BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Huyền Trâm HÌNH TƯỢNG RẮN

TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: T.S HỒ QUỐC HÙNG

Thành phố Hồ Chí Minh – 2010

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình khoa học trên là của riêng tôi. Các kết quả đưa ra trong

luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào.

Tác giả luận văn PHẠM HUYỀN TRÂM

LỜI CẢM ƠN

Để có được những thành quả như ngày hôm nay, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành

nhất đến những người đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.

Đặc biệt để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình

và vô cùng chu đáo từ phía giảng viên, TS. Hồ Quốc Hùng. Thầy đã giúp tôi định hướng,

hướng dẫn cách trình bày cũng như giảng giải thêm nhiều vấn đề khác trong suốt quá trình

thực hiện luận văn.

Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn của tôi đến các thầy cô khoa Ngữ văn,

Trường Đại học Sư Phạm Tp.Hồ Chí Minh, những người đã nhiệt tình giảng dạy và cung cấp

cho tôi những kiến thức cần thiết để tôi hoàn thành tốt khóa học và luận văn tốt nghiệp.

Ngoài ra, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, đến phòng Khoa

học Công nghệ và Sau Đại học đã tạo những điều kiện tốt nhất cho học viên cao học trong

suốt thời gian học tập tại trường.

Tp. Hồ Chí Minh, năm 2010

PHẠM HUYỀN TRÂM

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Truyện kể về rắn là một trong những nhóm truyện kể tương đối quen thuộc trong hệ

thống truyện kể dân gian Việt Nam.

Không chỉ xuất hiện trong truyện kể mà trong đời sống tín ngưỡng, tâm linh chúng ta

cũng thấy sự có mặt của hình tượng rắn; không chỉ có mặt ở một vùng mà phổ biến trên

nhiều vùng của cả nước. Vì thế mà hình tượng rắn mang trong nó những biến thể (về cấu tạo

và nội dung biểu đạt) ở mỗi vùng đất mà nó dừng chân.

Nghiên cứu truyện kể dân gian về rắn ở Việt Nam trước tiên chúng tôi muốn tìm hiểu

tính phổ quát của nó trong lĩnh vực truyện kể và đưa ra một số đặc trưng của nó ở một số

vùng miền trên cả nước. Từ đấy chỉ ra được những điểm giống và khác nhau cũng như

nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác biệt của các kiểu truyện về rắn ở một số vùng miền trên

cả nước.

Ngoài ra nghiên cứu truyện kể dân gian về rắn ở Việt Nam chúng tôi hy vọng góp

phần tìm hiểu về tín ngưỡng dân gian của người Việt trong mối tương quan với tín ngưỡng

dân gian của các dân tộc ở vùng Đông Nam Á và thế giới.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Rắn trong văn hóa dân gian là một hiện tượng khá phổ biến trên thế giới. Nó đã đi vào

cuộc sống và trở thành những biểu tượng kinh điển. Ai cũng biết đến hình tượng con rắn

khôn ngoan và hiểm độc trong Kinh thánh cũng như hình tượng con rắn mang lại sự sống

trong ngành y dược thế giới.

Ở Đông Nam Á, hình tượng rắn cũng được nhắc đến qua các truyện kể dân gian của

người Thái Lan, người Lào và đặc biệt là hình tượng rắn Naga của người Campuchia. Nằm

trong cơ tầng văn hóa chung ấy, hình tượng rắn trong văn hóa dân gian Việt Nam là một hiện

tượng không chỉ có ở một địa phương mà nó còn phổ biến rộng rãi trên khắp cả nước. Vì thế

mà từ lâu đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hình tượng rắn trong văn hóa dân gian

như bài viết: “Hình tượng rắn từ thần thoại đến truyện cổ tích” của tác giả Nguyễn Bích Hà

đăng trên tạp chí Văn hóa Dân gian, số 1, năm 1991. Mở đầu công trình này tác giả đã khẳng

định: “rắn là hình tượng khá phổ biến trong truyện cổ dân gian. Nó không chỉ có ở Việt Nam

mà còn trở thành một hệ thống hình tượng quen thuộc trong truyện cổ Đông Nam Á và thế

giới…Ở nước ta trên dọc các con sông Đà (Hà Sơn Bình), sông Hồng (vùng Hà Nội, Vĩnh

Phú), sông Lam (Nghệ Tĩnh) và quanh vùng vịnh Hạ Long đều có đền thờ rắn, giải, thuồng

luồng với hai nguồn truyện kể dân gian nổi bật: suy tôn và ca ngợi như những “vật linh

hiện” hoặc căm ghét như kẻ thù độc ác nhất. Hai nguồn truyện ấy mang hai thái độ và quan

niệm vừa đối lập vừa dung hòa nhau về hình tượng rắn”. Mặc dù không có dẫn chứng cụ thể

nhưng qua luận điểm trên, tác giả Bích Hà đã chỉ ra cho chúng ta thấy khu vực tập trung của

nguồn truyện kể dân gian về rắn ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Đồng thời dựa vào nội dung

truyện, tác giả này cũng đã chia nguồn truyện này ra thành hai loại. Việc phân loại cũng như

đánh giá thái độ của con người qua hai nguồn truyện ấy là một gợi ý giúp chúng tôi có định

hướng đúng khi nghiên cứu về hình tượng rắn ở khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Ngoài nội

dung mang tính khái quát vừa nêu, qua công trình này tác giả đã cho chúng ta cái nhìn cụ thể

về sự biến đổi của hình tượng rắn từ thần thoại đến truyện cổ tích đặc biệt là về hình tượng

rắn trong truyện Thạch Sanh. Tuy chỉ tập trung vào giải quyết các luận điểm dựa trên việc

phân tích truyện Thạch Sanh nhưng qua bài viết này, tác giả cũng đã đưa ra được ý nghĩa

cũng như sự biến nghĩa của hình tượng rắn thông qua thể loại thần thoại và truyện cổ tích.

Kết quả nghiên cứu này là một tài liệu tham khảo tốt giúp chúng tôi mở rộng nghiên cứu trên

nhiều truyện kể về rắn có cùng thể loại.

Năm 1992, trong các công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian ở Nam bộ, các nhà

nghiên cứu văn học dân gian đã đề cập đến mảng truyện kể về rắn như một chủ đề của truyện

kể dân gian về thú dữ ở Nam bộ như: công trình Văn hóa dân gian người Việt ở Nam bộ của

tác giả Thạch Phương do NXB KHXH xuất bản, bài viết Một vài thu hoạch từ những câu

chuyện truyền miệng ở mảnh đất phương Nam của tác giả Huỳnh Ngọc Trảng in chung trong

tập truyện Nghìn năm bia miệng do NXB Trẻ Tp. HCM xuất bản. Cả hai tác giả trên đều chỉ

dừng lại ở việc nêu và kể tên một số truyện kể về rắn ở Nam bộ.

Trong tuyển tập (tập 3) của Đinh Gia Khánh, nhân nói về những nét đặc thù của văn

hóa dân gian Việt Nam, ông cũng đã đề cập đến tục thờ rắn là vật tổ của các cư dân ở đồng

bằng và theo ông đó cũng là nguyên nhân dẫn đến sự phổ biến của các truyện về rắn thần ở

khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Kết quả nghiên cứu trên đã tạo cho chúng tôi một cơ sở lý

luận chắc chắn trong quá trình tìm hiểu nguyên nhân hình thành truyện kể dân gian về rắn ở

khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ.

Năm 1998, tác giả Nguyễn Bích Hà lại có một chuyên luận nghiên cứu sâu hơn về tác

phẩm Thạch Sanh. Chuyên luận này đã được NXB Giáo Dục xuất bản thành sách với nhan

đề: Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á. Nhân bàn

về truyện Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á, tác

giả đã đi vào tìm hiểu rất kĩ môtíp dũng sĩ diệt rắn ác. Và theo những tài liệu sưu tầm được,

tác giả cho thấy đây là môtíp khá phổ biến trong kiểu truyện dũng sĩ ở Việt Nam cũng như ở

Đông Nam Á. Kế thừa những thành quả nghiên cứu từ trước, tác giả cũng khẳng định “rắn

được dùng đồng nhất với khái niệm nước” - một yếu tố chi phối chặt chẽ đến đời sống của con

người thời bấy giờ. Vì thế mà con người vừa có tâm lí cầu thân, làm hòa vừa có tâm lí muốn

chống lại thiên nhiên hung dữ qua hình tượng rắn. Những kết quả nghiên cứu của tác giả về

hình tượng rắn trong môtip dũng sĩ diệt rắn ác đã gợi mở cho chúng tôi rất nhiều điều trong

quá trình thực hiện đề tài của mình.

Qua các công trình nghiên cứu của những năm 90 vừa được đề cập ở trên, chúng tôi

thấy rằng các nhà nghiên cứu đã bước đầu chú ý đến hình tượng rắn trong văn hóa dân gian

đặc biệt là trong thể loại truyện kể dân gian về rắn. Tuy nhiên, chúng tôi cũng thấy rằng hình

tượng rắn trong truyện kể dân gian chỉ được đề cập đến khi nó có liên quan đến một đề tài

khác mà các nhà nghiên cứu đang tìm hiểu. Chẳng hạn như tác giả Bích Hà là người đã nói rất

nhiều (xét trong giai đoạn này) về hình tượng rắn trong truyện kể dân gian nhưng vấn đề chính

mà tác giả này quan tâm lại là truyện Thạch Sanh và những kiểu truyện dũng sĩ ở Việt Nam và

khu vực Đông Nam Á.

Từ năm 2000 trở đi đặc biệt là vào đầu năm 2001 - năm Tân Tỵ, chúng ta thấy sự xuất

hiện khá phong phú và đa dạng của các bài viết về hình tượng rắn trong văn hóa dân gian

được đăng trên hầu hết các báo, trong đó có thể kể ra các bài viết tiêu biểu như:

“Rắn trong văn hóa dân gian – rắn trong tục ngữ” của tác giả Trần Trọng Trí, đăng

trên báo Áo Trắng, số 21 + 22, năm 2000.

“Rắn trong tục ngữ, rắn trong văn hóa dân gian” của tác giả N.K.P, đăng trên báo Bà

Rịa - Vũng Tàu, số xuân, năm 2001.

“Rắn “bò” qua ca dao” của tác giả Bảo Kiếm, đăng trên báo CAND, số xuân, 2001.

“Rắn trong thành ngữ và tục ngữ” của tác giả Nguyễn Nhân Thống, đăng trên báo

Đồng Nai, số xuân, năm 2001.

“Tục ngữ và những chuyện nghịch lý về rắn” của tác giả, đăng trên báo Long An, số

xuân, năm 2001.

“Chuyện rắn trong dân gian” của tác giả Lưu Đức Ý, đăng trên báo Đường Sắt Việt

Nam, số 477- 479, năm 2001.

Do dung lượng ngắn gọn và tính chất sưu tầm, góp vui của những bài báo Xuân nên

điểm chung của các bài viết này là đều chủ yếu dừng lại ở việc sưu tầm và bàn luận sơ lược

hình tượng rắn qua một số câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam. Tuy không đề cập đến

hình tượng rắn trong truyện kể dân gian nhưng qua hướng nghiên cứu này, chúng ta cũng

thấy được hình tượng rắn trong văn học dân gian Việt Nam là một hiện tượng phổ biến và

quen thuộc.

Cũng nằm trong số những bài viết chào xuân Tân Tỵ, bài viết “Rắn trong huyền thoại

và văn chương” của tác giả Chu Minh Thụy, đăng trên báo Văn Nghệ, số xuân, năm 2001 lại

cho ta một cái nhìn rộng lớn hơn về hình tượng rắn trên thế giới. Đây chỉ là một bài viết

mang tính chất tổng hợp tài liệu của tác giả với con rắn từ Tây sang Đông và điểm cuối cùng

của hành trình là Việt Nam. Ở Việt Nam, tác giả này đã nói về hình tượng rắn qua truyền

thuyết vườn Lệ Chi. Tuy chỉ mang tính liệt kê nhưng tác giả này bước đầu đã có sự so sánh

khi đặt hình tượng rắn trong văn hóa Việt Nam trong tương quan với hình tượng rắn trong

văn hóa thế giới đặc biệt là hình tượng rắn ác trong truyện kể dân gian về rắn.

Đi sâu vào nguồn gốc lịch sử của biểu tượng rắn ở Việt Nam, tác giả Dương khuê

trong bài viết “Rắn trong biểu tượng dân gian”, đăng trên website:

http://www.thuvienhaiphu.com.vn cho rằng rắn là biểu tượng văn hóa được thiêng liêng hóa

thành biểu tượng rồng và “xu hướng tôn vinh, linh thiêng hóa rắn trong tiềm thức lịch sử văn

hóa, cho phép chúng ta phán đoán, khẳng định rắn là tổ họ, là gốc, là tiền thân của rồng”.

Theo tác giả rắn là biểu tượng của thần sông nước, là vật tổ và rắn có khi là biểu tượng cho

Trong bài viết “Rắn trong tâm thức người Việt” , đăng trên tạp chí Tem, số 46, năm

điều thiện, nhưng nhiều khi rắn là biểu tượng cho điều ác.

2001, tác giả C.Q.T đã khẳng định rằng “con rắn đi vào đời sống văn hóa của rất nhiều nước,

với vị thế những vị thần khởi nguyên. Trong đó Việt Nam được xem là một mảnh đất mầu

mỡ ”. Để chứng minh cho điều đó, tác giả bài viết đã cho thấy sự xuất hiện của hình tượng

rắn từ thời vua Hùng thứ nhất khi vua bảo thần dân xăm hình giao long để khi xuống nuớc,

thuồng luồng nhận là đồng loại mà không làm hại hay hình tượng rắn trong các thuyền rắn

nước trên mặt trống đồng và thạp đồng của văn hóa Đông Sơn. Rắn còn xuất hiện trong các

đền thờ Mẫu của các cư dân ven sông Bắc bộ và trong nghệ thuật tạo hình xưa. Chính vì vậy,

tác giả khẳng định trong văn hóa Việt Nam, rắn luôn chiếm vị trí trang nghiêm trong tâm

thức dân tộc.

Tuy cũng là những bài báo Xuân nhưng các tác giả Dương Khuê và C.Q.T đã khá dày

công trong việc thu thập và phân tích các tài liệu. Tác giả Dương Khuê và C.Q.T lại đi vào

tìm hiểu nguồn gốc lịch sử của biểu tượng rắn trong văn hóa Việt Nam. Từ những dữ kiện

đưa ra, hai tác giả này cũng đồng thời khẳng định vị trí quan trọng của rắn trong tâm thức

dân tộc. Theo chúng tôi, đây là những bài viết ngắn nhưng có chất lượng.

Trong các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian của người Việt, các tác giả

cũng đề cập đến hình tượng rắn, có thể kể ra một số công trình nghiên cứu sau:

Bài viết “Rắn Nagaraja trong tín ngưỡng văn hóa khơme Nam bộ” của tác giả Thiện

Chí, đăng trên báo Bạc Liêu, số xuân, năm 2001.

Bài viết “Truyền thuyết về rắn Naga trong văn hóa khơme” của tác giả Phan Anh Tú,

đăng trên Thông Báo Khoa Học, số 5, năm 2004.

Công trình nghiên cứu “Tục thờ các vị thần sông nước” đăng trên website:

http://www.hanam.gov.vn. (2004)

Bài viết “Mối quan hệ tương tác về văn hóa phi vật thể giữa văn hóa các dân tộc anh

em và văn hóa người Việt” đăng trên tạp chí Di Sản, Số 4(13), năm 2005

Công trình nghiên cứu “Phụng thờ thủy thần ở Linh Đàm (Hà Nội)” của tác giả Việt

Hương, đăng trên tạp chí Di Sản, số 2, năm 2005.

Bài viết “Thần bí lễ hội rắn ở làng Lệ Mật”, đăng trên website:

http://www.vietnam.net. (2005)

Bài viết “Một biểu thị tiếp biến văn hóa đặc thù của người Việt”, đăng trên tạp chí

Văn Hóa Nghệ Thuật, số 10, năm 2005.

Trong các bài viết này, rắn và tín ngưỡng thờ rắn của dân tộc Việt Nam đã được các

tác giả tập trung tìm hiểu. Chúng tôi cũng thấy rằng đã có sự phân biệt giữa tín ngưỡng thờ

rắn của người Kinh và tín ngưỡng thờ rắn của các dân tộc anh em trong các công trình

nghiên cứu. Việc nghiên cứu và khẳng định rắn là linh vật trong tín ngưỡng thờ thủy thần

của các bài viết đã giúp chúng tôi có thêm cơ sở dữ liệu khi nghiên cứu những truyện kể dân

gian về rắn có liên quan trực tiếp đến tín ngưỡng thờ rắn.

Nhìn chung các bài viết về hình tượng rắn trong văn hóa Việt Nam từ năm 2000 đến

năm 2005 đều không liên quan trực tiếp đến đề tài mà chúng tôi đang nghiên cứu. Tuy nhiên

chính sự xuất hiện của hình tượng rắn qua các thể loại khác của văn học dân gian cũng như

các lĩnh vực khác của đời sống sẽ là cơ sở để chúng tôi khảo sát sự chuyển đổi các ý nghĩa

biểu đạt của hình tượng rắn trong các thể loại của truyện kể dân gian.

Nhìn lại lịch sử nghiên cứu hình tượng rắn trong văn hóa cũng như văn học dân gian ở

Việt Nam, chúng tôi thấy rằng, rắn là một biểu tượng văn hóa được các nhà nghiên cứu chú ý

đến từ rất lâu. Mỗi bài viết ở trên là một cái nhìn rất riêng về hiện tượng này. Đó chính là cơ

sở gợi mở cho chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về hình tượng rắn trong văn hóa dân gian Việt

Nam. Vì thế, dựa trên cơ sở những công trình đã nghiên cứu, luận văn của chúng tôi sẽ bổ

sung một cái nhìn cụ thể và hệ thống hơn về hình tượng rắn trong văn hóa Việt đó là: hình

tượng rắn trong truyện kể dân gian Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những truyện kể dân gian về rắn ở Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những truyện kể dân gian về rắn trong hệ thống truyện kể dân

gian ở Việt Nam. Cụ thể, ở mỗi vùng miền thuộc phạm vi nghiên cứu (Bắc bộ, Bắc Trung

bộ, Tây Nguyên và Tây Nam bộ), chúng tôi sẽ chọn ra những truyện kể về rắn có tính phổ

biến và đặc trưng cho vùng miền ấy để nghiên cứu. Do đó, sẽ có một số truyện kể về rắn của

một số vùng miền không được đề cập đến trong luận văn. Cụ thể là vùng Tây Bắc, vùng

đồng bằng ở miền Trung bộ. Trong quá trình khảo sát và tìm tư liệu ở hai vùng này, chúng

tôi cũng thấy xuất hiện một số truyện kể về rắn nhưng số lượng không nhiều và nội dung

không đặc trưng vì thế chúng tôi không chọn Tây Bắc và đồng bằng Trung bộ là đối tượng

khảo sát của luận văn.

Tính đặc trưng và phổ biến của các truyện được chúng tôi chọn dựa trên các tiêu chí

sau:

- Tính phổ biến của nội dung truyện trên vùng khảo sát.

- Sự xuất hiện thường xuyên của một hay vài môtíp trong các truyện.

- Nội dung truyện gắn với văn hóa cũng như phong tục tập quán của địa phương.

Ví dụ: ở miền Bắc và Bắc Trung bộ, chúng tôi sẽ tìm hiểu nhóm truyện về rắn trong

đó có liên quan đến một trong các nội dung sau:

- Hình tượng rắn gắn liền với tục thờ thủy thần.

- Hình tượng rắn gắn liền với cuộc đấu tranh trị rắn ác của nhân dân.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp tổng hợp

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp liên ngành

Trong các phương pháp nghiên cứu trên, chúng tôi tập trung sử dụng phương pháp so

sánh và phương pháp liên ngành nhằm nêu bật điểm tương đồng và dị biệt của các kiểu

truyện rắn ở các vùng miền trên cả nước.

5. Tư liệu nghiên cứu

- Các truyện kể dân gian về rắn ở các vùng miền khác nhau trên cả nước.

+ Những truyện kể về rắn ở khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ được sử dụng trong luận

văn chủ yếu được chúng tôi trích ra từ các tài liệu sau: Tổng tập văn học dân gian người Việt

tập 5: Truyền thuyết dân gian người Việt (Kiều Thu Hoạch), Truyền thuyết các vị thần Hà

Nội (Minh Thảo, Xuân Mỹ), Truyện linh dị Việt Nam (Phạm Minh Thảo), Kho tàng truyện kể

dân gian xứ Nghệ (Ninh Viết Giao) và một phần nhỏ từ wesite: http://www.hanam.gov.vn

+ Những truyện kể về rắn của các dân tộc ít người ở khu vực miền Trung và Tây nguyên

được sử dụng trong luận văn được chúng tôi thu thập chủ yếu từ các tài liệu như: Truyện cổ

các dân tộc miền núi Bắc miền Trung (Nguyễn Hữu Chúc), Truyện cổ các dân tộc thiểu số

miền Nam (Hà Văn Thư,Võ Quang Nhơn), Sự tích Langbian : Truyện cổ các dân tộc thiểu số

Lâm Đồng (Lâm Tuyền Tĩnh ), Truyện cổ dân gian của các dân tộc Việt Nam (Viện văn học)

và một phần trong các tập truyện kể của các dân tộc ít người thuộc khu vực này như: Chăm,

Êđê, M’nông, Xêđăng…

+ Những truyện kể về rắn của khu vực Tây Nam bộ được sử dụng trong luận văn chủ yếu

được lấy từ tài liệu: Huyền thoại miệt vườn: Truyện cổ dân gian các dân tộc Nam bộ

(Nguyễn Phương Thảo), Nghìn năm bia miệng (Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc

Tường), Tử chiến với KingCôBra (Nguyễn Bá)

- Các công trình địa chí, thần tích ở các tỉnh.

+ Ở khu vực phía Bắc và Bắc Trung bộ chúng tôi dựa vào tài liệu thần tích Việt Nam

(Xuân Quang)

+ Ở khu vực Tây Nam bộ chúng tôi dựa vào các tập địa chí về các tỉnh thuộc khu vực

này do tác giả Huỳnh Minh biên soạn.

- Các công trình nghiên cứu về văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và một số

nước ở Đông Nam Á.

Chủ yếu là các bài viết được đăng trên các tạp chí như: văn học nghệ thuật, Di sản, nghiên

cứu văn học; các bài viết được đăng trên các website có uy tín như: Vietnam.net,

vanhoahoc.edu, vannghesongcuulong.org.

Trên đây, chúng tôi chỉ nêu khái quát nguồn tư liệu được sử dụng trong luận văn còn

phần tư liệu cụ thể chúng tôi sẽ miêu tả kỹ hơn ở mỗi chương.

6. Đóng góp của luận văn

Luận văn nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể về hình tượng rắn trong hệ thống

truyện kể dân gian Việt Nam. Từ đó đưa ra được những điểm đặc trưng của truyện kể dân

gian về rắn ở một số vùng miền trên cả nước. Đồng thời qua hệ thống truyện kể này, luận

văn cũng giúp cho người đọc thấy được nét văn hóa tương đồng và dị biệt của người Việt

xưa trong tương quan với nền văn hóa của một số dân tộc ở vùng Đông Nam Á.

7. Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn được chia làm 4

chương:

Chương I: Khái quát biểu tượng rắn trong văn hóa thế giới và Việt Nam

Ở chương này, chúng tôi sẽ tập trung trình bày ý nghĩa của biểu tượng rắn trong đời

sống tinh thần của nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay. Chính sự xuất hiện của biểu tượng rắn

trong các lĩnh vực của đời sống nhân dân sẽ là cơ sở cho việc khảo sát sự chuyển đổi các ý

nghĩa biểu đạt của hình tượng rắn trong các thể loại của truyện kể dân gian.

Chương II: Hình tượng rắn trong truyện kể dân gian của người Kinh ở Bắc bộ và Bắc

Trung bộ.

Ở chương này, chúng tôi chọn đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ là vùng đất đầu tiên

để khảo sát vì một trong những lý do sau:

- Bắc bộ là vùng đất định cư đầu tiên của cư dân Việt.

- Số lượng truyện kể liên quan đến đề tài của luận văn tương đối phong phú.

- Nội dung các truyện kể sưu tầm ở hai vùng trên có nhiều chủ đề tương đồng.

- Đây là những vùng đất mang đậm văn hóa truyền thống của người Việt xưa.

Ngoài việc chọn vùng để khảo sát, ở chương này, chúng tôi sẽ tập trung khảo sát cấu

tạo và các biến nghĩa của hình tượng rắn trong các thể loại của truyện kể dân gian (nếu có) ở

khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Từ những ý nghĩa có được, chúng tôi sẽ vào tìm hiểu các

môtip (nếu có) trong nhóm truyện cùng nội dung.

Do đặc điểm văn hóa vùng miền nên truyện kể về rắn ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ

thường có nhiều tên gọi khác nhau vì vậy truyện kể về rắn ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ chúng

tôi đưa ra khảo sát sẽ bao gồm luôn các truyện kể về các biến thể của rắn như: thuồng luồng,

con giải, giao long...

Chương III: Hình tượng rắn trong truyện kể dân gian của một số dân tộc ít người miền

Trung và Tây Nguyên.

Cũng dựa trên số lượng và nội dung những tài liệu thu thập được, ở chương này chúng

tôi chọn vùng miền núi Trung bộ và Tây nguyên để khảo sát. Mặt khác đây cũng là những

vùng có số lượng truyện tương đối và nội dung truyện mang đậm màu sắc văn hóa của các dân

tộc ít người Việt Nam.

Các bước tiến hành nghiên cứu ở chương này chúng tôi cũng làm tương tự như ở

chương thứ 2 nhưng song song với việc khảo sát và đưa ra nét đặc trưng của những truyện kể

ở vùng này, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh với những truyện kể ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ.

Chương IV: Hình tượng rắn trong truyện kể dân gian Nam bộ.

Ở chương này, chúng tôi chọn miền Tây Nam bộ là vùng đất cuối cùng để khảo sát vì:

- Đây là vùng đất mới có nhiều tộc người cùng sinh sống (kinh, khơme, Hoa, Chăm...)

vì thế sẽ có sự kế thừa cũng như pha trộn giữa các giá trị tinh thần.

- Những truyện kể về rắn tập trung ở vùng này mang đậm màu sắc của vùng đất mới

Nam bộ.

Trong quá trình thống kê, phân lập hình tượng rắn trong các thể loại truyện kể và một

số vùng miền tiêu biểu, luận văn sẽ tiến hành so sánh để rút ra những tương đồng và dị biệt

về cách biểu đạt cũng như tìm hiểu đời sống đích thực của nó.

NỘI DUNG

Chương một

KHÁI QUÁT BIỂU TƯỢNG RẮN TRONG VĂN HÓA

THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.1. Về khái niệm biểu tượng

Biểu tượng văn hóa là một đối tượng giữ vị trí quan trọng trong nền văn hóa của mỗi

quốc gia. Nhà văn hoá Levis Strauss đã từng nói: “Mọi nền văn hoá đều có thể xem như một

tập hợp các hệ thống biểu tượng…”[10, XIII]. Tuy nhiên, trước kia người ta thường cho biểu

tượng là những hình ảnh của trí tưởng tượng, do bịa đặt mà ra như: biểu tượng nàng tiên cá

trong văn hóa Đan Mạch, biểu tượng rồng trong văn hóa Việt Nam, Trung Hoa, biểu tượng

sư tử biển của Singapore, biểu tượng rắn Naga trong văn hóa Thái Lan, Campuchia, Lào…

Vì thế mà biểu tượng văn hóa dường như ít được gắn với văn hóa của các quốc gia.

Ngày nay, càng quan tâm tìm hiểu về văn hóa của dân tộc mình trong mối tương quan

với các dân tộc khác, người ta càng thấy rằng biểu tượng văn hóa cũng như những huyền

thoại, thần thoại, truyền thuyết… của các dân tộc có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bởi vì

khi tìm hiểu, giải mã các biểu tượng văn hóa chúng ta cũng đồng thời thấy được tư tưởng,

tình cảm, phong tục tập quán… của con người trong những cộng đồng văn hóa và lãnh thổ

xác định. Vì vậy, trước khi đi vào khảo sát sự xuất hiện của biểu tượng rắn trong văn hóa thế

giới và đặc biệt trong văn hóa Việt Nam, chúng ta không thể không liên hệ đến khái niệm

biểu tượng văn hóa.

Theo từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới thì bản chất khởi nguyên của biểu tượng là

một vật được chia làm hai nửa, mảnh sứ, gỗ hay kim loại, hai người mỗi bên giữ một nửa,

khi khớp lại sẽ nhận ra mối quan hệ cũ.

Theo từ điển Từ và ngữ Hán việt của tác giả Nguyễn Lân [20,tr.63] thì biểu tượng là:

“hình ảnh của sự vật hoặc hiện tượng nảy sinh ra trong óc khi sự vật hoặc hiện tượng đó

không còn đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta như trước”

Theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học [46,tr.88] thì biểu tượng là: “hình

ảnh sáng tạo nghệ thuật có một ý nghĩa tượng trưng trừu tượng”

Cuối cùng nói như PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà thì : Biểu tượng được hiểu như là

những hình ảnh tượng trưng, được cả cộng đồng dân tộc chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong

một thời gian dài… Nó chính là cái nhìn thấy được mang một kí hiệu dẫn ta đến một cái khó

có thể nhìn thấy được nhưng nếu đã là biểu tượng chắc chắn nó đại diện cho các khía cạnh

bản chất nào đó của văn hóa cộng đồng [67].

* Một số đặc điểm của biểu tượng

Từ những nội hàm của từ điển được xác định trên, có thể rút ra mấy đặc điểm sau:

- Biểu tượng phải được hình thành trong quá trình lâu dài.

Biểu tượng được hiểu như là những hình ảnh tượng trưng, được cả cộng đồng dân tộc

chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong một quá trình lâu dài.

- Biểu tượng có tính ước lệ.

Biểu tượng luôn mang tính quan niệm, bởi nó bắt nguồn từ tư duy hình tượng. Nó có

nhiều cấp độ xâm nhập với cái được biểu trưng, các cấp độ đó phản ánh trình độ tư duy và

quan niệm nghệ thuật của con người. Biểu tượng là cảm quan, nhận thức của con người được

lắng đọng, kết tinh, chắt lọc trong quá trình sống. Do đó biểu tượng không những không bị

phai mờ qua thời gian mà ngược lại càng khắc sâu hơn vào tâm khảm con người.

Biểu tượng cổ nhất và đơn giản nhất bao giờ cũng gần với thực tế. Chẳng hạn, rắn là

con vật biểu tượng cho nước, giữa con rắn biểu tượng và con rắn trong thực tế không khác

nhau. Tuy nhiên, theo thời gian và không gian, biểu tượng dần được mỹ hóa, trừu tượng hóa

và cái được biểu trưng ban đầu sẽ mờ đi, nhiều lớp nghĩa mới xuất hiện. Khi cái được biểu

trưng xa rời quy ước ban đầu đó, nó mở đường cho sự hình dung và giải thích chủ quan, bay

bổng của con người.

- Biểu tượng có tính bền vững, ổn định.

Tính bền vững, ổn định là điều kiện không thể thiếu để hình thành nên biểu tượng. Bởi

vì nếu nó luôn thay đổi, nó sẽ không còn mang tính biểu tượng nữa, bởi giữa cái biểu tượng

và cái được biểu tượng không thay đổi hoặc ít thay đổi thì sự khám phá mới có ý nghĩa. Tuy

nhiên, việc giải nghĩa biểu tượng không phải là một thao tác đơn giản có thể giải quyết trong

một lần. Vì biểu tượng không chỉ có một lớp nghĩa mà biểu tượng luôn mang trong nó biết

bao suy tư, thăng trầm của cuộc sống con người.

Biểu tượng sống là biểu tượng còn tiếp tục được giải mã, phân tích, khám phá các lớp

nghĩa bên trong của nó. Sự khám phá đó khiến biểu tượng gợi cảm đến bất tận. Biểu tượng

chết là khi người ta đã lí giải được toàn bộ ý nghĩa của nó, nó trở nên dễ hiểu, được sử dụng

theo một số nghĩa nhất định nào đó và không còn được người ta dày công khám phá nữa.

Tóm lại, giải mã các biểu tượng là việc làm có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc

nghiên cứu, tìm hiểu các nền văn hóa trên thế giới. Kết quả của việc giải mã sẽ giúp ta bóc

tách được các lớp lịch sử che phủ lên biểu tượng đồng thời thấy được trình độ tư duy và quan

niệm nghệ thuật của con người qua từng giai đoạn lịch sử.

1.2. Biểu tượng rắn trong văn hóa thế giới

Rắn là một con vật thường gây cho con người nhiều sự sợ hãi cũng như trí tò mò nhất.

Chính vì vậy không riêng gì ở Việt Nam mà hầu như ở các quốc gia trên thế giới, rắn luôn là

đối tượng để mọi người “bàn luận”.

Một nhà phân tâm học từng nói: “Rắn là một con vật có xương sống luôn hiện thân

cho tâm hồn hội đẳng, cho cái tâm tăm tối, cho cái không bình thường, khó hiểu, huyền bí”

[10,tr.762]. Trong lời phát biểu của mình, tác giả này vừa khẳng định nhưng đồng thời ông

cũng phủ định, ông vừa cho rằng rắn là xấu xa nhưng ngay sau đó ông lại cho rằng rắn cũng

có phần khó hiểu, huyền bí.

Cũng cùng với quan điểm đó, Kito giáo vừa cho rắn là một loài vật xấu, độc ác như

quỷ Satan, khi Chúa dùng hình ảnh con rắn để ám chỉ những biệt phái và những luật sĩ cứng

lòng không tiếp nhận lời giảng của Ngài: “Hỡi loài rắn độc kia, các ngươi thoát khỏi ánh

lửa hỏa ngục làm sao được?”

Nhưng ở chỗ khác Giêsu lại dùng hình ảnh con rắn để ví với bản thân mình và ông

khuyên dạy con người: “Hãy khôn ngoan như con rắn”.

Còn trong Phật Giáo, con rắn Naga được xem như đệ tử trung thành cuộn thân làm

bảo tọa cho Đức Phật ngồi nhập định bên sông thiền đồng thời vươn cao mang bành làm tán

che mưa cho Đức Phật chống lại sự tấn công hung hẵn của Ma vương nhằm phá đổ khoảnh

khắc quyết định trên bước đường chứng ngộ của Đức Phật.

Với người Hy Lạp cổ đại, rắn được xem là “người” đem lại sự sống, “người” khởi

xướng… Vai trò khởi xướng của rắn được thể hiện rất rõ trong các huyền thoại về các nghi

lễ liên quan đến lịch sử và trong việc thờ cúng 2 vị thần lớn của thi ca, âm nhạc, y học và

nhất là của thuật bói toán. (thần Apollo và Dionysos). Ngoài ra theo phong tục dân gian của

Hy Lạp, người ta thường rưới sữa lên các nấm mộ cho các linh hồn đã chết nhằm giúp họ

được hóa kiếp thành rắn.

Còn đối với người Do Thái cổ, rắn là bản thân đại dương, khi uống nước nó tạo nên

thủy triều, khi vùng vẫy nó gây ra bão. Rắn là thần của nước khởi nguyên, là thần của tất cả

các loại nước.

Ở Châu Phi, người ta cũng xem rắn vị thần của nước khi cho rằng cầu vồng là con rắn

đang uống nước biển, vì thế mà trong lúc hạn hán hoặc mưa nhiều người ta thường cầu khẩn

rắn. Và theo Krappe thì ý tưởng cho rằng cầu vồng là một con rắn đang uống nước biển là

một ý tưởng phổ biến có thể tìm thấy ở người da đỏ ở vùng Nevada, người broro ở Nam Mỹ,

ở Pháp, sebillot, Nam Phi và Ấn Độ.

Với nhân dân Ấn Độ, rắn Ananta là “kẻ nâng và bảo đảm sự ổn định của thế giới”

[10,tr.763]. Vì vậy mà họ thường đóng một chiếc cọc vào đầu con Naga nằm dưới mặt đất,

tại vị trí mà thầy phong thủy xác định khi muốn xây nhà. Còn trong tiếng Arập, ý nghĩa của

từ rắn - elhayyal là ý tưởng về sự sống - elhayat.

Vài phác họa trên cho thấy biểu tượng rắn bao giờ cũng có hai mặt. Tùy theo văn hóa

từng dân tộc và hoàn cảnh cụ thể để sử dụng đặc tính của nó cho phù hợp.

Ngoài những ý nghĩa trên thì biểu tượng rắn còn xuất hiện với ý nghĩa về giới tính.

Trong đạo Mật tông, rắn Kundalini là biểu trưng cho dục năng và sự sống “nó dùng miệng

mà ngậm bít đầu dương vật lại. Khi thức dậy, rắn rít lên và cứng người lại và liên tiếp leo

lên các luân xa: đấy là dục năng dâng lên, là sự sống tái hiện” [10,tr.763]. Ở Châu Á và

Châu Mỹ, thời kỳ đồ đá rắn được xem là có tính lưỡng trị trong giới tính. Tính lưỡng trị của

nó được bộc lộ ở chỗ nó vừa là tử cung vừa là dương vật. Người ta còn cho rằng nguồn gốc

của các kỳ hành kinh ở phụ nữ là do quan hệ của bà Eva với rắn. Ở một số nước Châu Âu

như Đức, Pháp, Bồ Đào Nha, phụ nữ một số vùng rất sợ rắn chui vào mồm lúc họ đang ngủ

bởi nó sẽ làm cho họ có thai khi đang kỳ hành kinh. Quan niệm về giới tính của biểu tượng

rắn cũng có ở Ấn Độ, để có con những người phụ nữ Ấn Độ phải nhận một con rắn hổ mang

làm con nuôi. Còn người Tupi ở Braxin, để một người phụ nữ vô sinh trở thành mắn đẻ

người ta sẽ cầm một con rắn quật vào háng người phụ nữ vô sinh.

Đối với các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, xuất phát từ tín ngưỡng bản địa cộng

với sự ảnh hưởng của các tôn giáo Ấn Độ, rắn thường được linh thiêng hóa và tôn thờ như

những vị thần. Thần rắn Naga được xem là người bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân.

Vì vậy mà trong kiến trúc Phật giáo nguyên thủy (Therevada) tại Đông Nam Á, rắn Naga

thường được trang trí trên các mái chùa ngụ ý xua đuổi tà ma và bảo vệ các ngôi chùa tránh

khỏi hỏa hoạn. Theo thần thoại, Naga là vị thần mưa nên có thể phun nước dập lửa. Rắn

Naga trong văn hóa của người Khmer là một hình tượng khá phổ biến, hình tượng này hiện

diện trong văn hóa Khmer có lẽ từ trước khi văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng đến vùng đất này vì

người Khmer vốn có tín ngưỡng bản địa thờ rắn. Truyền thuyết lập quốc của người Khmer

cũng đã kể lại sự kết hợp giữa đạo Bàlamôn và văn hóa bản địa (tín ngưỡng thờ rắn) như sau:

Một người Bàlamôn tên là Kaudinya đến vùng Đông Nam Á. Ông ta mang theo một

ngọn lao nhận được của một vị Bàla môn cao đạo nhất. Ông ta vung tay ném ngọn lao vào

vùng đất lạ. Ngọn lao ấy bay vút cao và rơi xuống cắm vào một địa điểm. Điểm ấy được

chọn làm kinh đô nước Phù Nam.

Sau đó, ông ta lấy một nàng công chúa bản địa làm vợ. Nàng tên là Soma, là con gái

vua rắn thần Naga.Và hai người tạo lập nên dòng dõi những người làm vua nước Phù Nam

[8,tr.14 -15] .

Người Khmer, người Chăm và hầu hết các tộc người chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ

đều có truyền thuyết lập quốc gần tương tự nhau như vậy. Vào thế kỷ 14, tại Thái Lan vị vua

đầu tiên của triều đại Sukhothai đã hợp thức hóa việc lên ngôi của mình cũng bằng cách tự

cho mình thuộc dòng dõi của một thủ lĩnh Thái và một nàng Nagini (nàng tiên rắn).

Người Khmer tin rằng chính Kaudinya đã truyền cho họ những bí quyết về nghề trồng

lúa và công việc thủy lợi. Còn các vị vua Khmer sau này thì được tin là đã giao phối với một

Nagini xinh đẹp để duy trì dòng dõi hoàng gia. Trong tác phẩm Chân Lạp phong thổ kí (dẫn

theo Đinh Gia Khánh), tác giả Châu Đạt Quan viết rằng: “hàng đêm quốc vương đều có đến

ngủ với một nàng tiên rắn…”.

Trong mỗi triều đại, các vị vua Khmer đều cho xây dựng các cung điện và các đền thờ

khổng lồ bằng đá, mà rắn Naga được xem là vị thần canh giữ nơi thiêng liêng đó, vì vậy

chúng luôn xuất hiện trên cầu thang, trên các lối đi, trên ngưỡng cửa hoặc trên các mái tháp

để xua đuổi tà ma.

Ở Lào, người ta thường thêu trên thổ cẩm của mình một đôi rắn đang cuộn vào nhau

bởi vì theo họ chỉ có người may mắn mới có thể nhìn thấy đôi rắn cuộn mình vào nhau. Ngay

khi nhìn thấy thế, người này nên cởi áo của mình ra và ném vào đôi rắn rồi đợi đến khi

chúng bò đi chỗ khác sau đó người này nên mang chiếc áo đó về nhà và vắt lên người mình.

Khi có một người con trai nào trong gia đình đó sắp đến tuổi lập gia đình, anh ta sẽ mặc

chiếc áo đó và chắc chắn anh ta sẽ cưới được người mình yêu, không những thế đôi uyên

ương đó sẽ được sống hạnh phúc trọn cả cuộc đời. Ngoài ra chiếc áo này còn mang may mắn

đến cho những người làm kinh doanh. Người dân tộc Lào thêu hình rắn quận mình vào nhau

với một niềm tin rằng nó sẽ mang lại may mắn [55]

Trong lòng người dân Indonesia, rắn có một vị trí rất cao và sang trọng, người dân nơi

đây tôn kính rắn giống như tôn kính thần. Rắn tượng trưng cho sự lương thiện, trí tuệ, đạo

đức và bản lĩnh. Trên đảo Bali, người dân nơi đây còn xây dựng riêng một ngôi nhà ở của

rắn giống như một ngôi chùa miếu, dùng để cúng tế, thắp hương, cầu khấn... Trong động rắn

ở phía sau nơi ở của rắn còn nuôi những bầy dơi với số lượng rất lớn, để chuyên cung cấp

thức ăn cho rắn.

Nói chung, không phải là một hiện tượng nhỏ lẻ chỉ tồn tại ở một vài nơi, ý nghĩa của

biểu tượng rắn tồn tại khắp nơi trên thế giới, gắn với từng dân tộc, từng quốc gia, rắn mang

đến cho chúng ta cái nhìn mới mẻ về giá trị mà nó biểu đạt.

1.3. Biểu tượng rắn trong văn hóa dân gian Việt Nam

Trở về biểu tượng rắn trong văn hóa Việt Nam mà cụ thể là trong văn hóa dân gian.

Có lẽ ấn tượng đầu tiên của người Việt Nam (ngày nay) khi nhắc đến con rắn là sự sợ hãi.

Rắn dường như chỉ được nhìn theo chiều hướng tiêu cực. Tuy nhiên tìm hiểu trong văn hóa

dân gian của dân tộc ta mới thấy rằng “con rắn” không chỉ mang ý nghĩa xấu mà có một thời

gian khá dài, rắn đã được tôn thờ như một vị thần linh và được nâng lên thành biểu tượng

văn hóa trong khát vọng cầu cho mưa thuận, gió hòa, cuộc sống tốt tươi.

Trước hết, chúng tôi xin nói về biểu tượng tiêu cực. Trong lời ăn tiếng nói của người

xưa, hình tượng rắn thường xuyên xuất hiện với ý nghĩa tiêu cực. Dường như cha ông ta đã

tập trung tất cả những cái xấu ở đời để gán cho rắn.

Để chỉ những người “bề ngoài thơn thớt nói cười” mà bên trong nguy hiểm giết người

không dao cha ông ta nói “khẩu phật tâm xà”. Rồi đề nhắc những người hiền lành coi chừng

làm ơn mắc oán, bị kẻ xấu đổ vạ, cha ông ta lại nhắc khéo: “rắn đổ nọc cho lươn” hay “ấp

rắn trong lòng”.

Để chê bai những kẻ hay bày ra những thứ râu ria phức tạp, vô ích, người xưa dè bỉu:

khéo “vẽ rắn thêm chân”. Rồi tới những chỗ nguy hiểm phải tránh xa người ta lai nhắc nhở

nhau “hang hùm miệng rắn”.

Không chỉ nhắc nhau, người xưa còn mượn hình ảnh rắn để mỉa mai tính cách của một

số người như: “thẳng như rắn bò”, “sư hổ mang, vãi rắn rết”. Và có lẽ một câu nói về rắn

làm cho mọi người nhớ nhất đó là: “cõng rắn cắn gà nhà”. Hành động của kẻ hèn hạ đang

tâm “rước voi về giày mả tổ”, “cõng rắn về cắn gà nhà” trong câu nói này đã đưa rắn trở

thành một kẻ xấu mang tầm cỡ quốc tế.

Chúng ta thắc mắc tại sao rắn lại mang nhiều “tội danh” như vậy? Có lẽ bởi rắn có nọc

độc chết người. Ngoài ra, do đặc điểm sinh sống của rắn lúc ẩn lúc hiện nên hình tượng rắn

trong lời ăn tiếng nói của dân gian thường gắn với sự cảnh giác cao độ.

Bên cạnh cách nhận thức ấy, trong nghệ thuật tạo hình, kiến trúc, hội họa, rắn lại là

một đề tài vô cùng hấp dẫn người nghệ sĩ. Vẻ đẹp uốn lượn mềm mại của rắn, sự nhanh

nhẹn, cái lưỡi, đôi mắt, chót đuôi, những hoa văn trên thân thể… tất cả luôn làm dâng trào

cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ. Có lẽ hình ảnh cổ xưa nhất của rắn mà ngày nay người

ta thường nhắc tới ở Việt Nam đó là hình giao long được thần dân của đời vua Hùng thứ nhất

xăm lên mình để khi xuống nước thuồng luồng nhận làm đồng loại mà không làm hại. Theo

tác giả Đinh Gia Khánh thì Nhan Sư Cổ trong sách Hậu Hán thư đã viết rằng giao long là

một loài lân trùng (rắn có vảy) có bốn chân. Như vậy cả giao long, thuồng luồng đều chỉ loài

rắn có vẩy không chân hoặc có chân.

Hình ảnh rắn thường gắn liền với cuộc sống của cả cộng đồng cư dân người Việt cổ,

không chỉ trong đời sống vật chất mà cả trong đời sống tinh thần. Trên các trống đồng, thạp

đồng của văn hóa Đông Sơn xung quanh biểu tượng mặt trời người ta thấy hình những con

rắn nước đang há miệng chờ chim lửa lao vào, tượng trưng cho tín ngưỡng phồn thực (rắn

nước là âm, chim lửa là dương).

Vào thời Ngô, Đinh, Lý, Trần, Lê sơ, biểu tượng rắn trong nghệ thuật tạo hình ít được

quan tâm hơn trước. Tuy nhiên người ta vẫn tìm thấy hình ảnh của con rắn ẩn thân trong

hình tượng con rồng. Trong đó nổi bật nhất là hình tượng con rồng thời Lý – Trần.

Hình tượng con rồng Lý-Trần được thể hiện phổ biến trên chạm nổi, do thuộc loại

động vật bò sát nên nhiều khi hình chạm nổi lại như tượng tròn, chẳng hạn những tượng rồng

lớn ở cột biểu chùa Dạm, ở đáy ao Long Trì chùa Phật Tích, ở đế bia chùa Long Đọi và tháp

Chương Sơn…những tượng này, được người xưa gọi là Long xà tức rồng rắn vốn có nguồn

từ con rắn, con trăn rất phổ biến ở địa vực nước ra. Đây được xem là hình tượng nghệ thuật

thực sự Việt Nam, là sáng tạo độc đáo của cha ông ta xưa. Ta còn tìm thấy ngay trong nghệ

thuật Việt, tượng con vật lớn như trăn - rắn ở miếu cạnh đền Lê Văn Thịnh (Bắc Ninh), một

số hình chạm rắn bên cạnh hình chạm rồng ở bệ tượng Phật chùa Ngọc Khám, bệ tượng

Quan Âm Nam Hải (Bắc Ninh). Hình rồng Lý-Trần được xác định là hình tổng hợp những

yếu tố của nhiều con vật khác nhau, trong đó cơ bản là từ con rắn. Và cũng trong giai đoạn

này, trong thành Chà Bàn (thành Hoàng Đế) - kinh đô cuối cùng của vương quốc Chămpa,

được xây dựng năm 982 thuộc địa phận xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định,

người ta cũng thấy trên góc tháp Cánh Tiên cao gần 20m có tượng rắn làm bằng đá trắng, 2

voi đá và nhiều tượng quái vật. Tháp này được đánh giá là biểu tượng phong hóa Bình Định,

có niên đại hậu bán thế kỷ 11, đầu thế 12.

Sau một thời gian dài ẩn thân trong hình tượng rồng, cuối thế kỷ 16, người ta lại thấy

sự xuất hiện trở lại của hình tượng rắn trong văn hóa dân gian. Tại đình Tây Đằng, Hà Tây,

người ta đã tạc tượng một người đàn bà ngồi xổm, hai chân giang rộng, hai tay nắm lấy cổ và

đuôi rắn. Đây là một hình ảnh tượng trưng cho tín ngưỡng phồn thực, trong đó rắn được xem

là mang tính dương. Cuối thế kỷ 17, nhờ sự phát triển của nghệ thuật dân dã mà một lần nữa

người ta lại thấy sự xuất hiện của hình tượng rắn tượng trưng cho tín ngưỡng phồn thực. Ở

đình Phù Lão (Bắc Giang), người đương thời đã chạm hình một phụ nữ khỏa thân, với cái

bụng khá to, quấn quanh lưng là một con rắn lớn. Có lẽ hình ảnh này tượng trưng cho sự cầu

phúc trong tín ngưỡng phồn thực (bụng nở) khi âm (người đàn bà) dương (con rắn) giao hòa.

Có thể thấy rằng, không riêng gì ở Phương Tây mà ở Việt Nam ý nghĩa về giới tính của rắn

cũng được người xưa thể hiện khá mạnh dạn. Đến thế kỷ 18, tuy nghệ thuật dân dã không

còn phát triển nhưng đôi khi hình tượng rắn vẫn được xuất hiện ở những công trình kiến trúc

lớn của người đương thời như: ở Đền Gióng (Phù Đổng − Hà Nội), các nghệ nhân đã chạm

một đôi rắn đang chui ra từ mũi rồng. Sang thế kỷ 19, người ta lại thấy con rắn lại cuộn mình

đẹp đẽ trên chiếc cửu đỉnh thiêng liêng của vương triều Nguyễn tại Huế. Và ngày nay, người

ta vẫn còn thấy vô số hình rắn Naga được chạm khắc rất công phu trong những ngôi chùa cổ

kính của người Khơme Nam bộ.

Không chỉ xuất hiện trong lĩnh vực tạo hình, rắn còn xuất hiện trong đời sống tín

ngưỡng của dân tộc. Là một đất nước với đa phần cư dân lao động trong lĩnh vực nông

nghiệp cho nên khí hậu là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của người dân.

Chính vì điều đó mà rắn − tượng trưng cho nước là vị thần linh thiêng mang lại cuộc sống no

đủ, hạnh phúc cho con người.

Trong những đền thờ Mẫu (mẫu thiên, mẫu địa, mẫu thoải) - một tín ngưỡng gắn với

nông nghiệp, luôn có một đôi rắn gọi là Thanh xà - Bạch xà bằng vải, bò vắt trong cung thờ.

Chính vì tượng trưng cho nước nên hình ảnh rắn luôn xuất hiện trong các lễ hội liên quan

đến việc cầu nước, cầu mưa, của đại đa số các cư dân ở vùng đồng bằng Việt Nam, mà tập

trung nhất vẫn là ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ nước ta. Có thể kể ra một số lễ hội liên quan

tới rắn như: lễ hội rắn ở làng Lệ Mật - Hà Nội, lễ hội rước nước ở đình Nhật Tân - Hà Nội, lễ

hội cầu nước ở Lãnh Giang, Cửa sông - Hà Nam, lễ hội đền Tranh ở Ninh Giang - Hải

Dương, lễ hội rước thần Hang Lạng ở Xuân Sơn − Phú Thọ, lễ hội bơi bè ở Phài Lừa − Lạng

Sơn, lễ hội đua ghe ngo ở miền Tây Nam bộ,.. vv…vv

Đến với văn học dân gian đặc biệt là trong truyện cổ dân gian, biểu tượng rắn cũng

được nhắc đến với nhiều ý nghĩa. Như chủ đề rắn ác hại người trong Thạch Sanh, truyện nói

về một con xà tinh tàn ác chuyên ăn thịt người và anh chàng Thạch Sanh bằng sức khỏe, sự

mưu trí, thần thông đã ra tay diệt trừ rắn ác cứu thoát cả làng. Rắn ác còn xuất hiện trong các

truyện như Mãng Xà Vương ở Tân Bằng, sự tích suối rắn, Đền muối…Chủ đề rắn ác còn

được pha trộn giữa huyền thoại và lịch sử trong vụ án Lệ Chi Viên. Trước kia người ta cho

rằng, Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc là do con rắn báo oán. Và người vợ trẻ trung xinh đẹp

của Nguyễn Trãi, nàng Thị Lộ chính là con rắn mẹ hóa thân để trả thù cho đàn con. Tuy

nhiên ngày nay, người ta biết rằng cái chết đầy oan khuất của vị anh hùng Nguyễn Trãi có

bàn tay thêu dệt của tập đoàn phong kiến hòng lấp liếm cho tội ác đê hèn còn độc ác hơn rắn

độc của chúng.

Ngoài ý nghĩa tượng trưng cho cái ác, gắn với tín ngưỡng thờ nước của đồng bằng Bắc

bộ, trong các truyện kể dân gian rắn còn được nhắc tới với vai trò “Thủy thần”. Truyện kể về

rắn thần – thủy thần, là một trong những truyện kể phổ biến nhất ở khu vực phía Bắc Việt

Nam. Tác giả Đinh Gia Khánh cũng khẳng định sự tồn tại phổ biến của nhóm truyện này như

sau:

Nếu việc thờ chim làm vật tổ chủ yếu là tín ngưỡng của cư dân miền núi thì việc thờ

rắn làm vật tổ lại chủ yếu là tín ngưỡng của cư dân đồng bằng, đầm lầy, sông, biển. Cho đến

nay vẫn còn lưu hành những mẩu chuyện về thần rắn, về ông Cộc, ông Dài ở các khúc sông

như sông Kỳ Cùng, sông Bằng, sông Lô, sông Thao, sông Cầu, v.v. Nhưng các truyện về rắn

thần lại đặc biệt phổ biến ở đồng bằng. Dọc sông Cầu và sông Thương thuộc vùng đồng

bằng tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang có đến hơn ba trăm làng thờ hai vị thần Tam Giang (ông

Dài, ông Cộc) [18,tr.341].

Trong truyện kể dân gian ở miền Trung và Tây Nguyên, người ta còn thấy hình tượng

rắn mang một ý nghĩa khá cổ xưa của truyện cổ tích. Rắn tượng trưng cho những con người

tốt đẹp của thế giới thần linh, sau khi kết hôn với một người con gái hiền lành, tốt bụng của

thế giới loài người, rắn trở thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú… Với nội dung như vậy,

mà những kiểu truyện rắn ở đây thường đề cập đến những con người mang lốt rắn có thể kể

ra một số truyện tiêu biểu như: Chàng rắn, Chàng tiên rắn, lấy chồng rắn…

Ở đây, chúng tôi chỉ nêu lên nét tương đồng về sự hiện hữu của biểu tượng rắn trong

văn học dân gian và các hình thái nhận thức khác, còn biểu hiện cụ thể chúng tôi sẽ trình bày

ở chương sau.

Nói tóm lại, rắn trong văn hóa dân gian của người Việt là một trong những biểu tượng

khá phong phú về ý nghĩa. Cũng như quan niệm về con rắn trên thế giới, con rắn trong văn

hóa dân gian Việt Nam cũng hàm chứa cả ý nghĩa tốt lẫn ý nghĩa xấu. Mỗi khu vực và mỗi

giai đoạn lịch sử mà nó xuất hiện lại mang đến cho ta những ý nghĩa khác nhau. Nó góp phần

làm phong phú thêm thế giới biểu tượng trong văn hóa của người Việt Nam.

Trên đây, vừa khảo sát sự xuất hiện của biểu tượng rắn trong văn hóa thế giới và văn

hóa dân gian Việt Nam. Qua sự phong phú về ý nghĩa biểu đạt của biểu tượng, chúng ta thấy

rằng rắn là một biểu tượng văn hóa lâu đời và khá bền vững trong hệ thống biểu tượng văn

hóa thế giới. Mỗi quốc gia đều có những ý nghĩa riêng cho biểu tượng rắn. Tuy nhiên một ý

nghĩa tượng trưng lớn nhất bao trùm nhiều quốc gia, dân tộc, đó là rắn tượng trưng cho thủy

thần. Đối với các quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á thì ý nghĩa này lại càng đậm

đặc. Xuất phát từ môi trường tự nhiên có nhiều điểm chung hình thành nên nền văn minh lúa

nước, ở các nước như: Lào, Campuchia, Thái Lan, Inđônêxia, Mianma…nước được xem là

yếu tố vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Với sự tồn tại của nhiều hội lễ cầu

nước gắn với tín ngưỡng thờ thần nước, rắn – tượng trưng cho thủy thần được xem là vị thần

chi phối phần lớn cuộc sống của các cư dân làm nông nghiệp. Đối với Việt Nam đặt trong

tương quan với thế giới và khu vực thì biểu tượng rắn cũng mang nhiều nét nghĩa tương

đồng. Tuy nhiên, với một nền văn minh lâu đời và đậm đà bản sắc dân tộc, biểu tượng rắn

cũng được thể hiện theo những cách rất Việt Nam. Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi

sẽ làm rõ nét đặc trưng của biểu tượng rắn trong những truyện kể dân gian Việt Nam.

Chương hai

HÌNH TƯỢNG RẮN TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN

CỦA NGƯỜI VIỆT Ở BẮC BỘ VÀ BẮC TRUNG BỘ

Ở Việt Nam, theo các nhà khảo cổ, đồng bằng sông Hồng là khu vực cư trú đầu tiên và

lâu đời nhất sau khi người Việt cổ tiến hành cuộc di cư từ miền núi xuống đồng bằng. Cùng

với việc định cư ở lưu vực sông, cư dân Việt đồng thời lấy nông nghiệp là cơ sở để duy trì và

phát triển sự sống. Vì vậy mà mong ước về một năm cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu cùng

với những lo sợ về thiên tai luôn thường trực trong ý nghĩ của cư dân. Xây dựng cho mình

một đời sống tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, những người bình dân cho rằng đó chính là một

trong những kênh giao tiếp quan trọng của họ với tự nhiên để từ đó con người và tự nhiên

“thấu hiểu” nhau hơn. Và họ cho rằng kết quả của những cuộc giao lưu đó sẽ đem đến cho

họ một cuộc sống “mưa thuận gió hòa”, ấm no, hạnh phúc. Nằm trong hệ thống tín ngưỡng

đó, nước được xem là một yếu tố vô cùng quan trọng như người xưa đã đúc kết: “Nhất nước,

nhì phân, tam cần, tứ giống”. Nước quan trọng nhất nên được người dân nâng lên thành

“thủy thần”. Và con rắn với hình dạng uốn lượn như những làn nước lên xuống đã được

đồng nhất với nước. Rắn đã đi vào đời sống tín ngưỡng của người dân đồng bằng sông Hồng,

đi vào cả truyện kể dân gian ở khu vực này.

