BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------------------------
Phạm Hồng Châu
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
GIÁO DỤC MẦM NON
QUA MẠNG INTERNET
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------------------------
Phạm Hồng Châu
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
GIÁO DỤC MẦM NON
QUA MẠNG INTERNET
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒ VĂN LIÊN
Thành phố Hồ Chí Minh – 201
LỜI CÁM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả kính bày tỏ lòng biết ơn đến:
- Ban Tổ chức Thành ủy TPHCM,
- Quý thầy cô đã giảng dạy lớp cao học QLGD khóa 20,
- Phòng Sau đại học – trường ĐHSP TPHCM,
- Khoa Tâm lý Giáo dục - trường ĐHSP TPHCM,
- Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo TPHCM,
- Phòng Giáo dục Mầm non,
- Phòng Khảo thí và Kiểm định Chất lượng Giáo dục,
- Phòng Giáo dục và Đào tạo 24 quận huyện,
- Tổ Mầm non 24 quận huyện,
- BGH, GV, PH ở 24 trường mầm non công lập,
- Gia đình, bạn bè…đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, động viên để tác giả hoàn
thành luận văn. Đặc biệt kính bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Hồ Văn Liên đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn thạc sĩ.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 12 năm 2010
Phạm Hồng Châu
MỤC LỤC
6TLỜI CÁM ƠN6T ........................................................................................................... 3
6TMỤC LỤC6T ................................................................................................................ 4
6TMỞ ĐẦU6T ................................................................................................................... 7
6T1. Lý do chọn đề tài6T ........................................................................................................ 7
6T2. Mục đích nghiên cứu6T .................................................................................................. 9
6T3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu6T ........................................................................... 9
6T4. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu6T ................................................................................. 9
6T5. Giả thuyết khoa học6T.................................................................................................... 9
6T6. Nhiệm vụ nghiên cứu6T ................................................................................................ 10
6T7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu6T ..................................................... 10
6T8. Bố cục của đề tài6T ....................................................................................................... 11
6TCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU6T ........................ 12
6T1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề6T ..................................................................................... 12
6T1.1.1. Ở nước ngoài6T .................................................................................................... 12
6T1.1.2. Ở Việt Nam6T ...................................................................................................... 14
6T1.2. Các khái niệm6T ........................................................................................................ 17
6T1.2.1. Giáo dục và Giáo dục mầm non6T ........................................................................ 17
6T1.2.2. Ngành GDMN, trường mầm non6T ...................................................................... 18
6T1.2.3. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học6T .................................................. 21
6T1.3. Quản lý giáo dục mầm non6T ................................................................................... 28
6T1.3.1. Cơ cấu tổ chức quản lý GDMN6T ......................................................................... 28
6T1.3.2. Phòng GD-ĐT và công tác quản lý GDMN6T....................................................... 30
6T1.3.3. Sở GD&ĐT và công tác quản lý GDMN6T .......................................................... 30
6T1.4. Quản lý GDMN qua mạng internet6T ...................................................................... 32
6T1.4.1. Mục tiêu quản lý GDMN qua mạng internet6T ..................................................... 36
6T1.4.2. Nội dung quản lý GDMN qua mạng internet6T ..................................................... 37
6T1.4.3. Chức năng quản lý GDMN qua mạng internet6T .................................................. 41
6T1.4.4. Nguyên tắc, phương pháp, phương tiện QLGDMN qua mạng internet 6T .............. 43
6T1.4.5. Sự phối hợp quản lý và QL sự phối hợp GDMN qua mạng internet 6T .................. 48
6TCHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC MẦM NON QUA MẠNG INTERNET Ở TP. HỒ CHÍ MINH6T ...................................................................... 50
6T2.1. Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội - giáo dục TP.HCM6T................................ 50
6T2.1.1. Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội TP.HCM6T ............................................... 50
6T2.1.2. Khái quát về tình hình giáo dục TP.HCM6T ......................................................... 51
6T2.2. Giáo dục mầm non ở TP.HCM hiện nay6T .............................................................. 55
6T2.2.1. Quy mô phát triển GDMN TP.HCM6T ................................................................. 55
6T2.2.2. Công tác nuôi dưỡng và chăm sóc bảo vệ sức khỏe 6T........................................... 55
6T2.2.3. Công tác giáo dục6T ............................................................................................. 56
6T2.2.4. Công tác xây dựng môi trường thân thiện trong trường mầm non 6T ..................... 56
6T2.2.5. Công tác giáo dục bảo vệ môi trường6T ................................................................ 57
6T2.2.6. Công tác giáo dục về an toàn giao thông6T ........................................................... 57
6T2.2.7. Công tác ứng dụng công nghệ thông tin6T ............................................................ 57
6T2.2.8. Công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý và GV 6T ................... 59
6T2.2.9. Cơ sở vật chất, thiết bị và kinh phí cho giáo dục mầm non 6T ................................ 60
6T2.2.10. Công tác giáo dục trẻ khuyết tật6T ...................................................................... 60
6T2.2.11. Công tác phổ biến kiến thức cho phụ huynh và cộng đồng6T .............................. 60
6T2.3. Thực trạng quản lý GDMN qua mạng internet ở TP. HCM6T ............................... 60
6T2.3.1. Khái quát quá trình điều tra thực trạng6T .............................................................. 61
6T2.3.2. Thực trạng nhận thức về vai trò của công tác quản lý GDMN qua mạng internet trong công cuộc đổi mới quản lý hiện nay6T .................................................................. 64
6T2.3.3. Thực trạng sử dụng các hình thức / phương tiện quản lý 6T ................................... 67
6T2.3.4. Thực trạng trang thiết bị đáp ứng yêu cầu cho công tác quản lý GDMN qua mạng internet6T.............................................................................................................. 73
6T2.3.5. Thực trạng thực hiện các nội dung QLGDMN qua mạng internet 6T ..................... 74
6T2.3.6. Thực trạng sử dụng internet của các cán bộ quản lý GDMN 6T ............................. 79
6T2.4. Kết luận thực trạng QLGDMN qua mạng internet ở TPHCM6T........................... 83
6T2.4.1. Ưu điểm6T ............................................................................................................ 83
6T2.4.2. Hạn chế6T ............................................................................................................ 83
6T2.4.3. Nguyên nhân6T .................................................................................................... 84
6T2.4.4. Ý kiến của các đối tượng tham gia điều tra (PMN, TMN, BGH, GV, PH) đối với việc quản lý GDMN qua mạng internet6T ...................................................................... 88
6TCHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC MẦM NON QUA MẠNG INTERNET Ở TP. HỒ CHÍ MINH6T ............................................... 90
6T3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp6T .................................................................................. 90
6T3.1.1. Cơ sở pháp lý6T .................................................................................................... 90
6T3.1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn6T ................................................................................. 94
6T3.2. Các biện pháp6T ........................................................................................................ 96
6T3.2.1. Đề xuất các biện pháp6T ....................................................................................... 96
6T3.2.2. Tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 6T ..................................................... 118
6TPHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ6T .................................................................. 123
6T1. Kết luận6T ................................................................................................................... 123
6T2. Kiến nghị6T ................................................................................................................. 125
6TTÀI LIỆU THAM KHẢO6T ................................................................................... 130
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử phát triển giáo dục của nước ta, giáo dục luôn phải đương đầu liên tục
với sự biến đổi của quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục luôn phải thích ứng với
những yêu cầu đòi hỏi khác nhau của từng giai đoạn phát triển của xã hội. Từ thập niên cuối
của thế kỷ XX đến nay, Việt Nam đang thực hiện bước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch
hóa, tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mô hình kinh tế
chuyển đổi này đòi hỏi một nguồn nhân lực có chất lượng được đào tạo hệ thống ở tất cả các
lĩnh vực: kinh tế, sản xuất, dịch vụ… đáp ứng sự thay đổi nhanh, mạnh của thị trường trong
nước và quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát triển nền giáo dục theo hướng
dân tộc, hiện đại và chất lượng.
Bên cạnh đó, xu thế phát triển giáo dục của thế giới đang tác động sâu sắc đến giáo
dục Việt Nam, yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực đang đặt ra những yêu cầu mới về cải
cách nội dung chương trình giáo dục, thay đổi phương pháp dạy học trong nhà trường các
cấp để xây dựng một nền giáo dục chất lượng… Vì thế, vấn đề không ngừng nâng cao chất
lượng giáo dục là vấn đề cần được quan tâm và là yêu cầu cấp bách của tất cả những nhà
quản lý giáo dục, cán bộ giảng dạy và của toàn xã hội.
Các thành tựu nghiên cứu giáo dục đã thừa nhận quản lý giáo dục là nhân tố then chốt
đảm bảo sự thành công của phát triển giáo dục. Đặc biệt, đối với việc quản lý chất lượng
giáo dục, Nghị quyết số 37/2004/QH11 đã đặt ra yêu cầu: “Đổi mới toàn diện công tác
quản lý nhà nước về giáo dục, lấy việc quản lý chất lượng làm nhiệm vụ trọng tâm”... Và
trong năm học 2009-2010, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT cũng đã công bố Chỉ thị về nhiệm vụ
trọng tâm năm học với chủ đề “Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”.
Quản lý là một hoạt động rất cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người.
Ở đâu con người tạo nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lý, dù cho đó là nhóm không
chính thức hay chính thức, nhóm nhỏ hay nhóm lớn, nhóm bạn bè hay nhóm gia đình hay
các đoàn thể, tổ chức xã hội; dù cho nhóm đó hoạt động với bất kỳ mục đích, nội dung gì.
Quản lý là một hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo cao, vừa là một khoa học vừa là một
nghệ thuật đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay, nhiệm vụ đổi mới quản
lý và nâng cao chất lượng giáo dục không thể không bị tác động bởi các thành tựu của công
nghệ thông tin.
Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng
với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá,
xã hội của thế giới hiện đại. Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin nhằm góp phần giải
phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới,
phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao
chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón
đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Ngay từ thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương vận dụng
công nghệ thông tin trong một số lĩnh vực. Bước sang thời kỳ đổi mới, chủ trương ấy đã
được nhấn mạnh và cụ thể hoá trong nhiều Nghị quyết của Đảng và Chính phủ như: nghị
quyết số 26-NQ/TW, ngày 30-3-1991 của Bộ Chính trị về khoa học và công nghệ trong sự
nghiệp đổi mới đã nêu: "Tập trung sức phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi
nhọn như điện tử, tin học..."; Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương
(khoá VII) ngày 30-7-1994 xác định: "Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên
tiến, như công nghệ thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hoá và tin học hoá nền kinh tế quốc
dân"; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh: "Ứng dụng công
nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về
năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế…". Để thể chế hoá về mặt Nhà nước,
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 49/CP ngày 04 tháng 8 năm 1993 về "Phát triển công
nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90".
Năm học 2008 - 2009 là năm học đầu tiên triển khai thực hiện Chỉ thị số 55/2008/CT-
BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và
ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 - 2012. Năm
học 2008 - 2009 được chọn là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đổi mới quản lý tài
chính và xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực …”. Trong công văn số
9772/BGDĐT-CNTT ngày 20/10/2008, Bộ GD&ĐT đã hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm
học 2008 - 2009 về CNTT như sau: Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong điều hành và quản lý
giáo dục, quản lý hành chính tại các Sở GD-ĐT và các trường học: thực hiện việc chuyển
phát công văn, tài liệu qua mạng điện tử, kết nối thông tin và điều hành bằng văn bản điện
tử giữa Sở và các trường, giữa Sở và Bộ; triển khai tin học hoá quản lý trong trường học...
Thực hiện chủ đề năm học “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT...”, Phòng GDMN
của Sở GD-ĐT TP.HCM đã triển khai công tác quản lý GDMN qua mạng internet. Với việc
ứng dụng mạng internet trong quản lý đầy mới mẻ như thế, Phòng GDMN đã dựa vào
những căn cứ nào để lựa chọn được các biện pháp quản lý phù hợp, đã gặp phải những khó
khăn gì và hiệu quả của việc quản lý công tác này như thế nào?
Để trả lời được các câu hỏi trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Thực trạng quản lý
Giáo dục Mầm non qua mạng internet ở TP. Hồ Chí Minh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Từ nghiên cứu thực trạng, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Giáo
dục Mầm non qua mạng internet ở TP. Hồ Chí Minh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý GDMN ở TP.HCM.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý GDMN qua mạng internet ở TP. Hồ Chí Minh.
4. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Công tác quản lý GDMN qua mạng internet của các trường công lập (12 trường nội
thành và 12 trường ngoại thành), 24 Tổ Mầm non của 24 Phòng GD-ĐT các quận huyện và
Phòng GDMN - Sở GD&ĐT ở TP. Hồ Chí Minh.
5. Giả thuyết khoa học
Quản lý GDMN qua mạng internet ở TP. Hồ Chí Minh đã được thực hiện ở các trường
mầm non công lập, bên cạnh những ưu điểm như: giảm tải công việc, tiết kiệm được các
nguồn lực và thời gian, tăng cường sự giám sát đối với chất lượng công việc, cung cấp
thông tin mở cho cộng đồng... còn tồn tại một số hạn chế như là chất lượng mạng internet
yếu, trình độ tin học của đội ngũ cán bộ, nhân viên chưa phù hợp, hiệu quả quản lý chưa
cao...
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng, có thể đề xuất được các biện pháp quản lý
nhằm tăng cường công tác quản lý GDMN qua mạng internet ở TP.HCM.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận của đề tài.
6.2. Khảo sát thực trạng quản lý GDMN qua mạng internet ở TP. HCM.
6.3. Đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý GDMN qua mạng
internet ở TP. Hồ Chí Minh.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
7.1.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Tiếp cận quan điểm hệ thống - cấu trúc, người nghiên cứu thấy thực trạng quản lý
Giáo dục Mầm non qua mạng internet ở TP. Hồ Chí Minh bao gồm những yếu tố sau đây:
mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, chủ thể, đối tượng và kết quả quản lý có mối
quan hệ biện chứng với nhau; cần phải quan tâm giải quyết tốt các mối quan hệ này.
- Tổ MN quản lý các trường / nhóm / lớp GDMN qua mạng internet gồm các mảng cơ
bản sau: số lượng trường / nhóm / lớp, số trẻ nhà trẻ / mẫu giáo; tình trạng dinh dưỡng của
trẻ; chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ; số cán bộ quản lý - giáo viên - công nhân viên; trình
độ của CBQL - GV - CNV; cơ sở vật chất; kinh phí…
- Phòng GDMN quản lý Tổ MN và quản lý việc quản lý của Tổ MN đối với các đơn vị
GDMN.
7.1.2. Quan điểm thực tiễn
Xuất phát từ thực trạng quản lý Giáo dục Mầm non qua mạng internet ở TP. Hồ Chí
Minh còn gặp nhiều khó khăn do đó cần tìm hiểu các nguyên nhân và đề xuất các biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.
7.1.3. Quan điểm lịch sử
Thực trạng được khảo sát cần làm sáng tỏ những vấn đề quản lý Giáo dục Mầm non
qua mạng internet ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay.
7.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa thông tin.
7.2.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra viết: Sử dụng bảng hỏi nhằm thu thập dữ kiện phục vụ cho việc
chứng minh giả thuyết của đề tài.
- Quan sát một số hoạt động quản lý GDMN qua mạng internet để thu thập chứng cứ
phục vụ nghiên cứu. Phương tiện quan sát: máy chụp hình, máy vi tính…
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: nghiên cứu trang web và các văn bản chỉ đạo
việc quản lý GDMN qua mạng.
- Phương pháp trưng cầu ý kiến chuyên gia.
7.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý số liệu điều tra.
8. Bố cục của đề tài
- Được trình bày theo 3 phần:
+ Phần mở đầu.
+ Nội dung chính: gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Thực trạng quản lý Giáo dục Mầm non qua mạng internet ở TP. Hồ
Chí Minh.
Chương 3: Đề xuất các biện pháp quản lý Giáo dục Mầm non qua mạng
internet ở TP. Hồ Chí Minh.
+ Phần kết luận.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ở nước ngoài
* Vấn đề UDCNTT trong QL nhận được sự quan tâm ở rất nhiều nước trên thế giới.
Đặc biệt, việc UDCNTT trong các hoạt động Uquản lý hành chính nhà nướcU, hướng đến xây
dựng một chính phủ hiện đại và hiệu quả là một trong những điểm trọng tâm trong quá trình
xã hội hóa thông tin, phát triển dân chủ và củng cố bộ máy chính quyền các cấp, và hiện nay
mô hình Chính phủ điện tử (e-government) đã và đang được áp dụng rộng rãi tại nhiều nước
trên thế giới và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho xã hội.
Ở nước Nga, trong vòng ba năm tới Nga sẽ tinh giản hơn 100.000 công chức và sẽ lập
chính phủ điện tử. Tổng thống Dmitry Medvedev đã nhấn mạnh mô hình chính phủ điện tử
sẽ tạo điều kiện để xác định một tỉ lệ công chức phù hợp nhất, giảm bớt lượng công việc
giấy tờ và loại bỏ việc xếp hàng dài dằng dặc của người dân tại các cơ quan công quyền.
Nga hiện đứng ở vị trí 59 trong danh sách xếp hạng chính phủ điện tử năm 2010 của Liên
Hiệp Quốc (Việt Nam hạng 90). Năm 2009, Tổng thống Medvedev từng phàn nàn: “Chúng
ta lạc hậu về vấn đề chính phủ điện tử quá! Giao dịch nội bộ giữa các cơ quan công quyền,
giữa người dân với cơ quan công quyền vẫn là trên giấy tờ, máy tính chẳng hơn máy đánh
chữ là mấy!”. [43]
“Giảm giá thành, tăng hiệu quả, minh bạch và tính giải trình về các dịch vụ” được xem
là nền tảng để đánh giá về chính phủ điện tử ở mọi quốc gia. Một trong những lý do thành
công cho một dự án chính phủ điện tử của Hàn Quốc - nước hiện đang xếp hạng 1 trong
danh sách xếp hạng chính phủ điện tử năm 2010 của Liên Hiệp Quốc - là “tìm giải pháp cho
người dân tham gia nhiều hơn vào quá trình điều hành của chính quyền”, trong đó có việc
cho ra mắt hệ thống cung cấp các thông tin hành chính theo yêu cầu của công dân và hệ
thống “Nhân dân điện tử” (e-People) để giải quyết đơn thư khiếu nại.
* Đối với lĩnh vực Ugiáo dụcU, ở các nước Đông Á, CNTT có một vị trí quan trọng trong
chương trình đổi mới giáo dục. Các chính sách mới về đổi mới giáo dục được xây dựng dựa
trên các tiền đề và triển vọng ứng dụng hiệu quả CNTT vào dạy và học (Richards, 2004).
Tuy nhiên, trên thực tế ứng dụng CNTT vào dạy học vẫn còn hạn chế. Phân tích việc ứng
dụng CNTT trong giáo dục không có khả năng loại bỏ máy tính khỏi các thay đổi xã hội và
chính trị như là một bối cảnh trường học lớn hơn (Selwyn, 1999). Các chính sách chiến lược
có thể đưa ra cơ sở lý luận, các mục đích và tầm nhìn của hệ thống giáo dục khi ứng dụng
CNTT (Kozma, 2008). Pick và Azari (2008) cũng nhận xét rằng các kết quả mà một dân tộc
muốn nâng cao CNTT phụ thuộc vào ý chí chính trị và cách các nhà lãnh đạo đánh giá sự
cần thiết của việc kết hợp các yếu tố đa chiều vào quá trình phát triển.
Trong vài thập kỉ gần đây, ở nhiều nước trên thế giới, máy vi tính đã được đưa vào sử
dụng trong trường như một phương tiện dạy học hữu hiệu, chẳng hạn như:
- Đề án “Tin học cho mọi người” (Informatique pour tous) – Pháp, 1970.
- Chương trình MEP (Microelectronics Education Program) – Anh, 1980.
- Các chương trình và phần mềm các môn học cho trường trung học được cung cấp bởi
NSCU (National Software-Cadination Unit) – Australia, 1984.
- Đề án CLASS (Computer Literacy And Studies in School) - Ấn Độ, 1985.
Ngoài ra, còn rất nhiều chương trình, phần mềm hỗ trợ khác có thể khai thác và ứng
dụng trong chương trình dạy học ở trường phổ thông.
* Vấn đề Uquản lý GDMNU qua mạng internet ở các nước trên thế giới đã có từ khi
ngành CNTT ở nước đó bắt đầu hình thành và phát triển. Vì thế, vấn đề quản lý GDMN qua
mạng internet là một vấn đề hết sức bình thường và tự nhiên ở các nước trên thế giới. Họ có
đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng như một hệ thống bộ máy quản lý chặt chẽ phối
hợp với nhau để vận hành một cách trơn tru, thuận lợi. Ví dụ như ở Autralia, họ không gọi
là quản lý qua internet mà gọi là vận dụng công nghệ thông tin trong quản lý (ICT:
information and communication technologies in educational management); họ đã vận dụng
ICT trong QLGD từ rất lâu và hiện nay rất phổ biến. Mỗi giáo viên đều có địa chỉ email
chính thống để trao đổi với nhau (…edu.au) không dùng yahoo hay gmail. Mỗi thông tin về
mục tiêu, nội dung bậc học, lớp học đều được update lên mạng và GV tự download về xem.
Bên cạnh đó, các thông tin hỗ trợ như lựa chọn phương pháp dạy học, phương tiện dạy học,
cách kiểm tra đánh giá… cũng được đưa lên mạng, GV có thể trao đổi với cố vấn chuyên
môn qua email và được hồi đáp nhanh chóng. Các trường được trang bị cơ sở vật chất, GV
được tập huấn tốt.
1.1.2. Ở Việt Nam
Tại Việt Nam, mô hình "chính phủ điện tử" đã được đưa vào ứng dụng nhằm cải thiện
phương thức quản lý hành chính, giúp mọi người tiếp cận được với các chính sách, cơ chế
của Đảng và Nhà nước một cách nhanh nhất.
Các bài viết và các công trình nghiên cứu đã có về việc UDCNTT nói chung và sử
dụng mạng internet để quản lý rất phong phú và đa dạng. Mỗi công trình mỗi bài viết đều
thể hiện sự tìm tòi khám phá công phu của người viết.
Nhìn từ góc độ UDCNTT, internet trong Utất cả các lĩnh vực nói chung, U có rất nhiều các
công trình, các bài viết như: “UDCNTT trong nghiệp vụ thanh toán liên kho bạc tại kho bạc
nhà nước tỉnh Hà Giang”; “Phát triển loại hình doanh nghiệp hỗ trợ dịch vụ công thông
qua khảo sát dịch vụ internet” (2000-2006) của ngành Bưu chính viễn thông; “Nghiên cứu
những điều kiện cần thiết để ứng dụng công nghệ internet vào giao dịch chứng khoán ở Việt
Nam” (2004) của Nguyễn Mạnh Tuấn; “Thử nghiệm kê khai thuế giá trị gia tăng qua mạng
internet” mã số đề tài LA1176; “Hạn chế rủi ro giao dịch trong Internet banking tại các
Ngân hàng thương mại Việt Nam” mã số đề tài LA1969; “Một số giải pháp chiến lược kinh
doanh sản phẩm dịch vụ Viễn thông và Internet nhằm nâng cao vị thế của Tập đoàn Bưu
chính Viễn thông Việt Nam trong giai đoạn cạnh tranh hội nhập” mã số đề tài LA2101;
“Nghiên cứu các giải pháp thúc đẩy ứng dụng Internet và thương mại điện tử để nâng cao
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định” mã số đề tài
LA2272; “Ứng dụng Intelligent mobile agent trong công tác đào tạo trên mạng Internet tại
Học viện công nghệ Bưu chính Viễn Thông” mã số đề tài LA3036; “Đẩy mạnh hoạt động
bán hàng qua mạng Internet tại Công ty TNHH đầu tư - thương mại - dịch vụ Minh Anh”
mã số đề tài 11522; “Công nghệ tin học ngành chứng khoán Việt Nam với vấn đề giao dịch
trực tuyến” (2002) của Thạc sĩ Đoàn Thanh Tùng; “Nghiên cứu xây dựng hệ thống kiểm
soát truy cập mạng và an ninh thông tin dựa trên sinh trắc học sử dụng công nghệ nhúng”
(2008-2010) của PGS.TS Nguyễn Thị Hoàng Lan và TS. Vũ Thị Hương Giang; “Xây dựng
thử nghiệm mô hình trang thông tin điện tử có tích hợp dịch vụ hỗ trợ người khiếm thị tiếp
cận và sử dụng thông tin” (2009) của ThS. Nguyễn Thị Thu Trang; “Các tiêu chuẩn thiết kế
website dễ tiếp cận và phương pháp sử dụng thông tin “nói” hỗ trợ người khiếm thị Việt
Nam tiếp cận, định hướng và khai thác thông tin trên website; ứng dụng vào triển khai
trang thông tin điện tử dành cho người khiếm thị” mã số đề tài: B2010–01–359; “Nghiên
cứu, phát triển các hệ thống thông tin phục vụ giáo dục và y tế cộng đồng” (2007-2009) của
PGS.TS Đặng Văn Chuyết; “Hệ thống lưu trữ và kiểm soát tài liệu điện tử ứng dụng trong
quản trị tri thức về khoa học và công nghệ” (2008-2009) của PGS. TS Trần Đình Khang;
“Hệ thống tìm kiếm trên Internet” (2006) của PGS. Huỳnh Quyết Thắng, PGS. Nguyễn
Ngọc Bình, Ths. Lê Tấn Hùng; “Nghiên cứu phát triển các kiến trúc và giải pháp điều khiển
QL mạng thế hệ mới” (2006-2007) mã số đề tài KHCB.2.014.06; “Hoạt động marketing
qua internet tại các doanh nghiệp Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Thị Phi
Nga; “UDCNTT vào công tác xây dựng” mã số đề tài DAN147…
Nhìn từ góc độ UDCNTT, internet Utrong quản lý nói chungU, có rất nhiều các công
trình, các bài viết như: “UDCNTT vào hoạt động QL khoa học và công nghệ tại tỉnh Vĩnh
Long” (2009) của ThS Trần Văn Nô; “Nghiên cứu, phát triển hệ thống lọc nội dung hỗ trợ
QL và đảm bảo an toàn – an ninh thông tin trên mạng Internet” của TS. Nguyễn Viết Thế;
“UDCNTT địa lý trong QL cấp thoát nước thành phố Tuy Hòa” (2010) của KS Lê Tỷ
Khánh; “UDCNTT trong QL hành chính nhà nước Sở Khoa học và Công nghệ giai đoạn
2002-2005”; “Ứng dụng tin học môi trường quản lý chất thải rắn đô thị cho quận Bình
Thạnh” (2007) của Trương Thị Ánh Nga;”Ứng dụng công nghệ hệ thông tin địa lý hỗ trợ
công tác quản lý tình trạng nước dưới đất vùng Hà Nội” (2010) của Đỗ Thị Hằng, Đỗ Minh
Khoa, Dương Văn Tuyền; “Ứng dụng thông tin địa lý phục vụ công tác quản lý tài nguyên
khoáng sản và môi trường của hệ thống dòng chảy tỉnh Bến Tre” (2009) của Sở Khoa học
và Công nghệ; trong phương hướng phát triển Bệnh Viện Răng Hàm Mặt Trung
Ương TPHCM cũng đã nhấn mạnh việc duy trì và phát triển Website của bệnh viện, triển
khai Hội chẩn từ xa và quản lý qua mạng Internet…
Nhìn từ góc độ UDCNTT, internet trong Ugiáo dục và quản lý giáo dụcU nói chung, có
rất nhiều các công trình, các bài viết như: “Một số biện pháp chỉ đạo của hiệu trưởng để đổi
mới phương pháp dạy học bằng sử dụng CNTT ở các trường THPT vùng ven TP.HCM”
(2004) của Trần Phước Đức; “Ứng dụng CNTT hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học các
môn khoa học Mác – Lênin” của Ths Nguyễn Thị Thanh Hải; “Ứng dụng CNTT vào dạy –
học và nghiên cứu môn Hán Nôm ở trường đại học” của Nguyễn Hoàng Thân; “Thiết kế và
sử dụng website trong dạy học phần "dao động điện - dòng điện xoay chiều, dao động điện
từ" lớp 12 THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh” (2007) của
Mai Hoàng Phương; “Một số biện pháp nâng cao khả năng sử dụng Internet trong dạy học
Vật Lý ở trường THPT” mã số đề tài LA7268; “Khai thác và sử dụng Internet trong dạy
học phần "Từ trường và cảm ứng điện tử" Vật lí lớp 11” mã số đề tài LA7610; “UDCNTT
trong GDĐT và công tác đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở trường CĐSP Quảng Trị” của
TS Lê Thị Xuân Liên; “UDNTT trong chương trình đào tạo” (2008) của Nguyễn Kim
Dung; “UDCNTT trong dạy học ở trường phổ thông VN” (2003-2005) của Đào Thái Lai;
“CNTT hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học, hướng mới trong nâng cao chất lượng đào
tạo – bồi dưỡng ở trường cao đẳng, đại học” (2008) của Lê Thị Xuân Liên, Nguyễn Hồng
Phương; “Xây dựng và triển khai hệ quản trị nội dung website mở dành cho giảng viên”
(2010); “Hệ thống phân phối dữ liệu đa phương tiện an toàn cho lớp học trên mạng” của
TS Nguyễn Linh Giang; “UDCNTT trong việc thiết lập thư viện dữ liệu phục vụ giảng dạy
môn sinh học ở trường THPT Hậu Giang” (2010) của nhóm tác giả Trường THPT chuyên
Vị Thanh; “Nghiên cứu và UDCNTT trong dạy và học môn toán các lớp THCS (lớp 6-7-8)”
(2006-2008) của TS Đỗ Văn Nhơn; “UDCNTT vào giảng dạy một số môn học lớp 2”
(2007-2008) của Trần Thị Vân Anh; “UDCNTT trong dạy học địa lí kinh tế - xã hội thế giới
lớp 11-THPT” của trường THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu; “Giải pháp nâng cao hiệu quả
QL đào tạo đại học hình thức vừa làm vừa học thông UDCNTT tại Trung tâm GDTX tỉnh
Thái Nguyên” (2009) của Hoàng Văn Thể; “UDCNTT trong công tác giảng dạy và QL” của
Phan Nguyễn Ý Nhi, Nguyễn Thị Mỹ Hà; “UDCNTT trong dạy học có hiệu quả” của Lê
Văn Thịnh; “Một số ứng dụng cơ bản của CNTT trong dạy học Vật lý” (2010) của Lê Duy
Giáp; “UDCNTT trong giáo dục VN: từ chính sách tới thực tế” của Jet Peeraer và Trần Nữ
Mai Thy; “Ứng dụng tin học ở một số nước Tây Âu nhân chuyến đi công tác tìm hiểu tình
hình giáo dục ở nước ngoài” (1996) của NGƯT Đào Thiện Hải; “Sử dụng máy vi tính trong
nghiên cứu và giảng dạy Địa lí” (1996) của GS. Nguyễn Dược; “Sử dụng máy vi tính làm
phương tiện hội thoại trong dạy học Vật lí” (1998) của PGS. PTS. Nguyễn Lạc; “Phần mềm
PC Fact với giảng dạy Địa lí” (1998) của GS. Nguyễn Dược; “Phần mềm Db-Map trong
dạy học Địa lí” (1998) của TS. Đặng Văn Đức…
Nhìn từ góc độ UDCNTT, internet trong UGDMN và quản lý GDMNU, có các công trình,
bài viết sau: “Đề tài nghiên cứu cấp Bộ đưa tin học vào GDMN” của Thạc sĩ Nguyễn Thị
Ngọc Châm – Phó Vụ trưởng Vụ MN (đây là căn cứ khoa học để UDCNTT trong GDMN);
"Quản lý GDMN qua internet ở TPHCM" (2009) của Phạm Bảo Quốc; “UDCNTT trong bậc
học mầm non” của Trần Thị Tuyết Dung…
Nhìn từ góc độ sử dụng internet trong việc quản lý GDMN cũng có nhiều bài viết bàn
đến vấn đề này, đây là một vấn đề thực sự thu hút được mối quan tâm của nhiều người, đặc
biệt là những người quan tâm đến công tác đổi mới, cải cách thủ tục hành chánh. Tuy nhiên,
đa số những bài viết này chỉ tập trung vào mặt CNTT, ứng dụng các phần mềm để hỗ trợ
một mặt nào đó của công tác quản lý (dạy, học, chăm sóc, tính khẩu phần ăn, IMAX (kế
toán), PMIS (QL nhân sự),…) như: “UDCNTT trong GDMN” của trường MNTT Lê Quý
Đôn với mục đích của đề tài là dạy trẻ làm quen với phương pháp học mới: Vừa học - vừa
chơi và học trên máy tính, giúp trẻ rèn luyện trí tuệ, củng cố kiến thức, kỹ năng; giúp trẻ
làm quen với một phương pháp học tập mới, hiện đại, nhanh chóng và đem lại hiệu quả; bài
giảng - trò chơi của giáo viên thiết kế trên máy được lấy ý tưởng từ những phần mềm ứng
dụng của chương trình Kidsmart, Bé vui học toán, Quả táo mầu nhiệm, Bút chì thông minh,
Happy Kids hay lấy từ mạng internet…
Có những công trình, bài viết nói về việc UDCNTT trong GDMN nhưng những nội
dung quản lý được nêu lẫn vào nhau, khó nhận diện, khó thấy rõ, khó hình dung rõ toàn bộ
thực trạng quản lý GDMN qua mạng internet.
Những công trình và những bài viết về việc ứng dụng CNTT trong QL đã nói ở trên là
những đóng góp hết sức quý báu, tuy nhiên nhiều công trình bài viết chỉ mới đi vào những
vấn đề chung của việc QL, đi sâu vào vấn đề công nghệ, phần mềm… chứ chưa đi sâu vào
mặt QL đặc biệt là quản lý GDMN. Luận văn này học tập, kế thừa thành tựu của người đi
trước, cố gắng đi sâu vào vấn đề quản lý GDMN qua mạng internet để từ đó có một cái nhìn
toàn diện về thực trạng quản lý GDMN qua mạng internet trong công cuộc đổi mới công tác
quản lý giáo dục hiện nay.
1.2. Các khái niệm
1.2.1. Giáo dục và Giáo dục mầm non
1.2.1.1. Giáo dục
Theo từ “Giáo dục” tiếng Anh – “Education” – vốn có gốc từ tiếng La tinh “Educare”
có nghĩa là “làm bộc lộ ra”. Có thể hiểu giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những
khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục.
Giáo dục bao gồm việc dạy học và giáo dục (nghĩa hẹp). Dạy học là một hình thức
giáo dục đặc biệt quan trọng và cần thiết cho sự phát triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách học
sinh.
Quá trình dạy học nói riêng và quá trình giáo dục nói chung luôn gồm các thành tố có
quan hệ biện chứng với nhau: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục,
phương tiện, hình thức tổ chức và kiểm tra đánh giá.
Sự giáo dục của mỗi cá nhân bắt đầu từ khi sinh ra (thậm chí bắt đầu trước khi sinh ra,
gọi là “thai giáo”) và tiếp tục trong suốt cuộc đời. Các cá nhân trong gia đình có ảnh hưởng
lớn đến kết quả giáo dục mầm non.
1.2.1.2. Giáo dục mầm non
Giáo dục mầm non hay giáo dục tuổi ấu thơ là việc giáo dục trong những năm tháng
đầu đời. GDMN là giai đoạn đầu tiên của việc hình thành và phát triển nhân cách của con
người, giữ vị trí mở đầu cho toàn bộ quá trình giáo dục và đào tạo, là bậc học đầu tiên trong
hệ thống GD quốc dân, do đó GDMN có vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp
giáo dục con người.
GDMN là khái niệm chung về việc giáo dục trẻ em trước khi vào học tiểu học, bao
gồm các hoạt động tại các cơ sở chính quy, như trường mầm non, nhà trẻ hay mẫu giáo, tại
các cơ sở không chính quy, hoặc tại gia đình giữa cha mẹ và trẻ nhỏ. Nhiệm vụ trọng tâm
của GDMN là xây dựng cơ sở đầu tiên (nền móng) cho sự nghiệp giáo dục nhân cách con
người. Sự phát triển nhân cách của trẻ em sau này phụ thuộc khá lớn vào công tác GDMN.
GDMN là việc hỗ trợ trẻ để trẻ phát triển tốt nhất theo hướng phát triển toàn diện, lồng
ghép, bằng cách tập trung vào các kỹ năng khác nhau về xã hội, tình cảm và nhận thức,
những kỹ năng này giúp trẻ sẵn sàng cho việc học hỏi, chuẩn bị vào học tiểu học, và tham
gia đời sống xã hội.
1.2.2. Ngành GDMN, trường mầm non
1.2.2.1. Ngành giáo dục mầm non
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên xuất bản năm
1997 thì “ngành” là hệ thống cơ quan chuyên môn của nhà nước từ trung ương đến địa
phương, vậy “ngành giáo dục mầm non” là hệ thống cơ quan phụ trách về giáo dục mầm
non của nhà nước từ trung ương đến địa phương. [50]
1.2.2.2. Trường mầm non
Nhà trường là một tổ chức nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, có đầy đủ tư cách
pháp nhân của một tổ chức giáo dục, trong đó người giáo viên, CBQL, tập thể sư phạm giữ
vai trò quyết định đến việc đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện, đến việc thực hiện thắng
lợi nhiệm vụ, mục tiêu, nội dung kế hoạch giáo dục của nhà trường.
Hệ thống trường lớp của bậc học mầm non bao gồm các loại hình trường lớp công lập,
bán công, dân lập và tư thục (trong đó có cả loại hình chuyên biệt và hoà nhập dành cho trẻ
khuyết tật), cụ thể như sau:
Nhóm trẻ độc lập là các nhóm trẻ hoạt động không phụ thuộc bất cứ một nhà trẻ,
trường mẫu giáo nào. Nó có thể nằm trong các trường phổ thông, công ty, xí nghiệp hoặc ở
các gia đình có nhận trông trẻ từ 3 tháng đến 3 tuổi.
Lớp mẫu giáo độc lập là các lớp mẫu giáo hoạt động không phụ thuộc vào bất cứ một
trường mầm non, trường mẫu giáo nào. Nó có thể nằm trong các trường phổ thông, công ty,
xí nghiệp hoặc ở các gia đình có nhận trông trẻ từ 3 tuổi đến 6 tuổi.
Trường học là đơn vị cơ sở giáo dục, nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân được
thành lập theo qui hoạch của Nhà nước; thực hiện chương trình giáo dục dạy học do Bộ
Giáo dục và Đào tạo qui định. Trường học phải đảm bảo đủ các điều kiện như: cán bộ quản
lý, giáo viên dạy các môn học, nhân viên hành chính, bảo vệ, y tế... có cơ sở vật chất, trang
thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập; có đủ những điều kiện về tài chính theo qui định của
Bộ Tài chính.
Nhà trẻ là đơn vị giáo dục cơ sở của ngành học mầm non, có chức năng thu nhận các
cháu từ 3 tháng tuổi đến 3 tuổi để nuôi, dạy và chăm sóc theo phương pháp khoa học, nhằm
phát triển toàn diện cho trẻ. Nhà trẻ chia thành nhiều nhóm trẻ. Nhà trẻ do một Ban giám
hiệu có hiệu trưởng phụ trách.
Trường mẫu giáo là đơn vị giáo dục cơ sở của ngành học mầm non, có chức năng thu
nhận để chăm sóc giáo dục trẻ em từ 3 tuổi đến 6 tuổi, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1. Trường
mẫu giáo gồm có các lớp mẫu giáo và có thể có cả nhóm trẻ. Trường do một Ban giám hiệu
có hiệu trưởng phụ trách.
Trường mầm non là đơn vị cơ sở của giáo dục quốc dân, là đơn vị giáo dục cơ sở của
ngành học mầm non, là trường được liên hợp giữa nhà trẻ và mẫu giáo, có tư cách pháp
nhân và có con dấu riêng. Trường mầm non có chức năng thu nhận để chăm sóc và giáo dục
trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi, nhằm giúp trẻ hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách;
chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1. Trường mầm non có các lớp mẫu giáo và các nhóm trẻ.
Trường do một Ban giám hiệu có hiệu trưởng phụ trách.
Trường mầm non thực hiện quá trình giáo dục trẻ song song với quá trình chăm sóc,
nuôi dưỡng trẻ. Điều 2 trong Điều lệ trường mầm non (năm 2008) quy định rõ: “Trường
Mầm non đảm nhận việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em nhằm giúp trẻ em hình
thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một”. Cũng trong
điều lệ này, điều 24 khoản 3 quy định việc giáo dục trẻ được tiến hành thông qua các hoạt
động theo quy định của chương trình: hoạt động vui chơi; hoạt động học tập; ngày hội, ngày
lễ; dạo chơi và tham quan.
Trường MN là một tổ chức xã hội được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, với sự hỗ trợ
của Nhà nước, nhân dân về vật chất cũng như tinh thần. Trường mầm non do cơ quan cấp
huyện hoặc quận quản lý và chỉ đạo mọi mặt, trường được thành lập theo đơn vị hành chính
xã, phường hoặc cơ quan hành chính. Đây là một môi trường sư phạm đặc biệt: trường được
xây dựng, bố trí vừa mang tính chất của trường học, vừa mang tính chất nhà ở (gia đình),
quan hệ giữa cô giáo mầm non với trẻ vừa mang tính thầy – trò, vừa mang tính mẫu – tử,
vừa mang tính bạn bè cùng học cùng chơi, mọi hoạt động của trẻ hoà quyện vào nhau “học
mà chơi, chơi mà học”. Trẻ từ 3 tháng đến 36 tháng được tổ chức thành các nhóm trẻ; trẻ từ
37 tháng đến 6 tuổi được tổ chức thành các lớp mẫu giáo. Trong trường MN, giáo viên mầm
non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi nhằm đạt
được mục tiêu của GDMN là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình
thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1. GVMN thực hiện
nghiêm chỉnh nội quy, quy chế của nhà trẻ, trường mẫu giáo, thực hiện đầy đủ chương trình,
kế hoạch giáo dục do Bộ GD&ĐT ban hành; chịu trách nhiệm quản lý số lượng trẻ trong
nhóm, lớp được phân công; thực hiện các yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục mầm
non, nhiệm vụ của nhà giáo theo quy định của Luật Giáo dục. GVMN được tổ chức thành
chuyên môn theo khối hoặc theo lớp; được cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên
môn nghiệp vụ, được hưởng lương phụ cấp nghề nghiệp và các phụ cấp khác theo quy định
của Chính phủ; có trình độ chuẩn được đào tạo là trung học sư phạm mầm non.
Trường MN là đơn vị cơ sở của ngành GDMN, đây là đơn vị quan trọng nhất trong
công tác QL GDMN. Chất lượng giáo dục của nhà trường phản ánh hiệu quả công tác chỉ
đạo quản lý của ngành. Do vậy, quản lý trường MN là một nhiệm vụ, một thành phần quan
trọng trong công tác giáo dục mầm non.
Quản lý trường MN là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể
cán bộ, giáo viên, công nhân viên của nhà trường, nhằm thực hiện có chất lượng mục tiêu,
kế hoạch giáo dục của nhà trường, trên cơ sở tận dụng các tiềm lực vật chất và tinh thần của
xã hội, nhà trường và gia đình. Hiệu trưởng là chủ thể quản lý giữ vai trò chủ đạo, có thẩm
quyền cao nhất về hoạt động chuyên môn và hành chính trong nhà trường. Hiệu trưởng quản
lý toàn diện nhà trường theo chế độ thủ trưởng và có hiệu phó giúp việc được phân công
một số mặt công tác do hiệu trưởng quyết định, có giáo viên mầm non làm nhiệm vụ nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi.
