nhất chúa cũng “ giật bắn người lên, hoang mang như một người bị ngất. Tuyên Phi ngước

mắt nhìn chúa, thấy Tĩnh Đô tái mặt đi. Thoáng một cái, nàng đã nhận thấy trong nét mặt

rất dễ thay đổi kia, vẻ giận dữ, vẻ đau đớn, vẻ hoài nghi, xen với một vẻ kiêu ngạo không bờ

bến. Nàng cầm lấy tay chúa lúc nào chúa cũng không biết” [102, 96]. Giận giữ nhưng khi

được hưởng những phút êm đềm ngọt ngào bên người đẹp ngài lại ân hận vì làm nàng chạnh

lòng.” Chiều hôm ấy, về Bội Lan thất, chúa vẫn thấy lòng bối rối. Phần vì nể Tuyên Phi,

phần vì thương con, không lẽ ngài lại gả con gái yêu cho một kẻ ăn chơi phóng đãng. (…)

Nhưng khi xe đỗ trước cung Tuyên Phi, ngài lại thay đổi ý định. Ngài không nỡ làm phật

lòng người tuyệt sắc đã cho ngài những phút đầm ấm nhất đời. Luôn ba ngày chúa Tĩnh Đô

ở trong một tình trạng vô cùng khó xử. Ngày thứ tư, chúa thất kinh được tin nàng ốm. Chúa

giậm chân nghĩ: chỉ tại ta thôi. Người ngọc ấy mà có mệnh hệ nào thì ta sống làm sao được.

Nàng hay lo nghĩ, hơi một tí thì se mình. Con gái thì đặt đâu phải ngồi đấy, tùy trời, tính

làm sao cho hết được?”. Chúa bị giằng xé giữa hai thứ tình yêu, chỉ mấy ngày mà già thêm

cả chục tuổi. Trước mắt Quỳnh Hoa “Mới bốn chục, ngài đã có vẻ nhọc mệt của người năm

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

mươi. Nàng hồi tưởng lại mấy năm xưa cha nàng vẫn còn cường tráng linh lợi, uy phong

lẫm liệt, đường đường là một vị chúa tể của muôn dân. Đem so sánh với bây giờ, thật là một

trời một vực. Trên mặt đã chạy những nét răn, mắt đã mất vẻ tinh anh sáng quắc, và ngôn

ngữ cử chỉ nhất nhất đều để lộ vẻ suy đồi” [102, 116]. Trước sự nhu thuận của quận chúa,

ngài vừa giận, vừa thương con. “Chúa Tĩnh Đô thân lấy khăn tay chùi nước mắt cho con.

Mắt ngài bỗng trố ra, ngài như nhận thấy hết tội ác của mình: Quỳnh Hoa còn quá trẻ

trung ngây dại, tay nàng mảnh khảnh và xanh xao. Nhưng cùng lúc ấy cái sắc đẹp mê hồn

của Tuyên Phi như đứng trấn không cho ngài lùi bước. Lòng ngài chia sẻ. Những khi việc

nước khó khăn nhất ngài cũng chưa bao giờ phân vân như thế!” [102, 117, 118]. Trở về

cung chúa, Tĩnh Đô càng bị vò xé giữa trăm mối, một bên là thương con đứt ruột, một bên

là sợ mất lòng ái phi, sợ mang tiếng thất tín trước bàn dân thiên hạ. Người đàn bàn nham

hiểm họ Đặng đã dùng khổ nhục kế, định tự sát trước mặt chúa, tức thì “lòng ngài tan trong

tình yêu, bao nhiêu ý phân vân bay hết”. Ngài biết Lân là “quân bần tiện, thô lậu”, nhưng

dù có căm ghét, khinh bỉ y đến đâu, ngài cũng không dám làm mếch lòng người đẹp ngồi

bên. Đưa con lên kiệu hoa, “Không gượng được nữa, vị tổng nguyên súy, nhiếp chính quốc,

Thái sư thược phụ, uy quyền hống hách, cầm cân nảy mực cho muôn dân, loạng choạng đi

vào nằm lăn trên giường, thốt tiếng kêu:

- Quỳnh Hoa! Cha hại con!

Hàng lệ tuôn ra, chúa thổn thức khóc như một đứa con nít” [102, 144].

Chúa đã phải đối mặt với mối phân vân lớn nhất đời, đó là việc Đặng Lân bị trừng

phạt. Bởi vì, một bên là quốc cửu kiêm phò mã, tình máu mủ với ái phi và một bên là dũng

tướng trung thành, vị quan tốt, muôn dân yêu quý, Tĩnh Đô thật sự không biết nên xử trí

như thế nào. Nhờ lời khuyên nhủ của Thái Phi, chúa lại tận mắt nhìn thấy sự tàn tạ của con

gái yêu sau một thời gian bị đày đọa, “Chúa không còn là một gã si tình nữa, chúa là một vị

quốc trưởng biết lo đến vương nghiệp và đặt quốc gia lên trên mọi sự” [102, 220]. “Lòng

thương Quỳnh Hoa chiếm cả tâm hồn của chúa Tĩnh Đô và đồng thời tất cả lòng chán ghét

Đặng Lân cũng nổi dậy. Chúa căm giận Lân đến nổi lúc ấy, nếu em Tuyên Phi còn sống,

chúa cũng chính tay giết chết” [102, 222]. Tha tội cho Nguyễn Mại, chúa tỏ rõ mình là

người vì nghĩa lớn bỏ tình riêng, khôi phục lại lòng tin trong dân. Xây dựng nhân vật lịch sử

theo chiều hướng tích cực như ngòi bút của nhà văn không hề dễ dãi một chiều. Những đau

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

khổ dằn vặt trong lòng chúa Trịnh thực chất là quá trình vận động theo quy luật biện chứng,

quy luật đấu tranh nội tại của con người, nơi chứa đựng cả tốt và xấu, cả u mê và sáng suốt,

cũng là chiều hướng vận động và phát triển của lịch sử.

Trong Đêm hội Long Trì các nhân vật đều được bồi đắp vóc dáng cụ thể, sống động.

Nhân vật Đặng Mậu Lân trong lịch sử được tái hiện rõ nét hơn, tỉ mỉ hơn. Y là hiện thân của

dục vọng, tội ác,…, y giống như một con dã thú khát máu, điên cuồng hãm hiếp và giết

chóc, chà đạp lên kỷ cương, đạo lý. Đó là một kẻ đầy thú tính. Lân xuất hiện ở đâu, dù là hồ

Long Trì xa hoa của phủ chúa, hay trong cái phủ quốc cữu dâm ô trác táng của y hoặc chốn

phố phường Thăng Long, đều làm cho nơi đó trở thành chốn hỗn loạn, là vòng tủi nhục của

biết bao người phụ nữ thành Thăng Long. “Lân cùng Tuyên Phi là con một ông đồ nghèo ở

làng Chè. Thuở bé, Lân đã ngỗ nghịch không chịu học hành. Khoảng 13, 14 tuổi đã nát

rượu tham cờ bạc, và đã dự vào những trận ăn cướp quanh vùng. Lớn lên càng lăng loàn,

đầu óc chỉ thích sắp đặt những mưu mô chim chuột đàn bà con gái, đã thích người nào thì

kỳ cho thỏa mãn lòng dục mới thôi. Đào tường khoét vách, hãm hiếp giữa đường, Lân

không từ một thủ đoạn nào, nhiều khi bị đánh gần chết mà vẫn không bỏ. Đến khi Tuyên Phi

đắc thế, được chị gọi vào kinh, Lân tha hồ phóng túng thả lòng dục trác táng tuổi thanh

niên”. [102, 82]. Sự dâm đãng của y đi liền với tính khát máu và thú tính trong y. Sau mỗi

cuộc truy hoan của” cậu Trời” thế nào cũng có máu đổ. Người con gái vừa bị y giày vò

xong, bị ông chủ khi tỉnh rượu cầm gươm đâm chết ngay.” Những sự chém giết không mấy

ngày không diễn ra trong phủ Đặng Lân. Con người tửu sắc dâm dật và có máu điên ấy

thích cái thú quái gở là giết đàn bà con gái, sau những khi hành lạc, hay trong lúc say rượu.

Khi đã làm xong tội ác, Đặng Lân quăng kiếm cười ha hả, chân nam đá chân xiêu, bước lên

sập nằm thản nhiên như không có sự gì xảy ra.” [102, 85]. Nghĩ đến Quỳnh Hoa, y có lòng

say mê nhưng Đặng Lân chỉ coi đó là một phương tiện thỏa lòng dục không hơn: “Con

Quỳnh Hoa đã cao quý gì mà ta không lấy được? Ta quyết lấy được nó mới thôi. Được làm

chủ bông hoa ấy, mở khóa động đào, kể thực là một điều sung sướng nhất đời ta.” [102,

87]. Y đã chán ghét tất cả những con gái đã qua tay, thèm muốn một chút gì mới lạ, “hương

vị đặc biệt” của bậc tuyệt sắc giai nhân chốn khuê các. Bất chấp lệnh chúa ban, ngang nhiên

giết hai cận thần đặc phái của chúa, Đặng Lân xông vào giày vò Quỳnh Hoa, và cũng chẳng

mấy chốc y cũng chán ngấy bông hoa vương giả ấy. Cái danh con rể chúa chỉ là cái thế để

hắn dựa vào để tiếp tục lộng hành. Nếu có e sợ, y chỉ sợ cái uy của quan hộ thành mới mà

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

thôi. Thú vui đầu tiên mà Đặng Lân nghĩ đến sau ngày lấy vợ là “đi săn” con mồi y đã nhắm

từ trước: “Mau dàn bày nghi trượng, tàn quạt, màn giường, chăn đệm, tao phải phá một bữa

cho thật thỏa chí, bắt con Ngọc, bẻ nhụy hoa mới thôi” [102, 149]. Hình ảnh đám rước cậu

trời dạo phố vừa lố bịch, vừa hống hách làm tan hoang cả khung cảnh thanh bình của kinh

thành. “Khi cổng phủ Đặng Lân mở rộng, và cờ quạt ở trong nước ra, mấy nhà hàng phố

kêu thất thanh: “Cậu Trời đấy!” tức thì người ta chạy toán loạn, nhất là những đàn bà con

gái. Tiếng kêu trời, kêu đất, xen lẫn với tiếng đóng cửa ầm ầm” [102, 195]. Tất cả những

chi tiết đó đã hoàn thiện chân dung nhân vật Đặng Lân, biến một nhân vật chỉ được thoáng

qua trong lịch sử thành một bạo chúa điển hình, toàn vẹn từ ngoại hình đến tính cách. Đặng

Lân là sự tập trung những sự thối nát, đồi bại nhất của lịch sử giai cấp phong kiến, là mầm

loạn trong xã hội. Trong tiểu thuyết của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã để Nguyễn Mại trừng

trị đích đáng Đặng Lân ngay trên chiếc giường dâm ô của y, giữa đường phố Thăng Long,

trong sự hả hê của dân chúng.

Nhân vật Tuyên Phi Đặng Thị Huệ cũng là một trong những người đàn bà nổi tiếng

trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Xưa nay, bà chúa làng Chè vẫn bị xếp vào hàng những

người đẹp ỷ vào nhan sắc làm loạn triều chính. Trong Hoàng Lê thống nhất chí, Ngô gia

văn phái tập trung nói về quãng đời bước vào phủ chúa, một bước lên ngôi cao của Thị Huệ,

những âm mưu tranh quyền đạt ngôi của thị. Ở Đêm hội Long Trì, tuy Nguyễn Huy Tưởng

không thể hiện nhân vật ở trên sân khấu chính trường mà chỉ khai thác một chi tiết nhỏ

trong hiện thực về cuộc đời Thị Huệ, nhưng người đọc vẫn cảm nhận được uy quyền, sự

mưu mô của ả. Nhân vật này được miêu tả toàn diện về ngoại hình, với vẻ đẹp quyến rũ, đầy

ma lực, khác hẳn vẻ đẹp thanh tân trong trắng của quận chúa. Tuyên Phi xuất hiện trong

đêm hội ngay sau khi em trai đã vừa dở trò côn đồ tại đó, vậy mà không một ai dám hé ra

nửa lời tố giác, kể cả quận chúa, khi bắt gặp đôi mắt sắc của Đặng Phi. Tất cả đều biết

chẳng một lời nào lọt tai chúa khi có Tuyên Phi ở đó. Khi được miêu tả là “Trang tuyệt thế

giai nhân, trạc 25, 26 tuổi. Bên cạnh phi thì bao nhiêu cung nữ, kể cả Quỳnh Hoa cũng bị

lu mờ, vì phi trông rực rỡ, toàn thắm, toàn tươi. Đẹp mà không nhạt nhẻo, hơi đẫy mà

không thô, nồng nàn mà không lơi lả. Phi là một người đàn bà có một nhan sắc quyến rũ

yêu quái. Người phi là tiếng gọi của dục tình” [102, 54]. Ngay cả viên võ quan Nguyễn Mại

trong lần gặp đầu tiên khiến cũng phải thốt lên: “Người đẹp thế kia làm gì mà chẳng gây

vạ.” [102, 54]. Chúa Tĩnh Đô uy phong cũng trở nên yếu mềm khi gặp nàng. “Nàng liếc

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

mắt nhìn chúa, chúa cả cười không uống đã say sưa”. Khác hẳn với người em cục súc, thô

thiển, phi là người khéo léo, tinh tế. “Tài khéo của Tuyên Phi đã làm cho khu nàng ở thành

một nơi mộng ảo, và chốn thâm cung thành một cái tổ thần tiên… Mắt vào đây được yên

nghỉ, màu sắc điều hòa êm dịu, và vườn hoa, một công trình mỹ thuật vô song thoang

thoảng đưa vào gió mát và hương thơm. Những màn hoa bay phất phới, như những cờ

mừng chúa, nhưng có vẻ đầm ấm hơn là uy nghi. Đây toàn là sinh thú, toàn là ái tình.”

[102, 92]. Chúa Tĩnh Đô khi đặt chân tới nơi đây thì không còn hứng thú với bất kỳ một hậu

cung nào khác. Nguyễn Huy Tưởng miêu tả người đẹp bằng bút pháp lãng mạn, thả ngòi bút

theo trí tưởng tượng. Trong Hoàng Lê nhất thống chí, người đẹp chỉ được giới thiệu qua

vài ba nét ước lệ; ở đây, tác giả miêu tả tỉ mỉ: “khuôn mặt trái xoan, làn môi tình tứ, đôi mắt

đen nhánh đẹp tuyệt trần ẩn dưới đôi lông mày lá liễu, như suối chảy dục tình. Thân nàng

mềm mại, uyển chuyển, vừa phong lưu, vừa quyến rũ, phảng phất như một thứ hương mê

ly” [102, 93]. Nhan sắc của Tuyên Phi như một thứ bùa mê, sự khéo léo của ả như một sợi

thòng lọng, mỗi lúc một thít sâu vào cổ con người quyền uy nhất Bắc hà. Phi là điểm yếu,

gót chân Asin trong con người Trịnh Sâm.