Trong những truyện kể dân gian về rắn ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung

Bộ, chúng tôi thấy hình tượng rắn xuất hiện trong nhiều thể loại như: cổ tích, thần thoại,

truyền thuyết. Tuy nhiên theo cách phân loại cũ, thì có một số truyện được phân loại chưa

hợp lý, chẳng hạn như theo tác giả Nguyễn Đổng Chi (chủ yếu dựa vào tuyển tập truyện cổ

tích do Nguyễn Đổng Chi biên soạn), chúng tôi thấy truyện Ông Cộc ông Dài, được xếp vào

thể loại cổ tích nhưng theo quan điểm hiện nay thì truyện này nên xếp vào thể loại huyền

thoại. Vì vậy, để tiện cho việc nghiên cứu, người viết mạnh dạn xếp truyện Ông Cộc ông Dài

và một số truyện có nội dung và kết cấu tương tự vào thể loại huyền thoại. Ở thể loại này,

chúng tôi thu thập được 6 truyện chính.

Trong thể loại truyền thuyết, chúng tôi thấy sự xuất hiện khá phong phú của hình

tượng rắn. Sau khi đọc và tuyển chọn, chúng tôi thu được 15 truyện về rắn thuộc thể loại

này. Xét về số lượng và nội dung truyện qua các thể loại, chúng tôi thấy rằng sự xuất hiện

của hình tượng rắn trong thể loại truyền thuyết đa dạng và phong phú hơn. Vì vậy ở chương

này chúng tôi sẽ tập trung khảo sát sự xuất hiện của hình tượng rắn qua truyền thuyết ở Bắc

Bộ và Bắc Trung Bộ.

Trong quá trình khảo sát 21 truyện đã chọn, chúng tôi thấy sự xuất hiện của hình

tượng rắn qua hai xu hướng sau:

+ Rắn được linh thiêng hóa.

+ Rắn tượng trưng cái ác hại người.

2.1. Hình tượng rắn trong nhóm truyền thuyết về thủy thần

Nét nổi bật nhất của các truyện kể về rắn ở khu vực này là thường gắn với sự linh

thiêng hóa rắn trong tín ngưỡng thờ thủy thần. Rắn thường xuất hiện như một vị thần linh

thiêng cai quản vùng sông nước, cai quản cả mùa màng. Vì vậy mà để cuộc sống no đủ, bình

yên, người dân thường lập các đền thờ rắn ở gần những con sông. Như trên đã nói thì đây

chúnh là nét tương đồng phổ biến cho các nước trong khu vực có chung nền văn minh lúa

nước.

Về truyện có nội dung linh thiêng hóa rắn chúng tôi thấy có 14 truyện. Dựa vào nội

dung truyện, chúng tôi chia nhóm 14 truyện này ra thành 2 nhóm nhỏ.

Ở nhóm nhỏ thứ nhất, chúng tôi tạm gọi là nhóm “Ông Cộc ông Dài”. Ở đây chúng tôi

không xét những truyện này như người ta từng xét nó như những dị bản của một truyện mà

chúng tôi sẽ nghiên cứu những truyện này như một kiểu truyện đặc trưng và phổ biến của

khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Nhóm này bao gồm 6 truyện sau: Bà Tăng Má, sự tích

Ghềnh Bợ, sự tích ông Cộc ông Dài ở Thác Huống − Thái Nguyên, sự tích ông Cụt ông Dài

ở Yên Thành - Nghệ An, sự tích ông Cụt ông Dài ở Nam Đàn - Nghệ An, truyền thuyết đình

làng Văn Xá (Hà Nam)

Ở nhóm nhỏ thứ hai, chúng tôi tạm gọi là “anh hùng rắn” gồm 8 truyện sau: Ông Lỗ

ông Minh, Linh Lang đại vương, Hiển công thần, Truyện nàng công chúa đời Trần, truyền

thuyết Phổ Độ Hổ Độ (Phả Lễ - Hải Phòng), Hai anh em thủy thần sinh đôi đánh giặc

Lương, truyền thuyết đền Lảnh Giang, Long thần.

Trước tiên chúng ta đi tìm hiểu nhóm truyện thứ nhất trong nội dung linh thiêng hóa rắn:

2.1.1. Nhóm truyện “Ông Cộc ông Dài”

Đây là nhóm truyện khá phổ biến ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ. Xác định về thể loại

của nhóm truyện này, như trên đã nói, trước đây, nhiều người cho rằng đây là thể loại thần

thoại vì nó giải thích nguồn gốc của vũ trụ, tự nhiên theo tư duy của người nguyên thủy. Tuy

nhiên, trong nhóm truyện này lại liên quan đến việc giải thích một số địa danh cũng như tục

thờ cúng thủy thần ở đồng bằng Bắc bộ. Vì vậy có thể xếp nó vào thể loại truyền thuyết. Để

giải quyết vấn đề này, chúng tôi dùng thuật ngữ huyền thoại (để chỉ một tổ hợp bao gồm các

thể loại: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích thần kì) để gọi những truyện kể loại này.

Truyện kể ở Thác Huống (Thái Nguyên) như sau: Một bà nhặt được 2 quả trứng.

Trứng nở ra hai con rắn. Bà đi đâu rắn cũng đi theo. Dân làng sợ hãi. Bà phải đem hai con

rắn thả xuống vực sâu. Mỗi lần sang sông, bà gọi rắn lên và rắn đưa bà sang. Khi bà qua đời,

nước dâng lên cuốn trôi thi hài của bà đi. Từ đó súc vật trong làng hay bị chết chóc, mùa

màng thất bát. Thầy phủ thủy báo là cần phải lễ thủy thần. Dân làng từ đó, cứ đến tháng 5,

tháng 7 để cầu mưa, tổ chức đua thuyền trên sông, chèo ngoằn nghèo theo các nơi mà trước

kia rắn được thả xuống để dâng lễ cho thủy thần rắn. (Dẫn theo Cao Xuân Phổ trong tạp chí

văn học nghệ thuật số 10/2005).

Trong nhóm truyện này đều có nội dung tương tự như truyện chúng tôi vừa nêu,

truyện thường xuất hiện với những nội dung chính sau:

Truyện thường mở đầu với “sự kiện” người đàn bà nhặt được trứng rắn hoặc có thai

với rắn.

Những người đàn bà được nhắc tới trong kiểu truyện này thường là những người sống

cô độc hay hiếm muộn, nghèo khổ. Trong truyện Bà Tăng Má (Tập 5, truyền thuyết Việt

Nam – Kiều Thu Hoạch tuyển chọn) thì truyện được mở đầu như sau: tại làng La Phù ở ven

sông Đà, vào đời Hùng Vương thứ 18 có một người đàn bà nghèo khổ, sống trong một cái

lều cỏ ven sông. Bà đã già mà vẫn chưa có chồng con [16,tr.179].

Trong sự tích Ghềnh Bợ thì thông tin về nơi ở của nhân vật cũng không có, chỉ biết

“Cách đây đã lâu lắm rồi, chẳng nhớ rõ là năm nào, tháng nào nữa, ở một làng nọ có một

người đàn bà góa chồng, không có con cái”

[ 16,tr.729].

Truyện đình làng Văn Xá – Hà Nam kể rằng: Vào đời vua Lý Thái Tổ, ở Văn Xá,

huyện Thanh Liêm có ông Cao Phúc kết hôn với bà Từ Thị Lang ở Văn Xá, huyện Nam

Xang. Hai ông bà tuổi cao mà vẫn chưa có con [54]. Trong ông Cụt ông Dài ở Yên Thành

cũng nói về hai vợ chồng già mà chưa có người nối dõi [11].

Những người đàn bà này thường tình cờ thụ thai với rắn hoặc nhặt được trứng rắn đem về

nhà. Bà Tăng Má trong một lần đi cắt cỏ về, thấy nóng bức, bà xuống sông tắm, trong lúc

tắm bà thấy một con rắn nổi lên bên cạnh bà, từ đó bà thấy mỏi mệt bụng ngày một to ra.

Còn người đàn bà trong sự tích Ghềnh Bợ trong lúc đi làm cỏ dâu đã ướm vào một bước

chân to kỳ lạ, ít ngày sau bà cũng thụ thai. Trong ông Cụt ông Dài − Nghệ An thì lại kể như

sau: Ngày xưa ở vùng Quan Hóa (Yên Thành) có gia đình họ Nhữ, hai ông bà đã già mà

không có người nối dõi, hai ông bà buồn lắm. Bỗng một hôm bà nằm mơ thấy một người to

lớn khác thường vào cõng bà xuống âm ty để đỡ đẻ cho vợ Diêm Vương. Nào ngờ từ đó bà

mang thai. Mười hai tháng qua, bà sinh ra hai cái trứng [11 ,tr.115]. Ở Nam Đàn – Nghệ An,

chúng tôi cũng sưu tầm được một truyện cũng có nội dung tương tự, đó là truyện kể về một

gia đình ở Nộn Liễn cũng già cả mà chưa có con, bà vợ trong một lần đi mò cua bắt ốc bị

một cơn sóng lớn phủ lên người và sau ba năm bà sinh được một cái trứng, trứng nở ra một

đôi rắn, một xanh một đỏ [11,tr.117]. Trong truyện đình làng Văn Xá thì người đàn bà tình

cờ vớt được hai quả trứng trắng ở ngoài sông.

Ở Thanh Hóa, chúng tôi cũng thấy lưu truyền một truyền thuyết trong đó cũng nói về

việc người đàn bà nhặt trứng rắn đó là truyền thuyết về suối Ngọc nhưng nội dung truyện

này đã có sự pha trộn của nhiều kiểu truyện, truyện kể rằng: Ngày xửa, ngày xưa, nơi bản

Ngọc thời khai thiên, lập địa, vào một năm nọ, thời tiết khắc nghiệt, hạn hán quanh năm,

người dân túng đói vô ngần. Một hôm, có hai vợ chồng trong bản hiếm muộn con đi làm

đồng vô tình nhặt được một quả trứng có hình thù lạ. Người vợ đem quả trứng ra suối Ngọc

thả xuống nước, nhưng lạ thay, khi nhấc tay lên người ấy lại thấy quả trứng đang trên tay

mình. Hai vợ chồng quyết định đem quả trứng lạ đặt vào ổ gà đang ấp, quả trứng nở ra một

con rắn. Sợ quá, người chồng đem con rắn ra suối Ngọc thả, nhưng cứ đến tối con rắn lại về

ở với gia đình này. Sau đó họ đã để con rắn ở lại sinh sống với mọi người. Lạ thay, từ đó

đồng ruộng của bản đủ nước cày cấy, đồng bào sống trong no ấm, hạnh phúc. Chàng rắn ấy

trở thành vị cứu tinh của bản nên được mọi người hết lòng tôn kính. Rồi một hôm định

mệnh, trời nổi cơn giông, sấm chớp đùng đùng. Sau cơn giông, dân bản thấy xác chàng rắn

nằm bên chân núi Trường Sinh, đầu hướng về bản Ngọc. Thương tiếc chàng rắn, dân bản

chôn cất chàng bên chân núi, lập đền thờ gọi là Ngọc Từ. Trong một buổi tế lễ, đồng bào bản

Ngọc được thần báo mộng chàng rắn chết là do quyết chiến với thuỷ quái để bảo vệ dân bản.

Sau này chàng rắn được phong thần gọi là: Tứ Phủ Long Vương. Từ đó, ở suối Ngọc bên

chân núi Trường Sinh xuất hiện đàn cá thần hàng nghìn con luôn quây quần chầu trước đền

Ngọc Từ để hầu hạ chàng rắn [52 ].

Ở truyện trên ta thấy rằng người đàn bà trong truyện cũng nhặt được trứng rắn giống

như kiểu truyện chúng ta đang tìm hiểu nhưng số lượng ở đây chỉ là một quả. Và quả trứng

lại nở ra một con rắn. Điểm đáng chú ý thứ hai là nhân vật rắn ở đây tuy mang hình hài rắn

nhưng không được gọi với cái tên là ông Cộc ông Dài hay đơn giản là thần rắn mà lại được

gọi là chàng rắn giống như nhân vật người rắn trong truyện kể của các dân tộc ít người.

Điểm đáng chú ý thứ ba là nhân vật chàng rắn không chỉ làm mưa, cung cấp nước cho ruộng

đồng của dân bản mà còn ra tay tiêu diệt thủy quái bảo vệ cuộc sống bình yên cho dân bản.

Trở lại với nhóm truyện ông Cộc ông Dài, ở đây ta thấy sự xuất hiện của motip “Sự ra đời thần kỳ” ở truyện Bà Tăng Má(1), Sự tích Ghềnh Bợ(2), sự tích ông Cụt ông Dài – Yên Thành, Nghệ An(3), sự tích ông Cụt ông Dài – Nam Đàn, Nghệ An(4). Ở bốn truyện này

những người đàn bà đều gián tiếp mang thai với rắn (không phải nhặt được trứng rắn), sau

đó đẻ ra những quả trứng rắn. Những đứa con rắn ra đời là kết quả của thần rắn − tượng

trưng cho nước với một người đàn bà hiếm muộn, nghèo khổ. Giải thích về hiện tượng này,

có người cho rằng đó là do quan niệm hồn nhiên của con người về nguyên nhân mang thai và

sinh nở. Nhưng theo chúng tôi, ngoài ý nghĩa đó việc thụ thai với rắn còn cho thấy ước mơ

“cầu thân” của con người với rắn. Họ dường như muốn rắn − một vị thần có vai trò lớn lao

trong đời sống của mình trở thành người bà con họ hàng. Bởi vì khi đã trở thành “người một

nhà” thì có lẽ sẽ “hiểu nhau” hơn. Đây cũng chính là ý niệm theo tinh thần “tôtem” của dân

tộc Việt Nam khi vua hùng thứ nhất khuyên thần dân của mình xăm hình giao long trên cánh

(1) Truyện kể về một người đàn bà nghèo khổ trong một lần xuống sông tắm thấy rắn nổi lên bên cạnh. Sau đó bà mang thai và đẻ

ra ba quả trứng, trứng nở thành ba con rắn. Sau khi một con rắn chẳng may bị bà cuốc đứt đuôi, sợ dân làng dị nghị bà đem thả cả

ba con rắn xuống sông.

tay để thuồng luồng nhận là họ hàng mà không làm hại.

(2) Truyện kể về một người đàn bà góa chồng có thai và sinh ra ba con rắn vì ướm chân vào một bước chân to. Trong một lần, bà

sơ ý làm đứt đuôi con rắn út, cả ba con rắn đã bỏ đến sống ở các khúc sông.

(3) Truyện kể về gia đình họ Nhữ đã già nhưng chưa có con. Bà Nhữ nằm mơ đỡ đẻ cho vợ Diêm Vương. Sau đó bà có thai và

sinh ra hai cái trứng, trứng nở thành hai con rắn. Ông Nhữ trong một lúc tức giận đã chắn đứt đuôi một con rắn. Hai con rắn tức

giận bỏ đi. Khi bà mẹ quy tiên chúng mới về chịu tang.

(4) Truyện kể về hai vợ chồng già nhưng chưa có con. Bà vợ đi mò cua bắt ốc bị sóng lớn phủ lên người. Từ đó bà mang thai và

sinh ra một cái trứng, trứng nở ra đôi rắn, một xanh một đỏ. Cả hai đều có mào đỏ trên đầu. Một hôm, người cha không may chắn

đứt đuôi con rắn xanh. Sau tai nạn đó, sóng thần nổi lên đưa hai con rắn ra sông Lam.

Dù với cách khác nhau (có thai với rắn hoặc nhặt trứng rắn) nhưng những người đàn

bà được nhắc đến ở trên đều trở thành bà mẹ “bất đắc dĩ ”có những đứa con là rắn sau khi

những đứa con “không như mong đợi” đã ra đời sau những tháng ngày đằng đẵng.

Những quả trứng kì lạ, tình cờ nhặt được của bà Thị Lang ở Văn Xá, của người đàn bà

họ Nhữ ở Yên Thành đều nở ra những con rắn. Bà Tăng Má sau một thời gian dài mang thai

sinh ra 3 quả trứng, nở thành 3 con rắn. Người đàn bà trong sự tích Ghềnh Bợ cũng sinh

được 3 con rắn. Và sau ba năm mang thai người đàn bà ở Nộn Liễn – Nam Đàn cũng sinh

được một cái trứng, trứng nở ra một đôi rắn, một xanh một đỏ.

Chính vì có những đứa con là rắn nên những người đàn bà đều bị mọi người sợ hãi, xa

lánh. Tuy nhiên những người mẹ “bất đắc dĩ” cho dù có phần sợ hãi nhưng tất cả đều không

xa lánh những đứa con của mình bởi vì bên cạnh bản năng làm mẹ, họ cũng xem đó như việc

“trời đã bắt”. Đáp lại tình thương của những người mẹ, những đứa con rắn này cũng luôn

quấn quýt bên cha mẹ mình. Và chi tiết thứ hai cũng thường được nhắc đến trong kiểu truyện

này đó là việc các bà mẹ hoặc ông bố làm cụt đuôi của một con rắn. Chính vì những đứa con

là rắn luôn gần gũi bên mẹ hoặc bố nên họ đi đâu chúng cũng đi theo. Và trong một lần cuốc

đất, các bà mẹ hoặc ông bố đều đã vô ý bổ lưỡi cuốc làm đứt mất khúc đuôi của một con rắn.

Vì vậy mà con cụt đuôi được gọi với cái tên thân mật là ông Cộc hoặc ông Cụt, còn con

không bị cụt đuôi được gọi là ông Dài. Sau tai nạn mà bà mẹ hoặc ông bố của chúng gây ra

thì những con rắn kêu khóc rồi bỏ nhà hoặc được đưa đến định cư trên những khúc sông. Và

cũng từ đó, những con rắn trở thành hà bá của những khúc sông.

Bà Tăng Má đưa con ra 3 khúc sông Đà, đó là: La Phù, Trung Hà, Bà Triệu. Ba con

rắn của người đàn bà Ghềnh Bợ sợ hãi bỏ đi, một đứa quay về rồi chết, hai đứa còn lại ra

sống ở ghềnh Bà Triệu và ghềnh Bợ. Trong sự tích ông Cụt ông Dài ở Nam Đàn thì sau khi

con rắn xanh bị người cha vô tình làm đứt đuôi thì mây đen sập xuống, sóng thần nổi lên đưa

hai con rắn ra sông Lam. Con đỏ chạy lên bàu Ó (Thanh Chương), con xanh xuống bàu Đỗ

Lâm (Hưng Nguyên). Sự tích ông Cụt ông Dài ở Yên Thành lại không biết hai con rắn đi đâu

sau tai nạn mà người cha gây ra cho chúng, người ta chỉ đoán chúng xuống ở bàu Canh, bàu

Dậu – Diễn Châu và thường làm mưa to gió lớn mỗi khi về cúng giỗ mẹ. Trong truyền thuyết

đình làng Văn Xá không có chi tiết một con rắn bị cụt đuôi mà truyện lại kể rằng: Một năm

ở Thanh Liêm trời làm dịch bệnh, hai ông Câu Mang làm mưa to gió lớn tẩy trừ dịch bệnh

cho dân rồi làm ra một cái giếng sâu rồi đi mất.

Có một chi tiết mang tính khuôn mẫu luôn xuất hiện trong kiểu truyện này đó là luôn

có một biến cố xảy ra đối với những con rắn để từ đó rắn rời khỏi cuộc sống của con người.

Biến cố lớn nhất, phổ biến nhất thường là việc một trong hai con rắn bị con người làm cụt

đuôi. Đó phải chăng là một hành động mang tính tượng trưng cho việc làm thất lễ của con

người đối với thần linh? Và mưa gió, sấm chớp, ngập lụt… là biểu hiện của sự giận dữ của

thần linh đối với con người ? Ở đây, ta thấy luôn có yếu tố nước xuất hiện cùng với hình

tượng rắn. Trứng rắn, rắn xuất hiện trên những con sông. Sau khi biến cố xảy ra, rắn ra đi

cùng với những trận mưa to gió lớn. Và khi rắn xuất hiện trở lại cũng gắn với nước.

Từ sự suy đoán trên, chúng tôi liên tưởng đến sự tích Hồ Ba Bể. Trong sự tích này,

người ta cũng nói đến sự thất lễ của loài người đối với thần nước khi thần đóng giả là một

người ăn mày bẩn thỉu. Và kết quả của hành động thất lễ đó là một trận ngập lụt lớn cuốn trôi

hết mọi thứ chỉ còn lại mẹ con người đàn bà tốt bụng đã đối xử tốt với thần nước. Đôi khi sự

trừng phạt của thần linh lại được thể hiện theo hướng ngược lại. Trong Sự tích đầm Mực thì

người dân vùng Thanh Đàm đã phải chịu cảnh hạn hán hơn một năm trời. Thầy Chu Văn An

đã đề nghị học trò của mình, vốn là con thủy thần làm mưa giúp dân. Nhưng kết quả là

không chỉ có con người bị trừng phạt mà chính con trai của thủy thần – người đã trái lệnh

trời làm mưa cũng phải bỏ mạng.

Vai trò của nước trong đời sống quá lớn khiến cho con người luôn nhún nhường, sợ hãi.

Và để cho thần rắn nguôi giận cũng như không dâng nước hay làm đại hạn, dân làng đã lập

những đền thờ bên sông để cúng thờ thần rắn.

Ngoài nguyên nhân trên, trong một số truyện của nhóm này nói về việc thờ cúng thần

rắn là do thần rắn có công giúp dân làng như trong truyền thuyết đình Văn Xá, hai anh em

Câu Mang đã hiện thân nằm ngang khúc đê vỡ để ngăn dòng nước chảy.

Ở đền Tranh - Hải Dương, chúng tôi cũng thu được một truyện nói về ông Cộc ông

Dài. Tuy nhiên người thất lễ và có tội không phải là người dân mà lại là ông Cụt. Rắn Cụt

tính khí dữ tợn hơn rắn Dài, hoành hành khắp vùng, có khi chúng bắt cả người, còn cướp súc

vật là chuyện thường xảy ra. Ghe thuyền qua lại trên khúc sông, thường bị ông Cụt nổi sóng

dữ tợn làm cho đắm. Cha mẹ nuôi ông Dài, ông Cụt thỉnh thoảng lại phải ra bờ sông van lơn

xin con nuôi đừng làm hại người ta. Tuy nhiên, ông Cụt vẫn quấy phá đời sống của người

dân. Ông còn cướp cả vợ của người khác về làm vợ mình. Cuối cùng, Long vương cũng biết

chuyện và xử ông đi đày đến ở sông Kỳ Cùng (thuộc về Lạng Sơn). Trong truyện trên ta

thấy, ông Cụt dường như bị tước đi chức năng ban đầu là thần nước. Ông được người dân

nhân cách hóa và gắn với chuyện đời quá nhiều. Vì thế mà ông giống với hình tượng một kẻ

ác hại người nhiều hơn là hình tượng “nước dữ” trong tín ngưỡng thờ thủy thần của người

dân.

Nói chung việc thờ cúng thần rắn ở các cửa sông cũng dựa trên quan niệm âm dương

về thế giới xung quanh. Nước cũng được nhìn theo hai trạng thái. Nước sinh lợi làm cho

cuộc sống của con người bình yên, ấm no hạnh phúc nên con người thờ cúng thần để cảm ơn

và cầu xin cuộc sống của họ luôn được tốt đẹp. Tuy nhiên, nếu nước gây thiên tai, lũ lụt hoặc

hạn hán thì con người cũng cầu cúng để xin thần linh phù hộ, giúp đỡ cũng như tha thứ cho

họ nếu như họ chẳng may thất lễ với thần linh.

Có thể đưa ra sơ đồ kết cấu chung cho kiểu truyện này:

Những người đàn bà có thai với rắn hoặc nhặt được trứng rắn

Trứng nở ra những con rắn

Rắn bị làm cụt đuôi

Rắn trở thành Hà bá ở những khúc sông

Nhân dân lập đền thờ cúng thần rắn

Không chỉ xuất hiện ở Bắc bộ mà ở Hà Tĩnh và một số tỉnh miền Trung chúng tôi

cũng thấy lưu truyền kiểu truyện này (ở Hà Tĩnh có sự tích đền Tam Lang, ở vùng Thuận

Hóa (nay là đất Quảng Trị, Thừa Thiên) có truyện ông Dời ông Cụt, ở Phú Yên có truyền

thuyết sông Đà Rằng). Tuy nhiên số lượng truyện ở các khu vực trên không nhiều. Điều đó

cho thấy rằng, kiểu truyện ông Cộc ông Dài vốn được ra đời ở khu vực Bắc bộ, theo thời

gian và quá trình di cư của con người mà nó được bổ sung, thay đổi địa danh cho phù hợp

với khu vực mà nó được lưu truyền.

Khảo sát nhóm truyện này chúng tôi thấy truyện vừa mang màu sắc của truyện cổ tích

nhưng đồng thời lại có bóng dáng của truyền thuyết.

Truyện mang màu sắc cổ tích ở chỗ tồn tại motip sự thụ thai kỳ lạ giữa người và rắn.

Trong truyền thuyết cũng có motip sự ra đời kỳ lạ nhưng chủ yếu là do nhân vật lịch sử được

hư cấu. Ở đây motip sự ra đời kỳ lạ lại đóng vai trò chính yếu trong việc hình thành cốt

truyện. Nó có một ý nghĩa sâu xa trong tín ngưỡng thờ nước của dân tộc.

Cũng như đã tìm hiểu, ta thấy rắn là con vật đặc biệt, có rất nhiều biến thể và mang

nhiều ý nghĩa. Và một trong những ý nghĩa khá nổi bật được gắn với rắn đó là nó được coi là

biểu tượng của tính lưỡng trị giới tính... biểu lộ ở chỗ nó vừa là tử cung, vừa là dương vật

[10,tr.769]. Nói về nguyên nhân tồn tại ý nghĩa này của biểu tượng, tác giả Nguyễn Việt

Hương trong bài viết “tục thờ nước của các cư dân ven sông Hồng” cũng đã khẳng định: nét

ý nghĩa này của rắn một phần xuất phát từ chính hình thể của chúng nhưng phần khác, do vai

trò đem lại sự sống của hình tượng. Con rắn huyền thoại tạo nên sự sinh sôi nảy nở đã khiến

nó được hình dung thành một linga của trời cắm sâu vào lòng đất (cầu vồng). Sự giao hợp

thiêng liêng này bao giờ cũng đi kèm với những cơn mưa, nguồn tinh quý báu khởi đầu sự

sống. Lớp ý nghĩa này đã đồng nhất rắn = dương vật = nước mà sự chuyển hoá vai trò thì

không thể lúc nào cũng phân biệt rõ ràng được [67].

Không chỉ được đồng nhất với dương vật, rắn còn là hiện thân của nhục dục, tức là

hiện thân của nguồn năng lực sinh sản. Trong đạo Mật tông: đấy là Kundalini, cuộn khúc ở

chân cột sống, trên luân xa của trạng thái ngủ, nó dùng miệng mà ngậm bít lấy đầu dương vật

lại. Khi thức dậy, rắn rít lên và cứng người lại, liên tiếp leo lên các luân xa: đấy là dục năng

dâng lên, là sự sống tái hiện [10,tr.763]. Từ đấy có thể thấy “hiện tượng rắn phối ngẫu với

người không phải chỉ riêng gặp trong huyền thoại người Việt mà đó là hiện tượng mang tính

đồng nguyên văn hoá”[67].

Ngoài yếu tố sự thụ thai kỳ lạ mang màu sắc thần kỳ của truyện cổ tích, truyện còn

mang cả màu sắc của truyền thuyết, ở chỗ tất cả các truyện được nêu ra đều giải thích cho

một số địa danh có thật ở khu vực đồng bằng Bắc bộ. Mỗi địa danh ấy lại gắn với việc giải

thích tục thờ cúng thủy thần rắn ở các khúc sông chảy qua địa danh ấy.

Tóm lại nhóm truyện ông Cộc ông Dài là một cái nhìn khái quát và mộc mạc của

người bình dân về hình tượng rắn thông qua sự tồn tại hai trạng thái của nước. Hình tượng

ông Dài gắn với trạng thái của nước hiền và hình tượng ông Cụt gắn với trạng thái của nước

dữ.

Có thể xem đây là nhóm truyện đơn giản nhất và phổ biến nhất về hình tượng rắn

trong các truyện kể về rắn ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.

2.1.2. Nhóm truyện “anh hùng rắn”

Về thể loại, nhóm truyện này chủ yếu thuộc thể loại truyền thuyết. Truyện gắn với

những nhân vật và sự kiện lịch sử. Về nội dung, ở nhóm truyện này có một đặc điểm tương

đối giống với nhóm truyện thứ nhất mà chúng ta đã tìm hiểu đó là đặc điểm: Những người

đàn bà thụ thai với rắn. Tuy nhiên do tiến triển của truyện tương đối khác nên chúng tôi xếp

những truyện này vào nhóm thứ hai trong nội dung linh thiêng hóa rắn.

Những người đàn bà ở nhóm truyện này cũng tình cờ đi tắm và mang thai với rắn

nhưng điểm khác của nhóm truyện này so với nhóm truyện ông Cộc ông Dài đó là nếu như

những người đàn bà ở nhóm truyện ông Cộc ông Dài là những người cô độc, nghèo khổ thì

những người đàn bà ở nhóm truyện anh hùng rắn thường là những người phụ nữ có nhan

sắc, thuộc dòng dõi quý tộc. (Nói “thường là” bởi vì trong nhóm truyện này có truyền thuyết

Phổ Độ Hổ Độ (Phả Lễ - Hải Phòng) nhân vật nữ không thuộc dòng dõi quý tộc). Những

người phụ nữ này sau khi phát hiện có thai với rắn đều xem đó là việc tốt, thuận ý trời.

Trong truyện ông Lỗ ông Minh thì nàng Quốc Hoa là vợ một danh tướng của Hùng

Triều. Vào một ngày hè nóng bức, khi đang cùng mấy nàng hầu tắm ở hành cung, một con

giao long dài 10 trượng, đầu đội mũ hoa, mình có vẩy ngũ sắc, diễu chung quanh Quốc Hoa.

Từ đó nàng thụ thai[16,tr.127]. Trong truyện Linh Lang Đại Vương thì lại kể rằng: Linh

Lang là hoàng tử con vua, mẹ là một cung nữ, trong một lần ra tắm ở hồ thì bị rắn cuốn chặt

vào người, và từ đấy thì bà cũng có thai [35,tr.37 − 38]. Trong truyện Nàng công chúa đời

Trần thì phu nhân nhà bộ chúa Lý Nghi cũng đang tắm trên một hồ nhỏ thì thấy nước hồ

rung động, một con rắn trắng nổi lên vây phủ quanh thân thể phu nhân, sau đó nàng có thai

[16,tr.40]. Truyện hai anh em thủy thần sinh đôi đánh giặc Lương cũng nói về việc bà vợ của

quan lang Hoa Liên ở huyện Đông Ngàn (Từ Sơn ngày nay) trong một lần ra sông Hồng tắm

bị giao long quấn, rồi sinh ra hai người con. [49,tr.171]. Người đàn bà làm nghề câu tôm

trong truyền thuyết Phổ Độ Hổ Độ (Phả Lễ - Hải Phòng) khi ngủ đã mơ thấy một con rắn

trắng quấn quanh người. Việc đó lập lại hai lần và sau đó bà bỗng thấy mình có thai [58].

Cũng lấy ý tưởng người đàn bà thụ thai với rắn nhưng ta thấy ở đây hình tượng rắn đã

được nâng lên ở cấp độ cao hơn. Rắn không chỉ là kết quả của những cuộc hợp giao với

người bình dân mà đã chuyển dần lên tầng lớp của những người quý tộc. Điều này đã cho ta

một suy đoán rằng hình tượng rắn xuất phát từ cuộc sống của người bình dân đang dần gia

nhập vào cuộc sống của những bậc vua chúa, tầng lớp thượng lưu trong xã hội. Việc nâng

cấp “địa vị” của hình tượng rắn chắc rằng đã được thực hiện thông qua bàn tay của tầng lớp

thượng lưu. Với trình độ nhận thức cao hơn, họ đã biến một sản phẩm tinh thần của tầng lớp

bình dân thành sản phẩm tinh thần của tầng lớp mình. Điều này được thể hiện rất rõ trong

nguồn gốc xuất thân cũng như hành động của các nhân vật được nhắc đến trong nhóm truyện

thứ hai so với nhóm truyện thứ nhất.

Từ ý nghĩa đó mà chúng ta thấy rằng cũng thật dễ hiểu khi kết quả của những bào thai

không còn là hình hài rắn “thô sơ” như trong thực tế cuộc sống mà hình tượng rắn đã được

hóa vào hình tượng những người anh hùng có công với đất nước. Vì vậy mà những cuộc sinh

nở của những người đàn bà thuộc nhóm truyện này thường chấn động trời đất và những đứa

con họ sinh ra cũng là những bậc kỳ tài trong thiên hạ. Chính vì những đặc điểm đó mà

chúng tôi gọi nhóm truyện thứ hai là nhóm truyện anh hùng rắn.

Trong ông Lỗ ông Minh, bọc trứng của bà Quốc Hoa nở ra hai người con trai có tướng

mạo kỳ quái: đầu rồng mình rắn, tiếng như tiếng chuông, mắt đen như sắt. Khi lớn lên, mình

cao 8 thước, sức địch muôn người, hiện ra hình dáng rồng rắn, xuất thánh nhập thần vô cùng

biến hóa. Linh Lang đại Vương lúc sinh ra trên mình có 28 vết hằn tựa như vẩy rồng và trên

ngực có 7 hàng chấm óng ánh như ngọc. Còn công chúa con của vợ bộ quan Lý Nghi với rắn

trắng thì có: dung mạo phương phi, dáng hình yểu điệu, môi hồng má phấn, mắt phượng mày

rồng. Nét khiến chim sa cá lặn, dáng nguyệt thẹn hoa nhường, đều đúng là thần thánh trên

cõi đời…Hai người con trai của vị quan lang Hoa Liên lại được: sinh ra trong một cái bọc.

Trai lớn tay trái có ba cái lông xanh, trên lưng có hai hàng vảy hoa văn, ở bụng có hàng chữ

Tây Hải Á hầu Đại tướng. Người em thì có hàng chữ Tây Hải Cao Sơn Đại tướng…Đến khi

trưởng thành cả hai đều rất tinh tường văn võ [50,tr.171]. Người đàn bà ở Phả Lễ sinh hạ

được hai cậu bé trắng trẻo xinh trai nhưng trên người có vẩy như vẩy rắn. Lớn lên hai chàng

trai trở thành hai người đánh cá rất giỏi, bơi lội trên sông trên lạch cũng rất tài. Họ thường

cứu giúp các thuyền gặp nạn nên dân trong vùng mới đặt tên là Phổ Hộ, Phổ Độ với ý nghĩa

là phù giúp, cứu độ.

Sự thụ thai cùng với sự ra đời của những hình dáng kỳ lạ đã cho chúng ta sự chuẩn bị

trong tư tưởng. Bởi vì chắc chắn những con người sinh ra không bình thường là để chuẩn bị

cho những công việc, sứ mệnh thiêng liêng mà họ đã được giao phó từ trước.

Hai con trai của nàng Quế Hoa được vua Hùng Duệ Vương giao cho trấn thủ vùng

sông Nhị Hà và Ngưu Giang. Hai ông đã chỉ huy thủy quân cùng với Sơn thánh chiến thắng

cuộc xâm lược của Thục Vương. Hoàng tử Linh Lang dùng quân tượng để đi đánh giặc. Ông

dùng lá cờ đỏ lệnh cho voi, cờ phất đến đâu giặc tan đến đó. Còn nàng Ngọc đã được thiên

đình giao cho trấn nhậm nhân dân và lãnh thổ nơi nàng sinh ra. Nàng cũng phò trợ vua Trần

Anh Tông dẹp giặc Nguyên. Hai anh em nhà họ Hoàng được vua yêu mến và ban cho ấn

kiếm làm tướng chỉ huy mười vạn tinh binh đi diệt giặc Lương. Khi quân ta thắng lớn trở về

họ lại được vua ban thưởng trọng hậu. Khi Trần Hưng Đạo mở trận thuỷ chiến ở cửa sông

Bạch Đằng, hai chàng Phổ Độ và Hổ Độ đã đầu quân làm lính của Hưng Đạo Đại Vương,

chuyên nhận đóng cọc trên sông và lặn dưới nước dò la thuyền giặc.

Có một nét khá tương đồng giữa nhóm truyện anh hùng rắn so với nhóm truyện ông

Cộc ông Dài đó là những con rắn ở nhóm truyện ông Cộc ông Dài sau khi ra đời đã trở về

trấn giữ những khúc sông, còn những người anh hùng rắn sau khi hoàn thành sứ mệnh

thường hóa thành rắn hoặc thác trên sông, trở về với “thủy phủ”.

Ông Lỗ ông Minh sau khi chiến thắng Thục Vương cũng hóa thành 2 con rắn dài hơn

10 trượng và biến mất. Linh Lang sau khi dẹp xong giặc đã hóa thành giao long chui xuồng

hồ biến mất. Hiển công thần trên đường dẹp giặc trở về cũng hóa rắn khi trời nổi gió mưa

sấm sét. Trong truyền thuyết về Trương Hống, Trương Hát cũng kể về người anh hùng sinh

ra từ bọc trứng với các tình tiết thần kỳ. Bà mẹ nằm mộng ra sông Lục Đầu tắm gặp thần

Long quấn quanh mình rồi có thai sinh ra bọc 5 trứng, nở ra thành 4 trai 1 gái. Đặt tên là

Trương Hống, Trương Hát, Trương Lừng, Trương Lẫy và Trương Đạm Nương. Trương

Hống và Trương Hát đã lập chiến công phi thường, đánh thắng quỷ và giúp Triệu Quang

Phục phá giặc Lương. Trương Hống, Trương Hát cũng hóa rắn sau khi hiển linh phù trợ Lý

Thường Kiệt phá quân Tống.

Với kết thúc tương đối giống nhau, ta thấy rằng đã có hai lớp nghĩa chồng lên nhau ở

nhóm truyện anh hùng rắn. Ngoài lớp nghĩa thứ nhất chúng ta đã tìm hiểu ở nhóm truyện

ông Cộc ông Dài thì ở nhóm truyện anh hùng rắn đã chồng thêm một lớp nghĩa ca ngợi

những vị anh hùng dẹp giặc cứu nước. Chính vì sự cộng gộp của hai lớp nghĩa này mà ta

thấy những vị anh hùng thường xuất thân từ rắn và trở về với rắn. Rắn ngoài nhiệm vụ bảo

vệ sông nước bây giờ còn được giao nhiệm vụ đánh giặc.

Qua việc hình thành một lớp nghĩa mới trên nền lớp nghĩa cổ, những truyền thuyết

này giúp ta đi đến khẳng định rằng: những truyền thuyết này đã xuất hiện vào thời kỳ sau,

khi mà đất nước bị xâm lăng. Nhằm đáp ứng với nhu cầu thực tế đồng thời nhằm huyền thoại

hóa nguồn gốc xuất thân của những vị anh hùng, các tác giả dân gian đã “làm mới” những

truyện kể của mình bằng việc chồng lên một lớp nghĩa mới của lịch sử.

Từ nhận định trên, chúng tôi đưa ra sơ đồ kết cấu chung cho kiểu truyện này:

Người đàn bà (thường xuất thân từ tầng lớp thượng lưu) thụ thai với rắn

Người đàn bà sinh ra những người con có hình dáng bên ngoài mang dấu vết của rắn, tất cả đều có khả năng tài giỏi, đặc biệt

Những người con tham gia giết giặc hoặc phò vua đánh giặc

Sau khi hoàn thành sứ mệnh trở về với sông nước

Được nhân dân sắc phong thủy thần và thờ cúng hằng năm

Ngoài hai kiểu truyện độc lập mà chúng ta vừa tìm hiểu thì trong quá trình khảo sát

chúng tôi cũng thấy một số truyện mà nội dung của nó có sự pha trộn của cả hai kiểu truyện

trên. Ví như trường hợp truyện Long thần của Nghệ An [36,tr.195]. Đọc truyện ta thấy người

đàn bà cũng đi tắm ở suối và sau 3 năm có thai và sinh ra một bọc có 2 quả trứng. Và bà

cũng sợ hãi khi trứng nở ra rắn và giao long. Một trong hai người con của bà cũng bị bố lỡ

tay chém cụt đuôi. Hai anh em cũng bỏ đi đến làm long thần ở con sông gần đó, nhân dân lập

đền thờ cúng. Đến đây thì truyện không khác gì nhóm truyện ông Cộc ông Dài mà chúng ta

đã tìm hiểu. Tuy nhiên truyện vẫn chưa kết thúc ở đó. Truyện còn kể thêm rằng: sau khi vua

Thái Tông nhà Lý đi đánh giặc Chiêm Thành qua linh miếu này thần đã giúp vua đánh tan

quân giặc chỉ trong một trận. Khải hoàn trở về nhà vua đã sắc phong là thủy đẳng tối linh

thần đại vương. Ở phần nội dung còn lại này, ta lại thấy truyện giống những truyện ở nhóm

truyện thứ hai. Trong những truyện kiểu này thì nội dung thứ hai thường đậm nét hơn.

Trong truyền thuyết đền Lãnh Giang − Hà Nam ta cũng thấy có sự pha trộn nội dung

tương tự: người đàn bà trong truyền thuyết này là một người bình dân trong một lần đi tắm

sông cũng bị thuồng luồng cuốn và thụ thai. Bà cũng sinh ra một bọc trứng, trứng nở thành 3

con rắn và 3 con rắn cũng trở về 3 nơi: Đào Động, Thanh Do, Hoa Giám. Nhân dân sợ hãi

cũng xin lập đền thờ thần. Và khi Thục Phán có ý định cướp ngôi vua Duệ Vương. Người

anh cả có tên là Vĩnh đã bỏ lốt, bái biệt mẹ lên đường giúp vua dẹp giặc. Sau khi thắng trận

ông Vĩnh được vua phong là Nhạc phủ Ngư thượng đẳng thần nhưng ông không nhận, xin về

quê và hóa thân trong trận mưa gió. Nhà vua gia phong cho ông là Trấn Tây An Tam Kỳ

Linh Ứng Thái thượng đẳng thần. Giải thích về hiện tượng này các nhà nghiên cứu đã cho

rằng đây là quá trình truyền thuyết hóa thần thoại. Các thần thoại ban đầu kể về những hiện

tượng tự nhiên nhằm giải thích nguồn gốc vũ trụ, nguồn gốc loài người và mơ ước sống

hòa hợp với tự nhiên. Nhưng về sau thần thoại trở nên gần gũi với cuộc sống của người dân

hơn, thần thoại được truyền thuyết hóa rất mạnh mẽ, không còn giữ được nguyên dạng ban

đầu. Theo tác giả Nguyễn Huy Bỉnh thì: Rất nhiều các vị thần trong thần thoại đã đi vào

truyền thuyết với tư cách là những nhân vật lịch sử, trở thành tổ tiên của dân tộc hoặc cũng

có thể là những vị tướng lĩnh chống giặc, những anh hùng sáng tạo văn hóa… Các truyền

thuyết này biểu hiện sự biến chuyển từ tư duy huyền thoại đến tư duy tôn giáo, từ thần

thoại đến truyền thuyết. Điều này do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là việc ghi chép lại thần

tích của các triều đại, dẫn đến việc lịch sử hoá các vị thần tự nhiên thành những nhân vật

lịch sử, hoặc gắn với các nhân vật lịch sử những bản tính của thần. Khi đã được truyền

thuyết hóa thì các nhân vật thần thoại trở nên có một lý lịch rõ ràng hơn, mang đậm dấu ấn

của truyền thuyết, thường có dạng kết cấu: Sinh nở thần kỳ, chiến công phi thường và hóa

thân kỳ ảo [3,tr. 90 - 104] .

Cũng chính vì những nguyên nhân đó cũng như ở nhóm truyện thứ hai, ở nhóm truyện

thứ ba người dân cũng có thao tác “làm mới” những truyện cũ bằng cách ghép thêm một nội

dung mới vào những câu chuyện cũ. Ở nhóm truyện này, phần đầu thường được giữ nguyên

như những truyện ở nhóm thứ nhất chỉ khác ở phần sau khi các nhân vật rắn trở về các con

sông, họ thường hiển linh giúp vua giết giặc.

Qua việc phân tích và tìm hiểu những nhóm truyện trong nội dung linh thiêng hóa rắn,

chúng ta thấy rằng với lớp nghĩa cổ ban đầu của hình tượng rắn với ý nghĩa là những vị thủy

thần trên những con sông, theo thời gian lớp nghĩa này đã được chồng lên lớp nghĩa mới.

Lớp nghĩa mới ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

Những vị anh hùng với nguồn gốc được linh thiêng hóa nhằm tôn thêm sự kỳ vĩ thần thánh

chiến công mà họ đạt được, đáp ứng mơ ước của cộng đồng. Tuy nhiên qua qúa trình tìm

hiểu, phân tích, chúng ta vẫn nhận ra được lớp nghĩa cổ xưa nhất của hình tượng rắn (tượng

trưng cho thủy thần) dưới lớp nghĩa mới (ca ngợi những vị anh hùng có công với đất nước)

đang cùng tồn tại. Qua đó cho thấy tác giả dân gian vừa linh động nhưng cũng khá cẩn trọng

trong những sáng tác của mình.

Qua các kiểu truyện rắn chúng ta vừa tìm hiểu, chúng ta cũng thấy nổi lên một vấn đề

khác trong việc thờ cúng các vị thần linh ở Bắc bộ. Ta thấy có hai dạng nhân vật thần tự

nhiên: Một là những nhân vật có nguồn gốc tự nhiên, hai là những nhân vật có nguồn gốc

nửa tự nhiên nửa lịch sử hóa. Thần có nguồn gốc tự nhiên là kết quả của quá trình sùng bái

và tôn thờ các yếu tố tự nhiên liên quan đến đời sống nông nghiệp như: thần đất, thần nước,

thần mưa…Tuy nhiên theo thời gian các vị thần tự nhiên này đã bị lịch sử hóa trở thành các

vị thần nửa tự nhiên nửa lịch sử. Tác giả Tạ Chí Đại Trường trong Thần, người, đất Việt

cũng đã tìm hiểu rất kĩ về hiện tượng này và ông cũng khẳng định nguồn gốc ban đầu của

các nhân vật nửa tự nhiên nửa lịch sử hóa đều là các vị thần tự nhiên, càng về sau này trải

qua nhiều triều đại, các lớp văn hoá mới được bồi đắp và phát triển lên làm cho các vị thần

tự nhiên mang dáng dấp các vị nhân thần, như trường hợp của hai thần Trương Hống và

Trương Hát. Quá trình nhân hóa các vị thần tự nhiên là dấu tích của sự vận động trong việc

hình thành hệ nhân thần, đó là biểu hiện của sự tự khám phá và ý thức về mình của con

người.

Cũng nằm trong tín ngưỡng sùng bái tự nhiên “ những con rắn hoặc còn nguyên vẹn

dạng rắn với một vài điểm dị hình, hoặc biến thành cái tên truyền kì “con giải”, “con

thuồng luồng” có tác động nhiều nhất vào mối tin tưởng của người dân”[47,tr.53]. Do đó

sự xuất hiện cả hai dạng nhiên thần trong hình tượng rắn là một kết quả tất yếu ở khu vực

Bắc bộ và Bắc Trung bộ.

2.2. Hình tượng rắn trong nhóm truyền thuyết người anh hùng diệt rắn ác

Bên cạnh việc sùng bái tự nhiên như những vị thần thì con người giờ đây cũng thấy

rằng ý muốn của họ dường như không được tự nhiên đáp ứng. Dù họ vẫn cầu cúng thường

xuyên nhưng thiên nhiên vẫn cứ khắc nghiệt. Chính vì lẽ đó mà trong suy nghĩ của con

người thời bấy giờ luôn tồn tại hai luồng tư tưởng song song. Thứ nhất là sợ sệt, sùng bái tự

nhiên. Thứ hai lại muốn thống trị, chinh phục tự nhiên khắc nghiệt. Cũng vì thế mà bên cạnh

hình tượng con rắn hiền lành, con rắn ác hại người cũng xuất hiện.

Những con rắn bây giờ không còn hiền lành quẩn quanh chân những ông bố, bà mẹ.

Nó thường tác oai tác quái, mỗi lẫn nó xuất hiện thì không chỉ “nhà tan cửa nát” mà còn làm

thiệt hại cả mạng người. Trước sự tàn phá của rắn ác, con người đứng ra quyết tâm tiêu diệt

rắn ác, giành lại cuộc sống bình yên cho cộng đồng. Cho dù trong cuộc chiến không cân sức

ấy, đôi khi con người phải bỏ mạng.

Trong nhóm truyện có nội dung như trên, chúng tôi đã tuyển chọn được 6 truyện, đó là

các truyện: Đầm Muối, sự tích hang thuồng luồng, sự tích đền Đỗ Lâm, sự tích suối rắn,

truyền thuyết đền Cáu (Bắc Ninh) và truyền thuyết làng Lệ Mật.

Trong nhóm truyện này, chúng ta thấy luôn có sự xuất hiện của hình tượng rắn ác bên

cạnh người anh hùng diệt rắn.

Trong sự tích suối Rắn người ta kể rằng: Trong đoạn suối thuộc xã Hòa Lạc, thuộc

Lạng Sơn có một cái vực sâu chứa nhiều giao long. Hành khách qua lại thường bị giao long

hãm hại, cho nên người ta gọi đó là “suối rắn”. Một trong những nạn nhân của nó là người

con gái của một người làm nghề đánh cá. Người đàn ông làm nghề đánh cá này chỉ có một

đứa con nên ông thường mang con đi đánh cá cùng với mình, chẳng may con ông đã bị giao

long bắt mất. Quá căm phẫn trước cái chết của con và sự tàn ác của giao long, ông quyết tâm

đứng ra giết giao long trả thù cho con.

Trong Đền Muối kể lại rằng: Khúc sông Khê Đầu Thượng thuộc Hoa Lư là nơi đông

vui sầm uất nay đã trở nên hoang vắng đến ghê sợ vì có một con giải quái ác chuyên ăn thịt

người. Dân làng vì sợ con giải, lập đền thờ nó nhưng nó vẫn không đi. Trước tình hình đó, có

một ông lão bán muối nghèo khổ, góa vợ đã tình nguyện đi trừ con giải.

Điều đáng chú ý đầu tiên ở đây là hình tượng người anh hùng diệt rắn ác. Nếu như ở

nhóm truyện thứ hai thuộc nội dung thứ nhất ta thường thấy những vị anh hùng được tô vẽ,

được thần thánh hóa về nguồn gốc xuất thân khi họ thoát thai từ rắn, nhập vào rắn và luôn

mang trong mình một sức mạnh siêu nhiên, thì những người anh hùng ở nhóm truyện này lại

luôn là những người bình dân yếu ớt được đặt ở thế đối lập với rắn. Họ thường là người thân

của những người bị hại, đau xót trước cái chết của người thân, đồng loại mà ra tay giết rắn

cứu cộng đồng. Họ lấy lòng căm thù cộng với lòng dũng cảm để làm động lực trong cuộc

chiến đấu không cân sức của mình.

Trong Sự tích suối Rắn người anh hùng là một người làm nghề đánh cá, trong Truyền

thuyết làng Lệ Mật thì người anh hùng lại là một chàng trai họ Hoàng thuộc làng Lệ Mật.

Đôi khi người anh hùng lại là một người tuổi cao sức yếu như: ông lão bán muối trong

truyện Đền muối, còn trong Sự tích hang thuồng luồng, người anh hùng là một người nghèo,

góa vợ có tài bắn ná ở một nơi xa được dân chúng thỉnh cầu về trừ quái vật. Còn trong Sự

tích đầm Đỗ Lâm, người có công tiêu diệt rắn lại là một kép hát.

Nếu như những người anh hùng rắn với sức mạnh phi thường sẵn có xuất hiện với sứ

mệnh cao cả là đánh giặc hoặc giúp vua đánh giặc thì những người anh hùng nông dân chất

phác trước những mất mát đột ngột xảy ra với bản thân và cộng đồng, lại không có gì khác

ngoài sức mạnh của bản thân và một ý chí quyết tâm tiêu diệt rắn ác để trả thù cho người

thân và cộng đồng.

Trong số họ, có người quyết tâm tiêu diệt rắn xuất phát từ nỗi đau của bản thân như:

Ông lão đánh cá (trong sự tích suối rắn), trước cái chết của đứa con gái ông vô cùng đau

khổ, ông đã nói với mọi người rằng: “Tôi chỉ sinh được một đứa con gái, nay bị giao long

bắt mất. Tôi thề phải giết hết loài giao long mới hả sự căm thù của tôi”. Nhưng cũng có

người tình nguyện xin đi trừ rắn ác như ông lão bán muối nghèo khổ, già yếu cô đơn ở Khê

Đầu Thượng, Hoa Lư (trong truyện Đền muối). Còn theo truyền thuyết đền Cáu ở Việt Yên,

Bắc Ninh thì người có công tiêu diệt sơn xà cứu dân lại là thái sư Trần Thủ Độ. Khác với

những người nông dân chất phác chủ yếu dùng sức mạnh chân tay, thái sư Trần Thủ Độ lại

dùng sự mưu trí của bản thân để tiêu diệt sơn xà [33,tr.84 - 89].

Nhân nói về việc diệt sơn xà của thái sư Trần Thủ Độ, người viết lại nhớ đến trong sự

tích Trần Hưng Đạo cũng có một đoạn nói về việc ông tiêu diệt rắn tinh mang lại cuộc sống

bình yên cho dân làng Khê Tang. Tuy nhiên cũng với mục đích đề cao tố chất anh hùng của

Trần Hưng Đạo nên việc tiêu diệt rắn của ông không cần phải dùng đến sức mạnh cũng như

sự mưu trí, chỉ cần danh tiếng, một đàn chay để tế thiên địa và chỉ ngũ sắc Trần Hưng Đạo

đã bắt rắn tinh phải nộp mạng. Với nguồn gốc xuất thân bình dân và thực tế hóa, những

người anh hùng giờ đây đã được kéo lại gần hơn với cộng đồng, họ không phải xuất hiện từ

một nơi khác rồi ra đi khi làm xong nhiệm vụ. Họ chính là những người dân bình thường

trong cộng đồng, thấu hiểu nỗi đau của cả cộng đồng mà đứng ra làm người anh hùng.

Thay đổi hình tượng rắn đồng thời thay đổi hình tượng người anh hùng, con người

cũng cho thấy rằng tự nhiên không chỉ lúc nào cũng “sóng yên biển lặng”, “xuôi chèo mát

mái” mà tự nhiên có lúc cũng hung dữ, bạo tàn như những con quái vật. Và kết quả của cuộc

chiến giữa người và rắn ác ra sao? Điểm chung của các cuộc chiến ấy là rắn ác đều nhanh

chóng bị khuất phục trước sự mưu trí, dũng cảm của người anh hùng. Tuy nhiên trong cuộc

chiến ấy cũng có người không còn trở về với cộng đồng nữa. Kết quả của cuộc chiến giữa

người dân và rắn ác đã cho ta thấy rằng bên cạnh cuộc chiến chống lại nạn ngoại xâm đầy

gian lao, vất vả thì cuộc chiến đấu chống thiên tai cũng không kém phần khó khăn, khốc liệt.

Sơ đồ kết cấu chung của nhóm truyện người anh hùng diệt rắn ác:

Rắn ác phá hoại cuộc sống bình yên của người dân

Người anh hùng đứng ra diệt rắn

Rắn ác bị khuất phục, người anh hùng được nhân dân

lập đền thờ để tưởng nhớ

Tóm lại nhóm truyện này nội dung cũng tương đối đơn giản và dễ hiểu ngoài sự thay

đổi hình tượng rắn và hình tượng người anh hùng so với nhóm truyện thứ hai của nội dung

thứ nhất thì truyện cũng nhằm ca ngợi những con người đã xả thân vì cuộc sống bình yên của

cộng đồng. Con rắn ác tượng trưng cho thiên tai cuối cùng cũng bị tiêu diệt. Và con người

giờ đây với trình độ nhận thức cao hơn đã thấy rằng thiên nhiên không đáng sợ như họ đã

nghĩ.

Ở chương hai, chúng ta đã đi vào tìm hiểu hình tượng rắn trong truyện kể dân gian

Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Từ số lượng truyện cũng như nội dung truyện của những truyện

thu thập được ta thấy đặc điểm khá nổi bật của những truyện kể dân gian về rắn ở Bắc Bộ và

Bắc Trung Bộ. Những truyện kể về rắn ở đây chủ yếu tập trung trong thể loại truyền thuyết.

Hình tượng rắn được thể hiện trong các truyện kể có sự tồn tại cả ý nghĩa tốt lẫn ý nghĩa xấu.

Và trên hết ý nghĩa thủy thần được xem là ý nghĩa chung quan trọng nhất cho cả khu vực

này. Qua các nhóm truyện vừa tìm hiểu ở trên, chúng ta cũng thấy rằng, hình tượng rắn đã

được thể hiện từ đơn giản đến phức tạp. Sự biến đổi ấy được thể hiện ở chỗ: Từ con rắn ban

đầu có hình dáng gần với thực tế cuộc sống biểu trưng cho nước qua hình tượng ông Cộc

ông Dài đến con rắn là nguồn gốc cao quý của những vị anh hùng nửa rắn nửa người có công

giúp vua dẹp giặc cứu nước; từ hình thức xây dựng nhập thân với con người thông qua việc

những người phụ nữ có thai với rắn và sinh ra những đứa con nửa người nửa rắn đến hình

thức mâu thuẫn với con người trong cuộc đối đầu giữa người và rắn ác. Sự thay đổi từng

bước của hình tượng rắn cho thấy sự nâng lên của tư duy con người. Đó chính là hệ quả của

cả một quá trình tiếp xúc lâu dài giữa con người với tự nhiên và giữa con người với cuộc

sống cộng đồng.

Chương ba

HÌNH TƯỢNG RẮN TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN CỦA MỘT SỐ DÂN TỘC ÍT

NGƯỜI MIỀN TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN

Loài người từ thưở ban sơ luôn cho rằng trong mọi vật đều có sự tồn tại của thần thánh

và theo họ không chỉ tồn tại trong động vật và thực vật mà nó còn tồn tại trong cả thời gian

và không gian nhất định. Đó là thời gian và không gian có sự “mở ra” về phía trên hoặc về

phía dưới khi con người có thể giao lưu được với thế giới thần thánh. Những dân tộc ít

người - người dân ăn rừng với cuộc sống giữa cây cối, muông thú thì quan niệm đó lại càng

mạnh mẽ. Cuộc sống chan hòa với tự nhiên đã làm nảy sinh trong họ những ý tưởng, những

cảm xúc về tự nhiên về mối quan hệ gần gũi giữa con người với tự nhiên. Tìm hiểu truyện kể

dân gian của một số dân tộc ít người thuộc khu vực miền Trung và Tây Nguyên, chúng tôi

thấy hình tượng rắn cũng được nhắc tới khá nhiều. Với 18 truyện thuộc thể loại cổ tích

chúng tôi thu thập và khảo sát thì hình tượng rắn xuất hiện trong cộng đồng của một số dân

tộc ít người miền Trung Tây Nguyên có hai nội dung chính sau:

Thứ nhất, hình tượng rắn trong mơ ước về cuộc hôn nhân lý tưởng giữa người nghèo

khổ và thần linh.

