BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGÔ THỊ HY

ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT

HỒ DZẾNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2003

MỤC LỤC

MỤC LỤC ................................................................................................................. 3

LỜI CÁM ƠN ........................................................................................................... 5

DẪN NHẬP ............................................................................................................... 6

l.Lý do chọn đề tài: ......................................................................................................... 6

2. Phạm vi nghiên cứu: .................................................................................................. 7

3. Lịch sử vấn đề: ........................................................................................................... 8

4. Phương pháp nghiên cứu: ....................................................................................... 16

5.Đóng góp của luận văn: ............................................................................................ 18

6.Cấu trúc của luận văn: ............................................................................................. 18

CHƯƠNG 1: CẢM THỨC VỀ CON NGƯỜI VÀ QUÊ HƯƠNG TRONG

VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT HỒ DZẾNH ...........................................................19

1.1.Cảm thức về con người: ......................................................................................... 19

1.1.1.Con người hiện thân của số phận tăm tối lụi tàn nhưng có tâm hồn đẹp đẽ

tượng trưng cho tinh thần Việt nam cao quí: ............................................................ 21

1.1.1.1. Những số phận tăm tối lụi tàn: ................................................................ 21

1.1.1.2.Những tâm hồn đẹp đẽ tượng trưng cho tình thẩn Việt nam cao quí: ...... 28

1.1.2. Con người tha phương lưu lạc : ...................................................................... 33

1.1.2.1. Con người tha hương vì chí nguyện giang hồ: ........................................ 33

1.1.2.2.Con người tha phương lưu lạc vì sự xô đẩy của số phận: ....................... 36

1.1.3.Con người tự vấn, tự ý thức. ............................................................................ 41

1.2.Cảm thức về quê hương: ........................................................................................ 49

1.2.1.Quê cha-một gốc rễ, một cội nguồn: ............................................................... 50

3

1.2.2.Quê mẹ- vùng quê sinh trưởng cũng là cội nguồn cảm hứng nghệ thuật của

nhà văn: ..................................................................................................................... 57

CHƯƠNG 2: LỜI VĂN NGHỆ THUẬT TRONG VĂN XUÔI HỒ DZẾNH: 70

2.1.Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật trong vấn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh:

....................................................................................................................................... 72

2.1.1.Lời văn nghệ thuật được tổ chức theo phương thức trần thuật chủ quan: ....... 72

2.1.2.Lời văn nghệ thuật được tổ chức theo phương thức trần thuật khách quan: ... 91

2.2.Sắc thái biểu hiện của giọng điệu kể chuyện trong văn xuôi nghệ thuật Hồ

Dzếnh: ........................................................................................................................... 99

2.2.1.Một giọng điệu trữ tình sâu lắng thấm đẫm cảm xúc: ................................... 100

2.2.2.Một giọng điệu thủ thỉ tâm tình thấm đượm nỗi buồn thương man mác khi

hoài niệm về quá khứ: ............................................................................................. 108

KẾT LUẬN ...........................................................................................................121

TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................125

4

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành luận văn, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt ánh của cắc

thầy cô và bạn bè. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đôi vói PGS.TS Phùng

Quý Nhâm, người thầy hướng dẫn khoa học tận tình, cùng với quý thầy cô đã nhiệt tình

giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suôi quá trình học tập cũng như trong quá trình tôi thực hiện

luận văn này

An Giang, tháng 8 năm 2003

Ngô Thị Hy

5

DẪN NHẬP

l.Lý do chọn đề tài:

Giai đoạn 1930- 1945 là giai đoạn nền văn học dân tộc đã phát triển hết sức mạnh

mẽ, phong phú đa dạng theo hướng hiện đại. Chỉ trong vòng 15 năm mà nền văn học đã

tiến một bước dài dẫn đến những thành tựu lớn lao với biết bao những tác phẩm đặc sắc

có giá tri, những phong cách tác giả đa dạng thuộc nhiều xu hướng văn học khác nhau.

Văn học Việt nam giai đoạn này đã có một diện mạo mới mẻ hiện đại và đã đạt được

nhiều thành tựu về nhiều phương diện trên tiến trình hiện đại hóa văn học. Về phương

diện thể loại, văn xuôi nghệ thuật giai đoạn này đã có những bước đột phá đáng kể so với

văn học trung đại. Trên văn đàn có những cây bút viết nhiều, viết khỏe, trở thành quen

thuộc với người đọc, đã thực sự được khẳng định tài năng và có được một vị trí vững

vàng trong nền văn học dân tộc. Cũng có những nhà văn viết không nhiều, họ chỉ âm

thầm lặng lẽ viết về những điều họ trải nghiệm, cảm xúc nhưng cũng đủ tạo ấn tượng

trong lòng người đọc. Hồ Dzếnh (1916-1991) là một trường hợp như thế.

Trong các nhà văn Việt Nam, Hồ Dzếnh là một trường hợp đặc biệt. Ông là một

người Trung Hoa. Tên ông cũng nói lên điều ấy. Hồ Dzếnh tức Hồ Anh đọc theo tiếng

Quảng Đông, cha ông là một người Trung Quốc di cư từ Quảng Đông Trung Quốc sang

Việt Nam vào những năm cuối cùng của thế kỷ XIX, mẹ ông là một cô gái chở đò ngang

trên sông Ghép, Thanh Hoa.Thuở nhỏ ông sống với gia đình ở Thanh Hoa (huyện Như

Xuân) rồi lên thị xã Thanh Hoa. Ông học tiểu học ở đó rồi sau ra Hà Nội học tiếp bậc

trung học, vừa học ông vừa kiếm sống bằng nghề gia sư và làm công ở các hiệu buôn

người Hoa. Ông làm thơ, viết văn rất sớm. Năm 1937, Hồ Dzếnh bắt đầu viết một số bài

thơ và truyện ngắn đăng rải rác trên các báo Trung bắc chủ nhật, Tiểu thuyết thứ bảy, tập

san Mùa gặt mới...Trước Cách mạng tháng Tám, tập truyện "Chân trời cũ”(1942) và tập

thơ "Quê ngoại" ( 1943 ) là những tác phẩm tiêu biểu của Hồ Dzếnh. Ngoài ra còn có tiểu

thuyết " Một truyện tình mười lăm năm về trước" (1942) ký bút danh Lưu Thị Hạnh. Năm

6

1944, Hồ Dzếnh lại cho in truyện dài "Hai mối tình" hay “Tiếng kêu trong máu" và tiểu

thuyết "Những vành khăn trắng" (ký tên Lưu Thị Hạnh)

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Hồ Dzếnh sống chủ yếu ở vùng tự do Thanh Hoa.

Thời kỳ này ông cho ra đời "Cô gái Bình xuyên" ( 1946 ). Cũng năm này ông cho ra mắt

bạn đọc ''Hoa xuân đất Việt"(thơ)...

Tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai ( 1957 ), ông được bầu vào Ban Chấp

hành Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt nam. Ông đã đi thâm nhập thực tế, sống đời

người thợ và tiếp tục sáng tác nhưng không nhiều. Năm 1993, hai năm sau khi nhà văn

qua đời, Nguyễn Bao đã giới thiệu và công bố một tác phẩm văn xuôi khác mà nhà văn

chưa có ý định công bố, đó là quyển “Cuốn sách không tên". Với quyển sách này, người

đọc càng hiểu thêm về Hồ Dzếnh, một cây bút luôn luôn trung thực và chân thành.

Hồ Dzếnh không phải là một tác giả lớn nhưng những tác phẩm của ông, do sức hấp

dẫn riêng của ngòi bút văn xuôi trữ tình, cũng đã đứng vững được với thời gian. Không

phải ngẫu nhiên mà các nhà nghiên cứu xếp Hồ Dzếnh vào chung khu vực với Thạch

Lam, Thanh Tịnh. Đây chính là ba phong cách văn xuôi trữ tình tiêu biểu trong văn xuôi

nghệ thuật giai đoạn 1930- 1945.

Chúng tôi nhận thấy rằng việc tìm hiểu đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh ở

một mức độ bao quát và toàn diện là vấn đề cần quan tâm. Vì điều này trước hết sẽ giúp

chúng ta có một cái nhìn chung về văn xuôi Hồ Dzếnh và từ đó khẳng định được sự đóng

góp của ông cho nền văn học dân tộc. Mặt khác, nghiên cứu vấn đề này cũng giúp cho

việc giảng dạy của chúng tôi ở trường về những cây bút của nền văn học hiện đại được

tốt hơn. Chúng tôi cũng muốn qua công trình này thể hiện thái độ trân trọng của người

yêu văn chương Hồ Dzếnh đối với những tác phẩm mà ông đã để lại hôm nay. Đó là lý

do chúng tôi chọn đề tài này.

2. Phạm vi nghiên cứu:

Như trên đã nói, Hồ Dzếnh không sáng tác nhiều. Người ta biết đến ông qua tập thơ

"Quê ngoại", tập truyện ngắn "Chân trời cũ" và vài tiểu thuyết. Ở cả lĩnh vực thơ và văn

7

xuôi, ông đều có những thành công. Khó ai quên được âm điệu bài thơ "Chiều" nổi tiếng

của Hồ Dzếhh và những bài thơ mang đậm phong cách riêng của ông.Cũng không ai yêu

thích văn chương mà không một lần rung động bởi những trang văn đậm chất trữ tình và

thấm đượm nỗi niềm thương cảm hoài niệpi về quá khứ của ông khi hướng về một "

Chân trời cũ" cũng như những trang viết không kém phần đặc sắc của "Một truyện tình

15 năm về trước", “Cô gái Bình xuyên".... Có thể nói trong lĩnh vực văn xuôi nghệ thuật,

tập truyện "Chân trời cũ" đã khẳng định vị trí của Hồ Dzếnh trên văn đàn. Trải qua sự

thử thách khắc nghiệt của thời gian, tác phẩm ấy vẫn âm thầm lặng lẽ sống trong lòng

người đọc.

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi muốn đưa ra một số nhận xét về đặc điểm

vãn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh, trên cơ sở tập trung chú ý đến truyện ngắn của ông, đặc

biệt là tập truyện "Chân trời cũ", và đồng thời cũng có đề cập đến một số tiểu thuyết đã

được xuất bản. Các tác phẩm này được in trong các tập sách sau:

- Hồ Dzếnh, một hồn thơ đẹp- NXB Văn hóa thông tin Hà Nội,2001.

- Chân trời cũ - NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh. 2001.

- Hồ Dzếnh, những trang văn xuôi chọn lọc- NXB Văn học Hà Nội, 2001

- Một chuyện tình mười lăm năm về trước -NXB Cửu Long, 1990

- Những vàng khăn trắng - NXB Hương đất mẹ, Sài Gòn, 1968

- Hồ Dzếnh-Tác phẩm chọn lọc, NXB Văn học Hà Nội, 1988

3. Lịch sử vấn đề:

Nhắc đến Hồ Dzếnh, một tài năng nghệ thuật độc đáo nhưng lại tỏa sáng một cách

âm thầm lặng lẽ, Mai Hương đã nhận xét rằng Hồ Dzếnh trong những trang viết của mình

đã "lặng lẽ ký thác, trao gửi. Người đọc cũng lặng lẽ để cảm nhận. Cứ như thế tạo nên

một sự đồng cảm "âm thầm thương mến" giữa Hồ Dzếnh và các thế hệ độc giả của

ông.Không ồn ào, không tạo nên những choáng váng đột ngột, không là "một niềm kinh

8

dị", Chân trời cũ rồi Quê ngoại lặng lẽ tìm đến sự tri kỷ tri âm, lặng lẽ "kết kén" trong

tâm tình người đọc. "[3; 193]

Có lẽ đúng như thế, tác phẩm của Hồ Dzếnh ra đời không tạo nên một tiếng vang

lớn, không được đón nhận sôi nổi như một số nhà văn lớn khác nhưng sức sống của nó

trong lòng người đọc vẫn lâu bền dù có phải trải qua sự thử thách khắc nghiệt của thời

gian. Điều này đã được chứng minh từ khi tác phẩm của Hồ Dzếnh ra mắt bạn đọc đến

nay, dư luận và giới nghiên cứu đã dành khá nhiều thiện cảm và ưu ái cho nhà văn mang

trong mình hai dòng máu Hoa- Việt này.

Nhìn chung giai đoạn trước 1975 ít có những bài viết, bài nghiên cứu về tác phẩm

Hồ Dzếnh. Nhưng khi tập Chân trời cũ ra mắt bạn đọc năm 1942, Hồ Dzếnh đã tìm thấy

được một người bạn tri âm biết cảm thông với nỗi niềm của ông. Người bạn tri âm ây

chính là Thạch Lam.Đọc Chân trời cũ, Thạch Lam đã hiểu nỗi đau khổ của Hồ Dzếnh

trong cuộc sống khi ông quay về dĩ vãng, "cái dĩ vãng của một gia đình Việt-Hoa", ở đó

là cuộc sống của những con người mà " số phận hình như bắt buộc phải buồn rầu"[3;82].

Qua tập truyện, Thạch Lam đã phát hiện được ở Hồ Dzếnh một tài năng trẻ đầy hứa hẹn:

" Tôi không nói rằng tác phẩm này không có khuyết điểm nhưng tác giả còn trẻ và tài

năng còn hứa hẹn cho chúng ta nhiều".[3;84]

Kiều Thanh Quế trong bài "Phê bình Chân trời cũ" cũng phát hiện ra rằng các "đoản

thiên" trong “Chân trời cũ"có một màu sắc lạ, một phong vị mới"[3;86].Cũng có những

bài phê bình văn thơ Hồ Dzếnh như bài của Mai Thảo-" Hai nhánh sông tâm hồn trong

thơ Hồ Dzếnh" (1973), Du Tử Lê -bài "Người bạn thiết của những kẻ lang thang" ( 1973

), Cao Huy Khanh- "bài Hồ Dzếnh, thỉ sĩ của thời gian" (1973 ). Dần dần vị trí của Hồ

Dzếnh đã được khẳng định Ương lòng bạn đọc khi những tác phẩm của ông lần lượt được

tái bản. Năm 1988, nhà xuất bản Văn học đã cho ra đời Hồ Dzếnh tác phẩm chọn lọc.

Tiếp theo đó tập sách Văn xuôi lãng mạn Việt nam 1930- 1945, nhà xuất bản Khoa học

xã hội lại một lần nữa giới thiệu những tác phẩm tiêu biểu của ông. Người đọc ngày càng

có điều kiện để tiếp xúc với tác phẩm của một nhà văn còn được ít người biết đến này. Từ

đây xuất hiện nhiều bài nghiên cứu về văn thơ của ông. Đó là bài viết của các nhà nghiên

9

cứu như: Trần Hữu Tá (1988), Phạm Khải ( 1989), Trương Chính (1989), Vũ Quần

Phương (1989), Võ Văn Trực (1990), Vương Trí Nhàn (1991), Hoài Anh (1991),Tôn

Phương Lan, Phạm Thu Hương (1995).... Cũng có những bài viết về nhà văn Hồ Dzếnh

trong các sách như: Nhà văn Việt nam thế kỷ XX tập u NXB Hội nhà văn Hà nội (1999),

sách Tác giả Văn học Việt nam tập 2- Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú, Nguyên

An, nhà xuất bản Giáo dục (1992). Trong bộ Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945, ở

lời giới thiệu bộ sách , Nguyễn Hoành Khung cũng có giới thiệu về nhà văn Hồ Dzếnh...

Nhìn chung, các ý kiến của các nhà nghiên cứu đều khẳng định vị trí của Hồ Dzếnh

trong nền văn học. Vương Trí Nhàn cho rằng "với tập thơ Quê ngoại, nhất là với tập

truyện ngắn Chân trời cũ, Hồ Dzếnh đã tạo ra một vị trí trong đời sống văn học trước

1945"[3;172] và đánh giá "Chân trời cũ" là "loại tác phẩm không gây ra choáng váng đột

ngột song luôn luôn có bạn đọc, hết lớp này đến lớp khác"[3;173] bởi đó là u thứ văn

chương không có tuổi". Vũ Quần Phương trong bài giới thiệu chung về văn nghiệp Hồ

Dzếnh in ở đầu tập Tác phẩm chọn lọc của Hồ Dzếnh cũng khẳng định: "Với hai tác

phẩm ấy (tập thơ Quê ngoại và tập văn Chân trời cũ ), Hồ Dzếnh đã có một vị trí xứng

đáng trong văn đàn Việt nam trước cách mạng"[3; 139]

Trong phạm vi giới hạn của đề tài luận văn, chúng tôi sẽ trình bày các ý kiến nổi bật

trong các bài nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Cụ thể là các ý kiến sau:

3.1. Những nhận xét xoay quanh những vấn đề về cách cảm nhận của Hồ Dzếnh đối

với con người và quê hương:

Các nhà nghiên cứu đều thống nhất ý kiến khi cho rằng "Chân trời cũ" thể hiện chất

tự truyện, hồi ký. Hồ Dzếnh đã "kể chuyện mình, chuyện gia đình mình thời thơ ấu. Mỗi

truyện là chân dung một người thân: cha mẹ, anh chị em, mấy người hàng xóm"[3; 192].

Qua đó nhà văn đã thể hiện những cảm nhận của mình về con người thân thương ở quê

mẹ, về quê hương Thanh Hoa và cả mảnh đất xa xôi của quê cha Trung Quốc. Nhận xét

về điều này, Trần Hữu Tá đã viết: "Tác giả đã đau khổ, đã sống thực sự những truyện của

mình, đã nhớ lại cuộc đời cũ với tình xót thương, lòng nhân đạo khá sâu sắc..."[68;315]

và " Trong bất cứ truyện nào dù nói về ai nhưng ẩn sau những dòng chữ in, nhân vật

10

chính vẫn là tác giả, là tâm hồn giàu lòng yêu thương, xao xuyến của ông. Tác giả như

mở lòng mình để chia sẻ nỗi đau với những người thân và như để nghiêng mình ngưỡng

mộ trước những phẩm chất tuyệt vời của những người không chịu chết chìm trong cơ cực

buồn khổ..."[3;154]. Trần Hữu Tá cũng khẳng định rằng những phẩm chất của những con

người này đã "hợp thành nên phẩm chất Việt nam, sức mạnh Việt nam, vẻ đẹp Việt nam"

[3;154-155]và nó tiêu biểu cho "linh hồn Việt nam", "tinh thần Việt nam" cao quí"

[68;315]. Các nhà nghiên cứu đều nhìn nhận rằng khi viết về những người thân bao giờ

nhà văn cũng dành cho họ những tình cảm yêu thương, sự sẻ chia, niềm cảm thông đối

với số phận của họ đặc biệt là của người phụ nữ, mà " nổi bật hơn cả là hình ảnh những

người đàn bà của một vùng nông thôn nghèo đói, những con người thật trung hậu đầy

lòng vị tha và đức hy sinh nhưíig chẳng bao giờ được hưởng một ngày vui dù là niềm vui

mà họ ao ước chỉ là được yêu thương người khác, được hy sinh cho người khác...". Nhận

xét về "Chân trời cũ", Vũ Quần Phương cũng viết: "Bằng trái tim lương thiện và đa cảm,

ông đã đứng về phía những người nghèo khổ dù là Hoa hay Việt. Ông thấy ở họ những

tình cảm tốt đẹp, lòng vị tha cao cả, sự rộng lượng và tình thương người"[3;143].

Phong Lê cũng nhận xét: "Tác giả đặt toàn bộ thế giới con người vào một màn

sương tâm tình và người viết như muốn trải lòng ra để yêu thương tất cả. Không phải chỉ

với mẹ, với anh Hai, chị Yên, em Dần là những người giàu tình thương và nết tốt mà phải

chịu số phận buồn khổ mà ngay với chú Nhì xa lạ, ông cậu, người gây nên tội lỗi, anh cả-

cách biệt và hư hỏng.... Tấm lòng tác giả thật rất bao dung, dường như không dám nghĩ

đến điều ác bao giờ và giá có lúc vô tình hoặc cố ý chạm phải điều ác thì là cả một nỗi

day dứt khôn nguôi"[41;108-109]. Chính vì thế mà trong những câu chuyện của ông, xen

vào giữa những dòng tự sự thường là những lời tâm tình, những lời tự vấn lương tâm

chân thành, cho nên Vũ Quần Phương trong lời giới thiệu "Hồ Dzếnh, tác phẩm chọn lọc"

đã viết: "Ông viết như giãi bày, như tự thú, như sám hối về những câu chuyện của gia

đình, viết cho vợi như lời ông nói" [53; 15]. Nhận xét về điều này, Văn Tâm cũng cho

rằng ở "Chân trời cũ", " Tâm thế ăn năn, hối lỗi ẩn hiện bàng bạc trên suốt các trang hoài

niệm "[3; 224]

11

Đánh giá "Chân trời cũ", các nhà nghiên cứu cũng khẳng định tình yêu tổ quốc, quê

hương của Hồ Dzếnh cũng thấm đượm trong các trang văn của ông.Tôn Phương Lan đã

nhận định: "Với Hồ Dzếnh, cả ưong văn và thơ, luôn hiện diện một tình yêu tổ

quốc"[3;215]. Hồ Dzếnh có một gốc gác đặc biệt nên tình. cảm của ông hướng cả về quê

cha Trung quốc và quê mẹ Việt nam. Nhìn chung các bài viết đều cho rằng tình cảm đối

với quê mẹ Việt nam là tình cảm thường xuyên và chủ đạo trong văn xuôi Hồ Dzếnh và

"tình cảm ấy hiện ra có lúc mơ hồ, có khi rõ rệt nhưng chân thành và bao giờ cũng gắn

với những miền đất và con người cụ thể. Đó là một tình yêu thương con người da diết,

nỗi đồng cảm sâu sắc trước những buồn đau của những kiếp người cụ thể luôn được thể

hiện qua giọng kể "nhớ về" man mác chất thơ và bằng những ngôn từ rất gây ấn

tượng"[3;206-207-208].

Lê Quang Trang cũng nhận xét rằng tình yêu đối với quê ngoại, với tổ quốc Việt

nam là xuất phát từ tình yêu những con người cụ thể: "Ông hướng lòng mình về những

người nghèo khổ, chia sẻ với họ những bất trắc, bất hạnh, bi kịch gặp trong đường đời,

bởi vậy truyện của ông đậm đặc bản chất nhân đạo. Những trang viết về người mẹ Việt

của ông thật đằm thắm, đôi khi không chỉ dừng ở phạm trù mẹ con bình thường mà qua

đó còn biểu lộ tình yêu sâu nặng với quê ngoại, với tổ quốc Việt nam..."[3; 181]. Cũng

nhận xét về điều này, Vũ Quần Phương viết: "Lòng yêu quê hương của Hồ Dzếnh gắn bó

khắng khít với lòng yêu mẹ, yêu những người thân yêu.ông yêu tổ quốc từ tình yêu

những người dân lao khổ thiệt thòi"[3;144].Cũng với một quan niệm như thế, Tôn

Phương Lan đã viết: "Đọc Chân trời cũ ta thấy trong con người tác giả, tình yêu đất nước

là một tình cảm tự nhiên vừa như là cái bóng trùm phủ lên đời sống tinh thần của ông

đồng thời cũng là nơi nương tựa cho những tình cảm riêng tư để rồi tình cảm riêng tư

cũng trở thành điểm tựa cho tình yêu đất nước. Hai thứ tình cảm này đã hỗ trợ cho nhau

cùng hòa đồng, tỏa sáng và tạo nên một tố chất riêng của Hồ Dzếnh khiến ông vừa giống

lại vừa khác mọi người. Cho nên khi nhớ về Chị Yên, cô thôn nữ tốt nết, thương người,

bị sống quên lãng sau lũy tre xanh, ông đã nhìn thấy sau con người chị một cái gì lớn hơn

tâm hồn muốn cam chịu, nhẫn nại và đau khổ của một con người cụ thể. Đó là "một nước

12

Việt nam, quê hương thứ hai của tôi", một nước Việt nam "ở đó con người sống nhân hậu

và "rất đỗi hiền lành"[3;206-207].

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng nhận xét rằng cùng với tình yêu quê mẹ là tình

cảm hướng về quê cha của Hồ Dzếnh. Đối với ông, quê nội là "Một gốc rễ, một cội

nguồn"[3,136], "nơi đó mới thật là quê hương, là gốc rễ" [3; 169]. Nói về điều này Lê

Quang Trang đã nhận xét: " Ông sống nhiều ở quê ngoại, lớn lên trong vòng tay của mẹ.

Nhưng tâm hồn ông vẫn thỉnh thoảng bị đánh thức về quê nội bởi những sứ giả của gia

hệ, các phong tục tập quán lâu đời. Những yếu tố ấy vừa là chất liệu cho tác phẩm của

ông vừa ảnh hưởng mạnh mẽ vào đời sống tâm linh ông"[3; 181]. Một mực yêu quê mẹ

với tình yêu tha thiết nhưng cũng dành tình cảm thiêng liêng hướng về quê cha, cho nên

điều này đã tạo nên trong văn chương của ông một "niềm khắc khoải giữa hai bờ xứ

sở"[28;42] và "cảm thức không cội nguồn" hay "cái mặc cảm bị bỏ rơi, bị lãng quên"

[3;136] Và chính tâm sự ngậm ngùi ấy đã "tạo nên nét đặc sắc riêng trong những trang ít

ỏi Hồ Dzếnh viết về quế nội, góp vào bức tranh quê của văn học Việt nam một nỗi niềm

cố quốc, tha hương, "một tình yêu tiềm tàng...âm thầm như một niềm đau xót" về "cả một

xứ Trung Hoa bí mật"[3;1951.

3.2. Những nhận xét về lời văn nghệ thuật trong tác phẩm văn xuôi nghệ thuật

HồDzếnh:

Những bài viết, bài nghiên cứu về Hồ Dzếnh cũng có đề cập rải rác những ý kiến về

lời văn, giọng kể, ngôi kể, ngôn ngữ trong văn xuôi Hồ Dzếnh.

Năm 1942, khi đề tựa Chân trời cũ, Thạch Lam đã có nhận xét khái quát về giọng

điệu kể chuyện của Hồ Dzếnh: " Những chuyện của ông kể cho chúng ta nghe đều có một

màu sắc riêng, đều nhuộm một tiếc hận thấm thía"[3;83].

Khi phê bình Chân trời cũ, Kiều Thanh Quế chú ý đến "tính cách ngòi bút" của tác

giả nhiều hơn cốt truyện và đã nhận xét rằng những câu văn của Hồ Dzếnh "có những

nhịp uyển chuyển và buồn lạ như một khúc nhạc lâm ly ai oán. Những khóc nhạc đều đều

ấy thường gặp những âm thanh rền lên gợi được bao nhiêu vang bóng trong lòng độc

13

giả"[3;87]. Phong Lê thì đã tìm thấy trong những tác phẩm văn xuôi nghệ thuật Hồ

Dzếnh "những đoạn văn thật giàu âm điệu như đồng vọng lại từ sâu thẳm của một tâm

hồn cực kỳ đa cảm và một quá khứ xa xưa" và "những câu văn ngân dài như những nốt

nhạc buồn trên nền mờ của những kỷ niệm dệt thành quá vãng"[41;107]. Từ đó Phong Lê

đã nhận ra một đặc điểm của văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh, đó là "mạch kể chuyện của

Hồ Dzếnh cũng rủ ri và sa đà"[41;107].

Gặp gỡ nhau trong ý kiến về giọng văn Hồ Dzếnh, Tôn Phương Lan và Vũ Quần

Phương cùng tìm thấy trong văn của ông "một giọng kể chân thật từ tốn với sự đồng cảm

xót xa"[3;205]. Phạm Khải cũng cho rằng " giọng văn Hồ Dzếnh bao giờ cũng bày tỏ một

sự cảm thông nâng niu đầy thương cảm"[3;158].

Các ý kiến của các nhà nghiên cứu đã có điểm gặp gỡ nhau khi cho rằng văn Hồ

Dzếnh thấm đượm một nỗi buồn nhân thế. Cũng nhận xét về giọng văn, Lê Quang Trang

viết: "Văn ông trầm tĩnh đều đều như những cơn mưa ngầu dai dẳng, dầm dề, không ào ạt

nhưng vẫn tạo được cảm giác lắng đọng, ngấm sâu gợi nghĩ về những điều nhân đạo một

cách trong sáng"[3;181-182].

Nhiều nhà nghiên cứu cũng chú ý đến sắc thái trữ tình và chất thơ trong văn xuôi

Hồ Dzếnh. Trần Hữu Tá cho rằng Hồ Dzếnh đã phát huy tối đa thế mạnh của Hồ Dzếnh

thi sĩ ương khi viết văn xuôi vì thế "chất thơ thấm vào từng trang văn tạo nên phong vị

trữ tình ảo diệu"[3; 154].Võ Vãn Trực thì cho rằng "Hồ Dzếnh viết văn bằng tâm hồn nhà

thơ cho nên có thể nói rằng mỗi truyện ngắn của anh là một bài thơ triền miên cảm xúc

mà ương đó nhân vật chỉ là cái đinh để anh treo lên đó bức tranh tâm hồn của mình"[3;

166].

Tôn Phương Lan khi nói về tình cảm của nhà văn đối với "tình quê Nam Việt" đã

nhận xét rằng để thể hiện nỗi đồng cảm sâu sắc trước những nỗi buồn đau của những kiếp

người cụ thể thì Hồ Dzếnh đã sử dụng "giọng kể nhớ về "man mác chất thơ và bằng"

những ngôn từ rất gây ấn tượng" và "ông đã sử dụng một cách đắc địa chất trữ tình vào

thể loại tự sự khiến cho những trang văn giàu sức gợi cảm của Hồ Dzếnh dễ đi vào lòng

người và thấm đẫm tính nhân văn sâu sắc"[3;208-209].

14

Nguyễn Hoành Khung, khi giới thiệu về Hồ Đzếnh trong bộ "Văn xuôi lãng mạn

Việt Nam 1930- 1945" đã nhận xét Hồ Dzếnh trong sự so sánh với Thạch Lam và Thanh

Tịnh. Ông viết: "Cũng như Thạch Lam, Thanh Tịnh, truyện Hồ Dzếnh thấm đượm trữ

tình và man mác chất thơ", " văn Hồ Dzếnh giàu cảm xúc, ý vị tuy mực thước trau chuốt

mà lắng đọng dư ba"[36;41]

Để nhấn mạnh sắc thái trữ tình, các nhà nghiên cứu cũng đề cập đến yếu tố người kể

trong văn xuôi Hồ Dzếnh. Các tác giả trong cuốn “Tác giả văn học Việt Nam tập 2",

trong mục Hồ Dzếnh đã khẳng định trong tập Chân trời cũ "ở truyện nào cũng có mặt

một nhân vật người kể chuyện đứng ở ngôi thứ nhất"

Vũ Quần Phương cũng khẳng định: "Nhân vật chính xuyên qua tất cả mọi truyện

chính là tác giả. Nhiều lúc diễn biến cốt truyện bị ngưng lại nhường lời cho người viết

bộc lộ"[3; 143-144]

Đề cập đến Chân trời cũ như một tác phẩm thuộc thể loại tự truyện, Phạm Thu

Hương cho rằng trong những ưang vãn xuôi Hồ Dzếnh luôn luôn xuất hiện "cái tôi" của

tác giả. Đó "vừa là chủ thể thẩm mỹ lại vừa là đối tượng thẩm mỹ và chất liệu chính để

tạo nên tác phẩm là "hiện thực nội tâm" của nhà văn". Cái tôi đó có khi bộc lộ ở "khúc trữ

tình ngoại đề" đầy xúc động..."[28;41]

Văn Tâm nhấn mạnh thêm rằng "Nhân vật "Tôi" trong Chân trời cũ không phải sản

phẩm của hư cấu mà là chân nhân chân sự ( người thật việc thật): Hồ Dzếnh- Hà Triệu

Anh"[3;224]

3.3. Nhận định chung:

3.3.1 Từ khi tác phẩm Hồ Dzếnh ra mắt bạn đọc, những bài nghiên cứu về thơ văn

ông không nhiều. Trên đây là một số nhận định quan trọng của các nhà nghiên cứu về

những vấn đề cơ bản có liên quan tới đề tài. Nhìn chung khi nhận xét về văn xuôi nghệ

thuật Hồ Dzếnh, các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào "Chân trời cũ", tập truyện

ngắn được đánh giá cao của ông.

15

3.3.2.Các ý kiến này cũng có điểm tương đồng khi khẳng định tài năng của Hồ

Dzếnh và nêu lên những đặc điểm của văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh ở các mặt nội dung

cũng như giọng điệu, lời kể chuyện... Song những ý kiến này mới chỉ dừng lại ở những

nhận định, nhận xét tương đối khái quát vì ương phạm vi những bài báo lẻ hoặc những

bài viết trong một tập sách chung, các tác giả đều chưa có điều kiện đi sâu lý giải một

cách triệt để và có hệ thống những vấn đề liên quan đến đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Hồ

Dzếnh. Tuy nhiên đó lại là những phát hiện, những đóng góp đáng quí của các nhà

nghiên cứu trong việc tìm hiểu văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh, một mảng sáng tác rất

quan trọng và thành công của nhà văn.

3.3.3. Chúng tôi cũng được biết rằng có một số luận văn nghiên cứu về văn xuôi trữ

tình Việt nam thời kỳ 1930-1945 trong đó có đề cập đến Hồ Dzếnh nhưng nhìn chung,

các luận văn này đã nghiên cứu Hồ Dzếnh trong mối tương quan với các cây bút văn xuôi

trữ tình khác như Thạch Lam, Thanh Tịnh để tìm ra đặc điểm văn xuôi trữ tình 1930-

1945. Vì thế các luận văn này chưa tập trung đi sâu nghiên cứu kỹ các đặc điểm và nét

riêng trong văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh. Phần lời văn nghệ thuật trong văn xuôi của

ông cũng chưa được quan tâm khảo sát kỹ. Mặt khác các luận văn này hầu như chỉ tập

trung khảo sát truyện ngắn của Hồ Dzếnh mà chưa bao quát những tác phẩm văn xuôi

nghệ thuật khác của ông.

Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những ý kiến và những thành tựu nghiên cứu của những

người đi trước, chúng tôi, trong một chừng mực nhất định, sẽ có cái nhìn bao quát hơn về

những tác phẩm văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh để từ đó tìm ra vài đặc điểm nổi bật trong

sáng tác của ông.

4. Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi đã dựa trên quan điểm Mác xít ương nghiên

cứu văn học. Đó là việc nghiên cứu vãn học trong mối quan hệ với bối cảnh lịch sử và

hoàn cảnh xã hội và đặt đối tượng nghiên cứu(văn xuôi nghệ thuật Hồ Đzếnh) trong mối

quan hệ giữa nhà văn-cuộc sống và bạn đọc để nhận thức, nghiên cứu đồng thời cũng chú

ý tới qui luật thống nhất nội tại giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học.

16

Chúng tôi cũng vận dụng những thành tựu của các khoa học liên ngành như lý luận

văn học, thi pháp học, phong cách học, phương pháp luận nghiên cứu văn học... trong quá

trình nghiên cứu.

Ngoài những vấn đề có tính chất phương pháp luận như trên, trong quá trình thực

hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp cụ thể và chủ yếu như

phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh, phương

pháp thống kê....

Phương pháp phân tích- tổng hợp là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong luận

văn. Đi từ việc khảo sát phân tích từng tác phẩm, từng yếu tố nổi bật trong việc thể hiện

nội đung tư tưởng và hình thức tác phẩm văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh, chúng tôi rút ra

những nhận xét cổ tính chất tổng hợp khái quát, từ đó làm nổi rỗ đặc điểm văn xuôi nghệ

thuật cửa nhà văn.

Phương pháp hệ thống cũng là một phương pháp mà chúng tôi chú ý vận dụng trong

luận văn. Chứng ta biết rằng mỗi tác phạm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật. Thế giới

nghệ thuật của nhà văn lại là một chỉnh thể nghệ thuật khác lớn hơn bao gồm toàn bộ tác

phẩm của nhà văn đổ cho nên việc xem xét thế giới nghệ thuật cửa Hồ Dzếnh thông qua

việc khảo sát những tác phẩm của nhà văn đặt ương hệ thống hoàn chỉnh sẽ giúp cho

chứng ta nhận ra những nét riêng cơ bản của nhà văn.

Để có thể làm rõ đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh, trong trường hợp cần

thiết, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê để khảo sát hiện tượng lặp lại một số

yếu tố về nội dung và hình thức tác phẩm, những yếu tố có tần số xuất hiện nhiều lần để

từ đó khát quát, tổng hợp, hệ thống hoá và rút ra những đặc điểm riêng, ổn định ở nhà

văn.

Phương pháp so sánh cũng được chúng tôi vận dụng trong một chừng mực nhất

định. Để thấy được nét riêng độc đáo sáng tạo và sự đóng góp của Hồ Dzếnh trong nền

văn xuôi hiện đại Việt nam, người viết có chú ý so sánh đối chiếu với một số cây bút văn

xuôi lãng mạn và hiện thực khác như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Vũ Bằng, Nam Cao.... về

17

từng vấn đề có liên quan để thấy được những nét tương đồng và dị biệt giữa các nhà văn

này.

5.Đóng góp của luận văn:

Luận văn tập trung đi vào tìm hiểu đặc điểm của văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh ở

các khía cạnh như: cái nhìn và sự cảm nhận của ông đối với con người và quê hương, đặc

điểm về phương thức tổ chức của lời văn nghệ thuật và sắc thái giọng điệu trong văn xuôi

nghệ thuật của ông. Qua đó luận văn sẽ cho thấy những yếu tố làm nên đặc điểm phong

cách bút pháp của Hồ Dzếnh cũng như sự thống nhất giữa bút pháp nghệ thuật với nội

dung tư tưởng thể hiện trong tác phẩm của ông.

Thực hiện luận văn này, chúng tôi hy vọng sẽ có những đóng góp nhất định trong

việc nghiên cứu một cây bút văn xuôi trữ tình trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-

1945. Chúng tôi sẽ có một cái nhìn tương đối toàn diện hơn về tác phẩm của Hồ Dzếnh

để đưa ra những ý kiến bổ sung hay đào sâu thêm những ý kiến của những người đi

trước. Nhưng điều quan trọng là từ góc độ thi pháp, chúng tôi sẽ làm sáng tỏ hơn đặc

điểm văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh.

Về đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh, ta thấy có nhiều vấn đề cần đề cập đến

nhưng trong phạm vi luận văn này chóng tôi sẽ đi vào hai vấn đề. Đó là cảm thức về con

người và quê hương trong văn xuôi Hồ Dzếnh và lời văn nghệ thuật trong tác phẩm của

ông.

Với luận văn này, chúng tôi mong mỏi góp một tiếng nói khẳng định những đóng

góp của Hồ Dzếnh trong nền văn học Việt Nam hiện đại.

6.Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn sẽ gồm có hai chương như sau:

Chương mót: Cảm thức về con người và quê hương trong văn xuôi nghệ thuật Hồ

Dzếnh:

Chương hai:Lời văn nghệ thuật trong văn xuôi Hồ Dzếnh

18

CHƯƠNG 1: CẢM THỨC VỀ CON NGƯỜI VÀ QUÊ HƯƠNG

TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT HỒ DZẾNH

1.1.Cảm thức về con người:

Như ta đã biết văn học là một loại hình nghệ thuật đặc biệt, một bộ môn nghệ thuật

dùng ngôn từ làm chất liệu và phương tiện để phản ánh cuộc sống, qua đó còn giúp con

người tư duy và cảm nhận về cuộc sống. Tác phẩm văn học thực chất là tiếng nói của nhà

văn về cuộc sống, về tất cả những điều nhà văn nghĩ, thấy và yêu ghét. Trong bức tranh

cuộc sống rộng lớn ấy, con người là đối tượng nhận thức, đối tượng miêu tả đặc biệt của

văn học. Con người chính là một đối tượng phong phú, phức tạp và đầy bí ẩn của văn

chương nghệ thuật. Những người cầm bứt từ xưa đến nay đã dành không ít thời gian và

tâm huyết cho việc tìm hiểu con người để từ đó hiểu về cuộc sống.

Quả thật vậy, văn học bao giờ cũng phản ánh đời sống nhưhg dù người nghệ sĩ có

miêu tả hiện tượng nào của đời sống xã hội thì cũng hướng vào đối tượng chủ yếu là con

người, con người cá thể cảm tính với những nét tính cách, phẩm chất có ý nghĩa xã hội.

Văn học là một loại hình nghệ thuật hấp dẫn vì văn học là câu chuyện về một đời người

với bao nỗi thăng trầm của cuộc đời gắn liền với vinh quang, cay đắng, hạnh phúc, sung

sướng, trái ngang. Từ một đời cụ thể ta hiểu về cuộc đời chung, cuộc đời xã hội. Lấy con

người làm đối tượng miêu tả chủ yếu, văn học đã có một điểm tựa để nhìn ra thế giới.

Câu nói của Gorki: " Văn học là nhân /ỉợc"đã nhấn mạnh đến đặc trưng của văn học, một

khoa học để nhận thức, khám phá về con người, con người với tất cả đời sống tự nhiên và

xã hội của nó, thân phận và cuộc đời của nó. Đồng thời đó còn là con người trong "tổng

hoa những mối quan hệ xã hội" phức tạp. con người trải qua mọi nổi thăng trầm của cuộc

đời, với mọi biểu hiện của tâm hồn cảm xúc đối với cuộc sống. Có thể nói không có gì

thuộc về con người mà xa lạ với văn học.

Con người là đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học. Nhưng sự miêu tả con người

ttong văn học không phải là sự sao chép, chụp ảnh. Nhà văn sáng tạo ra nhân vật, kể và

miêu tả nhân vật bao giờ cũng theo cách hình dung, cảm nhận của mình để từ đó thể hiện

19

cách nhìn, cách đánh giá nghiền ngẫm về hiện thực. Cách cảm nhận của tác giả về con

người sẽ được thể hiện ra trong tác phẩm bằng những phương tiện nghệ thuật hay những

hình thức miêu tả nhân vật. Do đó đọc một tác phẩm văn học, ta không những hiểu được

bản chất, tính cách jcã hội của nhân vật mà còn hiểu được cảm thức của nhà văn về con

người qua cách xây dựng và thể hiện nhân vật. Trong tác phẩm văn học, sự miêu tả vừa

nhằm mục đích gợi ra khách thể, đối tượng miêu tả vừa thể hiện cách nhìn chủ quan của

nhà văn đối với chúng. Chính phương diện cảm thụ hay cách nhìn chủ quan này đã thể

hiện quan niệm nghệ thuật về con người đối với nhân vật mà muốn cảm nhận nhân vật

một cách toàn vẹn thì không thể bỏ qua được. Vì thế muốn khám phá sự cảm nhận con

người thì cần khám phá quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện trong hình thức miêu

tả nhân vật. Thật quả là "Nhà văn không thể miêu tả đối tượng mà không có quan niệm

về đối tượng. Quan niệm là một phương tiện thiết yếu của sáng tạo nghệ thuật" [53;23].

Nhà văn qua cách miêu tả nhân vật đã thể hiện cách cảm nhận về con người.

Như phần trước đã đề cập, Hồ Dzếnh không sáng tác nhiều. Trong lĩnh vực văn

xuôi, ngoài mấy tiểu thuyết ký bút danh Lưu Thị Hạnh, ông được biết đến nhiều qua tập

truyện "Chân trời cũ”, "Chân trời cũ" là tập truyện chỉ toàn viết về những người thân

trong gia đình và những người quen biết của Hồ Dzếnh. Đó không phải là những con

người đại diện cho tầng lớp, giai cấp, địa vị xã hội nhất định mà đó là những con người

cá nhân, cụ thể, mỗi người một số phận. Mỗi truyện là câu chuyện về số phận một con

người cụ thể, cho nên không phải ngẫu nhiên mà tác giả đặt tên cho mỗi truyện là tên một

nhân vật mà tác giả muốn kể: Em Dìn, Chị Yên, Anh Đỏ Phụ, chị Đỏ Đương...Vì đó là

những người thân, những người mà ông quen biết nên có thể nói ông thấu hiểu họ tới

từng ngóc ngách và đau nỗi đau đối với từng số phận của họ.

Nhân vật trong tác phẩm hồ Dzếnh là con người bình thường mà "số phận hình như

bắt buộc phải buồn rầu"[3;92] nhưng dường như đó không phải chỉ là những số phận cá

nhân mà qua họ ta thoáng thấy "số phận một dân số nghèo khó ỏ các tỉnh đông đúc hay

nghèo nàn, cuộc sinh hoạt khó khăn trên những đồng ruộng bạc màu"[3;83]. Những nhân

vật hiện ra trong trang văn của ông hết sức linh động, mỗi người một bản ngã, một số

20

phận riêng nhưng qua họ ta thấy được cảm thức của nhà văn về con người, về cuộc đời,

đúng như Vương Trí Nhàn đã nhận định: "Tên tuổi ông gắn liền với “Chân trời cũ", ở đó

người ta đọc ra tiểu sử, những từng trải riêng của đời ông và cả cách cảm nghĩ riêng của

Hồ Dzếnh trước cuộc đời này nữa[3;189]. Đó là những con người hiện thân của số phận

tăm tối, lụi tàn nhưng tâm hồn đẹp đẽ tượng trưng cho tinh thần Việt Nam cao quí, những

con người tha phương lưu lạc và con người tự vấn, tự ý thức luôn soát xét soi rọi bản thân

mình.