Từ nguyên mẫu Ngọc Lan quận chúa trong Hoàng Lê nhất thống chí, Nguyễn Huy

Tưởng đã xây dựng nhân vật công chúa Quỳnh Hoa. Cũng là một trang tuyệt sắc, nhưng

nhan sắc của Quỳnh Hoa hiện lên khác hẳn với vẻ đẹp của Tuyên Phi. Trong đêm hội định

mệnh ấy, Quỳnh Hoa đã trà trộn trong đám cung nữ, mở quán văn chương và mong gặp

được người trong mộng. Khi đối diện với Bảo Kim, nàng thẹn thùng, bẽn lẽn đúng cốt cách

của con nhà khuê các mặc dù đã ăn vận giả trang thôn nữ: “Áo đồng lầm, chít khăn mỏ

quạ”. “Quận chúa trạc 16, 17 tuổi, nàng hơi xanh dưới ánh trăng thu, người hơi gầy, nhưng

vẻ thanh tú”. Vẻ đẹp ấy càng được tôn lên trong con mắt Bảo Kim - kẻ si tình. Giọng nói

của nàng “nhẹ như tơ, nó đã có một nhạc điệu tuyệt vời”. Nhan sắc của Quỳnh Hoa là thứ

nhan sắc yểu mệnh, mong manh như một thứ hoa quý không chịu nổi sương gió. Tâm hồn

của nàng trong sáng và thanh khiết như suối nguồn. Mối thâm tình với Bảo Kim dù say đắm

nhưng vẫn chỉ là ẩn ý, kín đáo, vẫn luôn ở trong khuôn phép lễ giáo. Nàng chỉ dám bộc bạch

điều đó với người cha yêu thương hết mực vào cái thời khắc tuyệt vọng nhất đời, khi bước

chân lên kiệu hoa. Cũng chính tấm thân mảnh mai ấy đã tự nguyện hy sinh để cứu lấy tám

chàng tài tử ấy ở Thăng Long. Mặc dù rất bất mãn với quyết định của cha, Quỳnh Hoa

không thể làm trái lời người. “Quỳnh Hoa vẫn định tâm nếu gặp cha thì hỏi cho ra lẽ, và

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

hơn nữa, định vượt bổn phận làm con, nói cho cha bõ giận. Nhưng trước mặt cha, bao

nhiêu ý định của nàng đều tiêu tan đi. Nàng không dám, và cùng một lúc, nàng thấy yêu cha

rất mực và thương cha vô cùng” [102, 115]. Nhìn nét mặt cha đầy đau khổ, nàng thấu hiểu

những giằng xé trong lòng Tĩnh Đô vương, hiểu cái thế tiến thoái lưỡng nan của ông. Vua

không nói chơi, chúa không giữ chữ tín thì lòng dân bất phục, nghĩ vậy nên nàng lo cho

thanh danh của cha. Lòng uất hận Tuyên Phi, lòng thương cha, nhớ người mẹ đã khuất, hòa

trong nỗi thương thân, làm nàng cạn không nước mắt. Quỳnh Hoa là vật hy sinh cho đam

mê của cha và danh dự của vương phủ họ Trịnh. Quỳnh Hoa từ nhân vật mờ nhạt trong lịch

sử, qua ngòi bút của Nguyễn Huy Tưởng đã trở thành một thiên sứ làm xoay chuyển thế

cuộc, làm tan cơn oán giận giữa dân chúng với phủ chúa, vén đám mây mờ che mắt Trịnh

Sâm. Tính cách của Quỳnh Hoa có phần đơn giản, thuần nhất, nhưng cũng có thể coi là

thành công trong việc tái hiện nhân vật lịch sử.

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã tỏ ra có vốn hiểu biết khá sâu rộng về các anh hùng

lịch sử mà ông yêu mến từ thời thơ ấu trong tiểu thuyết An Tư. Nguyễn Huy Tưởng đặc biệt

say mê với những nhân vật ấy, tìm thấy ở họ những vẻ ly kỳ đầy cuốn hút. Trong trí tưởng

tượng của nhà văn, mỗi nhân vật lịch sử ấy đã hiện lên với vóc dáng sinh động và cụ thể, có

tính cách rõ ràng, sống động chứ không chỉ là một cái danh xưng trong những dòng chữ cô

đọng của sử sách.

Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết An Tư chia thành hai tuyến, tuyến thứ nhất là

những nhân vật thuộc về phe quân dân Đại Việt, tuyến thứ hai là phe quân tướng nhà

Nguyên. Ở tuyến thứ nhất, An Tư, Trần Thông, vua Thiệu Bảo, Hưng Đạo Vương là những

nhân vật chính, là những yếu nhân lịch sử. Trong đó, An Tư và Trần Thông là hai nhân vật

ít xuất hiện trong sử sách nên khi viết về họ, ngòi bút của nhà văn có đất sáng tạo hơn.

Trong nhật ký của mình, cái tên An Tư đã được nhà văn nhắc tới suốt từ năm 1943 liên tục

đến năm 1945, và cả trong nhật kỳ thời hòa bình lập lại. Còn tên tuổi Hưng Đạo Vương đối

với nhà văn còn là niềm tín ngưỡng thiêng liêng, lưu lại trong trang nhật ký từ năm 1933

đến 1942. Vậy nên thật dễ hiểu vì sao cuốn tiểu thuyết lịch sử này là sự dồn đúc tâm huyết

thời trai trẻ của ông với lịch sử nước nhà.

Công chúa An Tư vốn chỉ được nhắc đến trong sử sách bằng 18 chữ, nhưng qua ngòi

bút của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng chúng ta có thể hình dung rõ hơn về nàng. Về diện

mạo, An Tư là một trong số những người đẹp mà nhà văn dày công trau chuốt. Vẻ đẹp của

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

An Tư không mảnh mai, yếu đuối như Quỳnh Hoa, không đẫy đà khêu gợi như Tuyên phi

mà là vẻ đẹp khỏe khoắn của người phụ nữ họ Trần, một nhan sắc khuynh thành, hoàn mỹ

và trong sáng. Có thể nói, Nguyễn Huy Tưởng đã tập trung nhiều bút lực để miêu tả nhan

sắc của An Tư: “Đôi mắt đen, to là một trời huyền ảo, và đôi môi khao khát là một bến đợi

chờ, cổ nàng tròn trắng, thân nàng yểu điệu, lẳn mà không thô. Toàn thể là một sắc đẹp say

sưa quyến rũ, âm ỉ nguồn nhựa sống dồi dào và mãnh liệt của những vua tướng anh hùng,

đầy bão phụ và dục vọng, đã dựng lên cơ nghiệp họ Đông A (...) Vẻ đẹp không kiểu sức mà

đầy duyên thầm kín, hiện ra trong từng cử chỉ” [102, 288]. Sắc đẹp ấy đủ làm điên đảo cả

đạo quân Mông Cổ hùng mạnh. Thái tử Thoát Hoan coi nàng như bảo vật, bị hút hồn bởi vẻ

đẹp tràn trề sức sống và sự thông minh của nàng. Đám quân sĩ nhà Nguyên nhìn nàng bằng

sự cảm phục vì nàng đã đem đến chốn doanh trại ấy một nguồn vui sống, an ủi phần nào

nỗi nhớ quê hương của họ. Nhan sắc của nàng khiến Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp điên cuồng tức

tối vì nhận ra đó là sự nguy hiểm mà không có cách gì hủy diệt được. Nếu chỉ có cái sắc

khuynh thành thì việc An Tư vào trại giặc cũng không làm người ta day dứt đến thế. Là

công chúa, nhưng An Tư không thờ ơ với cuộc sống bên ngoài. Vận nước lâm nguy, cùng

với các chị em vương hậu trong cung, nàng tham gia nhiệt tình vào việc hậu cần cho người

ra trận. Trong số phi tần, công chúa An Tư là người may vá thêu thùa giỏi nhất và cũng là

người biết nhiều nhất về tin chiến sự, nên đêm nào chị em cũng kéo đến cung nàng để hỏi

han tình hình và đón nhận ở nàng những lời động viên an ủi. Nếu như những người phụ nữ

hậu phương là chỗ dựa tinh thần vững chắc của người ra trận thì An Tư lại là điểm tựa chính

của bức tường hậu phương ấy. Mối tình của nàng được cả nước biết đến và cảm thương khi

tan vỡ vì nghiệp chung của nước nhà. Người ta bàn tán, thở than, cảm thương cho họ. So

với mối tình Ngưu Lang Chức Nữ thì mối tình của nàng còn thê thảm hơn bội phần. Trong

tâm tưởng của mình, An Tư chấp nhận hy sinh để san sẻ trách nhiệm với những người thân

yêu. Nhưng nàng vẫn ao ước có được cuộc đời “Một đôi vợ chồng yêu nhau trong bóng tối,

một túp liều tranh miễn là sum họp, nàng nghĩ đến cảnh nay mai. Thất thân cùng thái tử nhà

Nguyên. Lòng nàng bị tàn phá như một sa trường.” [102,310]. Quan niệm “Quốc gia hưng

vong, thất phu hữu trách”, An Tư dù đau đớn đến chết cả cõi lòng vẫn phải gạt tình riêng lo

cho đại cục. Nhan sắc của An Tư không chỉ cứu cho mười vạn quân dân Đại Việt khỏi bay

đầu, mà giống như Tây Tử năm xưa làm nản lòng tướng giặc, nàng khéo léo buộc Thoát

Hoan vào vòng cám dỗ, làm kế hoãn binh cho quân Đại Việt có thời cơ rửa hận. Say

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

nàng,Thoát Hoan bị lòng quân oán hận, y không thiết đến lời của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp nữa.

So với chiến công “phá cường địch, báo Hoàng ân” của Trần Quốc Toản, nghĩa khí “ninh

vi Nam quỷ, bất vi Bắc vương” của Trần Bình Trọng, công lao ấy, khí tiết ấy đâu nhỏ. Hai

tháng trời chịu nhục trong trại giặc, dù biết rằng Thoát Hoan yêu và trân trọng nàng biết

nhường nào nhưng An Tư vẫn thấy đau đớn và tủi hổ. Càng sốt ruột trông mong tin quân

nhà bao nhiêu, nàng càng lo lắng cho thân mình bấy nhiêu. “Đã hai tháng bị giày vò, thân

nàng ê chề, nhơ nhuốc. Nàng không có một hứng thú gì, ngoài những lúc cuồng mê của xác

thịt trong những cuộc ái ân vô độ và điên cuồng của người đàn ông đã làm chúa tể thân

nàng. Nàng cố đem những lời cao thượng của Chiêu Thành vương, khi nàng cùng chàng từ

biệt ở Thanh Hóa, để an ủi mình, thân tuy nhơ, lòng nàng vẫn không bợn, nhưng nàng cảm

thấy cái ý tưởng ấy không sao đứng vững được, và mỗi ngày, càng tụt sâu hơn xuống dốc

trụy lạc, nàng càng thấy buồn chán như mang tội với tình lang” [102, 416]. Cái ngày nàng

mong đợi cuối cùng đã tới. Nhưng bất hạnh thay, giờ phút gặp lại người yêu thương lại là

giờ phút chia tay vĩnh viễn. Trần Thông đã ngã xuống trước cổng thành Thăng Long, ngay

cận giờ chiến thắng. An Tư đau đớn, không kịp nói với chàng một lời cuối. Nàng tự ý mặc

áo đại tang như bổn phận của một người vợ. Chiến thắng ấy không có niềm hạnh phúc cho

cá nhân nàng. “Bấy giờ nàng ao ước chàng sống, dù phải đem thân nhơ nhuốc hiến dâng

chàng, miễn là chàng được sống. Càng nghĩ càng xót xa, lắm lúc nàng nghiến răng hờn

oán, hay đứng lên vùng vằng như muốn phá những ngang trái của hóa công, (...). Đến đây,

nàng không còn điều chi ràng buộc với đời nữa. (...) Nàng thu mình giữa đám vui. Và chính

tiệc khao quân tưng bừng náo nhiệt đã xua đuổi nàng đi, người duy nhất không có cái

quyền được hưởng cái vinh quang ấy” [102, 449]. Hình ảnh Chiêu Thành vương như đang

vẫy gọi nàng đi theo. An Tư không ngần ngại gieo mình xuống dòng sông Cái ngầu đỏ,

trong tiếng ca mừng công vang vọng từ hoàng thành. Nhân vật An Tư, thân phận hồng nhan,

được tái hiện lại sống động với nhan sắc tuyệt mỹ và hơn cả là với chiều sâu nội tâm, đã trả

lại cho nhân vật lịch sử sự công bằng mà nàng đáng được hưởng. Qua ngòi bút của Nguyễn

Huy Tưởng, An Tư không chỉ là lời ngợi ca những phẩm chất cao quý của người phụ nữ

Việt Nam truyền thống mà còn là cách nhà văn trang trải món nợ cho lịch sử. Viết về số

phận An Tư, nhà văn bày tỏ nỗi bức xúc của mình về thân phận con người trước ngã ba lịch

sử. Trước mối lo chung của cả dân tộc, mọi người cùng phải hy sinh quyền lợi cá nhân,

nhưng khi cái chung đã đạt được thì những bi kịch cá nhân vẫn còn là cái dằm nhức nhối ẩn

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

trên tấm thảm chung của vinh quang cộng đồng. Lịch sử lạnh lùng, ghi lại chiến công, bỏ

qua thất bại, điểm mặt anh hùng nhưng lại cố tình quên lãng những con người đứng ở hậu

trường lịch sử. Chỉ có những nhà tiểu thuyết lịch sử mới dám mạnh dạn khơi lại nỗi đau ấy.

Chính họ làm cho gương mặt lịch sử thêm phong phú và sống động, tìm thấy trong những

chiến thắng vinh quang của ngày hôm qua nỗi đau của ngày hôm nay và cả những vấn đề

của ngày mai. An Tư hay số phận người phụ nữ trong kháng chiến của dân tộc, luôn luôn là

vấn đề trăn trở của những nhà văn chủ nghĩa, những con người khao khát mong tìm thấy sự

công bằng trong các giá trị lịch sử.

Trong tiểu thuyết An Tư, nổi bật là chân dung của hai nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến

dân tộc. Đó là vua Nhân Tông (Thiệu Bảo) và Hưng Đạo vương. Hai con người đứng mũi

chịu sào, đưa con thuyền quốc gia vượt qua cơn phong ba lịch sử, thể hiện những cách nhìn

tưởng như đối lập mà thống nhất trong vẹn toàn cá tính của con người Việt Nam. Nhân

Tông là vị vua khoan dung độ lượng. Nguyễn Huy Tưởng đã dựng lại chân dung vị quân

vương ấy: “Người vào trạc 27, 28 tuổi, chít khăn vàng, mặc áo bào vàng chẽn, đeo kiếm

dài, mặt trái xoan, điểm những đường vân tía, trông hao hao nét mặt Khổng Phu Tử, thần

khí quang thái, dáng trông uy nghiêm tôn kính, nhưng đạo mạo rất nhân từ” [102, 255]. Ở

ông toát lên sự mộc mạc chân tình của vị vua nhân đức. Nhà vua xuôi thuyền về Thăng

Long đi tìm quốc công, không cần tiền hô hậu ủng. Ở giữa chốn dân gian, vua không phải

nề hà hiểm nguy hay gian khổ vì biết lòng dân quy thuận theo mình.” Dân gian biết là vua

đi, kéo nhau lũ lượt theo sau, khắp các phố phường người ta đổ ra, tiếng hô vạn tuế vang

lừng, vui vầy và đầm ấm. (...) Vua vốn là người nhân từ, công chính, hằng ngày thường cúi

xuống bách tính, xem xét dân tình, có khi vi hành để thân dân. Vua không bỏ lỡ dịp nào để

giúp họ: đói kém thì phát gạo, rách rưới thì ban quần áo. Vua không nề hà gì, vào cả túp

liều tranh ẩm thấp, trò chuyện cùng ông già bà cả có khi ôm ẵm trẻ nhỏ giữa những tiếng

cười hồn nhiên của những đám người bình dân” [102, 259]. Sự gần gũi thân mật ấy mang

tính lý tưởng và có lẽ còn xa rời thực tế. Đây có lẽ cũng là niềm khao khát có được minh

chủ lãnh đạo dân tộc trong những năm đất nước còn nô lệ lầm than của tác giả. Nhưng

người đọc sẽ thấy vô cùng hợp lý khi thấy tính cách nhân từ ấy là khởi điểm để nhà Trần có

được sự ủng hộ của lòng dân lớn lao đến thế. “Họ đã coi vua như một thế tôn, một Bồ tát

đầy lòng từ bi hỉ xả, họ chỉ đợi dịp đến báo ơn vua nhân hậu”. Sẽ chẳng thể có ba lần chiến

thắng quân Nguyên Mông nếu chỉ trông chờ vào tài thao lược của binh tướng. Nguyễn Huy

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

Tưởng từ trước khi giác ngộ cách mạng đã ý thức rõ ràng về vai trò của quần chúng . Nếu

không được lòng dân sẽ không có hội nghị Diên Hồng, không có hội quân bến Bình Than,

càng chẳng có Chương Dương, Hàm Tử, Vân Đồn - những chiến công chói lọi.