Thứ hai, hình tượng rắn trong cuộc đấu tranh của dũng sĩ diệt rắn cứu người đẹp.

3.1. Hình tượng rắn trong những cuộc hôn nhân lý tưởng giữa người nghèo khổ

và thần linh

Ở nội dung này chúng tôi khảo sát trong 11 truyện. Bao gồm các truyện sau: chàng rể

rắn, chàng rắn (truyện cổ các dân tộc miền núi Bắc miền Trung), chàng rắn (Gia Rai),

Người con gái Mnông thứ bảy (M’nông), Nàng Piarơchôn (Tà-ôi), Cô gái lấy chồng trăn

(XêĐăng), Chàng rắn (Chăm), người lấy rắn (Mạ), Bô lô Đu lơ (Catu), Trăn thần (Chàm),

Kơ-lăn (Bana) .

Về thể loại, nhóm truyện này đều thuộc thể loại cổ tích. Trong 11 truyện này, chúng

tôi luôn thấy sự xuất hiện của motip người mang lốt rắn. Chính từ motip này mà chúng ta

đều thấy rằng, hầu hết những truyện thuộc nhóm này đều có tên gọi là chàng rắn hoặc chàng

tiên rắn hoặc là chàng rể rắn. Tại sao nói đây là những nhân vật mang lốt rắn? Bởi vì hầu

hết những con rắn xuất hiện trong kiểu truyện này đều có chung môtíp biết nghe và nói tiếng

người và khi cởi bỏ lốt rắn đều trở thành người.

Những nhân vật mang lốt rắn thường xuất hiện khi một người nào đó gặp khó khăn

không ai giúp đỡ. Rắn đề nghị giúp đỡ với điều kiện được lấy con gái của họ làm vợ. Truyện

chàng rể rắn đã kể rằng, có một người đàn bà góa chồng, trong một lần vào rừng chặt song

về bán, buột miệng kêu: “Ai kéo cây song này ra khỏi bụi thì ta sẽ gả con gái cho” [6,tr.360]

đã buộc phải gả người con gái duy nhất của mình cho rắn. Còn lão Pơtao trong chàng rắn

(Gia Rai) trong một lần đi chặt luồng về gặp trời mưa lớn không có cầu qua sông để về làng,

lão chỉ lẩm bẩm trong miệng 3, 4 lần rằng: “bây giờ ai bắc cầu cho tôi sang sông thì tôi sẽ

gả con gái cho” [42,tr.106], tức thì rắn xuất hiện đưa ông qua sông với điều kiện được gả

con gái cho như lời ông đã hứa. Trong Người con gái Mnông thứ bảy người cha của bảy cô

con gái trong một lần lên nương làm cỏ lúa vì quá bất lực khi cỏ nhổ đến đâu lại mọc lên đến

đấy, ông mệt mỏi kêu lên: “Trời ơi! Đói khổ mất thôi! Ai người thương tôi làm cỏ giúp tôi,

tôi sẽ gả con gái cho, muốn chọn con gái nào cũng được” [40,tr.198] vừa dứt lời, ông cũng

nghe có tiếng đáp lại nhưng không biết từ đâu chỉ ba ngày sau khi đi thăm đồi lúa đã làm

sạch cỏ, ông mới được biết người làm sạch cỏ giúp mình là một con rắn to.

Những câu nói lẩm bẩm vô tình tưởng như vô hại không ngờ đều lọt vào “tai rắn”, và

đặt cha hoặc mẹ của các cô gái vào thế không thể chối từ. Nhưng đôi khi chẳng cần câu nói

“lẩm bẩm” nào rắn cũng xuất hiện làm cho mọi người vừa ghét vừa sợ hãi rắn. Mẹ của

Piarơchôn (Nàng Piarơchôn, dân tộc Tàôi) lên rẫy chặt chuối làm rơi mũi rựa vào rắn. Rắn

ngóc đầu lè lưỡi nói: “Bà già muốn lấy rựa thì đem tôi về bỏ lên giàn, không thì tôi cuốn

chân bà, tôi mổ mắt bà!” [21,tr.425]. Sau khi được về nhà, rắn lại yêu cầu bà “Tôi ưng

Piarơchôn làm vợ cả, bà già kêu nó về đây ăn chuối” [21,tr.425]. Bà mẹ trong “Cô gái lấy

chồng trăn” của dân tộc XêĐăng thì trong một lần ra suối xúc cá bị trăn cuốn chặt lấy hai

chân và con trăn nói sẽ thả bà ra nếu bà hứa sẽ gả con gái cho. Nhưng đôi khi việc lấy rắn

của các cô gái dường như lai được xem là “ý trời đã định”. Nàng công chúa út trong “Chàng

rắn” của dân tộc Chăm, trong một lần cùng hai chị gái nguyện vái thánh thần rằng “trên

đường đi hễ ai bị vấp mà gọi tên người nào thì lấy người đó làm chồng” . Và người mà nàng

út gọi tên là Chay ma ki rum, tiếng Chăm có nghĩa là chàng rắn khổng lồ. Tuy xấu hổ với

việc nguyện lấy rắn của nàng út nhưng hoàng hậu và đức vua chỉ im lặng và cho rằng đây có

lẽ là trời xui đất khiến cho số phận của nàng út. Có lúc con người lại làm như biết trước sự

việc và xem sự xuất hiện của một con rắn biết nói tiếng người là bình thường. Vì thế mà

không cần phải đôi co với rắn. Ông K’Đoi trong truyện người lấy rắn của dân tộc Mạ trong

khi đi săn bắn thấy một con rắn lớn cuốn dưới gốc cây đa mà ông ngồi. Khi xuống ông đã

hỏi thẳng rắn : “ nếu là thần rắn, hãy theo tôi về nhà, tôi gả con gái cho” [41,tr.17]. Người

rắn đôi khi xuất hiện nguyên hình như trong Bô lô Đu lơ (truyện trầu cau) của dân tộc Catu

và nói với bà mẹ của 10 cô gái xinh đẹp “bà gả con gái cho tôi, tôi trả lại rìu cho bà ngay

bây giờ” [28,tr.42].

Nói chung tuy với những cách xuất hiện khác nhau nhưng tất cả các truyện trên đều

nhằm thể hiện môtip hôn nhân do thực hiện lời hứa. Vấn đề đặt ra ở đây chính là hôn nhân

giữa rắn và cô gái đẹp. Vì vậy mà các chàng rắn chẳng cần xa xôi dò hỏi mà đi thẳng vào

vấn đề “gả con gái cho tôi…”. Câu hỏi được đặt ra ở đây là tại sao lại lấy chàng rắn? Như

trên cũng đã nói với cuộc sống nơi núi rừng và muông thú, người dân tộc ít người luôn nảy

sinh những ý tưởng, những cảm xúc về tự nhiên và về mối quan hệ gần gũi với tự nhiên. Với

việc thần thánh hóa tự nhiên cộng với quan niệm về sự sống, người dân tộc ít người tin rằng

có thể tác hợp giữa con người với tự nhiên để cuộc sống của họ ngày một tốt hơn. Vì vậy

“người lấy rắn” chỉ là một kiểu truyện rất phổ biến trong nhóm truyện người lấy vật trong

truyện kể dân gian các dân tộc ít người (chúng ta có thể tim thấy các truyện khác nói về

người lấy vật như: Người lấy vượn (Mạ), chàng tôm (k’ho), chàng cóc (Kadong, Xêđăng,

Mạ, Êđê), chàng khỉ (Mạ), chàng rể cóc (Vân Kiều), chàng lợn (Giarai)…).

Trở lại motip người mang lốt rắn, ta thấy người mang lốt rắn đều được mô tả với bề

ngoài được lý tưởng hóa sau khi cởi lốt. Và bề ngoài đẹp đẽ đó chỉ được nhìn thấy sau khi họ

gặp được người con gái tốt bụng, hiếu thảo, thông minh. Trong truyện Bô lô Đu lơ của dân

tộc Catu thì cô gái sau khi nghe mẹ nói sẽ gả cả 10 các cô cho anh chàng rắn đẹp trai thì họ

đều háo hức để cho vừa lòng mẹ. Nhưng lần lượt 10 cô gái chạy đến thì chỉ có cô út Bum

Viêm đến chỗ rắn và gặp được một chàng trai trẻ đẹp, trong khi 9 cô chị chỉ gặp được một

con rắn hổ mang to lớn dễ sợ. Trong Chàng rắn của dân tộc Chăm thì nàng út chỉ được thấy

chàng trai khôi ngô, tuấn tú, thông minh của mình bước ra từ xác rắn vào đêm tân hôn. Trong

chàng rắn của Gia Rai thì khi về ở với nhau được ít lâu, nàng Lúi mới thấy được dáng vẻ

đẹp trai của chồng mình. Đôi khi các cô gái vì đã quen sống với các ông chồng rắn của mình

trong một thời gian khá dài nên khi gặp một chàng trai đẹp đẽ tự xưng là chồng mình thì các

nàng đều không tin rằng đó là sự thật và vẫn nhất quyết chồng của mình là rắn. Nàng Min-

dích quen sống nghèo khổ với một con trăn ở trong một cái nhà dột nát nên khi gặp một

chàng trai đẹp đẽ tự xưng là Kơlăn, chồng nàng thì nàng nhất quyết không tin. Sau khi Kơlăn

trở lại nguyên hình là trăn thì cô vui mừng tin đó là sự thật.

Tại sao các chàng trai mang lốt rắn?

Đa số các truyện không nói nguyên nhân những chàng trai mang lốt rắn trừ truyện

Chàng rể rắn - con long Vương và Chàng rắn - chàng trai chưa tới hạn trở lại kiếp người.

Ngoài hai nguyên nhân trên gắn với chủ đề hôn nhân ở đầu các truyện thì nguyên nhân

người đội lốt rắn được xem là thử thách để cuộc hôn nhân được hoàn hảo hơn vẫn mang tính

thuyết phục hơn cả.

Các chàng rắn thường bí mật biến thành chàng trai đẹp đến dụ dỗ vợ mình nhưng đều

thất bại vì những người con gái mà họ chọn đều là những người thủy chung. Lốt rắn chính là

thử thách để nhìn nhận vẻ đẹp tâm hồn của người con gái. Nàng AĐưn sau khi bị chàng trai

khôi ngô tuấn tú dụ dỗ đã kiên quyết rằng: “Dù chồng tôi có là một con rắn độc, tôi vẫn

chung thủy với anh ấy trọn đời” [6,tr.54].

Ngoài lý do thử thách lòng chung thủy của người vợ, lốt rắn cũng chính là ranh giới

giữa con người với thần linh. Và khi cởi lốt, con người và thần linh trở nên gần gũi và thân

thiện hơn. Cuộc sống hiện thực giữa tự nhiên hoang dã vô cùng khó khăn, vất vả đã làm cho

người nghèo khổ không nguôi mơ ước về một ngày cuộc sống tốt đẹp hơn. Hôn nhân với

thần linh là một mơ ước đẹp mà nếu nó xảy ra thì họ sẽ nhanh chóng thoát khỏi cuộc sống

khó khăn hiện thời. Trừ truyện Bô lô Đu lơ, những cô gái xinh đẹp, tốt bụng, hiếu thảo sau

khi lấy rắn đều trở nên giàu có và sung túc hơn, gia đình họ hàng cũng no đủ hơn từ khi con

gái họ lấy rắn. Bên cạnh mơ ước về cuộc sống tốt đẹp hơn cho những người nghèo khổ tốt

bụng, ở kiểu truyện này chúng ta cũng thấy mơ ước về sự công bằng trong xã hội khi những

kẻ xấu bị trừng phạt. Đây là kết cấu đặc trưng mang màu sắc triết lý của truyện cổ tích trong

việc phản ánh những mâu thuẫn trong mối quan hệ gia đình và xã hội. Trong Chàng rể rắn,

khi thấy mẹ con người đàn bà góa nghèo khổ đã trở nên giàu có, hạnh phúc thì mụ vợ góa

đạo mường giàu có đem lòng ghen tức. Mụ bắt cô con gái phải vào rừng tìm một con rắn để

làm chồng để được giàu có hơn nữa. Nhưng kết quả là con gái mụ đã bị trăn nuốt. Trong lúc

cô hoạn nạn thì người yêu cô đã ra tay cứu cô thoát chết. Trong Chàng rắn của dân tộc Gia-

rai, thấy Lúi em gái của mình lấy được chàng rắn đẹp trai thì Hơbia - người chị cũng đem

lòng ghen tức muốn cướp chồng Lúi và hãm hại cô. Nhưng cuối cùng người chị cũng bị

chàng rắn dạy cho một bài học đích đáng. Cô chị trong Lấy chồng trăn của dân tộc Xêđăng

khi thấy vợ chồng em gái sống hạnh phúc cũng tiếc rẻ, lòng tham của cô nổi lên, cô quyết

định vào rừng lấy một con trăn làm chồng. Kết quả là cô đã bị con trăn nuốt chửng. Với tài

nghệ của mình, chàng rể trăn đã cứu cô sống lại. Trong Trăn thần của dân tộc Chăm, sự việc

cũng được lặp lại như trong truyện Lấy chồng trăn của dân tộc Xêđăng, mẹ con người đàn bà

góa giàu có khi nghe người ta đồn hai mẹ con người đàn bà góa ở đầu làng nhờ trăn mà giàu

có thì cũng bắt chước, mang một con trăn về làm chồng cho con gái mình. Nhưng khi đi vào

buồng con gái mình mụ chẳng thấy chàng rể đẹp trai, giàu có nào mà chỉ thấy một mớ tóc lòa

xòa của cô con gái ở miệng trăn.

Với kiểu truyện này, ở Lào chúng tôi cũng tìm thấy một số truyện kể có nội dung

tương tự, đó là sự tích về cá heo : Chuyện kể rằng có cô gái ngoan hiền, nết na nhưng gia

đình rất nghèo, một hôm cô vào miếu thờ trong rừng cầu xin có được một tấm chồng. Rắn

thần nghe thấy liền nói hãy đưa rắn về làm chồng. Lễ cưới đã diễn ra. Đêm động phòng hoa

chúc rắn hóa thành chàng trai khôi ngô tuấn tú. Từ đó trở đi chàng giúp gia đình vợ làm ăn

khấm khá.

Có gia đình hàng xóm thấy vậy cũng vào rừng đưa một con rắn to về làm lễ cưới cho

con gái. Đêm động phòng nghe con gái la: “Mẹ ơi! Nó đã nuốt đến chân con”. Người mẹ

bảo: “Không sao đâu, vậy là nó thương con đó”... Cho đến khi không nghe tiếng con la nữa

cả nhà mở cửa phòng thấy rắn đã nuốt trọn cô gái vào bụng. Gia đình xấu hổ quá bèn khuân

rắn ra bờ sông Mekong mổ bụng cứu con. Cô gái bị chất nhờn của rắn trơn tuột xuống dòng

sông đang cuồn cuộn chảy và hóa thành cá heo [63]

Lại có một truyền thuyết khác về loài rắn: Ngày xưa có 3 chị em nhà này, bố mất sớm.

Một hôm họ đi vào rừng và nhìn thấy một cái cây quả sai chi chít và họ nói: “Nếu có người

đàn ông nào có thể hái trái cây này xuống cho chúng ta thì dù anh ta có xấu đến mức nào,

chúng ta cũng sẽ cưới anh ấy”. Một con rắn đã nghe được những lời đó và rồi có biến thành

một người đàn ông. Người này tiến đến chỗ 3 cô gái và hỏi “Ba cô gái định đi đâu thế?” Các

cô trả lời “Có rất nhiều trái cây trên kia, chúng tôi rất muốn ăn nhưng không thể leo lên cây.

Nếu anh có thể hái được cho chúng tôi, một trong ba chị em tôi sẽ cưới anh làm vợ. Anh có

thể chọn người nào anh muốn”. Nghe xong, người đàn ông rắn liền leo lên cây để hái quả và

rồi anh ta đã chọn cô em út trong 3 chị em. Thời gian trôi qua, đôi uyên ương này sống với

nhau rất hạnh phúc. Biết được rằng em gái mình đang sống rất hạnh phúc, một người chị

cũng muốn cưới rắn. Cô đã hỏi em rể của mình để tìm giúp cô một người chồng rắn khác.

3 ngày trôi qua họ không thể tìm được ai. Vào ngày thứ tư, theo lời khuyên của em rể

mình, cô gái đã đi một mình vào rừng nơi có nhiều cây đại thụ và các cây trái như hoa nở

mùa xuân. Cô nhìn thấy một con rắn đang ăn một con chuột, cô gái buộc sợi dây xung quanh

cổ rắn rồi lôi nó về nhà. Cô giết lợn, gà để chuẩn bị bữa tiệc thịnh soạn, mời tất cả hàng xóm

láng giềng đến tham dự lễ cưới của cô và rắn. Nửa đêm khi mọi người đã ngủ hết, rắn bắt

đầu cắn vợ mình. Khi thấy rắn cắn vào chân mình, cô gái sợ quá gọi mẹ: “Mẹ ơi, rắn cắn

chân con”. Mẹ cô gái quát con: “Người ta mới cưới nhau thì phải thế”. Khi rắn cắn vào đùi

cô gái, cô lại khóc thét lên: “Mẹ ơi, rắn đang cắn vào đùi con”. Mẹ cô gái lại nạt con: “Im

miệng ngay, con không thấy xấu hổ à? Mới cưới nhau thì người ta phải thế”. Cô gái không

dám gọi mẹ nữa và rồi cô bị rắn ăn thịt. Sáng hôm sau người mẹ không lấy gì làm lo lắng khi

thấy con gái mình dậy muộn vì bà nghĩ đôi uyên ương nào mới cưới nhau cũng đều thế.

Nhưng đợi mãi chẳng thấy con gái dậy, bà liền vào phòng tân hôn của con gái. Bà không

thấy con gái đâu mà chỉ thấy con rắn đang nằm đó với cái bụng rất to. Bà vội kêu dân làng

đến trói cổ rắn và kéo nó đến con suối gần nhà. Họ mổ bụng rắn nhưng cũng không thể cứu

được cô gái nữa. Người dân tộc Lào thêu hình hoa văn rắn để nhắc nhở con cháu họ rằng khi

không biết trèo cây thì đừng bao giờ nói to rằng mình muốn ăn trái cây kẻo rắn sẽ nghe thấy”

(theo lời kể của chị Lò Thị Ôn, 27 tuổi) [52].

Gắn motip người mang lốt rắn với môtip hôn nhân đã định, những người dân tộc miền

núi đã thầm gửi vào đó những ước mong về cuộc sống hạnh phúc cho những con người tốt

bụng. Những người con gái xinh đẹp, tốt bụng sẽ luôn tìm được hạnh phúc trong hôn nhân

như họ mong muốn. Con rắn - một con vật gần gũi linh thiêng với đồng bào dân tộc ít người

đã được nhân cách hóa thành những chàng trai khôi ngô, tuấn tú mang sứ mệnh là người

chồng lý tưởng của thế giới thần thánh (cả về nhân cách và hình thức) đem hạnh phúc đến

với những người con gái lý tưởng của cộng đồng.

Cuộc hôn nhân giữa rắn và người còn là mơ ước hòa nhập giữa tự nhiên với con

người, chàng trai rắn là hình tượng đẹp đẽ về một tự nhiên bình yên, hiền hòa.

Dựa trên những nội dung đã phân tích, chúng ta có thể đưa ra sơ đồ kết cấu chung cho

kiểu truyện này (chúng tôi tạm gọi là kiểu truyện chàng rắn):

Cha mẹ của các cô gái tình cờ gặp rắn và được rắn giúp đỡ

Rắn đề nghị được lấy con gái của họ

Người con gái tốt bụng thương cha mẹ nên chịu lấy rắn

Rắn cởi lốt trở thành chàng trai khôi ngô tuấn tú sống

hạnh phúc bên người vợ của mình Ngoài ra một số truyện còn có thêm nội dung sau:

Ngoài ra, trong một số truyện kể khác có thêm nội dung sau:

Cô chị (hoặc những người con gái khác) thấy người con gái tốt bụng lấy được chồng rắn đẹp trai, giàu có nên đem lòng ghen ghét

Cô chị (hoặc những người con gái khác) dở lòng tham hoặc hãm hại người con gái tốt bụng

Cô chị (hoặc những người con gái khác) bị trừng phạt

So sánh với kiểu truyện anh hùng rắn ở chương II, ta thấy có một một số điểm tương

đồng giữa hai nhân vật người rắn:

- Chàng rắn và người anh hùng rắn đều tài giỏi và có sẵn phép thần.

- Tồn tại giữa hai kiếp, nửa người nửa rắn.

- Xuất hiện để thực thi sứ mệnh:

+ Anh hùng rắn: đánh giặc bảo vệ đất nước.

+ Chàng rắn: Kết hôn và đem lại hạnh phúc cho người con gái tốt bụng, chung

thủy (ngoài ra một số truyện thuộc nhóm này cũng có nội dung: chàng rắn giúp vua đánh

giặc sau khi chiến thắng được truyền ngôi)

- Lốt rắn: Nguồn gốc xuất thân cao quý thần linh của chàng rắn và người anh hùng

rắn.

Hai kiểu truyện này cũng có một số điểm đối lập khá thú vị, đó là: Sau khi hoàn thành

nhiệm vụ, anh hùng rắn hóa thân từ thế giới con người trở về thế giới rắn trong khi chàng rắn

từ thế giới rắn lại bỏ lốt rắn và hòa mình thế giới con người.

Qua so sánh ta thấy cũng với nguồn gốc xuất thân từ rắn nhưng nếu người anh hùng

rắn (chương hai) nguồn gốc cũng như việc hóa rắn sau khi hoàn thành sứ mệnh chỉ đơn giản

là việc thêm thắt để làm đẹp thêm chân dung, kỳ vĩ, thần thánh của những người anh hùng

hiện thực thì nguồn gốc xuất thân của các chàng rắn (chương ba) là mơ ước, ảo tưởng hóa

của những con người về hiện thực tự nhiên quanh họ. Vì thế nhóm truyện ở chương hai gắn

với thực tế dẹp giặc và hy sinh của những vị anh hùng để bảo vệ cuộc sống bình yên của

cộng đồng trong khi nhóm truyện ở chương ba lại gắn với mơ ước xa vời về một tương lai tốt

đẹp. Và đây cũng chính là nét đặc trưng ứng với hai thể loại truyền thuyết và cổ tích.

3.2. Hình tượng rắn trong cuộc chiến của dũng sĩ diệt rắn ác cứu người đẹp

Như trên đã trình bày rắn tượng trưng cho tự nhiên vì thế mà bên cạnh những con rắn

hiền lành luôn tồn tại những con rắn ác.

Con người từ thưở ban đầu luôn muốn thiên nhiên đứng về phía mình, trở thành họ

hàng của mình (môtip người mang lốt rắn). Tuy nhiên trước sự cầu cúng, hiến tế của con

người, thiên nhiên vẫn tiếp tục gây hại. Bởi vậy hình tượng con rắn ác xuất hiện đã bao hàm

trong đó cả sự căm ghét lẫn tức giận của con người với những tai họa mà thiên nhiên khắc

nghiệt đã đem đến cho mọi người. Kế tục môtip sáng tạo của huyền thoại, truyện cổ tích của

các dân tộc ít người đã tạo ra motip diệt rắn ác cứu người đẹp. Ở nội dung này, chúng tôi

khảo sát trên 7 truyện, trong đó có các truyện: Y Kluch chém rắn thần cứu con gái Mơtao

(Êđê), Chàng đánh cá Yang (M’nông), Yrit và Yron (Bana), Ba chàng dũng sĩ (Bana),

Vuhơmin (Hơre), Hơ Mênh chém rắn thần (Hơre), Y Tơ Lông đi tìm hạnh phúc (Êđê)

Với nội dung trọng tâm xuất hiện ở tiêu đề của phần này, ta thấy “Dũng sĩ diệt rắn ác

cứu người đẹp” là một trong những nhóm truyện đặc trưng trong hệ thống truyện dân gian

của các dân tộc ít người. Điểm nổi bật nhóm truyện này là luôn tồn tại bộ ba nhân vật: Dũng

sĩ − rắn ác − người đẹp.

Về nhân vật dũng sĩ, mở đầu những truyện kể này thường là việc giới thiệu nguồn gốc

xuất thân của các dũng sĩ. Điểm đáng chú ý ở đây là các dũng sĩ thường xuất thân là những

người nghèo khổ, mồ côi. Chàng đánh cá Yang của dân tộc M’nông có hoàn cảnh vô cùng

thương tâm, cha mẹ chết khi còn nhỏ, chú thím cướp mất nhà cửa, tài sản của cha mẹ, Yang

phải đi chăn trâu, chăn bò, trồng nương rẫy, đánh cá để kiếm sống và nuôi chú thím. Không

phải là một hiện tượng đơn lẻ, tồn tại trong một vài truyện mà ở đây cái nghèo khó, bất hạnh

đã trở thành môtip chung cho kiểu truyện này. Yrit và Yron của Gia Rai cũng là hai anh em

mồ côi cha mẹ, nghèo khổ, hàng ngày phải đi làm mướn nuôi thân. Vuhơmin của Hơrê

không chỉ là một người mồ côi mà bản thân anh còn bị ghẻ lở đầy người khiến mọi người

đều xa lánh. Y Kluch của Êđê cũng là một chàng trai nghèo khổ, cha mẹ của chàng vì trốn

khỏi nạn cống nạp cho trăn thần của Mơtao mà phải vào rừng sống như một con mang, con

nai.

Ở đây, ta thấy có sự thâm nhập của kiểu truyện cổ tích thần kỳ về người mồ côi vào

kiểu truyện cổ tích thần kì về người dũng sĩ. Vì vậy nhân vật dũng sĩ ban đầu xuất hiện đều

là những kẻ mồ côi, nghèo khổ. Sự thâm nhập này, theo các nhà nghiên cứu là do sự phổ

biến của kiểu truyện nhân vật mồ côi trong hệ thống truyện kể dân gian của các dân tộc ít

người. Vì vậy, đây không phải là một trường hợp đặc biệt mà đọc các truyện kể khác, chúng

tôi cũng thấy có sự thâm nhập của kiểu truyện này. Sự thâm nhập giữa các kiểu truyện đã nói

ở trên thể hiện sự giao lưu và chuyển hóa linh hoạt trong sáng tác dân gian. Đối với kiểu

truyện dũng sĩ diệt rắn ác cứu người đẹp mà chúng tôi đang tìm hiểu thì sự xuất hiện của

nhân vật mồ côi, bất hạnh ngay từ đầu truyện cũng đồng thời tạo nên sự bất ngờ cho truyện.

Vì thế mà ẩn sau sự nghèo khổ của những người con không cha đó lại là những con người

mang tố chất dũng sĩ hoặc là những người được lực lượng thần linh chọn dể ban tặng cho

một sức mạnh phi thường.

Ba chàng trai trong Ba anh em dũng sĩ có cánh tay cứng như sắt, chân chạy nhanh như

gió, mắt sáng nhìn xa hơn mắt chim ưng. Yang sau khi bị một vị thần dùng gió đẩy chiếc

thuyền đến một xứ lạ thì anh đã gặp một gia đình. Ở đó anh đã có một sức mạnh nhờ tắm

nước thần. Vuhơmin ghẻ lở xấu xí lại là con của vua thủy tề, chàng đã xin cha truyền cho

phép thuật để trừ rắn thần. Hơmênh con vua thủy tề cũng xin cả nhà giúp sức để chiến đấu

với rắn. Nói chung, tất cả các dũng sĩ cho dù là con vua thủy tề hay không đều được xây

dựng với hình dáng bên ngoài vô cùng khổ sở, bất hạnh. Tuy nhiên cuộc sống khổ sở của bản

thân không hề làm giảm đi ý chí của họ trong cuộc sống. Qua đó ta thấy rằng dù ở kiểu

truyện nào những nhân vật mồ côi bất hạnh vẫn luôn được các tác giả dân gian trân trọng và

đề cao.

Ngoài tố chất dũng sĩ cộng sức mạnh được thần linh ban tặng, các chàng trai đều là

những người nghĩa hiệp đều hết lòng vì mọi người. Vì vậy không vì một mục đích riêng tư

nào các chàng trai đều tự nguyện diệt trừ rắn ác cứu đồng loại (trong khi Thạch Sanh của

người Kinh bị đẩy vào trường hợp phải chiến đấu với chằn tinh). Các chàng trai của các dân

tộc ít người thường tình cờ gặp những cô gái đang chờ để hiến cho rắn thần sau đó ra tay

nghĩa hiệp để cứu người gặp nạn. Trong khi động cơ chiến đấu với rắn ác của những người

hùng khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung bộ thường là để trả thù cho người thân tức là vì mục

đích riêng tư. Sự trái ngược trong động cơ của các nhân vật tiêu diệt rắn trong hai kiểu

truyện này cũng đã thể hiện cấp độ phát triển của hai xã hội. Trong khi xã hội người Kinh ở

khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ đã phát triển ở chế độ tư hữu theo từng gia đình riêng với ý

thức cá nhân được đề cao thì ở xã hội của những dân tộc ít người vẫn còn mang nhiều tàn dư

của thời kì thị tộc, bộ lạc. Những tàn dư của chế độ xã hội này đã tạo dựng nên ý thức thị tộc,

bộ lạc sâu sắc. Vì vậy mà những chàng trai của những dân tộc ít người luôn là người sẵn

sàng “vì nghĩa quên thân” đặt lợi ích của buôn làng lên trên lợi ích riêng.

Nói về nhân vật những người đẹp, những người đẹp xuất hiện trong kiểu truyện này là

những người bị mang ra hiến tế cho rắn. Về đời sống vật chất họ thường được xây dựng đối

lập với các chàng trai. Nếu như các chàng trai nghèo khổ, chật vật vì miếng cơm manh áo thì

các cô gái ở đây thường là con nhà giàu, xinh đẹp. Chính vì luôn ở thế đối lập khó có thể gặp

nhau ấy mà nhân vật rắn ác xuất hiện như một cầu nối giữa dũng sĩ và cô gái đẹp. Cô gái đẹp

cũng chính là món quà xứng đáng mà tác giả dân gian dành cho chàng dũng sĩ can đảm và

nghĩa hiệp sau khi tiêu diệt rắn ác.

Những con rắn ở đây đa số được mô tả hung tợn và kỳ ảo, rắn có khả năng bay và

phun lửa. Con rắn trong Hơmênh chém rắn thần được mô tả “rất to, rất dài, lưng đen sẫm,

bụng hung đỏ, miệng rộng hơn miệng một con cọp to, răng nhọn hơn lưỡi giáo, lưỡi đỏ như

máu, mắt đỏ như lửa [40,tr.49]”. Con rắn trong Chàng đánh cá Y Ang cũng được mô tả khá

là gớm ghiếc: “Cái mồm rộng phun khói phì phì, khói ẩm và thối. Răng nó dài như sừng tê,

lưỡi dài như vòi voi. Trên mình có bao nhiêu là vảy”. Và khi “những chiếc vẩy trên người

nó cọ vào nhau như tiếng sắt cọ vào nhau” [49,tr.180]. Còn con trăn tinh trong Y Tơ Lông đi

tìm hạnh phúc thì: “mài răng “kèn kẹt” nghe rợn cả người. Nó trương cái bụng ra thở phì

phò, hơi thở bay ra thành gió bão, mùi hôi sặc sụa”. Ngoài ra con rắn trong ba anh em dũng

sĩ còn có 3 viên ngọc: Xanh (bão), trắng (nước lũ), đỏ (lửa). Với sự hung tợn ấy, rắn tượng

trưng cho cái ác tàn bạo. Vì vậy ngoài những gia súc đem hiến cho rắn, người ta còn phải

hiến cả một cô gái đẹp cho rắn ăn thịt. Với hành động hiến tế cho rắn, con người tuy rất sợ

hãi và căm thù rắn nhưng trong thâm tâm vẫn cầu mong rắn thần thôi không quấy phá cuộc

sống của họ.

Luôn có một kì hạn trao đổi đã định giữa người và rắn. Để từ đó con người cầu xin sự

nhân nhượng của rắn. Thế nên tới kỳ hạn đã định người ta không quên hiến tế cho rắn gia

súc và cả con người. Những kì hạn đã định được nêu ra trong các truyện cộng với những chi

tiết liên quan đến nước khi rắn ác xuất hiện khiến cho ta liên tưởng đến những thời gian

thường xảy ra ngập lụt, mưa bão trong năm mà người dân đã quan sát và đúc kết được.

Trong chàng đánh cá Yang, nhà vua cứ 7 năm một lần phải dâng một công chúa cộng với

500 con trâu, con heo, gà… cho rắn. Trong Yrit và Yron, đúng ngày trăng tròn, khi nước lũ

tràn về, nước hồ dâng lên, nhà vua phải nộp đủ 2 công chúa xinh đẹp cho rắn. Trong truyện Y

Tơ Lông đi tìm hạnh phúc thì chúa làng cứ 7 năm một lần phải mang một người con gái đẹp

cho trăn tinh ăn thịt nếu không trăn tinh sẽ làm hạn hán hoặc gây ngập lụt. Việc hiến tế

những người con gái đẹp cho rắn có mặt trong hầu hết kiểu truyện này của các dân tộc ít

người. Đây là hành động được các nhà nghiên cứu đánh giá là có nguồn gốc từ tục hiến tế cổ

xưa. Trong chuyên luận của mình về Thạch Sanh, tác giả Bích Hà cũng cho rằng: “ Tục hiến

tế này còn phản ánh một phong tục tối cổ là hôn nhân cống nộp để thực hiện sự kết thân, hòa

hiếu trước đây giữa hai lực lượng mạnh và yếu”[13,tr.58]. Đây là một ý kiến rất thú vị. Từ ý

kiến này chúng tôi thấy được sự chuyển đổi ý nghĩa của biểu tượng giữa kiểu truyện chàng

rắn với kiểu truyện dũng sĩ diệt rắn ác qua hai cuộc hôn nhân. Nếu trong chàng rắn hôn nhân

kết thân tự nguyện mang lại nhiều niềm vui cho các cô gái và cộng đồng thì đến kiểu truyện

dũng sĩ diệt rắn thì hôn nhân bắt buộc bằng nghi lễ hiến tế đã gây nên nỗi đau khổ, tuyệt

vọng cho con người.

Tuy luôn sợ hãi, cầu mong, hy vọng sự “khoan nhượng” của rắn nhưng con người vẫn

nung nấu quyết tâm tiêu diệt rắn ác. Họ hy vọng một ngày nào đó sẽ có một chàng trai khỏe,

đẹp, tài ba xuất hiện tiêu diệt rắn ác giải thoát cho người đẹp và cả cộng đồng.

Một chi tiết cũng rất phổ biến trong kiểu truyện này các chàng trai tuy đã xuất hiện rất

lâu trong cộng đồng nhưng khi tình cờ gặp hoàn cảnh thương tâm của các cô gái thì họ mới

tỏ rõ bản lĩnh của mình. Trong truyện chàng đánh cá Yang, Yang trong lúc đi chăn trâu đã

phát hiện ra công chúa tội nghiệp đang bị giam trong lâu đài chờ dâng cho ác long thì chàng

đã vội vàng tới xứ sở của các vua khổng lồ Y Ác để nhờ rèn một thanh kiếm đủ sức giết con

ác long. Vuhơmin trong lúc đi trú mưa đã gặp nàng Hơchin xinh đẹp đang chờ nộp mạng cho

rắn. Chàng đã tìm gặp cha là vua thủy tề để xin một thanh kiếm đồng thời xin cha truyền cho

phép thuật để tiêu diệt rắn thần. Y Kluch trong khi đi câu cá đã gặp người con gái Mơtao

đang chờ bị hiến tế. Chàng đã rèn dao giết rắn thần. Chàng Hơmênh trong lúc đi câu bị mắc

mưa cũng gặp người con gái xinh đẹp đang chờ nộp mạng cho rắn thần. Chàng cũng trở về

thủy cung gặp cha mượn thanh kiếm thần và xin cả nhà giúp sức cho chàng chiến thắng rắn

thần. Trong những tình huống trên ta thấy luôn là việc gặp gỡ những người đẹp bị nạn trước

khi các dũng sĩ ra tay tiêu diệt rắn. Nếu như hành động giết rắn tinh rồi mới gặp người đẹp

trong Thạch Sanh thể hiện tài năng phi thường của nhân vật dũng sĩ thì hành động gặp người

đẹp rồi mới ra tay cứu giúp của các dũng sĩ dân tộc ít người lại cho thấy tinh thần nghĩa hiệp,

và ý chí quyết tâm cao của các dũng sĩ trong những tình thế vô cùng cấp bách và khó khăn.

Phân tích động cơ, cũng như quá trình xuất hiện của từng nhân vật ta thấy rằng trong

bộ ba: Dũng sĩ - rắn - người đẹp. Hình tượng rắn có vẻ mờ nhạt. Rắn dù hung tợn và tàn ác

đến mấy đều bị các dũng sĩ nhanh chóng tiêu diệt. Điều đó cho thấy, rắn chỉ là chiếc cầu nối

để từ đó con người vươn đến một triết lý cao đẹp trong cuộc sống, đó là cái thiện sẽ luôn

chiến thắng cái ác.

Ngoài nội dung chính của truyện là cuộc đấu tranh của dũng sĩ và rắn ác để cứu người

đẹp thì trong một số truyện thuộc kiểu này cũng thường thấy xuất hiện tình tiết tặng tín vật

và tìm lại tín vật. Trong các truyện trên tín vật các cô gái có được không phải do các chàng

trai trao tặng mà chủ yếu do các cô gái tự giành lấy. Chàng Yang sau khi giết xong ác long,

định bỏ đi thì công chúa đã nắm đuôi không cho đi. Chàng phải cắt bỏ đuôi khố. Chàng Y

Kluch cũng bị H’Bia con gái Mơtao nắm lấy đuôi khố không cho về nhà sau khi chàng chém

chết trăn thần. Chàng rút dao quay lại chặt đứt đuôi khố và chặt thêm con trăn đứt làm ba

khúc. Y Tơ Lông sau khi giết được trăn tinh và cứu được con gái chúa làng cũng không nói

tên mình và định bỏ đi nhưng cô gái đã cầm lấy đuôi khố của chàng, chàng giật mạnh, đuôi

khố đứt. Đây là một trong những chi tiết rất hay thể hiện phong tục cũng như tính cách của

đồng bào dân tộc ít người. Các cô gái dân tộc ít người đã mạnh dạn thể hiện tình yêu cũng

như chủ động tìm lấy hạnh phúc cho mình. Vì thế mà người anh hùng có công diệt rắn cứu

người đẹp đã nhanh chóng được nhận ra (dù cố tình trốn tránh) sau khi so tín vật. Tình tiết

này lại một lần nữa khẳng định động cơ cứu người trong sáng cũng như phẩm chất tốt đẹp

của những dũng sĩ.

Không chỉ so tín vật, giống như kiểu truyện chàng rắn, trong kiểu truyện này cũng có

những hành động tượng trưng thể hiện cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong xã hội

như việc thi chặt đầu rắn thần, đọ sức giữa dũng sĩ diệt rắn và những kẻ mạo danh để nhận ra

dũng sĩ thực sự trong truyện Vu Hơ-min. Chuyện Hơ-mênh thi tài đánh chiêng, uống rượu,

ngồi trên mũi giáo, thi dọn xác rắn thần với bọn người xấu Dró và Drai.

Sơ đồ kết cấu của truyện của truyện như sau:

Dũng sĩ gặp người đẹp bị nạn

Dũng sĩ chiến đấu với rắn cứu người đẹp

Dũng sĩ tiêu diệt rắn ác

( so sánh và nhận lại tín vật)

Dũng sĩ kết hôn với người đẹp

Kế thừa hình tượng rắn trong huyền thoại, rắn hiền tượng trưng cho nước hòa thuận,

làm lợi cho con người, rắn ác tượng trưng cho thủy tai, làm hại con người; hình tượng những

con rắn ác trong truyện cổ tích của một số dân tộc ít người khu vực miền Trung và Tây

nguyên được xây dựng tượng trưng cho cái ác đang tồn tại trong cộng đồng và những dũng sĩ

tượng trưng cho cái thiện trong cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác luôn giành được thắng lợi

tuyệt đối dù cho những kẻ xấu, kẻ ác cố tình lừa gạt, mạo danh.

So sánh kiểu truyện dũng sĩ diệt rắn ác của khu vực miền Trung Tây nguyên với kiểu

truyện anh hùng diệt rắn ác của khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ:

Trong hai kiểu truyện này ta thấy về kết cấu chung rất giống nhau. Truyện đều mở đầu

với việc rắn ác tác oai tác quái, phá vỡ cuộc sống bình yên vốn có của con người. Và người

một người hùng xuất hiện đứng ra tiêu diệt rắn. Truyện đều có bộ đôi người diệt rắn và rắn

ác. Trong hai kiểu truyện trên ta thấy điểm khác biệt lớn nhất là yếu tố cá nhân và yếu tố

cộng đồng. Dũng sĩ của các dân tộc ít người diệt rắn để cứu một cô gái không quen biết là

nhân vật tượng trưng cho cộng đồng trong khi người anh hùng của dân tộc Kinh Bắc bộ và

Bắc Trung bộ ra tay diệt rắn xuất phát từ việc trả thù cho người thân. Điều này đã cho thấy

chính xã hội mà các anh hùng đang tồn tại đã quyết định động cơ hành động của họ.

Cũng dựa trên một kết cấu chung nhưng kiểu truyện dũng sĩ diệt rắn ác gắn với thể

loại cổ tích đã kể lại ước mơ của những dân tộc ít người về sự tồn tại của một lực lượng siêu

nhiên trong cuộc sống. Niềm hy vọng, chờ đợi sự giúp đỡ của lực lượng ấy mỗi khi gặp khó

khăn đã làm cho những câu chuyện của họ thật lãng mạn và bay bổng. Trong khi gắn với thể

loại truyền thuyết, kiểu truyện anh hùng diệt rắn ác của miền Bắc và Bắc Trung bộ lại mang

đậm màu sắc hiện thực. Truyện là bài ca ca ngợi chiến công của những con người dám đối

mặt với những khó khăn trong cuộc sống.

Tóm lại, ở chương ba, xét về số lượng truyện sưu tập được từ hai xu hướng, đó là:

đứng về phía rắn (kiểu truyện chàng rắn) và đối lập với rắn (kiểu truyện dũng sĩ diệt rắn ác

cứu người đẹp), chúng tôi thấy rằng ở xu hướng thứ nhất, số lượng truyện dày hơn, chiếm tỷ

lệ hơn năm mươi phần trăm. Điều đó cho thấy xu hướng khuất phục thiên nhiên trong đời

sống của người dân vẫn luôn là xu hướng chính. Xu hướng này cũng đã thể hiện được tính

cách của những con người luôn muốn hòa mình với thiên nhiên như giáo sư Chu Xuân Diên

từng lưu ý : Trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, người Việt phụ thuộc vào tự

nhiên, nương nhờ tự nhiên hơn là chiếm lĩnh, làm chủ tự nhiên. Khuynh hướng đó trong ý

thức thể hiện thành sự tôn trọng, sự sùng bái tự nhiên, trong hành động thể hiện thành những

sự lựa chọn có tính chất thích nghi với tự nhiên, tận dụng sức tự nhiên hơn là chinh phục tự

nhiên, dùng sức người thay thế tự nhiên, trong sinh hoạt thể hiện thành lối sống hòa hợp, hòa

mình với tự nhiên, gắn bó với môi trường tự nhiên. [7,tr.256-257]

Chương bốn

HÌNH TƯỢNG RẮN TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN NAM BỘ

Nam bộ là miền đất mới của Việt Nam. Nói là miền đất mới vì so với miền đất tổ có

tuổi đời ngàn năm thì Nam bộ chỉ mới được khai hoang cách đây hơn 300 năm.

Tuy nhiên không phải vì thế mà ở đây thiếu vắng các “sản phẩm” của văn hóa dân

gian. Cách đây hơn 300 năm, những người lưu dân ra đi từ mảnh đất cổ xưa của dân tộc vẫn

không quên mang theo bên mình truyền thống, phong tục cũng như các giá trị của văn hóa

tinh thần nơi quê cha đất tổ.

Đến với mảnh đất rộng lớn, màu mỡ, xa lạ, họ không khỏi bị choáng ngợp bởi thiên

nhiên hoang sơ, hùng vĩ, bởi những dòng sông rộng lớn, những cách đồng xa tít tắp, bởi sự

phong phú của muông thú. Với vốn văn học ít ỏi được lưu lại trong tâm trí cùng với cảm xúc

về cuộc sống của những người dân ngày đầu đến khai hoang, họ đã “kể” lại cuộc hành trình

gian nan và vất vả của mình qua các tác phẩm văn học dân gian.

Tìm hiểu những truyện kể dân gian ở Nam Bộ cụ thể là truyện kể dân gian ở khu vực

miền Tây Nam Bộ, chúng tôi cũng thấy sự xuất hiện của những truyện kể về rắn trong nhóm

truyện kể về thú dữ ở khu vực này.

Có một đặc điểm hết sức kì lạ khi đến với mảnh đất Tây Nam Bộ là đâu đâu chúng tôi

cũng thấy người ta nhắc đến rắn như trong địa danh Cái Rắn, người ta kể lại rằng: Trong thời

loạn lạc dọc theo mé rạch Cái Rắn, chỉ có vài chục cái nhà lá, cách nhau bởi một con rạch

nhỏ. Hai bên mé rạch, dừa nước mọc bịt khừ, như tại Rau Dừa lúc trước. Vì thế có nhiều loại

rắn xỏ xâu trên ngọn, cho nên rạch và xóm gọi là "Cái Rắn" [24,tr. 83 – 84]

Trong khi thuật lại việc đào kinh Châu Đốc, Thoại Ngọc Hầu cũng viết: ...Trong cảnh

rừng núi thâm u, ban đêm cọp rình bắt người xé xác ăn thịt. Quân lính cũng mỏi mòn không

kém gì sưu dân nên sự canh phòng chểnh mảng, không bảo vệ nổi những tai nạn kinh khủng

ấy. Nạn rắn độc cũng nhiều. Rắn bò nhung nhúc trong bưng biền, bờ bụi, hang hốc. Thời đó

nhiều tay chuyên lấy nọc rắn thần diệu. Nhưng rủi ro chạm phải nọc độc của Mái Gầm hổ

mây mà không có thầy thuốc bên lưng thì cầm chắc mất mạng."Mái Gầm tại lỗ, rắn Hổ về

nhà" nhưng về được tới nhà mà chưa có linh dược thì chết tức tốc còn gì [14,tr.152– 153].

Sự tích về địa danh Bãi Xàu (Sóc Trăng ) kể lại như sau: xưa có đám người vô rừng

làm củi, đến chiều, hốt trứng rắn đem về, bỏ trứng vào nước luộc chưa chín thì cặp rắn thần

về rượt cả bọn chạy trối chết. Lúc trở lại, lửa tắt queo, trứng rắn thần đã thâu, còn nồi cơm

vẫn còn sống nhăn nên gọi Bãi Xàu. Nay trên đường từ chợ Mỹ Xuyên đi về Chợ Cũ Bãi

Xàu xóm Phước Kiến, có tòa cổ miếu Ba Thắc, sau miếu còn thấy hang rắn và tương truyền

đó là cặp rắn hổ ngựa của thần và dân quê mùa sở tại vẫn tin đó là cặp rắn lưu lai của cặp rắn

thần đời xưa nhưng đã đi tu nên không thấy nữa [62].

Và còn rất nhiều địa danh khác ở miền Tây Nam bộ liên quan đến rắn thế nhưng khi đi

tìm hiểu những truyện kể dân gian về rắn thì chúng tôi lại vô cùng bối rối vì so với những

truyện kể về các thú dữ khác (truyện kể về cọp và cá sấu) ở khu vực này và so với cả truyện

kể về rắn ở các khu vực chúng tôi đã tìm hiểu ở trên thì truyện kể về rắn ở khu vực này quá

ít. Xét về cả hình thức và nội dung thì truyện kể về rắn ở đây cũng đơn giản và ngắn gọn

hơn. Đây cũng là đặc điểm chung của những truyện kể dân gian Nam Bộ như một nhà

nghiên cứu đã từng nhận xét như sau: “ Một số chuyện kể dân gian Nam bộ có phần giản

lược, dàn trải, hoặc nhợt nhạt…” [32,tr.137]

Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do kết cấu xã hội và phong cách bố cục

xóm ấp Nam bộ. Bởi vì nếu như ở đồng bằng sông Hồng, cư dân sống ổn định nhiều đời

trong các làng xã với “bộ máy kiểm tra xã hội gay gắt, chặt chẽ của vương quyền, thần

quyền và phụ quyền” [32,tr.136] thì ở Nam bộ các thôn ấp lại được mở rộng theo kênh rạch

với cơ cấu cư dân đa tạp và biến động, ít chịu ảnh hưởng của các tư tưởng Nho giáo cũng

như tục lệ của làng xã. Chính vì đặc điểm trên mà việc sáng tác, lưu truyền, bảo lưu văn học

dân gian ở đây ít nhiều bị ảnh hưởng.

Về tư liệu, chúng tôi chỉ thu thập được 7 truyện về rắn (dạng hoàn chỉnh) trong các tập

truyện dân gian đã xuất bản của Nam Bộ. Tuy nhiên, do giới hạn nghiên cứu đã đặt ra cũng

như để thuận lợi cho việc tìm ra đặc điểm chung của kiểu truyện rắn của khu vực, chúng tôi

chỉ chọn ra được 5 truyện, đó là : Thầy rắn ở Đồng Tháp Mười, Rắn chúa, Sự tích rạch Cái

Rắn, Ông thầy thuốc gia truyền, Mãng xà vương ở Tân Bằng. Hai truyện còn lại là : Rắn

Tháp Mười và Nghĩa khuyển do có nội dung không đặc trưng nên chúng tôi không khảo sát

trong đề tài này.

Phần tư liệu còn lại chúng tôi thu thập được hầu hết là những mẩu truyện nhỏ về rắn

nằm rải rác trong các sách địa chí của các tỉnh miền Tây Nam Bộ và một phần nhỏ khác

chúng tôi thu thập được trên các báo. Phần tư liệu này cũng khá ít và rất khó xác định được

thể loại. Dựa trên nội dung cũng như kết cấu, chúng tôi thấy rằng đã có sự đan xen giữa yếu

tố hiện đại và yếu tố huyền thoại trong những mẩu truyện này. Vì vậy, chúng tôi sẽ đi vào

khảo sát khía cạnh huyền thoại trong những truyện trên để qua đó thấy được đặc điểm tư duy

huyền thoại phía Nam. Và theo chúng tôi rất có thể đây là dạng thức vận động của thể loại

trong đời sống hiện đại ?

Với lượng tư liệu quá ít ỏi chúng tôi thu thập được, một câu hỏi đã được đặt ra: liệu

chúng tôi có tìm được những đặc trưng riêng của truyện kể về rắn ở Nam Bộ và truyện kể về

rắn ở Nam Bộ có điểm gì giống với những truyện kể về rắn ở các khu vực khác trong cả

nước? Đi vào tìm hiểu và phân tích, chúng tôi cũng tìm ra được những đặc điểm rất riêng

cũng như những điểm tương đồng của truyện kể về rắn ở Nam Bộ so với truyện kể về rắn ở

các khu vực mà chúng tôi đã tìm hiểu.

4.1. Hình tượng rắn gắn liền với những ông thầy trị rắn

Trước tiên chúng ta tìm hiểu nhóm 5 truyện được thu thập trong các tập truyện kể dân

gian Nam Bộ. Giống như những truyện kể ở khu vực BB & BTB và khu vực MTTN trong

nhóm 5 truyện này, chúng tôi cũng thấy xuất hiện hình tượng rắn bên cạnh hình tượng người

tiêu diệt rắn.

Điểm đáng chú ý đầu tiên trong kiểu truyện này, đó là hình tượng rắn.

Giống như tính cách của người dân Nam Bộ, không hoa mĩ, cầu kì, con rắn trong những

truyện kể Nam Bộ cũng hiện lên khá chân thực. Nói là chân thực vì những truyện kể chúng

tôi đang có trong tay dường như chỉ là những hồi ức của những lưu dân khi mới đặt chân lên

mảnh đất Nam bộ. Những con rắn được nhắc đến ở đây ít nhuốm màu huyền ảo. Rắn không

phải là rắn ác hay rắn hiền, rắn không biết phun lửa, không biết bay, rắn cũng không phải là

người đội lốt. Những con rắn trong truyện kể ở đây đa phần là những con rắn to, hung dữ có

nọc độc làm chết người.

Trong “ Thầy rắn ở Đồng Tháp Mười”, người ta kể về những con rắn như sau:…Rắn

ở Đồng Tháp Mười ai cũng biết tiếng. Rắn ở đây chẳng những to mà còn độc. Đối với những

người dân tiền phong đến khai phá Đồng Tháp Mười rắn là một trong những mối đe dọa ghê

gớm nhất …Khoảng năm 1858 tại vùng Đồng Tháp Mười xuất hiện một con mãng xà vương

rất hung dữ. Ai đi vào vùng ấy gặp phải nó thì kể như chết [37,tr.111].

Trong Ông thầy thuốc gia truyền những con rắn cũng được mô tả khá sống động:

Ngày xưa, vùng núi Sam, ngay cả ban ngày ít ai dám đi một mình trên đường vắng. Lối đi

trong xóm hai bên gai góc rậm rì, đi đêm phải cầm đuốc cầm cây để xua đuổi rắn. Những

năm “nước lớn” những ngôi nhà gần bãi phải kê sàn lên tận mái nhà. Trăn rắn chạy lụt bò lên

những gò đất, chui vào những ngôi nhà bập bềnh ven bãi. Lắm khi rắn bò lên tận chỗ người

nằm, thu mình dưới chiếu. Có con chắc vì mệt quá chưa bò kịp lên sàn, cuộn tròn quanh chân

cột suốt đêm. Sáng ra chủ nhà lấy gậy dài chọc đuổi mới đi. Đêm đêm rắn hổ ngựa ào ào

rượt chuột trên mái nhà. Ban ngày nhiều con rắn lục, màu da xanh biếc, quấn đuôi trên cành

cây, miệng huýt sáo những tràng dài. Nhiều hôm, có những con trăn dài hai ba thước treo

lủng lẳng trên cành tre…[15,tr.204 - 205]

Không chỉ mô tả về số lượng và chủng loại của rắn, đọc những truyện kể về rắn Nam

bộ, chúng tôi còn thấy xuất hiện một hình tượng rắn khá nổi bật. Nó không chỉ là nổi ám ảnh

của những người dân thường mà nó còn là một đối thủ đáng sợ viết tên những ông thầy trị

rắn tài ba vào “sổ tử”

Truyện kể Rắn chúa cũng đã mô tả lại khá rõ nét hình dáng con rắn này: Hình dáng

con vật thật là quái dị: đầu lớn bằng bàn chân mà thân hình ốm như cổ tay và ngắn chừng ba

tấc chứ không dài như mấy con bị bắt vừa rồi…Rắn chúa không bao giờ bò ra ngoài vì

không xê dịch được. Khi cần di chuyển nó cắn vào đuôi con khác để con kia kéo đi. Nhà

nghề bắt rắn rất sợ loại rắn này vì hễ gặp phải nó thì khó mà thoát chết [15,tr.325].

Đan xen giữa tính chân thực, chúng tôi cũng thấy trong hình tượng rắn Nam bộ phảng

phất những nét huyền ảo của hình tượng rắn ở khu vực Bắc bộ và miền Trung, Tây Nguyên.

Đó là sự nhân cách hóa trong hình tượng rắn, rắn xuất hiện tác oai tác quái. Và cứ mỗi năm,

người dân lại phải làm lễ hiến tế cho rắn.

Trong sự tích rạch Cái Rắn những con rắn được kể có phần được nhân cách

hóa:…Trước cửa đình có một cây đa khổng lồ, xung quanh là một đám “lâm” rậm rạp. Trong

đám lâm trước cửa đình Phú Nhuận có một hang rắn …Bọn rắn trong hang đã gây nhiều tai

họa cho dân làng Phú Nhuận không kể xiết. Nào là chuyện rắn cắn chết người. Nào là

chuyện rắn đòi hối lộ. Mỗi khi làng Phú Nhuận cúng lễ kỳ yên hàng năm phải hiến cho bọn

rắn mấy con heo trắng mới yên chuyện [43,tr.179 - 180].

Trong Mãng xà vương ở Tân Bằng, người ta thấy có bóng dáng của con chằn tinh

trong truyện Thạch Sanh và những con rắn khổng lồ trong truyện kể của các dân tộc ít người

khu vực miền Trung, Tây Nguyên. Tuy nhiên nếu như ở Thạch Sanh, nạn nhân được đem ra

hiến tế cho rắn là các chàng trai và trong truyện kể của các dân tộc ít người khu vực miền

Trung, Tây Nguyên nạn nhân được đem ra hiến tế cho rắn là các cô gái đẹp con nhà giàu thì

nạn nhân được đem ra hiến tế trong truyện này lại là những đứa trẻ.

Truyện kể như sau: Cách đây gần ba thế kỉ ở Tân Bằng, một làng nằm dọc trên bờ

sông Cán Gáo, vùng U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang, tương truyền có một cặp rắn rất lớn

dân chúng gọi là mãng xà vương.

Hàng năm, cứ đến đúng ngày, hai con mãng xà vương từ ngoài vịnh Thái Lan đến quấy rối

xóm làng. Đôi mắt mãng xà vương to như cái khạp da bò. Khi chúng đến cả vùng rung

chuyển, nổi giông gió sập cả nhà cửa. Dân làng khấn vái hứa hàng năm nộp cho mãng xà

vương hai đứa trẻ để ăn thịt. Từ đó mãng xà không còn hung hãn như trước [15,tr.321 - 322].

Đi đôi với hình tượng rắn, chúng tôi cũng thấy hình tượng người anh hùng tiêu diệt

rắn. Nhưng lại có một đặc điểm khá nổi bật ở truyện rắn của Nam Bộ so với các truyện rắn ở

các khu vực khác trong cả nước ở hình tượng này. Như chúng tôi đã nhắc ở trên nhân vật trị

rắn ở đây cũng như hình tượng rắn ít được tô vẽ và anh hùng hóa. Nếu những nhân vật trị

rắn trong truyện kể về rắn Bắc bộ và Bắc Trung bộ được nhân dân tôn vinh, thờ cúng như

một anh hùng dám xả thân vì cộng đồng và những nhân vật trị rắn trong truyện kể về rắn

Trung bộ và Tây Nguyên được người ta nhắc đến như một dũng sĩ diệt quái thú thì ở Nam bộ

người ta nhắc đến họ với cái tên vô cùng bình dân và gần gũi, đó là ông thầy rắn hoặc ông

thầy thuốc rắn. Những ông thầy vốn xem cái nghiệp trị rắn là một việc làm trời định và bản

thân họ cũng không thể chối từ cái nghiệp đó. Như nhà văn Sơn Nam đã từng nói: Ngay từ

buổi bình minh của lịch sử khẩn hoang miền Nam, dường như tạo hóa đã ban cho mỗi làng

xã một bà mụ vườn, một ông thầy lang và một ông thầy rắn hổ để cứu nhơn độ thế [68].

