BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRẦN KHÁNH VINH

THỰC THI CHÍNH SÁCH THU HÚT

VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

TẠI TỈNH VĨNH LONG

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - NĂM 2021

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA TRẦN KHÁNH VINH THỰC THI CHÍNH SÁCH THU HÚT

VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

TẠI TỈNH VĨNH LONG

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG

Chuyên ngành: Chính sách công

Mã số: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS. TS. NGUYỄN THỊ HỒNG HẢI

HÀ NỘI – NĂM 2021

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của

tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải. Ngoài những nội

dung được trích dẫn thì các nội dung còn lại là kết quả nghiên cứu của tác giả.

Các số liệu, dữ liệu, thông tin được tác giả trình bày trong luận văn này là

chính xác, trung thực, khách quan, có trích dẫn nguồn gốc rõ ràng, và chưa từng

được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào. Luận văn được trình

bày theo đúng các quy định của Học viên Hành chính Quốc gia về cách thức

trình bày luận văn.

Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình.

Tác giả luận văn

Trần Khánh Vinh

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, tác giả luôn nhận được sự

hướng dẫn, chỉ bảo và hỗ trợ tận tậm và nhiệt tình của Quý Thầy Cô, các

CQNN, các CBCCVC tại địa phương vì vậy, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:

Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, các giảng viên, các Thầy

Cô Ban Đào tạo Sau đại học đã giảng dạy và giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành

quá trình học tập tại Học viện Hành chính Quốc gia;

PGS. TS. Nguyễn Thị Hồng Hải, người hướng dẫn khoa học đã tận tình

hướng dẫn, hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này;

Sở Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Trung tâm Xúc

tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Long cùng các Sở, Ban, Ngành

có liên quan, UBND các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Vĩnh Long đã tạo

điều kiện hỗ trợ cung cấp số liệu, các thông tin cũng như giúp đỡ tôi trong suốt

quá trình thực hiện luận văn.

Cùng với sự giảng dạy của Quý Thầy Cô Học viện Hành chính Quốc gia,

sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học, sự hỗ trợ của các cơ quan hữu

quan và sự nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành luận văn theo đúng quy định

của Học viện Hành chính Quốc gia. Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu ngắn và

bản thân là một người thực tiễn chưa có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu

khoa học, chính vì vậy luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả luận

văn rất mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của Quý Thầy Cô để

luận văn cũng như bản thân tôi hoàn thiện hơn trong quá trình học tập, nghiên

cứu khoa học và làm việc sau này.

Trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Trần Khánh Vinh

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt Nội dung

BMNN Bộ máy nhà nước

CCHC Cải cách hành chính

CNH Công nghiệp hóa

CBCC Cán bộ, công chức

CBCCVC Cán bộ, công chức, viên chức

CQNN Cơ quan nhà nước

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

ĐTNN Đầu tư nước ngoài

HĐH Hiện đại hóa

HĐND Hội đồng nhân dân

NĐT Nhà đầu tư

QLNN Quản lý nhà nước

TP Thành phố

UBND Ủy ban nhân dân

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Trang

Bảng 2.1. Thống kê tình hình thu hút FDI giai đoạn 2015 -2019 42

Bảng 2.2. Thống kê Chỉ số PCI của tỉnh Vĩnh Long 60

Bảng 2.3. Thống kê tình hình xúc tiến FDI 62

Bảng 2.4. So sánh tỷ lệ tiếp xúc và số dự án triển khai 66

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục từ viết tắt

Danh mục bảng, biểu

MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………. 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH THU HÚT

VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI …………………………… 11

1.1. Khái quát về chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ........ 11

1.1.1. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ...................................... 11

1.1.2. Chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài .................... 16

1.2. Thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ............... 21

1.2.1. Khái niệm ...................................................................................... 21

1.2.2. Vai trò ............................................................................................. 23

1.2.3. Chủ thể thực hiện ........................................................................... 25

1.2.4. Quy trình thực hiện chính sách thu hút trực tiếp nước ngoài ........ 26

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài trên địa bàn cấp tỉnh .............................................................. 32

1.3.1. Yếu tố thuộc về bản thân chính sách .............................................. 32

1.3.2. Các yếu tố thuộc về chủ thể thực thi chính sách ............................ 34

1.3.3. Các yếu tố thuộc về môi trường ..................................................... 36

Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 37

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH VĨNH LONG ………38

2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Vĩnh Long và ảnh

hưởng của các điều kiện đó đến việc thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long .................................................. 38

2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hị của tỉnh Vĩnh Long .38

2.1.2. Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến việc thực

thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh

Long .............................................................................................. 39

2.2. Khái quát về tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Vĩnh

Long................................................................................................................. 42

2.3. Phân tích thực trạng thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài ở tỉnh Vĩnh Long ................................................................................... 44

2.3.1. Ban hành văn bản, xây dựng các kế hoạch, chương trình triển khai

thực thi chính sách. ........................................................................... 44

2.3.2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách ................................................ 48

2.3.3. Phân công, phối hợp thực thi chính sách ...................................... 50

2.3.4. Tổ chức thực hiện các nội dung chính sách .................................. 54

2.3.5. Đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách ................... 63

2.3.6. Đánh giá, tổng kết việc thực thi chính sách .................................. 65

2.4. Đánh giá chung thực trạng thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài ở tỉnh Vĩnh Long .......................................................................... 67

2.4.1. Ưu điểm .......................................................................................... 67

2.4.2. Hạn chế ........................................................................................... 69

2.4.3. Nguyên nhân của hạn chế .............................................................. 72

Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 77

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO THỰC THI

CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở

TỈNH VĨNH LONG ………………………………………………………. 78

3.1. Quan điểm thực thi chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ....... 78

3.2. Các giải pháp thực thi tốt chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài ở tỉnh Vĩnh Long ................................................................................... 79

3.2.1. Hoàn thiện các nội dung của chính sách ........................................ 79

3.2.2. Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ....... 87

3.2.3. Tăng cường sự tham gia và phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong

triển khai thực thi chính sách .......................................................... 90

3.2.4. Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư ............................................. 96

3.2.5. Tăng cường sự tham gia của các doanh nghiệp .............................. 98

3.2.6. Đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất để thực thi chính sách và hỗ trợ

nhà đầu tư nước ngoài ................................................................... 100

Tiểu kết chương 3 ........................................................................................ 105

KẾT LUẬN .................................................................................................. 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài luận văn

Việt Nam trải qua hơn 30 năm đổi mới đã có những bước tiến phát triển

mạnh mẽ trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Từ một quốc gia nghèo đói, phải

nhập khẩu gạo thì đến nay Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những

quốc gia đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, hồ tiêu,… Việt Nam đã có những

thành tựu đáng ghi nhận trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, trở thành hình

mẫu cho các quốc gia đang phát triển. Mặc dù tình hình kinh tế thế giới tiềm ẩn

những nguy cơ và rủi ro, tuy nhiên Việt Nam vẫn có được sự ổn định và sự phát

triển đáng ghi nhận. Những thành tựu của quá trình đổi mới đã làm thay đổi

mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Có được những thành tựu

trong thời gian qua bên cạnh việc phát huy nguồn nội lực vốn có, Việt Nam

cũng tranh thủ nguồn lực đầu tư từ bên ngoài. Văn kiện Đại hội Đại biểu lần

thứ XII của Đảng đã khẳng định “Phát huy cao nhất các nguồn lực trong nước,

đồng thời chủ động hội nhập quốc tế, huy động và sử dụng có hiệu quả các

nguồn lực bên ngoài để phát triển nhanh, bền vững”[10]. Vì vậy Đảng và Nhà

nước ta luôn chú trọng việc xây dựng chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước

ngoài nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế. Thu hút đầu tư trực tiếp nước

ngoài được xem là một trong những giải pháp đột phá nhằm thúc đẩy phát triển

kinh tế - xã hội.

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với sự phát

triển của kinh tế - xã hội Việt Nam. Và kết quả của quá trình hơn 30 năm đổi

mới của Việt Nam có đóng góp rất lớn của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Thực tế cho thấy, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng khẳng

định vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam và

1

là khu vực có tốc độ phát triển năng động nhất. Các nghiên cứu cho thấy, vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn vốn quan trọng trong tổng vốn đầu

tư phát triển toàn xã hội và là động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng của Việt

Nam trong thời gian qua. Vốn FDI đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế và thúc đẩy

nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở các địa phương. Chính sách

thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là một chính sách kinh tế - xã hội lớn của

Việt Nam. Để chính sách này có thể đi vào thực tiễn và phát huy tối đa hiệu

quả thì đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải tăng cường triển khai thực thi chính

sách này trong thực tế. Triển khai thực thi chính sách thu hút trực tiếp nước

ngoài là một bước trong quy trình chính sách, là bước hiện thực hóa chính sách.

Vì vậy, nó có vai trò quan trọng.

Vĩnh Long là một tỉnh nằm ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, là một

trong những địa phương có tốc độ phát triển kinh tế cao của khu vực. Trong

thời gian qua tỉnh Vĩnh Long đã chú trọng triển khai thực thi chính sách thu hút

đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chính vì vậy các doanh nghiệp nước ngoài ngày

càng chú trọng đầu tư vào tỉnh Vĩnh Long. Đóng góp của vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng lớn đối với quá

trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, việc thu hút đầu tư trực tiếp

nước ngoài chưa tương xứng với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh. Điều này

là do khâu triển khai thực thi chính sách thu hút đầu tư nước ngoài trên địa bàn

tỉnh vẫn còn những hạn chế nhất định. Tỉnh Vĩnh Long chưa xây dựng được

nhiều chương trình, kế hoạch cụ thể để triển khai thực thi chính sách, đồng thời

cũng chưa phát huy tốt thế mạnh của địa phương. Bên cạnh đó, công tác phối

hợp trong quá trình triển khai thực thi chính sách chưa đồng bộ, nhịp nhàng.

Ngoài ra, công tác đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách cũng

như công tác đánh giá, tổng kết chính sách còn tiến hành chưa thường xuyên

và khoa học. Những hạn chế nêu trên đòi hỏi tỉnh Vĩnh Long phải có những

2

giải pháp kịp thời và khoa học để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả triển khai

thực thi chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bên cạnh đó, với mục

tiêu là đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đặt ra yêu cầu

Vĩnh Long phải chú trọng và đổi mới thực thi chính sách thu hút đầu tư trực

tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long.

Xuất phát từ những lý do trên tác giả lựa chọn đề tài “Thực thi chính sách

thu hút đầu tư vốn trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long” làm luận văn

Thạc sỹ chuyên ngành Chính sách công.

2. Tình hình nghiên cứu

Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và thực thi chính sách thu

hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chiến lược

phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam từ sau đổi mới. Vì vậy, đây là nội dung

được nhiều học giả, nhà khoa học tập trung nghiên cứu từ nhiều góc độ khác

nhau. Có thể kể đến những nghiên cứu tiêu biểu sau đây:

Phùng Xuân Nhạ, (2013), FDI tại Việt Nam: lý luận và thực tiễn, NXB

Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội. Công trình nghiên cứu này đã làm rõ khái

niệm, các hình thức FDI, nhiều lý thuyết luận giải về nguyên nhân hình thành

FDI, bao gồm các lý thuyết truyền thống và các lý thuyết mới về quốc tế hóa

sản xuất, phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới FDI, các chính sách, biện pháp thu

hút FDI tại Việt Nam. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả tập trung phân

tích các luận cứ khoa học và làm rõ tác động của các chính sách cũng như kết

quả hoạt động FDI ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua, từ đó đưa ra một số gợi

ý điều chỉnh chính sách, biện pháp điều tiết các hoạt động thu hút và sử dụng

nguồn vốn FDI ở Việt Nam, [23].

Nguyễn Văn Tuấn, (2005), FDI với phát triển kỉnh tế ở Việt Nam, NXB

Tư pháp, Hà Nội. Đây là một đề tài nghiên cứu có phạm vi rộng về lịch sử hình

thành, phát triển của hoạt động FDI, trên cơ sở đó tác giả cũng đưa ra một số

3

giải pháp nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI đối với kinh

tế Việt Nam. Tuy nhiên, ở đề tài này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích

về vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế Việt Nam chứ không đề cập đến

việc tổ chức thực thi chính sách thu hút FDI ở các địa phương [35].

Mai Ngọc Cường (2000), Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút FDI ở

Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Trong nghiên cứu này tác giả đã

phân tích những chính sách trong nước có tác động mạnh đến quá trình thu hút

FDI, cũng như đề xuất các biện pháp thu hút FDI. Theo tác giả cần tiếp tục

nghiên cứu và triển khai thực thi phân cấp việc cấp phép đầu tư, giải quyết

những vấn đề sở hữu, sử dụng đất đai, những ưu đãi và khuyến khích về tài

chính, về chính sách tiền lương của người lao động làm việc trong các doanh

nghiệp có vốn FDI. Tuy nhiên những đề xuất này đã được giải quyết phần lớn

trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000, Luật Đất đai năm 2003,… Đến nay

hệ thống pháp luật đã có sự thay đổi vì vậy có những đề xuất không còn phù

hợp mà cần phải có những nghiên cứu mới [9].

Đinh Trọng Thắng, Trần Tiến Dũng (2019), Thực trạng chính sách ưu đãi

thu hút FDI vào Việt Nam hiện nay, Tạp chí Tài chính. Công trình nghiên cứu

này đã đi sâu làm rõ các chính sách ưu đãi thu hút FDI vào Việt Nam hiện nay

và kết quả thực thi các chính sách này. Công trình nghiên cứu này cũng đã đánh

giá những hạn chế trong chính sách ưu đãi thu hút FDI vào Việt Nam hiện nay.

Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này chỉ mới khái quát một số nội dung của

chính sách ưu đãi thu hút FDI vào Việt Nam và những đánh giá khái quát về

các chính sách này mà chưa nghiên cứu thực tiễn thực thi chính sách [34].

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2013), Kỷ yếu Hội nghị 25 năm FDI tại Việt Nam,

Hà Nội. Công trình nghiên cứu này là tập hợp nhiều bài viết tại Hội nghị 25 thu

hút FDI tạo Việt Nam. Công trình nghiên cứu đã làm rõ thực trạng thu hút FDI

tại Việt Nam, phân tích vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt

4

Nam. Đồng thời công trình nghiên cứu này cũng phân tích thực trạng thu hút

FDI trên một số lĩnh vực, đồng thời đề ra các giải pháp hoàn thiện thu hút FDI

trên các lĩnh vực này. Bên cạnh đó công trình nghiên này cũng đã làm rõ thực

trạng thu hút FDI ở một số địa phương. Công trình nghiên cứu này đã làm rõ

tổng quan thực trạng thu hút FDI ở Việt Nam nói chung và các địa phương, các

lĩnh vực nói riêng [3].

Văn Thái Thu (2019), Thu hút FDI vào Việt Nam và những vấn đề đặt ra,

Tạp chí Tài chính. Công trình nghiên cứu đã phân tích tầm quan trọng của FDI

đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam thông qua các số liệu

so sánh về đóng góp của FDI đối với Việt Nam. Đồng thời công trình nghiên

cứu cũng đã khái quát về thực trạng thu hút FDI của Việt Nam, đồng thời phân

tích những tồn tại và hạn chế như mức độ kết nối với NĐT trong nước còn thấp;

đầu tư vào công nghệ cao chưa nhiều; bất cập trong quản lý các doanh nghiệp

FDI,… Trên cơ sở đó, công trình nghiên cứu này đã đưa ra các đề xuất về quan

điểm tiếp cận FDI; hoàn thiện cơ chế, chính sách, chuyển dịch cơ cấu thu hút

vào các ngành công nghệ cao; đa dạng hóa các nhà đầu tư từ nhiều quốc gia.

Trần Thị Bích Dung, Trần Bá Thọ (2020), Vấn đề thu hút vốn đầu tư nước

ngoài ở Việt Nam, Tạp chí Công thương. Công trình nghiên cứu này đã làm rõ

quan niệm về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, phân tích vai trò của FDI đối với

kinh tế - xã hội. Đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn FDI

như Môi trường chính trị - xã hội, môi trường kinh tế vĩ mô, hệ thống pháp luật,

cơ sở hạ tầng, trình độ chuyên môn của người lao động, tình hình chính trị thế

giới. Mặt khác công trình này cũng khái quát về tình hình thu hút vốn FDI tại

Việt Nam. Bên cạnh đó công trình nghiên cứu này cũng đề ra các giải pháp để

thu hút FDI như ổn định chính trị - xã hội, hoàn thiện hệ thống pháp luật, phát

triển cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Tiếp cận từ góc độ chính sách và thực thi chính sách thu hút đầu tư trực

5

tiếp nước ngoài có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau đây:

Nguyễn Mạnh Hùng (2014) “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở

tỉnh Thái Bình”. Công trình nghiên cứu này đã làm rõ việc thực thi các chính

sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Thái Bình, đồng thời đánh giá

những thành tựu, hạn chế của việc thực thi các giải pháp nhằm thu hút vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Thái Bình. Trên cơ sở đó, công trình nghiên cứu

này đã đề xuất các nhóm giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài ở tỉnh Thái Bình. Tuy nhiên công trình nghiên cứu này chưa tiếp

cận hết quy trình thực thi chính sách mà chủ yếu kết quả thực thi chính sách

thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài [22].

Đinh Trọng Thắng, Trần Tiến Dũng (2019), Thực trạng chính sách ưu đãi

thu hút FDI vào Việt Nam hiện nay, Tạp chí Tài chính. Công trình này đã đánh

giá thực trạng thực thi các chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp FDI đặc

biệt là liên quan đến chính sách về thuế. Đồng thời phân tích những kết quả đạt

được trong thực thi chính sách ưu đãi thu hút FDI thể hiện thông qua kết quả

thu hút FDI và những lợi ích của FDI mang lại cho Việt Nam. Công trình này

cũng đã chỉ ra những hạn chế trong thực thi chính sách ưu đãi trong thu hút FDI

và phân tích nguyên nhân của những hạn chế như không theo dõi chặt chẽ quá

trình thực thi chính sách, thủ tục ưu đãi chưa minh bạch, chưa đánh giá tác động

của chính sách. Trên cơ sở đó công trình nghiên cứu này đã phân tích bối cảnh

và những đòi hỏi phải cải cách chính sách ưu đãi trong thu hút FDI như giảm

chồng chéo trong hệ thống pháp luật, đào tạo nhân lực, tạo khung ưu đãi chung

đồng thời phát huy tính chủ động của chính quyền địa phương.

Nguyễn Đức Thành (2017), “Thực thi chính sách thu hút đầu tư trực tiếp

nước ngoài ở tỉnh Vĩnh Phúc”, Luận văn Thạc sĩ Chính sách công, Học viện

Hành chính Quốc gia [33]. Công trình nghiên cứu này đã tiếp cận việc thực thi

chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài một cách có hệ thống từ lý luận

6

đến thực tiễn. Công trình nghiên cứu này đã làm rõ quy trình thực thi chính

sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến

việc thực thi chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trên cơ sở thực

trạng thực thi chính sách thu hút trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Phúc, công

trình nghiên cứu này đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả triển

khai thực thi chính sách thu hút trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Có thể thấy tất cả các công trình nghiên cứu đều khẳng định vai trò to lớn

của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội, cũng

như làm rõ nội dung của chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các

công trình nghiên cứu đều tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau từ lý luận, thực

tiễn đến pháp lý. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trong thời gian qua chủ

yếu tiếp cận từ góc độ vai trò của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như

nội dung chủ chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đảng và Nhà

nước mà chưa đi sâu nghiên cứu việc tổ chức triển khai thực thi chính sách này

tại một địa bàn cụ thể. Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long cho đến nay chưa có công

trình nghiên cứu chính thức nào về vấn đề này. Vì vậy việc lựa chọn đề tài của

tác giả là phù hợp, đảm bảo không có sự trùng lắp.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất những giải pháp nhằm thực

thi tốt chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long

trong thời gian tới.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đề ra một số nhiệm vụ sau:

Một là, hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực thi chính sách thu hút vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài.

Hai là, khảo sát, đánh giá thực trạng thực thi chính sách thu hút vốn đầu

7

tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long, đồng thời phân tích nguyên nhân

của những hạn chế trong thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài ở tỉnh Vĩnh Long.

Ba là, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao thực thi chính sách thu hút

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long.

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu quy trình thực thi chính sách thu hút vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài trên các nội dung sau: Ban hành văn bản, xây dựng

các kế hoạch, chương trình triển khai thực thi chính sách; Phổ biến, tuyên

truyền chính sách; Phân công, phối hợp thực thi chính sách; Tổ chức thực thi

các nội dung chính sách; Đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách;

Đánh giá, tổng kết việc thực thi chính sách;

- Về không gian: Luận văn nghiên cứu tại tỉnh Vĩnh Long

- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu từ năm 2015 đến tháng 10 năm 2020

(Vì năm 2014 Quốc hội ban hành Luật Đầu tư, Luật này có hiệu lực từ ngày

01/7/2015. Đây là cơ sở quan trọng để thực thi chính sách thu hút FDI).

5. Phương pháp luận nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của

Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng, nhà nước

về nhà nước và pháp luật là cơ sở phương pháp luận.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những vấn đề cụ thể mà nội dung đề tài hướng tới, tác giả

8

sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chuyên ngành sau đây:

5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp

Để thu thập các thông tin, số liệu cơ bản ban đầu cũng như kế thừa thành

quả của những tác giả đi trước và từ phía các cơ quan QLNN, tác giả tiến hành

nghiên cứu và thu thập thông tin, số liệu từ một số tài liệu sơ cấp và thứ cấp như:

- Các báo cáo của UBND tỉnh Vĩnh Long, Sở Kế hoạch đầu tư, UBND

các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long;

- Báo, tạp chí chuyên ngành;

- Một số tài liệu khác mà đề tài tham khảo.

5.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu

Để có thêm thông tin nghiên cứu, Luận văn sẽ tiến hành phỏng vấn sâu.

Kết quả phỏng vấn là những ý kiến, quan điểm, nhận định của khách thể nghiên

cứu và các chuyên gia. Đối tượng phỏng vấn sâu gồm:

- Chủ tịch UBND tỉnh;

- Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư;

- Các doanh nghiệp.

5.2.3. Các phương pháp khác

Bên cạnh việc sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, phương

pháp phỏng vấn sâu, luận văn cũng sử dụng một số phương pháp khác như:

Phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp,...

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận

Luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận, pháp lý về thực thi chính

sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại địa bàn cấp tỉnh.

6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Dựa trên việc phân tích thực trạng thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư

trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long và tìm ra nguyên nhân của hạn chế

9

trong quá trình thực thi, luận văn đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện thực

thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long. Đây

là nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại tỉnh

Vĩnh Long trong việc hoàn thiện thực thi chính sách thu hút FDI tại tỉnh.

Mặc dù đây là đề tài nghiên cứu trên phạm vi tỉnh Vĩnh Long. Tuy nhiên,

những giải pháp Luận văn đưa ra vẫn có thể tham khảo để áp dụng cho những

địa phương có cùng những điểm tương đồng về đặc điểm kinh tế - xã hội.

Luận văn còn là nguồn tài liệu tham khảo cho những công trình nghiên

cứu tiếp theo có liên quan đến vấn đề này.

7. Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục,

nội dung của luận văn kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài trên địa bàn cấp tỉnh.

Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long.

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao thực thi chính sách thu hút

10

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long.

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH

THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1. Những vấn đề chung về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và chính

sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1.1. Khái niệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, ngoài

nguồn vốn đầu tư trong nước thì các quốc gia trên thế giới có tận dụng nguồn

vốn FDI. Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về FDI.

Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

(OECD) thì FDI là hoạt động đầu tư nhằm đạt được lợi ích lâu dài trong doanh

nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu

tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp [33].

Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia), FDI là hình thức đầu tư

dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập

cơ sở sản xuất kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền

quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đưa ra cách hiểu như sau: FDI xảy

ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một

nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó [33].

FDI cũng được tiếp cận từ góc độ pháp lý. Theo Luật Đầu tư nước ngoài

năm 1996 định nghĩa như sau: “FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt

Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư

theo quy định của Luật này”[25]. Tuy nhiên, sau khi sửa đổi Luật đầu tư 2005

không có định nghĩa cụ thể về FDI nhưng theo khoản 2 và khoản 12, điều 3

11

định nghĩa: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư

và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư

nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản họp pháp khác để

tiến hành hoạt động đầu tư”.

Trên cơ sở các phân tích trên, có thể định nghĩa khái quát vốn FDI như

sau: FDI là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông qua

việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư đồng thời

trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn,

trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý,… nhằm mục đích thu lợi nhuận”.

Để một chủ thể tham gia vào một hoạt động hay công việc nào đó thì đòi

hỏi phải có sự thu hút để họ tham gia. “Thu hút được hiểu là lôi cuốn, làm cho

người khác chú ý” [44]. Để có được vốn FDI thì đòi hỏi các quốc gia, các địa

phương phải tích cực thực thi các biện pháp nhằm thu hút vốn FDI.

Thu hút vốn FDI là tổng thể các chính sách và biện pháp mà nước tiếp

nhận đầu tư thực thi nhằm khuyến khích nhà đầu từ nước ngoài đưa vốn, tài

sản, công nghệ vào các DN ở nước mình dưới hình thức trực tiếp sản xuất kinh

doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, thu nhập cho dân cư và tranh

thủ vốn, công nghệ, thị trường sẵn có của nhà đầu tư nước ngoài,…[33]

Thu hút vốn FDI là việc làm chủ động của nước tiếp nhận đầu tư nhằm đạt

được lợi ích của chính mình bằng cách kích thích lợi ích của nhà ĐTNN. Lợi

ích của nhà ĐTNN khi đầu tư vào nước khác là lợi nhuận, thị trường và tối đa

hóa chuỗi giá trị sản phẩm của họ. Do đó, muốn thu hút FDI, nước nhận đầu tư

phải có cơ chế, chính sách và biện pháp hấp dẫn các nhà ĐTNN.

Thu hút vốn FDI là nỗ lực của quốc gia hay các địa phương nhằm đề ra và

phối hợp thực thi tổng thể các chính sách và biện pháp khuyến khích nhà ĐTNN

đưa vốn, tài sản, công nghệ vào quốc gia hoặc địa phương mình.

Từ những nghiên cứu, tổng hợp những tài liệu, luận văn đưa ra cách hiểu

12

về vấn đề này như sau: Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là toàn bộ

những biện pháp, cách thức mà cơ quan nhà nước thực thi nhằm tuyên truyền,

vận động, tạo điều kiện, khuyến khích và huy động các nguồn vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài của các nhà đầu tư nước ngoài.

1.1.1.2. Vai trò của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Thu hút FDI có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của

bất kỳ một quốc gia hay địa phương nào. Vai trò này thể hiện trên các phương

diện sau:

Thứ nhất, thu hút vốn FDI sẽ góp phần bổ sung nguồn vốn cho phát triển

kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của bất kỳ quốc gia nào cũng

đòi hỏi phải huy động các nguồn lực xã hội lớn, kể cả nguồn lực trong nước và

nguồn lực quốc tế. Vốn FDI là một trong những nguồn vốn quan trọng để bù

đắp sự thiếu hụt vốn đầu tư góp phần tạo ra động lực cho sự tăng trưởng và phát

triển. Đối với các nước đang phát triển, việc tiếp nhận số lượng lớn vốn đầu từ

nước ngoài sẽ vừa tác động đến tổng cầu, vừa tác động đến tổng cung của nền

kinh tế. Về mặt cầu, vì đầu tư là một bộ phận lớn và hay thay đổi chủ chi tiêu

nên những thay đổi bất thường về đầu tư có ảnh hưởng lớn đến sản lượng và

thu nhập về mặt ngắn hạn. Về mặt cung, khi thành quả của đầu tư phát huy tác

dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung đặc biệt là tổng cung dài

hạn tăng lên, kéo theo sản lượng tiềm năng tăng theo, do đó giá cả sản phẩm

giảm xuống. Sản lượng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng, đây chính là

cơ sở quan trọng để kích thích sản xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển là nguồn

gốc cơ bản để tăng tích lũy, phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập cho người

lao động, nâng cao đời sống cho mọi thành viên trong xã hội.

Thu hút FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bổ sung nguồn vốn cho phát

triển kinh tế - xã hội. Với các nước nghèo và đang phát triển, vốn là một yếu tố

13

đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế. Những quốc gia này luôn lâm vào

tình trạng thiếu vốn đầu tư, hoạt động sản xuất và đầu tư ở những nước này như

là một “vòng đói nghèo luẩn quẩn” (Paul A. Samuelson). Để phá vỡ vòng luẩn

quẩn ấy, các nước nghèo và đang phát triển phải tạo ra “một cú huých lớn”, mà

biện pháp hữu hiệu là tăng vốn cho đầu tư, huy động các nguồn lực để phát

triển nền kinh tế để tạo ra tăng trưởng kinh tế dẫn đến thu nhập tăng

Thứ hai, thu hút FDI sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, con đường tất yếu có thể

tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn (9-10%) là tăng cường đầu tư nhằm

tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ [33]. Đầu tư trực

tiếp nước ngoài sẽ góp phần giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa

các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng nghèo

đói. Phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa lý, kinh tế, chính

trị,… Những quốc gia đang thu hút FDI thường là những quốc gia đang phát

triển, trong khi đó những quốc gia đang đầu tư là những quốc gia phát triển. Vì

vậy, khi đầu tư vào những quốc gia đang phát tiển, vốn FDI sẽ tập trung vào

những ngành công nghệ, kỹ thuật, dịch vụ. Điều này tạo điều kiện cho các quốc

gia đang phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang nông nghiệp

công nghệ cao hoặc công nghiệp, dịch vụ. Cơ cấu kinh tế của những quốc gia

này sẽ có sự chuyển dịch mạnh mẽ.