1.1.1.Con người hiện thân của số phận tăm tối lụi tàn nhưng có tâm hồn đẹp đẽ

tượng trưng cho tinh thần Việt nam cao quí:

1.1.1.1. Những số phận tăm tối lụi tàn:

Con người là trung tâm của cuộc sống, là đối tượng nhận thức chủ yếu của văn học.

Nói đến con người là nói đến số phận con người, đến đời người. Văn học là câu chuyện

về một đời người với những biến cố, thăng trầm của cuộc đời dẫn đến những số phận

khác nhau. Bằng những dòng hoài niệm, hồi tưởng về quá khứ của một thời mà Hồ

Dzếnh gọi là “Chân trời cũ” ông đã thể hiện cách cảm nhận một cách sâu sắc số phận con

người trong xã hội cũ qua số phận những người thân và những người mà ông quen biết.

Nhận xét về "Chân trời cũ" của Hồ Dzếnh, Tôn Phương Lan đã cho rằng cảm hứng

nghệ thuật trong “Chân trời cũ" đã ra đời trên cơ sở những "hoài niệm về những người

ruột thịt thân thiết trong gia đình ông mà số phận con người dường như không một lần

được hạnh phúc mỉm cười. Ngược lại cuộc sống của họ triền miên trong những ngày

buồn đau hiu hắt" [3; 204] Quả thật thế giới nhân vật hiện ra trong "Chân trời cũ" đều là

những con người bình thường: một người cha, một người mẹ, người chị dâu, người anh

cả, anh hai, người chị nuôi, người anh rể hụt... Và thật lạ, những con người ấy có những

cảnh ngộ riêng nhưng đều có chung một số phận buồn đau, tăm tối, bất hạnh, cuộc sống

của họ cứ lụi tàn dần theo năm tháng. Đọc " Chân trời cũ” người đọc dễ dàng cảm nhận

về " nỗi buồn đau thế sự" qua số phận của những kiếp người đau khổ. Dường như những

nhân vật trong tác phẩm của ông " nhân vật nào cũng mang một tâm hồn đau khổ như

chính tác giả đã đau khổ trong cuộc sống". Có thể nói những ưang viết của Hồ Dzếnh là

21

những trang đời của những số phận bất hạnh phản ánh hình bóng của những cuộc đời đau

khổ, tăm tối, lụi tàn. Những cuộc đời ấy, những số phận ấy là những cuộc đời, những số

phận mà ông thương yêu. Qua họ, ông đã "nhận thấy một định mệnh khe khắt" đối với

con người, "một duyên phận tăm tối và buồn rầu" [15; 9]

Hình ảnh người cha qua hoài niệm của nhà văn xuất hiện trong nhiều truyện ngắn

của ông (Ngày gặp gỡ, Con ngựa trắng của ba tôi, Trong bóng rừng...). Bằng những dòng

hoài niệm ấy, ta hiểu về cuộc đời của một người Hoa.Trên con đường giang hồ phiêu bạt,

người khách lạ ấy đã dừng chân ở một đất nước xa lạ chỉ với " vốn liếng không ngoài

mấy đồng bạc". Lấy một cô gái lái đò ở bờ sông Ghép tỉnh Thanh, dần dần con người

mang dòng máu Trung Hoa ấy đã xây dựng được một cơ ngơi và một gia thế không tầm

thường "Thoạt đầu ba tôi làm thông ngôn cho một viên chức nhà đoan, rồi xoay ra lập

một công ty muối. Dần dần vì công việc phát đạt, ba tôi mở đồn điền buôn gỗ. Những

cuộc kinh doanh hồi ấy toé ra tiền, nảy ra bạc nhờ ở cái thời mà mọi người chưa bị ngạt

hơi vì sinh kế như bây giờ" (Con ngựa trắng của ba tôi ). Người khách thương ấy "ba

mươi năm trời lặn lội để gây chút sự nghiệp mỏng manh" để rồi "để lại cái danh vọng tàn

của những ngày rực rỡ". Cuộc đời của người giang hồ lưu lạc ấy chỉ lóe lên chút ánh sáng

của danh vọng rồi cứ lụi tàn sa sút dần.

Người anh cả (Người anh xấu số) cũng có một số phận hẩm hiu cứ bước những

bước cô quạnh trong cuộc đời, sống với mình nhiều hơn là sống với những người xung

quanh, nóng nảy và liều lĩnh" Người anh ấy đà bị mẹ coi là "đốt mía bị sâu đục", bị ghẻ

lạnh trong tình thương của mẹ và rồi chết trong cô đơn, lưu lạc " đôi mắt anh vào giờ cuối

cùng không được bàn tay nào khép hộ " (Thiên truyện cuối cùng ). Đó là cái chết của một

người bạc mệnh và sự sống của anh cũng là "một tấn bi kịch đáng tiền". Trốn sự ghẻ lạnh

của người đời để đến với bà tiên nâu nhưng anh cũng không được bà tiên ấy đón nhận.

Cuộc đời anh đã lụi tàn dần như chính "sự sống tan dần theo hơi thở nóng bỏng". Người

anh ấy đã chính thức kết thúc 44 một cuộc hành trình điên dại"trong sự lụi tàn của một

kiếp người.

22

Người anh hai (Truyện "Vừa một kiếp người") cũng là một người đau khổ sống

cuộc đời phong trần, đã từng nếm mùi ăn chơi ở Hà nội, sẩn sàng vất bạc trăm vào sòng

này, vất bạc nghìn vào sòng khác, đã có lần vào tù vì tội thụt két.Cuối cùng người anh ấy

đã phải sống một "cuộc đời lệch lạc", "thất thểu đi tìm cái lý tưởng đen tối của đời

anh"(Vừa một kiếp người). Cuộc sống của anh không phải chỉ lụi tàn vì cái nghèo đói mà

thê thảm hơn chính là sự tàn lụi của lý tưởng sống cao đẹp. Đắm mình trong ăn chơi trác

táng, người anh ấy dần dần mất đi hy vọng ở ngày mai, không tin ở lý tưởng cuộc đời đến

mức có khi đã tự đặt ra câu hỏi chua chát: "Phải chăng là người ta phải sống thật sa ngã

mới thấy mình sung sướng?" (Vừa một kiếp người). Anh cứ âm thầm trải đời mình "dưới

bầu trời tang tóc như không hứa có ngày mai". Tựa như bóng dáng của một con chim lạc

loài trong một vùng trời đen tối của cuộc đời, con người ấy" cứ dò dẫm níu lấy cái tương

lai không chắc chắn, mắt nhìn ra một phương trời không hứa hẹn giữa một cánh đồng mà

bão táp vừa đi qua". Cứ thế cuộc đời anh lụi tàn dần trong tăm tối, chán chường tuyệt

vọng của một kiếp người.

Anh Đỏ Phụ (truyện Anh Đỏ Phụ), người thanh niên cần cù tháo vát, có lưng vốn

chữ nghĩa "chi, hồ, đả, giã", dù cái nghèo, cái đói đã len lỏi vào ba gian nhà lá thừa tự,

làm hốc hác thêm nét mặt người bố và làm rạn đần hai bộ quần áo may bằng vải trúc bâu

lâu ngày sợi đã bở của hai bố con"[53; 103] nhưng vẫn giữ lối sống thanh sạch chỉ biết

chắt chiu dụm giành, chắt bóp từng xu để chờ ngày cưới vợ. Cái giấc mơ được vợ tưởng

chừng rất đơn giản nhưng buồn thay lại không thể đến được với một con người tốt bụng

hiền lành ấy. Chỉ còn có ba mươi ngày, một tuần trăng thì người con gái anh yêu thương

đã ra đi bởi một "cơn gió độc" bất chợt "sà xuống mái nhà", nơi người con gái tội nghiệp

ấy làm chỗ trú thân. Từ đó cuộc đời anh chìm dần vào buồn đau hiu hắt, anh cứ sống lùi

lũi như một chiếc bóng cô đơn. Hạnh phúc đã không mỉm cười với những con người

xứng đáng được hưởng, thay vào đó số phận cay nghiệt đã đẩy anh ngày càng xa thân

thích quê hương để đi vào một cuộc sống mới, không tương lai ở nơi mà người ta gọi là

Tân thế giới. Anh đã bán đời mình, chấp nhận cuộc sống lụi tàn, hết cả ước mơ để lao

23

đến một nơi mờ mịt tựa như cái "toa sắt đen ngòm" đang mở hết tốc lực lao nhanh đưa

anh vào đường tàu định mệnh.

Quả thật trong chân trời hoài niệm của Hồ Dzếnh, thế giới nhân vật của ông chỉ là

"những hình bóng lui hùi chịu sự đè nặng của số phận", những số phận lầm lũi dường

như sinh ra để mà cam chịu mọi nỗi bất hạnh trên đời. Hồ Dzếnh dường như "đặc biệt

nhạy cảm với những buồn đau của những người đàn bà nông thôn. Người phụ nữ trong

truyện ngắn Hồ Dzếnh dù đó là người mẹ, người chị dâu, người em, người phụ nữ ương

làng...đều có một số phận tăm tối buồn rầu. Đó là những con người chỉ biết thầm lặng

sống, thầm lặng chịu đựng những khổ đau mà cuộc đời giành cho họ. Truyện ngắn Hồ

Dzếnh quả là những chân dung đau khổ của thân phận những người phụ nữ. Mỗi người

có những cảnh ngộ khác nhau nhưng đều có kết cục tăm tối như nhau nhưng dù thế nào

họ vẫn là những phụ nữ đáng thương. Tác giả đã điểm qua số phận của từng con người

với niềm xót xa thông cảm.

Người chị dâu Trung Quốc(truyện Người chị dâu tôi) đã phải vượt trùng dương theo

chồng về một xứ sở xa lạ để làm dâu đồng thời phải đảm đương trách nhiệm cùng chồng

gây lại "nòi giống Trung Hoa" cho một gia đình cha Hoa mẹ Việt. Kể từ đó, người phụ

nữ ấy đã trải qua những chuỗi ngày buồn thảm nhất của cuộc đời mình "làm vợ một

người chồng không bằng người, làm một người đàn bà lưu lạc "[15 ;22].Người phụ nữ

đặc Tàu ấy phải sống giữa sự lãnh đạm của mọi người, trừ chồng và người em chồng. Từ

một cô gái Trung Hoa quí phái, đài các, người phụ nữ ấy phải chịu đựng cuộc sống nghèo

khổ và phải chấp nhận một số phận hẩm hiu cơ cực, lặng lẽ như biết bao số phận lặng lẽ

của những người phụ nữ trên quê hương này, người phụ nữ đặc Việt nam: "Trên cánh

đồng rộng rãi của làng Đông Bích, người ta thường thấy một giải áo chàm in bật trên nền

trời mỗi sáng chăm chỉ và lặng lẽ như dấu hiệu một cuộc sống vâng lởi ngu muội"[5, 29].

Trong ký ức người em chồng vẫn nhớ mãi hình ảnh người chị dâu tiều tụy, tang thương

ấy.

Viết về thân phận ngươi phụ nữ làm dâu, Hồ Dzếnh có điểm gặp gỡ với Thạch Lam.

Cũng như Dung (Truyện Hai lần chết của Thạch Lam), người chị dâu (Người chị dâu tôi

24

của Hồ Dzếnh) cũng có cái kết cục buồn thảm. Nếu Dung không thể chết bằng cách tự tử

đành phải chấp nhận một cách chết, một lần chết thứ hai: về lại với người chồng, với gia

đình chồng, nơi nàng chỉ là một thứ công cụ làm thuê trả nợ để nhận chịu sự sĩ nhục, chửi

mắng hàng ngày thì người chị dâu của Hồ Dzếnh cũng phải lặng lẽ chấp nhận "một cuộc

sống vâng lời ngu muội". Cả hai cùng có số phận hẩm hiu cơ cực nhưng người chị dâu

ngoài cái nỗi khổ phải sống giữa sự lãnh đạm của mọi người, ưừ người chồng và em

chồng hết mực yêu thương chị, còn mang ương lòng nỗi nhớ quê hương cố quốc nhiều

lúc đến cháy lòng.Khi những đứa con thi nhau ra đời trói buộc chặt chẽ người mẹ với cái

đất nước xa lạ này thì người đàn bà ấy đã "thôi không bao giờ còn dám hy vọng trở về

quê hương nữa". Cuộc đời của người đàn bà buồn khổ ấy ngày càng xa lạ với hai chữ "

hạnh phúc", tuổi xuân cứ đi qua trong công việc đều đặn hàng ngày "sàng từng hạt mẩn

xuống nong trong khi trời chiều từng giọt hoàng hôn xuống tóc"[15,26]. Cả hai nhà văn

đều hướng về số phận người phụ nữ với nỗi niềm xót thương vô hạn.

Hầu như cuộc đời người phụ nữ nào trong tác phẩm của Hố Đzếnh cũng có cái kết

cục buồn bã- Cuộc đời của Yên, người con gái nuôi hiền lành quả là "một tấn kịch đau

đớn nhất"[15;166]. Được mua về với cái giá hai quan tiền vào một năm lụt lội, đói kém,

dù bị bạc đãi, người con gái ấy vẫn vui vẻ làm việc và trung thành "ngày bốn lượt chị

gánh hàng cho mẹ tôi đi về chợ, tiếng kẽo kẹt của tiếng đòn tre trên vai bình yên nhịp với

tháng ngày âm u...."[15;152]Thế rồi một ' cơn gió độc" đã sà xuống cái mái nhà quen biết

một cách vô lý và hết sức vô duyên "[15; 159] đã tàn nhẫn cướp mất đi của người con gái

hiền lành ấy hy vọng suốt một thời con gái là có được một tấm chồng ngay khi hạnh phúc

ấy chỉ cách trong tầm tay.xấu hổ, người con gái ấy đã ra đi. Khi đã yên phận bên người

chồng ngày ngày xe đá về tạc những hình tượng xinh xinh, số phận cũng không buông

tha chị, chị "đã chết một tháng sau chồng và hai tháng trước đứa con trai"

Số phận của chị Đỏ Đương (Sáng trăng suông)cũng vậy. Mang tên chị Đỏ nhưng số

phận của chị không đỏ chút nào. Lạc chồng từ năm 18 tuổi, người phụ nữ ấy đã khóc đến

đau mắt, đã tuyệt vọng, "đã chết lòng trong một niềm chờ đợi đau xót"[15;168]. Khi

trong lòng người phụ nữ chớm lên một tia hy vọng mới cho cuộc đời, "muốn lập một

25

cuộc đời thứ hai" thì một lần nữa, người phụ nữ ấy lại phải chờ đợi trong vô vọng để rồi

cuối cùng đành phải chấp nhận một cuộc sống yên phận, thiếu êm vui.

Nói đến số phận người phụ nữ, Hồ Dzếnh đặc biệt khắc sâu hình ảnh người mẹ. Cô

lái đò bên bờ sông Ghép lặng lẽ của tỉnh Thanh một đêm đưa đò đã gặp gỡ một người

khách lạ giang hồ mà "linh hồn Trung quốc đã phát lộ trong từng bước đi, điệu đứng,

trong sự trầm mặc, trông tìm..." [ 15; 10]. Duyên phận đã đưa đẩy để họ gặp nhau làm

thành một gia đình trong hoàn cảnh túng thiếu.Bằng mồ hôi, nước mắt, nghị lực, người

chồng ấy đã lập nên một cơ ngơi không tầm thường để rồi không lâu sau lại rơi vào tình

trạng khánh kiệt.Để có được bốn đồng tiền học cho con, người mẹ đã chịu đựng sự nhục

mạ, phỉ báng vì đã "mượn tạm" của người em dâu hai đồng. Khi người chồng nằm xuống,

cái cơ nghiệp to tát của người chồng đã không giữ nổi, người mẹ đã rơi vào một buổi

chiều đời buồn bã, phải bán dần nhà cửa ruộng vườn để tra nợ mà cái vận mệnh của gia

đình vẫn " thâm lại với những gót chân của ba thằng con mất bố “Gia đình ngày càng sa

sút, cảnh xô xát giữa vợ cả và vợ lẽ ngày càng nhiều kéo theo cảnh chia rẽ vĩnh

viễn.Người mẹ mất tất cả của cải vì bị người vợ lẽ chiếm đoạt chỉ còn lại ba thằng con

trai phải nuôi và cái bàn thờ phải dọn sửa.Những đứa con không còn là niềm hy vọng của

người đàn bà đau khổ ấy "Anh cả tôi nghèo và phải nuôi vợ con. Anh hai tôi phong trần,

chán hết mọi sự cho đến cả hy vọng.

Tôi làm thơ và chỉ thích cỏ làm thơ. Mẹ tôi đau khổ sinh ra ba chúng tôi để chỉ càng

ngày càng thêm đau khổ, càng ngày càng thấy mình già đi"[15; 106] . "Người đàn bà

phương Đông yếu đuối ấy" đã sống suốt quãng đời còn lại ưong sự mòn mỏi, tẻ nhạt,

không biết trông cậy vào ai.

Có thể nói "Chân trời cũ" của Hồ Dzếnh là cả một chuỗi dài những dòng hồi ức

buồn về những số phận đau khổ của những người ông yêu thương và quen biết. Nỗi khổ

đau cứ vây bủa con người dồn cuộc đời họ vào tận cùng của cảnh sống hắt hiu, mù xám.

Quan tâm đến con người, Hồ Dzếnh cũng thể hiện những cảm nhận, suy ngẫm về

nỗi khổ của họ, đặc biệt là nỗi khổ của người phụ nữ. Dường như họ sinh ra để nhận chịu

mọi nỗi bất hạnh bởi họ chính là hiện thân của một "định mệnh khe khắt, một duyên phận

26

tăm tối buồn rầu"[15; 9]. Từ nỗi khổ của một người mẹ, nhà văn đã nghĩ rộng ra rằng:

"những bà mẹ Việt nam- tôi nói những bà mẹ đáng là mẹ- đều phải đau khổ ngay từ lúc

lọt lòng"[15;9]. Nỗi khổ của họ dường như đã là một "định mệnh", một "duyên phận" mà

"Trời" đã định sẵn để khi họ có mặt trên cõi đời, họ chỉ biết vâng theo một cách nhẫn

nhục, một cách lặng lẽ, một cách chua xót vô cùng"[15;9 ]

Viết về những con người này, ngòi bút của Hồ Dzếnh thấm đượm một nỗi buồn

man mác, một nỗi xót xa thương cảm đối với những số phận khổ đau. Đó không phải là

một tình yêu hời hợt thoáng qua mà là tình thương yêu sâu đậm xuất phát từ cái tâm của

một nhà văn chân chính, thành thực. Có thể nói "tấm lòng thành của anh là hồn của

những trang văn"[51,77 ]. Và cũng chính tấm lòng thành ấy đã đem đến cho người đọc

những rung động thật sự. Mỗi truyện ngắn của ông đều có sức lay động thấm thìa lòng

người vì nó có nguồn gốc nhân bản sâu xa " Bằng trái tim lương thiện và đa cảm, ông đã

đứng về phía người nghèo khổ dù là Hoa hay Việt "[3; 143] và "trong bất cứ truyện nào,

dù nói về ai nhưng ẩn sau những dòng chữ in, nhân vật chính vẫn là tác giả, là tâm hồn

giàu lòng yêu thương, xao xuyến của ông"[3;154]

Tuy đề cập đến số phận của những người thân và những người ông quen biết, "ý

nghĩa xã hội của truyện có vẻ như hẹp" nhưng qua những số phận ấy ta có thể hiểu được

những cảnh đời của con người trong xã hội cũ. Đó là những con người nhỏ bé, tội nghiệp

an phận trong nỗi khổ của chính họ, họ chỉ biết lặng lẽ chịu đựng số phận của mình mà

không hề than van, oán trách. Họ đã hoàn toàn bị nhấn chìm bởi hoàn cảnh. Ở họ không

có sự vật lộn, quẫy đạp để thoát ra hoàn cảnh ươi buộc họ. Những trang sách của Hồ

Dzếnh như "những lời thì thầm với những ai đang đọc nó rằng cuộc đời thật oái oăm,

thật nhiều đớn đau buồn thảm, đời là dâu bể, con người chỉ có cách nhẫn nại, cam chịu

mà sổng cho qua ngày"[3, 173]. Cho nên kết thúc tác phẩm thường là cảnh chết chóc, ly

tán, đau khổ, tha hương. Miêu tả cái dấu ấn nặng nề đó ỏ mỗi cá nhân, Hồ Dzếnh cũng đã

góp phần nói lên cái chung của xã hội. Có thể nói Hồ Dzếnh đã khai thác những tình cảm

vốn rất quen thuộc với mọi người nhưng lại có màu sắc riêng của một cảnh đời rất cảm

động. Đề cập đến khía cạnh này của của đời sống, Hồ Dzếnh đã đưa vào những trang văn

27

của ông nhiêu yếu tố hiện thực nhưng hiện thực ở đây không phải là thứ hiện thực góc

cạnh được tái hiện như nó vốn có với xu hướng đi sâu khám phá bản chất cuộc sống

trong các mối liên hệ phức tạp, các xung đột xã hội sâu sắc. Ở đây trong văn xuôi Hồ

Dzếnh, ông không tái tạo một bức tranh nghiệt ngã, lạnh lùng của hiện thực một cách

khách quan. Toàn bộ hiện thực được miêu tả đã được khúc xạ qua cái nhìn, cách cảm

nhận riêng và được lắng nghe bằng một trái tim đa cảm. Hiện thực ấy đã được chắt lọc

qua tâm hồn giàu cảm xúc và hết sức tinh tế của nhà văn. Xen vào đó là hiện thực tâm

trạng của người kể tức là những biểu hiện tâm lý, tâm trạng cảm xúc của nhà văn trước

hiện thực. Có thể thấy trong văn xuôi, Hồ Dzếnh chiếm lĩnh hiện thực thông qua cảm xúc

chủ quan của nhà văn và đã được lọc qua một trái tim nhân hậu giàu cảm xúc. Do đó, tác

phẩm của Hồ Dzếnh có sự đan xen giữa yếu tố hiện thực và trữ tình tạo nên một phong

cách đặc biệt của loại văn xuôi trữ tình. Cho nên không phải ngẫu nhiên người ta đã xếp

Hồ Dzếnh vào cùng một xu hướng sáng tác của Thạch Lam, Thanh Tịnh. Các nhà văn

này đã tạo nên một bút pháp riêng, một khuynh hướng thẩm mỹ đặc biệt cho loại văn

xuôi trữ tình mà ở đó " những suy nghĩ mang tính cảm xúc của tác giả xâm nhập vào câu

chuyện về các biến cố[55;140 ]

1.1.1.2.Những tâm hồn đẹp đẽ tượng trưng cho tình thẩn Việt nam cao quí:

"Chân trời cũ" là những hồi ức chân thực về những mảnh đời bất hạnh, đau khổ.

Dường như mỗi con người xuất hiện trên trang văn của ông đều là những số phận đau

khổ bất hạnh nhưng tâm hồn họ lại toát lên một vẻ đẹp thật dung dị, thầm lặng mà cao

quí biết bao. Bằng một trái tim nhân hậu và đa cảm, ông đã phát hiện và nâng niu từng vẻ

đẹp ấy bằng tất cả lòng yêu thương chân thành, nồng thắm. Càng xót xa thông cảm, chia

sẻ với những nỗi đau của họ, ông càng nâng niu những phẩm chất đẹp đẽ và trân trọng

gìn giữ những hình ảnh đẹp ấy trong ký ức. Tất cả những con người ấy đều là "những

người có chân tâm, họ lặng lẽ sống, nhẫn nại chịu đựng, âm thầm chia sẻ và lặng lẽ yếu

thương nhường nhịn đến cảm động" [3;198]. Có thể nói những đức tính tốt đẹp như sự

cần cù, chịu thương chịu khó, sự độ lượng và giàu lòng yêu thương...được thể hiện ở

nhiều nhân vật trong "Chân trời cũ", đặc biệt là nhân vật người phụ nữ. Mỗi câu chuyện

28

trong Chân trời cũ là chân dung của một con người buồn khổ, họ cứ lặng lẽ sống, lặng lẽ

chịu đựng nhưng họ vẫn âm thầm toát lên vẻ đẹp tâm hồn dung dị mà đầy sức ám ảnh.

Đó là hình ảnh người con gái nuôi hiền lành suốt đời chỉ biết "trung thành và tận

tuy", "trung thành trên hết mọi người trung thành", hy sinh vì người khác mà không hề

than van dù có khi bị đối xử bất công. Do quá trung thành nên ngay cả lúc bị bị ông cậu

hãm hại, chà đạp khi chỉ còn vài tháng là đến ngày cưới, chị vẫn âm thầm lặng lẽ chịu

đựng trong đau khổ chỉ vì "cậu ấy là người nhà". Khi chị chết đi, nhà văn đã khắc sâu

trong lòng mình một hình ảnh đẹp mà có lúc nhìn mô đá tượng hình người mẹ dắt con

trên đỉnh núi Nhồi, nhà văn lại ngờ rằng "đó là hình dáng người chị dắt em".

Đó là người con gái mang tên Đỏ Đương sống với một người chị gái lỡ thì tàn tật,

thiếu hạnh phúc sum vầy nhưng giàu lòng nhân đức. Hạnh phúc cứ lần lượt vuột khỏi tầm

tay. Tuy vậy trong tâm hồn người con gái đẹp ấy vẫn tha thiết một khát vọng hạnh phúc

"muốn lập một cuộc đời thứ hai".

Ngay cả người chị dâu, vợ người anh hai mà Hồ Dzếnh chưa hề biết mặt nhưng ông

cũng ghi nhận một tím tình cao quí ở chị "Khi thi ân lại chưa gặp người chịu ân lấy một

lần”[3;102 ]

Ấn tượng đậm nét nhất của nhà vãn cũng vẫn là người mẹ. Có thể nói "từ mẹ- như

một tâm điểm- Hồ Dzếnh biết nhận ra nỗi khổ đau bất hạnh cùng là vẻ đẹp của con

người... " [3; 199 ]. Người mẹ đối với nhà văn như "những làn gió mát từ phương trời tản

lại giữa một"vùng sa mạc" để yênji một tâm hồn "tự tạo ra đau khổ để sống, để sung

sướng vì thấy mình đau khổ hơn người. Người mẹ đó đã suốt một đời " chỉ biết vâng theo

một cách nhẫn nhục, một cách lặng lẽ, một cách chua xót vô cùng mọi sự do "Trời" định,

suốt đời chỉ biết "nghiêng xuống bổn phận hàng ngày tầm thường và nhỏ mọn". Người

mẹ ấy đã hết lòng tôn thờ và phục vụ chồng con như một thứ nô lệ. Chồng chết, người

mẹ cũng với sự cam chịu, nhẫn nhục lại tiếp tục phục vụ người em chồng, một con người

chỉ biết có tiền. Mỗi lần con người ấy ghé nhà, người mẹ ấy lại phải lo lắng không chỉ

việc ăn uống mà còn phải chạy vạy "vài hào chỉ thuốc phiện" để cung phụng cho chú mỗi

ngày và còn phải io số tiền vãng phí cho chú về nước.Người phụ nữ ấy có đức tính vị tha

29

và tím lòng bao dung, trắc ẩn. Đối với em Dìn, đứa con vợ lẽ tuy có lúc tức giận, người

mẹ đã vô tình tiếp tay đẩy em vào bước đường lưu lạc nhưng vào cái đêm giao thừa sum

họp, người mẹ cũng bùi ngùi nhắc đến người con gái ấy: "Không biết con Dần năm nay

bao nhiêu tuổi nhĩ?". Câu nói ấy tuy muộn màng nhưtig thực chất là tiếng nói của tình

thương của lòng trắc ẩn. Những đức tính này, người mẹ đã truyền cho con trai mình để

sau này nhà văn biết cúi xuống nỗi đau của người khác. Trong ký ức nhà văn luôn còn

lưu giữ hình bóng người mẹ yêu thương. Người mẹ ấy đã dồn hết tất cả tình yêu thương

để nâng niu đứa con trai mà người đã thấy trước "một cuộc đời đau khổ ủ gói lấy cái số

phận thiếu êm vui". Người mẹ đã từng hy sinh danh dự của mình, sẩn sàng chịu sự sỉ

nhục để có được vài đồng đóng tiền học cho con. Tình cảm của người mẹ đã làm rung

động trái tim đa cảm của đứa con trai bé nhỏ để sau này đứa con ấy lại viết nên những

trang văn cảm động chân thành về mẹ. Trong cảm nhận của nhà văn "thực không còn gì

có nghĩa bằng người ấy nữa.Người ấy to quá, rộng quá, tuy tất cả sự có nghĩa chỉ là cái

thân hình tiều tuy bọc bằng chiếc áo vá vai"[15; 143].

Đức tính vị tha, nhân ái, hy sinh vì người khác của người phụ nữ không chỉ thể hiện

trong "Chân trời cũ” mà còn được thể hiện trong các tác phẩm văn xuôi khác của Hồ

Dzếnh. Có thể nói hình ảnh người phụ nữ trong sáng tác văn xuôi của ông, dù được viết

ra ương thời kỳ nào cũng đều mang một vẻ đẹp của lòng vị tha, nhân ái, sẵn sàng hy sinh

vì người khác. Trong tiểu thuyết "Một chuyện tình mười lăm năm về trước” ký tên Lưu

Thị Hạnh, tác giả đã kể lại một câu chuyện tình yêu thật đẹp tuy tình yêu này luôn luôn

được đặt trong khuôn phép đạo lý truyền thống. Nguyện yêu Thủy nhưng vẫn phải vâng

lời cha mẹ lấy Quân, người mà mình không yêu dẫn đến hôn nhân tan vờ. Về sau dù còn

rất yêu Thủy và dù biết rằng Thủy sẵn sàng từ bỏ tất cả để trở về với mình, Nguyện vẫn

khuyên Thủy ở lại với người vợ đang mang thai vì cô không muốn đứa con sắp ra đời của

Thủy không có bố và sợ làm tan vỡ hạnh phúc của người phụ nữ khác, vợ Thủy. Điều này

tuy cũng làm cho Nguyện đau khổ nhưng cũng cho thấy tấm lòng nhân hậu của cô.

30

Trong "Những vành khăn trắng", Hậu cũng từ bỏ hạnh phúc riêng của mình vì đứa

con. Cô đã không dám đi theo tiếng gọi tha thiết của tình yêu dừ sau này gặp lại người

yêu cũ, cô cũng thấy tiếc nuối, bâng khuâng.

Trong "Tiếng kêu trong máu", Thúy cũng vì đứa con mà chấp nhận sống với người

đàn ông vũ phu, từ bỏ hạnh phúc của riêng mình để rồi phải chịu đựng cuộc sống đau

khổ.

Dường như mỗi người phụ nữ trong tác phẩm Hồ Dzếnh, qua cảm thức của nhà văn

đều mang một vẻ đẹp cao quí. Đó không phải chỉ là vẻ đẹp của một con người cụ thể nào

mà đó chính là vẻ đẹp "tượng trưng cho tinh thần Việt nam cao quí". Nhận xét về điều

này, Trần Hữu Tá trong Tự điển văn học đã viết:

Hình tượng đậm nét, đặc sắc và gợi cảm của Hồ Dzếnh là hình tượng những bà

mẹ,những người anh, người chị Việt Nam cần cù, nhẫn nại, giàu lòng vị tha và đức tính

hy sinh' những đức tính mà tác giả coi là tiêu biểu cho "linh hồn Việt nam", cho "tinh

thần Việt nam" cao quí [68; 315].

"Hình ảnh người mẹ, người chị nuôi, người thiếu phụ góa bụa ( Sáng trăng suông ),

người em gái cùng cha khác mẹ, anh trai làng xấu số (Anh Đỏ Phu) ....hiện lên như

những đốm sáng tinh thần trong bóng đêm nhạt nhòa của xã hội cũ, lung lỉnh một vẻ đẹp

thuần khiết của đức chịu thương chịu khó, hay lam hay làm, cần cù, nhẫn nại, hy sinh, vị

tha dũng cảm gan góc...những đức tính hợp thành nên phẩm chất Việt Nam, sức mạnh

Việt Nam, vẻ đẹp Việt Nam"[3; 154 ].

Cho nên khi nói về người phụ nữ không phải ngẫu nhiên mà tác giả lại thường trân

ưọng đặt thêm vào đó định ngữ "Việt nam". Trong tập truyện "Chân trời cũ" đã xuất hiện

đến hơn 10 lần cấu trúc danh ngữ gồm danh từ chỉ người và định ngữ "Việt nam" hay có

khi còn thêm yếu tố bổ nghĩa chỉ phẩm chất con người. Chẳng hạn khi viết về mẹ, từ lòng

kính trọng một bà mẹ cụ thể, nhà văn cảm nhận rằng đó là hiện thân của những "bà mẹ

Việt nam cao quí", “người vợ hiền, mẹ đảm Việt nam":

31

"Vì thế tôi được sự thật cho biết rằng phần nhiều hay tất cả cũng được, những bà mẹ

Việt nam- tôi nói những bà mẹ đáng là mẹ- đều phải chịu đau khổ ngay từ lúc lọt lòng"

(Ngày gặp gỡ)

"Từ bao lâu đến nay, tôi vẫn tin rằng mẹ tôi sung sướng. Nhiệm vụ một người vợ

hiền, mẹ đảm Việt nam đã được làm trọn vẹn và danh vọng xứng đáng ấy được lấp lánh ở

một chỗ cao quí nhất trong trái tim loài người (Em Dìn )

Khi viết về người chị nuôi, nhà văn cũng dấu được tình cảm thân thiết đối với người

chị đảm đang, chịu thương chịu khó và xem đó là biểu tượng của "người đàn bà Việt

chân chính người thiếu nữ Việt nam gương mẫu":

"Ngày bốn lượt chi gánh hàng cho mẹ tôi đi về chợ, tiếng kẽo kẹt của chiếc đòn tre

trên vai bình yên nhịp với tháng ngày âm u vắng mọi sự xa hoa của một người đàn bà

Việt nam chân chính" (Chị Yên)

Người thiếu nữ Việt nam gương mẫu ấy còn một cách trang sức khác là soi dung

nhan mình trên làn nước giếng lặng lẽ, rồi lấy tay từ từ rẽ ra hai bên tai mái tóc đen lanh

lánh" (Chị Yên)

Viết về số phận chị Đỏ Đương bất hạnh, bằng lòng cảm thông yêu mến, nhà văn đã

gọi chị bằng một cách gọi thân thương: "người thiếu phụ Việt nam” Người thiếu phụ Việt

nam đã chết lòng trong một niềm chờ đợi đau xót, bây giờ trở lại sống với trông việc tầm

thường nhỏ mọn, nối sáng theo chiều, qua mùa hạ sang mùa thu" (Sáng trăng suông)

Rõ ràng khi viết về con người nào, nhà văn cũng tìm thấy ở họ những đức tính đẹp

đẽ, tiêu biểu cho "linh hồn Việt nam", cho "tinh thần Việt nam cao quí". Điều này có lẽ

xuất phát từ tình cảm gắn bó sâu sắc của nhà văn đối với "Nước Nam- quê hương thứ

hai" mà ở đó "người nước Nam rất đỗi hiền lành”. Nhà văn đã viết về những con người

hiền lành ấy bằng trái tim nhân hậu và sẵn sàng "mỡ lòng mình để chia sẻ nỗi đau với

những người thân và như để nghiêng mình ngưỡng mộ trước phẩm chất tuyệt vời của

những người không chịu chết chìm ương cơ cực buồn khổ"[3; 154]

32

1.1.2. Con người tha phương lưu lạc :

Trong những tác phẩm văn xuôi của Hồ Dzếnh nổi bật lên hình ảnh những con

người tha phương lưu lạc. Trong "Chân trời cũ" có đến li nhân vật trong tổng số 14 nhân

vật chính là những con người tha phương lưu lạc. Những nhân vật này chịu cảnh lưu lạc

vì những lý do khác nhau, hoặc là tha hương vì chí nguyện giang hồ hoặc là do sự xô đẩy

của số phận.

1.1.2.1. Con người tha hương vì chí nguyện giang hồ:

Trong tập "Chân trời cũ", Hồ Dzếnh đã khắc họa rõ nét hình ảnh người cha, hình

ảnh tiêu biểu cho con người tha phương vì chí nguyện giang hồ. Người khách giang hồ

này đã từ một dải đất xa xôi và mênh mông phương Bắc, trên con đường lưu lạc đã dừng

chân ở một mảnh đất nghèo của phương nam bên bến đò Ghép, tỉnh Thanh Hoa. Người

khách giang hồ qua ngòi bút miêu tả của nhà văn mang dáng dấp hào hùng lãng mạn đầy

ắp tính hoài cổ. Người khách lạ ấy từ trang phục, ngoại hình đến dáng đi, cử chỉ đều toát

lên vẻ phong trần rắn rỏi của một cuộc đời ngang dọc. Hai đặc điểm tạo nên cái phong

thái khác lạ rắn rỏi, phong trần của người khách chính là 44 cái trán rất lạ: nó nhỏ nhưng

nhô ra một cách bướng bỉnh. Nhất là đôi mắt sắc như dao, bén như nước nhìn vật gì như

hút lấy vật ấy. Đôi mắt trong và sáng ấy đã "không hề vẩn bởi màu sắc thê lương, vẩn

quắc lên nhìn những đợt sóng nhuyễn nhàng bò quanh mấy con thuyền ngái ngủ". Dáng

vẻ người khách ung dung bình tĩnh, con đường lưu lạc đầy gian nguy dường như không

làm cho người ấy sợ hãi. Ông ta đã lường trước mọi nỗi hiểm nguy trên bước đường lưu

lạc bằng cách trang bị một "lưỡi dao nhọn như một là một lá bùa hộ mệnh” trên bụng.

Chính cái dáng vẻ này đã làm cho cô lái đò bến sông Ghép đã có "cái cảm tưởng hãi hùng

như gặp một tên giặc cướp tàu ô ghê gớm”.

Hình ảnh người khách giang hồ hiện ra thật hùng dũng mang nét đẹp cổ điển. Nhà

văn đã dùng nhiều từ ngữ khác nhau để chỉ người khách ly hương này như: người khách

lạ, gã giang hồ, người lữ hành của đất nước Trung quốc, người lữ khách, vị thần tử của

giang san trung quốc...Cách gọi khiến ta liên tưởng đến hình ảnh người lữ thứ trong thơ

ca cổ điển phương Đông. Người khách ly hương ở đây cũng đang ở trong một không xa

33

xôi, xa lạ khi hoàng hôn về mang nét cô liêu, hắt hiu, buồn bã. Con người mà "cái linh

hồn Trung quốc phát lộ ra trong từng bước đi, điệu đứng, trong sự trầm mặc, trông tìm”,

con người đã mang trong mình "giòng máu hùng cường luân lưu nuôi mạch sống và nuôi

lớn mãi cái chí nguyện giang hồ ấy cũng đã có lúc "chạnh lòng khóc nước". Hoàng hôn là

thời khắc thường khiến người ta nhớ về quê hương. Trong cảnh "nắng tắt dần dần chỉ còn

nắng vàng pha sắc tím", người lữ khách đã chạnh lòng so sánh cảnh hoàng hôn ở cố quốc

: "Hoàng hôn ở đây không như hoàng hôn của Giang Tây, Hồ Bắc, hoàng hôn ở đây u

hoài như một chinh phụ nhớ chồng". Nỗi nhớ quê hương lúc này đã thấm sâu vào tâm

hồn người khách lạ để đếm về trong không gian vắng lặng ở một nhà trọ xa lạ nơi đất

khách, trong giây phút chạnh lòng, con người ấy đã gửi gắm nỗi niềm hoài niệmaưởng

nhớ đến một mảnh đất xa xôi bằng mấy câu Đường thi:

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa, đối sầu miên

Cô tô thành ngoại Hàn san tự,

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Chỉ lúc này nỗi niềm nhớ nước mới làm "chết chí phiêu lưu bôn tẩu" của vị "lữ

hành của đất nước Trung quốc". Người khách giang hồ ở đây là con người giàu ý chí khát

vọng, dù chỉ là khát vọng làm giàu, nhưng dường như không hợp thời nên cuối cùng vẻ

đẹp rực rỡ ấy chỉ còn lại ià sự tàn tạ với cái "danh vọng tàn". Giống như con ngựa kim

hoa trắng ngày nào "mang một vẻ đẹp đẽ oai nghiêm, hùng dũng thế mà trở nên gầy gò

thiểu não và "con ngựa trắng ấy ngày nay đã chết. Cũng như ba tôi để lại cái danh vọng

tàn của những ngày rực rỡ" (Con ngựa trắng của ba tôi). Con ngựa trắng ấy đã gắn với

những kỷ niệm về một thời rực rỡ của người cha. Viết về người cha, nhà văn đã tỏ một sự

ngưỡng mộ sâu sắc. Những dòng kể về người cha được kể với một giọng kể khách quan

hơn, từ ngôi thứ nhất chuyển sang ngôi thứ ba, lời kể mang một vẻ trang trọng đặc biệt.

Rõ ràng hình ảnh người cha đã để lại ấn tượng rất nhiều cho nhà văn, nhất là cái vẻ ngang

tàng và những lời dạy mang đầy khí phách của một người giàu ý chí, khát vọng: "Trong

34

đời một người đàn ông không nên sợ gì hết, cứ thẳng mà tiến, ngang nhiên mà

làm"[53;49].

Tiếp theo người cha là chú Nhì-một "linh hồn phiêu bạt" khác cũng rời xứ ra đi

nhưng không phải theo "chí nguyện nhằm một mục đích làm giàu" bằng mồ hôi nước

mắt, bằng nghị lực, kiên nhẫn, không hổ thẹn như người cha, mà chỉ tìm cách sang Việt

nam thu tiền của anh về. Hình ảnh khách giang hồ ở người chú ấy chỉ còn lại dáng vẻ tàn

tạ vì chỉ đắm chìm trong khói thuốc phiện, trong lối sống ích kỷ, chỉ biết chờ đợi cốt sao -

cho có "món tiền vãng phí lớn để về lại bên Tàu".

"Thằng cháu đích tôn" cũng là một "tâm hồn dạn dầy và đau khổ" vì được " sinh ra

trong cảnh túng thiếu gạo ít khoai nhiều để rồi lớn lên dưới một trời binh lửa" (Thằng

cháu đích tôn). Rời bỏ đất nước Trung hoa, thằng cháu ấy đã đặt chân lên một đất nước

xa lạ để chịu cảnh sống lạc loài tuy đang sống giữa những người trong gia đình. Ngoài

người ông thật lòng yêu thương nó, người cháu hoàn toàn cảm thấy cô đơn giữa cộng

đồng người xa lạ xung quanh nó. Cho nên khi người ông chết đi, "người cháu đau khổ ấy

đã thấy chết lần thứ hai niềm thân thiết nhất trong đời"[15;133], từ đấy nó cảm thấy "rất

bơ vơ có lẽ vì nó cảm thấy chung quanh mình sự xa vắng tuy luôn sống giữa gia đình.

Những kẻ tha hương thường cảm thấy cô đơn vì luôn luôn có cảm giác lạc loài giữa một

xứ sở xa lạ. Có lẽ vì thế mà người ông, một kẻ giang hồ phiêu bạt và thằng cháu, cũng là

một đứa trẻ tha hương, hai linh hồn Trung quốc lưu lạc ấy đã tìm đến nhau, gắn bó nhau

trong "niềm thân thiết trong đời".

Từ một hình ảnh người cha giang hồ, phiêu bạt, nhà văn đã nghĩ rộng ra rằng dường

như không chỉ người cha mà bao người Tàu khác hoặc những người trong gia đình nhà

văn bên ấy có lẽ cũng lang bạt xa xôi" vì lý do thật đơn giản "Tại vì người tàu thích đi ra

ngoài. Tại vì người Tàu nghèo, dân nhiều gạo ít. Tại vì ỏ bên Tàu lắm cướp. Cướp nó ở

rừng, cướp ở đâu cũng có ăn vì nó ăn cướp" (Trong bóng rừng).Dường như dòng máu

giang hồ đã thấm vào tâm hồn của những con người mang dòng máu Trung hoa. Và chí

nguyện giang hồ cũng thấm vào máu của chính nhà văn, chỉ có điều mộng giang hồ đoi

với nhà văn chỉ "cốt để thay đổi một khoảng không khí, một mảnh ười nhìn lâu đã chán

35

mắt đi rồi" (Lòng mẹ). Có lúc nhà văn đã nghĩ mình "sắp được giang hồ rất phải lúc, cái

giang hồ nhiễm đầy vẻ hào hứng phong thái" (Ngày lên đường ).Đối với nhà văn, cái

mộng giang hồ đã ám ảnh nhà văn ngay từ nhỏ: "Tôi ao ước sang Marseille, sang

Manilie, Hương cảng, sang Lào, sang Cao Miên. ơ đâu, tôi cũng tin chắc rằng cảnh tượng

đẹp đẽ, sung sướng hơn ở tình nhà" (Ngày lên đường). Điều này đặt trong hoàn cảnh xã

hội lúc bấy giờ đã phản ánh tâm trạng ngột ngạt của lớp văn nghệ sĩ thế hệ nhà văn. Họ

muốn tìm lối thoát nhiứig bế tắc và họ đã gửi gắm ước mơ đó vào mộng ước giang hồ.