Và khi đã học nghề này họ phải thề trước vị tổ nghề 3 điều: “trị bệnh không ăn tiền,

không dùng khả năng có được để hại người, không lạm sát loài rắn” [68]. Chính vì lời thề

này mà những ông thầy trị rắn tuy có nghề hẳn hoi nhưng phải sống một cuộc sống vô cùng

hẩm hiu.

Ông Bảy Lễ, một nhân vật được xem là đại tài, rắn nào cũng phải thua ông và “theo

người ta – có tài như ông - thì đã làm giàu mấy kiếp rồi. Đằng này cả vợ chồng con cái, bảy

tám con người vẫn sống hẩm hiu trong mái nhà lá đơn sơ, không cửa nẻo”(Ông thầy thuốc

gia truyền ).

Giống như hình tượng rắn, ở đây cũng có sự pha trộn giữa chất huyền ảo với chất hiện

thực trong hình tượng ông thầy rắn. Tuy nhiên chất hiện thực đã chiếm phần hơn. Nó làm

cho hình tượng người anh hùng trị rắn trở nên gần gũi và bình dân.

Tuy nhiên người ta vẫn luôn thấy bên cạnh sự bình dân, mộc mạc của những ông thầy

trị rắn Nam bộ một sự huyền bí ma thuật của các thầy rắn Ấn Độ. Cũng giống như những

thầy rắn của Ấn Độ có thể làm cho những con rắn đong đưa theo tiếng kèn thì một số thầy

rắn Nam bộ cũng có khả năng khiển rắn ra khỏi hang và làm theo ý mình…Đây là nhóm

truyện khá phổ biến ở Nam bộ nhưng do phạm vi nghiên cứu nên chúng tôi không có điều

kiện tìm hiểu ở đề tài này.

Khác với những vị anh hùng tiêu diệt rắn ác ở các khu vực mà chúng ta đã tìm hiểu

chủ yếu phải dùng đến sức mạnh của bản thân và các công cụ thần kì, đối mặt với những con

rắn độc với hành tung đầy bí ẩn những ông thầy trị rắn ít phải dùng sức mà phần lớn phải có

sự hiểu biết về các loài rắn, phải có tài nghệ bắt rắn bên cạnh sự mưu trí của bản thân.

Truyện Mãng xà vương ở Tân Bằng mang đến cho ta những chi tiết khá hiện đại về sự

mưu trí của ông thầy trị rắn. Khi thấy hai đứa trẻ vô tội sắp làm mồi cho rắn, ông thầy rắn đã

cùng mọi người bàn bạc cách giết mãng xà. Ông đã cho người nhồi thuốc mê vào hai con chó

đã cạo sạch lông sau đó dùng mực và son để vẽ miệng và tô mắt xác hai con chó cho giống

hình hai đứa trẻ. Khi hai con mãng xà nuốt trọng hai con chó và ngấm thuốc mê thì ông cho

người vẽ mặt xanh mặt đỏ lên hai con rắn. khi thuốc mê mất tác dụng, trông thấy màu sắc kì lạ

của nhau, hai con rắn đã tự lao vào cắn xé lẫn nhau như kẻ thù.

Không chỉ mưu trí để bắt được rắn mà đi đôi với sự hiểu biết về các loài rắn, các ông

thầy rắn phải biết cách để giải được nọc độc của từng loại rắn.

Thầy rắn Năm Hơn tuy đủ tài nghệ để bắt được loài rắn phi lân xà, một loài rắn cực

độc có thể bắn vảy để truyền nọc độc vào những ai đứng gần nó nhưng do chưa đủ hiểu biết

về loài rắn này nên đã bị rắn bắn vảy vào người nhưng nhờ tài nghệ của thầy rắn Nguyễn

Nhạc, sư phụ của ông mà ông đã thoát chết.

Đôi khi những ông thầy trị rắn cũng bất lực ngồi nhìn cái chết của người bị rắn cắn vì

nạn nhân được đưa đến quá trễ và nọc độc đã theo máu vào đến tim. Và đôi khi cũng chính

bản thân họ dù tài giỏi cũng phải bất lực trước cái chết của chính mình khi gặp phải con rắn

chúa.

Trong sự tích rạch Cái Rắn, ông thầy rắn mặc dù tài giỏi và có sự chuẩn bị kĩ lưỡng

nhưng trước khi tấn công vào hang rắn ông vẫn dặn mọi người chuẩn bị cho ông một chiếc

quan tài. Và điều gì đến cũng đã đến, sau khi bắt gần hết hang rắn, “một con rắn nhỏ bằng

ngón tay, mình màu đen, cổ có bốn khoang trắng” đã bò ra cắn vào “hổ khẩu” của ông. Cái

chết đã được biết trước nhưng ông cũng buồn bã nói với mọi người : “Mạng tôi đến đây là

hết. Tôi đã bị con rắn chúa cắn rồi”[43,tr.180 - 181]

Ông thầy rắn trong truyện kể rắn chúa sau khi bủa được mẻ lưới to gồm bốn mươi tám

con rắn, trong lúc quơ tay tìm xem còn sót con nào trong hang không thì thình lình ông bị

một con rắn cắn vào cổ tay. Ông phát rùng mình ớn lạnh và khi đã nhìn kĩ con rắn đang còn

cắn cứng trên cổ tay thì ông cũng biết mình đã hết thời. Ông trối lại những điều cần thiết với

vợ con, đoạn trào đờm ngã chết trên ổ rắn.

Cái chết nghiệt ngã của những ông thầy trị rắn cho ta thấy được hiện thực cuộc sống

trên mảnh đất Nam Bộ. Mặc dù được thiên nhiên ưu đãi với nhiều sản vật, đất đai trù phú

nhưng bản thân những người dân khi mới đặt chân lên mảnh đất này luôn phải đối mặt

không chỉ với nạn thiên tai mà họ thường xuyên phải đối mặt với nạn thú dữ và rắn độc. Ghi

lại những câu chuyện về rắn trong nhóm truyền thuyết muộn về công cuộc khai hoang,

những người dân nơi đây đã góp thêm những bài ca ca ngợi chiến công của những vị anh

hùng thời mở đất.

Thử đặt chồng các kiểu truyện rắn ở khu vực Bắc bộ & Bắc Trung bộ, Miền Trung &

Tây nguyên và Nam bộ lên nhau chúng tôi cũng thấy nhiều điều thật thú vị. Nếu như ở khu

vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ, miền Trung và Tây Nguyên luôn tồn tại hình tượng con rắn

hiền và con rắn ác song song thì ở Nam bộ chỉ có một hình tượng rắn nổi bật, đó là con rắn

với nọc độc chết người. Đây cũng là một kết quả hiển nhiên khi cuộc sống định cư của

những lưu dân bắt đầu từ thế kỉ 18 với trình độ tư duy đã phát triển cao hơn. Vì vậy chất

huyền thoại không còn tồn tại nhiều như ở khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ, miền Trung và

Tây Nguyên thay vào đấy là chất hiện thực đậm đặc hơn.

Trong truyện rắn khu vực Tây Nam bộ cũng như ở hai khu vực đã nghiên cứu (truyện

về hình tượng rắn ác) luôn thấy xuất hiện hai hình tượng đối lập nhau, đó là nhân vật rắn và

người tiêu diệt rắn. Đây là đặc điểm chung lớn nhất của kiểu truyện rắn ba miền. Tuy nhiên

do sắc thái vùng miền cùng với thời gian ra đời mà hai hình tượng này luôn có sự biến đổi để

phù hợp. Và đặc điểm chung này cũng cho chúng ta một suy đoán rằng: đã có sự kế thừa ở

các kiểu truyện rắn.

Từ Bắc bộ, mảnh đất định cư đầu tiên của cư dân Việt, hình tượng con rắn – thủy thần

mang hai sắc thái của tự nhiên vừa có lợi vừa có hại đã trở thành chàng trai rắn hiền lành tồn

tại song song với quái vật rắn trong truyện kể rắn của các dân tộc ít người ở miền Trung và

Tây Nguyên. Vào đến mảnh đất Nam bộ nơi mà các cộng đồng cư dân sống đan xen không

kể sắc tộc (ở khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ, miền Trung và Tây Nguyên các dân tộc ít

người sống ở những khu vực riêng chủ yếu trên các vùng núi cao) truyện rắn chỉ còn lại hình

tượng rắn ác mang nọc độc chết người. Truyện rắn ở đây vừa pha một chút truyện rắn của

các dân tộc ít người trong tục hiến tế cho rắn đồng thời cũng có một chút bóng dáng của

truyện rắn Bắc bộ và Bắc Trung bộ trong chất bình dân của hình tượng người trị rắn.

4.2. Hình tượng rắn gắn liền với những nơi linh thiêng

Bên cạnh hình tượng con rắn độc trong 5 truyện kể mà chúng tôi vừa tìm hiểu, ở Nam

bộ còn tồn tại một hình tượng rắn khác đó là hình tượng những con rắn quy y. Hình tượng

này thường được thể hiện trong nhóm những mẩu truyện rắn mang đậm tính giao lưu văn

hóa của các tộc người. Như trên cũng đã giới thiệu, đây là những mẩu truyện chúng tôi thu

thập được từ các tập địa chí về các tỉnh miền Tây Nam bộ. Tuy có hình thức ngắn gọn, nội

dung đơn giản và chưa xác định rõ về thể loại nhưng những mẩu truyện này lại thể hiện sự

hòa trộn của hình tượng rắn trong vùng văn hóa đa sắc tộc.

Ở Nam bộ, ngoài dân tộc Kinh còn có các dân tộc như: khơme, Chăm, Hoa… sống

xen kẻ nhau. Như trên đã nói, không như ở các khu vực Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Trung bộ và

Tây Nguyên, các dân tộc ít người thường sống tập trung trên các vùng núi cao với tập tục

sinh hoạt, sản xuất, văn hóa khép kín; ở Nam bộ đặc biệt là ở khu vực Tây Nam bộ các dân

tộc ít người và người Kinh với vốn văn hóa cũng như phong tục tập quán riêng đã hòa quyện

vào nhau tạo nên sự phong phú trong vùng văn hóa khá đặc trưng và thú vị của đất nước.

Kế thừa hình tượng rắn trong Phật giáo đặc biệt là hình tượng rắn Naga trong văn hóa

của người khơme, ở Tây Nam bộ xuất hiện những mẩu truyện nhỏ nói về việc rắn tìm đến

chùa để tu.

Trong câu chuyện về Chùa Hang ở Châu Đốc, người ta đã nói đến việc tu hành của

các đệ tử rắn như sau: …Vào một đêm khuya, bà Thợ tụng kinh xong chợt nghe có tiếng thở

phì phò ở phía sau lưng. Bà quay nhìn thì thấy hai cuộn đen tròn bắt đầu di động. Bà lấy đèn

soi sáng thì đó là hai con rắn to bằng khạp da bò đang ngóc đầu cao với cặp mắt sáng rực. Bà

sợ hãi lùi lại cho đến khi đụng vào vách đá. Chợt hai con rắn gật đầu như kính cẩn chào bà.

Thấy rắn không hại mình, bà lấy lại bình tĩnh và lên tiếng :

- Có phải các ngươi muốn tu ?

Hai con rắn đều mọp đầu xuống thềm đá. Từ đó mỗi lần bà tụng kinh chúng đều đến

nằm khoanh bên chân bà lắng nghe. Ðồ chay cúng Phật, bà múc cho chúng ăn. Theo màu

sắc, bà đặt cho con xanh đen tên Thanh Cô, con trắng có sọc xanh tên Bạch Xà. Ðêm đêm,

hai con rắn thay phiên nhau canh gác am, ngăn chặn thú dữ và kẻ gian đến quấy phá [60].

Trong cuốn Bạc Liêu xưa, khi nói về Cẩm Phong Tự (Tục danh chùa Quan Huế),

người ta đã nhắc lại:...mé trước chùa dựa bờ sông có một cặp rắn to có mồng, thường cất

tiếng gáy ghê rợn vào lúc bình minh và lúc hoàng hôn. Mà tuyệt nhiên cặp rắn cũng không

phá hoại gì trong vùng. Sau này cây đa bị lở xuống sông, cặp rắn cũng biến mất.[23,tr206]

Trong cuốn Vĩnh Long xưa [26,tr.187], khi nói về sự tích của Bửu Lâm Tự (Đình

Khao xưa) rắn cũng xuất hiện làm cầu nối của hai thế giới khi giúp nhà Phật đưa linh hồn

những vị chân tu về cõi niết bàn.

Chuyện kể rằng: Vị trụ trì đầu tiên của chùa là tu sĩ Nguyễn Văn Ngà...Đức độ của

ông được xa gần mến phục. Trong một lần cùng đệ tử bơi xuồng qua sông Cổ Chiên gặp

sóng to, gió lớn, ông đã niệm hồng danh chư phật, cầu ơn trên giá hộ cho thuyền lướt sóng

bình yên. Lúc bấy giờ ông mong ước có cây dầm nưa bơi cho mau. Lời ông vừa dứt thì dưới

sông ló lên một cây dầm nhờ đó mà hai thầy trò ông vào đến bờ an nhiên vô sự.

Đêm hôm ấy thọ trì đầu hôm trên chánh điện xong, ông lui gót trở xuống liền, lại bị

con rắn cắn sưng cả mình. Ông vẫn thản nhiên bảo các đệ tử: Âu cũng là quả nghiệp kiếp này

phải trả. Đúng ngọ ngày mai thầy liễu đạo. Các đệ tử ở lại ráng tu hành lập công bồi đức

giúp đời vun trồng nền đạo hạnh. Người tu luôn phải chịu cam go thử thách trả quả.

Trong tất cả các dữ kiện vừa nhắc đến, chúng ta luôn thấy bóng dáng của rắn quanh

những ngôi chùa. Đó không phải là sự xuất hiện đơn thuần gợi lên sự tò mò và thích thú của

người nghe mà sự xuất hiện của rắn ở những nơi này đã bao hàm cả một ý nghĩa sâu xa ở nơi

cửa Phật. Theo phật giáo, rắn là một con vật độc ác vì nó mang nọc độc chết người. Nhưng

trước sự từ bi độ lượng của Phật, rắn đã được cải hóa trở thành đệ tử trung thành của nhà

Phật. Vì vậy, việc xuất hiện của những con rắn quy y không chỉ là sự thâm nhập mạnh mẽ

của những truyện tích phật giáo vào đời sống cũng như tư duy của người Nam bộ mà đó còn

là một trong những huyền thoại góp phần nâng cao thanh thế của những ngôi chùa.

Bên cạnh nhiệm vụ thiêng liêng là trông coi các ngôi chùa, rắn còn “nhận” cả nhiệm

vụ trông coi những nơi linh thiêng khác. Trong câu chuyện về ngôi mộ bà Dương, các bô lão

địa phương đã kể lại: Cách ba cây số về phía tây Châu Thành, Sa Đéc ngày nay còn ngôi mộ

cổ nằm trên gò đất cao ráo rộng chừng 500m, chung quanh có nhiều cây cối mọc um tùm,

cảnh vật rất huyền ảo. Ngôi mộ bao quanh những tảng đá xanh to lớn, rêu phong cỏ mọc,

trước đầu mộ có khắc những hàng chữ nho ghi lại năm tháng tên họ người quá vãng nhưng

lâu ngày bị tuyết sương mưa gió làm phai mờ, chữ còn chữ mất…

Tương truyền ngôi mộ của bà trước đây mấy mươi năm, những đêm thanh vắng,

thường xuất hiện một cặp rắn thần màu ngũ sắc, có giọng gáy thanh tao vang cả đồng ruộng.

Đồng bào hiếu kì rình xem, quả là một cặp rắn to mồng đỏ, từ trong núm mộ ngóc đầu lên

gáy, ai nấy cho là việc lạ” [25,tr.106].

Ở Định Thủy – Bến Tre cũng có một di tích độc đáo về rắn, gợi sự tò mò, khám phá

cho nhiều người, đó là đình Rắn với huyền thoại bí ẩn. Ngôi đình này đã có trên 150 năm;

nơi đây, trước kia có cặp rắn thần mình to như khạp năm cân, dài trên hai mươi mét. Rắn

thần đi rạp lúa. Rắn thần ăn thịt những con ác thú như hổ báo, hùm beo và độ hộ cho dân

làng. Sau ngày đất nước hòa bình, độc lập, cặp rắn thần đã về rừng lớn, về núi to. Vào những

năm chiến tranh, đình Rắn là nơi hội họp, điểm xuất phát những cuộc tiến công của lực

lượng vũ trang cách mạng [56].

Việc dịch chuyển của rắn từ chốn tu hành đến những nơi linh thiêng khác lại một lần

nữa khẳng định sự hòa mình của hình tượng rắn trong Phật giáo vào đời sống của con người.

Điều này cũng cho chúng ta đoán được một quy ước ngầm đã được đặt ra trong tư duy tín

ngưỡng của những con người nơi đây. Đó chính là ở bất cứ chốn linh thiêng nào có sự hiển

linh của rắn thì chắc chắn nơi đó sẽ vô cùng linh thiêng và luôn được thần linh phò trợ.

Về hình ảnh rắn thần xuất hiện ở những nơi linh thiêng ngoài khu vực miền Tây Nam

bộ chúng tôi cũng tìm thấy một vài truyện cùng nội dung này ở các khu vực khác của Việt

Nam như câu chuyện về cặp rắn lớn có mồng canh giữ Miếu Năm Bà ở Bãi Dâu - Vũng Tàu,

câu chuyện về cặp rắn tu ở chùa Trà Am – Huế, giai thoại về đôi Hoa xà (rắn có hoa) ở Miếu

Nam Lãnh − Quảng Bình, giai thoại về cặp rắn sống trên trăm tuổi ở lăng Bà Vú – Khánh

Hòa…

Một câu hỏi đặt ra, tại sao lại có sự xuất hiện của hình tượng rắn ở những nơi linh

thiêng rải rác từ miền Trung và trở nên đậm đặc ở mảnh đất miền Tây Nam bộ trong khi lại ít

thấy ở miền Bắc? Như trên đã nói, do sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc cùng chung sống

trên một dải đất mà đã hình thành nên những sản phẩm văn hoá thú vị này. Với sự ảnh hưởng

mạnh mẽ của đạo Bà La Môn và đạo Phật truyền sang từ Ấn Độ, các nước Đông Nam Á

trong đó có Campuchia, Lào, Thái Lan là ba nước chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất. Hình tượng

rắn thần Naga trong đạo Bà La Môn vốn được xem trọng lại càng được phát triển ở đạo Phật.

Ở Việt Nam khi nói đến ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ trước hết phải nói đến văn hóa Chăm

và khu vực phía Nam vì chỉ có ở đây, ảnh hưởng đó mới bộc lộ mạnh mẽ và trực tiếp hơn cả.

Từ thế kỉ VII đến hết thế kỉ XV, khi Chămpa chấm dứt sự tồn tại với tư cách quốc gia của

mình thì ảnh hưởng của Ấn Độ đối với văn hóa Chăm mới bắt đầu phát huy mạnh mẽ. Và

người ta cho rằng ảnh hưởng này để lại lớn đến mức nhiều người chỉ nhìn thấy những yếu tố

Ấn Độ trong văn hóa Chăm. Người Chăm đã tiếp thu nhiều tôn giáo của Ấn Độ trong đó

Bàlamôn giáo (Brahmanism) là yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất trong việc hình thành văn

hóa Chăm. Cũng kế thừa hình tượng rắn Naga trong đạo Bàlamôn tuy nhiên trong môi

trường văn hóa của người Việt hình tượng rắn Naga không còn đậm đặc như ở Campuchia,

Lào, Thái Lan. Gắn với nền nông nghiệp lúa nước cùng với khí hậu nhiệt đới, nơi những con

rắn có thể sinh sống dễ dàng, hình tượng rắn từ trong đời sống tâm linh đã hòa quyện với

hình ảnh rắn trong đời sống hằng ngày để trở thành hình tượng vừa linh thiêng vừa gần gũi

trong đời sống của người dân. Ở miền Nam Trung bộ, nơi vừa có sự hình thành của nền văn

hóa Chăm vừa có sự tiếp giáp về địa lý với đất nước Lào thì có lẽ sự giao lưu và ảnh hưởng

giữa các nền văn hóa là điều không thể tránh khỏi.

Vào đến Nam bộ, người ta không chỉ thấy sự giao lưu văn hóa giữa Việt Nam với

người khơme ở Campuchia mà ngay trên mảnh đất miền Tây Nam bộ đâu đâu người ta cũng

thấy những ngôi chùa uy nghi của người Khơme được trang trí hình rắn thần Naga và không

chỉ ở các ngôi chùa mà ngay trong các lễ hội của người Khơme ở Nam bộ, hình tượng rắn

cũng xuất hiện khá thường xuyên. Vì vậy, đối với người dân Nam Bộ mà đặc biệt là người

dân miền Tây Nam bộ thì hình tượng rắn thần Naga đã từ lâu đã trở nên quen thuộc và trở

thành vị thần chung của các dân tộc cùng chung sống trên mảnh đất này. Vì thế mà cũng dễ

hiểu khi các tác phẩm văn học của dân tộc này có bóng dáng của dân tộc kia.

Với số lượng truyện đưa ra quá ít như một cơn gió nhỏ thoáng qua nhưng những mẩu

truyện về hình tượng rắn quy y cũng đã nói lên được những điều thú vị trong sự giao lưu văn

hóa giữa các dân tộc cùng chung sống trên mảnh đất Nam bộ. Kết quả của quá trình giao lưu

đó đã giúp ta hiểu được trong văn hóa tâm linh của các tộc người ở Nam bộ nói riêng và các

quốc gia kế cận nói chung, rắn vẫn luôn được nhắc đến và được đặt ở những vị trí thật trang

trọng.

4.3. Hình tượng rắn trong huyền thoại rắn khổng lồ

Ngoài hai nội dung mà chúng ta vừa tìm hiểu thì ở mảnh đất này còn có một nhóm

truyện khác về rắn cũng khá phong phú. Có thể xem đây là nhóm truyện “đặc sản” của Nam

bộ. Đó là những câu chuyện về những loài rắn khổng lồ đã và đang tồn tại đây đó trong

những khu rừng ở Tây Nam bộ.

Xét về hình thức, đây là những truyện kể ngắn nhất, đơn giản nhất phổ biến nhất về

rắn ở Nam bộ. Gọi là truyện nhưng thực ra chỉ bao gồm vài dòng nên có thể gọi đây là những

mẩu truyện hoặc đơn giản là những dòng kí ức của người dân Nam bộ về rắn. Chính vì hình

thức quá ngắn gọn như vậy nên những mẩu truyện này thường ít được lưu truyền trong các

tập truyện dân gian Nam bộ nói riêng và của cả nước nói chung. Tuy nhiên, người ta lại dễ

dàng tìm thấy và nghe thấy những mẩu truyện này trong đời sống hàng ngày của người dân

Nam bộ, chẳng hạn như câu chuyện sau:

Người ta kể chuyện một ông già kiếm củi ở miền Mộc Hóa thấy một con rắn đầu quấn

vào một thân cây, cây ở bờ bên này cái bưng nhỏ, đuôi quấn vào một thân cây khác ở bờ bên

kia, rồi văng mình qua bên mặt, bên trái, để tát nước trong bưng. Chỉ một lát bưng cạn, chú

ta bò xuống bắt hết nhẵn cá, ăn một bữa no nê [22,tr.86].

Hay câu chuyện của ông Nguyễn Văn Đã (Hai Tây), một cán bộ về hưu, người gắn bó

cả đời với rừng tràm kể lại: Tôi đã từng thấy và đuổi một cặp rắn hổ mây khổng lồ vào rừng,

nó to bằng cái chậu có đường kính 4 tấc, dài hai ba chục mét, nặng có đến hàng trăm ký lô.

Tôi chưa nghe ai nói bắt được con rắn này, có nghĩa là nó vẫn còn sống trong rừng và có thể

là một trong những con rắn khổng lồ nhất U Minh Hạ còn tồn tại [68].

Ông Chín Của, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau cũng kể lại cuộc gặp gỡ bất

ngờ với rắn lớn : Vào cuối năm 2002 (năm này rừng U Minh Hạ cháy dữ dội) ông cùng anh

kiểm lâm viên Đỗ Thanh Hóa đi thăm rừng. Đến đoạn gần giữa ruột rừng đặc dụng Vồ Dơi,

trong khi anh Hóa đang mãi mê nhìn khỉ đung đưa trên ngọn tràm hai bên đường thì Chín

Của như quát vào tai: “Thằng nào chơi kỳ, kéo cây chắn giữa đường vậy ta?”. Vì là tuyến

đường chính thường xuyên có kiểm lâm qua lại, tự nhiên có một cái cây to tướng chắn ngang

thì rõ ràng có người muốn hại cán bộ kiểm lâm. Sau khi nhìn kỹ, ông la lớn: “Rắn! Rắn, Hóa

ơi”. Ông rụng rời tay chân, còn anh Hóa run lên bần bật, đạp thắng suýt té. Cái đường đất

rộng 8m mà con rắn bò ngang không thấy đầu, thấy đuôi, chỉ thấy đoạn giữa to cỡ cái gối ôm

của người lớn. Là người chuyên nuôi trăn, ông Chín Của cho biết với kích cỡ ấy thì con rắn

khổng lồ này nặng khoảng vài chục ký và dài cỡ 20m [68].

Những câu chuyện như thế này luôn gợi cho ta một cảm giác rất thật cũng như sự tò

mò về loài rắn này. Bởi vì nó luôn đưa ra những chi tiết gắn với những con người và địa

danh cụ thể. Có một điều cần phải khẳng định là, đây không phải là kiểu truyện chỉ mới xuất

hiện ở Nam bộ trong thời gian gần đây mà đã từ rất lâu người ta đã nhắc về những con rắn

lớn như một sự thật khó tin nhưng đang tồn tại trong đời sống của họ.

Về nội dung, truyện thường kể về sự xuất hiện của một loài rắn khổng lồ ở một địa

danh nào đó ở Tây Nam bộ. Câu chuyện xưa nhất được nhân dân nhắc về loài rắn lớn ở Nam

bộ có lẽ là câu chuyện về cặp rắn khổng lồ hung hãn vốn có nguồn gốc từ thời Minh Mạng ở

vùng Rạch Giá, Kiên Giang.

Theo tư liệu của tác giả Nguyễn Bá Sánh [1] thì cặp rắn này đã từng làm triều đình

Minh Mạng khiếp sợ. Con rắn đực – Kingcobra đã từng nuốt nhiều người và khi háo đói, nó

“rủ” rắn cái lội ra biển nuốt hàng loạt người đưa đám cưới trên những chiếc ghe, chiếc buồm.

Nhưng cuối cùng con đực cũng đã bị Doanh Thoại, một người con của Hòn Đất giết chết

trong cuộc quyết chiến không cân sức giữa người và rắn. Và sau cái chết của con rắn đực,

người anh hùng Doanh Thoại vì bị thương quá nặng cũng phải nói lời tạm biệt cuộc sống

trong nước mắt của gia đình và dân làng.

Những chi tiết tưởng như thật nguyên chất ấy lại càng được mọi người tin tưởng hơn

khi cùng có nhiều người xác nhận về sự tồn tại của loài rắn này. Tuy nhiên, trong tâm trí

chúng ta vẫn mơ hồ tồn tại hai trạng thái nửa tin nửa ngờ khi đã có biết bao câu chuyện về

loài rắn Hổ Mây khổng lồ được bác Ba Phi nhắc đến trong những nụ cười thật hóm hỉnh của

mình. Biết đâu đây cũng là những câu chuyện tương tự? Khuynh hướng hoài nghi cũng như

tin tưởng luôn lẫn lộn trong tâm trí người nghe. Đối với chúng tôi, những người đang viết về

những câu chuyện này như những nhà nghiên cứu khách quan đang nghiên cứu về một hiện

tượng văn học cũng luôn phân vân, đây là sự thật hay huyền thoại?

Chúng ta tin những câu chuyện này vì không chỉ có những địa danh cụ thể được nhắc

đến mà đối với từng câu chuyện lại có cả những nhân chứng sống cũng như những dữ kiện

lịch sử khẳng định sự tồn tại của một sự thật. Chẳng hạn như trong huyền thoại về

Kingcôbra, người ta đã đưa ra một số dẫn chứng về sự xuất hiện của loài rắn chúa khổng lồ

Kingcôbra: “Năm Giáp Dần 1674, nước láng giềng có Nặc ông Đài đi cầu viện nước Xiêm

La để đánh Nặc ông Nộn, thuyền đi ngang vịnh biển thì gặp cặp rắn lớn” [1,tr.47].

Hay là sự kiện năm 1785, hai con rắn khổng lồ đã tấn công chiến thuyền bọn thuộc hạ

của Nguyễn Ánh khi bọn này mang lương thực chạy theo Nguyễn Ánh (khi nghe tin vua

Xiêm La cho phép Nguyễn Ánh nương nhờ để trốn tránh Nguyễn Huệ) [1]

Chuyện về rắn khổng lồ càng đáng tin hơn khi các cứ liệu về nó được đưa ra từ các

chiến sĩ cách mạng: Năm 1961, Trong một đêm, khi thực dân Pháp mở đợt càn quét vào Hòn

Đất, các đồng chí Tư Khánh, Tư Liêm trong lúc cố thủ ở hang Hòn đã bất ngờ gặp rắn lớn,

họ đã kể lại cuộc gặp gỡ ấy :

Gió lộng mát mẻ, trong khi chúng tôi thiu thiu ngủ, bỗng nghe tiếng ào ào dữ dội như

một trận giông. Giây lát cửa hang phía trên nóc bị vật gì tràn ụp lên tối sầm lại đất, đá, cát,

bụi, lá cây…đổ tới tấp xuống người chúng tôi. Tôi bấm đèn pin rọi ngay lên, thì nhận ngay ra

bụng một con rắn khổng lồ…chúng tôi đề phòng nó thọc đầu xuống hang, nín thở chờ nó bò

qua. Lúc chót đuôi nó đập “ạch” một tiếng khá lớn ở miệng hang, chúng tôi mới nhìn được

ánh sao trên nền trời [1,tr.11].

Bên cạnh những chi tiết mang đến sự tin tưởng cao cho người nghe thì trong những

mẩu truyện này cũng lại đồng thời xuất hiện những yếu tố “khó tin”. Nói như ngôn ngữ của

văn học dân gian đó là yếu tố “huyền thoại”.

Và không chỉ có loài rắn kingcobra được người dân nhắc đến trong quá khứ với nhiều

huyền thoại mà ngày nay, trong những cánh rừng U Minh đã quen chân người người ta vẫn

kể về cuộc gặp gỡ giữa người và rắn lớn

Trong những câu chuyện về rắn khổng lồ ở Nam bộ, người ta luôn thấy xuất hiện

những chi tiết như: bề ngang đường bò của con rắn gần hai gang tay, rắn ngóc đầu cao hơn

mười mét, chiều dài toàn thân hơn hai mươi mét, mỗi lần đi là ào ào như giông bão, to lớn cả

vài trăm kí, dựng mình dậy lêu nghêu như cây tre và cứ thế đứng trên chót đuôi mà đi. Và

những nơi nào cây cối ngã rạp như một trận bão đi qua thì đích thị nơi đó đã có cuộc thư

hùng giữa hổ và rắn.…

Như trên đã nói, dân cư ở đây vẫn luôn nhắc đến một loài rắn khổng lồ khiến mọi

người phải kinh sợ có tên là rắn Hổ Mây. Có thể đây là tên gọi khác của cùng một loài rắn

khổng lồ mà chúng ta đang đề cập? Giống như tên gọi Mãng xà vương mà người dân đã nhắc

đến trong câu chuyện Mãng xà vương ở Tân Bằng. Đề tài về rắn Hổ Mây không chỉ là những

câu chuyện chung chung truyền tai nhau mà còn có cả những nhân chứng cụ thể từng đối

mặt với rắn.

Ông Ba Lưới, một đạo sĩ trên đỉnh Cấm Sơn nhớ lại cuộc đụng độ với rắn Hổ Mây:

Trưa đó đang lên dốc núi, đột ngột thấy một khúc đen thui nằm vắt ngang cây, ông lạnh

mình khi thấy đó là con rắn Hổ Mây trên 140 kg. Nghe động nó ngóc đầu dậy nhìn ông bằng

cặp mắt đỏ ngầu. Biết không tránh khỏi cuộc ác đấu nên ông lùi lại cầm cây đòn gánh xuống

tấn thủ bộ. Từ trên cây rắn rít lên và vung đuôi lao tới như gió lốc. Ông Ba Lưới nhìn rõ cái

chóp đuôi di chuyển rồi lấy sức quyết cây đòn gánh vào cổ rắn. Chỉ nghe một tiếng rốp khô

khan con rắn bất tỉnh và cây đòn gánh gãy làm đôi [66].

Hay câu chuyện của Nguyễn Thị Kính ở ấp Phú Hòa, xã An Phú, huyện Tịnh Biên:

Năm 1989, lúc trời vừa mờ tối, tôi đang nằm cho con bú trong nhà thì nghe tiếng “xào xào”,

chưa hiểu chuyện gì xảy ra, ngay lập tức một con rắn Hổ Mây dài hơn tám mét, vừa cất đầu

cao khoảng ba mét, vừa phùng mang và bò thẳng về chiếc giường tôi đang nằm. Không tin

vào mắt mình, tôi chỉ biết choàng tay ôm đứa con vào lòng. Cứ tưởng sẽ chết, ai ngờ nó bò

ngang người, cái chót đuôi to bằng cổ chân quấn một vòng quanh tay phải, di chuyển qua

cửa rồi bò thẳng ra con lộ lớn đi vào trong rừng [57].

Tìm kiếm trong các từ điển tiếng Việt một định nghĩa cho tên gọi rắn Hổ Mây, chúng

tôi đều không thấy. Nhưng theo một số nhân chứng sống và những ông thầy trị rắn từng đối

mặt với rắn thì:

Rắn Hổ Mây là loài rắn to, dài, lưng màu vàng hoặc nhớt đen, bụng có nhiều đốm vằn

trắng sữa, trước cổ có ba khoanh, mắt to, mí mắt dày (giống Diều hâu), miệng bằng, cằm

dưới chẻ và chai cứng, hai răng khóa rất sắc nằm ở hàm trên, lưỡi đỏ, vẩy rời chứ không nằm

chồng lên nhau. Khi tự vệ hoặc tấn công chúng luôn cất cao đầu (bằng một phần hai so với

chiều dài) và phình to ra. Đặc biệt hai bên có những đốm vàng giống hệt như trái mây nên

người ta gọi là rắn Hổ Mây [57].

Chính vì trong tình trạng nửa thực nửa hư như vậy nên những mẩu truyện này luôn thu

hút sự quan tâm của mọi người. Và cũng chính từ sự quan tâm này mà truyện lại có sức lan

truyền rộng lớn không chỉ trong không gian mà qua cả thời gian.

Chính nhà văn Nguyễn Bá Sánh, người đã bỏ hơn bốn mươi năm công sức để đi sưu

tầm những câu chuyện về rắn ở miền Tây Nam bộ cũng đã được bà nội của mình kể cho

nghe những câu chuyện về những con rắn kì lạ trong vùng từ thuở ấu thơ. Đó là con rắn nằm

khoanh một đống như đống lúa trăm dạ dưới bàn thờ thần ở đình làng không chịu đi. Chỉ đến

khi người ta mời được một ông lão có tài khiển rắn thì rắn mới đi. Hay câu chuyện của chú

Chín ở Hòn Đất trong một lần lội rừng tìm chỗ cất kho chứa vũ khí bị lạc đường cũng gặp

“xuồng ông bà” (tên gọi khác của rắn Hổ Mây), khi “xuồng ông bà” xuất hiện cả khu rừng

chuyển động ầm ì. Đuôi rắn quật ngọn cây, cuốn ngọn cây lại để lấy trớn phóng tới mãnh

liệt, ngọn cây bị vặt mạnh gãy rôm rốp, lăn nhào xuống đất…[1,tr.27]

Nếu như xem đây là những câu chuyện huyền thoại thì chúng ta cũng thấy rằng thủ

pháp phóng đại đã được sử dụng khá triệt để. Đôi khi sự phóng đại quá mức đã làm cho nó

đến gần với những câu chuyện tiếu lâm đường rừng. Nếu như không có những chi tiết về địa

danh và những nhân chứng thì nó chẳng khác những câu chuyện về rắn Hổ Mây của bác Ba

Phi là mấy.

Chẳng hạn như câu chuyện mà ông Tư Chánh kể lại cho tác giả Nguyễn Bá Sánh [1],

ông kể rằng ông đã từng chứng kiến hai chiến sĩ trẻ trong đơn vị bắn chết con rắn Hổ Mây

dài mười tám thước. Và khi mổ bao tử nó ra, người ta thấy cả tóc và xương người. Rồi

chuyện “con rắn ba trăm hai” được tác giả Võ Trần Nhã kể lại trên báo Sài Gòn Giải Phóng:

Một con rắn bề hoành tròn to bằng vành bánh xe đạp bị một đại đội của tiểu đoàn 302

hạ bằng súng – cả súng trường lẫn súng liên thanh. Và khi mổ trong bụng nó có cả xương

người nguyên bộ, với cả những khẩu súng trường.

Và cũng theo tác giả, có người còn thêu dệt : con rắn có sừng nữa (!) Tức là con rắn đã

nuốt một con nai chà. Từ sau nuốt tới. Tới cái đầu con nai chà , bị sừng gạc của nó mắc kẹt

nên gạc sừng nai trở thành là “sừng – của – con – rắn” bộ đội 302 thấy được bắn chết [29].

Những câu chuyện như huyền thoại được chính những nhân chứng sống kể lại thường

gắn với những mốc thời gian và địa danh trong quá khứ. Và mở đầu cho những mẩu truyện

này, người kể chuyện thường lấy danh dự cũng như nghề nghiệp của mình để chứng minh

cho sự thật. Chính cơ sở dữ liệu đáng tin cậy đó đã tạo cho người đọc, người nghe một niềm

tin sâu sắc.

Ông Trần Văn Nhâm, giáo viên ở xã Tân Thạnh, An Minh(Kiên Giang) lấy danh dự

một giáo viên về hưu nói rằng rắn Hổ Mây khổng lồ không phải là chuyện hoang tưởng. Ba

mươi năm trước, khi còn là thanh niên, ông đang nằm ngủ mơ màng thì đột ngột thấy nhà

mình lắc lư, con chó chui tọt vào gậm giường run lẩy bẩy. Tới khi định hồn nhìn kĩ cái đống

thù lù vàng lợt to nằm cuộn tròn như bánh xe hơi trên nóc nhà ông mới lắp bắp tri hô. Hàng

xóm nghe động bu tới xem và ai nấy tái mét trước con Hổ Mây quá to. Sợ rắn dữ ăn thịt nên

cả trăm người trong xóm lấy can đảm đem chỉa ba có ngạnh ra đâm rắn. Xác rắn nặng một

trăm hai mươi ký nằm chật cả sân nhà, cả xóm xẻ thịt chia nhau ăn ngót tháng mới hết [57].

Và cách đây không lâu những câu chuyện về rắn Hổ Mây vẫn lại xuất hiện ở Nam bộ.

Nghe đồn rắn Hổ Mây khổng lồ xuất hiện ở U Minh Hạ, cánh nhà báo cùng kiểm lâm đã rình

Đúng là chuyện thật như đùa, chuyện đùa như thật! Còn rất nhiều những câu chuyện

săn ảnh. Dù đã dùng nhiều thứ mồi nhữ nhưng rắn Hổ Mây vẫn không thấy xuất hiện. như vậy được ghi lại trên mảnh đất Nam bộ này. Chưa thể đưa ra được lời giải thích xác

đáng cho hiện tượng này, chúng tôi, dưới danh nghĩa là những người nghe cũng viết và suy

nghĩ về nó đúng như ý nghĩa của nó đang tồn tại trong cuộc sống của cộng đồng. Huyền

thoại hay sự thật trong những câu chuyện trên không còn quan trọng khi tất cả chúng ta đều

biết rằng con người luôn có thể tạo ra huyền thoại dựa trên những sự thật của cuộc sống và

việc làm cho huyền thoại sống mãi trong cuộc sống của con người là điều không thể thiếu để

cuộc sống của chúng ta luôn thi vị.

Với hình thức và nội dung khá ngắn gọn và hầu như không được ghi lại một cách khoa

học trong những tập truyện dân gian nhưng những mẩu truyện về rắn khổng lồ ở Nam bộ

vẫn đang tồn tại như một kiểu truyện rắn đặc trưng của Nam bộ. Và hơn hết nó vẫn đang

sống trong đời sống của con người với đúng nghĩa của từ này.

Tóm lại, qua quá trình tìm hiểu và phân tích, chúng ta cũng thấy rằng những truyện kể

về rắn ở Nam bộ cũng thể hiện rất rõ tính đặc trưng của văn hóa vùng miền. Trong cuộc sống

hòa thuận của nhiều dân tộc cùng định cư trên một mảnh đất. Truyện kể về rắn Nam bộ cũng

cho thấy sự giao lưu ảnh hưởng và kế thừa lẫn nhau. Mặt khác tính kế thừa từ mảnh đất tổ

cũng được tìm thấy trong những truyện kể về rắn ở Nam bộ. Tuy nhiên, nói như thế không

có nghĩa là ở Nam bộ không tự sản sinh ra những sản phẩm văn hóa của riêng mình. Trên

mảnh đất mới đầy huyền bí này, đã và đang tồn tại nhiều huyền thoại về rắn mà không một

nơi nào khác có thể có.

KẾT LUẬN

Qua quá trình tìm hiểu và khảo sát đề tài “Hình tượng rắn trong truyện kể dân gian

Việt Nam”, chúng tôi có được những kết luận sau:

1. Rắn là biểu tượng văn hóa lâu đời có mặt ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở mỗi thời

đại, mỗi quốc gia, mỗi tôn giáo, mỗi lĩnh vực nghệ thuật, biểu tượng rắn mang đến cho

chúng ta những ý nghĩa khác nhau. Chính sự phong phú về ý nghĩa biểu đạt đã làm cho rắn

trở thành một biểu tượng vừa linh thiêng vừa gần gũi trong cộng đồng cư dân trên thế giới.

2. Cũng như những linh vật khác, rắn đã đi vào cuộc sống của người Việt Nam từ ngàn

xưa. Biểu tượng rắn cũng được thể hiện khá phong phú và đa dạng trong văn hóa Việt đặc

biệt là trong văn hóa dân gian. Chúng ta không chỉ tìm thấy những minh chứng về sự xuất

hiện của hình tượng rắn trong nghệ thuật tạo hình, điêu khắc, hội họa mà trong truyện kể dân

gian chúng ta cũng thấy sự thể hiện khá phong phú của hình tượng rắn. Sự tồn tại trên một

bình diện rộng của biểu tượng càng được củng cố thêm qua hệ thống biểu tượng rắn trong

truyện kể dân gian Việt Nam sẽ giúp chúng ta tìm ra được lối tư duy cũng như tín ngưỡng

của những người Việt xưa. Từ đó, đặt nó trong tương quan với các quốc gia trong khu vực và

thế giới.

3. Trong truyện kể dân gian Việt Nam, hình tượng rắn cũng mang nhiều ý nghĩa khá

thú vị và bổ ích. Gắn liền với tín ngưỡng thờ thủy thần, trong truyện kể dân gian về rắn ở

khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ ta cũng được thể hiện qua hai ý nghĩa, đó là: rắn tượng

trưng cho thủy thần thông qua hình tượng ông Cộc ông Dài và rắn tượng trưng cho thủy tai

thông qua cuộc chiến giữa người anh hùng và rắn ác. Trong đó nổi bật lên là ý nghĩa rắn

tượng trưng cho thủy thần. Có thể khẳng định đây là ý nghĩa bao quát nhất cho hình tượng

rắn ở khu vực này. Và đây cũng chính là ý nghĩa đậm đặc nhất của biểu tượng rắn ở khu vực

Đông Nam Á.

Kế thừa hình tượng rắn trong huyền thoại, truyện kể dân gian về rắn của các dân tộc ít

người khu vực miền Trung và Tây Nguyên cũng được biểu đạt qua hai nội dung, đó là: Hình

tượng rắn trong mơ ước về cuộc hôn nhân lý tưởng giữa người và thần linh, hình tượng rắn

trong cuộc chiến của dũng sĩ diệt rắn ác. Trong hai xu hướng biểu hiện trên của hình tượng

thì ở xu hướng đầu tiên, chúng tôi nhận thấy sự xuất hiện của các truyện kể phong phú hơn.

Kết quả đó cho thấy xu hướng đứng về phía thiên nhiên, tôn sùng thiên nhiên của các cư dân

vẫn luôn giữ vai trò chủ đạo trong văn hóa Việt.

Ở khu vực Tây Nam bộ, truyện kể dân gian về rắn tương đối ít. Hình tượng rắn chủ

yếu tồn tại trong những mẩu truyện, nằm rải rác trong dân gian. Tuy nhiên chúng tôi vẫn thu

được những nội dung chính trong truyện kể về rắn ở khu vực này, đó là hình tượng rắn trong

cuộc chiến với những ông thầy trị rắn. Ngoài nội dung chính đóng vai trò chủ chốt và mang

tính kế thừa từ vùng đất tổ thì ở Nam bộ còn tồn tai hai hình tượng rắn khác mang nét đặc

trưng cho miền đất này. Thứ nhất là hình tượng con rắn quy y gắn liền với tôn giáo và thể

hiện sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc cùng chung sống trên mảnh đất miền Tây Nam bộ.

Thứ hai là hình tượng rắn khổng lồ trong huyền thoại rắn khổng lồ ở Tây Nam bộ. Có thể

xem hình tượng này là nét đặc trưng cho kiểu tư duy huyền thoại ở vùng đất cực Nam của

đất nước.

4. Qua việc tìm hiểu và đưa ra được sự biến đổi của hình tượng rắn trong các nhóm

truyện kể về rắn ở các vùng miền trên, chúng tôi cũng thấy rằng hình tượng con rắn ác

thường đi đôi với hình tượng người anh hùng trị rắn trên tất cả các vùng miền đã khảo sát.

Điều đó, cho thấy mặc dù e sợ tự nhiên nhưng dù ở đâu, dù vào thời gian nào, người Việt

vẫn luôn sẵn sàng đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống đặc biệt là những thiên tai.

Do vậy hình tượng rắn trong truyện dân gian Việt Nam còn góp phần thể hiện triết lý sống,

thái độ ứng xử của người Việt với tự nhiên.

5. Hệ thống truyện rắn ở Nam bộ có một bộ phận khó xác định về mặt thể loại vì sự

đan xen chuyện đời thường với yếu tố huyền thoại. Rất có thể đây là hiện tượng truyền

thuyết hóa đời thường từ các yếu tố huyền thoại. Đây là vấn đề lớn chúng tôi chỉ xin nêu ý

tưởng chứ chưa phải là kết luận.

6. Và cuối cùng, qua hình tượng rắn trong hệ thống truyện kể dân gian Việt Nam ta lại

có thêm cái nhìn cụ thể về hình tượng rắn trong văn hóa Việt từ đó đặt nó trong tương quan

với hình tượng rắn trong hệ thống truyện kể dân gian về rắn của các dân tộc khác trên thế

giới để thấy những tương đồng và dị biệt về văn hóa giưa các dân tộc.

PHỤ LỤC 1

DANH MỤC 45 TRUYỆN KỂ DÂN GIAN VỀ RẮN Ở VIỆT NAM

ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

I. Khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ:

1. Bà Tăng Má

2. Sự tích ghềnh Bợ

3. Ông Cộc ông Dài – Thác Huống, Thái Nguyên

4. Sự tích ông Cụt ông Dài – Yên Thành, Nghệ An

5. Sự tích ông Cụt ông Dài – Nam Đàn, Nghệ An.

6. Ông Cộc ông Dài – sông Tranh, Hải Dương

7. Truyền thuyết đình làng Văn Xá (Hà Nam)

8. Ông Lỗ ông Minh

9. Linh Lang đại vương

10. Hiển công thần

11. Truyện nàng công chúa đời Trần

12. Truyền thuyết Phổ Độ Hổ Độ (Phả lễ, Hải Phòng)

13. Hai anh em thủy thần sinh đôi đánh giặc Lương

14. Truyền thuyết đền Lãnh Giang (Hà Nam)

15. Long thần

16. Sự tích suối cá thần (Thanh Hóa)

17. Đền Muối

18. Sự tích hang thuồng luồng

19. Sự tích đầm Đỗ Lâm

20. Sự tích suối Rắn

21. Truyền thuyết đền Cáu (Bắc Ninh)

22. Truyền thuyết làng Lệ Mật

II. Khu vực miền Trung và Tây Nguyên:

1. Chàng rể rắn

2. Chàng rắn

3. Chàng rắn (Gia Rai)

4. Người con gái M’nông thứ bảy.(M’nông)

5. Nàng Piarơchôn (Tà Ôi)

6. Cô gái lấy chồng trăn (Xê đăng)

7. Chàng rắn (Chăm)

8. Người lấy rắn (Mạ)

9. Bô lô Đu lơ (Catu)

10. Trăn thần (Chăm)

11. Kơ – lăn (Bana)

12. Y Kluch chém rắn thần cứu con gái Mơtao (Êđê)

13. Chàng đánh cá Yang (M’nông)

14. Yrit và Yron (Bana)

15. Ba chàng dũng sĩ (Bana)

16. Vu hơ min (Hơre)

17. Hơ mênh chém rắn thần (Hơre)

18. Y Tơ Lông đi tìm hạnh phúc (Êđê)

III. Khu vực Nam bộ:

1. Thầy rắn ở Đồng Tháp Mười

2. Rắn chúa

3. Sự tích rạch cái rắn

4. Ông thầy thuốc gia truyền

5. Mãng xà vương ở Tân Bằng

Ngoài ra ở khu vực này còn rất nhiều mẩu truyện về rắn. Trong phạm vi phụ lục này

không thể trình bày đầy đủ, xin tham khảo thêm trong luận văn.

* Lưu ý: Nguyên văn của 45 truyện kể trên được trình bày trong phụ lục 2.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Bá (1988), Tử chiến với KingCôBra, Nxb Tổng hợp Hậu Giang

2. Ngô Vĩnh Bình st & bs (1981), Truyện cổ Xê Đăng, Nxbvăn hóa.

3. Nguyễn Huy Bỉnh (2009), “Truyền thuyết dân gian xứ Bắc về các thần tự nhiên”, Tạp chí

Nghiên cứu văn học (4), Tr.90 – 104

4. Thiện Chí (2001),“Rắn Nagaraja trong tín ngưỡng văn hóa khơme Nam bộ”, báo Bạc Liêu

(xuân), tr.39.

5. Nguyễn Thị Bạch Cúc, Sử Văn Ngọc, Trương Tôn (2000), Truyện dân gian Chăm, Nxb

Văn hóa dân tộc.

6. Nguyễn Hữu Chúc, Ninh Viết Giao, Trần Hoàng, Phùng Sĩ Hòa, Trần Trọng Tân, Mai

Văn Tấn bs (2001), Truyện cổ các dân tộc miền núi Bắc miền Trung, Nxb Thuận Hóa –

Nghệ An – Thanh Hóa.

7. Chu Xuân Diên (2002), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí

Minh

8. Ngô Văn Doanh (1995), Truyện cổ Campuchia, Nxb Văn hóa – Thông tin.

9. YĐiêng, Hoàng Thao (1988), Truyện cổ Êđê, Nxb Văn hóa dân tộc

10. Jean Chevalier Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà

Nẵng – Trường viết văn Nguyễn Du.

11. Ninh Viết Giao (1993), Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ, Hội văn nghệ dân gian

Nghệ An.

12. Nguyễn Bích Hà (1991), "Hình tượng rắn từ thần thoại đến truyện cổ tích", Tạp chí Văn

hóa dân tộc (1), Tr.16 – 20.

13. Nguyễn Bích Hà (1998), Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và

Đông Nam Á, Nxb Giáo Dục.

14. Nguyễn Văn Hầu (2006), Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang,

Nxb Trẻ – Tp. HCM.

15. Nguyễn Hữu Hiếu (1987), Truyện kể dân gian Nam bộ, Nxb Tp.HCM.

16. Kiều Thu Hoạch (2004), Tổng tập văn học dân gian người Việt tập 5: Truyền thuyết dân

gian người Việt, Nxb khoa học xã hội

17. Việt Hương (2005),“Phụng thờ thủy thần ở Linh Đàm”,Tạp chí Di Sản (2).

18. Đinh Thị Minh Hằng tuyển chọn (2007), Tuyển tập Đinh Gia Khánh tập 3: Văn hóa dân gian

- văn hóa, Nxb Giáo dục.

19. Bảo Kiếm (2001), “Rắn “bò” qua ca dao”, báo CAND (xuân), tr.26

20. Nguyễn Lân (2002), Từ điển Từ và ngữ Hán việt, Nxb Từ điển Bách Khoa – Hà Nội.

21. Hà Liên, Anh Thư bs (2002), Truyện cổ chọn lọc các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb

Văn hóa dân tộc, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây.

22. Nguyễn Hiến Lê (1989), 7 ngày trong Đồng Tháp Mười, Nxb Long An.

23. Huỳnh Minh (2002), Bạc Liêu xưa, Nxb Thanh Niên

24. Huỳnh Minh, Nghê Văn Lương (2003), Cà Mau xưa và nay, Nxb Thanh Niên.

25. Huỳnh Minh (2001), Sa Đéc xưa, Nxb Thanh Niên.

26. Huỳnh Minh (1967), Vĩnh Long xưa và nay, Nxb Cánh Bằng.

27. Bùi Văn Nguyên, Đỗ Bình Trị, Nguyễn Ngọc Côn (1965), Truyện cổ Bana, Nxb Văn

học.

28. Bùi Văn Nguyên, Đỗ Bình Trị, Nguyễn Ngọc Côn, Nguyễn Nghĩa Dân (1968), Truyện

cổ Ca Tu, Nxb Văn học.

29. Võ Trần Nhã (2000), "Về chuyện con rắn của tiểu đoàn 302", Sài Gòn Giải Phóng

(8327), Tr. 4.

30. N.K.P (2001), “Rắn trong tục ngữ, rắn trong văn hóa dân gian”, báo Bà Rịa - Vũng Tàu

(xuân), tr.20.

31. Cao Xuân Phổ (2005), “Biểu thị tiếp biến văn hóa đặc thù của người Việt”, Tạp chí Văn

hóa nghệ thuật (10).

32. Thạch Phương (1992), Văn hóa dân gian người Việt ở Nam bộ, Nxb KHXH.

33. Lê Xuân Quang (1995), Thần tích việt nam tập 1, Nxb Văn hóa Thông tin

34. C.Q.T (2001), “Rắn trong tâm thức người Việt”, Tạp chí Tem (46), tr. 8

35. Minh Thảo, Xuân Mỹ (1994), Truyền thuyết các vị thần Hà Nội, Nxb Văn hóa –

thông tin.

36. Phạm Minh Thảo tuyển chọn, b.s (2006) Truyện linh dị Việt Nam, Nxb Văn hóa –

thông tin.

37. Nguyễn Phương Thảo (1994), Huyền thoại miệt vườn: Truyện cổ dân gian các dân tộc

Nam bộ, Nxb Văn hóa Thông tin.

38. Nguyễn Nhân Thống (2001), “Rắn trong thành ngữ và tục ngữ”, báo Đồng Nai (xuân),

tr.72.

39. Chu Minh Thụy (2001), “Rắn trong huyền thoại và văn chương”, báo Văn Nghệ (xuân),

tr.30.

40. Hà Văn Thư, Võ Quang Nhơn (1975), Truyện cổ các dân tộc thiểu số miền Nam tập 2,

Nxb Văn hóa.

41. Lâm Tuyền Tĩnh (1987), Sự tích Langbian : Truyện cổ các dân tộc thiểu số Lâm Đồng,

Sở VHTT Lâm Đồng.

42. Tổ văn học dân gian các dân tộc – Viện văn học (1986), Truyện cổ dân gian của các dân

tộc Việt Nam tập 3, Nxb Văn học

43. Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường (1992), Nghìn năm bia miệng tập 1, Nxb Tp.

HCM.

44. Trần Trọng Trí (2000), “Rắn trong văn hóa dân gian – rắn trong tục ngữ”, báo Áo Trắng

(21 + 22), tr.41

45. Trung tâm KHXH&NV quốc gia (2003), Nguyễn Đổng Chi - Tác phẩm được tặng giải

thưởng HCM quyển 2, Nxb KHXH.

46. Trung tâm từ điển học (2008), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.

47. Tạ Chí Đại Trường (2006), Thần, người, đất Việt, Nxb Văn hóa thông tin.

48. Ty Văn hoá và thông tin Nghĩa Bình (1980), Truyện cổ miền núi Nghĩa Bình.

49. Đặng Nghiêm Vạn, Đặng Văn Lung, Tăng Kim Ngân (1986), Truyện cổ các dân tộc

Trường Sơn Tây Nguyên tập 2, Nxb Văn học.

50. Viện nghiên cứu văn học (2009), Truyền thuyết dân gian người Việt quyển 2, Nxb

KHXH.

51. Lưu Đức Ý (2001), “Chuyện rắn trong dân gian”, báo Đường Sắt Việt Nam (477- 479),

tr.21

WEBSITE

52. http://baodatviet.vn

53. http://cema.gov.vn

54. http://www.hanam.gov.vn

55. http://www.hrpc.com.vn

56. http://maivang.nld.com.vn

57. http://www.nongnghiep.vn

58. http://www.spnttw.edu.vn

59. http://www.thanhnien.com.vn

60. http://www.thoaingochau.net

61 http://www.thuvienhaiphu.com.vn

62. http://www.thuviensoctrang.org.vn

63. http://tintuc.xalo.vn

64. http://www.tuoitre.com.vn

65. http://www.vietnam.net.