Thứ ba, thu hút vốn FDI sẽ làm tăng cường khả năng khoa học công nghệ

của quốc gia

Các quốc gia đi đầu tư thường có sự phát triển mạnh mẽ về khoa học công

nghệ. Thông qua FDI, các công ty (chủ yếu là các công ty đa quốc gia) sẽ

chuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc từ nước khác sang nước nhận đầu

tư. Nhờ sự chuyển giao này mà các nước chủ nhà nhận được những kỹ thuật

tiên tiến (trong đó có những công nghệ không thể mua được bằng quan hệ

14

thương mại đơn thuần) cùng với nó là kinh nghiệm quản lý, đội ngũ lao động

được đào tạo, rèn luyện về nhiều mặt (trình độ kỹ thuật, phương pháp làm việc,

kỷ luật lao động,…).

Chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI là một trong những kênh chủ

yếu, có tính đột phá để nâng cao năng lực công nghệ của Việt Nam. Chuyển

giao công nghệ qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn đi kèm với đào

tạo nhân lực vận hành, quản lý và nhờ học qua làm (learning by doing), nhờ đó

đã hình thành được đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật có trình độ, tay nghề

khá cao.

1.1.1.3. Đặc điểm của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Thu hút vốn FDI có một số đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, được thực thi thông qua nhiều biện pháp, giải pháp khác nhau

Để có thể thu hút được FDI đòi hỏi các quốc gia hay các địa phương phải

xây dựng và áp dụng nhiều biện pháp và giải pháp khác nhau. Các quốc gia và

địa phương phải xây dựng nhiều chính sách thu hút để tạo môi trường đầu tư

hấp dẫn cho các nhà ĐTNN. Thu hút FDI là hoạt động có chủ đích của các quốc

gia hay địa phương. Trong quá trình thu hút FDI đòi hỏi các quốc gia hoặc địa

phương phải xây dựng nhiều chương trình, chính sách khác nhau nhằm tạo ra

sự hấp dẫn đối với các NĐTNN.

Thứ hai, thu hút vốn FDI phụ thuộc vào các yếu tố nước ngoài

Khi thu hút FDI, các chính sách của chính phủ nước nhận đầu tư có tác

động hạn chế do phải tương tác với chính sách của nước đầu tư, phải phù hợp

với các cam kết trong các tổ chức hợp tác quốc tế, phụ thuộc vào chiến lược di

chuyển vốn của các công ty đa quốc gia, chính sách cạnh tranh thu hút FDI của

các nước nhận đầu tư khác. Việc thu hút FDI phụ thuộc vào mối quan hệ giữa

nước đầu tư và nước nhận đầu tư. Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phải

phù hợp với định hướng, điều kiện của các NĐTNN.

15

Thứ ba, thu hút vốn FDI có sự khác biệt nhất định với khuyến khích đầu

tư trong nước

Trước hết, thu hút FDI mang tính đối ngoại. Bởi vì, việc thu hút FDI có

thành công hay không không chỉ phụ thuộc vào môi trường đầu tư có thuận lợi

và hấp dẫn hay không, mà còn phụ thuộc vào quan hệ đối ngoại của nước nhận

đầu tư với nước đầu tư và các nước liên minh với nước đầu tư. Nếu nước nhận

đầu tư bị nước đầu tư cấm vận thì các nhà đầu tư của nước đầu tư, thậm chí các

nhà đầu tư của các nước phụ thuộc vào nước đầu tư, sẽ không thể chuyển vốn

đến nước nhận đầu tư. Vì thế, để thu hút FDI, các nước nhận đầu tư phải điều

chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng tạo quan hệ tốt với nước khác.

1.1.2. Chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.2.1. Khái niệm về chính sách và chính sách thu hút vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài

Chính sách là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu khoa học

và trong thực tiễn. Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về

thuật ngữ này.

Theo James Anderson “Chính sách là một quá trình hành động có mục

đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc

giải quyết vấn đề” [18].

Theo Peter Boothroyd “Chính sách là những quyết định, quy định của

Nhà nước (tức là cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương) được cụ thể

hóa thành các chương trình, dự án cùng các nguồn lực, vật lực, các thể thức,

quy trình hay cơ chế thực thi nhằm tác động vào đối tượng có liên quan, thay

đổi trạng thái của đối tượng theo hướng mà Nhà nước mong muốn” [18]. Có

thể thấy cả J.Anderson và P.Bothroyd đều cho rằng chính sách không chỉ là quá

trình hành động, quyết định của một chủ thể mà còn là kết quả của nhiều quyết

định được ban hành bởi nhiều chủ thể.

16

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể

để thực thi đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực thi trong một thời gian

nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương

hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính

trị, kinh tế, văn hóa…” [36, tr. 475].

Trong xã hội chính sách có thể do nhiều chủ thể khác nhau xây dựng, trong

đó thường chia thành hai nhóm: chính sách công và chính sách tư. Chính sách

công là chính sách do chủ thể là nhà nước ban hành và giải quyết các vấn đề

chung của cộng đồng, thường không hướng đến mục tiêu lợi nhuận mà giải

quyết các vấn đề phát sinh trong xã hội.

Theo Nguyễn Hữu Hải định nghĩa: “Chính sách công là những hành động

ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được

thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [14,

tr. 14]

Như vậy, có thể hiểu chính sách là một tập hợp các quyết định có liên quan

với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết

một vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định.

Để có thể định hướng và quản lý đời sống kinh tế - xã hội thì đòi hỏi phải

xây dựng nhiều chính sách khác nhau trên các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã

hội. Chính sách thu hút FDI là một chính sách quan trọng trong lĩnh vực kinh

tế. Chính sách thu hút FDI được ban hành nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn

FDI để tận dụng hết các nguồn lực trong nước như tài nguyên, đất đai, lao động,

phục vụ cho việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế vĩ mô của quốc gia hay địa

phương bất kỳ.

Chính sách thu hút FDI có thể hiểu là một hệ thống các quyết định, phương

án, giải pháp mà Nhà nước áp dụng, để điều chỉnh các hoạt động thu hút FDI

vào các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc gia hay địa phương trong một thời

17

kỳ nhất định, nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Chính sách thu hút FDI bao gồm một hệ thống các quyết định thích hợp

mà Nhà nước áp dụng, để điều chỉnh các hoạt động thu hút và sử dụng FDI vào

các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc gia trong một thời kỳ nhất định, nhằm

đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô đã định hướng trong chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội của quốc gia đó [33]

Như vậy, có thể hiểu chính sách thu hút FDI là tổng thể các mục tiêu, biện

pháp được các cơ quan nhà nước thực thi nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp

của các nhà đầu tư nước ngoài vào phát triển kinh tế - xã hội trong nước.

Chính sách thu hút FDI là một bộ phận của chính sách phát triển kinh tế -

xã hội.

1.1.2.2. Nội dung của chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

a. Mục tiêu của chính sách

Bất kỳ chính sách nào cũng hướng đến đạt được một số mục tiêu nhất

định. Đối với chính sách thu hút vốn FDI là thu hút vốn, công nghệ, kinh

nghiệm quản lý của nước ngoài, đặc biệt là các nước phát triển để thúc đẩy quá

trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia nhận đầu tư, khai thác có hiệu

quả tài nguyên thiên nhiên, tạo việc làm cho người lao động và mở rộng xuất

khẩu. Hoạt động thu hút FDI hướng đến chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo ra môi

trường đầu tư hấp dẫn, rõ ràng, thông thoáng, bình đẳng và có khả năng cạnh

tranh với các nước khác trong khu vực. Chính sách thu hút FDI hướng đến tranh

thủ các nguồn lực đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài nhằm đảm bảo nguồn

lực phát triển kinh tế - xã hội trong nước. Đồng thời, chính sách này cũng hướng

nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam. Ngoài ra, chính sách

thu hút FDI cũng hướng đến thiết lập mối quan hệ hợp giữa Việt Nam với các

nước trong khu vực và trên thế giới.

b. Biện pháp của chính sách

18

Để thu hút được đầu tư nước ngoài đòi hỏi các quốc gia phải xây dựng các

chương trình, biện pháp cụ thể. Nội dung chính sách thu hút trực tiếp nước

ngoài là tổng thể các chương trình, biện pháp mà nhà nước xây dựng nhằm thu

hút FDI. Chính sách thu hút FDI có thể kể đến là chính sách về thuế, chính sách

về hỗ trợ thủ tục hành chính, chính sách hỗ trợ lao động, chính sách đất đai,

chính sách phát triển cơ sở hạ tầng, hoạt động XTĐT trực tiếp nước ngoài.

Để thực thi các nội dung chính sách này đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải

tiến hành thực thi nhằm xúc tiến đầu tư. Có thể nói xúc tiến đầu tư chính là các

biện pháp, giải pháp để thực thi chính sách thu hút FDI.

Một là, các biện pháp về thuế và hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp

Các khuyến khích tài chính như: ưu đãi về tỷ suất thuế mà các doanh

nghiệp FDI phải nộp cho ngân sách nhà nước, thời gian miễn thuế kể từ khi

doanh nghiệp kinh doanh có lợi nhuận. Sau khi chịu thuế này các doanh nghiệp

có thể được giảm thuế trong một thời gian nào đó. Ngoài ra, chính sách khuyến

khích về thuế còn bao gồm việc thu hẹp đối tượng chịu thuế, cho phép khấu trừ

các chi phí hợp lý trong thuế thu nhập doanh nghiệp, cho phép chuyển lỗ, khấu

hao nhanh. Các doanh nghiệp thuộc địa bàn đặc biệt như khu chế xuất, khu

công nghiệp, khu công nghệ cao, khu vực khó khăn đang được khuyến khích

đầu tư được ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân,... Các

doanh nghiệp FDI được trả lại một phần hoặc toàn bộ thuế lợi tức đã nộp nếu

khoản lợi nhuận đó dùng để tái đầu tư. Để thúc đẩy sản xuất, doanh nghiệp FDI

được giảm hoặc miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc thiết bị dùng cho dự án

xuất khẩu; miễn thuế nhập khẩu, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các

ngành đang được khuyến khích phát triển, các dự án nghiên cứu phát triển và

đào tạo tuyển dụng lao động.

Ngoài ra, chính sách tài chính còn thể hiện qua việc cho phép tiếp cận các

nguồn lực tài chính như quỹ hỗ trợ phát triển, vay tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đào

19

tạo và chuyển giao công nghệ.

* Chính sách tiền tệ và vốn liên quan đến đầu tư nước ngoài

Chính sách tiền tệ gồm: quản lý các công cụ điều hành tiền tệ như tỷ lệ dự

trữ bắt buộc, lãi suất và tỷ giá hối đoái của một quốc gia.

Chính sách tỷ giá liên quan đến các giao dịch ngoại hối hay việc đảm bảo

cân đối ngoại tệ cho các doanh nghiệp FDI hoặc các dự án quan trọng mà nguồn

thu chủ yếu từ đồng tiền nội tệ; việc bảo lãnh hoặc đảm bảo chuyển vốn ra nước

ngoài; các quy định liên quan đến việc mở tài khoản ngoại tệ và sử dụng ngoại

tệ của các doanh nghiệp FDI.

Hai là, Biện pháp về đất đai

Biện pháp này nhằm xác định quyền của các nhà đầu tư nước ngoài trong

- Thời hạn thuê, giá cả thuê đất.

- Miễn giảm tiền thuê đất.

- Vấn đề về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất.

quan hệ về sở hữu, sử dụng đất đai gồm:

Biện pháp về đất đai còn liên quan đến việc cho phép nhà đầu tư nước

ngoài được mua, bán và sở hữu bất động sản, kinh doanh bất động sản đến đâu

như: xây dựng nhà để bán, cho thuê; đầu tư phát triển các khu đô thị, khu vui

chơi, giải trí; kinh doanh cơ sở hạ tầng các Khu công nghiệp, Khu chế xuất,

Khu công nghiệp cao,... Chính sách đất đai đi liền với các chính sách quản lý

kinh doanh các bất động sản này.

Ba là, biện pháp hỗ trợ về lao động

Thông thường chính sách lao động thường quy định việc các nhà đầu tư

ưu tiên tuyển dụng lao động ở nước sở tại, đặc biệt là lao động ở địa phương

đặt trụ sở của doanh nghiệp. Những quy định về việc các đơn vị được phép

tuyên dụng lao động, tư vấn đầu tư cho doanh nghiệp FDI. Chính sách lao động

quy định những ngành nghề cần thiết sử dụng lao động nước ngoài.

20

Bốn là, Biện pháp hỗ trợ về thủ tục hành chính về môi trường đầu tư

Hoạt động FDI liên quan rất nhiều đến thủ tục hành chính. Trong quá trình

cấp phép đầu tư cũng như khi dự án đi vào hoạt động thì các nhà đầu tư nước

ngoài phải thực thi rất nhiều thủ tục hành chính khác nhau. Đó là các quy định

về thủ tục hành chính liên quan đến các nhà đầu tư như: Thủ tục xin cấp giấy

chứng nhận đầu tư; các quy định về quản lý đối với hoạt động của các nhà đầu

tư nước ngoài trước và sau khi được cấp giấy phép. Do đó Nhà nước sẽ có chính

sách hỗ trợ cho các nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình thực thi các thủ tục

hành chính Quy định về thủ tục hành chính đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh các chính sách thường được các nước áp dụng ở trên, tuỳ vào

mỗi quốc gia còn có các chính sách hỗ trợ khác nhằm thu hút FDI thông qua

các công cụ phi thuế quan liên quan trong xuất nhập khẩu. Các chính sách về

ưu đãi phi tài chính như ưu đãi trong sử dụng cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội,…

Thứ năm, Biện pháp xúc tiến đầu tư

Công tác xúc tiến đầu tư được xem là biện pháp hữu hiệu trong thu hút

FDI. Chính phủ xác định cần tăng cường XTĐT đối với các tập đoàn lớn, đa

quốc gia; đồng thời, chú trọng XTĐT đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc

biệt là trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ. Đồng thời, coi trọng XTĐT tại chỗ,

theo đó, cần tăng cường hỗ trợ các dự án đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư

để các dự án này triển khai hoạt động một cách thuận lợi, có hiệu quả; tăng

cường đối thoại với các nhà đầu tư giải quyết kịp thời những kiến nghị hợp lý

của doanh nghiệp FDI nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Xem việc XTĐT

tại chỗ là kênh quan trọng và thông qua các nhà đầu tư đã thành công tại Việt

Nam để trình bày về kinh nghiệm đầu tư tại Việt Nam và giới thiệu về môi

trường đầu tư tại Việt Nam.

1.2. Thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.1. Khái niệm thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

21

Để chính sách nói chung và chính sách thu hút FDI có thể thực thi và đạt

được mục tiêu đề ra thì đòi hỏi phải tổ chức thực thi chính sách. Tổ chức thực

thi chính sách công là một bước trong chu trình chính sách công. Đây là giai

đoạn tổ chức thực thi các giải pháp chính sách đã được lựa chọn và kiểm tra

việc thực thi. Đây là giai đoạn quyết định sự thành bại của chính sách.

Hiện nay có nhiều định nghĩa về thực thi chính sách công, có thể kể đến

như:

Thực thi chính sách là quá trình biến chính sách thành những kết quả trên

thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong BMNN, nhằm hiện thực hoá

những mục tiêu mà chính sách đã đề ra.

Thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào đời sống

XH thông qua việc ban hành các quy định, thủ tục, chương trình hoặc dự án và

thực thi chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách [16].

Thực thi chính sách công là quá trình thực thi các chương trình hoặc các

chính sách, nó biểu thị việc chuyển các kế hoạch vào thực tế.

Theo tài liệu bồi dưỡng của Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử thì thực

thi chính sách công đưa ra là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể theo

các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách công một

cách hiệu quả.

Thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách vào thực tế nhằm

hiện thực hóa mục tiêu chính sách. Đây là giai đoạn tổ chức thực thi các giải

pháp chính sách đã lựa chọn và theo dõi, giám sát, kiểm tra việc thực thi. Có

thể khẳng định giai đoạn này có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của một

chính sách công.

Trên cơ sở các định nghĩa này chúng ta có thể rút ra một điểm chung về

thực thi chính sách công:

Thứ nhất: Thực thi chính sách công là một khâu trong chu trình chính sách.

22

Thứ hai: Đó là quá trình hiện thực hóa các mục tiêu chính sách.

Thứ ba: Thực thi chính sách công được thực thi thông qua nhiều hoạt động

khác nhau.

Như vậy, có thể hiểu thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hoá

cách ứng xử của chủ thể (trong chính sách) thành (những hoạt động, hành vi cụ

thể) hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng.

Để chính sách thu hút FDI đi vào thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội cũng

như đạt được mục tiêu đề ra đòi hỏi các chủ thể phải tiến hành nhiều biện pháp

để thực thi chính sách này.

Thực thi chính sách thu hút FDI là quả trình đưa các chính sách thu hút

FDI vào thực tiễn đời sổng xã hội nhằm thu hút nguồn vốn FDI phục vụ phát

triển kinh tế - xã hội của quốc gia nói chung và của từng địa phương nói riêng

[33]

Như vậy, thực thi chính sách thu hút vốn FDI là quá trình đưa chính sách

thu hút vốn FDI vào thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội thông qua việc ban hành

các kế hoạch, chương trình, dự án và tổ chức thực thi chúng nhằm thúc đẩy

quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài vào phát

triển kinh tế - xã hội trong nước.

1.2.2. Vai trò

Thực thi chính sách nói chung và thực thi chính sách thu hút vốn FDI có

vai trò vô cùng quan trọng nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách.

Thứ nhất, thực thi chính sách thu hút vốn FDI góp phần thú đẩy quá trình

thu hút FDI vào Việt Nam và các đia phương

Thực thi chính sách công là giai đoạn biến ý đồ của chính sách thành hiện

thực. Chính sách thu hút FDI thể hiện ý chí và thái độ của nhà nước về vấn đề

đầu tư trực tiếp nước ngoài, do đó việc thực thi chính sách thu hút FDI là quá

trình biến ý đồ của nhà nước trong lĩnh vực này vào thực tiễn đời sống xã hội.

23

Thực thi chính sách thu hút FDI là cơ sở để cải thiện môi trường đầu tư, thu hút

được nguồn lực phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

hay đất nước.

Các mục tiêu của chính sách thu hút FDI chỉ có thể đạt được thông qua

quá trình thực thi chính sách, bởi vì thực thi chính sách công bao gồm các hoạt

động có tổ chức được chính phủ thực thi hướng tới đạt được mục tiêu đã tuyên

bố trong chính sách. Trong quá trình thực thi chính sách thu hút FDI, các cơ

quan nhà nước phải thiết lập các chương trình, dự án, quy định để biến những

mục tiêu chính sách thực thi thực.

Thứ hai, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Một là, Thực thi chính sách thu hút FDI giúp Nhà nước giải quyết có hiệu

quả những khó khăn về vốn cho công nghiệp hoá.

Đối với các nước nghèo và các nước đang phát triển, vốn được xem là yếu

tố cơ bản, là điều kiện khởi đầu quan trọng để thoát khỏi đói nghèo và phát triển

kinh tế. Giải pháp của các nước đang phát triển lúc này là tìm đến với các nguồn

đầu tư quốc tế. Trong số các nguồn đầu tư quốc tế thì FDI là nguồn vốn được

đánh giá có hiệu quả nhất đối với giai đoạn đầu tiến hành CNH của các nước.

Do đó, để thu hút được nguồn vốn FDI, nhà nước ban hành các chính sách thu

hút FDI. Việc thực thi chính sách thu hút FDI hiệu quả sẽ giúp giúp Nhà nước

giải quyết được những khó khăn về vốn cho quá trình CNH và phát triển kinh

tế - xã hội đất nước.

Hai là, thực thi chính sách thu hút FDI giúp nâng cao trình độ khoa học

công nghệ.

Thực thi chính sách thu hút FDI nhằm kêu gọi nhà đầu tư nước ngoài đầu

tư vào các dự án. Thông qua các dự án này, nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp

nhận được những kỹ thuật mới, những công nghê tiên tiến, góp phấn cải thiện

đáng kể cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế nói

24

chung. Đồng thời, tạo ra các điều kiện kinh tế kỹ thuật cho việc thực thi cuộc

cải biến cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng

công nghiệp và dịch vụ.

Ba là, thực thi chính sách thu hút FDI giúp giải quyết vấn đề lao động và

việc làm.

Thông qua việc thực thi các dự án đầu tư FDI, có thể làm đội ngũ cán bộ

của nước nhận đầu tư qua việc tham gia vào hoạt động của liên doanh mà trưởng

thành hơn về năng lực quản lý phù hợp với nền sản xuất hiện đại; hình thành

một lực lượng công nhân kỹ thuật lành nghề; tăng nguồn thu cho ngân sách,...

1.2.3. Chủ thể thực thi

Để một chính sách có thể đi vào thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội thì đòi

hỏi phải có sự tham gia và phối hợp của nhiều chủ thể khác nhau. Trong quá

trình thực thi chính sách thu hút FDI cũng phải có sự tham gia của nhiều chủ

thể. Các chủ thể này được chia thành nhiều nhóm khác nhau, có thể kể đến như:

- Các chủ thể tổ chức triển khai thực thi: Chủ thể tổ chức triển khai thực

thi chính sách thu hút đầu tư trực tiếp ngoài là các cơ quan nhà nước từ Trung

ương đến địa phương, bao gồm: Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài

chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, HĐND, UBND các

cấp và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND.

- Các chủ thể tham gia phối hợp thực thi chính sách: Các tổ chức chính

trị, các tổ chức chính trị -xã hội, các tổ chức xã hội. Để chính sách có thể đi vào

thực tiễn thì đòi hỏi phải có sự tham gia phối hợp của các tổ chức trong xã hội

đặc biệt là các tổ chức chính trị - xã hội như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn

Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Tổng

Liên đoàn Lao động, Hội Liên hiệp Phụ nữ.

- Đối tượng thụ hưởng chính sách và các đối tượng bị tác động: Bao

gồm các doanh nghiệp trong nước liên doanh với nước ngoài, các tổ chức cá

25

nhân trong xã hội.

Như vậy, chủ thể thực thi chính sách thu hút FDI ở nước ta bao gồm:

Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương các cấp; các tổ

chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, các hội, hiệp hội nghề nghiệp và kinh

doanh, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, người dân,...

1.2.4. Quy trình thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài trên địa bàn cấp tỉnh

1.2.4.1. Ban hành văn bản, xây dựng các kế hoạch, chương trình triển khai

thực thi chính sách

Thực thi chính sách thu hút FDI là quá trình phức tạp, diễn ra trong một

thời gian dài, vì thế cần được lập kế hoạch, lên chương trình để các cơ quan

nhà nước triển khai thực hiện một cách chủ động. Ngoài ra để chỉ đạo cũng như

tổ chức thực thi chính sách thu hút FDI thì đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải

ban hành các văn bản cũng như xây dựng các kế hoạch, chương trình triển khai

thực thi chính sách này. Các văn bản này là cơ sở để chỉ đạo cũng như định

hướng cho quá trình triển khai thực thi chính sách thu hút FDI.

Căn cứ vào các chính sách và văn bản chỉ đạo của cấp trên và tình hình

thực tế tại địa phương, các cơ quan cấp dưới chỉ đạo các đơn vị trực thuộc có

trách nhiệm tham mưu và xây dựng kế hoạch thực thi chính sách thu hút FDI.

Kế hoạch thực thi chính sách thu hút FDI là văn bản thể hiện mục tiêu thu

hút FDI và các phương thức, các giải pháp tương ứng để đạt được mục tiêu đó

trong một khoảng thời gian nhất định.

Xây dựng kế hoạch thực thi chính sách thu hút FDI là hoạt động của

CQNN có thẩm quyền nhằm triển khai các văn bản về việc thực thi chính sách

thu hút FDI trên phạm vi quản lý hành chính nhà nước bằng quyết định thuộc

thẩm quyền. Căn cứ để xây dựng kế hoạch là các văn bản pháp lý hoặc kết quả

thực thi chính sách thu hút FDI.

26

Mục đích của việc xây dựng kế hoạch thực thi thu hút FDI là nhằm hệ

thống hóa các chỉ tiêu, xác định mục tiêu từ đó xây dựng lộ trình triển khai

chính sách vào thực tiễn một cách khoa học, hợp lý vừa đảm bảo việc thực thi

chính sách thu hút FDI có hiệu quả, vừa đảm bảo việc sử dụng hợp lý các nguồn

lực, tránh việc lãng phí, thất thoát trong quá trình thực thi.

Trong kế hoạch cần phải nêu rõ và làm nổi bật các nội dung sau: Kế hoạch

về tổ chức điều hành; kế hoạch về huy động các nguồn lực; kế hoạch về công

tác tuyên truyền, phổ biến chính sách; kế hoạch về lộ trình và thời gian thực

thi; kế hoạch về công tác kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách; kế hoạch về

trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của cá nhân, tổ chức tham gia và các biện

pháp khen thưởng, kỷ luật.

1.2.4.2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách thu hút FDI là một hoạt động

quan trọng và có ý nghĩa rất lớn, không chỉ ở giai đoạn đầu mà là cả quá trình

và diễn ra với tần suất thường xuyên, liên tục nhằm nâng cao sự hiểu biết nhất

định về các nội dung của chính sách thu hút FDI.

Việc phổ biến, tuyền truyền chính sách thu hút FDI được các cơ quan nhà

nước tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như: trên các phương tiện thông

tin đại chúng, đài phát thanh, các tờ báo, tạp san của địa phương; tổ chức các

hội nghị, cuộc họp, tập huấn tuyên truyền chính sách,... Tuy nhiên, tùy vào từng

hoàn cảnh, mục đích mà các cơ quan nhà nước sẽ lựa chọn hình thức tuyên

truyền, phổ biến sao cho thích hợp nhất vừa đạt được mục tiêu đề ra, vừa đảm

bảo tiết kiệm, tránh lãng phí.

Mục đích của công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách là giúp cho các

chủ thể và đối tượng của chính sách hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính

sách, cũng như tính đúng đắn của chính sách; giúp cho mỗi cán bộ, công chức

nhận thức được đầy đủ quy mô, tầm quan trọng của chính sách đối với đời sống

27

xã hội và chủ động tìm kiếm các giải pháp thực thi chính sách một cách hiệu

quả nhất.

Nội dung của công tác này là tập trung vào phổ biến nội dung của chính

sách thu hút FDI đến các chủ thể thực thi chính sách .

Sau khi kế hoạch thực thi được thông qua, các cơ quan trong bộ máy nhà

nước tiến hành tổ chức triển khai thực hiện theo kế hoạch. Việc trước tiên cần

làm trong quá trình này là truyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện

chính sách. Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà

nước và các đối tượng thực thi chính sách. Phổ biến, tuyên truyền chính sách

tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi hiểu

rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong

điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách. Qua đó để họ

tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước. Đồng thời, còn giúp cho

mỗi CBCC có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất,

trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm

kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển

khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao.

Việc làm này cần được tăng cường đầu tư về trình độ chuyên môn, phẩm

chất chính trị, về trang thiết bị kỹ thuật,… nhằm nâng cao chất lượng tuyên

truyền vận động. Trong thực tế có không ít cơ quan, địa phương do thiếu năng

lực tuyên truyền, vận động đã làm cho chính sách bị biến dạng, làm cho lòng

tin của dân chúng vào nhà nước bị giảm sút.

Chủ thể bao gồm đội ngũ CBCC trong bộ máy cơ quan nhà nước được

giao nhiệm vụ. Chủ thể phải được đào tạo phải có đủ trình độ, kinh nghiệm, kỹ

năng trong việc tuyên truyền, phổ biến chính sách công.

Đối tượng được phổ biến, tuyên truyền chính sách công bao gồm:

28

- Những doanh nghiệp, người dân mà chính sách thu hút FDI tác động trực

tiếp, đây là đối tượng thụ hưởng chính sách công;

- Những công dân, tổ chức bị tác động gián tiếp bởi chính sách thu hút

FDI, đây là những nhân tố góp phần làm cho chính sách công đạt hiệu quả;

- Những đối tượng tham gia thực thi, triển khai chính sách;

- Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài.

1.2.4.3. Phân công, phối hợp thực thi chính sách

Chính sách thu hút FDI được thực thi trên phạm vi không gian rộng lớn,

tối thiểu cũng là một địa phương vì thế số lượng các đối tượng cá nhân và tổ

chức tham gia thực thi chính sách là rất lớn. Số lượng tham gia bao gồm các

đối tượng tác động của chính sách công, công dân thực hiện và bộ máy tổ chức

thực thi của nhà nước. Bên cạnh đó, các hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu

của chính sách công diễn ra cũng hết sức phong phú, phức tạp theo không gian

và thời gian. Chúng đan xen nhau, thúc đẩy hay kìm hãm nhau theo quy luật,...

Bởi vậy, muốn tổ chức thực thi chính sách thu hút FDI có hiệu quả phải tiến

hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền

địa phương, các yếu tố tham gia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng

đến thực hiện mục tiêu chính sách.

Việc thành công của chính sách thu hút FDI do nhiều yếu tố cấu thành,

nhân tố cấu thành. Do đó, để cho việc thực thi chính sách thực thi được đúng

mục tiêu quản lý thì cần phải phối hợp các yếu tố, bộ phận, đối tượng tác động

và liên quan.

Hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách

một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần

nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách.

Việc phân công, phối hợp phải đảm bảo phát huy được tính năng động,

sáng tạo của các yếu tố cấu thành và tác động.