Hoạt động của trường MN rất đa đạng và phức tạp. Người hiệu trưởng làm tốt công tác
QL sẽ góp phần thực hiện tốt các mục tiêu cơ bản của nhà trường: thu hút ngày càng đông
số trẻ em trong độ tuổi đến trường trên địa bàn hành chính nơi trường đóng; đảm bảo chất
lượng chăm sóc và giáo dục trẻ theo mục tiêu đã đề ra; xây dựng tập thể sư phạm lành mạnh
đủ sức để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra; xây dựng, sử dụng và bảo quản tốt cơ sở
vật chất, trang thiết bị của nhà trường; thu hút các tổ chức xã hội tham gia vào việc xây
dựng, QL và phát triển nhà trường, tạo ra sự thống nhất các lực lượng giáo dục trong việc
chăm sóc, GD trẻ.
1.2.3. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học
1.2.3.1. Quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng (NXB Giáo dục, 1998) quản lý là: tổ chức, điều
khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan. [50]
Quản lí có nghĩa là:
+ Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định
+ Tổ chức và điều khiển các họat động theo những yêu cầu nhất định. [79, tr. 201-203]
Quản lý là khái niệm được xem xét theo hai góc độ:
+ Theo góc độ chính trị - xã hội: quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với lao
động. Vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp. Cơ chế đúng, hợp lý thì
xã hội phát triển, ngược lại thì xã hội phát triển chậm hoặc rối ren.
+ Theo góc độ hành động: quản lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành.
Do đó, QL có thể được hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thể QL lên đối tượng QL
nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến
mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan.
Tóm lại, QL là sự tác động có mục đích của chủ thể QL đến đối tượng và khách thể QL
trong một tổ chức bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng
QL, làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích với hiệu quả cao.
Hoạt động quản lí bao gồm hai quá trình “Quản” và “Lí” tích hợp vào nhau:
+ “Quản” có nghĩa là duy trì, ổn định hệ
+ “Lí” có nghĩa là đổi mới, phát triển hệ
Hoạt động QL là sự tác động qua lại một cách tích cực giữa chủ thể và đối tượng quản
lý qua con đường tổ chức; là sự tác động, điều khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động của
các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào việc hoàn thành những mục tiêu nhất định
của tập thể. Cần lưu ý một số điểm sau:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý,
đây là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người.
- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách
quan.
- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin.
- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng QL và ngược lại.
Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực
tiếp các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp từ
chủ thể quản lý. Muốn quản lý thành công, trước tiên cần phải xác định rõ chủ thể, đối
tượng và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý phải thực hiện việc tác động và phải biết tác
động, vì thế chủ thể phải hiểu đối tượng và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả - đó
được gọi là phong cách quản lý của chủ thể. Phong cách quản lý là hệ thống những nguyên
tắc, phương pháp, biện pháp, cách thức tiêu biểu và tương đối ổn định mà một người cán bộ
quản lý thường sử dụng trong hoạt động của họ. QL đúng đắn dẫn đến thành công, tồn tại,
ổn định và phát triển bền vững, quản lý sai dẫn đến thất bại, diệt vong của tổ chức. QL đúng
đắn sẽ giúp cho tổ chức hạn chế được các nhược điểm của mình, liên kết gắn bó mọi người
trong tổ chức, tạo ra niềm tin, sức mạnh và truyền thống, tận dụng được mọi cơ hội, sức
U* Quản lý có những chức năng sau đây:
mạnh tổng hợp của tổ chức qua sự kết hợp sức mạnh của các cá nhân trong tổ chức.
Chức năng quản lý là hình thức biểu thị sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý
lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý, là những nội dung và phương thức hoạt động cơ
bản mà nhờ đó chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý trong quá trình quản lý nhằm
thực hiện mục tiêu quản lý, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải
tiến hành trong suốt quá trình quản lý, chức năng quản lý có thể coi là những nhiệm vụ có
tính nghề nghiệp mà các nhà quản lý của bất cứ ngành nào cũng phải thực hiện trong quá
trình quản lý.
Theo các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý, quá trình quản lý có 4 chức năng cơ
bản. Các chức năng này quan hệ mật thiết với nhau để đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đề ra
với kết quả tốt nhất và chi phí nhỏ nhất. Bốn chức năng đó là: kế hoạch hóa (planing), tổ
chức (organizing), chỉ đạo (leading), kiểm tra (controlling). Các chức năng này có quan hệ
khăng khít với nhau tạo thành chu trình quản lý.
U- Chức năng kế hoạch hóaU: là hoạt động căn cứ thực trạng ban đầu của tổ chức, bao
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ mối liên hệ của các chức năng quản lý
gồm xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức trong từng giai đoạn, thời kỳ và từ đó định ra
biện pháp hay cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Kế hoạch hóa là việc làm cho
tổ chức phát triển theo kế hoạch, là quá trình xác định hình thành các mục tiêu phát triển của
nhà trường, đồng thời xác định, đảm bảo các nguồn lực và quyết định những biện pháp tốt
nhất để thực hiện mục tiêu đó. Sản phẩm quan trọng của chức năng kế hoạch hóa là kế
hoạch. Có ba loại kế hoạch: kế hoạch chiến lược (giải quyết mục tiêu chiến lược); kế hoạch
chiến thuật (giải quyết mục tiêu chiến thuật) và kế hoạch tác nghiệp (giải quyết mục tiêu tác
nghiệp).
Việc lập kế hoạch là phải trả lời được các câu hỏi là làm những gì (nội dung công
việc), làm như thế nào (cách thức thực hiện, phương án thực hiện, cách làm), làm khi nào
(thời gian thực hiện), ai làm (phân công con người cụ thể). Lập kế hoạch là công việc phải
có sự suy tính, đòi hỏi có sự bàn bạc, cân nhắc của nhiều người, càng có nhiều người tham
gia suy nghĩ thì ý thức tập thể và tinh thần trách nhiệm chung càng được nâng cao. Lập kế
hoạch trước sẽ tránh được các hoạt động rời rạc, tùy tiện, không cân nhắc trước và nó sẽ là
cơ sở đảm bảo cho quá trình quản lý đạt được hiệu quả cao. Có thể coi kế hoạch hóa là quá
trình xác định mục tiêu và phương pháp tốt nhất để đạt mục tiêu đó. Mục tiêu càng cụ thể,
càng rõ ràng, càng có cơ sở khoa học để thực hiện tốt các công việc của tổ chức. Đây chính
U- Chức năng tổ chức:U được tiến hành sau khi xây dựng kế hoạch nhằm thực hiện kế
là việc quan trọng nhất của kế hoạch.
hoạch đã đề ra. Là sự hình thành nên cấu trúc các mối quan hệ giữa các thành viên, giữa các
bộ phận trong tổ chức với nhau mà nhờ cấu trúc đó, chủ thể quản lý tác động lên đối tượng
quản lý một cách hiệu quả nhất nhằm thực hiện thành công kế hoạch, tức là đạt được mục
tiêu, mục đích mà kế hoạch đã đặt ra. Tổ chức là thực hiện những việc đã được lãnh đạo xác
định trong thực tiễn. Nếu tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt
hơn các nguồn lực.
Chức năng tổ chức trong quản lý gồm 4 nội dung cơ bản:
+ Xây dựng cơ cấu tổ chức hay bộ máy tổ chức trong đơn vị QL: chủ thể QL phải nắm
bắt được những công việc mà đơn vị cần phải thực hiện để đạt được mục tiêu chung. Thông
qua yêu cầu, tính chất của công việc, chủ thể QL phải xây dựng cho được cơ cấu bộ máy để
thực hiện tốt, có hiệu quả các nhiệm vụ nhằm đưa tổ chức đến được mục đích đề ra: xác
định các bộ phận cần có, thiết lập các mối quan hệ hàng ngang và dọc của các bộ phận, xác
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng thành viên, từng bộ phận (xây dựng qui chế
hoạt động); QL nhân sự bao gồm tuyển dụng, đào tạo, bố trí, sắp xếp, đề bạt, sa thải, tổ chức
các hoạt động.
+ Xây dựng cơ chế vận hành bộ máy: các kiểu quan hệ QL, các quyền hạn, các vấn đề
phân quyền và ủy quyền trong QL. Trong QL đội ngũ công chức hiện nay có năm loại hình
quan hệ QL, đó là: quan hệ chỉ huy - phục tùng, quan hệ chức năng, quan hệ tham mưu,
quan hệ hợp tác và quan hệ đại diện. Người QL cần lựa và sử dụng phối hợp các kiểu quan
hệ cho phù hợp với đối tượng và yêu cầu của cơ cấu tổ chức, của công việc cụ thể thì quá
trình QL mới có hiệu quả tốt.
Công tác nhân sự là một khâu trong công tác quản lý con người thể hiện ở tuyển dụng,
lựa chọn cán bộ cho bộ máy theo phương châm “đúng người, đúng việc”, áp dụng đúng chế
độ chính sách đối với người lao động, biểu hiện cụ thể ở hoạch định, tuyển chọn, đánh giá
cán bộ, duy trì, phát triển, sử dụng nhân sự và cán bộ. Tạo điều kiện cho tài nguyên nhân sự
phát triển thông qua cơ cấu tổ chức nhằm đạt tốt hơn mục tiêu của tổ chức.
Tổ chức công việc khoa học theo trình tự từ công việc tới các bộ phận trong cơ quan.
Tổ chức lao động theo khoa học là thực hiện công việc sao cho đạt năng suất cao, đồng thời
bảo vệ sức khỏe, tạo ra niềm vui, cảm giác hạnh phúc, sự hứng thú cho con người trong lao
động, đồng thời giúp cho đơn vị phát triển bền vững.
Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận (đơn vị và cá nhân) khác nhau, có mối quan hệ
phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hóa và có những trách nhiệm, quyền hạn nhất định,
được bố trí theo những cấp, những khâu nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng QL và
phục vụ mục đích của tổ chức. Cơ cấu tổ chức còn là hình thức phân công nhiệm vụ trong
lĩnh vực quản lý, có tác động đến quá trình hoạt động của tổ chức. Cơ cấu tổ chức, một mặt
phản ánh cơ cấu trách nhiệm của mỗi người trong hệ thống, mặt khác tác động tích cực trở
lại đến việc phát triển của tổ chức.
U- Chức năng chỉ đạo:U là phương thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điều hành
Chức năng tổ chức là chức năng quan trọng tiếp sau chức năng kế hoạch.
sao cho các thành viên, các bộ phận liên kết nhất trí cao, động viên cổ vũ họ vận hành theo
đúng kế hoạch để thực hiện mục tiêu, mục đích của quản lý.
Chỉ đạo là nhìn cho rõ những “việc phải làm”. Lãnh đạo là một quá trình, một nghệ
thuật tác động vào con người sao cho họ không những chỉ tuân thủ các mệnh lệnh mà còn tự
nguyện và hăng hái làm việc để đạt các mục tiêu của tổ chức. Lãnh đạo làm sao cho cán bộ
dưới quyền tự nguyện tuân thủ mới là quan trọng, làm sao tạo ra động lực thúc đẩy con
U- Chức năng kiểm tra:U là hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên khách thể quản
người hoạt động theo mục tiêu của tổ chức một cách tự nguyện và hết lòng.
lý, đối tượng quản lý nhằm đánh giá và xử lý các kết quả vận hành của tổ chức. Kiểm tra là
quá trình xác định kết quả đạt được trên thực tế, đối chiếu với các tiêu chuẩn đã xây dựng,
thu các thông tin phản hồi, phát hiện những sai lệch và đề ra một chương trình hành động
nhằm khắc phục các sai lệch để thực hiện các mục tiêu của kế hoạch đề ra.
Kiểm tra là nhằm chủ động ngăn chặn các nhầm lẫn, sai phạm có thể xảy ra trong quá
trình quản lý tổ chức. Kiểm tra là nhu cầu của mọi thành viên đúng mực trong hệ thống, là
nhu cầu nhằm hoàn thiện các quy định về nhiều mặt, nhiều lĩnh vực của hệ thống để khẳng
định được sự đúng sai của đường lối.
Kiểm tra là chức năng làm cho hoạt động quản lý đảm bảo tính phù hợp, thích ứng với
môi trường, đảm bảo tính khả thi và tính thực tiễn của kế hoạch, tiến tới hoàn thiện mục
tiêu, mục đích của tổ chức trong môi trường biến đổi không ngừng. Kiểm tra giúp cho người
lãnh đạo nắm được trạng thái cụ thể của tổ chức, biết được công việc của tổ chức đang được
thực hiện ở mức độ nào, chất lượng công việc như thế nào, công việc đang thực hiện đến
khâu nào. Kiểm tra cần đem lại những thông tin chân thực, đúng đắn, khách quan, giúp cho
nhà quản lý có những quyết định quản lý đúng, phù hợp với thực tế khách quan của tổ chức.
Chức năng kiểm tra có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình quản lý, các nhà nghiên
cứu đã khẳng định: quản lý, lãnh đạo mà không có kiểm tra thì coi như không có quản lý,
không có lãnh đạo. Hoạt động kiểm tra trong quản lý là một nỗ lực có hệ thống nhằm thực
hiện bốn chức năng: kiểm soát phát hiện, động viên phê phán, đánh giá và thu thập thông
tin. Kiểm tra phải theo chuẩn. Chuẩn phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với
mọi thành viên của tổ chức.
Trong chu trình QL, cả bốn chức năng trên phải được thực hiện liên tiếp, đan xen,
phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối từ chu kỳ này sang chu kỳ sau theo hướng phát
triển. Trong đó yếu tố thông tin luôn giữ vai trò xuyên suốt, không thể thiếu trong việc thực
hiện các chức năng QL và là cơ sở cho việc ra quyết định QL.
1.2.3.2. Quản lý giáo dục
Là sự tác động liên tục có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QLGD (người quản lý
hay tổ chức quản lý) lên đối tượng giáo dục và khách thể quản lý giáo dục về mặt chính trị,
văn hóa, xã hội, kinh tế,… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc,
các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát
triển của đối tượng; sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, những cơ hội của tổ chức để
đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận
hành có hiệu quả.
Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo thì quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động
điều hành, phân phối các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ, theo
yêu cầu phát triển xã hội.
Theo TS Nguyễn Ngọc Quang thì quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát “là hoạt động
điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo
yêu cầu phát triển xã hội”.
Theo PGS.TS Trần Kiểm, quản lý giáo dục được hiểu là “hệ thống những tác động tự
giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý
đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã
hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục
của nhà trường”.
1.2.3.3. Quản lý trường học
Quản lý trường học là quản lý hoạt động giáo dục của nhà giáo, hoạt động học tập và
rèn luyện của người học, các nguồn lực đáp ứng yêu cầu của hoạt động giáo dục của nhà
trường (cụ thể là quản lý các hoạt động sư phạm trên lớp và ngoài giờ lên lớp; quản lý nhà
giáo, cán bộ, nhân viên, học sinh; quản lý cơ sở vật chất, phương tiện giáo dục...).
Nhà trường là đơn vị cơ sở trực tiếp giáo dục – đào tạo. Hoạt động của nhà trường rất
đa dạng, phong phú và phức tạp nên việc quản lý, lãnh đạo chặt chẽ, khoa học sẽ bảo đảm
đoàn kết thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh đồng bộ nhằm thực hiện có chất
lượng và hiệu quả mục đích giáo dục.
Quản lý trường học là những tác động quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục cấp
trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập giáo dục của nhà
trường.
PGS.TS Phạm Minh Hạc cho rằng: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý
giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ
trẻ và với từng học sinh”.
Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung
của QL, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng. QL nhà trường khác với các loại QL xã
hội được quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá
trình dạy học, giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng QL vừa là
chủ thể hoạt động của bản thân mình. Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của
người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của
xã hội và được xã hội thừa nhận.
Công tác quản lý nhà trường bao gồm:
- Quản lý giáo viên, quản lý học sinh.
- Quản lý quá trình dạy học và giáo dục.
- Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học.
- Quản lý tài chính trường học.
- Quản lý mối quan hệ giữa nhà trường với cộng đồng…
Quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có tiến lên một trạng thái phát
triển mới. Bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và
hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục. Trọng tâm
của công tác QL nhà trường là: chỉ đạo thực hiện tốt các hoạt động chuyên môn theo hướng
dẫn của các cấp QL giáo dục cao hơn. Thực hiện đúng chương trình và phương pháp GD để
chất lượng GD ngày một nâng cao. QL phải sát sao với các công việc, kiểm tra, thanh tra
kịp thời để giúp đỡ, uốn nắn, tạo điều kiện cho các hoạt động được thực hiện đúng theo kế
hoạch đề ra; xây dựng đội ngũ giáo viên, công nhân viên và tập thể học sinh dạy tốt, học tốt;
tạo bầu không khí sư phạm vui vẻ, thoải mái, đoàn kết, tương thân, tương ái giúp đỡ nhau
cùng tiến bộ; quản lý tốt việc học tập của học sinh theo quy chế của Bộ GD-ĐT; QL cơ sở
vật chất, thiết bị dạy học nhằm phục vụ tốt cho việc giảng dạy, học tập, giáo dục học sinh;
QL nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng quy tắc tài chính của nhà nước và của
ngành giáo dục; đồng thời biết động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng,
mua sắm thêm thiết bị phục vụ các hoạt động dạy học; QL việc thi đua khen thưởng và việc
đề bạt cán bộ kế cận, nâng bậc lương cho GV.
1.3. Quản lý giáo dục mầm non
1.3.1. Cơ cấu tổ chức quản lý GDMN
Theo luật Tổ chức chính phủ, luật Giáo dục và sự phân công của Chính phủ, Bộ GDĐT
quản lý nhà nước về giáo dục tiền học đường, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và một
phần giáo dục nghề nghiệp (trung cấp chuyên nghiệp); Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội quản lý giáo dục nghề nghiệp (trừ TCCN). [25]
Theo luật Hội đồng nhân dân và UBND, luật Giáo dục và theo sự phân cấp của chính
phủ, UBND các cấp thực hiện QL nhà nước, bảo đảm các điều kiện về đội ngũ nhà giáo, tài
chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trường công lập thuộc phạm vi QL, đáp ứng
yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tại địa phương; đồng thời, kiểm soát các
trường ngoài công lập trong việc thực hiện các quy định của pháp luật. Phạm vi quản lý
trong lĩnh vực GD của UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện được phân định như sau: cấp
tỉnh QL các trường trung học phổ thông, các trường trung cấp và trường dạy nghề, các
trường cao đẳng của tỉnh, các trung tâm GDTX của tỉnh...; cấp huyện QL các trường tiểu
học, THCS, trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, trung tâm GDTX và trung tâm dạy
nghề của huyện... Cơ quan chuyên môn giúp UBND cấp tỉnh quản lý về GD là Sở GDĐT;
cơ quan chuyên môn giúp UBND cấp huyện quản lý về GD là Phòng GDĐT.
Sơ đồ 1.2. Sơ đồ cơ cấu quản lý giáo dục Việt Nam [25, tr. 18]
[25, tr. 20]
Sơ đồ 1.3. Sơ đồ cơ cấu hệ thống giáo dục
Về mặt quản lý nhà nước, các cơ sở GDMN hoặc do UBND cấp huyện thành lập (cơ
sở công lập), hoặc do cộng đồng xã, phường thành lập (cơ sở dân lập), hoặc do tư nhân
thành lập (cơ sở tư thục).
Chính phủ khuyến khích tư nhân thành lập các cơ sở GD tiền học đường tư thục. Các
trường này được hưởng chính sách ưu đãi như được giao hoặc cho thuê đất, được giao hoặc
cho thuê cơ sở vật chất, được hưởng ưu đãi về thuế và tín dụng.
1.3.2. Phòng GD-ĐT và công tác quản lý GDMN
Phòng GD-ĐT là cơ quan chuyên môn của UBND huyện, là hệ thống tổ chức quản lý
hành chính Nhà nước về lĩnh vực GD-ĐT ở địa phương. [79, tr. 201-203]
Nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu của Phòng GD-ĐT:
+ Giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nước về lĩnh vực
giáo dục và đào tạo ở địa phương.
+ Thanh tra, kiểm tra, đôn đốc các trường và các cơ sở GD khác của địa phương thực
hiện các quy định về giáo dục và đào tạo trong các trường học.
+ Các nhiệm vụ khác do UBND tỉnh quy định cụ thể.
Phòng GD-ĐT huyện quản lý các trường mầm non, trường tiểu học, trường trung học
cơ sở, trung tâm giáo dục thường xuyên.
Tùy theo tình hình và khối lượng công việc của địa phương, UBND huyện sẽ quyết
định cụ thể việc thành lập tổ công tác chuyên môn. Đối với các Phòng GD-ĐT của
TP.HCM, có 1 Phó Trưởng phòng phụ trách công tác quản lý GDMN; có Tổ MN gồm 2 - 3
chuyên viên.
1.3.3. Sở GD&ĐT và công tác quản lý GDMN
Sở GD&ĐT là cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, là hệ thống tổ chức quản lý
ngành GD-ĐT của địa phương, chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh và Bộ GD&ĐT thực
hiện chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực GD-ĐT ở địa phương gồm các ngành học:
GDMN, GD phổ thông, GD bổ túc, GD chuyên ngành, với các loại hình đào tạo: Quốc lập,
dân lập, bán công… [79, tr 201-203]
Nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu của Sở GD&ĐT: xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát
triển GDĐT của địa phương, chịu trách nhiệm chỉ đạo thực hiện khi được duyệt; chỉ đạo các
trường ở địa phương thực hiện các điều lệ, quy chế, quy định về tổ chức và chuyên môn; tổ
chức nghiên cứu ứng dụng các chuyên đề khoa học GDĐT, đúc kết sáng kiến kinh nghiệm,
hướng dẫn các trường thực hiện các quy định của Bộ GD&ĐT cho phù hợp với đặc điểm
tình hình của địa phương; quản lý công tác cán bộ, quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng,
bố trí sử dụng, chế độ chính sách đối với giáo viên, cán bộ quản lý, cán bộ khoa học, công
nhân kỹ thuật và nhân viên của ngành theo quy định của UBND địa phương và Bộ GD&ĐT.
+ Quản lý công tác tuyển sinh, thi cử, xét duyệt cấp chứng chỉ và bằng tốt nghiệp theo
quy định của Bộ và UBND địa phương.
+ Quản lý kinh phí và tài sản theo quy định của UBND tỉnh.
+ Quản lý trực tiếp các trường, các cơ sở GDĐT thuộc tỉnh, hướng dẫn các phong trào
GDĐT, QL các trường; giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các
trường chuyên nghiệp của TW đóng trên địa bàn.
+ Thực hiện chức năng thanh tra giáo dục đối với các trường trong phạm vi địa
phương quản lý.
+ Thực hiện chế độ báo cáo với Bộ GD&ĐT và UBND tỉnh theo quy định.
Tùy theo tình hình và khối lượng công việc của địa phương, UBND tỉnh sẽ quyết định
cụ thể việc thành lập phòng, tổ công tác hoặc chỉ bố trí chuyên môn làm việc trực tiếp với
Giám đốc Sở để đảm bảo các mặt công tác theo hướng gọn nhẹ cho bộ máy hoạt động có
hiệu lực. Đối với Sở GD&ĐT TP.HCM, ngành GDMN có 01 Phó Giám đốc phụ trách chịu
trách nhiệm trước Giám đốc về công tác của ngành GDMN, có Phòng GDMN gồm 01
Trưởng phòng, 2 Phó trưởng phòng, 3 chuyên viên trực tiếp chỉ đạo.
Phòng Giáo dục Mầm non có nhiệm vụ chính:
+ Đề xuất, tham mưu cho Giám đốc Sở thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công
tác GDMN; các qui định, chủ trương, biện pháp phát triển và nâng cao chất lượng nuôi dạy
trẻ phù hợp với tình hình thực tế của thành phố. Tổ chức chỉ đạo các cơ sở thực hiện kế
hoạch phát triển trẻ, trường, lớp mẫu giáo.
+ Hướng dẫn kiểm tra các Phòng GDĐT, các trường mầm non thực hiện các điều lệ,
qui chế và các qui định của Bộ và tổ chức quản lý các loại hình trường lớp, về thực hiện
chương trình chăm sóc nuôi dạy trẻ nhà trẻ, mẫu giáo mà Bộ ban hành.
+ Hướng dẫn theo dõi kế hoạch phân phối bảo quản sử dụng các thiết bị, cơ sở vật chất
của nhà trẻ, trường, lớp mẫu giáo.
+ Định kỳ đột xuất thanh tra, kiểm tra thực hiện chương trình, kế hoạch toàn diện hoặc
chuyên đề đối với Phòng GDĐT (Giáo dục mầm non), các nhà trẻ, trường mẫu giáo thuộc
Sở. Tổ chức tuyên truyền để phát triển công tác nuôi dạy trẻ.
+ Chỉ đạo phong trào thi đua, xây dựng trường trọng điểm, nhân điển hình tiên tiến,
đúc kết và phổ biến sáng kiến kinh nghiệm nuôi dạy trẻ, phổ biến các mô hình giáo dục tiên
tiến của các loại hình nhà trẻ, trường, lớp mẫu giáo.
+ Tổ chức phân loại chất lượng đội ngũ, sơ kết tổng kết, báo cáo định kì và báo cáo
chuyên đề, đảm bảo thông tin hai chiều, thường xuyên thông suốt về ngành học Mầm non.
1.4. Quản lý GDMN qua mạng internet
Hệ thống thông tin quản lý giáo dục mầm non là hệ thống thông tin tổ hợp các thông
tin và dữ liệu được thu thập và liên kết thành cơ sở dữ liệu (data base) thống nhất có các
chức năng cơ bản là lưu trữ, xử lý (chẩn đoán, dự báo) nhằm cung cấp các thông tin cần
thiết cho các cấp quản lý GDMN, hỗ trợ cho công tác kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm
tra, đánh giá cũng như việc ra quyết định quản lý.
• Thông tin:
Với quan điểm tiếp cận hệ thống và điều khiển học, khái niệm thông tin chỉ có thể làm
rõ nếu ta xét nó trong quá trình trao đổi giữa hai đối tượng vật chất: nguồn phát và nguồn
thu cùng với mục đích sử dụng thông tin.
Theo quan điểm này, Uthông tinU có thể được hiểu là nội dung những trao đổi giữa hệ
thống và môi trường được sử dụng nhằm mục đích điều khiển hoạt động của hệ thống đó.
UThông tinU (information) là một khái niệm trừu tượng nhưng lại là cái để chúng ta có
[21]
UDữ liệuU (data) là cái mang thông tin, dữ liệu có thể là các dấu hiệu (ký hiệu, văn bản
thể hiểu biết và nhận thức thế giới. Thông tin tồn tại khách quan, có thể ghi lại và truyền đi.
chữ số chữ viết…), các tín hiệu (điện, từ, quang, nhiệt độ, áp suất…) hoặc các cử chỉ, hành
UVăn bảnU là phương tiện để ghi nhận những thông tin, truyền đạt các thông tin từ chủ
vi.
thể này đến chủ thể khác bằng một ký hiệu hoặc bằng ngôn ngữ nhất định nào đó. Ở nghĩa
hẹp, văn bản được hiểu là những tài liệu, giấy tờ được sử dụng trong hoạt động của các cá
nhân, tổ chức xã hội, và của các cơ quan Nhà nước ghi nhận mục đích, hành vi hoạt động
của các chủ thể tham gia các quan hệ xã hội khác nhau. Truyền đạt thông tin là chức năng
quan trọng của văn bản: thông tin là cơ sở xuất phát hành động, thông tin diễn tả quy cách
hành động và cuối cùng thông tin ghi kết quả hành động. Văn bản là phương tiện giao dịch
chính thức giữa cơ quan với cơ quan, giữa chính quyền Nhà nước này với chính quyền của
Nhà nước khác, trong phạm vi nội bộ cơ quan hoặc từ cơ quan Nhà nước ra bên ngoài với tư
nhân, hay với đoàn thể trong xã hội. [23, tr. 10-15]
Ngoài văn bản có nhiều phương tiện thông tin khác, như điện thoại, vô tuyến điện, báo
chí, vô tuyến truyền hình, vô tuyến truyền thanh, internet… Mặc dù những phương tiện hiện
đại này có ưu điểm nhanh, gọn, thuận tiện hơn, nhưng không phải lúc nào cũng là phương
tiện chính thức. Trong một số trường hợp, nó chỉ đóng vai trò phụ trợ cho văn bản và cần
phải hợp thức hóa bằng văn bản đi kèm, hoặc phải lấy văn bản làm căn cứ gốc.
Trong tất cả các loại văn bản, văn bản quản lý là một chủng loại quan trọng, chiếm tỷ
trọng rất lớn. Chức năng thông tin của văn bản thể hiện qua các mặt sau: ghi lại các thông
tin quản lý; truyền đạt thông tin quản lý từ nơi này đến nơi khác trong hệ thống quản lý hay
từ cơ quan đến nhân dân; giúp cơ quan thu nhận những thông tin cần cho hoạt động quản lý;
giúp các cơ quan đánh giá các thông tin thu được qua các hệ thống truyền đạt thông tin
UKhoa học xử lý thông tinU là ngành khoa học nghiên cứu các phương pháp, công nghệ,
khác.
kỹ thuật xử lý thông tin một cách tự động bằng máy tính điện tử. Có rất nhiều tên gọi khác
nhau liên quan đến ngành khoa học xử lý thông tin: khoa học máy tính (Computer Science),
tin học (Informatics), Công nghệ thông tin (Information Technology)…
• Thông tin quản lý giáo dục:
Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của tổ chức cũng như cá nhân, các tổ chức hoặc cá
nhân thường xuyên thực hiện sự lựa chọn, ra quyết định để duy trì thế cân bằng động đối
với môi trường. Hiệu quả của việc ra quyết định phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của
thông tin mà người quản lý nhận được. Chúng không chỉ chuyển giao các phần tử cơ bản
cần thiết cho việc ra quyết định mà còn phải cho phép, ảnh hưởng tới các thái độ của các cá
nhân theo cách thức động viên họ để hướng các hoạt động và sự quan tâm của họ vào việc
điều hòa hợp lý với các mục đích của tổ chức. Một thông tin được coi là Uthông tin quản lý U
khi nó được người quản lý cần tới hoặc có ý muốn sử dụng nó để đảm bảo thực hiện tốt các
UThông tin quản lý giáo dụcU là các thông tin phục vụ cho các nhà quản lý giáo dục các
chức năng quản lý của mình.
cấp, nhằm giúp họ thực hiện tốt các chức năng quản lý giáo dục tại cơ sở. Trong quản lý
giáo dục đào tạo, thông tin đóng vai trò là thành tố quan trọng trong mối quan hệ giữa chủ
thể quản lý và khách thể quản lý: có vai trò phản ánh trạng thái của hệ giáo dục bao gồm các
thông tin về trạng thái quá khứ cũng như hiện tại, phục vụ cho việc chẩn đoán (đánh giá) hệ
thống giáo dục từ đó ra quyết định quản lý; đồng thời giúp cho việc dự báo tương lai và con
đường phát triển của hệ thống giáo dục, là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng kế hoạch
phát triển giáo dục.
Quản lý giáo dục có các chức năng cơ bản như: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm
tra đánh giá, trong các chức năng đó, thông tin đóng vai trò quan trọng và được xem như
một chức năng trung tâm liên quan đến các chức năng quản lý.
* Thông tin quản lý giáo dục phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:
- Thông tin phải thích hợp: mục đích của thông tin GD là cung cấp những dữ liệu và
thông tin đáng tin cậy, kịp thời và cần thiết cho công tác QLGD nhằm điều khiển hệ thống
và phát triển hệ. Có rất nhiều dữ liệu, thông tin nhận được vì vậy cần chọn những thông tin
thích hợp, đặc trưng và toàn diện của đối tượng đang quản lý. Trong thời đại bùng nổ các
phương tiện và kỹ thuật truyền thông tin như hiện nay, lượng thông tin thu nhận được ở mỗi
cấp quản lý rất nhiều, nếu không biết cách sàng lọc các thông tin thích hợp, người quản lý
có thể bị rơi vào tình trạng xử lý không kịp (tràn thông tin) và có thể gặp khó khăn khi ra
quyết định quản lý.
- Thông tin phải tiện lợi: nhất là trong việc phân tích, sử dụng, nghĩa là chúng phải dễ
sử dụng và có hiệu quả. Do đó, những dữ liệu và thông tin thô phải được tiến hành xử lý,
biến chúng thành các đại lượng bằng số, biểu đồ, đồ thị. Hiện nay do việc UD CNTT trong
quản lý giáo dục (thông qua các phần mềm quản lý) thông tin được xử lý nhanh chóng và
trình bày thành nhiều dạng thức (bảng, đồ thị…) rất tiện lợi cho sử dụng thông tin.
- Thông tin phải kịp thời: thông tin truyền trong hệ thống giáo dục cần phải được rút
ngắn thời gian truyền và xử lý đảm bảo cung cấp kịp thời cho các cấp quản lý. Tính kịp thời
của thông tin liên quan đến những dữ liệu, thông tin được quy định cụ thể về thời gian, nếu
vi phạm yếu tố thời gian có thể làm cho thông tin không còn giá trị và gây ra những ảnh
hưởng lớn tới hoạt động của hệ thống.
* Tổ chức quá trình thông tin QLGD:
- Thu thập thông tin: đây là bước khởi đầu của một quá trình thông tin, trong quản lý
giáo dục người ta thường thu nhận thông tin bằng các bản báo cáo, nhưng khi chỉ đạo trực
tiếp người ta còn sử dụng các phương pháp như: quan sát; trắc nghiệm khách quan; thi,
kiểm tra; phiếu hỏi; phỏng vấn…
- Lưu trữ thông tin: trong việc tổ chức quá trình thông tin, việc tổ chức lưu trữ thông
tin có ý nghĩa rất quan trọng. Trước hết, các thông tin lưu trữ sẽ phục vụ cho việc lập các
báo cáo tại các cấp QL GD, tình trạng thiếu thông tin hoặc thông tin không được lưu trữ tốt
sẽ dẫn đến các báo cáo thiếu chính xác, không nhất quán. Lưu trữ thông tin còn phục vụ cho
việc chẩn đoán, đánh giá, kiểm tra các hoạt động của các cơ sở GDĐT, từ đó có thể đề ra
các quyết định QL sát hợp, có hiệu quả. Lưu trữ thông tin còn giúp việc dự báo xu hướng
phát triển của hệ thống GD&ĐT góp phần thiết thực vào công tác lập kế hoạch phát triển
GD&ĐT tại cơ sở.
- Xử lý thông tin: thông tin thu được thường là các dữ liệu, đó là các tín hiệu vật lý,
các số liệu thống kê, các ký hiệu… Những dữ liệu này thường cho ta một số thông tin ban
đầu nhưng thường rất ít, các dữ liệu qua phân tích xử lý sẽ rút ra được các thông tin cần
thiết, các thông tin sau khi xử lý có thể được lưu trữ và tập hợp lại để phân tích tiếp, để rút
ra những thông tin khác… Quá trình xử lý thông tin diễn ra liên tục và thường xuyên trong
công tác quản lý giáo dục. Xử lý thông tin là quá trình phức tạp, bao gồm một loạt các hoạt
động như: phân loại; chọn lọc thông tin; phân tích, tổng hợp; so sánh, sắp xếp.
- Truyền thông tin: tổ chức truyền thông là hoạt động thường xuyên trong hệ thống
giáo dục – đào tạo, tạo ra sự gắn kết các thành tố của hệ thống. Tổ chức truyền thông tốt góp
phần quan trọng trong công tác quản lý. Tuy nhiên quá trình truyền thông tin thường bị các
tác động gây sai lệch (nhiễu) do các nguyên nhân vật lý, ‘ngữ nghĩa”, sai lệch từ nguồn phát
thông tin, cường độ nguồn phát thông tin yếu, sai lệch trên kênh truyền thông tin, sai lệch từ
kênh nhận thông tin…
• Thông tin GDMN:
Xây dựng cơ sở dữ liệu (data base) quản lý trường MN: cơ sở dữ liệu là tập hợp các
thông tin được phân loại, sắp xếp theo quy tắc xác định nhằm hỗ trợ tốt cho việc lưu trữ, tìm
kiếm và xử lý thông tin. Để có thể sử dụng máy tính trong việc xử lý, khai thác thông tin
người ta phải tập hợp các thông tin thành các cơ sở dữ liệu, trong cơ sở dữ liệu có những
quan hệ liên kết với nhau.
Thông tin quản lý GDMN bao gồm các thông tin cơ bản như sau:
- Thông tin về trẻ
- Thông tin về cán bộ, giáo viên
- Thông tin về nội dung chương trình
- Thông tin về pháp luật, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
- Thông tin về tài chính
- Thông tin về cơ sở vật chất, thiết bị
• Mạng internet:
- Thông tin về cộng đồng, xã hội….
Internet ngày nay đã trở nên phổ biến rộng rãi, cung cấp nhiều dịch vụ thông tin cho
người sử dụng, trong các dịch vụ đó có 1 dịch vụ được sử dụng phổ biến đến nỗi nhiều
người khi đề cập đến internet đã lầm tưởng chỉ có dịch vụ này đó là WWW (World Wide
Web) hay đơn giản là Web. Web do Tim Berners-Lee (1992) phát minh vào đầu thập niên
90 đã nhanh chóng trở thành dịch vụ cung cấp thông tin chính trên internet, nhờ web các
thông tin nằm rải rác trên các máy khác nhau có thể liên kết với nhau một cách dễ dàng tạo
thành một kho thông tin khổng lồ. [26].
Các thông tin web được lưu trữ dưới dạng các tập tin trên máy tính được gọi là trang
web (web page). Các máy tính trao đổi các thông tin web qua giao thức HTTP (HyperText
Transfer Protocol), giao thức này đưa ra các quy tắc cho việc yêu cầu và đáp ứng truyền các
thông tin.
Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy cập công cộng gồm các
mạng máy tính được liên kết với nhau. Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển
gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa. Hệ
thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các viện
nghiên cứu và các trường đại học, của người dùng cá nhân, và các chính phủ trên toàn cầu.
Kĩ thuật này rất hiệu quả để vận chuyển dữ liệu trong các mạng phức tạp bao gồm rất nhiều
• Quản lý GDMN qua mạng internet:
hệ thống máy tính nối với nhau.
Quản lý GDMN qua mạng internet được hiểu là sự tác động liên tục có tổ chức, có
hướng đích của chủ thể QL GDMN lên đối tượng và khách thể quản lý GDMN dựa trên
hình thức / phương tiện internet nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GDMN.
1.4.1. Mục tiêu quản lý GDMN qua mạng internet
- Thiết lập các báo cáo định kỳ: cung cấp những dữ liệu và thông tin cần thiết đáng tin
cậy và kịp thời để làm báo cáo, lập kế hoạch và ra quyết định trong QL.
- Chỉ đạo, quản lý tại cơ sở: cung cấp các dữ liệu cần thiết cho việc thực hiện chẩn
đoán, đánh giá của người quản lý tại cơ sở, giúp cho công tác quản lý GDMN có hiệu quả
và chất lượng.
- Cung cấp dữ liệu cho việc lập kế hoạch phát triển: hệ thống thông tin QL GDMN sẽ
là cơ sở dữ liệu quan trọng cho việc xây dựng kế hoạch ngắn hạn và dài hạn nhằm phát triển
GDMN, đặc biệt các dữ liệu lưu trữ trong hệ thống sẽ giúp cho việc dự báo sát hợp với thực
tiễn.
- Ứng dụng CNTT để đổi mới, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng công tác quản lý
GDMN.
1.4.2. Nội dung quản lý GDMN qua mạng internet
Quản lý nhà nước đối với các cấp QL đào tạo gồm bốn nội dung chủ yếu sau:
+ Hoạch định chính sách cho giáo dục và đào tạo, lập pháp và lập quy cho các hoạt
động giáo dục và đào tạo, thực hiện quyền hành pháp trong quản lý giáo dục.
+ Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục.
+ Huy động và quản lý các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục.
+ Thanh tra, kiểm soát nhằm thiết lập trật tự kỷ cương pháp luật trong hoạt động quản
lý giáo dục và phát triển sự nghiệp giáo dục.
Tập trung vào việc tổ chức và chỉ đạo một cách có hiệu quả việc chăm sóc và GD trẻ,
mọi hoạt động của trường MN đều phải hướng vào nhiệm vụ trọng tâm này.
Bên cạnh đó cũng cần chú trọng chỉ đạo việc thực hiện chỉ tiêu số lượng và chất lượng
GDMN, chất lượng giáo dục là điều kiện quan trọng bậc nhất để thu hút trẻ đến trường,
không có chất lượng tốt thì khó đảm bảo về số lượng.
Nội dung quản lý cụ thể như sau:
- UHệ thống thông tin về trẻ:U gồm:
+ Các thông tin về cá nhân
+ Các thông tin về quá trình học tập, sức khỏe
+ Các thông tin về gia đình
+ Các thông tin về địa phương
- UHệ thống thông tin về giáo viên, cán bộ, công nhân viên:U quản lý thông tin này nhằm
kiện toàn bộ máy quản lý - lãnh đạo thống nhất; xây dựng đội ngũ cán bộ, GV, CNV có tay
nghề vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao, yêu nghề, yêu trẻ. Hệ thống thông tin này gồm:
+ Các thông tin chung cá nhân (cố định)
+ Các thông tin về quá trình (biến đổi)
+ Các thông tin hỗ trợ
Hồ sơ: là một tập các thông tin quản lý về một cán bộ trong ngành GD&ĐT, gồm
thông tin cá nhân (họ tên, giới tính, ngày sinh, nơi sinh, số hiệu công chức, CMND...), trình
độ,...
Thông tin quá trình: là các thông tin lưu lại dấu vết về các quá trình gắn với một hồ
sơ, với 1 cán bộ (quá trình công tác, hưởng lương,..). [70]
- UHệ thống thông tin về nội dung chương trình, chuyên mônU:
Hệ thống thông tin về chuyên môn: soạn kế hoạch giảng dạy, thiết kế hoạt động theo
chương trình mới, soạn giáo án điện tử (UD CNTT vào giáo án), dự giờ, thanh kiểm tra.
Tổ chức các lớp tập huấn chuyên đề, tập huấn chương trình.
Phê duyệt kế hoạch hoạt động chuyên môn, tổ chức sinh hoạt chuyên môn thường
xuyên, chịu trách nhiệm chỉ đạo tập trung, thống nhất mọi công việc nhằm thực hiện mục
tiêu, nhiệm vụ năm học và kế hoạch chung của ngành.
Có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao tay nghề.
- UHệ thống thông tin về pháp luật, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước
Gồm những chiến lược, đường lối chính sách, văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước
về sự phát triển của xã hội, GD nói chung và GDMN nói riêng. Quản lý hệ thống này giúp
việc quản lý GDMN đi đúng hướng, đáp ứng yêu cầu của xã hội.
- UHệ thống thông tin về cơ sở vật chất, thiết bịU: quản lý thông tin này giúp cho công tác
chỉ đạo việc xây dựng, bảo quản và sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị chăm sóc và giáo
dục trẻ có hiệu quả.
- UHệ thống thông tin về tài chínhU: gồm:
+ Nguồn kinh phí
+ Các chứng từ
+ Báo cáo tài chính
Quản lý hệ thống này giúp việc quản lý GDMN được thuận lợi, có kinh phí thực hiện
các kế hoạch, nhiệm vụ đã đề ra, xây dựng trường lớp đạt chất lượng, chăm lo tốt cho đời
sống của GV-CNV giúp họ yên tâm công tác, nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ.
- UHệ thống thông tin về QL GDMN khác (cộng đồng, xã hội…):U
Hệ thống thông tin này giúp đẩy mạnh công tác tuyên truyền về GDMN. Thông qua
các hoạt động thực tiễn, các phương tiện thông tin đại chúng và tạp chí của ngành để tuyên
truyền về kết quả và giải pháp phát triển GDMN của địa phương; sưu tầm, phát hành các ấn
phẩm về GDMN tại cơ sở để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm; phổ biến kiến thức khoa học về
nuôi dạy con cho cha mẹ. Nơi nào có điều kiện, có thể xây dựng trang Web để phụ huynh
trao đổi học tập về cách nuôi dạy con tại gia đình, để phát huy ảnh hưởng của GDMN đối
với xã hội, đồng thời tích cực huy động sự tham gia của cha mẹ và cộng đồng cùng chăm lo
cho GDMN.