Trong bài thơ "Chiều" nổi tiếng, nhà thơ đã tự nhận mình là người lữ khách: Tôi là người

lữ khách Mầu chiều khó làm khuây Ngỡ lòng mình là rừng Ngỡ hồn mình là mây Nhớ

nhà châm điếu thuốc Khói huyền bay lên cây...Bài thơ đã được đặt trong một khoảnh

khắc thời gian- chiều để gợi lên một khoảnh khắc của tâm trạng nỗi nhớ, một nỗi nhớ mơ

hồ không rõ nét nhưng đầy ấn tượng- nỗi nhớ của người lữ khách xa lạ.

Nhìn chung, hình ảnh con người giang hồ qua cảm nhận của nhà văn vừa mang một

phong thái, một nét riêng đầy ấn tượng giống như hình ảnh khách giang hổ thời cổ đổng

thời lại vừa nhuốm vẻ khấc khoải, tàn tạ cô đơn cửa những linh hồn phiếu bạt, chấp nhận

rời bỏ quê hương để sống lạc loài giữa một xứ sở xa lạ. Từ những con người giang hồ cụ

thể, những linh hồn lưa lạc, nhà văn đã "nghĩ đến cái Tổ quốc Trung hoa với những manh

áo chàm giang hồ khắp tứ xứ" (Người chị dâu tôi)

1.1.2.2.Con người tha phương lưu lạc vì sự xô đẩy của số phận:

Có thể nói "Chân trời cũ" là chuỗi dài những tiếng ngân nga của hoài niệm về

những con người, những cuộc đời đã đi qua tuổi thơ của nhà văn, những con người mà số

phận của họ không một lần được hạnh phúc mỉm cười. Mỗi con người là mỗi số phận,

cảnh ngộ riêng nhưng cuộc đời của họ nói chung đều phải trải qua những ngày tháng

buồn đau hiu hắt và kết cục số phận của họ là sự ly tán, chết chóc, lưu lạc, tha phương.

Trong các tác phẩm văn học hiện thực phê phán, con người thường chịu sự chi phối,

quyết định bởi hoàn cảnh.Trong văn xuôi Hồ Dzếnh, con người cũng không thể nào thoát

ra khỏi hoàn cảnh bó buộc họ. Chính hoàn cảnh đã đẩy con người vào những cảnh ngộ éo

le buồn tủi, đã đem đến cho họ những tai họa bất ngờ không lường trước để rồi cuối cùng

36

xô đẩy họ vào kiếp sống tha phương trôi dạt. Cuộc sống con người quá mong manh bất

trắc vô định, nổi trôi. Viết về thân phận trôi nổi, phiêu dạt của kiếp người, ngòi bút của

Hồ Dzếnh nhuốm một cảm quan bi đát về nỗi buồn đau thế sự. Nhân vật của Hồ Dzếnh

thường lặng lẽ chịu đựng phó mặc cho số phận đưa đẩy vào cuộc sống ly hương. Cho nên

nhân vật nào của ông cũng gợi lên hình ảnh nhỏ bé, đáng thương, tội nghiệp của một kiếp

người và đều chịu cảnh lưu lạc.

Người anh cả (truyện Người anh xấu số, Thiên truyện cuối cùng) phải đi đến một

nơi xa xôi để sống kiếp sống ly hương. Cuối cùng "con đường đưa anh trở lại quê hương

đã mất dấu", "đường về quê đã biến" và số phận đã cướp mất đi cuộc sống của ông ở một

nơi núi rừng hẻo lánh, không một người thân thích, không một bày tay nào khép hộ đôi

mắt của anh vào giờ phút cuối cùng.

Không phải chịu sự ghẻ lạnh hắt hủi của mọi người trong gia đình nhưng người anh

hai (truyện vừa một kiếp người) cũng sống kiếp sống tha hương. Nếu người anh cả rơi

vào nghiện ngập đến mức "ươn hèn bỉ ổi" thì người anh hai cũng là một tay ăn chơi khét

tiếng đã trải qua " các giải đường đưa đến những ngõ trụy lạc", sống bất cần đời đến mức

vào tù vì thụt két. Duyên phận cứ liên tiếp lỡ làng, hai lần cưới vợ, hai người vợ cứ lần

lượt qua đời. Phẫn uất, buồn đau và quá ít hy vọng vào tương lai, cái "tương lai không

chắc chắn", một "phương trời không hứa hẹn, người anh đã quyết định bỏ xứ mà đi đến

một nơi có lẽ là "một góc biển xa xôi, nơi phiêu lưu của một linh hồn phóng dật"

Không được sinh ra ương điều kiện sống tốt đẹp như người anh cả, anh hai, anh Đỏ

Phụ(Truyện Anh Đỏ Phụ), một người con trai nghèo khổ, hiền lành ở cái xã Hoa Trường

heo hút cũng đã ban đời mình lấy 10 đồng để làm phu ở Tân thế giới, phó mặc cho kiếp

sống tha hương "cắt đứt lìa mình khỏi cuộc đời quen thuộc, khỏi thân thích, quê hương".

Nhân vật người phụ nữ trong tác phẩm của Hồ Dzếnh cũng chịu đựng số phận lưu

lạc tha phương. Nếu người chị dâu (Truyện Người chị dâu tôi) là một linh hồn Trung

quốc lưu lạc đến một xứ sở xa lạ để làm dâu thì Chị Yên (truyện Chị Yên )lại là một

mảnh đời khác của số phận lưu lạc. Hoàn cảnh lưu lạc của chị lại xuất phát từ một tai họa

bất ngờ ập xuống cuộc đời chị khi chỉ còn vài tháng nữa là chị sẽ theo chồng để tìm một

37

hạnh phúc riêng cho mình. Không chịu được nỗi nhục bị hãm hại, người con gái ấy đã ra

đi, đau xót chấp nhận cuộc sống ly hương và cuối cùng đã chết trong cảnh xa quê.

Nếu như cái nguyên nhân xui khiến người con gái nuôi đi vào bước đường tha

hương lưu lạc xuất phát từ một tác nhân bên ngoài (người cậu) thì duyên cớ đẩy người

con gái cùng cha khác mẹ (Em Dìn) vào con đường gió bụi chính là từ những người trong

gia đình. Phạm "một tội rất thông thường là yêu vì nhẹ dạ", có lẽ người con gái cũng

không đến bước đường phải ra đi. Chính vì sự hiềm khích giữa người vợ cả và vợ lẽ, vì

tự ái và lòng ích kỷ, người mẹ của người con gái đau khổ vì yêu ấy đã hành hạ làm tổn

thương lòng tự trọng của con gái và vô tình dồn con gái mình vào bước đường cùng đành

nhắm mắt đưa chân ra đi theo người yêu. Cuối cùng bị người yêu ruồng bỏ, chỗ bám víu

cuối cùng cũng đã mất, người con gái ấy giữa lúc năm cùng tháng tận đã dấn thân vào

một nơi xa xôi, cái nơi mà chính người sắp bước vào cũng còn chưa hiểu nổi.

Nói là đi Sài gòn nhưng nơi đến thật là vô định và biết đâu ở một nơi xa lạ như thế

cái " đời mưa gió " đang chờ đợi những cô gái bất hạnh như em Dìn?

Rõ ràng những nhân vật trong tác phẩm Hồ Dzếnh mỗi người một bản ngã, một số

phận nhưng do số mệnh đều phải chịu đựng một cuộc đời đau khổ và kết thúc cuộc đời

họ trong hoàn cảnh tha hương. Không hy vọng vào cuộc sống, mất phương hướng hoặc

do sự đưa đẩy của số phận, họ đã chọn con đường bỏ xứ sở mà đi. Tưởng rằng có thể tìm

đến một cuộc sống mới ở một nơi xa lạ nhưng hoàn cảnh lưu lạc đẩy họ sâu thêm vào

tình cảnh đau khổ. Tương lai thật vô định, mờ mịt. Hoàn cảnh lưu lạc không hứa trước

được điều gì, có thể đó là một cuộc đời gió bụi, đen tối ở đó con người có thể bị đẩy sâu

hơn vào bước đường tuyệt vọng không có ngày mai. Người anh hai thì lưu lạc ở một nơi

góc biển xa xôi không hứa hẹn một điều gì ở tương lai. Anh Đỏ Phụ chôn vùi cuộc đời ở

một nơi mờ mịt, xa xăm gọi là "Tân thế giới" và hoàn toàn không có đường về. Em Dìu

ra đi mà không biết rằng mình đang dấn thân vào con đường gió bụi....Có khi hoàn cảnh

lưu lạc cũng không dung chứa con người mà đẩy con người đến cái chết đau thương.

Người anh cả đã chết trong một cuộc hành trình điên dại, dở dang của một kiếp người.

Người chị nuôi thì kết thúc cuộc đời ở một nơi xa trong hoàn cảnh gia đình ly tán. Chị

38

chết "một tháng sau chồng và hai tháng trước đứa con trai" để lại một "tấn kịch đau đớn

nhất" trong lòng nhà văn.

Truyện "Cuốn sách không tên"- một tác phẩm được tìm thấy từ chồng di cảo mà đến

trước ngày qua đời nhà văn cũng chưa có ý định công bố- đã được Nguyễn Bao giới thiệu

hai năm sau khi nhà văn qua đời và sau này được in ưong cuốn "Hồ Dzếnh-những trang

văn xuôi chọn lọc", NXB Văn học 2001. Tác phẩm cũng là một câu chuyện buồn của

những con người tha phương đi tránh loạn trong cảnh chiến tranh. Nhân vật trong truyện

là một đôi vợ chồng trẻ đã phải lên tận vùng sơn cước xa xôi giáp Thượng Lào. Đó là một

nơi vắng vẻ hắt hiu ở chốn sơn lâm mà ở đó "đất rừng đỏ như tiết thử thách nghị lực con

người bằng những bóng cây âm u, những bụi gai chằng chịt. Tiếng chim "cung quái" giật

mình bay lên, tung ra, hốt hoảng ương tiếng xe bò nặng nhọc, ẽo ạt giữa cảnh rừng

hoang" [16;216]. Xã hội của những con người lánh nạn chỉ vài chục người nhưng những

ngày cực khổ gian nan bệnh tật cũng làm cho con số ấy mòn dần chỉ còn ngót nửa và làm

cho họ lùi bước phải trở lại đồng bằng. Câu chuyện là một nỗi ngậm ngùi đài của con

người trong cảnh thời loạn. Một nhà giáo nghèo với vợ và hai con còn non đã phải bán

chiếc xe đạp, phương tiện đi lại duy nhất để kiếm tiền để rồi phải đi bộ hàng 50 mươi cây

số đến trường. Và rồi người đàn ông tội nghiệp ấy lần lượt tiễn đứa con đầu và người vợ

ra đi mãi niãi trong nỗi nghẹn ngào ray rứt vì không có đủ tiền nên phải lừa người bán áo

quan để mua một cỗ áo quan tốt cho vợ. Cuộc đời của họ là cả một chuỗi ngày buồn bã

nối tiếp nhau vì cái nghèo khổ đói rét cuối cùng là ly tán, chết chóc trong cuộc đời lưu lạc

tha phương.

Như vậy quả thật là hoàn cảnh lưu lạc đã không mở ra cho con người một hướng

giải thoát cho cuộc sống tăm tối, ngược lại đã đẩy dần con người vào con đường tuyệt

vọng. Rõ ràng số phận con người đã bị nhấn chìm bởi hoàn cảnh.

Để miêu tả cuộc sống những con người tha hương lưu lạc, nhà văn đã đặt nhân vật

trong một không gian riêng gắn liền với số phận từng con người. Có thể đó là một không

gian bất định, không gian đất khách quê người gắn liền với số phận lưu lạc. Chẳng hạn

như không gian núi rừng hoang vắng trên bước đường lưu lạc của người anh cả. Khi hay

39

tin anh chết, vợ con anh đã phải cố công đi tìm dấu vết của người chết vì không ai biết

nơi đó là ở đâu. Chỉ biết rằng đó là một nơi xa xôi, bởi " con đường đưa anh trở lại quê

hương đã mất đấu" và hiu quạnh vắng vẻ đến nỗi " tiếng anh kêu vang cả một khu rừng

quanh hiu". Bóng dáng cô đơn của anh đã bị bọc trong một không gian lạnh lẽo khi bóng

chiều buông xuống chỉ còn trông thấy "mây âm u giải dài cuối rừng". Cuối cùng thân xác

anh cũng đã phơi trên một đám đất bị lở giữa cảnh núi rừng mênh mông xa vắng.

Kết thúc truyện Em Dìn cũng đã mở ra một không gian vô định, đầy bất trắc và xa

lạ mà bước chân còn bỡ ngỡ của người con gái nhẹ dạ vì yêu đã quyết định hướng tới.

Chuyến tàu sẽ đưa người con gái ấy đến một nơi hứa hẹn một tương lai tươi sáng hay lại

đẩy cô vào con đường tối tăm nơi đất khách quê người? Cũng không ai biết trước được

điều đó ngay cả người sấp dấn thân vào.

Có khi không gian lưu lạc của con người là một không gian cụ thể xác định nhưng

đầy bấp bênh và không ai biết trước được điều gì đang đợi họ phía trước và thậm chí có

khi nơi ấy còn hứa hẹn những giông bão sẽ xảy tới trong cuộc đời. Đó là "một góc biển

xa xôi", nơi người anh hai chọn làm nơi dừng chân của một cuộc đời "phóng dật". Nơi ấy

"không gian thê lương và mênh mông lắm". Đó là không gian nơi anh Đỏ Phụ hướng tới

trong tình trạng tuyệt vọng.thất nghiệp, tình duyên lỡ làng mà đến nơi ấy con người chấp

nhận "cắt lìa mình khỏi cuộc đời quen thuộc, khỏi thân thích quê hương". Đó là không

gian chị Yên chọn để sống tiếp quãng đời còn lại của mình sau khi tai họa đã giáng xuống

đầu chị. Chị đã yên phận sống ở nơi đó và chính nơi này cũng là nơi chứng kiến cái chết

của người con gái bạc phận.

Rõ ràng hoàn cảnh lưu lạc càng đẩy sâu con người vào số phận bất hạnh hoặc là

nhận lấy cái chết trong cảnh tha hương (Anh Cả, Chị Yên) hoặc là phó mặc cho số phận

đưa đẩy mà không biết được tương lai mình ra sao (Anh Hai, Em Dìn, Anh Đỏ Phụ...).

Có khỉ không gian xa lạ ấy đã trói buộc con người vào bổn phận và sự cam chịu, phục

tùng ngu muội (Người chị dâu tôi). Nhìn chung, không gian bao quanh những con người

lưu lạc này thường là một không gian rộng rãi khoáng đạt nhưng lại đượm vẻ hiu hắt thê

40

lương, buồn bã, nơi ấy con người thật lẻ loi như "bóng dáng con chim chỉ là con số không

trong vùng rộng lớn".

1.1.3.Con người tự vấn, tự ý thức.

Cũng như các nhà văn cùng thời như Thạch Lam , Thanh Tịnh, trong những tác

phẩm văn xuôi nghệ thuật, Hồ Dzếnh hầu như không hề đặt ra bất cứ một vấn đề xã hội

nào gay gắt như tác phẩm của các nhà văn hiện thực chẳng hạn như những mâu thuẫn xã

hội, việc áp bức bóc lột ở nông thôn hoặc sự tha hóa về mặt đạo đức của con người ở

thành thị.... Ông không chếi từ hiện thực nhưng ông miêu tả hiện thực thông qua một cái

nhìn riêng. Cái nhìn ấy thể hiện ở cái tôi -nhà văn luôn luôn xuất hiện ữong câu chuyện.

"Chân trời cũ" là một tập truyện mang tính chất tự truyện. Cũng như các nhà văn thời kỳ

này thường tìm đến thể loại tự truyện để hồi tưởng về quá khứ thơ ấu của mình ( như

Nguyên Hồng với "Những ngày thơ ẩu", Tô Hoài với "Cỏ dại", Lưu Trọng Lư với "Chiếc

cáng xanh", Nguyễn Tuân với “Chiếc lư đồng mắt cua"...), Hồ Dzếnh cũng ngoái nhìn đĩ

vãng để viết về những người thân và những người mà ông quen biết. Những nhân vật đó

đều cổ liên quan với ông nên nhân vật Tôi-người kể chuyện, dẫn chuyện luôn luôn xuất

hiện. Nhân vật "Tôi" trong tập truyện này không phải chỉ xuất hiện với Vai trồ người kể

chuyện mà còn như là một nhân vật chính xuyên suốt tập truyện, có mặt bàng bạc khắp

những trang văn của ông với những suy nghĩ, tâm tư, trăn trở, dằn vặt trong nội tâm tạo

thành một hiện thực khác, một hiện thực cũng phong phú, dồi dào chất liệu không kém

hiện thực đời sống xã hội, đó là "hiện thực nội tâm", một hiện thực tiềm ẩn trong tâm hồn

nhà văn và nó thể hiện khắp những trang văn Hồ Dzếnh. Có nhiều đoạn trong tác phẩm

hoàn toàn là hiện thực tâm trạng. Và như thế "cái tôi” của tác giả vừa là chủ thể thẩm mỹ

lại vừa là đối tượng thẩm mỹ và chất liệu chính dể tạo nên tác phẩm là "hiện thực nội tâm

của nhà văn" [28;41].

Nhân vật "Tôi" trong truyện xuất hiện với tư cách là người chứng kiến câu chuyện

xảy ra trong quá khứ đồng thời là con người ở hiện tại tự chất vấn lương tâm, tự soát xét

lại bản thân mình với một nỗi ăn năn day dứt và một sự cự phê phán bản thân nghiêm

41

khắc. Điều này đã khắc họa nên trong "Chân trời cũ hình ảnh con người tự vấn luôn luôn

tự ý thức soi rọi lòng mình.

Quả thật vậy, đọc những trang văn của Hồ Dzếnh, người đọc nhận thấy rằng nhà

văn khi nhìn về quá khứ đã luôn luôn đối diện với chính mình để nghiêm khắc tự vấn

lương tâm, tự nhìn ra những khuyết điểm của mình mà ăn năn hối lỗi. Có lẽ điều này

chính là động lực để nhà văn viết về đĩ vãng như lời nhà văn đã khẳng định: "Tôi chỉ viết

khi nào tôi hối hận" (Dẫn theo Văn Tâm),[3; 223]

Xuyên suốt "Chân trời cũ", người đọc nhận thấy rằng dù viết về ai thì phía sau

những câu chuyện ấy, nhân vật chính vẫn là tác giả với một tâm hồn giàu lòng yêu

thương, sẩn sàng mỡ lòng ra để chia sẻ với những nỗi đau của người thân đồng thời còn

thể hiện nỗi đau khổ day dứt của mình. Nỗi đau khổ ấy có thể xuất phát từ nhiều nguyên

nhân nhưhg có lẽ còn do nhà văn vốn là" một người tự tạo ra đau khổ để sống, để sung

sướng vì thấy mình đau khổ hơn người"[15; 155]. Cái tôi nhà văn luôn nhìn đời bằng cảm

quan của một con người đau khổ, sống bằng mộng nên "chịu ảnh hưởng sự khủng hoảng

tinh thần do chính mình gây ra, do chính mình ham thích" (Lòng mẹ). Nỗi đau khổ ấy có

lẽ còn do một nỗi niềm ray rứt khôn nguôi của nhà văn khi ngoái nhìn về quá khứ. Ông

đã thành thực giãi bày nỗi niềm ấy qua những lời trữ tinh xen giữa những dòng tự sự như

một sự tự vấn lương tâm một cách chân thành.

Có khi đó là một nỗi ray rứt về mặc cảm phạm tội nghĩ mình là nguyên nhân cho

nỗi khổ của người khác. Mặc cảm phạm tội thường đến với ông mỗi khi nghĩ đến người

mẹ. Suốt đời nhà văn đã không thể quên được hình ảnh người mẹ để có tiền đóng học phí

cho con đã phải "mượn tạm” hai đồng bạc để chịu sự rẻ khinh của vợ chồng người em.

Nhà văn khi ấy đã cảm động về tấm lòng cao cả của người mẹ nhưng mỗi lần nhớ lại, nhà

văn vẫn cảm thấy ray rứt thấy mình phạn tội, cho nên "Nhiều năm rơi theo nhiều năm và

bây giờ, trong những đêm Hà Nội, cái thành phố hoa lệ chỉ quen tiêu bạc với hào, tôi vẫn

rờn rợn nghe thấy âm thanh của mười quan tiền kêu lanh lảnh! 15;57]

Mặc cảm phạm tội có khi thể hiện qua những lời tự trách chân thành của nhà văn

khi soát xét lại lỗi lầm của mình trong quá khứ. Chứng kiến tình yêu vụng trộm của

42

người em cùng cha khác mẹ em Dìn qua mấy lần theo dõi cô gái ra khỏi nhà nói là đi đòi

nợ nhưng thực ra là đi gặp một người con trai nhỏ nhấn xinh đẹp, người viết đã không

dám thổ lộ ra để đến khi quá muộn thì sự việc đã không thể cứu vãn nổi. Cô gái trở thành

một cái cớ để hai bà mẹ nối cạnh khóe nhau cho thỏa lòng ghen tức. Người mẹ đã hành

hạ người con gái mình đứt ruột đẻ ra một cách độc ác tàn nhẫn: lột trần đứa con gái từng

cái áo một trước mặt mọi người. Điều này đã góp phần đẩy cô gái trót yêu vì nhẹ dạ ấy

vào con đường tha phương lưu lạc. Người viết đã tự ưách mình khi thấy em Dần bỏ đi.

Khi nhìn đôi mắt người cha trong bức ảnh đặt trên bàn thờ, bằng linh cảm, người viết như

nhận ra từ đó toát ra "một sự trách cứ huyền bí nào đó" gieo xuống lương tâm một tên

tòng phạm vì quá dung thứ sự thầm lén của đứa em nhẹ dạ.

Có lúc đối với một người thân, nhà văn cũng nghĩ mình là kẻ bội bạc và đã tự phán

xét bản thân một cách nghiêm khắc trung thực. Đối với người chị nuôi, tác giả không

quên được hành động dùng đôi giày đang đi " nhằm xương ống chân của chị mà chọt một

cái thật mạnh" chỉ vì chị đã để mèo tha mất cá thu, thứ cá mình ưa thích. Dù đấy là hành

động trẻ con và ngay lúc ấy nhà văn đã chặt đồi giày ra từng mảnh nhiứig bây giờ nhớ về

quá khứ, nhà văn cũng tự nhận mình "có lỗi nhiều lắm", rằng mình là "người bội bạc",

thậm chí "dã man" đến mức “lòng tôi đôi phen thắt lại, rùng rợn nghĩ đến cử chỉ hung hãn

của mình". Nhưng có lẽ điều ray rứt nhất của nhà văn là đã che dấu sự thật về người cậu

xấu xa để cho tội ác ngự tri dẫn đến "tấn bi kịch buồn bã nhất" của một người con gái

hiền lành. Câu chuyện ấy cũng đã theo đuổi mãi nhà văn như một nỗi ám ảnh cực nhục

và một sự ray rứt khôn nguôi. Mãi về sau nhà văn cũng còn tự trách "Vì phấn son và phù

hoa đã quyến tôi đi xa ngày trước khiến nhà văn đã quên mất người chị nuôi bất hạnh.

Có thể nói mỗi lần nhớ về quá khứ là một lần Hồ Dzếnh lại phán xét bản thân. Nhìn

thấy nỗi khổ của người khác, Hồ Dzếnh lại thấy mình sống thật ích kỷ. Từ nhỏ đã chứng

kiến cảnh người chị dâu Trung quốc sống cô đơn buồn tủi giữa những người xa lạ, lòng

người viết đã có những phút ritog rưng niềm xúc động cảm thông cho thân phận người

đàn bà lưu lạc. Khỉ vào đời nhìn về quá khứ, nhà văn lại chạnh lòng thấy mình sống ích

kỷ. Hình ảnh người chị dâu như như một ám ảnh cứ len vào trong trí nhà văn trong những

43

ngày tháng "phao phí thanh xuân "trong khi người chị dâu ấy "vẫn buồn bã với manh áo

màu chàm cũ, mắt nhìn từ quãng trời xa về, bóng hoàng hôn mơ hồ ôm trùm lên sư

vật"[15;31].

Hồ Dzếnh không chỉ cảm thấy ân hận ray rứt đối với những người thân mà ông còn

ray rứt ngay cả khi cầm bút viết về những con người thương yêu ấy. Ông tự nhận mình là

người ích kỷ . Tôi là người ích kỷ nhất vì tôi viết văn. Vì tôi đi lên những cái đau khổ của

người khác để làm nảy ra cái đau khổ của tôi và dùng nó làm cái bàn đạp đưa mình lên sự

nổi tiếng" (Thiên truyện Cuối càng), [15;184]. Có thể nổi mọi điều ảnh hưởng đến người

khác đều cổ thể làm ông ray rứt ân hận. Viết về người anh cả, đôi lúc ương lòng nhà văn

đã dậy lên lòng khinh miệt và thấy người anh ấy không đáng là anh vì đổ là "hiện thân

của kiếp người ươn hèn bĩ ổi nhưng tự nhà văn -cũng vàm thấy ray rứt vì cho rằng mình

đã soi mối vào nỗi đau khổ của người, tìm những chi tiết cái chết thê thảm của người anh

tức là "dùng máu mủ của người đời để tăng màu rực rỡ của danh vọng tự kỷ" [15; 184].

Điều này đã làm nhà văn cặm thấy hổ thẹn biết bao! Quả thật "tấm lòng tác giả thật rất

bao dung, dường như không dám nghĩ đến điều ác bao giờ và giá như cố lức vô tình hoặc

cố ý chạm phải điều ác thì là cả một nỗi day dứt khôn nguôi"[41;109]

Xuất phát từ việc chất vấn lương tâm, những trang viết của Hồ Dzếnh được viết ra

như những lời giãi bày tự thú và sám hối hướng về những con người mà ông yêu thương.

"Chân trời cũ" xuất hiện nhiều lần cách nổi như là lời giãi bày với người đọc:

"Đối với chị Yên, tội chịu lỗi nhiều lắm...Dưới sự phán xét nghiêm nhặt của kỷ

niệm, đối với chị Yên, tôi vẫn là người bội bạc..." ( Chị Yên)[15; 151-153]

"Chỉ có tôi là sổng ích kỷ, còn người mẹ già, người chị dâu đau khổ, mấy đứa cháu

rách rưới vẫn sống theo khuôn phép lặng lẽ và cần cù " [15; 31] Có khi đó là lời giãi bày

trực tiếp với nhân vật:

Với người chị dâu: "Hỡi chị! Nếu số phận đã bắt chị vào làm dâu một gia đình cơ

khổ, làm vợ một người chồng không bằng người, làm một người đàn bà lưu lạc, chị hãy

44

nhận ở đây, trong mấy gióng chữ này, một lời an ải, để may ra lòng đau khổ của chị

được san sẻ một vài phần" (Người chị dâu tôi )[15;22]

Với em Dìn: "Và cả em nữa, em anh ạ, biết đâu em sẽ lại không đọc anh, đọc chính

em, ngạc nhiên thấy đời em giống in như thiên truyện anh viết và hết cả hồ nghỉ khi nhìn

đến cái tên ký thân thiết dưới này ....Xuân đến! Mưa bay! Người ta bảo nhỏ anh rằng

trong tháng giêng tốt lành sẽ có nhiều đám cưới. Anh không tin, mà tin làm sao, vì qua

ánh sáng ngày xuân, anh thấy lòng buồn vô hạn” ( Em Dìn).[15;109-110]

Và những lời tự vấn cũng có khi xuất hiện dưới hình thức những triết lý sâu xa về

cuộc đời. "Thiên truyện cuối cứng" kết thúc bằng một đoạn triết lý dài về lòng yêu

thương, về ý nghĩa của cuộc sống:

"Lòng yêu thương gửi đi không bao giờ muốn được phân tách. Trong mỗi hành vi

nhân từ đều có ngụ một ý nghĩa. Có thể là sự sám hối ăn năn, có thể là lòng rung động

gửi ý sang một người khác, Em không vào sâu trong những cảm giác phức tạp của nghệ

sĩ, em không biết rằng chính họ mới là những người đáng thương và đảng mến. Anh

không truy lạc đó là một cái may, nhưng nếu có phải trụy lạc ra, anh tránh sao được?

Anh không bao giờ muốn trác táng, nhưng anh không vô lý khinh miệt sự trác táng như

em. Có cái gì ở đời này không đau đớn? Yêu nhau và thương nhau là điều cần hem hết.

Đổ là bồi thêm ý nghĩa cho sự sống , đề bớt thấy mình lạnh lùng. Để còn là cả một triết lý

mênh mông của đời, cái đời nhỏ nhen, tầm thường và ích kỷ"[15; 192]

Những câu triết lý này lại hướng trực tiếp đến nhân vật trong tác phẩm người anh cả

cho nên đó giống như là một lời biện giải trực tiếp đối với người anh đã mất và phải

chăng nhà văn cũng muốn hướng đến người đọc để giãi bày một cách chân thành về ý

nghĩa cuộc sống: Yêu nhau và thương nhau là điều cần hơn hết "Đó là cả một triết lý

mênh mông của đời, cái đời nhỏ nhen, tầm thường và ích kỷ"? Lời giãi bày mới chân

thành và tha thiết làm sao!

Như vậy, có thể nói "Chân trời cũ" không phải chỉ kể lại chuyện người mà còn là sự

tự mổ xẻ phán xét chân thành chính bản thân người viết với một niềm ăn năn hối hận ray

45

rứt. Nhà văn chẳng những không thiên vị đối với người thân mà ngay cả đối với chính

bản thân mình. Điều này làm cho ngòi bút của ông mang tính trung thực đáng quý.

Ngoài "Chân trời cũ", tác phẩm văn xuôi khác của Hồ Dzếnh như "Cuốn sách

không tên", một cuốn sách đến tay người đọc hai năm sau khi tác giả qua đời, cũng thể

hiện hình ảnh con người tự vấn.Đ6 là hình ảnh người cha, khi người vợ chết, vì không có

đủ ba trăm bạc mua một cỗ áo quan tốt cho vợ đã phải dùng "thủ đoạn cửa một người quá

nghèo” để lừa người đàn bà hung dữ bán áo quan. Không chỉ vậy, người đàn ông đau khổ

ấy còn lừa cả đứa trẻ mà bà chủ sai đi theo lấy tiền. Điều này đến mãi về sau vẫn còn làm

cho người đàn ông day dứt, dằn vặt mỗi khi nhớ đến hình ảnh và câu nói ngây thơ của

đứa trẻ: "Ông lấy tiền mau trả cho bà cháu nhé, không thì bà cháu đánh cháu chết

mất"[16;289]. Mỗi lần nghĩ đến chuyện ấy, người cha vẫn cảm thấy lương tâm bị cắn rứt

vì đã làm một việc mà mình không muốn mà vẫn buộc phải làm vì "than ôi, đời...là thế"!

16; 289 ]. Hành động này làm cho người đàn ông ngay lúc ây "không còn đau đớn nữa"

mà lại thấy "sượng người trong nỗi tuyệt vọng "[10; 290]. Giữa lúc ấy cuộc oanh tạc diễn

ra hướng về phía sát với nhà thương. Trong lòng người chồng đau khổ lức ấy vừa cảm

thấy lo sợ hốt hoảng, nghĩ đến chuyện rất có thể "một trái bom làm vỡ cổ quan tài hoặc

thiêu tan xác chết" [16;290] đồng thời còn thoáng hiện một nỗi "vui mừng quái gỡ:vưđng

phải cuộc oanh kích này, bà chủ hàng áo quan chắc không theo kịp để đòi số tiền trước

khi khâm liệm”[16;290). Dù không định tâm lừa đảo và tâm niệm rằng sẽ trở lại trả cho

bà chủ số tiền còn thiếu nhưng than ôi, người đàn bà ấy cũng đã chết. Cho nên sau này

khi cuộc đời đã bớt sóng gió, nghĩ lại chuyện xưa, người cha không khỏi ngậm ngùi, ray

rứt vì đã lừa một lúc hai người, một bà chủ hàng và một đứa trẻ.

Viết về con người tự vấn, Hồ Dzếnh cũng có điểm gặp gỡ với Thạch Lam. Ở nhiều

truyện ngắn của mình, Thạch Lam đã để cho nhân vật của mình thể hiện cái nhìn xoáy

sâu vào bản thân để mổ xẻ, để tự phê phán. Tự phán xét bản thân, Cả Thạch Lam và Hồ

Dzếnh đều dựa vào tiêu chí đạo đức và tấm lòng nhân hậu như là một chỗ dựa tính thần

để điều chỉnh hành động của mình.Trong truyện ngắn "Một cơn giận” của Thạch Lam,

nhân vật Thanh vì buồn bực đã trút cơn giận vào một người phu xe vô tội. Không phải là

46

kẻ ác nhiứig vì cơn bực hầu như đã làmThanh mất lý trí nên trước lời van xin của người

phu xe, Thanh đã dửng dưtig để mặc cho con người tội nghiệp ấy bị tên đội xếp Tây phạt

M 3 đồng bạc". Số tiền đối với một người nghèo như người phu xe là rất lớn. Rồi anh ta

rồi sẽ phải làm sao để có thể cổ được số tiền ấy? Điều này mãi sau khi cơn bực tức qua

đi, Thanh mới nghĩ tới trong một nỗi ân hận giày vò: " Tôi rùng mình nghĩ đến số phận

của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta sẽ phải vay trả cai xe để nộp phạt. Nhưng

ba đồng bạc nợ ấy bao giờ anh trả xong sau những ngày nhịn đói bị cai xe hành hạc, đánh

đập vì thù hằn? Lúc này, Thanh mới tự khinh bĩ mình, thấy hành vi của mình là "khốn

nạn và nhỏ nhen đáng bĩ" và nhận ra rằng "người ta có thể tàn ác một cách dễ dàng". Mỗi

lần nghĩ đến câu chuyện ấy, Thanh " lại thấy đau đớn trong lòng như có một vết thương

chưa khỏi"

Hồ Dzếnh cũng có những kỷ niệm đau đớn như thế, cũng cố những hành động mà

chính ông cho rằng là "tàn ác", là "dã man" đối với chính người ông yêu thương. Vì thế

nỗi ân hận giày vò trong ông càng sâu sắc khó quên. Đó như là một vết thương lòng nhức

nhối, không dễ dàng chữa khỏi. vết thương ở xương ống chân của người chị nuôi do bị

mũi giày đá vào một cách cố ý dù đã khỏi đã "biến ra cái sẹo thâm đen" nhưng vết

thương trong lòng nhà văn do mình tự tạo nên bằng hành động tàn ác cố lẽ không bao giờ

khỏi nên mỗi lần nhớ lại chuyện ấy, nhà văn lại thấy lòng thắt lại đau đớn vì cử chỉ hung

hãn của mình.

Con người ai cũng có một quê hương, một nguồn gốc xuất thân và một tấm lòng

gắn bó với nơi chân nhau cắt rốn. Nếu Thanh trong truyện "Dưới bóng hoàng lan" của

Thạch Lam đã ưở lại thăm quê với một tâm trạng ntog Tưng niềm xúc động vì ở đây

chàng đã gặp lại nơi gắn bó suốt một thời thơ bé của mình, nơi ghi dấu bao kỷ niệm yêu

thương với hình ảnh người bà hiền từ, người bạn hàng xóm dịu dàng với hương hoàng lan

thoang thoảng thân quen thì Tâm trong "Trở về", một truyện ngắn khác của Thạch Lam,

khi nghĩ về quê hương, con sóng tâm hồn của anh không hề xao động. Dường như đối với

Tâm, không còn cổ sợi dây liên lạc nào giữa anh với cái nơi mà anh sinh ra. Cho nên dù

đã năm, sáu năm không về thăm quê nhưng khi trở lại Tâm vẫn thấy lòng mình dửng

47

dưng với chốn cũ và đáng trách hơn là sự dửng dưng đối với người mẹ già nghèo khổ. Rõ

ràng cái địa vị xã hội, cuộc sống thành thị văn minh giàu có có thể làm biến đổi nhân

cách con người. Xây dựng nhân vật Tâm, Thạch Lam cố cái nhìn xoáy sâu vào bản thân

để soát xét lại mình, mổ xẻ và phê phán bản thân. Hồ Dzếnh cũng là một con người gắn

bổ sâu sắc với quê hương. Đối với ông quê hương-đặc biệt là quê hương Việt nam đã trở

thành một cái gì thiêng liêng cả trên ý nghĩa vật chất và tinh thần: Hình ảnh của quê

hương đã theo ông ương suốt cả hành trình của cuộc đời vậy mà có lúc ông tự trách mình

"vì phấn son và phù hoa" đã có lúc làm ông quên đi quê nhà và cả những con người mà

ông yêu thương.tháng sống xa quê nhà,trong Hồ Dzếnh cứ trăn trỏ một nỗi niềm ray rứt,

tự trách bản thân, một lời tự trách chân thành:

"Sáu năm! Tôi xa quê hương sấu năm rồi mà không một lần nào nghĩ đến chuyên

trở lại. Cái sức khỏe yếu ớt của mẹ tôi còn đứng được hay không tôi không biết và người

chị dâu lưu lạc của tôi, cô nói dối mấy đi nữa chắc cũng quá chiều, xế bóng rồi" [15,31]

Con người tự vấn, tự ý thức cũng thường xuất hiện trong tác phẩm của Nam Cao,

đặc biệt là ở những tác phẩm viết về đề tài người trí thức như Đời thừa, Trăng sáng.... Và

đặc biệt là tiểu thuyết sống mòn. "Sống mòn*9 cũng mang tính chất tự truyện như "Chân

trời cũ". Nhân vật Thứ là hoá thân của nhà văn, một con người luôn thể hiện sự đấu tranh

giằng co giữa cái thiện và cái ác, giữa cái tốt và cái xâu để vươn lên tự hoàn thiện

mình.Trong Thứ luôn thể hiện sự trăn trở về lẽ sống, về ý nghĩa cuộc sống. Hầu như

xuyên suốt câu chuyện là một nỗi day dứt trăn trở lớn của nhân vật về lẽ sống cuối cùng

kết đọng lại thành một câu hỏi mà nhân vật đã đặt ra và cùng trăn ưở với nó: sống là gì?

Sống để làm gì? sống như thế nào? Nam Cao đã để cho nhân vật luôn có sự tự ý thức về

tình trạng "sống mòn"của mình. Vì thế trong suốt câu chuyện, nhân vật luôn tự vấn với

lương tâm trước mỗi hành động cử chỉ thậm chí cả những suy nghĩ của mình đối với

người khác.

Trong "Chân trời cũ", vấn đề tự vấn, tự ý thức tuy không được đặt ra xuyên suốt,

thường trực và cũng không xoay quanh những vấn đề có ý nghĩa lớn lao như "Sống mòn"

nhưng con người tự vấn hầu như hiện diện bàng bạc khắp các trang truyện kể về người

48

thân để bộc lộ giãi bày nỗi lòng đối với mỗi con người, mỗi câu chuyện được kể. Những

câu chuyện ấy đã xảy ra vào những ngày thơ ấu, bây giờ hồi tưởng lại, nhà văn đã cố đủ

độ chín chắn để nhìn nhận lại mình. vốn là một con người có trái tim bao dung và nhân

hậu không biết điều ác nên khi nhìn về quá khứ, nghĩ về mọi sự việc, mọi hành vi, cử chỉ

không phải dù là nhỏ nhặt của mình trong quan hệ với người xung quanh, trong lòng nhà

văn bao giờ cũng dậy lên sự xao động, ray rứt, trăn trở. cả Thạch Lam, Nam Cao đều rất

trung thực đối diện với chính mình, với lương tâm để nhìn nhận bản thân, mổ xẻ bản thân

không khoan nhưỢng.Nhưng nếu Thạch Lam, Nam Cao thể hiện sự tự vấn lương tâm, sự

tự ý thức của bản thân qua việc xây dựng những nhân vật biểu hiện sự tự ý thức, dù đó có

thể là hoá thân của tác giả, thì ở Hồ Dzếnh là sự thể hiện trực tiếp. Con người tự vấn

chính là nhà văn, là nhân vật "Tôi", người dẫn truyện, là một nhân vật trong câu chuyện

có quan hệ trực tiếp tới các nhân vật khác, với câu chuyện diễn ra, cho nên viết về người

khác nhưng đồng thời Hồ Dzếnh cũng tự biểu hiện bản thân một cách chân thành qua

những lời giãi bày trực tiếp, trung thực, cảm động. Vì thế dù trong "Chân trời cũ", nhà

văn viết về những con người khác nhưng nhân vật "Tôi"-tác giả vẫn nổi bật xuyên suốt

tập truyện với những nghĩ suy, trăn trở, dằn vặt trong nội tâm. Có thể nói, cùng với những

câu chuyện kể về những người thân, tiếng nói nội tâm, những lời tự vấn lương tâm là âm

điệu chủ yếu của toàn tập "Chân trời cũ" tạo thành một nội dung quan trọng của tập

truyện.

1.2.Cảm thức về quê hương:

Quê hương trong tâm thức con người Việt nam đã được xem như là một nơi thiêng

liêng, là cội nguồn, là mảnh đất nuôi dưỡng cưu mang, chở che con người. Quê hương

cũng là chỗ dựa tinh thần không thể thiếu của mỗi con người. Yêu quê hương đất nước,

nhớ về cội nguồn từ lâu đã trở nên một tiêu chí để đánh giá phẩm chất con người. Cho

nên có lẽ một trong những điều làm nên nhân cách Hồ Dzếnh chính là tình cảm thắm

thiết sâu đậm của ông đối với quê hương. Tấm lòng đối với quê hương đất nước đã là một

nội dung quan trọng trong sáng tác của Hồ Dzếnh. Có thể nói, với Hồ Dzếnh, cả trong

văn và thơ luôn luôn hiện diện một tình yêu đất nước quê hương đằm thắm thiết tha.

49

"Chân trời cũ" là một tác phẩm tự truyện, ở đó "cái tôi" nhà văn luôn luôn hiện diện

và qua việc bộc lộ "cái tôi" ấy ta hiểu cảm thức của nhà văn về quê hương, cái cảm thức

đã được hình thành ngay từ khi nhà văn còn là một cậu bé nhạy cảm và biết nhận thức

mọi thứ, mọi việc xảy ra chung quanh. Lúc trưởng thành nhận thức lại được khắc đậm

một cách sâu sắc hơn.

1.2.1.Quê cha-một gốc rễ, một cội nguồn:

Khi nhận xét về Hồ Dzếnh, Hoàng Hưng đã khẳng định rằng ông là "một tài năng

văn học độc đáo" [3;210]. Nhận xét này quả không sai. Ngay từ cái tên Hồ Dzếnh cũng

đã gợi cho người đọc một cảm giác thật lạ. Với cái tên có âm Quảng Đông ấy, Hồ Dzếnh

đã tự giới thiệu về huyết thống của mình: Cha: Hoa, mẹ: Việt. Hai dòng máu Hoa-Việt đã

trộn lẫn ương huyết quản của nhà văn Minh Hương mở ra hai chân trời quê hươngrmột

xứ sở Trung Hoa bí mật, xa lạ, một quê hương Việt Nam gần gũi như là máu mủ ruột

rà.Chính gốc gác đặc biệt này đã tạo nên một sác thái độc đáo trong truyện ngắn của ông,

nhất là trong những trang văn gửi gắm nỗi niềm đếi với quê hương đất nước.

Đối với quê cha, Hồ Dzếnh luôn tâm niệm đó là cội nguồn, gốc rễ như ông đã từng

nối: "Dòng máu Trung Hoa đến tôi đã không còn nguyên vẹn nữa. Nhưng đó là dòng máu

của cội nguồn quê cha đã hoà chung cùng dòng máu Việt Nam để làm nên tâm tư, tình

cảm và văn phong của "Chân trời cũ". [50; 14]

Xem quê cha là cội nguồn, Hồ Dzếnh đã hướng về nơi ấy bằng cả tấm lòng ngưỡng

vọng sâu sắc, nhưng đó lại là nơi nhà văn chưa từng đặt chân đến. Sợi dây liên lạc duy

nhất nối ông với quê nội là người cha Trung Quốc. Chính người cha, một người Trung

Quếc lưu lạc luôn mang trong lòng nỗi niềm u kín nhớ về cố quốc, đã gợi cho nhà văn

hướng về nguồn cội. Trong ký ức của mình, nhà văn thường thấy cha mình hay "ngồi ngổ

ra khoảng cao rộng, lâu hàng giờ không nói và thỉnh thoảng gợi về cho tôi, bằng những

câu chuyện kín đáo hơn tiếng thơ dài của người, cả một xứ Trung Hoa bí mật, cái tình

yêu tiềm tàng trong tôi âm thầm như một niềm đau xót"[53; 47]. Qua người cha, ông đã

biết về tình hình xứ sở của mình nhưng chỉ biết một cách đại khái qua những gì người

cha kể. Đó là một nơi xa lăng lắc, mù biệt tăm, một đất nước nghèo, dân nhiều gạo ít nên

50

cổ lắm cướp "cướp nó ở rừng, cướp ở đâu cũng có ăn vì nó ăn cướp” (Trong bóng rừng).