29

Nội dung của công tác tổ chức bộ máy và phân công, phối hợp thực thi

chính sách tập trung vào kiện toàn, sắp xếp bộ máy sao cho phù hợp nhất; sắp

xếp hợp lý khoa học nguồn nhân lực thực thi chính sách thu hút FDI; cũng như

xây dựng được cơ chế phối hợp, hợp tác giữa cơ quan nhà nước, các tổ chức xã

hội với các cá nhân, tổ chức trong xã hội nhằm mục đích xây dựng cơ chế phối

hợp linh hoạt và gắn với trách nhiệm trong quá thực thi chính sách thu hút FDI.

Do đó, muốn tổ chức thực thi chính sách thu hút FDI có hiệu quả thì bộ

máy phải được tổ chức một cách khoa học dựa trên sự phân công, phối hợp hợp

lý, đồng bộ, nhịp nhàng và thống nhất giữa các cơ quan nhà nước, các cấp chính

quyền địa phương nhằm khai thác được năng lực, sở trường cũng như các điều

kiện vật chất khác vào quá trình thực thi chính sách.

1.2.4.4. Tổ chức thực thi các nội dung chính sách

Khi các điều kiện để thực thi chính sách thu hút FDI đã được đảm bảo thì

các cơ quan nhà nước cần phải tiến hành các hoạt động nhằm triển khai thực

thi chính sách. Hoạt động triển khai thực thi chính sách này thực chất là các

chủ thể thực thi các nội dung của chính sách cũng như thực thi các hoạt động

xúc tiến đầu tư.

Căn cứ vào nội dung của chính sách thu hút FDI của Trung ương và địa

phương, các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức tiến hành đưa các chính sách

vào đời sống.

Hoạt động tổ chức thực thi bao gồm:

- Thực thi hoạt động hỗ trợ về tài chính;

- Thực thi hỗ trợ về đất đai;

- Thực thi hỗ trợ về thủ tục hành chính;

- Thực thi hỗ trợ về lao động;

- Thực thi các hoạt động xúc tiến đầu tư.

1.2.4.5. Đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách

30

Việc thực thi chính sách thu hút FDI do nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân

tham gia và các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở mỗi nơi là

không không giống nhau cũng như năng lực, kiến thức, chuyên môn của cán

bộ, công chức không đồng đều, do vậy cơ quan nhà nước có liên quan phải tiến

hành theo dõi kiểm tra, đôn đốc thường xuyên việc thực thi chính sách.

Kiểm tra, giám sát là một trong những khâu quan trọng của quá trình tổ

chức chính sách thu hút FDI. Kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo chính sách thu

hút FDI được thực thi đúng thẩm quyền, phù hợp với quy định của pháp luật,

đảm bảo quyền và lợi ích của người dân, nhà đầu tư và lợi ích của Nhà nước.

Thông qua công tác kiểm tra, giám sát sẽ kịp thời phát hiện những sai sót, sai

phạm trong thu hút FDI

Các cơ quan nhà nước chỉ đạo các cơ quan cấp dưới phối hợp với một số

cơ quan có liên quan tiến hành kiểm tra thường xuyên hoặc đột xuất nhằm nắm

bắt được tình hình thực thi chính sách từ đó đánh giá khách quan về những

điểm mạnh, điểm yếu trong quá trình thực thi; giúp phát hiện những thiếu sót

trong công tác xây dựng kế hoạch nhờ đó kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính

sách góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách thu hút FDI và có biện

pháp xử lý các hành vi vi phạm theo chức năng, quyền hạn đã được phân công.

1.2.4.6. Đánh giá, tổng kết việc thực thi chính sách

Đánh giá và tổng kết rút kinh nghiệm việc thực thi chính sách thu hút FDI

là nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu được trong quá trình thực thi chính sách

nhằm đánh giá tác động của chính sách khi triển khai vào cuộc sống, tuy nhiên

việc đánh giá này không chỉ dừng lại ở việc xét xem, kết luận ở một khâu, một

bước mà là cả quá trình chính sách từ khi hoạch định đến thực thi.

Mục đích của việc đánh giá chính sách thu hút FDI: Không chỉ là thu thập

được kết quả; vấn đề quan trọng hơn là từ kết quả đó cơ quan nhà nước sẽ có

cách nhìn nhận một cách toàn diện hơn cả về mục tiêu và đưa ra quyết định tiếp

31

tục thực thi chính sách hay thay thế một chính sách khác tốt hơn, hiệu quả và

khả thi hơn.

Công tác sơ kết, tổng kết thực thi chính sách thu hút FDI là hoạt động của

các cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm thực thi chính sách thu hút FDI thông qua

việc đánh giá và rút ra những kết luận trong quá trình tổ chức thực thi chính

sách theo định kỳ. Việc sơ kết, tổng kết thực thi chính sách thu hút FDI được

tiến hành theo trình tự từ cơ quan cấp dưới lên cơ quan cấp trên thông qua các

văn bản báo cáo.

Trong báo cáo sơ kết, tổng kết cần thể hiện rõ quá trình triển khai thực thi,

những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân và những đề xuất, kiến

nghị về những vướng mắc trong tổ chức thực thi. Từ đó, cơ quan, tổ chức chịu

trách nhiệm thực thi chính sách thu hút FDI sẽ báo cáo, giải trình kết quả thực

thi chính sách trước cơ quan hoạch định chính sách và nhân dân.

Quá trình tổ chức thực thi chính sách thu hút FDI ở mỗi địa phương, mỗi

cơ quan, đơn vị tùy thuộc vào khả năng, điều kiện, hoàn cảnh sẽ có những đặc

điểm khác nhau vì vậy công tác sơ kết, tổng kết cũng khác nhau, tuy nhiên cần

tuân thủ theo một số yêu cầu sau:

Một, công tác sơ kết, tổng kết phải được tiến hành theo những kế hoạch

cụ thể, không được tùy tiện, qua loa;

Hai, cần giữ thái độ trung lập, tránh định kiến cá nhân trong quá trình thực

thi báo cáo sơ kết, tổng kết để đảm bảo kết quả thật sự ý nghĩa và khách quan;

Ba, công tác sơ kết, tổng kết cần tiết kiệm, chú ý đến hiệu quả kinh tế trong

quá trình thực thi sao cho kết quả, tác dụng tương xứng với chi phí bỏ ra.

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư

trực tiếp nước ngoài

1.3.1. Các yếu tố thuộc về bản thân chính sách

32

Thực thi chính sách là một khâu trong chu trình chính sách, đây là bước

tiếp theo sau hoạch định chính sách [16]. Do đó thực thi chính sách chịu tác

động bởi kết quả của hoạch định chính sách. Do đó thực thi chính sách thu hút

FDI bị tác động rất lớn bởi chất lượng của chính sách này. Nếu chính sách đúng

với những cơ chế, biện pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn thì quá trình tổ

chức triển khai thực thi sẽ ít gặp phải những khó khăn, trở ngại. Ngược lại chính

sách được hoạt định và ban hành chưa phù hợp sẽ gây khó khăn cho quá trình

thực thi, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả của quá trình thực thi

chính sách.

Sự hoàn thiện cũng như sự phù hợp chính sách là điều kiện thuận lợi để

thực thi chính sách. Các yếu tố thuộc về bản thân chính sách bao gồm:

Một là, vấn đề chính sách

Toàn bộ quy trình chính sách hướng đến giải quyết vấn đề chính sách. Nên

có thể nói vấn đề chính sách ảnh hưởng đến toàn bộ quy trình chính sách trong

đó có tổ chức thực thi chính sách. Nếu vấn đề chính sách càng đơn giản thì việc

triển khai thực thi chính sách càng đơn giản và dễ dàng. Ngược lại vấn đề chính

sách càng phức tạp thì đòi hỏi quá trình thực thi chính sách gặp nhiều khó khăn,

khả năng đạt được mục tiêu chính sách sẽ bị ảnh hưởng nhiều. Đối với thu hút

FDI là vấn đề tương đối phức tạp, nó liên quan đến hoạt động đối ngoại, liên

quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó, quá trình triển khai thực thi chính

sách này chắc chắn sẽ có những khó khăn nhất định.

Hai là, mục tiêu của chính sách

Mục tiêu chính sách là yếu tố cấu thành nên chính sách. Việc triển khai

thực thi chính sách thu hýt FDI phải dựa trên mục tiêu của chính sách này. Do

đó, tính cụ thể rõ ràng và tính phù hợp của mục tiêu chính sách sẽ tác động đến

quá trình thực thi chính sách tính rõ ràng, cụ thể của mục tiêu chính sách là yêu

tố then chốt để thực thi chính sách có hiệu quả, là căn cứ cho hoạt động thực

33

thi chính sách của chủ thể thực thi chính sách, cũng là cơ sở để tiến hành đánh

giá và giám sát quá trình thực thi chính sách. Mục tiêu chính sách càng cụ thể,

rõ ràng và càng phù hợp thì quá trình triển khai thực thi chính sách sẽ dễ dàng

và hiệu quả. Mục tiêu chính sách cụ thể, rõ ràng cũng giúp cho các chủ thể dễ

dàng tiếp nhận chính sách. Ngược lại mục tiêu chính sách thu hút FDI không

phù hợp và không cụ thể sẽ gây ra những lúng túng, rào cản nhất định cho quá

trình triển khai thực thi.

Ba là, nội dung của chính sách

Tính đúng đắn của chính sách là tiền đề cơ bản cho việc thực thi có hiệu

quả chính sách [12]. Chính sách đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan và

sự phát triển xã hội, thể hiện lợi ích công, thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang

lại lợi ích thiết thực cho đối tượng chính sách thì sẽ có được sự thừa nhận, ủng

hộ của đối tượng chính sách, người thực thi và xã hội, từ đó góp phần nâng cao

hiệu quả thực thi. Mục độ cụ thể, khoa học và toàn diện của các chương trình,

biện pháp để thu hút FDI sẽ ảnh hướng đến mức độ nhận thức của các chủ thể

cũng như ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực thi các nội dung chính sách.

1.3.2. Các yếu tố thuộc về chủ thể thực thi chính sách

1.3.2.1. Tổ chức bộ máy và năng lực của đội ngũ cán bộ công chức

Đây là yếu tố có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực thi chính sách

thu hút FDI; được xem là thước đo đánh giá năng lực của đội ngũ cán bộ, công

chức bao gồm nhiều tiêu chí phản ánh về đạo đức công vụ, về năng lực thiết kế,

hoạch định, về năng lực chỉ đạo điều hành, năng lực phân tích, dự báo để có thể

chủ động ứng phó được với những tình huống phát sinh trong quá trình tổ chức

thực thi chính sách,… Nếu như năng lực của cán bộ, công chức bị hạn chế, không

đáp ứng được yêu cầu sẽ dẫn đến công tác tham mưu và ban hành kế hoạch

không bám sát vào thực tế, gây nên tình trạng lãng phí các nguồn lực, gây thất

thoát, giảm hiệu quả thậm chí làm sai lệch đi tính đúng đắn của chính sách.

34

Bất cứ chính sách nào cũng cần dựa vào chủ thể thực thi chính sách để

thực thi. Việc người thực thi chính sách am hiểu, nắm vững chính sách, đầu tư

cho việc thực thi chính sách, có tinh thần đổi mới, sáng tạo, trách nhiệm với

công việc và có trình độ quản lý tương đối cao là điều kiện quan trọng để thực

thi chính sách có hiệu quả.

1.3.2.2. Nhận thức và sự tham gia của các doanh nghiệp và người dân

Đối tượng chính sách ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực thi chính sách

thu hút FDI. Chính sách có đạt được mục đích đề ra hay không, không chỉ phụ

thuộc vào chất lượng chính sách và năng lực của chủ thể thực thi chính sách,

mà còn phụ thuộc vào thái độ của đối tượng chính sách. Theo đó, nếu đối tượng

chính sách tiếp nhận và ủng hộ chính sách thì việc thực thi chính sách sẽ thuận

lợi. Còn nếu đối tượng chính sách không tiếp nhận chính sách, không ủng hộ

chính sách thì việc thực thi sẽ khó khăn, từ đó làm cho chi phí thực thi chính

sách tăng lên. Việc chỉ có một bộ phận đối tượng chính sách tiếp nhận chính

sách cũng làm cho quá trình thực thi chính sách trở nên khó khăn hơn. Do đó,

sự tiếp nhận và ủng hộ của người dân, doanh nghiệp là một trong những nhân

tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách công thu hút FDI. Mức

độ chủ động trong thực thi hoạt động xúc tiến đầu tư của các doanh nghiệp sẽ

ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc thu hút FDI.

1.3.2.3. Các nguồn lực

Nguồn lực cho thực thi chính sách thu hút FDI có đầy đủ hay không cũng

là một yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách. Ngay cả khi chính

sách được ban hành rất rõ ràng, cụ thể, nhưng nếu cơ quan thực thi chính sách

thiếu nguồn lực cần thiết, thì kết quả của việc thực thi chính sách đó cũng không

thể đạt được mục tiêu chính sách như mong muốn. Vì thế, bảo đảm nguồn lực

cho thực thi chính sách là yếu tố không thể thiếu để thực thi chính sách có hiệu

quả. Nguồn lực cho thực thi chính sách bao gồm: nguồn lực kinh phí, nguồn

35

lực con người (nguồn nhân lực), nguồn lực thông tin, nguồn lực thiết bị, đất

đai,… sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực thi chính sách.

1.3.3. Các yếu thuộc về môi trường

Một nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách thu hút

FDI đó là môi trường chính sách bao gồm môi trường kinh tế, chính trị, văn

hóa và xã hội. Việc thực thi bất cứ chính sách nào cũng đều nằm trong sự ảnh

hưởng và chế ước của môi trường. Môi trường thích hợp sẽ có lợi cho việc thực

thi chính sách. Ngược lại môi trường kinh tế - xã hội phức tạp làm cho quá trình

triển khai thực thi chính sách thu hút FDI có những khó khăn nhất định. Nếu

môi trường có sự thay đổi và biến động lớn buộc các chủ thể trong quá trình

thực thi phải đưa ra các biện pháp điều chỉnh. Điều này tốn kém nhiều thời gian,

công sức, nguồn lực và tiềm ẩn nguy cơ sai sót.

36

Tiểu kết chương 1

Với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, việc di chuyển vốn giữa các quốc

gia là tất yếu với mục đích kiếm tìm lợi nhuận. Việt Nam nói chung và các địa

phương nói riêng đang cần rất nhiều vốn cho đầu tư phát triển do tích luỹ nội bộ

trong nền kinh tế còn thấp nên việc hút vốn từ bên ngoài là tất yếu. Một trong

những nguồn vốn hết sức quan trọng để bổ sung và thúc đẩy phát triển kinh tế

địa phương đó là vốn FDI. Do đó việc thực thi chính sách thu hút FDI có ý nghĩa

rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.

Thông qua quá trình nghiên cứu, Chương 1 của luận văn đã đạt được một

số kết quả cơ bản sau đây:

Thứ nhất, đã phân tích và làm rõ khái niệm, đặc điểm của vốn FDI, thu hút

vốn FDI và chính sách thu hút vốn FDI

Thứ hai, đã phân tích thực thi chính sách thu hút FDI, trong đó làm rõ khái

niệm, sự cần thiết và nội dung. Trong đó đã chỉ rõ quy trình thực thi chính sách

thu hút FDI gồm các bước: Ban hành văn bản, xây dựng các kế hoạch, chương

trình triển khai thực thi chính sách; Phổ biến, tuyên truyền chính sách; Phân

công, phối hợp thực thi chính sách; Tổ chức thực thi các nội dung chính sách;

Đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách; Đánh giá, tổng kết việc

thực thi chính sách;

Thứ ba, Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách

thu hút FDI, bao gồm 3 nhóm: Yếu tố thuộc về bản thân chính sách; Các yếu tố

thuộc về chủ thể thực thi chính sách; Các yếu tố thuộc về môi trường.

Những kết quả nghiên cứu của Chương 1 là tiền đề để luận văn tiếp cận thực

trạng thực thi chính sách thu hút vốn FDI ở tỉnh Vĩnh Long trong Chương 2

37

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH VĨNH LONG

2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Vĩnh Long và

ảnh hưởng của các điều kiện đó đến việc thực thi chính sách thu hút vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long

2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Vĩnh Long

Vĩnh Long là tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ đồng bằng Sông Cửu Long

thuộc vùng giữa sông Tiền - sông Hậu có diện tích tự nhiên là 1479,1 km2, cách

Thành phố Hồ Chí Minh 136 km. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Tiền Giang

và Bến Tre, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng, phía Đông

và Đông Nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp[1].

Tổng diện tích tự nhiên 152.017,6 ha, đứng thứ 12/13 các tỉnh, thành vùng

Đồng bằng sông Cửu Long (lớn hơn thành phố Cần Thơ). Diện tích đất nông

nghiêp 118.918,5 ha, chiếm 78,23%; đất phi nông nghiệp 33.050,5 ha, chiếm

21,74%. Trong đất nông nghiệp, đất canh tác cây hàng năm 72.565,4 ha, chiếm

47,73% diện tích tự nhiên; trong đó chủ yếu là đất lúa (71.069,2 ha); đất trồng

cây lâu năm 45.372,4 ha, chiếm 29,85%; mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 942,2

ha, chiếm 0,62%[1]

Vĩnh Long nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, có

chế độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào. Nhiệt độ trung bình cả năm từ 27

- 280C. Ở Vĩnh Long so với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, yếu tố khí hậu

cơ bản qua các năm khá thuận lợi cho nông nghiệp theo hướng đa canh, thâm

canh tăng vụ. Tuy nhiên, do lượng mưa tập trung vào mùa mưa cùng với lũ tạo

nên những khu vực bị ngập úng ở phía bắc Quốc lộ 1A và những nơi có địa

38

hình thấp trũng làm hạn chế và gây thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp ảnh

hưởng đến đời sống cộng đồng và môi trường khu vực.

Vĩnh Long nằm trên trục quốc lộ 1A chạy ngang qua Tỉnh và quốc lộ 53, 54,

80 nối liền với Tỉnh Trà Vinh, Đồng Tháp và Quốc lộ 57 nối liền với Bến Tre.

Tính đến ngày 01/4/2019, dân số toàn tỉnh Vĩnh Long đạt 1.022.791 người

(xếp thứ 10 trong tổng số 13 tỉnh thành Đồng bằng sông Cửu Long), mật độ

dân số đạt 687 người/km². Trên địa bàn tỉnh có 11 dân tộc, đông nhất là dân tộc

Chăm; thứ nhì là dân tộc Hoa; các dân tộc thiểu số khác như: Dân tộc Mường,

dân tộc Thái; dân tộc Mông; dân tộc Thổ; dân tộc Tày; dân tộc Nùng; dân tộc

Dao; dân tộc Ê-đê;các dân tộc khác chiếm khoảng 0,02% [8].

Tỉnh Vĩnh Long có 8 đơn vị hành chính, gồm 6 huyện (Bình Tân, Long

Hồ, Mang Thít, Tam Bình, Trà Ôn, Vũng Liêm); thị xã Bình Minh và Thành

phố Vĩnh Long với 109 xã, phường, thị trấn ( 94 xã, 5 thị trấn và 10 phường).

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh năm 2019 đạt 34.908 tỷ đồng (theo giá

so sánh 2010), tăng 6,22% so với năm 2018, vượt mục tiêu kế hoạch đề ra 0,02

điểm %. Trong đó, khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 2,0%; khu vực công

nghiệp, xây dựng. Ước tổng giá trị gia tăng các ngành dịch vụ năm 2019 đạt

16.109 tỷ đồng, tăng 6,80% so với năm 2018, đạt 94,4% kế hoạch[41]

2.1.2. Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội đến việc

thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long

Những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Long đã tạo ra

những thuận lợi nhất định để thực thi chính sách thu hút FDI. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, với điều kiện thuận lợi về nông nghiệp tạo điều kiện đẩy mạnh

xúc tiến đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp.

Là một trong những địa phương với nhiều ưu đãi của thiên nhiên, tạo điều

kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Điều này cũng tạo ra cơ hội có thể

thuận lợi cho hoạt động xúc tiến FDI vào lĩnh vực nông nghiệp cũng như nông

39

nghiệp công nghệ cao. Vĩnh Long là một địa phương hấp dẫn đối với các nhà

đầu tư nước ngoài lựa chọn đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp

Thứ hai, thuận lợi trong việc xúc tiến FDI trong lĩnh vực du lịch

Là một địa phương vùng sông nước, với nhiều cù lao và vườn trái cây, có

hệ thống kênh rạch tương đối chằng chịt. Đây là những điều kiện để phát triển

du lịch. Do đó tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh có thể xây dựng các chương

trình, chính sách thu hút FDI vào lĩnh vực du lịch. Với lợi thế gần thành phố.

Hồ Chí Minh cũng là điều kiện thuận lợi trong hoạt động xúc tiến đầu tư nước

ngoài vào lĩnh vực du lịch.

Thứ ba, với đặc điểm phần đông là dân địa phương nên việc tuyên truyền,

vận động và sự tham gia trong thực thi chính sách tương đối dễ dàng.

Vĩnh Long là một trong những tỉnh có tỷ lệ dân nhập cư tương đối thấp,

phần đông vẫn là dân địa phương, sống và gắn bó lâu năm. Vì vậy CQNN,

CBCC dễ dàng nắm bắt thông tin, tạo điều kiện trong quá trình tuyên truyền

vận động người dân cũng như thu hút người dân tham gia thực thi chính sách

thu hút FDI.

Thứ tư, lợi thế về thị trường lao động để hỗ trợ cho nhà đầu tư nước ngoài

Nguồn lao động dồi dào cùng với nguồn nguyên liệu phong phú phục vụ

sản xuất, chế biến, nhất là các sản phẩm từ nông nghiệp giúp cho các doanh

nghiệp tỉnh nhà giảm bớt chi phí đầu tư, giảm giá thành sản phẩm, tăng khả

năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, góp phần mang lại lợi nhuận cao cho

doanh nghiệp. Trên địa bàn tỉnh có đến hàng chục trường, cơ sở đào tạo với các

cấp bậc như Đại học, Cao đẳng, Trung cấp nghề với quy mô đào tạo hàng ngàn

sinh viên mỗi năm (trên 40.000 lao động năm 2017), đáp ứng tốt nhu cầu nhân

sự cho nhà đầu tư [46].

Vĩnh Long được xem là một trong những trung tâm đào tạo nhân lực ở

Đồng bằng sông Cửu Long, Hiện tại, tỉnh có 03 trường đại học, 05 cao đẳng,

40

01 trường trung cấp chuyên nghiệp và 17 cơ sở đào tạo nghề, đủ năng lực đào

tạo lao động cho các nhà đầu tư.

Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi thì điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

của tỉnh cũng tạo ra những khó khăn nhất định cho tỉnh trong thực thi chính

sách thu hút FDI, có thể kể đến như:

Thứ nhất, khó khăn về giao thông tạo ra bất lợi trong thu hút đầu tư

Vĩnh Long là tỉnh cách thành phố Hồ Chí Minh là 136 km. Hiện nay

phương diện di chuyển chủ yếu là xe ô tô, Vĩnh Long không có sân bay. Với

bất lợi về vị trí địa lý và giao thông như vậy sẽ gây ra khó khăn nhất định trong

hoạt động đẩy mạnh xúc tiến đầu tư nước ngoài của Vĩnh Long [46].

Thứ hai, khó khăn trong đa dạng hóa các nguồn vốn FDI trong quá trình

thu hút

Hiện nay với lợi thế về đất đai và khí hậu thì Vĩnh Long chủ yếu phát triển

về nông nghiệp và du dịch. Hoạt động thu hút FDI cũng chủ yếu về lĩnh vực

nước ngoài. Trong khi đó các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ khác

thì việc thu hút gặp nhiều khó khăn do điều kiện kinh tế - xã hội chưa cho phép.

Ngoài ra cơ sở hạ tầng, nhân lực chưa đáp ứng tốt gây trở ngại trong quá trình

đa dạng hóa nguồn đầu tư.

Thứ ba, khó khăn từ sự cạnh tranh của các địa phương khác

Với lợi thế nằm ở khu vực trung tâm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long

thì việc thu hút FDI sẽ có nhiều thuận lợi. Tuy nhiên, hiện sự vươn lên của các

tỉnh ở khu vực này cũng tạo ra cạnh tranh rất lớn với Vĩnh Long. Nằm cạnh các

địa phương như Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp có sự cạnh tranh gay gắt trong

thu hút FDI [46]. Điều này vô hình dung cũng tạo ra sức ép rất lớn cho các cấp

chính quyền ở Vĩnh Long khi triển khai thực thi chính sách thu hút FDI.

Như vậy, những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tạo ra những thời cơ,

thuận lợi nhất định nhưng đồng thời cũng tạo ra những khó khăn, thách thức

41

đối với Vĩnh Long trong quá trình thực thi chính sách thu hút FDI. Các cấp

chính quyền ở Vĩnh Long cần nghiên cứu để tận dụng những lợi thế đồng thời

có những biện pháp phù hợp để khắc phục những khó khăn, thách thức khi triển

khai thực thi chính sách thu hút FDI.

2.2. Khái quát về tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh

Vĩnh Long

Nhận thức được tầm quan trọng của vốn FDI nên tỉnh Vĩnh Long luôn chú

trọng công tác thu hút FDI. Tỉnh Vĩnh Long xem đây là một trong những trọng

tâm trong phát triển kinh tế - xã hội. Việc tổ chức thu hút đầu tư đặc biệt là FDI

đã được tỉnh quan tâm và thực thi từ rất sớm. Hoạt động xúc tiến đầu tư được

quan tâm và chú trọng.

FDI được thực thi chủ yếu năm 2004 trở về sau. Đặc biệt, giai đoạn 2015

-2020 là giai đoạn có sự phát triển mạnh về thu hút FDI. Thu hút FDI của tỉnh

đã tăng lên về quy mô các dự án cũng như nguồn vốn đầu tư. Tỉnh đã tổ chức

nhiều hoạt động xúc tiến đầu tư, trực tiếp làm việc với các NĐTNN. Việc FDI

được thực thi trong các khu công nghiệp cũng như ngoài khu công nghiệp. Nhờ

vậy vốn FDI qua các năm của tỉnh đều tăng lên đáng kể.

Một số lĩnh vực thu hút FDI trọng điểm của tỉnh Vĩnh Long như:

- Chế biến và bảo quản nông sản, lâm sản, thủy sản.

- Công nghiệp chế biến thực phẩm, rượu bia, nước giải khát và đồ uống khác.

- Xây dựng, vật liệu xây dựng.

- Dệt, may, da giày.

42

Bảng 2.1: Thống kê tình hình thu hút FDI giai đoạn 2015 -2019

Số vốn Năm Số dự án Ghi chú (Triệu USD)

12,82 5 2015

138,2 8 2016

55,33 3 2017

158,96 10 2018

121,18 16 2019

Nguồn: Thống kê của sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Long

Việc thu hút các NĐTNN được tỉnh ngày càng quan tâm và mở rộng.

Hiện nay tỉnh đã thu hút được các NĐTNN từ nhiều quốc gia và khu vực khác

nhau. Một số NĐTNN truyền thống của tỉnh như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài

Loan, Nhật Bản, Hà Lan. Ngoài ra còn có một số quốc gia cũng đang mở rộng

vào đầu tư ở Việt Nam như Singapore, Ấn Độ, Malaixia,…

Kết quả FDI đã tạo ra những chuyển biến nhất định cho phát triển kinh tế

- xã hội của địa phương. Tuy nhiên, việc thu hút FDI của tỉnh cũng chưa tương

xứng với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh. Số lượt tiếp xúc đầu tư thì nhiều

nhưng số dự án triển khai còn khá khiêm tốn. Ngoài ra, số vốn FDI vào tỉnh

trong thời gian qua cũng tương đối hạn chế.

Tính đến tháng 12/2019 toàn tỉnh Vĩnh Long còn 66 dự án còn hiệu lực

có: 30 dự án đang hoạt động và 24 dự án đang triển khai, 12 dự án chưa triển

khai, trong đó Trung Quốc: 05 dự án; Hàn Quốc: 19 dự án; Thái Lan: 02 dự án;

Pháp: 01 dự án; Hồng Kông: 01 dự án; Anh: 01 dự án; Đài Loan 10: dự án;

Malaysia: 01 dự án; Samoa: 02 dự án; Tây Ban Nha: 01 dự án; Hoa Kỳ: 02 dự

án; Bristis island: 02 dự án; Úc: 01 dự án; Island of Nevis: 01 dự án; Hà Lan:

04 dự án; Philippines: 01 dự án; Singapore: 04 dự án; Nhật Bản: 07 dự án [32].

43

2.3. Phân tích thực trạng thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long

2.3.1. Về ban hành văn bản, xây dựng các kế hoạch, chương trình triển

khai thực thi chính sách

Công tác xây dựng kế hoạch thực thi chính sách thu hút FDI là một trong

những công việc quan trọng nhằm đưa chính sách đi vào thực tiễn đời sống. Nhận

thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tỉnh Vĩnh Long luôn chú trọng đến

công tác xây dựng kế hoạch nhằm triển khai chính sách vào thực tế có hiệu quả.

Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Quyết

định của Thủ tướng Chính phủ, các Thông tư của các Bộ, ban ngành; Đặc biệt,

là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh Vĩnh Long đã tiến hành xây dựng kế

hoạch tổ chức triển khai thực thi chính sách. UBND tỉnh đã giao nhiệm vụ Sở

Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu, xây dựng kế hoạch thực thi chính sách thu hút

FDI trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, một số nội dung liên quan đến các Sở, Ban,

Ngành khác thì UBND tỉnh cũng giao nhiệm vụ cho các đơn vị này chủ trì, xây

dựng các kế hoạch để trình UBND tỉnh ban hành triển khai thực hiện.