Nhiều hình thức tuyên truyền phong phú đã được áp dụng trong nhà trường và ngoài
cộng đồng như sau:
- Tuyên truyền trong nhà trường:
+ Bảng tin: được trang trí hình ảnh, màu sắc hấp dẫn, các tin được đánh máy trên nền
giấy màu, cỡ chữ lớn dễ nhìn, được ép nhựa đẹp đã gây sự chú ý của người xem. Các tin
nóng về các dịch bệnh, các thông báo của nhà trường, của lớp với phụ huynh…cũng được
cập nhật thường xuyên…
+ Phát thanh: các thông tin cần biết đều đến được với phụ huynh và được ghi nhớ rất
hiệu quả do được lặp đi lặp lại nhiều lần trong các giờ đón và trả trẻ.
+ Khẩu hiệu, bandrol tuyên truyền theo chủ đề của năm học như: “Sống có trách
nhiệm”, “Tuần lễ dinh dưỡng và phát triển”, “Tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an
toàn thực phẩm”, “Hưởng ứng tuần lễ vệ sinh và nước sạch”, “Tháng an toàn giao thông”…
được đặt ở các vị trí trang trọng, tạo sự tập trung chú ý của nhiều người.
+ Trao đổi trực tiếp với phụ huynh tình hình của trẻ vào giờ đón, trả trẻ.
+ Sổ bé ngoan (dùng cho mẫu giáo), sổ liên lạc (dùng cho nhà trẻ): Hàng tháng và
hàng quý giáo viên ghi chép tóm tắt tình hình phát triển của trẻ, thông báo đến bố mẹ các
tiến bộ hoặc các vấn đề mà cô giáo cần yêu cầu phụ huynh phối hợp để giáo dục và nuôi
dưỡng trẻ hoặc giúp trẻ hình thành các tính cách tốt.
+ Họp phụ huynh định kỳ: hàng năm trường họp phụ huynh ít nhất 3 lần: vào đầu năm,
học kỳ 1 và cuối năm để thông tin các vấn đề của trường lớp, bàn bạc các việc cần giải
quyết, góp ý giúp nhà trường nâng chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ.
+ Thông qua các buổi họp này nhà trường vận động phụ huynh góp sức thực hiện các
công trình phụ huynh trong trường và ở từng lớp, giúp trường hoàn thiện dần các hạng mục
cơ sở vật chất, giúp nâng cao chất lượng sống của trẻ tại trường và tăng điều kiện làm việc
cho giáo viên.
+ Tư vấn cho phụ huynh có con đang có vấn đề về sức khỏe, về tâm lý…
+ Tổ chức tham quan: Nhà trường mời phụ huynh tham quan, dự các sinh hoạt của lớp
như: xem giờ hoạt động chơi, giờ ăn, giờ ngủ; tham quan hoạt động bếp ăn; tham dự các
chuyên đề của nhà trường…Qua đó, phụ huynh biết cụ thể về cách chăm sóc của cô giáo đối
với các cháu, hiểu thêm về cách giáo dục, các hoạt động giúp trẻ phát triển toàn diện. Và
cũng từ sự hiểu biết, cảm thông đó phụ huynh đã phối hợp tích cực, giúp đỡ nhà trường nuôi
dạy các cháu hữu hiệu.
+ Xây dựng “Mái nhà xanh” ở một số trường MN: Đây là nơi cho các trẻ chưa đi học
đến vui chơi và làm quen với môi trường mới trước khi vào trường mầm non.
+ Một số trường được phụ huynh hỗ trợ thiết kế trang web của lớp để giáo viên và phụ
huynh có thể liên lạc thường xuyên nhằm trao đổi, theo dõi các hoạt động của trẻ cũng như
tìm hiểu các hoạt động giáo dục trong nhà trường.
- Tuyên truyền ngoài cộng đồng:
+ Phát thanh trong cộng đồng dân cư: Nhà trường gửi các bài tuyên truyền cho UBND
phường, xã để đưa các tin hoạt động của trường như: kế hoạch nhận trẻ, cách phòng chống
lây lan dịch bệnh, vận động đưa trẻ đến trường, chủng ngừa…
+ Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng như: viết bài cho các tờ báo có nhiều
bạn đọc hoặc báo dành cho đối tượng trẻ em, cha mẹ; trả lời phỏng vấn của báo chí, đài
truyền hình, đài phát thanh về các vấn đề về nuôi dạy trẻ, các khó khăn của ngành, những
việc làm tốt để định hướng dư luận, để vận động sự đồng thuận, sự tham gia góp sức của
mọi cơ quan, tổ chức, đoàn thể, của lãnh đạo và chính quyền các cấp … để ngành học mầm
non phát triển và bền vững.
+ Sử dụng hệ thống website của ngành, trường, lớp để đưa tin các hoạt động... (truy
cập website của Sở đề vào trang “Giám sát tình trạng dinh dưỡng”), phụ huynh sẽ có thông
tin về con mình như: Kết quả cân nặng, đo chiều cao và phân loại tình trạng dinh dưỡng; kết
quả khám sức khỏe định kỳ, hình ảnh hoạt động của trẻ; các bài thơ, bài hát để trò chuyện
và dạy trẻ tại gia đình; thông qua diễn đàn, cô giáo có thể tư vấn cho phụ huynh để giúp trẻ
phát triển, ngược lại phụ huynh cũng có thể trao đổi với cô giáo về tình hình của trẻ và đưa
hình ảnh hoạt động của trẻ…
1.4.3. Chức năng quản lý GDMN qua mạng internet
1.4.3.1. Kế hoạch hóa công tác quản lý GDMN qua mạng internet
Nội dung kế hoạch hóa công tác quản lý GDMN qua mạng internet phụ thuộc vào mục
tiêu của công tác quản lý GDMN qua mạng internet trong năm học và các nhiệm vụ phải
thực hiện để đạt mục tiêu đó. Để xác định nội dung kế hoạch quản lý GDMN qua mạng
internet cần căn cứ vào kế hoạch tổng thể và nhiệm vụ cụ thể công tác quản lý GDMN trong
năm học đó. Kế hoạch quản lý GDMN qua mạng internet cần được cụ thể hóa thành kế
hoạch tháng, tuần theo các hoạt động chính và theo phạm vi trách nhiệm của từng bộ phận,
cá nhân với các nguồn lực được xác định, phân bố chi tiết cho từng hoạt động.
Kế hoạch hoá công tác quản lý GDMN qua mạng internet không thể thiếu vấn đề dự
báo QL GDMN: sự biến động của kinh tế, xã hội có tác động nhạy cảm đối với GDMN,
chính vì vậy các thông tin trong hệ thống sẽ giúp cho các nhà quản lý GDMN dự đoán được
tương lai từ đó lập ra các kế hoạch phát triển phù hợp.
Để có kế hoạch phù hợp và khoa học, cần phải thu thập xử lý và phân tích thông tin;
đánh giá thực trạng (điểm mạnh, điểm yếu, nguồn lực); phân tích các biến động, thay đổi để
nhìn rõ các cơ hội và các nguy cơ thách thức; dự báo chiều hướng phát triển…
1.4.3.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý GDMN qua mạng internet
- Tổ chức công tác lưu trữ thông tin cho QL GDMN: chức năng lưu trữ là chức năng
quan trọng của hệ thống thông tin QL GDMN, các dữ liệu được lưu trữ đầy đủ, chính xác
giúp cho các mục tiêu báo cáo, chỉ đạo và xây dựng kế hoạch hoàn thành tốt.
- Khai thác, xử lý thông tin phục vụ cho QL GDMN: chức năng xử lý thông tin là chức
năng quan trọng, nó đáp ứng yêu cầu của nhà quản lý, chức năng này giúp cho hệ thống
thông tin QL GDMN không chỉ là hệ thống lưu trữ thông tin mà thực sự hỗ trợ các thông tin
cho việc ra quyết định của các nhà quản lý.
- Tổ chức cơ cấu: xây dựng cấu trúc quản lý GDMN qua mạng internet, phân chia
thành các bộ phận khác nhau và xác định nhiệm vụ cho từng bộ phận.
- Tổ chức quá trình: thiết kế quá trình quản lý GDMN qua mạng internet, làm cho cơ
cấu quản lý được xây dựng có thể vận hành được trong thực tế thông qua việc ban hành các
văn bản chỉ đạo; tạo mối liên hệ giữa các bộ phận trong quá trình thực hiện kế hoạch.
1.4.3.3. Chỉ đạo thực hiện công tác quản lý GDMN qua mạng internet
Để việc chỉ đạo được đúng đắn, khoa học, cần thường xuyên bám sát, nắm chắc tình
hình QL GDMN qua mạng internet, phân tích các vấn đề thực tiễn một cách nhanh chóng để
đưa ra những quyết định đúng đắn. Muốn như vậy, cần có biện pháp thu thập thông tin một
cách chính xác, biết phân tích và xử lý các nguồn thông tin.
- Phòng GDMN Sở chỉ đạo Tổ MN và các cơ sở GDMN lập kế hoạch quản lý - thực
hiện công tác GDMN qua mạng internet; xây dựng tài liệu hướng dẫn cách thực hiện một
cách chi tiết, phù hợp trình độ của các đối tượng; chỉ đạo công tác phối hợp giữa các ban
ngành, đoàn thể, các cấp trong việc quản lý - thực hiện công tác GDMN qua mạng internet;
tổ chức tuyên truyền, tập huấn nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác
quản lý GDMN qua mạng internet; xây dựng thang điểm thi đua, đánh giá mức độ thực hiện
của TMN và các cơ sở giáo dục…
Tuỳ từng mức độ, giai đoạn mà Phòng GDMN có thể áp dụng phong cách chỉ đạo
khác nhau (lãnh đạo theo tình huống).
+ Ở giai đoạn bắt đầu hình thành kỹ năng quản lý – thực hiện công tác GDMN qua
mạng internet, việc thực hiện của các đơn vị chưa ổn định, còn nhiều lúng túng, hạn chế về
kỹ năng. Các đơn vị và tổ MN chủ yếu thực hiện công việc được giao theo nhiệm vụ, chưa
chủ động, chưa tự giác, chưa đảm bảo đúng thời gian… Do đó, Phòng GDMN đã linh hoạt,
mềm dẽo trong việc sử dụng nhiều phong cách quản lý khác nhau phù hợp với từng đối
tượng khác nhau và khả năng của từng đối tượng. Trong phong cách quản lý theo tình
huống, ứng với mức độ phát triển của những đơn vị năng lực thấp và cam kết cao, Phòng
MN dùng phong cách quản lý phù hợp là chỉ huy mức cao, hỗ trợ mức thấp; đưa ra hướng
dẫn, giám sát chặt chẽ việc hoàn thành công việc. Đối với những đơn vị có năng lực, Phòng
MN dùng phong cách quản lý hướng dẫn, chỉ huy mức cao, hỗ trợ mức cao, đưa ra hướng
dẫn, giám sát, theo dõi, nhắc nhở, đốc thúc, thậm chí có khi làm giúp và đồng thời lắng nghe
những ý kiến đề xuất của cấp dưới.
+ Ở giai đoạn tương đối ổn định: kỹ năng của các đơn vị và Tổ MN được phát triển
nhưng vẫn còn sự cách biệt nhiều về kỹ năng giữa nhóm / lớp so với trường, giữa nội thành
và ngoại thành nên để đảm bảo đúng tiến độ, trong phong cách quản lý theo tình huống, đối
với những đơn vị có năng lực còn hạn chế, Phòng GDMN vẫn dùng phong cách quản lý
hướng dẫn, chỉ huy mức cao, hỗ trợ mức cao, vẫn cần phải hướng dẫn, giám sát, theo dõi,
nhắc nhở, đốc thúc. Bên cạnh đó, ứng với mức độ phát triển của đa số các đơn vị ở giai
đoạn này là năng lực ở mức bình thường đến cao và cam kết ở mức có thể thay đổi được,
Phòng GDMN dùng phong cách quản lý phù hợp là hỗ trợ mức cao, chỉ huy mức thấp; giúp
đỡ, hỗ trợ những nỗ lực của cấp dưới và tiếp tục chia sẻ, lắng nghe những ý kiến đề xuất của
cấp dưới.
+ Ở giai đoạn ổn định – phát triển: khi bước qua được giai đoạn này, kỹ năng quản lý -
thực hiện công tác GDMN qua mạng của các đơn vị đã được vững vàng, thành thạo; giữa
các trường và nhóm lớp đã giảm bớt sự cách biệt trong kỹ năng báo cáo qua mạng. Các đơn
vị có khả năng tự quản, tự giác cao, tích cực thực hiện đúng tiến độ và đảm bảo sự chính
xác. Đặc biệt ở giai đoạn này, cán bộ phụ trách mạng của Tổ MN nắm vững các kỹ năng
báo cáo, biết cách xử lý các vấn đề nảy sinh liên quan đến CNTT trong việc báo cáo qua
mạng. Giai đoạn này Phòng GDMN sẽ áp dụng phong cách quản lý kết hợp dân chủ và tự
do. Trong phong cách quản lý theo tình huống, ứng với mức độ phát triển của nhân viên là
năng lực cao, cam kết cao sẽ có phong cách quản lý phù hợp là giao trách nhiệm (ủy quyền),
Phòng GDMN sẽ giao trách nhiệm giải quyết vấn đề cho Tổ MN, (hỗ trợ mức thấp, chỉ huy
mức thấp). Tuy nhiên, mặc dù ủy quyền cho Tổ MN, nhưng phòng GDMN vẫn luôn lắng
nghe những ý kiến đóng góp của các đơn vị, Tổ MN… để có những cải tiến, chỉnh sửa kịp
thời, giúp công tác quản lý GDMN qua mạng ngày càng hiệu quả hơn.
1.4.3.4. Kiểm tra đánh giá việc thực hiện QL GDMN qua mạng internet
Trong quá trình chỉ đạo thực hiện đã nêu ở trên, song song với chỉ đạo, Phòng
GDMN cũng có những hình thức kiểm tra đánh giá việc thực hiện quản lý GDMN qua
mạng một cách phù hợp. Có thể kiểm tra linh hoạt một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể
kiểm tra quá trình hoặc thông qua kết quả thực hiện…
Dựa vào kết quả kiểm tra, đánh giá, Phòng GDMN sẽ có những biện pháp phát huy
những thế mạnh đã đạt được hoặc điều chỉnh những vấn đề phát sinh kịp thời, nhanh chóng
giúp việc quản lý – thực hiện công tác GDMN qua mạng internet được thành công.
1.4.4. Nguyên tắc, phương pháp, phương tiện QLGDMN qua mạng internet
1.4.4.1. Nguyên tắc quản lý GDMN qua mạng internet
- Nguyên tắc kết hợp QL theo ngành và QL theo lãnh thổ: mọi cơ sở giáo dục thực
hiện chức năng, nhiệm vụ GDĐT theo sự chỉ đạo ngành dọc, nhưng các cơ sở giáo dục đều
đóng trên một địa bàn cụ thể nào đó, vì vậy cũng phải tuân thủ sự quản lý hành chính của
địa phương theo quy định phân cấp của nhà nước. Mọi hoạt động quản lý không thể tách rời
sự chỉ đạo theo ngành dọc và theo lãnh thổ, chúng được coi là một nguyên tắc quan trọng
trong quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về giáo dục nói riêng. Sự nghiệp
giáo dục, hệ thống giáo dục quốc dân là một hệ thống nhất, Bộ GD&ĐT là cơ quan quản lý
nhà nước về giáo dục và đào tạo thống nhất trong phạm vi cả nước. Chính quyền địa
phương quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo theo phần lãnh thổ của mình thông qua cơ
quan chuyên môn, theo nhiệm vụ, quyền hạn do nhà nước quy định phù hợp với cơ chế
phân cấp.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý giáo dục và đào tạo: là nguyên tắc cơ bản
trong hoạt động chính trị xã hội ở nước ta, đồng thời cũng là một nguyện tắc quan trọng
trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Quản lý nhà nước về giáo dục cũng tuân
thủ nguyên tắc này. Nguyên tắc tập trung dân chủ yêu cầu nhà nước thống nhất quản lý hệ
thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung… và hệ thống văn bằng. Bên
cạnh đó phân cấp rõ ràng về quản lý giáo dục cho địa phương và tạo điều kiện để cơ sở phát
huy chủ động và sáng tạo.
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình triển khai quản lý, chỉ đạo cần tuân thủ những
quy định chung của cấp trên về chủ trương, đường lối, phát triển giáo dục; đòi hỏi cơ sở
phải tuân thủ hành lang pháp lý đã quy định nhưng tuyệt đối không được áp đặt, cần tạo
điều kiện cho cơ sở phát huy quyền chủ động sáng tạo của họ. Tóm lại, nội dung cơ bản của
nguyên tắc tập trung dân chủ là phát huy quyền chủ động của cơ sở dựa trên hành lang pháp
lý được quy định bởi Luật Giáo dục và những văn bản pháp quy trong hoạt động quản lý
giáo dục đồng thời nâng cao tinh thần cá nhân phụ trách, tập thể lãnh đạo và phát huy dân
chủ của tập thể theo quy chế dân chủ cơ sở do Chính phủ và Bộ GD&ĐT ban hành.
1.4.4.2. Phương pháp quản lý GDMN qua mạng internet
+ Phương pháp kế hoạch hóa: dùng để quy hoạch, dự báo xu thế phát triển, xây dựng
chiến lược, xây dựng chương trình mục tiêu, lập chỉ tiêu kế hoạch, tính toán cân đối tổng thể
liên ngành, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch…
+ Phương pháp thống kê: dùng để điều tra, phân tích, thu thập thông tin, xử lý thông
tin, đánh giá tốc độ phát triển qua các phương pháp: chỉ số, số bình quân, hệ số tương
quan…
+ Phương pháp toán học hóa: dùng để lập chương trình kế toán hóa qua hệ thống máy
điện toán, lập ma trận, sơ đồ mạng, vận trù học… trong quản lý điều hành của Nhà nước.
+ Phương pháp giáo dục - tâm lý – xã hội học: dùng để nghiên cứu những vấn đề xã
hội và tâm lý nhằm suy tôn những người có công lao trong quản lý nhà nước như: khen
thưởng thi đua, tặng thưởng huân chương, huy chương, các danh hiệu… Phương pháp giáo
dục – tâm lý là tổng thể những tác động đến trí tuệ, tình cảm, ý thức và nhân cách của con
người. Mục đích của phương pháp này là thông qua những mối quan hệ liên nhân cách tác
động lên con người nhằm cung cấp, trang bị thêm hiểu biết, hình thành những quan điểm
đúng đắn, nâng cao khả năng cũng như trình độ thực hiện nhiệm vụ của đối tượng quản lý;
đồng thời chuẩn bị tư tưởng, tình cảm, ý thức trách nhiệm, ý thức tự giác tự chủ, lòng kiên
trì, tinh thần tự chịu trách nhiệm, không khí đoàn kết – lành mạnh… trong tổ chức quản lý
khi thực hiện nhiệm vụ do chủ thể quản lý đặt ra. Trong quá trình quản lý phương pháp này
được sử dụng nhiều; một mặt là do đặc điểm của môi trường hoạt động giáo dục, mặt khác
do tính hiệu quả cao của phương pháp này. Cơ sở khách quan của phương pháp giáo dục –
tâm lý là các quy luật nhận thức – tư duy, quy luật tâm lý – giáo dục – xã hội; trong khi đó
hoạt động quản lý lại diễn ra trong môi trường giáo dục, chính vì thế phương pháp này được
sử dụng nhiều trong QL ở các cơ quan giáo dục.
+ Phương pháp sinh lý học: dùng để nghiên cứu các điều kiện lao động của con người
trong cơ quan làm sao cho phù hợp với sinh lý của học, tạo ra sự thoải mái, dễ chịu, từ đó
góp phần tăng hiệu năng công tác.
+ Phương pháp giáo dục ý thức, tư tưởng, đạo đức: là sự tác động về tinh thần và tư
tưởng đối với con người để họ giác ngộ lý tưởng, hình thành ý thức chính trị, pháp luật, đạo
đức…
+ Phương pháp tổ chức: là cách thức đưa con người vào khuôn khổ, kỷ luật, kỷ cương.
Cần phải có quy chế, quy trình, nội quy hoạt động cho cơ quan, bộ phận, cá nhân và phải
cương quyết thực hiện, phải kiểm tra và xử lý kết quả đã kiểm tra một cách dân chủ, công
bằng, thưởng phạt phân minh.
+ Phương pháp kinh tế: là cách thức chủ thể quản lý hành chính nhà nước tác động
gián tiếp đến khách thể quản lý (con người) dựa trên các lợi ích vật chất và các đòn bẩy kinh
tế (lương, thưởng, phụ cấp, chính sách xã hội…) làm cho các khách thể quản lý suy nghĩ
đến lợi ích của mình, tự giác thực hiện bổn phận và trách nhiệm của mình một cách tốt nhất
mà không phải đôn đốc, nhắc nhở nhiều về mặt hành chính mệnh lệnh của chủ thể quản lý.
+ Phương pháp hành chính – pháp luật: là cách thức tác động trực tiếp của chủ thể QL
lên khách thể bằng các mệnh lệnh hành chính dứt khoát, bắt buộc. Mệnh lệnh này có tính
đơn phương thuộc chủ thể QL và tính chấp hành vô điều kiện của khách thể QL. Phương
pháp hành chính – pháp luật là tổng thể các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể QL
đến đối tượng bị QL dựa trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực của Nhà nước. Đặc trưng
của phương pháp này là sự sử dụng công cụ pháp luật của chủ thể QL. Quan hệ ở đây là
quan hệ giữa quyền uy và phục tùng; giữa cấp trên và cấp dưới; giữa cá nhân và tổ chức. Có
nhiều công cụ để thực hiện phương pháp này, đó là sử dụng: luật GD, điều lệ nhà trường,
quy chế tổ chức hoạt động, quyết định, nghị quyết, chỉ thị, các văn bản hành chính…
Để thực hiện phương pháp này cần phải đảm bảo các yêu cầu
Xác định rõ căn cứ khoa học của quyết định hành chính. Cân nhắc đầy đủ các lợi ích
của hệ quản lý và bị quản lý, khi thực hiện quyết định tránh trường hợp chỉ nghĩ đến lợi ích
của chủ thể quản lý.
Nắm vững thực trạng của đối tượng quản lý đảm bảo có những thông tin đầy đủ về
vấn đề liên quan đến quyết định.
Gắn quyền hạn trách nhiệm của người ra quyết định với những cá nhân đơn vị được
phân công thực hiện quản lý.
Quyết định phải rõ ràng, dứt khoát, dễ hiểu, có địa chỉ của người thực hiện và kèm
theo thời gian thực hiện quyết định đó.
Tuy vậy phương pháp này còn có những nhược điểm cần phải khắc phục, đó là: dễ gây
tình trạng hành chính quan liêu, nặng về mặt giấy tờ, quyết định không đủ căn cứ, thiếu
những thông tin cần thiết gây tổn thất cho tổ chức.
Trong bốn phương pháp trên, theo quan điểm của Đảng và Nhà nước hiện nay thì
phương pháp giáo dục ý thức, tư tưởng, đạo đức được nổi lên hàng đầu, phải làm thường
xuyên, liên tục và nghiêm túc. Phương pháp tổ chức hết sức quan trọng. Phương pháp kinh
tế là phương pháp cơ bản, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động quản lý nhà nước. Phương
pháp hành chính là rất cần thiết nhưng phải được sử dụng một cách đúng đắn. Tất cả các
phương pháp quản lý hành chính có mối quan hệ mật thiết với nhau.
1.4.4.3. Phương tiện quản lý GDMN qua mạng internet
Phương tiện quản lý hành chính nhà nước nói chung và quản lý GDMN nói riêng:
- Công sở: là trụ sở làm việc của Sở GD&ĐT, của Phòng GDMN; là nơi lãnh đạo công
chức và nhân viên thực thi công vụ, giao tiếp đối nội và đối ngoại, tiếp nhận các thông tin
đầu vào và ban hành các quyết định để giải quyết, xử lý công việc hàng ngày, để điều chỉnh
các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân. Công sở phải có tên, địa chỉ rõ ràng
và phải treo quốc kỳ trong ngày làm việc.
- Công vụ và công chức:
+ Công vụ là một dạng lao động xã hội của những người làm việc trong cơ quan hành
chính nhà nước.
+ Công chức: là người thực hiện công vụ, được bổ nhiệm hoặc tuyển dụng, được
hưởng lương và phụ cấp theo công việc được giao từ ngân sách nhà nước.
- Công sản: là ngân sách, vốn, kinh phí và các điều kiện, phương tiện vật chất để cơ
quan hoạt động.
- Quyết định quản lý hành chính nhà nước. [79, tr. 54-57]
Thông thường quản lý hành chính nhà nước có 3 hình thức sau:
- Ra văn bản pháp quy quy phạm pháp luật hành chính: các chủ thể quản lý hành chính
nhà nước có thể ra quyết định bằng chữ viết, bằng lời nói, bằng dấu hiệu, ký hiệu, trong đó
bằng chữ viết là chủ yếu, là đảm bảo tính pháp lý cao nhất. Các khách thể quản lý căn cứ
vào đó mà thực hiện và là chứng cứ để các chủ thể quản lý kiểm tra các khách thể thực hiện
có đầy đủ và đúng hay không và tuỳ theo đó mà truy cứu trách nhiệm, xử lý theo pháp luật.
- Hội nghị: là hình thức để tập thể lãnh đạo ra quyết định, để bàn bạc một công việc có
liên quan đến nhiều cơ quan hoặc nhiều bộ phận trong một cơ quan, cần có sự kết hợp, phối
hợp, giúp đỡ lẫn nhau. Hội nghị còn dùng để truyền đạt thông tin, biểu thị thái độ, học tập,
tuyên truyền, giải thích… Hội nghị bàn công việc sẽ có nghị quyết hội nghị, được thể hiện
bằng văn bản pháp quy. Đây là hình thức cần thiết và quan trọng, cần phải tổ chức và chủ trì
hội nghị theo phương pháp khoa học để ít tốn thời gian mà hiệu quả cao.
- Hoạt động thông tin điều hành bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại: hình thức này
hiện nay đang phát triển mạnh mẽ: sử dụng điện thoại, ghi âm, ghi hình, vô tuyến truyền
hình, fax, photocopy, máy vi tính, máy điện toán, internet (thông qua mail và web: đó là các
dạng thông tin nhanh, thông tin cơ bản của ngành, văn bản mới, tình hình đột xuất, thư mời,
báo cáo - tổng hợp (tự động) qua web…). Nói chung là tin học hiện đại được sử dụng vào
công tác nghiệp vụ điều hành quản lý hành chính nhà nước.
Trong ba hình thức trên, hình thức ra văn bản pháp quy quy phạm pháp luật hành
chính là hình thức chủ yếu.
1.4.5. Sự phối hợp quản lý và QL sự phối hợp GDMN qua mạng internet
Giáo dục là sự nghiệp cách mạng của quần chúng, do đó, GDMN là nhiệm vụ, của gia
đình, nhà trường và các tổ chức xã hội. Việc thiết lập mối quan hệ giữa ngành GDMN nói
chung và giữa trường MN với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường sẽ tạo ra sự thống
nhất đồng bộ về mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp giáo dục, nhằm phát triển
một cách có hệ thống, liên tục nhân cách trẻ em.
Mặt khác, nguồn kinh phí cũng như cơ sở vật chất chủ yếu của ngành học mầm non
chủ yếu là do các bậc cha mẹ đóng góp, do địa phương cung cấp; vì vậy, việc thiết lập tốt
các mối quan hệ giữa ngành GDMN (cụ thể là nhà trường) với gia đình và các tổ chức xã
hội là điều không thể thiếu được trong việc huy động tiềm năng vật chất của gia đình và các
tổ chức xã hội phục vụ cho công tác GDMN.
Bên cạnh đó, rất cần thiết lập mối quan hệ giữa ngành GDMN nói chung và trường
MN nói riêng với chính quyền địa phương, bởi vì Đảng bộ và chính quyền địa phương là
lực lượng quan trọng trong việc chỉ đạo, vận động toàn dân quan tâm giúp đỡ trường về vật
chất, tinh thần; cần làm tốt công tác tham mưu cho Đảng bộ và chính quyền địa phương về
công tác GDMN.
Trong công tác phối hợp, hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước Đảng bộ và chính quyền
địa phương về việc quản lý nhà trường (từ việc quản lý tài sản, quản lý nhân lực đến việc
quản lý số lượng, chất lượng GD), đồng thời hiệu trưởng cần có phối hợp chặt chẽ, có sự
thống nhất với chính quyền địa phương về chủ trương, đường lối, kế hoạch GDMN để vận
động các tổ chức xã hội và cá nhân hỗ trợ vật chất và tinh thần cho việc xây dựng trường;
biết tranh thủ sự giúp đỡ của địa phương về mọi mặt trong công tác xây dựng, phát triển
ngành GDMN, trường MN.
Phối hợp với Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Hội liên hiệp Phụ nữ và các tổ chức -
đoàn thể khác để tổ chức các hoạt động CSGD theo đúng chủ trương, chiến lược CSGD trẻ
của Đảng và Nhà nước, thực hiện đúng đắn quyền trẻ em và luật chăm sóc và giáo dục trẻ;
thực hiện tốt các chương trình hành động vì trẻ em, tạo sức mạnh giúp ngành MN tổ chức
tốt hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ.
Phối hợp với gia đình: tạo sự thống nhất trong công tác CSGD trẻ giữa gia đình và nhà
trường, giúp phát huy thế mạnh của gia đình trong công tác CSGD trẻ. Trong công tác phối
hợp, cần tôn trọng và phát huy vai trò chủ động sáng tạo của gia đình; ngành MN cần tuyên
truyền, bồi dưỡng kiến thức nuôi dạy trẻ, giúp gia đình nắm được mục tiêu, nhiệm vụ CSGD
trẻ bằng nhiều hình thức như: sử dụng sổ bé ngoan để thông báo tình hình sinh hoạt, vui
chơi, học tập ở trường cho gia đình biết, đề ra những yêu cầu để gia đình phối hợp một cách
hợp lý… Cập nhật và cung cấp kịp thời các thông tin thiết thực qua mạng về kiến thức nuôi
dạy trẻ đến với phụ huynh nhằm thúc đẩy ý thức chủ động, trách nhiệm cùng nhà trường
nuôi dạy trẻ tốt. Phát huy tinh thần cộng đồng trách nhiệm giữa gia đình và nhà trường.
Phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng, báo đài để thông tin tới xã hội và
toàn thể phụ huynh các chủ trương của ngành… để huy động tối đa sức mạnh hỗ trợ nhà
trường, để nâng cao chất lượng sống của trẻ tại trường và tại gia đình.
Cần phải có sự phối hợp với các lực lượng khác để tranh thủ nguồn lực, sự hỗ trợ, huy
động vốn đóng góp để nâng cấp mở rộng đường truyền internet, trang bị máy vi tính, triển
khai các phần mềm thiết thực...
Phối hợp với trường sư phạm trong việc đào tạo sinh viên thành thạo kỹ năng chăm
sóc giáo dục trẻ, trong đó có kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC MẦM NON QUA MẠNG INTERNET Ở TP. HỒ CHÍ MINH
2.1. Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội - giáo dục TP.HCM
2.1.1. Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội TP.HCM
Kinh tế TP.HCM: Tăng trưởng đi vào chiều sâu – đó là nhận định trong cuộc họp về
tình hình kinh tế - xã hội TP.HCM 6 tháng đầu năm 2010, đề ra nhiệm vụ, giải pháp trọng
tâm cho 6 tháng cuối năm. Nhận định của các sở ngành chức năng và UBND TP cho thấy: 6
tháng qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế của TP bằng với thời kỳ nền kinh tế phát triển mạnh
nhất trong 5 năm qua; tất cả các ngành dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp trên địa bàn tăng
trưởng khá cao. Trong khi đó, chất lượng sống của người dân vẫn tiếp tục là nỗi thách thức
đối với chính quyền TP dù công tác chăm lo cho diện chính sách và người nghèo được quan
tâm chu đáo, giáo dục và đào tạo đạt nhiều kết quả tích cực, lĩnh vực chăm sóc sức khỏe
nhân dân cũng được chú trọng. [1]
Tuy nền kinh tế TP.HCM đạt được những kết quả đáng mừng nhưng kinh tế vẫn phải
đối mặt với nguy cơ lạm phát, tình trạng nợ xấu trong các tổ chức tín dụng gia tăng. Bên
cạnh đó các vấn đề liên quan đến chất lượng sống của người dân vẫn đang là nỗi thách thức
lớn. Mặc dù TP vẫn tiếp tục đảm bảo thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là
các lĩnh vực giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm; công tác cải cách thủ
tục hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo có tiến bộ; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội và đời sống nhân dân được bảo đảm... nhưng tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm
trên địa bàn TP vẫn còn chậm; tình hình ùn tắc giao thông chưa được cải thiện; ô nhiễm môi
trường, ô nhiễm nguồn nước chưa được giải quyết. Đặc biệt, việc bố trí mạng lưới vận tải
hành khách công cộng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân. Tình hình thiên tai,
dịch bệnh cũng ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân, đặc biệt là người nghèo. Lực
lượng lao động có tay nghề vẫn còn thiếu; công tác đào tạo nguồn lao động chưa đáp ứng
được yêu cầu thực tế; tồn tại tình trạng thiếu hụt lao động tại các cơ sở sản xuất, các khu chế
xuất – khu công nghiệp; vẫn còn tình trạnh chủ doanh nghiệp nợ lương người lao động.
Công tác kiểm tra, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm chưa chặt chẽ, bộc lộ nhiều hạn chế.
[2]
Để nền kinh tế TP tiếp tục phát triển bền vững, đi vào chiều sâu, TP.HCM đề ra 5
nhóm giải pháp lớn. Trong đó, TP tiếp tục đẩy mạnh sản xuất kinh doanh và xuất khẩu; tiếp
tục thực hiện có hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế; cải thiện môi trường đầu tư, kinh
doanh. Với nhóm giải pháp này, TP tập trung phát triển các ngành dịch vụ có thế mạnh và
lợi thế so sánh, có giá trị gia tăng cao. Đồng thời, đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp
gắn với nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm nhằm tăng hiệu quả sản xuất và sức
cạnh tranh của doanh nghiệp. TP sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát triển 4 ngành công nghiệp gồm:
cơ khí, điện tử - tin học, hoá chất, chế biến lương thực - thực phẩm có giá trị gia tăng cao;
tập trung phát triển nhanh các sản phẩm công nghiệp sử dụng công nghệ cao, có hàm lượng
khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng cao, các ngành công nghiệp phụ trợ.
Nhóm giải pháp quan trọng khác là điều hành linh hoạt, thực hiện tốt chính sách tài
chính, tiền tệ góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, ngăn ngừa lạm phát cao và đảm bảo mục tiêu
tăng trưởng. Trong nhóm giải pháp này, TP sẽ quyết liệt trong việc thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí trong quản lý chi tiêu ngân sách ở tất cả các ngành cách cấp; tăng cường
công tác kiểm tra thuế, xử lý nghiêm các vi phạm về thuế, nhất là thuế VAT; xử lý nghiêm
các hành vi vi phạm về giá, gian lận thương mại, đầu cơ buôn lậu.
Kế đến là giải pháp nhằm bảo đảm tốt an sinh xã hội và phúc lợi xã hội; đẩy mạnh
phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội và bảo vệ môi trường; tiếp tục nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường công tác phòng
chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Cuối cùng là tăng cường quốc
phòng - an ninh, đảm bảo trật tự xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, tạo môi
trường thuật lợi cho sự phát triển của thành phố. Ở giải pháp thứ 5 này, thành phố tiếp tục
triển khai các biện pháp kéo giảm ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông.
P, tổ chức thành 24 quận, huyện. Điều kiện
2 TPHCM có diện tích tự nhiên 2.093,7 kmP
2.1.2. Khái quát về tình hình giáo dục TP.HCM
kinh tế dân cư tương đối thuận lợi nhưng không đồng đều; vẫn còn một bộ phận khó khăn,
thiếu thốn. Hệ thống trường lớp đáp ứng nhu cầu học tập của người dân và từng bước được
cải thiện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, ở một số huyện ngoại thành cự ly
đến trường của học sinh còn xa (có nơi trên 7 km); riêng huyện Cần Giờ mật độ dân cư còn
thấp, giao thông đi lại còn khó khăn.
Theo số liệu điều tra, dân số thành phố đã tăng từ 5 triệu người năm 1998 lên trên 7
triệu người vào tháng 4 năm 2009. Đối tượng phổ cập giáo dục THCS và đối tượng phổ cập
bậc trung học tuổi từ 11 đến 21 tuổi là 723.395 người. Dân cư hầu hết là dân tộc Kinh; một
số ít dân tộc Hoa, Chăm, Khơme, Nùng,…
Tổng số trường học mầm non và phổ thông trong năm học 2009-2010 là 1540 trường
với 1.309.538 học sinh, trong đó:
Bảng 2.1. Bảng tổng hợp số liệu trường, học sinh, giáo viên năm học 2009 -2010
SỐ HỌC SINH SỐ GIÁO VIÊN
270.841 472.131 307.738 179.880 78.948
SỐ TRƯỜNG 678 (ngoài công lập 277) 470 (ngoài công lập 35) 242 (ngoài công lập 4) 150 (ngoài công lập 60) 41
12.419 15.379 14.979 9.861 5.313
BẬC Mầm non Tiểu học THCS THPT GDCN [Xem số liệu cụ thể trường lớp, học sinh, đội ngũ, trình độ ở phụ lục số 1, 2, 3, 4]
Trong năm qua, ngành GD TP.HCM đã đạt được một số thành tựu ở nhiều lĩnh vực,
góp phần vào sự phát triển chung của ngành giáo dục cả nước với 12 sự kiện tiêu biểu của
ngành giáo dục mà Bộ GD&ĐT đã công bố, bao gồm:
a. Bộ Chính trị ra Thông báo số 242-TB/TW ngày 15/4/2009 về tiếp tục thực hiện
Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) về phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến
năm 2020. Đây là những định hướng chỉ đạo rất quan trọng để giáo dục Việt Nam có thể hội
nhập quốc tế vào năm 2020.
b. Ngày 19/6/2009, Quốc hội thông qua Nghị quyết về chủ trương, định hướng đổi mới
một số cơ chế tài chính trong GDĐT: như vậy, một số chủ trương định hướng đổi mới cơ
chế tài chính trong giáo dục sẽ được thực hiện đúng lộ trình, bắt đầu từ năm học 2010-2011
đến năm học 2014-2015.
c. Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục: đã tập
trung giải quyết một số vấn đề bức xúc hiện nay.
d. Tổ chức thành công Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 39-CT/TW của Bộ
Chính trị về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng
và nhân điển hình tiên tiến. Ngành GD trở thành ngành đầu tiên thực hiện "nói không với
bệnh thành tích".
e. Đánh giá kết quả năm đầu tiên triển khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực”. Đây là giải pháp đột phá để nâng cao giáo dục toàn diện, đặc
biệt là giáo dục đạo đức, nhân cách học sinh với một cơ chế chính trị xã hội đủ mạnh.
f. Triển khai đổi mới phương pháp dạy học 4 môn: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí và Giáo
dục công dân.
g. Tổ chức đánh giá chương trình, sách giáo khoa tiểu học và trung học trên quy mô
toàn quốc.
h. Ban hành Chương trình GDMN mới và xây dựng xong Đề án Phổ cập mẫu giáo cho
trẻ 5 tuổi.
i. Lần đầu tiên Thủ tướng Chính phủ dự và chỉ đạo Hội nghị Tổng kết năm học khối
GD đại học: Đổi mới QL nhà nước là giải pháp đột phá để đổi mới GD ĐH.
j. Đẩy mạnh UD CNTT trong các hoạt động của ngành: Đây là yếu tố then chốt có ý
nghĩa quyết định đối với việc phát triển và UDCNTT trong toàn ngành.
k. Việt Nam đăng cai và tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục các nước Á-
Âu lần thứ 2 (ASEMME2). Hội nghị ASEMME2 tại Việt Nam được các đại biểu quốc tế
đánh giá là thành công vượt bậc.
l. Hội nghị Hội đồng Giáo giới các nước ASEAN lần thứ 25 được tổ chức tại Hà Nội
vào ngày 11 và 12/12/2009. Kết quả Hội nghị đã góp phần nâng cao vị trí của giáo dục Việt
Nam trong các nước ASEAN. [46]
Nhiệm vụ của ngành GD&ĐT thành phố trong năm học 2009 – 2010: Đổi mới toàn
diện nhà trường, xây dựng nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, phục vụ CNH
- HĐH đất nước trong thời kỳ hội nhập. Tích cực đổi mới QL và không ngừng nâng cao
chất lượng đào tạo; tạo điều kiện tốt nhất cho CBQL và GV tự học, tự rèn; không ngừng
nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu hội nhập; chủ động và sáng tạo thực hiện hiệu quả thiên
chức dạy người; tổ chức cho học sinh tích cực tự rèn luyện trở thành những người công dân
văn minh tiến bộ của thời đại.
Kết quả đạt được: [7]
- Được Bộ GD&ĐT đánh giá xuất sắc 14/14 chỉ tiêu, dẫn đầu cả nước.
- Công tác UDCNTT: Phát huy tích cực vai trò của TTTT&CTGD, nâng cao hiệu quả
tin học hóa trong hệ thống QL toàn ngành từ thành phố đến quận, huyện và trường học; đã
triển khai rất tốt công cuộc UDCNTT trên cả 3 phương diện: QL, phổ cập tin học và giao
lưu chia sẻ tư liệu giảng dạy.
- Về quản lý, tất cả mọi thông tin triển khai và báo cáo đều thông qua mạng, giảm bớt
hội họp...
- Về phổ cập tin học, đảm bảo được học tin học trong 100% học sinh THCS và THPT,
100% giáo viên đều có khả năng sử dụng công nghệ thông tin để dạy học.
- Hoàn thành xuất sắc yêu cầu nhiệm vụ năm học đã đề ra: “Đổi mới quản lý, nâng cao
chất lượng giáo dục” do Bộ GDĐT phát động, TPHCM đã đề ra yêu cầu “Đổi mới toàn diện
nhà trường”, nâng cao tính chủ động sáng tạo của đội ngũ sư phạm, soạn giảng theo phương
pháp tích cực, cá thể hóa đối với từng đối tượng học sinh, đẩy mạnh các hoạt động dạy
người thông qua dạy chữ gắn liền với công cuộc “Xây dựng văn minh đô thị” của thành
phố...
- Chất lượng, hiệu quả đào tạo các ngành học được nâng cao, riêng bậc học mầm non
tiếp tục phát triển mạnh cả về qui mô và chất lượng. Tổng số trường mầm non là 678, trong
đó có 64 trường đạt chuẩn quốc gia. Tổng số trẻ 5 tuổi ra lớp đạt 96,6%. Với chủ trương lấy
chất lượng làm chính, không chạy theo thành tích, GDMN thành phố đã nỗ lực áp dụng
nhiều biện pháp để giữ vững và nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ; tiếp tục thực
hiện thí điểm chương trình mới năm thứ 5 và xây dựng môi trường sư phạm theo hướng đổi
mới; đặc biệt quan tâm chăm sóc trẻ khuyết tật học hòa nhập. Các cấp quản lý GDMN đã có
nhiều cải tiến để giảm tải cường độ lao động cho GV-CNV; tích cực UD CNTT trong quản
lý và chuyên môn. GDMN thành phố đã giải quyết được những trường lớp cơ sở vật chất
yếu kém, không còn cán bộ, GV chưa qua đào tạo bồi dưỡng. Năm học vừa qua, GDMN
thành phố được Bộ GDĐT công nhận là đơn vị xuất sắc dẫn đầu toàn quốc.