Trần Hưng Đạo, nhân vật lịch sử kiệt xuất, đối với người Việt Nam chúng ta từ xưa

đến nay đã trở thành một vị thánh. Với Nguyễn Huy Tưởng, hình ảnh Hưng Đạo vương là

một thần tượng mà ông tôn thờ, khơi lên trong ông niềm tự hào mãnh liệt về quá khứ hào

hùng của dân tộc. Những trang viết của Hà Ân trong tập Trăng nước Chương Dương cho

ta thấy một Trần Quốc Tuấn trăn trở trước di mệnh của cha và đạo quân thần, một Hưng

Đạo vương ân cần với từng gia nô trong thái ấp, trọng nhân tài, một người hào hoa nhưng

tâm trí luôn gắn với việc quốc gia đại sự. Trong An Tư, ta vẫn gặp một Hưng Đạo vương

của Hà Ân. Nguyễn Huy Tưởng không đi sâu miêu tả cách đối đãi chăm lo của Hưng Đạo

vương với bề tôi của mình nhưng bằng cách thuật lại những tình tiết đầy thử thách đối với

lòng trung thành của các tướng lĩnh dưới quyền vương, ta có thể cảm nhận phần nào cái uy

cũng như đức nhân của ngài. Khi Thoát Hoan kéo quân tràn qua biên ải, sức giặc quá mạnh,

quân triều đình liên tiếp thất bại, vua Thiệu Bảo lòng rối như canh hẹ, hoang mang muốn

hàng cho dân đỡ khổ. Chờ đợi Quốc công ở hành cung Hải Đông, lòng Nhân Tông như có

lửa đốt. Vậy mà thoáng từ xa nhìn thấy con thuyền, “Lòng vua đã trở lại bình tĩnh như

thường”. Bởi lẽ “Quốc công như có một uy quyền kỳ dị. Giữa lúc mọi người hoang mang,

hoài nghi và chán nản, đại vương đem lại một nguồn nghị lực dồi dào. Lòng tin đã bị lung

lay trong thâm tâm nhà vua nay đã gần như chôn vững” [102,277]. Mối băn khoăn của vua

Thiệu Bảo như được trút bỏ khi nghe lời tâu khẳng khái của vị nguyên lão đầu triều “Quan

gia muốn hàng, xin trước hết chém đầu lão phu đi đã” [102,277]. “Giọng Quốc công đã

hay, lời Quốc công lại mạnh câu nói đanh thép đầy tự tin, như giội một luồng sinh khí vào

ông vua héo hon vì do dự. Bao nhiêu lòng hoài nghi tan hết, vua như choàng tỉnh một cơn

mê. Vua nâng đại vương dậy, thẹn thò vì lời nói hèn nhát của mình. Tất cả những người

đứng chung quanh ngây người vì câu nói rắn rỏi, nhìn vào Quốc công, lòng kính ái, và

mạch máu cuồn cuộn say sưa phấn đấu. Tiếng đáp còn quyện trong gió mây.Chiêu Thành

vương cũng ngạc nhiên vì câu nói bất ngờ của vua Thiệu Bảo càng lại nhận thấy nỗi thẹn

của vua. Càng có cảm tưởng rằng khi ấy Quốc công là một bó đuốc dẫn đường. Ngay trong

lòng chàng, những tro tàn chán nản cũng biến thành than hồng.” [102, 278]. Mỗi lý lẽ

Hưng Đạo vương đưa ra là một trận gió xua tan từng lớp mây mờ bao phủ trong tâm trí mọi

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

người, khiến họ thêm vững tâm vào con đường cả dân tộc đã lựa chọn, tin tưởng hơn vào

thắng lợi trước mắt. Chiêu Thành vương sau khi biết tin vua quyết định đưa An Tư làm kế

hoãn binh, vô cùng căm giận Quốc công và Thượng hoàng, giận nàng, giận thân, giận cả

non sông Tổ quốc; chàng đã lâm vào tình thế tuyệt vọng, nhưng khi bị triệu tập theo lệnh

Quốc công, “nhìn thấy Quốc công, chàng đã dịu những bão táp trong lòng. (...) Chỉ một lời

nói của con người khoan hồng kia cũng đủ làm cho vương trở lại thăng bằng.” [102, 314].

Không những lòng oán hận tiêu tan mà uy lực của Quốc công đã truyền cho chàng trai si

tình ấy một sức sống mới, để chàng không những tự đứng dậy trong khổ đau mà còn đủ sức

truyền cho người yêu niềm hy vọng, động viên nàng bằng những lời cao thượng nhất. Là vị

tướng giỏi, Trần Quốc Tuấn biết phải nắm vững được thiên thời, địa lợi, nhơn hòa. Các

tướng sĩ dưới quyền của ông không chỉ giỏi mà còn nặng lòng trung nghĩa. Chính Quốc

công cũng phải cảm khái mà thốt lên rằng: “Chim hồng hộc bay cao được là nhờ lông cánh,

nếu không có lông cánh thì cũng chỉ là chim thường thôi vậy.” [102, 290]. Vì thế trong thái

ấp của ông, những gia nô đối với ông không chỉ bằng tình chủ tớ, họ yêu thương và kính

trọng ông bằng tình thương đối với cha, sẵn sàng xả thân, bất chấp hiểm nguy vì mệnh lệnh

của chủ tướng. Lệnh chiêu binh của phủ Quốc công vừa ban ra thì “nhân tài kéo ra như

nước, về cả Vạn Kiếp để chịu quyền tiết chế của đại vương” [102, 291]. Hội quân ở Vạn

Kiếp là niềm mơ ước của bất kỳ một thân vương nào, ngay cả cậu bé Hoài Văn Hầu cũng nỗ

lực tự chiêu mộ 600 nghĩa sĩ, tự đi lùng giặc lập công để mong được ra mắt Quốc công. Ông

tin tưởng họ, không bao giờ để lộ ra một chút nghi ngờ về lòng trung nghĩa của họ. Đó là

nguyên nhân tạo nên uy tín của đại vương. Cùng với bài hịch vô tiền khoáng hậu mà mỗi lời

hịch như được viết bằng dòng máu Đông A đầy kiêu hãnh, bằng nhiệt huyết yêu nước, chí

căm thù giặc sục sôi, Hưng Đạo vương đã thức tỉnh được lòng quân tập hợp họ thành một

khối đoàn kết, quyết tâm luyện rèn để chiến đấu. Kẻ địch cũng phải nhìn Quốc công bằng

con mắt kính phục, tài dụng binh của đại vương khiến cho từ Thoát Hoan đến Ô Mã Nhi nổi

tiếng gian xảo cũng phải nể sợ. Xét ở góc độ tình người, Hưng Đạo vương không cứng nhắc

mà rất am hiểu tâm lý, chân tình. Đợt phản công mùa hè ấy, ông sai Chiêu Thành vương

xuất quân tiên phong ra tấn công Thăng Long. Ông hiểu rằng hơn ai hết, người trông mong

trận đánh này nhất là Chiêu Thành vương và Quốc muội An Tư. Thắng không kiêu, thua

không nản, đó là bản lĩnh của Hưng Đạo vương. Tiểu thuyết An Tư đã tái hiện chân dung

của vị tổng tư lệnh tối cao này một cách toàn diện nhất. Có thể coi đây là một sự tôn vinh

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

của nhà văn với thần tượng của mình. Những nhân vật lịch sử như Chiêu Thành vương,

Chiêu Văn vương, Bảo Nghĩa vương, Hoài Văn Hầu... tuy không phải là nhân vật chính

trong tiểu thuyết nhưng cũng được nhà văn xây dựng khá chi tiết, từ ngoại hình, hành động,

đến tính cách, đều là những nhân vật lịch sử sống động, thậm chí cả những con người vô

danh trong lịch sử như Trần Lai, xuất hiện một lần nhưng làm người đọc nhớ mãi. Đó chính

là tài năng sáng tạo của nhà văn.

Nhà văn vẫn giữ một thái độ rất khách quan trong việc xây dựng các nhân vật theo

phía quân Mông Cổ. Không thoá mạ kẻ thù, không bôi nhọ chân dung lịch sử, đó là thái độ

đúng mực đáng trân trọng của người viết tiểu thuyết lịch sử. Nhà văn đã viết trong nhật ký

của mình: “còn như bên địch cũng nhiều tướng ly kỳ. Thoát Hoan kiêu ngạo, dùng binh cực

giỏi. Ô Mã Nhi tàn bạo giết người không tiếc tay, thực là kẻ tiêu biểu cho dòng Mông Cổ và

những kẻ đi chinh phục người. Lại còn Toa Đô. Tôi không biết lai lịch và tâm tính vị này ra

sao, nhưng tôi xem Đô là người dũng cảm, võ nghệ siêu quần, binh lính nghiêm trang, đi

đến đâu không tàn phá, một người tướng tâm linh sáng suốt, ngay thẳng…” (Nhật ký ngày

12/10/1933). Nhân vật Thoát Hoan được nhà văn tạo dựng hoàn toàn khác với những gì

người ta vẫn hình dung về một tên tướng Mông Cổ hoang dã, tàn bạo. Khi An Tư được đưa

đến giặc Thoát Hoan, ấn tượng ban đầu của nàng về tên giặc này là “Một người bước ra, ăn

mặc quân phục rất là lịch sự.” Con người ấy là kẻ thù số một của dân Việt, “người tàn ác

đã gieo bao nhiêu thảm họa, giết hại bao nhiêu sinh linh, mà ai ai cũng hình dung như một

viên tướng hung tợn, mắt to, râu rậm, thân thể to lớn, kỳ thực chỉ là một người tầm thước,

đầu lớn, to gan, trạc ngoài 30 tuổi, mỗi tay đeo lủng lẳng, theo tục Mông Cổ một viên ngọc

quý, lông mày rậm, môi dày, dáng đi có vẻ nhanh nhẹn và mạnh mẽ” [102, 338]. Thoát

Hoan say đắm nhan sắc và trí tuệ An Tư, nhất là khi nàng là niềm an ủi để” chàng quên hết

nỗi buồn lữ thứ”. Chinh phục được nhan sắc ấy, Hoan thêm tự tin rằng mình đã chắc thắng,

đã hoàn toàn chiếm được Thăng Long, và cả mảnh đất Đại Việt này. Trước sự cầu khẩn dồn

ép bằng lý lẽ khẩn thiết của cả Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp, Hoan đã đôi lần quyết tâm hạ sát An

Tư để tập trung cho việc quân nhưng không thể xuống tay “Uy phong của thanh kiếm, vẻ

kiều diễm của giai nhân, hai thứ cùng quý, đối chọi với nhau trong óc nóng nảy của Thái tử

nhà Nguyên. Lòng Thoát Hoan càng bất nhẫn. (...) Hình ảnh các tướng sĩ chờ đợi đầu lâu

người quốc sắc, và bóng dáng kiều lệ của An Tư trộn lẫn trong óc chàng, mịt mù như đêm

giông tố, không biết soi đường nào đi cả” [102, 354]. Trong nhân vật có sự giằng xé rất lớn

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

giữa khát vọng sự nghiệp và lòng tôn thờ giai nhân. Trước tình cảnh quân sĩ đau ốm, đói

khát “Mắt người nào cũng ngơ ngác, sợ hãi, đợi chờ cái bệnh khủng khiếp đến lôi đi, họ,

những chiến sĩ vinh quang thường làm chúa nơi sa trường”; “Hoan chợt thấy thương hại

quân sĩ, lênh đênh nơi đất khách quê người, đi tìm chút vinh quang, bỗng phải chết một

cách vô cùng tủi nhục!” [102, 412]. Bản thân chính người chủ tướng ấy, sau những ngày

tháng đắm chìm trong tửu sắc, kiêu ngạo, giờ đây “Nét mặt có phần hốc hác, nước da cũng

hơi xanh xanh, (...) Có cái vẻ gì như lo sợ không yên, và cái mặt lạnh lùng nham hiểm ấy

trên môi có điểm một vẻ đau thương” [102, 420]. Tái hiện chân dung Thoát Hoan, Nguyễn

Huy Tưởng đã làm được hơn rất nhiều nhà văn khác cùng thời. Ông khai thác nhân vật

trong góc độ rất con người từ một cách nhìn khách quan. Không thóa mạ, không bài xích

nhân vật, Nguyễn Huy Tưởng nhìn nhân vật như một anh hùng thất thế. Dù có trở nên bệ

rạc khi chìm đắm trong tửu sắc, Thoát Hoan vẫn là một vị tướng có lòng khoan dung với

tướng sĩ, biết lẽ phải trái, và hơn hết là oán ghét chiến tranh. Tóm lại, thế giới các nhân vật

lịch sử trong tiểu thuyết An Tư đã vượt xa sự hư cấu của những tiểu thuyết cùng đề tài

trước và sau nó ở sự toàn diện, sinh động và tính chất khách quan của lịch sử.

Nhà văn thường quan tâm khai thác những trang sử vẻ vang của dân tộc, những sự tích

anh hùng của nhân dân trong đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội.Trong Lá cờ thêu

sáu chữ vàng được viết vào năm 1960, Nguyễn Huy Tưởng đã làm sống lại hình ảnh một

nhân vật rất đẹp và rất đáng tự hào của dân tộc ta, một nhân vật thiếu niên là Trần Quốc

Toản. Bên cạnh nhân vật chính Trần Quốc Toản -Hoài Văn hầu tuổi trẻ chí cao - là hình ảnh

nhân dân và vai trò lớn lao của họ trong lịch sử.

Trên cơ sở mấy nét tóm tắt lịch sử được ghi lại đó, Nguyễn Huy Tưởng với vốn kiến

thức lịch sử uyên bác và với sức tưởng tượng phong phú đã mở mang cốt truyện, phát triển

các chi tiết và xây dựng hình ảnh nhân vật.

Trần Quốc Toản theo tưởng tượng của ông, có hình dáng xinh như con gái “Mặt trái

xoan với đôi má phinh phính còn bụ sữa, nước da trắng mịn óng ánh những lông tơ, môi

dày đỏ chót. Đôi mắt to đen vừa trong sáng vừa mơ màng”.

Ra chiến trường, Trần Quốc Toản “Mặc áo bào đỏ, vai mang cung tên, lưng đeo thanh

gươm gia truyền, mình ngồi trên một con ngựa trắng phau”.

Thế nhưng trước bà mẹ, chàng trai khôi ngô ấy cũng chỉ là đứa con mảnh dẻ như nữ

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

sinh, yếu như cành hoa chưa chịu được sương gió.