Cũng qua người cha, Hồ Dzếnh cũng biết về "cái vị trí hùng dũng của gia đình bên Tàu".

Đổ là một gia đình" thuộc vào hạng những gia đình danh giá quí phái", ông cụ đã làm

quan "cầm đầu cả một huyện, cai quản ngót một vạn lính trong tay, lại ở trong "một căn

nhà rộng lớn với một khu vườn mênh mông bao vây chung quanh là một thành tường

chắc chắn dầy gần một thước tây", "thêm nữa trong nhà lại có hai khẩu súng". Nhưng

thanh thế ấy đã dần dần lụi tàn, khi quân cách mạng đến chiếm đống căn nhà của dòng họ

thì "hai khẩu súng treo bên cạnh bàn thờ cụ tôi hôm ấy tai ác lại không nổ được phát nào.

Chúng nó câm đi vì biết cái thời kỳ làm quan của Cụ tôi đã hoàn toàn bị trả lại cho đất

nước Trung Hoa" [15;62].

Như vậy, quê cha- nước Tàu mãi mãi là một điều bí mật đối với nhà văn. Ngoài

người cha và người anh là những người ở lâu năm bên Tàu thì không một ai trong gia

đình biết tường tận về những người thân thích xạ xôi hết. "Họ như lìa hẳn chúng tôi bởi

họ cách chứng tôi nhiều quá". Ngoài người cha, sợi dây nối liền nhà văn với quê cha hết

sức lỏng lẻo. Chỉ thỉnh thoảng gia đình bên kia trừng dương lại gửi sang để đánh thức

tình thân ái chứng tôi dậy, một vài người, một vài chú Nhì". Nhưng buồn thay những

người như chú Nhì ấy "chỉ biết có tiền", "họ bí mật, đè dặt quá", "hoa hoằn chú mới viết

thư sang thăm ba tôi, bức thư có phong bì gạch đỏ trên ấy tháu một hàng chữ như rồng

bay. Đó là một chút lòng gửi vào trong không gian rồi mặc cho gió cuốn sau ba tháng hay

bốn tháng cũng không chừng lạc lõng đến tay chúng tôi rách nhàu, thảm đạm" [15; 63].

Sau khi người cha chết, "hai cái dây thép đánh sang Tàu báo tin buồn đều bị quay

trả lại. Anh cả tôi viết tiếp hai cái thư nữa nhưng vẫn không thấy trả lời"[15;64]. "Mẹ tôi

đồ rằng nhà chứng tôi bên Tàu không còn ai nữa mà có còn thì chắc cũng lang bạt xa xôi"

[15; 64].

Sau khi người cha chết đi, sợi dây nối liền quê cha hầu như chỉ còn có chú Nhì.

Nhưng mấy năm sau, bổng dáng của người chó Trung quốc ấy cũng biệt vô âm tín. Nghĩ

rằng người chú ấy đã chết, dù vẫn cồn hơi ghét người chú bủn xỉn, chỉ biết có tiền nhưng

nhà văn cũng cảm thấy buồn rầu "Sự ly tán, mãi đến thời kỳ ấy, mới khiến lòng tôi buôn

51

bã. Tôi gợi lên cái bóng người gầy yếu năm xưa và tình thương mơ hồ đi qua không gian,

đánh thức lòng nhớ mong của tôi lần đầu tiên và cũng là lần sau hết" [15;64]. Đây không

còn là nỗi buồn trẻ con mà nó xuất phát từ một nguyên cớ sâu xa: những gì gắn với huyết

thống gia đình, với quê nội, giờ đây dường như đã đứt hẳn. Trong lòng nhà văn đã "nghe

vang một thứ gió âm u của miền sa mạc Mông cổ, trôi qua Thiểm Tây, Cam Túc, luồn

vào những khu rừng không tên của hai tỉnh Lưỡng Quảng, vượt trùng dương sang tôi,

như tiếng thở dài não nùng của những linh hồn phiêu bạt" ( Chú Nhì). Và đến lức người

chứ bằng xương bằng thịt bỗng dưng xuất hiện sau hai năm bặt tin, nhà văn đã reo lên

sung sướng. Tiếng reo dường như đã xuất phát từ một tấm tình chân thành của một con

người chợt tìm lại được những gì gắn với huyết thống gia tộc. Đó là biểu hiện của tình

máu mủ, của tình yêu giống nòi, đất nước. Chú Nhì chính là con người cuối cùng gắn kết

nhà văn với dòng họ, giống nòi, đất nước. Chính tình yêu đất nước, giếng nòi đã gắn kết

nhà văn với những con người ở quê hương cho dù con người ấy đã khiến ông khỉnh bĩ vì

keo kiệt, hốc hiểm nhưng đố lại là "cái bóng tàn còn sốt lại ở một chi họ gần nhất và cũng

bắt đầu Xã nhất của chứng tôi như bống chiều dần tan trên cánh đồng rộng rãi"[15; 73].

Có thể nổi cái tình yêu giống nòi, gia đình với tình yêu đất nước đã hoa lẫn nhau tạo nên

một thứ tình cảm gấc rễ giúp nhà văn điều chỉnh lại tình cảm của mình, giúp nhà văn có

cái nhìn vị tha, độ lượng hơn đối với người chứ, cái người mà cố lức từ thời thơ ấu tác giả

đã ghét cay ghét đắng.

Yêu nhớ quê cha bằng một tình yêu thầm kín nhưng lại chưa một lần đặt chân đến

cái xứ sở xa vời đó nên nhà văn chỉ còn biết hình dung trong tâm tưởng. Đó là một dân

tộc với một truyền thống văn hóa rực rỡ, với những không gian rực rỡ đã đi vào huyền

thoại và trở thành hình ảnh đẹp đẽ mang tính ước lệ. Có thể thấy tâm hồn nhà vần luôn

luôn khát khao, hoài vọng về một nơi chưa hề biết đến nhưng đã tồn tại sâu sắc trong tâm

linh,Cái không gian quê nội ấy dù mơ hồ xa xăm nhưng dường như đã khắc đậm trong

tâm trí nhà văn đến mức cho dù chưa đến được xứ sở ấy nhưng khi ngắm cảnh hoàng hổn

quê mẹ cũng chạnh lòng so sánh: "Hoàng hôn ở đây không như hoàng hôn của Giang

Tây, Hồ Bắc, hoàng hôn ở đây ưu hoài như một chinh phụ nhớ chồng" (Ngày gặp gỡ)

52

Hướng về quê cha dù chỉ trong tâm tưởng cũng là một cách nhà văn tìm về nguồn

cội. Tấm lòng hướng về nguồn cội của nhà văn tha thiết đến mức bất cứ một cảnh vật,

một con người nào gợi nhớ về đất nước Trung Hoa cũng đủ làm cho trái tim của một con

người không lức nào nguôi quên cội rễ rưng rưng niềm xao xuyến. Yêu thương, cảm

thông cho sế phận người chị dâu, một người đàn bà buồn khổ tẩn mẩn làm những công

việc hàng ngày mà có lẽ xưa kia chị không bao giờ ngờ sẽ phải đụng tay tới, tâm hồn của

một nhà văn Minh Hương ấy cũng "nghĩ đến cái tổ quốc Trung Hoa với những manh áo

chàm giang hồ phấp tứ xứ, cái tổ quốc mà tôi chưa từng biết bao giờ"[15; 26].

Yêu quê cha bằng một tấm lòng tha thiết và xem đố là cội nguồn, là những gì thiêng

liêng nhất nên khi cố người, dẫu là người trên, chạm đến quốc thể, nhà văn đã thấy "nổi

dậy trong lòng nỗi căm phẫn"đến mức đã trả lời thầy bằng một giọng hơi bướng để rồi

phải chịu phạt quì vì tội hỗn hào. Nhưng thật lạ, đố lại là lần đầu tiên nhà văn cảm thấy

"sự vui vẻ trong lức chịu phạt".

Yêu thương quê hương cố quốc bằng tấm lòng của một kẻ tha hương nên khi viết về

những con người của quê hương bao giờ nhà văn cũng viết bằng một tấm lòng lánh trọng

thương yêu và tìm thấy d những con người ấy những nét đẹp riêng rất đáng trân trọng.

Viết về người cha, tác giả đã nhìn thấy được vẻ đẹp ẩn tàng bên trong cái vẻ ngoài lạ lẫm

đối với người bản địa đến nỗi người lái đò sông Ghép đã "có cái cảm tưởng hãi hùng như

gặp một tên cướp tàu ô ghê gớm" (Ngày gặp gỡ). Vẻ đẹp ấy được phát lộ ra ở những nét

ngoại hình rất lạ: cái ưán " nhỏ nhưng nhô ra một cách bướng bĩnh. Nhất là đôi mắt sắc

như dao, bén như nước, nhìn vật gì thì như hút lấy vật ấy"[15; 10]. Tác giả đã tìm thấy

những phẩm chất đáng trân trọng bên trong những nét phong trần của người lữ khách

Trung Quốc. Đó là một nghị lực bền vững tiềm tàng bên trong một vẻ gì xương xương

rắn rắn độn khắp mình người khách và bên trong 44 cái thân thể thoạt trông thì gầy"vì sự

khó nhọc của cuộc sống phong trần. Trong cảm thức của nhà văn, vẻ đẹp đó có được từ

sự kết tinh "những tình hoa của một dân tộc khác" và đọng lại ở một "linh hồn Trung

quốc lưu lạc".

53

Bằng tấm lòng của một người cùng nguồn cội, nhà văn cũng hết sức trân trọng đức

tính chịu thương chịu khố và khả năng hoà nhập với hoàn cảnh mau chóng của người chị

dâu, một linh hồn Trung Quốc lưu lạc khác.Từ bỏ quê hương xứ sở, nơi chôn rau cắt rốn

để theo chồng đến một xứ sỏ xa lạ, người phụ nữ đặc Tàu ấy nhanh chóng trở thành " một

người đàn bà Việt nam đặc", với "một giải áo chàm in bật trên nền trời mỗi sáng chăm

chỉ và lặng lẽ như dấu hiệu một cuộc sống vâng lời ngu muội” .[15;29]

Không chỉ người chị dâu mà những người phụ nữ Trung Quốc khác qua cảm nhận

của nhà văn cũng mang những nét đẹp riêng dù đổ là người giàu hay nghèo. Đối với

những người đàn bà Tàu, người ta thường cổ cái nhìn hẹp hòi cổ khi keo cú độc ác nhưng

Hồ Dzếnh lại cố cái nhìn với một ưái tím nhân hậu nên ông dễ dàng thấy ở họ những nét

đáng thương hơn đáng ghét. Thím củ (Truyện Nhà nhiều con ) cũng là một người phụ nữ

Trung Quốc lưu lạc, là "mẹ của chín đứa con, bảy trai, hai gái". Thím đã phải vất vả

ngược xuôi để nuôi nấng bầy con " theo một cách thức bất thường của người trung quốc

nghèo khổ". Với bầy con đông đúc, hàng ngày thím ít có điều kiện chăm sóc con cái đến

mức "nhiều lần thím quên khuấy mất một vài đứa chạy đi chơi bỏ bữa ăn” (Nhà nhiều

con). Nhưng không phải vì thế mà thím không thương con, thím có một lối thương con

theo cách riêng. Khi thằng Xập "đứa con thứ mười, miệng ăn thứ mười" ra đời đủ-đôi vai

của người đàn bà yếu ớt già nua lại nặng nề thêm vì gánh nặng gia đình. Khi đứa con ấy

lăn ra bệnh, chối bó và các thầy lang cũng đã có ý chê bệnh, trong lúc thất vọng, thím đã

nghe lời mấy ông lang đem nó cho các bà xơ ở nhà thương làm phúc. Tuy vậy, thím cứ

ngần ngại, lo lắng sợ rằng may ra nó khỏi không biết thím. có còn đòi lại được con

không. Khi nghe các bà xơ nói rằng, nếu sống "nó là con của chúa, nếu chết nó sẽ được

vào nước thiên đàng" rồi nhìn đứa con đã chết trong tay các bà xơ, thím đã lặng người đi,

choáng váng "chạy vụt lại giằng đứa nhỏ mình mẩy đã lạnh ngắt khỏi tay người tu nữ

hiền hậu, ôm ghì lấy cái xác nhỏ nhoi, chạy một thôi về nhà" (Nhà nhiều con),[53; 123]

Hình ảnh thím củ, một bà mẹ người Hoa gợi ta nhớ về hình ảnh mẹ Lê, một bà mẹ

Việt cũng nghèo khổ, đông con (truyện -Nhà mẹ Lê của Thạch Lam). Thím Củ và mẹ Lê

đều là những bà mẹ đông con, vất vả. Mẹ Lê, với mười một đứa con mà đứa lớn nhất mới

54

có mười bảy tuổi, đứa bé nhất hãy còn bế trên tay, phải một mình gồng gánh nuôi con.

Cuộc đời mẹ Lê là một chuỗi dài những ngày tháng vất vả "từ lúc còn bé đến bây giờ chỉ

toàn những ngày khổ sở nhọc nhằn", "cái nghèo nàn không biết tự bao giờ đã vào nhà

bác" và "cứ theo liền bác mãi Bác thương con cũng bằng tình thương của một người mẹ

nghèo, những ngày rét mướt chỉ biết ôm ấp lấy con trong ổ rơm để mong lấy cái ấm áp

của mình để ấp ủ cho nó". Những ngày đói, bác thương con vì thấy chúng "ngày một gầy

còm",bác đành liều vào nhà ông Bá để xin gạo dẫn đến cái kết thúc đáng buồn và đáng

thương: người mẹ bị chó cắn chết, đàn con hoàn toàn bơ vơ. Cả Thạch Lam và Hồ Dzếnh

đều viết về những người nghèo bằng trái tim nhân hậu và một tấm lòng cảm thông sâu

sắc đồng thời còn phát hiện ở họ những phẩm chất đáng quí.

Từ cuộc sống của những người Tàu tha hương, nhà văn đã nhận ra vẻ đẹp của

những người đồng hương, dù giàu hay nghèo họ cũng đều sống chan hòa, bình đẳng.

Trong cộng đồng người Hoa, con mắt của người này ít khi soi mói vào đồng tiền của

người khác".Trong cuộc sống, dù lôi thôi bừa bãi, của những con người ấy, nhà văn cũng

đã nhìn thấy tiềm tàng "một nề nếp cổ truyền". Trong những cuộc hội họp về những việc

hàng bang, mọi người, già cũng như trẻ, giàu cũng như nghèo đều bình đẳng, tất cả đều

tranh nhau nói và được quyền bầu bang ưưởng mới.

Có thể nói trong văn chương Việt nam, ít có nhà văn nào viết về cuộc sống của

những người Tàu tha hương sâu sắc, sinh động như Hồ Dzếnh. Nhà văn đã viết về cuộc

sống và vẻ đẹp thầm lặng của họ bằng cả tấm lòng thương cảm mênh mông đối với con

người, một tình thương đã vượt qua cả ranh giới phân định về màu da, tiếng nói bởi vì có

lúc tác giả đã từng nghĩ: "Cứ gì phải sống chung dưới một mái nhà, chia uống một ngụm

nước, cùng ngắm một dòng sông, người ta mới yêu được nhau? Tình yêu, nếu thực là tình

yêu, thì không có quê hương cố quận, bởi nó tỏa ra từ một tấm lòng nghệ sĩ mênh mông,

tự nó đã có sức hun nấu, và thấu suốt qua, và bao trùm lấy tất cả những gì đáng được sự

thờ kính thiêng liêng" (Sáng trăng suông). Để có những trang viết sâu sắc như thế, có lẽ

nhà văn đã xuất phát từ một mối đồng cảm sâu sắc, một sự gắn bó vô hình trong tâm linh

của những con người có cùng nguồn cội. Quả đúng như lời Lê Bảo nhận định: "Không

55

đồng điệu với nguồn gốc dân tộc mình, nhà văn không thể phát hiện ra màu sắc Trung

Hoa, đường nét Trung Hoa, từ áo quần, sinh hoạt, đi đứng, nói năng: "Linh hồn Trung

quốc phát lộ ra trong từng bước đi, điệu đứng, trong sự trầm mặc, trông tìm, trong cả

cách đưa năm đầu ngón tay có móng dài vẩn ghét lên gãi sồn sột chiếc đầu gần như húi

trọc tếch" (Ngày gặp gỡ).[7; 118]

Nhận xét về nỗi nhớ thầm lặng khắc khoải về một vùng cố hương "xa mờ trong trí

tưởng nhưng lại gắn bố trong tâm linh", Mai Hương đã cho rằng chính "cái tâm thế ấy đã

tạo nên nét đặc sắc riêng trong những trang ít ỏi Hồ Dzếnh viết về quê nội, góp vào bức

tranh quê của văn học Việt nam một nỗi niềm cố quốc tha hương..." [3; 195]. Và điều đó

cũng cho thấy một tấm lòng khát khao muốn tìm về nguồn cội của một nhà văn có gốc

gác đặc biệt.

Ở điểm này ngòi bút Hồ Dzếnh có điểm gặp gỡ với Vũ Bằng trong những trang viết

thiết tha cảm động, chận thành về quê hương. Những tác phẩm văn xuôi của Vũ Bằng,

đặc biệt là "Thương nhớ mười hai” là tiếng lòng của nhà văn hướng về quê hương đất

Bắc. "Thương nhớ mười hai" là nỗi nhớ thương khắc khoải một vùng đất quê hương với

đủ mười hai tháng mà tháng nào cũng là cả một trời thương nhớ hoài niệm về quê hương.

Đó là cảm xúc rất thành thực của tấm lòng một kẻ tha hương luôn luôn hướng về quê

hương cội nguồn. Nhưng hoàn cảnh cá nhân của Vũ Bằng khác với Hồ Dzếnh và

"Thương nhớ mười hai cũng được viết ương một hoàn cảnh đặc biệt. Sinh ra và lớn lên ở

Hà Nội, trải qua bốn mươi năm sống trong lòng Hà Nội, toàn bộ con người Vũ Bằng đã

thấm đẫm chất văn hóa truyền thống Hà nội. Hồn văn hoa Bắc Việt đã như một vùng

"sinh quyển tự nhiên, một không gian sinh tồn không thể thiếu, một môi trường văn hóa

đã góp phần hình thành nhân cách Vũ Bằng. Rồi đến năm 1954, do nhiệm vụ đặc biệt,

ông phải bỏ cả vợ con, quê hương vào định cư ở Sài gòn hành nghề viết văn, viết báo

dưới chế độ Mỹ Ngụy để tiếp tục hoạt động tình báo cho Cách mạng. Bị buộc phải xa rời

mảnh đất quê hương, dù cho nơi đó cũng là một mảnh đất của quê hương Việt nam và vì

một lý do hết sức chính đáng nhưng đối với Vũ Bằng cũng xem như là "một trường hợp

bị bứng ra khỏi sinh quyển văn hóa của mình" [20; 60]. Sống trong một môi trường khác

56

mà lại không có khả năng hoa nhập với vùng văn hóa xa lạ đó nên Vũ Bằng triền miên

ương cảm giác cô đơn, lạc loài, bơ vơ.Giữa vùng văn- minh văn hóa đô thị Sài Gòn, tâm

hồn nhà văn luôn luôn bị giày vò bởi nỗi sầu xa xứ. Tâm hồn gắn bó sâu sắc với những

giá trị văn hóa Bắc bộ, với quê hương Bắc bộ mà buộc phải xa cách quê hương nên Vũ

Bằng luôn luôn muốn tìm về nguồn cội như là sự tìm kiếm một nơi nương tựa cho tâm

hồn. Dẫu sao sự hoài niệm của Vũ Bằng cũng hướng về một quê hương gần gũi đã gắn

bó với nhà văn sâu sắc đến mức gần như là máu thịt.. Còn Hồ Dzếnh thì lại khác. Cùng

lúc có đến hai quê hương cho nên khi thả lòng theo dòng tâm sự chân thành hướng về quê

mẹ, ưong lòng nhà văn cũng khắc khoải một niềm nhớ nhung tha thiết quê cha, một quê

hương, một cội nguồn gốc rễ, nhưng quê hương ấy lại vừa xa lạ, vưà gần gũi, xa lạ vì

chưa một lần đặt chân đến, gần gũi vì lúc nào nó cũng tồn tại trong tâm linh. cả Vũ Bằng,

Hồ Dzếnh đều tha thiết hướng về quê hương nguồn cội nhưng nếu Hồ Dzếnh khát khao

được một lần tìm đến nguồn cội mà không thể thực hiện được thì ở Vũ Bằng ngày về quê

hương cũng quá mong manh. Cho nên cả hai nhà văn chỉ biết gởi về trang giấy tình cảm

nhớ thương chân thành của mình.

Nếu "Thương nhớ mười hai" của Vũ Bằng là một hành trình tìm về nguồn cội của

một người xa xứ lạc loài thì ''Chân trời cũ” của Hồ Đzếnh cũng chứa đựng tấm lòng khao

khát, khắc khoải hướng về quê cha của nhà văn với mong muốn tìm đến với cội nguồn

gốc rễ.

Tha thiết hướng về quê hương, cả Vũ Bằng và Hồ Dzếnh đã thể hiện tâm thức của

con người phương Đông, con người Việt nam: dù trong hoàn cảnh nào cũng luôn hướng

về quê hương, tổ tiên, nguồn cội.

1.2.2.Quê mẹ- vùng quê sinh trưởng cũng là cội nguồn cảm hứng nghệ thuật của

nhà văn:

Hướng về quê cha trong niềm ray rứt trăn trở muốn tìm về nguồn cội nhưng Hồ

Dzếnh cũng rất gắn bó với quê mẹ Việt nam. Nếu quê cha luôn hiện diện trong tâm tưởng

nhà văn như một cội nguồn gốc rễ nhưng lại xa xăm hư huyền tưởng như không thể với

tới được thì quê mẹ lại là những gì gần gũi gắn bó thân thiết. Ngay từ lúc sinh ra tâm hồn

57

nhà văn đã được tiếp xúc ngay với những gì thuộc về quê hương Việt nam cho nên ông

đã yêu quê mẹ bằng một tình yêu gần như là máu thịt.Có thể nói cả tập "Chân trời cũ" là

một mối "chân tình dành cho quê ngoại-quê hương thứ hai nhưng là quê sinh, quê trưởng

cửa ông" [3;195]. Ông đã yêu quê mẹ bằng một tình yêu thắm thiết sâu nặng vì trong cảm

thức của ông đó là vùng quê hương thứ hai cũng quan trọng như một vùng "vùng khí

quyển tinh thần", một không gian thân thiết đã nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành nên nhân

cách Hồ Đzếnh. Đó là nơi chôn nhau cắt rốn, nơi ông sinh ra lớn lên và trải qua bao kỷ

niệm thời thơ ấu, nơi ông chứng kiến những thăng trầm của gia đình và là nơi gắn bó với

cả một thời niên thiếu vui ít buồn nhiều của ông. Đó là nơi đã cưu mang ông với tất cả

tình thương yêu mà những người thân đã dành cho ông. Và đó còn là nơi nuôi lớn tâm

hồn nhà văn- một tâm hồn rộng mở biết sớt chia nỗi đau cửa người khác với tấm lòng

nhân hậu chân thành. Chính tình yêu quê mẹ sâu sắc cũng là một nguyên cớ để ông viết

"Chan trời cũ". Có thể nói "Chân trời cũ” là sự ngoái nhìn về dĩ vãng để hoài niệm những

hình ảnh tươi đẹp và những con người thân yêu của quê hương. Ông viết về quê hương

với tất cả lòng yêu thương và biết ơn sâu sắc mảnh đất đã cưu mang đùm bọc mình.

Chính tình cảm chân thành ấy đã trở thành cội nguồn cho cảm hứng nghệ thuật của nhà

văn.Nhà văn đã say sưa viết về quê hương, chân thành bày tỏ tấm lòng đối với quê hương

Việt nam.

Khác quê cha, một nơi ông chưa từng biết đến, quê mẹ Việt nam lại là nơi gắn bó

với Hồ Dzếnh ngay từ thời thơ ấu. Hồ Dzếnh yêu quê mẹ bằng một tình yêu cụ thể gắn

liền với những kỷ niệm của cả một thời quá khứ ỏ đó mỗi cảnh vật, mỗi con người đều

gợi lên ở Hồ Dzếnh một nỗi hoài nhớ khôn nguôi. Trong những trang viết của Hồ Dzếnh,

những hình ảnh ở quế mẹ luôn luôn hiện ra Tất QXX thể sống động. Thiên nhiên trong

hoài niệm tuổi thơ của ông là một bức tranh rất mực gần gũi bởi nó là những hình ảnh cụ

thể của một miền quê nghèo Thanh Hoa, nơi chôn nhau cắt rốn của ông, nơi gắn bó với

những kỷ niệm tuổi thơ:

Một cánh đồng cỏ xanh mượt nằm ngủ dưới chân đồi, dưới ba giờ chiều đã mờ, vì

bóng núi che khuất mặt trời đổ lên đó. Chúng tôi thả trâu cho tự do ăn cỏ, lòng thanh

58

thản dưới một bầu trời sáng đẹp. Đôi lúc tiếng sáo của dân Mường từ xa vẳng lại, là

những thanh âm độc nhất hiu hắt trong cái rộng rãi, cô quạnh của linh hồn. Chúng tôi

đánh trâu bò lên đồi lúc mờ sáng, và trở về nhà khi nắng vàng chỉ còn nửa đốt ngón tay

trên đầu bụi trúc" (Em Dìn),[15 ;117-118]

Thiên nhiên đã được khúc xạ qua tâm hồn gắn bó với quê hương nên nó mang một

cái hồn riêng chứa chất tình cảm sâu lắng chân thành. Tất cả những hình ảnh của quê

hương trong hoài niệm đó lại được viết nên bằng một giọng văn tha thiết chan chứa tình

cảm tạo nên những trang viết giàu sức gợi cảm, lắng đọng tình quê. Nhà văn đã trải lòng

mình ra để rung động với từng cảnh vật ở quê hương. Từ tên đất, tên làng, từ những cảnh

vật quen thuộc của quê hương đã hoa nhập vào tâm hồn nhà văn sâu sắc đến nỗi chỉ qua

hình dung, hoài niệm mà những cảnh vật ấy cứ hiện lên sống động, gợi cảm bởi tác giả

không chỉ tả cảnh mà còn gởi cả hồn mình vào trong từng cảnh vật quê hương:

Trời thôn quê xanh ra, cao lên, soạn sửa đón ba ngày của một mùa thái bình thịnh

vượng. Gió trong ruộng đã thoáng lẫn hương xuân, và trong khi tắm biếc thêm lũy tre

mướn mượt nhung, đã làm rướm chảy sự tươi thơm trong những tấm lòng trai trẻ. Trăm

nghìn lần dò hỏi nỗi thanh tịnh của dòng sông, điệu hiền hoa chim gió, tôi đã cảm nghĩ

đến những tiếng pháo sắp sửa cười vang để rồi, bất thần, ngừng bước chân, tôi đưa tay

viết lên không gian một chữ con con, xinh xinh mà linh hồn tôi đã nhiều lần nhắc đến:

Tết!” (Sáng trăng suông)[15; 172]

Đây là những đoạn tả cảnh sắc mùa xuân rất sống động giàu chất trữ tình và thấm

đượm chất thơ của cuộc sống bình dị ở quê hương. Có thể nói Hồ Dzếnh đã đưa vào

những trang văn xuôi của mình cái hồn sắc của quê Việt, đã góp thêm vào dòng văn học

hiện đại một bức tranh quê hương thuần phác bình dị. Nếu không phải là một con người

yêu quê hương tha thiết, nếu hình ảnh quê hương không choán đầy tâm hồn nhà văn thì

có lẽ Hồ Dzếnh không thể viết lên những đoạn văn tả cảnh dồi dào cảm xúc đến như thế.

Sinh ra và sống gần trọn hai mươi năm đầu của cuộc đời ở quê mẹ Thanh Hoá, như

một lẽ tự nhiên, Thanh Hóa đã trở thành một nơi gắn bó với nhà văn như máu thịt và

cũng là nơi tích tụ biết bao nhiêu những kỷ niệm vui buồn mà sau này thành những dòng

59

hồi ức không thể nào quên đồng thời đó cũng là cơ sở cho nguồn cảm hứng nghệ thuật để

tác giả viết nên hai tác phẩm "Chân trời cũ" và " Quê ngoại". Cho nên dù nhìn về" Chân

trời cũ" hay "Quê ngoại" thì người đọc vẫn nhìn thấy ở đó những cảnh sắc quen thuộc của

vùng quê Thanh Hoa nghèo nàn và gần gũi với những con người Việt nam. Những cảnh

sắc ấy đã được nhìn bằng "con mắt nội tâm chất chứa hồn, chứa chất tình"[3; 197]. Yêu

quê hương tha thiết nên dường như "ông đã đem tâm hồn ướt như sương sớm khoác lên

cảnh vật quê hương. Vì thế mà dưới trang viết của ông, hình như đất cũng mờ ảo hơn, cỏ

vì thế xanh hơn, hoa thắm hơn... và gió hình như cũng mát mẻ hơn" [3; 157]. Thiên nhiên

ương " Chân trời cũ" chỉ là những nét chấm phá đơn sơ nhưng gợi nên một không gian

với những cảnh sắc gần gũi gắn bố với con người ở một vùng quê nghèo Thanh Hoa , ở

đó có " lũy tre xanh vây kín xã Hoa Trường êm ái", với " mảnh vườn đầy nắng gió...thứ

gió hiền hoa nhẹ nhàng như phe phẩy ngọn càu, giậu hoa râm bụt" trong cái " ánh nắng

chiều nghiêng xế và những bóng lá lung linh", với cảnh hoàng hôn quen thuộc "Nắng tắt

dần dần chỉ còn ánh vàng pha sắc tím” hay những cảnh đêm lặng lẽ nhuốm màu buồn bã

ở một xóm nhỏ, "nơi hắt hiu sáng vài chấm đèn dầu lạc loáng thoáng qua hàng rào tre

thưa mỏng. Trong đêm vẳng đưa tiếng chày giã gạo đều đều rơi vào giữa sự tĩnh mịch

như kéo giãn những thời khắc buồn bã không bao giờ tàn" (Ngày gặp gỡ)

Lòng yêu quê mẹ của nhà văn gắn liền với tình yêu những con người Việt nam hiền

lành với những phẩm chất đẹp đẽ đã hợp thành nên "phẩm chất Việt Nam, sức mạnh Việt

nam, vẻ đẹp Việt nam". Từ những người thân trong gia đình như người mẹ, người chị

dâu, người anh, người em...đến cả những người ông quen biết chị Đỏ Đương, anh đỏ

Phụ...nhà văn đều nhìn thấy ở họ những đức tính cao đẹp. Ông luôn viết về họ với một

tấm lòng tràn ngập yêu thương. Những con người ấy được tác giả coi là tiêu biểu cho

"linh hồn Việt nam", cho "tinh thần Việt nam cao quí", cho nên ông đã trân trọng đặt hai

tiếng "Việt nam" vào cách gọi những con người thân yếu: "bà mẹ Việt nam", "người con

gái Việt nam", "người đàn bà quê Việt nam", "người đàn bà Việt nam chân chính" Trong

thế giới những con người ấy, hình ảnh đặc biệt khắc sâu trong tâm khảm nhà văn chính là

60

người mẹ với tấm lòng thương con vô bờ bến. Trong cảm nhận của nhà văn, tấm lòng

người mẹ thật bao la, thật đáng trân trọng biết bao!

"Mẹ

Thực không còn gì có nghĩa bằng người ấy nữa. Người ấy to quá, rộng quá, tuy tất

cả sự có nghĩa chỉ là cái thân hình tiều tụy, bọc bằng chiếc áo vá vai"[15;143]

Từ một bà mẹ cụ thể của mình, nhà văn đã khái quát lên thành những bà mẹ Việt

nam, cho nên đã nhiều lần nhà văn đã gọi mẹ một cách thật thân thương trìu mến: "người

mẹ Việt nam", "những người mẹ hiền, vợ đảm Việt nam". Tấm lòng của người mẹ bao

dung như tấm lòng của quê hương cho nên nhà văn đã đồng nhất mẹ với tổ quốc quê

hương:

“Ô hay! Nước Nam đẹp đến như thế này ư? Ngày thường tôi có thấy nước

Nam "mẹ "như lúc này đâu!

Một tổ quốc

Hai tể quốc

Cái trên là cha tôi

Cái dưới, mẹ " (Ngày lên đường)

Có lúc ông đã gọi mẹ một cách trân ương bằng đại từ "Người" như có lần ông đã

dùng đại từ ấy để chỉ quê hương:

"Ngày nhỏ tôi yêu mẹ một cách bịn rịn. Người chiều tôi có lẽ vì người đoán thấy ở

tôi một số phận thiếu êm vui. Tôi đòi gì là người cho. Tôi muốn gì người chiều ý... Cứ

thế mỗi lần sự khắc khổ của người cha làm tôi đau đớn thì một bàn tay âu yếm lại xoa dịu

lòng tôi ngay" (Lòng mẹ) [15;45-46]

Trong tâm thức của nhà văn, người mẹ dịu dàng và cao quí ấy chính là quê hương.

Nói về người mẹ, tác giả vừa nhắc đến một người mẹ cụ thể đồng thời nâng hình ảnh

người mẹ ấy lên tầm vóc những người mẹ Việt nam và xem lòng mẹ chính là cái "địa hạt

61

tình cảm" của mình. Có lúc nhà văn đã so sánh với Cha: "Ba tôi là nước Tàu, nước Tàu bí

mật. Lòng mẹ tôi mới thật là cái địa hạt tình cảm cửa tôi " (Thằng cháu đích tôn)

Rõ ràng với Hồ Dzếnh, tình yêu đất nước quê hương đã hoa lẫn với tình cảm riêng

tư tạo nên một cách biểu lộ độc đáo.

Đọc sáng tác của Hồ Dzếnh, dù là văn hay thơ, ta cũng thấy hiện lên chân dung tinh

thần của một nhà văn luôn gắn bố với quê hương cội nguồn. Tình cảm sâu đậm đối với

quê hương, đặc biệt là quê mẹ đã ưở thành cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác của Hồ

Đzếnh và chính tình cảm này cũng đã góp phần định hướng ngòi bút Hồ Dzếnh tạo nên

trong những trang viết của ông một tình yêu tổ quốc quê hương sâu đậm được biểu hiện ở

những trạng thái cảm xúc khác nhau.

Có khi đó là những dòng cảm xúc dạt dào tha thiết xen giữa những dòng tự sự như

những lời thì thầm chân thành của nhà văn để bày tỏ trực tiếp nỗi yêu thương thắm thiết

của mình đối với quê mẹ:

" Hời nước Nam! Tôi nghiêng lòng xuống Người, trên những luống cày mà hương

thơm còn phảng phất, vì tôi đã từng uống nước và nói thứ tiếng của Người, vì tôi đã thề

yêu Người trên bực tuyệt vời của Tôn giáo. Trên giải đất súc tích những tinh hoa của văn

chương,những công trạng của lịch sử, tôi còn ghi cả những bóng dáng người xưa tôi

thương yêu, và trong số những người này, chị Yên tôi là một" (Chị Yên)

Có lúc những cảm xúc của nhà văn lắng lại trong nỗi niềm biết ơn sâu sắc đối với

mảnh đất Việt nam , một giải đất cần lao, "cái giải đất thoát ra ngoài sự lọc lừa, phản trắc,

cái giải đất chỉ bị bạc đãi mà không hạc đãi ai bao giờ" (Sáng trăng suông ). Đó là nơi

thiêng liêng nhất mà tác giả đã gọi và đã viết lên một cách trân trọng: 44 Người", nơi đó

"tôi đã từng uống nước trong và nói tiếng nói của Người vì tôi đã thề yêu Người trên bậc

tuyệt vời của Tôn giáo" (Chị Yên). Nơi đó cũng là nơi đã từng cưu mạng và nuôi dưỡng

nhà văn bằng một tấm lòng bao dung " Nhà quê Việt nam như một tấm lòng hiền từ rộng

mở, nhà quê Việt nam niềm nở, thân thiết tiếp đốn chúng tôi, vào lúc mà tương lai chỉ là

sự mù mịt, còn đĩ vãng thì lưu lại những dấu vết đau lòng" (Thằng cháu đích tôn)

62

Càng biết ơn tổ quốc, nhà văn càng ray rứt tự vấn bản thân mỗi khi nhớ lại rằng

mình đã có lúc quên quê hương : "Sáu năm! Tôi xa quê hương sáu năm mà không một

lần nào nghĩ đến chuyện trở lại" (Người chị dâu tôi). Có yêu quê hương tha thiết mới có

những lời tự vấn lương tâm chân thành như thế.

Chen giữa những dòng cảm xúc về quê hương còn là một niềm tự hào sâu sắc của

tác giả đối với quê hương mình vì đó là "một giải đất xúc tích những tinh hoa cửa văn

chương, những công trạng của lịch sử" và bởi vì đó còn là một đất nước tươi đẹp đến

mức nhà văn phải thốt lên kinh ngạc: " Ô hay! Nước Nam đẹp đến thế này vì" và ông

cũng không ngần ngại tự nhận rằng linh hồn mình, tâm hồn mình "chỉ đầy đủ khi nào nó

có lẫn một phần lớn linh hồn Việt nam

Quả thật, Hồ Dzếnh là "một nhà văn Minh Hương mang tâm hồn Việt" [2;8] bởi tất

cả tâm tư tình cảm của ông đã gắn bó sâu đậm với quê mẹ Việt Nam. Trong cảm thức của

nhà văn, đó là nơi gắn bó như máu thịt, là một điểm tựa ưong đời sống tinh thần cho nên

mỗi khi cần một chỗ dựa để nâng đỡ tinh thần, nhà văn lại tìm về vòng tay ấm áp của quê

mẹ, ở đó có người mẹ Việt nam mà tấm lòng người mẹ ấy mới chính là: "cái địa hạt tình

cảm" của nhà văn. Tình cảm của người mẹ, tấm lòng của mẹ, của quê hương đã làm rung

động ứái tim đa cảm của nhà văn mang trong mình hai dòng máu ở hai quê hương để rồi

nó trở thành cảm hứng nghệ thuật để nhà vãn cho ra đời "Chân trời cũ", như nhà văn đã

có lần nói: "Cuộc sống quá ư nghèo nàn, tù túng của một làng quê với những số phận của

con người hẩm hiu, nghèo khổ mà tôi gần gũi, thân yêu ngay từ khi còn thơ ấy đã tạo

dựng cho tôi cái "đất" để viết văn và trở thành cảm hứng khơi nguồn cho tôi trong sáng

tác" [50; 14] và "Lòng yêu quê hương- một cái làng nhỏ bé ngày nay không còn tên nữa-

nhất là lòng yêu quê mẹ là yếu tố giúp tôi sáng tác" [50; 15] 1.2.3. Cảm thức lạc loài bơ

vơ không cội nguồn :

Đọc "Chân trời cũ", người đọc dễ nhận ra trong những trang văn gửi gắm nỗi nhớ

thương da diết đối với quê mẹ Việt Nam, một nỗi niềm ưu tư khắc khoải vì trong lòng

nhà văn lúc nào cũng ray rứt về một quê hương xa vời vợi mà ông chưa một lần đặt chân

đến, quẽ cha Trung Quốc. Cho nên trong sự hoài niệm ấy là cả một nỗi đau buồn trăn trở

63

khôn nguôi, nỗi niềm của kẻ ly hương. Có thể thấy trong tâm thức của Hồ Dzếnh luôn tồn

tại hai tình cảm rất khó phân định rõ ràng. Yêu nhớ quê cha bằng một tình yêu thầm kín

hướng về một xứ sở xa vời với những hình ảnh mơ hồ không rõ nét nhưng ông cũng gắn

bó, yêu thương tha thiết quê mẹ, một mảnh đất cụ thể, nơi chôn nhau cắt rốn thấm đượm

ân tình sâu xa. Cả hai tình cảm ấy đều rất thiêng liêng và không thể định lượng cụ thể

được. Có lúc với tư cách là người con của đất nước Trung Hoa, ông đã trỗi dậy lòng căm

phẫn khi có người chạm đến quốc thể của mình. Nhưng khi "thằng cháu đích tôn" từ

Trung quốc sang, Hồ Dzếnh đã đón nó với tư cách là một người con của dân tộc Việt

nam chứ không phải đứng ở góc độ gia đình để đón một thành viên cùng gia tộc: "...thằng

cháu ấy đã đặt chân lên đất nước Việt nam của tôi' tôi viết rõ .'đất nước Việt nam của tôi'

với cái thân hình thô bỉ, tâm tính cục cằn (Thằng cháu đích tổn ). Ngay từ bé, khi nhận

thức vẫn còn non nớt, ông đã ý thức được điều này cho nên "có ai hỏi tôi yêu nước Nam

hay nước Trung Hoa thì tôi chỉ còn biếl..khóc" , bởi lẽ dầu sao dòng máu Trung Hoa vẫn

chảy trong ông và quê mẹ Việt nam vẫn đang tay đón ông với một tấm lòng bao dung,

thương mến. Đây chính là một tâm trạng phức tạp của một người mà huyết quản chứa

đựng hai thứ tinh hoa" và điều này đã tạo nên ở ông một "niềm khắc khoải giữa hai bờ xứ

sở" [28;41]. Có lẽ điều này cũng dễ hiểu. Xuân Diệu chỉ với một lý lịch, một gốc gác đơn

giản hơn nhiều "cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong" mà đã có bao nhiêu trăn trở thao thức.

Quê hương Xuân Diệu ở hai miền trong và ngoài của một đất nước dẫu sao cũng có dịp

đi về:

"Muốn ăn nhút thì về quê với bố,

Muốn ăn quít, ăn hồng theo cha mày mà về ngoài đó,

Muốn uống nước dừa, ăn xoài chín đỏ,

Muốn ăn bánh tét, bánh tổ,

Thì theo tao ở mãi trong này... [13;228]

Nhưng Hồ Dzếnh thì khác. Quê cha là một đất nước Trung Hoa xa xôi, dù tha thiết

muốn đến cũng không phải dễ đàng. Cho nên ông chỉ biết một lòng ngưỡng vọng về quê

64

cha với một niềm khắc khoải khôn nguôi. Tuy nhiên rõ ràng tình cảm của ông có phần

nghiêng về quê mẹ. Ông đã bày tỏ rất chân thành điều đó:

" Tôi yêu nhớ nước tôi thật, nhưng tình yêu ây trước khi gieo vào tôi phải được lọc

qua màu cây xanh thẳm vây kín lấy những làng mạc thân yêu" (Thằng cháu đích tôn)[15;

127]

"Tôi đua đòi chạy tìm chân trời xa lạ, nhưng mỗi lúc dừng chân, tôi vẫn thích quay

về Quê Mẹ. Ở đấy mới thực rộn và sôi lên cái gì là lòng, là máu, máu và lòng không vay

mượn, không chế tạo, thiết thực và đơn sơ" (Mơ về nước chúa) [15; 82]

Nhưng mặc dù được vòng tay ấm áp của quê mẹ chở che, cưu mang, đùm bọc

nhưng tác giả không lúc nào nguôi quên quê cha đất tổ. Bất cứ đứa trẻ nào sinh ra và lớn

lên cũng ở quê cha và bất cứ người phụ nữ nào khi lấy chồng cũng theo chồng và lấy quê

chồng làm quê mình. Còn nhà văn lại lớn lên trên mảnh đất quê mẹ và người mẹ lái đò

của Hồ Dzếnh cũng không một lần bước chân đến nhà chồng theo đúng cái điều gọi là

"xuất giá tòng phu". Đối với quê cha, Hồ Dzếnh không còn mối dây liên lạc nào trừ

người cha. Người cha mất đi, nhà văn không phải chỉ mất đi chỗ dựa tình thần trong quan

hệ cha con mà còn từ đây sợi dây liên lạc với quê hương cũng dường như đã đứt hẳn để

lại cho nhà văn những ngày tháng bơ vơ của một thân phận lạc loài. Lúc cha mất, cậu bé

Hồ Dzếnh ngây thơ đã lo sợ rằngmình không thể khóc được nhưng đến ngày rước linh

cữu cha, nhìn thấy ảnh người cha được phủ lụa điều, được bốn người khiêng lên như kiệu

thì tiếng khóc lúc ấy mới tự nhiên bật ra, có lẽ bởi vì "tôi thấy cái gì không còn nữa ương

cái gì đương còn trước mắt tôi" và "đó là những tiếng khóc lần đầu tiên tôi biết, tiếng

khóc sau này, khi tắt đi, còn vẳng lại một điều thở dài chua xóurên ngày tháng bơ vơ của

tôi" [15;35]. Nhà văn đã thấy trước những ngày tháng bơ vơ trước mắt khi không còn gì

gắn liền nhà văn với cội rễ. Lúc ấy không gian xung quanh cũng trở nên cô liêu như

chính tâm trạng tác giả " Tôi nhận thấy mấy cây cột nhà đứng bơ vơ hơn trước, bóng tối

mau chiếm lấy sân và lòng tôi hay nhớ thương ngao ngán" [15; 35]. Ngoài người cha

những người khác từ quê hương Trung Quốc sang dường như chỉ là những người của thế

giới khác ghép vào cho nên mối quen hệ giữa ông với những người ấy cũng hết sức lỏng

65

lẻo không xem là những người cùng nguồn cội. Cảm giác này ông nhận ra trước hết ở

người cha Trung quốc của mình. Khi cha còn sống, không ít lần ông đã cảm thấy tủi hờn

vì người cha ấy đã đối xử ghẻ lạnh với mình nhưng lại yêu quí thằng cháu đích tôn vì đứa

cháu ấy mang trong trong mình thuần một dòng máu Trung Hoa. Ngay cả đứa cháu ấy

cũng chỉ trò chuyện vui vẻ với cha của nhà văn còn thì suốt ngày chỉ lầm lì. Đến khi

người cha chết đi, đứa cháu ấy đã hoàn toàn cảm thấy bơ vơ "có lẽ vì nổ cảm thấy chung

quanh sự xa vắng, tuy luôn luôn sống giữa gia đình". Người chú Trung quốc cũng không

gắn với nhà văn trong tình cảm máu mủ ruột rà mà "chỉ biết có tiền" cho nên mỗi lần

sang Việt nam cứ như một người khách xa lạ.