66. http://vietbao.vn

67. http://www.vanhoahoc.edu.vn

68. http://www.vannghesongcuulong.org.vn

PHỤ LỤC 2

I. KHU VỰC BẮC BỘ VÀ BẮC TRUNG BỘ

1. BÀ TĂNG MÁ

Tại làng La Phù ở ven sông Đà, vào đời Hùng Vương thứ 18 có mọt người đàn bà nghèo

khổ, sống đươn độc trong một cái lều cỏ ven sông. Bà đã già mà vẫn chưa có chồng con và

không biết vì sao mọi người đều gọi là bà Tăng Má. Một hôm, vừa đi cắt cỏ về, bà thấy trong

người nóng bức, bà rẻ xuống tắm dưới sông. Bỗng có một con rắn nổi lên bên cạnh, bà sợ hãi

vội vàng ra về, không dám nói với ai ; và cũng từ đó bà thấy trong người mệt mỏi, bụng mỗi

ngày một to ra. Bà càng thêm lo sợ. Chín tháng sau vào một ngày mưa to gió lớn, bà trở dạ

và sinh ra ba quả trứng. Được ít lâu, ba quả trứng nở thành ba con rắn con. Bà rấ kinh sợ

nhưng cũng không nở giết đi. Ngày ngày, mỗi khi đi làm, bà lại đặt chúng vào môtkj cái giỏ

tre và mang theo. Trong khi bà làm, chúng thường bò ra quấn quít quanh chân. Một lần trong

khi cuốc đất, chẳng may bà bổ lưỡi quốc trúng phải một con làm đứt khúc đuôi. Cả ba con

bỗng kêu khóc ầm ĩ. Bà lo hãi và sợ dân làng biết nên đem thả chúng xuống sông. Ba con rắn

trở thành Hà Bá ở ba khúc sông Đà. Hai con dài ở ghềnh La Phù và ghềnh Trung Hà còn con

Cộc ở ghềnh Bà Triệu. Vì tình mẹ con nên khi đã xuống ở dưới nước, đàn rắn vẫn động lòng

nhớ bà Tăng Má. Hàng năm, vào mùa mưa, đàn rắn thường dân nước lên cao đê bơi về thăm

mẹ. Nước dâng lên đã gây ra cảnh ngập lụt khắp cả một vùng. Người dân khắp nơi rất khổ

đau và cất lời oán thán. Thấy cảnh tình này, bà Tăng Má vội vàng lấy đất , đá ném đuổi và

khuyên đàn con trở lại lòng sông cho nước rút đi. Người dân ven sông cũng bắt chước bà ,

lấy đất đá ném theo. Chẳng bao lâu, năm này qua năm khác, những tảng đá ấy cứ chồng chất

cao dần và kéo thành một dải tạo nên con đê lớn kéo dài ven sông Đà như ngày nay. Cũng từ

đó trở đi, nhân dân thoát khỏi nạn lụt khủng khiếp hàng năm. Để tỏ lòng biết ơn, người dân

trong vùng đã lập đền thờ bà Tăng Má ở ven sông.Khi bà Tăng Má chết đi, hàng năm cư vào

khoảng tháng sáu, tháng bảy âm lịch, ba chàng rắn lạ dẫn con cháu làm mưa gió để về ăn giỗ

mẹ. Vì thế quãng sông kéo dài từ nơi chúng ở dến nơi bà Tăng Má chết, vào dịp đó thường

nỏi sóng dữ dội. Người dân luôn luôn phải tôn cao thêm đê và cắt cử nhau ngày đêm canh

giữ. Nhất là ghềnh Bà Triệu nơi con Cộc trấn giữ (nơi này vực sâu và nước to là do ông Cộc

bị đau đuôi nên nóng tính và hung tợn)

(Tổng tập văn học dân gian người Việt tập 5)

2. SỰ TÍCH GHỀNH BỢ

Cách đây lâu lắm, chẳng nhớ rõ năm nào, tháng nào nữa, ở một làng nọ, có một người

đàn bà góa chồng không con cái. Một hôm, trong lúc đi làm cỏ dâu, bà thấy có một bước

chân to đến kì lạ như chẳng phải chấn người. Thấy hay hay, bà liền ướm thử chan vào. Ngờ

đâu ít ngày sau bà thụ thai. Bà rất lo bị dân làng cười chê nhưng bà cũng mừng vì sắp có con.

Ngày qua tháng lại, thời gian trôi nhanh, đến kì sinh nở bà kgấp khởi mừng thầm,nhưng lạ

thay bà lại đẻ ra ba con rắn. Đã vậy, dân làng, người nói thế này, kẻ nói thế kia, nhưng ai

cũng bảo rằng đó là yêu quái, phải đem chôn ngay để tránh hậu họa. Tuy sợ hãi nhưng vì

cũng là tình mẹ con nên bà không nỡ giết chúng. Ba con rắn lơn nhanh như thổi và lúc nào

cũng quấn quýt quanh bà. Một hôm, bà đi làm cỏ dâu. Ba con rắn cũng đi theo. Trong lúc

làm cỏ vì sơ ý, bà đã xén đứt đuôi con rắn út. Thế là ba con rắn hoảng sợ bỏ đi mỗi con một

ngả. Nhưng ít lâu sau con rắn thứ nhất lại quay về với mẹ. Về sau, con rắn này chết, được

thờ và gọi là ông Dài. Con rắn thứ hai đã đến ở gành(ghềnh) Bà Triệu. Riêng con rắn út bị

cụt đuôi (dân ở đây thường gọi là ông Cụt) đến ở gành (ghềnh) Bợ, bên xã Tòng Bạt, Sơn

Đà, huyện Bất Bạt cũ, thuộc một đoạn sông Đà. Con rắn này khá dữ tợn. Từ khi nó đến ở

gành Bợ thì nước ở đây tự nhiên réo lên ầm ầm, thuyền bè đi lại rất khó khăn. Vào những

hôm trở trời, ông Cụt lại nổi lên. Đầu ông cụt nhô lên cao ba bốn thước, to như cái thúng cái

lớn. Ông Cụt nổi sóng đánh dắm thuyền qua lại. Theo lệ thường, ngày xưa, cứ mỗi năm ông

Cụt bắt một người để ăn thịt. Vì vậy, gành Bợ đã nổi tiếng như mọt gành hung dữ trên sông

Đà. Người ta đã có câu : Nhất thác bờ, nhì gành Bợ. Thác Bờ là thác hiểm ở vùng Đà Bắc,

Hòa Bình cũ, còn gành Bợ thì ở Sơn Đà, Tòng Bạt, Bất Bạt cũ thuộc tỉnh Sơn Tây xưa.

3. ÔNG CỘC ÔNG DÀI (THÁC HUỐNG, THÁI NGUYÊN)

Truyện kể ở Thác Huống (Thái Nguyên) như sau: Một bà nhặt được 2 quả trứng.

Trứng nở ra hai con rắn. Bà đi đâu rắn cũng đi theo. Dân làng sợ hãi. Bà phải đem hai con

rắn thả xuống vực sâu. Mỗi lần sang sông, bà gọi rắn lên và rắn đưa bà sang. Khi bà qua đời,

nước dâng lên cuốn trôi thi hài của bà đi. Từ đó súc vật trong làng hay bị chết chóc, mùa

màng thất bát. Thầy phủ thủy báo là cần phải lễ thủy thần. Dân làng từ đó, cứ đến tháng 5,

tháng 7 để cầu mưa, tổ chức đua thuyền trên sông, chèo ngoằn nghèo theo các nơi mà trước

kia rắn được thả xuống để dâng lễ cho thủy thần rắn. (Dẫn theo Cao Xuân Phổ trong tạp chí

văn học nghệ thuật số 10/2005).

4. ÔNG CỤT ÔNG DÀI (YÊN THÀNH, NGHỆ AN)

Ngày xưa ở vùng Quan Hóa (Yên Thành) có gia đình họ Nhữ, hai ông bà đã già mà

chưa có con. Thấy đã xế chiều mà không cóa người nối dõi, hai ông bà buồn lắm. Bỗng một

hôm bà nằm mơ thấy một người to lớn khắc thường vào cõng bà xuống âm ty đỡ đẻ cho vợ

Diêm Vương. Nào ngờ từ đó bà mang thai. Mười hai tháng qua, bà sinh ra hai cái trứng. Khi

thấy bà sinh ra hai cái trứng, ông rất ngao ngán, song cũng đem bỏ vào chậu nước xem nó nở

ra cái gì. Ba ngày sau, hai cái trứng nở ra hai con rắn. Bà vợ rất ngạc nhiên và vô cùng sợ

hãi, khiến ông chồng càng thêm buồn. Ông định quăng đi nhưng bà nghĩ rằng : “Trời đã bắt

sinh ra thế thì phải chịu” nên bà bắt hai con rắn bỏ vào chum để nuôi. Chẳng mấy chốc hai

con rắn đã lớn bằng hai cai đầu gậy. Một hôm trời mưa to, ông đi đắp bờ ngăn nước ở đồng

Lèn. Hai con rắn cũng theo ông và quẩn quanh bên ông. Khi làm việc thì cha đắp trước, con

soi sau. Ông tức giận liền lấy thuổng chắn một cái làm một con bị sứt mất một đoạn đuôi.

Hai con rắn bỏ đi. Đến trưa ông về đến ngõ thì hai con đã chực sẵn, mắt gườm gườm, mang

phông to như lăm le xông vào cắn ông. Ông rất kinh sợ. Liền quỳ xuống, ông nói với hai

con :

- Cha đã hại con, cha có lỗi lầm, tha lỗi cho cha !

Hai con rắn nhìn nhau không cắn cha nưa nhưng vẫn tức giận và bỏ ra đi. Hia con đi

mãi, ngày cha chết con vẫn không về. Nhưng dăm năm sau ngày cha mất, giữa ngày mẹ qua

đời, hai con lù lù bò về. Lúc này hai con đã to bằng hai cây mét (luồng). Bà mệ quy tiên, hai

con leo lên nằm trên xà nhà, chỗ mẹ mất, khóc sùi bọt mồm, bọt miếng. Khi bà con họ hàng

liệm mẹ xong, hai con bò xuống nằm trằn lên quan tài. Làng nước đã chuẩn bị đầy đủ để

đem bà mẹ ra đồng, hai con vẫn quấn lấy quan tài. Một người trong họ Nhữ thấy vậy, đứng

trước quan tài nói rằng :

Giờ đã đén lúc đem bà đi, mời hai ngài xuống để đi trước dẫn đường.

Hai con liền trườn xuống, rồi từ từ bò ra khỏi nhà và từ từ bò đi trước đám tang. Anh

em làng nước khiêng bà đi sau. Đi đến một cái cồn cao ráo, thảnh thơi hai con ngừng lại rồi

dùng đuôi soi huyệt cho anh em làng nước chôn cất mẹ. Đắp điếm cho mẹ mồ yên, mả đẹp,

hai con lại trườn lên nằm quấn quanh mọt hồi rồi mới luất nguất bò đi. Đi đâu, có người bảo

lên núi cao, có người bảo lên đến Bàu Diệu Ác, lại có người bảo xuống bàu Canh, bàu Dậu,

vì có câu « ông Cụt bàu Canh, ông lành bàu Dậu ở Diễn Châu... Dù đi đâu ở đâu, cứ đến

ngày mười bảy tháng tư, ngày giỗ mẹ, hai con lại bò về. Cứ ngày ấy, khi nào mưa to gió lớn,

cây cối nghe ràn rạt, bổ ngã bổ nghiêng, mọi người lại nói : ông Cụt ông Dài về cúng giỗ mẹ

đấy.

(Kho tàng truyện kể dân gian Xứ Nghệ)

5. ÔNG CỤT ÔNG DÀI (NAM ĐÀN, NGHỆ AN)

Hai vợ chồng nhà nọ ở xã Nộn Liễn cũng đã già rồi mà chưa có con, lòng thường áy

náy. Một hôm, bà vợ đi mò cua bắt ốc ở khu vực La Uyên (gần dãy Đại Huệ) tự nhiên thấy

cơn sóng lớn phủ lên người bà, làm bà toàn thân ướt đẫm. Bà ngất đi. Khi tỉnh lại, bà vội

chạy về nhà thì thấy trong người nao nao, từ đó bà mang thai. Ba năm sau, bà sinh ra một cái

trứng, trứng nở ra đôi rắn, một xanh một đỏ. Cả hai đều có mào đỏ trên đầu. Rắn lớn nhanh

như thổi. Thường ngày hai con rắn hiền hậu quanh đi lượn lại trong nhà và biết nghe lời chỉ

bảo của cha mẹ, y như người vậy. Đặc biệt chúng rất siêng năng, chúng giúp cha mẹ làm đất

trồng lúa, trồng khoai, khi hạn hán chúng đưa nước từ bàu Nón về. Một hôm, hai con rắn

theo cha ra ruộng đào đất đắp bờ. Không may người cha chắn phỉa con rắn xanh, làm đứt hẳn

một khúc đuôi. Người cha vội tìm cách cứu chữathì cả hai con rắn bỏ chạy. Tự nhiên mưa

gió dầy trời, làng mạc, đồn điền ngập nươc. Cả vùng Nộn Liễn biến thành một biển nước

mênh mông. Mây đen sập xuống, sóng thần nổi lên mang hai con rắn ra sông Lam, rồi con

đỏ chạy lên bàu Ó (Thanh Chương), con xanh chạy xuống bàu Đỗ Lâm (Hưng Nguyên). Về

sau khi trời quang đãng trở lại, người ta thấy con rắn lớn nổi lên ở bàu Đỗ Lâm, trên đầu có

chữ Nộn Liễn. Dân làng xuống rước về làm thần và lập đền thờ ở cạnh khu vực La Uyên.

Đền này nay vẫn còn, nhân dân thường gọi nôm na là đền thờ rắn.

(Kho tàng truyện kể dân gian Xứ Nghệ)

6. ÔNG CỘC ÔNG DÀI (SÔNG TRANH, HẢI DƯƠNG)

Ngày xưa, ở vùng sông Tranh thuộc về tỉnh Đông có hai vợ chồng một nhà nọ, gia tư

cũng vào hạng khá, nhưng tuổi già mà chưa có con. Thường ngày họ cầu trời có một đứa con

cho vui tuổi già.

Một hôm trong khi ra đồng phát ruộng, người chồng nhặt được hai quả trứng to bằng

nắm tay, bèn đưa cho vợ xem. Xem xong, chồng định vất đi, nhưng người vợ ngăn lại:

- "Đừng vất, cứ để cho nó nở xem thử con gì".

Bèn đưa về bỏ vào vò đặt bên cạnh bếp. Chỉ trong mấy ngày, trứng nở thành một cặp

rắn nhỏ trên đầu có mào đỏ rất xinh. Thấy vậy, người chồng định đánh chết, nhưng vợ ngăn

lại:

- "Đừng đánh tội nghiệp. Cứ để mặc tôi, tôi nuôi chúng làm con".

Hai con rắn rất khôn, từ đó quấn quít với người, đi đâu cũng đi theo. Chúng chóng lớn, mới

bằng chiếc đũa, chẳng bao lâu đã to bằng ngón tay. Một hôm người chồng cuốc vườn, cặp

rắn bò theo sát nút để kiếm cái ăn trong đất mới lật. Vô tình một nhát cuốc bổ xuống làm đứt

đuôi một con. Con rắn quằn quại. Người vợ kêu lên:

- "Chà, tội nghiệp! Mày cứ quẩn bên chân ông lão làm gì cho khổ thân thế này!".

Từ đó con rắn bị đứt đuôi ngày một trở nên hung dữ hơn con kia. Hai con càng lớn

càng ăn khỏe. Chúng thường bò vào chuồng gà các nhà lân cận tìm bắt gà con. Bị xóm giềng

chửi bới luôn canh, một hôm chồng bảo vợ:

- "Thôi! Ta đem thả chúng xuống sông cho chúng kiếm ăn, kẻo để lại có ngày mang

họa". Hai vợ chồng bèn mang cặp rắn đến bờ sông thả xuống và nói:

- Bớ các con! Các con hãy ở đây tự kiếm lấy cái nuôi thân, đừng có trở về, bố mẹ

không đủ sức nuôi các con nữa!

Cặp rắn vừa thả xuống nước, lập tức sóng gió nổi lên ầm âm, các loài thủy tộc ở các

nơi về tụ hội bơi lượn đông đảo. Hai vợ chồng rất kinh ngạc. Đêm lại, chúng về báo mộng

cho họ biết là chúng đã được vua Thủy cho cai quản khu vực sông Tranh.

Từ đó hai con rắn làm oai làm phúc suốt cả một khúc sông rộng. Người ta lập đền thờ

chúng bên sông, gọi chúng là Đức ông tuần Tranh, cũng gọi là Ông Dài, ông Cộc. Tuy mọi

thứ cần dùng đã có bộ hạ cung đốn đầy đủ, nhưng chúng vẫn thỉnh thoảng bắt súc vật và

người qua lại trên sông. Duy ông Cộc bản tính dữ tợn, ngày một trở nên ngang ngược, lại tỏ

ra hiếu sắc. Thuyền bè đi qua đó, nó thường xoáy nước nổi sống dữ dội làm cho bị đắm để

bắt người lấy của. Mỗi lần nghe tin có xảy ra tai nạn, hai vợ chồng bố mẹ nuôi ông Dài ông

Cộc vẫn thường ra bờ sông hết lời van vái con, để mong chúng đỡ phá phách. Chúng cũng có

nghe, nhưng rồi chứng nào vẫn tật ấy.

Một hôm, có hai vợ chồng một người họ Trịnh có việc đi thuyền qua đấy đỗ lại. Người

vợ là Dương thị vốn người xinh đẹp làm cho ông Cộc mê mẩn. Đêm lại, bỗng dưng từ dưới

nước có hai người con gái bước lên thuyền, mỗi người đầu đội một mâm lễ vật. Chúng đặt

mâm xuống trước mặt anh học trò và nói:

- "Đây là lễ vật của ông Cộc. Đức ông chẳng bao giờ hạ mình làm những việc như thế

này, nhưng chỉ muốn nhà thầy vui lòng nhường lại chỗ cho người vợ".

Người học trò chưa bao giờ nghe có chuyện trắng trợn thế ấy, bèn quát:

- "Về báo với đức ông chúng mày hãy mau mau bỏ thói ngang ngược. Ta là người đọc

sách thánh hiền, không bao giờ ta lại sợ loài quỷ quái".

Chưa dứt lời đã không thấy hai người con gái đâu nữa. Người học trò tuy nói cứng, nhưng

vốn từng nghe những câu chuyện về ông Dài, ông Cộc nên cũng có ý sợ. Bèn bảo vợ cầm lấy

tay nải rồi cả hai từ giã chủ thuyền bước lên bờ. Nhưng không kịp nữa rồi. Ông Cộc đã nói là

làm. Thấy con mồi đã lên bộ, ông bèn đuổi theo, hóa làm một trận mưa bão kinh khủng làm

cho họ không thể tiếp tục đi được. Người học trò đành đưa vợ vào trú ở một ngôi đền gần đó.

Mưa bão kéo dài suốt đêm. Sáng dậy bão tạnh, người học trò tỉnh dậy đã thấy vợ mình biến

đi đâu mất. Anh theo dấu đến bờ sông chỉ còn thấy quần áo của vợ trút bỏ lại đó. Đau xót vì

mất người vợ yêu, anh chàng học Trịnh bèn đi lang thang khắp nơi tìm cách trả thù. Trải qua

bao nhiêu ngày tháng. Một hôm qua một cái chợ, anh bỗng gặp một ông thầy bói hình dung

cổ quái đang ngồi đón khách.

Anh ngồi xuống xin một quẻ về gia sự. Thầy bói gieo quẻ, nói:

- "Nhà ngươi đang có sự lo buồn".

Anh đáp lời: - "Xin thầy cứ cho biết".

- "Vợ nhà ngươi bị một kẻ có quyền cướp mất".

- "Chịu thầy. Xin cho biết vợ tôi hiện nay ở đâu?" và có cách gì cứu được vợ tôi

không? "

- "Không giấu gì nhà ngươi, ta vốn là Bạch Long hầu vốn có phận sự làm mưa ở vùng

này. Thấy việc tác quái, ta muốn giúp nhà ngươi trả được mối thù. Ta đợi nhà ngươi ở đây đã

lâu. Kẻ kia tuy quyền thế nhưng không thể làm loạn chính pháp. Vậy nhà ngươi hãy theo ta.

Trước hết hãy dò tìm tung tích vợ ngươi để nắm được chứng cớ đầy đủ".

Người học trò tưởng không còn gì mừng hơn thế nữa, bèn sụp lạy Bạch Long hầu, rồi

bước theo bén gót. Đến bờ biển, Bạch Long hầu bảo anh nhắm mắt, đoạn rẽ nước đưa anh đi

mãi, đi mãi đến một hòn đảo xa tít ngoài biển Đông. Sáng hôm sau, ông hỏi:

- "Ngươi có mang theo vật gì của vợ để nàng làm tin không?"

Người học trò đáp: - "Có".

Nói rồi đưa ra một cành thoa của vợ. Bạch Long hầu cầm lấy đi ngay. Chỉ hai hôm

sau, ông đã về kể cho chàng nghe tất cả mọi việc và nói:

- Vợ người vẫn một lòng một dạ với người. Đó là một người thủy chung. Vậy mai đây

ta sẽ đưa nhà ngươi đến triều đình đánh trống "đăng văn", khi đưa nàng ra đối chất, tự nàng

sẽ tố cáo kẻ thù. Nhưng ngươi cũng phải viết sẵn một lá đơn kiện mới được. Chưa đầy ba

ngày, vụ kiện của người học trò đã xử xong. Ông Cộc không ngờ Dương thị lại vạch tội hắn

trước tòa án vua Thủy, tuy rằng nàng đã sinh với hắn một đứa con. Vua Thủy khi thấy chứng

cớ sờ sờ về hành động gian ác của bộ hạ mình thì đùng đùng nổi giận. Vua thét:

- "Hãy bắt nó đày đi thật xa cho đến tận cùng của đất nước!".

Dương thị được đưa trở về cõi trần với họ Trịnh, hai vợ chồng lại đoàn tụ. Còn đứa bé

do Dương thị sinh ra với ông Cộc thì giao cho ông Cộc nuôi.

Ngày ông Cộc đi đày, tôm cá rắn rết náo động cả một khúc sông Tranh. Quân lính áp

giải ông Cộc ra biển rồi đi ngược lên phía bắc. Trải đã nhiều ngày, một hôm họ đến một

vùng nhìn vào thấy rừng cây mịt mù, không hề có khói lửa. Ông Cộc hỏi một số người địa

phương:

- "Đây là đâu?"

Họ đáp: - "Nơi đây đã sắp đến địa phận nước Việt rồi. Đi qua nữa là sang nước khác".

Ông Cộc bảo quân lính áp giải:

- "Vậy là đã đến chốn kỳ cùng rồi đó. Theo lệnh nhà vua, ta sẽ ở đây".

Cả đoàn bấy giờ rẽ sóng kéo vào cửa sông. Nhưng ở khúc sông này từ lâu vốn có một

con thuồng luồng trấn trị. Hắn rất không muốn chia sẻ quyền hành với kẻ mới đến. Cho nên

khi thấy ông Cộc tới, lập tức một cuộc giao phong diễn ra dữ dội từ cửa sông vào cho đến

thượng nguồn. Nước bắn tung tóe, tôm cá chết như rạ. Hai bên bờ lở sụp, sinh mệnh tài sản

của dân ven sông bị thiệt hại rất nhiều. Hai bên đánh nhau mấy ngày không phân thua được.

Ông Cộc bị thương tích đầy người, nhưng thần thuồng luồng cũng bị toạc da chảy máu và bị

đứt mất một bên tai. Thấy thế, những quân lính áp giải vội chạy về báo cho vua Thủy biết.

Cuối cùng việc lại đưa đến cho vua Thủy coi xét. Vua bắt hai bên phải chia đôi khu vực,

định lại ranh giới rõ ràng, và từ nay về sau không được xâm lấn của nhau. Ông Cộc bèn cho

đưa một tảng đá lớn như hình một cái đầu đặt ở ven sông. Bên phía thuồng luồng cũng làm

phép hiện ra một cái chuông úp ở bờ bên này làm giới hạn. Nhưng thần thuồng luồng vẫn

chưa hết giận, vì cho rằng bỗng tự dưng vô cớ bị chia sẻ quyền hành là do ông Cộc mà ra.

Bởi vậy thuồng luồng ta thỉnh thoảng lại gây sự đánh nhau với ông Cộc. Dân chúng hai bên

bờ sông mỗi lần nghe tiếng chuông, tiếng nước sôi động ầm ầm thì biết rằng sẽ có cuộc giao

tranh kịch liệt. Về sau vua Thủy giận thuồng luồng "bất tuân thượng lệnh", bèn sai quân kéo

tới bắt sống, xích lại, giao cho thần Núi địa phương canh giữ, còn ông Cộc từ đấy được cai

quản cả hai khu vực.

Ngày nay, bên bờ nam sông Kỳ Cùng, chỗ chân cầu tỉnh Lạng Sơn còn có một hòn đá

lớn như hình cái đầu. Còn bờ bên kia, trong một ngôi chùa cổ còn có cái chuông bị xích,

nhưng đã đứt mất một bên tai. Người ta nói cái đầu bằng đá là do ông Cộc đặt làm mốc, còn

cái chuông là hiện thân của thuồng luồng bị thần Núi xích tại đây. Cái tên sông Kỳ Cùng

cũng xuất phát từ cuộc đày ải ông Cộc mà có.

(Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi)

7. TRUYỀN THUYẾT ĐÌNH LÀNG VĂN XÁ (HÀ NAM)

Đình Văn Xá thuộc thôn Văn Xá, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân. Đình thờ nhị vị thủy tề

long vương cùng son thân. Thần phả, sắc phong, truyền thuyết kể rằng, vào đời vua Lý Thái

Tổ, ở xã Văn Xá, huyện Thanh Liêm có ông Cao Phúc kết hôn với bà Từ Thị Lang ở Văn

Xá, huyện Nam Xang. Hai ông bà tuổi cao mà vẫn chưa có con. Một hôm, hai ông bà vớt

được hai quả trứng trắng ngoài sông đem về, 100 ngày sau nở ra hai con răn trắng, một con

dưới bụng có chữ Câu Mang anh, một con có chữ Câu Mang em. Hai ông bà để nuôi và

thương yêu như con đẻ. Một năm ở Thanh Liêm trời làm dich bệnh, hai ông Câu Mang làm

mưa gió tẩy trừ dịch bệnh cho dân rồi làm ra một cái giếng sâu rồi đi mất. Tương truyền, cái

giếng này ở Văn Xá, Nam Xang có mạch thông sang Văn Xá, Thanh Liêm. Dân Văn Xá,

Thanh Liêm lập miếu thờ. Cũng năm đó lũ to làm đê vỡ, hai ngài Bạch Xà từ giếng ra, đầu

gối bên này, đuôi chạm bên kia nằm chắn khúc đê vơ để ngăn dòng nước chảy, sau hai ngài

lại ra sông đi mất. Quan sở tại tâu lên triều đình, nhà vua phong cho hai ngài là Nhị vị Thủy

tề Long vương, thân phụ là Văn Phúc đại vương, thân mẫu là Từ bà Văn Lang công chúa.

Năm sau ở Nam Xang lại có dịch bệnh. Từ bà hóa thành con nghê tới làm phép chưa bệnh

cho dân. Dân Nam Xang lập miếu thờ. Đến đời vua Lê Thái Tổ, sư quân đi trừ đảng cướp ở

Nam Xang. Khi qua Cầu Không có nghỉ một đêm tại miếu làng Văn Xá. Đang đêm có một

tiên nữ báo mộng là sẽ giúo sứ quân tiêu trừ đảng cướp. Sau khi dẹp yên giặc đảng cướp, sứ

quân tâu lên triều đình sửa sang thành đình làng, lại phong là thượng đẳng phúc thần. Từ đó

trở đi dân thôn Văn Xá, Văn Lâm kết tình tương thân tương ái.

(http://www.hanam.gov)

8. ÔNG LỖ ÔNG MINH

Tương truyền đời Hùng Vương có người tên là Lý Phục, danh tướng của Hùng triều,

quê ở trang Phúc Bồi, phủ Thiệu Thiên thuộc bộ Thanh Hoa. Lúc bấy giờ thiên hạ thái bình,

Lý Phục chu du đây đó. Một hôm, quá bộ đến trang Sài Thị thuộc huyện Đông Yên thấy địa

thế ở đây rất đẹp, bèn xây dựng hành cung ở trên khu đất ấy làm chỗ nghỉ ngơi. Hồi đó trong

bản ấp có ông Hoang Nhân sinh được một cô con gái tên gọi là Quế Hoa. Quế Hoa nết na,

nhan sắc tuyệt trần. Lý Phục nghe đồn về nàng bèn mời Hoàng Nhân đến đặt yến ba ngày rồi

xin kết duyên cùng Quế Hoa. Lý Phục chọn ngày lành làm lễ thành hôn rồi đưa Quế Hoa về

hành cung Sài Thị. Ngày ấy, nắng hè oi bức, Quế Hoa cùng mấy cô gái hầu ra tắm trước

hành cung. Đang tắm bỗng thấy ánh lửa tỏa sáng ở giữa sông, có hai con rắn xanh ngoi trên

mặt nước, một lúc biến mất, lại thấy sấm nổ ở giữa sông, làm cho sóng cuộn lên ầm ầm. Lúc

ấy, một con giảo long dài mười trượng, đầu đội mũ hoa, mình có vẩy ngũ sắc, diễu chiung

quanh Quế Hoa. Các hầu gái sợ hãi chạy về hành cung báo cho Lý Phục. Ông chạy ra trước

hành cung xem thì thấy mình mẩy Quế Hoa đầy rớt rãi, cạo cũng không ra. Ông sai thị nữ đỡ

Quế Hoa về nghỉ. Lý Phục cho là việc lạ, bèn lập đàn cầu đảo trước hành cung. Kji đang

hành lễ, bỗng thấy trời đất tối tăm, gió mưa kéo đến, giữa sông có tiếng sấm nổ, thấy con

giảo long bay lên chõ cúng tế, Lý Phục cả sợ bèn làm lễ tạ thì giảo long biến mất. Đêm ấy,

Lý Phục chiêm bao thấy mình cùng Quế Hoa đi xuống sông vào lâu đài điện cá điệp trùng.

Một vị mình mặc hoàng bào, đội mũ hoa sáng rực như sao, mời Lý Phục và Quế Hoa cùng

ngồi, Lý Phục nhìn chung quanh thấy toàn những loài sấu, mập, rùa, rắn bao vây. Ông giật

mình tỉnh dậy. Từ đó, Quế Hoa có mang, Lý Phục bảo vợ: “Hôm mình đi tắm có giảo long

hiện lên, đó là Thủy đế Long vương đã giao hợp với mình đấy”. Ông bèn lập riêng một cung

điện cho phu nhân ở. Phu nhân có mang đúng mười bốn tháng, đến giừo Dần, ngày mồng hai

tháng sáu, đẻ ra một bọc có hai trứng nở ra hai con trai. Trong lúc lâm bồn, trên không trung

có mấy nàg tiên ngự trên đám mây ngũ sắc, hát múa, tiêu thiều nhã nhạc vang lên, mùi thơm

tỏa ra sực nức, được một lúc thì biến mất. Sau khi đẻ được ba ngày, trời nổi sấm sét vô cùng

dữ dội. Lý Phục cả sợ, dâng biểu tâu lên nhà vua. Sau đó nhà vua cho sứ giả về thăm, thấy

hai người con trai mới sinh này có tướng mạo kỳ quái: đầu rồng mình rắn, tiếng như tiếng

chuông, mặt đen như sắt. Khi lớn lên mình cao tám thước,sức địch muôn người, hiện ra hình

dáng rồng rắn, xuất thánh nhập thần vô cùng biến hóa. Hùng Duệ Vuơng đặt tên ông thứ

nhất là ông Lỗ, ông thứ hai là Huyên phong làm thủy thần trấn thủ song Nhị Hà và sông

Ngưu Giang. Vì có công đẻ ra thần thánh, nhà vua ban thưởng vàng bạc cho Quế Hoa phu

nhân rất hậu. Một hôm, chiều trời êm ả, Quế Hoa ra chơi ở trước cung điện, bỗng thấy trên

trời xuất hiện một đám mây hồng rồi hóa thành một đường dài như dải lụa diều rủ nhau

xuống, sau biến thành một bầy chim sẻ trắng bay diễu chung quanh Quế Hoa. Bà cảm thấy

ghê rợn, được một lát thì bầy chim biến mất. Thấy điềm báo chẳng lành, hai ông lập đàn

cúng tế cầu cho thân mẫu mạnh khỏe. Trong lúc đang cúng tế, trời bỗng tối sẩm, sấm sét nổi

lên vang dậy, một con rắn xanh dài hơn mười trượng từ dưới sông bò lên, theo sau con rắn

ấy là rắn mang hoa và các loài cá, rùa, ba ba kéo lên chỗ đàn tràng. Chỉ trong chốc lát thì

Quế Hoa cùng bầy thủy loại đều biến mất. Trời đất trở lại trrong sáng. Sau đó hai vị quan lớn

đến ở hành cung Sài Thị, cứ mỗi tháng hai kỳ vào chầu Duệ Vương, một kỳ xuống chầu thủy

phủ. Hồi ấy, Hùng Duệ Vương thọ một trăm linh năm tuổi, Thục Vương thấy Hùng Duệ

Vương tuổi cao mà không có người thưa kế, bèn đem quân sang xâm lược. Hùng Duệ Vương

cho sứ giả đi mời con rể là Tản Viên Sơn Thánh và hai ông vào triều. Hùng Vương nói: “Tản

Viên là Sơn Thánh, hai quan là thủy thần đều sinh ra giúp bản triều, ta không lo gì nữa”. Ba

ông trình vua về kế đánh giặc, nhà vua cả mừng, bèn đem chiếc nỏ thần linh quang vào làm

lễ thái miếu, rồi trao cho Sơn Thánh và hai vị quan lớn cầm quân đánh giặc. Các ông tiến lên

Mộc Châu, bày trận khiêu chiến với quân Thục. Quân Thục ra nghênh. Quân vua Hùng giả

vờ thua chạy, nhử cho quân Thục vào trận địa có mai phục, Sơn Thánh thúc trống, quân vua

Hùng bắn nỏ thần vào phía quân Thục, bốn mặt đổ ập lại vây kín. Quân Thục không có lối

thoát, giầy xéo lên nhau mà chết. Sau thất bại này, hai năm sau Thục Vương lại đem quân

sang báo thù. Lần này lực lượng quân Thục lứon hơn lần trước, đường bộ từ Mộc Châu,

đường thủy từ bể Hội Thống, thủy bộ hai đường đều tiến. Sơn Thánh chỉ huy đánh bộ, hai vị

quan lứon chỉ huy đánh thủy. Hai vị quan lớn gọi những loài thủy tộc dữ tợn như cá voi, cá

sấu, cá mập, giảo long. Rắn độc kéo đến dày đặc cả mặt nước, uy hiếp tinh thần của quân

địch. Địch sợ hãi chạy tan tác. Chiến thắng khải hoàn, hai vị quan lớn xin nhà vua cho phép

về thăm quê ngoại. Thuyền rồng đến trang Sài Thị, nhân dân mổ trâu bò làm lễ chòa mừng

hai vị quan lớn. Trong lúc rượu ngà say, hai vị quan lớn nói với dân làng: “Thời hạn ở trên

trần của anh em chúng tôi đã hết, nay phải trở về làm việc tại thủy phủ”. Rồi họ viết duệ hiệu

của mình giao cho dân thờ cúng. Viết xong, hai ông biến thành hai con rắn dài hơn mười

trượng biến mất (lúc ấy là giờ Ngọ ngày mồng hai tháng mười hai năm Ất Sửu). Nhân dân

lập miếu thờ phụng, nhà vua truy là Đương cảnh thành hoàng Thánh Thông Linh ứng đại

vương, và Đương cảnh thành hoàng Hiển Minh cảm ứng đại vương. Các ngài hiển linh giúp

nước cứu dân, cho nên các vị đế vương các triều đại đều có gia phong.

(Truyện linh dị Việt Nam)

9. LINH LANG ĐẠI VƯƠNG

Truyền thuyết về đền này kể rằng Linh Lang là một hoàng tử con vua. Mẹ chàng là

một cung nữ. Một hôm bà ra tắm ở hồ thì bị một con rắn quắn chặt vào người. Sau đó, bà

mang thai sinh ra một người con trai trên mình có hai mươi tám vết hằn tựa như vẩy rồng và

trên ngực có bảy hàng chấm óng ánh như ngọc. Vua bèn đặt ten cho chàng là Linh Lang. Khi

lớn lên lên gặp lúc có giặc ngoại xăm, hoàng tử Linh Lang xin cầm quân chống giặc. Ông lại

xin vua quân tượng để đi chống giặc. Ông dùng lá cờ đỏ lệnh cho voi quỳ xuống rồi trèo lên

lưng voi. Voi chạy như bay, ông cầm cờ phất. Cờ phất đến đâu giặc tan đến đó. Dẹp xong

giặc, ông hoàng bị bênh đậu, hạt to như hạt ngô lại đen sì, ba tháng rồi mà không khỏi. Vua

đến thăm vừa thương vừa bực mà rằng: “Nếu không phải con ta mà con quái vật thác sinh thì

nên đi ngay”. Linh Lang nói: “Qủa đúng như vậy. Con bị đày xuống có kỳ, nay hạn nước đã

qua, con xin đi. Xin vua cha lập đền thờ ở chỗ nào con đi mất”. Nhà vua ứa nuocs mắt gật

đầu. Linh Lang sai buông màn đuổi hết mọi người ra. Chừng một trống canh, mở màn xem

thì Linh Lang đã hóa thành giao long rồi chui xuống hồ biến mất. Nhà vua y hẹn, lập đền thờ

ở ngay chỗ hóa và phong thần Linh Lang Đại vương. Trong đền, còn có hòn đá có hai vết

hõm, đó là nơi Linh Lang khi sắp hóa kiếp đã gối đầu lên đó. Hội đền 11 tháng 2 âm lịch.

(Truyền thuyết những vị thần Hà Nội)

10. HIỂN CÔNG THẦN

Ở xà Lệ Chi huyện Gia Lâm có đình sen Hồ thờ Hiển công thời Hùng Vương thứ

mười sáu.Tương truyền hai vj chồng Hùng Diệu một lần di qua chùa Vạn Xuân (sau là Sen

Hồ) nghỉ đêm thì nằm mộng thấy Long thần của chùa đến xin làm con. Hôm sau, hai người

thấy bụng Long thần phập phồng nứt ra và một con rắn bò từ trong đó ra đi mất. Từ đó,

người vợ có mang và sau sinh một người con trai đặt tên là Hiểu Công.Hiểu Công nổi tiếng

văn võ song toàn và mười sáu tuổi được vua mời ra làm quan. Năm 24 tuổi Hiển Công được

cử đi diệt giặc ÂN ở Aí Châu. Thế yếu dần, ông phải phá vòng vay chạy về triều. Vua lập

đàn cầu đỏ. Lạc Long Quân xuất hiện khuyên nên rao mõ cầu hiền. Vua nghe theo và mời

được Thánh Gióng vào triều, phong là Thiết xung thần tướng cùng với Hiển Công đi đánh

giặc. Khải hoàn, quân ta về trang Liên đường làm lễ thì trời bông nỗi gió mưa sấm sét và mọi

người không thấy Hiển Công đâu nữa. Vua cho rằng đó là do trời phái xuống nên lênh cho

dân lập đền thờ.

(Truyền thuyết những vị thần Hà Nội)

11. TRUYỆN NÀNG CÔNG CHÚA ĐỜI TRẦN

Tương truyền, khi ấy nước Nam ta trải đến đời vua Anh Tôn nhà Trần, đức chính

khoan hòa, triều đình hưng thịnh, đời đều khen là thời thịnh trị. Lại nói, khoảng trước thời

đó, truyền rằng tại lộ Hải Dương, phủ Nam Sách, huyện Bằng Châu, trang Phao Sơn có một

nhà bộ chúa họ Lý tên Nghi, vợ là Hoàng Thị Tuân, gia thế vốn theo nghiệp học. Thi thư giữ

nếp, lễ nhạc tuân theo, trải bốn đời danh nổi tiếng vang. Dịp này bộ chúa nhân khi thiên hạ

thái bình, sớm hôm nhàn nhã, bèn cùng thiên hạ giong buồm xem phong cảnh, phóng mắt

ngắm giang sơn. Khi thăm sông nước tìm bến bờ, lên núi cao thong thả bước. Khi gảy đàn

cầm múa nhịp trúc, thi thư gửi tron đất nước. Nhạc phượng ca loan, thanh sắc Bồng Lai thú

vị. Ba vui bao goomg trăng gió, năm hồ thuyền nhỏ theo dấu tiên. Đôi khi xem cảnh sắc

nước mây, muôn voi kiệu thênh bước cũ. Non xanh nước biếc, quay về nữa cõi càn khôn.

Nam thánh bắc thần, vào ra trời Nam phong cảnh.

Một buổi, bộ quan dạo chơi đến địa phận bản trang thấy bên bãi cát Hạc Trắng có một

hồ nước nhỏ. Nơi này thế đất quanh co, nước theo uốn lượn, thế rông đi hổ bước, trông vườn

bốn mặt, Thiên Mã đậu đầy. Bộ quan nhận ra đất quý hồ này, bèn cho dựng một tòa cung tại

đây. Khoảng một năm việc xây dựng hoàn tất, bộ quan cùn phu nhân chuyển đến tòa cung

này.

Khi ấy, vì trời hè nóng bức, phu nhân bèn ra hồ nhỏ bên bãi cát Hạc Trắng trước cung

tắm gội. Khi đang tắm gội, chợt thấy nước hồ rung động, một con rắn trắng nổi trên mặt

nước, vây phủ quanh thân thể phu nhân. Phu nhân thấy vậy sợ quá chạy về cung. Bộ quan

trông thấy toàn thân phu nhân ròng ròng nước dãi, kỳ cũng không sạch. Bộ quan cho là việc

lạ, bèn lập đàn trong cung tế lễ. Đương khi hành lễ, tự nhiên thiên địa tối sầm, mưa trút ào

ào, nước hồ dâng cao, rắn rồng nổi lên vây quanh đàn tế. Bộ quan lễ tạ, rắn rồng biến hết.

Từ ấy loan phượng tình nồng, chồng vợ vui xuân, quấn quýt nơi gác nguyệt. Mộng

đẹp vừa tỉnh, gồm nên nhã hứng nơi phòng khuê. Qua bốn ngày phu nhân chợt thấy trong

lòng chuyển động, cảm hoài mà có mang. Thai đã thành hình, ăn uống chẳng như thường,

đều dùng đồ chay tịnh cả. Trải 12 tháng mãn nguyện khai hoa, sinh hạ một gái (vào giờ tý

ngày 21 tháng 3 năm Giáp Thìn), dung mạo phương phi, dáng hình yểu điệu, môi hồng má

phấn, mắt phượng mày rồng. Nét khiến chim sa cá lặn, dáng nên nguyệt thẹn hoa nhường,

đều là dáng thần thánh trên cõi đời, Nghiêu Thuấn trong nữ giới, trần gian nào có được

người nào như thế. Mẹ cha nâng niu, đến tuổi trưởng thành, lại đặt tên cho là Ngọc. Xỉêm áo

đều dùng màu trắng, chẳng giống người thường. Đến khi tuổi vừa mười tám, công dung

ngôn hạnh, nết na hiền hòa, dáng vẻ yểu điệu, con người phúc hậu, hiền từ khoan hồng hiếu

đễ, tính lại ưa nước. Bộ quan thấy vậy bảo phu nhân rằng:

- Con gái nhà ta chính là tinh khí của thủy đế long vương rồi, vốn chẳng phải người

dương thế đâu.

Bèn dựng một cung ở mé bên trái, đặt tên là cung Khát, cho phép con gái ra ở riêng

đó. Một buổi, nàng Ngọc nhân tiết trời thu, rong chơi thưởng trăng ngắm cảnh, nảy ý muốn

đến mỏm đất Long Đầu ở phía tây Thăng Long. Nàng Ngọc đứng trên mỏm đất Long Đầu.

Khi ấy, buổi đương chính ngọ, bỗng đâu trời đất tối sầm, mây mưa mù mịt. Tự nhiên dồn

dậy gió mưa. Nước sông dâng cao, chợt hiện rắn thân trắng dài 10 trượng, rẽ nước thành

luồng, đón nàng Ngọc trở lại thủy cung rồi biến mất (hôm ấy là ngày hóa, 17 tháng 8). Nơi

hóa chính ở mỏm đất Long Đầu, thường thường dâng nước.

Các khách qua lại bán buôn thấy linh thiêng như vậy thường đến cầu đảo, đều ứng

nghiệm cả. Họ bèn lập một ngôi miếu nhỏ tại đây, thờ phụng nàng Ngọc. Trải đến triều Lý,

bỗng đâu có viên thái giám chiêu dân mở trại, thấy một ngôi miếu nhỏ nằm tại mỏm đất

Long Đầu, thường xuyên hiển ứng. Khi ấy, thôn Đống Nước, già trẻ toàn dân đều mộng mị

thấy một mĩ nhân xiêm y màu trắng, truyền bảo dân rằng:

- Thiếp là con gái của Long Vương Thủy phủ, thiên đình lệnh cho trấn nhậm nhân dân

và lãnh thổ nơi này. Cớ sao không dọn sạch miếu vũ?

Rồi bỗng hét to một tiếng, bay vút lên không.

Nhân dân tỉnh lại, biết là mộng báo. Liền sau đó, dân đều mang bệnh tật, chẳng được

yên thân. Người lớn đều cho là họa lớn. Lập tức rủ nhau làm lễ tạ trước miếu thờ. Từ đó, dân

ở đây đều được bình an yên ổn, chẳng phải lo lắng tai nạn khó khăn, lại được phúc thái bình.

Việc phụng thờ hương lửa cũng được nối đời mãi.

Lại nói, thưở ấy, trải đến nhà Trần, đời vua Anh Tông, bỗng đâu giặc Nguyên xâm

lược. Vua bèn đích thân xa giá đi đánh giặc Nguyên. Khi qua miếu thiêng ở thôn ta, tự nhiên

xe rồng dừng lại không tiến. Vua lấy làm kỳ lạ, lập tức lưu lại một đêm. Trong mộng chập

chờn, vua thấy một mỹ nhân xiêm y toàn sắc trắng, đứng trước mặt vua tâu rằng:

Thiếp là con gái của Long Vương Thủy phủ, thiên đình lệnh cho trấn nhậm nhân dân ở

đây. Nay biết hoàng thượng đi dẹp giặc Nguyên, thiếp xin đi theo hầu giúp rập, âm thầm phò

trợ cứu nước.

Tâu xong, nàng uốn mình thành một con rắn trắng mà biến đi.

Vua tự tỉnh mộng, biết là mộng thấy thân nữ. Lập tức truyền cho nhân dân trong thôn

làm lễ tạ trước miếu thờ. Rồi tiến theo đường thủy, thẳng đến nơi đóng trại của quân Nguyên

tại địa phận sông Bạch Đằng, từ mấy cánh quân tập hợp đánh vào một trận. Đương khi giao

chiến, chợt thấy rồng, rắn, cá, ba ba nổi đầy trên mặt sông. Quân Nguyên thấy vậy tự nhiên

chạy tháo lui quân về nước. Thế là từ đó giặc tan.

Ngày hôm bình xong giặc, vua bèn nhanh chóng dẫn quân hồi triều, khao thưởng quân

sĩ. Lại phái sứ giả đem sắc chỉ ban cho nhân dân trong thôn một trăm xâu công để làm tiền

của chung thờ phụng hương lửa. Lại truyền cho nhân dân thôn tu sửa lại miếu thờ phụng và

miễn cho 3 năm khỏi đóng góp lương thực và phu lính.

Lại chuẩn cho thôn Đống Nước cũ thuộc trại Ngọc Hà, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên

coi miếu thờ đó là Hộ nhị đệ nhất tự, phụng thờ hương hỏa mãi muôn đời.

(Tổng tập văn học dân gian người Việt tập 5)

12. TRUYỀN THUYẾT PHỔ ĐỘ HỔ ĐỘ (PHẢ LỄ, HẢI PHÒNG)

Phổ Hộ và Phổ Độ là hai thần bản thổ, huyền tích về các ngài mang đậm dấu ấn của

tín ngưỡng thờ thuỷ thần vùng sông nước. Truyền thuyết địa phương kể rằng: thuở xưa khi

vùng đất này (tổng Phục) còn là đầm lầy và rừng rậm cùng những bãi sú vẹt ven sông, dân

sống rất thưa thớt, có một cặp vợ chồng nhà nghèo, lấy nhau đã lâu mà chưa có con, họ sống

bằng nghề câu tôm trong bãi sú hoặc khi đi lưới trên sông. Những lúc câu tôm, hai vợ chồng

phải thay nhau ra lều ngoài bái sú để trông tôm. Đến lượt người vợ ra lều vào một buổi trưa

nọ, ngồi mãi không câu được tôm, bà buồn ngủ thiếp đi và mơ thấy một con rắn trắng quấn

quanh người, tỉnh dậy thì không thấy rắn nữa. Về nhà, bà kể lại chuyện cho chồng nghe, ông

bảo bà hãy để ý để bắt rắn về làm thịt. Nghe lời chồng, bà rình mãi, cứ chợp mắt thiếp đi thì

lại thấy hiện tượng hôm trước nhưng khi tỉnh dậy rắn đã biến mất... Sau đó bà bỗng thấy

mình có thai, qua 12 tháng, bà sinh hạ hai cậu bé trắng trẻo xinh trai nhưng trên người có vẩy

như vẩy rắn. Lớn lên hai chàng trai trở thành hai người đánh cá rất giỏi, bơi lội trên sông trên

lạch cũng rất tài. Họ thường cứu giúp các thuyền gặp nạn nên dân trong vùng mới đặt tên là

Phổ Hộ, Phổ Độ với ý nghĩa là phù giúp, cứu độ. Khi Trần Hưng Đạo mở trận thuỷ chiến ở

cửa sông Bạch Đằng, hai chàng đã đầu quân làm lính của Hưng Đạo Đại Vương, chuyên

nhận đóng cọc trên sông và lặn dưới nước dò la thuyền giặc. Trong một trận chiến lớn, các

chàng đã bỏ mình, dân làng tìm mãi không thấy xác họ đâu. Thương xót, dân các làng ven

sông lập miếu thờ họ làm thần hộ mệnh cho làng xóm của mình. Cũng từ đó họ lại có thêm

tên mới là Trần Hộ, Trần Độ có nghĩa là người phù trợ cho nhà Trần... Cuối đời Lê Trung

Hưng (thế kỷXVIII) họ được phong tặng là hạ đẳng thần với danh hiệu Hịch phù tôn thần và

Đoan phú tôn thần.

(http://www.spnttw.edu.vn)

13. HAI ANH EM THỦY THẦN SINH ĐÔI ĐÁNH GIẶC LƯƠNG

Theo thần tích, cha của nhị vị họ Hoàng tên là Hoa Liên, người xã Sùng Tháp, huyện

Đông Ngàn (Từ Sơn ngày nay) làm quan lang, lấy vợ người xã Phú Cốc, tổng Đồng Thủy,

huyện Nam Xang (Lý Nhân, Hà Nam ngày nay). Bà vợ đã ngoài ba mươi tuổi mà chưa từng

sinh đẻ, thì buồn lắm. Một hôm bà ra sông Hồng tắm thì bị giao long quấn, rồi sinh ra nhị vị.

Có đêm bà vừa chợp mắt liền mơ màng như có người đứng ở đầu giường ngâm bài thơ rằng :

Nước chảy thênh thênh nước chảy xanh

Trời Nam hiện xuất bậc tài danh

Thủy thần xuất đế Hùng gia thị

Xuất hiện thần minh sự nghiệp thành

Tương truyền trước lúc sinh nhị vị, mọi người đều bỗng thấy có khí thơm gió mát đầy

nhà, tới giờ Ngọ ngày 4 tháng 3 năm Bính Ngọ thì sinh một bọc hai người con trai. Trai lớn

tay trái có ba cái lông xanh, trên lưng có hai hàng vảy hoa văn, ở bụng có hàng chữ Tây Hải

Á hầu Đại tướng. Người em thì có hàng chữ Tây Hải Cao Sơn Đại tướng giao cho trấn giữ ở

miền Sơn Nam. Đến khi trưởng thành, cả hai đều rất tinh tường văn võ. Triệu Việt Vương

nghe tin mén tài, bèn cho vời vào triều giúp nước, ban thiếu phong cho người anh làm Tây

Hải Á hầu Quản nội các quan, người em làm Tây Hỉa Cao Sơn Phụ quốc Đại tướng quân.

Vua cho lưu ở bên người để giúp rập nhà vua. Khi có giặc nhà Lương phương Bắc tới quấy

nhiễu xâm lược nước ta, vua ban cho ấn kiếm làm tướng, sai đem mười vạn tinh binh, hai

ngàn chiến thuyền đi diệt giặc. Giặc thua, quân ta thắng lớn, vua cho triệu nhị vị cho quân

khải hoàn. Via lại ban thưởng trọng hậu. Sau khi giặc tan, quốc gia vô sự, nhị vị xin vua về

thăm dinh thự tại các địa phương, giúp dân khuyến khích nông trang. Sau khi nhị lang mất,

vua sức cho dân lập đền thờ bà gia phong người anh làm Tây Hải Á hầu Phụ quốc Quảng

Trạch đại vương Thượng đẳng thần, người em làm Tây Hải Trừng uyên Tế thế Uy hiển Cao

Sơn Đại vương Thượng đẳng thần. Các làng xã vùng duyên hải Sơn Nam dều lập đền thờ nhị

lang.

(Truyền thuyết dân gian người Việt quyển 2)

14. TRUYỀN THUYẾT ĐỀN LÃNH GIANG (HÀ NAM)

Ngày xưa ở trang An Cố huyện Thụy Anh, phủ Thái Ninh, trấn Sơn Nam có vợ chồng

ông Phạm Túc ăn ở Phúc Đức, chỉ hiềm một nỗi ông bà đã cao tuổi mà vẫn chưa sinh được

mụn con nào nối dõi. Một đêm trăng thanh gió mát, vợ ông (bà Trần Thị Ngoạn) đang dạo

chơi, bỗng gặp một người con gái nhà nghèo, cha mẹ mất sớm, không có anh em thân thích,

đi tha phương cầu thực. Động lòng trắc ẩn, bà Ngoạn liền đón cô gái về làm con và đặt tên là

Qúy. Ông bà coi nàg Qúy như con ruột của mình. Vài năm sau, trong lúc gia đình đang vui

vầy, đột nhiên ông Túc mắc bệnh rồi qua đời. Hai mẹ con đã tìm nơi đất tốt để an táng cho

ông. Sau ba năm để tang cha, một hôm nàng Qúy ra sông tăm gội, đang lúc ngâm mình dưới

nước, bỗng mặt nước noỉi sóng, từ phía xa một con thuông luồng khổng lồ bơi tới quấn ba

vòng quanh mình nàng, khiến nàg kinh hoàng mà ngất lịm, lúc sau thuồng luồng bỏ đi. Từ

hôm đó, nàng thấy trong lòng chuyển động và mang thai. Không chịu được những lời dèm

pha, khinh thị, nàng đành phải trốn khỏi làng đến xin ngụ cư ở trang Hoa Giám (nay thuộc

thôn Yên Lạc). Thời gian thấm thoát thoi đưa, ngày mùng mười thàng giêng năm Tân Tỵ,

nàg chuyển dạ sinh ra một cái bọc. Cho là điềm chẳng lành, nàng đem cái bọc quẳng xuống

dòng sông. Chiếc bọc trôi theo dòng nước đến trang Đào Động (xã An Lễ, huyện Quỳnh

Phụ, tỉnh Thái Bình), mắc phải lưới của ông Nguyễn Minh. Sau nhiều lần gỡ bỏ nhưng bọc

vẫn cứ mắc vào lưới. Ông Minh thấy lạ bèn khấn: “Nếu bọc này quả là linh thiêng thì cho tôi

lấy dao rạch thử xem sao”. Khấn xong, ông Minh rạch bọc ra bỗng thấy ba con rắn từ trong

chiếc bọc trườn xuống dòng sông. Con thứ nhất theo hướng của sông Đào Động, con thứ hai

về Thanh Do, con thứ ba về trang Hoa Giám (nơi nàng Qúy đang sống). Nhân dân các trang

ấp ở đây thấy đều sợ hãi, cùng nhau ra bờ sông tế tụng, xin được lập sinh từ để thờ. Lạ thay

vào một đêm trăng sáng, trời bỗng nổi giông, ngoài cửa sông sấm sét nổi lên dữ dội. Đến gần

sáng, gió mưa ngớt dần, mọi người đều nghe thấy dưới dòng sông có người ngâm vịnh:

Sinh là tướng, hóa là thần

Tiếng thơm còn ở lòng dân muôn đời

Khi nào giặc dã khắp nơi

Bọn ta mới trở thành người thế gian

Bấy giờ Thục Phán thuộc dòng dõi tôn thất vua Hùng thấy Duệ Vương tuổi đã cao mà

không có con trai nên có ý định cướp ngôi. Thục phán cầu viện binh phương Bắc, chia quân

làm năm đường thủy bộ cùng một lúc đánh vào kinh đô. Duệ Vương cho gọi tướng sĩ lập đàn

cầu đảo giữa trời đất. Đêm ấy, nhà vua chiêm bao thấy có người sứ giả mặc áo xanh từ trên

trời bước xuống sân rồng, truyền rằng : “Nhà vua nên triệu ba vị thủy thần sinh ở đạo Sơn

Nam, hiện còn là hình con rắn thì tất sẽ dẹp xong được giặc” . Tỉnh dậy Duệ Vương liền sai

sứ giả theo đường chỉ dẫn trong giấc mộng tìm về đạo Sơn Nam. Sứ giả vừa đến trang Đào

Động bỗng nhiên trời đổ mưa to, sấm sét nổi lên dữ dội ở cửa sông. Một người mặt rồng,

hình cá chép, cao tám thước đứng trước sứ giả xưng tên là Vĩnh xin được đi dẹp giặc. Sau đó

ông Vĩnh gọi hai em đến bái biệt thân mẫu rồi cùng nhau đến yết kiến vua Duệ Vương. Vua

Hùng liền phong cho ông là Trấn Tây, giữ các vùng Sơn Nam, Ái Châu, Hoan Châu. Hai em

và các tướng hợp lại dưới sự chỉ huy của ông, năm đạo quân Thục đều bị tiêu diệt. Nghe tin

thắng trận Duệ Vương liền truyền lệnh giết trâu, mổ bò khao thưởng quân sĩ. Vì có công lớn,

nhà vua phong ông là Nhạc Phủ Ngư Thượng Đẳng Thần nhưng ông không nhận, chỉ xin cho

dân Đào Động hàng năm không phải chịu sưu dịch. Được vua đồng ý, ông Vĩnh cùng hai em

về quê bái yết thân mẫu và khao thưởng gia thần, dân chúng. Thấy ở bên sông có khu đất tốt,

ông Vĩnh cho lập đồn dinh cư trú, khuyến khích nông trang, khuyên mọi người làm việc

thiện lương. Nhờ công đức của ông mà nhân dân khắp vùng được sống yên vui. Ngày hai

mươi lăm tháng tám năm Bính Dần, trong lúc ông đang ngự tại cung thất của mình, bỗng

dưng giưa ban ngày, trời đất tối sầm, mưa gió ầm ào đổ xuống. Khi trời quang mây tạnh, dân

làng không còn nhìn thấy ông đâu nữa. Cho là điều kì lạ, nhân dân trang Đào Động làm biểu

tâu với triều đình. Được tin ông Phạm Vĩnh về trời, nhà vua liền gia phong cho ông là Trấn

Tây An Tam Kì Linh Ứng Thái Thượng Đẳng Thần, đồng thười đặt lệ ban sắc chỉ cùng tiền

cho dân Đào Động rước thần hiệu, tu sửa đền miếu phụng thờ. Các triều đại sau đó đều có

sắc phong cho ông, tất cả 12 sắc. Sắc sớm nhất là đời Lê Cảnh Hưng, sắc muộn nhất là vào

triều Nguyễn, niên hiệu Duy Tân thứ bảy (1913).

(http://www.hanam.gov)

15. LONG THẦN

Tương truyền ở trang Thái Triền, huyện Đông Thành, trấn Nghệ An, jcó người tên là

Hoàng Phúc Hựu, vợ là Võ Thị sinh sống bằng nghề dệt cửi, tuổi đã cao mà chưa có con.