- Về công tác cải cách hành chính: đã chuẩn hóa, mẫu hóa, công khai hóa các thủ tục
hồ sơ hành chính, các quy trình, thủ tục hành chính liên quan đến người dân tại phòng tiếp
công dân của cơ quan Sở và trên trang Web của Sở; tiếp tục thực hiện tốt 9 tiêu chuẩn
chứng nhận ISO 9001: 2008 đã được công nhận giúp việc giải quyết thủ tục hành chính cho
người dân đúng hạn, khoa học. Từ năm học 2009-2010 với chủ trương điện tử hóa các văn
bản, Sở GD đã ban hành văn bản quy định việc tiếp nhận các văn bản chỉ đạo của ngành đến
các cơ sở qua trang web của Sở, tạo điều kiện cho việc tiếp nhận các văn thư thuận lợi,
nhanh chóng, kịp thời, tiết kiệm.
Sở đã thiết lập hoàn chỉnh hệ thống e-mail với tên miền @hcm.edu.vn từ Sở GDĐT
đến các cơ sở, GV và học sinh THCS và THPT. Thông tin chỉ đạo, báo cáo được nâng cao
thông qua website của Sở GDĐT và mạng internet. Website Sở hoạt động ổn định, được cập
nhật thường xuyên, góp phần tích cực nâng cao hiệu quả công tác điều hành, QL và thông
tin của ngành GDĐT thành phố. Thiết thực thực hiện chủ trương Ba công khai đối với các
cơ sở GD thuộc hệ thống GD quốc dân.
Sở GDĐT đã tổ chức triển khai Chương trình “UDCNTT trong Giáo dục” cho CBQL
giáo dục, giáo viên và học sinh. Kết quả đã có 100% CBQL giáo dục của thành phố được
tập huấn chương trình và gần 10.000 Giáo viên được tập huấn. Sở GDĐT cũng đã chọn 10
trường để xây dựng mô hình trường học điện tử đáp ứng mục tiêu UD CNTT trong đổi mới
phương pháp dạy học, quản lý, giao tiếp và chia sẻ kinh nghiệm, tài nguyên.
2.2. Giáo dục mầm non ở TP.HCM hiện nay
2.2.1. Quy mô phát triển GDMN TP.HCM
Công lập Ngoài công lập Tổng
Bảng 2.2. Bảng số liệu trường, lớp, trẻ MN năm học 2009 -2010
SỐ TRƯỜNG 401 277 678
SỐ LỚP NT 739 1.192 1.931
MG 3.282 2.450 5.732
Tổng 4.021 3.642 7.663
Tổng 153.234 117.607 270.841
SỐ TRẺ NT 22.959 29.055 52.014
MG 130.275 88.552 218.827
Trong đó số lớp mẫu giáo 5 tuổi là 2.183, số trẻ 5 tuổi đến trường là 80.472, tỷ lệ:
96,66% (học bán trú 94%). [82]
2.2.2. Công tác nuôi dưỡng và chăm sóc bảo vệ sức khỏe
Duy trì việc xây dựng và thực hiện mô hình “Chăm sóc nuôi dưỡng tốt” tại 100% các
đơn vị trong và ngoài công lập. Giới thiệu một số trang web về chăm sóc sức khỏe trẻ mầm non
đến giáo viên và phụ huynh. Yêu cầu các đơn vị ngoài công lập cài đặt phần mềm tính khẩu
phần dinh dưỡng. Ứng dụng tốt CNTT trong QL chất lượng nuôi - chăm sóc thông qua phần
mềm dinh dưỡng, phần mềm quản lý sức khỏe, phần mềm quản lý tài chính. Kết quả chăm
sóc nuôi dưỡng:
Bảng 2.3. Bảng số liệu kết quả chăm sóc nuôi dưỡng trẻ MN năm học 2009 -2010
LỨA TUỔI
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
TRẺ SUY DINH DƯỠNG CÂN NẶNG Phục Đầu hồi vào 1.058 1.352 4.701 6.449
79% 73%
TRẺ SUY DINH DƯỠNG CHIỀU CAO Phục Đầu hồi vào 593 954 2.984 4.519
62% 66%
TRẺ DƯ CÂN – BÉO PHÌ Phục Đầu hồi vào 2.267 38% 872 20.822 8.185 39%
Nhà trẻ Mẫu giáo
2.2.3. Công tác giáo dục
Để nâng cao chất lượng QL và đánh giá việc thực hiện chương trình GDMN mới,
Phòng GDMN Sở GD&ĐT đã mời chuyên gia giỏi bồi dưỡng chuyên đề “Nâng cao kỹ năng
thực hành các chủ đề giáo dục”; thực hiện chuyên đề “Đổi mới đánh giá hoạt động giáo dục
của GVMN”; bồi dưỡng chuyên môn tập trung làm rõ một số vấn đề cụ thể mà cơ sở còn
hạn chế như: lập kế hoạch giáo dục trẻ, giáo dục tích hợp, vận dụng các tiện ích của CNTT
vào thực hiện chương trình giáo dục trẻ...
Các đơn vị đều kịp thời nắm bắt thông tin, bồi dưỡng thường xuyên về nội dung
phương pháp giảng dạy chương trình GDMN mới; có sự đầu tư tốt về cơ sở vật chất và
trang thiết bị phục vụ chương trình; UDCNTT trong giáo dục, xây dựng nguồn tư liệu theo
chủ đề; môi trường hoạt động phong phú đa dạng, kích thích tư duy, suy nghĩ độc lập của trẻ
thông qua nội dung bài tập ở các góc chơi trong lớp.
Ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện cho giáo viên phát huy năng lực, khả năng
sáng tạo, giáo viên chủ động linh hoạt tự tin hơn trong việc lựa chọn đề tài phù hợp với nhu
cầu hứng thú để tổ chức tốt các hoạt động giáo dục trẻ. Trẻ mạnh dạn tự tin, chủ động tích cực,
biết bày tỏ cảm xúc, thân thiện...
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên không ngừng được
nâng cao, có sự tiến bộ trong việc thực hiện chương trình giáo dục, xây dựng thiết kế mạng nội
dung và hoạt động.
2.2.4. Công tác xây dựng môi trường thân thiện trong trường mầm non
Phòng GDMN đã có các biện pháp chỉ đạo như sau:
- Kiểm tra việc bồi dưỡng, chỉ đạo của Phòng GDĐT đối với cơ sở về việc thực hiện
môi trường tâm lý, vật chất, thiên nhiên, bảng chấm điểm môi trường thân thiện; khen
thưởng các đơn vị xây dựng tốt môi trường thân thiện vào cuối năm học.
- Tổ chức hội thảo về xây dựng môi trường tâm lý và tham quan môi trường tâm lý,
vật chất một số trường MN. Hội thảo đã hướng dẫn giáo viên chú ý lắng nghe, quan sát
những biểu hiện của trẻ; tạo bầu không khí thân thiện trong trường; mời cha mẹ của trẻ
thường xuyên tham dự, tham gia các hoạt động giáo dục.
- Tất cả các quận, huyện đều chuẩn bị đủ các điều kiện và sẵn sàng triển khai thực
hiện đại trà chương trình vào năm học 2011 - 2012.
2.2.5. Công tác giáo dục bảo vệ môi trường
- Bồi dưỡng chuyên môn: Các kiến thức cơ bản về giáo dục môi trường và bảo vệ môi
trường; giới thiệu sách, tài liệu tham khảo về môi trường. Khuyến khích GV tận dụng
nguyên vật liệu tái sử dụng làm phương tiện dạy và học.
- Lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào các hoạt động phù hợp.
- Tổ chức tuyên truyền với cha mẹ hàng tháng về môi trường, bảo vệ môi trường tại
gia đình và trường học.
- Khai thác nhiều thông tin trên mạng internet về giáo dục bảo vệ môi trường phù hợp
lứa tuổi.
2.2.6. Công tác giáo dục về an toàn giao thông
- Nhiều đơn vị đã tổ chức các hoạt động đơn giản có tác dụng tốt trong việc giáo dục
về an toàn giao thông; đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục đến trẻ, phụ huynh thông
qua các hoạt động trong ngày, tranh ảnh, bản tin... trang web.
- Tổ chức các trò chơi về luật giao thông để giáo dục hành vi, ý thức tôn trọng luật
giao thông cho trẻ từ đó tác động tới gia đình.
2.2.7. Công tác ứng dụng công nghệ thông tin
Tiếp tục phát huy kết quả đã đạt được của năm học 2008-2009 về đẩy mạnh UDCNTT,
a. Ứng dụng trong công tác quản lý chỉ đạo:
ngành GDMN thành phố đã tích cực UDCNTT trong các lĩnh vực sau:
- Năm học 2009 - 2010, website Sở GD&ĐT được tăng cường các chức năng để QL
hiệu quả hơn: Trang web của Sở GD&ĐT được xây dựng theo mô hình tập trung tại một
trung tâm dữ liệu của Sở, trong đó có chứa website của tất cả các Phòng GD&ĐT các quận
huyện, các trường trực thuộc. Trong năm học 2009-2010, website Sở GD&ĐT thành phố đã
đưa thêm chức năng đưa tin bằng hình thức Video Clip làm phong phú thêm kênh thông tin
trên trang web.
- Bên cạnh đó Website Sở GD&ĐT thành phố cũng đã được các đơn vị trực thuộc sử
dụng một cách tích cực, góp phần quan trọng trong việc thông tin các hoạt động trong ngành
đến với xã hội, thực hiện tốt Quy chế công khai đối với các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống
giáo dục quốc dân. Các tin tức và hoạt động của ngành GD&ĐT thành phố luôn được cập
nhật kịp thời; có thông tin về chuyên môn và các văn bản pháp quy về GDMN, có chia sẻ
các kinh nghiệm quản lý và tư liệu chuyên môn tốt cho giáo viên và quản lý ngành học...
Thông tin trên trang web của Sở GD&ĐT thành phố hoàn toàn không sử dụng các thông tin
trên các trang báo điện tử khác.
Ngoài ra, cán bộ của Phòng GDMN và một số hiệu trưởng của các trường đã tham gia
giao lưu trực tuyến trên các báo mạng của thành phố để trả lời cho phụ huynh về các vấn đề
như chọn trường, tuyển sinh, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1…
Đến nay 100% Phòng Giáo dục và Đào tạo, nhiều cơ sở trường lớp mầm non trên địa
bàn thành phố có website riêng.
Sở GD&ĐT thành phố đã có văn bản quy định chính thức từ ngày 15/4/2010 toàn bộ
văn bản chỉ đạo, thông báo, thư mời... được chuyển cho cơ sở thông qua website của Sở và
hệ thống mail, không gửi văn bản in. Cách làm này đã giúp công tác thông tin từ Sở đến cơ
sở và ngược lại được nhanh chóng và tiết kiệm.
Phòng GDMN đã phối hợp với TTTT&CTGD thuộc Sở GD&ĐT tổ chức hội nghị,
hội thảo, tập huấn và giảng dạy qua mạng với nhiều hình thức như: truyền hình, web và đàm
thoại. Mở rộng áp dụng hình thức này cho công tác đào tạo và tập huấn, bồi dưỡng GV và
CBQL giáo dục, tập huấn chương trình phần mềm thống kê số liệu MN; chương trình theo
dõi sức khỏe trẻ với phần mềm Data dinh dưỡng; đưa nội dung chỉ đạo chuyên môn, các
chuyên đề, nội dung họp chuyên môn hàng tháng lên trang web cho quận huyện download
nghiên cứu trước, không sử dụng hình thức photo tài liệu phát cho từng đơn vị... để tiết
kiệm thời gian, kinh phí, công sức đi lại và giảm các thủ tục hành chính trong quá trình QL
chỉ đạo cho cơ sở.
b. Ứng dụng CNTT vào thực hiện chương trình và chỉ đạo chuyên môn:
- Sử dụng các tiện ích của CNTT (Powerpoint, Mind Manager….) vào tổ chức các lớp
bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. Cán bộ của Phòng GDMN và hiệu trưởng của các
trường có điều kiện tham gia giao lưu trực tuyến trên mạng.
- Tìm kiếm, ứng dụng tài nguyên giáo dục trên Internet vào việc tổ chức thực hiện các
chủ đề của chương trình mới như: ý tưởng, bài nhạc, bài hát, chuyện kể, các bài tập trò chơi,
giáo án hoạt động, hình ảnh, phim tư liệu, phần mềm vui học (Kidstmart, Quả táo mầu
nhiệm, Vui học mầm non); xây dựng giáo án điện tử trong trường mầm non (tuy nhiên việc
này không khuyến khích nhiều).
- Tập huấn bồi dưỡng kỹ năng thực hành cho đội ngũ: nâng cao kỹ năng tìm kiếm
thông tin nhanh và hiệu quả trên internet; chia sẻ địa chỉ trang web hữu ích.
- Sử dụng và chia sẻ phần mềm Total videoconverter 3.5 cắt đoạn video trên YouTube
làm tư liệu cho hoạt động giáo dục; tạo email cơ quan cho các trường và lớp; xây dựng
nguồn tư liệu theo chủ đề; xây dựng nguồn tư liệu các băng đĩa ghi hình ảnh hoạt động tại
các đơn vị; xây dựng ngân hàng giáo án điện tử, video clip các hoạt động của trường tại
website; thực hiện trang web của lớp để phụ huynh chia sẻ và tham gia vào việc thực hiện
chương trình.
c. Ứng dụng CNTT trong hoạt động chăm sóc - nuôi dưỡng:
- Triển khai phần mềm Data dinh dưỡng quản lý sức khỏe, theo dõi trẻ suy dinh dưỡng,
dư cân - béo phì lứa tuổi mầm non qua Webside của Sở GD&ĐT.
- Sử dụng phần mềm Foodkids, Nutrikids, Baby Food quản lý một số chức năng cơ
bản: tính toán định lượng khẩu phần dinh dưỡng; quyết toán tiền ăn mỗi ngày, tháng; quản
lý tiền ăn theo qui định tài chính - kế toán...
- UD CNTT qua việc thực hiện băng đĩa ghi hình giới thiệu hoạt động chăm sóc - nuôi
dưỡng như: tổ chức đổi mới hình thức bữa ăn; giới thiệu thực đơn và cách chế biến món ăn;
giáo dục thói quen tự phục vụ trong ăn, ngủ, vệ sinh; qui trình bếp 01 chiều; qui trình vệ
sinh đồ dùng bán trú; trang thiết bị, đồ dùng bán trú hiện đại, tiện dụng, vệ sinh: tủ hấp cơm,
sấy chén, máy giặt công nghiệp, thang nâng, xe chuyển thức ăn,… cho các đơn vị học tập và
rút kinh nghiệm.
- Truy cập vào các webside để tìm kiếm thông tin về chăm sóc sức khỏe, phòng bệnh,
phòng dịch cho trẻ nhằm phục vụ công tác truyền thông - giáo dục sức khỏe; cập nhật kiến
thức, hỗ trợ trình độ chuyên môn nghiệp vụ tại các Website: Medinet.hcm (Sở Y tế);
Vietnam food Administrator (Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm); Suckhoedoisong.com;
Ykhoa.net; Tuoitho.com; Mamnon.com.
2.2.8. Công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý và GV
Phối hợp chặt chẽ với các trường sư phạm trong việc góp ý các vấn đề cập nhật thông
tin từ thực tế để GV khi tốt nghiệp có thể theo kịp thực tiễn công việc.
Mời chuyên gia nước ngoài và từ Hà Nội về báo cáo chuyên đề trong suốt năm học và
trong hè về các rối nhiễu tâm lý, ngôn ngữ cho trẻ, về phương pháp, biện pháp thực hiện
chương trình mới.
Từ trang Web của Phòng GDMN, nhiều kinh nghiệm, sáng kiến về quản lý và chuyên
môn đã được chia sẻ và cập nhật thường xuyên qua tin tức chuyên môn và các phóng sự
hình ảnh.
Nhiều Phòng GDĐT đã quan tâm nâng cao chất lượng đội ngũ, cho phép tổ chức các
chuyến đi tham quan học tập cho CBQL và GV ở trong và ngoài nước; tăng cường mở lớp
đào tạo đạt chuẩn cho giáo viên để xóa bớt tỉ lệ giáo viên chưa đạt chuẩn khu vực ngoài
công lập.
2.2.9. Cơ sở vật chất, thiết bị và kinh phí cho giáo dục mầm non
Tất cả 24 quận huyện đã hoàn thành quy hoạch mạng lưới trường học tới 2020, trong
năm học 2009-2010 đã có 15 công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng với tổng kinh phí
228.307.000.000đ. Nhiều quận, huyện đã quan tâm tới việc thiết kế theo hướng dẫn của Bộ
GDĐT và Sở GDĐT, các ban quản lý dự án đã có trao đổi với bên chuyên môn để xây dựng
phù hợp yêu cầu giáo dục trẻ và theo hướng đạt chuẩn quốc gia.
2.2.10. Công tác giáo dục trẻ khuyết tật
Toàn thành phố có 144 trường mầm non với 686 trẻ khuyết tật học hòa nhập. Trẻ
khuyết tật đều được học và tham gia các hoạt động chung với bạn. Năm học vừa qua tất cả
các trẻ khuyết tật học hòa nhập đã được đảm bảo an toàn tuyệt đối.
2.2.11. Công tác phổ biến kiến thức cho phụ huynh và cộng đồng
Thông qua bảng tin, trang web, giờ phát thanh trong trường, sổ bé ngoan, sổ liên lạc
hoặc trao đổi trực tiếp với phụ huynh để thông báo đến bố mẹ các tiến bộ hoặc các vấn đề
mà cô giáo cần yêu cầu phụ huynh phối hợp; tuyên truyền kiến thức giáo dục và nuôi dưỡng
trẻ; thông tin được sưu tầm trên báo chí, trên mạng hoặc các bài tự biên soạn ngắn gọn chắt
lọc thông tin dễ hiểu, dễ áp dụng kèm theo hình ảnh minh họa nên phụ huynh rất quan tâm.
Làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, huy động được sự tham gia của các bậc cha mẹ
và cộng đồng, thu hút nhiều nguồn lực đầu tư cho GDMN. Nhiều trường đã làm tốt công tác
vận động phụ huynh nên đã có nhiều công trình phụ huynh để cải tạo cơ sở vật chất trường
lớp và chăm lo đời sống giáo viên rất tốt, từ đó nâng cao hơn chất lượng việc chăm sóc giáo
dục trẻ tại trường.
2.3. Thực trạng quản lý GDMN qua mạng internet ở TP. HCM
2.3.1. Khái quát quá trình điều tra thực trạng
- Để có cơ sở thực tiễn nhằm khẳng định vai trò quan trọng của việc quản lý GDMN
qua mạng internet ở TP.HCM trong công tác quản lý hành chính ở thời đại công nghệ thông
tin mà chúng tôi đã phân tích trong phần lý luận.
- Xác định một số cơ sở thực tiễn để từ đó đề xuất một số biện pháp giúp việc quản lý
GDMN qua mạng internet đạt hiệu quả cao, phát huy tối đa vai trò của công nghệ thông tin
trong việc đổi mới quản lý.
- Tìm hiểu nhận thức về tầm quan trọng của việc quản lý GDMN qua mạng internet.
- Tìm hiểu thực trạng quản lý GDMN qua mạng internet của Phòng GDMN, Tổ MN
và các trường MN.
- Phân tích và xử lý kết quả điều tra thực trạng, tổng hợp các ý kiến để làm cơ sở thực
tiễn cho những đề xuất của mình.
• Khách thể điều tra
Có 5 đối tượng, tổng cộng có: 511 phiếu, gồm:
- Phòng GDMN – Sở GD&ĐT TP.HCM: 7 phiếu
- Tổ MN – Phòng GDĐT 24 quận huyện: 24 tổ x 3 phiếu = 72 phiếu
- BGH của 12 trường MN công lập ở nội thành và 12 trường MN công lập ở ngoại
thành: 24 trường x 3 phiếu = 72 phiếu
- GV của 12 trường MN công lập ở nội thành và 12 trường MN công lập ở ngoại
thành: 24 trường x 10 phiếu = 240 phiếu
- PH của 12 trường MN công lập ở nội thành và 12 trường MN công lập ở ngoại
thành: 24 trường x 5 phiếu = 120 phiếu
Thu lại còn 501 phiếu.
[xem danh sách các quận huyện và các trường MN tham gia điều tra ở phụ lục 10]
• Phương pháp điều tra
- Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến phát cho Phòng GDMN, Tổ MN và các trường MN.
- Phân tích, xử lý số liệu thu thập được.
Sau khi sử dụng kết hợp các phương pháp này để điều tra thực trạng ở các đối tượng
nêu trên, chúng tôi thu được kết quả như sau:
• Thông tin về đối tượng điều tra
U* Độ tuổi:
Độ tuổi
Trên 40
Dưới 35
120.0
100.0
Dưới 35
80.0
Từ 35 đến 40
60.0
40.0
Trên 40
20.0
0.0
Từ 35 đến 40 SL % 0.0 0 16.1 10 16.7 12 20.8 50 39.2 47
SL % 0.0 0 8.1 5 13 18.1 181 75.4 43.3 52
PMN
TMN
BGH
GV
PH
TỔNG
100.0 75.8 65.3 3.8 17.5 26.1
SL % PMN 7 TMN 47 BGH 47 GV 9 PH 21 TỔNG 251 50.1 119 23.8 131
Bảng 2.4. và biểu đồ 2.1. Thông tin về độ tuổi của đối tượng điều tra
Độ tuổi dưới 35 chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 50.1%, tỷ lệ người từ 35 đến 40 tuổi là
23.8%, ít hơn tỷ lệ người trên 40 tuổi (26.1%). Độ tuổi trên 40 chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhóm
U* Số năm công tác:
cán bộ quản lý của PMN, TMN và BGH các trường.
Số năm công tác
Từ 5 năm trở xuống
Trên 5 năm
120.0 100.0 80.0 60.0 40.0 20.0 0.0
Từ 5 năm trở xuống SL % 0.0 0 17.7 11 22.2 16 33.3 80
Trên 5 năm SL % 7 51 56 160
100.0 82.3 77.8 66.7
PMN
TMN
BGH
GV
TỔNG
107
28.1
274
71.9
PMN TMN BGH GV PH TỔNG
Bảng 2.5. và biểu đồ 2.2. Thông tin về số năm công tác của đối tượng điều tra
Thâm niên công tác quản lý và giảng dạy từ 5 năm trở xuống chiếm 28.1% thấp hơn
U* GV đang dạy lớp và PH được khảo sát có con đang học lớp:
thâm niên công tác quản lý và giảng dạy trên 5 năm (71.9%).
Lớp trẻ đang học
50.0
45.0
40.0
35.0
Nhà tr ẻ
Nhà trẻ Mầm SL % SL % 23.8 57 17.9 43 15.8 19 18.3 22 21.1 76 18.1 65
Lá Chồi SL % SL % 34.2 82 24.2 58 20.0 24 45.8 55 22.8 137 38.1 82
GV PH TỔNG
30.0
Mầm
25.0
Chồi
20.0
Lá
15.0
10.0
5.0
.0
GV
PH
TỔNG
Bảng 2.6. và biểu đồ 2.3. Thông tin về lớp trẻ đang học
Tỷ lệ GV đang dạy lớp mầm, chồi; tỷ lệ PH có con đang học nhà trẻ, chồi gần bằng
nhau. Tỷ lệ GV dạy lớp lá (34.2%) và PH có con học lớp lá (45.8%) chiếm vị trí cao nhất
U* Trình độ tin học:
Chứng chỉ B
Khác
Biết sử dụng
Chứng chỉ A
GCN UDCNTT
Chứng chỉ A và GCN UDCNTT
trong các khối lớp.
SL % 0.0 0 4.8 3 6.9 5 17.9 43 40.0 48 19.8 99
Sử dụng thành thạo SL % 0.0 0 4.8 3 4.2 3 .8 2 15.0 18 5.2 26
SL % 57.1 4 40.3 25 52.8 38 61.7 148 20.0 24 47.7 239
SL % 14.3 1 6.5 4 8.3 6 1.7 4 8.3 10 5.0 25
SL 0 6 3 4 12 25
% 0.0 9.7 4.2 1.7 10.0 5.0
SL 2 21 17 39 6 85
% 28.6 33.9 23.6 16.3 5.0 17.0
SL % 0.0 0 0.0 0 0.0 0 0.0 0 1.7 2 0.4 2
PMN TMN BGH GV PH TỔNG
Trình độ tin học
70.0
Biết sử dụng
60.0
Sử dụng thành thạo
50.0
Chứng chỉ A
40.0
Giấy chứng nhận UDCNTT
30.0
Chứng chỉ B
20.0
10.0
Chứng chỉ A và GCN UDCNTT
0.0
Khác
PMN
TMN
BGH
GV
PH
TỔNG
Bảng 2.7. và biểu đồ 2.4. Thông tin về trình độ tin học
Số người đạt chứng chỉ A chiếm tỷ lệ cao nhất (47.7%), tiếp sau đó là tỷ lệ người biết
sử dụng tin học (19.8%). Đứng thứ 3 là tỷ lệ người vừa có chứng chỉ A vừa có GCN CNTT
(17%)
2.3.2. Thực trạng nhận thức về vai trò của công tác quản lý GDMN qua mạng
internet trong công cuộc đổi mới quản lý hiện nay
Rất quan trọng % SL 57.1 4 53.2 33 56.9 41 29.6 71 31.7 38 37.3 187
Quan trọng SL % 42.9 3 46.8 29 41.7 30 65.0 156 58.3 70 57.5 288
Ít quan trọng % SL 0.0 0 0.0 0 1.4 1 5.4 13 9.2 11 5.0 25
Không Quan Trọng SL 0 0 0 0 1 1
% 0.0 0.0 0.0 0.0 .8 0.2
PMN TMN BGH GV PH TỔNG
Vai trò của công tác quản lý GDMN qua m ạng internet
70.0 60.0 50.0 40.0 30.0 20.0 10.0 .0
PMN
TMN
BGH
GV
PH
TỔNG
Bảng 2.8. và biểu đồ 2.5. Thực trạng nhận thức về vai trò của công tác quản lý GDMN qua mạng internet.
Rất quan trọng Quan trọng Ít quan tr ọng Không quan trọng
187 người đánh giá là rất quan trọng (đạt 37.3%), 288 người đánh giá là quan trọng
(đạt 57.5%), còn lại 25 người lựa chọn là ít quan trọng (chiếm 5%) và 01 người chọn không
quan trọng (chiếm 0.2%). Có sự khác biệt trong việc đánh giá vai trò của công tác quản lý
GDMN qua mạng internet như sau: ở nhóm PMN, TMN và BGH tỷ lệ đánh giá rất quan
trọng cao hơn tỷ lệ đánh giá quan trọng; trong khi đó, ở nhóm GV và PH lại đánh giá quan
trọng cao hơn rất quan trọng.
Những kết quả thu được ở trên (về thực trạng nhận thức vai trò của công tác quản
lý GDMN qua mạng internet trong công cuộc đổi mới hiện nay) còn bị chi phối, bị ảnh
hưởng bởi nhiều yếu tố. Do đó để có kết quả chính xác hơn, để hiểu rõ hơn về thực trạng
này, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu ý kiến và có sự so sánh như sau:
Rất quan trọng
Quan trọng
Ít quan trọng
Không quan trọng
Nội thành
Nội thành
Nội thành SL %
Ngoại thành SL %
SL %
Ngoại thành SL %
Ngoại Nội thành thành SL % SL % SL %
Ngoại thành SL %
PMN
* So sánh giữa nội thành và ngoại thành:
17
27.4
16
25.8
17
27.4
12
19.4
0
0
0
0
0
0
0
0
18
25.0
23
31.9
18
25.0
12
16.7
0
0
1
1.4
0
0
0
0
25
10.4
46
19.2
86
35.8
70
29.2
9
3.8
4
1.7
0
0
0
0
16
13.3
22
18.3
39
32.5
31
25.8
4
3.3
7
5.8
1
0.8
0
0
TMN BGH GV PH TỔNG
76
15.4 107
21.7
160 32.4 125 25.3
13
2.6
12
2.4
1
0.2
0
0
35
30
25
20
Nội thành
Ngoại thành
15
10
5
0
Quan trọng
Ít quan trọng
Rất quan trọng
Không quan trọng
Bảng 2.9. và biểu đồ 2.6. Thực trạng nhận thức về vai trò của công tác quản lý GDMN qua mạng internet (so sánh giữa nội thành và ngoại thành).
Tỷ lệ chọn của nội thành ở mức độ rất quan trọng (15.4%) thấp hơn tỷ lệ chọn của
ngoại thành (21.7%), trong khi đó tỷ lệ chọn quan trọng của nội thành (32.4%) cao hơn
ngoại thành (25.3%). Tỷ lệ chọn ít quan trọng của nội thành (2.6%) và ngoại thành (2.4%)
xấp xỉ bằng nhau. Sự chênh lệch giữa lựa chọn của nội thành và ngoại thành là khoảng 5%
trong cả 2 mức độ rất quan trọng và quan trọng. Tóm lại, không có sự khác biệt đáng kể
trong chọn lựa giữa nội thành và ngoại thành về tầm quan trọng của công tác QL GDMN
qua mạng internet.
Rất quan trọng Từ 35 đến 40 Trên 40 SL % SL %
Dưới 35 SL %
Dưới 35 SL %
Quan trọng Từ 35 đến 40 SL %
Trên 40 %
SL
0
0
4
57.1
0
0
0
0
0
3
42.9
0
5
8.1
24
38.7
4
6.5
1
1.6
8.1
23
37.1
5
7
9.7
26
36.1
8
11.1
4
5.6
6.9
21
29.2
5
20
8.3
14
5.8
37
15.4
70
29.2
18.3
42
17.5
44
18
15
3
2.5
17
14.2
28
23.3
21.7
16
13.3
26
* So sánh giữa các nhóm tuổi:
66
13.2
80
14.2
103 20.6
16
105
21
71
PMN TMN BGH GV PH TỔNG
50 10 Ít quan trọng Từ 35 đến 40 SL %
Dưới 35 SL %
Trên 40 SL %
Không quan trọng Từ 35 Dưới 35 đến 40 SL % SL %
Trên 40 SL %
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
1.4
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
4
1.7
6
2.5
3
1.3
0
0
0
0
0
0
7
5.8
2
1.7
2
1.7
0
0
1
0.8
0
0
PMN TMN BGH GV PH TỔNG
12
2.4
8
1.6
5
1
0
0
1
0.2
0
0
25
20
Dưới 35
15
Từ 35 đến 40
10
Trên 40
5
0
Quan trọng
Ít quan trọng Không quan
Rất quan trọng
trọng
Bảng 2.10. và biểu đồ 2.7. Thực trạng nhận thức về vai trò của công tác quản lý GDMN qua mạng internet (so sánh giữa các nhóm tuổi).
Ở mức độ rất quan trọng và quan trọng, tỷ lệ chọn lựa giữa nhóm dưới 35 tuổi và
nhóm trên 40 tuổi xấp xỉ bằng nhau. Riêng về mức độ ít quan trọng thì tỷ lệ chọn của nhóm
tuổi dưới 35 cao hơn tỷ lệ chọn của nhóm tuổi trên 40. Như vậy, không có sự khác biệt
trong nhận thức về tầm quan trọng của việc quản lý GDMN qua mạng internet ở mức độ rất
quan trọng và quan trọng, tuy lớn tuổi nhưng tư duy, nhận thức rất thức thời, phù hợp thời
đại kỹ thuật số, không lạc hậu; chỉ một số ít người trẻ tuổi (2.4%) là đánh giá ít quan trọng.
30
25
Biết sử dụng
Sử dụng thành thạo
20
Chứng chỉ A
GCN
15
Chứng chỉ B
10
Khác
GCN và CC A
5
0
Quan trọng
Rất quan trọng
Ít quan trọng
Không quan trọng
* So sánh giữa trình độ tin học:
Biểu đồ 2.8. Thực trạng nhận thức về vai trò của công tác quản lý GDMN qua mạng internet (so sánh trình độ tin học).
[Xem thêm bảng số liệu (2.11): Thực trạng nhận thức về vai trò của công tác quản lý GDMN qua mạng internet (so sánh trình độ tin học) ở phụ lục 7].
Những người có chứng chỉ A có tỷ lệ chọn rất quan trọng và quan trọng cao nhất
(18.6% và 26.1%), tiếp đến là biết sử dụng có tỷ lệ quan trọng cao thứ nhì 14.8%). Có giấy
chứng nhận và chứng chỉ A có tỷ lệ cao thứ 3.
Kết quả khảo sát cho thấy trình độ tin học có ảnh hưởng đến việc đánh giá tầm quan
trọng của công tác QL GDMN qua mạng internet.
Tóm lại, hầu hết cán bộ quản lý đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác
quản lý GDMN qua mạng internet trong công cuộc đổi mới quản lý, không có sự khác biệt
giữa nội thành và ngoại thành. Việc cán bộ quản lý các cấp đánh giá đúng vai trò, mức độ
quan trọng của công tác quản lý GDMN qua mạng internet trong công cuộc đổi mới quản lý
có ý nghĩa rất lớn: đó là cơ sở, là động lực thúc đẩy cán bộ quản lý quan tâm hơn đến việc
ứng dụng internet trong quản lý, quan tâm hơn đến việc nâng cao trình độ tin học; thúc đẩy
cán bộ quản lý tìm tòi, sáng tạo những hình thức, biện pháp ứng dụng sao cho đạt được hiệu
quả cao nhất, phát huy được tối đa ưu thế của internet trong việc đổi mới quản lý.
2.3.3. Thực trạng sử dụng các hình thức / phương tiện quản lý
Trong công tác quản lý hành chính, có nhiều hình thức / phương tiện quản lý như: bưu
điện, điện thoại, internet… Chúng tôi đã tìm hiểu mức độ sử dụng và mức độ hứng thú khi
sử dụng các hình thức / phương tiện trên và có được kết quả sau:
* Mức độ sử dụng:
Mức độ sử dụng
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không sử dụng
Bưu điện
Rất thường xuyên SL %
SL %
SL %
SL %
Điện thoại
13.2 291 58.1 120 24.0
66
24
4.8
Internet
Trực tiếp
70.0 60.0 50.0 40.0 30.0 20.0 10.0 0.0
199 39.7 183 36.5 112 22.4
7
1.4
Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
Rất thường xuyên
16
3.2
146 29.1 211 42.1 129 25.7
15
3.0
Bưu điện Điện thoại Internet 121 24.2 240 47.9 124 24.8 Trực tiếp
Bảng 2.12. và biểu đồ 2.9. Thực trạng sử dụng các hình thức / phương tiện quản lý (mức độ sử dụng).
Điện thoại chiếm tỷ lệ cao nhất ở mức độ sử dụng rất thường xuyên (39.7%), internet
chiếm tỷ lệ cao nhất ở mức độ sử dụng thường xuyên (47.9%), bưu điện được đánh giá cao
nhất ở mức độ thỉnh thoảng mới sử dụng (58.1%) và cao nhất ở mức độ không sử dụng
(24.0%).
* Mức độ hứng thú khi sử dụng các hình thức / phương tiện quản lý trên:
Bình Hứng Rất thường thú hứng thú SL % SL % SL % 9 331 66.1 4.8 24 1.8 15.2 169 33.7 237 47.3 76 106 21.2 271 54.1 113 22.6 19.0 185 36.9 202 40.3 95
Không hứng thú SL % 15.8 79 2.2 11 0.8 4 1.6 8
Không biết SL % 11.6 58 1.6 8 1.4 7 2.2 11
Bưu điện Điện thoại Internet Trực tiếp
Mức độ hứng thú
70.0 60.0 50.0 40.0 30.0 20.0 10.0 0.0
Rất hứng thú
Hứng thú
Bình thường
Khôngbiết
Không hứng thú
Bưu điện Điện thoại
Internet
Trực tiếp
Bảng 2.13. và biểu đồ 2.10. Thực trạng sử dụng các hình thức / phương tiện quản lý (mức độ hứng thú).
Internet được lựa chọn cao nhất ở mức độ hứng thú (54.1%), đồng thời ở mức độ rất
hứng thú internet cũng chiếm tỷ lệ cao nhất (21.2% so với những cái còn lại). Điện thoại
được lựa chọn cao nhất ở mức độ bình thường (47.3%). Bưu điện chiếm tỷ lệ cao nhất ở
mức độ bình thường (66.1%) và mức độ không hứng thú (15.8% so với những cái còn lại).
Như vậy, internet được sử dụng thường xuyên với mức độ là rất hứng thú và hứng thú.
Trong khi đó, điện thoại tuy được sử dụng rất thường xuyên nhưng lại được đánh giá là bình
thường khi sử dụng. Bưu điện thì thỉnh thoảng mới được sử dụng và được đánh giá là bình
thường. Vì thế, có thể dự báo trong tương lai hình thức này sẽ mất đi vì không còn phổ biến
trong thời đại kỹ thuật số.
Với mức độ sử dụng thường xuyên và rất hứng thú / hứng thú của internet, chúng tôi
tìm hiểu thêm mức độ yêu thích dùng internet trong GDMN (quản lý, giảng dạy, tham
khảo, tìm hiểu thêm thông tin về GDMN, về trẻ…):
Rất thích
Thích
Không thích
Không biết
Bảng
SL % 57.1 4 29.0 18 30.6 22 22.1 53 29.2 35 26.3 132
SL % 14.3 1 67.7 42 62.5 45 57.5 138 53.3 64 57.9 290
Bình thường SL % 28.6 2 3.2 2 4.2 3 16.3 39 10.0 12 11.6 58
SL % SL % 0.0 0 0.0 0 1.4 1 1.3 7 3.3 5 1.6 13
0.0 0.0 1.4 2.9 4.2 2.6
0 0 1 3 4 8
PMN TMN BGH GV PH TỔNG
2.14. và biểu đồ 2.11. Mức độ hứng thú khi sử dụng các hình thức / phương tiện quản lý.
Mức độ yêu thích dùng internet
80.0 70.0 60.0 50.0 40.0 30.0 20.0 10.0 .0
PMN
TMN
BGH
GV
PH
TỔNG
Rất thích
Thích Bình thường Không thích Không biết
Mức độ thích chiếm tỷ lệ cao nhất (57.9%), rất thích chiếm tỷ lệ 26.3%; trong đó PMN
có tỷ lệ rất thích dùng internet cao nhất (57.1%), các nhóm đối tượng còn lại có tỷ lệ thích
cao hơn tỷ lệ rất thích. Ở mức độ không thích, tỷ lệ chọn cao nhất ở PH với 4.2% so với
những nhóm còn lại.
Các đối tượng khảo sát đã đưa ra ý kiến cho các lựa chọn rất hứng thú, hứng thú, rất
thích và thích như sau:
Đồng ý
Phân vân
SL % 50.3 252 87.8 440 61.7 309 88.8 445 88.0 441 85.0 426 83.6 419 79.4 398 93.0 466 76.0 381
SL % 49.5 248 12.2 61 38.3 192 11.2 56 12.0 60 14.8 74 16.2 81 20.6 103 7.0 35 24.0 120
Không đồng ý SL % 0.2 1 0.0 0 0.0 0 0.0 0 0.0 0 0.2 1 0.2 1 0.0 0 0.0 0 0.0 0
Tiết kiệm tài chính Tiết kiệm không gian Tiết kiệm thời gian Tiết kiệm sức lực, nhân lực An toàn, bảo mật Tạo hứng thú khi thực hiện Đem lại hiệu quả cao trong QL Nâng cao trình độ tin học cho người sử dụng Cung cấp thông tin mở cho cộng đồng Có sự giám sát của cộng đồng đối với chất lượng công việc
Bảng 2.15. Lợi ích khi sử dụng internet trong GDMN.
Lợi ích khi sử dụng internet trong GDMN
100.0
90.0
80.0 70.0
60.0
50.0
40.0
30.0 20.0
10.0
0.0
Tiết kiệm tài chính
Tiết kiệm không gian
Tiết kiệm thời gian
An toàn, bảo mật
Tạo hứng thú khi thực hiện
Tiết kiệm sức lực, nhân lực
Cung cấp thông tin mở cho cộng đồng
Đem lại hiệu quả cao trong quản lý
Nâng cao trình độ tin học cho người sử dụng
Đồng ý
Phân vân Không đồng ý
Có sự giám sát của cộng đồng đối với chất lượng công việc
Biểu đồ 2.12. Lợi ích khi sử dụng internet trong GDMN.
Trong các lợi ích khi sử dụng internet trong GDMN, tỷ lệ đồng ý đều rất cao (gấp đôi,
gấp 3, gấp 4 so với các ý kiến phân vân), ngoại trừ ý kiến “tiết kiệm tài chính” là tỷ lệ đồng
ý và phân vân xấp xỉ bằng nhau (khoảng 50%) và ở ý kiến “tiết kiệm thời gian” có 61.7%
đồng ý và 38.3% phân vân. “Tiết kiệm không gian” được PMN đồng ý 100%. Tiết kiệm tài
chính, ở TMN và GV phân vân nhiều hơn đồng ý. Tiết kiệm thời gian: tỷ lệ GV phân vân
(52.9%) cao hơn tỷ lệ đồng ý (47.1%). Tiết kiệm sức lực – nhân lực và cung cấp thông tin
mở cho cộng đồng được PMN đồng ý 100%, các nhóm đối tượng còn lại đều chọn đồng ý
cao gấp 8-9 lần tỷ lệ chọn phân vân.
Ngoài những lý do trên, các đối tượng khảo sát còn cho biết thêm những lý do khác
như sau:
- Chọn rất thích / thích dùng internet vì:
+ Là phương tiện hỗ trợ tốt trong công tác giáo dục chăm sóc trẻ, phù hợp xu
hướng hiện nay, phù hợp sự phát triển của xã hội, giúp trình độ tin học được nâng lên, mang
tính cộng đồng cao, dễ chỉnh sửa.
+ Thông tin được truyền đạt nhanh, kịp thời, nhiều thông tin hữu ích, cần thiết,
tiện lợi, hiệu quả, rẻ, tiết kiệm được thời gian, giảm tải công việc trên sổ sách, chính xác,
gọn nhẹ, dễ lưu trữ, lưu dữ liệu nhiều năm, dễ bổ sung, chỉnh sửa, phong phú hình thức và
nguồn tư liệu trên mạng; cập nhật kịp thời sự chỉ đạo thông tin của cấp trên, giảm tải nhân
lực.
+ Có điều kiện tiếp cận những thông tin về ngành giáo dục như: tìm hiểu một số
văn bản, xem một số trang web của các trường MN trong thành phố.
+ Khuyến khích GV tự học tập và bồi dưỡng khả năng làm việc và ứng dụng
CNTT vào công tác tổ chức quản lý và GDMN, chia sẻ tốt những thông tin trong việc tự
trao dồi bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.
+ Giúp nhà quản lý và GV cải thiện điều kiện làm việc có khoa học, giảm tải sức
lao động của quản lý và giáo viên.
+ Xử lý công việc kịp thời, hiệu quả, gọn nhẹ, chủ động trong công việc, không
gò bó về không gian, thời gian.
+ Quản lý xuyên suốt, chính xác.
+ Giúp phụ huynh cập nhật được thông tin, nâng cao kiến thức và kỹ năng chăm
sóc trẻ, theo dõi được các hoạt động của trẻ, nắm thông tin trẻ mọi lúc mọi nơi; PH cập nhật
thường xuyên và chủ động, biết các thông tin về chương trình GD của nhà nước, xem sự
quản lý của BGH với các lớp, theo dõi cách dạy dỗ trẻ để học hỏi về nhà dạy bé. PH có thể
quan sát được bé sinh hoạt hằng ngày, hiểu được thói quen của bé để kết hợp với nhà trường
giáo dục bé tốt hơn. PH có thể biết thông tin mà không cần phải tới trường. PH biết được
thông tin chỉ đạo trong ngành để tham khảo, đối chiếu, nắm luật.