Như vậy từ chú Nhì đến thằng cháu đích tôn, những con người gắn với xứ sở quê

cha đều đối xử lạnh nhạt e dè với nhà văn và không xem ông cùng cội nguồn. Chính vì

vậy sau khi người cha chết đi, trong Hồ Dzếnh luôn tồn tại cảm giác bị cắt lìa khỏi cội rễ,

cảm thức không cội nguồn.

Đối với quê mẹ, tuy có nồng nàn tha thiết ương tâm hồn nhà văn nhưng đó cũng chỉ

là mảnh đất quê ngoại, không thể thay thế được cho mảnh đất quê cha, một gốc rễ, một

cội nguồn. Cho nên có lúc à nhà văn tồn tại cảm giác lạc loài cô đơn. Trong dòng hoài

niệm về quê hương, tác giả không quên được hình ảnh Fin, cô gái Kinh lai Mán xinh đẹp,

mối tình đầu tiên của mình. Cô bạn gái thời thơ ấu ấy đã từ chối nhà văn một cá<± lạnh

lùng, cô chỉ chấp nhận lấy "một người con trai làng tử tế" vì đấy là một người cùng quê

hương. Nhà văn đã thấy lòng mình đau đớn bội phần: "Lòng tôi nhói lên như bị ai chích.

Rồi tôi chợt hiểu, Tôi hiểu rằng trong lòng người con gái của xứ rừng núi này ẩn một tình

cảm khác, nó chỉ đặc biệt ràng buộc với những cái gì thuộc về quê hương mà không có

sức mạnh nào, quyền phép nào dẫu nhiệm màu cao cả ở trên thế gian này mua được*' (

Trong bóng rừng)[53; 53]. Lới từ chối của Fin đã như gáo nước lạnh dội vào làm tắt

ngấm cái mầm yêu thương của mối tình thơ trẻ để lại cho nhà văn nỗi chua xót vô kể.

Lức ấy nhà văn hiểu rằng mình cũng không phải hoàn toàn thuộc về quê hương Việt nam

và "mang máng nhận thấy rằng Fin là người con gái kỳ lạ không bao giờ có thể ưở nên

bạn tôi". Phải chăng vì thế mà nhà văn luôn luôn nhận sự đối xử lạnh lẽo của Fin? Dẫu

66

sao thì đây cũng là một kỷ niệm buồn trong lòng người có trái tim đa cảm sớm nhận biết

sự bơ vơ, cồ độc của mình trong cuộc đời, giữa quê hương. Điều này đã tạo nên ở ông

một tâm thức bơ vơ, lạc lõng. Đối với con người ở quê mẹ, ông cảm thấy bị đối xử lạnh

lùng đồng thời những con người gắn với xứ sở quê cha cũng không xem ông là người

cùng nguồn cội. Phải chăng đây cũng là nguyên nhân khiến cho nhà văn cảm thấy đau

khổ, buồn bã tin rằng mọi người không ai yêu mình, như nhà văn từng nghĩ: "Tôi không

bằng lòng ai cả. Hình như tôi cũng không bằng cả tôi. Cái đau khổ được tôi tự tạo lấy,

dần dần trở nên mãnh liệt. Tôi phải kiếm cớ luôn luôn cho lòng mình thắc mắc, trong cái

tin tưởng quái gở là mọi người không ai yêu tôi. Đó thực là một cực hình cho kẻ nào như

tôi, chịu ảnh hưởng sự khảng hoảng tinh thần do chính mình gây ra, do chính mình ham

thíchn (Lòng mẹ)l 15; 49]

Trong văn học Việt Nam hiện đại, ta cũng có thể thấy cảm giác lạc loài này trong

những tác phẩm của Vũ Bằng trong những năm tháng suốt từ 1954 đến ngày ông mất.

Nhưng hoàn cảnh Vũ Bằng có khác với Hồ Dzếnh. Như trên đã nói, vì hoàn cảnh công

tác đặc biệt, ông phải xa lìa quê hương, cũng là lìa xa một vùng không gian sinh trường,

một môi trường văn hóa truyền thống Bắc bộ để vào Sài gòn định cư. Tưởng rằng "Cùng

là đất nước quê hương đi đâu mà chẳng thế?", "Vậy mà không! Lòng người xa nhà y như

thể là khúc gỗ bị mối ăn mục nát tự lúc nào không biết" đến nỗi "con tim của người

khách tương tư cố lý cũng đau ốm y như là gỗ mục" (Tự ngôn trong "Thương nhớ mười

hai" ). Vào Sài gòn, mảnh đất miền Nam của quê hương, Vũ Bằng đã cố hoa nhập với

một không gian khác lạ, không chỉ là cảnh quan môi trường sinh thái, nhà văn còn phải

"đối mặt với những cái trái ngược thuộc lối sống lai căng kiểu Mỹ"[20;63]. Dù đã nỗ lực

thích nghi nhưng ông lại không có khả năng hoa nhập với cuộc sống xung quanh, một nơi

quá khác lạ với vùng " sinh quyển văn hóa" Bắc bộ vì thế ông luôn luôn cảm thấy mình

bị thừa ra như một kẻ xa lạ lạc loài. Cái tôi cô đơn lạc loài ấy thể hiện rõ nét trong các tác

phẩm của Vũ Bằng như "Thương nhớ mười hai", "Miếng ngon Hà nội''...Nếu Vũ Bằng

thích nghi được với mội trường mới có lẽ cảm giác tha hương sẽ vơi đần đi nhưng không

67

thích nghi được nên chỉ còn cách hướng cả tâm hồn mình về quê hương với nỗi niềm

"Thương nhớ mười hai".

Vũ Bằng là một trường hợp đặc biệt trong giới văn nghệ sĩ. Hồ Dzếnh lại là một

trường hợp đặc biệt khác. Hồ Dzếnh đã ở vào một tình thế khác Vũ Bằng: sinh ra và gắn

bó với quê mẹ, thề yêu thương quê mẹ "trên bậc tuyệt vời của tôn giáo” nhưng nhà văn

cũng có lúc cảm thấy "thiếu quê hương", cứ khắc khoải hướng về quê cha với tấm lòng

hướng về nguồn cội. Quả là đối với xứ sở Việt nam, "ông đã ở vào cái tình thế chông

chênh, chân trong, chân ngoài, quê hương là thực mà như là hư, là phải mà lại như không

phải, gần gũi đấy mà lại xa vời đấy" [3; 176]. Ghính điều này đã làm cho "Chân trời cũ"

tràn ngập những nỗi niềm khắc khoải làm cho những trang văn viết về quê hương của

ông mang một sắc thái riêng.

"Chân trời cũ" của Hồ Dzếnh gợi người đọc liên tưởng đến "Quê mẹ" của Thanh

Tịnh. Gả "Chân trời cũ" và "Quê mẹ" đều là những dòng hoài niệm về quê hương. Cả hai

nhà văn cùng gặp gỡ nhau ở một tấm lòng, một tình cảm đằm thắm đối với quê hương.

Những trang viết của Thanh Tịnh trong"Quê mẹ" đưa người đọc về một vùng quê yên ả

có tên là làng Mỹ Lý, ở đó có những bức tranh thiên nhiên thật thi vị với những cánh

đồng thơm mát, con sông hiền lành êm ả chảy quanh, ánh trăng êm dịu nhẹ tỏa trong một

không gian êm đềm, những tiếng hò, câu hát vẳng trong đêm, vang trên sóng nước...

Trong bức tranh êm đềm của vùng quê ấy còn nổi bật lên hình ảnh những con người lam

lũ, nhọc nhằn trong cuộc sếng bình dị nhưng cũng là những con người đáng quí đáng

thương, đặc biệt là hình ảnh người phụ nữ, những cô gái quê với vẻ đẹp bình dị, dịu hiền

như cô Thảo, cô Duyên, cô Sương...ở những con người ấy toát lên một vẻ đẹp ưong sáng,

thuần phác mang đặc tntog của con người Việt nam. Thanh Tịnh đã gửi ương tình quê

một lời ca ngợi kín đáo và cũng đầy tự hào về quê mẹ. Thạch Lam đã rất xác đáng khi

nhận xét rằng: "Thanh Tịnh đã muốn là người mục đồng ngồi dưới bóng tre thổi sáo để ca

hát những đám mây và làn gió lướt bay trên cánh đồng, ca hát những vẻ đẹp của đời thôn

quê" (Tựa Quê mẹ, Thạch Lam)[10;347] Thanh Tịnh đã gửi gắm "tình quê hương” của

mình qua nỗi nhớ quê của cô Thảo (Quê mẹ), đó là một mối tình quê man mác của một

68

cô gái lấy chồng xa, mỗi năm cô chỉ được về làng chừng hai, ba lượt là nhiều nên cô chỉ

biết gửi gắm tấm lồng về quê mẹ. Cứ "chiều chiều gặp những lúc nhàn rỗi, cô lại ra đứng

cửa sau vơ vẩn nhìn về làng Quận Lão. Nhưng làng Quận Lão ẩn sau đám tre xanh đã kéo

một gạch đen dài trên ven đồi xa thẳm" [63;15]. Hay là nỗi mừng vui của Đồng và

Thuyên (Tình quê hương) trong đêm ba mươi khi gặp được người cùng quê, được ăn món

ăn quê hương để cảm thấy ấm lòng tưởng như mình đang được sống trong lòng quê

hương, bè bạn. Tình cảm đối với quê hương của họ thật chân thành cảm động luôn luôn

dạt dào trong tâm trí.

Thanh Tịnh và Hồ Dzếnh đều trải lòng mình ra qua những dòng ký ức về quê hương

cho nên ở cả "Chân trời cũ" và "Quê mẹ" đều thấm đượm những cảm xúc chân thành đối

với quê mẹ. Nhưng nếu những dòng hoài niệm về quê mẹ của Thanh Tịnh chứa đựng một

cảm giác êm đềm pha lẫn với nỗi buồn man mác khi nhớ về kỷ niệm thì những ký ức về

quê mẹ của Hồ Dzếnh lại thấm đẫm sâu sắc nỗi buồn thương có khi đa diết, có lúc nhớ

thương day dứt vì trong đó chứa đựng cả mặc cảm không cội nguồn, "nỗi khắc khoải giữa

hai bờ xứ sở". Nhà văn chỉ cồn biết trang trải nỗi niềm đó qua những trang viết đầy xúc

động và phổ vào bức tranh quê ấy một niềm cảm thương chân thành, nỗi ray rứt trăn trở

khôn nguôi.

69

CHƯƠNG 2: LỜI VĂN NGHỆ THUẬT TRONG VĂN XUÔI HỒ

DZẾNH:

Mọi tác phẩm vân học, dù là thơ hay vãn xuôi đều được tạo ra bằng lời để diễn tả

cảm xúc, kể lại sự việc, nói lên quan điểm hay những suy tư... về cuộc sống. Đó là lời

thơ, lời văn, lời tác giả, lời nhân vật... gọi chung là lời văn. Nói đến lời văn, theo

M.Bakhtin, là nói đến "ngôn ngữ trong tính toàn vẹn, cụ thể và sinh động của nó chứ

không phải ngôn ngữ với tính cách là đối tượng chuyên biệt của ngôn ngữ học có được

bằng một sự trừu tượng hoá hợp pháp và tất yếu một số khía cạnh nào đó của sự sống cụ

thể của lời nói" [6,189].Và cũng cần thấy rằng "ngôn từ trong tác phẩm văn học là một

kiểu lời nói nghệ thuật do nhà văn sáng tạo nên trên cơ sở sản phẩm ngôn ngữ của một xã

hội mà ông ta tiếp thu được. Lời văn nghệ thuật này chính là đối tượng của sự phân tích

văn học" [21,170].

Lời văn trong tác phẩm văn học khác với lời nói thường ngày và cũng khác với lời

văn khoa học vì nó có tính tổ chức cao và hơn nữa nó đã được tổ chức theo qui luật riêng

của nó-qui luật của nghệ thuật- tạo thành lời văn nghệ thuật. "Lời văn nghệ thuật là một

hình thức phát ngôn được tổ chức một cách có nghệ thuật"[17;80 ]. Lời văn khoa học

cũng có tính tổ chức cao nhưng nó chỉ nhằm mục đích làm rõ một nội dung, một khái

niệm, một vấn đề mang tính khoa học chính xác khách quan. Còn trong một tác phẩm, lời

văn biểu đạt nội dung giúp cho người đọc nhận thức về cuộc sống. Nhưng lời văn nghệ

thuật nói chung không chỉ nhằm mục đích thông báo sự việc đến với người đọc mà còn

"tái hiện cả một phức hợp quan hệ chủ quan và khách quan trong sự kiện đó” [ 43, 316 ].

Văn học phản ánh cuộc sống qua cái nhìn, sự cảm nhận của nhà văn cho nên lời văn

trong tác phẩm vừa tái hiện cuộc sống vừa hè mở cho người đọc hiểu được cái nhìn, cách

hiểu, cách cảm của nhà văn đối với cuộc sống.

Một tác phẩm văn xuôi tự sự bao giờ cũng được kể ra, tả ra từ một người kể chuyện

nào đó, cho nên người kể chuyện, người trần thuật đóng một vai trò quan trọng. Ngôn

ngữ người trần thuật là chất liệu chính tạo nên bức tranh đời sống đồng thời tự biểu hiện

70

cách cảm nhận của mình về thế giới, về con người. Cho nên, theo Pospelov, lời người

trần thuật "không chỉ cho thấy đặc điểm của khách thể trần thuật mà còn cho thấy cả bản

thân người nói"[55;88 ] và tác phẩm tự sự không chỉ tái hiện cái được kể mà còn tái hiện

người kể, "nó mang dấu ấn về cách nói, cách cảm thụ thế giới và cuối cùng là mang tư

chất trí tuệ và tình cảm của người trần thuật, mang tính cách của anh ta" [55;89 ]

Lời văn nghệ thuật là một yếu tố thuộc hình thức của tác phẩm được tạo nên bởi các

yếu tố ngôn ngữ để thể hiện cuộc sống và bộc lộ tâm tư tình cảm của nhà văn. "Ngôn ngữ

là yếu tố đầu tiên của văn học" (Marxim Gorki), ngôn ngữ là chất liệu để nhà văn xây

dựng nên tòa nhà văn học với những cấu trúc thẩm mỹ độc đáo và là phương tiện để nhà

văn truyền đạt thông điệp, tư tưởng thẩm mỹ đến người đọc. Nhà văn trong quá trình tạo

ra một tác phẩm nghệ thuật cũng đã xây dựng nên một công tình nghệ thuật ngôn ngữ với

những cấu trúc riêng độc đáo. Cho nên lời văn nghệ thuật gắn bó với nội dung tác phẩm,

có nghĩa là nó mang tính nội dung, tính quan niệm và lời văn ấy phải được tổ chức phù

hợp trong việc thể hiện nội dung, tư tưởng thẩm mỹ của tác giả, đặc biệt là biểu thị được

thái độ cảm xúc của chủ thể phát ngôn qua lời văn nghệ thuật. Vì thế theo

G.N.Pospelov,"lời văn của các tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng có tính biểu cảm-đó là

lời văn biểu cảm hình tượng" [55; 147]

Tìm hiểu lời văn nghệ thuật là khám phá những lời nói, lời phát ngôn đã được tổ

chức một cách nghệ thuật, giàu tính hình tương và giàu sức biểu cảm của người kể

chuyện, của các nhân vật thể hiện ở những dạng thức lời nói trực tiếp, gián tiếp hoặc nửa

trực tiếp

Lời văn nghệ thuật là một yếu tố quan trọng, là đối tượng để giúp chúng ta không

chỉ hiểu được bức tranh đời sống của tác phẩm mà còn tìm thấy được vẻ đẹp văn chương,

vẻ đẹp của sự sáng tạo độc đáo ở mỗi nhà văn.

Để tổ chức lời văn nghệ thuật, yếu tố giọng điệu giữ một vai trò quan trọng. Giọng

điệu là yếu tố cấu thành của lời văn nghệ thuật, là yếu tố bộc lộ rõ chủ thể một cách trung

thực và chi phối đến cách thức tổ chức lời văn nghệ thuật. Giọng điệu mang nội dung tình

cảm, cảm xúc của nhà văn, thể hiện thái độ, cách nhìn của nhà văn đối với cuộc sống.

71

Mỗi tác phẩm văn chương với những nội dung, những biểu hiện cảm xúc của nhà văn sẽ

hình thành giọng điệu riêng với những sắc thái độc đáo, riêng biệt.Cho nên tìm hiểu lời

văn nghệ thuật không thể không đề cập đến giọng điệu tác phẩm. Trong chương này

chúng tôi sẽ tập trung đi vào tìm hiểu các phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và sắc

thái giọng điệu lời văn nghệ thuật trong văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh.

2.1.Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật trong vấn xuôi nghệ thuật Hồ

Dzếnh:

2.1.1.Lời văn nghệ thuật được tổ chức theo phương thức trần thuật chủ quan:

Nằm trong đặc điểm loại hình tự sự, những tác phẩm văn xuôi nghệ thuật bao giờ

cũng phản ánh cuộc sống qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể

chuyện nào đó, qua đó ta hiểu được sự nhận thức, đánh giá của nhà văn đối với cuộc

sống.Tác phẩm văn xuôi tự sự nào cũng có hình tượng người trần thuật với vai trò kể lại,

tả lại những diễn biến sự việc, khắc hoa nhân vật trong câu chuyện. Người kể có thể xuất

hiện trong các ngôi kể khác nhau, có thể là ở ngôi thứ nhất "tôi" để trực tiếp kể nhưng

cũng có thể xuất hiện ở ngôi thứ ba không tham gia vào câu chuyện mà cũng không nói

thẳng ra là "tôi" kể mà cứ để cho sự việc hiện dần lên và tự nó diễn biến đến kết thúc như

nó vốn có.Các hình thức xuất hiện của người kể chuyện tạo thành hai kiểu tường thuật cơ

bản ương văn xuôi nghệ thuật: kiểu tường thuật khách quan (kể từ ngôi thứ ba)và kiểu

tường thuật chủ quan (kể từ ngôi thứ nhất).

"Chân trời cũ" là một tác phẩm tự truyện mà ở đó "tác giả đã tự kể và miêu tả cuộc

đời của bản thân mình" và "tập trung vào quá trình hình thành và lịch sử thế giới nội tâm

trong sự tương tác của nó với thế giới bên ngoài" [4;376].Những câu chuyện trong tập

Chân trời cũ được trần thuật ở ngôi thứ nhất theo phương thức chủ quan. Ở phương thức

này, câu chuyện được kể bởi "người kể chuyện nói về mình ở ngôi thứ nhất và xuất hiện

như một con người thực hiện hữu trong thế giới mà các nhân vật đang hoạt động. Sự trần

thuật này mang tính cá thể hoa rất cao, nó diễn đạt rất sâu sắc những tâm trạng, tình cảm

và sự nếm trải của con người" [21;202]. Lời kể được dẫn dắt từ ngôi thứ nhất, người

tường thuật xưng "tôi" tự kể về mình. Có thể thấy rằng trong Chân trời cũ "nhân vật

72

chính xuyên qua tất cả mọi truyện chính là tác giả"[3;143]. Nhân vật "tôi" và tác giả như

nhập làm một hay nói khác hơn là tác giả đã mượn nhân vật "tôi" để bộc bạch, giãi bày

cảm xúc, suy nghĩ của mình khi hướng về quá vãng. Cho nên khi nói về điều này, Văn

Tâm đã nhấn mạnh rằng "nhân vật "tôi" trong Chân trời cũ không phải sản phẩm hư câu

mà là chân nhân chân sự (người thật, việc thật): Hồ Dzếnh- Hà Triệu Anh" [3;224]. Cái

tôi- tác giả luôn luôn xuất hiện bàng bạc giữa câu chuyện để bộc lộ, để tự thể hiện mình,

do đó dấu ấn chủ quan thể hiện đậm đặc trong câu chuyện và chi phối rất nhiều đến cách

tổ chức lời văn nghệ thuật.

Trong Chân trời cũ, người kể xưng "tôi" giữ chức năng trần thuật, lại là một nhân

vật trong tác phẩm từng chứng kiến sự việc diễn ra cho nên khoảng cách giữa người kể

và truyện rất nhỏ. Khắp các trang truyện hầu như lúc nào cũng hiện diện hình ảnh người

kể chuyện. Khoảng cách người kể chuyện và thế giới nhân vật cũng được rút ngắn lại, độ

chân thật do vậy cao hơn. Dường như không có ý giấu mình đi, người kể luôn xuất hiện

giữa những trang viết, lúc thì với tư cách là người dẫn dắt câu chuyện để tái hiện lại câu

chuyện, sự việc, khi thì ưực tiếp bộc lộ cảm xúc của mình. Cho nên trong Chân trời cũ,

toàn bộ lời kể chủ yếu là lời nói gián tiếp, tức là "toàn bộ lời văn của tác giả, của người

trần thuật hoặc người kể chuyện có chức năng trình bày toàn bộ thế giới hình tượng, kể

cả các yếu tố nội dung, hình thức của lời nhân vật cho người đọc"[ 43,333] và lời nói trực

tiếp, tức là lời do nhân vật hay tác giả trực tiếp nói lên.Có thể nói toàn bộ mạch truyện

được dẫn dắt bằng lời gián tiếp của người kể. Những đoạn miêu tả tâm lý của nhân vật

cũng được tái hiện bằng lời gián tiếp của chủ thể trần thuật. Nhà văn đã dùng ngôn ngữ

của mình để tả tâm trạng của nhân vật. Chẳng hạn trong truyện Ngày gặp gỡ có đoạn tả

tâm trạng của cô lái đò:

" ..dưới bóng sao đêm ấy, trên dòng sông khuya, người con gái Việt nam đã che đôi

má ửng hồng trước mặt người khách lạ và cùng lúc không hiểu sao, nàng thấy ngậm ngùi

chua xót..." [ 15;15]

Và đây là đoạn tả tâm trạng của người lữ khách Trung Quốc trong một đêm trọ ở

một nơi xa lạ:

73

" Gió thổi trong vườn càu xào xạc.

Tịch mịch dễ làm đuối lòng người lữ khách, lúc này, đã thấy chết chí phiêu lưu, bôn

tẩu, để cảm khái trong sự thương nhớ, trong giây phút chạnh lòng tưởng đến một mảnh

đất xa xôi." [15; 18].

Cách miêu tả như thế ta cũng thấy nhiều trong tác phẩm của Thạch Lam, Thanh

Tịnh, những người được xếp "cùng chiếu" với Hồ Dzếnh. Hồ Dzếnh thường sử dụng lời

nói gián tiếp để thể hiện nội tâm dưới hình thức độc thoại nhưng có khi độc thoại nội tâm

lại xuất hiện dưới hình thức tự đối thoại với chính mình. Qua hình thức tự đối thoại đó,

người kể tự bộc lộ ý thức của mình. Trong truyện Ngày lên đường, để diễn tả tâm trạng

giằng xé giữa việc đi hay ở của một người mà mộng giang hồ đã ám ảnh ngay từ nhỏ,

người kể đã dùng lời nói nội tâm, một dạng đặc biệt của lời trực tiếp:

"Tôi băn khoăn không hiểu vì sao được đi là thú, tôi lại ngại ngần giữa lúc nên đỉ.Vì

mẹ tôi chăng? Vì nước Nam yêu quí chăng?Cố lẽ.Nhưng ruộng đất, đồi núi của xứ Trung

bộ bình yên như thế này, ai xa mà không nhớ được!" [15;143] Nhưng xen vào những lời

độc thoại nội tâm đó có dạng đối thoại nội tâm như là những lời tranh luận ngầm bên

trong ý thức nhân vật người kể chuyện:

" Tôi hỏi tôi:

- Về nước ta sẽ làm gì? Ta yếu lắm! Rồi tôi tự trả lởi lấy:

- Quét chuồng ngựa. Lau giày cho ba quân. Làm được tất, làm là tốt rồi[15; 141]

Thực chất đây cũng là lời độc thoại nhưng dưới hình thức đối thoại nội tâm. Hình

thức này làm cho việc miêu tả nội tâm đa dạng phong phú hơn.Tuy nhiên hình thức này

không phải là phổ biến ở Chân trời cũ. Dạng độc thoại thường thấy của nhân vật Tôi-

người kể chuyện là hình thức độc thoại như là sự suy ngẫm, lời tự vấn bên trong ý thức

người kể khi nhìn về quá khứ hoặc là những lời trữ tình ngoại đê mà chúng tôi sẽ nói ỏ

phần sau. ở điểm này, cách viết của Hồ Dzếnh gần gũi với cách viết của Thạch Lam ở

những truyện ông kể theo phương thức chủ quan mà nhân vật là người kể chuyện đồng

thời là vai chính trong truyện. Ở loại truyện này, Thạch Lam đã đi sâu vào những trạng

74

thái tâm lý phức tạp của nhân vật Tôi, người kể chuyện bằng những dòng độc thoại như

là những lời tự thú, tự vấn lương tâm chân thành. Có thể dẫn ra đoạn văn sau đây trong

truyện.

Sợi tóc của Thạch Lam:

"Chỉ một sợi tóc nhỏ, một chút gì đó chia địa giới cửa hai bên...Tôi có tiếc đã không

lấy hay không, hay bằng lòng mình vì đã chống giữ lại cái ý xấu? Tôi cũng không tìm

biết rõ hơn. Hình như ý nghĩ ham muốn hay trù trừ ấy không phải là cửa tôi, hình như của

ai ấy, cửa một người nào khác lạ, khác với cái người thường của tôi bấy giờ..."

Đây là một đoạn độc thoại của một nhân vật đang đứng giữa ranh giới giữa cái

lương thiện và cái ác đang cố chống chọi để được đứng về phía lương thiện khi cái ranh

giới của hai phía ấy mong manh như một "sợi tóc".Những suy nghĩ sâu kín ấy của nhân

vật như những lời tự thú với lương tâm. Đi vào mảng khuất tối trong thế giới tinh thần

của nhân vật, tác phẩm của Thạch Lam có xu hướng hướng nội rõ nét.Là một tập truyện

mang tính chất tự truyện, Chân trời cũ của Hồ Dzếnh lại càng có khả năng đào sầu đến

tận cùng cái tôi nội cảm phức tạp bằng những dòng độc thoại để tự mổ xẻ mình, có khi

độc thoại dưới hình thức đối thoại với một nhân vật được kể (trường hợp của Thiên

truyện cuối cùng), Vì thế Chân trời cũ mang đậm chất chủ quan.

Trong văn xuôi nghệ thuật, lời trực tiếp có một vai trò quan trọng, đó cũng là đối

tượng miêu tả trong tác phẩm văn học. Lời trực tiếp ở đây là "lời do nhân vật hoặc do tác

giả, những con người ừực tiếp nói lên trong tác phẩm" 1[43;330], trong đó lời nói trực

tiếp của các nhân vật, theo M. Bakhtin là "dạng điển hình nhất và phổ biến nhất của lời

nói được miêu tả" [6; 19.7]. Lơi trực tiếp thể hiện đời sống ngôn ngữ của xã hội.Trong

văn học hiện đại, lời trực tiếp thường gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày và được cá

thể hóa ỏ mỗi nhân vật. Các nhà văn thuộc trào lưu văn học hiện thực rất chú ý miêu tả

lời trực tiếp của nhân vật ương tính cá thể hoa của nổ vì "việc cá tính hoá lời trực tiếp trở

thành một nguyên tắc nghệ thuật để khắc họa tính cách xã hội lịch sử của nhân vật. Và

hiển nhiên sự miêu tả lời nói cũng phải được lựa chọn điển hình hoa cho giàu tính biểu

hiện" [43;333 ]. Tuy chưa đạt đến trình độ cá thể hoa sắc sảo như ngôn ngữ của các nhà

75

văn hiện thực nhưng Hồ Dzếnh cũng chú ý cá tính hoa lời trực tiếp của nhân vật, cho nên

lời của mỗi nhân vật được tái hiện phù hợp cá tính, tâm trạng, lứa tuổi....Và như vậy chức

năng tự bộc lộ của nhân vật đã được thể hiện rõ qua lời trực tiếp. Có thể xem xét một

đoạn truyện sau đây:

"....Hôm hai người cãi nhau, tôi được gọi ra làm chứng. Tôi thây dì tôi ngồi trên sập,

trước mặt một cái tráp trầu-không vỡ đổ, nghiến răng hỏi tôi:

- Có thực chính mắt anh trông thấy con tôi theo trai khống?

Tôi không đáp và đưa mắt nhìn em gái toi đứng thút thít khóc ở xó nhà vì vừa bị

mây cái tát. Tiếng dì tôi vẫn dằn mạnh:

- Anh cứ nói đi để tôi đánh tan xác nó ra, đồ không có người dạy! Mẹ tôi xen vào:

- Đừng có nỏ mồm. Bảo ai không có người dạy? Không được chạm đến con tôi!

Giữa lúc tôi không biết nói làm sao cả, thì em gái tôi chắp tay đưa lên bụng, kín đáo

lạy tôi mấy cái.Lòng thương một người con gái yếu ớt làm tôi quên hẳn sự hiềm khích

giữa người trong nhà. Toi đáp rất gọn:

- Không, con nói dối đấy chứ!

- Tức thì dì tôi vênh mặt lên:

- Nghe nữa đi, nghe cái đồ nói dối nữa đi!

Và tức thì hai cái tát của mẹ tôi cháy bỏng trên má tôi: -Ai dạy mày nói điêu, mày

hai lưỡi![ 15; 113-114] Trong đoạn văn trên, lời nói của mỗi nhân vật phù hợp với tâm

trạng cá tính của từng người, đặc biệt là qua lời của hai bà mẹ, người đọc có thể hình

dung sự căng thẳng của hai người mẹ: một người cố phủ nhận nguồn tin con gái mình

theo trai, một người muốn khẳng định để thỏa mãn lòng tự ái. Ngôn ngữ được nhà văn

khai thác triệt để để đưa vào lời trực tiếp của nhân vật. Những lời như "đánh tan xác nó

ra", "đừng có nỏ mồm", "cái đồ nói dối", "mày nói điêu, mày hai lưỡi"... không phải được

nói lên bằng giọng tác giả mà nó mang giọng của nhân vật, cụ thể là của người vợ cả và

vợ lẽ đang hung hăng co giành phần thắng về mình. Đó là những lời lẽ tự nhiên thể hiện

76

tính cách đanh đá chua ngoa. Trong Chân trời cũ, cũng thường thấy xuất hiện những lời

trực tiếp của người mẹ:

- " Cái ngữ này lại chỉ xông xác ra là hết! " [15;22]

- "Không quen thì không làm à? Tao mua con dâu về có phải để mà thờ đâu?"

[15:24]

" Nhà còn chả tiếc nữa là ngựa. Không bán đi thì xé xác ra mà trả nợ à?" [15;42]

"Mày thì ăn như vẹm ấy, ăn sung sướng bao lâu nay chưa chán

hay sao mà bắt nạt nó?" [15;84].... Đó là những lời thốt ra từ một người mẹ nghèo

lam lũ từng chịu đựng nhiều đau khổ đến mức có lúc trở nên ác nghiệt với con dâu.

Những lời này thật khác với lời nhũn nhặn của người chị dâu, một người phụ nữ xuất

thân từ một gia đình quí phái, giàu sang nhưng chấp nhận số phận lưu lạc trở thành một

người đàn bà chịu thương, chịu khó:

" Chứ ạ, ngày xưa chị sống sung sướng lắm kia. Chị là con một trong gia đình quí

phải cũng được nuông chiu như chú bây giờ, có phần hơn thế nữa" [ 15 ;28 ] Ngoài lời

trực tiếp của nhân vật, trong Chân trời cữ còn có lời trực tiếp của tác giả. Chân trời cũ là

một tập văn xuôi trữ tình mang tính chất tự truyện, kể theo phương thức chủ quan nên lời

trực tiếp của tác giả xuất hiện nhiều để bộc lộ cảm xúc, suy tư hoặc những lời tự vấn. Cho

nên chủ thể kể chuyện luôn lộ diện khắp các trang truyện. Có thể nói mạch truyện trong

Chân trời cữ thường bị dừng lại nhường cho những lời trực tiếp của tác giả. Có khi đó là

những cảm xúc bất chợt khi hoài niệm về quá khứ với hình ảnh những người thân yêu.

Hướng về quá khứ nhớ về hình ảnh người chị đâu đau khổ, người kể không ngăn nổi

đòng cảm xúc của mình nên đã để nó tự bộc ra bằng những lời vân trực tiếp:

"Ô hay! Sao lúc viết mấy gióng chữ này, tôi còn thấy như một niềm bối rối, gió tối

bận bịu trong lùm tre, một chấm lửa lung lay châm loe vào bóng đêm bất tậnỉTôi chăm

chỉ ngồi học dưới ánh đèn lúc ấy, nhưng lúc này, quay nhìn lại cái dĩ vãng không vui vẻ

ấy, tôi rùng mình thấy hiện ra trên cái gì xa xôi, một váng vất buồn rầu tang chế" [ 15;26-

27 ]

77

Nhưng đặc biệt những lời ưực tiếp của tác giả xuất hiện nhiều dưới hình thức những

lời "trữ tình ngoại đề" hoặc những lời nói mang tính triết lý. Chẳng hạn ở truyện ngắn

Chị Yên, đang kể về cuộc đời người con gái nuôi hiền lành, mạch truyện đã dừng lại để

nhà văn gửi vào đó những dòng cảm xúc về quê hương, từ lòng yêu thương những người

Việt Nam hiền lành, tác giả bày tỏ tình cảm đối với nước Nam, quê hương thứ hai của

mình:

" Hỡi nước Nam! Tôi nghiêng lòng xuống Người [15; 158 ]

Ở truyện Em Dìn , người kể đang kể về cuộc trốn đi theo người yêu của người em

cùng cha khác mẹ thì lại đưa vào những lời nhận xét, bình luận, triết lý về tình yêu:

"Câu triết lý vu vơ của anh tôi thế mà đúng. Người ta yêu nhau chỉ để yêu nhau. Lấy

nhau tức là tham lam ích kỷ Mà đã yêu nhau, sao lại không thể can đảm xa nhau, không

thể cao thượng chịu đứt cái tình đau đớn được?... [15; 120-121]

Như vậy chính những lời trực tiếp của tác giả đã cho thấy trong Chân trời cũ, người

kể không hề muốn giấu mình đi mà luôn luôn xuất hiện giữa câu chuyện kể để bộc lộ

cảm xúc, có khi là những lời triết lý bình luận về cuộc đời. Lời kể vì thế mang đậm chất

chủ quan và điều này cũng cho thấy một đặc điểm trong cách kể của Hồ Dzếnh là vừa kể

vừa suy ngẫm, vừa bộc lộ cảm xúc cho nên lời văn trong văn xuôi Hồ Dzếnh luôn xen kẽ

giữa lời gián tiếp để tái hiện câu chuyện với lời trực tiếp của người kể để bộc lộ, có khi là

những lời tự vấn, suy ngẫm, có khi là những lời trữ tình tha thiết.

Nhìn chung, ương những tácjphẩm của Hồ Dzếnh cũngjihư Thạch lam, Thanh Tịnh,

lời kể chưa thể hiện sự biến hoa sinh động và sự thâm nhập lẫn nhau giữa lời kể của tác

giả và lời của nhân vật. Tuy nhiên Chân trời cũ lại mang một đặc điểm riêng trong cách

kể chuyện. Trong câu chuyện kể, lời kể gián tiếp khi tái hiện lại câu chuyện có khi xen

lẫn với lời trực tiếp của chủ thể trần thuật dưới hình thức đối thoại với nhân vật tạo thành

lời văn gián tiếp hai giọng. Lời trực tiếp của tác giả lúc này hướng tới đối tượng đang kể

như một lời tâm tình làm cho khoảng cách giữa người kể và nhân vật trở nên gần

gũi.Chẳng hạn ở truyện Em Dìu, chủ thể kể đang hướng về người đọc để kể câu chuyện

78

về người em gái cùng cha khác mẹ đã lưu lạc tha phương thì đột ngột chuyển sang đối

tượng người em, lời văn gián tiếp chuyển sang lời gián tiếp hai giọng hướng về nhân vật:

"Ngót bảy năm nay, chúng tôi xa nhau, ai biết em tôi đã qua bao nhiêu cuộc thử

thách, người em gái vốn đã gầy yếu sấn khi còn ở chung với chúng tôi! Vồ cả em nữa, em

anh ạ, biết đâu em sẽ lại không đọc anh, đọc chính em, ngạc nhiên thấy đời em giống in

như thiên truyện anh viết, và hết cả hồ nghi khi nhìn đến cái tên kỷ thân thiết dưới này.

Nhưng em sẽ ở đâu đọc anh, gần anh, xa anh, hay không còn gần và xa anh nữa, trên đời

này? Xuân đến! Mưa bay! Người ta bảo nhỏ anh rằng trong tháng giêng tốt lành sẽ có

nhiều đám cưới. Anh không tin, mà tin làm sao vì qua ánh sáng ngày xuân, anh thấy lòng

buồn vô hạn n [15; 109 ] Người kể lúc này rõ ràng hầu như quên hẳn nhiệm vụ trần thuật

của mình để quay sang đối thoại trực tiếp với nhân vật. Lời văn đã xen vào lời trực tiếp

của chủ thể "tôi" hướng về nhân vật làm cho mạch truyện biến hoa sinh động, điểm nhìn

cũng thay đổi:từ điểm nhìn của người kể "tôi" đã chuyển sang điểm nhìn của một nhân

vật, là người chứng kiến và cũng là người có mối quan hệ trực tiếp đối với nhân vật được

kể. Lời văn vì thế đã tăng cường sự biểu hiện cảm xúc và nó có chức năng như một lời

giãi bày mang đậm chất trữ tình.

Cách kể này cũng xuất hiện trong Thiên truyện cuối càng, Nhưng nếu ở truyện Em

Dìn, lời tâm tình trực tiếp đối với nhân vật chỉ xuất hiện ở phần đầu câu chuyện thì ở

Thiên truyện cuối cùng, yếu tố này xuất hiện đậm đặc trong toàn bộ câu chuyện tạo thành

lối kể đậm chất chủ quan. cốt truyện như nhòe đi nhường lại cho cảm xúc trực tiếp của

người kể. Từ ngôi kể thứ nhất xưng "tôi", nhà văn đã chuyển sang từ xứng hô "Em" để

thổ lộ trực tiếp cảm xúc của mình. Hầu như quên cả nhiệm vụ trần thuật, chủ thể kể nhập

hoàn toàn vào nhân vật, người chứng kiến, người có mối quan hệ mật thiết với nhân vật

được kể để miên man trong những dòng cảm xúc đang dâng trào. Dường như không còn

ranh giới giữa người kể với nhân vật. Người kể như bước hẳn vào câu chuyện để thực

hiện một cuộc đàm thoại trực tiếp với nhân vật mà không quan tâm đến bất cứ yếu tố 'nào

bên ngoài, chỉ có "anh"- nhân vật được kể với "em"- tác giả với những tiếng gọi, tiếng

nói và những đợt sóng cảm xúc cứ liên tục trào dâng giữa những dòng tự sự, khi tha thiết

79

như vỗ về, khi dâng trào đến đỉnh cao bật ra thành tiếng nấc với những lời cảm thán ai

oán não nùng:

"... Trời ơi, làm sao lúc này em muốn khóc quá!

...Anh ơi! Anh rất đáng thương của em ơi, họ đã tìm thấy anh rồi"[15;191] ở một số

truyện khác, những lời tâm tình đối với nhân vật tuy không đậm đặc như trong Thiên

truyện cuối cùng nhưng cũng thường xuất hiện giữa những dòng tự sự tạo nên cách kể

chuyện độc đáo, chủ thể kể vừa kể chuyện vừa tham gia vào câu chuyện làm cho câu

chuyện càng mang đậm chất trữ tình. Người kể thường đối thoại với nhân vật khi đang

tiến hành kể chuyện. Lời trực tiếp của tác giả thường xuyên xen vào lời gián tiếp trong

mạch tự sự. Chẳng hạn ở truyện Người chị dâu tôi, có đoạn:

"... Tôi giấu mẹ tôi những thức quạ biếu chị, có lúc là chai dầu thơm, có khi là vài

thước lụa. Chị tôi thường phàn nàn:

- Chú tử tế với chị quá. Chị chả biết biếu chứ gì được bây giờ. Có, chị a, chị đã biếu

em một thứ quà quí nhất, một tâm lòng thương người, một chân tình xứng đáng. Và bây

giờ trong cát bụi cuộc đời, tâm hển em vẫn còn sáng mãi những cảm tình chân thật buổi

đầu "(15;28 ) Ở đoạn văn này, nhà văn đang kể chuyện người chị dâu thì dừng lại để bộc

lộ cảm xúc đối với nhân vật. Đó là lòng yêu thương, trân trọng tấm chân tình của người

chị dâu lưu lạc và sự an ủi, cảm thông trước số phận hẩm.hiu của chị. Ta cũng thấy lối kể

xen lời đối thoại trực tiếp của người kể đối với nhân vật trong nhiều truyện ngắn khác của

Hồ Dzếnh. Cách kể này đã làm cho khoảng cách giữa người kể và nhân vật được rút ngắn

đến tối đa và điều này cũng làm nên đặc điểm của lối kể chuyện đậm chất chủ quan của

Hồ Dzếnh. So với các tác giả văn xuôi trữ tình khác như Thạch Lam, Thanh Tịnh thì với

lôi bộc lộ cảm xúc trực tiếp như trên, Hồ Dzếnh đã tạo nên một dấu ấn riêng, độc đáo vì

chát trữ tình đã đạt đến mức độ đậm đặc. Ta cũng bắt gặp một lối viết đậm chất trữ tình

như thế trong những tác phẩm của Vũ Bằng, đặc biệt là Thương nhớ mười hai. Trong nỗi

tư hương da diết, giữa những dòng hoài niệm về quê hương là một nỗi nhớ hướng về

người ông yêu nhớ, người phụ nữ mang tên Quỳ. Nỗi nhớ cố hương và cố nhân như hoa

lẫn vào nhau tạo nên một sự khắc khoải tâm tư trong tâm hồn người xa xứ và chỉ đợi lúc

80

bộc phát lên thành những nguồn mạch trữ tình tuôn chảy dào dạt. Lúc ấy nhà văn chỉ biết

hướng tới người thân yêu để trực tiếp bộc lộ nỗi niềm. Ta bạt gặp trong Thương nhớ

mười hai nhiều đoạn văn như là những lời tâm sự trực tiếp đậm chất trữ tình:

"Em ơi, em ơi, nhắc lại như thế thì nhớ quá. Nhớ cũng đúng vào cữ tháng ba như

thế này, và một năm đã xa xôi, chúng ta cùng nhịn đói đi xem tung còn mà bụng thấy no,

phải không Quỳ?"[9;67]

"Người yêu ơi”Nếu có dịp xem hội tung còn, em nhớ khâu còn và cũng tung thử vài

hội xem sao nhé. Tung thử để bói xem trời bể cứ mông mênh thế này thì đôi ta biết có

còn giữ được mối tình tư quy lúc bẻ cành liễu ở chân gò Mả Đỏ ?