Chẳng may Hoàng Phúc Hựu mất sớm, Võ Thị đành ở góa, một mình vẫn theo nghề canh cửi

kiếm ăn. Hàng ngày, cứ đến trưa, Võ Thị ra tắm giặt ở con suối thuộc địa phận bản trang.

Sau ba năm bỗng nghe ở buồng dệt có tiếng kêu ù ù, đến canh ba mới dứt. Sáng ra, Võ Thị

xem chỗ mình ngồi dệt, có một cái lỗ sâu hoắm, khi Võ Thị ngồi vào dệt vải thì cái lỗ ấy

phụt hơi lên và có tiếng kêu ù ù. Do đó, Võ Thị cảm động mà có mang. Ít lâu sau bụng mỗi

ngày một to, nhân dân bản trang bắt phạt vạ, Võ Thị đành bỏ làng xóm ra đi. Bà bơ vơ cứ đi,

không nhằm phương hướng nào hết. Một hôm, vào lúc chiều tối, bà đi đến nhà họ Phạm ở

trang Đàn Xá, huyện Cổ Chiếu, thuộc trấn Thanh Hóa xin ở nhờ, được Phạm Công làm phúc

đồng ý cho ở. Đến giờ Ngọ ngày mười sáu tháng sáu năm Bính Thìn, Võ Thị đến xứ Cồn

Dầy, trở dạ đẻ ra một cái bọc có hai quả trứng. Bà sợ hãi đem giấu vào trong bụi rậm và về

bảo Phạm Công biết. Phạm Công cũng cảm thấy sợ hãi, ba ngày sau mới dám ra xem. Ông ta

lượm hai quả trứng đó đem về giấu kín ở xó nhà. Một tháng sau, trời bỗng nổi gió, hai cái

trứng vỡ ra thành hai cái hình kì lạ, một cái hình rắn, một cái hình giao long (thuồng luồng).

Rắn và thuồng luồng lại có tính người, anh em biết nhuờng nhịn nhau. Phạm Công cho là

điềm lạ nên mang về nuôi dưỡng cẩn thận. Từ đó về sau, Phạm Công đi cày, rắn và giao long

cũng theo ông ra đồng, đêm đến chúng lại nằm cuộn khúc ngủ ở trên bàn. Ba bốn năm sau,

Phạm Công đặt tên rắn Cảnh Kỳ, giao long là Tiến Sơn.

Một hôm, Tiến Sơn theo Phạm Công đi chơi ngoài nội, không hiểu lý do trời xui khiến

hay Phạm Công lỡ tay chém đứt đuôi Tiến Sơn. Trời đất bỗng tối sầm lại, gió mưa sấm chớp

ù ù. Cảnh Kỳ và Tiến Sơn đều bay lên trời. Dấu tích để lại của hai vị thần này những hồ,

đầm xứ này. Ngày 14 tháng 8 năm Kỷ Tị nhà Đinh, ở phía đông bắc thuộc bản trang, trong

đêm mưa to gió lớn, nước suối dâng lên, có con giao long cụt đuôi tung lên vật xuống làm

thành cái vực sâu hoắm, rộng ước một mẫu, nước trong veo. Sáng hôm sau, phụ lão ra xem

thấy thế muôn phần sợ hãi, không ai dám đến gần bèn bảo nhau lập đàn ở bên cạnh bờ vực

cầu đảo. Giao long liền biến mất, sau đó giáng đồng vào nhà một ông Điện ở bản trang phán

rằng: “Ta là Long Uyên, tên gọi Tiến Sơn, hiệu chàng Gót, thượng đế sắc mệnh cho ta làm

long thần ở khu vực này”. Nhân dân lập miếu thờ, mọi người đều được bình an vô sự.

Những hôm trở trời, rất nhiều tôm cá ngoi lên mặt nước châu đầu hướng về miếu thần,

khi ấy ai xâm phạm đến đều bị hại, nên người ta không dám đến gần và gọi đó là cấm địa của

thần Gót.

Đến năm Long Phù của đời vua Thái Tông nhà Lý, có giặc Chiêm Thành kéo đến xâm

lược. Thế giặc rất mạnh, chúng đi đến đâu tàn phá giết chóc đến đấy. Nhà vua lo sợ bèn ngự

giá thân chinh dẹp giặc. Khi quân nhà vua đi qua lình miếu, họ xuống bắt cá ở vực, bị thần

qưở phạt nên quân lính có nhiều kẻ bỏ mạng. Nhà vua thấy thần linh ứng, đến mật đảo và

khấn: “Thần khôn thiêng thì giúp vua trừ giặc chứ không nên cản trở việc hành quân của

ta”. Sau đó, vua tôi tiến binh đến chỗ giặc đóng, đánh một trận dữ dội, quân giặc tan vỡ ngay

lập tức.

Khải hoàn trở về, nhà vua tặng cho 6 tấm lụa vàng, 10 lạng bạc, cấp cho 11 người làm nhiệm

vụ quét dọn miếu thần. Sắc phong là Đương cảnh thành hoàng trừng tĩnh hoằng trạc hồng

ân linh tế Long Uyên, Húy Gót, tự Tiến Sơn thượng đẳng tối linh thần Đại Vương. Các đời

đế vương về sau, khi thiên tai hạn hán, cầu mưa đều linh ứng.

(Truyện linh dị Việt Nam)

16. SỰ TÍCH SUỐI CÁ THẦN (THANH HÓA)

Ngày xửa, ngày xưa, nơi bản Ngọc thời khai thiên, lập địa, vào một năm nọ, thời tiết

khắc nghiệt, hạn hán quanh năm, người dân túng đói vô ngần. Một hôm, có hai vợ chồng

trong bản hiếm muộn con đi làm đồng vô tình nhặt được một quả trứng có hình thù lạ. Người

vợ đem quả trứng ra suối Ngọc thả xuống nước, nhưng lạ thay, khi nhấc tay lên người ấy lại

thấy quả trứng đang trên tay mình. Hai vợ chồng quyết định đem quả trứng lạ đặt vào ổ gà

đang ấp, quả trứng nở ra một con rắn. Sợ quá, người chồng đem con rắn ra suối Ngọc thả,

nhưng cứ đến tối con rắn lại về ở với gia đình này. Sau đó họ đã để con rắn ở lại sinh sống

với mọi người. Lạ thay, từ đó đồng ruộng của bản đủ nước cày cấy, đồng bào sống trong no

ấm, hạnh phúc. Chàng rắn ấy trở thành vị cứu tinh của bản nên được mọi người hết lòng tôn

kính. Rồi một hôm định mệnh, trời nổi cơn giông, sấm chớp đùng đùng. Sau cơn giông, dân

bản thấy xác chàng rắn nằm bên chân núi Trường Sinh, đầu hướng về bản Ngọc. Thương tiếc

chàng rắn, dân bản chôn cất chàng bên chân núi, lập đền thờ gọi là Ngọc Từ. Trong một buổi

tế lễ, đồng bào bản Ngọc được thần báo mộng chàng rắn chết là do quyết chiến với thuỷ quái

để bảo vệ dân bản. Sau này chàng rắn được phong thần gọi là: Tứ Phủ Long Vương. Từ đó,

ở suối Ngọc bên chân núi Trường Sinh xuất hiện đàn cá thần hàng nghìn con luôn quây quần

chầu trước đền Ngọc Từ để hầu hạ chàng rắn.

(http://baodatviet.vn)

17. ĐỀN MUỐI

Ngày xưa, ở khúc sông Khê Đầu Thượng, ngày nay là đoạn sông chảy qua xã Ninh

Hải, huyện Hoa Lư, có một con Giải rất to. Quãng sông này có nhiều bến đò ngang là nơi

qua lại của nhiều người, làng xóm hai bên bờ rất đông vui. Hai bên triền sông có rất nhiều

bến để dân làng ra gánh nước, giặt giũ... nhất là vào hững chiều mùa hè người ta tắm cứ đông

nghìn nghịt. Nhưng từ khi có con Giải quái ác về, nó đã ăn thịt khá nhiều người. Có lần nó

nuốt chửng cả một cô gái đang rửa chân. Có lần nó đớp gọn lỏn hai em bé đang tắm. Lại có

lần, một bà cụ đi đò sơ ý đưa tay xuống sông rửa cũng bị con Giải đột ngột đớp tay lôi tuột

xuống sông ăn thịt. Quãng sông đang đông vui sầm uất, bỗng trở nên ghê sợ, không ai dám

đi qua khúc sông đầy chết chóc này nữa. Nhiều nhà ven sông đã phải dọn đi ở nơi khác. Bến

đò chẳng ai dám qua. Ông lái đò nhổ sào đi kiếm ăn nơi xa. Khúc sông trở nên hoang vắng,

tiêu điều. Nhiều người bảo nhau làng mình ở vào đúng chỗ đất miệng con tinh nên gặp tai

họa. Các cụ trong làng đã lập đền cúng, cầu cho con Giải đi nơi khác, nhưng nó vẫn không

đi. Những ngày rằm, mồng một dân làng cứ phải đồ xôi, làm lễ cúng rồi quăng lễ vật xuống

cho Giải...nhưng vẫn chẳng thấy nó đi. Có lần vào những đêm trăng sáng con Giải còn bò

hẳn lên mằm chềnh ềnh trên bãi cát bờ sông hóng gió. Dân làng không biết làm sao trừ được

con giải quái ác. Bấy giờ có một ông lão làm nghề bán muối, nhà rất nghèo, vợ ông mất sớm,

không để lại người con nào. Ông lão sống một mình trong túp lều cuối làng. Ông lão nói với

dân làng xin tình nguyện đi trừ con Giải. Dân làng thấy ông tuổi già sức yếu, ai cũng can

ngan nhưng ông lão nhất quyết xin đi. Có mấy chàng trai lực lưỡng xin đi cùng nhưng ông

lão bảo chỉ mình ông là đủ, đi đông hỏng việc. Thế rồi ông lão hàng muối nhờ lò rèn đánh

cho mấy con dao bầu sắc và nhọn. Ông lấy mấy lưỡi dao buộc chặt vào lưng và bụng. Còn

hai tay ông cầm hai dao.Vào một buổi sớm mai, ông chào bà con dân làng rồi ra bờ sông chỗ

conc Giải hay nổi lên. Ông thản nhiên lội xuống bãi sông, đưa chân khỏa nước. Thấy hơi

người, con Giải lập tức nổi lên và lao thẳng đến đớp ông lão. Ông lão thu hai tay xuôi xuống

cho gọn. Miệng con Giải to đến nổi chỉ trong chớp mắt nó đã nuốt chửng ông lão vào bụng.

Khi đã nằm gọn trong bụng con Giải, ông lão mới dùng hết sức bình sinhđâm thúc hai lưỡi

dao bầu vào bụng con Giải. Những nhất dao ấy đã làm thủng ruột gan con vật quái ác. Bị

nhiều nhát dao đâm từ trong ra, con Giải quằn quại, vật vã ầm ầm, máu chảy đỏ ngầu cả

khúc sông. Sau một hồi giãy giụa, con Giải đã bị chết và nổi bềnh lên như một khúc gỗ lớn.

Dân làng đổ ra sông lôi con Giải lên mổ bụng để cứu ông lão. Nhưng khi mổ ra, ông lão

cũng đã tắt thở, hai tay còn nắm hai con dao bầu. Mọi người vô cùng thương tiếc ông lão.

Nhân dân ở mấy làng bên cũng đến đưa đám. Đám tang ông lão đông người chưa từng thấy.

Có người còn tự nguyện để tang ông lão hàng năm. Thi hài ông được chôn cất ở ngay bên bờ

sông nơi ông giết con Giải. Dân làng còn dựng cả nột tấm bia lớn để ghi lại công ơn ông lão.

Và mọi người tự nguyện góp tiền của xây một ngôi đền thờ ở ngay bờ sông. Hằng năm, cứ

đến ngày giỗ, nhân dân quanh vùng lại đến đôt shương tưởng niệm. Ngày nay ngôi đền ấy

vẫn còn. Vì là đền thờ ông hàng muối nên dân làng gọi là Đền Muối.

(Tổng tập văn học dân gian người Việt tập 5)

18. SỰ TÍCH HANG THUỒNG LUỒNG

Tục truyền rằng bên núi Tổng Đạt có một cái hang sâu thăm thẳm, ở đó có mọt con

thuông luông khổng lồ. Nó thường bò vào các xóm để bắt người và gia súc ăn thịt. Để tránh

tai họa, dân quanh vùng phải cất chòi để ở, nhưng vẫ không tránh khỏi tai họa vì thuồng

luồng thương xuất hiện bất ngờ ngay khi dân chúng đang làm rẫy. Lúc bấy giờ ở một làng

Thượng cách đó kghá xa có mọt người nghèo tên là Chăm Mùng, góa vợ, chỉ có một đứa con

trai. Ông Chăm Mùng bắn ná rất giỏi. Dân chúng Vân Hòa bèn thỉnh cầu ông Chăm Mùng về

trừ quái vật và trả ơn bằng cách cấp ruộng đất cho cha con ông sinh sống. Ông Chăm Mùng

nhận lời. Rồi hai cha con ông đến Vân Hòa dựngmột cái chòi ở gần hang thuồng luồng.

Hằng ngày cha con ông đun sôi sẵn một nồi dầu đậu phụng thật to, chờ hễ thấy thuồng luồng

chui ra là giội dầu đậu phụng xuống làm cho nó bị thương, rồi bắn tên độc hạ sát. Song thật

quái lạ, từ khi có ông Chăm Mùng đến ở, thuồng luồng không dám quấy phá nữa. Dân chúng

quanh vùng được yên ổn làm ăn. Thấy vậy ông Chăm Mùng mới rời chòi vào khu rừng ở gần

đó săn bắn hươu, nai, chim, chồn làm vui. Một hôm, ông Chăm Mùng đi săn vắng nhà. Đến

gần trưa, đứa con trai ở nhà nhóm lửa nấu cơm. Nồi cơm đang sôi thì con thuồng luồng bỗng

xuất hiện, há hốc cái miệng đỏ ối, rướn cổ lên chòi như muốn nuốt chửng đưa bé. Hoảng hốt,

thằng bé bưng cả nồi cơm đang sôi liệng và miệng con thuồng luồng, rồi kêu cứu inh ỏi. Vừa

may lúc đó ông Chăm Mùng về gần đến nhà. Nghe tiếng kêu cứu, ông vội chạy tới. Thấy

thuồng luồng đang giãy giụa, ông lập tưc bồi thêm mấy mũi tên độc, kết liễu đời con quái vật

hung ác. Từ đó dân chúng Vân Hòa thoát khỏi nạn thuông luồng. Họ hết lòng cảm tạ cha con

ông Chăm Mùng và giết trâu bò, gà vịt khao ông rất linh đình. Ít lâu sau, đứa con trai ông

Chăm Mùng bị bệnh rồi chết. Buồn rầu vì thương nhớ con, lại thêm tuổi già kéo đến, ông

Chăm Mùng lâm bệnh nặng rồi qua đời. Dân chúng Vân Hòa vừa thương tiếc vừa nhớ ơn

ông nên hằng năm, vào những ngày lễ, ngày tết, dân làng đều sửa soạn lễ vật riêng của gia

đình mình để cúng cha con ông Chăm Mùng. Họ cầu mong linh hồn ong luôn giúp dân làng

yên ổn làm ăn. Tục cúng cha con ông Chăm Mùng ngày nay vẫn còn ở Vân Hòa. Còn từ đó,

họ đặt tên cho cái hang sâu là hang thuồng luồng để ghi nhớ chiến công của cha con ông

Chăm Mùng.

(Tổng tập văn học dân gian người Việt tập 5)

19. SỰ TÍCH ĐẦM ĐỖ LÂM

Xã Đỗ Lâm, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An vốn là nơi đất bằng phẳng, bỗng xuất

hiện một cái đầm rộng khoảng bốn năm mươi mẫu, rất là thiêng. Người trong làng lập miếu

thờ cúng và xin sắc phong làm Thượng đẳng thần. Hằng năm đến ngay tết lễ, quan phủ

huyện đánh ba hồi trống thì nước đầm dâng cao, thuồng luồng ba ba nổi trên mặt nước nhiều

vô kể. Tế lễ xong thì nước rút.

Năm Nhâm Tuất (1972), niên hiệu Cảnh Hưng, có người kép hát quê ở Kinh Bắc tên

là Đới Ngọc đến diễn ở đình Đỗ Lâm, mang theo người vợ mới 20 tuổi, nhan sắc lộng lẫy.

Nữa đêm hôm đó, nước đình dâng đến cửa đình cuốn người vợ đi. Người chồng đau khổ

khôn xiết, liền chay giới ba ngày, làm một hịch đốt để tâu lên trời.

Khoảng một canh, mây mù bốn phía kéo đến, gió lớn sấm sét đùng đùng, đánh vào

trong đầm mấy chục lần, tôm cá ba ba chết đầy mặt nước.Mưa tạnh, ra xem thì thấy một con

giao long to khoảng một vòng ôm, dài năm mươi trượng, đầu đội mũ đỏ, ôm người đàn bà đã

chết. Đới Ngọc gỡ người vợ ra đem chôn. Từ đó đầm không còn linh ứng nữa.

(Tổng tập văn học dân gian người Việt tập 5)

20. SỰ TÍCH SUỐI RẮN

Xã Hòa Lạ, huyện Hữu Lũng trước vẫn thuộc về châu Ôn, xứ Lạng Sơn, đến năm

Giáp Dần (1734) mới sáp nhập vào xứ Kinh Bắc. Một dãi suối lạnh từ dãy núi ở xã Ỷ Tịch

chảy qua xã ấy, rồi thông sang sông Hóa Giang. Trong đoan suối thuộc xã Hòa Lạc có một

cái vực sâu chưa nhiều giao long. Hành khách qua lại thường bị giao long làm hại, cho nên

người ta gọi là Suối Rắn. Trong làng có một người làm nghề đánh cá. Ông chỉ có một cô con

gái , ban đêm đi đánh cá, thường mang con gái đi theo. Một đêm ông đến đánh cá ở cái vực

ấy. Ông đang đứng ở đầu thuyền quăng lưới, chợt nghe phía sau thuyền có tiếng động, trên

mặt nước thoảng có tiếng vang. Bấy giờ trăng sáng lờ mờ, ông quay lại xem, thì con gái đã

biến mất rồi. Ông vô cùng thương tiếc. Sáng sớm hôm sau, ông về nhà giết trâu làm cỗ, mời

dân làng đến uống rượu. Ăn uống xong, ông nói với mọi người rằng :

- Tôi chỉ sinh được một đứa con gái, nay bị giao long bắt mất. Tôi thề phỉa giết hết

loài giao long mới hả sự căm thù của tôi.

Ông đem tất cả gia tư điền địa giao chpo bản xã để sau này cúng giỗ ông. Rồi ông cùng hai thanh gươm lớn rất sắc và đồ lấy lửa(1) lặn xuống vực. Đến cửa hang tháy hai con cá

chép đứng ở trước cửa lấy đuôi dập nước để ngăn cản ông. Ông giơ gươm chém chết hai con

cá ấy, rồi vào trong hang. Đi mọt lúc, hết nước lên cạn, thấy một cái hang rộng lớn, bên

trong có rất nhiều giao long. Con nào cũng thoát ra ngoài vỏ nằm ngủ. Trong như hình

người.Ông vung gươm giết hết. Có hai con giao long nhỏ chui vào vỏ chạy trốn. Ông đuổi

theo chém dược một cái đuôi. Chúng kêu khóc xin tha chết cam đoan từ nay về sau không

dám làm như thế nữa. Ông bèn tha cho. Rồi ông đến chỗ con gái chết, thấy hai mắt và rốn

của cô đã bị gíao long khoét ăn. Ông đem xác con ra người klấy củi khô và cỏ tranh chất vào

trong hang phóng hỏa đốt, khói lửa bay khắp trời, đến tận lang Ỷ Tịch. Ông lại lấy gỗ ở núi

lấp các cửa hang. Từ đó dân làng không bị giao long làm hại nữa. Hiện nay ông làm đại thần

ở bản xã. Con gái hiệu là Ngọc Tự đại thần, cũng rất linh ứng. Dân làng nhân bên cạnh núi

có mọt chỗ đa lõm sâu vào, bend làm một ngôi đền ở chỗ ấy. Dưới đền có một hòn đá, bằng

phẳng, vuông vắn như chiếc chiếu, lại trơn nhẵn, khéo như thiên tạo. Những người có việc

trah chấp với nhaưthơng đem nhau đến đấy thề bồi. Người nào gian giảo bị lộ ra ngay và

phải chịu bồi thường. Bên cạnh đường còn có một cái miếu nhỏ, hành khách qua lại thường

đem vàng bạc cúng lễ. Những người di kiệu cưỡi ngựa, khi đi qua miếu đều phỉa xuống kiệu

và xuống ngựa.

Năm Giáp Tuất (1754), tôi đi sứ qua đấy, có vào đền làm lễ, hỏi chuyện, người làng

thuật lại sự tích cho tôi nghe, nay xin lược chép ra đây.

(Tổng tập văn học dân gian người Việt tập 5)

21. TRUYỀN THUYẾT ĐỀN HƯƠNG TẢO (ĐỀN CÁU)

Theo tấm bia ở đền Cáu, xã Hương Tảo, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Ninh xưâ và truyền

thuyết kể :

Khoảng năm Qúy Hợi (1263), thái sư Trần Thủ Độ kiểm tra việc đắp đê sông Cầu, đến

đây thấy một đoan đê dài chưa đắp, Thái sư trách vấn sở tại thì huyện quan, xã quan bẩm

rằng : Còn đoạn đê đắp dở dang vì dân phu sợ con Sơn xà trong núi Nham Biền cạnh đó

thường ra ăn người. Năm ngoái mới một người bị nó ăn, năm nay có đông người kéo đến, nó

ăn quen nên ngày nào cũng lao ra. Nó to và dài lắm nên ai cũng sợ không làm gì nó được.

Thái sư Trần Thủ Độ nghe xong, trong lòng phân vân cùng đoàn tùy tùng đi ra đoạn đê đó,

thì bỗng con Sơn xà lao nhanh ra cuốn phăng cô cung nữ theo hầu. Thái sư truyền cho chức

dịch địa phương làm theo cách như sau : Xuất tiền công quỹ mua nhiều trứng gà, trúng vịt bỏ

vào nong vào thúng đặt chỗ con Sơn xà thường đến, sau đó thấy hiện tượng gì thì tâu về

triều. Mấy hôm sau, quan địa phương tâu về triều đình là con Sơn xà đã nuốt hết số trứng

đó. Thái úy thốg đốc bèn hạ lệnh mua các chất độc hoàng nàn, thạch tín tán nhỏ, hút bớt lòng

trứng rồi nhét bột vào đó, xếp vào nong vào thúng rồi đặt ra chỗ cũ. Lần này con Sơn xà

khổng lồ ăn xong lăn kềnh ra chết tại chỗ. Quan huyện địa phương khắc bia ghi ơn và giữ bộ

xương Sơn xà làm lưu niệm. Khi Thái sư thống quốc qua đời, vua Trần tôn phong : Trung vũ

Đại vương

Nhân dân xã Hương Tảo dựng ngôi đền ở gần đê, tục gọi đền Cáu, thờ Thái sư thống quốc

Trung vũ Đại vương. Lại xây một đền nhỏ thờ cô cung nữ bị Sơn xà nuốt. Người ta dùng

xương sườn con Sơn xà làm hai cây quạt thờ cắm hai bên khám thờ Trung vũ Đại vương.

Đền thờ Thái sư thống quốc Trung vũ Đại vương Trần Thủ Độ, quốc đảo dân cầu, có nhiều

linh ứng, trái các triều vua đều có sắc phong thêm Mỹ tự - Bậc Thượng đẳng Phúc thần.

Có câu đối minh họa :

Trị thủy độ dân thịnh đức thiên thu hương hỏa tại

Sát xà cứu thế kì côngvạn cổ thạch bi truyền.

Tạm dịch :

Trị thủy độ dân, đức lớn ngàn thu khói nhang còn đó

Giết trăn (Sơn xà) cứu thế, kỳ công muôn thưở bia đá lưu truyền.

(Thần tích Việt Nam tập 1)

22. TRUYỀN THUYẾT LÀNG LỆ MẬT

Chuyện kể rằng: Vào đời vua Lý Thái Tông (1028 - 1054), có một công chúa cưng của

vua thường du thuyền trên dòng Thiên Đức (tức sông Đuống). Một ngày nọ, không may

thuyền bị đắm, công chúa chết đuối. Vua ra lệnh, nếu ai vớt được ngọc thể công chúa thì sẽ

phong chức tước và thưởng công rất trọng hậu. Tuy đã có rất nhiều tướng sĩ triều đình cùng

thanh niên trai tráng các làng tham gia tìm kiếm, nhưng không ai tìm được.

Nhờ lòng can đảm, biệt tài bơi lội, và giỏi nghề bắt rắn chàng thanh niên họ Hoàng ở

Lệ Mật đã kiên nhẫn kiếm tìm và dũng cảm chiến đấu với thuỷ quái giữa vùng nước xoáy,

cuối cùng giành lại được ngọc thể của công chúa. Vua giữ lời hứa, phong cho chàng trai làm

chức quan lớn trong cung và ban thưởng nhiều vàng bạc gấm vóc, nhưng chàng đã từ chối tất

cả, chỉ xin vua cho phép đưa dân nghèo làng Lệ Mật và mấy làng lân cận sang khai khẩn

vùng đất phía tây kinh thành Thăng Long làm trang trại.

Được vua ưng thuận và khuyến khích, chàng đã dẫn dân chúng làng Lệ Mật vượt

dòng Nhị Hà (tức sông Hồng) sang khai hoang vùng đất phía tây thành Thăng Long. Dần

dần, vùng đất ấy trở nên trù phú, được coi là khu nông nghiệp truyền thống của kinh đô, sau

đó nơi đây được mở rộng thành 13 trại ấp mà sử sách vẫn gọi với cái tên khu ''Thập Tam

Trại'' (nay thuộc địa bàn quận Ba Đình - Hà Nội).

Sau khi chàng mất, người dân làng Lệ Mật đã lập đình thờ chàng ở rìa phía nam làng

Lệ Mật, bên bờ nam sông Đuống, suy tôn chàng là Đức thánh hoàng. Đình được xây dựng

theo kiểu kiến trúc thời Nguyễn, hiện nay vẫn còn khá nguyên vẹn, phía trước có ao và sân

đình rất rộng, cổng đình còn ghi hàng loạt câu đối tôn vinh công trạng Đức thánh hoàng. Vào

khoảng tháng ba (âm lịch) hàng năm, dân của khu Thập Tam Trại cũ và du khách bốn

phương kéo về mang theo hương hoa, lễ vật, vừa để tham dự lễ hội làng vừa để cùng người

dân địa phương tưởng niệm chàng trai họ Hoàng dũng cảm năm nào.

Lễ hội được tổ chức rất qui mô và công phu với sự chuẩn bị từ nhiều tuần trước khi lễ cúng

diễn ra. Các nghệ nhân trong làng đã tập trung làm hình nộm có hình dáng một con rắn

khổng lồ (tượng trưng cho thủy quái).

Các thanh niên khỏe mạnh nhất trong làng được lựa chọn vào đội múa rắn và đóng

vai chàng trai họ Hoàng. Một thiếu nữ xinh đẹp cũng được tuyển chọn cẩn thận để đóng vai

công chúa. Vào ngày chính hội (ngày 23 tháng 3 âm lịch), khắp trong đình, ngoài làng đều

được trang hoàng lộng lẫy, cờ quạt dàn bày đủ loại, đèn nến sáng rực, khói hương nghi ngút.

Người ta đánh cá ở ao đình làm gỏi và múc nước từ giếng đình để làm lễ vật cúng dâng thần.

Sau các nghi thức nghiêm trang được cử hành trong những giờ phút thiêng liêng nhất -

thời điểm được coi là lúc Đức Thánh Hoàng giáng hạ, đem điều lành và hạnh phúc đến cho

dân làng, mọi người sẽ đổ ra đứng kín quanh sân đình, háo hức xem diễn sự tích "chàng trai

họ Hoàng đánh thủy quái, cứu công chúa''. Sau cuộc diễn, người ta còn tổ chức thi rắn to, rắn

lạ, tham gia những đám rước hoặc tụ tập quanh người già nghe kể về bí quyết bắt rắn, nuôi

rắn, khai thác nọc, chữa rắn độc cắn...

Theo truyền thống ấy, dân chúng làng Lệ Mật ngoài việc trồng trọt, chăn nuôi, chế

thuốc còn giữ vững và phát triển mạnh nghề bắt rắn, nuôi rắn... Có thể nói, rắn là biểu tượng

của làng, là nghề cơ bản hoặc duy nhất của nhiều gia đình ở Lệ Mật. Nơi đây đã trở thành

làng rắn nổi tiếng ở Việt Nam.

(www.tintuc.xalo)

II. KHU VỰC MIỀN TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN

1. CHÀNG RỂ RẮN

Thuở xưa ở Mường Chàng có một người đàn bà góa chồng từ lúc đứa con gái độc nhất

ra đời được mấy hôm. Vì thương con, thương chồng nên người đàn bà ấy nhất quyết không

lấy ai nữa, một mực ở vậy nuôi con. Bao nỗi cực nhọc vất vả đè lên vai, bà vẫn lặng lẽ chịu

đựng, không một tiếng kêu ca. Niềm vui lớn nhất của bà là đứa con gái cứ mỗi ngày một lớn

lên, càng lớn càng xinh đẹp. Bà cưng chiều con đến mức con gái đã đến tuổi lấy chồng mà bà

vẫn coi con như hồi nó còn nhỏ dại. Chẳng bao giờ bà để cho con vào rừng đào củ, hái măng

hay xuống suối xúc cá, xúc tôm một mình.

Được mẹ cưng chiều nhưng không vì thế mà con gái bà sinh ra lười nhác, hư đốn.

Ngược lại, cô càng thương yêu, quý trọng mẹ hơn. Nhiều lần cô phải trốn mẹ để được làm đỡ

cho mẹ những việc nặng nhọc như chặt cây, lấy củi, vác nước.

Một tối sau khi ăn cơm xong, người mẹ chất thêm củi vào bếp cho lửa cháy to hơn rồi

gọi con gái lại nói:

- Con à, con đã đến tuổi lấy chồng, con trai Mường ta con có ưng đứa nào không?

Nghe mẹ hỏi, cô gái đỏ bừng mặt, giẫy nẩy:

- Mẹ, con không lấy chồng đâu, con ở với mẹ thôi.

Cô gái gục đầu vào lòng mẹ. Người mẹ vuốt nhẹ tay lên mái tóc óng mượt của con, âu

yếm:

- Ồ, con gái nói thế là mẹ không ưng đâu, con phải lấy chồng chứ. Con phải bắt đứa

con trai mà con thương nhất về đây ở với mẹ con ta chứ?

Cô gái không trả lời mẹ, lòng cô bỗng trào lên một tình cảm mới lạ khiến cho toàn

thân cô run lên, nóng bừng. Đêm ấy cô không sao chợp được mắt. Quả là gần đây con trai

trong Mường có nhiều người để ý đến con. Mỗi khi gặp cô họ hay trêu đùa, mời suổi, có

người còn đem khèn đến tận chân cầu thang nhà cô trong những đêm trăng sáng mà thổi.

Tiếng khèn dìu dặt của chàng trai vừa như thổ lộ tâm tình vừa như trách móc ai đó khiến cho

cô nhiều lúc thổ thức, xốn xang. Những lúc ấy cô muốn trốn mẹ để xuống với bạn, xuống với

tiếng khèn tha thiết ấy. Nhưng rồi nổi thương mẹ già cô đơn lại níu cô lại, cô liền ôm chặt

lấy đôi vai xương xương của mẹ. Còn đêm nay chính mẹ cô đã nói ra điều mà cô sợ chưa

dám nghĩ tới làm cho cô bất ngờ đến bàng hoàng. Ừ, cứ như lời mẹ thì ắt là cô phải lấy

chồng. Nhưng người con trai mà cô sẽ chọn làm chồng là ai thì cô chưa nghĩ đến. Bởi cô vừa

thương mẹ già yếu phải ở một mình lại vừa buồn vì nhà cô quá nghèo. Hai mẹ con làm vất

vã quanh năm mà ăn còn không đủ no, mặc còn chưa đủ lành, đủ ấm thì sắm gối, sắm chăn

sao được. Những lúc nhìn con gái trong làng dệt thổ cẩm là cô lại mủi lòng, thương mình,

thương mẹ.

Sau đêm ấy ít hôm, người mẹ lại lặng lẽ vào rừng chặt song về bán. Bà vào tận rừng

sâu mới tìm được một bụi song ưng ý. Bà chọn chặt một cây to nhất nhưng chặt xong thì

không thể nào kéo được cây đã chặt ra. Cả bụi song quấn chặt vào nhau như những múi của

một chiếc thừng. Bà kéo mãi mà cây song vẫn không nhúc nhích được tý nào. Mặt trời đã lên

đến đỉnh núi Mùn, nắng như đổ lửa. Người bà run lên vì đói mệt, bà vừa thở hổn hển vừa

buột miệng nói: “ai kéo được cây song này ra khỏi bụi thì ta sẽ gả con gái cho”. Bà vừa nói

xong thì liền có tiếng người con trai đáp lại:

- Tôi sẽ kéo cây song ra khỏi bụi cho bà nhưng bà hứa sẽ gả con gái cho tôi chứ?

Mẹ cô gái nhìn phía có người nói nhưng chẳng thấy ai cả, ngoài cây cối rậm rạp, âm u,

bà hỏi:

- Ai nói đấy?

Tiếng đáp gọn lỏn:

- Tôi.

- Tôi là ai?

- Tôi là tôi.

Bà cố nhìn, nhìn mãi vẫn không thấy người đâu, bỗng bà giật nảy mình lùi lại, miệng

rú lên, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Thì ra tiếng người trả lời bà vừa rồi không phải của

chàng trai nào mà là một con rắn. Con rắn to như cột nhà, đen trũi, đầu dướn cao hơi dô về

phía bà. Thấy bà qua hoảng sợ, rắn nói:

- Bà ơi, xin bà đừng sợ, tôi không làm hại bà đâu, tôi sẽ kéo cây song ra khỏi bụi cho

bà ngay mà bà chỉ quay mặt đi chỗ khác rồi nhắm mắt lại một chút thôi.

Nghe lời rắn mẹ cô gái không còn cách nào khác là quay mặt xuống suối, nhắm nghiền

mắt lại. Cùng lúc ấy, từ trong con rắn bước ra một tràng trai sinh đẹp, to lớn da trắng như củ

sắn vừa bỏ vỏ. Chàng cầm ngay gốc cây song kéo tuột nó ra khỏi bụi. Chàng làm nhanh đến

mức người đàn bà khốn khổ chỉ nghe đánh roạt một cái, khi quay lại bà đã thấy cây song

nằm cạnh con rắn. Vừa kinh hãi, vừa ngạc nhiên, bà lặng người như một cái cây đã chết. Bà

cứ đứng như thế một hồi lâu, mãi tới khi rắn nói: “bà kéo cây song về kẻo tối”. Bà kéo cây

song đi trước, con rắn lùi lũi bò theo sau. Chiều hôm ấy cả làng đồn ầm lên rằng con rắn

gớm ghiếc sắp làm chồng cô gái xinh đẹp nhất của Mường. Còn cô gái, từ lúc mẹ cô dẫn con

rắn về nhà, cô gào khóc thật thảm thiết. Cô đau đớn nói với mẹ:

- Mẹ ơi, sao mẹ nỡ gả con cho rắn? thà mẹ giết con đi còn hơn là mẹ làm việc đó.

Nghe con gái nói, người mẹ bàng hoàng như đang nằm mơ. Bà ghì con gái vào cái

ngực lép kẹp của mình, miệng lắp bắp như mê sảng:

- Không, mẹ không gả con cho rắn. Con đừng nói lảm nhảm nữa. Sao mẹ lại gả con

cho rắn?

Người mẹ vừa nói đến đấy cô gái lại khóc nấc lên, chỉ tay qua cửa sổ nói:

- Thế mẹ dẫn con rắn kia về đây làm gì?

Nghe mẹ hốt hoảng hỏi:

- Đâu rắn nào?

Dưới sân con rắn vẫn nằm khoanh tròn, đầu dướn lến nhà, miệng há ra nghe ngóng. Bà

sực tỉnh, ngay sau đó bà nằm vật xuống sàn nhà ngất lịm. Cô gái ôm vội mẹ lên giường rồi

vùa lay gọi mẹ nhưng lưỡi cứ líu lại. Trời đã tối hẳn, rừng núi trở nên tĩnh mịch, hoang vắng.

Đôi chim từ quy xuống dưới suối bắt đầu cất tiếng ai oán gọi nhau. Lòng cô gái đau đớn, rối

bời. Cô để mẹ nằm trên giường rồi đốt đóm vào rừng hái thuốc cho mẹ. Cô gái vừa bước

chấn xuống đến sân thì con rắn cất tiếng hỏi:

- Cô đi đâu thế?

Giá lúc khác thì cô gái đã vứt bỏ đóm chảy thốc lên với mẹ, nhưng lúc này nỗi thương

mẹ tràn ngập trong lòng, cô không biết sợ là gì nữa, đáp rằng:

- Ta vào rừng hái thuốc cho mẹ.

Rắn nói:

- Cô ở nhà với mẹ, để tôi đi cho.

Tiếng nói của rắn nhỏ nhẹ, thân hình như muốn chia sẻ với cô gái nỗi buồn của người

cùng cảnh ngộ khiến cho cô rất đỗi ngạc nhiên. Cô đứng tần ngần cầm bó đóm cháy rần rật

trong tay, mắt nhìn chằm chặp vào con rắn. Con rắn từ từ hạ đầu xuống rồi lao vút ra ngõ. Cô

gái rùng mình, bước lên cầu thang vào giường với mẹ. Mẹ cô vẫn nằm thẳng đơ như khúc gỗ

mục, hai mắt nhắm nghiền hơi thở đứt quãng, mệt nhọc. Cô gục đầu xuống cái ngực lép kẹp

của mẹ khóc rú lên. Nước mắt của cô gái cứ nối nhau chảy ra giàn lụa làm cho chiếc áo

mỏng manh của mẹ cô ướt sũng như vừa nhúng xuống suối. Cô gái đang khóc nức nở thì có

tiếng nói vọng vào:

- Cô ơi, tôi đã hái thuốc về đây, cô vò ra vắt lấy nước cho mẹ uống.

Cô gái nhìn ra ngoài, con rắn đã nằm cuộn tròn giữa sàn nhà, đầu dướn về phía cô.

Trước mặt rắn có một nắm lá rừng. Cô gái đứng dậy lấy lá làm theo lời rắn. Lạ thay, mẹ cô

vừa uống hết bát nước lá ấy thì đã tỉnh lại. Người bà nóng lên, hơi thở nhẹ nhõm, đều đều.

Cô gái mừng khôn xiết, nhìn rắn bằng đôi mắt biết ơn. Rắn cảm động chớp chớp mi mắt đáp

lại. Nữa đêm về sáng hôm ấy, trong giấc mơ của mình. Một lần cô vừa mở mắt ra đã giật

mình nhìn thấy người con trai xinh đẹp đang ngồi bên cô chính là người con trai đã gặp trong

mơ. Vừa bàng hoàng vừa sung sướng, người cô cứ run lên bần bật. Cô không dám tin vào

đôi mắt của mình, lẽ nào người con trai xinh đẹp này lại từ trong giấc mơ của cô bước ra. Cô

nghĩ “hay ta vẫn đang mơ”. Cô giơ tay đặt nhẹ lên vai chàng trai, chàng trai đỡ lấy tay cô rồi

nở nụ cười cất tươi, hỏi:

- Em mệt lắm phải không?

Cô gái hỏi lại:

- Chàng là ai, sao lại ngồi bên em thế này?

Chàng trai đưa mắt ra chỗ con rắn nằm, mắt cô gái cũng dõi theo ra đấy. Cô ngạc

nhiên thấy một đống vỏ rắn mỏng tang, lép xẹp như vỏ của một con rắn vừa lột xác. Cô ngơ

ngác hết nhìn chàng trai lại nhìn đống vở rắn như cố tìm cho mình một lời giải đáp nhưng

chàng trai chỉ mỉm cười và đống vỏ rắn thì vẫn nằm im lìm giữa sàn nhà. Một mối nghi ngờ

cứ lớn dần trong cô làm cho cô hoang mang, chỉ một chút nữa là cô sẽ khóc òa lên. Nhưng

rồi linh tính như mách bảo cho cô biết rằng giữa chàng trai xinh đẹp này với đống vỏ rắn kia

có một sự gắn bó kỳ lạ. Vì vậy cô ngồi bật ngay dậy, chạy ra đống vỏ rắn vơ lấy chúng ném

ngay vào bếp lửa. Việc làm bất thần của cô quá nhanh khiến cho chàng trai đứng ngây ra.

Chàng nói:

- Em à, thế là anh không sao trở lại kiếp rắn của mình được nữa rồi. Giá như em đừng

đốt áo của anh vội thì sẽ…

Chàng trai nói chưa hết câu, cô gái đã ôm chặt lấy chàng nói rằng:

- Không, chàng là chồng em, chàng phải ở đây với em với mẹ, chàng không được đi

đâu nữa, chàng trai xoa nhẹ đôi vai thon lẳn của cô gái, âu yếm:

- Em à, anh là con trai Long Vương. Một lần anh được vua cha cho đi chơi, anh đã gặp

em ở suối Chàng khi em đang xúc tôm. Mặc dù mới gặp lần đầu nhưng sau đó anh đã yêu

em. Khi về nhà anh thưa chuyện với vua cha, được vua cha cho phép thế là anh tìm cách đến

đây với em. Chỉ tiếc rằng anh không thể đưa em xuống thủy cung để vái chào vua cha được,

chắc vua cha mong tin chúng ta lắm.

Nghe chàng nói, cô gái vừa sung sướng vừa ân hận, đôi mắt long lanh của cô bỗng có

mấy giọt nước rơi xuống. Rồi không giấu nỗi niềm vui, nàng nói với chồng:

- Chàng ơi, xin chàng tha thứ cho em, em nông nổi quá. Em đâu có ngờ rằng em được

làm vợ chàng, làm vợ một hoàng tử xinh đẹp con của Long Vương.

Hoàng tử an ủi vợ:

- Thôi, em đừng buồn, anh sẽ có cách báo tin về cho vua cha.

Cô gái vội hỏi:

- Chàng có cách gì kể cho em nghe đi.

Họ hàng thân tộc nhà anh đông lắm, ở cả trên cạn và dưới nước. Trên cạn có trăn, rắn,

dưới nước có rồng và thuồng luồng. Chúng ta tối nay sẽ ra sông Chàng, gặp gỡ họ hàng và

báo tin xuống cho vua cha.

Câu chuyện giữa hoàng tử con Long Vương với cô gái đã làm cho bà mẹ tỉnh giấc từ

lâu. Niềm vui đến với bà quá lớn khiến cho nước mắt của bà cứ chảy ra giàn giụa. Vạy mà

đứa con gái độc nhất của bà, niềm vui, nỗi buồn của bà, khúc ruột của bà, hòn máu của bà đã

có chồng. Vợ chồng nó đẹp đôi phải lứa, thương yêu nhau sẽ là niềm an ủi của bà khi bà tuổi

già sức yếu. Bà nghĩ đến những lời đồn đại vừa qua của dân làng, những kẻ độc mồm, độc

miệng chế diễu mỉa mai con gái bà lấy rắn sẽ phải cuối mặt xuống khi chúng biết con rể bà là

chàng trai xinh đẹp rất Mường.

Tối hôm ấy vợ chồng hoàng tử dắt nhau ra sông Chàng, họ ngồi trên một hòn đá to

rộng, phẳng phiêu giữa sông. Dưới ánh trăng vằng vặc, dòng sông lấp lóa, mền mại như một

tấm lụa trắng thả dài giữa núi rừng trùng điệp. Hoàng tử đứng lên, hai tay chắp trước ngực,

miệng nói lầm tầm như đọc thần trú, cô gái khong nghe rõ điều gì. Lúc sau khúc sông đang

chảy êm đềm bỗng sôi réo ùng ục như nước lũ trên nguồn đột ngột đỏ xuống. Rồi từng đoàn

thuồng luồng, dòng nước nổi lên nhào lượn xung quanh hai vợ chồng hoàng tử. Trên hai bờ

sông trăn rắn khắp nơi kéo đến làm cho cây cối rung lên rào rào trong một cơn giông lớn.

Chúng trườn ngược, trườn xuôi, quấn chặt lấy nhau, quăng mình bình bịch. Trước cảnh

tượng ấy cô gái sợ xanh mặt, hai tay ôm chạt lấy chông. Hoàng tử nói:

- Đừng sợ, họ hàng nhà anh đến chúc mừng chúng ta đấy.

Rồi hoàng tử đỡ vợ đứng dậy:

- Thưa anh em họ hàng, thưa bà con thân thuộc, hôm nay ta mời bà con, anh em đến

đây để chứng kiến cho vợ chồng ta từ nay được sống đời đời bên nhau. Ta cũng nhờ bà con

anh em về thưa chuyện lại với vua cha về việc này, mong vua cha tha thứ cho vợ chồng ta.

Hoàng tử vừa nói xong cả khúc sông lại trở nên ồn ào hỗn độn vì những tiếng gieo hò

ầm ỉ của trăn rắn, thuồng luồng, rồng nước, nước sông bắn tung té, cây cối gẫy rào rào.

Vợ chồng hoàng tử xoay người bốn phía tạ ơn bà con họ hàng. Giữa lúc ấy có một

quầng sáng chói dưới sông hắt lên, mọi con mắt đỏ dồn vào đấy. Từ trong quầng sáng ấy một

cặp thuồng luồng nổi lên khênh một hòm nặng đến trước hoàng tử nói rằng:

- Thưa hoàng tử, đây là quà của đức vua gửi tặng vợ chồng hoàng tử.

Hoàng tử mở nắp hòm ra, trong hòm đầy vàng bạc châu báu. Hoàng tử cảm ơn thuồng

luồng, cảm ơn họ hàng thân thuộc rồi cùng vợ khênh vòm về nhà.

Ngay ngày hôm sau chuyện cô gái nghèo lấy được người chồng xinh đẹp, giàu có đã

loang khắp Bản, khắp Mường. Những người nghèo thì mừng cho cô gái, họ kéo đến trật nhà

uống rượu cần, múa hát suốt ngày đêm. Ngược lại những kẻ giàu có thì ghen ghét, bực tức ra

mặt.

Gần đây có một mụ vợ góa đạo Mường giàu có, mụ cũng có một người con gái sắp lấy

chồng. Nghe tin co gái nghèo lấy được chồng giàu có mụ giận con gái mụ lắm. Mụ nói với

con:

- Mày đã mở mắt ra chưa? Nó nghèo đến nỗi cơm ăn không đủ no, áo mặc không đủ

ấm mà còn lấy được chồng giàu có như thế huống hồ mày là con đạo Mường. Thôi hãy quên

thằng Khạ nghèo kiếp xác ấy đi, tao sẽ tìm cho một trai khác.

Mụ nói sùi cả bọt mép, mắt đỏ dòng dọc, những vết nhăn trên trán lún sâu, dúm ró làm

cho khuôn mặt của mụ ngắn chũn lại. Thấy vậy con gái mụ hoảng qúa không dám nói lại một

lời, cô khóc òa lên. Được thể mụ vớ ngay con dao đi rừng huơ trước mặt con gái hỏi:

- Nào, mày có nghe lời tao không?

Cô gái mếu máo thưa:

- Mẹ ơi, chính mẹ cũng ưng gả con cho anh Khạ, anh ấy đang đi sắm đồ cưới rồi mẹ ạ.

Mụ dằn giọng:

- Ta hứa là vì mày, lúc nào mày cũng khóc lóc xin tao cho mày được lấy hắn: Mày nói

cái bụng mày chỉ nghĩ đến hắn, ngoài hắn ra mày sẽ không lấy ai cả. Rồi mày còn dọa tao,

nếu mày không lấy được thằng Khạ thì mày cũng không thiết sống nữa. Tao chỉ có một mình

mày, mày nói như vậy nên tao phải hứa. Nhưng đó là hôm trước, còn hôm nay, thì tao không

hứa nữa, hôm nay thì “đi”.

Tiếng “đi” của mụ nhọn sắc như dao chém nước. Cô gái ngơ ngác hỏi lại:

- Đi đâu hả mẹ?

- Vào rừng!

- vào rừng làm gì ạ?

- Kiếm chồng cho mày.

Cô gái bủn rủn chân tay, tai ù lên như có tổ ong bay trong đầu. Cô đang định thưa lại

với mẹ một lời thì mẹ cô đã giục:

- Đi.

Mụ vác dao te tái đi trước, cô gái đành lẻo đẻo theo sau. Cứ thế mụ dẫn con vào tận

rừng sâu. Khốn thay cho cô gái chân bước theo mẹ nhưng lòng dạ rối bời, đau đớn. Cô nghĩ

đến người yêu của mình đang phải vất vã đi sắm đồ cưới. “lúc này anh ấy ở đâu, anh ấy có

biết mình đang bị mẹ dẫn vào rừng không?”. Những giọt nước mắt của cô cứ nối nhau chảy

ra, cô thương nguwoif yêu và thương chính bản thân mình. Cô đã phải mất bao nước mắt

mới được mẹ đồng ý cho lấy Khạ. Cô giận mẹ mà vẫn phải đi theo mẹ. Mẹ cô sẽ dẫn cô đi

đến đâu, tìm ai trong rừng sâu thẳm này. Đầu óc cô gái dang quay cuồng, rối rắm như thế thì

mẹ thốt lên:

- Đây rồi!

Cô gái giật mình, hỏi lại:

- Cái gì thế mẹ?

Mụ chỉ tay về phía con trăn vừa ăn xong con hoẵng đang nằm phưỡn bụng bên gốc

cây, mắt lim dim như ngủ mặt co gái tái xanh, cô nói như van:

- Mẹ ơi, con sợ lắm!

Mụ trợn mắt nhìn con nhưng giọng lại ngọt ngào, dỗ dành:

- Con gái nhà bên lấy chồng rắn mà giàu có như thế thì con phải lấy chồng trăn phải

giàu có hơn nó nhiều, trăn to hơn rắn mà. Đáng lẽ con phải biết ơn mẹ mới đúng, đằng này

con lại buồn. Ôi, con gái của mẹ đã lớn thế này mà chẳng biết gì cả.

Nói xong mụ vung dao chặt một khúc gỗ lim làm đòn, luồn vào con trăn, bắt con gái

khiêng về. Giống trăn khi đã ăn no thì hiền hơn đất, nó cứ cuộc tròn nằm im không nhúc

nhích. Khi hai mẹ con cô gái khênh trăn về đến nhà thì trời cũng vừa tối. Đêm hôm ấy mụ

bắt con gái nằm chung với trăn trong buồng còn mụ nằm ở nhà ngoài nghe ngóng. Khoảng

nửa đêm mụ nghe tiếng con la trong buồng: “ mẹ ơi, trăn ăn con”. Mụ tưởng hai vợ chồng nó

đùa nhau, mụ nói vọng vào:

- Thôi, khuya rồi, đừng đùa nhau nữa.

Sáng ra mụ khấp khởi gọi con gái mấy tiếng liền nhưng không thấy con trả lời, mụ rón

rén bước vào buồng xem sao, vừa vào tới nơi mụ đã sửng sốt hét lên. Nghe tiếng hét ghê rợn

của mụ dân láng vội vã chạy đến. họ thấy mụ nằm sóng soài bên con trăn cuộn tròn, tức khắc

họ nhận ra con trăn đã nuốt mất con gái mụ, không chần chừ, người cây gậy, kẻ con dao, họ

xúm lại giết chết ngay con trăn rồi mổ bụng cứu người con gái.

Trong lúc cô gái bị hoạn nạn như vậy thì Khạ, người yêu của cô đi sắm đồ cưới cũng

trên đường trở về. có một lúc chàng đang đi gặp hai con sóc cắn nhau, cú một con chết thì

con sống nhai lá thần phun vào miệng nó, nó lại sống lại. Thấy lạ Khạ hái một ít lá cây đêm

về. Về đến nhà Khạ được dân làng kể lại chuyện của cô gái, người yêu của anh cho anh

nghe. Khạ lấy lá thần trong túi bỏ vào miệng nhai rồi phun vào người cô gái. Cô gái tỉnh lại

trước sự vui mừng của mọi người. Lúc sau mẹ cô gái cũng tỉnh dậy nhưng không ai nói với

mụ ta một lời, xấu hổ quá mụ bỏ trốn biệt.

(Truyện cổ các dân tộc miền núi Bắc miền Trung)

2. CHÀNG RẮN

Thuở xa xưa, có người con gái xinh đẹp, nết na, tên là A Đưn. Nàng sống với người

mẹ già những chuỗi ngày đạm bạc nhưng đầm ấm, hạnh phúc. Hai mẹ con ngày ngày đi làm

rẫy, đào củ, hái quả, cắt rau để sống.

Hôm ấy, trời mưa tầm tã mà trong nhà chẳng còn cái để ăn, nàng đi một mình lên rẫy

chặt chuối. Chẳng may khi chặt, lưỡi rựa sút cán văng ra xa. A Đưn tìm lưỡi rựa theo hướng

nó rơi đã trông thấy, vậy mà tìm mãi chẳng ra. Trời thì đã sắp tối đến nơi mà lưỡi rựa như

chui tận lòng đất, có trố mắt, có phanh phui gì thì cũng không thấy dạng. A Đưn ngồi khóc

một mình trong rẫy.

Bỗng một tiếng nói của ai đó vang lên bên cạnh nàng:

- Nàng muốn lấy lại rựa thì phải nghe theo tôi: nàng để tôi nằm im ở gùi của nàng mà

mang về nhà, rồi đặt lên tra, tôi chính là thần rắn đây.

A Đưn làm theo lời của rắn và tìm thấy lưỡi rựa, vật quý đã giúp mẹ con nàng qua bao

nhiêu năm tháng. Và ngày lại ngày, hai mẹ con A Đưn tiếp cặm cụi với nương rẫy như xưa.

Một hôm, người mẹ bác thang lên tra, trèo lấy chuối chín để ăn, thì thấy mộ con rắn to

đang nằm ở đó. Bà hoảng sợ té xuống nền nhà run rẩy. Rắn từ tra nói vọng xuống:

- Bà gả con gái cho tôi, tôi sẽ đi khỏi đây ngay.

- Người mẹ bằng lòng. Chàng rắn bảo vợ đưa nó về gia đình mình ở trên một hang

động rất xa. A Đưn, phải cõng chồng qua nhiều sông suối, vượt nhiều núi đèo hiểm trở suốt

mười hôm liền vẫn chưa đến nơi. Đến ngày thứ 11 của cuộc hành trình, thì nàng gặp phải

một dòng sông chắn lối. A Đưn đang hết sức phân vân, cõng chồng trên lưng thì khó bơi qua

nổi mà rắn lại không biết bơi.

Thấy vậy chàng rắn nói:

- Tôi sẽ tự qua được. Nàng cứ an tâm bơi trước đi.

A Đưn bơi qua bên kia bờ, đi lại ngòng chồng đã đến chưa, thì thấy một chàng trai

khôi ngô tuấn tú đang tiến lại gần. Chàng trai hỏi:

- Em đang trông ngóng gì vậy?

A Đưn khóc, nói:

- Tôi đang đợi chồng tôi.

Chàng trai bảo:

- Anh ấy bơi qua sông mà đến giờ chưa đến, chắc đã chết đuối rồi.

Chàng trai lắng nghe nàng A Đưn kể về người chồng rắn của mình và nàng khóc nhiều

hơn, to tiếng hơn trước nữa. anh ta tìm lời lẽ ngon ngọt để khuyên giải, dụ dỗ nàng quên đi

những tình cảm với con rắn nhiễu sự kia và lấy anh ta làm chồng thì sẽ vô cùng sung sướng,

bởi anh giàu có nhất vùng này. A Đưn nói:

- Dù chồng tôi có là một con rắn độc, tôi vẫn chung thủy với anh ấy trọn đời.

Chàng trai bỗng trở nên vui mừng, nhận mình chính là người chồng rắn của nàng hóa thành,

và đưa cái vỏ rắn lột ra cho A Đưn xem. A Đưn xem kỹ, thấy đúng là lớp của rắn quen thuộc

chồng nàng. Từ đó, hai người sống hạnh phúc bên nhau cho đến suốt đời.

(Truyện cổ các dân tộc miền núi Bắc miền Trung)

3. CHÀNG RẮN (GIA RAI)

Lão Pơ-tao kia có hai người con gái. Người chị tên là Hơ-bia, người em tên là Lúi.

Hằng ngày hai chị em lên rừng phát rẫy trồng bông. Tối về, họ lại ngồi bên bếp lửa kéo sợi.

Một hôm hai chị em bảo cha đi chặt luồng về làm khung cửi dệt vải, Pơ-tao liền vác rựa ra

sông, vào rừng luồng. Chẳng may, chặt luồng xong thì trời đổ một cơn mưa lớn, nước lũ

dâng lên cuồn cuộn. Chiếc cầu bị cuốn trôi mất. Trời tối dần, Pơ-tao không có đường về, nói

lẩm bẩm một mình:

- Bây giờ ai bác cầu cho tôi sang sông, tôi sẽ gả con gái cho.

Pơ-tao nói đi nói lại câu đó ba bốn lần. Thốt nhiên có một con rắn to và dài ở dưới

nước ngoi lên, hỏi:

- Pơ-tao nói cái gì đấy?

Vừa trông thấy Rắn Pơ-tao chối ngay:

- Tôi nói nước to quá, không sang sông được.

Rắn nói:

- Pơ-tao nói rối rồi!

Pơ-tao chối mãi không được, đành phải nhận rằng mình hứa gả con gái cho ai bắc

được cầu, đưa mình sang sông. Rắn bèn nằm dài ra, bắc ngang sông thành một cái cầu ho

Pơ-tao qua. Khi Pơ-tao đã vác luồng đi qua sông rồi, Rắn hẹn mùa hè tới, Rắn sẽ đến lấy con

gái Pơ-tao.

Về đến nhà Pơ-tao rất buồn. Ông chẳng nói, chẳng rằng bỏ ăn, chỉ trải chiếu nằm thở

dài. Hai chị em Hơ bia rất lo lắng, tưởng bố ốm, chạy ngược, chạy xuôi tìm thuốc chữa.

Nhưng Pơ-tao gọi hai chị em lại kể hết đầu đuôi câu chuyện và hỏi Hơ bia:

- Con có bằng lòng lấy rắn không?

Hơ-bia nghe nói lấy Rắn thì từ chói ngay, Pơ-tao buồn quá lại nằm dài, không chịu ăn

uống gì cả, chỉ trong mấy ngày mà người sút hẳn đi. Lúi thương cha quá, nói với cha:

- Cha đừng lo, con sẽ lấy Rắn.

Từ đó, Pơ-tao mới yên lòng. Mùa hè tới, Rắn y hẹn bò đến. Thấy Rắn to và rất dài,

chó sủa ầm ĩ, mọi người sợ hãi chạy trốn hết. Pơ-tao sai đánh chiêng, giết trâu bò, nấu rượu

làm lễ cưới. Đến bữa, khi mọi người ăn, Rắn cũng ăn, mọi người uống, Rắn cũng uống,

nhưng Rắn to nên uống rất nhiều. Thế là Lúi trở thành vợ Rắn.