Ngoài ra, UBND tỉnh cũng đã chú trọng xây dựng các kế hoạch để triển

khai những chính sách của tỉnh và trung ương. Sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ

IX, nhiệm kỳ 2010-2015, UBND tỉnh đã tham mưu cho Tỉnh ủy ban hành

Chương trình hành động số 03-CTr/TU, ngày 07/10/2011 về thu hút vốn đầu tư

giai đoạn 2011 - 2015. Trên cơ sở thực thi khâu đột phá của Nghị quyết Đại hội

Đảng bộ tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020 về “thu hút đầu tư, phát triển

công nghiệp chế biến, đẩy mạnh thương mại, dịch vụ, góp phần tiêu thụ sản

phẩm”. UBND tỉnh đã tham mưu cho Tỉnh ủy ban hành các chương trình cũng

như trực tiếp xây dựng các kế hoạch, chương trình, cụ thể như Kế hoạch số 230-

KH/TU, ngày 16/3/2020 của Tỉnh ủy về thực thi Nghị quyết 50-NQ/TW, ngày

20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng

44

cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030; Chương trình

hành động số 03-CTr/TU, ngày 07/10/2011 về thu hút vốn đầu tư giai đoạn 2016

- 2020. Tham mưu Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 15-CT/TU ngày 03/11/2017 về

tổ chức Hội nghị Xúc tiến Đầu tư tỉnh Vĩnh Long năm 2018.

Bên cạnh đó, UBND tỉnh đã tham mưu cho HĐND tỉnh ban hành một số

Nghị quyết, cụ thể như: Nghị quyết số 97/2018/NQ-HĐND ngày 01/02/2018

của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long ban hành quy định chính sách hỗ trợ

đầu tư của tỉnh Vĩnh Long; Nghị quyết số 173/2019/NQ-HĐND, ngày

31/05/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc ban hành chính sách

hỗ trợ phát triển du lịch đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long; Nghị quyết

số 153/2018/NQ-HĐND, ngày 31/12/2018 quy định mức hỗ trợ về giá thuê mặt

bằng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp;

Nghị quyết số 220/2019/NQ-HĐND, ngày 06/12/2019 phê duyệt chính sách hỗ

trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; Nghị quyết số

216/2019/NQ-HĐND, ngày 06/12/2019 quy định mức hỗ trợ đầu tư phát triển

kết cấu hạ tầng đối với Hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Tuy nhiên, hiện nay các văn bản của HĐND về định hướng thu hút đầu

tư trực tiếp nói chung chủ yếu xây dựng chung trong thu hút đầu tư chứ chưa

thực sự gắn với thu hút FDI.

Trên cơ sở, văn bản của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã chỉ đạo

Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Sở, Ban, ngành tỉnh tham mưu

để ban hành các chương trình, kế hoạch triển khai thực thi, cụ thể như: Ban

hành Quyết định số 2202/QĐ-UBND ngày 16/10/2017 của UBND tỉnh về phê

duyệt danh mục dự án mời gọi đầu tư sử dụng vốn ngoài ngân sách trên địa bàn

tỉnh Vĩnh Long, giai đoạn 2017-2020 và Quyết định số 1881/QĐ-UBND của

UBND tỉnh về việc phê duyệt danh mục dự án đầu tư có sử dụng các khu đất,

quỹ đất có giá trị thương mại cao cần lựa chọn nhà đầu tư để xây dựng công

45

trình thuộc đô thị, khu đô thị mới; nhà ở thương mại; công trình thương mại và

dịch vụ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long; Quyết định số 2715/QĐ-UBND về việc

Ban hành Quy chế phối hợp thực thi cơ chế một cửa liên thông trong đăng ký

doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh giúp giải quyết các thủ tục một cách nhanh chóng

và thuận lợi cho nhà đầu tư,…

Để vận dụng tốt Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ

về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 tỉnh cũng đã ban hành Quyết

định số 3177/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 về việc ban hành chương trình Khởi

nghiệp của tỉnh Vĩnh Long nhằm khơi dậy tinh thần sáng tạo trong kinh doanh

cho cá nhân, nhóm cá nhân có dự án khởi nghiệp, thành lập doanh nghiệp có

khả năng tăng trưởng nhanh, hiệu quả dựa trên tài sản trí tuệ, công nghệ, mô

hình kinh doanh mới trên địa bàn tỉnh.

Để chủ động triển khai Nghị quyết 19-2017/NQ-CP, tỉnh Vĩnh Long đã

ban hành kế hoạch số 18/KH-UBND ngày 09/5/2017 của UBND tỉnh về thực

thi Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 của Chính phủ về tiếp tục

thực thi những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh,

nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017 định hướng đến năm 2020

trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.

Để chỉ đạo cho công tác tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư, UBND tỉnh

cũng đã ban hành nhiều Quyết định, Kế hoạch như: Quyết định số 1865/QĐ-

UBND ngày 25/8/2017 về việc phê duyệt Kế hoạch tổ chức Hội nghị Xúc tiến

Đầu tư tỉnh Vĩnh Long năm 2018; Quyết định số 1544/QĐ-UBND, ngày

12/07/2017 về việc thành lập Ban Chỉ đạo Hội nghị Xúc tiến Đầu tư tỉnh Vĩnh

Long năm 2018

UBND tỉnh cũng đã ban hành nhiều văn quy định về chính sách hỗ trợ đầu

tư cũng như xúc tiến đầu tư như: Quyết định 2537/QĐ-UBND, ngày

24/12/2016 của UBND tỉnh về việc Phê duyệt chương trình phát triển tài sản

46

trí tuệ tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định 2202/QĐ-ỤBND,

ngày 16/10/2017 về Phê duyệt danh mục dự án mời gọi đầu tư sử dụng vốn

ngoài ngân sách trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, giai đoạn 2017-2020; Quyết định

1626/QĐ-UBND, ngày 19/06/2019 ban hành Danh mục các dự án mời gọi đầu

tư sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách, giai đoạn 2017-2019 và 2019-2020;

Quyết định số 02/2019/QĐ-UBND ngày 07/01/2019 về Ban hành Quy định nội

dung, mức hỗ trợ đầu tư áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt

trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh

Tỉnh đã chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư ban hành các kế hoạch để chỉ đạo

thực thi thu hút FDI. Đã xây dựng kế hoạch, chương trình, kịch bản chi tiết và

phân công công việc của từng Tiểu ban theo nhiệm vụ được phân công. Tỉnh

đã xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong việc thực thi

các biện pháp hỗ trợ nhà đầu tư đến tìm hiểu thực thi dự án đầu tư. Đồng thời,

xây dựng danh mục dự án mời gọi đầu tư từng thời kỳ, từng giai đoạn; phối

hợp với các Bộ, Ban, ngành Trung ương tham gia các hoạt động xúc tiến đầu

tư ngoài nước như: Hà Lan, Nhật Bản, Singapore,…

Tỉnh đã cụ thể hóa các quy định của Trung ương vào điều kiện thực tế của

địa phương; kịp thời ban hành quy định về trình tự, thời gian, quy chế phối hợp

trong giải quyết các thủ tục hành chính đối với các dự án đầu tư thuộc nguồn

vốn ngoài ngân sách nhà nước theo cơ chế “Một cửa”, “Một cửa liên thông”

nhằm giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư, doanh nghiệp trong

triển khai thực thi các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh.

Ngoài các chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư của Trung ương, UBND

tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ đầu tư riêng của tỉnh nhằm hỗ trợ một phần

kinh phí cho các nhà đầu tư khi triển khai thực thi dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh

như [31]:

1. Hỗ trợ kinh phí chuẩn bị đầu tư.

47

2. Hỗ trợ chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng (gồm đất đai và các tài sản,

vật kiến trúc trên đất).

3. Hỗ trợ kinh phí xây dựng nhà máy xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn.

4. Hỗ trợ về tín dụng.

5. Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật giao thông đối với các dự án ở

bên ngoài các khu công nghệ cao, khu công nghiệp, cụm công nghiệp.

6. Hỗ trợ đầu tư về kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghệ cao, khu công

nghiệp, cụm công nghiệp.

7. Hỗ trợ, đầu tư đối với dự án đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao;

vùng sản xuất rau an toàn theo quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt

(GAP); phát triển vùng nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến rau, củ,

quả; xây dựng cánh đồng sản xuất lúa chất lượng cao.

8. Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực.

9. Hỗ trợ chi phí quảng cáo.

10. Hỗ trợ kinh phí xúc tiến đầu tư.

11. Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ.

12. Hỗ trợ kinh phí vận động thu hút đầu tư.

Nhìn chung, nội dung của kế hoạch bám sát nội dung và mục tiêu của

chính sách; Tuy nhiên, tiến độ ban hành các kế hoạch, chương trình thực thi

chính sách thu hút FDI còn chậm và ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách.

Các văn bản chỉ đạo thực thi thu hút FDI chủ yếu ban hành chung với thu hút

đầu tư chưa được ban hành riêng, điều này cũng gây ra những khó khăn nhất

định trong quá trình thực thi chính sách này.

2.3.2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Công tác tuyên truyền và phổ biến chính sách thu hút FDI có vai trò quan

trọng trong việc giáo dục, trợ giúp pháp lý và nâng cao nhận thức, hiểu biết của

người dân, doanh nghiệp. Từ đó, giúp họ có thể nắm và hiểu được chủ trương,

48

đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để họ có thể yên tâm làm ăn sản

xuất, kinh doanh, tích cực và chủ động tham gia vào quá trình thực thi chính

sách thu hút FDI nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách đề ra.

UBND tỉnh đã chỉ đạo cho các Sở, Ban, ngành; Đặc biệt, là Sở Kế hoạch

và Đầu tư xây dựng kế hoạch truyền thông, nhằm tuyên truyền rộng rãi cho

công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung chính sách cũng như tuyên truyền,

phổ biến các hội nghị xúc tiến đầu tư đến các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân

dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước về tiềm năng, lợi thế của

tỉnh. Theo đó, sẽ có những bài viết, phóng sự, chuyên mục, tin tức về các nội

dung cần thông tin, đăng tải, phát sóng trên một số phương tiện thông tin đại

chúng như: Cổng Thông tin điện tử của UBND tỉnh, Đài Phát thanh và Truyền

hình Vĩnh Long và các tờ báo là đơn vị bảo trợ thông tin cho Hội nghị; duy trì

hoạt động, thường xuyên cập nhật thông tin, biên tập, đưa tin về sự kiện quan

trọng trên website của Hội nghị với tên miền: ivm.vinhlong.gov.vn

Hàng năm, in ấn trên 2.000 quyển Brochure, 200 USB, sổ tay bướm hướng

dẫn đầu tư gồm 4 thứ tiếng (Việt, Anh, Hàn, Nhật) và các tài liệu có liên quan

phục vụ cho các cuộc gặp gỡ, công tác của lãnh đạo tỉnh trong và ngoài nước

cũng như quãng bá thông tin và tài liệu giới thiệu các phương tiện thông tin đại

chúng, cổng thông tin của UBND tỉnh và các ngành.

Công tác tuyên truyền, phổ biến thực thi chính sách cũng được thực thi

lồng ghép vào hoạt động xúc tiến đầu tư. Thông qua công tác XTĐT đã giúp

cho các CQNN, CBCC, các doanh nghiệp cũng như các NĐTNN nhận thức

được tầm quan trọng cũng như trách nhiệm của mình trong việc thực thi chính

sách thu hút FDI. Công tác tuyên truyền, phổ biến phần nào đã giúp cho các cơ

quan, cá nhân hiểu biết đầy đủ hơn về chính sách cũng như việc tổ chức thực

thi chính sách.

49

2.3.3. Phân công, phối hợp thực thi chính sách

Quá trình thực thi chính sách thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long có

sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau. Trong việc thực thi một số nội dung

chính sách, tỉnh đã chủ động phân công, phối hợp cho các Sở, Ban, ngành và

UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh.

Để đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư trên địa bàn tỉnh, năm 2003 tỉnh

đã thành lập Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư (nay là Trung tâm xúc

tiến đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư và Trung tâm

xúc tiến thương mại thuộc Sở Công Thương) để chủ động trong việc tổ chức

các đoàn xúc tiến mời gọi đầu tư vào tỉnh

Trong quá trình thực thi chính sách thu hút FDI, UBND tỉnh Vĩnh Long

đã phân công cho các cơ quan, đơn vị thực thi các nhiệm vụ như sau:

- UBND tỉnh: là cơ quan chịu trách nhiệm toàn diện về chỉ đạo tổ chức thực

thi, bảo đảm chất lượng, hiệu quả các chính sách về thu hút đầu tư FDI trên địa

bàn tỉnh. UBND tỉnh có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch chỉ đạo cũng như tổ chức

triển khai thực thi các chính sách thu hút FDI cũng như kiểm tra, đánh giá thực

thi chính sách. UBND tỉnh sẽ phân công nhiệm vụ cho các sở ban ngành và địa

phương. Đồng thời, UBND tỉnh tham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND tỉnh ban hành

các văn bản chỉ đạo cũng như các chính sách thu hút trên địa bàn tỉnh.

- Sở Kế hoạch và Đầu tư: là đầu mối tham mưu cho UBND tỉnh trong triển

khai thực thi chính sách thu hút FDI. Trong đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư sẽ tổng

hợp, xây dựng dự thảo báo cáo thực trạng về tình hình xúc tiến đầu tư, hỗ trợ

và phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh và dự thảo kế hoạch triển khai hoạt

động xúc tiến đầu tư; nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, cơ chế, chính sách,

các giải pháp cụ thể trong công tác xúc tiến đầu tư, hỗ trợ và phát triển doanh

nghiệp của tỉnh; theo dõi, đôn đốc các địa phương triển khai các giải pháp,

nhiệm vụ nhằm thực thi công tác xúc tiến đầu tư, hỗ trợ và phát triển doanh

50

nghiệp của tỉnh; tham mưu, hướng dẫn các địa phương giải quyết những vướng

mắc, khó khăn phát sinh trong công tác xúc tiến đầu tư, hỗ trợ và phát triển

doanh nghiệp; phối hợp với các cơ quan trung ương, địa phương trong việc xúc

tiến đầu tư, phát triển doanh nghiệp và cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp

tỉnh. Phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức những chuyến khảo sát, kiểm

tra thực thi về công tác xúc tiến đầu tư, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp; Lập

dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí hoạt động xúc tiến hỗ trợ đầu

tư. Sở Kế hoạch và Đầu tư sẽ tham mưu UBND tỉnh các chính sách hỗ trợ FDI,

trực tiếp thực thi các thủ tục hành chính liên quan đến thu hút FDI. Đồng thời,

Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các Sở, Ban, Ngành có liên quan thẩm

định nội dung các chương trình, chính sách liên quan đến hỗ trợ các nhà đầu tư

nước ngoài.

Đồng thời, Trung tâm xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh Vĩnh

Long: Thực thi việc tham mưu Sở Kế hoach và Đầu tư xây dựng các cơ chế,

chính sách, các giải pháp về xúc tiến đầu tư, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp.

Thực thi các giải pháp để đổi mới phương thức, nâng cao hiệu quả hoạt động

của Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh làm tốt vai trò bảo vệ quyền lợi hợp pháp của

các doanh nghiệp và cầu nối giữa chính quyền với doanh nghiệp. Trực tiếp nắm

bắt tình hình hoạt động, các khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của các doanh

nghiệp, nhất là các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh để kiến nghị các cơ quan

có thẩm quyền giải quyết.

Sở Tài nguyên và Môi trường: tham gia xây dựng các cơ chế, chính sách,

các giải pháp về xúc tiến đầu tư, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp; chịu trách

nhiệm chỉ đạo việc đơn giản hóa, rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục hành

chính liên quan đến đất đai, môi trường và các công việc liên quan đến trách

nhiệm quản lý nhà nước của ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư,

các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động.

51

Sở Xây dựng: tham gia xây dựng các cơ chế, chính sách, các giải pháp về

xúc tiến đầu tư, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp; chịu trách nhiệm chỉ đạo

việc đơn giản hóa, rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục hành chính liên quan

đến quy hoạch, xây dựng và các công việc liên quan đến trách nhiệm QLNN

của ngành, tạo điều kiện thuận cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong quá

trình hoạt động.

Văn phòng UBND tỉnh: chỉ đạo Ban xúc tiến và hỗ trợ đầu tư (IPA) thẩm

định, giải quyết nhanh các thủ tục hành chính liên quan đến các dự án đầu tư

trực tiếp, các dự án đầu tư công, các việc liên quan đến doanh nghiệp thuộc

thẩm quyền giải quyết của UBND tỉnh; tổng hợp, kịp thời báo cáo UBND tỉnh

giải quyết các kiến nghị, khó khăn, vướng mắc của các nhà đầu tư, các doanh

nghiệp trong quá trình hoạt động.

Ban Quản lý các khu công nghiệp: tham gia xây dựng các cơ chế, chính

sách, các giải pháp về xúc tiến đầu tư, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp; chịu

trách nhiệm chỉ đạo thực thi và đề xuất việc đơn giản hóa, rút ngắn thời gian

giải quyết các thủ tục hành chính về đầu tư và các công việc liên quan đến trách

nhiệm quản lý nhà nước của Ban Quản lý các khu công nghiệp; chỉ đạo các

doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng các khu công nghiệp đầu tư hoàn chỉnh hạ

tầng trong khu công nghiệp theo quy hoạch, kế hoạch, cung ứng các dịch vụ,

tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp có dự án tại các

khu công nghiệp trong quá trình hoạt động. Theo dõi, tổng hợp các khó khăn,

vướng mắc trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp trong các khu công

nghiệp để chỉ đạo giải quyết hoặc kịp thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền

giải quyết. Phối hợp với các cơ quan liên quan trong việc xúc tiến đầu tư, phát

triển doanh nghiệp và cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

Phòng Kinh tế - Ngoại vụ, Văn phòng UBND tỉnh: là cơ quan đầu mối

của tỉnh phối hợp với các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc

52

hỗ trợ công tác xúc tiến đầu tư, quảng bá hình ảnh của tỉnh ở nước ngoài. Phối

hợp với các Sở, Ngành liên quan tham gia xây dựng cơ chế, chính sách thu hút

đầu tư FDI. Công tác lãnh sự,… (Lý do: Đặc thù tỉnh Vĩnh Long không đủ điều

kiện thành lập Sở Ngoại vụ. Đồng thời, do thực thi Chủ trương của Trung ương

và của tỉnh về việc tinh giản và sáp nhập các đơn vị nên Văn phòng UBND tỉnh

cũng thực thi việc sáp nhập Phòng Kinh tế ngành, Kinh tế Tổng hợp và Phòng

Ngoại vụ thành Phòng Kinh tế - Ngoại vụ).

Sở Nội vụ: là cơ quan tham mưu, giúp UBND tỉnh tham mưu về công

tác cải cách hành chính, đặc biệt là thủ tục hành chính; chủ trì, phối hợp với các

cơ quan liên quan tổ chức tuyên truyền, tập huấn về công tác CCHC đối với

CBCCVC nhất là số CBCCVC trực tiếp đảm nhiệm công tác CCHC toàn tỉnh;

tham mưu, giúp UBND tỉnh xây dựng và trình Tỉnh ủy ban hành văn bản chỉ

đạo về đẩy mạnh công tác CCHC; phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư xây

dựng kế hoạch nhằm cải thiện chỉ số PCI; chủ trì, phối hợp các cơ quan có liên

quan giúp Chủ tịch UBND tỉnh triển khai, theo dõi, đôn đốc, thanh tra, kiểm

tra, tổng hợp, báo cáo kết quả thực thi công tác CCHC làm cơ sở để cải thiện

môi trường kinh doanh. Ngoài ra, Sở Nội vụ cũng phối hợp với các đơn vị liên

quan để xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ CBCCVC làm công

tác QLNN về FDI cũng như thu hút đầu tư.

Các Sở, Ban, Ngành có liên quan tổng hợp kế hoạch triển khai thực thi các

chính sách thu hút đầu tư FDI theo từng giai đoạn và kế hoạch từng năm của

tỉnh vào kế hoạch chung của tỉnh, tham mưu UBND tỉnh trình các Bộ, Ngành,

Trung ương xem xét phân bổ kinh phí phí cho địa phương thực thi. Sở Tài chính

phối hợp với các đơn vị có liên quan để hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính,

thanh quyết toán theo quy định của cấp có thẩm quyền.

UBND các huyện, thị, thành phố: có trách nhiệm phối hợp với các cơ

quan liên quan trong việc tổ chức thực thi chính sách đó là trong công tác giải

53

phóng mặt bằng, đền bù đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư đến

đầu tư.

Ngoài ra, tỉnh còn phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội của địa

phương như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Tỉnh đoàn, Hội Liên hiệp phụ nữ

tỉnh, Hội Nông dân tỉnh,… tăng cường tuyên truyền, phổ biến cũng như triển

khai thực thi các nội dung của chính sách.

Cùng với sự phân công công việc, thì trong thực tiễn thực thi chính sách

thu hút FDI, UBND tỉnh cũng đã chỉ đạo các cơ quan phải phối hợp trong thực

thi các nội dung của chính sách. Sở Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp chặt chẽ

với các Sở, Ban, Ngành tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố và các tổ chức

chính trị - xã hội trong việc tham mưu xây dựng các chương trình, kế hoạch

cũng như tổ chức triển khai thực thi các nội dung của chính sách.

Tuy nhiên, trong quá trình phân công, phối hợp thực thi chính sách thu hút

FDI cũng tồn tại một số hạn chế nhất định. Mặc dù, UBND đã có sự phân công

tuy nhiên trong thực tế một số Sở, Ban, Ngành chưa thực sự chủ động trong

thực thi các nhiệm vụ được phân công. Trong một số trường hợp còn “khoán

trắng” cho Sở Kế hoạch và Đầu tư và Trung tâm Xúc tiến thương mại. Sự phối

hợp giữa các đơn vị còn chưa nhịp nhàng và đồng bộ.

2.3.4. Tổ chức thực thi các nội dung chính sách

Nhận thức được vai trò quan trọng của nguồn vốn FDI, hòa với xu thế

chung của đất nước, tỉnh Vĩnh Long trong những năm qua đã không ngừng nỗ

lực trong việc thu hút nguồn vốn FDI để phục vụ cho công cuộc phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh. Bên cạnh, việc chủ động triển khai thực thi hoạt động thu

hút đầu tư theo quy định của pháp luật, tỉnh đã ban hành các quyết định về

chính sách khuyến khích và hỗ trợ đầu tư của tỉnh Vĩnh Long.

54

Bên cạnh hỗ trợ nhà đầu tư trong việc triển khai thực thi Dự án, tỉnh có

chính sách khen thưởng cho các tổ chức, cá nhân trực tiếp trong công tác vận

động thu hút đầu tư.

Để thu hút được nhiều dự án, nhà đầu tư hơn, có chất lượng, phù hợp với

định hướng phát triển lâu dài của tỉnh, các doanh nghiệp đang hoạt động trên

địa bàn giữ được hiệu quả ổn định, có điều kiện mở rộng sản xuất - kinh doanh.

Để triển khai thực thi các nội dung của chính sách, tỉnh đã thực thi các biện

pháp sau đây:

- Thứ nhất, tiếp tục cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư kinh doanh, tập

trung vào cải cách hành chính. Tiếp tục rà soát, loại bỏ các thủ tục không cần

thiết, gây cản trở, phiền hà cho nhà đầu tư, doanh nghiệp và nâng cao năng lực,

chất lượng đội ngũ CBCC liên quan đến công tác này. Kịp thời nắm bắt, tháo

gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư đang hoạt động;

- Thứ hai, tranh thủ sự hỗ trợ của TW, các Trường, Viện, các chuyên gia,

các tổ chức có liên quan để xây dựng tốt hơn hình ảnh của địa phương trong

cách nhìn của nhà đầu tư, doanh nghiệp; có định hướng và cơ chế chính sách

tốt, nhất quán giữa phát triển kinh tế với các hoạt động xúc tiến đầu tư – thương

mại - du lịch (Trước mắt có thể tập trung vào tái cơ cấu nông nghiệp, thu hút

doanh nghiệp vào nông nghiệp, phát triển công nghiệp chế biến và du lịch);

tăng cường tiếp xúc, thu hút các nhà đầu tư có năng lực làm đầu tàu trong việc

thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn,…;

- Thứ ba, tổ chức thực thi có kết quả các nghị quyết, chương trình hành

động, đề án, chính sách,.. của tỉnh có liên quan đến hoạt động thu hút đầu tư,

nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và phát triển doanh nghiệp;

đồng thời sớm hoàn thiện, ban hành các cơ chế chính sách đang triển khai thực

thi như: sửa đổi bổ sung chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư; chương trình

khởi nghiệp,…;

55

Tỉnh đã ban hành các cơ chế chính sách, khuyến khích và hỗ trợ đầu tư

của tỉnh trên các lĩnh vực như: Nghị quyết số 97/2018/NQ-HĐND ngày

01/02/2018 của HĐND tỉnh quy định chính sách hỗ trợ đầu tư; Nghị quyết số

153/2018/NQ-HĐND, ngày 31/12/2018 Quy định mức hỗ trợ về giá thuê mặt

bằng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp;

Nghị quyết số 173/2019/NQ-HĐND ngày 31/5/2019 về chính sách hỗ trợ phát

triển du lịch đến năm 2030; Nghị quyết số 220/2019/NQ-HĐND ngày

06/12/2019 phê duyệt chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

nông nghiệp; Nghị quyết số 216/2019/NQ-HĐND ngày 06/12/2019 quy định

mức hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đối với Hợp tác xã nông nghiệp

trên địa bàn tỉnh; Kế hoạch số 230-KH/TU ngày 06/3/2020 của Tỉnh ủy về thực

thi Nghị quyết 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng

hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư

nước ngoài đến năm 2030 và hiện đang khẩn trương triển khai thực thi.

Ngoài ra, tỉnh cũng dự kiến sẽ tiếp tục ban hành các chính sách liên quan

đến Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; chính sách khuyến khích và hỗ trợ

đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 57/2018/NĐ-CP của

Chính phủ,... đã tác động tích cực, ngày càng có nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp

được tiếp cận và thụ hưởng các chính sách. Từ đó, có điều kiện phát triển, mở

rộng sản xuất kinh doanh.

Đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư trong

việc tiếp cận thông tin và rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục, giúp doanh

nghiệp triển khai nhanh dự án. Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh

nghiệp tỉnh triển khai thực thi dịch vụ tư vấn đăng ký doanh nghiệp và các hoạt

động dịch vụ tư vấn khác để hỗ trợ, giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi

phí thực thi các thủ tục đăng ký giấy phép kinh doanh, thành lập mới doanh

nghiệp. Đưa vào hoạt động Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh (từ tháng

56

4/2019), tạo bước đột phá trong cải cách hành chính, rút ngắn thời gian giải

quyết hồ sơ, thủ tục hành chính, tạo điều kiện tốt nhất cho người dân, doanh

nghiệp; ban hành Quy chế phối hợp trong giải quyết các thủ tục đối với các dự

án đầu tư nguồn vốn ngoài ngân sách theo cơ chế một cửa liên thông và thành

lập Ban Chỉ đạo các dự án đầu tư nguồn vốn ngoài ngân sách nhằm tham mưu

trong lĩnh vực cải cách thù tục hành chính, thúc đấy tiến độ triển khai thực thi

các dự án đầu tư.

Hằng năm, tỉnh cụ thể hóa các Nghị quyết của Chính phủ về cải thiện

môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, hỗ trợ và phát

triển doanh nghiệp đồng thời tổ chức các Hội nghị phân tích đánh giá, ban hành

các Chỉ thị, văn bản chỉ đạo, giao nhiệm vụ cụ thể cho các ngành, địa phương

trong thực thi cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Tính năng

động của lãnh đạo tỉnh tiếp tục được cải thiện thông qua các cuộc khảo sát, đối

thoại, gặp mặt và đề xuất trực tiếp của doanh nghiệp, kịp thời nắm bắt thông

tin và giải quyết khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp. Lãnh đạo, chỉ

đạo, cải thiện môi trường đầu tư, đây mạnh thực thi hiệu quả cải cách thủ tục

hành chính, tạo điều kiện để doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng, tiếp cận đất

đai dễ dàng. Tổ chức các cuộc gặp gỡ, đối thoại với doanh nghiệp (định kỳ 4

lần/năm), giúp lãnh đạo tỉnh nắm được các khó khăn, vướng mắc của doanh

nghiệp, kịp thời chỉ đạo giải quyết, hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động sản

xuất kinh doanh. Chỉ số (PCI) luôn duy trì ở nhóm dẫn đầu cả nước, góp phần

nâng cao vị thế, hình ảnh của tỉnh vả thu hút được nhiều dự án đầu tư, tạo động

lực cho phát triển kinh tế - xã hội.

Về thực thi các nội dung của chính sách:

Một là, Thực thi hỗ trợ tài chính

UBND tỉnh cũng đã triển khai thực thi tốt chính sách hỗ trợ tài chính cho

các NĐTNN như Đầu tư hỗ trợ 100% kinh phí điều tra cơ bản, khảo sát địa

57

hình, phân tích mẫu đất, mẫu nước, không khí để xác định các vùng sản xuất

tập trung thực thi các dự án sản xuất nông, lâm, thủy sản áp dụng VietGAP.

Mức kinh phí hỗ trợ theo các quy định hiện hành đối với từng lĩnh vực sản xuất;

Hỗ trợ không quá 50% tổng vốn đầu tư xây dựng, cải tạo: đường giao thông,

hệ thống thủy lợi, trạm bơm, điện hạ thế, hệ thống xử lý chất thải, hệ thống cấp

thoát nước của vùng sản xuất tập trung để phù hợp với yêu cầu kỹ thuật

VietGAP theo dự án được UBND tỉnh phê duyệt. Mức hỗ trợ tối đa không quá

02 tỷ đồng/dự án. Kinh phí hỗ trợ thực thi theo quy định quản lý đầu tư; Hỗ trợ

một lần 100% kinh phí: đào tạo, tập huấn cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, cán

bộ khuyến nông các cấp; dạy nghề cho lao động nông thôn áp dụng VietGAP

trong sản xuất, sơ chế sản phẩm an toàn; biên soạn, in ấn tài liệu, biểu mẫu phục

vụ các lớp đào tạo, tập huấn. Nội dung và mức hỗ trợ thực thi theo quy định

của các chương trình, dự án lồng ghép thực thi VietGAP; Hỗ trợ người sản xuất

một lần 100% kinh phí thuê tổ chức chứng nhận đánh giá để cấp Giấy chứng

nhận sản phẩm VietGAP. Mức hỗ trợ tối đa 200 triệu đồng/dự án; [39], [20].