Cách viết thể hiện lối đối thoại trực tiếp với nhân vật của người kể chuyện cũng

xuất hiện trong những tác phẩm truyện ngắn được kể theo phương thức trần thuật chủ

quan của Nam Cao. vốn là một nhà văn hiện thực quan tâm đến việc tái hiện hiện thực

một cách khách quan nhưng cũng có lúc Nam Cao đã để cho mạch truyện dừng lại cho

những cảm xúc trữ tình của chủ thể kể bộc lộ.Những lúc ấy, nhà văn không hoàn toàn

đứng ngoài câu chuyện mà cùng tham gia vào câu chuyện bộc lộ suy tư, cảm xúc của

mình trước số phận của nhân vật bằng lời văn gián tiếp hai giọng. Trong ưuyện ngắn

Điếu văn, ta thấy những lời tâm tình trực tiếp của người kể đối với nhân vật đã xuất hiện

giữa ủhững dòng tự sự:

"Anh Phúc ơi!Anh đã thấy chưa? Tôi đã không lẫn lợn vào trong bọn người đi đưa

đám ma anh, nhưng hồn tôi theo đám ma anh.Tôỉ giống như một cô gái ngây thơ mới bắt

đầu yêu. Cố vờ không để ý, khi người yêu đi ngang cửa nhà cô, nhưng lại len lén nhìn

theo rất lâu khi chàng đi khỏi. Tôi cũng thể..."[ll;311-312 ]

" Vậy thì anh Phức ơi! Anh hãy nghỉ cho yên... "[11; 319]

Ta cũng thấy cách thể hiện như thế trong các truyện Dì Hảo, Lão Hạc.khi nhà văn

không ngăn được cảm xúc của mình đã gọi tên nhân vật và đối thoại với nhân vật khi

mạch truyện đang diễn tiến:

81

"Dì Hảo ơiỉ Tôi hãy còn nhớ cái ngày dì bỏ tôi đi lấy chồng. Đó là một buổi chiều

có sương bay... "[11; 107]

" Lão Hạc ơi! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão không muốn bán con chó vàng của lão.

Lão chỉ cồn một mình nó để làm khuây. Vợ lão chết rồi. Con lão đi bằn bặt Già rồi mà

ngày cũng như đêm, chì thui thủi một mình thì ai mà chả phải buồn...." [11:155]

Tuy nhiên lối kể chuyện mang đậm yếu tố trữ tình như trên không phải là phổ biến

ở nhà văn Nam Cao. Tôn trọng hiện thực, quan tâm tái hiện hiện thực khách quan nên

ngòi bút của Nam Cao thường mang tính khách quan, tỉnh táo. Giữa người kể với câu

chuyện và nhân vật thường có một khoảng cách nhất định. Còn ở Hồ Dzếnh thì yếu tố

này xuất hiện đậm đặc bởi Chân trời cũ là một thể loại tự truyện, một thể loại mà Ương

đó "cái tôi" của tác giả luôn luôn xuất hiện để bộc lộ cảm xúc trước những dòng hoài

niệm về quá khứ tạo thành cái "hiện thực nội tâm", một hiện thực không kém phần quan

trọng trong những tác phẩm văn xuôi trữ tình.Tuy nhiên lời văn của Nam Cao lại thể hiện

sự biến hoa sinh động vì ngoài lời gián tiếp của người kể và lời trực tiếp của nhân vật,

Nam Cao thường sử dụng lời nửa trực tiếp, tức là "lời gián tiếp nhưng lại bao hàm các

yếu tố khác nhau của lời trực tiếp"[43; 336] tạo nên cách kể chuyện độc đáo. Đây là dạng

lời văn được sử dụng phổ biến trong tác phẩm của Nam Cao. Ở Chân trời cũ cũng xuất

hiện hiện tượng này tuy rằng không phổ biến như ở tác phẩm của Nam Cao. Khi tái hiện

sự việc bằng lời văn gián tiếp của chủ thể kể chuyện, có lúc nhà văn cũng sử dụng lời văn

nửa trực tiếp, tức lời gián tiếp nhưng mang ý thức nhân vật. Chẳng hạn khi viết về người

mẹ, bao giờ nhà văn cũng thể hiện những cảm xúc rất chân thành:

"Mẹ tôi mỉm cười nhìn tôi-ôi! Cái mỉm cười của một người mẹ [15;48] Câu văn trên

vẫn là lời gián tiếp của chủ thể kể nhưng trong đó đã thể hiện cảm nhận của người kể đối

với nhân vật cho nên tuy là lời kể gián tiếp nhưng đã mang ý thức chủ quan của một

người với tư cách là một nhân vật trong truyện. Ở Thiên truyện cuối càng cũng có đoạn:

"Mấy âm ti giải dài cuối rừng, hình dung một đám tang huyền ảo. Hơi sống của anh

chỉ còn mấp máy ở cổ họng.Tứ chi anh ran lên một cơn nóng đột ngột: cơn sốt thương

82

hàn! Nếu được một điếu thuốc phiện! Trời ơi! Chỉ một viên nhỏ xíu, một chất đen tầm

thường, một liều thuốc hồi phục"[15; 190]

Ở đoạn văn này, lời văn vẫn là lời gián tiếp của người kể nhưng đã mang ý thức và

cả ngữ điệu của nhân vật. Đó là tâm trạng, là ý thức của một "kiếp ươn hèn, bỉ ổi", chỉ

biết thoa mãn "những cơn thèm thuồng hút xách miễn là lấp được cái đòi hỏi, còn nhân

cách, còn thiện lương, cái đó không nặng hơn một làn gió mái” [15; 187]. Nhà văn đã

không chỉ miêu tả, kể về nhân vật mà còn thâm nhập vào tận cùng bên Mong ý thức nhân

vật để cảm nhận cả tiếng kêu của nhân vật và nỗi khát khao đến tuyệt vọng- khát khao chỉ

một điếu thuốc phiện để hồi phục sự sống đã bắt đầu "tan dần theo hơi thỏ nóng bỏng".

Với hình thức câu ngắn, nhịp nhanh dồn dập, nhà văn đã diễn tả được cả ý thức cuối cùng

của một con người mà hơi thở sắp tàn chỉ cô níu kéo sự sông bằng cách trông vào một cái

phao yếu ớt: thuốc phiện như là một liều thuốc hồi sinh. Đoạn văn đã có sự hoa trộn giữa

giọng điệu của người trần thuật và giọng của nhân vật. Sự hoa trộn các giọng điệu này đã

thể hiện sự thâm nhập vào chiều sâu ý thức nhân vật của nhà văn. Lời văn nửa trực tiếp

trong trường hợp này đã phát huy tác dụng trong việc thể hiện ý thức nhân vật. Việc đưa

những lời nửa trực tiếp xen vào lời gián tiếp của người kể đã làm cho lời kể thêm sinh

động bớt đi sự đơn điệu trong cách kể.

Mặt khác với cách kể này, nhà văn vừa miêu tả diễn biến sự việc vừa thể hiện được

ý thức nhân vật và thế giới bên trong của nhân vật đồng thời cũng cho thấy được thái độ

cảm xúc của chủ thể kể đối với nhân vật.

Nhìn chung, cách kể của Hồ Dzếnh không sinh động, biến hóa như Nam Cao nhưng

tác phẩm của ông cũng tạo nên ấn tượng riêng qua cách kể đậm màu sắc chủ quan có xu

hướng hướng nội với lời văn nhẹ nhàng thấm đượm dư vị ưữ tình thống thiết như những

lời tâm tình gần gũi sâu lắng mà chân thành thiết tha.Chọn phương thức trần thuật chủ

quan kể từ ngôi thứ nhất "tôi", nhà văn đã diễn đạt được một cách sâu sắc, cảm động và

chân thành những tâm trạng, tình cảm và sự nếm trải của chính mình.Nhimg có khi để

cho câu chuyện diễn ra khách quan hơn, nhà văn đã chuyển từ ngôi kể thứ nhất sang ngôi

thứ ba để cho sự việc hiện dần lên và diễn biến cho đến khi kết thúc như nó vốn có. Ta có

83

thể thấy điểm này ở truyện Ngày gặp gỡ. ở truyện này, phần đầu nhà văn dẫn dắt câu

chuyện bằng lời gián tiếp của người trần thuật xưng "tôi", đó là những hồi tưởng từ hiện

tại của nhà văn hướng về quá khứ nhớ về người mẹ với một "duyên phận tăm tối và buồn

rầu" rồi suy rộng ra những mảnh đời đau khổ của những bà mẹ Việt Nam. Trong dòng

hồi tưởng đó, nhà văn cho tái hiện lại "ngày gặp gỡ". Ở phần này, nhân vật "tôi"- người

kể chuyện như cố ý "tách mình ra khỏi sự đồng cảm rất lớn đối với các nhân vật và chỉ

hướng sự chú ý của người nghe vào những kết quả thuần túy " [55; 90]. Có ý tách mình

ra, người kể chuyện đã dẫn dắt câu chuyện từ ngôi thứ ba, không tham gia vào hành động

truyện mà để nó tự diễn ra như nó vốn có, lời kể trở nên khách quan và trang trọng hơn

bởi vì ở đoạn này người kể đang nói về sự gặp gỡ của người cha-người khách giang hồ

lưu lạc và người mẹ- cô gái lái đò trên sông Ghép. Tuy cố ý tách mình ra để câu chuyện

khách quan hơn nhưng người đọc đường như vẫn cảm thấy người kể xuất hiện phía sau

câu chuyện. Lời văn ở đây lộ rõ vẻ trang trọng đặc biệt là khi nhà văn miêu tả vẻ ngang

tàng đầy khí phách của một người Trung Quốc lưu lạc, người kể vẫn không giấu được

niềm ngưỡng mộ sâu sắc mặc đù đã cố thể hiện vẻ khách quan trong khi kể:

"Người khách lạ có chiếc trán rất lạ: nó nhỏ nhưng nhô ra một cách bướng bỉnh.

Nhất là đôi mắt, sắc như dao, bén như nước, nhìn vật gì thì như hút lấy vật ấy. Hai cái đặc

điểm đó nhất định không được tạo bằng thủy thổ Việt Nam mà là bằng tinh hoa của một

dân tộc khác. Một vẻ gì xương xương, rắn rắn độn khắp mình người khách, biến cái thân

thể thoạt trông thì gầy kia ra sự chịu đựng khó nhọc, ờ đấy, một nghị lực bền vững tiềm

tàng."

Ở đoạn văn này nhà văn đã chuyển sang phương thức kể khách quan nhưng vẫn bộc

lộ màu sắc chủ quan rõ nét.

Đặc điểm của lối kể theo phương thức chủ quan của Hồ Dzếnh được thể hiện trong

một tác phẩm khác của ông, đó là tác phẩm "Cuốn sách không tên".Ò tác phẩm này nhà

văn cũng xây dựng kiểu người trần thuật xưng "tôi "-vừa là người dẫn truyện vừa là một

nhân vật trong truyện- để đẫn dắt câu chuyện, ở kiểu trần thuật này, nhà văn đã trao vai

trò kể chuyện cho nhân vật "tôi" nến về cơ bản nhân vật "tôi' đã mang quan điểm chủ

84

quan của tác giả. Mặt khác nhân vật "tôi" cũng là một nhân vật trong truyện là người từng

chứng kiến sự việc xảy ra trong truyện, cùng tham gia vào hành động truyện nên sự việc

được kể thể hiện được tính khách quan như nó vốn có trong cuộc sống.Tác phẩm được kể

chủ yếu theo điểm nhìn của người kể chuyện. Tác giả đã xây dựng nên hình ảnh người kể

và ủy thác cho nhân vật này vai trò kể chuyện. Lời gián tiếp của người kể chuyện ở đây

mang một đặc điểm riêng, đó là "lời gián tiếp phong cách hoa", tức là "lời gián tiếp

phỏng theo một lời nào đó, ý thức nào đó" [43;336]. Đó là ý thức của một đứa bé chỉ mới

là cái bào thai ữong bụng mẹ cho đến khi mẹ chết thì nó cũng chỉ mới vài tháng tuổi.

Chọn ý thức của một đứa bé ngây thơ để trần thuật, tác giả đã làm bật lên nỗi bất hạnh

của đứa trẻ khi phải chứng kiến cảnh ly tán của gia đình, cảnh người thân cứ lần lượt ra

đi. Câu chuyện được kể theo điểm nhìn và dòng ý thức ngây thơ của đứa ữẻ làm cho

người đọc có cảm giác như đang trực tiếp chứng kiến câu chuyện xảy ra với những cảnh

đời đau thương trước mắt.Người đọc cũng dễ có sự đồng cảm với những cảm xúc ngây

ngô, rất thật của đứa trẻ .Đó là cái cảm nhận của một đứa trễ về nỗi nghèo đói của cha mẹ

đến nỗi " không đêm nào không có tiếng bàn bạc to nhỏ của cha mẹ tồi về đồng tiền". Có

thể dẫn ra đoan văn sau đây:

"Mẹ tôi lo lắng nhiều nên đã hai phen tôi bị xúc động trong bụng. Một lần tôi cựa

quậy, thiếu chút nữa cái màng bọc thai rách ra.Lần thứ hai tôi làm lộn xộn bụng người mẹ

lên, vì dòng sữa nuôi tôi đâm ra thiếu. Mỗi lần như vậy, tôi đều bị một chất nước khai

khai, hăng hăng và mằn mặn hoa vào mùi gay gắt của lá ngải cứu trấn áp, nên đáng lý

làm xẩy tháu tôi lại nằm yên” [16;222-223]

Lời kể đã thể hiện cái nhìn ngây ngô và cách kể hồn nhiên của trẻ thơ từ đó hiện

thực cuộc sống hiện ra mang nét khách quan chân thật Trong câu chuyện này, nhãn vật

"tôi" là nhân vật phụ, người'chứng kiến câu chuyện để kể lại cuộc đời của nhân vật chính-

người cha.Toàn bộ mạch truyện được trần thuật bằng lời gián tiếp của nhân vật "tôi "-

người kể chuyện nhiủig xen giữa những lời tự sự về nhân vật, chủ thể'kể cũng bộc lộ cảm

xúc đối với nhân vật được kể. XThẳng hạn đoạn kể về người cha giúp vợ trong cuộc sinh

nở dưới cơn mưa tầm tã ở một căn lều dựng tạm, người kể, nhân vật 'tôi" cũng là đứa trẻ

85

mới lọt lòng mẹ đã vừa kể lại những động tác của người cha vừa chen vào đó những cảm

xúc, suy nghĩ của mình:

"Tắm rửa cho tôi xong-ôi đôi bàn tay người đàn ống vụng dại-cha tôi bế tôi và

khiêng mẹ tối vào nhà trọ. Lúc đó trời vừa hửng sáng. Màu xanh ngần qua những kẽ là

còn lóng lánh nước mưa. Gió thoảng đưa vào nhà hương cây chanh mới được ướp lại"

[16:212]

Trong đoạn văn trên, lời kể gián tiếp đã bao hàm trong đó lời trực tiếp của người kể

tạo thành lời văn nửa trực tiếp. Có khi chủ thể kể thâm nhập vào những suy tưởng của

nhân vật để phát hiện ra mọi tình cảm, tâm lý nhân vật bằng cách đưa vào lời văn nửa

trực tiếp. Ở đây đã có sự pha trộn giữa lời gián tiếp của người kể với lời độc thoại nội tâm

của nhân vật. Người kể như hoà vào nhân vật để phát hiện, khám phá những suy tư của

nhân vật. Có thể dẫn ra đoạn văn sau đây để thấy rõ điều này:

"Ý nghĩ thoảng đến làm thầy giáo run. Thầy nghĩ đến cái xe đạp cửa mình. Thầy

muốn bán nó đi. Bởi vì vợ thầy đã đẻ, con thầy những hai đứa còn non, mà lương hàng

tháng lại chậm và ừ. Đành rằng bán xe thì chỉ có nước đi bộ, kéo lê hàng mấy chục cây số

đến trường. Nhưng còn hơn là để nó mà vợ con đói. Nó cũng là vợ đấy, người vợ bằng

sắt, người vợ đã dắt dìu chồng trong mấy năm nay, từ trường này đến trường nọ. Nó chỉ

phải cái tội là hay dở chứng luôn, lúc thì đứt xích, lức lại long cá, lức phì hơi. Đi nhanh

nó kêu kèn kẹt, chồm lên ở những mô đất lồi lõm. Nhưng ân nghĩa tao khang cũng còn

bằng mấy so với đôi chân cuốc bộn[16;225]

Ở đoạn này mấy câu đầu là lời gián tiếp, mấy câu sau thì lời kể đã mang ý thức

nhân vật như là những dòng độc thoại nội tâm được thể hiện bằng những lời nửa trực tiếp

cho thấy sự đấu tranh tư tưởng của nhân vật khi thoáng hiện ra trong đầu ý nghĩ bán chiếc

xe đạp mà ông coi là "ân nghĩa tao khang". Trong lời văn vừa có giọng của người kể, vừa

có giọng của nhân vật. Tuy nhiên ngôn ngữ thể hiện lời độc thoại nội tâm chưa được cá

thể hoa theo ngôn ngữ của nhân vật. Rõ ràng người kể chuyện đã muốn len vào dòng tâm

tư nhân vật để tái hiện những cảm xúc suy tư của nhân vật. Cho nên đoạn văn trên về

86

hình thức tuy vẫn là ngôn ngữ của người kể chuyện nhưng trong đó đã xuất hiện bóng

dáng nội tâm, những suy tư trăn trở của nhân vật khi quyết định phải bán chiếc xe.

Rõ ràng Hồ Dzếnh đã thực hiện lối viết vừa kể vừa tả tâm trạng nhân vật. Cùng với

việc tái hiện lại các sự kiện, người kể đã đi sâu vào ý thức nhân vật để phát hiện tâm tư

suy nghĩ của nhân vật. Điều này đã làm cho khoảng cách giữa tác giả và nhân vật đã được

thu hẹp tối đa.

Cuốn sách không tên chủ yếu được tiến hành kể từ điểm nhìn trần thuật của nhân

vật "tôi", người kể chuyện. Nhưng có khi nhân vật "tôi" ấy lại trao điểm nhìn cho nhân

vật và vì thế từ ngôi kể thứ nhất sang ngôi thứ ba, lời kể trở nên khách quan hơn, giữa

người kể và nhân vật cũng tạo nên một khoảng cách nhất định. Đó là đoạn kể về người

cha, một thầy giáo nghèo với vợ và hai đứa con còn non nhưng rất tận tâm trong

nghề.Không gọi nhân vật là Cha mà gọi bằng Thầy, người kể như cố tách mình ra khỏi

câu chuyện để câu chuyện tự nó diễn ra:

"Thầy mới có ý định bán xe mà đã buồn rười rượi. Cái đống sắt kia chỉ đáng vài

trăm là hết nước. Nhưng tình khăng khít kỷ niệm mới thật là to, là nặng.Phảỉ, những hôm

trời chiều bảng lảng, tan buổi học về, bánh xe kêu ro ro trên con đường đê nghe vui tai lạ.

Đứa con của thầy giáo ngồi phía trước, sung sướng được bố đưa đi chơi. Và cũng có

những đêm mưa lạnh, xe trườn lên lớp bùn làm quấn bánh lại, bồ hôi người đạp lẫn vào

lớp nước tát lên xe. Rất nhiều khi xe hằm ỳ ờ rìa đường ruộng. Cái thất vọng tưởng chừng

như bao la, gieo thành nỗi căm tức lên mấy thanh sắt tam giác, hình tròn, hình vồng cung,

đường kính.Nhưng khổ cực nhất là lúc người phải cõng xe, dò dẫm băng qua những chiếc

cầu tre eo ợt. Đến giữa cầu, cây tre rung lên, lớp lạt đứt, cả người, cả xe rung thành một

điệu xiếc bất đắc dĩ. Sắt đè lên vai ê ẩm, tiến cũng dở, lùi cũng nguy, Nước sông dưới kia

chảy xiếc, liệng đống sắt xuống lại không đành. Chỉ còn cách bò xấp, xe cõng trên lưng,

trườn từng đoạn một. Rồi cả xe, cả người nằm ngất ở bờ cỏ, trong thiên tâm sự bi đát có

lẫn điệp khúc anh hừng ca" [16,225 ]

Đoạn văn trên đã tái hiện lại cảnh người thầy khốn khổ đang suy tự nghĩ ngợi về

việc bán chiếc xe đạp.Chiếc xe tuy cũ kỹ nhiốig với thầy, nó như là một "người vợ bằng

87

sắt" và thầy đã xem nó là "ân nghĩa tào khang". Rõ ràng đoạn văn này không chỉ cho thấy

điểm nhìn của người kể mà còn chứa đựng điểm nhìn của nhân vật. Điểm nhìn ấy thể

hiện ở dòng hồi tưởng của nhân vật khi nhớ về những kỷ niệm khắng khít với chiếc xe và

nỗi buồn khi phải bán đi "người bạn sắt hay quấy rầy" nhưhg cũng là "ân nhân" kia.

Nhưng điểm nhìn của nhân vật cũng xen với điểm nhìn của người kể.Ta có cảm giác

người kể vẫn hiện diện dõi theo từng biểu hiện trong tâm tư nhân vật để góp tiếng nói

chia sẻ, cảm thông . Với sự hoa hợp điểm nhìn của người kể và của nhân vật, đoạn văn đã

làm nổi bật những cảm xúc chân thật, cảm động của nhân vật đồng thời cũng cho thấy cái

nhìn xót xa thương cảm của người kể đối với "thiên tâm sự bi đát" của nhân vật

Câu chuyện kể càng đậm chất chủ quan khỉ chủ thể kể luôn lộ diện qua những lời

trữ tình ngoại đề. Có thể nói chủ thể kể luôn ẩn hiện khắp các trang truyện và bộc lộ cảm

xúc qua từng biến cố của câu chuyện. Có thể dẫn ra đây một đoạn trữ tình ngoại đề trong

tác phẩm:

"Ai đã không may có một đứa con độ hai, ba tuổi chết, mới cảm thấy tất cả cái vô lý

của cuộc đời gọi tên là sô mạng. Những bước đi lâng chàng cứ nối rỗ mãi trong đầu óc

người làm cha mẹ và tiếng cười, điệu nói, ta chỉ muốn được nghe cho trọn khúc mà

không thể nào nghe được. Buổi bình minh bị tắt một cách vô lý kia cho ta cái hận tiếc vô

cùng trong một bất công vô tận. Rồi mãi mãi, ta nghe trên đường đời cũng tiếng cười, nói

ngày trước ở đâu đây, văng vẳng trên môi trẻ thơ khác, vạn thấy những dáng điệu chập

chững lặp lại, ám ảnh một cách nặng nề. Và ta thấy cái ly tình kia không thể nguôi bằng

một xum họp nào khác, làm mờ hết những tang tóc đã trải qua "[ 16;235-236 ]

Có thể thấy đây là đoạn văn thể hiện trực tiếp cảm xúc, suy ngẫm của người kể

ưưổc sự việc đau lòng: người anh, một đứa trẻ mới chỉ độ hai, ba tuổi đã phải ra đi thật

vô lý, "cái vô lý của cuộc đời, gọi tên là số mạng". Đó là tất cả nỗi tiếc hận vô cùng, cái

ám ảnh nặng nề trước cái "ly tình" đau đớn. Cái cảm xúc thường thấy ương cảnh sinh ly

tử biệt tưởng như không thể nén lại được cho nên người kể phải bộc lộ, giãi bày trực tiếp

bằng cả một đoạn văn trữ tình khi mạch truyện đang diễn tiến. Lời văn trực tiếp của tác

giả như đang hướng về phía người đọc để giãi bày và mong muốn tìm được một sự cảm

88

thông.Từ cách xưng hô ngôi thứ nhất "tôi" đã chuyển thành "Ta'khiến ta có cảm giác

khoảng cách giữa người kể và người đọc được rút ngắn và đoạn văn giống như lời trò

chuyện trực tiếp với người đọc.Ta cũng thấy đặc điểm này ở một đoạn văn khác:

"Ai nghe, ai hiểu, ai lý luận được cái yêu?Nố ở trong ta, quanh ta, bao la, thầm kín,

không hết bao giờ, dầu đời ta sẽ phải hết. Yêu như người bố nào đáy đêm tử hình của

con, đút lót với tên cái ngục, để tự mình bịt mặt lại, nhận lát kiếm thay con?Yêu như vậy

có cặp nhân tình nào yêu nhau nổi? Và yêu như mẹ yêu con, như tín đồ xả thân vì

Chúa.Những dòng máu kia, nóng hổi, cuồn cuộn, đã viết nên trang lịch sử diễm tình nhất

của nhân loại, chứng tỏ rằng nhân loại vẫn còn là con người- những con người máu mủ "

[ 16;214 ]

Ở đoạn văn này, người kể đang nói về tình yêu con tha thiết của người cha đến độ

muốn quay "rô ti" chúng lên thì đã dừng mạch truyện để phổ vào đó một khúc triết lý về

"cái yêu" qua một đoạn trữ tình ngoại đề thể hiện bằng lời trực tiếp của tác giả.

Ở Cuốn sách không tên, câu chuyện được kê theo phương thức trân thuật chủ quan,

trong đó người trần thuật xưng "tôi" vừa là người dẫn truyện vừa một nhân vật trong

truyện. Tuy kiểu trần thuật này không được cá thể hóa sâu sắc như ở Chân trời cũ, một

tác phẩm mang tính chất tự truyện mà ở đó nhân vật xưng "tôi "tự kể về mình, nhưng dấu

ấn chủ quan của người kể cũng thể hiện rõ ở cách trình bày sự kiện, ở việc bộc lộ cảm

xúc chủ quan với mức độ đậm đặc trong suốt câu chuyện.

Nhìn chung, phương thức trần thuật chủ quan là một lối kể chuyện mang đặc trưng

riêng trong văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh. Lối kể chuyện đậm chất chủ quan này đã đem

đến cho tác phẩm của ông, đặc biệt là Chân trời cũ, một nét đặc sắc riêng khó lẫn. Lơi kể

thấm đượm màu sắc chủ quan đã được cá thể hóa bởi một cái "tôi" với một thế giới tinh

thần và một sắc thái cảm xúc riêng tư. Lời văn của Hồ Dzếnh về cơ bản bao gồm lời gián

tiếp của người kể với lời trực tiếp của nhân vật hoặc của tác giả. Lời trực tiếp của nhân

vật thường thể hiện ở những đoạn đối thoại thuần túy của các nhân vật xen với lời gián

tiếp của người kể miêu tả giọng điệu, tư thế, ánh mắt, cử chL.của người nói. Đây là dạng

lời văn thường thấy trong tác phẩm của Hồ Dzếnh.Chẳng hạn ở đoạn văn sau đây:

89

"...Lần này thầy giáo ngoảnh mặt lên, nhìn ra ngoài rồi hỏi mẹ tôi:( Lời gián tiếp

của người kể )

- Bà kia muốn gì? (Lời trực tiếp của nhân vật) Tôi đứng ngay đậy thưa: (Lời gián

tiếp của người kể)

-Thưa thầy mẹ con.. (Lời trực tiếp của nhân vật)

- Xin cho nghỉ à? (Lời trực tiếp của nhân vật) Tôi cuống lên run run đáp:(Lời gián

tiếp của người kể)

- Thưa thầy, không ạ, mẹ con...mẹ con đưa bánh! (Lời trực tiếp của nhân vật)....

[15;47,48]

Trong tác phẩm của Hồ Dzếnh cũng thường thấy xuất hiện lời văn nửa trực tiếp, tức

là lời gián tiếp nhưng bao gồm những yếu tố khác nhau của lời trực tiếp như ý thức hoặc

ngữ điệu của nhân vật.Đặc biệt lời trực tiếp của tác giả dưới hình thức những lời trữ tình

ngoại đề xuất hiện thường xuyên trong tác phẩm Hồ Dzếnh tạo nên chất trữ tình đậm

đà.Ngôn ngữ chủ yếu là của người kể, tuy có lúc được cá thể hoa theo tính cách nhân vật

ở lời trực tiếp của nhân vật nhưng nhìn chung ngôn ngữ chưa thể hiện sự biến hoa đa

dạng như ở những tác phẩm của Nam Cao.Tuy nhiên ngôn ngữ lại là một phương tiện để

nhà văn bộc lộ, giãi bày tấm lòng chân thành của mình qua những trang văn. Chính vì

điều này nên Hoài Anh đã nhận xét:

"Có ai ngờ một người Minh Hương lại góp phần đưa "cái tôi chủ thể" hóm hỉnh mà

nồng nàn vào văn xuôi hiện đại Việt Nam và làm cho ngôn ngữ văn học giản dị, trong

sáng và thấm thìa hơn vì sự chân thành đáng quí" [1;1238] Điểm nhìn cũng ít thay đổi

chủ yếu là điểm nhìn chủ quan của người kể. Điều này thể hiện rất rõ trong Chân trời cũ ,

khi người kể chuyện vừa kể vừa xen vào mạch truyện những cảm xúc trực tiếp đối với

nhân vật hoặc là những lời trữ tình ngoại đề. Nhưng điểm đặc biệt ở Chân trời cũ là tuy

điểm nhìn ít thay đổi, chủ yếu là của người kể nhưng tính chất của điểm nhìn này có khác

nhau. Có khi đó là cái nhìn của một cậu bé non nớt ngây thơ, người chứng kiến khi câu

chuyện đang xảy ra trong quá khứ. Có lúc đó là điểm nhìn của một người đã trưởng

90

thành, chín chắn, từ hiện tại qua dòng hồi tưởng mà hướng về quá khứ. Cho nên ở đây có

sự xen kẽ giữa điểm nhìn của một người ở quá khứ với điểm nhìn ở hiện tại tạo thành một

sợ nối tiếp giữa quá khứ và hiện tại làm cho các câu chuyện trong Chân trời cũ tuy được

kể chủ yếu bằng một giọng, một phong cách ngôn ngữ và một điểm nhìn duy nhất của

người kể nhưng không đơn điệu. Người kể vừa hồi tưởng về quá khứ để kể về câu chuyện

của những người thân và những cảm nhận non nớt của mình khi câu chuyện xảy ra đồng

thời cũng từ hiện tại, người kể thể hiện những suy ngẫm của mình để phán xét bản thân.

Cho nên điểm nhìn trong Chân trời cũ thường có sự di động từ quá khứ đến hiện tại. Dẩn

vào điểm nhìn của nhân vật ở quá khứ, tác giả thường giới thiệu bằng những trạng ngữ: "

Ngày nhỏ", "Hồi ấy", "Năm tôi còn nhỏ", "Một buổi sáng năm ấy", ....Và khi diễn tả cảm

xúc ở hiện tại, nhà văn lại dùng trạng ngữ: "Ngày nay", "Và đến ngày nay", "Và bây giờ"

Chính điểm nhìn của nhân vật "tôi"- người kể đã cho phép ông tự bộc lộ, giãi bày tâm can

của mình như những lời tâm tình thống thiết với người đọc. Trên cái nền tâm tư tình cảm

của chính nhà văn mà những số phận thăng trầm của con người dần dần hiện lên. Phong

Lê đã nhận xét xác đáng khi cho rằng "tác giả đã đặt toàn bộ thế giới con người vào một

màn sương tâm tình và người viết như muốn trải lòng ra để yêu thương tất cả" [ 41;

108,109]. Chú trọng, quan tâm đến việc bày tỏ tâm tư của mình nên ông ít đi sâu vào

miêu tả thế giới nội tâm của nhân vật. Có thể nói, ở Chân trời cũ, " cái tôi của tác giả vừa

là chủ thể thẩm mỹ lại vừa là đối tượng thẩm mỹ và chất liệu chính để tạo nên tác phẩm

là hiện thực nội tâm của nhà văn" [28;41]

2.1.2.Lời văn nghệ thuật được tổ chức theo phương thức trần thuật khách quan:

Ngoài cách kể chuyện theo phương thức trần thuật chủ quan, những tác phẩm văn

xuôi nghệ thuật của Hồ Dzếnh còn được tiến hành kể theo phương thức trần thuật khách

quan. Đây là một hình thức phổ biến của tác phẩm tự sự. Đó là cách "trần thuật từ ngôi

thứ ba không nhân vật hoa mà đằng sau là tác giả" [55;92 ]. Ở lối kể này, câu chuyện

được kể với "người kể chuyện như đứng kín đáo ở một chỗ nào đấy, chứng kiến hết mọi

sự việc xảy ra nhưng không tự mình trực tiếp tham gia vào các diễn biến" [66;16]. Nhà

văn là người biết hết mọi việc nhưng đứng ở vị trí khách quan và "xuất hiện như một

91

người tường thuật vô nhân xưng đứng ngoài tác phẩm của mình" và "không được nhân

vật hóa" [37; 164]. Giữa nhà văn và nhân vật, do đó, luôn tồn tại một khoảng cách. Câu

chuyện được kể lại một cách khách quan bởi ở đây "người trần thuật nói về các sự kiện

với một sự yên tĩnh điềm đạm, anh ta vốn có một cái tài "biết hết" và hình tượng anh ta là

hình tượng của một sinh thể sống trên thế giới mang lại cho tác phẩm một màu sắc khách

quan tối đa" [ 55;90 ]

Để tiến hành kể theo phương thức này, Hồ Dzếnh cũng dùng lời gián tiếp để tái hiện

lại câu chuyện, sự việc hoặc miêu tả giọng điệu, tính chất của lời nói nhân vật ở những

đoạn đối thoại giữa các nhân vật. Lời trực tiếp của nhân vật cũng thường thể hiện ở

những đoạn đối thoại thuần tuy giữa các nhân vật. Ngoài đối thoại Hồ Dzếnh cũng chú ý

miêu tả độc thoại nội tâm của nhân vật. Để tái hiện những đoạn độc thoại nội tâm này,

nhà văn thường dùng xen kẽ lời gián tiếp của người kể để "giải mã" những cảm xúc, suy

nghĩ của nhân vật với lời văn trực tiếp để tái hiện lời nói bên trong của nhân vật. Trong

tiểu thuyết "Mọi chuyện tình mười lăm năm về trước" (ký bút danh Lưu Thị Hạnh), Hồ

Dzếnh thường sử dụng cách thể hiện độc thoại nội tâm này.Chẳng hạn đoạn văn sau đây:

"Tự nhiên Nguyện thở dài. Tâm hồn nàng cảm thấy bâng khuâng quá, khi nàng nhìn

mấy chiếc lá khô cuốn theo sau tàu. Nhìn người thanh niên không một phút nào nhìn

Nguyện, Nguyện buồn bã nhận thấy cái vẻ nhũn nhặn ngụ một ý nghĩ đau khổ của những

kẻ sống trong một hoàn cảnh không thể cung phụng sự thỏa mãn cho ước vọng của mình

được.

-"Thì tốt hơn là đừng để ý đến ai, nếu mình muốn khỏi bận bịu vì những sự so sánh

không tốt"

Nguyện đã có lần nghĩ như thể. Cái trán mang buồn trước tuổi kia biết đâu lại

không nghĩ như thế. Sự không chấp, không cần chấp, khéo che che đậy đậy mà loài người

tưởng là nhũn nhặn kia, Nguyện-vì nàng đã từng hơn một lần nghĩ như thế- Nguyện cho

là sự khinh thể ngạo vật, cử chỉ đặc biệt, chỉ có thể có ở những người cùng một hoàn cảnh

như nàng. Nguyện đã quay nhìn người thanh niên ấy đến lượt thứ ba, nhưng không lần

nào nàng gặp mắt anh ta cả. Nguyện ước ao một cách táo bạo sự tình cờ nào đó giúp áng

92

gần chàng đề hiểu chàng thêm. Ý nghĩ ấy làm cho Nguyện hổ thẹn như khi vừa phạm

lỗi...." [22; 16-17 ]

Trong đoạn này chủ yếu là lời gián tiếp của người kể khi tái hiện những dòng suy

nghĩ miên man của Nguyện đối với người thanh niên nghèo tên Thúy mà nàng đã gặp

hàng ngày trên tàu.Để tránh sự đơn điệu trong cách miêu tả nội tâm, tác giả đã xen vào

dòng độc thoại nội tâm ấy lời nói nội tâm được tái hiện trực tiếp của nhân vật. Lời nói ấy

được tách hẳn ra bằng lời trực tiếp. Cách thể hiện độc thoại nội tâm như thế thường thấy

trong văn xuôi Hồ Dzếnh.

Đây là một đoạn văn khác trong tiểu thuyết Cô gái Bình Xuyên diễn tả những suy

nghĩ của Tăng khi cầm trong tay chiếc ví của cô Hai Kim Đính:

"Chiếc ví tay đựng mấy xếp giấy bạc trăm, thêm chuỗi hạt ngọc, vòng, nhẫn quý

giá. Không hiểu sao, Tăng thây mình có ý nghĩ khác. Chàng nhớ đến cảnh gia đình thanh

bạch của mình, nhớ đến bao nhiêu lần cực khổ chạy đi kiếm từng chục bạc. Chàng nghèo

mà cô Kim Đính thì giàu. Nàng giàu một cách lộ liễu, bừa bãi, cái giàu tối kỵ sự chắt

bóp, của một kẻ không bao giờ cần đếm tiền. Nếu Kim Đính vỉ yêu chàng, cho chàng tất

cả vàng bạc? Chàng sẽ sung sướng, nhà chàng sẽ đủ tiêu, chàng sẽ có địa vị. Nhưng cùng

lúc đó, Tăng tự hổ thẹn, cáu với mình:

-Ta mê muội rồi! Sao lại phải để ý đến những của bất lương. Ta đã thề suốt đời

trong sạch kia mà!...[3;445-446]

Ở đoạn văn này , phần đầu là lời gián tiếp của người kể để tái hiện nội tâm nhân vật,

phần sau nhà văn lại dùng lời trực tiếp để thể hiện lời nói bên trong của nhân vật.Cách thể

hiện này làm cho những suy nghĩ của nhân vật được tái hiện khách quan và lời văn cũng

bớt đơn điệu hơn.

Ở phương thức trần thuật khách quan, người kể thường giấu mình đi để đảm bảo

tính khách quan trong khi kể. Nhưng trong những tác phẩm của Hồ Dzếnh lại có những

khác biệt đáng kể. Trước hết, tuy chủ thể trần thuật vẫn đứng ngoài câu chuyện kể lại sự

việc nhưhg dường như đã không "có ý tách mình ra khỏi sự đồng cảm rất lớn đối với các

93

nhân vật" [55;90 ] mà luôn hiện diện để tìm cách bộc lộ, bày tỏ cảm xúc về sự kiện, con

người được miêu tả qua những lời bình giá, nhận xét mang tính chất chủ quan.Điều này

thể hiện rõ trong tiểu thuyết Cô gái Bình Xuyên. Tiểu thuyết này được kể theo phương

thức khách quan nhưng khi đọc tác phẩm, người đọc có cảm giác dường như người kể

luôn hiện diện bàng bạc khắp câu chuyện.Có khi bóng dáng người kể xuất hiện trực tiếp

ở những lời giới thiệu, dẫn giải về những gì anh ta sắp kể:

"Ở đây người viết sách chỉ muốn ghi lai rất sơ lược cái tình trạng gay cấn của Nam

Bộ, trong lúc người Pháp khởi cuộc xung đột và đoàn quân Bình Xuyên ra đời. Một vài

nhân vật đã hùng liệt tuẫn tiết, hoặc đã kháng chiến đến giọt máu cuối cùng, chỉ thoáng

qua trong cuốn truyện này với vài nét sáng láng, cốt nhường chỗ cho cái địa hạt thuận lợi

của tiểu thuyết mà vai chính là một cô gái Sài Gòn: cô Hai Kim Đính "[3;427]

Có khi thái độ chủ quan của người kể bộc lộ trực tiếp trong cách kể, trong những

tình huống mà tác giả miêu tả, những chi tiết tác giả sắp đặt nhất là khi kể về lịch sử đảng

Bình Xuyên, nhà văn không hề che giấu thái độ cảm phục đối với những con người của

đảng Bình Xuyên, cũng như niềm cảm thương đối với Mười Nhỏ, một con người ngang

dọc, một danh tướng của Bình Xuyên đã bước vào "con đường định mệnh thê thảm của

mình ".Có lúc hình ảnh người kể xuất hiện qua những lời bình luận mang tính chất chủ

quan về lịch sử đảng Bình Xuyên:

"Lịch sử đảng Bình Xuyên, đến ngày nay, gần bị mờ nhạt hẳn, do sự lãnh đạm rất

đáng tiếc của những người cầm bút. Lịch sử đó biển ra những giai thoại, trong ấy, nhà

viết sách phải hết sức thông minh để gạn lấy cái tính chất thiết thực. Bình tĩnh mà xét,

đảng Bình Xuyên hơn hẳn những tay "cướp" lợi hại nhất thế giới, như AI Capone của

Mỹ, Mandrin Cartouche của Pháp

Đặng Thai Mai đã nhận xét rất chính xác khi cho rằng tiểu thuyết Cô gái Bình

Xuyên dù chỉ là "một tập sách nho nhỏ thôi nhưng nó vẫn chứng thực một nhân sinh

quan, một thái độ nhận thức bạo dạn và chắc chắn. Hồ đã được trông thấy những giờ

oanh liệt trong công cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Hồ vẫn mang nặng mối tình hoài đối

với dân tộc Việt Nam" [3; 89-90]

94

Như vậy trong tác phẩm của Hồ Dzếnh, sự việc được miêu tả không hoàn toàn

mang tính khách quan trung tính mà đã mang tính chất trữ tình do những cảm xúc chủ

quan của chính người kể mang lại. Đây là đặc điểm của loại văn xuôi trữ tình mà chúng

ta cũng thường thấy trong những tác phẩm của Thạch Lam, Thanh Tịnh.

Ở phương thức trần thuật khách quan, chủ thể kể thường đứng ở vị trí khách quan

giấu mình rất kỹ, do đó thường có khoảng cách rất lớn giữa người kể và nhân vật. Trong

tác phẩm của Hồ Dzếnh, tuy người kể vẫn đứng ở vị trí khách quan nhưng khoảng cách

giữa tác giả với nhân vật không nhiều thậm chí có lúc nhà văn như muốn hoa mình vào

nhân vật. Đó là khi tác giả đi sâu tìm hiểu và phơi bày thế giới tâm hồn sâu kín của nhân

vật để rồi khi tái hiện lại câu chuyện, nhà văn vừa kể lại sự việc đồng thời vừa đi vào

từng biểu hiện phức tạp trong tâm lý của nhân vật. Với lối kể này ta thấy Hồ Dzếnh phải

có những hiểu biết sâu sắc về nội tâm nhân vật, phải thường xuyên thâm nhập vào những

cảm xúc, suy nghĩ có tính chất riêng tư của nhân vật để phơi bày, để phân tích. Ở "Một

truyện tình mười lăm năm về trước", chủ thể kể thường xuyên thâm nhập vào suy tưởng

nhân vật, do đó có sự pha trộn giữa lời kể gián tiếp của tác giả với những lời độc thoại

nội tâm của nhân vật tạo thành dạng thức lời nửa trực tiếp, một kiểu lời nói mà "đặc tntìig

cơ bản của nó là trên nền phát ngôn duy nhất cùng tồn tại hai tiếng nói, hiện diện hai chủ

thể cùng hướng đến độc giả "[8;68]. Có thể dẫn ra đoạn văn sau đây:

"Nguyện đọc bức thư một lượt, rồi nàng đọc lại lần thứ hai. Nàng không ngờ có sự

trả lời khôn khéo đến như thế. Quân cũng thật lòng yêu nàng ư?Tình yêu ấy, Nguyện

đoán cũng có đủ đau khổ, hy vọng như bao nhiêu tình yêu khác, nhưng chỉ vì Nguyện

không đề ý đến thôi. Nguyện tưởng quân cũng chỉ hỏi nàng như những người khác, mà

không ngờ Quân cũng thành thật yêu nàng như Thủy"[22;81]

Rõ ràng đây là lời gián tiếp của người trần thuật nhưng cái nền ngôn từ ấy đã mang

đậm ngữ điệu, tình cảm và suy nghĩ của nhân vật. Chủ thể trần thuật đã tham gia vào ý

thức nhân vật làm cho khoảng cách giữa tác giả và người kể được rút ngắn dần và điều

này cũng thể hiện sự đồng cảm của tác giả đối với nhân vật mang lại cho tác phẩm chất

trữ tình đậm đà. Điểm nhìn vì thế cũng có sự thay đổi linh hoạt. Trần thuật theo phương

95

thức khách quan theo cái nhìn của một chủ thể vô hình nhưng có khi tác giả cũng xen vào

điểm nhìn của nhân vật. Lời văn vì thế là của tác giả nhưng đã chứa đựng ý thức nhân

vật. Điều này chứng tỏ nhà văn không chỉ trần thuật những sự việc, câu chuyện mà còn

thâm hhập vào những ngõ ngách sâu kín trong tâm tư nhân vật. Xin dẫn ra đây một đoạn

văn trong truyện ngắn Nhà nhiều con:

"Trong đầu óc còn non nớt của nó, sớm đã hình thành một cửa hiệu bánh bao, tỉm

xắm nguy nga. Tiền công mỗi tháng ba đồng, nó nhất định cất vào một chỗ bí mật. Tiền

cắt tóc, tiền xà phòng đã cố chủ cấp. Nó chẳng phải lo gì hết. Cuối năm nó sẽ có một số

tiền khá, cộng với tiền hoa hông ngày giáp Tất, có thể đến một trăm. Nó tính sẽ làm việc

trong mười năm, khi ra đứng cửa hiệu riêng, bản lĩnh tay nghề là chân thớt ba, chỉ kém sư

phụ xấp xỉ hai bậc. Nó vừa bưng bát vằn thắn từ dưới bếp lên, đặt trước mặt khách, vừa

tính toán như vậy[53; 120,121] Trong đoạn văn, lời người kể đã thể hiện điểm nhìn và sự

suy nghĩ của nhân vật. Đọc đoạn văn người đọc như trực tiếp nghe thấy những tính toán

trong đầu thằng Lồng với ý thức của một đứa trẻ còn non nớt nhưng đã biết tính toán cho

tương lai của mình. Sự trực tiếp phơi bày ý thức của nhân vật với điểm nhìn đã trao cho

nhân vật như thế, nhà văn cũng đã thể hiện được tính cách của đứa trẻ con nhà nghèo

sớm già dặn trước tuổi. Ta cũng thường thấy sự đan cài điểm nhìn của người kể và nhân

vật trong những tác phẩm văn xuôi khác viết theo phương thức khách quan của Hồ

Dzếnh.