Ở với nhau ít lâu, Rắn rủ Lúi đi tắm. Tới sông, Rắn bảo Lúi tắm trước. Lúi không

chịu, Rắn bèn lao xuống nước sông tắm trước. Tắm xong, Rắn trút bỏ xác bên ngoài biến

thành một chàng trai rất đẹp, làm cho Lúi rất sung sướng. Khi thấy em lấy được người chồng

đẹp, Hơ-bia rất tiếc và ghen.

Chẳng bao lâu, Lúi có mang với chàng Rắn. Rắn bảo vợ:

- Tôi sẽ sang Lào buôn hàng một chuyến. Em ở nhà, nên giữ gìn cẩn thận, chờ tôi về.

Rắn đi, ở nhà Lúi bắt đầu thèm ăn của chua. Hơ-bia muốn cướp chồng em nên rủ Lúi

sang sông hái chanh, hai người ngồi ăn bên bờ sông. Lừa lúc Lúi vô ý, Hơ-bia đẩy Lúi xuống

nước, tay Lúi vẫn cầm còn con dao và ống muối ớt. Một con cá to bơi đến, nuốt ngay Lúi

vào bụng.

Ở trong bụng cá, Lúi trở dạ, sinh được một đứa con trai. Đứa trẻ biết đi, biết nói liền.

Thấy chỗ ở tối tăm chật hẹp, nó hỏi mẹ:

- Sao mẹ con ta cứ ở mãi một chỗ như thế này, không đi đâu, hở mẹ?

Lúi buồn rầu kể cho con biết là mình đang ở trong bụng cá. Đứa con bực lắm. Sẵn có

con dao, nó rạch bụng cá và xoa muối ớt váo đó. Con cá bị đau, lồng lộn lên một hồi, rồi dạt

vào chết trên một bãi cát. Một con chim đa đa trông thấy, bay đến rỉa thịt ăn. Ngồi trong

bụng cá hai mẹ con nghe thấy tiếng rỉa thịt “tốc tốc” và tiếng chim kêu, biết rằng cá đã dạt

vào bờ, liền lấy dao xẻ thịt cá chui ra. Sợ Hơ-bia giết hại một lần nữa, hai mẹ con vào rừng

dựng một túp lều, phát nương, kiếm củi rừng sống qua ngày tháng.

Buôn bán được khá Rắn trở về và mang theo rất nhiều của cải, trâu bò và một số người

hầu hạ. Qua khu rừng nghe tiếng gà gáy chàng ghé tìm nhà nghỉ thì gặp ngay vợ con mình.

Biết mọi chuyện, chàng dựng luôn một dãy nhà lớn trong rừng, không cho ai biết.

Ít lâu sau, cháng Rắn về thăm bố vợ. Hơ-bia tưởng là Lúi đã chết, nên đón tiếp Rắn hết

sức vồn vã và ngỏ ý muốn lấy Rắn thay em. Nhưng chàng nói:

- Tôi không muốn lấy vợ nữa.

Hơ-bia không lấy được Rắn liền bảo:

- Nếu anh không lấy tôi thì tìm cho tôi một cháng Rắn khác vậy.

Chàng Rắn bằng lòng:

- Nếu chi muốn lấy Rắn, tôi sẽ bảo em tôi nó lấy chị. Hơ-bia thích lắm, bằng lòng

ngay. Chàng Rắn bảo Hơ-bia ra sông, chỉ cho một con Rắn lớn. Hơ-bia hí hửng sai mọi

người lấy dây kéo con rắn về rồi giết trâu, bò, nấu rượu làm lễ cưới. Thấy Rắn nuốt rất nhiều

thịt rượu, Hơ-bia luôn mồm khen Rắn. Tối hôm đó Hơ-bia đưa Rắn vào buồng mình. Đến

nửa đêm, rắn nuốt luôn Hơ-bia, rồi bò xuống sông mất tích.

Sáng hôm sau, Pơ-tao thấy mất cả Hơ-bia và rắn, sợ quá gọi mọi người đi tìm. Chàng Rắn

thương hại vội lặn xuống nước kéo rắn lên. Người ta mổ bụng rắn, cứu Hơ-bia ra và chữa

cho sống lại. Từ đó Hơ-bia không dám làm điều gì độc ác nữa.

(Truyện cổ các dân tộc thiểu số miền Nam tâp 2)

4. NGƯỜI CON GÁI M’NÔNG THỨ BẢY (M’NÔNG)

Một gia đình M’nông xưa, hai vợ chồng già, không có con trai, cả bảy lần sinh đều là

con gái. Ông bà phải ráng sức phát ba quả đồi, gieo trồng bắp, lúa … mùa mùa đủ gạo, rau

ớt… nuôi con. Bảy cô gái lớn không và đẹp như hoa ôi-pung trên núi.

Nhưng mùa rẫy nọ, cả nhà lên nương làm cỏ lúa, lạ lắm, cỏ nhổ đến đâu lại mọn lên

đến đó. Người cha mệt mỏi, kêu lên:

- Trời ơi! Đói khổ mất thôi! Ai người thương tôi làm cỏ lúa giúp tôi, tôi sẽ gả con gái

cho, muốn chọn con gái nào cũng được!

Vừa dứt lời người cha đã nghe tiếng đáp:

- Thiệt không ông già?

Khuôn mặt buồn của người cha vui hẳn lên và buột từ miệng mình ra tiếng “thiệt”,

nghe đanh và gọn.

- Ông già cứ về đi, ba ngỳ sau ông già hãy ra xem thăm rẫy…

Ông già càng ngạc nhiên hơn “sao không thấy mặt người mà chỉ nghe tiếng nói” ông

già ngơ ngác hồi lâu trước cảnh mênh mông đồi núi, đất trời … rồi giục vợ con về trong nỗi

băn khoăn khó hiểu …

Ba ngày sau, sáng ông già dậy sớm nấu cơm, goi vợ con và nhắc bỏ mấy sốp cơm,

mấy bầu nước vô gùi rồi hăm hở lên nương.

Đến nơi ông già chớp chớp hoài mắt, chỉ sợ đôi mắt mình nhìn không được thật. Vì cả

ba quả đồi lúa mọc xanh tươi, cỏ dại không còn một cọng. Ông già mừng vui, khiến đôi chân

đi như muốn nhảy hết núi đồi này sang núi đồi nọ. Ông già ngó nghiêng tìm kiếm ai là người

giúp mình. Đi dọc, đi ngang từ sáng đến trưa vẫn không gặp ai và cũng chả thấy dấu vết gì

“lạ thiệt, lạ thiệt”. Ông già nói luôn miệng rồi lại đi ngang, đi dọc, đi hết đồi một đến đồi ba,

hỏi cây, hỏi lá, hỏi lúa, hỏi đất … xem ai có gặp người nhổ cỏ giúp mình? Tất cả lặng thinh,

yên ắng.

Nắng chiều đã lặng dần sau dãy núi xa. Ông mặt trời như cười với ông già và thầm

nói: “thôi về đi kẻo tối, ông già!” ông già mở to đôi mắt nhìn khắp lượt một lần nữa và nói

lớn vào khoảng không bao la:

- Ơ, ơ … Ai đã làm cỏ giúp tôi, hãy theo tôi về nhà mà chọn lấy con gái tôi! Ơ, ơ …

Không một tiếng đáp lại. Không có ai theo ông già về nhà.

Ra khỏi ba đồi lúa một đoạn xa, ông già đi sau, ngoái lại, thấy một anh rắn to, bò chậm

chạp theo dấu bàn chân con gái và ông già về buôn. Ông già nghĩ “chắc anh rắn này đã làm

cỏ lúa rẫy giúp mình đây” ông già không dám nói to sợ con gái mình sợ, chỉ lặng lẽ đi và

thỉnh thoảng ngoái đầu nhìn lại.

Về đến nhà, mọi người lên nhà. Anh rắn nằm khoanh tròn ngoài cửa. Ông già cất chiếc

gùi, cây sà gạc lên gác bếp, rồi gọi các con lại bảo:

- Các con ra mời khách quý vào nhà nghỉ ngơi cơm nước.

Người con gái thứ nhất ra, gặp rắn hoảng sợ chạy và thầm trách cha “con rắn mà cha

mình bảo là khách quý à”

Lần lượt người con gái thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu ra, gặp rắn đều hoảng sợ chạy

vào và thầm trách cha như thế và từ chối, không chịu mời “khách rắn quý” lên nhà.

Đến lượt người con gái thứ bảy ra, nhớ lời cha bảo “mời khách quý lên nhà”, nàng liền

vâng lời, mặc dù ngoài cửa chỉ có một mình “khách rắn”. Lời nàng dịu dàng, lễ độ:

- Em xin có lời chào khách rắn quý: chẳng hay khách rắn quý từ đâu đến? xin mời

khách rắn quý lên nhà nghỉ ngơi, cơm nước… cho ông già em vui!

Anh rắn gật đầu và theo người con gái thứ bảy lên nhà.

Nghe lời cha, người con gái thứ bảy lấy sốp cơm và miếng nai khô nướng mời anh

rắn. anh rắn cắn hết và khaonh tròn ngủ một giấc ngon lành.

Sáng hôm sau, anh dậy sớm chào ông già và bảy cô gái xin đi. Anh quay đầu ra ngoắc

ngoắc cái đuôi rồi chậm chạp bò đi. Người cha gọi ngay các con lại nói:

- Các con, có đứa nào đi với anh rắn không? Anh rắn đã làm cỏ lúa rẫy giúp ta. Anh

rắn sẽ đi ngăn dòng suối cho nước dâng tưới lúa… có đứa nào đi với anh rắn không? Ông già

hỏi lại một lần nữa. sáu cô gái chị đều sợ, không ai trả lời. Riêng cô gái thứ bảy hiểu ý cha và

thương anh rắn đã giúp cha mình làm cỏ lúa cho mùa màng được, nên im lặng vô nhà lấy gùi

váy, áo, tấm đắp, sốp cơm, cây sà gạc… ra đi cùng anh rắn.

Sáu chị ở lại cười vui. Người cha vẫy vẫy cái tay, gật gật cái đầu cảm ơn đưa tiễn anh

rắn và cảm ơn người con gái thứ bảy vì thương cha, vì mùa màng sắp gặt mà ra đi sẽ gặp

nhiều khó khăn, và lạ lẫm nơi buôn rắn.

Đi một quãng đường xa. Rừng sâu, anh rắn biến thành một chàng trai rất đẹp. Có thể

nói, cô gái chưa bao giờ gặp một chàng trai đẹp như thế. Tấm lưng trần vạm vỡ. Bộ ngực

rộng nở nang. Trước ngực không phải chuỗi dây cườm mà chuỗi dây răng, móng quý của tất

cả các loài muôn thú lạ trên rừng. bộ tóc quăn đen có thắt sợi dây theu dệt nhiều hình ảnh lạ

và cả đôi lông chim blinh rực rỡ sắc màu. Cô gái thú bảy mừng lắm và đôi lúc giật mình

những tưởng trong mơ. Hai người vừa đi vừa chuyện trò quên cả đường dài, bỗng gặp một

con sông sâu chắn lối, cô gái nói:

- Sông sâu, làm sao qua được… Chưa hết câu, anh rắn nói:

- Em đừng sợ! Em hãy nhắm mắt lại, rồi nắm cái dải troành (cái khố) của anh, khắc

qua sông và đến làng buôn anh không mấy chốc…

Cô gái nhắm mắt, làm theo. Thoáng cái,cô gái đã qua sông và đến làng buôn rắn an

toàn. Ở với chồng rắn ba năm, người con gái thứ bảy sinh được một cháu gái rất khôi ngô, bụ

bẫm. Cả làng buôn rắn ai cũng quý thương và có gì cũng cho, tặng.

Xa nhà lâu ngày, người con gái thứ bảy nói với chồng rắn là muốn về quê chơi thăm

bố mẹ, làng buôn và các chị. Chồng rắn thuận lòng và mang theo vợ về thăm làng buôn vợ

với đầy đủ heo, gà, gạo, rượu … đặng kịp cùng Yàng Nhô-rơ-bê…

Cha và các chị thấy em thứ bảy từ buôn rắn trở về mừng vui và xúc động lắm. Rượu

cần được mở ra. Thịt heo được xẻ, nướng thơm. Bà con lui tới đầy nhà, chật ngõ.

Đang lúc vui đó, người chị thứ nhất bảo em thứ bảy:

- Nhân ngày vui, chị em mình ra sông hái trái cây lạ. Vì mừng em về, cây mới ra trái.

Em hãy đeo vòng mặc quần áo đẹp vô. Cháu bè để chị bế. Mọi người vui vẻ ra suối, nơi có

cây trái lạ, chị bảo em trèo lên hái trái. Em mới trèo lên được lưng chừng cây dưới gốc người

chị véo mạnh cháu bé cho cháu bé khóc, người em định tuột xuống, người chị nói:

- Cháu khóc vì cháu muốn đòi cái vòng ở cổ em đó!

Người em tháo vòng, ném xuống cho con.

Người em leo lên, leo lên gần đến trái, dưới gốc người chị véo mạnh cháu bé, cháu bé

khóc dữ, người chị nói:

- Cháu khóc vì cháu muốn đòi cái vòng tay của em đó. Người em thương con, vội cởi

vòng tay ném xuống cho con.

Cứ thế và nói mãi, người chị lấy hết mọi thứ tư trang và áo quần của người em thứ

bảy. Mọi thứ quý trong người cô em thứ bảy đã cởi hết ném xuống cho con. Người chị liền

chặt cây trái lạ cho người em thứ bảy không kịp trở tay và rớt xuống sông, chết đuối.

Người chị hí hửng mặc quần áo của người em và bế đứa cháu về nhà. Người chồng em

hỏi chị:

- Chị ơi! Vợ tôi đi đâu mà lâu chưa thấy về?

- Vợ chồng mà không nhận ra mặt nhau à?

Người chị đáp và nói tiếp:

- Em là vợ của anh, anh không nhận ra em sao?

Người chồng em không nhận ra vợ mình, rồi một lúc nói:

- Được rồi! nếu phải vợ tôi thì hãy theo tôi đi…

Vì thấy chồng em đẹp, muốn chiếm chồng em làm chồng mình, nên người chị vội

vàng sách gùi quần áo và bế con nhỏ đi theo.

Trên đường đi gặp con sông sâu, người chị nói đúng như lời người em nói, và người

chồng dặn người chị làm đúng như đã dặn người em. Do đó, sang sông gặp làng buôn rắn,

nhà cửa đàng hoàng, chồng rắn vẫn tưởng người chị là vợ mình, cô gái M’nông thứ bảy yêu

quý, nên cũng chẳng ngờ vực gì nữa.

Ngày ngày người chồng ra sông lấy nước giúp vợ. Một hôm, người chồng thấy con

chim điu-đíu kêu “điu đíu anh ơi! chị dệt vải không thành đâu, chị dệt không đẹp như em đâu

anh ơi, anh à”, người chồng suy nghĩ “sao tiếng chim giống tiếng người vợ trước đây của

mình, ơi nàng M’nông thứ bảy của anh ơi” bỗng anh nói to:

- Ơi chim! Chim có phải vợ tôi không! Nếu pahir vợ tôi thì chim hãy chui vào tay áo

tôi, ơi chim!

Chưa dứt lời, chim đã chui vào tay áo anh.

Anh đem chim về nhà nuôi. Một hôm người chị dệt vải, tự nhiên con chim kêu:

- Điu Đíu! Chị dệt vải không thành đâu! Chị dệt không đẹp như em đâu, ơi chị!

Nghe vậy người chị biết em mình đã biến thành con chim, nên vội vàng đập chết.

Chiều, chồng về, không thấy chim, hỏi:

- Chim của anh đâu?

- Chim đã chết rồi! em vất nó ra ngoài sân kia kìa…

Người chồng thương chim đắp mộ cho chim, ít lâu sau, từ mộ chim mọc lên một cây

măng thẳng thắn, khỏe đẹp. Măng lớn rất nhanh, xum xê cành lá. Măng thành cây tre ngà

xanh mát trước sân.

Một hôm, người chị đem sợi ra dệt vải dưới gốc tre. Mỗi khi gió thổi, ngọn tre là

xuống quấn rối hết chỉ của chị, nên chị không dệt được vải. Tức lắm người chị đen dao ra

chặt cây tre đem vô nhà làm ống đựng nước.

Mùa loh mir (làm rẫy) bận rộn người chồng và người chị lên rẫy tra hạt, làm cỏ tối mịt

mới về nhà. Suốt ngày làm lụng mệt nhọc, về nhà sẵn có cơm canh được bày hiện sẵn sàng,

người chồng, người chị ăn ngon lành và thầm cảm ơn dân làng đã thương tình nấu giúp.

Một tháng làm rẫy xong, người chồng đến từng nhà bà con trong buôn cảm ơn khắp

lượt các cô bác đã “nấu hộ cho tôi, nên vợ chồng tôi đã được ăn cơm nóng, khỏe người, mùa

rẫy sớm xong, cảm ơn, cảm ơn nhiều lắm …” mọi người trong buôn nói:

- Không phải chúng tôi nấu đâu. Mấy hôm chúng tôi qua nhà, cửa đóng kín, phải nhìn

qua khe hở, thấy một người con gái xinh đẹp, nấu cơm, làm canh, đun nước, bày mâm, đặt

chén xong rồi trốn vào ống tre đó!

Người chồng mừng và biết người trong ống tre chính là nàng M’nông thứ bảy, vợ

mình trước đây.

Sáng hôm sau, dậy sớm, anh bảo người “chị” vợ lên rẫy trước. Khép hờ cánh cửa và

nha núp bên lùm cây cạnh nhà, chờ đợi.

Gần trưa, nàng M’nông thứ bảy từ trong ống tre bước ra nhẹ nhàng duyên dáng gùi

bầu đi lấy nước, sẩy gạo nấu cơm, lặt rau làm canh… mọi việc làm rất nhanh và cơm canh

được bày đặt ngon lành thơm nóng…

Người chồng lúc đứng lên, ngồi xuống dõi theo. Cơm nước đã xong, nàng M’nông thứ

bảy trải lại mái tóc dài như dòng suối, dắt chặt chiếc m’bơn màu hoa rực rỡ để lộ đôi chân

tròn lẵn với đôi gót hồng đỏ như đất rừng… nhất là khi nàng kéo chiếc áo kroh xuống cho

phẳng phiêu thì đôi ngực nàng căng lên như hai ngọn núi nhỏ …

Người chồng đứng lặng từ lâu và không nén lòng được nữa, nhảy “rầm” vô nhà và

đứng chắn trước cái ống tre đựng nước!

Cô gai trong ống tre mở to đôi mắt tròn đen nhìn chàng. Cả hai người đang lạc lối

trong mơ. Những tháng năm dài chờ đợi. Những giọt nước mắt mừng vui lung linh khắp

khuôn mặt hai người. Họ ôm chặt lấy nhau.

Lúc đó người chị làm rẫy một mình buồn và nóng ruột vội vã về nhà. Người chị xô

cửa lên nhà, nhìn thấy hai người ôm nhau, bỗng luýnh quýnh đôi chân, đạp đổ ché nước sôi

bỏng chết.

Từ đó, nàng M’nông thứ bảy sống hạnh phúc với chồng mình là chàng rắn xinh đẹp.

(Sự tích Langbiang: Truyện cổ chọn lọc các dân tộc thiểu số Lâm Đồng)

5. NÀNG PIARƠ CHÔN (TÀ ÔI)

Bà mẹ già có mười người ocn là mười nàng hoa: Piarơ Đức(hoa bí), Piarơ Tulom (hoa

tulom nở sau mùa trĩu lúa), Piarơ Toail (hoa bầu), Piarơ Ađốc (hoa khoai lang), Piarơ chia (

hoa thơm), Piarơ Tiêu (hoa ớt), Piarơ Akưng (hoa cà), Piarơ Pang(hoa pang màu trắng

thường mọc theo hi bên đường đi), Piarơ Tavail (hoa Tavail tựa như hoa khoai lang), và

Piarơ Chôn (hoa màu đỏ, không thơm nhưng đẹp nhất rừng, ho thường nở vào mùa xuân).

Cô nào cũng đẹp, mỗi người một vẻ, nhưng không ai đẹp bằng Piarơ Chôn.

Một hôm mẹ lên rãy chặt mấy buồng chuối hín. Vừa đưa rựa lên chặt thì cán hỏng,

mũi rựa rớt xuống đất nhằm con rắn (Turơ). Mẹ không dám lấy rựa. con rắn ngóc đầu, lè lưỡi

nói:

- Bà già muốn lấy rựa thì đem tôi về bỏ lên giàn, không thì tôi quấn chân bà, tôi mổ

mắt bà!

Mẹ sợ run run, bảo rắn bò vào Achót và mẹ gùi về nhà bỏ nó lên giàn. Rắn lại bảo:

- Tôi ưng Piarơ Chôn làm vợ cả. Bà già kêu nó về đây ăn chuối.

Mẹ ghét rắn hung, không muốn gọi nhưng sợ rắn cắn nên đành phải gọi hoa dứa và

hoa bí về. Vì mẹ không muốn Piarơ Chôn, đứa con gái đẹp nhất của mẹ phải lấy con rắn gớm

ghiếc kia.

- Hoa dứa, hoa bí con ơi! Hãy về ăn chuối trên giàn! Các con hãy bỏ giú lên đây, thấy

con rắn thì phải chạy đi, chạy đi!

Piarơ Chĩa và Piarơ Toail gnhe mẹ gọi chạy về nhà, trèo lên giàn định lấy chuối ăn.

Thấy rắn nằm khoanh tròn, phùng mang ngóc đầu dậy, hai nàng hoảng sợ bỏ chạy xa. Rắn

giận lắm, đòi mẹ gọi Piarơ Chôn. Mẹ già như không biết, khóc xin rắn:

- Turơ ơi! Bà già chỉ có hai đứa con thôi!

- Không gọi đứa con gái đẹp nhất của bà về đây, mắt bà sẽ không nhìn thấy đường đi,

chân bà không bước được, tay bà không cầm rựa được.

Rắn lè lưỡi, há miệng giơ hàm răng nhọn lởm chởm. Mẹ cũng không đành gọi Piarơ

Chôn mà gọi các nàng hoa khác – nàng Piarơ Ađốc, Piarơ Tulan, Piarơ Tiêu… cô nào về

thấy rắn cũng hoảng hồn bỏ chạy. Cuối cùng còn lại một mình Piarơ Chôn, rắn quấn chân bắt

mẹ gọi về. Lòng mẹ buồn hung, cái ruột mẹ đau như từng khúc, mẹ không ưng ý tý nào.

Giọng mẹ nghẹn ngào:

- Cho cho cho Tu pa u cô rai ro lang nữ… Piarơ Chôn con ơi! Mẹ già rồi chân đi

không vững tay cầm rựa không chặt, củi rừng cứng quá, con về chẻ củi cho mẹ.

Piarơ Chôn chạy ngay về. Nhìn con chạy từ đằng xa, ôi Piarơ Chôn sáng quá, đẹp quá,

mẹ chảy nước mắt ghé tai nàng nói nhỏ:

- Có chuối to, môn to trên giàn. Con lên lấy, thấy rắn thì chạy chốn ngay con nhé!

Piarơ Chôn bắc thang trèo lên giàn với tay lấy chuối, Turơ cắn tay cô bắt cô làm vợ

hắn. Mẹ già thương con gái lắm, khóc lóc thảm thương nhưng không dám gọi Piarơ Chôn lại.

Turơ bảo Piarơ Chôn đi dưới đất, rắn trườn trên cây canh chừng. Họ đi qua không biết

bao nhiêu khu rừng, con suối mới đến làng turơ. Piarơ Chôn ức ức cái bụng – mình phải làm

vợ con turơ gớm ghiếc, ghét quá, bụng nhớ mẹ già muốn quay về bản, mà chân vẫn phải

bước đi. Ngang con suối có nhiều người gùi nước. Nàng tức tối thanh thở một mình:

- Cha ơi! Mẹ ơi! Hãy gọi người thượng xạ bắn con rắn này cứu con.

Turơ nghe vậy hỏi:

- Piarơ Chôn em gọi ai đó, em cần gì?

- Mình quên cái lược, cái ống điếu, cái gương, gọi cha mẹ đem đến cho mình. Turơ

nhổ răng thả xuống cho Piarơ Chôn. Răng Turơ thành cái lược vàng đẹp. Đi ngang khúc suối

vắng, Turơ bảo nàng dừng lại. Turơ tắm trên đầu nguồn dặn Piarơ Chôn tắm dưới:

- Hễ thấy cái gì trôi trên suối, em lượm hết bỏ trên bờ cho anh.

Turơ lột lớp da rắn ở ngoài ra thành một chàng trai đẹp. Rắn về hang gùi một Achót

trứng gà vờ đi ngang qua chỗ nàng.

- Piarơ Chôn, Piarơ Chôn có tóc như dòng suối, có má như bếp lửa đỏ, có tiếng ca như

chim hót. Em xinh đẹp, ưng chi con rắn. Thương em, anh quăng trứng cho em. Nếu em chụp

được, chúng ta là vợ chồng nhé.

Piarơ Chôn tức đỏ mặt:

- Anh không phải là chồng tôi. Chồng tôi là con rắn, gái có chồng rồi anh đừng lui tới

nữa, nếu đến chọc ghẹo mãi tôi cho ăn kré (cứt) đấy!

Anh con trai đẹp giận dữ, quẳng lông lốc Achót trứng gà bỏ đi. Piarơ Chôn chẳng

thèm ngó, lẳng lặng xuống suối tắm. Thấy rác ở đâu trôi đến một mảng thật to, nàng vớt đem

bỏ lên bờ cho chồng.

Đến chiều, Turơ tắm xong trườn về. Nàng khoe chồng đống rác to, rấn bảo nàng châm

lửa đốt. Tàn ngọn lửa, rác hóa thành quần áo tiền bạc thật nhiều. Họ bỏ đồ vào gùi và tiếp tục

đi.

Hôm sau đi đến một bản, người ta đang đứng đông nghịt, xúm nhau làm thịt heo cúng

cơm mới. Piarơ Chôn đứng dừng lại không chịu đi nữa. Nàng nói với chồng:

- Xấu hổ quá anh ơi! Đông quá em đi không được! (nàng xấu hổ vì có anh chồng rắn).

- Không việc gì phải xấu hổ. Hãy đi! Nhà anh không ở đây, ở trên sườn núi kia kìa!

Turơ kéo tay nàng dắt đi. Về đến bản mình, rắn bảo nàng ngồi đợi ở bến nước và bò

về nhà. Nhà Turơ là một cái hang to nằm trên sườn núi, ở đó rắn con, rắn cháu, rắn anh, rắn

em, rắn cha, rắn mẹ, rắn ông, rắn bà… nhiều hung. Con Turơ mẹ như thân cây già trong

rừng, nằm khoanh tròn to bằng cái nhà lớn.

Turơ về khoe cả bản cưới được vợ đẹp, gọi cháu ra coi mắt nàng Piarơ Chôn. Con rắn

cháu bò ra bến nước ngóc cổ say sưa ngắm Piarơ Chôn. Ngồi loay hoay bứt mấy cọng cỏ,

Piarơ Chôn đụng phải con rắn, rắn lè lưỡi liếm tay nàng. Piarơ Chôn sợ quá ôm mặt khóc.

Rắn cháu bò về hang kể:

- Cậu ơi! Piarơ Chôn đẹp quá, nhưng sao tôi thấy cô ấy khóc?

Turơ nghe tiếng khóc bò vội ra bến nước. rắn dỗ dành nàng, rồi lột lớp da rắn bên

ngoài thành anh con trai đẹp ban sáng. Thấy chồng không phải là con Turơ, nàng sung sướng

lắm. hai vợ chồng dắt nhau đi về. Từ đằng xa Piarơ Chôn đã thấy một của hang rộng đen

ngòm chung quanh lấp lánh những đốm sáng như bạc. Bước đến của hang, Piarơ Chôn hét to

lên một tiếng rồi ngã lăn ra chết giấc. Thì ra những đốm sáng đen như bạc đó là mấy con rắn,

cah, mẹ turơ, nghe con dâu về rủ nhau ra tận của hang đón. Piarơ Chôn thấy bầy rắn to, há

miệng đỏ ngòm với mấy hàm răng lởm chởm, sợ quá mà ngất. Turơ lo lắng quá lấy gạo nhai

rồi phun cho nàng. Piarơ Chôn sống dậy nhưng đau ốm mãi, cả một màu rẫy không ăn không

uống, người ốm rộc hẳn. Biết vợ sợ cha mẹ, anh chị mình, Turơ làm một cái nhà ở cách xa

hang, xin cha mẹ cho phép dắt vợ ra đó. Ở đây nàng hết sợ, khỏe mạnh, làm lụng siêng năng

và sống hạnh phúc với Turơ.

Một hôm Turơ sai Piarơ Chôn vào nhà kho lấy thóc. Turơ quên mất đã giấu vỏ rắn

trong kho, để nàng thấy, sợ quá lại ngã lăn ra bất tỉnh. Turơ đem vỏ rắn giấu kỹ trong đống

củi rồi chạy ra chữ cho nàng tỉnh dậy. Bữa khác Piarơ Chôn giở củi nấu cơm lại thấy vỏ rắn.

nàng chất giấc lần này lâu hơn lần trước. Sợ vợ mình chết luôn, Tuơ đem đốt cái vỏ rắn ấy

đi. Từ đấy Piarơ Chôn không còn sợ nữa.

Ở với Turơ không biết bao nhiêu mùa hoa rừng nở, nàng nhớ mẹ, đòi về. Hai vợ

chồng lùa trâu, bò, gà, lợn,gùi bí, gạo, khoai sắn về cho mẹ. Mẹ già ở nhà thương nhớ con

lắm. Ngày nào mẹ cũng khóc. Buổi sáng nào ra sân thấy con Truôi (gà) nuôi từ hồi mới nứt

vỏ trứng, đến bây giờ đẻ được cả bầy gà con, mẹ cũng dặn nó:

- Truôi, Truôi, Truôi, ta muốn sáng nào con ta về, mi hãy gáy lên cho ta biết ! Piarơ

Chôn ơi! Không biết con Turơ độc ác giết con của mẹ ở đâu rồi?

Con gà cục tác trả lời:

- Mẹ đừng khóc, mẹ đừng khóc! Nàng Piarơ Chôn còn sống, còn sống ở khuất núi

rừng xa xa!

Một buổi sáng, con gà bấy lâu im lặng, gáy lên ba lần. Mẹ biết Piarơ Chôn sắp về

thăm mình, mừng rỡ dọn cơm nước đón con gái. Nhưng chờ hoài, chờ cho đến khi ông mặt

trời thức rồi đi ngủ vẫn không thấy con về. Mẹ già giận cái bụng, lôi cổ con Truôi hoa ra chặt

đầu phơi khô. Phải hai lần ông mặt trời thức dậy vợ chồng Piarơ Chôn mới dắt nhau về thăm

mẹ.

Thấy chồng con gái không phải là Turơ, mà đẹp trai giỏi việc, siêng làm lụng, mẹ ưng

lắm đòi làm đám cưới cho con. Chín nàng hoa thấy em có chồng cũng thèm, đòi láy chín

chàng chim là người yêu của các cô: Chim sẻ, chim cu, chim xanh, chim kuki, chim cuốc,

chim ple (chim có mỏ dài như mỏ ngỗng), chóc mào, quạ, diều.

Mẹ dặn buổi sáng khi những hạt sương mai chưa tan trên đọt chuối non, mười nàng

hoa sẽ nhận lễ cưới của các chú rể. Các chú rể chim mỗi người mang đến một con A ử xấu xí

làm lễ vật thay trâu. Chỉ có Turơ dắt đến một con trâu, một bầy heo, hàng trăm con ngựa,

con voi đếm không hết, những Achót vàng, bạc, nồi đồng, chiêng ché. Chín nàng hoa vừa

thấy chồng em đẹp lại vừa giàu, cong chồng mình là giống chim xấu xí, nghèo khổ nên bỏ,

không chịu ưng chín anh chim nữa. Họ giành nhau đòi lấy Turơ xin làm vợ lẽ cũng được.

Đám cưới Turơ và mười nang hoa to lắm. Người dông không kể xiết. Thú rừng, lũ bạn

của Turơ: cọp, gấu, khỉ, nai, thỏ, chim …đều đến vui chơi. Tin lao nhanh như mũi tên bắn,

các bản chung quanh nghe đồn Turơ lấy mười nàng hoa, rủ nhau chen chân đến ngóng. Đám

cưới xong, Turơ ở chơi với mẹ vợ một mùa rẫy rồi dắt các vợ về nhà.

Đã hơn hai mùa hoa rừng nở là hai lần rừng núi thấy cô Piarơ Chôn đau đẻ: nàng có

hai đứa con trai, còn chín người chị hoa, Turơ không thương yêu nên chẳng có đứa nào cả.

Họ không nói ra, nhưng con mắt cứ muốn liếc háy như con dao nhọn. Cái bụng ai cũng có

những ngõ ngách đen tối muốn hại Piarơ Chôn. Một buổi Turơ đi rẫy về, ra sau con suối rửa

chân, chín nagf hoa đến nói bên tai, cái miệng dẻo ngọt như mật ong rằng:

- Piarơ Chôn đẹp mặt mà không đẹp lòng, rằng Piarơ Chôn thích yêu con trai lạ.

Turơ buồng hung nhưng chẳng nói gì cả.

Một hôm Turơ bảo mười Piarơ đem đơm ra suối xúc cá, Piarơ Chôn vừa đến suối đã lo

xắn váy xắn áo lom khom làm lụng. Chín cô chị chỉ tắm giặt, chơi đùa nhởn nhơ với mấy

chàng bướm. Trời về chiều Achót nàng Piarơ Chôn đầy cá, chín cô chị chẳng có gì. Piarơ

Chôn gùi cá lên lưng rủ các chị về. Các nàng vuốt tóc Piarơ Chôn bảo:

- Em Piarơ Chôn ơi! Sao chăm làm ăn thế? Như tụi chị nhởn nhơ thế này có phải

sướng hơn không?

- Trông cô Piarơ Chôn nhà mình đen đủi quá. Vội gì về, tắm đi cho mát sạch rồi lên

em.

- Tắm cho sạch cho đẹp, kẻo xấu rồi chồng nó chê đấy!

Mỗi nàng chen vào một tiếng, Piarơ Chôn gửi họ coi Achót cá giùm mình rồi lặn

xuống suối tắm. Đợi Chôn hụp đầu xuống suối trên này chín nàng hoa đổ cá vào gùi mình và

lấy đá cuội bỏ vào A chót của Piarơ Chôn. Tắm xong, các chị đã về hết, Chôn leo lên bờ và

gùi A chót vào vai. Tháy nặng chình chịch, nàng bỏ xuồng dòm. Yàng ơi! Cá đâu mất chỉ

còn đá là đá, Piarơ Chôn tiếc công mình thì ít, mà sợ chồng buồn thì nhiều. cô khóc nức nở

rồi gùi A chót không về nhà.

Chín nàng hoa hấp tấp gùi cá về đưa trước cho Turơ. Đi đường họ vớt rêu, lấy buồn

quệt quệt khắp váy và than thở:

- Anh Turơ ơi! Xem chúng tôi làm lụng vát vả mới được chừng này cá còn Piarơ Chôn

chẳng làm gì cả, con mắt nó thì liếc, cái miệng nó thì cười, chân chỉ chạy theo mấy chàng

bướm!

Turơ giận vợ tây chân run như con gà bị giết. Đến khi Piarơ Chôn về, mặt anh nhăn

nhó tối sầm lại. Piarơ Chôn cúi đầu –mình chẳng có con cá nào, không dám hé răng nói với

chồng nửa lời.

Lần khác Turơ bảo mười Piarơ đi rẫy chặt củi. Như lần trước, Chôn chặt củi đến mòn

cái rựa, lỏng cái cán, tay chân mỏi dã, ông mặt trời sắp khuất sau ngọn núi mới nghỉ, củi chất

đầy A chót. Chín người chị thì mải mê chơi. Chôn gùi A chót lên lưng hối các chị về. Chín

nàng hoa gọi lại bảo Chôn đi tắm. Khi tắm lên A chót củi bị thay bằng thân chuối, các chị đã

bỏ về trước, Chôn chẳng hay biết gì cả, cắm cúi gùi A chót chuối về.

Turơ nghe chín nàng hoa nói, thì như đốt lửa trong bụng, tưới nước sôi vào đầu, nóng

nảy lắm. vò đầu, bứt tai. Đợi Piarơ Chôn anh gọi lại:

- Hừm, em gùi nhiều củi quá. Củi các chị chất để mùa đông- em lấy củi này ra nấu

cơm đi.

Piarơ Chôn nhen lửa nấu cơm, nhưng củi nhen hoài vẫn không cháy, khói um, cả nhà

ho sặc sụa- Piarơ Chôn nhìn lại khúc củi- ôi củi chuối! nàng gục đầu vào cột nhà khóc nức

nở. Turơ ghét vợ hung (đúng là vợ mình không muốn làm ăn, chỉ thích chơi). Anh muốn giết

vợ, anh rèn một con dao thật sắc, ngày nào cũng mài. Một hôm Turơ đem dao chặt thử. Anh

phát một cái, cây đứt ngay làm hai, nhưng chặt Kré voi thì không đứt. Turơ lại mài nữa. Anh

sợ vợ đau. Dao mà chặt Kré voi đứt thì chặt đầu người không đau. Mài đi mài lại phải năm

ngày nữa, cây dao sắc lẻm, đụng vào Kré đứt ngay. Hôm sau Turơ bảo hai con ở nhà, anh

cùng Piarơ Chôn vào rừng hái măng. Hai vợ chồng trèo qua hai ngọn núi, đến chỗ nhiều

măng thì dừng lại ngồi nghỉ. Turơ bảo vợ bắt trấy cho mình. Lúc bắt trấy lại cho vợ, anh rút

dao ra định chém. Nhưng thấy Piarơ Chôn đẹp quá, Turơ bỏ dao vào. Cứ rút ra rút vào vậy

mãi. Chôn biết chồng mình ghét mình hung, bấy lâu mài dao giết mình, nhưng nàng vờ

không biết vẫn vui vẻ sống với Turơ. Bây giờ thấy vậy Chôn mỉm cười và hát:

- Voi ơi! Voi ơi! Đừng nghĩ ngợi gì nữa. Đói bụng thì cứ lấy cây nứa mà ăn, lấy hoa

lấy trái mà ăn. Nhịn làm chi mà đói bụng cho khổ vậy hỡi trời ( ý muốn bảo có giết tôi thì

giết đi, đừng thương tiếc nghĩ ngợi chi mà mệt)

Turơ nghe vậy giật mình, hối vợ đi nữa. Hai vợ chồng leo qua chín lần dốc, cứ mỗi lần

dốc Turơ lại giơ dao đâm, thì tay chân như rã rời. lần thứ chín mới giết được vợ. Anh đâm

Piarơ Chôn rồi vứt dao chạy hồng hộc về nhà.

Bầy ruồi nghe mùi máu, bay lại bâu đấy xác Piarơ Chôn. Con diều trên trời thấy

thương, xuống mổ ruồi, uống nước đỏ không cho chúng làm xác nàng thối. Có một con gà ri

thì đến bới đất, bới bùng xung quanh chỗ nàng Chôn cho sạch, còn con voi lấy lá lót, đặt

chôn nằm lên trên và phẩy tai quạt bay mấy con ruồi.

Phần Turơ về nhà một mình. Hai đứa con không thấy mẹ, níu khố anh hỏi mãi:

- Mẹ đâu cha ơi? Sao mẹ không về cùng với cha?

- Mẹ mày còn tắm nước dưới kia.

Chúng chờ mẹ tắm nước lên, nhưng chò hoài không thấy lại tỉ tê khóc:

- Mẹ đau, mẹ tắm nước lâu quá cha ơi!

Hai đứa con Chôn ra ngồi chờ trước cửa. Trời tối mịt vẫn không có mẹ, chúng khóc

inh ỏi. Đã năm lần mấy bụi gai trinh nữ xếp lá đi ngủ, hai đứa con không chịu đẻ yên cho

Turơ, chúng vừa đòi mẹ vừa khóc. Turơ nói cách nào cúng cũng không chịu, đành trả lời:

- Mẹ mày tao chặt chết rồi. Chúng mày có thương nhớ thì đi mà tìm.

Hai đứa con bỏ đi tìm Piarơ Chôn mải không được. Chúng về nhà hỏi ngoại. bà ngoại

thương cháu còn nhỏ mà đã mồ côi mẹ, cho chúng ăn uống no nê, cho thêm một nải chuổi

lùn càm tay và vừa khóc vừa bảo:

- Cháu ơi! Mẹ cháu chết rồi, chín gì không thương; xua sói cắn nai, làm cho cha giết

mẹ. bay giờ hai cháu muốn tìm, phải đi qua chín con dốc mới thấy xác mẹ. Bà cho ít tấm và

ít gạo này. Cháu lấy tấm rảy vào xương mẹ sẽ có thịt có da, lấy gạo vảy vào người, mẹ sẽ

sống dậy. Đi dọc đường gặp con gì, các cháu cho nó thuê những gì nó muốn nhé!

Hai dứa bé đi tìm mẹ theo lối bà ngoại chỉ, chúng trèo qua núi thứ nhất thì mệt lả, cái

bụng đói cồn cào. Chúng lấy chuối bà cho ra ăn. Một con gấu to lớn dữ dằn ở đau chạy lại

gầm gừ:

- Chúng mày ở đâu mà ở lại đây? Một miếng nước trong một chiếc lá vàng ở đây cũng

là của tao, đụng vào tao nhai nát xương đấy.

- Bác gấu ơi! Chúng cháu đi tìm mẹ! Mẹ cháu chết cái xương cái thịt chẳng biết ở đâu!

- Chúng mày có gì trả công thì bác dẫn đi tìm?

- Cháu thuê bác thấy ong ruồi làm tổ ở đâu bác cứ ăn, thấy bắp non trồng ở nào thì cứ

bẻ, còn thấy người nào đi qua vùng của bác thì bác cứ cắn mũi (gấu không ưa ăn mũi người,

mỗi lần bắt được người nó thường cắn mũi vất đi).

Gấu hài long lắm, nó khịt khịt mũi cõng hai đứa bé trên lưng chở qua hết con dốc của

nó làm chủ mới thả xuống.

Hai đứa cảm ơn gấu rồi tiếp tục đi nữa, được một đoạn, chúng bị lạc vào rừng cây

rậm. Tìm đường mãi không ra, hai đứa ôm nhau khóc. Con hổ coi vùng này nghe tiếng khóc

chạy đi tìm, thấy vậy hỏi:

- Chúng mày làm gì mà khóc inh ỏi, ồn ào không cho ông ngủ!

- Bác hổ ơi! Mẹ chết, xương thịt chẳng biết ở đâu, chúng cháu tìm xác mẹ!

- Tội nghiệp quá, vậy chúng mày thuê gì gì, tao dắt qua con dốc này.

- Cháu thuê bác thấy thịt hươu, nai, lợn ở đâu cứ ăn, thấy người ở đâu cứ bắt.

Hổ nghe thích quá, ngoáy ngoáy cái râu cõng hai đứa trên lưng phi một mạch qua hai

con dốc. Nó dừng lại bảo hai đứa bé đi tiếp và quay lui. Chúng tiếp tục lếch thếch đi bộ. Qua

một con dốc mới, con nai giữ vùng này từ đâu chạy lại, giơ cái gạc to tướng cúi đầu định

húc. Hai đứa bé khóc lóc xin thuê nai, ở đâu có hoa quả cây cối cứ ăn, ở đâu có khoai sắn,

chuối cứ húc. Nai chở chúng qua hai con dốc vùng mình rồi thả xuống. Hai đứa bé lại đi, đói

và mệt chúng bẻ chuối ăn rồi lăn ra ngủ. Khi nghe con cú rúc nửa khuya hai anh em giật

mình thức giấc. Rừng rú âm u, mù mịt, hai anh em sợ quá nằm ôm nhau khóc. Con chim Tu

tóp thấy vậy kêu:

- Tu tóp! Tu tóp! Trẻ mồ côi ở đâu khóc mãi thế này?

- Bác Tu tóp ơi! Bác thương cháu với! Bác tốt nhất, bác hò hay nhất, bác có thuốc yêu

hay nhất, bác làm ơn chỉ cho chúng cháu đi tìm mẹ!

Chim thương hai đứa quá, bảo:

- Ừ ta giúp tụi bay nhé, hãy nhắm mắt lại!

Chúng nhắm mắt lại. Chim kêu:

- Tu tóp, Tu tóp, mở mắt ra!

Hai đứa bé mở mắt, thấy mình đã nằm ở con dốc khác. Chim dắt chúng đến gặp bầy

voi của vùng này rồi bay đi. Thấy voi, chúng sợ quá, bò bò dưới cỏ:

- Cháu chưa thấy voi nào to như bác, chân bác to bằng mười A chót thóc. Vòi bác đi

vắt qua ba con dốc, bốn con suối. Tai bác quạt nhà của mười bản cũng phải bay. Mẹ cháu bị

bố chặt chết rồi bác voi ơi! Bác thương, bác dắt chúng cháu đi tìm mẹ cứu mẹ. rồi mẹ sống

dậy chẳng quên ơn bác.

Voi thương chúng quá nước mắt trào ra chảy thành vũng dưới chân. Voi bảo chúng leo

lên lưng chỏ đến con dốc thứ chín tận ở xác mẹ chúng nằm. Hai đứa trẻ trông thấy xác mẹ

chết thảm quá, khóc ầm ĩ cả góc rừng. Chúng ngồi xuống nhìn thật kỹ chỗ nào là đầu mẹ,

chỗ nào là chân mẹ. Mỗi đứa đứng một bên, thằng anh cầm tấm, thằng em cầm gạo. Thằng

anh vãi tấm trước, vừa vãi vừa khấn:

- Tôi vãi tấm này sao cho thịt xương mẹ tôi không hôi không thối, mà dính lại với

nhau.

Đứa em vãi tiếp và khấn:

- Tôi vãi gạo này sao cho mẹ tôi sống dậy, biết thở biết đi.

Thịt da Piarơ Chôn bỗng nhiên dính liền lại, nàng lăn qua, lăn lại rồi ngồi bật dậy.

Thấy hai con ngồi bên cạnh Piarơ Chôn tưởng mình ngủ quên:

- Chao ơi! Con của mẹ! Mẹ ngủ quên thấy nhiều chuyện quá! Lại đây, lại đây-ủa, sao

mẹ con ta lại ở đây?

Chôn thấy cái đầu mình nhớ lại. Hỏi ra mới biết con đến cứu mình. Thấy con tội

nghiệp hung, thương mẹ già rồi thương mình, Chôn không muốn khóc mà nước mắt cứ chảy

hoài chảy mãi. Ghét chín chị ghê gớm, cái bụng Chôn ưa làm răng mà về lấy lại chồng. Chôn

thấy con voi, con gấu, con diều, con gà, trong rừng mà còn thương mình hơn người ruột thịt.

Chôn đi cắt nứa cho voi, vãi gạo cho gà với lòng thương cảm mấy con vật hiền lành này quá.

Chôn xin voi:

- Bác voi ơi! Bác thương tưới cho các hoa đã héo được tươi. Cứu cho Chôn chết được

sống. Chôn biết ơn bác, thương hung. Chôn coi lưng bác như nhà, chân bác như cột. Có

thương Chôn thì bác dắt đi. Nếu đến nơi nào nước lụt, đất khô, chung quanh là đá-Chôn vẫn

chịu nghẹo. Còn bác dắt tới chỗ có thác nước đứng, đất đen, cỏ xanh, đất một bên Lào, bên

Việt, có cây tre nứa, cây mít cây dừa có cây lồ ô rát to lá ngả hai bên thì Chôn được giàu!

Voi gật gật cái đầu, phẩy phẩy cái tai nằm sụp xuống, ba mẹ con leo lên lưng đi. Chở

đến nơi đất đai bằng phẳng xanh tốt, nằm giữa vùng Lào- Việt nó dừng lại để mẹ con Piarơ

Chôn xuống. Voi đi vào rừng, láy vòi quất ngã cây, kéo về làm cột nhà. Trong khi mẹ con

Piarơ Chôn phát lá chung quanh cây cho trơn, voi chạy qua các bản khác. Dân trong bản thấy

voi lớn voi lạ sợ quá bỏ bản chạy vào nấp trong rừng. Voi giỡ gianh mấy nhà giàu lấy áo vải,

lấy gùi rựa quấn về cho Chôn. Voi ở luôn với Piarơ Chôn, ngày ngày vào rừng đạp cây gãy

tan cho nàng trẩy lúa. Chôn từ ngày có voi giúp, cái ăn cái mặc không phải lo. Trâu, lợn

Chôn thả đầy rừng, áo khố Chôn cất đầy A chót, nhưng chôn chưa giàu. Một mùa xuân rẫy

vừa xong, Chôn cúng Yàng tạ ơn, nàng khấn:

- Yàng, Yàng ơi! Y àng thương cho co n ở đất bên Lào nghèo đói, bên Việt giàu-có

nhà có cửa. Xin cho gió thổi từ Việt qua Lào đưa cỏ về đây. Con ở đất Việt không có con

người buonf lắm, buồn hung. Xin cho gió thổi từ Lào qua Việt đưa người về đây.

Khấn xong, trời tối mù, gió cuồn cuộn. Hai ngọn gió to từ hai bên kéo về tụ lại ở nhà

Piarơ Chôn, của, nhà, vật rơi xuống thành làng, thành bản. Lũ làng sống chung với Piarơ

Chôn và thương nàng hung. Họ làm cho Chôn căn nhà năm góc, có ba góc đầy vàng bạc.

Đếm cũng đã hết một bàn tay của những mùa hoa trong khu rừng Piarơ Chôn. Có

người khách đi ngang thấy hoa thơm ghé ngang vùng đất này. Thấy nhà năm góc đẹp quá

anh ta đứng lại xem, Piarơ Chôn đứng coi bắp hoa nở nhìn xuống thấy ai giống Turơ. Chôn

bảo hai con gọi, chúng la oang oang:

- Ông khách ơi! Muốn biết nhà đẹp hay lên đây-nhà mình có đám, mời khách lên ăn!

Đúng là Turơ, anh ta sướng vui cái bụng lập cập bước lên. Từ ngày giết Piarơ Chôn,

Turơ sống với chín nàng hoa không muốn làm gì cả, một mình Turơ làm không đủ nuôi

mười miệng ăn. Yàng không cho giàu nên nhà ngày càng nghèo. Turơ ốm đói, áo khố rách

nát. Piarơ Chôn tiếp đón Turơ tử tế, bảo đem quần áo, khố mới cho Turơ, đem cơm ngon cho

chàng ăn, bảo con trai đưa Turơ đi thăm các gian nhà. Anh được coi những chiêng ché, nồi

đồng đẹp nhất mà anh chưa được thấy bao giờ ở một gian. Anh được coi hai gian nhà đầy ắp

vàng bạc và qua gian thứ tư có hai cô gái đẹp ra đón. Họ cho anh coi những tấm hình của

một cô gái giống hệt Piarơ Chôn. Turơ thương nhớ vợ hung, nước mắt cứ chảy mãi. Hai cô

gái hỏi:

- Ông có điều gì không ưng thì nói, đừng khóc nhiều bà chủ rầy chúng tôi!

- Cô làm ơn cho tôi gặp người trong tranh!

- Bà chủ tôi đó, ông muốn gặp thì đi theo tôi!

Hai cô gái dắt Turơ lên tần thứ năm cô gái giống Piarơ Chôn nhưng còn đẹp hơn nàng

ngày xưa đang ngồi trong ấy giữa cái khung bằng khung. Để Turơ ngồi đó, hai cô gái bỏ đi.

Turơ chẳng dám nghĩ cô gái chủ nhà là Piarơ Chôn. Anh khép nép ngồi không dám ngước

mắt lên. Piarơ Chôn đẩy khung cửi đến ngồi bên Turơ:

- Con khỉ không nhận ra mày à? Ngày xưa anh là rắn, tôi là hoa. Anh bắt tôi phải lấy

anh. Sau này anh nghe lời chín chị giết vợ. Yàng cho tôi sống lại nghe thế này, nhà to cửa

lớn như thế này. Còn anh, sau ốm yếu sơ xác thế kia?

- Piarơ Chôn-com pay yêu quý ơi! Anh muốn đập cái đầu vào đá, muốn chặt cái tay

cái chân mình vì đã nghe lời lũ rắn độc mà hại em. Chín chị lười nhác chẳng chịu làm, một

mình anh lo không đủ ăn, không đủ mặc nên rách rưới như vậy. Từ ngày không có em,

không có con, ngày nào anh cũng khóc, đêm nào anh cũng nhớ. Em hãy quên con ma độc ác

trong anh đã hại em, em cho anh cùng về sống lại.

- Ôi, vợ chồng sống với nhau mấy mùa rẫy, tôi đếm từng ngày, tôi không dám quên.

Nhưng anh muốn về đây. Thì hay cho tôi đừng thấy mặt chín nàng hoa. Con thỏ không sống

với con hổ, người lành không sống với kẻ dữ được.

Turơ ưng giết chín nàng hoa lắm, nhưng lại cứ run, mỗi khi đứng gần họ. Piarơ Chôn

phải bày mưu bảo Turơ sau một lần trăng mọc rồi trăng lặn mời chín Piarơ qua nhà mình ăn

tiệc-còn Piarơ Chôn là một cái cầu bắc qua sông Đã cờ rứt ( sông nước tôi), bắt mọt bỏ vào

chân cầu. Mọt ăn gỗ hết một mùa trăng thì cái cầu sắp gẫy. Chín nàng hoa lúc ấy được Turơ

mời lục tục kéo nhau qua nhà Piarơ Chôn. Họ nóng cả mặt vì được uống rượu nhiều, họ tức

cái bụng vì được ăn thịt nhiều. Đến khi người nhà đi lắc lư phải vịn, con mắt thấy cái nhà cứ

quay tròn, chín nàng hoa mới đứng dậy về, họ bước loạng choạng trên cái cầu, cầu kêu ken

két, nhưng đi hết cầu vẫn chưa gãy. Piarơ Chôn nấp trong nhà không ra, bảo hai con hô lên:

- Mọt ơi! Hôm nay ngày cuối cùng trăng lặn, chiếc cầu phải gãy. Mày hãy cắn nhanh

đi.

Mọt nghe hò ra sức cắn cho mục chân cầu. Một bày sóc đang nhảy nhót, nghe hò cũng

leo xuống chân cầu cắn giúp, chín bà dì không biết, nghe con hò ngơ ngác hỏi:

- Hay quá! Hay quá! Ai hò xin hãy hò nữa cho chúng tôi nghe.

- Chúng tôi hò đay, dì có ưng thì quay lại đứng giữa cầu tôi hò cho nghe!

Chín người quay lại giữa. Tiếng hò lại vang lên:

- Mọt ơi! Hôm nay ngày cuối cùng!

Chưa dứt tiếng hò cầu kêu răng rắc gẫy đôi, chín nàng hoa rớt xuống dòng nước đang

sôi sùng sục.

Hai vợ chồng Turơ sống hạnh phúc, không còn sợ ai hãm hại nữa.

(Truyện cổ chọn lọc các dân tộc thiểu số Việt Nam)

6. CÔ GÁI LẤY CHỒNG TRĂN (XÊ ĐĂNG)

Ngày xưa, xa lắm rồi, ở một làng nọ có một bà già nghèo nhưng chăm chỉ làm ăn. Bà

góa chồng từ thuở còn trẻ nhưng ở vậy nuôi hai mụn con gái. Năm qua tháng lại, các con bà

đã trở nên khôn lớn. Cả cô chị lẫn cô em đều xinh đẹp tươi tắn y hệt mặt trăng những ngày

sáng tỏ. Trai làng đã lắm kẻ lân la, manh mối. Nhưng các cô vẫn chưa kén được người nào

ưng bụng. Một hôm bà mẹ mang rổ ra suối xúc cá. Xúc được gần đầy rổ bà đã toan về,

nhưng vừa định bước lên bờ thì có một con trăn lớn lao đến quấn chặt lấy hai chân bà. Bà già

hốt hoảng ngã vật ra ngất đi. Lúc tỉnh dậy thì bà thấy hai chân vẫn bị trăn quấn cứng lấy.Bà

hết lời van xin, cầu khẩn đất trời, van xin trăn tha cho bà sống để bà về với hai đứa con gái

non trẻ của bà. Nghe bà già van vỉ, trăn bèn nói : Tôi sẽ tha cho bà nhưng bà phải hưa gả con

gái cho tôi !

Vừa lúc ấy có người đi ngang qua, bà lão liênd nhắn người đó về gọi hai đứa con. Được tin,

cả hai cô gái đều tất tưởi chạy đến. Thấy mẹ bị trăn quấn, hai cô hoảng hốt khóc thét lên. Bà

già bảo hai con đừng khóc nữa, ai thương mẹ thì hãy nhận lấy trăn làm chồng. Thấy hai con

im lặng, bà hỏi cô chị, cô chị trả lời :

Con thương mẹ lắm, thương nhiều như lá rừng, nước suối nhưng con không thể lấy trăn dữ

làm chồng ! Nói rồi cô lại òa lên khóc nức nở. Bà lão lại hỏi cô em. Cô em khẽ cúi đầu, nước

mắt giàn giụa, nói với mẹ : Thôi mẹ ơi, con đành nhận lời làm vợ con ác thú để cứu mẹ ! mẹ

và chị hãy về đi.

Thấy cô em ưng lấy mình làm chồng, trăn lập tức buông thả bà già ra. Cô chị thở

phào, vội vã dắt mẹ ra về. Bà mẹ ngoái lại nhìn cô con gái bé nước mắt đầm đìa, chân cẳng

muốn dời. Đêm đó, cô gái nhỏ theo trăn về hang làm vợ nó. Nàng sợ sệt, buồn khổ. Lúc trời

vừa sắp sáng, khi đã thiếp đi nàng bỗng thấy có một bàn tay ai thật mát đặt lên trán và cả hơi

thở ấm nồng. Nàng choàng mắt hốt hoảng tỉnh dậy thì trước mặt nàng là một chàng trai khỏe

mạnh, tuấn tú. Chàng trai dịu dàng nói với nàng : Em à ! Đừng có sợ ! Ta là chồng của em

đây, ta là chàng trăn. Cô gái bàng hoàng tưởng như còn đang mơ màng. Nàng dụi mắt nhìn

lại, vẫn là chàng trai trẻ đẹp, xinh xắn. Còn bộ da trăn mốc meo thì nằm ở góc hang. Nàng

sung sướng vô kể. Sáng hôm sau, hai vợ chồng vào rừng kiếm tre, gỗ dựng một túp nhà sàn

bên cạnh một con suối. Từ ấy vợ chồng cô gái út sống với nhau rất hạnh phúc. Sáng sáng, vợ

lên rừng hái măng, nhặt củ, chồng khoác tấm da trăn xuống suối bắt cá, mò cua. Tối về, bên

bếp lửa, chồng trút bỏ bộ áo da trăn đi, cùng vợ ăn uống trò chuyện.Cuộc sống của đôi vợ

chồng trẻ thật là êm đềm, thanh thản. Xóm trên làng dưới ai ai cũng khen ngợi và vui mừng

cho hai vợ chồng trẻ đó. Tiếng đồn như có gió bay đi. Chuyện vợ chồng cô em gái út lấy

chồng trăn gời đây sống hạnh phúc đã đến tai cô chị. Nhưng cô chị chẳng tin điều lạ lùng ấy.