Nội dung và mức hỗ trợ thực thi theo Nghị định số 83/2018/NĐ-CP ngày

24/5/2018 của Chính phủ về Khuyến nông và các văn bản hướng dẫn thực thi

Nghị định này.

Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 02 năm và giảm 50% không quá 04 năm

tiếp theo đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực thi dự án đầu tư mới tại địa

bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; Thu nhập của doanh nghiệp từ thực

thi dự án đầu tư mới, bao gồm: sản xuất thép cao cấp; sản xuất sản phẩm tiết

kiệm năng lượng; sản xuất máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất nông nghiệp,

lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp; sản xuất thiết bị tưới tiêu; sản xuất, tinh

chế thức ăn gia súc, gia cầm, thuỷ sản; phát triển ngành nghề truyền thống.

Hai là, thực thi hỗ trợ về đất đai

Tỉnh đã thực thi miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước kể từ ngày dự án hoàn

58

thành đưa vào hoạt động 03 năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến

khích đầu tư; tại cơ sở sản xuất kinh doanh mới của tổ chức kinh tế thực thi di

dời theo quy hoạch, di dời do ô nhiễm môi trường; 07 năm đối với dự án đầu

tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; 11 năm đối với dự án đầu

tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; dự án đầu tư thuộc

Danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư; dự án thuộc Danh mục lĩnh

vực khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội

khó khăn; 15 năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư

được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn [19].

Ngoài ra, dự án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn được miễn tiền sử

dụng đất đối với các dự án đặc biệt ưu đãi đầu tư; giảm 70% tiền sử dụng đất

đối với các dự án ưu đãi đầu tư và giảm 50% tiền sử dụng đất đối với dự án

khuyến khích đầu tư [19].

Căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hàng năm, HĐND tỉnh quyết

định phân bổ nguồn kinh phí để thực thi việc bồi thường, giải phóng mặt bằng

tạo quỹ đất sạch thu hút đầu tư. Tỉnh đã thực thi hỗ trợ giải phóng mặt bằng sạch

đối với các dự án trọng điểm, mức hỗ trợ không quá 15% theo phương án bồi

thường, giải phóng mặt bằng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, trong đó

có các dự án FDI. Ngoài ra, ngân sách tỉnh hỗ trợ 100% kinh phí đối với trường

hợp phải cưỡng chế theo quyết định thu hồi đất và bảo vệ thi công. Đối với các

dự án FDI đầu tư trong lĩnh vực xã hội hóa: Giáo dục, y tế, văn hóa Ngân sách

nhà nước hỗ trợ bồi thường, giải phóng mặt bằng và áp dụng như các dự án đầu

tư trong nước (sau khi có ý kiến chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ).

Ba là, thực thi hỗ trợ về thủ tục hành chính:

Được sự quan tâm, lãnh đạo quyết liệt của các cấp ủy, chính quyền, quyết

tâm thực thi của ngành chức năng và các địa phương đã tạo chuyển biến rõ nét

về nhận thức của đội ngũ CBCC, viên chức về tinh thần, thái độ phục vụ người

59

dân và doanh nghiệp. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đã được cải

thiện và dần được nâng lên theo hướng bền vững. Các chỉ số thành phần đã có

những cải thiện đáng kế. Uy tín về năng lực lãnh đạo của cấp ủy đảng và chính

quyền trong tỉnh được nâng lên, làm tang niềm tin của doanh nghiệp trong đầu

tư và phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh đó, tỉnh Vĩnh Long đã và đang triển khai quyết liệt đồng bộ các

giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh

của tỉnh, phấn đấu và giữ vững chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) của tỉnh từ nay

đến năm 2020 nằm trong nhóm tốt của cả nước. Tiếp tục giảm thiểu giấy tờ, rút

ngắn thời gian, giảm chi phí trong đăng ký thành lập doanh nghiệp; cấp giấy

chứng nhận đăng ký đầu tư; quyết định chủ trương đầu tư; giấy phép xây dựng;

kê khai, nộp thuế,...; tạo lập hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp, tạo môi trường đầu

tư, kinh doanh thuận lợi, ổn định, tự do sáng tạo cho doanh nghiệp khởi nghiệp.

Bảng 2.2. Thống kê Chỉ số PCI của tỉnh Vĩnh Long

Số điểm Xếp hạng Nhóm Năm

59,49 Khá 19 2015

62,76 Khá 6 2016

64,54 Tốt 6 2017

65,53 Tốt 8 2018

71,3 Rất tốt 3 2019

Nguồn: Tổng hợp trên Pcivietnam.vn

60

Bốn là: Thực thi hỗ trợ về lao động

Nguồn lao động dồi dào cùng với nguồn nguyên liệu phong phú phục vụ

sản xuất, chế biến, nhất là các sản phẩm từ nông nghiệp giúp cho các doanh

nghiệp tỉnh nhà giảm bớt chi phí đầu tư, giảm giá thành sản phẩm, tăng khả

năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, góp phần mang lại lợi nhuận cao cho

doanh nghiệp. Trên địa bàn tỉnh có đến hàng chục trường, cơ sở đào tạo với các

cấp bậc như Đại học, Cao đẳng, Trung cấp nghề với quy mô đào tạo hàng ngàn

sinh viên mỗi năm (trên 40.000 lao động năm 2017), đáp ứng tốt nhu cầu nhân

sự cho nhà đầu tư. UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã

hội tăng cường công tác đào tạo nghề, đặc biệt là các ngành nghề gắn với thu

hút đầu tư trưc tiếp nước ngoài. Tỉnh đã thực thi tốt chính sách đào tạo nghề để

thực thi tốt việc thu hút FDI. Lao động được đào tạo phần nào đã đáp ứng được

nhu cầu về nguồn nhân lực cho các NĐTNN. Tuy nhiên, hiện nay phần động

chủ yếu vẫn là lao động phổ thông hoặc đào tạo nghề tương đối hạn chế một số

lĩnh vực. Mức độ đáp ứng về lao động kỹ thuật cao là chưa nhiều.

Năm là, về việc thực thi xúc tiến đầu tư

Công tác vận động xúc tiến đầu tư tiếp tục có nhiều đổi mới theo hướng

chủ động hơn, góp phần tăng cường nguồn lực đầu tư, tạo năng lực sản xuất

mới. Định kỳ, tiến hành rà soát, bổ sung danh mục các dự án mời gọi đầu tư

nguồn vốn ngoài ngân sách cho phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh.

Liên tục cập nhật, đổi mới trong xây dựng và in ấn mới các tài liệu quảng bá

hình ảnh, môi trường đầu tư của tỉnh thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư.

Tỉnh cũng đã phối hợp tổ chức và tham dự các cuộc Hội nghị, Hội thảo do

Trung ương, các địa phương tổ chức. Bên cạnh công tác xúc tiến đầu tư tại chỗ,

xây dựng kế hoạch vả tổ chức Hội nghị Xúc tiến Đầu tư tại nước ngoài để quảng

bá và thu hút đầu tư vào các lĩnh vực mà tỉnh có thế mạnh. Một trong những

hoạt động nổi bật trong giai đoạn này là tỉnh đã tổ chức thành công Hội nghị

61

Xúc tiến Đầu tư (năm 2018) và Hội thảo công tác xúc tiến Đầu tư (năm 2019)

tại tỉnh để tiếp tục thực thi xúc tiến đầu tư, giới thiệu, tuyên truyền, quảng bá

rộng rãi về tiềm năng, lợi thế, môi trường đầu tư và chính sách, các lĩnh vực

thu hút đầu tư mà tỉnh có thế mạnh đồng thời là dịp để các doanh nghiệp, các

nhà đầu tư tiếp cận các dự án của tỉnh.

Bảng 2.3. Thống kê tình hình xúc tiến FDI

Số lượt Số dự án Ghi chú Năm tiếp xúc triển khai

34 5 2015

24 8 2016

25 3 2017

22 10 2018

45 16 2019

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Long

Đặc biệt, kể từ sau Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Vĩnh Long năm 2018 (tổ

chức vào ngày 27/3/2018), có nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp nước ngoài đến

từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Đài Loan,... quan tâm tìm hiểu về môi

trường đầu tư- kinh doanh, các chính sách hỗ trợ đầu tư của tỉnh Vĩnh Long

trên nhiều lĩnh vực như: nông nghiệp, công nghiệp, đô thị, dịch vụ,… Trong

đó, có một số dự án đang hoàn chỉnh thủ tục đầu tư, chuẩn bị triển khai như:

Dự án chế biến rau củ quả xuất khẩu của Công ty Hatchando (Nhật Bản), dự án

Nhà máy may mặc của Công ty Boker (Malaysia), dự án sản xuất giày xuất

khẩu của Công ty Tỷ Xuân,…

Đã có nhiều nhà đầu tư lớn, uy tín đến tìm hiểu môi trường, cơ hội đầu tư

tại tỉnh, nhiều tập đoàn có tiềm lực và uy tín đã cam kết triển khai dự án đầu tư

hàng ngàn tỷ đồng tại Vĩnh Long; số lượng dự án được cấp chủ trương, giấy

chứng nhận đầu tư tăng; một số dự án triển khai nhanh.

62

Tỉnh đã tổ chức cho các NĐTNN tiếp xúc với môi trường đầu tư tại tỉnh.

Hoạt động xúc tiến đầu tư ngày càng được quan tâm và mở rộng.

Các Hội nghị xúc tiến đầu tư bước đầu đã được tổ chức và đạt được kết

quả nhất định. Ngày 26-27/3/2018 tỉnh Vĩnh Long đăng cai tổ chức Hội nghị

Xúc tiến Đầu tư với chủ đề “Vĩnh Long – Chủ động Hợp tác Phát triển bền

vững” dự kiến sẽ có hơn 500 đại biểu tham dự Hội nghị, gồm đại diện lãnh đạo

Chính phủ, các Bộ, Ngành, trung ương, các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc

tế tại Việt Nam; lãnh đạo UBND một số tỉnh, thành phố và các doanh nhân,

nhà đầu tư trong và ngoài nước,…

Tỉnh Vĩnh Long đã tổ chức các Đoàn làm việc với các Bộ, Ngành Trung

ương, các Đại sứ quán, Tổng lãnh sự của các nước để mời tham dự Hội nghị

xúc tiến đầu tư. Bên cạnh đó, làm việc với các Tập đoàn, Tổng Công ty, các

Hiệp hội, doanh nghiệp trong và ngoài nước để vận động tài trợ và vận động an

sinh xã hội tại Hội nghị.

Theo đồng chí Nguyễn Văn Quang, Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu: “Với

sự đổi mới trong tư duy, sự năng động, trách nhiệm của lãnh đạo các cấp cùng

với nỗ lực của cả hệ thống chính trị. Tỉnh Vĩnh Long luôn tạo điều kiện thuận

lợi trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư của các thành phần và khu vực kinh tế.

Vĩnh Long quyết tâm kiến tạo môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, ít rủi ro

nhất cho các nhà đầu tư yên tâm triển khai dự án đầu tư. Đồng thời, bảo đảm

hoạt động của kinh tế tư nhân cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng theo cơ chế thị

trường”[Nguồn: Phỏng vấn của tác giả]. Nhờ những chính sách hỗ trợ và tạo

điều kiện kịp thời đã góp phần quan trọng trong thực hiện chính sách thu hút

đầu tư trên địa bàn tỉnh.

2.3.5. Đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách

Trong quá trình thực thi chính sách thu hút FDI thì UBND tỉnh, các Sở,

Ban, Ngành và các địa phương, CBCC có thẩm quyền thường xuyên đôn đốc

63

việc thực thi chính sách thông qua các công cụ hữu ích nhằm làm cho các chủ

thể thực thi nêu cao ý thức trách nhiệm trong thực thi các biện pháp theo định

hướng chính sách, không phải các địa phương nào cũng đều làm tốt, thực thi

đúng tiến độ theo chương trình và kế hoạch. Vì thế, việc thực thi chính sách thu

hút FDI được tiến hành đồng bộ, hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật

trong thực thi chính sách.

Trong công tác đôn đốc, kiểm tra và giám sát việc thực thi chính sách,

UBND tỉnh đã thực thi các biện pháp sau:

Một là, xây dựng chế độ kiểm tra, giám sát.

Hai là, thực thi nghiêm túc và triệt để công tác thanh tra, kiểm tra, giám

sát các dự án sau cấp phép, khi cần có thể điều chỉnh ngay các quy định, thủ

tục bất hợp lý, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc của nhà đầu tư (về thủ tục

hành chính, giải phóng mặt bằng,…) cũng như có những biện pháp xử lý kịp

thời đối với những vấn đề phát sinh, những vi phạm, khắc phục tình trạng “giữ

chỗ” có thể có của một số nhà đầu tư không có khả năng thực thi dự án trên

thực tế. Cụ thể là:

+ Đối với các dự án được cấp phép đầu tư sau 12 tháng mà nhà đầu tư

không triển khai hoặc không có khả năng thực thi theo tiến độ đã cam kết và

không có lý do chính đáng thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiên quyết thu

hồi giấy phép đầu tư; dành địa điểm cho các nhà đầu tư khác. Trong trường hợp

thấy dự án vẫn có khả năng thực thi, cơ quan QLNN về đầu tư tại địa phương

nên tập trung xử lý sớm những vướng mắc, kể cả việc điều chỉnh mục tiêu và

quy mô hoạt động của dự án.

+ Đối với các dự án có triển khai nhưng chỉ đầu tư một số hạng mục nhỏ,

các hạng mục chính không có khả năng đầu tư do có liên quan đến vấn đề về

vốn đầu tư thì Sở Kế hoạch và Đầu tư cần yêu cầu chủ đầu tư nhanh chóng đệ

trình được phương án khả thi để triển khai dự án theo nội dung giấy phép: hoặc

64

là chuyển nhượng vốn cho một chủ đầu tư mới hoặc là tìm kiếm được các nhà

đầu tư mới tham gia góp vốn. Trong một khoảng thời gian nhất định, nếu dự án

vẫn không có tiến triển thì đề nghị lãnh đạo thành phố xem xét phương án chấm

dứt hoạt động của dự án trước thời hạn, hoặc thu hồi toàn bộ diện tích đất tương

xứng chưa sử dụng.

Tuy nhiên, trong quá trình đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực thi chính

sách cũng bộc lộ những hạn chế nhất định. Một số cơ quan, đơn vị có thái độ

lơ là, chưa kiên quyết trong triển khai thực thi chính sách. Sở Kế hoạch và Đầu

tư cũng chưa hiện tốt việc tham mưu cho UBND tỉnh trong việc đôn đốc thực

thi các nội dung của chính sách. Trong một số trường hợp cũng chưa sát sao,

thường xuyên trong việc đôn đốc, kiểm tra.

2.3.6. Đánh giá, tổng kết việc thực thi chính sách

Tổng hợp thống kê, kiểm tra, khảo sát đánh giá kết quả chỉ đạo việc thực

thi chính sách thu hút FDI để tìm ra những nguyên nhân và giải pháp đã được

quan tâm là vấn đề được tỉnh rất quan tâm. Hàng năm, UBND tỉnh đều có văn

bản chỉ đạo và hướng dẫn các Sở, Ban, Ngành và UBND các huyện, thị xã,

thành phố tổng hợp thống kê về tình hình thực thi các chính sách thu hút FDI

để từ đó tạo cơ sở cho xây dựng và hoàn thiện các chính sách này cũng như

hoàn thiện khâu tổ chức thực thi chính sách.

Bên cạnh, việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của UBND

tỉnh, các Sở, Ban, Ngành còn xem xét, đánh giá việc thực thi của các đối tượng

tham gia thực thi chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngài bao gồm các đối

tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách, nghĩa là tất cả các

thành viên xã hội với tư cách là công dân. Thước đo đánh giá kết quả thực thi

của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng mới mục tiêu chính sách và ý

thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do CQNN có thẩm quyền

ban hành để thực thi mục tiêu chính sách thu hút FDI trong từng điều kiện về

65

không gian và thời gian. UBND tỉnh hàng năm đã ban hành các văn bản, quyết

định cá biệt để xử lý và hướng dẫn xử lý những vấn đề bức xúc, hoặc tháo gỡ

những khó khăn trong thực thi chính sách.

Bảng 2.4. So sánh tỷ lệ tiếp xúc và số dự án triển khai

Số lượt Số dự án Tỷ lệ (%) Năm tiếp xúc triển khai

34 5 14,7 2015

24 8 33,33 2016

25 3 12 2017

22 10 45,45 2018

45 16 35,56 2019

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư

Như vậy, có thể thấy tỷ lệ dự án được phê duyệt so với tỷ lệ các nhà đầu

tư được tiếp xúc là rất thấp, dưới 50%. Điều này cho thấy việc thực thi chính

sách thu hút chưa phát huy được hiệu quả. Chính sách chưa tạo ra điểm nhấn

cho các NĐTNN.

Đối với mỗi chính sách thu hút đầu trực tiếp nước ngoài cụ thể, cơ quan

chủ trì đề xuất kế hoạch, nội dung kiểm tra, giúp UBND tỉnh chỉ đạo các Sở,

Ban, ngành, đơn vị liên quan và UBND huyện, thị xã, thành phố tổ chức kiểm

tra định kỳ, tổng hợp, báo cáo kết quả đánh giá về UBND tỉnh.

Đối với công tác kiểm tra, hàng năm, UBND tỉnh đã giao cho sở Kế hoạch

và Đầu tư phối hợp với cơ quan được giao chủ trì thực thi đã xây dựng kế hoạch

tổ chức kiểm tra về tiến độ triển khai thực thi tại các cấp, Sở, Ngành.

Đối với công tác giám sát, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban Kinh tế - Ngân

sách hàng năm đều có tổ chức các đợt giám sát việc thực thi các chính sách thu

hút FDI trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, công tác đánh giá còn có sự tham gia của

các tổ chức chính trị - xã hội.

66

Hằng năm, UBND tỉnh đều tiến hành đánh giá sơ kết, tổng kết việc thực

thi chính sách thu hút đầu tư trong đó có thu hút FDI. Tuy nhiên, hiện nay công

tác tổng kết đánh giá việc thực thi chính sách thu hút FDI chủ yếu được thực

thi chung với chính sách thu hút đầu tư. Việc sơ kết, tổng kết riêng đối với việc

thực thi chính sách thu hút FDI chưa được tiến hành nhiều. Ngoài ra các chính

sách thu hút đầu tư cũng được ban hành chung. Có thể nói việc thực thi chính

sách thu hút FDI chưa thực sự được quan tâm đúng mức, cũng như chưa được

tiến hành khoa học. Việc báo cáo các số liệu thu hút FDI còn tiến hành chậm

hơn so với quy định. Chế độ thông tin, báo cáo về thực thi chính sách thu hút

FDI chưa thực thi đúng quy định.

2.4. Đánh giá chung thực trạng thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long

2.4.1. Ưu điểm

Trong thời gian qua, việc thực thi chính sách thu hút vốn FDI đã đạt được

nhiều kết quả tích cực, cụ thể như sau:

Thứ nhất, ban hành văn bản, xây dựng các kế hoạch, chương trình triển

khai thực thi chính sách

UBND tỉnh Vĩnh Long đã chú trọng công tác ban hành các văn bản chỉ

đạo cũng như tổ chức thực thi chính sách thu hút FDI. Bên cạnh đó, UBND tỉnh

cũng chú trọng công tác xây dựng các chương trình, kế hoạch nhằm triển khai

thực thi có hiệu quả chính sách. UBND tỉnh đã chỉ đạo sở Kế hoạch và Đầu tư

ban hành kịp thời các chương trình, kế hoạch nhằm đẩy mạnh xúc tiến đầu tư

nước ngoài. Các cơ quan, Ban, Ngành trên địa bàn tỉnh luôn quan tâm và chú

trọng công tác thu hút FDI, xem đây là một trong những trọng tâm trong phát

triển kinh tế - xã hội.

Thứ hai, phổ biến, tuyên truyền chính sách

67

Để chính sách thu hút FDI có thể đi vào thực tiễn thì tỉnh Vĩnh Long luôn

chú trọng và quan tâm đến công tác tuyên truyền, phổ biến các nội dung của

chính sách. Sở Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với các đơn vị liên quan tổ

chức nhiều đợt tuyên truyền, phổ biến đến các doanh nghiệp trong nước cũng

như các nhà đầu tư nước ngoài. Công tác tuyên truyền được thực thi thông qua

nhiều hình thức đặc biệt là các hội chợ triển lãm kết hợp với các hội nghị xúc

tiến đầu tư. UBND tỉnh cũng chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư tuyên truyền, phổ

biến kịp thời các nội dung của chính sách thu hút đầu tư đến các CQNN,

CBCCVC, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Thứ ba, phân công, phối hợp thực thi chính sách

Công tác phân công, phối hợp trong quá trình thực thi chính sách thu hút

FDI trong thời gian từng bước được hoàn thiện. Tỉnh đã chú trọng hoàn thiện

bộ máy nhằm thực thi chính sách thu hút FDI. Tỉnh đã phân công cho nhiều cơ

quan, đơn vị khác nhau tham gia vào thực thi chính sách, đồng thời đã giao cho

Sở Kế hoạch và Đầu tư là đơn vị chủ trì. UBND tỉnh cũng phân công tương đối

rõ ràng cho các chủ thể này.

Thứ tư, tổ chức thực thi các nội dung chính sách

UBND tỉnh đã chỉ đạo kịp thời các cơ quan, đơn vị và cá nhân trong quá

trình triển khai thực thi các nội dung của chính sách. Việc triển khai thực thi

các nội dung của chính sách đã bám sát vào các chính sách của Trung ương,

các văn bản của Bộ, Ngành. UBND tỉnh đã triển khai thực thi nhiều chương

trình, kế hoạch để hỗ trợ các nhà đầu tư nước ngoài từ khâu đăng ký kinh doanh,

thu hồi đất, cũng như hỗ trợ về thuế, lao động và thủ tục hành chính. Quá trình

triển khai thực thi chính sách đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong thu hút

FDI. FDI ngày càng tăng lên về số lượng và chất lượng. Kết quả hoạt động của

các dự án FDI đã đóng góp nhất định vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Thứ năm, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách

68

Trong thời gian qua, công tác này luôn được chú trọng và thực thi thường

xuyên, liên tục. Chính vì vậy mà đã kịp thời phát hiện những sai phạm và có biện

pháp xử lý kịp thời. Công tác thanh tra, kiểm tra luôn được chỉ đạo, phân công

và có sự phối hợp giữa các cơ quan nhau, vì thế tạo được sự thống nhất và mang

lại hiệu quả cao, đảm bảo cho việc thực thi chính sách thu hút FDI được triển

khai một cách toàn diện đúng theo chủ trương và chính sách của nhà nước.

Thứ sáu, đánh giá, tổng kết việc thực thi chính sách

Công tác tổng kết, đánh giá việc thực thi chính sách thu hút vốn FDI đã

được quan tâm và thực thi tương đối tốt. Hằng năm tỉnh đều tổ chức tổng kết

tình hình thu hút đầu tư trong đó có vốn FDI. Các báo cáo trong quá trình triển

khai thực thi chính sách đã giúp cho tỉnh nằm bắt được tình hình thực thi chính

sách. Tỉnh cũng đã tổ chức tổng kết, đánh giá từng giai đoạn thực thi chính

sách. Việc đánh giá bước đầu đã chỉ ra những mặt đạt được cũng như những

hạn chế trong quá trình triển khai thực thi chính sách.

2.4.2. Hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực thi chính sách thu hút

vốn FDI tại tỉnh Vĩnh Long cũng còn tồn tại một số hạn chế, có thể kể đến như:

Thứ nhất, đối với công tác ban hành văn bản, xây dựng kế hoạch, chương

trình triển khai thực thi chính sách

Trong công tác ban hành văn bản và xây dựng các kế hoạch, chương trình

để triển khai thực thi chính sách thu hút FDI trong một số trường hợp vẫn còn

mang tính hình thức, việc xây dựng kế hoạch còn chậm tiến độ, tính chủ động

chưa cao. UBND tỉnh cũng chưa có nhiều kế hoạch, chương trình mang tính

đột phá cũng như gắn với tính đặc thù của tỉnh Vĩnh Long. Một số kế hoạch

còn mang tính sao chép qua các năm. Kế hoạch được xây dựng chưa gắn với

từng thời kỳ phát triển của tỉnh. Công tác ban hành kế hoạch thực thi các văn

bản có liên quan đôi khi còn chậm. Các địa phương thường đợi có kế hoạch

69

thực thi thì mới bắt đầu triển khai công tác. Kế hoạch được đề ra cho một năm

hoạt động nhưng vào khoảng tháng 3 mới ban hành do đó gây khó khăn cho

các địa phương trong tổ chức thực thi các nội dung của chính sách.

Thứ hai, phổ biến, tuyên truyền chính sách

Công tác tuyên truyền vẫn còn nhiều hạn chế chưa huy động được cả hệ

thống chính trị vào cuộc mà chủ yếu chỉ thực thi ở một số cơ quan chuyên

môn,... Công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung chính sách vẫn còn mang tính

hình thức, mang tính chung chung chưa tạo được những đột phá, sáng tạo mang

lại hiệu quả cao hơn. Công tác tuyên truyền, phổ biến ở một số nơi còn gặp

nhiều khó khăn, đồng thời hình thức tuyên truyền vẫn mang tính truyền thống

dẫn đến hiệu quả của công tác tuyên truyền thấp và một bộ phận người dân,

doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài chưa nắm bắt được thông tin đầy đủ

hoặc chưa thể tiếp cận với hỗ trợ của chính sách.

Thứ ba, phân công, phối hợp thực thi chính sách

Trong quá trình triển khai thực thi chính sách thì sự tham gia của các

CQNN là chưa thực sự nhiều. Một số trường hợp là gần như khoán trắng cho

Sở Kế hoạch và Đầu tư. Hiện nay, trong quá trình thực thi chính sách, chủ yếu

chỉ tập trung ở một số Sở, ngành có liên quan như: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban

Xúc tiến hỗ trợ đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Tài Nguyên và Môi trường,… Bên

cạnh đó, sự phối hợp giữa các CQNN trong quá trình triển khai thực thi chính

sách cũng chưa thực sự nhịp nhàng và hiệu quả. Công tác phối hợp giữa UBND

tỉnh với Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng như sự phối hợp giữa các Sở, Ban, ngành

và địa phương trong việc thực thi chính sách chưa thực sự chặt chẽ và đồng bộ.

Trong một số nội dung còn diễn ra tình trạng chồng chéo giữa các đơn vị. Hoạt

động tổ chức Xúc tiến đầu tư UBND tỉnh giao cho cả Sở Kế hoạch và Đầu tư

và Ban Xúc tiến hỗ trợ đầu tư cùng làm; việc tuyên truyền về chính sách, chủ

trương của tỉnh thì giao cho cả Sở Thông tin và Truyền thông, lĩnh vực Ngoại

70

vụ và Trung tâm Xúc tiến hỗ trợ đầu tư do đó trong quá trình thực thi cũng gặp

không ít khó khăn. Trong quá trình triển khai thực thi chính sách, Sở Kế hoạch

và Đầu tư cũng chưa phối hợp chặt chẽ với các địa phương để tiếp nhận các

thông tin phản hồi. Vì vậy, một số khó khăn, vướng mắc của các địa phương

chưa được tiếp nhận kịp thời.

Thứ tư, tổ chức thực thi các nội dung chính sách

Tỉnh chưa có nhiều chương trình mang tính đột phá để tạo điểm nhấn trong

thu hút FDI. Một số trường hợp triển khai thực thi các nội dung chính sách

chậm. Việc cải cách thủ tục hành chính để thu hút đầu tư có cải thiện những

vẫn còn nhiều hạn chế cần phải được giải quyết. Các chính sách hỗ trợ doanh

nghiệp FDI về thuế, đất đai, nhân lực,… chưa được thực thi tốt. Trong quá trình

triển khai thực thi các nội dung chính sách chưa được thực thi đồng bộ. Hoạt

động xúc tiến thiếu tính chuyên nghiệp, chồng chéo, nội dung và hình thức chưa

phong phú, đa dạng, gây lãng phí nguồn lực. Thêm vào đó, thông tin về các

hoạt động đầu tư chưa được cập nhật thường xuyên, thiếu sự liên kết, phối hợp

với các phòng thương mại. Trong thời gian qua, công tác xúc tiến đầu tư. Nhất

là, việc mời gọi đầu tư nước ngoài vào tỉnh được quan tâm thực thi; Tuy nhiên,

tình hình thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước nước ngoài vào tỉnh Vĩnh

Long còn rất thấp và chưa tương xứng với những lợi thế, tiềm năng hiện có của

tỉnh. Phần lớn các dự án FDI có tổng mức đầu tư khá thấp, công nghệ sản xuất

ở mức trung bình, giá trị gia tăng chưa cao, sử dụng nhiều lao động,...

Thứ năm, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách

Trong công tác triển khai thực thi chính sách thì UBND tỉnh cũng chưa đi

sâu đi sát với tình hình thực thi của các địa phương và các Sở, Ban, ngành. Đặc

biệt, trong đó vai trò tham mưu trong đôn đốc, nhắc nhở của Sở Kế hoạch và

Đầu tư chưa được thực thi tốt. Công tác xây dựng kế hoạch để kiểm tra, giám

sát việc thực thi chính sách chưa được thực thi tốt. Việc kiểm tra chủ yếu được

71

thực thi thông qua sơ kết, tổng kết. Trong thời gian qua, có rất ít văn bản đề cập

đến việc báo cáo giám sát, đánh giá thực thi của các cơ sở về việc thực thi đúng,

đạt theo yêu cầu của các chỉ số mục tiêu mà chính sách đã đề ra. Công tác tiếp

nhận các thông tin trong quá trình triển khai thực thi chính sách chưa được tiến

hành kịp thời vì vậy công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh chưa sâu sát.