Hình ảnh Trần Quốc Toản còn được soi sáng qua nhiều mối quan hệ, như với người

chú là Chiêu Thành vương,với anh em Thế Lộc ở trại Mã Lực, với người tướng già, với mẹ,

với quân lính mà Quốc Toản xem như anh em ruột thịt. Nhìn chung nhân vật Quốc Toản đã

được phát triển qua nhiều mặt khác nhau nhưng tất cả lại bổ sung cho nhau, giải thích lẫn

nhau tạo nên một tính cách hoàn chỉnh. Đồng thời nhà văn cho ta thấy, không phải ngẫu

nhiên mà Trần Quốc Toản có được tinh thần yêu nước nồng nàn như vậy. Chính hoàn cảnh

gia đình và xã hội đã góp phần tạo nên tính cách người anh hùng trẻ tuổi.

Bên cạnh hình ảnh Trần Quốc Toản, Nguyễn Huy Tưởng còn cho ta thấy hình ảnh cả

nước một lòng quyết thắng đuổi giặc. Đó là hội nghị Bình Than, hình ảnh các bậc già cả tiễn

đưa con cháu lên đường, những bà mẹ nén lòng thương nhớ, khích lệ con lập công, những

chàng trai khắc chữ “Sát Thát” vào cánh tay.

Khác với ba tiểu thuyết trên, Sống mãi với thủ đô tạo dựng một thế giới hiện thực của

một quá khứ gần, nhân vật của thời đại cũng khác xa so với các tiểu thuyết lịch sử ở trên.

Nhân vật của Sống mãi với thủ đô không phải là những yếu tố đã từng lưu danh trong sử

sách với những cái tên, những hành động, những câu nói bất hủ. Họ là những con người

bình dị và vô danh trong lịch sử, một đám đông được gọi chung là nhân dân thủ đô. Họ đi

vào trang sử chống Pháp như những tượng đài sống động, với những gương mặt thuộc mọi

lứa tuổi, mọi thành phần giai cấp.

So với Những người ở lại, Sống mãi với thủ đô đã dựng được một tượng đài kỳ vĩ

và toàn diện hơn. Trong đó có một đội ngũ đông đảo những người dân lao động, các lớp dân

nghèo Hà Nội, lực lượng quan trọng của cuộc kháng chiến. Trong quần thể tượng đài lịch sử

ấy, nổi bật lên là những con người trung kiên như Nguyễn Gia Định, Quốc Vinh, Vi Dân,

Nhân, Sinh... Mỗi người một dáng vẻ, một nét riêng trong cá tính, họ đưa người đọc vào

trung tâm của cuộc chiến đấu gian lao nhưng đậm chất hào sảng. Những nhân vật được nhà

văn dành nhiều sự ưu ái nhất là Nhân, Dân và cậu bé Thắng. Tên của ba con người ấy nói

lên khát vọng và niềm tin mãnh liệt của nhà văn về sức mạnh của nhân dân, những con

người làm nên lịch sử. Trong cuộc chiến đấu cam go này, người chiến thắng tất yếu là nhân

dân. Những nhân vật chính yếu của lịch sử như chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng Võ

Nguyên Giáp, chỉ thoáng xuất hiện trong những lời trao đổi của nhân dân nhưng người đọc

vẫn nhận ra sự gửi gắm tin yêu, tấm lòng sùng kính của nhà văn với những người đang chèo

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

lái con thuyền dân tộc.

Số lượng nhân vật trong Sống mãi với thủ đô tuy đông đảo nhưng mỗi một chân dung

lại có những nét riêng, không thể lẫn. Từ một Quốc Vinh với dáng vẻ nhỏ bé, vẻ ngoài ốm o

của một người trở về từ tù ngục thực dân, với tình yêu tha thiết với cách mạng với thủ đô, dễ

dàng phân biệt với một Gia Định tận tụy trung thành với sứ mệnh bảo vệ Bắc Bộ phủ. Họ

giống nhau ở điểm ít nói, cùng mẫn cán trong công việc, nhưng ở Gia Định, thái độ yêu ghét

rõ rệt. Anh khó chịu ra mặt trước sự thiếu đứng đắn của Hồng Lưu, và thản nhiên đón nhận

sự hy sinh cùng với nơi làm việc của Bác. Quốc Vinh thì tế nhị hơn, chất hòa nhã của một

người Hà Nội trong anh giữ cho anh sự điềm đạm chín chắn trước những lời châm chọc của

Hồng Lưu, và vẫn sáng suốt chỉ huy anh em chiến đấu. Cùng trong hàng ngũ của những

người kháng chiến, Hồng Lưu và Văn Việt lại có những thói ganh tị hẹp hòi nhưng không ai

giống ai. Hồng Lưu luôn tỏ vẻ là người thủ đô, với xuất thân chẳng lấy gì làm đẹp đẽ, nên

anh ta luôn tìm cách che giấu nguồn gốc của mình. Là cán bộ kháng chiến nhưng Hồng Lưu

vẫn lén lút đến nhà thổ, đôi lần bị Quốc Vinh bắt gặp nên thành ra nuôi mối ác cảm với

người đồng chí của mình. Văn Việt lại ghét Quốc Vinh vì anh ta luôn sợ mình bị lu mờ

trước con người ấy. Các nhân vật tuy chưa được khắc họa sâu về nội tâm, tạo bề dày tính

cách nhưng đều có những nét riêng sinh động. Vẻ tươi trẻ, khỏe khoắn của Nhân, người con

gái của làng hoa Ngọc Hà đã tạo nên những tương phản với dáng vẻ đài các và kiêu sa của

Trinh, người đàn bà xa rời thời cuộc, ích kỷ. Cùng thuộc một lứa tuổi, một tầng lớp, nhưng

Oanh, Quyên, Lan, Hương, Trinh lại có những cá tính riêng, dù được khắc họa rất ít nhưng

để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm trí độc giả. Sự hồn nhiên của Quyên, Hương, sự nhiệt tình

năng nổ của Oanh, Nhân, vẻ rụt rè bỡ ngỡ của Lan trong buổi đầu đến với kháng chiến đã

làm nên chất thơ cho một giai đoạn lịch sử khốc liệt. Chiến tranh đã tác động sâu sắc đến

đời sống của từng gia đình, từng cá thể, nó phân định rạch ròi từng loại người trong xã hội

nhưng thảm kịch của nó thì chẳng chừa một ai. Gia đình nhỏ của Bao và Trinh vốn là một lô

cốt yên ấm, ngay cả khi bên cạnh phố Yên Ninh vừa trải qua cuộc tàn sát hãi hùng. Bao,

chồng Trinh, là tay sai của Pháp, vốn vô cùng tự tin nhưng sớm nhận kết cục bi thảm ngay

khi cuộc chiến vừa mới bắt đầu. Trinh,” bà hoàng phố Quan Thánh” ngày nào, đã trở thành

thảm hại, như chiếc lá, bị vò nhàu cuốn đi trong cơn lốc. Gia đình Cự Lâm cũng là một

thành lũy ngoan cố của những đầu óc bảo thủ, cuối cùng cũng bị phân đôi. Những kẻ bảo

thủ, trì trệ, âm mưu thân Pháp đã phải cuốn gói khỏi Hà thành, nhưng chính những đứa con

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

sinh trưởng trong gia đình ấy lại trở thành những chiến sĩ tự vệ quả cảm, nhanh chóng hòa

mình vào không khí thời đại. Kháng chiến - guồng quay của lịch sử - đã đưa những con

người xa lạ xích lại gần nhau hơn, cậu chủ Phúc muốn trở thành bạn tâm giao với anh công

nhân Sinh nghèo khó. Những cô gái nhà thổ, tên lưu manh cũng từ bỏ những thói xấu để

cùng kề vai sát cánh những cậu học trò hồn nhiên, trong sáng trong cuộc chiến đấu.

Khi xây dựng những nhân vật thuộc nhiều thành phần giai cấp ấy, Nguyễn Huy Tưởng

đặc biệt quan tâm đến những con người thuộc tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Hình bóng của

những nhân vật kẻ sĩ Thăng Long xuất hiện khá nhiều trong sáng tác của ông. Ông muốn

đánh giá và tìm ra vai trò, vị trí của họ trong cuộc chiến đấu bảo vệ thủ đô. Nguyễn Huy

Tưởng tập trung đi sâu, phản ánh những chuyển biến trong nhận thức của những trí thức tiểu

tư sản ấy trước luồng gió cách mạng. Trong số các nhân vật trí thức tiểu tư sản như Trần

Văn, Văn Việt, Nhật Tân, Quốc Vinh... Nguyễn Huy Tưởng quan tâm nhiều hơn cả đến

Trần Văn - nhân vật mang sắc thái tự biểu hiện. Trần Văn tự nguyện gắn bó với vận mệnh

dân tộc. Nhưng anh cũng sợ gian khổ, cũng xót xa ân hận với những hèn yếu mà chính mình

chưa khắc phục nổi. Anh muốn được đóng góp vào công việc chung cho xứng đáng với

trách nhiệm, để bù đắp lại những thiếu sót của ngày qua. Trong hành trang ra trận của anh

có truyền thống văn hóa hàng ngàn năm lịch sử đất Thăng Long. Trần Văn là hiện thân của

người trí thức nuôi khát vọng gìn giữ nền văn hóa của dân tộc, yêu quý và trân trọng những

giá trị truyền thống văn hóa đó. Nét mơ mộng, lãng mạn mà một thời người ta quy kết là

“mộng rớt tiểu tư sản” trong anh thực chất chỉ là biểu hiện của nhiệt tình yêu nước. Trần

Văn, chân dung điển hình của trí thức tiểu tư sản thời ấy, đã sống và suy ngẫm về cuộc đời

bằng chiêm nghiệm lịch sử: “Hôm qua còn là giáo học, hôm nay đã là người chiến đấu sắp

xông ra trận. Anh vừa nói như giảng một bài sử, chỉ khác là trước đây trong lớp học trò

nghe như câu chuyện xa xôi, mà lúc này thì họ sắp làm cái việc mà cha ông ngày trước đã

làm. Chính anh sẽ lao vào trong cuộc, có ít nhiều chịu đựng và liều lĩnh như theo một định

mệnh kéo đi, nhưng cũng có cái vui của một người đã dứt khoát chọn một con đường, dù là

nguy hiểm” [105, 249]. Những suy tư xen giữa hành động của nhân vật đã đem đến cho

thiên truyện một không khí riêng, trầm lặng, hòa hợp giữa hiện tại, quá khứ và tương lai.

Bằng cảm hứng lịch sử, nhà văn đã tái hiện chân thực và rõ nét chân dung những con người

thời đại trong cái hối hả gấp gáp của một sự chuẩn bị cho kháng chiến, từ góc nhìn nhân

chứng lịch sử. Giống như một nhà quay phim tài tình, trong một khoảng thời gian ngắn

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

ngủi, nhà văn đã thu được những thước phim cận cảnh đặc tả, bao quát đám đông vừa sinh

động, khách quan mà vẫn chân thực, biểu cảm. Những nhân vật tham gia trong sáu mươi

ngày đêm khói lửa ấy, đến nay người ta chỉ còn biết đến họ trong cái tên chung: Trung đoàn

Thủ đô. Họ không để lại trong lịch sử những cái tên riêng gắn với từng chiến công hiển

hách, họ mang một gương mặt chung của con người thủ đô. Từ ý tưởng ấy mà nhà văn đã

sáng tạo nên những chân dung con người thời đại với niềm gửi gắm tin yêu vào sức mạnh

nhân dân. Cảm xúc về vai trò lớn lao của nhân dân trong không gian và thời gian lịch sử,

suy nghĩ về chủ nghĩa yêu nước anh hùng thắm đượm trong tình cảm, hành động của các

nhân vật, tất cả đã góp phần tạo nên chất sử thi trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng.

Trên đây là những chất liệu gợi cảm hứng lịch sử cho nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đặt

bút viết bốn tiểu thuyết. Chúng tôi sẽ tiến hành phân tích một số đặc điểm của tiểu thuyết

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

lịch sử Nguyễn Huy Tưởng qua chương thứ 3 của luận văn.

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ

NGUYỄN HUY TƯỞNG

3.1. Sự kết hợp giữa tiểu thuyết và lịch sử.

Nhà văn Tô Hoài từng coi Nguyễn Huy Tưởng là cây bút sử thi hết sức hùng tráng “Vì

tấm lòng đối với quê hương từ tiềm thức gắn bó và thôi thúc”, Nguyễn Huy Tưởng đã dành

rất nhiều tâm huyết và ý thức cho lịch sử dân tộc. Ông từng đinh ninh ghi tạc: “Dù chuyện

gì, việc gì cũng không nên bỏ tinh thần Việt Nam”. Năm hai mươi tuổi trong nhật ký của

mình ông đã viết nên những câu chữ đáng coi là một châm ngôn sâu sắc: “Người không biết

lịch sử nước mình là một con trâu đi cày ruộng. Cày với ai cũng được, mà cày ruộng nào

cũng được” [14]. Từ những tâm huyết đó, ông đã có ý thức muốn sáng tác tiểu thuyết lịch

sử để bồi dưỡng và khích lệ lòng yêu nước, ý thức tự tôn tự hào dân tộc, nêu cao tinh thần

trách nhiệm của mỗi người dân đối với vận mệnh của nước nhà trong những lúc nguy nan,

cố gắng đưa người đọc nhập cuộc, tin tưởng vào cuộc đấu tranh cho nền độc lập dân tộc,

bằng cách đưa họ tìm về với truyền thống vẻ vang của cha ông. Và để đi tìm sức mạnh, tìm

con đường giải thoát cho dân tộc ông đã “vùi đầu trong đống sách lịch sử để lấy cái vinh

quang của cha ông mà bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho mình. Tôi chuẩn bị viết văn để ca

ngợi lịch sử, ca ngợi dân tộc, kích động lòng yêu nước của đồng bào” [14]. Đó là động lực

tinh thần cơ bản thúc đẩy Nguyễn Huy Tưởng viết tiểu thuyết lịch sử.

Như vậy ,với một trí thức yêu nước, có tinh thần dân tộc như Nguyễn Huy Tưởng thì

viết tiểu thuyết lịch sử như là một tất yếu khách quan xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống

dân tộc. Hơn nữa, trong hoàn cảnh mất nước của những năm đầu thế kỷ XX, trong sự kiểm

duyệt khắt khe của chế độ thực dân Pháp đối với những sáng tạo nghệ thuật thì không còn

cách nào hơn là mượn chuyện đời xưa để nói bóng gió chuyện ngày nay.Nguyễn Huy

Tưởng đã tái hiện lại quá khứ vẻ vang của dân tộc để nhắc nhở hậu thế đừng quên cái nhục

mất nước và đừng quên trách nhiệm của mình trước vận mệnh sống còn của dân tộc. Vì thế

tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng chính là thái độ dấn thân, nhập cuộc hết sức tích

cực của nhà văn. Ở đó ông vừa trình bày những quan niệm của mình về lịch sử, vừa gửi

gắm những suy tư chiêm nghiệm về con người, về cuộc đời, về thời đại. Tiểu thuyết lịch sử

của ông là sự nối liền giữa quá khứ và hiện tại.