Ở "Mọi chuyện tình mười lăm năm về trước", câu chuyện lúc đầu được kể ở ngôi

thứ nhất "tôi" với vai trò người dẫn truyện và cũng là một nhân vật trong truyện để dẫn

vào câu chuyện chính. Phần này chỉ vẻn vẹn vài trang có tác dụng dẫn dắt, giới thiệu

nhân vật chính, hè mở cho người đọc thấy được phần nào tính cách của nhân vật và làm

tăng tính chân thật cho câu chuyện. Cho nên khi nhân vật trực tiếp xuất hiện ở phần sau

thì nhờ phần giới thiệu ấy mà nhân vật không còn xa lạ với người đọc. Sau đó câu chuyện

lại được kể theo ngôi thứ ba theo kiểu trần thuật khách quan để câu chuyện diễn ra như tự

nó vốn có.Điểm nhìn vì thế cũng thay đổi. Lúc đầu là điểm nhìn của người kể chuyện

xưng "tôi" nhưng khi chuyển vào cách kể khách quan thì câu chuyện được kể theo điểm

96

nhìn của chủ thể trần thuật vô hình. Tuy vậy người kể vẫn thường xuyên trao điểm nhìn

cho nhân vật, có khi còn có sự luân phiên giữa điểm nhìn của nhân vật này với điểm nhìn

của nhân vật khác. Đây là một đoạn độc thoại phơi bày trực tiếp tâm trạng của Nguyện

khi gặp Thúy, người mà nàng đã kín đáo để ý trên tàu:

"Nguyện thầm ước vô lý và hết sức trẻ con, rằng Thủy chỉ có hai đồng xu ấy để

nàng lấy hộ vé cho Thủy, nếu thật rằng số tiền có hạn kia đã trót tiêu đi vì một việc nghĩa

con con rồi! Nhưng nàng phải buồn ngay, khỉ Thủy đưa mấy đồng xu khác để lấy vé.

Nàng muôn khen Thủy một câu hay nhìn Thúy để khích lệ một cách kín đáo. Thủy hình

như cố giữ ý, Vi không bao giờ chàng dám nhìn Nguyện-hay chàng có nhìn Nguyện,

những lúc Nguyên không nhìn chàng?"[ 22;28 ] Đoạn văn này tuy là ngôn ngữ của người

trần thuật nhưng đã chứa đựng ý thức và điểm nhìn của nhân vật, thấm nhuần những suy

nghĩ, cảm xúc của nhân vật. Đây là một đoạn văn khác:

"..Mối tình đầy hứa hẹn, phút chốc đổi thành vô nghĩa: Thúy tưởng như có ai vừa

xoay hẳn cuộc đời chàng lại, cỏ ai vừa đảo lộn những sự xếp đặt mà mới hôm qua đây

Thủy còn tha thiết tin ở sự thành đạt.

- Vô lý! Sao lại có sự vô lý đến thể này? Thúy tự hỏi mình như thế, và không lần

nào chàng tìm thấy câu trả lởi. Những sự bỏ nhau tàn bạo, mau chóng, Thúy chỉ mới đọc

thây trong tiểu thuyết mà chưa được chứng kiến trong đời. Thúy không ngờ rằng Nguyện

lại có thể bỏ chàng một cách không thương tiếc như thế được. [22;124-125 ]

Đoạn văn này lại chứa đựng điểm nhìn của Thúy trong dòng độc thoại nội tâm ương

đó chứa đựng những suy tư ưăn trở của nhân vật, có cả những đau đớn xót xa khi nghe tin

người yêu đi lấy chồng.

Ta cũng thấy hiện tượng nhà văn chuyển điểm nhìn cho nhân vật và sự thay đổi

điểm nhìn ở các nhân vật ưong tiểu thuyết Cô gái Bình Xuyên. Chẳng hạn đoạn văn sau

đây:

"Kim Đính muốn vĩnh viễn dừng chân bên Tăng nhưng cuộc đời lại muốn Tăng

dừng chân bến những tấm lòng khác, cho đến ngày chàng đã tận hiểu cái ý nghĩa của vẻ

97

đẹp trên đời. Trong cuộc tình duyên đương diễn ra, Tăng chỉ là người đi qua, còn Kim

Đính là kẻ muốn ở lại. Hai tâm trạng trái ngược nhau trong hai cảm tình mâu thuẫn. Bao

nhiêu lần khép mình vào im lặng, Kim Đính rùng mình tiên đoán cái ngày nàng sẽ mất

bạn. nàng sẽ mất tăng, trời ơi, nàng sẽ mất Lý Tưởng. Cuộc đời Bình Xuyên không bao

giở còn trao cho nàng những cảm hứng say sưa, ngang dọc nữa. [ 3:475-476 ]

Ở đoạn văn này, phần đầu là ngôn ngữ và điểm nhìn của chủ thể trần thuật nhưng

phần sau, nhà văn đã trao điểm nhìn cho nhân vật trực tiếp bộc lộ ý thức, suy nghĩ thầm

kín của mình. ở đoạn văn khác lại thể hiện điểm nhìn của nhân vật Tăng:

"Để được trong sạch như cũ, Tăng trở dậy kéo ghế lại ngồi phía sau cửa. Nhưng

chàng vẫn mường tượng thấy hình bóng của Kim Đính trong muôn ngàn hình bóng hoạt

động của Chợ Lớn. Tăng bát đâu nhớ. ơ đâu lưỡi chàng, đêm đã qua còn để lại một dư vị

lưu luyến. Tăng tự thú rằng mình đã yêu Kim Đỉnh, băn khoăn, hồi hộp vì sự vắng mặt

của nàng. Nhưng nàng đi đâu? Làm gì? Đó là tất cả những bí mật mà Tăng quyết phá

thủng bằng ái tình. [3;446]

Rõ ràng dạng thức lời nói nửa trực tiếp trong những trường hợp này đã phát huy tác

dụng ừong việc thâm nhập vào ý thức của nhân vật tạo nên cách kể linh họat, tránh sự

đơn điệu trong khi trần thuật và cũng giúp cho nhà văn khám phá những biểu hiện phức

tạp trong thế giới nội tâm của nhân vật.Việc chuyển đổi đan xen điểm nhìn trong tác

phẩm Hồ Dzếnh tuy chưa được thể hiện biến hoa sinh động như trong tác phẩm của Nam

Cao nhưng có thể nói đây cũng là một đóng góp cho sự phát triển của văn xuôi theo

hướng hiện đại.Ta cũng thấy đặc điểm này trong tác phẩm của Thạch Lam. Trong truyện

ngắn Đói,-đề miêu tả tâm trạng bi kịch của Sinh, sự thất vọng đau đớn khi phát hiện ra

rằng để có được thức ăn ngon lành, Mai, vợ chàng, đã phải "đem thân bán đi lấy một vài

đồng bạc". Thạch Lam đã chú ý "tìm vào nội tâm, tìm vào cảm giác" của nhân vật để mổ

xẻ, phân tích từng cảm giác, cảm xúc sâu kín của nhân vật. Giọng của nhà văn đã hoa vào

giọng của nhân vật. Điểm nhìn lúc này đã được nhà văn trao cho nhân vật để nhân vật

trực tiếp thể hiện cảm xúc của mình. Lời văn nửa trực tiếp cũng được nhà văn chú ý vận

dụng ưong trường hợp này:

98

"Tờ giấy trong tay Sinh rơi xuống lúc nào chàng cũng không biết. Một cái sức nặng

nề như đề nén lấy quả tim, làm cho chàng ngừng thở. Hình như một giây phút, bao nhiêu

cái hy vọng của đời chàng tan đì mất.

Sinh tưởng có thể chết ngay lúc ấy. Cái đau đớn chàng cảm thấy thấm thìa và sâu xa

quá.

Còn mong gì đó là một sự không thật, mật giấc mộng nữa. Không còn phải ngờ vực

gì, cái số tiền kìa chính là cái số tiền biên trong thư này. Ai cho vay mới được chứ! Sinh

nhớ lại những ngày đi hỏi tiền, những buổi trở về thất vọng và buồn rầu, những lời tha

thiết và oán hờn của vợ chàng kể lại, về cái lãng đạm hững hờ của những người nàng

quen biết. Bà Hiểu là bà nào! Chẳng qua là một sự bịa đặt ra để che mắt chàng..." [38; 58-

59 ]

Rõ ràng trong các tác phẩm của những nhà văn này, ta thường thấy tác giả trao điểm

nhìn cho nhân vật. Đó là kết quả của việc người trần thuật hoa mình vào nhân vật để tìm

hiểu khám phá thế giới tinh thần của nhân vật. Việc nhà văn thâm nhập vào ý thức nhân

vật để phơi bày, phân tích tâm lý, ngay cả những cảm giác mong manh thoáng qua của

nhân vật đã làm cho việc trần thuật mang tính khách quan nhưng cũng thấm đượm chất

trữ tình thể hiện ở sự hoa nhập, đồng cảm của tác giả đối với nhân vật. Điều này đã làm

nên một đặc điểm của loại văn xuôi trữ tình, một thể loại văn xuôi có xu hướng hướng

nội, có khả năng đi sâu vào thế giới bên trong của nhân vật với mọi biểu hiện của những

cảm xúc, cảm giác tinh tế.

2.2.Sắc thái biểu hiện của giọng điệu kể chuyện trong văn xuôi nghệ thuật Hồ

Dzếnh:

Vãn học là tiếng nói của nhà văn về cuộc sống. Mỗi nhà văn khi cảm nhận cuộc

sống đều thể hiện tiếng nói riêng của mình.Họ đã tìm cách thể hiện những tư tưởng, hình

tượng của mình một cách hấp dẫn bằng những phương tiện, những bút pháp đặc trưng từ

đổ tạo cho mình một phong cách riêng độc đáo.

99

Giọng điệu là một yếu tố quan ương của văn chương, là một trong những yếu tố

nghệ thuật cơ bản góp phần xác lập sự độc đáo của phong cách mỗi nhà văn.Nhà văn nào

trong tác phẩm của mình cũng đều thể hiện một giọng điệu riêng và đó chính là kết quả

của quá trình sáng tạo thực thụ ở mỗi nhà văn. Giọng điệu của tác phẩm bao giờ cũng gắn

với việc bộc lộ tư tưởng tình cảm của nhà văn. Nó biểu thị thái độ, cảm xúc của nhà văn

qua lời văn nghệ thuật. Chỉ khi nhà văn thực sự có những rung động sâu sắc chân thành

trước con người và cuộc sống thì mới tạo nên một giọng điệu riêng có sức truyền cảm

lớn, bởi vì "tất cả những gì truyền vào các hình tượng nghệ thuật đều mang trên mình nó

dấu ấn của những sự xúc động, những khát vọng, những tình cảm của nhà văn" [34; 113].

Cho nên "phân tích tác phẩm văn chương mà bỏ qua giọng điệu tức là tước đi cái phần rất

quan trọng tạo nên bản sắc độc đáo của tác phẩm" [33;53] và giọng điệu chính là "một

ưong những yếu tố để nhận ra giá trị của tác phẩm văn học" [47; 148]

Tác phẩm văn xuôi của Hồ Dzếnh nằm trong xu hướng sáng tác của loại văn xuôi

trữ tình, một loại văn thấm đẫm chất trữ tình, có tính chất hướng nội, mà ở đó "những suy

nghĩ mang tính cảm xúc của tác giả xâm nhập vào câu chuyện về các biến cố" [55; 140 ].

Nghiêng về việc bộc lộ cảm xúc chủ quan của nhà văn nên các tác phẩm của ông cũng

mang một giọng điệu riêng khó lẫn thể hiện qua lời văn nghệ thuật thấm đượm chất trữ

tình. Đó là một giọng văn trữ tình sâu lắng thấm đẫm cảm xúc và một giọng điệu buồn

thương man mác và đầy trắc ẩn xót xa khi hoài niệm về quá khứ.

2.2.1.Một giọng điệu trữ tình sâu lắng thấm đẫm cảm xúc:

Nằm trong xu hướng sáng tác của loại văn xuôi trữ tình, cũng như các cây bút thuộc

khu vực này (Thạch Lam, Thanh Tịnh...), Hồ Dzếnh cũng tìm đến cách biểu đạt lời văn

nghệ thuật đậm chất trữ tình tạo nên một giọng điệu riêng trong văn xuôi nghệ thuật của

ông, một giọng điệu trữ tình sâu lắng thấm đẫm cảm xúc. Có thể thấy rõ đặc điểm này

trong Chân trời cũ. Ở tác phẩm mang chất tự truyện này, yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình

được kết hợp ở mức ngang nhau, có khi những cảm xúc trữ tình của nhà văn cồn xâm

nhập cả vào câu chuyện, tình tiết làm cho mạch truyện phải dừng lại nhường cho việc bộc

lộ cảm xúc của tác giả. Những lúc ấy câu chuyện của Hồ Dzếnh âm vang giọng điệu trữ

100

tình sâu lắng. Đó là giọng điệu của những cảm xúc, suy tư, tâm trạng của nhà văn trước

những biến cố được gợi lại trong dòng hoài niệm của nhà văn. Những lời trữ tình ngoại

đề mà chúng tôi đã đề cập ở phần trên thường xuyên xuất hiện giữa mạch tự sự đã góp

phần hình thành nên đặc điểm của giọng điệu đầy cảm xúc này .Trong nhiều truyện, cảm

xóc của nhà văn được đặt ở vị trí trung tâm và các biến cố trong câu chuyện chỉ còn là cái

nền cho nhà văn bộc lộ tâm trạng. Có lẽ vì điều này cho nên trong Chân trời cũ những

câu văn tự sự thì thường ngắn và nhà văn lại thường chọn những câu văn dài để diễn tả

cảm xúc vì nó phù hợp với việc tái hiện những dòng tâm sự miên man không dứt của nhà

văn khi hướng về quá khứ. Có thể khảo sát đoạn văn sau:

"Mẹ tôi. Cái bóng mở ấy, nguyên nhân sự chua xót ở tôi, tôi vùng đứng dậy, như

mội người trác táng đứng dậy, ra ngoài đường hất đổ những tảng đau khổ trước mặt,

chạy đến với nó, ôm lấy nó, hồi sinh nó, như một bệnh nhân giăng cướp ngày sống khỏi

sa vào đôi tay tàn ác của tử thần. Nhưng tôi càng chạy đến,bóng mẹ tôi càng ra đi. Giữa

người và tôi, một sa mạc, trên đây, để yên ủi tôi, những làn gió mát từ phương trời tản

lại... và đó là kỷ niệm tôi chép ra đây" [15:50,51]

Đoạn văn trên được viết với những câu văn dài ngắn khác nhau. Câu đầu, chỉ hai

tiếng "mẹ tôi", là một hiện tượng ngữ pháp đặc biệt mà tác giả dùng để diễn tả qui luật

cảm xúc của cái tôi trữ tình. Hình ảnh người mẹ chính là nguyên cớ dẫn đến việc bộc lộ

nỗi niềm của nhà văn. Lúc này nghĩ đến người mẹ, cảm xúc của nhà văn không thể kềm

nén nổi nên đã tuôn ra thành dòng chảy không bến bờ với những sắc điệu cảm xúc chua

xót, đau khổ, nuối tiếc mỗi khi những kỷ niệm về người mẹ bất chợt hiện về .Trong

trường hợp này, câu văn dài đã phát huy tác dụng để diễn tả cảm xúc dào dạt của nhà

văn.Quả thật "một sự chọn từ nhất định và những cấu tạo ngữ pháp nhất định trong lời

nói (lời văn ) là phụ thuộc vào đặc điểm nội dung cảm xúc của các phát ngôn" [55; 144]

Trong Chân trời cũ, có những truyện xuất hiện dưới dạng một chuỗi những suy tư

trữ tình gắn liền với mạch tự sự. Tiêu biểu là truyện Thiên truyện cuối cùng. Ở truyện

này, mạch truyện được tiến hành kể với một giọng điệu đầy cảm xúc, người đọc tưởng

101

chừng như nghe thấy từng tiếng thổn thức của trái tim nhà văn, có khi lắng sâu trong cảm

xúc thương xót đối với người anh ruột thịt:

"Nhưng em thương anh lắm, anh Cả ạ, em thương anh, nghẹn ngào và tức tủi, bằng

những giây nhỏ nhất của cảm giác em, bằng những hơi thở âm u nhất của lá phổi em. Em

thương anh như thế thì linh hồn anh có mát mẻ không, hỡi người anh mà cuộc đời chỉ là

ngông cuồng và đau đớn, mai mỉa và hờn oán, hỡi người anh vô cùng nghệ sĩ đã không

thèm làm bài toán cho con đường mình."[15; 185]

Có khi lại là những cảm xúc đau khổ trong lời tự vấn lương tâm vì cho rằng mình là

người ích kỷ:

"Nhiều lần tôi rừng mình, hổ thẹn tưởng đâu cái linh hồn thân thích đương chau

mày nhìn tôi, soi mói vào những ý định bất chính của cây viết, những ý định mà người

đời gọi là tài năng, là nghệ thuật. Anh ơi, anh Cả ơi, nếu sau này phải có một di chúc cho

con cháu, thì câu đầu tiên duy nhất cửa em nói với chúng nó sẽ là: "Đừng bao giờ nên

làm văn sĩ hết”[15;185]

Có lúc cảm xóc lại dâng trào tạo thành những tiếng nấc nghẹn ngào, cuối cùng bộc

lộ thành những lời ai oán thống thiết não nùng:

"Anh ơi, anh rất đáng thương của em ơi, họ đã tìm thấy...anh rồi!" [15; 191]

Để tạo nên giọng điệu trữ tình dồi dào cảm xúc, không thể không nói tới vai trò của

ngôn ngữ. Chính ngôn ngữ đã góp phần hình thành nên giọng điệu tác phẩm. M.B.

Khrapchenkô đã khẳng định rất xác đáng rằng: "Với tư cách là một hiện tượng phong

cách, ngôn ngữ nghệ thuật thực hiện một chức năng phức tạp, nó tạo ra hệ thống giọng

điệu của tác phẩm văn học" [34; 191]. Ngôn ngữ chính là phương tiện biểu đạt của lời

văn nghệ thuật. Ngôn ngữ trong văn học là lời nói mang tính chất cá nhân cho nên nó

không còn mang tính chất khách quan trung tính mà chứa đựng cảm xúc của nhà văn.

Ngôn ngữ văn học đã chứa đựng cái hồn của người viết thông qua những biểu hiện của

cảm xúc, suy nghĩ. Ngôn ngữ ưong văn xuôi hiện đại có xu hướng xích lại gần ngôn ngữ

hàng ngày, tiếp nhận nhiều yếu tố của ngôn ngữ toàn dân kể cả tiếng địa phương và tiếng

102

lóng...đồng thời có khi nó còn tiếp nhận cả yếu tố của ngôn ngữ thơ tạo nên chất thơ

ương ngôn ngữ văn xuôi thật độc đáo.ở văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh, ngôn ngữ văn

xuôi của ông rất đậm chất thơ và rất giàu sắc thái trữ tình bởi vì nó đã bị chi phối gần như

tuyệt đối bởi cảm xúc chủ quan của nhà văn. Câu văn của ông đã chịu sự chi phối của

dòng hoài niệm của cái tôi trữ tình cho nên ngôn ngữ ở đây chủ yếu là ngôn ngữ của cảm

xúc, giàu giá trị biểu cảm, diễn tả một cách thành thực mọi sắc thái cảm xúc của tâm

trạng. Có thể tìm thấy rất nhiều câu văn như thế trong Chân trời cũ, chẳng hạn đoạn văn

sau:

“Nhiều lần ở xa, nhớ đến người con gái vô tình đi qua ngày tháng của tôi, tôi mang

máng nghe tỏa từ quãng mênh mông một tiếng gọi gì buồn bã, một tiếng gọi không hiểu

chính của lòng tôi hay của khu rừng lỉnh thiêng nghìn đời lặng lẽ:

- Em Fin! Em Fin!

Tôi còn yêu Fin được đến ngày nay, đó chỉ vì tôi ở xa Fin, và không bao giờ tôi gặp

Fin nữa. Muôn trùng sở dĩ rạo rực được lòng người, vì muôn trùng là nỗi thương nhớ

mênh mông của những tấm lòng rất bạn" [53; 53]

Có thể nói nhà văn đã khai thác tối đa loại ngôn ngữ mang đậm chất thơ tạo nên lời

văn nghệ thuật giàu màu sắc biểu cảm. Lối sử dụng ngôn ngữ đậm chất thơ của dòng hoài

niệm đã trở thành một phong cách riêng độc đáo ở Hồ Dzếnh.Câu văn xuôi đã du nhập

yếu tố trữ tình của thơ nên nó trở nên mềm mại, tinh tế, uyển chuyển, có sức truyền cảm

sâu sắc vừa diễn tả được cảm xúc của cái tôi trữ tình vừa góp phần hình thành giọng điệu

của tác phẩm.

Lấy chất giọng trữ tình làm sắc điệu chủ yếu tức là thiên về việc phơi bày cảm xúc

và cái thế giới bên trong của con người nên những trang văn xuôi của Hồ Dzếnh gần với

thơ. Những yếu tố trữ tình ấy được dẫn dắt từ lời văn nghệ thuật thấm đẫm cảm xúc. Hầu

như trong tác phẩm của ông, không cổ câu văn nào hoàn toàn khách quan trung tính mà

luôn luôn gắn liền với dòng cảm xúc trữ tình hoài niệm. Ở Chân trời cũ, từng dòng, từng

dòng văn hồi tưởng của ông đã đào sâu vào tận cùng sâu thẳm cảm xúc hoài niệm về một

103

thời quá khứ. Nhà văn đã sống lại từng cảm xúc từ những kỷ niệm thiêng liêng của thời

quá vãng. Vì vậy câu văn của Hồ Dzếnh thường đầy ắp cảm xúc của cái tôi trữ tình. Loại

câu văn này xuất hiện đậm đặc trong Chân trời cũ làm cho tác phẩm của ông đạt đến độ

thành thật, cảm động. Có khi cả một đoạn văn dài là những dòng hoài niệm kết hợp cả

với những cảm xúc về một thời xa xưa chợt sống lại trong tâm tưởng nhà văn:

"Tôi không quên được ngày đó. Nó là cái kỷ niệm đẹp đẽ của đời tôi mà em tôi vừa

nhắc. Một cánh đồng cỏ xanh mượt nằm ngủ dưới chân đồi, mới ba giờ chiều đã mờ, vì

bóng núi che khuất mặt trời đổ lên đổ, chúng tôi thả trâu cho tự do ăn cỏ, lòng thanh

thản dưới một bầu trời sáng đạp. Đôi lúc tiếng sáo của dân Mường từ xa vẳng lại, là

những thanh âm độc nhất hiu hắt trong cái rộng rãi, cô quạnh của linh hồn. Chúng tồi

đánh trâu bò lên đồi lúc mờ sáng và trở về nhà khi nắng vàng chỉ còn nửa đốt ngón tay

trên đầu bụi trúc" [ 15;118]

Có khi lời văn của Hồ Dzếnh còn tái hiện rất tinh tế những cảm xúc, cảm giác rất

mơ hồ, mong manh của cái tôi trữ tình mỗi khi hoài niệm về quá khứ. Cách miêu tả này

đã tạo nên cho văn xuôi Hồ Dzếnh phong vị trữ tình sâu lắng:

“Lòng tôi nghe vang một thứ gió âm u cửa miền sa mạc Mông cỏ, trôi qua Thiểm

Tây, Cam Túc, luồn vào những khu rừng không tên của hai tỉnh Lưỡng Quảng, vượt

trùng dương sang tôi, như tiếng thở dài não nàng của những lỉnh hồn phiêu bạt. Không

hiểu sao lòng tôi rưng rưng..."(Chú Nhì) [15; 64]

-"Ồ hay!Sao lúc viết mấy dòng chữ này, tôi còn thấy như một niềm bối rối, gió tối

bận bịu trong làm tre, một chấm lửa lung lay châm loe vào bóng đêm bất tận! Tôi chăm

chỉ ngồi học dưới ánh đèn lúc ấy, nhưng lúc này quay nhìn lại cái dĩ vãng không vui vẻ,

tôi rùng mình thấy hiện ra trên cái gì xa xôi, một váng vất buồn rầu tang chế" (Người chị

dâu tôi)[15; 26]

Ở những đoạn văn trên, gắn với dòng hoài niệm về những người thân như chú Nhì,

người chị dâu là những cảm xúc, cảm giác rất mơ hồ, khó tả, khó gọi tên của nhà văn

được thể hiện bằng những câu văn giàu chất trữ tình.

104

Có khi tác phẩm của ông lại chứa đựng cả một dòng chảy miên man của cảm xúc,

những cảm xúc hoa trộn giữa quá khứ và hiện tại và kết thúc tác phẩm bao giờ cũng là

một cảm xúc của hiện tại khi nhìn về quá khứ. Khảo sát 17 truyện ngắn trong Chân trời

cũ thì đã có đến 13 truyện kết thúc bằng cảm xúc của nhà văn, có khi đó là một nỗi chua

xót ai hoài, có lúc là một nỗi ray rứt ân hận, xót xa cũng có khi lại là những lời tự vấn,

triết lý qua những dòng trữ tình ngoại đề hay những cảm giác mong manh khó tả. Chẳng

hạn như:

- "Gió chiều lên lành lạnh. Qua màu áo cũng bạc, cũng cũ ấy, cái mài áo xông lên

mùi Á Đông, tự nhiên, tôi cảm thấy ai hoài, chua xót" (Ngày lên đường)

- "Câu chuyện trên theo dõi tôi như một ám ảnh cực nhục. Mỗi lần nhớ đến mẹ tôi,

hay xét mình phạm tội, tôi thường đem nổ ra để tự hình phạt. Nhiều năm đã rơi theo

nhiều năm, và bây giờ, trong những đêm của Hà Nội, cái thành phố hoa lệ chỉ quen tiêu

bạc với hào, tôi vẫn rờn rơn nghe thấy âm thanh của mười quan tiền kêu lanh lảnh n

(Lòng mẹ)

Ta cũng thấy giọng điệu trữ tình thấm đẫm cảm xúc như thế trong những tác phẩm

khác của ông. Chẳng hạn đây là một đoạn văn trong Cuốn sách không tên:

"Từ ngày anh tôi chết, cha tôi hay đứng nhìn ra chân trời, những buổi chiều chập

choạng. Lòng người rét lên một thứ gió vắng tanh hút lại, giống như một chán nản làm

bải hoải cuộc đời, làm tê cơ thề. Cái nhìn đăm đăm đó không giống như niềm đợi chờ

đến hoa đá của người mẹ vọng phu, vì ít nhất người mẹ này cũng được hoa đá! Đằng này

là một thất vọng không rên lên được, chìm giữa cuộc đời, ngạt trong cô quạnh, rờn rơn

trước nôi trắng toát, mông lung. Cha tôi vẫn thấy một bàn tay nhỏ, lảo đảo vịn lên những

nấm mộ, chập chững đi lại phía người như cầu xin một sức dìu dắt"[16;236]

Đây là tâm trạng và cảm xúc của người cha khi đứa con trai đã chết được nhà văn

diễn tả rất tinh tế bằng một đoạn văn mang một giọng điệu trữ tình sâu lắng. Tưởng

không có gì lấp đầy cảm xúc trống rỗng tê dại vì cô quạnh của người cha từ đây phải mất

đi đứa con mà ông thương yêu. Cái "ly tình" đau đớn đã đem lại cho người cha cảm giác

105

lạnh lẽo, rét mướt, cái rét ở đây không phải là cái rét của cơ thể mà là cái rét trong lòng

cứ dâng lên làm " bải hoải cuộc đời, làm tê cơ thể". Với câu văn giàu sức biểu cảm, nhà

văn đã diễn đạt sâu sắc tâm ưạng của người cha khi thấy trước những chuỗi ngày cô

quạnh sắp tới.

Cách viết với những câu văn chứa đầy cảm xúc, cảm giác như thế khiến ta liên

tưởng đến Vũ Bằng và tác phẩm Thương nhớ mười hai của ông. Có thể nói, khắp các

trang viết của Thương nhớ mười hai đều đầy ắp những cảm giác, đặc biệt là ở Tháng Ba,

rét nàng Bân. Cùng với nỗi nhớ về cảnh vật Hà Nội với vẻ đẹp của những tán bàng, của

hương hoa sầu đâu, mùi hương đồng ruộng, không khí trời đất được ví như vẻ đẹp của

một cô gái nghiêng nước nghiêng thành, là những cảm giác được sống lại thời xa xưa, cái

thời như mới vừa trải qua. Những hình ảnh ngồn ngộn, xanh rờn sự sống của một xứ sở

đẹp đẽ Bắc Việt, những cảm giác yêu mến gắn bó, nhớ thương cứ Tưng rưng choán đầy

tâm hồn tác giả để rồi từ trái tim tha thiết với quê hương ấy cứ phả ra từng dồng, từng

dòng cảm xúc dày đặc thể hiện ở nhiều sắc thái cảm xúc tính tế khác nhau. Có thể dẫn ra

nhiều dẫn chứng về đặc điểm này trong tác phẩm Vũ Bằng:

" Giẫm đôi giày lên trên đất mịn màng, anh cảm thấy cái mát mẻ của đất, của

sương vương trên cỏ thấm vào lòng anh y như thể anh đi chân không vậy. Chim vẫn hót

ríu ran. Anh nhìn lên trời cười thì những đám mây hồng tỏa ra một thứ ánh sáng trắng

như sữa, nhẹ như bông tràn lan trong không khí và úp chụp lấy các lùm cây nội cỏ....

Thì quả nhiên đến buổi trưa nắng thực, nhưng đi lên lầu ngủ vừa dậy, anh cảm thấy

có một cái gì rất lạ xảy ra. Anh nhắm mắt lại, nằm lặng yên nghe ngóng, để xem cái tiếng

reo ở ngoài vườn vọng lại là tiếng gì mà đến bất thình lình và xôn xao như vậy. Thì ra đó

là tiếng reo của gió, của mây, của cây, của lá:chính trong khi ta đương mộng về Tây

Phàn với mấy cô nàng sơn cước, trời đã chuyền bất ngờ, đương nắng thành râm và chỉ

trong khoảng khắc, rét của cuối chạp, đầu xuân đã trở về trên cánh gió, giữa một khoảng

trời tháng ba nắng ấm... [9;53,54 ]

Trong Thương nhớ mười hai, những cảm xúc của Vũ Bằng được thể hiện bằng lời

dẫn thường được lặp lại nhiều lần: "anh cảm thấy”, "ta cảm thấy", "mình cảm thấy

106

"...Cách diễn tả này giúp cho tác giả có thể thể hiện cảm xúc một cách trực tiếp và cũng

tạo cho câu văn một giọng điệu riêng, giọng điệu của cảm xúc, hoài niệm. Ta cũng gặp

cách biểu hiện cảm xúc như thế trong Chân trời cũ:

"Trời thôn quê xanh ra, cao lên, soạn sửa đón ba ngày của một mùa thái bình, thịnh

vượng, Gió trong ruộng đã thoáng lẫn hương xuân, và trong khi tắm biếc thêm lũy tre

mướn mượt nhung, đã làm rướm chảy sự tươi thơm trong những tấm lòng trai trẻ. Trăm

nghìn lần dò hỏi nỗi thanh Tịnh của dòng sống, điệu hiền hoa của chim gió, tôi đã cảm

nghĩ đến những tiếng pháo sắp sửa cười vang để rồi, bất thần, ngừng bước chân, tôi đưa

tay viết lên không gian một chữ con con, xinh xỉnh mà lỉnh hổn tôi đã nhiều lần nhắc

đến:Tết” [15; 172].

Cách biểu hiện cảm xúc ở Hồ Dzếnh tuy không thể hiện trực tiếp bằng lời dẫn như

trên nhưng cảm xúc trữ tình vẫn cứ bàng bạc khắp các trang văn Hồ Dzếnh, giữa những

dòng tự sự mà vẫn chân thành tha thiết biết bao!

Giọng điệu văn xuôi Hồ Dzếnh mang sắc thái trữ tình cho nên lời văn nghệ thuật

trong những tác phẩm của ông cũng thể hiện một nhịp điệu riêng. Cách ngắt nhịp Ương

câu văn xuôi Hồ Dzếnh thường rất nhịp nhàng và tuân thủ theo nhịp điệu của dòng cảm

xúc hoài niệm cho nên nó rất gần với cách ngắt nhịp của thơ. Có thể khảo sát đoạn văn

sau;

"Chị dâu tôi bây giở đã sinh được nhiều cháu, và vẫn tận tụy với cảnh dâu con.

Không một vết nhơ nào, trong mười sáu năm trời, cỏ thể làm mờ được danh tiết của

người đàn bà lìa quê hương kia. Mười sáu năm qua trong một thoáng gió. Anh Cả tôi đã

già, chị dâu tôi giữa hai thứ tuổi. Riêng tôi vẫn còn xuân sắc, lòng vui giữa cảnh sa mạc

của đời. Tôi vẫn cảm thây cái rát, cái nóng gieo mạnh do một bàn tay xương xương lên

má tôi, mỗi lần tôi nghiêng xuống thổi bớt những làn bụi vương trên bức họa ngày xưa.

Tồi nhớ nhất cái dáng điệu vừa quì vừa khóc của chị dâu tôi và tôi thấy buồn, một nỗi

buồn thê thiết quá. "[15;95]

107

Giọng điệu trữ tình sâu lắng của đoạn văn ttên không chỉ được tạo ra từ những yếu

tố ngôn ngữ giàu cảm xúc mà còn do yếu tố nhịp điệu. Những cảm xúc khi hoài niệm về

quá khứ đã chi phối cách ngắt nhịp của đoạn văn. Đoạn văn có những chỗ ngắt câu như

để diễn tả sự ngăn cách giữa hiện tại và quá khứ, để thấy rõ sự thay đổi của con người

ương một khoảng thời gian dài: "Mười sáu năm qua như một thoáng gió/ Anh Cả tôi đã

già/ Chị dâu tôi giữa hai thứ tuổi/ Riêng tôi vẫn còn xuân sắc,/ lòng vui giữa cảnh sa mạc

của đời”. Những chỗ ngắt nhịp ấy như là những điểm nhấn để cho nhà văn bộc lộ cảm

xúc, những cảm xúc hoa trộn giữa hiện tại và quá khứ. Hiện tại và qua khứ cách nhau

một quãng thời gian dài mười sáu năm nhưng cảm xúc từ hiện tại cứ ùa về chen lẫn với

những cảm xúc của một thời đã xa mà cứ như vừa mới xảy ra hôm qua. Tâm hồn của nhà

văn đã dậy lên những cảm xúc nóng bỏng khi sống lại những cảm giác thời quá khứ đến

nỗi dường như còn cảm nhận được cái nóng rát do cái tát của người anh trên má vì cái lỗi

lầm rất trẻ con của mình ngày xưa. Những kỷ niệm ấy mãi vẫn còn đeo đẳng tâm hồn nhà

văn tạo nên một cảm giác buồn thương thê thiết mỗi khi nhìn về quá khứ. Đoạn văn trên

đã thấm đượm chất trữ tình từ ngôn ngữ cho đến giọng điệu.

Giọng điệu trữ tình là một đặc điểm nổi bật trong lời văn nghệ thuật của các tác

phẩm văn xuôi trữ tình. Ở Hồ Dzếnh thì đây là một yếu tố tạo nên dấu ấn riêng đặc biệt

trong tác phẩm của ông. Bên cạnh đó người ta còn nói đến một đặc điểm khác trong

giọng điệu kể chuyện tạo nên phong cách của Hồ Dzếnh, đó là giọng thủ thỉ tâm tình

chưa đựng nỗi buồn thương man mác mỗi khi hoài niệm về quá khứ.

2.2.2.Một giọng điệu thủ thỉ tâm tình thấm đượm nỗi buồn thương man mác khi

hoài niệm về quá khứ:

Hồ Dzếnh là một con người luôn trân trọng quá khứ tuổi thơ, luồn hướng về quá

vãng với những rung động thực của trái tim thi sĩ, sự nhạy cảm sâu sắc với những số phận

khổ đau. Nhớ lại kỷ niệm xưa, giọng văn của Hồ Dzếnh cứ như những lời thủ thỉ tâm tình

hướng về những con người mà ông hết lòng thương yêu. Cảm thương cho số phận những

con người bất hạnh, những trang văn của ông luôn thấm đượm một nỗi niềm trắc ẩn qua

"một giọng kể chân thật từ tốn với một sự đồng cảm xót xa" [3;205]. Đọc Chân trời cũ,

108

người đọc có cảm tưởng những lời tác giả viết ra đều xuất phát từ những lời tâm sự chân

thành tha thiết khi thì hướng đến người thân, lúc thì hướng về người đọc để giãi bày.

Người đọc luôn luôn thấy xuất hiện giữa những dòng tự sự, những lời giãi bày cảm xúc

như những lời tâm tình ưực tiếp với người thân, kiểu như cách gọi, cách nói: "Hỡi chị!",

"Em ạ,", "Anh ơi "...Có khi những lời tâm tình lại hướng đến người đọc như để san sẻ,

giãi bày những suy nghĩ, cảm xúc trong lòng. Cứ thế những dòng tâm sự cứ rủ ri miên

man suốt tập truyện làm cho mạch truyện ,nhịp kể cũng trở nên chậm rãi đều đều, có khi

phải ngừng hẳn lại cho người kể bộc lộ nỗi buồn thương hay nỗi niềm riêng đối với con

người và quê hương. Chẳng hạn ở truyện Chị Yên, tác giả đang kể về tiếng hát của chị

mỗi khi ru mình ngủ, mạch truyện đột ngột dừng lại nhường cho cảm xúc của nhà văn

phơi bày trên ttang giấy như những lời tâm sự chân thành. Đó là lời luận bàn đầy cảm xúc

về số phận của "những người đàn bà quê đau khổ" và những dòng tâm sự trực tiếp đối với

quê hương nước Nam. Chừng như nhận ra mình quá sa đà, nhà văn lại quay về tiếp tục

mạch truyện đang bỏ dở: "Tôi xin kể nốt truyện Chị Yên".Nhưng câu chuyện vẫn chưa

được kể tiếp, nhà văn lại tiếp tục hướng về người đọc để tâm sự với người đọc về nỗi đau

thương của chị Yên:

"Hình như bao giờ chị Yên cũng đứng trước mặt tôi, với những nét nhăn nhó, với

cái thân hình gầy oặt và sức gieo nặng của Đau Thương. Chị Yên chết rồi, nhưng chết

như chị Yên là thoát. Tôi sống không hơn một chiếc lá lạc, một cánh mây vương. Tôi lớn

rồi, tôi đã hiểu thế nào là bổn phận một người sống. Tôi đã biết thế nào là tha thứ, mặc

dầu mỗi khi nhìn lại thời xưa, tôi vẫn căm ghét trước hình ảnh con người đáng ghét mà

tôi đã có lần từ chối không nhận trong số họ nhà tôi" [15; 159]

Nhận xét về cách kể chuyện như thế của Hồ Dzếnh, Phong Lê đã cho rằng: "Mạch

kể chuyện của Hồ Dzếnh cũng rủ ri sa đà" [41; 107]. Quả thật, Chân trời cũ đã chứa đựng

một đặc điểm riêng của giọng điệu kể chuyện, đó là một giọng văn thủ thỉ tâm tình lắng

đọng nỗi buồn thương man mác. Giọng kể chuyện này có lẽ do xuất phát từ chính đặc

điểm của tâm hồn nhà văn, một con người cứ lặng lẽ sống, lặng lẽ trang trải, sẻ chia

những đắng cay của cuộc đời. Cho nên những dòng tâm tư ấy dù hướng về nhân vật hay

109

hướng về người đọc thì cũng như là một cách để ông giải tỏa những bức xúc của nội tâm,

cho vơi nhẹ nỗi niềm.. Mai Hương đã nhận xét xác đáng rằng: "Giọng văn tự nhiên, man

mác buồn và rủ rỉ miên man như một dòng tâm sự chính là ánh xạ của quan niệm văn

chương, cửa cá tính, và tạng tâm hển đó của Hồ Dzếnh, tạo một nét vẻ hấp dẫn tiêng, đầy

sức ám ảnh. Người viết lặng lẽ ký thác, trao gửi. Người đọc cũng trong lặng lẽ để cảm

nhận. Cứ như thế, tạo nên một sự đồng cảm "âm thầm thương mến" giữa Hồ Dzểnh với

các thế hệ độc giả của ông.Không ồn ào, không tạo những choáng váng, đột ngột, không

là "một niềm kỉnh dị", Chân trời cũ rồi Quê ngoại lặng lẽ tìm tới sự tri kỷ, tri âm, lặng lẽ

" kết kén" trong tâm tình người đọc” [3; 193]

Những lời tâm tình của Hồ Dzếnh đã chứa đựng trong đó nỗi buồn thương, niềm

trắc ẩn tha thiết đối với số phận những con người mà ông yêu thương. Ngoái về dĩ vãng,

ông bộc lộ trực tiếp những tình cảm, niềm xót xa chân thành đối với từng người một. Đó

là người mẹ, người chị dâu, người chị nuôi, người anh xấu số, những ngươi láng giềng có

số phận hẩm hiu. Giọng văn của Hồ Dzếnh ưàn ngập một sắc điệu cảm thương ray rứt đối

với từng số phận bất hạnh, có khi nó được bộc lộ thành những lời lẽ thống thiết rưng rưng

niềm xúc động. Hướng về từng người thân để giãi bày tâm tư nên nhà văn cũng rất linh

hoạt khi sử dụng những đại từ xưng hô. Trong Chân trời cũ, Hồ Dzếnh thường sử dụng

lối xvtag hô trực tiếp đối với nhân vật tạo nên lối nói, cách gọi rất thân mật, trực tiếp kiểu

như:

-Anh ơi, anh đáng thương của em ơi...

- Và cả em nữa, em anh ạ!... -Hỡi chị!...

- Chị Yên!...

Những đại từ xiửig hô thân mật ấy làm cho khoảng cách giữa người kể và nhân vật

trở nên hết sức gần gũi, yêu thương, thân mật và cũng góp phần tạo nên giọng điệu thủ thỉ

tâm tình của tác phẩm.

Sắc thái buồn thương man mác trong giọng điệu kể chuyện của Hồ Dzếnh cũng chi

phối cả cách miêu tả thiên nhiển, ngoại cảnh. Dĩ vãng luôn hiện về trong ký ức nhà văn

110

gợi nỗi buồn thương day dứt cho nên để diễn tả tâm trạng, Hồ Dzếnh thường lựa chọn

một khung cảnh thiên nhiên phù hợp cho việc bộc lộ nỗi niềm, vì thế thiên nhiên thường

gắn liền với những cảm xúc cụ thể của dòng hoài niệm. Không gian cảnh vật thường

đượm màu sắc của sự thê lương tàn tạ, hiu hắt. Có lẽ không gian, cảnh vật đó đã được

nhìn qua hồi ức của một cái tôi mang đầy tâm trạng buồn đau khi nhìn về quá khứ.

Không phải ngẫu nhiên mà "ngòi bút của Hồ Dzếnh thường chấm phá những nét hiu

quạnh về một buổi nắng chiều nghiêng xế, một miền quê sông nước cây rừng" [3; 142].