Công tác thông tin, báo cáo cũng chưa tuân thủ đúng quy định, báo cáo thiếu,

chậm, chưa thường xuyên, không đầy đủ, thậm chí không chính xác, gây khó

khăn cho việc theo dõi kết quả và đánh giá hiệu quả.

Thứ sáu, Đánh giá, tổng kết việc thực thi chính sách

Hiện nay, công tác đánh giá việc thực thi chính sách chủ yếu dựa trên báo

cáo các chỉ tiêu đạt được về số dự án và số vốn đầu tư. Trong khi đó việc đánh

giá mức hiệu quả các dự án vẫn chưa thực thi tốt. Công tác đánh giá chủ yếu

thực thi qua công tác báo cáo. Một số năm việc tổng kết tiến hành chậm vì vậy

không nắm bắt kịp tình hình triển khai thực thi cũng như những khó khăn,

vướng mắc. Việc tổ chức lấy ý kiến của các nhà đầu tư nước ngoài chưa được

quan tâm và thực thi tốt. Việc chấp hành chế độ thông tin, báo cáo tiến độ thực

thi của các địa phương còn chậm, nội dung báo cáo chưa đầy đủ dẫn đến công

tác thống kê thông tin, số liệu của nhà đầu tư nước ngoài, các dự án còn nhiều

sai sót và phải tiến hành khảo sát lại gây mất thời gian, công sức nhất là làm

kéo dài lộ trình thực thi chính sách.

2.4.3. Nguyên nhân của hạn chế

Những hạn chế nêu trên là do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó luận

văn khái quát một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

Thứ nhất, xuất phát từ những bất cập của chính sách và pháp luật

Luật và các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và quyết định của

UBND tỉnh chỉ tập trung tiến hành đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư trong giai

đoạn kêu gọi, thu hút đầu tư; Tuy nhiên, trong giai đoạn sau thì chưa có ưu đãi

72

cụ thể nào cho nhà đầu tư trong một số ngành đặc thù này ngoài những ưu đãi

chung của Chính phủ.

Một số cơ chế, chính sách của tỉnh sau quá trình thực thi đã bộc lộ những

hạn chế, vướng mắc nhưng chưa được điều chỉnh, bổ sung kịp thời gây ra những

khó khăn cho quá trình tổ chức thực thi. Hiện nay, một số chính sách cụ thể còn

thiếu và yếu như chính sách ưu đãi về tiền thuê đất, tiền sử dụng đất đối với các

dự án y tế, giáo dục; thiếu hỗ trợ về nguồn nhân lực cho các nhà đầu tư trong

lĩnh vực sản xuất công nghệ cao và sản xuất phần mềm. Điều này đã gây ra

những trở ngại nhất định trong quá trình thu hút FDI.

Chính sách ưu đãi đầu tư chưa phù hợp, chưa đủ hấp dẫn nhà đầu tư đối

với những ngành, lĩnh vực cần khuyến khích đầu tư; chưa có tính đột phá; thiếu

linh hoạt; tồn tại nhiều Danh mục lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư khác nhau,

thiếu nhất quán. Chính sách tiền lương hay thay đổi nhưng không có lộ trình.

Hiện nay thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực kế hoạch đầu tư nói chung

và thu hút FDI vẫn còn chưa được cải cách triệt để. Hoạt động cấp phép cho

các dự án FDI còn tiến hành chậm, tình trạng các dự án phải chờ còn diễn ra.

Các thủ tục liên quan đến thuế, thuê đất còn chậm được cải tiến. Đây chính là

những rào cản thực sự trong quá trình xúc tiến FDI.

Ngoài ra, hiện nay do tính phức tạp của việc thu hút FDI nên quy trình,

thủ tục thẩm định cũng tương đối chặt chẽ. Thủ tục hành chính liên quan đến

thu hút FDI hiện nay tương đối phức tạp từ khâu thẩm định cấp giấy chứng

nhận đầu tư tới khâu triển khai dự án đầu tư.

Bên cạnh đó, cơ chế quản lý của Nhà nước cũng chưa tạo ra sự công bằng

trong các chính sách đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp FDI.

Thứ hai: năng lực, trách nhiệm của đội ngũ CBCCVC còn hạn chế

CBCCVC là chủ thể tổ chức thực thi chính sách thu hút FDI. Tuy nhiên,

hiện nay năng lực, trách nhiệm của một bộ phận CBCC còn hạn chế, chưa chủ

73

động, sáng tạo, chưa sâu sát với thực tiễn, ứng dụng công nghệ thông tin trong

quản lý còn hạn chế. Công tác chỉ đạo, điều hành của một số cấp ủy đảng, chính

quyền còn chưa quyết liệt, chưa có sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ của các

cấp, các ngành. Trong một thời gian dài tư tưởng, nhận thức và ý thức của

CBCC về tầm quan trọng của công tác thu hút đầu tư vốn FDI còn hạn chế.

Trình độ CBCC thực thi chính sách thu hút FDI ở một số địa phương vẫn còn

hạn chế, năng lực chưa đáp ứng được nhu cầu công việc. Nhận thức của các

cấp lãnh đạo về tầm quan trọng và vai trò to lớn của nguồn vốn FDI đối với sự

phát triển kinh tế- xã hội của thành phố chịu tác động của nhiều yếu tố. Thêm

vào đó, tâm lý e ngại, chần chừ, chậm đổi mới trở thành lực cản lớn đối với cải

cách để nâng cao hiệu quả quản lý đối với FDI.

Thứ ba, tổ chức bộ máy và sự phối hợp giữa các CQNN trong quá trình

thực thi chính sách còn bất cập

Sự phối hợp giữa Sở, Ban, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố

còn chưa nhịp nhàng, gắn bó nên thời gian qua trong xử lý hồ sơ còn bị động,

kéo dài như công tác thu hồi đất, điều chỉnh quyết định thu hồi đất, xác minh

pháp lý sử dụng đất,… Vai trò tham mưu đề xuất xử lý một số vụ việc cụ thể

của phòng nghiệp vụ, cán bộ nghiệp vụ có lúc chưa kịp thời, còn thụ động, chưa

đáp ứng được yêu cầu theo ý kiến chỉ đạo. Sự phối hợp giữa Sở Kế hoạch và

Đầu tư với các Sở, Ban, ngành khác và các huyện, thành phố vẫn còn chưa hiệu

quả. Trong một số hoạt động tiến hành còn trùng lắp hoặc thiếu sự kết hợp với

nhau. Đối với chính quyền các cấp một số nơi còn chưa đồng hành cùng doanh

nghiệp. Đặc biệt, các tổ chức tín dụng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa

và nhỏ, doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, doanh nghiệp công nghiệp hỗ

trợ,… cơ chế phối hợp thực thi chính sách thiếu hiệu quả. Việc phối hợp giữa

các đơn vị trong quá trình thực thi nhiệm vụ có nhiều bất cập, chồng chéo, chậm

cụ thể hóa các hướng dẫn của trung ương do những nguyên nhân khách quan

74

và chủ quan.

Thứ tư, nhận thức và sự tham gia của các cá nhân, các doanh nghiệp chưa

cao

Hiện nay mức độ tham gia của các cá nhân, tổ chức trong xã hội nhất là

các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh vào thực thi chính sách chưa thường xuyên

và hiệu quả. Thực tế thực thi chính sách tại tỉnh Vĩnh Long cho thấy việc thực

thi chính sách chủ yếu là các CQNN, các tổ chức chính trị - xã hội chưa thực

sự tốt. Các cá nhân, doanh nghiệp chưa chủ động tham gia với tỉnh trong triển

khai thực thi chính sách. Các doanh nghiệp cũng chưa chủ động xây dựng kế

hoạch kinh doanh để có thể tạo ra sức hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Ngoài ra bản thân các doanh nghiệp cũng chưa chủ động làm tốt công tác xúc

tiến đầu tư, mời gọi đầu tư. Nhiều doanh nghiệp chủ yếu thực thi xúc tiến đầu

tư tại Hội nghị xúc tiến đầu tư của tỉnh tổ chức mà chưa chủ động làm việc với

các NĐTNN.

Thứ năm, các nguồn lực để thực thi chính sách còn hạn chế

Nguồn vốn để triển khai thực thi chính sách thu hút FDI không đảm bảo.

Do áp lực về thu hút đầu tư, sớm bàn giao mặt bằng cho dự án, trong khi khả

năng tài chính có hạn nên việc xây dựng khu tái định cư dang dở, kết cấu hạ

tầng thiếu đồng bộ, việc chuyển tiền bồi thường không kịp thời, chậm giải ngân.

Điều này đã làm chậm tiến độ của các dự án FDI.

Nguồn kinh phí cho hoạt động xúc tiến đầu tư cũng như hướng dẫn, hỗ trợ

cho các nhà đầu tư trước, trong và sau cấp phép vẫn còn hạn chế, chưa được sự

hỗ trợ cần thiết của Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Ngoài ra, các cơ sở hạ

tầng phụ vụ cho phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long còn

tương đối hạn chế. Điều này sẽ làm giảm đi sức hấp dẫn của tỉnh Vĩnh Long

trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra hiện nay chính sách về lương

còn thấp nên chưa có khả năng thu hút nguồn nhân lực có chất lượng.

75

Thứ sáu, khó khăn về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội

Để thực thi tốt việc thực thi chính sách thu hút đầu tư nước ngoài thì đòi

hỏi các địa phương phải có những lợi thế nhất định về tự nhiên, kinh tế và xã

hội. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên thì Vĩnh Long vẫn còn nhiều khó khăn

về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội.

Ngoài ra, hiện nay các địa phương ở vùng Đông Nam Bộ đều có nhiều

biện pháp để xúc tiến thu hút FDI. Các địa phương bắt đầu chú trọng nhiều đến

việc thu hút FDI; đặc biệt, là các địa phương lân cận của Vĩnh Long như Cần

Thơ, Bến Tre, Đồng Tháp. Chính vì vậy, việc cạnh tranh trong thu hút FDI

ngày càng lớn. Nguồn vốn FDI đã có sự dàn trải giữa các địa phương.

76

Tiểu kết chương 2

Thực thi chính sách thu hút vốn FDI có vai trò quan trọng đối với sự phát

triển về kinh tế - xã hội. Thông qua thu hút vốn FDI sẽ góp phần tạo điều kiện

đảm bảo nguồn vốn cho sự phát triển kinh tế. Mỗi địa phương với những đặc

điểm riêng về kinh tế - xã hội đều có những sự khác biệt nhất định trong quá

trình thực thi chính sách thu hút vốn FDI.

Thông qua quá trình nghiên cứu, chương 2 của luận văn đã đạt được một

số kết quả nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất, đã khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh

Vĩnh Long và phân tích những thuận lợi và khó khăn của những điều kiện này

đối với quá trình thực thi chính sách thu hút FDI tai tỉnh Vĩnh Long.

Thứ hai, khái quát về tình hình thu hút FDI tại tỉnh Vĩnh Long, trong đó

chỉ ra số vốn FDI, số lượng doanh nghiệp có vốn FDI.

Thứ ba, đã phân tích thực trạng thực thi chính sách thu hút FDI tại tỉnh

Vĩnh Long trên các nội dung: Ban hành văn bản, xây dựng các kế hoạch, chương

trình triển khai thực thi chính sách; Phổ biến, tuyên truyền chính sách; Phân công,

phối hợp thực thi chính sách; Tổ chức thực thi các nội dung chính sách; Đôn đốc,

kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách; Đánh giá, tổng kết việc thực thi chính

sách;

Thứ tư, Đánh giá những thành tựu và hạn chế trên từng nội dung của quy

trình thực thi chính sách thu hút FDI, đồng thời phân tích những nguyên nhân

của hạn chế.

Những kết quả nghiên cứu của chương 2 là cơ sở thực tiễn để Luận văn

xây dựng các giải pháp trong chương 3.

77

Chương 3

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO THỰC THI

CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

TẠI TỈNH VĨNH LONG

3.1. Quan điểm thực thi chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Để xây dựng các giải pháp nhằm thực thi tốt chính sách thu hút FDI đòi

hỏi các CQNN, các cấp chính quyền phải dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà

nước. Việc thực thi chính sách thu hút FDI phải dựa trên Nghị quyết số 50-

NQ/TW ngày 20/8/2019 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về định hướng

hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư

nước ngoài đến năm 2030. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, việc triển khai thực thi chính sách thu hút FDI phải bám sát vào

các nội dung của chính sách, pháp luật

Các CQNN trong quá trình triển khai thực thi chính sách phải tuân theo

vào các quy định pháp luật, phải tạo bước chuyển mạnh về thu hút ĐTNN từ

phấn đấu theo số lượng sang chọn lọc các dự án có chất lượng, công nghệ cao,

thân thiện với môi trường và phù hợp với định hướng tái cấu trúc nền kinh tế

của từng vùng, từng ngành và từng địa phương cần “Chủ động thu hút, hợp tác

đầu tư nước ngoài có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ

môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu. Ưu tiên các dự án có công nghệ tiên

tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, có giá

trị gia tăng cao, có tác động lan toả, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn

cầu” [2].

Thứ hai, thực thi chính sách thu hút FDI phải phù hợp với việc thực thi

các chính sách phát triển kinh tế - xã hội khác

78

Việc thực thi chính sách thu hút FDI phải gắn việc thu hút, sử dụng với

phát huy tác động tích cực của FDI để đẩy nhanh CNH, HĐH, phát triển kinh

tế-xã hội bền vững, giải quyết việc làm, đóng góp cho ngân sách, chuyển giao

công nghệ, bảo vệ môi trường, cải thiện mối quan hệ đối ngoại; kết hợp nguồn

đầu tư của nhà nước với việc khai thác các tiềm năng sẵn có và nội lực của địa

phương; xây dựng kế hoạch cụ thể từng năm và cả giai đoạn. Việc quy hoạch

thu hút ĐTNN theo ngành, lĩnh vực, đối tác phù hợp với lợi thế của từng vùng

để phát huy hiệu quả đầu tư của từng địa phương, từng vùng và phù hợp quy

hoạch tổng thể và lợi ích chung.

Thứ ba, đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tham gia của các tổ

chức thực thi chính sách

Trong quá trình triển khai thực thi chính sách phải đảm bảo sự lãnh đạo

của Đảng và sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội. Tăng cường sự lãnh

đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, vai trò của Mặt trận

Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và phát huy sự năng động, sáng tạo của

người dân và doanh nghiệp trong việc hoàn thiện, thực thi và giám sát việc thực

thi thể chế, chính sách về thu hút và hợp tác đầu tư nước ngoài.

Thứ tư, thực thi chính sách thu hút FDI phải đảm bảo tính hiệu quả và

thực chất

Trong quá trình thự hiện chính sách, các CQNN cần tôn trọng, bảo vệ

quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhà đầu tư; bảo đảm hài hòa lợi ích

giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp. Các CQNN

cần phải nghiên cứu để tìm ra những phương án, giải pháp khoa học và phù hợp

trong thực thi chính sách.

3.2. Các giải pháp thực thi tốt chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài tại tỉnh Vĩnh Long

3.2.1. Hoàn thiện các nội dung của chính sách

79

Để có thể thực thi có hiệu quả chính sách thực thu hút FDI đòi hỏi chính

sách phải được xây dựng hoàn thiện và đồng bộ. Trong quá trình triển khai thực

thi, những bất cập của chính sách đã dần bộc lộ. Điều này đòi hỏi các CQNN

phải tập trung hoàn thiện các nội dung của chính sách thu hút FDI. Đây là tiền

đề quan trọng để quá trình tổ chức thực thi chính sách thuận lợi và đạt được

mục tiêu đề ra bởi chất lượng của chính sách sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của

quá trình thực thi chính sách.

Kết quả của chương 2 đã chỉ ra bất cập của chính sách thu hút FDI trong

thời gian qua. Chính sách thu hút FDI nhiều nội dung không còn phù hợp với

điều kiện mới. Ngoài ra Vĩnh Long cũng chưa xây dựng được các chính sách

mang tính đặc thù và đột phá. Vì vậy, trong thời gian tới, các CQNN phải tập

trụng hoàn thiện chính sách theo những hướng sau đây:

Một là, hoàn thiện chính sách ưu đãi về thuế

Các CQNN cần tiếp tục nghiên cứu để giảm thuế suất thuế thu nhập doanh

nghiệp. Đặc biệt trong bối cảnh Covid hiện nay thì các doanh nghiệp trong nước

cũng như các nhà đầu tư nước ngoài gặp rất nhiều khó khăn trong việc khôi

phục đầu tư cũng phát triển sản xuất, kinh doanh. Do đó, các CQNN nên nghiên

cứu giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Cần nghiên cứu miễn thuế nhập khẩu

đối với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các mặt hàng vật tư và thiết bị y tế

phục vụ phòng chống dịch Covid-19, vật tư, nguyên liệu đầu vào của các DN

da giày, dệt may, nông nghiệp, cơ khí, công nghiệp phụ trợ, công nghiệp ô tô.

UBND tỉnh cần tham mưu cho Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu

để tiếp tục thực thi các chính sách ưu đãi thuế với NĐTNN đặc biệt là trong

những năm đầu của dự án. Cần ưu đãi giảm thuế suất đối với hoạt động đầu tư

nước ngoài so với mức thuế suất hiện hành có thể kéo dài thời gian giảm thuế

và miễn thuế cho nhà đầu tư nước ngoài trong những ngành, lĩnh vực trọng

điểm, mũi nhọn cả nước nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng. UBND tỉnh

80

cần tiếp tục thực thi gia hạn thời hạn nộp thuế và các khoản thu ngân sách thông

qua ban hành Nghị định số 41/2020/NĐ-CP về gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị

gia tăng, thuế thu nhập DN, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất cho các DN

và hộ kinh doanh; giãn thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô sản xuất hoặc lắp ráp

trong nước đến hết năm 2020 nhằm kích thích cả sản xuất và tiêu dùng trong

nước,...

Hai là, hoàn thiện hỗ trợ về đất đai và cơ sở hạ tầng cho các nhà đầu tư

nước ngoài

UBND tỉnh Vĩnh Long cần tiếp tục đổi mới và thực thi chính sách ưu đãi

về đất đai, quy định hiện nay chỉ cho phép NĐTNN được quyền lựa chọn hình

thức thuê đất, cần triển khai quy định đấu giá quyền sử dụng đất và đẩy nhanh

tiến độ giải phóng mặt bằng. Ưu đãi cấp đất ở các vị trí thuận lợi cho nhà đầu

tư nước ngoài, thủ tục cấp phép cần nhanh chóng, thuận tiện không mất nhiều

thời gian ảnh hưởng đến quá trình cấp phép cũng như kinh doanh. UBND tỉnh

cần chỉ đạo tốt công tác đền bù giải phóng mặt bằng cho các NĐTNN. Bên cạnh

đó cần quy hoạch lại đất đai cho phù hợp cho phát triển kinh tế - xã hội.

Tăng cường hỗ trợ nhà đầu tư và quản lý sau cấp phép, tập trung hỗ trợ

các dự án đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho dự

án đã được cấp phép đi vào sản xuất kinh doanh, tăng vốn giải ngân và mở rộng

sản xuất.

Cần có chính sách để hỗ trợ các nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận đất đai

một cách trực tiếp một cách dễ dàng. Thực tế hiện nay các nhà đầu tư nước

ngoài phải thuê đất thông qua cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam mà không thể

thuê đất trực tiếp. Điều này gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp nước ngoài.

Vì vậy cần thay đổi chính sách này để hỗ trợ cho các doanh nghiệp nước ngoài.

Ba là, tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính

81

Sự nỗ lực chủ quan từ hệ thống CQHCNN có tác động rất lớn đến thu hút

đầu tư, trong nhiều trường hợp có tính vượt trội hơn cả chính sách ưu đãi, những

hỗ trợ cụ thể hay cơ sở hạ tầng hiện đại. Thực tế trong thời gian qua có nhiều

chính sách thu hút đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khá hiện đại, ban hành nhiều

chính sách thu hút đầu tư hấp dẫn nhưng khối lượng thu hút, huy động vốn đầu

tư lại không đáng kể; trong khi đó nhiều địa phương lại chú trọng đến cải cách

thủ tục hành chính, nâng ý thức trách nhiệm của các nhà lãnh đạo địa phương

và hệ thống cơ quan thừa hành, thực thi một cách triệt để các cam kết và trực

tiếp thao gỡ các rào cản vô hình dù ở bất cứ cấp nào gây ra đã tạo được lòng tin

đối với các nhà đầu tư và đem lại những kết quả tương xứng. Nguồn vốn đầu

tư giảm sút có nguyên nhân về mặt chủ quan thuộc trách nhiệm của các cơ quan

đã để kéo dài tình trạng thủ tục hành chính phiền hà, nhũng nhiễu. Do đó cần

phải thực thi:

- Nâng cao năng lực, thái độ làm việc của cán bộ, cơ quan thừa hành. Phải

xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ có đủ năng lực giải quyết các công việc

cụ thể có liên quan đến thu hút đầu tư. Chấn chỉnh thái độ làm việc tắc trách,

suy nghĩ theo cơ chế “xin – cho” khi giải quyết công việc có liên quan đến

doanh nghiệp, đến các nhà đầu tư. Kiên quyết xử lý, đưa ra khỏi bộ máy các

CBCCVC không đủ năng lực và thiếu trách nhiệm [33].

- Các Sở, Ban, Ngành, chính quyền các cấp phải tổ chức thực thi đầy đủ,

đúng thời hạn các quy định của tỉnh Vĩnh Long, tạo sự chuyển biến căn bản cải

thiện môi trường đầu tư. Cải cách triệt để thủ tục hành chính, tạo môi trường

minh bạch, lành mạnh, an toàn trong đầu tư. Có làm được điều này mới hạn chế

được sự “dựa dẫm” vào những quy định không rõ ràng của thủ tục hành chính

mà cán bộ nhân viên thừa hành gây khó khăn sách nhiễu.

- Ngoài ra, chính quyền tỉnh kiên quyết xóa bỏ các dự án treo và thu hồi

đất đối với các nhà đầu tư không đủ năng lực tài chính bằng cách quy định khi

82

đấu thầu các dự án khuyến khích đầu tư, các chủ đầu tư phải ký quỹ bằng 5%

giá trị đất của dự án và chứng minh năng lực tài chính có thể đầu tư dự án.

- Thường xuyên rà soát lại những văn bản đã ban hành của cả Trung ương

và tỉnh về lĩnh vực FDI để tránh những sai sót hoặc bị lỗi, thiếu tính cập nhật.

- Tiếp tục thực thi tốt cơ chế “một cửa liên thông” về thủ tục đầu tư, cải

cách mạnh mẽ thủ tục hành chính về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

giấy phép xây dựng, đánh giá tác động môi trường, giấy phép hành nghề trong

lĩnh vực giáo dục, y tế, du lịch… nhằm rút ngắn thời gian và tiết kiệm chi phí

cho nhà đầu tư; thực thi tốt các chính sách ưu đãi của Trung ương cũng như của

địa phương đã ban hành (về thuế, các vấn đề liên quan đến đất đai, môi trường,

lao động, giá thuê đất,...). Xây dựng và hoàn thiện bộ thủ tục hành chính giải

quyết công việc với các doanh nghiệp FDI để niêm yết công khai tại bảng tin

của cơ quan, trụ sở và đưa lên website của các cơ quan để doanh nghiệp biết,

nghiên cứu và thực thi công khai và thuận lợi.

- Khuyến khích, yêu cầu các Sở, ngành thực thi áp dụng trình tự, quy trình

giải quyết công việc theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015 để xử lý công việc một

cách chính xác, đúng thẩm quyền, đúng thời gian và trình tự thủ tục theo quy

định pháp luật.

- Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giải quyết các thủ tục xin cấp

Giấy chứng nhận đầu tư và điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư nhằm giảm bớt

chi phí thời gian, chi phí đi lại, giảm bớt tiếp xúc với cán bộ trực tiếp thực thi,

tăng thêm độ tin cậy cho các nhà đầu tư đối với chính quyền địa phương. Áp

dụng triệt để Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài nhằm đơn giản

hóa quy trình nhận hồ sơ cấp giấy chứng nhận đầu tư nước ngoài và các hình

thức báo cáo đầu tư nước ngoài.

83

- Duy trì tổ chức giao ban kinh tế đối ngoại 6 tháng/lần, trong đó chú trọng

đánh giá công tác đối ngoại, xúc tiến đầu tư, cải cách hành chính và quản lý

hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố

- Tiếp tục cải cách hành chính nhằm xử lý kịp thời vướng mắc trong vấn

đề cấp phép, điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư. Tập trung triển khai ứng dụng

có hiệu quả phần mềm cung cấp dịch vụ công, trong đó cung cấp dịch vụ công

trực tuyến mức độ 3 và 4 đối với các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải

quyết, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, DN rút ngắn thời gian và thuận lợi

trong quá trình thực thi.

Bốn là, tập trung đào tạo nguồn nhân lực

Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực là điều kiện tiên quyết để nâng cao

chất lượng lao động, đảm bảo tính bền vững của phát triển kinh tế, đồng thời

cũng tăng tính hấp dẫn trong thu hút FDI. Với một đội ngũ công nhân lành nghề

có kỹ thuật, các chuyên gia quản lý giỏi sẽ rất thuận lợi cho hợp tác liên doanh

với đối tác nước ngoài. Nguồn nhân lực chất lượng cao đảm bảo cho việc tiếp

thu công nghệ mới, làm chủ kỹ thuật và quy trình công nghệ giúp các nhà đầu

tư nước ngoài có thể sử dụng lao động tại chỗ và thực thi triển khai công nghệ

tiên tiến, hiện đại hơn.

Bên cạnh việc đào tạo chuyên môn, thì kiến thức về luật và các kiến thức

xã hội khác cũng cần được quan tâm bổ sung cho các công nhân, nhân viên làm

việc trong các doanh nghiệp có vốn FDI, cả trong và ngoài khu công nghiệp.

Để từ đó, lực lượng lao động trong những doanh nghiệp này có khả năng hiểu

biết về chính công việc của họ cũng như có thể bảo vệ quyền lợi chính đáng

của mình.

Để có được nguồn nhân lực chất lượng thì cần tập trung đào tạo và hướng

nghiệp ngay từ nhỏ, chính vì thế tỉnh cần phải chuẩn bị tốt các điều kiện để thực

thi nội dung chương trình học phù hợp với tâm lý học sinh. Tiếp tục nâng cao

84

chất lượng dạy nghề, đặc biệt là những ngành nghề đang có thu hút lao động

lớn tại tỉnh như: công nghệ, may mặc, cơ khí, hàn tiện…Đẩy mạnh đào tạo nghề

chất lượng cao để lực lượng lao động khi vào làm việc tại các doanh nghiệp,

đặc biệt là doanh nghiệp có vốn FDI khỏi phải bỡ ngỡ.

Năm là, hoàn thiện các giải pháp của chính sách

Để thực thi thành công các mục tiêu về thu hút và sử dụng ĐTNN thời

gian tới theo định hướng nêu trên thì việc đề ra những giải pháp mang tính đột

phá, có hiệu quả và có tính thực thi cao là yếu tố cực kỳ quan trọng. Ngoài các

giải pháp chung như ổn định kinh tế vĩ mô, mở rộng thị trường nội địa để tạo

ưu thế về quy mô thị trường, tập trung khắc phục các “nút thắt” về cơ sở hạ

tầng, nguồn nhân lực, phát triển hệ thống doanh nghiệp trong nước, trong đó có

công nghiệp hỗ trợ nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, chúng ta cùng cần

thực thi nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, phải hoàn thiện hệ thống pháp luật

về đầu tư nhằm tạo môi trường đầu tư đồng bộ, minh bạch, rõ ràng và có tính

tiên liệu. Sửa đổi chính sách ưu đãi đầu tư phù hợp với định hướng thu hút

ĐTNN giai đoạn tới, đồng thời đảm bảo tính hấp dẫn, cạnh tranh so với các

nước trong khu vực. Cải tiến một cách căn bản phương thức xúc tiến đầu tư

theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, theo từng ngành, lĩnh vực, khu vực và

đối tác. Công tác quản lý doanh nghiệp có vốn ĐTNN cũng được chú trọng cải

thiện hiệu quả, đặc biệt là tập trung chuyển đổi mạnh áp dụng chế độ hậu ưu

đãi và hậu kiểm, kết hợp tăng cường chế độ báo cáo, thống kê và giám sát,

thanh tra. Cuối cùng, trong thời gian tới, Chính phủ sẽ tập trung nâng cao hiệu

lực chỉ đạo, điều hành gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính giảm chi phí và

thời gian thực thi các thủ tục cho công dân và doanh nghiệp; kiên quyết đẩy

mạnh hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí để tạo môi trường

Xây dựng chiến lược thu hút vốn FDI gắn liền với việc thúc đẩy tăng

trưởng các ngành kinh tế mũi nhọn tại Vĩnh Long. Trong quá trình thu hút và

85

sử dụng vốn FDI, trước hết cần đảm bảo đầu tư đúng hướng, đúng mục đích,

đúng trọng tâm, trọng điểm, cụ thể như:

- “Các dự án lĩnh vực Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;

- Các dự án lĩnh vực sản xuất chế biến Nông sản;

- Các dự án lĩnh vực Thương mai – Dịch vụ, Du lịch; nhà ở đô thị

- Các dự án lĩnh vực Đầu tư Hạ tầng kỹ thuật Khu, cụm Công nghiệp;

- Các dự án lĩnh vực Y tế, Giáo dục” [Nguồn: Phỏng vấn của tác giả]

Tăng cường cơ chế phối hợp để giải quyết vướng mắc trong quá trình hoạt

động của các dự án đầu tư nước ngoài.