Khi sử dụng chất liệu lịch sử trong tác phẩm, mỗi nhà văn thường hướng tới một mục

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

đích riêng và thể hiện một quan điểm riêng. Có nhà văn coi việc tái hiện chính xác lịch sử

làm mục đích của tiểu thuyết như Lan Khai nhưng cũng có nhà văn chỉ giả vờ mượn chiếc

vỏ lịch sử cho “trò chơi” độc đáo của mình như Nguyễn Huy Thiệp. Với Nguyễn Huy

Tưởng thì khác hẳn, “Một mặt anh trung thành với lịch sử nhưng một mặt anh vẫn phát huy

vai trò sáng tạo của mình” [77,tr 121].Nghĩa là nhà văn vừa coi trọng yếu tố lịch sử lại vừa

coi trọng yếu tố tiểu thuyết, sử dụng một cách nhuần nhuyễn mối quan hệ giữa lịch sử và hư

cấu nghệ thuật, tạo nên những” Tác phẩm bề thế, có một dáng dấp ổn định và chững chạc”

(Vũ Tuấn Anh}. Coi trọng yếu tố lịch sử là để làm thành một thứ vũ khí tinh thần hữu hiệu

nhằm vào thực tại xã hội, đánh thức nhân tâm và cổ vũ lòng người, ưu tiên chất tiểu thuyết

là để đi sâu khám phá mọi ngõ ngách sâu kín trong tâm hồn và tính cách của nhân vật -

những ngõ ngách đã bị lịch sử bỏ qua,từ đó nhà văn đã lãng mạn hóa, đời thường hóa một

số nhân vật lịch sử, tạo ra một cái nhìn đa chiều về đời sống. Lịch sử không phải là cái gì

diễn ra một cách xác định để nhà văn kể lại cho bạn đọc nghe và cho lời phán xét cuối cùng.

Lịch sử phải được soi chiếu từ nhiều phía. Các nhân vật lịch sử không đơn thuần là những

tượng đài “đơn nghĩa”, như một tấm gương tối hoặc sáng như trong định kiến của các sử gia

phong kiến hay trong cách đánh giá của nhiều nhà tiểu thuyết lịch sử trước đó. Trong thời

kỳ 1930 - 1945, một số nhà văn lãng mạn Việt Nam khi viết tiểu thuyết lịch sử để làm nơi

trốn tránh thoát ly [77,tr.118] như Khái Hưng (Tiêu Sơn tráng sĩ), Nguyễn Tế Mỹ (Hai bà

Trưng khởi nghĩa)... Giá trị hiện thực của những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử này rất mờ

nhạt. Như trên đã nói, Nguyễn Huy Tưởng một mặt ưu tiên chất tiểu thuyết, mặt khác lại rất

tỉ mỉ và khắt khe đối với các chi tiết lịch sử. Đây là công việc mới nhìn tưởng đơn giản,

nhưng lại đòi hỏi rất nhiều công phu của nhà văn khi tái tạo lại chất liệu lịch sử vốn khô

cứng trong quá khứ đã xa, nhào nặn chúng theo ý đồ nghệ thuật của mình. Đồng thời nhà

văn sẽ phát huy được sở trường nếu lợi dụng được mối quan hệ “quen biết” của người đọc

với lịch sử để tạo nên hiệu quả tối ưu. Trong quá trình viết tiểu thuyết lịch sử, Nguyễn Huy

Tưởng luôn lấy “sự thực” làm gốc, nhưng nhà văn không bê nguyên xi lịch sử mà chỉ chọn

một sự việc, một chi tiết nào đó rồi hư cấu tưởng tượng thêm rất nhiều để tạo thành tác

phẩm. Trong tác phẩm Đêm hội Long Trì, tác giả chỉ chọn một chi tiết điển hình trong một

đêm để xây dựng thành kết cấu câu chuyện. Hay trong tác phẩm An Tư, tác giả lại chọn

mối tình tan vỡ của nàng công chúa An Tư với Chiêu Thành Vương Trần Thông để xây

dựng cốt truyện, dẫn dắt người đọc đến tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm và những chiến

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

thắng lẫy lừng của quân dân nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm

lược. Chính điều này đã làm cho tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng giảm đi tính

chất lịch sử, tính sử thi và tăng thêm tính chất tiểu thuyết nhiều hơn. Vì thế các tác phẩm

của ông có sức hấp dẫn đối với người đọc của thời hiện đại và cũng mang hơi thở đậm đà

của cuộc sống hơn. Và như thế “Bản thân lịch sử đã được tái hiện một cách nghệ thuật

hơn”. Nó là lời “thông báo thời sự” được khoác bộ áo lịch sử. Lịch sử với tư cách là chất

liệu nghệ thuật trong tiểu thuyết tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng đã được dùng

như một thứ vũ khí hữu hiệu nhất để chuyển tải tư tưởng của nhà văn.

Nhận xét về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng, nhiều nhà nghiên cứu đã

khẳng định chính xác : “Nguyễn Huy Tưởng đã rất nghiêm túc, bám sát chính sử, tôn trọng

các sự kiện chính của lịch sử” (Hà Minh Đức), “Anh tỏ ra khá trung thành với tinh thần của

các thời đại quá khứ xa xưa” (Phan Cự Đệ), “Tác giả nghiền ngẫm từng chi tiết lịch sử để

chuyển hóa vào tiểu thuyết” (Lại Nguyên Ân)... Thực ra đây cũng là điều mà nhiều nhà văn

viết tiểu thuyết lịch sử trước Nguyễn Huy Tưởng cũng đã làm được, cũng đã thành công.

Tuy nhiên mỗi người có một cách thức “chế biến” riêng. Ở Nguyễn Huy Tưởng, nhà văn đã

kết hợp hài hòa giữa yêu cầu chính xác về mặt sử liệu với sự phóng khoáng bay bổng trong

hư cấu tự do thể hiện ở một số phương diện như cảm hứng chủ đạo, không gian lịch sử,

nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử.

3.2. Cảm hứng lịch sử một nét phong cách đã sớm định hình trong tiểu thuyết

Nguyễn Huy Tưởng.

Muốn sáng tạo nên những áng văn chương, những tác phẩm nghệ thuật,người nghệ sĩ

phải có cảm xúc, cảm hứng trong tâm hồn. Cảm hứng có vai trò vô cùng quan trọng trong

sáng tạo của nghệ sĩ. Không có cảm hứng, nhà văn không thể sáng tạo được những tác phẩm

có giá trị. L.Tônxtôi đã từng tâm sự với vợ rằng: “Không có xúc động thì nghề văn của

chúng ta không nhích lên được”. Chính cảm hứng của người nghệ sĩ sẽ làm nên tâm cái hồn

của tác phẩm. Cảm hứng càng cao, càng mãnh liệt, càng sâu sắc thì tác phẩm càng có giá trị

và người đọc càng yêu thích tác phẩm. Yếu tố cảm hứng có vai trò vô cùng quan trọng trong

việc hình thành chủ đề của tác phẩm: “Khi tư tưởng người viết không dứt khoát, không rõ

ràng, không mãnh liệt thì không thể nào thổi bùng lên ngọn lửa chủ đề tư tưởng của tác

phẩm dự định viết” (Nguyễn Minh Châu )

Cảm hứng trong sáng tạo nghệ thuật là một tình cảm mạnh mẽ mang tính tư tưởng. Nó

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

thể hiện phần tư tưởng nghệ thuật của nhà văn. Đó chính là sự ham muốn tích cực trong con

người của họ, thôi thúc họ hành động. Cảm hứng trong tác phẩm trước hết là sự đam mê.

Khẳng định chân lý, lý tưởng mà nhà văn theo đuổi hoặc phủ định những sự xấu xa tiêu cực

đối lập hoàn toàn với lý tưởng mà nhà văn ca ngợi trong cuộc sống. Nó được cụ thể hoá ở

thái độ của người nghệ sĩ, đồng tình ca ngợi nhân vật chính diện hay phê phán những hiện

tượng thấp hèn phi đạo đức...

Vì thế, cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm sẽ chi phối hệ thống nghệ thuật biểu hiện

cảm xúc của tác phẩm như việc lựa chọn đề tài, chủ đề, kết cấu và nghệ thuật xây dựng hình

tượng nhân vật. Nó “chính là năng lượng tình cảm của tác phẩm được tập trung nén lại chỉ

chờ độc giả để bùng cháy lên” [41.tr.141].

Mỗi một tác phẩm, thậm chí mỗi một thể loại văn học là một niềm say mê riêng, một

niềm cảm xúc riêng của tâm hồn nhà văn phản chiếu vào trong đó. Với Nguyễn Huy Tưởng,

tiểu thuyết lịch sử và kịch lịch sử cũng là những thể loại đã phản ánh những cảm hứng riêng

của ông.

Trong những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, xã hội phong kiến Việt Nam

đang bước nhanh trên con đường suy vong dẫn đến chỗ sụp đổ, nhường chỗ cho một chế độ

xã hội mới - chế độ thực dân nửa phong kiến ra đời: hoàn cảnh ấy đã làm lung lạc tinh thần

của người Việt Nam và đã dẫn tới “cái vạ chết lòng”. Tình trạng phi dân tộc, phản dân tộc

đã trở thành một nguy cơ, một thảm họa và để góp phần cứu vãn đời sống tinh thần của dân

tộc, tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời kỳ này đều có khuynh hướng ngợi ca truyền thống dân

tộc và đều qui tụ cảm hứng yêu nước, cảm hứng dân tộc. Tùy thuộc vào thế giới quan của

tác giả, có người tập trung ở cảm hứng yêu nước, có người thì mượn lịch sử để nêu gương

cho thế hệ mai sau và nhìn chung mọi vấn đề của cuộc sống đều quy chiếu về lịch sử. Sang

giai đoạn 1930-1945 văn học Việt Nam có thể chuyển dịch từ cảm hứng sử thi sang cảm

hứng thế sự, hướng mối quan tâm đến con người, điều đó đã tác động không nhỏ tới tiểu

thuyết lịch sử. Bà chúa chè của Nguyễn Triệu Luật viết về Đặng Thị Huệ trong phủ chúa

với “Những lỗi lầm, mưu mô và phản trắc, những ganh tị nhỏ nhen của hạng đàn bà không

hiểu được cảnh ngộ thê thảm của chính mình” [7,tr48]. Các tác phẩm này thường tập trung

thể hiện một cảm hứng chủ đạo,bởi vậy hệ thống nhân vật, cốt truyện, kết cấu tác phẩm đều

chịu sự chi phối của cảm hứng đó.

Tiểu thuyết An Tư của Nguyễn Huy Tưởng là sự kết hợp của hai nguồn cảm hứng. Ở

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

đây có niềm tự hào về những nét truyền thống của dân tộc trong cuộc giữ nước chống giặc

ngoại xâm của quân dân nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân nguyên xâm lược.Tác

giả giành nhiều trang tâm huyết ca ngợi những sự kiện lịch sử lớn như Hội Nghị Diên Hồng,

hay cuộc hội quân ở bến Bình Than và những trận đánh lẫy lừng như Đông Bộ Đầu, Bạch

Đằng, Chương Dương, Vạn Kiếp... tất cả đã được Nguyễn Huy Tưởng tái hiện lại với một

niềm tự hào và lòng ngưỡng mộ chân thành: “Những chiếc thuyền cảm tử lao cả vào thuyền

giặc, lửa bốc lên ngùn ngụt và một vài tráng sĩ nhảy tót lên thuyền mới cháy, vung kiếm

sáng đánh quân thù, nhưng ngọn giáo lao trúng ngực, chàng ngã lăn xuống nước. Bốn

chiếc thuyền dẫn hỏa sau đi tới, chỉ trong nháy mắt, hàng thuyền đầu của giặc cháy bùng

lên, cả khúc sông cũng đỏ rực và lửa cháy tung hoành trên mặt sông. Trong bão đạn âm

vang tiếng hô “Sát Thát” [102, tr 429]. Cùng với sự kiện này, thu hút bút lực, tài hoa tâm

huyết của nhà văn hơn cả mối tình của nàng công chúa An Tư với Chiêu Thành Vương Trần

Thông, đặc biệt là số phận của nàng công chúa nhà Trần trong những giây phút nghiệt ngã

của lịch sử dân tộc. Trước những lẽ đời, lẽ người Nguyễn Huy Tưởng đã tìm thấy trong đó

sự lựa chọn đớn đau giữa hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc chung, giữa vận mệnh sống còn

của dân tộc với số phận của cá nhân con người, với những ngổn ngang, vò xé, khóc cười...

Tất cả đều đặt lên đôi vai bé nhỏ của người con gái nhà Trần. Sau cái bi tráng hào hùng lẫm

liệt của chiến thắng, của tự hào là cả một bi kịch của cá nhân con người, bi kịch của lịch sử.

Viết An Tư, Nguyễn Huy Tưởng bị ảnh hưởng sâu sắc cảm hứng lịch sử dân tộc song

cảm hứng này luôn đan cài và có sự kết hợp khá nhuần nhuyễn với cảm hứng nhận thức,

chiêm nghiệm lịch sử từ điểm nhìn hiện tại. Xuất phát từ cảm hứng thế sự kết hợp với cảm

hứng lịch sử dân tộc, tác giả đã đề cập đến vấn đề không phải riêng một thời đại nào mà có

ý nghĩa chung cho mọi thời đại: Số phận của cá nhân con người trong những biến động dữ

dội của lịch sử, để từ đó lý giải những hiện tượng phức tạp của lịch sử, đặt ra nhiều câu hỏi

để mọi người cùng suy nghĩ, nhận thức, đánh giá và kiến giải về lịch sử, về thời đại.

Trước An Tư, Nguyễn Huy Tưởng viết tiểu thuyết Đêm hội Long Trì. Đây là một tác

phẩm mang nguồn cảm hứng thế sự rõ nét nhất. Những éo le, rắc rối, nhố nhăng, phi lý và

phức tạp trong cuộc đời với những khổ đau, điêu đứng của con người do những thế lực đen

tối được tiếp tay dung túng từ những người cầm quyền trong xã hội thời vua Lê, chúa Trịnh.

Thế kỷ XVIII đã trở thành nguồn cảm hứng mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc cho nhà văn tài

hoa Nguyễn Huy Tưởng. Thông qua mối tình giữa Quỳnh Hoa và Bảo Kim, Trịnh Sâm và

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

Đặng Thị Huệ, thông qua hình tượng Đặng Lân, nhà văn đã phơi bày tất cả sự thực trần trụi

mà vô cùng sinh động về một xã hội với những lọc lừa, xảo trá, mưu mô và phản trắc bất

công, những tội ác và sự lộng hành... tất cả đã làm đảo lộn những kỷ cương phép tắc trật tự

trong xã hội. Xuất phát từ cảm hứng thế sự nhà văn đã giúp người đọc nhận thức, lý giải về

nguyên nhân sâu xa của những bất ổn trong xã hội. Nếu không có sự tiếp tay dung túng bao

che của những kẻ cầm quyền và những kẻ đứng sau đó thì không thể có một Đặng Lân “Cậu

Trời” ngang nhiên quây màn giữa đường phố bắt con gái nhà lành hãm hiếp, ngang nhiên

giết người, ngang nhiên tung hoành trong xã hội như vậy. Phải chăng đó cũng là câu hỏi

nhức nhói mà Nguyễn Huy Tưởng đã đặt ra cho chính thời đại mà chúng ta đang sống?

Cảm hứng lịch sử và cảm hứng thế sự trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy

Tưởng đã thể hiện sức mạnh của tiểu thuyết hiện đại: “luôn nhận thức lại”, đánh giá và kiến

giải lại đời sống. Đó chính là thành công và đóng góp quan trọng nhất của Nguyễn Huy

Tưởng trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.

3.3. Con người lịch sử - kiểu nhân vật đặc thù trong văn xuôi nghệ thuật Nguyễn

Huy Tưởng.

Trong một cuốn tiểu thuyết lịch sử, nhân vật là nơi thử thách nhà văn nhiều nhất. Nhà

văn phải bồi da đắp thịt để phục sinh nhân vật từ một cái xác cứng đờ, thổi sức sống cho nó,

bắt nó phục vụ tư tưởng của mình. Nhân vật thành công là nhân vật không quá xa lạ với

người đọc, mà vẫn phù hợp với thời đại nhân vật sống.