+ Giúp GV học tập nâng cao chuyên môn, cập nhật thông tin mới, thuận tiện,
không mất thời gian, lưu trữ gọn gàng, an toàn hồ sơ sổ sách, thời gian lưu trữ lâu, tìm được
nhiều thông tin, trò chơi, tài liệu hay và mới, trao đổi thông tin với bạn bè đồng nghiệp mọi
lúc mọi nơi, giảm cường độ lao động, tiếp cận các chương trình, phần mềm hiện đại, khoa
học. Là phương tiện học tập nâng cao gián tiếp. Đa dạng thông tin, hình ảnh, giúp dễ chọn
lựa nội dung phù hợp cho việc CSGD. Sử dụng internet giúp trẻ hứng thú hoạt động, tạo
mới lạ hứng thú trong giờ dạy, trẻ ham thích, năng động, dễ tiếp thu kiến thức; tìm tài liệu
nhanh, giúp nâng cao trình độ tin học, tiết kiệm thời gian, kịp thời, mọi lúc mọi nơi, rẻ tiền,
đơn giản, dễ thực hiện, nhanh chóng kịp thời an toàn bảo mật hiện đại, sống động, tiết kiệm
sức lực, giảm tải công việc, GV có nhiều kiến thức, tư liệu để giảng dạy, linh hoạt hơn khi
tổ chức hoạt động cho trẻ, giảm tải sổ sách. Dễ dàng thực hiện chương trình data dinh
dưỡng; tham khảo giáo án, kế hoạch, sáng kiến kinh nghiệm. Tìm kiếm thông tin về truyện
kể, thơ, bài hát, hình ảnh để dạy học.
+ Giúp nâng cao khả năng quản lý bằng CNTT, các trường download thông tin về lưu
ở trường, tiết kiệm giấy, giảm hồ sơ cồng kềnh, chia sẻ thông tin cao, quản lý chặt, nếu cần
chỉnh sửa thông tin thì chỉnh trên máy dễ dàng, báo cáo chính xác, trình bày văn bản, giáo
án đẹp, thông tin đồng bộ, tiết kiệm kinh phí thời gian đi lại, thời gian của cơ sở, chỉ đạo từ
xa, tiện ích cho CBQL, phù hợp xu hướng hiện nay, tính an toàn cao, dễ kiểm tra.
Ở kết quả khảo sát trên, mức độ hứng thú khi sử dụng internet, có 22.6% chọn bình
thường, 0.8% chọn không hứng thú và 1.4% chọn là không biết; tìm hiểu về mức độ yêu
thích dùng internet trong GDMN (quản lý, giảng dạy, tham khảo, tìm hiểu thêm thông tin về
GDMN, về trẻ…), có 11.6% chọn bình thường, 2.6% chọn không thích, 1.6% chọn không
biết. Các đối tượng khảo sát đã đưa ra ý kiến cho các lựa chọn trên như sau:
Đồng ý
Phân vân
SL % 73.9 370 68.1 341 90.4 453 68.5 343 82.6 414 33.9 170
SL % 25.9 130 31.9 160 8.8 44 30.1 151 14.0 70 13.4 67
Không đồng ý SL % 0.2 1 0.0 0 0.8 4 1.4 7 3.4 17 52.7 264
Đòi hỏi phải có trình độ, kỹ năng tin học Đòi hỏi phải có trang thiết bị Đường truyền còn chậm, hay gặp sự cố rớt mạng Dung lượng chuyển tải bị hạn chế Dễ bị virut, khó bảo mật Tạo áp lực khi thực hiện
Hạn chế khi sử dụng internet trong GDMN
100.0 90.0 80.0 70.0 60.0 50.0 40.0 30.0 20.0 10.0 0.0
Tạo áp lực khi thực hiện
Đòi hỏi phải có trang thiết bị
Dễ bị virut, khó bảo mật
Dung lượng chuyển tải bị hạn chế
Đòi hỏi phải có trình độ, kỹ năng tin học
Đồng ý
Phân vân
Đường truyền còn chậm, hay gặp sự cố rớt mạng
Không đồng ý
Bảng 2.16. và biểu đồ 2.13. Hạn chế khi sử dụng internet trong GDMN.
Hạn chế khi sử dụng internet trong GDMN có tỷ lệ cao nhất ở nội dung “đường truyền
còn chậm, hay gặp sự cố rớt mạng” (90.4%) và tỷ lệ cao thứ nhì ở nội dung “dễ bị virut, khó
bảo mật” (82.6%). Ở nội dung “tạo áp lực khi thực hiện”, tỷ lệ đồng ý là 33.9% trong khi tỷ
lệ không đồng ý là 52.7%.
Ngoài những lý do trên, các đối tượng khảo sát còn cho biết thêm những lý do khác
khi đánh giá bình thường / không hứng thú/ không thích/ không biết như sau:
+ Chưa thấy được lợi ích của internet, chưa quen quản lý qua mạng, đã quen cách
quản lý cổ điển.
+ Do chưa thành thạo sử dụng internet.
+ Do CSVC chưa đáp ứng yêu cầu, đường truyền không tốt, kinh phí sửa chữa tốn
kém.
+ Do chưa được cung cấp địa chỉ trang web của trường.
+ Đôi lúc thông tin không đến kịp, cúp điện không làm việc được.
+ PH chỉ có thể xem kết quả 1 chiều của nhà trường đăng tải trên web, chưa có giao
lưu, chia sẻ thông tin 2 chiều giữa nhà trường và PH; PH ít quan tâm vì đã có sổ liên lạc.
+ Không có thời gian, chăm sóc giáo dục trẻ rất vất vả, bận rộn cả ngày, thêm việc
dùng internet làm GV vất vả hơn.
Qua kết quả trên chúng ta thấy phương tiện / hình thức quản lý GDMN qua mạng
internet đang có một vị trí hết sức thuận lợi so với các phương tiện / hình thức khác (đa số
sử dụng rất thường xuyên và thường xuyên, mức độ rất hứng thú và hứng thú, mức độ rất
thích và thích sử dụng cao). Như vậy việc tăng cường công tác quản lý GDMN qua mạng
internet là phù hợp.
2.3.4. Thực trạng trang thiết bị đáp ứng yêu cầu cho công tác quản lý GDMN qua
mạng internet
Bình thường
Yếu
2
0.8
5
Tốt Rất tốt SL % SL % 67 17.6 167 43.8 107 28.1 120 31.5 19.7 166 43.6 75 14.7 129 33.9 56 176 46.2 6.6 25 28 139 36.5 7.3 11.3 159 41.7 43
SL 142 122 101 162 157 181 166
Kém SL % SL % 3 0.5 20 5.2 12 3.1 1.3 34 8.9 20 5.2 14 3.7 0.3 22 5.8 0.3 32 8.4 0.0 13 3.4
1 1 0
% 37.3 32.0 26.5 42.5 41.2 47.5 43.6
Máy tính để bàn Máy tính xách tay Mạng internet Mua sắm, trang bị mới Bảo quản Sửa chữa Sử dụng
Thực trạng trang thiết bị
Rất tốt
Tốt
Bình thường
Yếu
Kém
50.0 45.0 40.0 35.0 30.0 25.0 20.0 15.0 10.0 5.0 0.0
Mạng internet
Bảo quản
Sửa chữa
Sử dụng
Máy tính để bàn
Máy tính xách tay
Mua sắm, trang bị mới
Bảng 2.17. và biểu đồ 2.14. Thực trạng trang thiết bị đáp ứng yêu cầu cho công tác quản lý GDMN qua mạng internet.
Tỷ lệ cao nhất ở mức đánh giá “tốt” cho các nội dung: máy tính để bàn, máy tính xách
tay, mạng internet, bảo quản. Tỷ lệ cao nhất ở mức đánh giá “bình thường” cho các nội
dung: mua sắm, trang bị mới, sửa chữa, sử dụng. Mạng internet có tỷ lệ “yếu” cao nhất
(8.9%), tiếp đó là vấn đề sửa chữa (8.4%). Tỷ lệ đánh giá yếu nhất ở nội dung mua sắm và
trang bị mới (3.7%), tiếp đó là máy tính xách tay (3.1%).
Ở nội dung máy tính để bàn, PMN, BGH và GV có tỷ lệ chọn “tốt” cao nhất, trong khi
đó TMN chọn “bình thường”. TMN và GV có tỷ lệ yếu và kém, trong khi đó ở PMN và
BGH là 0% yếu và kém.
Ở nội dung máy tính xách tay, PMN chọn cao nhất ở mức độ tốt ở PMN (57.1%) và
GV (33.8%), TMN chọn bình thường (35.5%) còn BGH chọn rất tốt (43.1%). PMN, TMN
và GV có đánh giá yếu, riêng GV có tỷ lệ đánh giá kém (5%).
Mức độ bình thường được đánh giá cao nhất ở TMN cho mạng internet, còn lại đánh
giá tốt. GV đánh giá yếu nhất (10.8%) và kém (2.1%).
Mua sắm, trang bị mới được PMN và BGH đánh giá tốt, TMN và GV đánh giá bình
thường, đặc biệt GV đánh giá cả yếu và kém (5.8%)
Nội dung bảo quản, TMN đánh giá cao nhất bình thường, còn lại PMN, BGH và GV
đánh giá cao ở mức độ tốt.
Hai nội dung sửa chữa và sử dụng, tỷ lệ chọn chia đều ở mức độ tốt và bình thường.
Như vậy, về cơ sở vật chất như máy vi tính, mua sắm trang thiết bị đa số ở mức độ
tốt và bình thường, riêng chất lượng mạng internet thì cần phải cải thiện để phục vụ cho
công tác quản lý GDMN qua mạng.
2.3.5. Thực trạng thực hiện các nội dung QLGDMN qua mạng internet
2.3.5.1. Mức độ thực hiện
* Thực trạng thực hiện công tác QLGDMN qua mạng internet của PMN, TMN, BGH
Có thực hiện
Không thực hiện
Ít khi thực hiện SL % SL % SL % 2.1 126 89.4
8.5
12
3
120 85.1
18
12.8
3
2.1
1. Xây dựng kế hoạch 2. Tổ chức thực hiện kế hoạch
115 81.6
25
17.7
1
0.7
Quản lý việc thực hiện:
118 83.7
22
15.6
1
0.7
133 94.3
6
4.3
2
1.4
130 92.2
9
6.4
2
1.4
11 10
Quản lý nội dung website GDMN:
7.8 128 90.8 130 92.2 7.1 96 68.1 39 27.7 14.9 119 84.4 17.7 112 79.4 9.2 124 87.9
21 25 13
2 1 6 1 4 4
1.4 0.7 4.3 0.7 2.8 2.8
3. Giúp đỡ, khuyến khích 4. Theo dõi, kiểm tra, giám sát 5. Thông tin về trẻ 6. Thông tin về CB-GV 7. Thông tin về chương trình 8. Thông tin về pháp luật, chính sách 9. Thông tin về tài chính 10. Thông tin về cơ sở vật chất, thiết bị 11. Thông tin về cộng đồng xã hội 12. Thông tin về trường
Mức độ thực hiện
100.0
80.0
Có thực hiện
60.0
Ít khi thực hiện
40.0
Không thực hiện
20.0
0.0
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Bảng 2.18. và biểu đồ 2.15. Thực trạng thực hiện công tác quản lý GDMN qua mạng internet của PMN, TMN, BGH (mức độ thực hiện).
Thông tin về trẻ có tỷ lệ thực hiện cao nhất (94.3%).
Thông tin về tài chính có tỷ lệ ít thực hiện cao nhất (27.7%) và không thực hiện
(4.3%), tiếp đến là giúp đỡ, khuyến khích và thông tin về cộng đồng xã hội (17.7%)
Quản lý nội dung website GDMN phần thông tin về trẻ, tỷ lệ rất cao, TMN là 93.5%,
BGH là 97.2%;
Giúp đỡ khuyến khích có 25% BGH ít khi thực hiện, theo dõi kiểm tra có 27.8% BGH
ít khi thực hiện.
Thông tin về tài chính, tỷ lệ ít thực hiện ở TMN là 19.4% và không thực hiện là 3.2%;
ở BGH ít thực hiện là 33.3% và không thực hiện là 5.6%.
* Thực trạng ứng dụng mạng internet trong GDMN của GV
Có thực hiện
Ít khi thực hiện
Không thực hiện
SL % 65.0 156 72.5 174
SL 42 23
% 17.5 9.6
SL % 17.5 42 17.9 43
22
9.2
27
11.3
Quản lý thông tin trên trang web lớp
191 79.6 65.4 157
44
18.3
39
16.3
140
58.3
53
22.1
47
19.6
1. Danh sách trẻ 2. Lý lịch trẻ 3. Tình hình dinh dưỡng của trẻ 4. Sức khỏe của trẻ 5. Hoạt động của trẻ 6. Tuyên truyền
103 143 178
42.9 59.6 74.2
96 77 46
40.0 32.1 19.2
41 20 16
17.1 8.3 6.7
7. Download phần mềm 8. Download giáo án, tư liệu
Mức độ thực hiện
Có thực hiện
Ít khi thực hiện
Không thực hiện
90.0 80.0 70.0 60.0 50.0 40.0 30.0 20.0 10.0 .0
1
2
3
4
5
6
7
8
Bảng 2.19. và biểu đồ 2.16. Thực trạng ứng dụng mạng internet trong GDMN của GV (mức độ thực hiện).
Các GV đều có thực hiện các nội dung trên, tỷ lệ thực hiện tình hình dinh dưỡng của
trẻ là cao nhất (79.6%), tuyên truyền trên trang web lớp chiếm tỷ lệ thấp nhất (42.9%), gần
bằng với tỷ lệ ít khi thực hiện.
Ngoài những nội dung trên, GV còn sử dụng internet trong những việc cụ thể sau: làm
data dinh dưỡng, tìm giáo án hay để học hỏi, thu thập thông tin, xem tài liệu tham khảo; tìm
kiếm hình ảnh, bài hát, thơ, truyện, phim tư liệu, tài liệu phục vụ giảng dạy, xem cách làm
đồ dùng đồ chơi, cập nhật cân đo sức khỏe trẻ; xem hình ảnh, hoạt động; học hỏi sáng kiến
kinh nghiệm, tải giáo án mẫu, tìm kế hoạch hoạt động, các tin tức về giáo dục, thực hiện
chương trình (mạng chủ đề, giáo án, kế hoạch ngày…), chuyển tài tài liệu, thông tin trường
lớp, học hỏi kinh nghiệm, đầu tư vào chuyên môn tốt, lưu trữ tài liệu hiệu quả, tuyên truyền
phụ huynh, xem tin tức, giáo án điện tử, thông báo thông tin cho phụ huynh về bé, tham
khảo trang web nước ngoài để nâng cao trình độ chuyên môn…
* Thực trạng sử dụng mạng internet trong GDMN của PH:
Có thực hiện SL % 32.5 39
Ít khi thực hiện SL % 26.7 32
Không thực hiện SL % 40.8 49
44
36.7
30
25.0
46
38.3
Xem thông tin trên trang web lớp
43
35.8
23
19.2
54
45.0
1. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ 2. Sức khỏe của trẻ 3. Các hoạt động trong lớp của trẻ
46
38.3
24
20.0
50
41.7
4. Xem thông tin về GDMN
Mức độ thực hiện
Có thực hiện
Ít khi thực hiện
50.0 40.0 30.0 20.0 10.0 .0
Không thực hiện
1
2
3
4
Bảng 2.20. và biểu đồ 2.17. Thực trạng sử dụng mạng internet trong GDMN của PH (mức độ thực hiện).
Mức độ không thực hiện chiếm tỷ lệ cao nhất trong tất cả các nội dung. Ở nội dung
xem thông tin về GDMN chiếm tỷ lệ có thực hiện cao nhất (38.3%). Ở nội dung xem thông
tin về sức khỏe trẻ thì tỷ lệ có thực hiện (36.7%) gần bằng với không thực hiện (38.3).
2.3.5.2. Kết quả thực hiện
* Thực trạng quản lý GDMN qua mạng internet của PMN, TMN, BGH:
Tốt
Khá
Yếu
Trung bình
SL % SL % SL % SL % 1.4 99 70.2 33 23.4 1.4 89 63.1 42 29.8
5.0 5.7
7 8
2 2
1. Xây dựng kế hoạch 2. Tổ chức thực hiện kế hoạch
79 56.0 48 34.0 11
7.8
3
2.1
QL việc thực hiện:
78 55.3 45 31.9 18 12.8
0
0.0
82 58.2 46 32.6
7
5.0
6
4.3
82 58.2 47 33.3
9
6.4
3
2.1
83 58.9 52 36.9
4
2.8
2
1.4
97 68.8 36 25.5
8
5.7
0
0.0
68 48.2 41 29.1 26 18.4
6
4.3
Quản lý nội dung website GDMN:
82 58.2 41 29.1 16 11.3
2
1.4
87 61.7 28 19.9 24 17.0
2
1.4
80 56.7 43 30.5 15 10.6
3
2.1
Kết quả quản lý qua mạng
79 56.0 55 39.0 82 58.2 54 38.3 88 62.4 50 35.5
7 5 3
5.0 3.5 2.1
0 0 0
0.0 0.0 0.0
3. Giúp đỡ, khuyến khích 4. Theo dõi, kiểm tra, giám sát 5. Thông tin về trẻ 6. Thông tin về CB-GV 7. Thông tin về chương trình 8. Thông tin về pháp luật, chính sách 9. Thông tin về tài chính 10. Thông tin về cơ sở vật chất, thiết bị 11. Thông tin về cộng đồng xã hội 12. Thông tin về trường 13. Đúng tiến độ 14. Chính xác 15. Đầy đủ
89 63.1 48 34.0
4
2.8
0
0.0
16. Hiệu quả
internet:
Kết quả thực hiện
80.0
60.0
Tốt
Khá
40.0
Trung bình
Yếu
20.0
0.0
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16
Bảng 2.21. và biểu đồ 2.18. Thực trạng quản lý GDMN qua mạng internet của PMN, TMN, BGH (kết quả thực hiện).
Các nội dung đa số được đánh giá tốt, việc xây dựng kế hoạch được đánh giá tốt với tỷ
lệ cao nhất là 70.2%. Kết quả quản lý đúng tiến độ được đánh giá cao nhất ở mức độ khá là
39%. Thông tin về tài chính được đánh giá trung bình với tỷ lệ cao nhất là 18.4%. Đánh giá
yếu có tỷ lệ là 4.3% cho thông tin về trẻ và thông tin tài chính.
Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch: BGH có tỷ lệ yếu là 2.8%.
Thông tin về trẻ: TMN có tỷ lệ tốt là 43.5%, khá là 45.2%, TB là 4.8%, yếu là 6.5%.
Thông tin về tài chính, TMN có tỷ lệ trung bình là 14.5%, yếu là 1.6%; BGH có tỷ lệ
trung bình là 18.1%, yếu là 4.2%.
Thông tin về cộng đồng xã hội TMN có tỷ lệ yếu là 3.2%.
Thông tin về trường: TMN có tỷ lệ tốt là 46.8%, khá là 43.5%, TB là 6.5%, yếu là
3.2%.
Kết quả quản lý qua mạng internet đúng tiến độ: TMN có 48.4% đánh giá tốt và khá,
3.2% là trung bình.
* Thực trạng ứng dụng mạng internet trong GDMN của GV:
Tốt
Khá
Yếu
Trung bình
SL % SL % SL % SL % 106 44.2 48 20.0 47 19.6 39 16.3 117 48.8 49 20.4 31 12.9 43 17.9
127 52.9 73 30.4 14
5.8
26 10.8
95
39.6 73 30.4 30 12.5 42 17.5
Quản lý thông tin trên trang web lớp
59
24.6 85 35.4 44 18.3 52 21.7
70
29.2 76 31.7 36 15.0 58 24.2
1. Danh sách trẻ 2. Lý lịch trẻ 3. Tình hình dinh dưỡng của trẻ 4. Sức khỏe của trẻ 5. Hoạt động của trẻ 6. Tuyên truyền
100 41.7 73 30.4 29 12.1 38 15.8 8.3 106 44.2 92 38.3 22
9.2
20
7. Download phần mềm 8. Download giáo án, tư liệu
Kết quả thực hiện
60.0
50.0
Tốt
40.0
Khá
30.0
Trung bình
20.0
Yếu
10.0
.0
1
2
3
4
5
6
7
8
Bảng 2.22. và biểu đồ 2.19. Thực trạng ứng dụng mạng internet trong GDMN của GV (kết quả thực hiện).
Các nội dung: quản lý danh sách trẻ, lý lịch trẻ, tình hình dinh dưỡng của trẻ, sức khỏe
của trẻ, download phần mềm, giáo án, tư liệu có tỷ lệ tốt cao hơn các tỷ lệ còn lại; đặc biệt ở
nội dung quản lý danh sách trẻ, lý lịch trẻ, tình hình dinh dưỡng có tỷ lệ tốt cao hơn gấp đôi
so với các mức độ còn lại. Nội dung quản lý thông tin về hoạt động của trẻ và tuyên truyền
có tỷ lệ khá cao hơn tốt. Nội dung tuyên truyền chiếm tỷ lệ yếu cao nhất (24.2%).
* Thực trạng sử dụng mạng internet trong GDMN của PH:
Tốt
Khá
Yếu
Trung bình
SL % SL % 38 31.7 28 23.3
SL % SL % 18.3 32 26.7 22
43 35.8 24 20.0
25
20.8 28 23.3
Xem thông tin trên trang web lớp
18
15.0 37 30.8
1. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ 2. Sức khỏe của trẻ 3. Các hoạt động trong lớp của trẻ 37 30.8 28 23.3 36 30.0 31 25.8
18
15.0 35 29.2
Xem thông tin về GDMN
Kết quả thực hiện
40.0
Tốt
30.0
Khá
20.0
Trung bình
10.0
.0
Yếu
1
2
3
4
Bảng 2.23. và biểu đồ 2.20. Thực trạng sử dụng mạng internet trong GDMN của PH (kết quả thực hiện).
Tỷ lệ tốt cao nhất ở nội dung xem sức khỏe của trẻ; tỷ lệ đánh giá tốt cho tình trạng
dinh dưỡng của trẻ cao hơn mức độ còn lại trong khi tỷ lệ đánh giá tốt ở nội dung các hoạt
động trong lớp của trẻ và xem thông tin về mầm non lại bằng với tỷ lệ đánh giá yếu
(30.8%).
Tóm lại, nội dung quản lý về trẻ MN (tình trạng sức khỏe trẻ) và các thông tin về
ngành GDMN được thực hiện thường xuyên và đánh giá tốt hơn các nội dung quản lý còn
lại.
2.3.6. Thực trạng sử dụng internet của các cán bộ quản lý GDMN
2.3.6.1. Mức độ thực hiện:
Không thường xuyên
Thường xuyên SL % 85 60.3 131 92.9 109 77.3 83 58.9 232 60.9 287 75.3
SL 55 10 32 51 125 77
% 39.0 7.1 22.7 36.2 32.8 20.2
Không thực hiện % SL 0.7 1 0.0 0 0.0 0 5.0 7 6.3 24 4.5 17
Chỉ đạo Báo cáo Thực hiện Tuyên truyền Download phần mềm Download tư liệu phục vụ bài giảng
Bảng 2.24. Thực trạng sử dụng internet của cán bộ quản lý GDMN (mức độ thực hiện).
Mức độ thực hiện
100.0 90.0 80.0 70.0 60.0 50.0 40.0 30.0 20.0 10.0 0.0
Chỉ đạo Báo cáo Thực hiện Tuyên truyền
Download phần mềm
Download tư liệu phục vụ bài giảng
Thường xuyên
Không thường xuyên
Không thực hiện
Biểu đồ 2.21. Thực trạng sử dụng internet của cán bộ quản lý GDMN (mức độ thực hiện).
Internet được dùng để báo cáo chiếm tỷ lệ cao nhất (92.9%), sau đó là để download tư
liệu phục vụ bài giảng (75.3%). Download phần mềm có tỷ lệ không thực hiện cao nhất
(6.3%) (trong đó GV chọn không thực hiện chiếm tỷ lệ cao nhất (8.3%)).
Nội dung download phần mềm và download tư liệu phục vụ bài giảng được khảo sát
trên 4 đối tượng (PMN, TMN, BGH, GV). Nội dung: chỉ đạo, báo cáo, thực hiện, tuyên
truyền được khảo sát trên 3 đối tượng (PMN, TMN, BGH).
* BGH, GV thường hay download tư liệu phục vụ cho các hoạt động giáo dục của trẻ
như: bài tập, trò chơi, nhạc, hình ảnh, phim… Ngoài ra, internet còn được dùng trong việc
thư giãn, giảm stress.
2.3.6.2. Kết quả thực hiện
Tốt SL % 62 44.0 107 75.9 58.2 82
Khá SL % 47.5 67 19.1 27 35.5 50
Trung bình % SL 8.5 12 5.0 7 6.4 9
Yếu SL % 0.0 0 0.0 0 0.0 0
Chỉ đạo Báo cáo Thực hiện
50.4
46
17 51 37
12.1 13.4 9.7
5.0 7 44 11.5 6.0 23
Tuyên truyền 71 32.6 Download phần mềm 170 44.6 116 30.4 Download tư liệu phục vụ bài giảng 189 49.6 132 34.6
Kết quả thực hiện
80.0 70.0 60.0 50.0 40.0 30.0 20.0 10.0 0.0
Chỉ đạo
Báo cáo
Thực hiện
Tuyên truyền
Dow nload phần mềm
Tốt
Khá
Trung bình
Yếu
Dow nload tư liệu phục vụ bài giảng
Bảng 2.25. và biểu đồ 2.22. Thực trạng sử dụng internet của cán bộ quản lý GDMN (kết quả thực hiện).
Kết quả thực hiện tốt nhất ở nội dung “báo cáo” (75.9%), download phần mềm có kết
quả thực hiện trung bình cao nhất là 13.4% và yếu là 11.5%.
Chỉ đạo BGH có kết quả trung bình cao nhất (13.9%). Dùng internet để báo cáo BGH
cũng có kết quả thực hiện trung bình cao nhất (6.9%)
Ở nội dung tuyên truyền, BGH có 6.9% đánh giá yếu.
Download phần mềm, TMN có 4.8% đánh giá là trung bình và yếu; BGH có 26.4%
đánh giá là trung bình và 2.8% yếu; GV có 12.1% đánh giá là trung bình và 15.8% yếu.
Download giáo án BGH có 52.8% đánh giá là tốt, 33.3% đánh giá là khá, 12.5% đánh
giá là trung bình và 1.4% yếu; GV có 44.2% đánh giá là tốt, 38.3% đánh giá là khá, 9.2%
đánh giá là trung bình và 8.3% yếu.
Nội dung download phần mềm và download tư liệu phục vụ bài giảng được khảo sát
trên 4 đối tượng (PMN, TMN, BGH, GV). Nội dung: chỉ đạo, báo cáo, thực hiện, tuyên
truyền được khảo sát trên 3 đối tượng (PMN, TMN, BGH).
2.3.6.3. Thực trạng sử dụng trang web GDMN của Sở GD&ĐT, trang web Phòng
GDĐT, trang web trường, lớp
Trang web GDMN Sở Trang web P.GDĐT/trường Trang web của lớp
Số lần truy cập trong ngày Thời điểm truy cập trong ngày
Mục đích truy cập
Ít nhất 4 lần đối với truy cập trang web GDMN Sở, P.GDĐT; trang web của trường và lớp thì tùy thuộc vào công việc. Tập trung nhiều vào 4 thời điểm: đầu giờ sáng, gần cuối giờ trưa, đầu giờ chiều, gần cuối giờ chiều, đặc biệt có khi là cả ngày, hoặc tranh thủ những khi trẻ ngủ. - Tìm hiểu mục tiêu, chương trình GDMN, xem hoạt động MN, theo dõi tình hình của - Tìm hiểu về trường, cách quản lý chăm sóc của trường, xem của động hoạt - Thông tin sức khỏe trẻ, cân đo, khám sức khỏe, tình hình lớp.
trường, thông báo của trường, thực đơn - Biết thông tin, chỉ thị của cấp trên, của tình hình trường, trường, truy cập data dinh dưỡng.
ngành và các thông thiết khác: tin cần phương hướng, những cải cách mới trong giáo dục. - Tìm và nhận thông tin từ Sở, nắm thông tin của cơ sở, những sự kiện của xã hội, nghiên cứu về chuyên môn mầm non, kiểm tra hoặc lấy tư liệu, số liệu, từ tình hình Phòng GD và các trường.
Nội dung thích nhất, vì sao
thông
- Những vấn đề liên quan đến ngành học, các tin về chuyên môn, tư liệu… - Văn bản, tài liệu chuyên môn, giúp cập nhật những hoạt động chung của ngành học từ đó có kế MN, hoạch chỉ đạo hoạt động chuyên môn tại đơn vị. - Thông tin chỉ đạo, hình ảnh hoạt động của các quận huyện…
Nội dung cần cải thiện, vì sao
tăng dung
- Cần tăng thêm các thông tin về chuyên môn, về kinh nghiệm quản lý GDMN. - Hình ảnh minh hoạ mờ, không xem được. - Chức năng tìm thông tin cũ còn trục trặc. - Cần lượng chuyển tải. - KH GD của trường, các chủ đề, chương trình dạy, hình ảnh, hoạt động, thông báo của ngày trong trường. - Thông tin chuyên môn, nội dung về thành tích, nhân sự của trường. - Nắm bắt và xử lý kịp thời các văn bản chỉ đạo, bài giới thiệu các chuyên đề chuyên môn, các bài viết có ích… - Hình ảnh nhỏ khó xem kỹ. - Còn thiếu các thông tin chuyên môn mới. - Khô khan, hình thức trang web chưa đẹp, chức năng tìm thông tin cũ còn trục trặc. - Cần có đường link với trang chủ. - Cập nhật thông tin mới, xem các hoạt động của trẻ, tin thông liên quan đến trẻ, nắm tình hình con, thông tin của lớp, kết quả học của trẻ; xem tình hình các bé ngoan, - Kiểm tra tình hình đưa tin các lớp, kiểm tra thực tình hình hiện CSGD ở các lớp, kiểm tra kế hoạch GV. - Thông tin đến giáo viên. - Xem hình ảnh các hoạt động của lớp, nhận xét của GV về trẻ, tình hình xem sức khỏe của trẻ. - Tải ảnh, video, trò chơi dành cho cháu. - Giáo án phong phú, luôn đổi mới. - Xem giải đáp thắc mắc giúp trẻ nhiều hiểu hơn. - Hình ảnh nhỏ khó xem kỹ. - Chưa đủ chức năng để hoạt động phong phú, tìm chức năng thông tin cũ còn trục trặc. - Cần có đường link với trang chủ.
Thuận lợi khi - Nhanh chóng, thuận - Giao diện dễ sử - Nắm được tổng
tình hình
truy cập vào trang web
quát các lớp. - Thuận tiện, không phải ghi chép, tính chính xác cao. - Chủ động về thời gian và nội dung. - Kỹ năng vi tính thành thạo. dụng, nhanh, dễ thực hiện. - Chủ động được thời gian, xem bất cứ khi nào muốn. - Nắm bắt thông tin kịp thời, nhanh hơn đường văn thư, dễ dàng. - Nắm rõ hoạt động của trường, biết các thông tin trong ngày.
Khó khăn khi truy cập vào trang web
ảnh
- Mạng chậm, rớt mạng - Chưa cập nhật thông tin đầy đủ, kịp thời để PH theo dõi. - Không có thời gian, - Một số GV, PH chưa có mạng. - Cúp điện sẽ không hoạt động được. lợi, nhiều thông tin, có hình ảnh minh họa, giao diện đẹp. - Nếu đường truyền mạnh thì vào trang web rất nhanh, tìm được văn bản, thông tin về hoạt động của bậc học dễ dàng, cần gì cũng có, phân từng cấp học nên dễ tìm tài liệu, rõ ràng, dễ hiểu, biết ngay tình hình khẩn, đi đâu cũng xem được… - Đường truyền chậm, thỉnh thoảng bị kẹt mạng, rớt mạng, nhất là tại các thời điểm báo cáo. - Không có thời gian truy cập. - Khó khăn khi tìm lại văn bản cũ. - Cúp điện sẽ không hoạt động được.
Cảm nhận / nhận xét về trang web
- Thiết kế đẹp, rõ ràng, nhiều hình ảnh, nội dung tốt, rất thích khi truy cập, thuận lợi. - Thông tin chậm cập nhật (sơ đồ tổ chức, tin tức tháng), ít nội dung. - Bình thường, chỉ có thông báo, thông tin, đơn điệu, chưa đa dạng, phong phú. - Khá tốt, thiết kế đẹp, rõ ràng - Hay, cần thiết, bổ ích, giúp ích cho công tác chuyên môn - Cần tăng thêm nội dung chuyên môn. - Giúp các đơn vị nắm bắt chỉ đạo của Sở kịp thời. - Luôn được cập nhật về hoạt động PMN và các trường.
- Mạng chậm, rớt mạng - Đường dẫn còn dài, khó nhớ - Hình không rõ. - Không có thời gian. - Kỹ năng tin học chưa tốt. - Cúp điện sẽ không hoạt động được. - Thể hiện sự sáng tạo, đầu tư của GV khi thực hiện trang web lớp, thiết kế đẹp, giao diện thân thiện, vui mắt, rất có ích - Thông tin cập nhật ít, còn nhiều mục chưa có số liệu thống kê. - Có cung cấp thông tin về bé giống sổ liên lạc nhưng bất tiện vì có thể nhiều phụ huynh không có máy tính.
2.4. Kết luận thực trạng QLGDMN qua mạng internet ở TPHCM
2.4.1. Ưu điểm
Qua kết quả khảo sát, chúng tôi thấy rằng CBQL, GV, PH đều nhận thức đúng đắn về
tầm quan trọng của công tác quản lý GDMN qua mạng internet trong công cuộc đổi mới
hiện nay.
Căn cứ vào kết quả khảo sát, điều tra thực trạng chúng tôi thấy về mặt nhận thức,
CBQL, GV, PH đều khẳng định: internet có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý
GDMN nói riêng và trong công cuộc đổi mới quản lý nói chung, CBQL, GV, PH rất thích
sử dụng internet.
Qua kết quả trên chúng ta thấy phương tiện / hình thức quản lý GDMN qua mạng
internet đang có một vị trí hết sức thuận lợi so với các phương tiện / hình thức khác (đa số
sử dụng rất thường xuyên và thường xuyên, mức độ rất hứng thú và hứng thú, mức độ rất
thích và thích sử dụng cao). Quản lý GDMN qua mạng internet giúp giảm tải công việc, tiết
kiệm được các nguồn lực và thời gian, tăng cường sự giám sát đối với chất lượng công việc,
cung cấp thông tin mở cho cộng đồng, có sự giám sát của cộng đồng đối với chất lượng
công việc; tiết kiệm; gọn nhẹ, dễ lưu trữ; thời gian lưu trữ lâu dài; nhanh chóng, kịp thời
giải quyết tình huống; giúp giảm tải công việc (tiết kiệm sức lực, nhân lực); chính xác; an
toàn; phù hợp xu hướng hiện đại hoá, thời đại kỹ thuật số; tạo hứng thú khi thực hiện; hiệu
quả cao; quản lý trẻ được liên tục từ MN đến hết phổ thông; tạo thông tin quản lý đa chiều
đa cấp: PMN ↔ TMN ↔ Trường ↔ GV ↔ PH.
Ngoài những ưu điểm của QL qua mạng internet kể trên, việc UD CNTT trong GDMN
cũng đã tạo ra một môi trường dạy học tương tác cao, sống động, hứng thú và đạt hiệu quả
cao của quá trình dạy học đa giác quan cho trẻ; GVMN có thể chủ động khai thác tìm kiếm
nguồn tài nguyên GD qua mạng thông tin truyền thông, internet; nguồn tài nguyên vô cùng
phong phú với hình ảnh, âm thanh, văn bản, phim sống động tự nhiên tác động tích cực đến
sự phát triển trí tuệ của trẻ MN; tiết kiệm được thời gian cho giáo viên và chi phí cho trường
mầm non... Do vậy, việc tận dụng ưu thế của internet để QL GDMN là hết sức quan trọng
và cần thiết, việc tăng cường công tác quản lý GDMN qua mạng internet là phù hợp.
2.4.2. Hạn chế
Việc sử dụng internet hiện nay chưa khai thác, tận dụng, phát huy tối đa ưu điểm của
internet trong việc đổi mới quản lý.
Việc ứng dụng internet trong quản lý hiện nay còn gặp phải những rào cản về trình độ,
kỹ năng, về cơ sở vật chất, về thời gian… Với những khó khăn trong cơ cấu quản lý như
một số nơi chưa thật sự ủng hộ, chưa có sự phối hợp tốt; thêm vào đó là sự hạn chế về trình
độ tin học, kỹ năng; cơ sở vật chất chưa được đầu tư thích đáng… và bên cạnh đó còn có
những hạn chế trên chính bản thân công nghệ internet như chất lượng mạng internet, đường
truyền còn chậm, hay gặp sự cố rớt mạng (nhất là với trang web nhiều hình ảnh, video)… đã
làm ảnh hưởng tiến độ công việc, mất thời gian; dung lượng chuyển tải bị hạn chế; giới hạn
ở phần mềm viết sẵn; tính chính thức, hợp thức hoá của văn bản chỉ đạo không cao; dễ bị
virut; khó bảo mật; tạo áp lực khi thực hiện…
Do đó, internet chưa được tạo điều kiện để phát huy tối đa lợi thế của mình trong công
tác quản lý GDMN.
2.4.3. Nguyên nhân
2.4.3.1. Thuận lợi trong việc QL và thực hiện GDMN qua mạng internet
Với những ưu điểm đạt được trong công tác quản lý GDMN qua mạng internet đã nêu
ở trên, các đối tượng được khảo sát đã cho biết ý kiến như sau:
Đồng ý
Phân vân
SL % 119 84.4 120 85.1 395 78.8 319 83.7
Không đồng ý SL % SL % 4.3 16 6 11.3 1.4 19 2 13.5 16.6 23 4.6 83 1.3 5 15.0 57
417 83.2
77
15.4
7
1.4
14.7 3.5
56 5
6 3
1.6 319 83.7 133 94.3 2.1 248 65.1 104 27.3 29 7.6
1. Kế hoạch đồng bộ, nhất quán 2. Được tập huấn quản lý GDMN qua mạng 3. Có trình độ tin học nhất định 4. Được sự quan tâm, hỗ trợ, ủng hộ từ các cấp 5. Nhận thức được tầm quan trọng, lợi ích của việc quản lý qua mạng internet 6. Được tạo điều kiện để nâng cao trình độ tin học 7. Có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp 8. Cơ sở vật chất được đầu tư phù hợp
Bảng 2.26. Thuận lợi trong việc quản lý và thực hiện GDMN qua mạng internet.
Thuận lợi trong việc QL GDMN qua mạng internet
100.0
80.0
Đồng ý
60.0
Phân vân
40.0
Không đồng ý
20.0
0.0
1
2
3
4
5
6
7
8
Biểu đồ 2.23. Thuận lợi trong việc quản lý và thực hiện GDMN qua mạng internet.
Những thuận lợi trên đều chiếm tỷ lệ đồng ý cao, đa số trên 80%, đặc biệt nội dung có
sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chiếm tỷ lệ cao nhất (94.3%). Riêng nội dung “cơ sở vật
chất được đầu tư phù hợp” thì tỷ lệ đồng ý thấp nhất (65.1%), tỷ lệ phân vân (27.3%) và tỷ
lệ không đồng ý (7.6%) là cao nhất (GV là đối tượng chọn tỷ lệ đồng ý thấp nhất, phân vân
và không đồng ý cao nhất ở nội dung này).
Nội dung: có trình độ tin học nhất định và nhận thức được tầm quan trọng, lợi ích của
việc quản lý qua mạng internet được khảo sát trên 5 đối tượng (PMN, TMN, BGH, GV,
PH).
Nội dung: được sự quan tâm, hỗ trợ, ủng hộ từ các cấp; được tạo điều kiện để nâng cao
trình độ tin học và cơ sở vật chất được đầu tư phù hợp được khảo sát trên 4 đối tượng
(PMN, TMN, BGH, GV).
Nội dung: kế hoạch đồng bộ, nhất quán; được tập huấn quản lý GDMN qua mạng; có
sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp được khảo sát trên 3 đối tượng (PMN, TMN, BGH).
Tỷ lệ không đồng ý về kế hoạch đồng bộ nhất quán ở TMN là 9.7%,
14.2% phụ huynh không đồng ý với nội dung: có trình độ tin học nhất định là một
thuận lợi.
* Ngoài ra, các đối tượng được phỏng vấn đã nêu thêm một số thuận lợi khác như
được BGH gợi ý hướng dẫn thực hiện, sự chỉ dẫn nhiệt tình của đồng nghiệp, sự quan tâm
hỗ trợ từ cha mẹ học sinh…
2.4.3.2. Khó khăn trong việc QL và thực hiện GDMN qua mạng internet
Với những hạn chế trong công tác quản lý GDMN qua mạng internet đã nêu ở trên,
các đối tượng được khảo sát đã cho biết ý kiến như sau:
Đồng ý
SL % 18.4 26
Phân vân SL % 18.4 26
Không đồng ý SL % 63.1 89
29
20.6
26
18.4
86
61.0
84
97
241 48.1 140 27.9 120 24.0 215 42.9 140 27.9 146 29.1 25.5 200 52.5 22.0 18.9 107 28.1 202 53.0 72
122 24.4 119 23.8 260 51.9
310 61.9 25.5 36
99 27
19.8 19.1
92 78
18.4 55.3
81
57.4
16
11.3
44
31.2
1. Kế hoạch chưa đồng bộ, chưa nhất quán 2. Chưa được tập huấn đầy đủ về công tác QL GDMN qua mạng 3. Nhiều nội dung chưa hiểu rõ 4. Trình độ tin học chưa đáp ứng được yêu cầu 5. Hiệu quả các lớp bồi dưỡng tin học chưa cao 6. Thiếu sự ủng hộ quan tâm chỉ đạo của các cấp 7. Chưa nhận thức được tầm quan trọng, lợi ích của việc QL qua mạng internet 8. Khó khăn vì những hạn chế của việc sử dụng internet 9. Cơ chế quản lý, phối hợp giữa các cấp còn nhiều bất cập 10. Một số CB / GV chưa có ý thức nâng cao trình độ, kiến thức
Khó khăn trong việc QL GDMN qua mạng internet
70.0
60.0
50.0
40.0
30.0
20.0
10.0
0.0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Không đồng ý
Đồng ý
Phân vân
Bảng 2.27. và biểu đồ 2.24. Khó khăn trong việc quản lý và thực hiện GDMN qua mạng internet.
Kế hoạch đồng bộ, nhất quán và tập huấn đầy đủ về công tác QLGDMN qua mạng, sự
ủng hộ quan tâm chỉ đạo của các cấp, nhận thức tầm quan trọng, cơ chế phối hợp có tỷ lệ
không đồng ý rất cao, đây không phải là khó khăn, mà đây là thuận lợi – phù hợp với kết
quả phân tích phần thuận lợi ở trên.
Nhiều nội dung chưa hiểu rõ, trình độ tin học, hiệu quả các lớp tin học, hạn chế của
việc sử dụng internet, chưa có ý thức nâng cao trình độ: chiếm tỷ lệ đồng ý cao, đây là
những khó khăn khi quản lý GDMN qua mạng internet. Khó khăn lớn nhất là những hạn chế
của internet (61.9%) (như mạng hay bị rớt, chậm…), tiếp đến là khó khăn vì một số CB/GV
chưa có ý thức nâng cao trình độ, kiến thức (57.4%).
Nhiều nội dung chưa hiểu rõ đã được BGH, GV, PH chọn là khó khăn cao nhất. Trình
độ tin học chưa đáp ứng yêu cầu đều được TMN, BGH, GV, PH chọn là khó khăn cao nhất.
Nội dung: nhiều nội dung chưa hiểu rõ; trình độ tin học chưa đáp ứng được yêu cầu;
chưa nhận thức được tầm quan trọng, lợi ích của việc QL qua mạng internet; khó khăn vì
những hạn chế của việc sử dụng internet được khảo sát trên 5 đối tượng (PMN, TMN, BGH,
GV, PH).