Có chính sách định hướng thu hút đối tác đầu tư từ các nước có công nghệ

cao. Bên cạnh việc thu hút vốn FDI từ các đối tác đầu tư truyền thống, cần có

chính sách xúc tiến và thu hút FDI từ các nước có công nghệ cao như Mỹ, châu

Âu,...

Vĩnh Long cần phải quyết tâm kiến tạo môi trường đầu tư, kinh doanh an

toàn, ít rủi ro nhất cho các nhà đầu tư yên tâm triển khai dự án đầu tư. Đồng

thời, bảo đảm hoạt động của kinh tế tư nhân cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng

theo cơ chế thị trường.

Tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về đầu tư nước ngoài

phù hợp xu hướng phát triển, tiếp cận chuẩn mực tiên tiến quốc tế và hài hòa

với các cam kết quốc tế, bảo đảm sự đồng bộ, nhất quán, công khai, minh bạch

và tính cạnh tranh cao [2]. Xây dựng nhiều chương trình, chính sách nhằm thu

hút FDI, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư.

Tỉnh Vĩnh Long cần xây dựng các tiêu chí về đầu tư để lựa chọn, ưu tiên

thu hút đầu tư phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển ngành, lĩnh vực,

địa bàn. Xây dựng cơ chế đánh giá an ninh và tiến hành rà soát an ninh đối với

các dự án, hoạt động đầu tư nước ngoài có hoặc có thể ảnh hưởng đến an ninh

quốc gia. Đổi mới cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư; xây dựng, bổ sung cơ chế

86

khuyến khích đối với các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, thực thi tốt cam

kết; phân biệt ưu đãi giữa các ngành, nghề đầu tư khác nhau. Có chính sách

khuyến khích hợp tác, chuyển giao công nghệ dựa trên cơ sở thoả thuận, tự

nguyện. Áp dụng nguyên tắc ưu đãi đầu tư gắn với việc đáp ứng các điều kiện,

cam kết cụ thể và cơ chế hậu kiểm, yêu cầu bồi hoàn khi vi phạm các cam kết.

Thực thi chính sách thu hút đầu tư đi kèm với các biện pháp ngăn ngừa

những tác động tiêu cực của hoạt động thu hút FDI. Trong triển khai thực thi

chính sách thu hút FDI cần ngăn ngừa các hiện tượng chuyển giá, đầu tư “chui”,

đầu tư “núp bóng” [2]. Tránh tình trạng doanh nghiệp, dự án sử dụng lãng phí

tài nguyên, đất đai, vi phạm chính sách, pháp luật về lao động, tiền lương, thuế,

bảo hiểm xã hội, môi trường,...

Để thực thi được giải pháp này thì điều kiện là cần rà soát lại toàn bộ nội

dung chính sách, tiến hành khảo sát nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài.

Đồng thời, tổ chức đánh giá tính khả thi của chính sách.

3.2.2. Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Đội ngũ CBCCVC là người trực tiếp thực thi các chính sách, pháp luật về

thu hút FDI, do đó họ là người cần phải có trình độ và kiến thức chuyên môn.

Tuy nhiên thực tế CBCCVC trong lĩnh vực thu hút FDI ở tỉnh Vĩnh Long còn

thiếu, thực thi nhiều hoạt động và có những CBCCVC được thuyên chuyển,

điều động từ bộ phận khác sang, nhiều CBCCVC chưa chú trọng nâng cao trình

độ, nhiều văn bản pháp luật cũng gây khó khăn rất lớn cho thực thi chính sách

thu hút FDI, làm chậm quá trình giải quyết công việc.

Vì vậy trong thời gian tới việc nâng cao năng lực của đội ngũ CBCCVC:

Thứ nhất, Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCCVC

Do đó chú trọng việc nâng cao chất lượng được thường xuyên tổ chức các

lớp tập huấn, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như

cập nhật các kiến thức pháp luật chính sách mới trong lĩnh vực thu hút FDI để

87

đảm bảo họ có thể nắm vững các chủ trương, chính sách và những quy định của

Nhà nước đối với thu hút FDI. Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp

vụ riêng, nội dung cụ thể cho cán bộ công chức thực thi công tác này (kỹ năng

hướng dẫn pháp luật cho nhà đầu tư nước ngoài, kỹ năng tuyên truyền chính sách,

kỹ năng giải có chính sách khuyến khích, đảm bảo lợi ích vật chất và động viên

về mặt tinh thần cho đội ngũ cán bộ công chức thực thi nhiệm vụ trong lĩnh vực

này. Bên cạnh đó cần có cơ chế giám sát, kiểm tra hoạt động của đội ngũ cán bộ

công chức để đảm bảo họ thực thi nghiêm túc công việc của mình.

UBND tỉnh Vĩnh Long chỉ đạo Sở Nội vụ và Sở Kế hoạch và Đầu tư

phối hợp để thực thi chế độ khen thưởng kịp thời đối với những CBCCVC có

đóng góp tích cực, có những sáng kiến giúp cho việc thực thi chính sách thu

hút FDI. Tỉnh Vĩnh Long cần đẩy mạnh việc hợp tác đào tạo, gửi những

CBCCVC trực tiếp làm công tác tham mưu, quản lý trực tiếp sang các nước có

trình độ quản lý tiên tiến để học tập kinh nghiệm các mô hình quản lý hiệu quả

để vận dụng ở nước ta. UBND tỉnh cần tạo điều kiện để đội ngũ CBCCVC có

điều kiện học tập kinh nghiệm của các địa phương trong thực thi chính sách thu

hút FDI. Cần tổ chức các mô hình tham quan thực tế, chia sẻ kinh nghiệm với

các địa phương như Bình Dương, Đà Nẵng,… để tạo điều kiện cho đội ngũ

CBCC học hỏi kinh nghiệm của các địa phương này. Việc trao đổi, chia sẻ kinh

nghiệm cho đội ngũ công chức cần tiến hành khoa học, thực chất.

Đặc biệt, đối với hoạt động xúc tiến đầu tư, tỉnh Vĩnh Long cần tăng cường

phối hợp với Bộ, ngành Trung ương và chú trọng hợp tác với các tổ chức trong

nước và quốc tế trong công tác đào tạo để tiếp tục nâng cao trình độ về pháp

luật đầu tư, kỹ năng xúc tiến đầu tư, năng lực tổ chức hội nghị/hội thảo, trình

độ ngoại ngữ cho các cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư và doanh nghiệp kinh

doanh hạ tầng khu công nghiệp. Từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ làm công

tác xúc tiến đầu tư chuyên nghiệp, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

88

Tỉnh cần tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình và phương thức đào tạo,

bồi dưỡng, chú trọng nâng cao kiến thức chuyên môn, kĩ năng hành chính đáp

ứng yêu cầu QLNN trong xu thế hội nhập quốc tế; thực thi các biện pháp giáo

dục CBCC về tinh thần trách nhiệm, ý thức tận tâm với công việc và thái độ

trọng thị đối với nhà đầu tư. Bên cạnh đó cần tăng cường đấu tranh chống lãng

phí, tham nhũng, kiên quyết xử lý nghiêm các hành động tham nhũng, sách

nhiễu gây khó khăn cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp.

Thứ hai, Hoàn thiện công tác quản lý đội ngũ CBCCVC

Tỉnh Vĩnh Long cần hoàn thiện chế độ tuyển dụng công chức; lựa chọn

những người có chuyên môn cao, phẩm chất tốt; bố trí công việc phù hợp với

chuyên ngành được đào tạo và năng lực của mỗi người để làm việc ở sở Kế

hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các Khu công nghiệp; Trung tâm Xúc tiến Đầu

tư và Hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh,... để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực thi chính

sách thu hút FDI.

Xây dựng cơ chế đánh giá CBCC một cách khoa học, hợp lý; cơ chế

thưởng phạt rõ ràng, nghiêm minh kết hợp với các chế độ đãi ngộ khác ngoài

tiền lương. Có như thế CBCC mới yên tâm công tác và dành tâm huyết cho

công việc được giao. Thực thi các biện pháp giáo dục CBCC về tinh thần trách

nhiệm, ý thức tận tâm với công việc và thái độ trọng thị đối với nhà đầu tư.

Thủ trưởng các cơ quan bên cạnh việc phân công, phân cấp mạnh mẽ cho

cấp dưới nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của cấp dưới trong công việc

thì cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả thực thi công việc đã giao, để kịp

thời phát hiện và xử lý những sai sót cũng như có những động viên, khích lệ

thỏa đáng đối với những kết quả tốt trong công việc.

Để thực thi tốt giải pháp này thì các cơ quan nhà nước cần hoàn thiện nội

dung chương trình đào tạo. Đồng thời cần tăng tính chủ động và tích cực của

mỗi CBCCVC

89

3.2.3. Tăng cường sự tham gia và phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức

trong triển khai thực thi chính sách

Việc thực thi chính sách thu hút đầu tư trực tiếp ngoài liên quan đến rất

nhiều CQNN khác nhau do đó để triển khai thực thi có hiệu quả chính sách thì

đòi hòi phải tăng cường sự tham gia của các chủ thể này. Bên cạnh đó cần thiết

lập mối quan hệ giữa các cơ quan, tổ chức này trong quá trình thực thi chính

sách. Tuy nhiên hiện nay thực trạng sự tham gia phối hợp hiện nay của các cơ

quan, tổ chức trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long trong thực thi chính sách là chưa chủ

động và chưa thực thi tốt. Vì vậy cần phải tăng cường sự tham gia và phối hợp

giữa các cơ quan, tổ chức trong triển khai thực thi chính sách, trong đó cần tập

trung:

Thứ nhất, tăng cường sự tham gia của các chủ thể vào thực thi chính sách

UBND tỉnh Vĩnh Long phải chỉ đạo và tạo điều kiện cho các chủ thể tham

gia vào thực thi chính sách thu hút FDI. Hiện nay, việc thực thi chính sách này

chủ yếu giao cho sở Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ

doanh nghiệp tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường. Trong khi đó sự tham gia của

các Sở, Ban, ngành khác như: Sở Công Thương, Sở Giao thông Vận tải, Sở

Ngoại vụ là chưa nhiều. Ngoài ra, sự tham gia của UBND cấp huyện là chưa

nhiều. Hiện nay, trong nhận thức của nhiều cơ quan, cá nhân thì vẫn “khoán

trắng” việc thực thi chính sách này Sở Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm Xúc tiến

đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh. Điều này gây ra những khó khăn nhất định

triển khai thực thi các nội dung công việc này. Khối lượng công việc dành cho

Sở Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh

là tương đối lớn. Do đó, cần phải có sự chia sẻ công việc giữa các chủ thể.

UBND tỉnh Vĩnh Long cần chỉ đạo các cơ quan tham gia. Sở Kế hoạch và Đầu

tư cần tham mưu cho UBND tỉnh phân công nhiệm vụ cụ thể cho các Sở, Ban,

ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố. Ngoài ra, các cơ quan này cần

90

chủ động và tích cực tham gia vào thực thi chính sách thu hút FDI. Các cơ quan

này cần phải nhận thức được vai trò cũng như trách nhiệm của mình để chủ

động tham gia.

Sở Lao động, Thương binh và Xã hội: Cần tiến hành rà soát hệ thống các

trường, cơ sở đào tạo nghề, lựa chọn các đơn vị có năng lực, cơ sở vật chất;

khảo sát và tổng hợp yêu cầu về đào tạo nghề của các nhà đầu tư trong và ngoài

nước và các nhà đầu tư; Từ đó, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh áp dụng cơ chế

đặc thù, kế hoạch hợp tác với các tổ chức, doanh nghiệp, tập đoàn của các nước

và của Nhật Bản trong đào tạo nghề theo yêu cầu. Ngoài ra, còn lập kế hoạch

và đề xuất chương trình hợp tác đào tạo tiếng Anh hoặc bản ngữ của các nhà

đầu tư cho nhân lực phục vụ các dự án FDI nói chung và của các nhà đầu tư cụ

thể nói riêng.

Sở Công Thương: cần tiến hành rà soát các nhóm ngành công nghiệp phụ

trợ, khả năng của các doanh nghiệp Việt Nam, cũng như hệ thống kết cấu hạ

tầng cung cấp điện, đề xuất phương án đảm bảo cung cấp đủ và ổn định điện

cho các nhà máy sản xuất của các nhà đầu tư nước ngoài.

Phòng Kinh tế - Ngoại vụ: Phối hợp chặt chẽ với Sở Kế hoạch và Đầu tư

làm đầu mối thường xuyên quan hệ với các cơ quan đại diện ngoại giao, kinh

tế của Việt Nam tại nước ngoài và tại các quốc gia này để nâng cao hiệu quả

công tác xúc tiến đầu tư và mở rộng quan hệ với các đối tác nước ngoài.

Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố: tập trung cho công tác đền

bù giải phóng mặt bằng các khu công nghiệp và khu công nghiệp chuyên sâu

dành cho doanh nghiệp FDI.

Sở Nội vụ: Tiếp tục có những giải pháp kịp thời để đẩy mạnh cải cách

hành chính trên địa bàn đặc biệt là các thủ tục hành chính liên quan đến cấp

phép đầu tư nước ngoài. Sở Nội vụ cần phối hợp với các đơn vị để xây dựng kế

hoạch để tiếp tục cải thiện chỉ số PCI của tỉnh.

91

Ngoài ra, UBND tỉnh cần tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội

tham gia vào quá trình triển khai thực thi chính sách. Việc tham gia có thể tập

trung vào những vấn đề sau:

+ Tham gia vào đóng góp ý kiến cho xây dựng các chương trình, kế hoạch

triển khai thực thi chính sách

+ Tham gia vào quá trình tuyên truyền, phổ biến chính sách

+ Tham gia vào quá trình kiểm tra, đánh giá việc thực thi nội dung của

chính sách

Đặc biệt, là tạo điều kiện để các tổ chức chính trị - xã hội như Đoàn Thanh

niên, Mặt trận, Hội Nông dân vào thực thi việc tuyên truyền, phổ biến chính sách

cũng như kiểm tra, giám sát, đánh giá. Các tổ chức này cần tích cực tham gia vào

tuyên truyền, vận động hội viên của mình tham gia thực thi chính sách. Bên cạnh

đó những tổ chức này cần tích cực đóng góp ý kiến vào kết quả cũng như những

vấn đề đặt ra thực thi chính sách. Sở Kế hoạch và Đầu tư cần tăng cường tổ chức

các hội thảo, tọa đàm để tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia đóng góp trong

sơ kết cũng như tổng kết việc thực thi các nội dung của chính sách.

Thứ hai, tăng cường sự phối hợp giữa các chủ thể trong quá trình tham

gia thực thi chính sách

UBND tỉnh cần xây dựng cơ chế cũng như tăng cường sự phối hợp giữa

các Sở, Ban, Ngành, UBND cấp huyện và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa

bàn tỉnh trong thực thi chính sách thu hút FDI.

Sở Kế hoạch và Đầu tư cần phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Xúc tiến đầu

tư và Hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh và các Ban, Ngành, đoàn thể để xây dựng và

cung cấp các gói thông tin cần thiết cho nhà đầu tư nước ngoài về các vấn đề:

thực trạng nguồn nhân lực, phương thức đào tạo và tuyển dụng nhân lực, thực

trạng về hạ tầng hệ thống đường giao thông, quy hoạch các KCN, điện, cấp

thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc, viễn thông, quyền sở hữu trí tuệ, các

92

yêu cầu bắt buộc khi tham gia các dự án đầu tư,… để các nhà đầu tư nước ngoài

nắm rõ thế mạnh của địa phương.

UBND tỉnh Vĩnh Long cần chỉ đạo các cơ quan phải tăng cường hiệu lực

và hiệu quả cơ chế phối hợp giữa các Sở, Ban, ngành trong công tác quản lý,

giám sát, thanh tra, kiểm tra các dự án FDI tại các KCN. Cụ thể, Ban Quản lý

các KCN tỉnh Vĩnh Long cần tiếp tục tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực thi

quy định về bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động đối với các dự án đã

triển khai; giám sát việc xây dựng theo quy hoạch, giấy phép xây dựng và công

tác bảo vệ môi trường đối với các dự án đang trong quá trình thi công xây dựng.

Bên cạnh đó, phối hợp với cơ quan thuế các cấp trên địa bàn tỉnh nhằm

duy trì và thực thi tốt công tác giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động, giảm

thiểu tình trạng chuyển giá, các vi phạm về chính sách thuế đối với các DN FDI

tại các KCN

Cần xác định lại nhiệm vụ, quyền hạn và chức năng cụ thể của bộ máy

QLNN sau cấp phép, trong đó nên giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư làm cơ quan

chịu trách nhiệm chính và thường trực theo dõi, quản lý, tổng hợp, phối hợp

với Ban quản lý các Khu công nghiệp và các ngành đơn vị khác trên địa bàn

thành phố làm đầu mối tham mưu cho UBND tỉnh trực tiếp quản lý các doanh

nghiệp FDI sau cấp phép ở địa phương, còn ở trung ương nên giao cho Bộ Kế

hoạch và Đầu tư, tránh trường hợp như hiện nay, vấn đề nào liên quan đến

ngành nào thì ngành đó quản lý một cách manh mún, đơn lẻ thiếu công tác phối

kết hợp, thông tin trao đổi chặt chẽ,...

Sở Kế hoạch và Đầu tư và Ban quản lý các Khu công nghiệp tỉnh cần phân

công công chức chuyên trách làm công tác thống kê, báo cáo, tổng hợp và áp

dụng những phần mềm tin học quản lý để xây dựng ngân hàng dữ liệu về doanh

nghiệp FDI...

93

Ngoài ra, các cơ quan cần tăng cường phối hợp trong công tác lập báo cáo

tình hình thực thi các dự án đầu tư gặp nhiều khó khăn và không kịp thời gian

yêu cầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư do doanh nghiệp gửi báo cáo không đầy

đủ và kịp thời là do hiện nay vẫn chưa có chế tài trong việc nộp báo cáo của

doanh nghiệp. Vì vậy, kiến nghị Chính phủ cần sớm ban hành quy định những

chế tài về hành chính đủ mạnh để xử lý những trường hợp doanh nghiệp FDI

cố tình hoặc chây ì không nộp báo cáo tình hình hoạt động,…

Phân công, phân cấp QLNN về đầu tư một các rõ ràng và hợp lý từ tỉnh

đến cơ sở trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế

phối hợp giữa các Sở, Ban, ngành và các địa phương có liên quan. Mỗi việc chỉ

nên do một cơ quan chịu trách nhiệm làm đầu mối giải quyết, giảm thiểu tình

trạng cơ quan nào cũng cho rằng mình có quyền cao nhất, hoặc chí ít là phải

được hỏi ý kiến theo “cơ chế thoả thuận”, thực chất là tham gia quyết định.

Đối với các dự án FDI trên địa bàn tỉnh, nếu việc thu hút cũng như quản

lý các dự án FDI chỉ được xem là nhiệm vụ của riêng Sở Kế hoạch và Đầu tư

thì chắc chắn sẽ không thể thực thi được, mặt khác sẽ xảy ra hiện tượng đùn

đẩy trách nhiệm trong công việc. Vì vậy, lãnh đạo tỉnh cần có những quy định

cụ thể về trách nhiệm của các Sở, Ban, ngành, UBND các cấp trong quá trình

giải quyết các công việc có liên quan đến đầu tư nước ngoài theo hướng Sở Kế

hoạch và Đầu tư là tham mưu chính và có sự phối hợp giữa các Sở, Ban, ngành

khác để vừa trải đều công việc, vừa có tính thống nhất cũng như kiểm soát công

việc tốt hơn. Ngoài ra, với từng công việc cụ thể như thẩm định dự án, đền bù,

giải phóng mặt bằng, giao đất, cho thuê đất, cấp phép xây dựng, quản lý công

trình…thì cần có sự trợ giúp phối hợp của các Sở, Ban, ngành khác như: Sở Tài

nguyên và Môi trường; Sở Xây dựng; Sở Tài chính, Cục thuế, Công an tỉnh,

UBND các cấp.

Các Sở, Ban, ngành liên quan cần thực thi nghiêm túc chế độ báo cáo định

94

kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm về tình hình, tiến độ thực thi các dự án cho

Sở Kế hoạch và Đầu tư để theo dõi, tổng hợp và báo cáo trực tiếp với UBND

thành phố.

UBND tỉnh cần tiếp tục phối hợp với Bộ Ngoại giao, các Bộ, ngành, Trung

ương để tổ chức các buổi tọa đàm giới thiệu về tỉnh Vĩnh Long cũng như Hội

nghị Xúc tiến Đầu tư của tỉnh đến các Tổng Lãnh sự, các Hiệp hội, doanh

nghiệp nước ngoài đang đầu tư tại thành phố Hồ Chí Minh.

Để thực thi tốt giải pháp này thì các cơ quan nhà nước cần phân định chức

năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các chủ thể trong thực thi chính sách. Bên

cạnh đó các cơ quan đơn vị cần chủ động và tích cực hơn nữa.

3.2.4. Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư

Hoạt động xúc tiến đầu tư là một trong những nhân tố quyết định đến hiệu

lực, hiệu quả của quá trình thu hút FDI cũng như thực thi chính sách thu hút FDI.

Theo đồng chí Nguyễn Văn Quang, Chủ tịch UBND tỉnh thì “Hiện nay, công tác

xúc tiến đầu tư đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư, là tiền đề quan

trọng để lựa chọn được nhà đầu tư có năng lực triển khai thực hiện các dự án,

góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư. Tuy nhiên, trong thời gian qua

hoạt động xúc tiến đầu tư FDI của tỉnh Vĩnh Long còn tiến hành chậm và chưa

hiệu quả” (Nguồn: Phỏng vấn của tác giả). Vấn đề đặt ra là phải nâng cao hiệu

quả hoạt động xúc tiến đầu tư. Để làm tốt công tác xúc tiến đầu tư, các, Ban,

ngành liên quan cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

Thứ nhất, xác định đối tượng cần vận động xúc tiến đầu tư

Căn cứ vào tiềm năng nguồn lực, mục tiêu, định hướng phát triển KT-XH

của tỉnh và các dự án thu hút FDI để lựa chọn các đối tác đầu tư một cách khoa

học, chính xác, đúng năng lực, sở trường của nhà đầu tư. Xem trọng dòng vốn

FDI, nhưng thu hút FDI phải có lựa chọn theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu

quả KT-XH; các dự án FDI phải được xem xét toàn diện trên cơ sở lợi ích nhà

95

nước, nhà đầu tư, người lao động, lợi ích của địa phương và ảnh hưởng của nó

đến xã hội và môi trường. Mặt khác, khi xem xét, thẩm định cấp phép đầu tư

FDI cần quan tâm đến các vấn đề khác như: Phù hợp với quy hoạch không gian

phát triển KT-XH của vùng; trình độ công nghệ; hình thành đội ngũ lao động

có chuyên môn kỹ thuật cao và mang lại lợi ích KT-XH cho địa phương; có

ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự xã hội, an ninh quốc phòng và cuộc sống của

cộng đồng, dân cư hay không; tác động, làm tổn hại đến môi trường sinh thái.

Dự án FDI không đạt các tiêu chí trên thì kiên quyết không cấp phép đầu tư.

Tỉnh Vĩnh Long phải chủ động hợp tác với các cơ quan Trung ương, nhất

là các cơ quan truyền thông và ngoại giao để tạo hình ảnh riêng của địa phương

mình với các nhà ĐTNN.

Ngoài ra, tỉnh nên mở rộng các hoạt động XTĐT đối với các nhà đầu tư ở

các thị trường mới như Châu Âu, Châu Mỹ. Thực tế hiện nay các NĐTNN ở

tỉnh Vĩnh Long chủ yếu là Châu Á. Do đó cần mở rộng xúc tiến đối với các

nước ở các thị trường khác. Đồng thời, cần tìm hiểu kỹ các nhà đầu tư ở các thị

trường này để đảm bảo tính phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh.

Thứ hai, đa dạng hoá các hình thức xúc tiến đầu tư

Sử dụng các kênh, loại hình, hình thức truyền thông và tổ chức các hội

nghị, hội thảo khoa học, ở cả trong nước và nước ngoài để tuyên truyền, quảng

bá chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước, tiềm năng nguồn lực của vùng,

đặc điểm các dự án kêu gọi FDI.

Công tác xúc tiến đầu tư phải được tiến hành thường xuyên đến tận các

quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới và có thể tổ chức vận động, xúc tiến đầu

tư tại một số địa bàn trọng điểm, nơi có nhiều nhà đầu tư tiềm năng, có khả

năng lan toả ra các nước khác như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc,

EU, ASEAN, Nga, Na Uy, Hoa Kỳ,...

96

Thành lập cổng thông tin điện tử, xây dựng cơ sở dữ liệu KT-XH của toàn

vùng nhằm xây dựng và giới thiệu hình ảnh của tỉnh với các nhà đầu tư trong

và ngoài nước. Hệ thống thông tin cần đáp ứng những thông tin cần thiết để

nhà ĐTNN cân nhắc việc lựa chọn dự án và địa điểm: mục tiêu, vốn đầu tư,

phương thức đầu tư, các điều kiện đảm bảo về giao thông, viễn thông, năng

lượng, cấp thoát nước, nguồn nhân lực tại chỗ và nguồn nhân lực có thể đào

tạo, các ưu đãi về thuế, tiền thuê đất, xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm trên thị

trường nội địa; các tổ chức dịch vụ tư vấn về pháp lý, lập dự án, xử lý quan hệ

với CQNN, các địa chỉ cần liên hệ để có thông tin về dự án.

Công khai, minh bạch hệ thống thông tin kinh tế - xã hội, pháp luật, chính

sách, quy hoạch, kế hoạch, thị trường,... Tăng cường cơ chế đối thoại, đổi mới,

mở rộng phương thức tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của nhà đầu tư; xử lý dứt

điểm, kịp thời các khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án đang thực thi.

Đặc biệt, cần công khai và minh bạch các chủ trương, chính sách, quy

hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH của tỉnh, nhất là các chương trình, dự án, đề

án liên kết phát triển ngành, lĩnh vực. Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi và lòng tin

đối với các nhà đầu tư của thế giới, khu vực đến với tỉnh Vĩnh Long.

Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư.

Rà soát, cơ cấu lại hệ thống các cơ quan xúc tiến đầu tư hiện có (không thành

lập mới) theo hướng chuyên nghiệp, độc lập, không chồng chéo, không trùng

lặp với các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài; xem

xét khả năng gắn kết với xúc tiến thương mại và du lịch một cách linh hoạt, phù

hợp với yêu cầu và đặc thù của từng địa phương.

Tăng cường sự phối hợp, liên kết giữa Trung ương với địa phương, giữa

các vùng, giữa cơ quan quản lý nhà nước với các hiệp hội nghề nghiệp trong

công tác xúc tiến đầu tư. Chủ động xúc tiến đầu tư có mục tiêu, trọng tâm, trọng

điểm, gắn với các tiêu chí hợp tác đầu tư mới; tiếp tục duy trì các thị trường và

97

đối tác truyền thống, đồng thời mở rộng thị trường, đối tác mới. Đa dạng hoá các

hoạt động và phương thức xúc tiến đầu tư; chú trọng xúc tiến đầu tư tại chỗ với

những dự án hợp tác thành công cụ thể. Đầu tư thoả đáng cho hoạt động xúc tiến.

Ưu tiên thực thi các hoạt động xúc tiến đầu tư quốc gia, vùng, liên ngành.

Tăng cường hiệu quả và đổi mới phương thức xúc tiến đầu tư cả trong và

ngoài nước. Theo đó, nghiên cứu mô hình Ban chỉ đạo Xúc tiến đầu tư tỉnh và

Trung tâm Xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch của thành phố. Công khai kế

hoạch và các thủ tục đầu tư bằng nhiều hình thức. Cung cấp kịp thời, đầy đủ,

chính xác các thông tin kinh tế - xã hội, quy hoạch, định hướng thu hút đầu tư

của thành phố cho các nhà đầu tư. Đồng thời, xúc tiến đầu tư theo hướng chuyên

nghiệp, chủ động hơn, đúng trọng tâm, bám sát nhu cầu và thực tế của tỉnh, trực

tiếp đến từng tập đoàn, đối tác, hướng vào thị trường và sản phẩm cụ thể. Tăng

cường liên kết với các trung tâm xúc tiến đầu tư trực thuộc Bộ Kế hoạch và

Đầu tư, các hiệp hội ngành hàng, tổ chức quốc gia và quốc tế, cơ quan đại diện

ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài, các cơ quan truyền thông đại chúng và

doanh nghiệp.

3.2.5. Tăng cường sự tham gia của các doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một trong những chủ thể tham gia vào quá trình thực thi

chính sách thu hút FDI. Vì vậy, mức độ tham gia của doanh nghiệp vào thực

thi chính sách là một trong những nhân tố quyết định hiệu lực, hiệu quả của

thực thi chính sách thu hút FDI. Thực tế hiện nay tại Vĩnh Long mức độ tham

gia của các doanh nghiệp là chưa nhiều và chưa chủ động. Để tăng cường sự

tham gia của doanh nghiệp cần tập trung vào những nội dung sau đây:

Thứ nhất, tăng cường đối thoại giữa chính quyền và doanh nghiệp

Tiếp tục tăng cường công tác đối thoại giữa doanh nghiệp với chính quyền,

để lắng nghe phản ánh những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp. Lãnh

đạo UBND tỉnh, sở, ngành, huyện, thị, thành duy trì lịch làm việc trực tiếp với

98

doanh nghiệp để trực tiếp chỉ đạo giải quyết những khó khăn vướng mắc trong

thời gian sớm nhất.