Các nhà tiểu thuyết lịch sử Việt Nam chịu ảnh hưởng khá nhiều của Hoàng Lê nhất

thống chí, từ hệ thống tư liệu cho đến cảm hứng, nhân vật. Nhiều người đã khẳng định tính

chất tiểu thuyết của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí ở phương diện nghệ thuật xây dựng

nhân vật. Mặc dù đây là một tác phẩm sử biên niên nhưng không thể phủ nhận khả năng hư

cấu, tưởng tượng (thể hiện ở những chỗ nhà văn nhấn mạnh tính cách nhân vật, ở những chi

tiết, ở những lời đối thoại của nhân vật) đã tạo nên chất văn chương thực sự cho tác phẩm.

Các nhân vật được cá tính hóa và đã “Có những nhân vật mang dáng dấp của hình tượng

văn học như Đặng Thị Huệ”. Trong các tiểu thuyết lịch sử nước ta, nhiều nhân vật lịch sử

in đậm dấu ấn sáng tạo của nhà văn như Nguyễn Hữu Cầu trong Quận He khởi nghĩa, Ngô

Quyền trong Tiếng sấm đêm đông, Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư trong Gươm thần

Vạn Kiếp, Nguyễn Huệ trong Sông Côn mùa lũ....

Trong tiểu thuyết An Tư của Nguyễn Huy Tưởng có mặt hầu hết những nhân vật quan

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

trọng thời Trần đã được sử sách nhắc đến như Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Trần

Quang Khải, Trần Quốc Toản, An Tư...nhà văn đã cân nhắc lại dung lượng miêu tả nhằm

khắc họa nổi bật tính cách và làm sáng rõ lý lịch của từng nhân vật. Chẳng hạn Trần Thông

trong Việt sử thông giám cương mục khi nhắc đến những người tham gia trận Hàm Tử

Quan có nói đến Chiêu Thành Vương nhưng không ghi rõ họ tên. Trong An Tư, Chiêu

Thành Vương được xây dựng thành một nhân vật đầy đặn có nguồn gốc xuất thân, có hình

dáng, tính cách và có cuộc sống cá nhân phong phú. Chiêu Thành Vương thuộc dòng dõi

quý tộc, có tên là Trần Thông, con của Khâm Thiên Đại vương Trần Nhật Hiệu. Và đạo

quân của Trần Thông lấy tên là Tịnh Cương (tên đội quân của Trần Nhật Hiệu tuyển ở làng

Tịnh Cương). Trần Thông là con người tinh thông võ nghệ, cơ thể cường tráng, là người

cương quyết, thông minh, hiếu thắng, ham đánh vật, bơi lội, săn bắn... tuy còn trẻ nhưng

thông minh đã là một viên tướng giỏi, tráng kiện và quả cảm. Trần Thông yêu An Tư với tất

cả đam mê cuồng nhiệt của tuổi trẻ. Một tình yêu đằm thắm, bồng bột mà sôi nổi, tự do

thoát hẳn ngoài luân lý của những đạo luật phong kiến hà khắc. Khi biết người yêu bị đem

đi cống nạp cho tướng giặc Thoát Hoan, chàng như cuồng dại, đau khổ tuyệt vọng, căm giận

cả Thượng Hoàng, hờn ghét Quốc Công và cả công chúa,ngay cả mình chàng cũng muốn

chết, chàng tìm đến cái chết. Nhưng tinh thần trọng kỷ luật cùng với sự an ủi động viên của

đoàn quân Tịnh Cương của Trần Quốc Toản đã giúp chàng thắng được những nhỏ nhen đau

đớn tinh thần, nuôi hy vọng đến mùa hè sẽ giải cứu được người yêu ... Có thể thấy nhà văn

đã sáng tạo một Chiêu Thành Vương Trần Thông với những tính cách sắc nét. Trần Thông

là một danh tướng nhưng ở một góc khuất của tâm hồn chàng vẫn là con người “rất người”

với đúng nghĩa của nó. Chỉ với một cái tên trong sử liệu, Nguyễn Huy Tưởng đã tưởng

tượng ra một Chiêu Thành Vương Trần Thông - một nhân vật giàu cá tính, sinh động, hấp

dẫn, tiêu biểu cho một con người vừa lý tưởng vừa đời thường.

Phò mã Đặng Lân trong lịch sử được nói đến rất ít.Sử sách chỉ ghi rằng Huệ có em trai

là Đặng Mậu Lân. Lân nhờ thế chị.., ỷ thế chị làm càn. Quần áo xe kiệu của Lân đều rập

theo vua chúa. Hàng ngày Lân đem theo vài chục tay chân cầm gươm, vác giáo nghênh

ngang kinh thành cướp bóc, cưỡng hiếp đàn bà con gái.... Trong Đêm Hội Long Trì, Đặng

Lân trở thành nhân vật chính hung ác hơn, quyền hành hơn. Hắn tiêu biểu cho những thế lực

cường bạo dâm dục, vũ phu, côn đồ. Nguyễn Huy Tưởng đã bộc lộ sự căm ghét cao độ. Nhà

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

văn đã tô đậm thêm tính cách và phóng đại nhân vật này lên rất nhiều. So với Đặng Lân

trong Hoàng Lê nhất thống chí, Đặng Lân trong Đêm hội Long Trì cường bạo hơn và

dâm ác hơn.

Ở Đặng Lân, hầu như đã mất hẳn tính người không thể tìm thấy một chút ánh sáng của

lương tri. Hắn sống hoàn toàn bằng bản năng, chà đạp lên pháp luật một cách trắng trợn.

Cảnh hắn quây màn cưỡng hiếp con gái nhà lành ngay trên đường phố,cảnh hắn đem quân

đi bắt gái tơ về trong phủ thực hiện những hành vi dâm đãng thâu đêm suốt sáng, cảnh

những vụ giết người rùng rợn không gớm tay:

- “Cậu trời sấn lại, chém nhát dao, lấy chân đá cái thây văng ra xa”

- “Đặng Lân rút dao ra, đâm luôn mười mấy nhát đá cái thây sang một bên” [102,

tr.148].

Đặng Lân chém giết người thản nhiên như chém cây, chém củi. Những sự chém giết

ấy không mấy ngày không diễn ra trong phủ của hắn. Con người tửu sắc dâm dật và cái máu

điên thích thú quái gở là bắt giam hàng trăm thiếu nữ vô tội để hành lạc. Sau mỗi đêm thoả

mãn thú tính là hắn lại giết người, không chỉ là một mà có lúc hai ba người... tất cả những

cảnh đó đều được Nguyễn Huy Tưởng miêu tả tỉ mỉ và chi tiết với một thái độ căm giận sâu

sắc. Tuy nhiên Nguyễn Huy Tưởng không phải lúc nào cũng để cho Đặng Lân mê man đi

trong những hành động hiếp dâm, giết người đầy thú tính. Có những lúc Nguyễn Huy

Tưởng cũng để cho hắn tỉnh dậy làm người. Nhưng chỉ là những phút giây ngắn ngủi. Sống

bằng thú tính vẫn là bản chất của hắn. Với Đặng Mậu Lân, Nguyễn Huy Tưởng không bị

trói chặt vào sử liệu. Bằng cái nhìn tiểu thuyết, nhà văn làm sống lại một Đặng Mậu Lân

vừa vô lại, vừa ghê tởm. Qua ngòi bút miêu tả của Nguyễn Huy Tưởng, Đặng Mậu Lân đã

được sáng tạo trở thành một tính cách trọn vẹn nhất của bóng tối, của tội ác và sự lộng hành.

Bằng cái nhìn tiểu thuyết, các nhân vật lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng đã được soi

chiếu ở nhiều góc độ, từ lý lịch, diện mạo, tính cách đến tâm hồn... Tất cả đã tạo nên những

hình tượng nghệ thuật giàu sức sống, giàu tính hiện thực. Có thể nói không quá lời, nhiều

nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng sống động “Chân thực hơn cả

lịch sử”. Nhân vật lịch sử do ông sáng tạo khác xa với nhân vật của Phan Bội Châu trong

Trùng Quang tâm sử.

Bên cạnh những nhân vật có tên trong lịch sử, nhà văn còn chú tâm xây dựng tuyến

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

nhân vật hư cấu: Nguyễn Mại, Bảo Kim.... ông gắn kết các nhân vật hư cấu vào cốt chuyện

một cách hợp lý, nhuần nhuyễn. Mỗi nhân vật là một dáng vóc cụ thể, tính cách rõ nét và

một số phận đặc biệt.

Tóm lại: Cách xử lý lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng khá linh hoạt mà công phu. Sự

đào sâu vào những tâm tư của con người, sự nhấn mạnh vào số phận của từng nhân vật, nhu

cầu cắt nghĩa mọi việc theo những điều mình chiêm nghiệm, suy ngẫm đã khiến người đọc

nghĩ rằng lịch sử đích thực của tác phẩm là lịch sử hư cấu. Nhưng nó là như thế. Điều này

hoàn toàn phù hợp với tinh thần của tiểu thuyết, không ngừng “nhận thức lại” lịch sử. Và

như vậy, bức tranh lịch sử không mang giá trị tự thân mà được sáng tạo theo những ý nghĩa

mới mang tính chân thực thời đại. Cái vỏ lịch sử thời Trần (An Tư), thời Lê (Đêm hội

Long Trì) có những điểm tương đồng thú vị nhất với điều đang ám ảnh nhà văn từ hiện tại.

Quan niệm này chính là một đóng góp của Nguyễn Huy Tưởng trong quá trình hiện đại hóa

văn học.

3.4. Không gian lịch sử.

Việc tái tạo lại không gian lịch sử đòi hỏi nhà văn phải có vốn liếng giàu có về truyền

thống, văn hóa, địa lý, phong tục tập quán, ngôn ngữ, trang phục của thời đại lịch sử đã qua.

Nguyễn Tử Siêu, Nguyễn Huy Tưởng, Chu Thiên, Hà Ân...là những tác giả đã rất thành

công trong việc dùng vốn kiến thức uyên thâm, phong phú của mình tạo được không khí

thời đại cho tiểu thuyết lịch sử.

Trong cảnh Đêm hội Long Trì, không gian lịch sử được cảm nhận qua bức tranh toàn

cảnh của xã hội Việt Nam thời Lê Cảnh Hưng mà Nguyễn Huy Tưởng đã tái tạo một cách

chân thực và sinh động. Đằng sau cái vẻ nhàn tản, mơ mộng có vẻ như thái bình thịnh trị

của xã hội thời Trịnh Sâm là cả những giông tố, rối ren, thối nát, suy tàn và sự ăn chơi xa

xỉ... nhà Lê thì bạc nhược, chúa Trịnh Sâm thì bị Đặng Thị Huệ thao túng. Thấp thoáng sau

cái bóng của những nhân vật đã từng được ghi trong sử sách như Đặng Thị Huệ, Đặng Mậu

Lân, là cảnh triều chính mục ruỗng, tranh giành quyền lực, sát hại trung thần, dung túng cho

cái ác hoành hành, ức hiếp nhân dân, mọi kỷ cương phép tắc bị đảo lộn. Theo lời của Bảo

Kim và Lưu Sĩ Trực, “Chán vạn người công thần chỉ vì một tội nhỏ mà chết, vua chúa có

luận công bao giờ”, còn quan lại “bênh dân thì ít, hại dân thì nhiều”. Bối cảnh đó còn được

tô đậm qua những cảnh Đặng Lân chém giết người một cách “vô tư” và ngang nhiên làm

điều xằng bậy, quây màn ức hiếp con gái nhà lành ngay trên đường phố. Đặng Lân xuất hiện

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

nơi nào là nơi đó có loạn lạc, rụng rời, khiếp sợ hơn cả chạy giặc ngoại xâm.

“Tưởng như có một trận cuồng phong thổi trong đám hội, người chạy như ong: tiếng

kêu, tiếng thét, tiếng gọi nhau liên tiếp... một thiếu phụ đầu tóc rũ rượi chạy vào hổn hển:

- Ai cứu tôi với. Cậu trời...” [102,tr44].

Hay: Khi thấy cửa phủ Đặng Lân mở rộng và cờ quạt ở trong ra, mấy người hàng phố

kêu lên ba tiếng thất thanh:

- Cậu trời đấy!

Tức thì người ta chạy tán loạn, nhất là những đàn bà con gái. Tiếng kêu trời kêu đất,

xen lẫn với những tiếng đóng cửa ầm ầm”.

Không gian lịch sử của Đêm hội Long Trì đã hiện dần qua từng chi tiết như vậy.

Trong An Tư, không khí loạn của những ngày binh lửa chiến tranh và không khí hừng

hực, sục sôi âm vang của những ngày hào hùng đánh giặc cũng in dấu lên mỗi số phận, lên

từng sinh hoạt của quân dân nhà Trần một cách chân thực. Bức tranh đất nước trong những

ngày chuẩn bị đánh giặc thật điển hình: “Người khuân vác, người luyện tập, tiếng đóng

thuyền xen lẫn với tiếng rèn binh khí... Vạn Kiếp tấp nập trong một bầu không khí tưng

bừng sửa soạn. Binh khí chất đống lên trong các kho, lương thảo quyên được của dân gian

tải về như mắc cửi...” [102. tr273]. Tái hiện lại bức tranh trong quá khứ, nhà văn còn gợi

được cả không khí căng thẳng phập phồng những lo âu, chết chóc: “Người dân đương thổn

thức lo âu. Các gia đình chỉ còn trơ những mái tóc điểm sương tựa cửa, những khăn yếm

chạy quanh, những miệng thơ gọi bố... Nhiều nhà mang trăn trở vì tin dữ đã đưa về. Biết

bao người chết đang bơ vơ bên mộ phần tiên tổ! Người còn sống ngẩn ngơ trước bàn thờ

lạnh giá...” [102.tr.269].

Diện mạo thời đại cũng được nhà văn tập trung miêu tả qua không gian văn hóa lịch

sử. Bằng vốn kiến thức sâu rộng, Nguyễn Huy Tưởng đã cung cấp cho người đọc những

hiểu biết tỉ mỉ, sống động về lễ hội Long Trì ở Thăng Long thời Trịnh Sâm. Nhà văn đã vẽ

lại một cách cụ thể lai lịch, ý nghĩa của đêm hội cho đến trang phục, quang cảnh, cách bài

trí, tục lệ... Trong những đoạn viết về đêm hội Long Trì, Nguyễn Huy Tưởng thực sự là

người am tường và rất công phu nghiên cứu địa chí Thăng Long thế kỷ XVIII để có được sự

chính xác trong việc miêu tả hồ Long Trì với những hàng phù dung, dương liễu treo muôn

thứ đèn lồng bằng gấm vóc, phủ cung phi đầy hương sắc các loại hoa thoang thoảng đưa vào

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

trong gió mát... Tái hiện lại bức tranh trong quá khứ, nhà văn còn gợi được cái không khí

khi tưng bừng náo nhiệt, khi thi vị du dương của những cảnh, những tình, với những tài tử

giai nhân “ngựa xe như nước áo quần như nem” trong đêm hội.

Sự chính xác, tỉ mỉ về việc sử liệu được kết hợp với trí tưởng tượng phóng khoáng,

bay bổng tạo nên những trang viết uyển chuyển, tài hoa giàu sức hấp dẫn đã hoàn toàn thủ

tiêu ở người đọc cảm giác đan xen những mẫu vật hóa thạch trong viện bảo tàng hay đang

đọc ký sự lịch sử. Tác giả tỏ ra khá linh hoạt khi xử lý chất liệu lịch sử. Cảm quan văn hóa

phương Đông cũng là một lợi thế giúp nhà văn nhạy cảm khi nắm bắt những chuyển động

âm thầm của bản chất lịch sử để khái quát chính xác cái “hằng số lịch sử”. Những đoạn kể,

tả, đối thoại giữa nam nữ thanh niên cách đây gần hai thế kỷ, hoàn toàn do tác giả sáng tạo

ra mà vẫn tự nhiên, không gây phản cảm vì được sử dụng hợp lý, đúng chỗ. Đó là phương

thức “nhào nặn” lịch sử đầy tính sáng tạo của một nhà văn thông minh tài hoa, giàu bản

lĩnh. Nhờ đó mà cái đã quen bỗng trở nên mới lạ hấp dẫn.