Nội dung: hiệu quả các lớp bồi dưỡng tin học chưa cao; thiếu sự ủng hộ quan tâm chỉ
đạo của các cấp được khảo sát trên 4 đối tượng (PMN, TMN, BGH, GV).
Nội dung: kế hoạch chưa đồng bộ, chưa nhất quán; chưa được tập huấn đầy đủ về công
tác QL GDMN qua mạng; cơ chế quản lý, phối hợp giữa các cấp còn nhiều bất cập; một số
CB / GV chưa có ý thức nâng cao trình độ, kiến thức được khảo sát trên 3 đối tượng (PMN,
TMN, BGH).
* Các đối tượng đã nêu một số khó khăn khác như: trang web trường chưa được nâng
cấp, một số CB-GV chưa có điều kiện trang bị máy tính cá nhân; GV có tuổi nên rất sợ học
vì tiếp thu chậm; một số nhóm lớp MNTT chưa nối mạng internet, nhóm lớp đông, cơ sở
thuê mướn thiếu thốn, nhân sự biến động, khó quản lý; GV không có thời gian nâng cao
• Nguyên nhân khác
trình độ tin học vì bận sổ sách, chăm sóc trẻ…
- Kinh phí đầu tư các thiết bị CNTT nhằm phục vụ cho công tác ứng dụng CNTT trong
các trường mầm non là rất lớn. Vì thế không phải trường mầm non nào cũng đủ kinh phí để
đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin.
- Tuy CNTT mang lại nhiều tiện ích cho việc quản lý và giảng dạy nhưng công cụ hiện
đại này không thể hỗ trợ và thay thế hoàn toàn cho các phương pháp trực quan khác của
người giáo viên. Đôi lúc vì là máy móc nên nó có thể gây ra một số tình huống bất lợi cho
tiến trình bài giảng hoặc cho quá trình quản lý như là mất điện, máy bị treo, bị virus...
- Kiến thức và kỹ năng về CNTT của GVMN còn hạn chế. Có thể thấy sự đam mê
sáng tạo ứng dụng CNTT ở các giáo viên mầm non trẻ nhưng sẽ là khó khăn cho những
GVMN đã có tuổi thậm chí có người còn né tránh, làm đại cho xong.
- Việc ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy học ở GDMN còn đang ở giai
đoạn đầu nên vẫn còn được nghiên cứu, đánh giá và rút kinh nghiệm vì vậy vẫn chưa phát
huy được hiệu quả tối đa của nó.
- Việc kết nối và sử dụng khai thác tiện ích của công nghệ mạng máy tính và mạng
internet chưa được các trường mầm non thực hiện một cách triệt để và có chiều sâu.
- Thiếu sự phối hợp đồng bộ của toàn hệ thống quản lý Nhà nước, vì vấn đề có liên
quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực và sử dụng đồng thời nhiều giải pháp công
nghệ khác nhau.
- Thiếu đội ngũ nhân lực CNTT có sự am hiểu về chuyên môn nghiệp vụ cả về số
lượng và chất lượng trong ngành GDMN.
- Vẫn còn một tỷ lệ ý kiến nhất định chưa thực sự đồng thuận cao, có thể do tâm lý
ngại thay đổi (lớn tuổi), hoặc trình độ tin học chưa cao, chưa hiểu sâu những kỹ thuật mới,
chưa xử lý được về mặt kỹ thuật khi gặp sự cố nên dễ nản.
2.4.4. Ý kiến của các đối tượng tham gia điều tra (PMN, TMN, BGH, GV, PH) đối
với việc quản lý GDMN qua mạng internet
2.4.4.1. Về công tác chỉ đạo của Phòng GDMN / Tổ MN / BGH:
QLGDMN qua mạng internet hiện nay đã rất sâu sát và chặt chẽ, đề nghị vẫn tiếp tục
duy trì và phát huy. Tiếp tục ban hành tất cả các văn bản về QL, chuyên môn, sử dụng số
liệu thống kê – báo cáo định kỳ trên website. Các thông tin liên lạc hiện nay giữa phòng
MN, TMN, BGH các trường đã ổn định và đi vào nề nếp tốt, việc nhận gửi thông tin kịp
thời, giảm tải được hồ sơ sổ sách quản lý của đội ngũ.
Rất cần thiết triển khai QLGDMN qua mạng, rất tiện lợi trong việc phối hợp giữa các
cấp có liên quan cũng như giữa giáo viên và nhà trường với phụ huynh, giúp sự liên lạc giữa
trường và PH nhanh chóng, đỡ tốn thời gian tiền bạc, chính xác, nên áp dụng rộng rãi.
Cần mở thêm lớp bồi dưỡng về QL GDMN qua mạng internet để tăng cường trình độ
tin học, trang bị thêm kiến thức, kỹ năng trong việc QL cho CBQL MN.
Các đơn vị cần thường xuyên cập nhật thông tin qua mạng để nắm bắt thông tin kịp
thời; mạnh dạn báo cáo qua mạng để giảm tải văn bản in, phát huy tác dụng của việc quản lý
GDMN qua mạng, nâng cao năng lực cán bộ QL…
Tham mưu tăng cường đầu tư trang thiết bị và nâng cấp đường truyền, dung lượng
trang web. Cần có biện pháp giải quyết khó khăn trong việc QLGDMN qua mạng internet ở
các nhóm lớp, bởi vì các nhóm lớp trẻ rất đông, nhân sự lại hay thay đổi, điều kiện cơ sở vật
chất thiếu, không có mạng internet, không thể thường xuyên nhận chỉ đạo qua mạng; cản trở
việc quản lý.
Nên cho mỗi trường có quyền quản trị trang web độc lập, có địa chỉ đơn giản, dễ nhớ.
Nên có 1 bộ phận chuyên trách IT, nếu để GV làm thì quá tải, không hiệu quả vì trách
nhiệm của cô trong CSGD trẻ đã quá nặng nề.
2.4.4.2. Về trang web GDMN Sở hiện nay: (hình thức, nội dung, chất lượng, hiệu
quả…)
Trang web có hình thức khá đẹp, trang nhã, phù hợp thẩm mỹ của ngành, đáp ứng
được nhu cầu tìm kiếm, nắm bắt thông tin và các văn bản chỉ đạo, kịp thời và hiệu quả cao
tuy nhiên đôi khi hay rớt mạng, đường truyền chậm. Cần tiếp tục duy trì, cần tăng dung
lượng để chất lượng tốt.
Cần tiếp tục thực hiện data dinh dưỡng “trang của bé” giúp đơn vị chủ động cập nhật
mặc dù trang web dinh dưỡng này GV nhập mất thời gian, phụ huynh chưa quan tâm nhiều.
Cần tăng cường hình ảnh để các trang tin thu hút và rõ ràng hơn.
Nên có mã số học sinh để chuyển tiếp việc theo dõi quá trình học tập phát triển của trẻ
được liên tục từ MN đến hết phổ thông.
Xem xét lại hiệu quả của chức năng tìm kiếm văn bản cũ vì khi gõ tên văn bản, hoặc
dùng từ khóa vẫn tìm không ra; cần có chức năng download văn bản.
Cần đơn giản hóa đường dẫn vào trang web để bớt thao tác vì hiện nay đăng nhập
phức tạp.
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC MẦM NON QUA MẠNG INTERNET Ở TP. HỒ CHÍ MINH
3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp
3.1.1. Cơ sở pháp lý
3.1.1.1. Chỉ đạo của Trung Ương, của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Chủ trương của Đảng và Nhà nước về CNTT: sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và sự
phát triển của GDĐT đồng nghĩa với sự phát triển CNTT. Trong quá trình hội nhập, các
quốc gia đang phát triển tích cực áp dụng những tiến bộ mới của KH-CN, đặc biệt là CNTT.
Nhận thức được vai trò quan trọng và quyết định của CNTT trong sự phát triển nhanh và
vững chắc của đất nước, chính phủ đã ra nhiều Chỉ thị hướng dẫn và phê duyệt chương trình
hành động nhằm xã hội hóa CNTT.
- Từ tháng 6/2000 đến tháng 7/2001 là thời gian đánh dấu một giai đoạn mới để nâng
cao về nhận thức và phát triển ngành CNTT tại VN, chính phủ đã ban hành 6 quyết định
phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn này...
- Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm 2001 của Thủ tướng triển
khai Đề án "Tin học hoá quản lý hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 - 2005".
- Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban chấp hành Trung Ương về việc xây
dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD: cần phải nâng cấp, hiện đại
hoá công cụ QL thông qua việc UDCNTT trong quản lý nhân sự.
- Công văn số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về UD CNTT trong
hoạt động của cơ quan nhà nước: nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội
bộ, trong giao dịch của cơ quan nhà nước với tổ chức và cá nhân; hỗ trợ đẩy mạnh cải cách
hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch.
- Chỉ thị số 27/2007/CT-TTg, ngày 29 tháng 11 năm 2007 về chấn chỉnh việc thực
hiện chế độ thông tin, báo cáo trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước: tăng
cường UDCNTT trong công tác thông tin, báo cáo; sử dụng văn bản điện tử để từng bước
thay thế văn bản giấy trong quản lý, điều hành và trao đổi thông tin.
- Công văn số 05/TB-VPCP ngày 10 tháng 01 năm 2008, kết luận của Phó Thủ tướng
Nguyễn Thiện Nhân tại về Đề án Chương trình UDCNTT trong hoạt động của cơ quan nhà
nước giai đoạn 2007-2010, yêu cầu: gắn kết chặt chẽ UDCNTT với cải cách hành chính…
- Chỉ thị 34/2008/CT-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về
việc tăng cường sử dụng hệ thống thư điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước; và
triển khai năm học đẩy mạnh UDCNTT.
[xem thêm các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về UD CNTT ở phụ lục 8]
Chủ trương về UDCNTT trong đào tạo của BGDĐT:
- Quyết định số 4055/QĐ-BGD&ĐT-KHCN ngày 21/7/2004 của Bộ trưởng Bộ GDĐT yêu
cầu Vụ GDMN tổ chức xây dựng và chỉ đạo thí điểm UD CNTT trong công tác quản lý và nuôi
dạy trẻ trong trường mầm non ở những nơi có đủ điều kiện.
- Công văn số 9318/GDMN, ngày 20 tháng 10 năm 2004, triển khai UD CNTT trong
GDMN: Vụ GDMN khuyến khích các Phòng GDMN, các Phòng GDĐT và các trường MN
thực hiện công tác QL bằng CNTT; xây dựng kế hoạch và tiến hành nhân rộng các ứng
dụng của phần mềm giáo dục KIDSMART cho GVMN, chỉ đạo áp dụng trong đổi mới hình
thức tổ chức giáo dục trẻ…
- Quyết định số 3382/QĐ-BGD&ĐT-GDMN ngày 5/7/2006 của Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT về việc phê duyệt dự án "Ứng dụng CNTT trong GDMN" giai đoạn 2006-2010 tạo
căn cứ cho các đơn vị có liên quan thuộc Bộ GDĐT, các Sở GDĐT các tỉnh tiến hành triển khai việc UD CNTT trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ và quản lý trường mầm non.
- Công văn số 6704/BGDĐT-GDMN ngày 1/8/2006 của Vụ GDMN về việc triển
khai UD CNTT trong GDMN giai đoạn 2006-2010 nêu rõ: ngày 5/7/2006, dự án UDCNTT
trong GDMN giai đoạn 2006 – 2010 đã được Bộ GDĐT phê duyệt.
- Trong công văn số 8596/BGDĐT-GDMN, ngày 16/8/2007 của Bộ GDĐT về việc
hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDMN năm học 2007-2008 đã đề ra nhiệm vụ tiến hành ứng
dụng các phần mềm Kidsmart, Happykid, Nutrikids, thực hiện UD CNTT trong GDMN... [72]
- Văn bản số 9584/BGDĐT-CNTT, ngày 07/9/2007 của Bộ GD&ĐT hướng dẫn thực
hiện nhiệm vụ năm học 2007-2008 về CNTT với các nhiệm vụ trọng tâm:
+ Phấn đấu kết nối Internet băng thông rộng tới tất cả các đơn vị, cơ sở GD.
+ Đẩy mạnh chương trình cải cách hành chính điện tử và Chính phủ điện tử. Triển khai
tin học hoá quản lí đến từng trường phổ thông, cung cấp mã số thẻ học sinh thống nhất toàn
quốc, cung cấp học bạ điện tử cho học sinh.
+ Tăng cường việc tổ chức họp, hội nghị và giảng dạy qua mạng để tiết kiệm thời gian,
công sức, chi phí đi lại, ăn ở.
+ Phát động năm học 2008-2009 là năm học CNTT với các nhiệm vụ: hướng dẫn triển
khai hệ thống video conference, web conference và audio conference cho việc tổ chức họp,
hội nghị và giảng dạy qua mạng; xây dựng kế hoạch triển khai công tác cải cách hành chính
và Chính phủ điện tử...
- Công văn 11224/BGDĐT-CNTT ngày 23/10/2007 về triển khai email QLGD nhằm
triển khai chương trình tin học hóa QL hành chính; triển khai thực hiện việc “Tăng cường
sử dụng văn bản điện tử” trong công tác quản lý và điều hành.
- Chỉ thị số 47/2008/CT-BGDĐT ngày 13/8/2008 của Bộ GD&ĐT xác định năm học
2008-2009 là: “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT…” [73]. Cụ thể: triển khai thực hiện
chương trình cải cách hành chính, chính phủ điện tử; thống nhất quản lý nhà nước về UD
CNTT trong giáo dục và đào tạo; tích cực áp dụng hình thức tổ chức hội nghị, hội thảo, tập
huấn, họp… qua video, qua web và qua thoại để tiết kiệm thời gian, công sức đi lại và kinh
phí; hình thành hệ thống đơn vị chuyên trách về CNTT trong ngành GDĐT.
- Văn bản số 7558/BGDĐT-GDMN, ngày 19/08/2008 của Bộ GD&ĐT về việc hướng
dẫn thực hiện nhiệm vụ GDMN năm học 2008-2009 đã đề ra nhiệm vụ cải cách hành chính,
đẩy mạnh UD CNTT trong công tác quản lý ở các cấp QLGD, các cơ sở GDMN.
- Văn bản số 9772/BGDĐT-CNTT ngày 20/10/2008, Bộ GDĐT hướng dẫn thực hiện
nhiệm vụ năm học 2008 - 2009 về CNTT: đẩy mạnh UDCNTT trong điều hành và QLGD,
QL hành chính tại các Sở GD-ĐT và các trường học; thực hiện việc chuyển phát công văn,
tài liệu qua mạng điện tử, kết nối thông tin và điều hành bằng văn bản điện tử giữa Sở và
các trường, giữa Sở và Bộ; áp dụng hình thức tổ chức hội nghị, hội thảo, họp, các lớp tập
huấn, bồi dưỡng qua mạng bằng việc sử dụng các công nghệ truyền hình (video), qua web
và qua đàm thoại.
- Công văn 9886/BGDĐT-CNTT ngày 11 tháng 11 năm 2009 của Bộ GD&ĐT hướng
dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2009 – 2010 với các nhiệm vụ trọng tâm: tiếp tục
triển khai mạnh mẽ việc thực hiện kết nối Internet băng thông rộng miễn phí đến các cơ sở
giáo dục, các phòng GDĐT...
- Quyết định số 9138/QĐ-BGDĐT, ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT ban hành quy định tạm thời về sử dụng văn bản điện tử trong giao dịch văn bản
quy phạm pháp luật và văn bản hành chính của Bộ GD&ĐT. Sử dụng giao dịch văn bản
điện tử nhằm tăng cường UDCNTT vào QLGD, giảm thiểu việc sử dụng văn bản giấy, tiết
kiệm thời gian, chi phí in ấn và cước phí bưu điện, góp phần thực hiện cải cách hành chính,
nâng cao hiệu quả quản lý…
- Công văn số 3574/BGDĐT-VP ngày 22/6/2010 về tăng cường ứng dụng công nghệ
thông tin, đẩy mạnh sử dụng văn bản điện tử.
- Công văn số 4937/BGDĐT-CNTT ngày 18 tháng 8 năm 2010 của Bộ GD&ĐT
hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2010 – 2011, gồm các nhiệm vụ cụ thể: khai
thác website và cung cấp nội dung cho website của Bộ GD&ĐT; tổ chức họp giao ban, hội
thảo, giảng dạy, tập huấn và liên kết đào tạo từ xa qua mạng giáo dục; đẩy mạnh UD CNTT
trong điều hành và quản lý giáo dục...
- Phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm học 2010-2011: xác định chủ đề năm học là
“Năm học tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”, tăng cường đẩy mạnh
UDCNTT trong giáo dục; thống nhất quản lý nhà nước về UDCNTT trong GDĐT;...
[xem thêm các văn bản chỉ đạo, chủ trương về UDCNTT trong đào tạo của BGD&ĐT ở
phụ lục 9]
3.1.1.2. Chỉ đạo của UBND TP.HCM và Sở Giáo dục và Đào tạo:
- Quyết định số 145/2007/QĐ-UBND ngày 28/12/2007 của UBND TP.HCM phê
duyệt chương trình phát triển công nghệ thông tin – truyền thông TP.HCM giai đoạn 2007-
2010.
- Văn bản số 689/GDĐT-VP, ngày 8 tháng 4 năm 2010, hướng dẫn việc nhận công văn
từ Sở GD&ĐT TP.HCM căn cứ trên Quyết định số 9138/QĐ-BGDĐT ngày 31/12/2009 của
Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về Ban hành Quy định tạm thời về sử dụng văn bản điện tử trong
giao dịch văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính của Bộ GD&ĐT.
3.1.1.3. Chỉ đạo của Phòng GDMN – Sở Giáo dục và Đào tạo:
- Công văn số 36/GDMN, ngày 12 tháng 6 năm 2010 về nhận công văn từ Sở
GD&ĐT: các đơn vị nhận văn bản (các loại thư mời họp, giấy triệu tập hội nghị, hội thảo;
các loại thông báo, kế hoạch, báo cáo, văn bản chỉ đạo chuyên môn, văn bản hướng dẫn
nghiệp vụ, chương trình, phương án, biểu mẫu thống kê) từ trang web Sở và trang web của
phòng GDMN (6TUhttp://www.hcm.edu.vn/gdmamnonU6T).
- Kế hoạch công tác năm học 2009-2010 GDMN TP.HCM: thực hiện tốt chủ đề năm
học: “đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục”, tham mưu xây dựng đề án,
kế hoạch triển khai và thực hiện UD CNTT trong GDMN theo quyết định số 698/QĐ-TTg
này 1/6/2009 của thủ tướng chính phủ, đề xuất tăng cường đầu tư bổ sung trang thiết bị cho
việc UD CNTT, cập nhật cung cấp website và kết nối internet cho các cơ sở giáo dục mầm
non mới thành lập…
- Trong báo cáo tổng kết về ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành học mầm non
năm học 2009 – 2010 số 1398/GDĐT-MN, ngày 22 tháng 6 năm 2010 đã đề ra phương
hướng trong thời gian tới như sau:
+ Về chuyên môn: sử dụng Mindmanager vào việc soạn kế hoạch giáo dục của chương
trình mới, soạn mạng nội dung, mạng hoạt động theo chủ đề và ngân hàng hoạt động giáo
dục (Giáo án) đính kèm. Nếu lớp học có máy tính, giáo viên có thể bỏ việc soạn giáo án và
kế hoạch giáo dục, giảm tải về sổ sách.
+ Về quản lý: thực hiện sổ liên lạc điện tử, theo đó phụ huynh sẽ được cung cấp thông
tin qua mạng về sự phát triển thể lực, tâm lý của trẻ từng tháng, từng quý. Từng bước sẽ cải
tiến không dùng sổ liên lạc và sổ bé ngoan như hiện nay để giảm tải hồ sơ và thời gian ghi
chép sổ sách của giáo viên.
3.1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn
CNTT đặc biệt là các hệ thống máy tính cùng những ứng dụng của nó trong cuộc sống
hàng ngày đã trở thành công cụ đắc lực phục vụ cho các hoạt động của con người. Trong đà
phát triển mạnh mẽ này, CNTT và các ứng dụng luôn cập nhật các công nghệ mới, các khái
niệm mới, các thiết bị mới, đòi hỏi người dùng luôn cần được bổ sung kiến thức nhằm điều
khiển hệ thống máy tính cùng các ứng dụng một cách hiệu quả.
- Để đẩy mạnh UD CNTT trong GDMN năm học 2006-2007, IBM Việt Nam đã hỗ trợ
Bộ GD&ĐT tiến hành khoá tập huấn ứng dụng CNTT trong GDMN cho hơn 100 giáo viên
và chuyên gia quản lý GDMN của 20 các tỉnh/thành phố trên toàn quốc.
- Trong báo cáo tổng kết năm học 2007-2008 ngày 31/7/2008, Bộ GD&ĐT đã nhận
định: bắt đầu từ năm học 2007-2008, Bộ có công văn hướng dẫn đẩy mạnh UD CNTT trong
các hoạt động giáo dục. Tất cả các công văn, tài liệu đã được chuyển qua mạng thuận tiện,
nhanh chóng và tiết kiệm. Nhiều Sở đã tiếp tục triển khai hệ thống email đến các phòng ban
thuộc Sở, phòng giáo dục, các trường. Sở cũng có Trung tâm thông tin (TTTT) phụ trách về
CNTT. Bộ GD&ĐT cũng tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo, giao ban qua cầu truyền hình có
hiệu quả tốt và tiết kiệm được nhiều kinh phí. [7]
Kết quả UD CNTT trong quản lý giáo dục: Tổng công ty Viễn thông Quân đội Viettel
đã tài trợ miễn phí kết nối Internet băng thông rộng đến tất cả các trường phổ thông, mầm
non, các trung tâm GDTX, các phòng GDĐT và các trường TCCN. Bộ GDĐT và nhiều Sở
GDĐT, phòng GDĐT tăng cường UD CNTT để tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn, họp
trao đổi công tác qua mạng Internet…
Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, ngành GDMN đã chủ động, sáng tạo, triển khai
nhiều hoạt động ứng dụng CNTT trong GDMN, đem lại những hiệu quả thiết thực. Năm
năm thực hiện dự án UD CNTT trong GDMN đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao
hiệu quả quản lý và chất lượng ngành học. 100% các tỉnh, thành phố đã ban hành văn bản
chỉ đạo, hướng dẫn phòng GD&ĐT, cơ sở GDMN triển khai thực hiện ứng dụng CNTT.
Các trường MN đã nghiêm túc triển khai chủ trương của Bộ, đẩy mạnh UD CNTT trong
quản lý, chăm sóc, giáo dục trẻ. [49].
Ngành học MN cả nước cũng đã đưa ra kế hoạch triển khai ứng dụng CNTT trong 5
năm tới. Theo đó, phấn đấu đến năm 2015, cả nước có ít nhất 70% cán bộ, giáo viên mầm
non sử dụng được máy vi tính vào quản lý, hoạt động chuyên môn…
* Về phía ngành GDMN ở TPHCM, công tác QL GDMN qua mạng internet cũng đạt
được kết quả sau: 658 trường và 348 nhóm lớp có máy vi tính; số máy tính dùng cho công
tác quản lý: 1258 máy; số máy tính dùng cho trẻ: 1005; 100% trường đã nối mạng. [80]
- 24 Phòng GDĐT và nhiều trường đã lập trang website và thường xuyên thông tin về
các hoạt động giáo dục: giờ học, vui chơi, hình ảnh hoạt động lễ hội…
- Sử dụng phần mềm thống kê số liệu toàn thành phố năm thứ hai có nhiều tiến bộ, có
90 % cơ sở đã tự nhập số liệu được và bảo đảm sự chính xác. Còn 10 % chưa nối mạng là
các nhóm lớp MN tư thục nhỏ, ở vùng ven và ngoại thành.
- Thành phố đã thực hiện xong phần mềm giám sát tình trạng dinh dưỡng của trẻ trong
trường MN và đã mở 50 lớp tập huấn cho các quận huyện với tổng kinh phí từ Chương trình
Chiến lược quốc gia về Dinh dưỡng là 150.000.000đ.
- Hiện nay CBQL có trình độ tin học và sử dụng CNTT trong công việc là 90%; số
giáo viên biết sử dụng CNTT ngày càng nhiều vì vậy khả năng tìm kiếm thông tin trên
mạng internet, soạn giáo án, thiết kế bài tập trò chơi phục vụ hoạt động chăm sóc giáo dục
trẻ của giáo viên tại thành phố là phổ biến. [81]
Việc UD CNTT trong nhà trường là một phương tiện mang lại hiệu quả tốt nhất nhằm
tăng cường nội lực tại các đơn vị góp phần hiện đại hóa giáo dục đào tạo, thực hiện hiệu quả
chủ trương “Đổi mới toàn diện nhà trường” của thành phố trong năm học 2009 - 2010. Do
đó, ngay từ đầu năm học 2009 - 2010, Sở GD&ĐT TP.HCM đã triển khai công tác ứng
dụng CNTT trong giáo dục với các nhiệm vụ trọng tâm như triển khai việc ứng dụng CNTT
theo tinh thần Nghị định số 64/2007/NÐ-CP ngày 10-4-2007 của Chính phủ về UD CNTT
trong hoạt động của cơ quan nhà nước; tăng cường hiệu quả công tác điều hành và quản lý
thông qua UD CNTT.
3.2. Các biện pháp
Để nâng cao chất lượng quản lý GDMN qua mạng internet cần thực hiện hệ thống giải
pháp. Các giải pháp này liên quan với nhau, được tiến hành đồng thời và đồng bộ với nhau.
Việc đề xuất những giải pháp dựa trên sự nghiên cứu thực tiễn về cơ sở vật chất, về năng
lực cán bộ quản lý, giáo viên của đơn vị. Những giải pháp được đề xuất phải bảo đảm:
- Nguyên tắc khoa học.
- Nguyên tắc phù hợp với thực tiễn.
- Tính khả thi.
- Tính hiệu quả.
3.2.1. Đề xuất các biện pháp
U* Mục tiêu:
3.2.1.1. Nhóm biện pháp tác động vào nhận thức
+ Làm cho nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh về vai trò, vị trí, ý
nghĩa, tầm quan trọng của công tác quản lý GDMN qua mạng internet thay đổi triệt để, theo
đúng xu hướng của công nghệ nói chung. Ngoài việc sử dụng thiết bị CNTT một cách thông
thường, cán bộ quản lý cần phải nắm được tác dụng, xu hướng phát triển của CNTT trong
tương lai. Nhận thức đúng đắn, dẫn đến thái độ quản lý đúng, đưa đơn vị đi đúng hướng
trong việc phát triển ứng dụng CNTT vào công tác quản lý GDMN qua mạng internet. Nhận
thức đúng về tác dụng của công tác quản lý GDMN qua mạng internet, lãnh đạo sẽ có
những tác động thúc đẩy cán bộ quản lý, giáo viên tăng cường ứng dụng internet vào quản
lý. Thông qua đó, trình độ cán bộ quản lý, giáo viên về CNTT dần dần được nâng cao, tạo
tiền đề cho việc ứng dụng CNTT ở mức cao hơn.
+ Làm cho nhận thức của cán bộ giáo viên về CNTT nâng cao hơn. Biện pháp này
nhằm làm cho cán bộ, giáo viên nắm bắt xu hướng phát triển của CNTT, tác dụng của việc
U* Nội dung:
ứng dụng CNTT, một số phần mềm thông thường phục vụ công tác hàng ngày của bản thân.
- Cán bộ quản lý thường có hai thái độ đối với việc ứng dụng CNTT, đó là chi phí quá
mức cho CNTT hoặc không quan tâm đến CNTT. Do đó cần phải có sự thay đổi triệt để
trong những quan niệm về CNTT ở những cán bộ quản lý này. Cán bộ quản lý, đặc biệt là
lãnh đạo phải hiểu đúng, hiểu rõ về vai trò, tác dụng, hướng phát triển của CNTT để định
hướng phát triển CNTT trong đơn vị. Lãnh đạo cần yêu cầu cán bộ, giáo viên thực hiện ứng
dụng CNTT vào công việc ở những công đoạn có thể tin học hóa được. Có hướng đào tạo
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên thành thạo về CNTT, nhạy bén với sự phát triển liên
tục của ngành CNTT để định hướng đúng cho sự phát triển của CNTT trong đơn vị. Bản
thân lãnh đạo cần thành thạo sử dụng internet để tìm kiếm thông tin cần thiết cho đơn vị,
trao đổi thông tin thông qua email. Lãnh đạo cần có được tầm nhìn, có được cái nhìn tổng
quát để nhận biết ngay được thông tin nào là hữu ích cho đơn vị.
- Một cách nhận thức khác khá phổ biến là coi ứng dụng CNTT nói chung và công tác
quản lý GDMN qua mạng internet nói riêng là một vấn đề khó, cần những người có tri thức
về CNTT có thể mới sử dụng được. Chính vì thế, thường lãnh đạo rất ngại khi sử dụng
CNTT trong công việc. Mặc dù đã được hướng dẫn sử dụng nhưng một số lãnh đạo vẫn
không trực tiếp sử dụng mà giao cho chuyên viên CNTT thực hiện. Điều này làm cho cán
bộ lãnh đạo không thành thạo sử dụng CNTT ở mức độ sử dụng phổ thông. Càng ngày
CNTT càng phát triển, mức độ phức tạp cao, càng khó chinh phục, mà lãnh đạo lại không
thay đổi quan niệm nên càng khó tiếp cận. Nếu lúc nào lãnh đạo phải nhờ đến chuyên viên
thực hiện hộ sẽ làm cho lãnh đạo phụ thuộc nhiều vào chuyên viên CNTT, không chủ động
được trong công việc. Còn có những lãnh đạo phải nhờ người khác gửi thư, gửi tài liệu qua
internet. Thực tế này làm cho một số người có kiến thức về CNTT phải làm khá nhiều việc
liên quan đến CNTT trong đơn vị dẫn đến quá tải công việc cho cá nhân người đó. Do vậy,
cán bộ quản lý cần phải nắm được những nội dung sau:
+ Về tác dụng của CNTT: một số cán bộ lãnh đạo còn chưa thấu hiểu, chưa thấy
hết được tác dụng của CNTT trong trao đổi thông tin, chưa thấy được khả năng xử lý thông
tin của máy tính, đặc biệt là các chương trình ước lượng và kiểm định trong quá trình ra
quyết định quản lý. Mạng internet là một công cụ truyền thông tin nhanh chóng, hiệu quả,
tiết kiệm, là một kho thông tin khổng lồ, một nguồn tri thức quý giá. Phải coi thông tin trên
mạng internet là một tài nguyên và phải khai thác tài nguyên đó một cách hợp lý, có ích cho
công việc của đơn vị. Thông qua mạng internet, lãnh đạo có thể thực hiện công việc chỉ đạo,
quản lý, điều hành công việc của cả hệ thống.
+ Về thái độ đối với việc ứng dụng CNTT trong quản lý và giảng dạy. Những kỹ
thuật mới thường được ứng dụng vào công việc một cách khó khăn, chậm chạp. Tâm lý
chung của nhiều người là ngại thay đổi, ngại tìm kiếm và ứng dụng những kỹ thuật mới,
những kỹ thuật hiện đại. Có những cách suy nghĩ đó là vì dùng kỹ thuật mới và hiện đại
phải tìm hiểu về nó trong điều kiện còn phần nào khó khăn về kinh tế, thiết bị còn thiếu
thốn, bận bịu về công việc và một tâm lý cơ bản là cách làm cũ vẫn có những hiệu quả nhất
định. Tâm lý này còn tồn tại trong một số lãnh đạo nên một số cán bộ giáo viên ngại ứng
dụng CNTT trong quản lý và giảng dạy. Nếu việc ứng dụng CNTT trong quản lý và giảng
dạy có kết quả tốt thì được khen thưởng, nhưng nếu không đạt kết quả thì lại bị cho rằng
chơi trội, hiếu thắng. Mà lãnh đạo lại không thấu hiểu rằng khi sử dụng những kỹ thuật mới
luôn luôn có sự mày mò, chập chững, chưa có ngay được kết quả thỏa đáng. Ban đầu việc
ứng dụng kỹ thuật mới trong công việc sẽ chậm hơn so với làm việc theo cách thức truyền
thống vì còn phải thử nghiệm, còn phải tập làm chủ kỹ thuật, mà nhiều kỹ thuật mới lại
không có tài liệu hướng dẫn. Thường lãnh đạo không hài lòng về sự chậm trễ này. Vì thế
lãnh đạo cần có thái độ đúng đắn với cán bộ giáo viên trong việc ứng dụng kỹ thuật mới vào
quản lý và giảng dạy.
Nhận thức là yếu tố quan trọng trong hoạt động. Nhận thức đúng đắn thì hành động
đúng hướng và phù hợp với thực tiễn, phù hợp với xu hướng phát triển. Lãnh đạo nhận thức
và hành động đúng thì tất yếu cán bộ dưới quyền sẽ có nhận thức và hành động phù hợp, có
U* Cách thực hiện:
những ứng dụng tốt trong việc làm của bản thân.
- Nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức ở các cấp quản lý giáo dục,
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục về vai trò, vị trí và sự cần thiết của CNTT trong giáo
dục. Thủ trưởng các cấp quản lý giáo dục, các cơ sở giáo dục trực tiếp chỉ đạo, tổ chức triển
khai các biện pháp để đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào công tác chuyên môn và quản lý.
- Phổ biến rộng rãi và quán triệt đầy đủ các quy định trong các văn bản quy phạm pháp
luật và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về CNTT của Chính phủ và của ngành.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền sự cần thiết và tầm quan trọng của công tác quản lý
GDMN qua mạng internet đến cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh và toàn xã hội. Tạo sự
thống nhất giữa các cấp, tạo điều kiện thuận lợi và tạo sự ủng hộ từ nhiều phía. Cần có sự
phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cấp, ngành trong thực hiện công tác quản lý GDMN
qua mạng internet.
- Ban hành các văn bản chỉ đạo cụ thể việc quản lý GDMN qua mạng internet.
- Tổ chức tập huấn, triển khai, quán triệt tinh thần các chủ trương, chính sách về việc
QLGDMN qua mạng internet đến từng cán bộ quản lý, GV, phụ huynh.
3.2.1.2. Nhóm biện pháp tăng cường các chức năng quản lý (kế hoạch hóa, tổ chức,
U* Mục tiêu:
chỉ đạo, kiểm tra)
- Tạo hiệu quả quản lý cao, thông qua việc:
+ Ứng dụng CNTT trong khâu lập kế hoạch: Hoạt động lập kế hoạch là hoạt động căn
cứ thực trạng ban đầu của tổ chức, bao gồm xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức trong
từng giai đoạn, thời kỳ và từ đó định ra biện pháp hay cách thức để đạt được mục tiêu, mục
đích đó. CNTT giúp cho việc tính toán, ước lượng, thu thập thông tin làm cho kế hoạch của
đơn vị sát với mục tiêu của đơn vị, phù hợp với môi trường của đơn vị hơn. Việc lập kế
hoạch sát với mục tiêu, phù hợp với trạng thái của đơn vị giúp cho đơn vị chủ động hơn
trong việc thực hiện kế hoạch, làm cho đơn vị chủ động đối phó, thích ứng vơi sự thay đổi
của môi trường giáo dục.
+ Ứng dụng CNTT trong khâu tổ chức: Tổ chức là sự hình thành nên cấu trúc các mối
quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức với nhau mà nhờ cấu trúc đó,
chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý một cách hiệu quả nhất nhằm thực hiện
thành công kế hoạch, tức là đạt được mục tiêu, mục đích mà kế hoạch đã đặt ra. Khâu tổ
chức cần thông tin chính xác, rõ ràng, chân thực và CNTT giúp cho việc thu thập thông tin
đạt được yêu cầu đó. Những thông tin này giúp cho công tác tổ chức trong quản lý giáo dục
được chính xác, có hiệu quả.
+ UD CNTT trong khâu chỉ đạo: Chỉ đạo là hoạt động điều khiển hệ thống, làm cho hệ
thống tiến đến mục tiêu đề ra. Người QL cần nắm được thực trạng của hệ thống đang có vấn
đề gì? Các cấp QL ý thức như thế nào về vấn đề đó? Để giải quyết vấn đề thì cần những
nguồn lực nào? Hiện trạng hệ thống đã có những nguồn lực nào, đã đủ điều kiện để giải
quyết vấn đề chưa? Khâu này cần nhiều thông tin có tính khách quan, trung thực, chính xác,
rõ ràng. Thông tin thu được còn phải được xử lý qua các khâu ước lượng, kiểm định. Thông
tin làm cho người có trách nhiệm nắm được hiện trạng của đơn vị, nắm được vị trí của đơn
vị trong quá trình thực hiện mục tiêu, mục đích đề ra. Việc nắm những thông tin một cách
đầy đủ, trung thực giúp cho người QL ra được những quyết định sáng suốt, đúng đắn, phù
hợp với trạng thái của đơn vị, giúp đơn vị đạt đến mục tiêu với một chi phí thấp nhất.
+ UD CNTT trong kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra là hoạt động nhằm thẩm định, xác định
trạng thái của hệ thống, của đơn vị. Như vậy, kiểm tra là thu thập, ghi chép các thông tin về
hệ thống và so sánh các thông tin này với một thước đo nhằm xác định xem hệ thống đang ở
vị trí nào trong quá trình thực hiện mục tiêu. Kiểm tra có hai quá trình: thiết lập hệ thống
thang đo và thu thập các thông tin về trạng thái của hệ thống, so sánh nó với thang đo đề ra.
UD CNTT trong kiểm tra giúp cho các thông tin thu được chính xác, chân thực, nhanh
chóng làm cho kết quả kiểm tra phản ánh đúng trạng thái của hệ thống. Thông tin về trạng
thái đúng đắn, rõ ràng, nhanh chóng giúp cho nhà QL có điều kiện tăng cường hoạt động
kiểm tra, giúp cho nhà quản lý nhanh chóng nắm bắt được những biến đổi của hệ thống, có
U* Nội dung:
được các quyết định điều chỉnh kịp thời, làm cho hiệu quả công tác quản lý được nâng cao.
- Đánh giá, ra soát lại nội dung các văn bản pháp quy để bảo đảm tính đầy đủ của
thông tin trên các văn bản đó để khi đưa văn bản vào sử dụng, thực hiện không còn những
mâu thuẫn hoặc thiếu thông tin.
- Hướng dẫn sử dụng, khai thác thông tin qua mạng. Trước khi ứng dụng CNTT vào
quản lý cần phải hướng dẫn cho toàn bộ cán bộ giáo viên sử dụng và khai thác thông tin trên
mạng. Nên hướng dẫn sử dụng chung rồi hướng dẫn cụ thể chi tiết về khai thác thông tin
quản lý.
- Thông báo quy định quản lý GDMN thông qua mạng. Trước mắt, có thể để tồn tại
song song hai hình thức, văn bản và trên mạng, nhưng hạn chế sử dụng hình thức văn bản.
Sau một thời gian, khi trình độ cán bộ, giáo viên nâng lên thì loại bỏ hoàn toàn hình thức
U* Cách thực hiện:
dùng văn bản.
- Điều tra, khảo sát hiện trạng, xác định nhu cầu và nhiệm vụ về CNTT trong các cơ
quan quản lý giáo dục và cơ sở giáo dục trên toàn thành phố, làm cơ sở cho việc lập kế
hoạch ứng dụng CNTT dài hạn của ngành. Lập kế hoạch chiến lược và kế hoạch cụ thể cho
0T- Ứng dụng CNTT để triển khai thực hiện cải cách hành chính và Chính phủ điện tử,
việc quản lý GDMN qua mạng internet.
thực hiện việc chuyển phát công văn, tài liệu qua mạng; tin học hoá công tác quản lý ở các
0T- Xây dựng hệ thống thông tin quản lý giáo dục và thống kê giáo dục thông qua việc
cấp quản lý giáo dục và ở các cơ sở giáo dục.
tích hợp cơ sở dữ liệu từ các cơ sở giáo dục đến các cấp quản lý giáo dục.
- Tổ chức biên soạn tài liệu, xây dựng, hoàn thiện các văn bản chỉ đạo theo hướng
quản lý GDMN qua mạng internet.
- Tổ chức hội thảo về mạng, về tác dụng của mạng trong công tác, tham quan những
cơ sở ứng dụng mạng có hiệu quả, hướng dẫn sử dụng về mạng. Việc này làm cho cán bộ
giáo viên có nhận thức đúng về mạng, về tác dụng của mạng trong công tác, làm nảy sinh
tâm lý muốn dùng thử. Khi thấy được tác dụng to lớn của việc truyền thông tin trên mạng,
cán bộ giáo viên sẽ có nhu cầu dùng cách truyền tin này.
- Ban hành quy trình quản lý GDMN qua mạng, thông báo về quy trình quản lý mới có
ứng dụng CNTT đến toàn ngành. Sau thời gian thực hiện, kiểm tra kết quả, lấy ý kiến và sửa
đổi quy trình nếu cần.
- Xây dựng kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên, định kỳ và tăng cường hiệu
quả công tác bồi dưỡng trình độ tin học. Biện pháp này có ý nghĩa trong việc tạo ra nguồn
nhân lực cần thiết để thực hiện công tác quản lý GDMN cho từng đơn vị. Bên cạnh đó, công
tác này còn giúp cán bộ quản lý và giáo viên cập nhật những kiến thức mới trong sự thay
đổi không ngừng của đời sống kinh tế – xã hội và khoa học công nghệ.
- Cán bộ quản lý phải luôn đi đầu trong mọi hoạt động để làm gương.
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ công tác quản lý GDMN qua
mạng internet.
0Tcó ý nghĩa quan trọng trong việc giúp công tác 0Tquản lý GDMN qua mạng internet0T được thực
- Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác quản lý GDMN qua mạng internet, điều này
0T- Phối hợp với Tổng Công ty Viễn thông Quân đội Viettel triển khai mạng giáo dục:
hiện nghiêm túc và mang tính tổ chức.
kết nối internet băng thông rộng miễn phí đến các cơ sở giáo dục. Tổ chức hội nghị, hội
thảo, tập huấn và giảng dạy qua mạng. Mở rộng áp dụng hình thức này cho công tác đào tạo
và tập huấn, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, … để tiết kiệm thời gian, kinh
0T- Các cơ quan quản lý giáo dục và cơ sở giáo dục cần tích cực và chủ động tham gia
phí, công sức đi lại.
tạo nội dung thông tin cho các chuyên mục của Website Sở GD&ĐT và Phòng GDMN để
0T* 0TKế hoạch thực hiện QL GDMN qua mạng internet trong năm học 2010-2011 cụ thể
nâng cao hiệu quả, chất lượng quản lý GDMN qua mạng internet.
như sau:
- Phòng Giáo dục mầm non:
+ Tiếp tục triển khai đổi mới công tác QL ở các cấp, đặc biệt tăng cường UDCNTT
để giảm tải cường độ lao động cho đội ngũ; tiếp tục duy trì việc thông tin, liên lạc qua
mạng; tiếp tục triển khai và nâng cao hiệu quả QL GDMN qua mạng internet; kiểm tra đánh
giá việc thực hiện ứng dụng tại các trường MN.
+ Tham mưu xây dựng đề án, kế hoạch triển khai và thực hiện UDCNTT trong
GDMN theo quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 1/6/2009 của Thủ tướng chính phủ. Đề xuất
tăng cường đầu tư bổ sung trang thiết bị cho việc UDCNTT, cập nhật và cung cấp website,
kết nối internet cho các cơ sở GDMN mới được thành lập.
+ Tăng cường UD CNTT trong công tác QL và chuyên môn; áp dụng các phần
mềm để giảm tải lao động cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên.
+ Phối hợp với Trung tâm thông tin và Chương trình giáo dục của Sở để điều chỉnh
phần mềm Data dinh dưỡng, bồi dưỡng các trường mầm non thực hiện ứng dụng chương
trình Mindjet-Mindmanager...