Lãnh đạo tỉnh cần phải thường xuyên gặp gỡ, đối thoại với doanh nghiệp,

hơn nữa là làm cho các cuộc đối thoại sôi nổi, triển khai được nhiều vấn đề mà

các nhà đầu tư quan tâm để các nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp nắm bắt

tình hình thực thi các thể chế, chính sách trong thực tế cũng như lắng nghe

những ý kiến đề xuất. Từ đó, kịp thời có những bổ sung, sửa đổi hoặc kiến nghị

bổ sung, sửa đổi những quy định, thủ tục không phù hợp làm ảnh hưởng đến

hoạt động đầu tư, gây khó khăn cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp.

Duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên giữa lãnh đạo tỉnh với các doanh

nghiệp, qua đó nắm bắt và tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các

doanh nghiệp. Tỉnh Vĩnh Long cần tham khảo mô hình đối thoại giữa lãnh đạo

tỉnh và doanh nghiệp của các địa phương, đặc biệt là mô hình “cafe doanh

nhân”, “cafe Bí thư, Chủ tịch”. Sở Kế hoạch và Đầu tư cần tham mưu cho

UBND tỉnh tổ chức đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các Sở, Ban ngành

với các doanh nghiệp, các NĐTNN.

Thứ hai, tăng cường tính chủ động của doanh nghiệp và người dân

Nâng cao nhận thức của người dân về chính sách thu hút đầu tư của đất

nước, của địa phương để tạo được sự đồng tình ủng hộ và sự tham gia của cộng

đồng trong công tác thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh. UBND tỉnh cần tuyên

truyền, phổ biến để nâng cao tính chủ động của các doanh nghiệp trên địa bàn

tỉnh. Các doanh nghiệp cần chủ động hơn trong việc xúc tiến đầu tư. Cần chủ

động làm việc với các NĐTNN để quảng bá hình ảnh cũng như mời gọi đầu tư.

Các doanh nghiệp cần mở rộng thị trường mời gọi đầu tư, chủ động liên kết với

các doanh nghiệp lớn trong nước để mời gọi đầu tư. Muốn làm được điều này

đòi hỏi các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cần phải rà soát lại công việc sản

xuất, kinh doanh, xây dựng chiến lược đầu tư kinh doanh phù hợp để có thể tạo

99

niềm tin cho các NĐTNN. Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cần phải chung

tay với tỉnh trong quá trình thực thi chính sách thu hút đầu tư nước ngoài.

Cộng đồng Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh phải ý thức được trách nhiệm,

phải nâng cao trình độ quản lý, năng lực cạnh tranh. Tăng cường nghiên cứu,

tiếp cận khoa học công nghệ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, xây dựng

chiến lược kinh doanh, mở rộng liên doanh, liên kết, xây dựng văn hóa kinh

doanh, văn hóa doanh nghiệp, tham gia tích cực các hoạt động xã hội, góp phần

phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Các CQNN trên địa bàn tỉnh cần quán triệt tinh thần mà Chủ tịch UBND

tỉnh đã nhấn mạnh “UBND tỉnh cam kết sẵn sàng lắng nghe ý kiến đóng góp

của doanh nghiệp, luôn đồng hành và tạo mọi điều kiện để các doanh nghiệp

phát triển ổn định, bền vững. Tỉnh Vĩnh Long sẽ tiếp tục cải thiện mạnh mẽ,

nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng ổn

định, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch, bình đẳng. Vĩnh Long quyết tâm trở

thành điểm đến tin cậy, hấp dẫn của doanh nghiệp, nhà đầu tư”[Nguồn: Phỏng

vấn của tác giả]. Vì vậy ngoài sự nỗ lực của UBND tỉnh thì các nhà đầu tư, các

doanh nghiệp cũng cần đồng hành với tỉnh.

Để thực thi tốt giải pháp này thì cần xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa

chính quyền và doanh nghiệp, chính quyền cần thường xuyên lắng nghe ý kiến

đóng góp của doanh nghiệp. Ngoài ra, các doanh nghiệp cần nhận thức được

lợi ích của sự tham gia từ đó chủ động, tích cực hơn trong việc tham gia

3.2.6. Đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất để thực thi chính sách và hỗ

trợ nhà đầu tư nước ngoài

Để có thể thực thi tốt chính sác thu hút FDI thì đòi hỏi phải có các nguồn

lực vật chất. Mức độ đảm bảo điều kiện nguồn lực vật chất sẽ ảnh hưởng rất

lớn cho quá trình triển khai thực thi chính sách. Tuy nhiên hiện nay mức độ đảo

bảo các điều kiện cơ sở vật chất ở tỉnh Vĩnh Long vẫn chưa tốt, điều này gây

100

khó khăn cho quá trình thực thi chính sách. Trong thời gian tới, tỉnh Vĩnh Long

cần tập trung:

Thứ nhất, bổ sung kinh phí cho quá trình triển khai thực thi chính sách

Sở Kế hoạch và Đầu tư cần phối hợp với Sở Tài chính rà soát lại việc sử

dụng ngân sách cho hoạt động thu hút đầu tư nói chung và FDI nói riêng. Trên

cơ sở đó cần bổ sung thêm ngân sách cho hoạt động này. Mặc dù xác định thu

hút đầu tư nói chung và FDI là giải pháp trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã

hội thì ngân sách đầu tư cho hoạt động này còn khá khiêm tốn. Cần bổ sung thêm

kinh phí cho các hoạt động xúc tiến đầu tư, bổ sung thêm trong Dự toán ngân

sách hằng năm. Có chế độ hỗ trợ thêm cho Trung tâm xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ

doanh nghiệp của tỉnh để đảm bảo hoạt động hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, cần đẩy

mạnh hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực xúc tiến đầu tư. Thu hút các khoản

đóng góp của các doanh nghiệp vào hoạt động xúc tiến FDI. Cần tăng cường

hoạt động vận động tài trợ cho các hoạt động xúc tiến thương mại, trong đó cần

quy định cụ thể về quyền lợi của các nhà tài trợ để có cơ sở vận động.

UBND tỉnh cần tham mưu cho HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết mới thay

thế Nghị quyết 64/2017/NQ-HĐND ngày 07/7/2017 Quy định thí điểm chính

sách khuyến khích và hỗ trợ đầu tư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long. Tỉnh cần tham

mưu theo hướng nâng cao mức hỗ trợ cho các hoạt động xúc tiến đầu tư trên

địa bàn tỉnh.

Thứ hai, đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng kĩ thuật theo hướng hiện đại

Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật không chỉ là điều kiện cần để

tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư của tỉnh mà đó còn là cơ hội để tỉnh

tăng thu hút vốn nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng, cũng như có thể và có

khả năng thu lợi đầy đủ hơn từ dòng vốn nước ngoài đã thu hút được (thông

qua tăng thu nhập từ dịch vụ vận tải, viễn thông, tài chính, thương mại,…phục

vụ các dự án đầu tư đang và sẽ triển khai).

101

Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xây dựng cơ chế ưu đãi để thu

hút nguồn vốn, nhà đầu tư để xây dựng hạ tầng kỹ thuật các khu vực trọng

điểm, có lợi thế để phát triển các KCN, cụm công nghiệp, dịch vụ chất lượng

cao, nông nghiệp công nghệ cao nhằm thu hút đầu tư sẽ là một bước đi đúng

đắn. Triển khai có hiệu quả cơ chế hỗ trợ đầu tư hạ tầng trong và ngoài hàng

rào KCN theo Nghị quyết số 57/2016/NQ-HĐND ngày 12/12/2016 của HĐND

tỉnh về một số biện pháp đặc thù thu hút đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp trên địa

bàn tỉnh.

Để có thể đầu tư cơ sở hạ tầng thì ngoài nguồn vốn ngân sách, cần phải

huy động các nguồn vốn khác để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật: vốn

ODA, vốn vay thương mại, phát hành trái phiếu trong nước và quốc tế, khuyến

khích vốn FDI đầu tư vào các dự án BOT, BT, BTO để phát triển hạ tầng theo

quy hoạch thống nhất, đảm bảo tính liên tục, đồng bộ và hiện đại. Trong thời

gian tới, cần chú ý đến các hướng phát triển sau:

- Củng cố, hoàn thiện và phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH trong sự gắn

kết với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế vùng

- Tăng cường công tác tuyên truyền cho Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhận

thức sâu về tầm quan trọng của việc xây dựng kết cấu hạ tầng, chỉnh trang đô

thị, quyết tâm phấn đấu xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo ra cơ chế thống nhất dưới

sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, sự quản lý điều hành của chính quyền và làm chủ của

nhân dân lao động, có cơ chế tạo vốn đầu tư để phát triển kết cấu hạ tầng.

- Khẩn trương xây dựng quy hoạch và bổ sung quy hoạch tổng thể phát

triển KT - XH của tỉnh đến năm 2030 và quy hoạch chung đến năm 2050 cho

phù hợp với nội dung Nghị quyết của Bộ Chính trị.

- Triển khai, xây dựng các công trình trọng điểm để kêu gọi đầu tư như

nâng cấp và mở rộng Quốc lộ 53, 54, 57, 80.

Thứ ba, thực thi hỗ trợ công tác đền bù, giải phóng mặt bằng

102

Có thể nhận thấy rằng khó khăn lớn nhất trong thu hút đầu tư nước ngoài

của mọi địa phương là thiếu quỹ đất công và mặt bằng “sạch” để bàn giao cho

nhà đầu tư ngay khi các nhà đầu tư vào địa phương. Phần lớn, các dự án đầu tư

bị vướng mắc ở khâu đền bù, giải phóng mặt bằng. Không giải phóng được mặt

bằng, dự án chậm triển khai, vốn đầu tư bị tồn đọng, cơ hội làm ăn của nhà đầu

tư bị trôi qua. Về phía địa phương sẽ dẫn đến nguy cơ làm thu hẹp khả năng tận

dụng nguồn vốn để đầu tư phát triển thành phố, giảm sức cạnh tranh của môi

trường đầu tư tại thành phố. Vì vậy, Vĩnh Long cần chỉ đạo các cấp, các ngành

phối hợp thực thi tốt công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, nhanh chóng giao

đất cho nhà đầu tư triển khai dự án. Đẩy mạnh hoạt động giải phóng mặt bằng

để tạo ra nguồn đất sạch giao cho các nhà đầu tư nước ngoài.

+ Có những buổi họp dân kết hợp với các phương tiện thông tin đại chúng

để đẩy mạnh tuyên truyền rộng rãi cho người dân được biết các thông tin về

quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch sử dụng đất. Quy hoạch càng được công khai

rộng rãi thì việc di dời giải tỏa càng tránh được sự phản ứng của người dân.

+ Sở Tài chính tham mưu cho UBND tỉnh ban hành văn bản hướng dẫn

các huyện, thị xã, thành phố thực thi chính sách đền bù cụ thể cho người dân

theo từng thời điểm. Căn cứ vào giá thị trường, áp dụng mức giá đền bù phù

hợp đảm bảo hài hoà các lợi ích giữa Nhà nước, chủ đầu tư và người dân.

+ Trung tâm Phát triển quỹ đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường cần

nêu cao vai trò, trách nhiệm của mình, tích cực, năng động, sáng tạo và chủ

động trong việc tạo quỹ đất “sạch” cho thành phố theo quy định pháp luật hiện

hành. Khi thực thi bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải thực thi đúng chính sách

Nhà nước ban hành; khi thu hồi đất, phải đảm bảo ổn định đời sống cho người

có đất bị thu hồi, có biện pháp khắc phục ách tắc, tránh việc kéo dài thời gian

gây ảnh hưởng trong công tác giải phóng mặt bằng.

+ Một số hộ dân chưa chịu di dời vì Nhà nước chưa hoàn thiện cơ sở hạ

103

tầng trong khu tái định cư và đền bù chưa thỏa đáng. Vì vậy, UBND tỉnh cần

chú trọng triển khai quy hoạch khu tái định cư trước khi thực thi quy hoạch quỹ

đất, bên cạnh đó luôn xem xét giá đất đền bù phù hợp để người dân tránh gây

phiền hà. Mặt khác, tiếp tục rà soát và đấu giá một số lô đất công, đặc biệt là

những khu đất có vị trí sinh lời cao để tạo nguồn vốn cho xây dựng cơ bản, hỗ

trợ chi phí đền bù giải tỏa.

+ Đối với các trường hợp hộ dân lấn chiếm đất, xây dựng trái phép, không

chịu di dời hoặc không hợp tác với CQNN kiểm kê áp giá đền bù thì cần phải

có biện pháp xử lý nghiêm khắc và triệt để,...

Phối hợp với các đối tác trong và ngoài nước tạo sự chuyển biến mạnh mẽ

trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ

cho các khu công nghiệp đã có, xúc tiến đầu tư thêm các khu công nghiệp mới,

trong đó tập trung đầu tư một khu công nghiệp chuyên sâu, công nghiệp phụ

trợ đi kèm với khu đô thị, dịch vụ dành cho các nhà đầu tư Nhật Bản trong lĩnh

vực điện tử, sản xuất cơ khí và các ngành công nghiệp phụ trợ

Để thực thi tốt giải pháp này thì các cơ quan nhà nước cần quản lý, khai

thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Đồng thời phải huy động các nguồn

lực từ xã hội bằng cách đẩy mạnh xã hội hóa theo từng lĩnh vực.

104

Tiểu kết chương 3

Với những bất cập, hạn chế trong việc thực thi chính sách thu hút vốn FDI

thì đòi hỏi các CQNN phải xây dựng các giải pháp khoa học và phù hợp. Việc

xây dựng các giải pháp hoàn thiện thực thi chính sách thu hút vốn FDI phải

bám sát vào các nguyên nhân của hạn chế.

Trên cơ sở nguyên nhân của hạn chế trong chương 2, chương 3 của luận

văn đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện thực thi chính sách thu hút FDI. Để xây

dựng các giải pháp, luận văn đã dựa trên các quan điểm, định hướng của Đảng

và Nhà nước về hoàn thiện thực thi chính sách thu hút FDI. Luận văn đã xây

dựng 6 giải pháp, bao gồm: Hoàn thiện các nội dung của chính sách; Nâng cao

năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Tăng cường sự tham gia và

phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong triển khai thực thi chính sách; Tăng

cường công tác xúc tiến đầu tư; Tăng cường sự tham gia của các doanh nghiệp;

Đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất để thực thi chính sách và hỗ trợ nhà đầu

tư nước ngoài.

105

KẾT LUẬN

Sự gia tăng quy mô và chất lượng liên kết kinh tế quốc tế không những

tăng cường nguồn lực phát triển nền kinh tế mà còn là động lực của việc tiếp

tục đổi mới trong nước và giảm thiểu sức ép, rủi ro từ bên ngoài. Việc đẩy mạnh

thu hút vốn FDI là một trong những giải pháp nhằm đảm bảo các nguồn lực cho

phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những diễn

biến nhanh và phức tạp, mang lại không ít những cơ hội và thách thức cho việc

thu hút đầu tư nước ngoài, cần có giải pháp đột phá, có hiệu quả và tính thực

thi cao để cải thiện môi trường đầu tư, tiếp tục thu hút và phát huy tối đa hiệu

quả của nguồn vốn ĐTNN. Bên cạnh việc hoàn thiện các nội dung của chính

sách thu hút FDI thì đòi hỏi các địa phương phải tăng cường thực thi chính sách

thu hút FDI tại địa bàn của mình.

Trên cơ sở mục tiêu mà mà luận văn hướng tới, tác giả đã tiến hành và

hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra. Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở

lý luận về thực thi chính sách thu hút FDI. Đặc biệt đã chỉ rõ các quy trình thực

thi chính sách thu hút FDI làm cơ sở cho việc tiếp cận thực trạng trong chương

2. Luận văn cũng đã tiến hành phân tích thực trạng thực thi chính sách thu hút

FDI trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long trên 6 bước: Ban hành văn bản, xây dựng các

kế hoạch, chương trình triển khai thực thi chính sách; Phổ biến, tuyên truyền

chính sách; Phân công, phối hợp thực thi chính sách; Tổ chức thực thi các nội

dung chính sách; Đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách; Đánh giá,

tổng kết việc thực thi chính sác, trong đó đã làm rõ cách thức tỉnh Vĩnh Long đã

triển khai để thực thi chính sách thu hút FDI, cũng như chỉ ra những thành tựu,

hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế trong thực thi chính sách thu

hút FDI trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long. Luận văn cũng đã dựa trên các định hướng

của Đảng và Nhà nước để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện thực thi chính

106

sách thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long. Như vậy, luận văn đã hoàn thành

được các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra. Tuy nhiên, do thời gian

nghiên cứu ngắn và bản thân cũng còn những hạn chế trong công tác nghiên cứu

khoa học nên luận văn còn những hạn chế nhất định.

107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban chấp hành Trung ương Đảng (2019), Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày

20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất

lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, Hà Nội.

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2013), Kỷ yếu Hội nghị 25 năm FDI tại Việt Nam,

Hà Nội.

3. Chính phủ (2013), Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 29/08/2013 về định hướng

nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng và quản lý FDI trong thời gian tới, Hà

Nội.

4. Chính phủ (2016), Nghị quyết số 19/2016/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải

pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh nâng cao năng lực

cạnh tranh quốc gia, Hà Nội.

5. Chính phủ (2016), Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ

về Hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, Hà Nội.

6. Chính phủ (2017), Nghị Quyết số 19/2017/NQ-CP của Chính phủ về những

nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh nâng

cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Hà Nội.

7. Mai Ngọc Cường (2000), Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút FDI ở Việt

Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai

đoạn 2011 - 2020, Hà Nội.

9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XII, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

10. Nguyễn Hữu Hải (2014), Chính sách công - Những vấn đề cơ bản, NXB

Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

11. Nguyễn Hữu Hải (2006), Giáo trình hoạch định và phân tích chính sách

công, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

12. Nguyễn Hữu Hải (Chủ biên) (2008): Giáo trình Hoạch định và phân tích

chính sách công, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr. 14, Hà Nội.

13. Nguyễn Hữu Hải (Chủ biên) (2012), Giáo trình Hành chính nhà nước, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

14. Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa (Đồng chủ biên) (2013), Đại cương về Chính

sách công, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

15. Học viện Hành chính – Viện nghiên cứu khoa học hành chính (2002), Thuật

ngữ hành chính, Hà Nội.

16. Học viện Hành chính Quốc gia (2008), Giáo trình hoạch định và phân tích

chính sách công, NXB. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.

17. Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2018), Nghị quyết số 97/2018/NQ-

HĐND ngày 01/02/2018 ban hành quy định chính sách hỗ trợ đầu tư của

tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Long.

18. Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2018), Nghị quyết số 153/2018/NQ-

HĐND ngày 31/12/2018 quy định mức hỗ trợ về giá thuê mặt bằng cho

doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, Vĩnh

Long.

19. Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2019), Nghị quyết số 173/2019/NQ-

HĐND, ngày 31/05/2019 về việc ban hành chính sách hỗ trợ phát triển du

lịch đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Long.

20. Nguyễn Mạnh Hùng (2014) “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh

Thái Bình”, luận văn thạc sĩ quản lý công

21. Hội đồng chỉ đạo Biên soạn Từ điển Bách khoa (2005), Từ điển Bách khoa,

Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội.

22. Phùng Xuân Nhạ (2013), FDI tại Việt Nam: lý luận và thực tiễn, Nxb Đại

học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

23. Quốc hội (1996), Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội.

24. Quốc hội (2014), Luật Đầu tư, Hà Nội

25. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Long (2015), Báo cáo ngày 24/12/2015 về

tình hình cấp phép và thu hồi dự án đầu tư thuộc nguồn vốn ngoài ngân sách

nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Long.

26. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Long (2016), Báo cáo ngày 02/12/2016 về

tình hình cấp phép và thu hồi dự án đầu tư thuộc nguồn vốn ngoài ngân sách

nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Long

27. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Long (2017), Báo cáo ngày 02/12/2017 về

tình hình cấp phép và thu hồi dự án đầu tư thuộc nguồn vốn ngoài ngân sách

nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Long.

28. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Long (2018), Báo cáo ngày 02/12/2018 về

tình hình cấp phép và thu hồi dự án đầu tư thuộc nguồn vốn ngoài ngân sách

nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Long.

29. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Long (2019), Báo cáo ngày 13/12/2019 về

tình hình cấp phép và thu hồi dự án đầu tư thuộc nguồn vốn ngoài ngân sách

nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Long.

30. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Long (2019), Báo cáo các dự án được cấp

Giấy chứng nhận đầu tư từ năm 1993 - 2019 (còn hoạt động), Vĩnh Long

31. Nguyễn Đức Thành (2017), Thực hiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp

nước ngoài ở tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn Thạc sĩ Chính sách công, Học viện

Hành chính Quốc gia, Hà Nội.

32. Đinh Trọng Thắng, Trần Tiến Dũng (2019), Thực trạng chính sách ưu đãi

thu hút FDI vào Việt Nam hiện nay, Tạp chí Tài chính.

33. Nguyễn Văn Tuấn (2005), FDI với phát triển kinh tế ở Việt Nam, NXB Tư

pháp, Hà Nội.

34. Từ điển bách khoa Việt Nam (1995), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

35. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2017), Quyết định số 2202/QĐ-UBND

ngày 16/10/2017 về phê duyệt danh mục dự án mời gọi đầu tư sử dụng vốn

ngoài ngân sách trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2017-2020, Vĩnh

Long.

36. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2017), Quyết định số 1865/QĐ-UBND

ngày 25/8/2017 về việc phê duyệt Kế hoạch tổ chức Hội nghị Xúc tiến Đầu

tư tỉnh Vĩnh Long năm 2018, Vĩnh Long.

37. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2019), Quyết định 02/2019/QĐ-UBND về

chính sách hỗ trợ thuế cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long,

Vĩnh Long.

38. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2019), Quyết định số 2715/QĐ-UBND về

việc Ban hành Quy chế phối hợp thực hiện cơ chế một cửa liên thông trong

đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh giúp giải quyết các thủ tục một cách

nhanh chóng và thuận lợi cho nhà đầu tư, Vĩnh Long.

39. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2019), Quyết định 1626/QĐ-UBND, ngày

19/06/2019 ban hành Danh mục các dự án mời gọi đầu tư sử dụng nguồn

vốn ngoài ngân sách, giai đoạn 2017 - 2019 và 2019 - 2020, Vĩnh Long.

40. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2020), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội

năm 2019 của tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Long, Vĩnh Long.

41. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2019), Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nhà xuất

bản Giáo dục, Hà Nội.

42. Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Từ điển Tiếng việt, NXB Từ điển Bách

khoa, Hà Nội

43. Viện Ngôn ngữ học (1997), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Đà

Nẵng.

44. Trần Khánh Vinh (2020), Báo cáo tổng hợp kết quả phỏng vấn sâu, Vĩnh

Long.

45. Bách khoa toàn thư mở (2020), Giới thiệu tỉnh Vĩnh Long

https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%A9nh_Long

46. Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), Giới thiệu tỉnh Vĩnh

Long, Hà Nội.

47. Website Pcivietnam.vn.

PHỤ LỤC 01

CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU PHỤC VỤ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

“THỰC THI CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH VĨNH LONG”

Câu 1: Theo ông/bà những thuận lợi và khó khăn của tỉnh trong thu hút

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long?

Câu 2: Ông/bà cho biết những chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long đang triển khai?

Câu 3: Ông/bà hãy đánh giá về sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan

nhà nước trong việc thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài tại tỉnh Vĩnh Long?

Câu 4: Ông/bà hãy cho biết những định hướng trong thu hút vốn đầu tư

trực tiếp nước ngoài tại tỉnh trong thời gian tới?

PHỤ LỤC 02

CÁC DỰ ÁN ĐƯỢC CHẤP THUẬN CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ, GCNĐT

Năm 2015 FDI

01 Sản xuất phân bón vi lương hữu cơ cho cây trồng 0,07 tr. USD 100% FDI Công ty TNHH Điều hòa sinh trưởng RC (GCNĐT) Hoa Kỳ Đang hoạt động

x 02 Phân phối thức ăn gia súc, gia cầm 100% FDI 22/2, ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ Ấp Tân Hưng, Tân Hạnh, Long Hồ

May mặc 11 tr. USD 03 Khu công nghiệp Hòa Phú 100% FDI Đài Loan Đang hoạt động Samoa Đang hoạt động

KCN Hòa Phú 04 Sản xuất, gia công hàng may mặc, quần áo 1,5 tr. USD 100% FDI Đài Loan Đang triển khai Chi nhánh Công ty ANT (LA) (GCNĐT) Công ty TNHH May Mặc Leader (Việt Nam) (GCNĐT) Công ty TNHH Skyward (GCNĐT)

05 0,25 tr. USD 100% FDI Công ty TNHH Kyowakiden Việt Nam (GCNĐT) 107B, Nguyễn Huệ, P.2, TP. Vĩnh Long Nhật Bản Đang hoạt động Tư vấn kỹ thuật và Thi công lắp đặt máy móc thiết bị liên quan đến lĩnh vực xử lý nước và môi trường

Tổng vốn 12,82 tr USD

Năm 2016 FDI

Nhật Bản Dự án cho thuê kho Công ty TNHH Quản Thuê nhà kho của 1.81 tại khu công nghiệp 01 lý và Đầu tư Logitem KCN Bình Minh FDI Công ty CP TV-TM- triệu Bình Minh,tỉnh Vĩnh Việt Nam DV-Địa Ốc HQMK USD Long (đang hoạt động)

Nhật Bản

Thuê nhà kho của 0.67 Công ty TNHH Quản Công ty TNHH Dự án kinh doanh nhà triệu 02 KCN Bình Minh FDI lý và Đầu tư Logitem Logitem Việt Nam kho PC04 USD Việt Nam

(đang hoạt động)

12KA/1,tổ 1, ấp 0.05 Công ty TNHH Thạnh Hưng, xã Hòa Sản xuất, chế biến 100% Hàn Quốc triệu 03 Inobiz Vina Phú, huyện Long Hồ nông sản, dược liệu FDI Đang triển khai USD Tỉnh Vĩnh Long

Tổ 21, ấp Thanh An, Công ty TNHH Lee Logistis SX ba lô túi 1,5triệu 100% Hàn Quốc Hòa Thạnh, Tam 04 Yeon Vina xách USD FDI Đang triển khai Bình, Vĩnh Long

1. Bà Delphine

Isabella Gros Nghiên cứu và phát 0,045 2. Ông David Henri triển Protein tái tổ 100% Pháp KCN Bình Minh triệu 05 Nicolas Chereau hợp bằng kỹ thuật FDI (Đã thu hồi) USD (Công ty TNHH sinh hóa

Biozilla)

Hồng kông Công ty TNHH 110,1tri 100% KCN Hòa Phú Dệt, Nhuộm (chưa triển khai) 06 HighSight (Việt Nam) ệu USD FDI

Nhà máy sản xuất

Công ty CP thức ăn gia súc, gia 20 triệu 100% Thái Lan KCN Bình Minh 07 Greenfeed Việt Nam cầm, thủy sản Vĩnh USD FDI (chưa triển khai)

Long

Công ty TNHH TCN Cổ Chiên (Khu dự án may gia công 4 triệu 100% Hàn Quốc 08 SUNGJIN Vĩnh Long IV) ba lô, túi xách USD FDI (đang triển khai) Vina

138,2 triệu USD Tổng vốn

Năm 2017 FDI

Công ty TNHH New Nhà máy sản xuất thức ăn gia 18 triệu 100% KCN Bình Minh Singapore 01 Hope Vĩnh Long súc, gia cầm và thủy sản USD FDI

Nhà máy sản xuất thức ăn cho 36,48 triệu 100% Công ty TNHH Cj Vina KCN Bình Minh gia súc, cho gia cầm, thức ăn Hàn Quốc 02 USD FDI Agri thủy sản

Công ty TNHH CJ CGV Phường 4, TP Đầu tư trang bị và điều hành 0,85 triệu 100% Anh Việt Nam-chi nhánh 03 Vĩnh Long cụm rạp chiếu phim USD FDI Vĩnh Long.

55,33 triệu USD Tổng vốn

NĂM 2018

FDI

01 Công ty TNHH Sejung Vina May mặc Hàn Quốc KCN Hòa Phú GĐ1 0,44 triệu USD 100% FDI

02 Nhật bản Công ty TNHH Công Nghiệp Towa (Việt Nam) KCN Hòa Phú GĐ2 15 triệu USD 100% FDI

Sản xuất máy công cụ, các linh kiện máy may và các linh kiện máy móc chính xác cỡ nhỏ

Sản xuất thức ăn thủy sản 03 KCN Hòa Phú GĐ2 10 triệu USD 100% FDI Hồng kong – Trung Quốc Công ty TNHH Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Chăn Nuôi Alphafeed Việt Nam

In ấn Hàn Quốc 04 Công ty TNHH In Dae Gwang vina Hòa Thạnh, Tam Bình 0,08 triệu USD 100% FDI

KCN Bình Minh 05 Nhà máy sản xuất hạt nhựa, miếng nhựa 0,44 triệu USD 100% FDI

bà Nguyễn Hồng Cúc và ông Lin, Shi-Fu (Thành lập Công ty TNHH Triển Phước Vĩnh Long) Thuê nhà xưởng của Cty Hoàng Quân (Đài Loan)

06 Công ty Tỷ Bách KCN Bình Minh Sản xuất giày xuất khẩu Đài Loan

07 Lanking Nano KCN Hòa Phú Thức ăn gia xúc Singapore

08 KCN Hòa Phú May mặc Crystal Talent Holdings Limited 70 triệu USD 20 triệu USD 24 triệu USD Bristish Virgin Island

09 Bright will Holding Limited KCN Hòa Phú May mặc Bristish Virgin Island

10 Cheilmobile Co. Ltd Trà Ôn Lắp thùng xe tải Hàn Quốc 18 triệu USD 1 triệu USD

158,96 triệu USD Tổng vốn