3.5. Những thời điểm, giai đoạn lịch sử có nhiều biến động dữ dội mạnh mẽ với

Đêm hội Long Trì, An Tư, Sống mãi với thủ đô, Lá cờ thêu sáu chữ vàng.

Nguyễn Huy Tưởng là một trong số hiếm hoi những tiểu thuyết gia có sở trường về đề

tài lịch sử.

Với cảm quan lịch sử nhạy bén, Nguyễn Huy Tưởng đã tái hiện lịch sử theo lối riêng

của mình, khai thác những sự kiện nằm ở khúc quanh của lịch sử, trong thời điểm xảy ra các

biến cố dữ dội, đầy sóng gió, thác ghềnh với con người và đất nước.

Tiểu thuyết Đêm hội Long Trì viết về thời điểm nhân dân oán ghét đến tột độ bọn quý

tộc phong kiến Trịnh Sâm, Đặng Thị Huệ, Đặng Mậu Lân. Đó là thời điểm lịch sử xã hội

phong kiến Việt Nam suy tàn, những mâu thuẫn giữa nhân dân và tập đoàn thống trị ngày

càng bộc lộ một cách sâu sắc. An Tư viết về giai đoạn nhà Trần chuẩn bị lực lượng chiến

đấu chống quân Nguyên xâm lược 1284 - 1285. Tác phẩm là bức tranh hoành tráng về cuộc

kháng chiến chống quân Nguyên. Thời Trần là một trong những thời đẹp đẽ của dân tộc

Việt Nam, của chế độ phong kiến Việt Nam. Nguyễn Huy Tưởng đã biết nắm bắt điểm mốc

vàng son này trong lịch sử dân tộc để sáng tác.

An Tư là một thiên truyện hùng tráng viết về một thời oanh liệt của dân tộc. Trong tác

phẩm ông mô tả hội nghị Diên Hồng, những khoảnh khắc thế trận giữa ta và địch.

Lá cờ thêu sáu chữ vàng kể lại một phần rất nhỏ về chiến thắng vĩ đại của quân dân

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

ta chống quân Nguyên và cũng chỉ thuật lại một phần cuộc đời của Hoài Văn Hầu, Trần

Quốc Toản, vị anh hùng niên thiếu của dân tộc ta xưa kia. Viết tác phẩm này, Nguyễn Huy

Tưởng đã biết khai thác sự kiện lịch sử Hội nghị Bình Than ở đời Trần, sự kiện không được

vào dự họp khiến Trần Quốc Toản đã hậm hực bóp nát quả cam của vua Nhân Tông ban

cho, về nhà Trần Quốc Toản giương cao lá cờ thêu sáu chữ vàng” Phá cường địch báo

hoàng ân” ( phá giặc mạnh, trả ơn vua) và chiêu mộ sáu trăm dũng sĩ thiếu niên làm lễ tế cờ,

xuất quân đánh giặc.

Sống mãi với thủ đô là tiểu thuyết lịch sử viết về giai đoạn lịch sử gần đây nhất với sự

kiện Hà Nội trong đêm nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc vào cuối năm 1946.

Nguyễn Huy Tưởng rất có ý thức về thời gian nghệ thuật trong tác phẩm. Chiều dài của lịch

sử, thời điểm đầu của cuộc kháng chiến thủ đô có ý nghĩa hết sức quan trọng để miêu tả

cuộc sống và con người trên mảnh đất thiêng liêng này. Đông Đô, Thăng Long, Hà Nội, đất

đế đô ngàn năm văn vật đã có biết bao nhiêu trang sử oanh liệt, nhưng cũng đã từ một thế kỷ

nay, âm thầm rên xiết dưới ách nô lệ của bọn thực dân xâm lược. Hà Nội đón chào cách

mạng tháng Tám giữa một mùa thu với niềm vui trào dâng của những thác người cuồn cuộn

xuống đường biểu dương sức mạnh, với hàng rừng cờ đỏ sao vàng rực rỡ trong khí thế chiến

thắng. Hà Nội nén lòng chịu đựng những gian khổ mỗi khi bóng đen của kẻ thù lại xuất hiện

với dáng vẻ khiêu khích và nghênh ngang trên đường phố. Tình thế đổi thay từng ngày,

không khí chính trị và xã hội phức tạp, lịch sử như bị dồn nén lại trong từng bước đi nặng

nề, dè dặt báo hiệu cho sự bùng nổ quyết liệt. Quá trình ấy tích tụ ở bên trong một sự

chuyển biến mạnh mẽ của quần chúng cách mạng. Từ 19/08/1945 đến 19/12/1946, khoảng

thời gian thật ngắn ngủi nhưng chính quyền cách mạng đã tạo được trong lòng nhân dân nền

móng tư tưởng và tình cảm vững chắc của chủ nghĩa yêu nước. Nỗi nhục nhã ê chề của cuộc

đời nô lệ và niềm vui tự do đầu tiên, ý thức về tổ quốc độc lập, về chính quyền nhân dân

trong những nhận thức ban đầu thiêng liêng và mới mẻ, tình cảm với đồng bào, đồng chí...

Tất cả đã thấm sâu và làm đổi thay tận gốc, cuộc sống tinh thần của nhiều người. Nguyễn

Huy Tưởng đã nắm bắt và thể hiện khá trọn vẹn những chuyển động sâu sắc và điển hình

của những năm tháng ấy, những năm tháng đã đi vào lịch sử. Từng sự kiện lịch sử, từng

hiện tượng chính trị xã hội nổi bật đã được đóng khung thời gian theo khuôn khổ lịch sử

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

trong từng trang viết của nhà văn.

PHẦN KẾT LUẬN

Khảo sát “Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng”là tìm hiểu mối

liên hệ giữa phong cách và thể loại, bởi vì cảm hứng lịch sử vừa là một phương diện của nội

dung tư tưởng tác phẩm vừa là một phương diện của phong cách nghệ thuật.

Từ việc tìm hiểu, khảo sát trên, có thể rút ra mấy kết luận sau đây về cảm hứng lịch sử

trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng.

1.Tiểu thuyết lịch sử lâu nay vẫn là mảng văn học chìm khuất so với những loại hình

tiểu thuyết khác nhưng với Nguyễn Huy Tưởng tiểu thuyết lịch sử là một thành tựu quan

trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông.Nó thể hiện tài năng, tâm huyết và chứa đựng những

tư tưởng lớn của nhà văn. Càng chiêm nghiệm về thời đại, về lịch sử, Nguyễn Huy Tưởng

càng day dứt khôn nguôi về số phận con người, số phận dân tộc. Ông luôn trăn trở và đi tìm

cái mới cho tư tưởng của người cầm bút.

2.Nguyễn Huy Tưởng đã viết tiểu thuyết lịch sử với một phong cách riêng. Sự kết hợp

giữa tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử trong tác phẩm của ông là một trong những bước bức

phá ngoạn mục đầy thú vị.Vừa coi trọng yếu tố lịch sử, vừa coi trọng yếu tố tiểu thuyết, nhà

văn đã sử dụng một cách nhuần nhuyễn mối quan hệ giữa lịch sử và hư cấu nghệ thuật, tạo

nên những tác phẩm bề thế nhưng có một dáng dấp ổn định và chững chạc. Ông đã kết hợp

các thủ pháp tự sự truyền thống với kỹ thuật tiểu thuyết hiện đại để sáng tạo nên một hệ

thống nhân vật giàu tính biểu tượng và sinh động. Đặc biệt với nghệ thuật trần thuật linh

hoạt, luân chuyển điểm nhìn trần thuật, nhất là việc tạo ra các tình huống thử thách, và xây

dựng độc thoại nội tâm, tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng đã thật sự thoát ra khỏi lối đi

quen thuộc và trở thành tiền đề cho một hướng đi mới của tiểu thuyết lịch sử sau này. Ngôn

ngữ trong tiểu thuyết của ông đã thuyết phục được nhiều độc giả khó tính, có sức hấp dẫn

đối với đông đảo bạn đọc.Bởi ông đã “hoà giải” được ngôn ngữ lịch sử cổ kính trang nhã và

ngôn ngữ tiểu thuyết,vửa sang trọng đài các, vừa dân dã nôm na, vừa đậm màu sắc triết

lý,vừa giàu chất trữ tình.

3.Nhiều nhà văn khi khai thác những đề tài lịch sử thường ít khi đi theo đúng mạch

cảm hứng lịch sử. Họ có thể nhìn hiện thực lịch sử bằng con mắt phán xét của người đời

sau, gán cho những hiện thực lịch sử ấy một sắc thái tiểu thuyết nào đó, tùy theo cảm hứng

sáng tác khơi nguồn ở họ. Khái niệm cảm hứng lịch sử là một khái niệm chưa được định

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

danh.Dựa trên cách lập thuyết về cảm hứng sáng tác, qua quá trình khảo cứu, chúng tôi sơ

bộ đưa ra khái niệm như sau: Cảm hứng lịch sử là cảm hứng sáng tác xuất phát từ cảm quan

về hiện thực lịch sử, trong đó nhà văn lấy lịch sử làm đề tài, chất liệu để tạo ra thế giới hình

tượng, xác lập cho mình một điểm nhìn vào quá khứ, tạo ra giọng điệu phù hợp với điểm

thời gian mà nó tái hiện.

4.Nguyễn Huy Tưởng là một trong số ít những nhà văn viết về quá khứ bằng cảm

hứng lịch sử. Cảm hứng lịch sử là cảm hứng chủ đạo trong văn nghiệp của ông, nó xuất phát

từ tình yêu, lòng đam mê đầy tự hào của nhà văn với lịch sử dân tộc. Cảm hứng ấy gắn liền

với lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm của người công dân Nguyễn Huy Tưởng, đồng thời

cũng chứa đựng cả chất nhân văn cao cả trong cái nhìn của nhà văn đối với cuộc đời. Với

cảm hứng lịch sử thấm đượm chất nhân văn ấy, Nguyễn Huy Tưởng là một trong số những

tác giả hàng đầu của thế kỷ XX, có đóng góp lớn cho một thể loại quan trọng trong nền văn

học dân tộc là tiểu thuyết lịch sử.

5.Cảm hứng lịch sử ở Nguyễn Huy Tưởng mang dấu ấn lịch lãm, uyên thâm của một

ngòi bút am tường về văn hóa, giàu triết lý, suy tư sâu sắc về cuộc đời và con người. Dù viết

về quá khứ bằng giọng văn trang nghiêm, cổ kính nhưng những tiểu thuyết lịch sử của ông

vẫn cuốn hút người đọc ở hơi thở gần gũi của nhịp sống thực tại. Thế giới hình tượng trong

tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng là sợi dây kết nối những chiêm nghiệm của nhà

văn từ quá khứ về hiện tại và ẩn chứa cả những suy nghiệm đối với mai hậu. Đọc văn ông,

ta không chỉ hiểu sâu sắc hơn về những gì đã diễn ra trong trường kỳ lịch sử của dân tộc mà

còn thấu rõ tâm tư và suy nghĩ của những con người làm nên lịch sử ấy. Những trang viết

của ông chứa đựng cả niềm đau và tự hào. Cả phần sáng lẫn phần tối của quá khứ, rất chân

thực mà cũng đầy hư cấu. Điều đáng nói là nhà văn luôn hướng người đọc tới những giá trị

nhân bản, nhân văn, dù ở trong bất kỳ đề tài nào, thời chiến hay thời bình. Vì vậy, cho đến

hôm nay, dù đề tài lịch sử đã đi vào rất nhiều trong sáng tác của các nhà văn hiện đại, với

những hình thức mới lạ, những khuynh hướng cách tân nhưng những tiểu thuyết của

Nguyễn Huy Tưởng vẫn còn nguyên giá trị của nó và đã trở thành cổ điển, mẫu mực.

5.Nhìn lại vấn đề văn học và nhà trường, chúng tôi nhận thấy việc đưa tiểu thuyết lịch

sử vào nhà trường là rất cần thiết. Với những tiểu thuyết lịch sử mang tính giáo dục như

Đêm hội Long Trì, An Tư hay Sống mãi với thủ đô, học sinh sẽ tiếp nhận những tri thức về

quá khứ dân tộc một cách hào hứng hơn. Trong chương trình hiện hành, các soạn giả đã đưa

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

vào hai tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng và Vũ Như Tô. Tuy nhiên, Lá cờ thêu sáu chữ

vàng có thể phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh song Vũ Như Tô là một tác phẩm

có tầm tưởng tượng quá lớn, triết lý quá sâu sắc, e rằng không phù hợp với nhận thức của

lứa tuổi học sinh phổ thông. Vậy nên chúng tôi mạnh dạn đề xuất với những người biên

soạn chương trình: Nên đưa một trong các tiểu thuyết Đêm hội Long Trì, An Tư, Sống

mãi với thủ đô vào giới thiệu và bước đầu cho học sinh tìm hiểu. Đây cũng là tâm ý của

nhà văn khi sáng tác, là mong muốn để thế hệ sau không quay lưng lại với lịch sử nước nhà

nhất là trong bối cảnh hội nhập toàn cầu như hiện nay.

Trong khuôn khổ cho phép, luận văn không thể trình bày hết những cảm nhận, phân

tích trong quá trình nghiên cứu về cảm hứng lịch sử của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng qua

bốn tiểu thuyết. Chúng tôi hy vọng đã đóng góp môt phần nhỏ ý kiến vào công trình nghiên

cứu về tác giả Nguyễn Huy Tưởng, đồng thời mong muốn có thể thêm tiếng nói khẳng định

giá trị của một thể loại tiểu thuyết quan trọng nhưng lâu nay vẫn bị khuất lấp. Chúng tôi

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

mong sẽ có thể phát triển, hoàn thiện hơn đề tài này trong một tương lai không xa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hà Ân, Vài ý kiến về sự thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong truyện lịch

sử phục vụ các em, Tạp chí văn học số 3 /1979.

2. Lại Nguyên Ân, Suy nghĩ về một lối tiếp cận lịch sử, Tạp chí Nghệ thuật điện

ảnh, số 3/ 1990.

3. Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1990.

4. Hoàng Nguyên Cát, Một phong cách uyên thâm lịch lãm (trong “Nguyễn Huy

Tưởng - Một sự nghiệp chưa kết thúc”), Viện văn học, 1992.

5. Nguyễn Minh Châu, Bên nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cùng ngắm Hồ Gươm -

Trang giấy trước đèn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,1994.

6. Nguyễn Phương Chi, Sống mãi với thủ đô (mục từ), Từ điển văn học, tập II,

NXB Khoa học Xã Hội, Hà Nội, 1984

7. Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Huy Tưởng nhật ký, tập I-II-III, NXB Thanh

niên Hà Nội, 2006.

8. Hoàng Định, Đêm hội Long Trì, Hà Nội mới chủ nhật, 25/3/1990.

9. Anh Đức, Nhớ anh Nguyễn Huy Tưởng, Văn nghệ 3/8/1985.

10. Hà Minh Đức, Nguyễn Huy Tưởng - nhà văn trưởng thành dưới chế độ mới,

Tạp chí Nghiên cứu Văn học 10/1960.

11. Hà Minh Đức, Sống mãi với thủ đô tác phẩm cuối cùng của Nguyễn Huy

Tưởng, Nhân dân 18/6/1961.

12. Hà Minh Đức - Phan Cự Đệ, Nguyễn Huy Tưởng (19/12/1960),NXB Văn học,

Hà Nội, 1966.