- Tổ MN - Phòng GD&ĐT các quận huyện: tiếp tục lập kế hoạch quản lý, kế hoạch
giáo dục qua mạng; tiếp tục việc báo cáo tổng hợp số liệu, báo cáo tháng, kế hoạch năm học
qua mạng; tiếp tục nối mạng cho các trường, tập huấn kỹ năng, giới thiệu các phần mềm;
thực hiện chuyển công văn chỉ đạo qua mạng; chỉ đạo các trường có kế hoạch cho GV tham
gia các lớp UDCNTT; tiếp tục khuyến khích các cơ sở ngoài công lập trang bị cơ sở vật
chất, nâng cao trình độ tin học; tiếp tục duy trì thông tin 2 chiều; triển khai phần mềm
Mindmanager thay cho sổ sách, tất cả các trường đều có email để nhận chỉ đạo qua email.
- Ban giám hiệu các trường MN: lập trang web cho trường (với các trường chưa có
trang web); nối mạng cho các nhóm lớp; quản lý nội dung chương trình của nhóm lớp trên
internet; thực hiện các chương trình UD CNTT đã được tập huấn; tiếp tục thực hiện quản lý
qua internet; lắp đặt mạng nội bộ để thuận tiện cho việc kiểm tra, giúp đỡ GV trong công tác
lập KHGD bằng phần mềm Mindmanager. Tiếp tục báo cáo các hoạt động của trường với
Phòng GDĐT và Sở, cha mẹ trẻ qua trang web của trường. Sử dụng các phần mềm trong
quản lý vào hoạt động tại đơn vị (thu phí, tính khẩu phầnVMis, data dinh dưỡng…). Thực
hiện chương trình Mind manager ở các lớp và thực hiện kế hoạch trong quản lý, duyệt kế
hoạch qua mạng…
- Giáo viên: tiếp tục làm data dinh dưỡng, lập mạng chủ đề, cập nhật thông tin của lớp;
download nội dung dạy học; ứng dụng chương trình Mindjet Mindmanager; trao đổi thông
tin giữa GV và BGH, đóng góp ý kiến qua mail; làm giáo án điện tửthực hiện liên lạc với
phụ huynh qua trang hoạt động của bé; cập nhật trang sức khỏe, đánh giá bé ngoan…
3.2.1.3. Nhóm biện pháp đổi mới công tác quản lý các nguồn lực (nhân lực, vật lực
U* Mục tiêu:
và tài lực)
- Hoàn thiện, phát huy và nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực, cơ sở vật chất… phục vụ
cho việc quản lý GDMN qua mạng internet.
U* Nội dung:
- Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý GDMN qua mạng internet.
Quan tâm đến hiệu quả quản lý, chú trọng chất lượng quản lý thể hiện cụ thể như sau:
- Hoàn thiện cơ sở vật chất cụ thể là hoàn thiện, nâng cấp hệ thống mạng nội bộ
(LAN), mạng internet. Trong nội bộ một đơn vị giáo dục, mạng LAN có tác dụng lớn trong
viêc chuyển giao thông tin nội bộ. Nhiều thông tin được chuyển giao giữa lãnh đạo và các
phòng ban, giữa các phòng ban với nhau. Mạng LAN có thể được dùng để phổ biến thông
tin trong toàn thể cán bộ, giáo viên. Mạng LAN cũng có thể dùng để thay chế độ họp giao
ban thường kỳ, thay thế cho phương pháp tập trung toàn bộ cán bộ giáo viên. Ngoài ra,
mạng LAN có thể dùng để chuyển giao những biểu mẫu báo cáo để cán bộ giáo viên báo
cáo định kỳ. Chương trình quản lý chạy trên mạng nội bộ giúp cho giáo viên cập nhật tình
hình học tập hàng ngày.
- Trang bị máy tính hợp lý tại các phòng làm việc, các máy tính phải được nối mạng
LAN và nối mạng internet. Hệ thống máy tính tại các phòng có nối mạng LAN làm cho cán
bộ giáo viên không mất thời gian đi từ chỗ này sang chỗ khác để thực hiện công việc. Mạng
internet giúp cho cán bộ giáo viên luôn luôn nắm được thông tin chỉ đạo kịp thời. Mạng
internet giúp cho cán bộ giáo viên nâng cao trình độ, nâng cao nhận thức, thấy được mức độ
quan trọng của thông tin.
- Trang bị chương trình quản lý chạy trên mạng LAN. Chương trình này cần dễ sử
dụng để cán bộ giáo viên không cần phải có kiến thức sâu về CNTT cũng có thể sử dụng
được. Đây là điểm quan trọng vì trình độ CNTT của cán bộ giáo viên không đồng đều. Nếu
chương trình khó sử dụng sẽ làm cho cán bộ giáo viên không muốn sử dụng. Chương trình
dễ sử dụng làm cho cán bộ giáo viên chóng quen với cách thức sử dụng, quen với kỹ thuật
mới, quen với ứng dụng CNTT trong công việc, nâng dần trình độ CNTT.
- Hoàn chỉnh trang thông tin (WEB) của Phòng GDMN, Tổ MN và các đơn vị giáo
dục. Trang thông tin là một phương tiện truyền bá, thu thập thông tin rất hữu hiệu nếu sử
dụng nó đúng đắn. Trang thông tin được xây dựng trên kỹ thuật siêu liên kết (hyperlink) các
thông tin trong nhiều trang khác nhau. Thông tin trên trang web được thể hiện bằng nhiều
hình thức như văn bản, âm thanh, tranh ảnh, phim video… nên rất sống động và thu hút
nhiều người tham quan. Do vậy trang thông tin sẽ phổ biến thông tin về GDMN đến được
rất nhiều người trong phạm vi rộng lớn. Trên trang thông tin có thể tổ chức những cuộc
thăm dò ý kiến. Ý kiến được thăm dò có thể sẽ lan truyền rất rộng, nhiều người trả lời. Các
cấp lãnh đạo (Phòng GDMN, Tổ MN, BGH) sẽ thu thập được rất nhiều ý kiến khác nhau
thông qua trang web để phân tích và hoạch định chiến lược cho đơn vị.
- Xây dựng kho dữ liệu dùng chung, nguồn tài nguyên mở. Nên có cơ chế để khuyến
khích cán bộ giáo viên chia sẻ những sản phẩm mình làm được với cộng đồng. Cần hướng
dẫn để cán bộ giáo viên có thói quen chia sẻ, sử dụng chung những kết quả nghiên cứu.
Lưu ý: cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng để cho cán bộ giáo viên thực hiện được ý
tưởng của bản thân. Cơ sở vật chất tạo ra nhu cầu sử dụng nó vào công tác hàng ngày.
Nhưng tăng cường cơ sở vật chất cần phải có lộ trình và phù hợp với năng lực ứng dụng của
cán bộ giáo viên trong đơn vị, nếu không sẽ gây lãng phí.
Cơ sở vật chất cần đáp ứng một số điều kiện sau đây: Hệ thống thiết bị CNTT đáp ứng
được những yêu cầu đề ra như cấu hình phải đảm bảo các chương trình quản lý phải sử dụng
được, hệ thống mạng nội bộ phải luôn thông suốt với một tốc độ nhanh, hệ thống phải được
bảo mật tốt, tránh được những can thiệp từ những người không có quyền truy cập.
Trình độ CNTT của cán bộ quản lý trong đơn vị phải đạt các yêu cầu: sử dụng thành
thạo hệ thống thông tin bao gồm các chương trình ứng dụng, các chương trình quản lý, hệ
thống mạng nội bộ, hệ thống mạng internet. Với cán bộ quản lý, cần biết sử dụng internet
trong việc thu thập, tìm kiếm thông tin, gửi nhận thư điện tử, biết sử dụng các chương trình
ước lượng, kiểm tra thông tin. Với cán bộ giáo viên, cần biết các chương trình phục vụ việc
giảng dạy của bản thân, biết tìm kiếm thông tin trên internet theo chủ đề, biết lưu trữ và tổ
U* Cách thực hiện:
chức lưu trữ trên hệ thống riêng của mình, hoặc lưu trữ trên hệ thống mạng chung.
- Quy định chuẩn thông tin và hướng luân chuyển thông tin trong hệ thống quản lý:
+ Chuẩn của dữ liệu dạng ký tự được quy định là chuẩn 16 bít, dùng bộ mã unicode.
+ Thay đổi hướng lưu chuyển thông tin theo cách thức mới. Thông tin giúp cho lãnh
đạo nắm được trạng thái của hệ thống trong thời điểm cụ thể để ra những quyết định cụ thể.
Thông tin làm cho cán bộ giáo viên nắm được phương thức làm việc, trạng thái của đơn vị,
phương hướng phát triển. Trước đây thông tin thường đến với các đối tượng trong hệ quản
lý bằng các phương tiện thông thường như văn bản, mệnh lệnh của cấp trên với cấp dưới
hay báo cáo từ cấp dưới lên cấp trên. Khi CNTT phát triển, thông tin đến với mọi người qua
một kênh quan trọng là mạng toàn cầu internet. Thông tin trên internet được con người chấp
nhận rất chóng vánh, nên internet phát triển rất nhanh, sâu và rộng trong xã hội. Mạng nội
bộ cũng là một công cụ truyền thông tin hữu hiệu trong một đơn vị. Thông tin trên mạng cần
phải theo một chuẩn nhất định để giúp cho các mối liên hệ trong hệ thống quản lý được
nhanh chóng, thông tin có tính thời sự cao.
+ Sử dụng chữ ký số trong lưu chuyển thông tin. Chữ ký số được gán với một thông
tin là một thao tác kỹ thuật nhằm xác định con người cụ thể đưa ra thông tin đó. Chữ ký số
được tạo ra bằng kỹ thuật mật mã cho phép người nhận thông tin có thể dễ dàng kiểm tra
tính chủ quyền của thông tin đó. Việc sử dụng kỹ thuật chữ ký số làm cho người nhận thông
tin tin tưởng đó là thông tin đúng, có tính pháp lý và phải thực hiện. Một số quan niệm về
thông tin trên mạng là không có tính pháp lý, không có giá trị nếu như có sự tranh luận về
tính xác thực của thông tin đó. Việc đưa chữ ký số vào sử dụng giúp cho các thông tin quản
lý có hiệu quả hơn. Thông tin quản lý được lưu chuyển nhanh đến người nhận thông tin mà
người nhận thông tin yên tâm là thông tin đó có tính xác thực và có giá trị pháp lý để sử
dụng hay thực hiện.
+ Ứng dụng CNTT trong việc thu thập và xử lý thông tin: Thu thập thông tin là một
thao tác mà người quản lý luôn cần thực hiện để các quyết định quản lý được đúng đắn.
Việc thu thập thông tin theo cách thức truyền thống thường được thực hiện thông qua những
cách thức thông thường như các cuộc họp, thăm dò ý kiến… Nhưng những cách thức này
thường đem lại những thông tin không đầy đủ, không thẳng thắn do tâm lý ngại va chạm.
Thông tin có thể không được đầy đủ vì người phát biểu ý kiến có thể không nghĩ trọn vẹn
ngay lập tức hết các khía cạnh của vấn đề, thời gian không đủ để tất cả mọi người đều trình
bày ý kiến của mình. Thông tin có thể được gửi qua văn bản nhưng việc chuyển các văn bản
đến người nhận thông tin cũng phải mất thời gian nhất định. CNTT giúp chúng ta giải quyết
rất tốt vấn đề này. Khi cần tham khảo ý kiến mọi người, vấn đề cần tham khảo được đưa lên
mạng một cách rộng rãi. Người tham gia ý kiến có thể ở một vị trí rất xa về địa lý, trong một
khoảng thời gian đủ để suy nghĩ về các khía cạnh của vấn đề mà phát biểu ý kiến. Người
tham gia ý kiến có thể tham khảo ý kiến của người khác trước khi đưa ra ý kiến của mình.
Như vậy thông tin thu thập được có tính trọn vẹn hơn, đầy đủ hơn. Nhưng khi tham khảo ý
kiến theo phương thức này, cần có sự sàng lọc, xử lý thông tin để thu nhận được những
thông tin hữu ích cho công việc.
+ Ứng dụng CNTT trong kiểm tra: Kiểm tra là một khâu quan trọng trong quá trình
quản lý. Quản lý mà không có kiểm tra thì coi như không quản lý. Khâu kiểm tra giúp người
quản lý nắm được thực trạng của hệ thống mà mình đang phụ trách. Yêu cầu của kiểm tra là
phải khách quan, kịp thời, số liệu thu thập được phải chính xác và phản ảnh đúng thực trạng
của vấn đề được kiểm tra. Trong cách thực hiện theo truyền thống, lãnh đạo yêu cầu các cấp
tiến hành kiểm tra và báo cáo kết quả lên cấp trên để xử lý. Cách làm như vậy có nhiều vấn
đề tế nhị nên nhiều khi số liệu thu thập thông qua khâu kiểm tra không chính xác và thiếu
khách quan.
+ Xây dựng một chương trình quản lý hồ sơ trẻ thống nhất. Mỗi cán bộ giáo viên có
mã số để truy cập, mỗi lớp có một mã số riêng. Chương trình quản lý hồ sơ trẻ bắt đầu từ
khi trẻ vào học ở trường mầm non và được chuyển tiếp qua từng lớp, từng cấp học cho đến
khi trẻ trưởng thành. Hồ sơ quản lý trẻ sẽ được cập nhật thường xuyên. Chương trình này
nếu sử dụng rộng rãi thì lãnh đạo có thể truy cập dữ liệu bất cứ lớp nào, bất cứ thời gian nào
để nắm tình hình lớp mà không cần báo cáo của giáo viên quản lý lớp. Việc quản lý sẽ được
thuận tiện hơn, không gây lãng phí công sức của mọi người, tiết kiệm được thời gian. Việc
quản lý trẻ được xuyên suốt từ lúc bắt đầu học MN đến khi trưởng thành.
- Tổ chức rà soát hệ thống cơ sở vật chất hiện có và năng lực ứng dụng của cán bộ
giáo viên để có kế hoạch nâng cấp cơ sở vật chất và bồi dưỡng trình độ tin học phù hợp.
- Cần có bộ phận chuyên trách về CNTT để xử lý những sự cố hàng ngày trong đơn
vị. Hệ thống CNTT thường hay có những sự cố hỏng hóc bất thường vì rất nhiều lý do. Việc
xử lý ngay lập tức có vai trò quan trọng trong việc tin học hóa quản lý. Khi mới hoạt động,
trình độ cán bộ giáo viên về CNTT chưa cao, ứng dụng vào công việc mà có sự cố thì cán
bộ giáo viên sẽ có tâm lý chán nản, so sánh với phương pháp truyền thống. Tâm lý này dễ
lan truyền, đặc biệt là trong bộ phận trình độ CNTT không tốt, dễ gây hiệu ứng làm cho toàn
bộ cán bộ giáo viên không muốn thực hiện.
- Tích cực khai thác có hiệu quả những tiện ích của trang thiết bị hiện đại phục vụ cho
công tác quản lý GDMN qua mạng, tránh việc sử dụng chiếu lệ, không hiệu quả, gây lãng
phí. Đối với các đơn vị giáo dục, cần tùy theo tình hình tài chính cụ thể mà mua sắm các
trang thiết bị thiết yếu nhất hoặc các trang thiết bị mà nhiều người có thể dùng chung được.
U* Mục tiêu:
3.2.1.4. Nhóm biện pháp tạo động lực
- Trong công tác quản lý GDMN qua mạng internet rất cần sự động viên, khuyến
khích cán bộ giáo viên. Cần phải hiểu rằng ứng dụng CNTT trong quản lý và giảng dạy
đang trong những bước đi ban đầu, nên chắc chắn sẽ có những khó khăn. Nhưng nếu thấy
khó khăn mà ngại không dám thực hiện thì đơn vị đó sẽ tụt hậu so với xã hội, so với những
đơn vị khác và làm ảnh hưởng cả một hệ thống quản lý. Nếu bắt đầu càng sớm, đơn vị sẽ
càng có nhiều thời gian thử nghiệm hơn, cán bộ giáo viên càng có nhiều kinh nghiệm thực
tế. Khi kỹ năng đó được nhân rộng, trình độ CNTT của cán bộ giáo viên trong ngành được
nâng cao, khả năng ứng dụng CNTT trong quản lý lại càng được đẩy mạnh, hiệu quả quản
lý càng được nâng cao.
- Do đó, cần có sự thông cảm nếu cán bộ giáo viên không thành công trong ứng dụng
CNTT vào quản lý và giảng dạy. Một kỹ thuật mới khi được ứng dụng vào thực tế công việc
tất yếu sẽ có những trục trặc nhất định. Điều đó không tránh khỏi. Như vậy sự không thành
công của cán bộ giáo viên là dễ hiểu. Lãnh đạo nên có sự thông cảm với thất bại của cán bộ
giáo viên dưới quyền. Nên chia sẻ chân tình, động viên cán bộ giáo viên tiếp tục tìm hiểu,
nghiên cứu để có thể thực hiện tốt hơn vào lần sau. Nên có những định hướng cho cấp dưới
U* Nội dung:
để cấp dưới xác định đúng hướng, không mất thời gian tìm hiểu, nghiên cứu.
Phương pháp kích thích là tổng thể những tác động đến con người thông qua lợi ích
vật chất, tinh thần nhằm phát huy tiềm năng, trí tuệ, tình cảm, ý chí, tinh thần trách nhiệm
và quyết tâm hành động vì lợi ích chung của tổ chức.
- Động viên, khen thưởng, kích thích bằng vật chất: thể hiện qua chế độ tiền lương,
tiền thưởng, điều kiện sinh hoạt làm việc, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác …
- Động viên, khen thưởng, kích thích bằng tinh thần: nêu gương, giới thiệu điển hình,
phong danh hiệu thi đua, danh hiệu giáo viên giỏi các cấp, nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân
dân, nhà quản lý xuất sắc, tạo điều kiện được học tập nâng cao trình độ…
Cần có sự thống nhất giữa hai loại kích thích vật chất và tinh thần để thúc đẩy và nâng
U* Cách thực hiện:
cao tính tích cực lao động của đối tượng quản lý.
- Tôn trọng nhân cách của đối tượng quản lý, điều này làm họ cảm thấy được trân
trọng và họ sẵn sàng làm hết sức mình vì công việc chung.
- Chú trọng việc phân tích cơ sở khoa học của các quyết định quản lý, tạo ra sự thống
nhất trong quan niệm và hành động của các thành viên trong tổ chức. Nếu các quyết định
đưa ra không phù hợp với thực tế, sẽ làm đối tượng quản lý hoang mang, mất lòng tin, chán
nản và chống đối.
- Thuyết phục bằng lý trí – tình cảm, xây dựng lòng tin giữa chủ thể quản lý và đối
tượng chịu sự quản lý.
- Hình thành truyền thống của tổ chức và niềm tự hào về truyền thống đó, đây là một
động lực tinh thần mạnh mẽ giúp mọi người đoàn kết, thống nhất ý chí thực hiện mục tiêu
đã đề ra.
- Tạo văn hoá trong tổ chức, trong đó có văn hóa quản lý giúp mọi người luôn cảm
thấy vui vẻ, tin tưởng, thoải mái, thân thiện làm việc cùng nhau. Lúc nào cũng được động
viên, khuyến khích giúp đỡ vượt qua khó khăn.
- Hàng năm sẽ tổng kết và tuyên dương, khen thưởng những cán bộ, giáo viên, đơn vị
có nhiều đóng góp trong công tác quản lý GDMN qua mạng internet. Ngoài ra, có thể sử
dụng hình thức nêu gương, giới thiệu điển hình, nhân rộng các mô hình thành công trong
việc quản lý GDMN qua mạng internet.
- Có chế độ chính sách thỏa đáng khuyến khích cán bộ giáo viên tự học, tự nâng cao
trình độ tin học.
- Chế độ khen thưởng cần có qui định cụ thể đối với từng cấp độ văn bằng.
U* Mục tiêu:
3.2.1.5. Nhóm biện pháp quản lý sự phối hợp
- Tạo sự thống nhất trong quản lý, tránh sự chồng chéo trong hoạt động.
- Tận dụng sức mạnh tổng hợp của nhiều bộ phận, các các cấp.
- Giúp nắm bắt những thay đổi trong công tác quản lý GDMN qua mạng internet để từ
đó có những điều chỉnh kịp thời đồng thời cũng để tạo ra cơ hội hỗ trợ về nhân sự, cơ sở vật
chất.
- Bên cạnh đó, việc phối hợp này cũng giúp cho các đơn vị giáo dục học tập thêm
nhiều kinh nghiệm của các đơn vị khác trong công tác quản lý GDMN qua mạng internet.
- Quản lý tốt sự phối hợp sẽ góp phần nâng cao nhận thức, thái độ của cán bộ quản lý,
giáo viên và toàn xã hội đối với vai trò, tầm quan trọng của việc quản lý GDMN qua mạng
U* Nội dung:
internet.
Việc thiết lập mối quan hệ giữa ngành GDMN với các lực lượng giáo dục khác sẽ tạo
ra sự thống nhất đồng bộ về mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp quản lý, nhằm
phát triển một cách có hệ thống cách thức quản lý GDMN qua mạng internet.
Quản lý tốt sự phối hợp giữa các lực lượng sẽ giúp huy động tiềm năng vật chất, kinh
phí và nguồn nhân lực phục vụ cho công tác giáo dục mầm non nói chung và công tác quản
lý GDMN qua mạng internet nói riêng.
Cần tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa P.MN Sở, Tổ MN P.GD&ĐT và các đơn vị
giáo dục.
Cần tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cấp có liên quan trong việc quản lý
GDMN qua mạng internet. Huy động sự đóng góp nhân tài, vật lực, trí tuệ, tinh thần của các
tổ chức, cá nhân trong công tác ứng dụng CNTT trong giáo dục, trong xây dựng mạng giáo
U* Cách thực hiện:
dục và trong công tác đào tạo nguồn nhân lực CNTT đáp ứng nhu cầu xã hội.
- Chỉ đạo Tổ MN, BGH và giáo viên các trường phải phối hợp chặt chẽ trong công tác
quản lý GDMN qua mạng internet, có sự thống nhất trong chỉ đạo từ các cấp, tránh trường
hợp cấp dưới muốn đổi mới cách thức quản lý, muốn ứng dụng CNTT nhưng lại vướng rào
cản ở cấp trên không cho phép, gây khó dễ.
- Phối hợp với các cơ quan quản lý giáo dục để có sự chỉ đạo, hướng dẫn và hỗ trợ
kinh phí.
- Cần xã hội hóa giáo dục trong việc mua sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ cho việc
quản lý GDMN qua mạng internet. CBQL cần khéo léo huy động các nguồn lực để trang bị
cơ sở vật chất cũng như sự hỗ trợ về kỹ thuật khi gặp khó khăn trong quá trình quản lý
GDMN qua mạng internet.
- Tuyên truyền, phối hợp với gia đình việc theo dõi thông tin của trẻ và của ngành MN
qua internet. Kêu gọi sự hỗ trợ về kỹ thuật (tin học) của phụ huynh khi cần.
- Phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng, báo đài để thông tin tới xã hội và
toàn thể phụ huynh các chủ trương của ngành về đổi mới cách thức quản lý.
- Đặc biệt, phối hợp với Trung tâm thông tin và chương trình giáo dục của Sở
GD&ĐT để hoàn thiện dần trang web, cải thiện đường truyền, tăng dung lượng upload, tăng
tốc độ download, điều chỉnh phần mềm Data dinh dưỡng, bồi dưỡng các trường mầm non
thực hiện ứng dụng chương trình Mindjet-Mindmanager vào việc soạn giáo án và xây dựng
kế hoạch giáo dục, quản lý nhà trường…
- Phối hợp với phòng GD-ĐT các quận huyện và các đơn vị cơ sở trong việc tiếp nhận
nhu cầu, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong việc triển khai các ứng dụng trên
mạng…
- Trong công tác quản lý GDMN qua mạng internet, cần phải quản lý tốt sự phối hợp
với các lực lượng khác để tranh thủ nguồn lực, sự hỗ trợ các công ty, tổ chức để nâng cấp
mở rộng đường truyền internet, trang bị máy vi tính, triển khai các phần mềm thiết thực...
- Đặc biệt, phối hợp với trường sư phạm để đào tạo sinh viên ngoài việc thành thạo kỹ
năng chăm sóc giáo dục trẻ, cần phải thành thạo kỹ năng ứng dụng CNTT.
U* Mục tiêu:
3.2.1.6. Nhóm biện pháp quản lý sự thay đổi
- Mục đích của quản lí sự thay đổi là để tạo ra thay đổi trong cách thức làm việc, tối
thiểu hoá những tác động tiêu cực lên năng suất.
- Quản lý sự thay đổi để nắm được xu hướng phát triển của CNTT trong tương lai.
Lãnh đạo cần nắm được xu hướng phát triển của khoa học kỹ thuật nói chung và của CNTT
nói riêng. Quy luật phát triển của khoa học kỹ thuật là càng về sau, những phát minh, những
công nghệ mới càng nhanh chóng được áp dụng vào thực tế, vào công việc hơn. Ứng dụng
CNTT trong quản lý là một công cụ cần thiết, quan trọng cho sự hội nhập. Nắm được xu
hướng phát triển này, chúng ta cần có thái độ đúng với CNTT, với việc ứng dụng CNTT
trong quản lý và có sự chuẩn bị cho phù hợp.
- Tạo ra nội dung quản lý phù hợp với việc ứng dụng CNTT. Quản lý thông qua việc
ứng dụng CNTT có vai trò to lớn. Nội dung quản lý cần được thay đổi. Theo cách thức
truyền thống, các nội dung quản lý được thể hiện trên giấy tờ, văn bản được đưa đến những
người có trách nhiệm thực hiện. Khi ứng dụng CNTT vào quản lý, hình thức này không còn
phù hợp nữa, cần phải tạo ra nội dung quản lý theo hình thức mới.
- Tạo điều kiện thuận lợi để đưa nội dung quản lý vào hệ thống thông tin. Những thông
tin quản lý theo cách thức truyền thống không còn phù hợp khi ứng dụng CNTT. Trước đây,
thông tin quản lý thể hiện ở dạng văn bản, được lưu trữ ở những bộ phận tác nghiệp. Khi
cần tìm kiếm để sử dụng sẽ mất khá nhiều thời gian. Để tăng tốc độ tìm kiếm và xử lý,
thông tin cần được đưa vào hệ thống thông tin. Nhưng nếu việc đưa thông tin vào hệ thống
thông tin quá phức tạp thì việc ứng dụng CNTT không đạt hiệu quả quản lý cao, nhất là
trong khi trình độ của cán bộ giáo viên chưa cao. Vì vậy cần nghiên cứu để đề ra cách thức
U* Nội dung:
thuận tiện cho mọi người khi đưa thông tin vào hệ thống.
- Tăng cường công tác dự báo
- Xác định rõ các vấn đề chiến lược
- Khuyến khích sự thay đổi
U* Cách thực hiện:
- Xác định lộ trình thay đổi bền vững
Con đường phát triển để thay đổi là một chuỗi các bước nối tiếp nhau, cần nhận ra xu
hướng trong tương lai và cách thức hành động để giải quyết được xu hướng đó. Quản lý sự
thay đổi rất quan trọng. Nếu quy trình quản lý thay đổi quá nặng nề và cồng kềnh thì mọi
người sẽ làm hỏng nó. Nếu quy trình quản lý thay đổi quá lỏng lẻo thì sẽ khó kiểm soát.
Nguyên tắc
Quản lý sự thay đổi phải tuân theo các nguyên tắc sau:
a. Cố gắng giữ tất cả các yêu cầu thay đổi:
- Xác lập mẫu yêu cầu thay đổi, giữ những thông tin cơ bản về ai, cái gì, ở đâu, khi
nào và như thế nào.
- Xác lập sổ ghi sự thay đổi để nắm bắt được từng thay đổi theo yêu cầu.
b. Chọn lọc các yêu cầu thay đổi:
- Loại bỏ các yêu cầu thay đổi không thể xảy ra.
c. Đảm bảo ảnh hưởng của thay đổi được phác thảo rõ ràng:
- Ảnh hưởng của thay đổi lên lịch trình là gì?
- Ảnh hưởng của thay đổi lên chi phí là gì?
- Ảnh hưởng của thay đổi lên chất lượng là gì?
- Ảnh hưởng của thay đổi lên tính năng là gì?
d. Đưa những người thích hợp tham gia:
Việc thay đổi cách thức quản lý, cách thức làm việc thường đối diện với sự kháng cự
của một số người – những người không thích thay đổi; do đó, quản lí sự thay đổi có thể giúp
các nhà quản lý vượt qua sự kháng cự này.
Một trong những bước đầu tiên trong quản lí sự thay đổi là chuẩn bị cho mọi người về
sự thay đổi. Điều này có nghĩa là không làm cho mọi người ngạc nhiên hay cảnh giác. Nếu
nhà quản lý không chuẩn bị, thì họ sẽ rất có thể phải đối diện với sự kháng cự của mọi
người. Thay người và sự vắng mặt là hai cách mọi người thể hiện việc không chấp thuận sự
thay đổi. Các cách khác bao gồm việc phá hoại thay đổi (như không tuân thủ nó) và tìm
cách khác để thay đổi.
Có nhiều cách để chuẩn bị cho mọi người về thay đổi. Trước hết nhà quản lý nên cố
gắng có được sự tham dự của mọi người bị ảnh hưởng bởi thay đổi. Chẳng hạn, nếu muốn
thay đổi cách thức quản lý qua mạng internet, thì hãy xác định ai sẽ bị ảnh hưởng bởi thay
đổi và tìm hiểu phản hồi của họ. Ngoài ra, cần có cách thức ghi nhận lại sự chấp thuận của
họ (qua biên bản có chữ ký chẳng hạn…). Hơn nữa, hãy cố gắng trao đổi cởi mở cả trên lẫn
dưới trong phân cấp quản lý, dây chuyền chỉ huy và về sau là với phụ huynh, hãy nói thẳng
với mọi bên về mọi thay đổi. Nếu còn có chút hoài nghi nảy sinh thì họ sẽ cảnh giác và bớt
đi sự ủng hộ cho việc thay đổi của nhà quản lý.
Bên cạnh đó, hãy chuẩn bị cho mọi người về kế hoạch mới. Tránh làm ngạc nhiên để
loại trừ sự kháng cự. Tổ chức các buổi huấn luyện về kế hoạch mới, làm sáng tỏ điều đã
thay đổi, không thay đổi và cho biết lý do tại sao, gửi cho mọi người tài liệu mới để tham
khảo, cho mọi người biết mình sẵn lòng giúp đỡ và giải đáp thắc mắc. Nhà quản lý cần loại
bỏ nhiều chướng ngại cho sự thay đổi trước khi nó phát huy tác dụng. Nói tóm lại, hãy
chuẩn bị kỹ trước khi thực hiện thay đổi.
Nhà quản lý cần phải thuyết phục về sự thay đổi. Mọi người sẽ chấp nhận thay đổi nếu
họ nhận ra ích lợi của nó. Việc thuyết phục có hiệu quả làm cho mọi người nghĩ họ cần sự
thay đổi. Nhà quản lý cần giải thích, theo viễn cảnh của họ, tại sao thay đổi lại là cần thiết;
nên tránh việc gây cho họ ấn tượng rằng thay đổi sẽ có nghĩa cải tiến chốc lát và sẽ diễn ra
êm thấm; nên nói rằng khó khăn sẽ phát sinh và nêu ra gợi ý để vượt qua chúng.
Nhà quản lý cần kiên nhẫn giải quyết cho những thay đổi, bởi vì việc giải quyết tính
động của nó đòi hỏi phải cố gắng lớn. Không phải mọi thứ đều đi theo kế hoạch mới, các kế
hoạch mới thỉnh thoảng cần xem xét lại.
Nhà quản lý có thể dùng áp lực ngang quyền để thiết lập sự thay đổi. Thỉnh thoảng, sẽ
có người chống lại sự thay đổi, họ sẽ làm bất kì cái gì gây chướng ngại cho thay đổi. Việc
dùng áp lực ngang quyền thường có thể biến chuyển tâm trí bướng bỉnh nhất, đó là vũ khí
mạnh để thúc đẩy mọi người đồng ý với ý muốn của nhà quản lý. Hãy để những người ủng
hộ cho sự thay đổi thuyết phục những người chống đối. Nếu sự chống đối vẫn tiếp tục, thì
hãy làm điều mà hầu hết mọi người đều làm khi đối diện với bức tường gạch, hoặc đi vòng
qua nó hoặc đập vỡ nó.
Cần phải có sự phối hợp giữa các cấp trong việc quản lý sự thay đổi, không có sự hỗ
trợ của họ thì thực hiện thay đổi sẽ rất khó khăn.
Nhà quản lý có ba vai trò cần giải quyết với việc quản lí thay đổi để việc thay đổi có
U* Công tác dự báoU đóng vai trò rất quan trọng, nó cung cấp các thông tin cho việc ban
hiệu quả, đó là: mục tiêu thay đổi, người hỗ trợ thay đổi và tác nhân thay đổi.
hành những quyết định mang tính chiến lược trong tương lai. Những thông tin này cho giúp
các nhà quản lý có những quyết định đúng đắn.
Dự báo không chỉ tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, cho việc xây
dựng chiến lược phát triển, cho các quy hoạch tổng thể mà còn cho phép xem xét khả năng
thực hiện kế hoạch và hiệu chỉnh kế hoạch. Có thể nói các dự báo tốt cũng sẽ cung cấp
thông tin cho quá trình nhận thức, ra quyết định và xem xét tác động của các lĩnh vực khác
nhau, từ vĩ mô đến vi mô, từ bình diện cả nước đến các vùng lãnh thổ, từ toàn bộ nền kinh tế
đến các ngành thậm chí đến các công ty.
Thông thường người ta phân biệt hai cách tiếp cận để đoán nhận tương lai, cách thứ
nhất dành cho các quá trình mà con người có thể và chủ động tác động đến quá trình phát
triển. Loại dự báo này mang tính chất kiến thiết (trong tiếng Anh thường dùng thuật ngữ
Projection để gọi), thường dùng cho tầm trung và dài hạn. Đối với các dự báo ngắn hạn
(hàng năm, quý, tháng), sự tác động của con người nhìn chung bị hạn chế, các quy luật tự
nhiên, kinh tế - xã hội chi phối những gì sẽ xảy ra trong tương lai. Việc đoán nhận tương lai
sẽ chủ yếu dựa trên sự kéo dài những quy luật đã hình thành trong quá khứ. Loại dự báo trên
cách tiếp cận này chứa đựng nhiều nội dung mang tính khách quan hơn.
Đối với việc nghiên cứu chiến lược phát triển giáo dục dài hạn đến năm 2020, các dự
báo trung hạn và dài hạn vô cùng quan trọng. Tùy theo vấn đề mà tầm thời gian của dự báo
trung hạn và dài hạn có thể thay đổi chút ít, tuy nhiên nói đến dự báo trung hạn người ta
thường hiểu là khoảng thời gian bao quát khoảng trên dưới 5 năm trong khi các dự báo dài
hạn có thể có tầm 10 năm hoặc xa hơn. Đối với các nước đang phát triển, các dự báo có tầm
trung hạn rất có ý nghĩa trong việc xây dựng kế hoạch 5 năm, còn các dự báo dài hạn chủ
yếu mang tính định hướng, tập trung vào một số lĩnh vực quan trọng.
Trong bối cảnh phát triển hiện nay của thế giới, và sự phát triển năng động của khu
vực, nhìn chung để có dự báo chính xác là rất khó kể cả trong tầm ngắn hạn, với trung hạn
và dài hạn lại càng khó hơn, chính vì vậy việc cập nhật thường xuyên các dự báo là cần
thiết, nhằm cung cấp những thông tin mới nhất cho các nhà hoạch định chính sách.
Cập nhật các dự báo được hiểu theo nghĩa đưa những thông tin mới nhất vào các kết
quả dự báo, hiểu theo nghĩa hẹp nhất đó là tính toán, hiệu chỉnh lại các dự báo khi có nguồn
thông tin mới (số liệu mới, dữ liệu mới), mặt khác cập nhật dự báo cũng có thể hiểu theo
nghĩa rộng hơn là việc bổ sung phương án mới, đưa ra kịch bản mới, cải tiến mô hình khi có
nguồn thông tin mới.
Qui trình thiết lập dự báo
Để thiết lập một dự báo, về cơ bản, chúng ta có các bước tiến hành sau đây:
a) Xác định vấn đề và lựa chọn triển vọng dự báo;
b) Xây dựng hệ thống và phát hiện những biến số then chốt;
c) Thu thập số liệu và hình thành các giả thiết
d) Xây dựng các tương lai khả dĩ.
Chất lượng của các dự báo phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống dữ liệu chuyên dụng nó
phân tích và dự báo. Thông thường một cơ sở dữ liệu hiểu theo nghĩa rộng bao gồm:
- Kho số liệu thống kê
- Các dữ liệu trong nước và quốc tế có liên quan đến phân tích và dự báo GD.
- Các phần mềm chuyên dụng dùng để phân tích và dự báo giáo dục.
Đối với mỗi quốc gia nói chung hay một đơn vị nghiên cứu giáo dục nói riêng đều có
những cơ sở dữ liệu của mình, ý tưởng xây dựng cơ sở dữ liệu là để sử dụng các số liệu và
dữ liệu văn hóa xã hội một cách có hiệu quả.
Raja Roy Sinh nguyên trợ lý tổng giám đốc UNESCO ở Châu Á và Thái Bình Dương
đã khẳng định “Việc nhìn về phía trước để ước đoán tình hình giáo dục trong thập kỷ mới
có những mối liên quan xoắn xuýt rất quan trọng đến sự phát triển giáo dục từ cơ sở hiện
tại… Việc xem xét nền giáo dục trong viễn cảnh tương lai cần được coi là hướng cốt yếu
trong việc đề ra các kế hoạch và chính sách giáo dục; thực sự như là một định hướng mới
trong kế hoạch hóa GD”.
Xét cho cùng bất cứ một chiến lược giáo dục đều gắn với ý đồ của việc biến đổi
(Transform), canh tân (Innovation), cải cách (Reform) đối với giáo dục. Công việc này là sự
bình thường của mọi nền giáo dục nếu muốn cho nền giáo dục phục vụ đắc lực cuộc sống.
Cần phải thực hiện được sự đổi mới căn bản và toàn diện trong hệ thống quản lý giáo dục
theo hướng hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và quan trọng là cần phải phát triển giáo
dục mầm non làm tiền đề vững chắc: hiện đại hóa cơ sở vật chất và trang thiết bị, các trường
học được thụ hưởng thành quả của tiến bộ công nghệ thông tin, được nối mạng internet.
Trong việc tăng cường công tác dự báo, cần phải:
+ Quán triệt việc giáo dục đáp ứng cho yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì vậy
phải tổ chức cho nền giáo dục này là hạt nhân của quá trình phát triển phục vụ việc đổi mới
quản lý theo yêu cầu của xã hội;
+ Ý thức được luận điểm “Sản phẩm của giáo dục không chỉ phục vụ cho hiện tại mà
nó thể hiện tầm nhìn chủ yếu cho tương lai” (Kant), việc quản lý nền giáo dục phải hành
động trên tư duy dự báo, tư duy quy hoạch tổng thể.
+ Mở rộng tầm nhìn đối với các vấn đề của giáo dục trong xu thế toàn cầu hóa về kinh
tế. Phải tổ chức nền giáo dục của nước như một “hệ mở”, “mở” ngay trong quá trình đào
tạo giữa các trường ở trong nước và “mở” đối với sự giao lưu cạnh tranh khu vực và quốc tế
mà trước tiên cần phải “mở” trong cách quản lý, công khai qua mạng internet để cộng đồng
theo dõi và đánh giá công việc.
Bất cứ một mô hình giáo dục nào cũng phải có những mục tiêu cao hơn về chất. Đó
cũng chính là những mục tiêu của sự chuyển đổi (Transformation) các hệ thống giáo dục
trong những năm đầu của thế kỉ 21.
GD và QLGD cần phải thích ứng với những thay đổi nhanh chóng trong khoa học và
kĩ thuật. Dự báo cần đưa ra những quan điểm, nội dung định hướng về những vấn đề, sự
kiện được quan sát trong tương lai và do đó, còn được gọi là mô hình tiên nghiệm (a priori).
Sự phát triển khoa học - kỹ thuật đã tạo ra những thay đổi trong hoạt động nghề nghiệp và
cuộc sống thường ngày. Thế hệ trẻ phải có trình độ cao hơn so với những gì họ được các
trường phổ thông, các trường nghề và các trường đại học truyền thụ từ trước đến nay.
Hiện nay xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế và sự thay đổi của kinh tế đã và sẽ tác động
tới giáo dục và đòi hỏi chiến lược phát triển giáo dục phải gắn bó chặt chẽ và đáp ứng các
yêu cầu phát triển kinh tế xã hội ở thế kỉ 21. Nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao cho
thế kỉ 21 là nhu cầu chung mang tính toàn cầu, đòi hỏi phải có những thay đổi cơ bản và
toàn diện về nội dung và phương thức giáo dục, đào tạo, nhằm chuẩn bị cho các công dân sự
sẵn sàng tham dự vào các hoạt động và lao động ở một thế giới ngày càng biến đổi.
- Yêu cầu của giáo dục thế kỷ 21 phải là giáo dục vì sự phát triển bền vững, sự phát
triển bền vững của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia và của cả thế giới. Yêu cầu
Giáo dục vì sự phát triển bền vững đã quy định các mục tiêu và các nguyên tắc giáo dục
nhấn mạnh tới việc xây dựng những chiến lược và kế hoạch cụ thể cho việc phát triển giáo
dục ở thế kỉ 21, đó là phải cải cách quyết liệt về nội dung và phương pháp giáo dục áp dụng
đa phương tiện (Multimedia), cùng với việc tăng cường cơ hội tiếp cận công nghệ thông tin
trong dạy học và trong quản lý.
• Nhấn mạnh vai trò của cán bộ quản lý và giáo viên; chú trọng cải tiến công tác đào
tạo huấn luyện cán bộ, giáo viên, cải tiến hệ thống khuyến khích vật chất cho giáo viên.
• Huy động cao sự hỗ trợ của các thành phần kinh tế quốc dân và quốc tế cho giáo dục
U* Xác định vấn đề chiến lược:
và quản lý giáo dục, tăng cường sự phân bổ ngân sách nhà nước cho GD.
Theo Mintzberg (1987), một tổ chức cần phải có chiến lược bởi vì chiến lược cho
phép: xác lập định hướng dài hạn; tập trung các nỗ lực vào việc thực hiện các nhiệm vụ để
đạt được mục tiêu mong muốn; xác định phương thức tổ chức và hành động; xây dựng tính
vững chắc và hài hòa của tổ chức.
+ Xác lập định hướng: vai trò cơ bản của chiến lược là xác định một hướng đi, một
con đường để hướng tới các mục tiêu đã định. Theo quan điểm này, nếu chiến lược tốt, các
doanh nghiệp trong quá trình thực hiện chiến lược có thể vấp phải một số những sai sót, khó
khăn nhất định nhưng vẫn có thể đạt được các mục tiêu đã định. Vấn đề cơ bản của chiến
lược là “nghĩ cho sâu” và “nhìn cho thấu”. Tính ngẫu nhiên mà chúng ta thường quan niệm
là sự “may mắn” chỉ là thứ yếu. “Làm đúng việc” (do the right things) có ý nghĩa quan
trọng hơn rất nhiều so với “làm việc đúng” (do things right). Bên cạnh đó, không phải luôn
luôn cần thiết nhìn xa về phía trước mà phải nhìn cho thấu, tiến những bước ngắn để còn có
đủ thời gian để phản ứng trước những biến động của môi trường.
+ Tập trung các nỗ lực: chiến lược giúp tập trung các nỗ lực và tăng cường sự liên kết
các hoạt động. Nếu không có chiến lược, tổ chức chỉ là sự tập hợp các cá nhân, mỗi người
sẽ tiến hành công việc và tự thực hiện nhiệm vụ theo cách riêng của mình. Nhưng vấn đề cơ
bản của tổ chức là việc xử lý công việc một cách tập thể và cách thức để liên kết các hoạt
động cá nhân là chiến lược. Trên cơ sở định hướng đề ra, một chính sách hợp lý đối với một
tổ chức là xác định được cái mà mỗi thành viên trong tổ chức cần phải làm và cách thức làm
việc kết hợp để đạt được hiệu quả cao nhất.