Ta thường gặp trong Chân trời cũ hình ảnh của những buổi chiều buồn: "một cảnh chiều

tang tóc", "một ánh nắng chiều nghiêng xế", "một buổi chiều không nắng không mưa", u

một buổi chiều nhàn tĩnh", " một buổi chiều tận thế", u một chiều nắng tà hiu hắt”....Buổi

chiều là thời điểm thường gợi lên nỗi buồn ở con người và không gian trong dòng hoài

niệm ấy cũng thấm đẫm tâm trạng nhà văn, một nỗi buồn thương man mác. Trong Chân

trời cũ, có đến 17 lần nhà văn nhắc đến cảnh chiều và buổi hoàng hôn.Trong đó 13 lần

cảnh chiều xuất hiện khi nhà văn miêu tả cảnh vật và lần nào cảnh vật cũng hiện ra gắn

liền với tâm trạng buồn bã, ai hoài, chua xót của nhân vật trữ tình. Có 3 lần hình ảnh buổi

chiều được tác giả dùng làm một vế của sự so sánh để diễn tả tâm trạng buồn thương khi

nhìn về quá khứ;

“Cái người chú kia, dẫu keo kiệt, dẫu hóc hiểm, nhưng là cái bóng tàn còn sót lại ờ

một chi họ gần nhất, và cũng bắt đầu xa nhất của chúng tôi, như bóng chiều dần tan

trên cảnh đồng rộng rãi" [15; 73]

-"Tinh thân ái xưa cũ dần dần bỏ tôi đi, như bóng mây một buổi chiều lửng lơ kéo

sang nơi khác"[15,93]

- "Hai tâm hồn ấy, mà một đã bị sa thải ra khỏi cảnh hoa nắng của đời, và một còn

mang nặng cả cái dĩ vãng không đẹp, đã ghé lại bên nhau như bóng chiều nghiêng

xuống táp lều rách, và cùng cảm hiểu nhau trong thứ tiếng nói thầm kín của đau

thương..." [15,177 ]

Có một lần nhà văn lại dùng hình ảnh buổi chiều với ý nghĩa ẩn dụ để diễn tả sự

buồn bã, tàn tạ của kiếp người:

111

"Chúng tôi sớm bị đuổi ra khỏi cuộc đời sung túccái bóng người mẹ già yếu đuối,

và ba tấm lòng bồ côi là chúng tôi thực đã thấy rơi hoàn toàn cả một buổi chiều đời

buồn bã" [ 15;40]

Rõ ràng cảnh chiều không còn là không gian của ngoại cảnh mà đã ưỗ thành không

gian tâm trạng nỗi niềm, không gian thấm đượm nỗi buồn thương da diết của chủ thể trữ

tình. Đôi lúc miêu tả bình minh thì cảnh vật cũng hiện ra mang màu sắc tâm trạng của tác

giả. Đây là một cảnh bình minh trong tâm trạng, nỗi niềm của người chuẩn bị ra đi trong

"Ngày lên đường":

"Ánh bình minh chưa bao giờ nhợt nhạt, sầu muộn như thế. Tôi chống mắt thức,

chờ giờ tàu, nên tiếng gà gáy thứ nhất vọng vào lòng tôi một nỗi buồn thăm thầm. Rồi

tiếp đến rạng đông với cái cảnh huyền ảo bên ngoài" [ 15; 146 ]

Quả thật Hồ Dzếnh là người có biệt tài trong việc miêu tả cảnh sắc thiên nhiên

nhuốm màu tâm ưạng. Thiên nhiên đã hiện hữu trong tác phẩm của ông như một nhân

vật, một thực thể tâm trạng của cái tôi trữ tình.Cách miêu tả thiên nhiên như thế cũng đã

góp phần tạo nên không khí, giọng điệu của truyện.

Ta cũng thường thấy trong Chân trời cũ, lối mào đầu đặc biệt gợi không khí cho câu

chuyện nhà văn sắp kể. Câu chuyện thường bắt đầu bằng những lời tâm tình của nhà văn

về nhân vật mình sắp kể rồi mới dẫn dắt người đọc vào câu chuyện, cho nên ngay từ đầu

câu chuyện đã mang giọng điệu tâm tình. Nhà văn như hướng trực tiếp đến người đọc để

giãi bày, khoảng cách giữa người kể và đọc giả như được rút ngắn đến tối đa. Có thể thấy

đặc điểm này ương nhiều truyện của Hồ Dzếnh. Mở đầu truyện Hai anh em là lời bày tỏ

tình cảm chân thành đối với người anh cả:

"Nếu cứ bình tĩnh vất hết những thành kiến trong óc đi, nếu xóa bỏ những sự bất

bình nhỏ nhặt đi, cái người tôi thương nhất không ai ngoài anh Cả tôi"

Ở truyện Em Dìn thì lời tâm tình không chỉ hướng tới người đọc mà còn hướng tới

cả nhân vật:

112

"Trong số những người đọc tôi hôm nay, ít nhất cũng có đến một trăm người quen

em gái tôi. Tôi nói một trăm, vì muốn để cho em tôi đỡ tủi, khi mùa xuân lướt về trên

những mái nhà đầm ấm, và nắng xuân chợt bừng qua kẽ lá như ánh sáng chiểu lại từ

những tấm lòng của các thiếu nữ đương tơ. Ngót bảy năm nay, chúng tôi xa nhau, ai biết

em tôi đã qua bao nhiêu cuộc thử thách, người con gái vốn đã gầy yếu sẵn khi còn ở

chung với chúng tôi! Và cả em nữa, em anh a, biết đâu em sẽ lại không đọc anh, đọc

chính em, ngạc nhiên thấy đời em giống in như thiên truyện anh viết và hết cả hồ nghi khi

nhìn đến cái tên ký thân thiết dưới này....”

Cũng có những câu chuyện có cách mở đầu trực tiếp, nhà văn giới thiệu nhân vật

nhưng cũng đồng thời bộc lộ cảm xúc đối với nhân vật bằng giọng điệu tâm tình:

"Chính tên chị là An. Mẹ tôi gọi chạnh ra là Yên. Yên là con nuôi mẹ tôi, nuôi đề

thay cho người nhà, để có ai hỏi thì bảo: nó là con nuôi tôi. Mẹ tôi thường kể lại rằng

mua chị ta với cái giá hai quan tiền vào một năm lụt lội, đói kém. Yên như biết phận mình

là con nuôi nên không bao giờ lên mặt với tôi hết. Ngày tôi còn nhỏ, Yên giữ tôi. Đó là

người bạn gái ngày xưa, để sau này thành một người chị rất tốt. Kể ra, đối với Yên, tôi

chịu lỗi nhiều lắm. Lòng tử tế, trung thành của. Ngày tôi còn nhỏ, Yên giữ tôi. Đó là

người bạn gái ngày xưa, để sau này thành một người chị rất tốt. Kể ra, đối với Yên, tôi

chịu lỗi nhiều lắm. Lòng tử tế, trung thành của Yên, mỗi lần nhắc đến, tôi không khỏi

ngậm ngùi. Từ nay tuy Yên không sống chung với tôi trên quả đất này nữa, nhưng hình

ảnh Yên vẫn theo tôi, bên những hình ảnh thân mến khác” (Chị Yên) [15; 151 ]

Kết thúc câu chuyện của Hồ Dzếnh cũng thường bằng một cảm giác buồn thương

man mác.Vì vậy tác phẩm Hồ Dzếnh khi khép lại thường để lại cho người đọc một dư vị

man mác khó quên. Ở tập Chân trời cũ, có đến 13 trong tổng số 17 truyện kết thúc bằng

một cảm xúc cửa cái tôi ưữ tình của nhà văn, chẳng hạn như đoạn văn kết thúc truyện

Trời sáng trăng suông sau đây:

113

"Tôi nhận ra là tiếng chị Đỏ Đương, bây giờ đã là bà Lý Thoại. Một cảm giác gì

chán nản chạy lướt qua đầu óc tôi, chạy khắp người, khiến tôi rùng mình khó chịu....

Tự nhiên tôi không muốn gặp chị Đỏ Đương nữa, chào ông Lý Thoại, bước ra

ngoài, trong lúc bóng đêm hắt hiu về đầy cả bốn phía....

Trời sáng trăng suông." [15; 183]

Điều này cho thấy dấu ấn của cảm xúc buồn thương, của nỗi niềm trắc ẩn ở nhà vãn

thể hiện đậm đặc trong suốt tác phẩm Hồ Dzếnh tạo thành một giọng điệu riêng thấm

đượm nỗi buồn thương da diết. Ta cũng thấy lối kết thúc như thế trong nhiều truyện ngắn

của Thạch Lam, Thanh Tịnh. Điều này có lẽ do ảnh hưởng của lối tự sự phi cốt truyện

của các nhà văn trữ tình. Các tác phẩm của các nhà văn này thường không chú ý đến các

biến cố, các sự kiện của câu chuyện mà chỉ tập trung vào việc phơi bày những biểu hiện

của đời sống nội tâm phong phú, tinh tế của nhân vật, của cái tồi trữ tình. Nói cách khác,

các biến cố, các sự kiện ương đời sống nhân vật chỉ còn là tiến đề, là duyên cớ để khơi

gợi những cảm xúc, tâm trạng của nhân vật, của cái tôi trữ tình.Chính điều này đã tạo nên

đặc điểm riêng của loại văn xuôi trữ tình.Riêng ở Hồ Dzếnh, những lời tâm tình của cái

tôi trữ tình lại gắn liền với dòng hoài niệm đột hiện từ những hồi tưởng trong ký ức cho

nên ở hầu hết những câu chuyện trong Chân trời cũ là ngôn ngữ của dồng hoài niệm với

cách nói được lặp đi lặp lại nhiều lần: "Tôi quên sao được", "Tôi còn nhớ", "Tôi lại nhớ",

"Tôi còn nhớ rõ", "Tôi nhớ mãi", "Tôi không thể quên được"....Có khi là cách nói: "Tôi

nhớ...nhớ nhất", chẳng hạn như ở đoạn văn sau:

“Tôi nhớ từng mảnh sân, từng hòn ngói, từng chuồng chim,rành rọt như một con

chiên xét lại tội lỗi mình trước Chúa. Nếu ba tôi sống lại, nếu người được thấy chúng tôi,

thằng lớn chạy từng bữa cơm nuôi vợ con, thằng nhỏ đi những bước đường điên dại, bất

chấp lề luật trong đời, thì cái ngao ngán, thất vọng của người sẽ đến bực nào!

Cái làm tôi nhớ nhất, và tôi không hiểu tại sao lại nhớ đến thế, là con ngựa kim

hoa trắng của ba tôi”[15;41]

114

Cách lặp lại như thế đã tạo cho giọng văn Hồ Dzếnh nhịp điệu riêng của dòng hoài

niệm, mở ra cả một chân trời hoài niệm với những kỷ niệm xưa không ngừng khơi dậy

ưong tâm tư nhà văn. Quả thật Chân trời cũ cứ ngân lên những sắc điệu cảm xúc như

"những tiếng chuông buồn" với "những nhịp uyển chuyển và buồn lạ như một khúc nhạc

lâm ly ai oán" [3; 87 ]

Mang sắc điệu cảm xức và âm hưởng trữ tình nên lời văn nghệ thuật của Hồ Dzếnh

cũng rất giàu nhạc tính, nhạc

nhạc điệu của cảm xúc, trong sự tổ chức ngôn ngữ nghệ thuật, Hồ Dzếnh đã khai thác yếu

tố lặp lại từ ngữ trong câu văn xuôi. Để chứng minh cho điều này, người ta thường dẫn ra

đoạn văn:

"Xa. Xa. Và xa. Lòng chị Đỏ Đương tưởng tượng làm sao ra cái màu mênh mông

của biển cả, để với qua đó một người đã mang đi nửa cuộc đời của chị” [15;168]

Với cách lặp lại từ "xa", nhà văn đã nhấn mạnh cái không gian xa vời, mênh mông

vô tận , mịt mùng trong sự dõi mong đến khắc khoải của chị Đỏ Đương một hình bóng

"người đã mang đi nửa cuộc đời của chị".Cách diễn đạt như thế đã tạo nên cho câu văn

một nhịp điệu riêng của cảm xúc, cảm xức thương cảm đối với con người có số phận hẩm

hiu.Có lúc Hồ Dzếnh còn sử dụng phép lặp cú pháp trong một đoạn văn dài, chẳng hạn

như đoạn văn sau: "Xác anh được phơi cho đến ngày những bộ hành người Mường khó

chịu về thối tha, làm phúc vùi tạm anh xuống đất. Vợ anh, con anh đì tìm dấu vết người

chết. Những người thân thích của anh đã tìm thấy cái gì? Họ đã tìm thấy....một đám đất

bị lở...., họ đã tìm thấy một con rùa, phải, một con rùa, thấy động lùi lũi từ các đám đất

kia chui ra..., họ đã tìm thấy, trời ơi, làm sao lúc này em muốn khóc quá!Họ đã tìm thấy

một bộ xương, một chiếc hoa cái trắng phếu, họ đã tìm thấy cái tàn của một kiếp người,

họ đã úm thấy hình ảnh nhân loại, ý nghĩa những cơn say mê, kết quả những ngày điên

dại..

Anh ơi, anh rất đảng thương của em ơi, họ đã tìm thấy...anh rồi!" [15; 191] Đoạn

văn trên đã sử dụng biện pháp điệp cú pháp thể hiện ở sự lặp lại nhiều lần một bộ phận

của câu. Sự lặp lại cú pháp này đã tạo nên một nhịp văn dồn dập như là nhịp đập của trái

115

tim tác giả với những cảm xúc buồn thương đang tuôn trào không thể kềm nén nổi. Giá

trị biểu cảm của lời văn này càng được tô đậm thêm khi xen giữa những yếu tố cú pháp

được lặp lại ấy là sự lặp lại ở những mức độ khác nhau cảm xúc của nhân vật trữ tình.

Những cảm xúc ấy, lúc thì tuôn trào muốn bật lên thành tiếng khóc "Trời ơi, làm sao lúc

này em muốn khóc quá!", khi thì lắng lại ở cảm xúc buồn thương tha thiết đối với người

anh: "Anh ơi, anh đáng thương của em ơi..."

Ta cũng thấy Hồ Dzếnh thường tìm đến lối sử dụng câu văn nhịp nhàng, có sự phân

bố hài hoà cân đối giữa các vế.Có thể tìm thấy lối sử dụng câu văn như thế trong nhiều

truyện ngắn của Hồ Dzếnh. Ta hãy cùng lắng nghe những cảm xúc của nhà văn khi tả

cảnh hoàng hôn quê Việt trong nỗi chạnh lòng so sánh với cảnh hoàng hôn phương Bắc

qua đoạn văn sau đây:

“Đêm về trong những bước nhẹ hắt hiu bốc hen lên mặt sông. Nắng tắt dần dần chỉ

còn ánh vàng pha sắc tỉm. Hoàng hôn ở đây không như hoàng hôn ở Giang Tây, Hồ Bắc,

hoàng hôn ở đây ưu hoài như một chinh phụ nhớ chồng” [15;11]

Với cách sắp xếp các vế câu hài hoa, cân đối và gợi cảm trên, nhà văn đã mang đến

cho giọng văn một âm điệu nhịp nhàng, trầm buồn man mác nhưng cũng đậm chất thơ

của dòng trữ tình hoài niệm. Chính điều này làm cho câu văn xuôi Hồ Dzếnh gần với thơ.

Giọng văn trầm buồn man mác với âm điệu nhẹ nhàng gợi cảm như thế của Hồ Dzếnh đã

có điểm gặp gỡ với Thạch Lam. Ta cũng thường thấy trong những trang văn Thạch Lam

những câu văn như thế. Có thể dẫn ra một đoạn văn trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của

Thạch Lam:

"Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài

đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve. Liên

ngồi yên lặng bên mây quả thuốc sơn đen, đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn

của buổi chiều quê thấm thìa vào tâm hổn ngây thơ của chị; Liên khống hiểu sao, nhưng

chi thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn" (Hai đứa trẻ)

116

Về điều này cả Hồ Dzếnh và Thạch Lam đã tạo cho câu văn xuôi Việt Nam một

chất giọng riêng, một giọng văn nhẹ nhàng trầm buồn man mác, đầy chất thơ.Các nhà văn

này dường như đã xóa nhoà ranh giới giữa câu văn xuôi và thơ tạo nên một loại câu văn

đặc biệt, câu văn xuôi mang đậm chất thơ.Thạch Lam và Hồ Dzếnh cũng gặp nhau ở cách

viết câu văn giàu hình ảnh với những từ ngữ trau chuốt, trang nhã, sống động diễn tả

được những trạng thái cảm xức của nhân vật, của cái tôi trữ tình. Cũng như Thạch Lam,

Hồ Dzếnh cũng ít đưa vào trong tác phẩm thứ ngôn ngữ thô nhám của đời thường. Cũng

có khi nhà văn khai thác những khẩu ngữ đưa vào lời trực tiếp của nhân vật như đã đề

cập ở phần trước nhưng phần lớn ngôn ngữ trong văn xuôi Hồ Dzếnh là ngôn ngữ dồi dào

cảm xúc, trang nhã, tính lọc. Sử dụng ngôn ngữ như thế vốn phù hợp với các cây bút văn

xuôi ưữ tình, những cây bút thiên về việc bộc lộ cảm xúc, "tìm về nội tâm, tìm về cảm

giác" như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh...Điều này khác với Nam Cao, nhà văn

thường đưa vào tác phẩm loại ngôn ngữ thô nhám của đời thường, đôi khi rất khô cộc cho

nên ngôn ngữ của Nam Cao rất tự nhiên sống động mang hơi thở của cuộc sống. Điều

này phù hợp với cái tạng của Nam Cao, nhà văn chuyên hướng về cuộc sống để phản ánh

tận cùng cái hiện thực nghiệt ngã một cách khách quan, lạnh lùng.Cho nên câu văn Nam

Cao thường mang tính khách quan trung tính khác hẳn câu văn dồi dào cảm xúc của Hồ

Dzếnh.Thử đặt một đoạn văn của Nam Cao bên cạnh một đoạn văn khác của Hồ Dzếnh

cùng miêu tả một cái chết ta sẽ dễ dàng thấy rõ sự khác biệt này:

1."Xế chiều hôm ấy, bà lão mới ra về được.Bà bảo về muộn cho đỡ nắng. Thật ra

thì bà tức bụng, không đi nổi. Mà bà uống nhiều nước quá. Uống bằng nào cũng không

đã khát. Bà chỉ càng thêm tức bụng. Đêm hôm ấy, bà lăn lóc rất lâu không ngủ được. Bà

vần cái bụng, bà quay vào lại quay ra. Bụng bà kêu ong óc như một cái lọ nước. Nó

thẳng câng. Bà thở ì ạch. Vào khoảng nửa đêm, bà thấy hơi đau bụng.Cơn đau cứ rõ

thêm, cứ tăng dần. Chỉ một lúc sau bà đã thấy đau quẩn quéo, đau cuống cuồng. Rồi bà

thổ. Rồi bà tả. Ôi chao!Ăn thật không bõ mửa. Bà tối tăm mặt mũi. Đến khi bệnh tả dứt

thì bà lại sinh chứng đi lỵ. Ruột bà đau quằn quận. Ăn một tí gì vào cũng đau không chịu

được. Luôn nửa tháng trời như vậy. Rồi bà chết...”( Một bữa no- Nam Cao )[11;213 ]

117

2."Anh ngồi xuống bờ cỏ. Đâu đấy có tiếng suối róc rách, cái tiếng gợi thêm ở anh

cơn khát bốc lửa! Anh thèm nước! Anh đói thuốc phiện! Anh lê dần, lê dần xuống dốc,

mệt mỏi, đau lồng. Suối vẫn chảy. Trên đầu lưỡi anh, đọng lại những cảm giác thèm

khát. Anh lê nữa, tất cả ý nghĩ căng thẳng về một hớp nước, bất luận là sạch hay nhơ,

lành hay độc, miễn là nó làm dịu được cơn khát điên cuồng của anh. Trong người anh,

bệnh thương hàn bốc lên cái độ 41. Sự sống tan dần theo hơi thờ nóng bỏng. Anh không

đói thuốc phiện, anh không gào nước nữa:đường xuống suối còn xa, đường về quê đã

biến. số Mệnh đã muốn cắm ờ giây phút đổ một cuộc hành trình điên dại của một kiếp

người. Anh thờ dài một tiếng, lòng trắng giãn ra và chiếm đầy mắt...Anh nấc lên một

tiếng nhỏ. Anh gục đầu xuống một bụi rậm. Có cái gì thối tha đưa lên sau mông đít. Cành

gai yếu ngả xuống làm anh gục theo. Một con chim kêu lên đâu đó, Rừng và Núi, Núi và

Rừng.n ( Thiên truyện cuối cùng- Hồ Dzếnh)[15,191]

Ở đoạn văn 1, Nam Cao sử dụng loại câu ngắn, hoàn toàn khách quan trung tính hầu

như không có từ biểu cảm nào để diễn tả cái chết của bà lão. Câu văn khô gọn diễn tả cái

chết của bà bằng những từ trực tiếp khách quan như một người đang chứng kiến cái chết

dần dần của người khác mà không hề động lòng, cái chết ấy cứ từ từ đến với bà từng

bước một: "Rồi bà thổ.Rồi bà tả....Rồi bà chết”. Nhà văn đã dùng phương thức "tự giấu

mình" để phản ánh cho nên đoạn văn mang một giọng điệu khách quan đến lạnh lùng

nhưng thực sự đằng sau vẻ khách quan ấy lại ẩn chứa một nỗi đau, sự nhức nhối trong

lòng trước tình trạng nhân phẩm con người bị hạ thấp đến xót xa.

Ở đoạn văn 2, câu văn của Hồ Dzếnh lại đầy ắp cảm xức của cái tôi trữ tình, hầu

như không có câu văn nào hoàn toàn khách quan trung tính. Hình ảnh người kể hầu như

không hề có ý tự giấu mình mà như có mặt khắp các câu văn tự sự để bộc lộ cảm xức

thương cảm đối với người chết. Cho nên vẫn sử dụng câu văn ngắn nhưng câu văn chứa

đầy cảm xúc trữ tình và đặc biệt là thấm đượm một giọng điệu buồn thương chua xót đối

với một kiếp người. Bên cạnh đó ngôn ngữ của Hồ Dzếnh cũng khác ngồn ngữ của Nam

Cao, đó là loại ngôn ngữ trau chuốt ưang nhã. Cái chết của người anh không được miêu

tả bằng những từ trực tiếp như để tránh đi nỗi đau xót đang dâng lên trong lòng. Sự lặp từ

118

ở cuối đoạn “Rừng và Núi, Núi và Rừng" tưởng như thừa nhưng thực sự đã có tác dụng

khắc họa bóng dáng cô đơn đến tuyệt đối của người anh trong một không gian mênh

mông xa vắng của núi rừng đồng thời cũng tạo cho đoạn văn một âm hưởng trữ tình da

diết.

Trong các tác phẩm của Nam Cao, câu văn thường ngắn, dồn dập những hành động

tình tiết của câu chuyện nên ông rất chú ý đến việc sử dụng động từ. Đọc Nam Cao người

đọc dễ có cảm giác bị cuốn đi theo tình tiết dồn dập của câu chuyện. Chẳng hạn ở đoạn

văn sau đây, Nam Cao đã sử dụng động từ ở một mức độ rất cao để kể về hành động tàn

nhẫn đánh vợ của Thiên Lôi (Nửa đêm)

"Bà Quản Thích nắm lấy áo hắn mà co lại. Hắn đạp cho bà một cáu nằm còng queo

xuống đất. Rồi đấm, đạp, tát túi bụi trên đầu, mặt, bụng, lưng người thiếu phụ. Hắn cào,

hắn cấu, hắn bóp cổ, và lay, và lắc, đấm bằng tay, đá bằng chân, hích bằng khuỷu tay,

thúc bằng đầu gối, hắn lăn xả vào bằng đầu, bằng vai, bằng ngực, bằng đài, bằng răng.

Và đến lúc hắn ngừng lại thì người đàn bà khốn nạn đã rũ rượi, mềm như con bún, máu

ộc ra bằng mồm, bằng mũi, bằng lỗ tai, bằng bao nhiêu là vết thương. Máu lênh láng ra

nhà"[11, 116]

Trong các tác phẩm của Hồ Dzếnh, tính từ lại được sử dụng với một mật độ dày để

miêu tả cảnh vật và lòng người, đặc biệt là những tính từ miêu tả sự hắt hiu, buồn bã của

cảnh vật và biểu lộ sắc thái tình cảm buồn thương man mác của lòng người:

"Trên bờ sông Ghép lặng lẽ...

Đêm về trong bước nhẹ, hất hiu bức hơi trên mặt sông. Nắng tắt dần dần chỉ còn

ánh vàng pha sắc tím. Hoàng hôn ở đây không như hoàng hôn ờ Giang Tây, Hồ Bắc,

hoàng hồn ở đây ưu hoài như một chinh phụ nhớ chồng

Trời quang lấp lánh sao, hứa hẹn một đêm phẳng lặng. Gió sông lên đầy, Làng mạc

xa xa, chìm mờ trong bóng tối, đôi lúc để lọt ra vài tiếng chó sủa ma. Mấy điểm đèn hạt

đậu run trên sông như những con mắt buồn từ kiếp trước

(Ngày gặp gỡ)

119

Nhiều lần ở xa, nhở đến người con gái vố tình đi qua ngày tháng của tôi, tôi mang

máng nghe tỏa từ quãng mênh mông một tiếng gọi gì buồn bã, một tiếng gọi không hiểu

của chính lòng tôi hay của khu rừng linh thiêng nghìn đời lặng lẽ (Trong bóng rừng)

Khi ba chết, tôi nhận thấy mấy cây cột nhà đứng bơ vơ hơn trước, bóng tối mau

chiếm lấy sân và lòng tôi hay nhớ thương ngao ngán (Con ngựa trắng của ba tôi)...

Các tính từ trong đoạn văn trên đã phát huy tác dụng trong việc diễn tả những sắc

điệu của cảm xúc và góp phần tạo nên cái nhịp điệu chậm rãi, trầm buồn phù hợp với tâm

trạng nhân vật trữ tình. Đặc biệt trong Chân trời cũ đã xuất hiện nhiều lần ở mức độ cao

những từ cùng trường nghĩa để nhấn mạnh cảm giác buồn thương của cái tôi trữ tình:

buồn, buồn bã, buồn rầu, buồn khổ, buồn thảm, tang tóc, ưu hoài, ảo não, ngậm ngùi, thê

lương, u uất, não nùng, não nuột, sầu thảm...., trong đó từ buồn xuất hiện đến 23 lần,

buồn bã: 14 lần, buồn rầu: 6 lần...Cùng với sự xuất hiện của những từ này là những trạng

thái tâm lý cụ thể mỗi khi nhìn lại quá khứ, nó góp phần mở ra cả bức tranh tâm trạng với

thế giới nội tâm phong phú, phức tạp của cái tôi trữ tình. Những từ này cứ lặp đi lặp lại

như những điệp khúc của tâm trạng trong dòng chảy miên man của hồi ức. Cho nên khi

đọc Hồ Dzếnh, người đọc thường có cảm giác lắng sâu, đồng cảm theo những dòng tâm

tư chân thành cảm động của nhà văn. Lê Quang Trang đã rất xác đáng khi nhận xét về Hồ

Dzếnh rằng:

"Văn ông trầm tĩnh đều đều như những cơn mưa ngẫu dai dẳng, đầm dề, không ào

ạt nhưhg vẫn tạo được cảm giác lắng đọng, ngấm sâu gợi nghĩ về những điều nhân đạo

một cách trong sáng" [3;181,182]. Và có lẽ điều này đã tạo nên cái hơi văn rất riêng của

Hồ Dzếnh giữa những cây bót trữ tình cùng thời.

120

KẾT LUẬN

Từ đầu thế kỷ XX, diện mạo của nền văn học dân tộc đã có sự thay đổi lớn lao, đó

là sự chuyển biến từ văn học Trung đại sang văn học hiện đại. Giai đoạn 1930-1945 là

giai đoạn đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ, phong phú, đa dạng theo hướng hiện đại trong

tiến trình phát triển của nền văn học những năm đầu thế kỷ. Trong bức tranh phong phú,

đa dạng của văn xuôi Việt Nam giai đoạn ấy, Hồ Dzếnh cùng với Thạch Lam, Thanh

Tịnh đã có những đóng góp có ý nghĩa cho loại văn xuôi trữ tình. Cũng như Thạch Lam,

Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh đã góp vào đây một tiếng nói nghệ thuật độc đáo thể hiện ở

những trang văn mang bản sắc, phong cách riêng khó lẫn.

So với các nhà văn cùng xu hướng sáng tác, Hồ Dzếnh đứng ở một vị trí rất khiêm

tốn. Ông không phải là một tác giả lớn và sáng tác của ông cũng không nhiều. Ở lĩnh vực

văn xuôi, ngoài Chân trời cũ một tập truyện được nhiều người biết đến và được đánh giá

cao-ông còn viết vài tiểu thuyết ký bút danh Lưu Thị Hạnh. Tác phẩm của ông không

được đón nhận sôi nổi như một số nhà văn lớn khác nhưng dù vậy, trải qua thử thách

khắc nghiệt của thời gian, tác phẩm của ông vẫn âm thầm lặng lẽ sếng trong lòng người

đọc. Có được điều này có lẽ là vì những tác phẩm của ông đã thể hiện một phong cách

riêng khố trộn lẫn cả trên bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật.

Qua những tác phẩm văn xuôi của ông, người đọc luôn nhận ra được tấm lòng nhân

hậu, những cảm xức rất mực chân thành, trung thực của ông về cuộc đời. Ông đã viết về

con người và quê hương bằng tát cả tấm lòng yêu thương, trân trọng. Viết về con người,

dù đó là ai, ông cũng dành cho họ những tình cảm yêu thương, sự sẻ chia thông cảm với

số phận tăm tối của họ, đặc biệt là người phụ nữ. Ông còn tìm thấy ở họ những phẩm chất

tốt đẹp tượng trưng cho phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam. Ở khía cạnh này,

ông đã góp phần đem đến cho văn học Việt Nam hiện đại hình ảnh đẹp của những con

người Việt Nam, những con người rất đỗi hiền lành, bình dị mà tâm hồn hết sức trong

sáng, giàu lòng yêu thương.

121

Viết về quê hương, dù đó là quê cha hay quê mẹ, ông vẫn xem đó là tất cả những gì

thiêng liêng đáng quí, đáng trọng và luôn tha thiết hướng về. Tuy nhiên tình cảm đối với

quê hương của Hồ Dzếnh lại chứa đựng cả nỗi trăn trở, ray rứt, cảm giác cô đơn lạc loài

vì ông luôn mang trong lòng tâm trạng phức tạp với "niềm khắc khoải giữa hai bờ xứ sở".

Chính ở điểm này, Hồ Dzếnh đã đóng góp cho văn học Việt Nam sắc thái riêng trong

những trang văn viết về quê hương.

Những nội dung trong tác phẩm của Hồ Dzếnh lại được thể hiện trong một hình

thức thích hợp qua cách biểu đạt của lời văn nghệ thuật. Lời văn nghệ thuật của Hồ

Dzếnh dù được tổ chức theo phương thức trần thuật chủ quan hay khách quan đều vẫn rất

đậm chất trữ tình. Với lối bộc lộ cảm xúc trực tiếp trong câu chuyện, Hồ Dzếnh đã tạo

nên dâu ấn riêng độc đáo trong cách kể chuyện vì chất trữ tình đã đạt đến độ đậm đặc.

Ngoài lời gián tiếp và trực tiếp dể tái hiện câu chuyện và lời nổi của nhân vật hoặc của

tác giả, nhà văn còn sử dụng lời nói nửa trực tiếp đế thể hiện ý thức nhân vật, góp phần

vào việc phân tích, miêu tả ý thức nhân vật. Điểm nhìn chỏ yếu là của người kể nhưng

cũng có lúc tác giả trao điểm nhìn cho nhân vật tạo nên sự xen kẽ giữa điểm nhìn của

người kể với điểm nhìn của nhân vật.

Nói đến văn phong Hồ Dzếnh, người ta cũng thường nói đến sắc thái của giọng điệu

kể chuyện trong văn xuôi nghệ thuật của ông. Một điều tạo nên ấn tượng sâu sắc của

người đọc khi đọc Hồ Dzếnh chính là giọng điệu trữ tình sâu lắng thím đẫm cảm xúc

trong những trang văn xuôi của ông. Có thể nói rằng, chứa đựng trong Chân trời cũ là

những dòng chảy miên man của cảm xúc hoài niệm của cái tôi trữ tình cho nên sắc điệu

chủ yếu của tác phẩm chính là chất giọng trữ tình đằm thắm xuyên suốt tập truyện. Giọng

điệu trữ tình cũng đã chi phối cách lựa chọn từ ngữ, ngữ điệu... của tác phẩm mục đích để

cho nhà văn diễn đạt rõ nhất cảm xúc của mình.Để thể hiện giọng văn này, nhà văn đã sử

dụng lời văn đầy ắp cảm xúc, ngôn ngữ chủ yếu cũng là ngồn ngữ của cảm xúc rất giàu

giá trị biểu cảm diễn tả được mọi sắc thái của cảm xúc, tâm ttạng, vì thế ngôn ngữ văn

xuôi Hồ Dzếnh gần với ngôn ngữ thơ, mang đậm chất thơ, cách ngắt nhịp cũng theo nhịp

điệu của cảm xúc. Điều này đã tạo nên một phong cách riêng độc đáo của Hồ Dzếnh.

122

Cùng với Thạch Lam, Thanh Tịnh, ông đã góp phần rút ngắn khoảng cách giữa thơ và

văn xuôi tạo nên một loại hình văn học độc đáo: văn xuôi trữ tình.

Bên cạnh chất giọng trữ tình, tác phẩm văn xuôi Hồ Dzếnh còn hấp dẫn người đọc

vì nó mang đặc điểm của một giọng văn thủ thỉ tâm tình thấm đượm nỗi buồn thương

man mác. Giọng điệu kể chuyện này đã chi phối cả cách miêu tả cảnh vật thiên nhiên, sử

dụng từ ngữ, nhịp điệu, kết cấu câu chuyện và những biện pháp mà nhà văn đã dùng.

Sự có mặt của văn xuôi Hồ Dzếnh trong nền văn học Việt Nam hiện đại đã góp

phần làm phong phú, đa dạng hơn cho bộ mặt của văn xuôi dân tộc giai đoạn 1930-1945.

Tác phẩm của ông đã đóng góp, dù chỉ ở mức độ khiêm tốn, cho sự phát triển rực rỡ của

văn học Việt Nam giai đoạn này ở cả bình diện nội dung và hình thức.

Cũng như Thạch Lam, Thanh Tịnh, những tác phẩm của Hồ Dzếnh tuy không có ý

nghĩa xã hội rộng lớn nhưng đóng góp của ông chính là đã đem đến cho người đọc sự

cảm nhận chất thơ bình dị của cuộc sống qua bút pháp trữ tình sâu lắng, ngôn ngữ giàu

chất thơ, tính biểu cảm có sức khơi gợi sâu sắc. Trong một chừng mực nhất định, ông

cũng có những đóng góp cho sự phát triển của văn xuôi hiện đại trong sự tổ chức lời văn

nghệ thuật, tổ chức điểm nhìn trần thuật, việc khai thác chiều sâu của đời sống nội tâm.

Những tác phẩm của Hồ Dzếnh đã mang đến cho văn xuôi nghệ thuật Việt Nam hiện đại

một sắc thái thẩm mỹ riêng qua những trang văn dồi dào màu sác biểu cảm, mềm mại

tính tế như những bài thơ văn xuôi nhẹ nhàng truyền cảm mà cố sức lay động sâu xa.

Điều này đã làm cho tác phẩm của ông, "Quê ngoại” rồi "Chân trời cũ” cứ lặng lẽ "kết

kén" trong lồng người đọc. Có lẽ đây là biểu hiện của lòng ưu ái, trân trọng của những

người yêu văn chương đối với Hồ Dzếnh- "nhà văn Minh Hương mang tâm hồn Việt"-

trước những đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam hiện đại.

Luận văn chỉ là một công trình rất nhỏ bé của người viết với mong muốn khẳng

định sự đống góp của nhà văn Hồ Dzếnh cho nền văn học dân tộc qua vài đặc điểm trong

văn xuôi nghệ thuật của ông. Những điều chứng tôi trình bày ương luận văn là những

nhận xét rút ra từ việc đi sâu tìm hiểu văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh, trong đó có sự kế

thừa thành tựu nghiên cứu của những người đi trước. Do điều kiện thời gian, do hạn chế

123

về khả năng nghiên cứu nên những nhận xét trên chắc chắn còn nhiều hạn chế về nội

dung, về cách trình bày. Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy Cô để cho

luận văn được bổ sung, sửa chữa cho hoàn thiện hơn.

124

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Hoài Anh (2001), Chân dung văn học, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội. 1.

Hoài Anh (1991), Hồ Dzếnh, nhà văn Minh Hương mang tâm hồn Việt, tạp 2.

chí văn TP Hồ Chí Minh.

3. Lại Nguyên Ân - Ngô Văn Phú (2001), Hồ Dzếnh, một hồn thơ đẹp, NXB

Văn hóa-thông tin, Hà Nội

4. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia, Hà

Nội

5. Bakhtin M. (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Bản dịch tiếng Việt của

Phạm Vĩnh Cư), Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội.

6. Bakhtin M. (1998), Những vấn đề thi pháp Dostoievski (Bản dịch tiếng

Việt của Trần Đình Sử, Lại Nguyên An, Vương Trí Nhàn) ,NXB Giáo dục.

Lê Bảo (1999), Thạch Lam - Hồ Dzếnh NXB Giáo dục, Hà Nội. 7.

Lê Huy Bắc (1998), Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại, Tạp chí 8.

văn học số 9.

Vũ Bằng (2000), Tuyền tập, tập 2, NXB Văn học, Hà Nội. 9.

Ngô Vinh Bình (1996), Thanh Tịnh, văn và đời, NXB Thuận Hoá. 10.

Nam Cao (1976), Tác phẩm (tập 1,2 ), NXB Văn học, Hà Nội. 11.

Trương Chính (1989), Hồ Dzếnh và tác phẩm chọn lọc, Tạp chí văn học số 12.

1.

13. Xuân Diệu (1983), Tuyển tập (1, 2), NXB Văn học, Hà Nội.

14. Hồ Dzếnh (1998), Sáng trăng suông, NXB Hội nhà văn, Hà Nội.

Hồ Dzếnh (2001), Chân trời cũ, NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh. 15.

Hồ Dzếnh (2001), Những trang văn xuôi chọn lọc, NXB Văn học Hà Nội. 16.

125

17. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học,

Hà Nội.

18. Hà Minh Đức (1997), Khảo luận văn chương,NXB Khoa học xã hội, Hà

Nội.

19. Trinh Đường ( 1991 ), Hồ Dzếnh và tính chất đồng hoá với Việt Nam trong

thơ anh, Tạp chí văn học số 6.

20. Văn Giá (2000), Vũ Bằng - Bên trời thương nhớ, NXB Văn hóa- Thông tin,

Hà Nội.

21. Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương (1998;, Lý luận văn học - vấn đề

và suy nghi NXB Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh.

22. Lưu Thị Hạnh (1990), Một chuyện tình mười lăm năm về trước, NXb Cửu

Long.

23. Lưu Thị Hạnh (1968), Những vành khăn trắng, NXB Hương đất Mẹ, Sài

Gòn.

24. Hoàng Ngọc Hiến (1999), Năm bài giảng về thể loại, NXb Giáo dục, Hà

Nội.

25. Hoàng Ngọc Hiến (1999) Văn học và học văn, Nxb Văn học, Hà Nội.

26. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thỉ pháp của truyện, Nxb Giáo dục

Hà Nội.

27. Võ Đình Hoa (2001), Lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn trước 1945 của

Nam Cao, Trường Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh.

28. Phạm Thu Hương (1995), Hồ Dzếnh với niềm khắc khoải giữa hai bờ xứ

sở, Tạp chí văn học số 4.

29. Phạm Thu Hương (1993), Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện

ngắn Thạch Lam, Tạp chí văn học số 3.

126

30. Phạm Thị Thu Hương ( 1995 )Ba phong cách truyện ngắn trữ tình trong

Văn học Việt Nam 1930 - 1945-Thạch Lam- Thanh Tịnh -Hồ Dzếnh, Trường ĐHSP Hà

Nội I

31. Trần Thu Hương (2002)Đặc điểm văn xuôi trữ tình Vũ Bằng, Trường

ĐHSP TP Hồ Chí Minh.

32. Phạm Khải (1991), Hồ Dzếnh và những người bạn quá cố, Tạp chí văn

nghệ số 6.

33. Nguyễn Thị Dư Khánh (\995\Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi

pháp, NXB Giáo dục. TP Hồ Chí Minh.

34. M. B. Khrapchenco (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển

của văn học, Nxb Tác phẩm mới ( Hội nhà văn Việt Nam), Hà Nội.

35. Milan. Kundera (1998), Nghệ thuật tiểu thuyết, Nxb Đà Nẵng.

36. Nguyễn Hoành Khung (chủ biên ), ( 1998 ), Văn xuôi lãng mạn Việt Nam

1930-1945 (2 tập), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

37. Đinh Trọng Lạc (1994), Phong cách học văn bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

38. Thạch Lam (1997), Gió đầu mùa, Nxb Tổng hợp, Đồng Tháp.

39. Tôn Phương Lan (2002), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội.

40. Tôn Phương Lan (1999), Thi sĩ Hồ Dzếnh- Tài năng và tấm lòng, Tạp chí

văn học số 12.

41. Phong Lê (2001), Một số gương mặt văn chương học thuật Việt nam hiện

đại, Nxb Giáo dục Hà Nội.

42. Phan Quốc Lữ (1997 )-Đặc điểm văn xuôi trữ tình thời kỳ 1932-1945 ( Qua

khảo sát tác phẩm của Thạch Lam, Thanh Tịnh Hồ Dzếnh), Trường ĐHSP TP Hồ Chí

Minh.

127

43. Phương Lựu (chủ biên), (1997), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

44. Nguyễn Đăng Mạnh - Nguyễn Đình Chú- Nguyên An ( 1992 ), Tác giả văn

học Việt Nam, tập 2- Nxb Giáo dục, Hà Nội.

45. Nguyễn Đăng Mạnh (1994), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà

văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

46. Vương Trí Nhàn (2001), sổ tay truyện ngắn, Nxb Văn nghệ TP Hồ Chí

Minh.

47. Phùng Quý Nhâm ( 1991 ), Thẩm định văn học, Nxb Văn nghệ TP Hồ Chí

Minh.

48. Phùng Quý Nhâm (2000), Cái nhìn của nhân vật, Tạp chí văn học số 10.

49. Phùng Quý Nhâm - Lâm Vinh (1994), Tiếp cận văn học ( Lý luận và phê

bình văn học), trường Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh.

50. Ngô Văn Phú - Lại Nguyên Ân (1993), Hồ Dzếnh thi si Nxb.Hội Nhà văn ,

Hà Nội.

51. Ngô Văn Phú (1999), Nhà văn Việt Nam thế kỷ XX, tậpI, Nxb Hội Nhà văn

Hà Nội.

52. Phan Diễm Phương (1992), Ngôn ngữ người kể chuyện trong truyện ngắn

Nam Cao, Tạp chí văn học số 1.

53. Vũ Quần Phương (1988), Hồ Dzểnh, tác phẩm chọn lọc, Nxb Văn học Hà

Nội.

54. G. N. Pospelov (chủ biên ) (1985), Dân luận nghiên cứu văn học, tập I, Nxb

Giáo đục, Hà Nội.

55. G. N. Pospelov (chủ biên) (1985), Dân luận nghiên cứu văn học, tập 2, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

128

56. Lê Thị Hồ Quang (2002), Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn của

Nguyễn Khải sau 1980, Văn nghệ Quân đội số 3.

57. Trần Đình Sử (1993), Giáo trình Thi pháp học, Trường Đại học sư phạm Tp

Hồ Chí Minh.

58. Trần Đình Sử (1993), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, Bộ Giáo dục và

đào tạo - Vụ Giáo viên, Hà Nội.

59. Trần Đình Sử (1996), Lý luận và phê bình văn học, Nxb Hội Nhà văn, Hà

Nội.

60. Đào Thản (1994), Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện trong văn

xuôi, tạp chí văn học số 2.

61. Vũ Thăng (2001), Một vài đặc điềm thi pháp truyện Nam Cao, Nxb Quân

đội nhân dân, Hà Nội.

62. Bích Thu (1997), Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải

những năm tám mươi đến nay, Tạp chí văn học số 10.

63 Thanh Tịnh (1992), Quê mẹ, Nxb Khánh Hòa và Công ty Phát hành sách

KV 2.

64 Lê Ngọc Trà (1990), Lý luận và văn học, Nxb TP Ho Chí Minh.

65. Phùng Văn Tửu (2002), Tiểu thuyết Pháp hiện đại, những tìm tòi đổi mới,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

66. Phùng Văn Tửu (1996), Một phương diện của truyện ngắn, Tạp chí văn học

sỗ 2.

67. Nhiều tác giả (1999), Nhà vân Việt Nam thế kỷ XX, tập I, Nxb Hội Nhà văn, Hà

Nội.

68. Nhiều tác giả (1983), Tự điển văn học, tập I, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

129

69. Nhiều tác giả (1986), Lý luận văn chương sơ giản, Trường đại học sư phạm, TP

Hồ Chí Minh.

130