13. Hà Minh Đức, Lời giới thiệu kịch Nguyễn Huy Tưởng (Vũ Như Tô, Cột đồng

Mã Viện, Bắc Sơn, Những người ở lại), NXB Văn học, Hà Nội,1963.

14. Hà Minh Đức, Nguyễn Huy Tưởng - Nhà văn Việt Nam (1945 - 1975), NXB

Đại học và THCN, Hà Nội, 1979.

15. Hà Minh Đức, Lời giới thiệu tuyển tập Nguyễn Huy Tưởng, NXB Văn học,

Hà Nội, 1984.

16. Hà Minh Đức, Đêm hội Long Trì trên màn ảnh, TC Nghiên cứu nghệ thuật điện

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

ảnh, tháng 3/1990.

17. Hà Minh Đức, Nguyễn Huy Tưởng - Khảo luận văn chương, NXB khoa học xã

hội,Hà Nội, 1997

18. Đoàn Giỏi, Nguyễn Huy Tưởng, một người thầy, một người bạn, một người

anh, Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh 26/7/1985.

19. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên),Từ điển thuật ngữ

văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1997.

20. Đỗ Đức Hiếu, Bi kịch Vũ Như Tô, Tạp chí văn học số 10,1997

21. Tô Hoài, Lời giới thiệu Nguyễn Huy Tưởng tuyển tập, NXB Tác phẩm mới,

Hà Nội,1978.

22. Tô Hoài, Nhà văn Hà Nội Nguyễn Huy Tưởng, NXB Tác phẩm mới, Hà

Nội,1978.

23. Tô Hoài, Lời giới thiệu” Truyện viết cho thiếu nhi” của Nguyễn Huy Tưởng,

NXB Văn học, Hà Nội, 1996.

24. Phạm Hổ, Nguyễn Huy Tưởng và những truyện viết cho thiếu nhi- Lời giới

thiệu tập truyện Tìm mẹ. NXB Kim Đồng,Hà Nội, 1982.

25. Nguyên Hồng, Gác Nguyễn Huy Tưởng,Tạp chí văn học số 4, 1984.

26. Nguyên Hồng, Những câu chuyện bỏ dở, Tạp chí Văn nghệ số 40, 1956.

27. Thanh Huyền, Nguyễn Huy Tưởng - người viết sử bằng văn chương. Tạp chí

Xưa và nay, số 32, 10/1996.

28. Mai Hương, Nguyễn Huy Tưởng với những trăn trở và khát khao sáng tạo,

Tạp chí Văn học 11 + 12/6/1992.

29. Mai Hương, Trở về với tuổi thơ Nguyễn Huy Tưởng ( trong “Nguyễn Huy

Tưởng - Một sự nghiệp chưa kết thúc”), Viện Văn học, 1992.

30. Mai Thị Hương, Thao thức Nguyễn Huy Tưởng, Văn hóa số 24, 30/10/1996.

31. K.Pauxtopxki, Bông hồng vàng và bình minh mưa, NXB Văn học Hà Nội,

1999.

32. Nguyễn Khải, Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Văn học Hà Nội

số 177, 1961.

33. Lê Văn Lan, Nguồn sáng ở một nhà văn đi trước, (trong “Nguyễn Huy Tưởng

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

- Một sự nghiệp chưa kết thúc”), Viện Văn học, 1992.

34. Kim Lân, Những ngày cuối cùng của Nguyễn Huy Tưởng, Tạp chí Văn học số

106/ 1960.

35. Kim Lân, Nguyễn Huy Tưởng và sự làm việc của anh, Văn nghệ số 9, 1961.

36. Phong Lê, Sống mãi với thủ đô trong “Quá trình sáng tác của Nguyễn Huy

Tưởng”, Nghiên cứu văn học số 12/1961.

37. Phong Lê, Bàn thêm về Nguyễn Huy Tưởng, Nghiên cứu văn học số 7/1967.

38. Phong Lê, Sống mãi với thủ đô trong Quá trình sáng của Nguyễn Huy Tưởng,

(trong Nguyễn Huy Tưởng - Văn và người), NXB Văn học, Hà Nội ,1976.

39. Phong Lê, Nguyễn Huy Tưởng qua hai chế độ - Tác gia văn xuôi Việt Nam

hiện đại, NXB KHXH, 1977.

40. Phong Lê, Nguyễn Huy Tưởng - những vấn đề còn bỏ ngỏ,(trong Nguyễn Huy

Tưởng-Một sự nghiệp chưa kết thúc), Viện văn học, 1992.

41. Phong Lê, Nguyễn Huy Tưởng trong vầng sáng hồi nhớ, Đại đoàn kết,

12/4/1997.

42. Phong Lê, Nguyễn Huy Tưởng - văn xuôi và kịch, (trong Văn học trên hành

trình của thế kỷ XX), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997.

43. Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa,

Thành Thế Thái Bình, Lý luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002.

44. Nguyễn Thị Liên, Một số vấn đề lý luận về tiểu thuyết lịch sử (qua Sông Côn

mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác và Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh). Luận

văn thạc sĩ khoa học. Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội , 2004.

45. Nguyễn Văn Long, Nguyễn Huy Tưởng (mục từ) - Từ điển Văn học, tập II,

NXB khoa học xã hội, Hà Nội,1984.

46. Bùi Văn Lợi, Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến

1945, Luận án tiến sĩ năm 1999, ĐH sư phạm Hà Nội.

47. Lưu Văn Lợi, Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trước khi là nhà văn, Tạp Chí Văn

học 5 + 6/1992.

48. M.B. Khrapchenkô, Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn

học, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1978.

49. Trần Đình Nam, Nguyễn Phương Chi, Lời giới thiệu Đêm hội Long Trì NXB

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

Hà Nội, 1985.

50. Trần Đình Nam, Nguyễn Huy Tưởng với đề tài lịch sử, Văn nghệ, 23/12/1985.

51. Đỗ Hải Ninh, Tiểu thuyết Hồ Quý Ly trong sự vận động của tiểu thuyết lịch

sử nửa sau thế kỷ XX, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003.

52. Nguyên Ngọc, Nguyễn Huy Tưởng và quan niệm kẻ sĩ - Nguyễn Huy Tưởng

toàn tập, tập V, NXB Văn học Hà Nội, 1996.

53. Mai Ngữ, Nhớ về Nguyễn Huy Tưởng, ( trong “ Nguyễn Huy Tưởng Một sự

nghiệp chưa kết thúc”), Viện văn học, 1992.

54. Như Phong, Vài điều ghi nhận trên một số tác phẩm văn học gần đây, Văn

nghệ, 9/1991.

55. Duy Phương, Một nhà văn Nguyễn Huy Tưởng về Dục Tú, Người Hà Nội,

3/2/1990.

56. Dương Trung Quốc, Lời giới thiệu Đêm hội Long Trì (Bộ ba tác phẩm gồm

Đêm hội Long Trì, An Tư, Vũ Như Tô), NXB Hà Nội, 1999.

57. Trần Đình Sử, Thi pháp học hiện đại - khuynh hướng - hệ hình -thành tựu,

NXB Giáo dục, Hà Nội,2003.

58. Ngô Thảo, Văn nghệ một thời nhìn qua lỗ khóa-(trong “Nguyễn Huy Tưởng

- Một sự nghiệp chưa kết thúc”), Viện văn học, 1992.

59. Nguyễn Huy Thắng, Cha tôi - hình ảnh dệt từ trí tưởng tượng, Tạp chí Văn

học, số 4, 7 + 8/1990.

60. Nguyễn Huy Thắng biên soạn, Nguyễn Huy Tưởng - văn và người, NXB Hội

nhà văn Hà Nội,1991.

61. Nguyễn Huy Thắng, Ấn tượng về những nhân vật cùng cảnh ngộ, (trong

“Nguyễn Huy Tưởng - văn và người”), NXB Hội nhà văn Hà Nội, 1991.

62. Nguyễn Huy Thắng, Cha tôi viết Sống mãi với thủ đô, Tạp chí Văn học, 6/1995.

63. Nguyễn Huy Thắng, Xây Cửu trùng đài sân khấu, Thế giới mới, số 168,

15/1/1996.

64. Nguyễn Huy Thắng, Những khúc sông, mảnh hồ trong cuộc đời cha tôi,Tạp

chí Tia sáng, 11/1996.

65. Nguyễn Huy Thắng, Cha tôi trong Sống mãi với thủ đô, Giáo dục và thời đại,

3/1/1997.

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

66. Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Huy Tưởng sống mãi, Tác phẩm mới, số 12/1996.

67. Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Huy Tưởng - khát vọng một đời văn, Tuổi trẻ

chủ nhật, số 10, 27/4/1997.

68. Nguyễn Huy Thắng, Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, Giáo dục và thời đại chủ

nhật, 27/4/1997.

69. Nhiều tác giả - Nguyễn Huy Thắng biên soạn, Nguyễn Huy Tưởng trong vầng

sáng hồi nhớ, NXB Hà Nội, 1997.

70. Nguyễn Huy Thắng, Từ một tập giấy mỏng cha tôi để lại, Khoa học và Tổ

quốc, 5/1999.

71. Nguyễn Huy Thắng, Cụ Cử - người thầy của cha tôi, Giáo dục và thời đại chủ

nhật, số 52/2000.

72. Nguyễn Đình Thi, Vĩnh biệt Nguyễn Huy Tưởng, Văn học số 105, 1960.

73. Nguyễn Ngọc Thiện, Sống mãi với thủ đô - “Không chỉ là phản ánh, mà còn là

tổng kết, soi sáng”,( In trong “Văn chương và tác giả”). NXB Thanh niên, Hà

Nội, 1995.

74. Thiều Quang, Lá cờ thêu sáu chữ vàng- truyện lịch sử của Nguyễn Huy

Tưởng, Tạp chí Văn nghệ 1961.

75. Hoàng Trung Thông, Nhớ lại đôi điều về Nguyễn Huy Tưởng, TC Văn học số

4/1984.

76. Nguyễn Bích Thu - Tôn Thảo Miên, Nguyễn Huy Tưởng - khát vọng một đời

văn, (trong “Nguyễn Huy Tưởng về tác giả và tác phẩm”), NXB Giáo dục, Hà

Nội, 1999.

77. Nguyễn Bích Thu - Tôn Thảo Miên tuyển chọn và giới thiệu, Nguyễn Huy

Tưởng về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999.

78. Phan Đình Dũng, Cảm hứng lịch sử trong kịch nói của Nguyễn Huy Tưởng,

Luận văn thạc sĩ khoa học. Trường ĐH Sư phạm TP. HCM, 2003.

79. Cao Xuân Thử - “Cung đình” trong bộ ba tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng -

Nguyễn Huy Tưởng, một sự nghiệp chưa kết thúc, Viện văn học, 1992.

80. Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Huy Tưởng - nghệ sĩ và công dân, Nhân dân,

17/4/1997.

81. Hoàng Tiến, Nguyễn Huy Tưởng với đề tài Hà Nội, Tạp Chí Văn học số

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

5/1984.

82. Nguyễn Tuân, Lũy Hoa - Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập 3, NXB Văn học, Hà

Nội,1996.

83. Nguyễn Tuân, Sống mãi với thủ đô - Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập 3, NXB Văn

học,Hà Nội, 1996.

84. Đinh Trọng Tuấn, Đêm hội Long Trì - Một bộ phim thành công, Văn nghệ,

31/3/1990.

85. Trịnh Thị Uyên, Nhà tôi - kỷ niệm của một thời và mãi mãi, Tạp chí văn học,

số 5, 9+10,1991.

86. Nguyễn Huy Tưởng với Hà Nội, Văn nghệ 6/10/1990.

87. V.G. Biêlinxky, Toàn tập tác phẩm, tập VII,(bản dịch), NXB Viện Hàn Lâm

Khoa Học Liên Xô, 1955.

88. V.G. Biêlinxky, Tác phẩm chọn lọc,(bản dịch), M.1975.

89. Hà Ân ,Trăng nước Chương Dương, NXB Văn học, Hà Nội,2000.

90. Phan Trần Chúc ,Tĩnh Đô Vương, NXB Văn học, Hà Nội,2000.

91. Hoàng Quốc Hải, Thăng Long nổi giận,NXB Văn học,Hà Nội,2000.

92. Lan Khai, Ái tình và sự nghiệp, NXB Văn học, Hà Nội,2000.

93. Nguyễn Triệu Luật, Loạn kiêu binh, NXB Văn học, Hà Nội,2000.

94. Nguyễn Triệu Luật, Hòm đựng người, NXB Văn học,Hà Nội,2000.

95. Nguyễn Triệu Luật, Bà Chúa Chè, NXB Văn học, Hà Nội,2000.

96. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí, NXB Văn học,Hà Nội,2000

97. Nguyễn Tử Siêu, Trần Nguyên Chiến kỷ,NXB Văn học, Hà Nội,2000.

98. Nguyễn Huy Tưởng, An Tư,NXB Kim đồng, Hà Nội,2005.

99. Nguyễn Huy Tưởng, Đêm hội Long Trì,NXB Kim Đồng,Hà Nội,2005.

100. Nguyễn Huy Tưởng, Sống mãi với thủ đô, NXB Kim Đồng,Hà Nội,2005.

101. Nguyễn Huy Tưởng toàn tập - tập I - NXB Văn học, Hà Nội, 1996.

102. Nguyễn Huy Tưởng toàn tập - tập II - NXB Văn học, Hà Nội, 1996.

103. Nguyễn Huy Tưởng toàn tập - tập III - NXB Văn học, Hà Nội, 1996.

104. Nguyễn Huy Tưởng toàn tập - tập IV - NXB Văn học, Hà Nội, 1996.

105. Nguyễn Huy Tưởng toàn tập - tập V - NXB Văn học, Hà Nội, 1996.

106. Nguyễn Huy Tưởng - Nhà Trần - NXB Kim Đồng,Hà Nội, 2005.

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

107. Nguyễn Huy Tưởng - Lá cờ thêu sáu chữ vàng, NXB Kim Đồng,Hà Nội, 2005.

108. Nhiều tác giả , Những vấn đề thi pháp Dostoeveski, NXB Giáo dục, Hà Nội,

1993.

109. Nguyễn Văn Dân , Lý luận Văn học so sánh, NXB Khoa học Xã hội Hà

Nội,1998.

110. .M.BA KHTIN , Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), Bộ Văn

hóa Thông tin , trường viết văn Nguyễn Du,1992.

111. .Nguyễn Đình Chú,Các thế hệ nhà văn ngót 100 năm kế tiếp nhau soi lại lịch

sử, Văn học Việt Nam trên những chặng đường chống phong kiến Trung

Quốc xâm lược. NXB KHXH Hà Nội,1981.

112. Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại Việt Nam,NXB KHXH,Hà Nội,1989.

113. Nguyễn Tý , Thái Vũ - Nhà văn hiện đại Việt Nam người trung thành viết

tiểu thuyết lịch sử, Báo Văn nghệ số 39, 2003.

114. Lan Khai, Ai lên phố Cát, Phổ thông bán nguyệt san (số 4).

115. Nguyễn Triệu Luật, Tuyển tập lịch sử Nguyễn Triệu Luật, NXB Văn

học,1998.

116. Viện KHXH Việt Nam, Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, NXB KHXH, Hà

Nội,1993.

117. Trung tâm KHXH và NV Quốc gia, Viện nghiên cứu Hà Nội, Đại Việt sử ký

tiền biên, NXB KHXH , Hà Nội,1997.

118. Hà Ân , Quận He khởi nghĩa, NXB Quân đội Nhân dân,1963.

119. Lê Thanh, Cuộc phỏng vấn các nhà văn, NXB Đời mới (không có năm xuất

Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Thị Phương Thoa

bản).