+ Xác định phương thức tổ chức và hành động; xây dựng tính vững chắc và hài hòa
của tổ chức: chiến lược không chỉ nhằm định hướng sự hoạt động của các cá nhân trong tổ
chức vào các mục tiêu đã định mà cần phải tạo cho tổ chức một giá trị cá biệt, một ý nghĩa
riêng về sự hiện diện của tổ chức đối với các thành viên bên trong cũng như các nhân tố bên
ngoài. Với tính chất là một kế hoạch hay một mô hình, và đặc biệt là một vị trí hay một triển
vọng, chiến lược là cần thiết để xác định đặc điểm, chỉ rõ tính chất về sự tồn tại cũng như
tiền đồ của tổ chức; giúp các thành viên hiểu rõ vai trò, ý nghĩa của tổ chức và sự khác biệt
2T* Tầm nhìn2T: là cái mà nhà quản lý muốn tổ chức của họ sẽ trở thành hay nói cách khác
với các tổ chức.
đó là giấc mơ của nhà quản lý. Một tầm nhìn cần phải rõ ràng và súc tích để mọi người đều
2T* Chiến lược2T: Cái mà nhà quản lý sẽ làm để đạt ước mơ của mình, là một hay nhiều kế
hiểu được và có lòng tin
hoạch mà nhà quản lý sẽ theo đó để biến giấc mơ, hoài bão của mình thành hiện thực. Một
chiến lược cần nhìn sâu, xem xét tình hình nội bộ của tổ chức nhưng cũng cần hướng ra môi
trường xã hội bên ngoài. Chiến lược của nhà quản lý là phải xem xét tất cả những vấn đề
trên và tìm ra giải pháp xử lý tốt những câu hỏi đó sao cho đúng với tầm nhìn của nhà quản
lý (Đảm bảo tầm nhìn của nhà quản lý đi đúng hướng). Kế hoạch chiến lược cần phải được
2T* Sách lược2T: Phương thức, cách thức những hành động cụ thể và thời điểm nhà quản lý
kiểm tra thường xuyên.
sẽ hoàn thành chiến lược, thực hiện kế hoạch đề ra. Khi nhà quản lý biết rằng tầm nhìn của
họ là gì, họ có thể phát triển chiến lược của mình. Sau khi quyết định chọn một chiến lược,
họ có thể phát triển tiếp những sách lược để hoàn thành chiến lược đó. Sách lược của nhà
quản lý là hành động hay chuỗi các hành động cụ thể và lịch trình mà họ sẽ sử dụng để biến
chiến lược thành hiện thực. Nếu nhà quản lý có khá nhiều chiến lược, họ sẽ phải có những
sách lược khác nhau cho mỗi chiến lược ấy.
Đối với tầm nhìn, chiến lược và sách lược, nhà quản lý cần phải có chút gì đó vừa
mềm dẻo vừa cứng rắn. Hãy giữ vững giấc mơ, tầm nhìn của mình, đừng để những thay đổi
của ngoại cảnh đánh gục. Tầm nhìn của nhà quản lý phải là một mỏ neo vững chắc có thể
níu giữ được mọi thứ còn lại với nhau. Chiến lược là kế hoạch dài hạn, nên nhà quản lý cần
phải thay đổi theo những biến đổi nội và ngoại cảnh, nhưng chỉ nên thay đổi chiến lược sau
khi đã cân nhắc kỹ lưỡng, khi nào có một chiến lược mới thay thế tốt hơn thì hãy thay đổi
nó. Và sách lược là điều dễ thay đổi nhất, nếu sách lược nào đó không còn hiệu quả thì tốt
nhất là nên điều chỉnh và tìm kiếm một sách lược mới.
Tầm nhìn, chiến lược và sách lược là những yếu tố rất cần thiết trong quản lý. Trước
tiên hãy phát triển tầm nhìn và giữ lấy nó. Sau đó phát triển chiến lược để hoàn thành tầm
nhìn ấy và thay đổi nó nếu gặp phải những yếu tố biến đổi nội ngoại cảnh. Cuối cùng hãy
phát triển những sách lược mềm dẻo giúp nhà quản lý tiến lên phía trước, biến chiến lược
của mình thành hiện thực.
Trong thời buổi không chắc chắn, tính phức tạp tăng cao và những thay đổi diễn ra
nhanh chóng, các nhà quản lý phải đối mặt với nhiều thách thức tác động đến sự ổn định của
tổ chức, thành công của tổ chức phụ thuộc hoàn toàn vào các chỉ đạo, quyết định và hành
động chiến lược. Để tạo ra "lộ trình" Uchiến lượcU để nâng hiệu quả lên mức cao hơn cần phải:
Tận dụng tài năng của nhà quản lý hiện tại; phối hợp giữa các cấp, các ban ngành đoàn thể;
lôi cuốn sự tham gia của tất cả các đối tượng, toàn xã hội.
3.2.2. Tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp
Để tìm hiểu tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất để việc quản
lý GDMN qua mạng internet đạt được hiệu quả cao nhất và phát huy được tối đa ưu thế của
internet trong việc đổi mới quản lý, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và có kết quả sau:
3.2.2.1. Tính cấp thiết của các biện pháp
Tính cấp thiết của các biện pháp
70.0 60.0 50.0 40.0 30.0 20.0 10.0 0.0
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10 11 12 13 14 15 16 17
Rất cần thiết Cần thiết
Không cần thiết
Biểu đồ 3.1. Tính cấp thiết của các biện pháp.
Cần thiết
Rất cần thiết
Không cần thiết
SL % 206 41.1 264 52.7 31
SL % SL % 6.2
Nhóm biện pháp tác động vào nhận thức
189 37.7 278 55.5 34
6.8
218 43.5 267 53.3 16 282 56.3 205 40.9 14
3.2 2.8
310 61.9 180 35.9 11
2.2
Nhóm biện pháp tăng cường các chức năng QLý
159 31.7 288 57.5 54 10.8 9.0 233 46.5 223 44.5 45
1. Ban hành các văn bản chỉ đạo 2. Tổ chức tập huấn, quán triệt chủ trương, chính sách 3. QL công tác báo cáo theo kế hoạch 4. Tăng cường bồi dưỡng trình độ tin học 5. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị 6. Tăng cường kiểm tra, giám sát 7. Quan tâm đến hiệu quả trong quản lý 8. Chú trọng chất lượng quản lý
251 50.1 228 45.5 22
4.4
Nhóm biện pháp đổi mới công tác quản lý các nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài lực)
Nhóm biện pháp tạo động lực
7.0 243 48.5 223 44.5 35 237 47.3 230 45.9 34 6.8 205 40.9 224 44.7 72 14.4
286 57.1 203 40.5 12
2.4
Nhóm biện pháp quản lý sự phối hợp: tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa:
Nhóm biện pháp quản lý sự thay đổi
9. Động viên, khuyến khích 10. Khen thưởng, nêu gương 11. Giới thiệu điển hình 12. P.GDMN Sở Tổ MN các đơn vị GD 13. Các cấp có liên quan 14. Tăng cường công tác dự báo 15. Xác định rõ các vấn đề chiến lược 16. Khuyến khích sự thay đổi 17. Xác định lộ trình thay đổi bền vững
207 41.3 258 51.5 36 172 34.3 310 61.9 19 209 41.7 265 52.9 27 170 33.9 296 59.1 35 180 35.9 292 58.3 29
7.2 3.8 5.4 7.0 5.8
Ở mức độ rất cần thiết, chiếm tỷ lệ cao nhất là nội dung số 5 (tăng cường đầu tư cơ sở
vật chất, trang thiết bị) với 61.9%, tiếp đến là nội dung số 12 (tăng cường phối hợp chặt chẽ
giữa P.GDMN Sở Tổ MN các đơn vị GD) với 57.1%, và tiếp đó là nội dung số 4
(tăng cường bồi dưỡng trình độ tin học) với 56.3%.
Ở mức độ cần thiết, chiếm tỷ lệ cao nhất là nội dung số 14 (tăng cường công tác dự
báo) với 61.9%, tiếp đến là nội dung số 16 (khuyến khích sự thay đổi) với 59.1%, và sau đó
là nội dung số 17 (xác định lộ trình thay đổi bền vững) với 58.3%.
Ở mức độ không cần thiết, chiếm tỷ lệ cao nhất là nội dung số 11 (giới thiệu điển hình)
với 14.4%, kế đến là nội dung số 6 (tăng cường kiểm tra, giám sát) với 10.8%, sau đó là nội
dung số 7 (quan tâm đến hiệu quả trong quản lý) với 9.0%.
Khả thi
1. Ban hành các văn bản chỉ đạo
Rất khả thi SL % 174 34.7 295 58.9 32
Không khả thi SL % SL % 6.4
Nhóm biện pháp tác động vào nhận thức
165 32.9 298 59.5 38
7.6
177 35.3 304 60.7 20
4.0
233 46.5 255 50.9 13
2.6
Nhóm biện pháp tăng cường các chức năng QLý
252 50.3 227 45.3 22
4.4
2. Tổ chức tập huấn, quán triệt chủ trương, chính sách 3. Quản lý công tác báo cáo theo kế hoạch 4. Tăng cường bồi dưỡng trình độ tin học 5. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị 6. Tăng cường kiểm tra, giám sát 7. Quan tâm đến hiệu quả trong quản lý
134 26.7 305 60.9 62 12.4 9.4 178 35.5 276 55.1 47
8. Chú trọng chất lượng quản lý
190 37.9 287 57.3 24
4.8
Nhóm biện pháp đổi mới công tác QL các nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài lực)
Nhóm biện pháp tạo động lực
9. Động viên, khuyến khích 10. Khen thưởng, nêu gương 11. Giới thiệu điển hình
7.2 235 46.9 230 45.9 36 225 44.9 239 47.7 37 7.4 168 33.5 258 51.5 75 15.0
ở
229 45.7 259 51.7 13
2.6
12. P.GDMN S đơn vị GD
Nhóm biện pháp quản lý sự phối hợp: tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa:
Nhóm biện pháp quản lý sự thay đổi
13. Các cấp có liên quan 14. Tăng cường công tác dự báo 15. Xác định rõ các vấn đề chiến lược 16. Khuyến khích sự thay đổi 17. Xác định lộ trình thay đổi bền vững
161 32.1 291 58.1 49 135 26.9 349 69.7 17 170 33.9 306 61.1 25 149 29.7 321 64.1 31 135 26.9 335 66.9 31
9.8 3.4 5.0 6.2 6.2
3.2.2.2. Tính khả thi của các biện pháp
Tính khả thi của các biện pháp
80.0
60.0
40.0
20.0
0.0
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10 11 12 13 14 15 16 17
Rất khả thi
Khả thi
Không khả thi
Bảng 3.2. và biểu đồ 3.2. Tính khả thi của các biện pháp.
Ở mức độ rất khả thi, chiếm tỷ lệ cao nhất là nội dung số 5 (tăng cường đầu tư cơ sở
vật chất, trang thiết bị) với 50.3%, tiếp đến là nội dung số 4 (tăng cường bồi dưỡng trình độ
tin học) với 46.5%, sau đó là nội dung số 9 (động viên, khuyến khích) với 46.9%.
Ở mức độ khả thi, chiếm tỷ lệ cao nhất là nội dung số 14 (tăng cường công tác dự báo)
với 69.7%, tiếp đến là nội dung số 17 (xác định lộ trình thay đổi bền vững) với 66.9%, và
sau đó là nội dung số 16 (khuyến khích sự thay đổi) với 64.1%.
Ở mức độ không khả thi, chiếm tỷ lệ cao nhất là nội dung số 11 (giới thiệu điển hình)
với 15.0%, tiếp đến là nội dung số 6 (tăng cường kiểm tra, giám sát) với 12.4%, và sau đó là
nội dung số 13 (các cấp có liên quan) với 9.8%.
Như vậy, để đạt được hiệu quả cao trong công tác quản lý GDMN qua mạng
internet, trước tiên cần quán triệt các quan điểm, chủ trương, tư tưởng chỉ đạo trong tiến
trình cải cách hành chính nhà nước, ứng dụng CNTT trong cải cách hành chính; đào tạo cán
bộ, bồi dưỡng cán bộ - công chức quản lý hành chính cả về lý luận chính trị, phẩm chất đạo
đức lẫn trình độ chuyên môn, năng lực, trình độ tin học, kỹ năng điều hành thực tiễn. Cần
thực hiện từ cơ sở, theo dõi liên tục, đánh giá và chấn chỉnh kịp thời trong quá trình thực
hiện.
Phải có lộ trình triển khai các giải pháp để nâng cao trình độ CNTT cho cán bộ giáo
viên. Trước hết, làm cho mọi cán bộ quản lý, giáo viên thấy được tác dụng to lớn của
CNTT, từ đó có nhu cầu ứng dụng CNTT trong công việc. Lộ trình này cần có sự tư vấn của
các chuyên gia CNTT, có sự đồng thuận của mọi công chức viên chức và phải đưa vào tiêu
chí này vào đánh giá thi đua. Những cán bộ giáo viên ứng dụng CNTT có hiệu quả cần được
động viên, khuyến khích thông qua những chính sách như khen thưởng, tặng danh hiệu thi
đua.
Để việc ứng dụng CNTT được có hiệu quả, cần phải tổ chức biên soạn lại hệ thống
văn bản, tài liệu phục vụ quản lý theo quy chuẩn ứng dụng CNTT. Ra các văn bản quy định
về luân chuyển thông tin trong hệ thống quản lý, để việc ứng dụng CNTT dần dần đi vào nề
U Mối liên hệ giữa các biện pháp:
nếp.
Các biện pháp trên không tồn tại độc lập mà chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Mỗi biện pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, vì thế việc đề cao quá mức bất
kỳ biện pháp nào và lạm dụng nó đều rất dễ dẫn đến kém hiệu quả trong quản lý. Nhóm các
biện pháp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác quản lý GDMN
qua mạng internet có vai trò hết sức quan trọng, là tiền đề để thực hiện tốt các biện pháp
thuộc các nhóm khác. Ngược lại, các biện pháp thuộc các nhóm chức năng quản lý công tác
GDMN qua mạng internet sẽ tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, kinh phí, nhân sự trong
việc thực hiện các biện pháp nâng cao nhận thức. Những biện pháp kiểm tra – đánh giá công
tác quản lý GDMN qua mạng là những biện pháp quan trọng của người quản lý nhằm thu
nhận thông tin phản hồi để hỗ trợ hoặc điều chỉnh, chỉ đạo kịp thời, giúp đạt hiệu quả cao
trong quản lý. Ngoài ra, cần chú ý kết hợp các biện pháp như vừa tuyên truyền – thuyết
phục – giải thích; kết hợp các biện pháp hành chính quy định trách nhiệm, quyền hạn của
các chủ thể tham gia quản lý; đồng thời sử dụng các biện pháp khuyến khích vật chất, tinh
thần…
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Từ việc nghiên cứu thực trạng quản lý GDMN qua mạng internet tại TP.HCM với
những ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý – chuyên viên – giáo viên – phụ huynh, cho phép
chúng tôi đi đến những kết luận khoa học và những đề nghị sư phạm sau đây:
1. Kết luận
Giáo dục và đào tạo đóng vai trò chủ yếu trong việc gìn giữ, phát triển và truyền bá
nền văn minh nhân loại. Trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nay,
tiềm năng trí tuệ trở thành động lực chính của sự tăng tốc phát triển và giáo dục đào tạo
được coi là nhân tố quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia trên trường quốc tế và sự
thành đạt của mỗi người trong cuộc sống của mình. Chính vì vậy, chính phủ và nhân dân
các nước đánh giá cao vai trò của giáo dục....
Việc đổi mới quản lý giáo dục là điều kiện tiên quyết trong việc nâng cao chất lượng
và hiệu quả giáo dục. Muốn đổi mới quản lý thành công đòi hỏi các cấp quản lý giáo dục
phải đổi mới nhận thức về nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, thường xuyên là quản lý chất lượng
giáo dục. Triển khai việc đổi mới được tiến hành kiên quyết và đồng bộ từ việc hình thành
khung luật pháp, tăng cường năng lực đội ngũ quản lý, tổ chức bộ máy và các điều kiện cần
thiết về tài chính, nguồn lực và thông tin để đổi mới hiệu quả.
Ngày nay, khi CNTT càng phát triển thì việc ứng dụng CNTT vào các tất cả các lĩnh
vực là một điều tất yếu. Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, CNTT bước đầu đã được ứng dụng
trong công tác quản lý, giảng dạy, học tập nói chung và quản lý GDMN nói riêng. Là một
trong những trung tâm lớn về chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội của cả nước, TPHCM đang
là địa phương đi đầu về ứng dụng CNTT trong quản lý nền hành chính. Đến nay, ngành giáo
dục TPHCM nói chung và GDMN nói riêng đã đạt được một số thành công ban đầu và đã
rút ra được những bài học quý giá cho việc áp dụng thành công CNTT, trong đó các yếu tố
mang tính quyết định là: sự quyết tâm cao trong chỉ đạo của các cấp lãnh đạo Thành phố; có
chương trình mục tiêu để phát triển CNTT; sự ủng hộ của đông đảo đội ngũ cán bộ quản lý,
GV...
Công tác quản lý GDMN qua mạng internet ở TPHCM bước đầu đã có những thành
công, đạt được hiệu quả nhất định. Về kết quả nghiên cứu thực trạng cho thấy hầu hết cán
bộ quản lý đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý GDMN qua mạng
internet trong công cuộc đổi mới quản lý, hình thức / phương tiện internet được sử dụng
thường xuyên với mức độ là rất hứng thú và hứng thú cao, dần dần sẽ thay thế cho hình thức
quản lý bằng văn bản (phương tiện / hình thức bưu điện) vì hình thức này không còn phổ
biến và phù hợp trong thời đại kỹ thuật số. Quản lý GDMN qua mạng internet mang đến rất
nhiều hiệu quả trong quản lý: giúp cho tất cả các thông tin được cập nhật nhanh chóng, các
thông tin của đơn vị được công khai với cộng đồng. Sự công khai thông tin làm cho cộng
đồng đánh giá được đơn vị, làm cho đơn vị thân thiện với cộng đồng. Với ưu điểm có thể
xem thông tin vào những thời gian khác nhau, ở những địa điểm khác nhau, giúp cho công
việc quản lý trở nên chủ động hơn. Internet giúp quá trình quản lý được nhanh chóng, chính
xác, kịp thời. Nhờ internet, thông tin quản lý được truyền đi trong hệ thống quản lý hầu như
tức thì, trực tiếp không thông qua khâu trung gian nên thông tin được nắm bắt một cách
nhanh chóng, chân thực. Từ nguồn thông tin đó, người quản lý có thể xử lý thông tin quản
lý kịp thời và chính xác, giúp cho những quyết định quản lý sát với thực tế đang diễn ra,
giúp cho quyết định quản lý có hiệu quả hơn. Quản lý bằng internet giúp công việc quản lý
hứng thú hơn, nhẹ nhàng hơn.
Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tiễn hiện nay, việc quản lý GDMN qua mạng internet
vẫn chưa được phát huy mạnh mẽ; việc phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin chưa
được chuẩn bị kịp thời cả về số lượng và chất lượng, viễn thông và internet chưa thuận lợi,
chưa đáp ứng các yêu cầu về tốc độ, chất lượng cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông
tin; đầu tư cho công nghệ thông tin chưa đủ mức cần thiết; quản lý nhà nước về lĩnh vực này
vẫn phân tán và chưa hiệu quả, UD CNTT ở một số nơi còn hình thức, chưa thiết thực và
còn lãng phí. Bên cạnh đó, việc ứng dụng CNTT trong GDMN vẫn còn không ít khó khăn là
vì ở vài nơi, việc xác định tầm quan trọng của CNTT trong GDMN của các cấp ngành còn
chưa được quan tâm đúng mức. Việc đầu tư kinh phí để xây dựng phòng ốc, mua sắm trang
thiết bị máy tính và các phụ kiện như máy in, máy chiếu, đường truyền internet... là rất khó
khăn. Với GVMN, giờ làm việc trên lớp chiếm hầu hết thời gian trong ngày ảnh hưởng tới
việc tìm hiểu, nghiên cứu, sáng tạo, tìm kiếm thông tin qua mạng. Một số giáo viên đã quen
với cách làm "thủ công" dẫn đến "sức ì" đáng kể trong việc tiếp cận, làm quen với các
phương tiện hiện đại...
Do đó, để nâng cao hiệu quả quản lý GDMN qua mạng internet, có thể sử dụng các
nhóm biện pháp sau:
+ Nhóm biện pháp tác động vào nhận thức.
+ Nhóm biện pháp tăng cường các chức năng quản lý.
+ Nhóm biện pháp đổi mới công tác QL các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài
lực).
+ Nhóm biện pháp tạo động lực.
+ Nhóm biện pháp quản lý sự phối hợp.
UTóm lại:U lý luận về quản lý đã xác định khoa quản lý là một nghề, là một khoa học,
+ Nhóm biện pháp quản lý sự thay đổi.
đồng thời là một nghệ thuật. Việc ứng dụng CNTT nói chung và việc quản lý GDMN qua
mạng internet nói riêng không làm cho công tác quản lý mất đi tính nghệ thuật, mất tính
sáng tạo vốn có của nó. Việc ứng dụng CNTT vào quản lý không thể thay thế vai trò của
con người. Năng lực của con người vẫn là là yếu tố quyết định. Hiệu suất quản lý sẽ tăng lên
gấp bội nếu ứng dụng CNTT vào công tác này một cách hợp lý. Hiệu quả của việc ứng dụng
CNTT vào quản lý phụ thuộc vào nhận thức và thái độ của lãnh đạo. Từ có nhận thức đúng
về CNTT thì sẽ có hành động đúng. Ở cấp quản lý vĩ mô, hành động đúng thì sẽ tác động
mạnh đến hệ thống còn lại.
Qua kết quả nghiên cứu thực trạng ở trên, cần phát huy những thuận lợi, ưu điểm mà
công tác quản lý GDMN qua mạng internet ở TPHCM đã đạt được, đồng thời cần phải khẩn
trương khắc phục những hạn chế còn tồn đọng, đồng thời vận dung linh hoạt hệ thống các
nhóm biện pháp đã được khảo sát ở trên để công tác quản lý GDMN qua mạng internet
được thành công hơn, đạt hiệu quả cao hơn nữa.
2. Kiến nghị
Trong thời gian tới, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, việc ứng dụng
CNTT vào quản lý sẽ ngày càng được đẩy mạnh hơn nữa. Do đó, rất cần sự đổi mới cách
thức quản lý nói chung và quản lý GDMN nói riêng. Chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin
trong trường MN là cơ hội tốt để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho CB - GV -
CNV, giúp đội ngũ thực hiện thành công mục tiêu chăm sóc trẻ và thực hiện thành công
công tác quản lý GDMN.
Để nâng cao hiệu quả chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin đội ngũ cán bộ quản lý
cần có sự đầu tư tập trung, phù hợp với nhu cầu của đội ngũ và điều kiện cơ sở vật chất của
nhà trường, đây là cơ hội tốt để phát huy tính tích cực, nâng cao trình độ của đội ngũ.
Để đạt được hiệu quả cao trong công tác quản lý GDMN qua mạng internet, ngành
GDMN nói riêng và ngành GD thành phố Hồ Chí Minh nói chung rất mong nhận được sự
góp sức của toàn xã hội, của lãnh đạo các cấp, cụ thể:
- Với Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo: cần hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp
qui về quản lý qua mạng internet; có chế độ đặc biệt cho thành phố về các chương trình dạy
học, hỗ trợ thành phố các chương trình quản lý, hội họp trực tuyến (Video conference). Bộ
GD&ĐT cần ban hành văn bản quản lý, chỉ đạo cụ thể về ứng dụng CNTT trong GDMN,
tạo điều kiện để địa phương làm căn cứ tham mưu với UBND các cấp trong việc đầu tư kinh
phí, hỗ trợ triển khai chương trình, đề án của cơ sở; có chính sách hỗ trợ kinh phí, máy tính
phục vụ ứng dụng CNTT; tập huấn, nâng cao trình độ tin học, hướng dẫn lựa chọn và khai
thác sử dụng phần mềm quản lý trường mầm non, phần mềm kế toán và các phần mềm phục
vụ cho việc chăm sóc, giáo dục trẻ; biên soạn tài liệu phù hợp với cấp học và trình độ của
cán bộ quản lý và giáo viên mầm non; tổ chức các hội thảo ứng dụng CNTT để các trường
có dịp giao lưu, học hỏi kinh nghiệm; tổ chức tham quan, học hỏi kinh nghiệm của các đơn
vị điển hình về ứng dụng CNTT trong GDMN...
- Với lãnh đạo thành phố: có chế độ cho kỹ thuật viên phòng máy và cán bộ thông tin
của đơn vị mầm non. Ưu tiên cho ngành giáo dục những chỉ tiêu về đào tạo công nghệ thông
tin, về thiết bị công nghệ thông tin, về nhân sự CNTT.
- Với gia đình, phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội: đổi mới sự nghiệp giáo
dục và đào tạo nói chung và đổi mới quản lý giáo dục nói riêng là vấn đề khó khăn, phức tạp
nếu chúng ta không bắt đầu từ đổi mới tư duy, thống nhất quan điểm từ ba môi trường giáo
dục. Vì vậy kiến nghị các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội của thành phố hỗ trợ
ngành giáo dục trong việc tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong toàn xã hội về chủ trương
đổi mới (quản lý) giáo dục nhằm làm cho mọi người dân đều nhận thức đúng và tham gia
vào công cuộc đổi mới (quản lý) giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo
dục cho con em nhân dân thành phố. Đối với quí phụ huynh học sinh, kiến nghị gia đình,
phụ huynh quan tâm chia sẻ, hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhà trường ứng dụng thành công
CNTT vào QL.
- Các công ty tin học dành cho giáo dục những chương trình, dự án tăng cường năng
lực CNTT cho ngành.
* Bên cạnh đó, cần phải:
- Nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp, các cơ sở giáo dục và đào tạo và toàn xã
hội (đặc biệt là CBQL) về công tác ứng dụng CNTT (cụ thể là internet) vào quản lý nói
chung và vào quản lý GDMN nói riêng.
- Các ngành, các cấp, các cơ sở giáo dục và đào tạo triển khai lập kế hoạch dài hạn và
kế hoạch hàng năm, tổ chức triển khai thực hiện, tiến hành kiểm tra, đánh giá. Mỗi cấp quản
lý, mỗi cơ sở giáo dục và đào tạo đều có một cán bộ lãnh đạo chịu trách nhiệm, có một bộ
phận chức năng làm đầu mối quản lý về lĩnh vực ứng dụng CNTT.
- Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích ứng dụng CNTT vào quản lý.
- Huy động tối đa các nguồn lực cho ứng dụng và phát triển CNTT, khuyến khích mọi
thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào công nghệ thông tin - truyền thông; tăng cường hợp
tác quốc tế, sử dụng có hiệu quả các nguồn viện trợ quốc tế, vốn vay quốc tế phục vụ cho
đào tạo, nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin.
- Hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi, ưu đãi
cho ứng dụng và phát triển CNTT. Xây dựng quy chế quản lý chặt chẽ và có hiệu quả các
dự án CNTT.
- Tăng cường đổi mới công tác quản lý Nhà nước, sớm kiện toàn hệ thống cơ quan
quản lý về CNTT và viễn thông để thống nhất quản lý Nhà nước về lĩnh vực này.
- Đầu tư cơ sở vật chất như trang bị máy tính đến từng trường, từng giáo viên; cần lưu
ý việc đầu tư cơ sở vật chất cho CNTT phải phù hợp năng lực và trình độ CNTT hiện có của
cán bộ giáo viên. Trong thực tế, việc trang bị khá nhiều thiết bị CNTT đắt tiền nhưng hiệu
quả thấp, gây lãng phí cho ngân sách của đơn vị. Việc trang bị cơ sở vật chất cần có sự
tương xứng với trình độ nhân lực sử dụng, nhu cầu sử dụng của đơn vị.
- Phủ mạng internet toàn thành phố, đảm bảo chất lượng mạng ổn định, tốc độ truy cập
nhanh.
- Tiếp tục phổ cập, bồi dưỡng trình độ tin học cho CB GV thành phố, mở các lớp tin
học từ cơ bản đến nâng cao; khuyến khích GV học tin học; có hình thức khen thưởng động
viên khi học và làm tốt, tổ chức dự giờ bằng hình thức trực tuyến...; bồi dưỡng GV cốt cán
về CNTT trong các nhà trường để hướng dẫn, giúp đỡ đồng nghiệp trong việc UD CNTT.
Chú trọng hình thức đào tạo, bồi dưỡng tại chỗ, vừa học vừa thực hành ngay trên công việc
của mình.
- Hoàn chỉnh trang web GDMN; đầu tư suy nghĩ các văn bản, thông báo, biểu mẫu báo
cáo sao cho đơn giản, thuận lợi đối với cơ sở và đảm bảo đáp ứng yêu cầu của cấp trên…
- Phòng GDMN phối hợp Trung tâm thông tin và chương trình giáo dục đảm bảo vận
hành liên tục, an toàn hệ thống website của Sở, tăng cường tốc độ đường truyền, nâng cao
khả năng vận hành của hệ thống mạng GD, sử dụng công nghệ mới, tăng cường hệ thống
bảo mật, lưu trữ, tích hợp hệ thống SREM của Bộ vào hệ thống website của Sở để nâng cao
hiệu quả quản lý chỉ đạo ngành; bổ sung chức năng quản lý các đơn vị qua website của đơn
vị. Xây dựng các trang web báo cáo trực tuyến (báo cáo nhanh, sơ kết, tổng kết...), cập nhật
thông tin trên web kịp thời, chính xác, tạo điều kiện để các đơn vị đưa thông tin về hoạt
động chuyên môn và phong trào, đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin trong ngành. Phát triển
tài nguyên dạy học, xây dựng kho tư liệu dạy học...
- Phối hợp với các đơn vị để nắm bắt nhu cầu, điều chỉnh mức độ UDCNTT phù hợp
để xây dựng các sản phẩm CNTT thiết thực phục vụ lợi ích của đông đảo đội ngũ CB GV
CNV, phụ huynh, học sinh toàn thành phố.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, GV cốt cán làm nòng cốt trong việc tiếp cận và triển khai
ứng dụng CNTT trong quản lý GDMN...
- Triển khai kế hoạch thực hiện ứng dụng CNTT trong GDMN ngay từ đầu năm học,
phân công người hướng dẫn trực tiếp, phân công GV giỏi vi tính và một số trường MN có
điều kiện hỗ trợ giúp đồng nghiệp và trường khác.
- Thực hiện ưu đãi đầu tư phát triển công nghệ thông tin - truyền thông theo quy định
của Chính phủ. Xây dựng, ban hành các quy định cụ thể về ưu đãi đầu tư phù hợp với điều
kiện của thành phố và đúng theo luật pháp chung.
- Nâng cao hiệu lực thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực sản xuất và ứng
dụng phần mềm.
- Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực quản lý về công nghệ
thông tin - truyền thông.
- Xây dựng đồng bộ hệ thống thông tin quản lý hành chính tại các quận -huyện và sở -
ngành.
- Xây dựng và nâng cấp kiến trúc công nghệ thông tin, viễn thông của toàn thành phố,
đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trên mạng.
- Nghiên cứu và phát triển các dịch vụ trực tuyến phục vụ giáo dục, y tế, thương mại,
giải trí và phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử (e-banking).
- Tập trung đầu tư, áp dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến, phát triển hạ tầng viễn thông,
internet đáp ứng nhu cầu phát triển.
- Phát triển mạng cáp quang, cung cấp các dịch vụ cáp quang đến từng hộ gia đình.
Khuyến khích phát triển hạ tầng đảm bảo cung cấp dịch vụ 3 trong 1 (điện thoại, truyền
hình và internet).
- Tăng cường công tác kiểm tra và quản lý chất lượng dịch vụ, mạng viễn thông và
internet cũng như kiểm tra việc thực hiện công tác quản lý nói chung và quản lý GDMN qua
mạng internet.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vân Anh, Kinh tế TPHCM: Tăng trưởng đi vào chiều sâu, 2Ttài liệu internet2T.
2. Vân Anh, TPHCM: Tăng trưởng GDP có thể đạt 12%, 2Ttài liệu internet2T.
3. Đỗ Bá, Kinh tế tiếp tục đà phục hồi và phát triển, 2Ttài liệu internet2T.
4. Báo cáo tổng kết năm học 2006 - 2007 và triển khai phương hướng nhiệm vụ GDMN
năm học 2007 – 2008, Sở GD&ĐT TP.HCM.
5. Báo cáo tổng kết năm học 2007 - 2008 và triển khai phương hướng nhiệm vụ GDMN
năm học 2008 – 2009, Sở GD&ĐT TP.HCM.
6. Báo cáo tổng kết năm học 2008 - 2009 và triển khai phương hướng nhiệm vụ GDMN
năm học 2009 – 2010, Sở GD&ĐT TP.HCM.
7. Báo cáo tổng kết năm học 2009 - 2010 và triển khai phương hướng nhiệm vụ trọng tâm
năm học 2010 – 2011, Sở GD&ĐT TP.HCM.
4TCác con số ấn tượng về kết nối mạng giáo dục của Viettel và năm học ứng dụng CNTT,
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo đứng đầu về chỉ số ứng dụng CNTT - năm 2007, internet.
9.
tài liệu internet.
10. Chỉ thị 58-CT/TW, ngày 17 tháng 10 năm 2000, Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển
công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
11. Chỉ thị 40-CT/TW, ngày 15 tháng 6 năm 2004, Xây dựng - nâng cao chất lượng đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
12. Chỉ thị 07/CT-BBCVT, ngày 28 tháng 07 năm 2006, Triển khai Luật Công nghệ thông
tin.
13. Chỉ thị 39/2007/CT-BGDĐT, ngày 31 tháng 7 năm 2007, Nhiệm vụ trọng tâm của giáo
dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và các trường, khoa sư
phạm trong năm học 2007-2008.
14. Chỉ thị 27/2007/CT-TTg, ngày 29 tháng 11 năm 2007, Chấn chỉnh việc thực hiện chế
độ thông tin, báo cáo trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.
15. Chỉ thị 55/2008/CT-BGDĐT, ngày 30/9/2008, Tăng cường giảng dạy - đào tạo và ứng
dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012.
16. Chỉ thị 34/2008/CT-TTg, ngày 03 tháng 12 năm 2008, Tăng cường sử dụng hệ thống
thư điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước và triển khai năm học đẩy mạnh
ứng dụng công nghệ thông tin.
17. Chỉ thị 07/2008/CT-BTTTT, ngày 30 tháng 12 năm 2008, Đẩy mạnh sử dụng phần
mềm mã nguồn mở trong hoạt động của cơ quan, tổ chức nhà nước.
18. Chỉ thị 4899/CT-BGDĐT, ngày 04 tháng 8 năm 2009, Nhiệm vụ trọng tâm của giáo
dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục chuyên nghiệp
năm học 2009 – 2010.
19. Thành Chung, Ba bước đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, 2Ttài
liệu internet2T.
20. Chiến lược GDMN từ năm 1998 đến năm 2020, Bộ GD&ĐT, NXB Hà Nội.
21. Chương trình tổng thể cải cách hành chính của chính phủ giai đoạn 2001-2010, Giáo
trình thực hành kiến thức và kỹ năng chung về máy tính.
22. Nguyễn Quốc Cường (2001), Internet working với TCP/IP, NXB GD.
23. Nguyễn Đăng Dung (1996), Hướng dẫn soạn thảo văn bản (những thủ tục hành chính
cần cho mọi công dân), NXB TPHCM.
24. Vũ Dũng (2006), Giáo trình Tâm lý học quản lý, NXB ĐHSP.
25. Dự án Hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục (Suport to the Renovation of Education
Management), Bộ Tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học.
26. Dự án xây dựng mạng intranet Sở GD&ĐT TP.HCM năm 2001.
27. Vũ Cao Đàm (2003), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB KHKT HN
28. Tô Xuân Giáp (1998), Phương tiện dạy học, NXB Giáo dục.
29. Nguyễn Hạnh (2001), Sử dụng Fax Email Internet ở Việt Nam, NXB Cà Mau.
30. Bùi Minh Hiền, Quản lý giáo dục, NXB Đại học Sư phạm.
31. Học viện quản lý giáo dục (2008), Tài liệu tập huấn nâng cao tin học trong quản lý
giáo dục mầm non, Bộ giáo dục và đào tạo, lưu hành nội bộ.
32. Học viện quản lý giáo dục (2008), Tài liệu tập huấn tin học trong quản lý giáo dục
mầm non, Bộ giáo dục và đào tạo, lưu hành nội bộ.
33. Học viện quản lý giáo dục (2009), Tài liệu tập huấn nâng cao năng lực quản lý thực
hiện chương trình giáo dục mầm non thí điểm, Bộ giáo dục và đào tạo, lưu hành nội bộ.
34. Nguyễn Văn Hộ (2007), Dự báo phát triển giáo dục, Đại học Thái Nguyên.
35. Hội nghị tổng kết năm học 2006 - 2007 và triển khai phương hướng nhiệm vụ năm học
2007 – 2008, Sở GD&ĐT TP.HCM.
36. Hội nghị tổng kết năm học 2007 - 2008 và triển khai phương hướng nhiệm vụ năm học
2008 – 2009, Sở GD&ĐT TP.HCM.
37. Hội nghị tổng kết năm học 2008 - 2009 và triển khai nhiệm vụ GDMN năm học 2009-
2010, Vụ GDMN.
38. Kế hoạch công tác năm học 2006 – 2007, Sở GD&ĐT TP.HCM.
39. Kế hoạch công tác năm học 2007 – 2008, Sở GD&ĐT TP.HCM.
40. Kế hoạch công tác năm học 2008 – 2009, Sở GD&ĐT TP.HCM.
41. Thái Khang - Hiệu quả đưa Net về trường: Không thể đo bằng tiền, 2TICTnews.
42. Hồ Văn Liên (2007), Quản lý giáo dục, lưu hành nội bộ.
43. Khổng Loan, Nga giảm biên chế lập chính phủ điện tử, tài liệu internet.
44. Trần Thị Thu Mai (2009), Tâm lý học quản lý, lưu hành nội bộ.
45. Một số văn bản về quản lý GDMN ban hành năm 2008, Bộ GD&ĐT.
46. Những sự kiện tiêu biểu của ngành GDĐT năm 2009, 2Ttài liệu internet2T.
47. Nghị định 64/2007/NĐ-CP, ngày 10/4/2007, UD CNTT trong hoạt động của cơ quan
nhà nước.
48. Nghị định số 102/2009/NĐ-CP, ngày 6 tháng 11 năm 2009, Quản lý đầu tư ứng dụng
CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
49. Hiếu Nguyễn, Hội nghị tổng kết 5 năm ứng dụng CNTT trong GDMN: Ứng dụng
CNTT tăng hiệu quả quản lý, chất lượng GDMN, tài liệu internet.
50. Hoàng Phê (chủ biên) (1997), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.
51. Ngô Đình Qua (2005), Phương pháp NCKH giáo dục, ĐHSP TPHCM.
52. Nguyễn Hữu Quốc (2007), Quản lý dự án, lưu hành nội bộ.
53. Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg, ngày 25 tháng 7 năm 2001, Triển khai Đề án "Tin
học hoá quản lý hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 - 2005".
54. Quyết định số 95/2002/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 7 năm 2002, Phê duyệt Kế hoạch tổng
thể về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam đến năm 2005.
55. Quyết định số 176/2002/QĐ-TTg, ngày 03 tháng 12 năm 2002, Thành lập BCĐ
Chương trình hành động triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ Chính trị.
56. Quyết định số 119/2003/QĐ-TTg, ngày 11/06/2003, Phê duyệt kế hoạch tổng thể ứng
dụng công nghệ thông tin ngành tài chính đến năm 2010.
57. Quyết định số 235/2004/QĐ-TTg, ngày 2/3/2004, Phê duyệt Dự án tổng thể về Ứng
dụng và phát triển phần mềm nguồn mở ở Việt Nam giai đoạn 2004-2008.
58. Quyết định số 331/QĐ-TTg, ngày 06 tháng 4 năm 2004, Phê duyệt chương trình phát
triển nguồn nhân lực về CNTT từ nay đến năm 2010.
59. Quyết định số 3382/QĐ-BGD&ĐT-GDMN, ngày 5/7/2006, Phê duyệt dự án "Ứng
dụng CNTT trong Giáo dục Mầm non" giai đoạn 2006-2010.
60. Quyết định số 145/2007/QĐ-UBND, ngày 28/12/2007, Phê duyệt chương trình phát
triển công nghệ thông tin – truyền thông TP.HCM giai đoạn 2007-2010.
61. Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg, ngày 24 tháng 3 năm 2008, Phê duyệt Kế hoạch ứng
dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2008.
62. . Quyết định số 20/2008/QĐ-BTTTT, ngày 09 tháng 04 năm 2008, Ban hành Danh mục
tiêu chuẩn về ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước.
63. Quyết định số 803/QĐ-VPCP, ngày 09-06-2008, Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Tin học.
64. Quyết định số 698/QĐ-TTg, ngày 1/6/2009, Phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển
nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
65. Quyết định số 04/2010/QĐ-UBND, ngày 18/01/2010, Ban hành kế hoạch chỉ đạo, điều
hành phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách thành phố, chương trình công tác của
UBND TP năm 2010.
66. Sự thay đổi phương thức quản lý trong nền kinh tế tri thức, 2Ttài liệu internet.
67. Tài liệu hội nghị tổng kết công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường tại
TP.HCM năm học 2007 – 2008, lưu hành nội bộ.
68. Tài liệu hội thảo ứng dụng công nghệ thông tin trong GDMN tại quận 10 - lưu hành
nội bộ.
69. Tài liệu hướng dẫn báo cáo số liệu GDMN qua mạng internet - lưu hành nội bộ.
70. Tài liệu hướng dẫn cài đặt và sử dụng chương trình quản lý cán bộ, giáo viên ngành
giáo dục và đào tạo (PMIS) 2008, lưu hành nội bộ.
71. Tài liệu hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2006-2007, NXB Giáo dục.
72. Tài liệu hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2007-2008, NXB Giáo dục.
73. Tài liệu hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2008-2009, NXB Giáo dục.
74. Tài liệu hướng dẫn sử dụng trang web Sở, trang web GDMN - lưu hành nội bộ.
75. Tài liệu triển khai công tác ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong các
trường phổ thông tại TP.HCM năm học 2008-2009, lưu hành nội bộ.
76. Tài liệu triển khai thư điện tử Bộ Giáo dục và đào tạo và sử dụng trang web giáo dục
quận huyện 2008, lưu hành nội bộ.
77. Nguyễn Thụy, 6 tháng đầu năm 2010 GDP trên địa bàn TP tăng 11%, 2Ttài liệu internet2T.
78. Trở ngại trong ứng dụng CNTT vào quản lý hành chính, tài liệu internet.
79. Phạm Viết Vượng, Quản lý hành chính nhà nước và quản lý ngành giáo dục và đào
tạo, NXB Đại học sư phạm.
80. Văn bản số 1169/GDĐT-MN, ngày 09 tháng 6 năm 2009, Báo cáo tổng kết công tác
giáo dục mầm non năm học 2008 – 2009.
81. Văn bản số 1398/GDĐT-MN, ngày 22 tháng 6 năm 2010, Báo cáo tổng kết về ứng
dụng công nghệ thông tin trong ngành học MN năm học 2009 – 2010.
82. Văn bản số 1920/GDĐT-MN, ngày 23 tháng 8 năm 2010, Báo cáo tổng kết công tác
giáo dục mầm non năm học 2009 – 2010.