Một đêm nọ, cô chị đã luồn rừng trốn mẹ ra đi đến thẳng nàh cô em rình đón. Qua ánh lửa

bếp bập bùng, cô chị thấy đôi vợ chồng cô em đang chiuyện trò đầm ấm. Chàng trai chồng

của cô em thật là khỏe đẹp. Nhìn cảnh đó, cô chị tiếc rẻ và tự trách mình sao lại dại dột đã

không nghe lời mẹ lấy chồng trăn. Lòng tham cô chị nổi lên, cô trốn mẹ đi vào rừng tìm trăn.

Đi mãi, đi mãi nhưng cô chị gặp toàn hùm beo, rắn rết. Một ngày kia, cô chị gặp một con

trăn già đang ngủ dưới gốc cây. Cô bước đến và cất tiếng hỏi : Này ông trăn, ông coi tôi xinh

xắn thế này, ông có ưng bụng lấy tôi làm vợ không ? con trăn thấy động tỉnh dậy. Nó mở cặp

mắt ti hí nhìn người con gái. Đã mấy ngày nay nó bị đói mồi, nên ngọt ngào: “Ồ thế thì thích

quá, cô hãy về nhà tôi đi!”

Cô chị liền theo con trăn già về hang của nó, bụng chắc mẩm sẽ được may mắn như cô

em út, nhưng cô chị vừa bước khỏi cửa hang thì trăn già đã lấy đá chèn cửa hang lại. Mặc

cho cô gái la hét, trăn già vẫn xô tới, dùng đuôi quật chết tươi cô gái rồi vươn cổ nuốt chửng.

Thấy con gái lớn đi lâu không về, bà mẹ vô cùng lo lắng. Bà lật đật hỏi đường đi đến nhà cô

út hỏi han sự tình. Nhưng cô út chẳng rõ gì cả. Bà già ôm con gái út khóc thảm thiết. Đến

khuya, khi chàng rể út trở về bà mới thôi khóc. Chàng rể trăn bảo bà đi theo chàng vào rừng.

Chàng đến hang trăn già hỏi. Trăn già đang nằm phễnh bụng ra thở. Biết cô chị bị trăn già

nuốt, chàng rể trăn liền xông tới bóp cổ trăn già đến chết, rồi mổ bụng trăn ra, cứu cô chị

sống lại. Từ ngày đó cô chị làm ăn chăm chỉ, thương mẹ và quý mến em gái vô cùng.

(Truyện cổ Xêđăng)

7. CHÀNG RẮN (CHĂM)

Ngày xưa, ông vua nọ có ba nàng công chúa xinh đẹp. Cả ba nàng đều đã đến tuổi cài

trâm nhưng chưa kén được ai vừa ý. Vua cha và hoàng hậu làm cho mỗi nàng một căn nhà

lộng lẫy để tùy ý lựa chọn người bạn trăm năm. Vào một ngày đẹp trời, ba chị em rủ nhau đi

tắm. Trước khi đi, ba nàng nguyện với thánh thần rằng trên đường đi hễ ai vấp mà gọi tên

người nào thì lấy người đó làm chồng. Ba chị em vừa bước ra khỏi cung điện tức thì chị cả

vấp và nhắc đến tên vị tướng tả. Đi một đoạn nữa nàng thứ hai lại vấp và nhắc đến tên vị

tướng hữu. Ba nàng đi tiếp đến đầu cầu, nàng út vấp và kêu lớn:

- Chây ula prong. Chây ma ki rum! (chàng rắn khổng lồ)

Nghe vậy hai chị em bèn bĩu môi dèm pha nàng út:

- Cha mẹ làm vua, tiếng vang khắp bốn phương, thiếu gì kẻ tài giỏi mà mày lại cầu xin

được một con rắn. Mày thực là đứa làm xấu mặt mẹ cha.

Hai chị còn hăm dọa về nhà sẽ mách với vua cha. Nàng út vẫn im lặng không nói gì. Tắm

xong ba chị em rủ nhau về nhà. Hai cô chị liền kể với vua cha đầu đuôi mọi chuyện. Vua cha

và hoàn hậu nghe chỉ im llặng và nghĩ rằng: Đây có lẽ là trời xui đất khiến cho số phận nó

phải như vậy. Nếu nó ưng thuận thì ta cứ cho nó đi tìm, chẳng nên ép uổng làm gì. Rồi nhà

vua ra lệnh mời tướng hữu, tướng tả cùng một nhà chiêm tinh tài giỏi đến nghị bàn và định

ngày cưới hỏi cho chị cả, chị hai. Tháng sau, lễ cưới của hai cô chị được tổ chức linh đình.

Lễ cưới xong xuôi, nhà vua và hoàng hậu gọi nàng út đến rồi ân cần bảo:

- Hai chị có nói rằng con nhắc tới con rắn lớn, tuy việc đó làm xấu hổ cha mẹ nhưng

mẹ cha không giận con đâu. Bây giờ, mẹ cha cho người mang đồ ăn theo con đi tìm con rắn

lớn ấy, rồi dẫn về triều làm lễ cưới. Trời xui thì trời phải giúp con ạ.

Nói rồi nhà vua mời chiêm tinh tới xem ngày lành, tháng tốt để con lên đường. Quân

lính gánh gạo, mắm muối theo nàng vào rừng. Đoàn người trèo đèo lội suối đã hai ngày ròng

rã mà vẫn chưa gặp được rắn lớn. Ngày hôm sau, đi đến xế chiều thì bỗng nghe có tiếng gầm

vang rền như bão lớn.Phút chốc từ trong rừng thò ra một cái đầu rắn khổng lồ, rồi cả thân

hình rắn hiện ra, to bằng cái pì lài, dài chừng mười bước chân.

Binh lính thấy thế hoảng hốt bỏ nàng út ở lại một mình, chạy về triều đình cấp báo với

nhà vua:

Muôn tâu bệ hạ, công chúa út đã tìm thấy một con rắn to. Chúng con sợ quá không

dám đứng lại nhìn chẳng biết công chúa út có bị sao không?

Nhà vua cùng hoàng hậu vào cung đốt hương cầu xin trời cứu vớt cho nàng út tai qua

nạn khỏi.

Lại nói về nàg út từ lúc bị quân lính bỏ mặc giữa rừng sâu thì vô cùng kinh hoảng.

Vừa lúc ấy con rắn bò đến, ngóc đầu nom thấy nàng, bèn hỏi

- Hỡi cô gái xinh đẹp kia ơi, nàng đi đâu mà đơn chiếc vậy?

Nàng út cố lấy lại bình tình mà hỏi:

- Người có phải là Chây ma ki rùm không?

Rắn trả lời:

- Phải ta chính là Chây ma ki rùm đây!

Nàng út mừng rỡ bảo rắn:

- Nếu quả chàng là Chây ma ki rùm thì hãy ngẩng đầu lên thật cao về phía mặt trời ba

lần cho em tin!

Con rắn làm theo lời nàng út. Mỗi lần đầu rắn cất cao, cây rừng phải nghiêng ngả, đất

đá bay rào rào. Nàng út bèn kể lại đầu đuôi câu chuyện mình cùng ba chị em cầu nguyện

hôm nọ và đưa việc vua cha cho tìm rắn như thế nào – Cuối cùng nàng nói:

- Thôi thì số trời cho sao em chịu thế. Chàng ơi, chàng nghĩ sao? Nếu bằng lòng thì

xin chàng cùng em về cung điện kẻo mẹ cha ở nhà mong đợi.

Nghe xong rắn bảo nàng út:

- Nàng hãy về thưa lại cùng cha mẹ đi, nếu được cha mẹ ưng thuận xin nàng lại đến

đây đón tôi.

Nàng út trở về cung tâu cùng vua cha, và được ưng thuận cưới rắn làm chồng.

Sáng hôm sau nhà vua cho binh lính đưa nàng lên đường. Đến gần chỗ hôm qua thấy

con rắn khổng lồ hôm qua đã chờ sẵn, nàng vội khoe:

- Cha mẹ ưng rồi!

Chây ma ki rùm nói:

- Đến ngày rằm mới là ngày tốt, nàng hãy mời tất cả mọi người đến cung điện dự ngày

cưới chúng ta. Nhưng thân hình tôi lớn và dài lắm, ngồi trong nhà không vừa đâu, phải dọn

ra sân mà ngồi thôi.

Rồi Chây ma ki rùm dặn nàng út về chuẩn bị nhiều thúng xôi và bỏng chứ chẳng cần

rượu thịt gì cả.

Đến ngày hẹn, nhà vua ra lệnh sắp sẵn mọi thứ như lời rắn đã dặn, rồi cùng quần thần

ngồi chờ rắn tới. Một lát sau bỗng có tiếng động ầm ầm, rồi xuất hiện một con rắn thật lớn và

theo sau là vô số rắn rết to nhỏ. Nhà vua, cùng hoàng hậu và các tướng lĩnh thấy thế kinh

hoảng bỏ chạy táo tác, chẳng ai dám ngồi lại giữ đầu chiếu đón khách. Nơi sân chỉ còn trơ lại

một mình nàng út ngồi đấy với nỗi buồn tủi vô hạn. Con rắn lớn bò vào đến sân triều thì

cuộn mình thành một đống trên đầu chiếu, lũ rắn rết quây lại chung quanh rồi lượm bỏng ăn.

Ăn no rồi chúng rủ nhau bò vào rừng hết, chỉ còn lại một mình con rắn lớn cuộn tròn ngoài

sân với nàng công chúa út. Đêm hôm ấy con rắn lớn bò vào cuộn tròn trong buồng cô út.

Nàng út nơm nớp lo, đành nằm im.

Đến nửa đêm, bỗng một chàng trai khôi ngô tuấn tú từ trong xác rắn bước ra, nhẹ

nhàng đến nằm cạnh nàng út. Thấy vậy, chờ cho chàng trai nọ ngủ say, nàng bèn kéo nhẹ xác

rắn sang một bên rồi châm lửa đốt. Mùi khét làm chàng trai nọ giật mình vội quờ tay tìm xác

rắn, nhưng không thấy đâu nữa. Chàng trai hỏi, nàng bảo:

- Em đã đốt cháy cái xác thành than rồi.

Chàng trai buồn bã nói:

- Anh chưa đến ngày hẹn được trở lại kiếp người, nếu không có xác rắn thì chịu lạnh

sao nổi?

Nàng út liền bảo chàng:

- Chàng chớ sợ lạnh, áo quần nhà mình thiếu gì!

Nói rồi nàng đi lấy áo cho chàng, lấy cả chăn cho chàng đắp đỡ lạnh, và bảo chàng

chớ ra ngoài nhà bởi chưa quen với nắng gió.

Cứ thế đến đêm rằm, Chây ma ki rùm trở thành một chàng trai khỏe đẹp. Nàng út vô

cùng mừng rỡ. Từ đó họ sống với nhau thật đằm thắm.

Chẳng bao lâu, nàng út sinh được một cậu con trai xinh xắn, khỏe mạnh. Nàng làm lễ

đặt tên cho con trai. Ngày ấy hai chị của nàng út cũng đến dự. Hai cô chị lên dòm thấy chồng

của em đẹp quá liền sinh lòng ghen ghét. Họ tìm cách chiếm bằng được chồng của em gái.

Đến một ngày nọ, hai cô chị đến rủ nàng út đi tắm. Ngồi trên thuyền tắm, chị cả vờ đòi

xem chiếc nhẫn vàng ngày trước mẹ tặng nàng út. Hai cô chị cố ý đánh rơi nhẫn xuống sông.

Nàng út tiếc quá nhảy xuống mò thì bị hai chị dìm chết. Hồn nàng nhập vào một con ốc. Sau

đó hai chị về nhà giả đò khóc lóc thương tiếc và ngỏ ý với chàng rắn là nguyện sẽ thay em

gái nâng khăn sửa túi cho chàng. Nhưng chàng rắn không ưng, và ở vậy nuôi con, hy vọng

có ngày lại được gặp vợ mình.

Trong vùng ấy, có một bà cụ già sống một mình. Bà vẫn mong ước có một người cùng

ở để vui nhà cửa và giúp nhau khi tối lửa tắt đèn. Hàng ngày, bà nọ vẫn phải ra đồng mò cua

bắt ốc để đổi gạo ăn.

Hôm ấy như thường lệ, bà mang giỏ ra đồng, đến trưa bà mò được một con ốc rất to ở

ngay bến nước. Bà già thấy lạ đem về nhà. Dọc đường mọi người thấy đều xin đổi gạo. Bà

không đổi mà nói rằng:

- Sống bằng này già ta chưa hề thấy có con ốc nào đẹp và lớn như con ốc này, mang

về nuôi để xem chơi thôi.

Bà già mang con ốc ấy về thả vào một cái pụ.

Sáng hôm sau, bà già đi làm. Bà vừa ra khỏi nhà được một lúc thì con ốc nọ bò ra khỏi

pụ. Rồi một người con gái hiện ra. Nàng nhanh nhẹn quét dọn nhà cửa rồi nấu cơm canh. Khi

mọi việc đã xong xuôi nàng đậy lại cẩn thận, rồi lại biến vào vỏ con ốc. Đến trưa bà già nọ đi

làm về thấy có cơm nước dọn sẵn, nhà cửa lại quét dọn sạch sẽ thì lạ lắm. Nhưng bà nghĩ,

chắc là con cháu trong làng có giỗ gì đấy mang biếu, nên bà điềm nhiên ngồi ăn. Hôm sau đi

làm về bà lại thấy mâm cơm dọn sẵn như vậy. Tuy rất ngạc nhiên nhưng vì đói bụng nên bà

lại ngồi ăn, và thầm cảm ơn người nào tốt bụng đã giúp mình. Hôm sau, rồi hôm sau nữa vẫn

cứ như vậy. Bà lão nảy ý rình xem người tốt bụng đó là ai. Sáng hôm ấy, bà lại cắp giỏ ra đi,

nhưng đến nửa chừng thì quay lại, nấp vào cánh cửa, chăm chú nhìn vào trong nhà. Một lát

sau bà thấy một cô gái từ trong con ốc bước ra, và bắt đầu dọn dẹp nhà cửa. Bà lão rón rén

lại phía chiếc pụ, lấy vỏ ốc đập nát, rồi chạy tới ôm chầm lấy cô gái nói:

- Trời quả có mắt, thấy ta nghèo khổ, đơn độc, mới cho cháu về đây đỡ đần ta khi tuổi

già yếu, thôi từ nay cháu ở lại với ta, dù nghèo đói cũng rau cháo nuôi nhau cháu ạ.

Cô gái bèn nói với bà cụ:

- Bà ơi, cho cháu vào vỏ ốc, nay chưa đủ ngày đủ tháng cháu ở ngoài lạnh lắm. Cho

cháu vào rồi cháu vẫn giúp bà mà.

Bà cụ bảo cô gái:

- Cái vỏ ốc ấy, bà vừa đập nát ra rồi, nhà ta có cái tà rồng cháu vào tạm ấy mà ở cho

khỏi lạnh, vài ba ngày nữa sẽ quen dần thôi.

Từ đấy, cô gái ở với bà cụ, khi nào lạnh nàng lại chui vào tà rồng để ẩn náu.

Cô gái bảo bà cụ làm cho mình một khung cửi để dệt vải mang bán lấy tiền nuôi nhau,

chứ đừng mò cua bắt ốc nữa. Bà cụ nghe lời liền cho người làm một khung cửi thật tốt, rồi

tìm mua tơ sợi về cho cô gái dệt vải. Nàng dệt thật khéo và nhanh, vải của nàng dệt ra khác

hẳn các loại vải trên thế gian, dệt xong nàng bỏ vào chét cho bà đem bán. Bà già đem vải qua

các làng Pòtằng, Pòtànà, rồi Pòpìnì… để bán, ai cũng đòi xem vải nhưng mặc, chứ dân

thường chẳng ai dám may. Bà già mang vải đi từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều cũng chưa

bán được tấm nào. Tối về bà lo lắng kể cho cô gái nghe, cô bảo:

- Ngày mai bà mang vải đến làng Hamưli-mưn rồi hỏi đến nhà Chây ma ki rùm rao

bán, nhất định sẽ bán được.

Hôm sau, bà đến làng đó vào đúng nhà Chây ma ki rùm khi bà mở vải cho chàng xem

thì chàng thấy bông hoa dệt trên vải giống hoa ngày trước vợ mình dệt quá, chàng bèn hỏi

giá cả. Bà cụ trả lời:

- Tôi già cả, cô đơn, khổ cực, chàng cho bao nhiêu thì tôi lấy bấy nhiêu, chẳng biết giá

cả ra sao cả.

Chây ma ki rùm nghe vậy liền đem vải vào nhà cất kỹ rồi gọi người mang cơm nước

cho bà ăn uống. Sau đó trả bà hai cọc tiền đồng. Bà già mừng rỡ định ra về thì Chây ma ki

rùm giữ lại, hỏi ai đã dệt vải này. Bà ta lúng túng nói dối là tự dệt lấy. Chàng bảo bà cụ hãy

dệt thật nhiều để ngày rằm tới chàng đến xem và mua cả thể.

Hôm đó, về nhà bà kể lại với cô gái mọi chuyện và lo lắng hỏi:

- Chàng Chây ma ki rùm bảo là hôm rằm này sẽ đến xem ta dệt, nhưng ta nào có biết

dệt, phải làm sao đây cháu ơi!

Cô gái mỉm cười an ủi bà cụ:

- Bà đừng lo cháu sẽ bày cách cho bà dệt, hôm đó bà cứ ngồi vào khung cửi hễ thấy

con ruồi đậu vào sợi nào thì bà kéo sợi ấy lên rồi dệt là được.

Bà già nghe cô gái nói vậy thì yên tâm chờ ngày Chây ma ki rùm đến chơi.

Đến ngày rằm, Chây ma ki rùm bế con lên ngựa, tới nhà bà già nọ. Vừa mới bước vào

nhà, đứa bé cứ nhìn chằm chặp vào tà rồng mà khóc hoài, dỗ sao cũng không nín. Chây ma

ki rùm bỏ đứa bé xuống thì nó chạy tới bên tà rồng chơi đùa và không khóc nữa. Chàng

Chây ma ki rùm lấy làm lạ, nhưng vẫn chưa tiện hỏi. Chàng nói với bà cụ:

- Hôm nay tôi đến đây để xem đôi bàn tay khéo léo đã dệt nên những tấm vải đẹp kia.

Xin bà hãy dệt cho tôi xem.

Bà cụ bèn ngồi vào khung cửi và đạp vào “ngựa”. Hai hàng chỉ liền tách ra, bà cầm

lấy prức chập vào. Bỗng có một con ruồi bay đến, hễ nó đậu vào sợi chỉ nào thì bà nhấc sợi

chỉ đó lên và dệt tiếp. Chây ma ki rùm để ý thấy con ruồi nọ cứ bậu hết sợi chỉ này đến sợi

chỉ khác thì sinh nghi, bèn lấy quạt quạt cho ruồi bay đi, lúc đó bà già không dệt được nữa.

Chàng đoán chắc trong nhà này còn có một người nào nữa, nên bảo bà cụ dừng lại và

năn nỉ:

- Thưa cụ, chẳng mấy khi tôi đến đây, nhưng nhà bà quả là có nhiều điều lạ lùng đối

với tôi.

Chàng chỉ vào cái tà rồng rồi tiếp:

- Không hiểu sao đứa con tôi lại thích cái tà rồng này vậy? Xin bà hãy cho tôi xem kỹ.

Bà hãy thương tôi và đứa nhỏ mà bán cho tôi, bà muốn lấy bao nhiêu tiền cũng được.

Bà già nói với chàng:

- Thưa cậu, dù đói khổ đến đâu tôi cũng không bán cái tà rồng đó, bởi nó là của ông bà

để lại, bán đi sợ thất đức với ông bà.

Chàng lại bảo với bà già nếu không bán thì xin mở nắp cho xem qua. Bà già đang

ngần ngừ chàng đã xăm xăm bước đến mở nắp tà rồng, nắp vừa bật ra nàng út và Chây ma ki

rùm nhận ra nhau. Nàng ôm con vào lòng mà nước mắt tuôn đầm đìa. Rồi nàng kể lại sự tình

từ ngày nàng bị hai chị hiếp hại, hóa thân vào con ốc về ở với bà cụ bấy lâu nay. Nàng xin

chàng Chây ma ki rùm cho ở lại nuôi bà cụ một thời gian nữa cho vẹn nghĩa, vẹn tình.

Nhưng chàng Chây ma ki rùm lại mời bà về cung điện ở. Thế là cả vợ chồng bà cháu cùng

nhau đi về triều. Vua và hoàng hậu thấy con gái và con rể lại trở về thì vô cùng mừng rỡ.

Nàng út kể lại cho cha mẹ nghe dã tâm của hai chị, mà rằng:

- Con không làm điều độc ác với hai chị. Thế mà hai chị nỡ lừa con rồi giết hại con,

may mà thần thánh giúp con được tai qua nạn khỏi.

Nhà vua bèn truyền lệnh cho bắt hai người chị trao cho nàng út tùy ý xử tội. Chây ma

ki rùm quỳ xuống tâu xin với nhà vua và hoàng hậu rộng lòng tha thứ cho lỗi lầm của hai

chị. Nhà vua nghe chàng rể tâu bày vui lòng tha tội cho hai cô chị, và truyền mở tiệc lớn ăn

mừng sự sum họp vợ chồng nàng út.

Mấy tháng sau, các vua láng giềng kéo quân đến đánh chiếm. Nhà vua truyền lệnh cho

tướng tả, tướng hữu là chồng của hai cô chị mang quân đi đánh giặc. Nhưng quân giặc rất

đông và mạnh, hai tướng tả, hữu bị địch giết chết, quân lính phải chạy tan tác mỗi người một

ngả. Chây ma ki rùm thấy vậy xin được mang quân ra chống giặc. Chàng mang quân ra chặn

giặc lại và nói lớn:

- Hỡi quân lính dại dột, chúng bay muốn toàn mạng thì hãy mau mau lui về. Nếu

không ta quyết không tha.

Quân giặc thừa thế hò reo ầm ĩ xông đến. Chây ma ki rùm rút ra một chiếc tù và rồi

thổi luôn ba hồi dài. Bỗng từ trong rừng vô vàn loài thú dữ xông ra lao vào quân giặc. Ong

thì đốt, cọp thì cắn xé, gấu thì tát, lợn lòi thì hộc lên, trâu húc, voi đạp… làm cho quân giặc

chết la liệt như cá ở suối bị duốc. Những tên sống sót vội chạy toán loạn. Chàng giữ lại được

mấy tên nói với chúng:

- Bọn bay hãy về tâu cùng vua chúng bay mau triều cống hàng phục ta, nếu không ta

quyết không dung tha.

Các vua láng giềng nọ sợ hãi vội mang lễ vật đến xin hàng. Còn một tên vua không

chịu khuất phục, hắn lại lăm le mang quân đến trả thù. Chàng Chây ma ki rùm lại cho thú

rừng đuổi chúng phải chạy tan tác, cuối cùng chúng cũng phải đầu hàng. Từ đó, các lân bang

mỗi năm phải mang lễ vật đến triều cống.

Sau khi chàng Chây ma ki rùm dẹp yên quân giặc, nhà vua bèn triệu các quân thần lại

để nghị bàn việc triều đình. Vua nói:

- Nay ta đã già yếu, sức lực không còn đủ để cai dân trị nước được nữa, trời đã cho

một chàng trai tài ba xuống giúp ta chăn dắt muôn dân, đó là Chây ma ki rùm, phò mã của ta.

Nay ta nhường lại đất nước này, muôn dân này cho Chây ma ki rùm cai trị. Các người nghĩ

sao?

Triều thần đều lấy làm phấn khởi, tôn Chây ma ki rùm làm vua, nàng út làm hoàng

hậu. Chây ma ki rùm và nàng út sống vô cùng hạnh phúc.

Còn hai cô chị, vì xấu hổ với nàng út mà không bao giờ dám nhìn mặt nàng nữa. Rồi

một hôm hai cô chị bỏ lại tất cả nhà cửa, vàng bạc châu báu rủ nhau đi mất tích.

(Truyện cổ dân tộc Chăm)

8. NGƯỜI LẤY RẮN (MẠ)

Xưa lắm rồi, có ông K’đoi vào rừng săn bắn, gặp một đán chim đủ loại đang ăn trái

cây đa trên mõm đá, ông có bắn nhưng không trúng con nào cả. Tức bực, ông K’đoi leo lên

cành cao, ngồi giấu mình trong lá, rình bắn bằng cái ná của mình. Chiều về, có được mấy

con chim.

Khi xuống, ông K’đoi thấy một con rắn lớn, quấn tròn quanh gốc đa. Ông cho là rắn

thần và nói:

- Nếu là rắn thần hãy theo tôi về nhà, tôi gả con gái cho. Ưng con chị Ka Đê hay con

em Ka Nga cũng được …

Nghe xong, con rắn thả mình ra, không ôm gốc cây nữa để lối cho K’đoi xuống và

theo ông về nhà.

Đến nhà, con rắn nằm dưới chân bàn thờ, bên cái trống lớn. ông K’đoi nói với hai con:

- Tôi đã kiếm chồng về cho hai con, nếu con nào ưng lấy rắn! chị Ka Đê không chịu

làm chồng với con rắn đó, nói:

- Tôi là con người làm sao mà lấy được rắn!

Ka Đê sợ bỏ chạy.

Ông K’đoi bắt buộc con em Ka Nga lấy rắn. Vì ông đã hứa với rắn ở gốc cây đa. Ka

Nga sợ, nhưng phải nghe lời cha.

- Ngày lễ cưới bắt đầu. Trước nhà đã cột trâu. Những chén rượu cần thơm phức. cơm

nếp, thịt heo, thịt gà … được xếp đầy trên lá giữa sàn nhà … ông K’đoi gọi con rể ra:

- Ơi con rể! Hãy ra làm lễ cưới!

Chả thấy con rắn ra đâu, mọi người nôn nóng, đợi chờ … bỗng một chàng trai rất đẹp

bước ra. Đẹp lắm! cả buôn, cả vùng không ai đẹp bằng. Ai cũng ngạc nhiên “vợ” Ka Nga là

rắn mà sao lại thành người? Ka Nga đứng bên người mình sẽ sống trăm năm hạnh phúc,

nhưng vẫn ngờ ngợ là thực hay mơ … cái mừng chưa đến hẳn, nhưng cái sợ vẫn còn … bây

giờ đứng trước làng buôn Ka Nga dẫn người rắn đi mời rượu khắp lượt …

Lễ cưới và to nhất từ trước đến nay.

Ka Đê không về dự cưới Ka Nga, vẫn bỏ nhà chạy trốn.

Sau đó thấy vợ chồng Ka Nga sống giàu sang hạnh phúc, Ka Đê càng buồn, và bảo

cha K’đoi đan rổ đi xúc cá. Ka Đê rủ số đông chị em trong buôn vào bầu nước cạn giữa lòng

thung xúc cá cho vui và có canh ăn cho ngọt miệng. Ka Nga biết chị buồn, cũng vác rổ đi

theo.

Chị em bủa vây xúc cá trong bầu nước vui nhộn hẳn lên. Người nào cũng đầy giỏ cá

… Riêng Ka Đê, không được con cá nhỏ nào chỉ được mỗi con trăn con. Ka Đê mừng lắm

bỏ gọn con trăn vào giỏ tre, Ka Đê không cho ai biết cả và hấp tấp về nhà. Ka Đê tìm được

trái bầu khô cho nước vào, thả nuôi con trăn và ngày ngày cho ăn gạo nát. Dần dần con trăn

lớn, cựa vỡ quả bầu. Ka Đê phải nuôi vào cái ché, cái ché vỡ luôn, cuối cùng, Ka Đê nuôi

vào cái lu. Lúc này, con trăn mới kêu “Cút, cút, cút” Ka Đê bảo em rể làm giúp cho cái chòi

để con trăn và Ka Đê ra đấy ở như vợ chồng thật với ý muốn sẽ được “vợ” đẹp như “vợ” Ka

Nga.

Mấy hôm sau, Ka Đê và con trăn ra chòi ở. Ở chòi, con trăn liếm khắp người Ka Đê,

con trăn cuốn từ chân đến đầu, cuốn từ đầu đến chân, Ka Đê tưởng là con trăn thương yêu

mình, nên càng thích thú và sung sướng.

Tiếp đó, con trăn nuốt Ka Đê từ chân đến tay và nuốt luôn đến cổ … lúc này, Ka Đê

mới biết con trăn muốn ăn mình, nên bèn la lên kêu cứu. Ka Đê giãy nãy, gầm thét … con

trăn hoảng hồn bỏ chạy và trốn nép dưới đoạn suối sâu.

Người trong buôn chạy ra cứu chữa Ka Đê và đi đuổi tìm con trăn. Người “vợ” Ka

Nga mặc áo rắn vào cùng cha vợ đi hỏi tội con trăn đang lủi dưới cầu nước kia. Con rể nói:

- Ông già ở trên bờ cầm dây, nếu tôi cột được con trăn ấy, tôi sẽ báo hiệu để ông già

kéo sợi dây lên.

Dặn ông già vợ xong, con rể lội xuống tìm, gặp ngay con trăn khác đang đan gùi, liền

hỏi:

- Anh có thấy người anh của tôi xuống đây không, tôi muốn gặp! con trăn đan gùi chỉ

chỗ nước sâu dưới kia và hỏi “tìm cần làm gì đấy!”

- Tôi cần tìm anh tôi, vì anh tôi hồi trước cưới chị chưa được đeo vòng, hôm nay, tôi

phải đeo vòng cho anh!

Con trăn đan gùi dẫn đến con trăn kia đang ngủ. Rắn em đánh thức dậy nói:

- Thưa anh, trước đây anh cưới chị, em chưa được đeo vòng cho anh mà anh đã vội đi.

Hôm nay em đến để đeo vòng cho anh!

- Ừ, đeo vòng! Con trăn ngái ngủ đáp:

- Anh ngửa cổ lên để em đeo vòng cho!

Khi cột xong rắn em báo hiệu cho ông già vợ biết. Ông già kéo tung lên bờ.

Con trăn nằm sóng soài trên cạn không phải người thần, đúng là con trăn thiệt, con

trăn toàn nuốt con gái mình. Ông già k’đoi ức lắm lấy cây cọc chắc, đánh đập đầu con trăn,

lấy dao côi mổ bụng trăn để cứu con gái. Nhưng, không tài nào mổ được! Con chim cu trên

cây kêu:

- Cúc cu cu ! Sít Sim, sít sin : ( lấy cỏ lau mà mổ!)

- Dùng dao, dùng đủ thức mà không mổ được thì cỏ lau mổ sao được! ông già K’đoi

phát cáu- mày im đi, biết gì mà nói!

- Cúc cu cu! Cúc cu cu ! Sít Sim, sít sin, chim cu vẫn kêu kêu nhiều lần … ông K’ đoi

nghĩ suy cho là đúng, bèn lấy cỏ lau mổ bụng trăn và lấy được Ka Đê ra.

Ka Đê chết nằm đó. Toàn thân tươi rói. Ông K’đoi buồn không nói năng gì. Con chim

cu lại kêu:

- Cúc cu cu! Cúc cu cu!, ông K’đoi nghe bực! quát to:

- Không biết người ta đang buồn à, đừng kêu nữa!

- Đừng có chửi ông già! Tôi sẽ làm phép cho con gái ông sống lại … ông k’đoi nửa

tin, nửa không tin, nói:

- Nếu cứu con gái tôi sống, chim cần gì, tôi cũng cho…

- Tôi chỉ cần lúa ăn và bảy cái chuỗi cườm thôi!

Ông già K’đoi “ừ” một tiếng cả quyết và chim cu vỗ cành bay là là từ chân Ka Đê,

chân Ka Đê nhúc nhích, bay đến ngực Ka Đê, Ka Đê thở, bay đến miệng Ka Đê, Ka Đê nói,

bay đến mắt Ka Đê, Ka Đê mở mắt nhìn mọi người …

Chim cu bay lượn một vòng, Ka Đê ngồi dậy và đứng lên, chim cu bay một vòng nữa,

Ka Đê đi được và về nhà…

Về nhà, ông già K’đoi làm lễ trao bảy chuỗi cườm cho chim cu. Chim cu mừng vỗ

cánh tung bay. Ông K’đoi quên trao gửi lúa… (nên bây giờ, chim cu chỉ có bảy chuỗi cườm

nơi cổ, nhưng không có lúa ăn, cho nên, khi mùa lúa chín, chim cu thường đến ăn lúa đòi nợ

của người trước đây chưa trả).

Ka Đê sống lại với cha ruột được ít năm. Một hôm đi kiếm rau làm cùng ăn, đụng cái

răng còn nọc độc của đống xương con trăn ăn mình dạo trước nên chân Ka Đê chảy máu

nhiều và chết.

Cả nhà, cả buôn lại đổ ra rừng tìm Ka Đê. Xác Ka Đê được ông già K’đoi đem về rẫy củ

chôn cất và trồng ở đó một cây Sơ-rang đỏ…

(Sự tích Langbiang: Truyện cổ chọn lọc các dân tộc thiểu số Lâm Đồng)

9. BÔ-LÔ ĐU-LƠ (CATU)

Ngày xưa, có một bà mẹ sinh được mười cô con gái rất đẹp. Một hôm, bà mẹ vào rừng

sâu chặt củi, tự nhiêm mất cái rìu. Nhìn quanh, bà chẳng thấy ai cả. Lạ quá, trông lên cây

cao, bà thấy một con rắn hổ mang đang quán lấy cành cây. Bỗng nhiên con rắn biến mất và

một người con trai trẻ đẹp hiện ra đừng trước bên bà ta.

Bà già hỏi:

- Anh có thấy rìu của tôi ở đâu không?

Anh Rắn trả lời:

- Không biết!

Bà già lại bảo:

- Chắc anh lấy cái rìu của tôi rồi.

- Thế bà cho tôi ái gì nào, tôi sẽ trả rìu lại cho bà?

Bà già hứa cho anh rất nhiều của cải, nhưng thứ gì anh cũng không chịu nhận. Anh đổi

giọng vừa cười vừa nói khẽ:

- Bà gả con gái cho tôi, tôi trả rìu lại cho bà ngay bây giờ

Bà ngắm nghía anh chàng rắn, suy nghĩ một lát rồi gật đầu.

Trưa hôm ấy bà gọi các con lại và bảo:

- Con nào thương mẹ thì nghe mẹ lời mẹ lấy anh rắn để anh ấy trả rìu lại cho mẹ. có

rìu thì mới có củi. Bây giờ anh ấy ở gần đây, con nào chịu lấy anh ấy thì đến ở với anh ấy.

Vừa nghe dứt lời, các cô gái đều muốn được lòng mẹ. Sáng hôm sau, các cô đến nhà

anh rắn. lạ thay, cô thứ nhất, cô thứ hai, thứ ba …. Cho đến cô thứ tám, thứ chín, cô nào đến

nhà anh rắn cũng gặp ngay một con rắn hổ mang tô lớn, dễ sợ. Cô nào cũng khiếp vía chạy

về xin mẹ đừng bắt mình lấy anh rắn.

Khác với các chị, cô gái út tên là Bum Viêm đến chỗ ở của anh rắn thì gặp một cháng

trai trẻ đẹp. Lúc trở về, các chị lấy làm lạ rằng tại sao em mình đến ở với rắn lại không bị rắn

ăn thịt? từ đó về sau, Bum Viêm đến ở với chàng rắn. Thường ngày Bum Viêm ở nhà trông

nhà còn chàng rắn thì đi bắt thú đem về làm thịt và hai người cùng ăn. Được ít lâu thì Bum

Viêm đẻ được một đứa con trai.

Các cô chị thấy em mình sung sướng quá, kéo nhau đến thăm hỏi:

- Chồng mày thương mày lắm phải không? Thế chồng mày có hôn hít mày không?

Bum Viêm trả lời:

- Chồng em chẳng hôn hít em đâu.

- Thế là chồng mày chẳng thương mày đâu! Các cô kia đều nói như vậy.

Thế là Bum Viêm đâm ra suy nghĩ về chồng mình.

Chồng chị bèn bảo:

- Không phải anh không thương em đâu! Anh có cái răng độc, cho nên không hôn em

được. Anh hôn em là em chết ngay.

Tuy vậy, Bum Viêm vẫn không chịu vì các chị đã nói rằng không hôn là không

thương.

Bị thúc ép, chàng rắn đi lấy gỗ đóng một chiếc hòm và bảo Bum Viêm:

- Anh sẽ hôn em, em sẽ chết và anh sẽ chôn em trong hòm này.

Sau đó, chàng rắn hôn hít vợ suốt cả buổi chiều đến tối, Bum Viêm chết.

Bỏ xác Bum Viêm vào quan tài chàng rắn đem đi chôn. Khốn nỗi! chôn ở sông thì sợ

cá ăn, chôn ở bờ thì sợ đào lên. Chỗ nào cũng có con nhộng con đà trực ăn xác Bum Viêm!

Chàng rắn phải chờ đến nửa đêm cho cá ngủ mới dám đem hòm thả xuống sông.

Trên sông có ông Na và ông Rế đơm cá. Đêm ấy cá ngủ cả chỉ có nước chảy mà thôi.

Xác Bum Viêm trôi vào đó đơm cá của ông Na. Sáng hôm sau ông Na ra xem đó bắt gặp

chiếc hòm. Mở hòm ra xem, ông Na thấy xác Bum Viêm vẫn còn tươi đẹp như người còn

sống, da thịt Bum Viêm vẫn còn đỏ như mặt trời sắp lặn. Đem xác Bum Viêm về nhà, ông

Na mời một bà già đến hút hết máu độc. Dần dần Bum Viêm sống lại. Bum Viêm kể lại

chuyện cho ông Na nghe. Từ đó Bum Viêm biết ơn ông Na và làm vợ ông Na. Một năm sau

Bum Viêm sinh được một con trai

Một hôm nọ, một người chị của Bum Viêm đi chơi dọc sông thì gặp lại Bum Viêm.

Hỏi ra mới biết Bum Viêm đang ở với ông Na. Cô gái về mách với mẹ. Bà mẹ đi nói với

chàng rắn. Mừng mừng tủi tủi chàng rắn bay vút đến nhà ông Na, khoét nóc nhà và dòm

xuống. Thấy rắn đứa con trai vội gọi cha mẹ nó đến xem, rắn lại bỏ đi mất.

Ông Na và Bum Viêm lấy nhau đã đẻ con nhưng chưa làm lễ cưới. Gần ngày cưới,

ông na đi tìm cho được chàng rắn và mời chàng đến dự đám cưới. Chàng rắn hứa thế nào

cũng đến để chúc mừng. Bum viêm đoán thế nào hai anh này cũng đánh nhau cho nên Bum

Viêm vào rừng kiếm mấy gói thuốc giấu sẵn trong người khi nào cần thì sẽ dùng thuốc để

cứu chữa người nào bị thương.

Đúng như Bum Viêm dự đoán, vào ngày cưới, ông Na và chàng rắn đánh nhau kịch

liệt. Hai người đánh nhau từ lúc mặt trời còn ở trên đầu cho đến nửa đêm mà không ai thắng

ai. Bum Viêm thấy hai người cũng bị sây sát nên đem thuốc quăng ra cho hai người. Gói

thuốc thứ nhất đụng vào người chàng rắn, chàng rắn tự nhiên hóa thành một cây cau cao. Gói

thuốc thứ hai đụng phải người ông Na, ông Na biến thành tảng đá vôi trắng nằm sát bên cây

cau. Bum Viêm thấy vậy chạy ra ôm cây cau, bỗng nhiên hóa thành dây trầu, gốc mọc trên

tảng đá và thân leo quanh lên tận ngọn của cây cau. Hai đứa con của chàng rắn và ông Na

chạy đến nhặt gói thuốc thứ ba tức khắc biến thành một cái cối giã trầu. Dân làng chạy đến

xem đều bị biến thành những cây chay to lớn tươi tốt.

Có mụ Cơ-rúa đi xúc tép mò cá tạt ngang qua vùng này. Mụ Cơ-rúa hái là trầu ăn với

quả cau. Nhổ nước vào đá. Đá rực lên màu đỏ thắm. Mụ lại lấy trầu, cau, đá vôi, vỏ chay ăn

thử. Mới nhai mụ cảm thấy cay cay. Một hồi lâu mới thấy môi tươi lên, hồng rồi đỏ. Ai đi

qua cũng khen môi Cơ-rúa đẹp quá. Dân làng hỏi mụ ăn gì mà môi đẹp thế! Mụ Cơ-rúa kể

lại chuyện cho dân làng nghe. Từ đấy, dân làng đều biết ăn trầu cau, ông già, bà lão thì bỏ

tràu cau vào cối giã nhỏ mới ăn.

Người Ca-tu ăn trầu, người Kinh cũng bắt chước ăn trầu.

Tin đến nhà vua. Vua sai quân lính đi tìm bằng được mụ Cơ-rúa. Lính bảo mụ Cơ-rúa

chỉ chỗ có cây cau, dây trầu cho họ xem. Lính lại hỏi vì sao có những cây cau, dây trầu. Dân

làng, mụ Cơ-rúa đều không biết gì cả. Thực ra mụ Cơ-rúa không muốn kể cho quân lính

nghe. Vua sai lính mời mụ Cơ-rúa về với vua. Lúc đầu từ chối, nhưng sau bị thúc ép, mụ Cơ-

rúa phải nhận lời. Mụ Cơ-rúa kể lại chuyện cho nhà vua nghe, nhà vua khen hay và từ đó,

mụ Cơ-rúa lấy vua và được làm hoàng hậu. Vua lại cho lính đến đào cây cau, dây trầu đem

về nhưng đào mãi không bao giờ hết. Vì thế, ngày nay đâu đâu cũng có trầu có cau.

(Truyện cổ dân tộc ca-tu)

10. TRĂN THẦN (CHĂM)

Có hai mẹ con người đàn bà góa nọ rất nghèo, sống trong một túp lều xiêu vẹo ở đầu

làng. Ngày ngày họ phải ra rẫy làm việc từ lúc ông mặt trời chưa thức, đến lúc ông mặt trời

đi ngủ mới về nhà. Hai mẹ con từng làm ra khoai, ra sắn, ra lúa mà không đủ cho cái miệng

ăn. Vì tên chủ làng bắt nộp nhiều thóc, nhiều khoai, nhiều sắn quá. Hai mẹ con chẳng bao

giờ được no cái bụng. Sống trong nghèo khổ, hai mẹ con lại càng yêu thương nhau. Con gái

luôn nhường phần ăn của mình cho mẹ. Cô nghĩ mình có sức chịu đựng được, còn mẹ thì

lưng đã còng như cánh cung rồi, làm sao chịu được đói.

Bà mẹ cũng rất thương con. Có những ngày hội (đón lúa) về làng, con trai con gái ăn

mặc đẹp đi hội, vui vẻ nhảy múa theo tiếng cồng, tiếng chiêng. Còn con bà thì không có khăn

áo lành, bọn chủ lầng không cho đi. Những ngày người ta vui chơi như thế, con bà phải đi

làm cặm cụi để đi kiếm củ khoai, củ sắn về cho mẹ.

Một hôm, hai mẹ con ra rẫy rất sớm, sương còn phủ kín rừng cây, núi đá. Con chim ta

vâu vẫn còn nằm trong tổ, con chim trâu vẫn còn đậu trên cành, chỉ lũ gà rừng là dậy sớm,

gáy vang cả núi rừng. Bà mẹ vác cuốc đi trước, con gái vác thuổng và mang hũ nước đi theo

sau. Mẹ con ra đến rẫy thì ông trời đã thức, ánh nắng đã trải xuống các đồi cây nương lúa.

Những con chim cơ chim phí đã ríu rít tìm mồi.

Hai mẹ con cuốc đất, đào gốc cây. Bà mẹ vừa cào gom những cỏ khô lại, rồi cho lửa

ăn hết đi. Cô con gái hì hục đào những gốc cây to, bị cháy sém từ mấy hôm trước. Mẹ con

làm mãi ông mặt trời đã chếch đỉnh đầu. Nắng nhiều bà mẹ thấy cái lưng mình mỏi, còn cô

gái thì hai mà ửng đỏ như màu hoa m’iêng. Biết con cũng đã mệt bà bảo:

- Thôi nghỉ tay ăn cơm đã, con ơi!

Hai mẹ con để cuốc, để thuổng ngoài rẫy rồi vào ngồi dưới bóng cây t’nung gần đấy

ăn cơm. Ăn xong bà mẹ ngồi nghỉ, cô con gái ra lấy thuổng tiếp tục làm. Bỗng cô rú lên một

tiếng thất thanh. Bà mẹ chạy lại chỗ con và kêu lên:

- Ôi con trăn!

Một con trăn to, mình nó bằng gốc cây tre già và dài bằng ba cài đòn gánh đang quấn

lấu cái thuổng. Hai mẹ con sợ quá, tránh ra xa. Con trăn sao mà to, dài và đen thế. Trên mình

nó có những vết trắng, vàng, thành những viền tròn óng ánh. Lưỡi nó thè ra lấp lánh dưới

ánh mặt trời. Mắt nó lơ láo nhìn hai mẹ con. Nhưng con mắt của nó có vẻ hiền từ, không

giống mắt tên chủ làng gian ác nên hai mẹ con cũng đỡ sợ. Bà mẹ bảo con gái:

- Con hãy lấy cái gậy dài mà đuổi nó đi, chắc nó không làm gì đâu, nó thương người

nghèo mà.

Cô gái làm theo lời mẹ: cô lấy nứa dài khều con trăn. Trăn không sợ, hai mắt nó nhìn

cô gái nhu muốn nói điều gì. Cô đuổi mãi trăn mới chịu rời chiếc thuổng, rồi từ từ bò vào bụi

rậm. Cô gái và bà mẹ tiếp tục làm. Mẹ con làm mãi cho đến lúc ông mặt trời đã về đến đỉnh

núi phía tây, lúc đó con trăn lại bò ra quấn láy chiếc thuổng của cô gái. Trời đã tối, rẫy làm

chưa xong, còn con trăn thì cứ bám lấy cái thuổng.

Hai mẹ con lo quá chẳng lẽ bỏ cái thuổng trên rẫy mà về?

Nếu chủ làng nó biết, nó sẽ sai đầy tớ đến lấy mất. Mất cái thuổng thì không có cái

làm ra thóc, ra khoai, ra sắn, hai mẹ con sẽ đói khổ. Bà mẹ nhìn cái thuổng mà lo. Thấy con

trăn không có vẻ dữ tợn, bà bảo con gái:

- Thôi con ạ! Trăn nó không đi, nó muốn ở với mình đấy. Con hãy trải khăn ra, bọc lấy

nó mang về nhà. Nghe bà mẹ nói, con trăn như hiểu tiếng người, nó nghểnh đầu lên, tỏ vẻ

bằng lòng. Cô gái làm theo lời mẹ. Cô lấy chiếc khăn đang đội trên đầu trải xuống dất, rồi

lấy cây nứa dẩy con trăn vào chiếc khăn. Con trăn ngoan ngoãn rời thuổng bò vào nằm

khoanh trong chiếc khăn. Cô gái bọc trăn lại, đeo lên vai, cùng mẹ vác thuổng vác cuốc về

nhà.

Về đến nhà, cô gái để trăn nằm một góc, rồi đi làm cơm. Một lúc sau cơn chín hai mẹ

con ngồi ăn cơm ngon lành. Con trăn bò đến, nằm khoanh gần cô gái. Cái đầu nó nghểnh

nghểnh lên. “có lẽ nó muốn ăn chăng?” cô gái nghĩ như vậy và lấy cơm nắm lại từng năm

cho nó ăn. Con trăn nuốt từng nắm cơm có vẻ ngon lành lắm.

Đêm hôm đó, bà mẹ nằm ngoài nhà, cô gái nằm nhà trong như thường lệ. Nửa đêm, cô

giật mình thức dậy, nhìn thấy ở góc nhà có ánh sáng rực rỡ. cô rất lấy làm lạ, ánh sáng đó từ

trước tới giờ cô chưa thấy bao giờ. Cô sợ quá. Hay là ma đến nhà mình chăng? Không, mình

có làm điều gì ác đâu mà ma đến! hay là vị thần nào đã thương mẹ con mình nghèo mà đến

đây để giúp đỡ gì chăng?

Cô sực nhớ lại lúc tối con trăn nằm ở góc ấy, cô rón rén đến nơi có ánh sáng … bỗng

ánh sáng vụt tắt và một cháng trai tuấn tú xuất hiện, đến đứng gần cô và nói:

- Lúc chiều am mang anh về, cho anh ăn cơm, em là người tốt bụng. Từ nay anh sẽ ở

mãi với em. Anh sẽ là người chông xứng đáng của em.

Cô gái vừa sợ vừa thẹn, vội lấy khăn che mặt. Thấy thế chàng trai lại nói tiếp:

- Anh là con thần núi, thấy em nghèo mà tốt bụng, nên anh kết duyên cùng em.

Cô con gái gọi mẹ dậy và kể cho mẹ nghe việc vừa qua. Bà mẹ nhìn chàng trai khỏe

và đẹp, có cặp mắt sáng như con hưu. Bà mừng thầm cho con gái.

Chàng trai bảo cô gái đem đốt cái vỏ trăn đi. Từ đó hai vợ chồng trẻ sống với bà mẹ

già rất là đầm ấm. Vợ chồng đi làm nương phát rẫy, mang nhiều khoai, nhiều săn, nhiều lúa

về nhà. Một hôm, chàng trai đến nhà thần núi, cha chàng, lấy nhiều của cải, khăn áo đẹp về

cho vợ, cho mẹ. Từ đó, hễ làng có hội, là vợ chồng mặc quần áo đẹp, đi nhảy múa ca hát

cùng con trai, con gái trong làng.

Trong làng có một người đàn bà góa cũng có một cô con gái. Mụ là vợ một tên quan

cai quản một vùng rộng lớn ở nước Chàm. Tên quan chết đi từ lâu, để lại cho mụ rất nhiều

của cải. Hai mẹ con mụ có rất nhiều đầy tớ. Nương rẫy của hai mẹ con mụ đã có đầy tớ làm

từ lúc con gà gáy lần đầu cho đến lúc tối mờ tối mịt mới được nghỉ tay. Mẹ con mụ ngày

ngày chỉ ngắm vuốt. Những ngày hội “đón lúa” về làng, mẹ con mụ đi dự hội để khoe chiếc

vòng đẹp, chiếc áo xinh, chiếc khăn quý.

Mẹ con mụ nghe đồn có hai mẹ con người đàn bà góa ở đầu làng chỉ nhờ có trăn mà

thốt nhiên giàu có. Mẹ con mụ cho người đến hỏi cặn kẽ, rồi cũng bắt chước làm theo.

Một buổi sáng, hai mẹ con mụ cho đầy tớ vác cuốc vác thuổng ra rẫy làm. Mụ cũng ra

rẫy, hì hục cuốc đất, còn đứa con gái mụ cũng đi đào gốc cây. Chúng không quen làm, nên

vừa cuốc vừa đào được một chốc , đã thở hồng hộc, mình mẫy ướt đẫm mồ hôi như con ngựa

vừa chạy một quãng đường dài.

Mặt trời đã đứng bóng hai mẹ con mụ đã vứt cuốc, vứt thuổng ngoài rẫy, vào ngồi ở

gốc cây chờ trăn đến. Mãi không thấy trăn quấn lái cái thuổng của con gái mình, mụ sốt ruột,

bảo con gái:

- Con hãy cùng với mấy tên người nhà vào bụi rậm mà tìm xem.

Nghe lời mẹ, đứa con gái cùng với mấy người đầy tớ vào bụi sục sạo. Quả nhiên họ

thấy một con trăn to bằng cột nhà, mình dài và đen như mun, đang nằm khoanh dưới một gốc

cây lớn. Mẹ con mụ sai bọn đầy tớ bắt trăn mang về.

Về đến nhà, mụ lại sai đầy tớ dọn dẹp nhà cửa, sửa soạn một cái buồng sạch sẽ,

giường nệm chăn màn đầy đủ, để cho chăn nằm với con gái mụ.

Trời vừa mới tối, mụ đã bảo con gái vào nằm cùng với con trăn. Đứa con gái lúc đầu

còn sợ, không dám vào, nhưng bị mẹ mắng, và sau đó nghĩ trăn sẽ biến thành một chàng trai

đẹp có nhiều của, nêm cũng bước vào buồng.

Mụ mẹ ở ngoài nhai trầu, chờ gặp mặt chàng rể, định bụng sẽ bảo chàng rể đi lấy của

về. Nhưng mụ đợi mãi không thấy gì, nên nóng ruột.

Một lúc lâu, cô gái thấy hai chân lành lạnh, liền gọi:

- Mẹ ơi, trăn nó nuốt chân con rồi!

Nghe tiếng con gọi, mụ sung sướng bảo con:

- Con ơi! Không sao đâu! Hãy chịu khó một tý

Một lúc sau, đứa con gái lại kêu lên:

- Mẹ ơi, trăn nó nuốt con đến đầu gối rồi!

Mụ ta nghĩ như thế là trăn nó thương con mình thật rồi, mụ liền bảo:

- Con ơi! Không sao đâu! Hãy chịu khó một tý nữa!

Một lúc sau nữa, cô gái lại kêu lên, nhưng tiếng kêu bắt đầu yếu ớt:

- mẹ ơi! Con trăn nó nuốt con đến ngực rồi!

- Con ơi! Hãy cố tý nữa.

Nói xong mụ lại ngồi chờ. Mụ chờ mãi, nhưng sao chẳng thấy gì? Trong phòng chỉ còn nghe

tiếng thở phì phò, hình như con trăn đang thở mạnh. Mụ hoảng quá, thắp đèn lên, mở cửa

bước vào thì ôi thôi con trăn đã nuốt hết cô gái, chỉ còn mớ tóc lòa xòa ngoài miệng nó. Mụ

kêu lên một tiếng thất thanh, ngã lăn ra chất ngất.

(Truyện dân gian Chăm)

11. KƠ-LĂN (BANA)

Từ thuở xưa con người và con vật còn biết nói năng với nhau, ở làng ông Bok-ria có

xảy ra một chuyện lạ. Vào năm mất mùa nặng, đến nỗi nhà ông giàu có nổi tiếng mà cũng

không còn một hạt gạo để làm phép. Mười người con gái của ông phải bắt trước dân làng vào

rừng đào củ mài.

Mụ con cả của Bok-ria là Yă-krua như con heo đầu đàn cứ cắm cúi bước, không cần

biết lũ em có theo kịp hay không. Mụ ta đã xấu xí, thế mà không mặc vải đẹp, thích mặc cái

váy bằng da trâu cho người khác. Các cô em tính tốt hơn, người đẹp hơn, đến cô Tờ-xinh thì

đã làm cho trai làng lúc nào cũng mơ ước, nhất là cô Min-dich thì trai làng không ai dám

nghĩ đến, cả các cụ sống trên trăm tuổi cũng chưa thấy ai đẹp bằng cô ấy. Có điều là chân tay

Min-dich mảnh mai nên cô làm gì cũng không bằng các chị.

Mặt trời đã đứng trên đầu, Min-dich chưa tìm được cái dây củ mài, trong khi đó Yă-

krua đã hì hục lôi củ lên rồi. Khi Min-dich bắt đầu bới gốc củ mài thì Yă-krua đã phủi tay

nhai dập miếng trầu. Tờ-xinh đào gần đầy gùi thì Yă-krua dục về mặc cho Min-dich làm sao

thì làm.

Trời sụp tối Min-dich mới rờ tới ra củ mài. Hai bàn tay cô đã phồng, mồ hôi cô đã

đàm đè như nước mưa. Chịu không nỗi nữa cô úp mặt xuống hai đầu gối mà khóc, bỗng cô

nghe có tiếng gọi:

- Min-dich ơi! Việc gì phải khóc?

Tiếng người con trai nào đó nghe ấm áp Min-dich ngẩn đầu lên nhìn. Nhưng, cô run

bắn người lên. Trước mắt cô ta không phải là người con trai mà là hai con mắt của một con

trăn đang rọi tới như hai ngọn đuốc.

- Tôi là Kơ-lăn. Tôi không ăn thịt người. Cô cần gì tôi sẽ giúp.

Min-dich biết Kơ-lăn hiền lành còn Kơ-lăn-đăk thì hung dữ ăn thịt người. Giọng cô

vẫn còn run run.

- Tôi đi đào củ mài về nuôi mẹ, nhưng tay tôi đào không nổi-Cô đã mạnh dạn kể lại

chuyện xảy ra và phàn nàn Yă-krua coi mình còn thua cả tôi tớ.

Kơ-lăn bảo:

- Thôi, cô đừng buồn để tôi vào giúp cho.

- Cô không thấy Kơ-lăn đào như thế nào , chỉ nghe tiếng chim trong lá rừng. Nhưng

khi hai con mắt như hai ngọn đuốc của Kơ-lăn quay lại, thì cô thấy một đống củ mài to như

cái nhà. Nhìn cái xà vạc của mình, cô vừa mừng vừa lo.

- Thôi, có củ mài rồi Kơ-lăn nói cô về kẻo mẹ đợi.

- Củ mài nhiều quá, cái xà vạc lại nhỏ tôi biết làm sao được!

Cô để tôi xếp cho.

Kơ-lăn ngậm từng củ mài lên. Cái củ mài nhỏ dần đến khi bỏ vào miệng xà vạc. Cứ

thế củ này vừa đè lên củ kia, chỉ trong một lát đống củ mài to như cái nhà đã vào gọn trong

xà vạc miệng bằng gang tay của Min-dich.

- Củ mài xếp rồi. Cô về kẻo mẹ đợi. Kơ-lăn bảo.

- Đường thì xa, trời lại tối, tôi biết đi làm sao được.

- Cô để tôi dẫn đường cho.

Nói rồi Kơ-lăn thu mình nằm gọn trên miệng xà vạc. Min-dich mang xà vạc đứng dậy

nhẹ nhàng. Đầu Kơ-lăn ghếch qua vai cô, hai mắt rọi tới. Chân cô bước thoăn thoắt như đi

trong sân làng. Đến nhà rồi, cô tưởng như nhà ai, hồi đi sao xa, khi về lại gần đến thế.

Min-dich gõ cửa:

- Mẹ ơi, mẹ…

Trong nhà có tiếng động nhỏ rồi im lặng. Cô lại gọi:

- Mẹ ơi! Con về đây…

Tiếng người mẹ vọng vang:

- Con ơi! Con chết rồi thì xin con đi đi. Không phải tại mẹ. Hồn con đừng về báo hại

mẹ…

- Không, không phải ma đâu. Min-dich của mẹ còn sống đây. Con mang củ mài về cho

mẹ đây, mẹ ơi…

Giọng người mẹ vẫn sợ hãi:

- Mẹ không phá phách gì của con đâu. Mẹ không còn con gái út nữa…

- Mẹ ơi, mẹ…

Min-dich vừa đấm cửa vừa khóc tấm tức. Người mẹ càng sợ, lặng thinh. Cô đành phải

cạy cửa mà vào.

Thấy hai ngọn đèn chiếu vào nhà sáng rực, người mẹ nằm úp mặt vào phên che. Min-

dich lay mẹ dậy và kể chuyện được Kơ-lăn giúp đỡ. Cô hỏi:

- Mẹ đói lắm không?

- Bụng mẹ đói ăn, đói vì mất con nữa.

Kơ-lăn nói nhỏ Min-dich bawor mẹ đi bắc nồi cơm. Người mẹ lắc đầu:

- Có gì đâu mà nấu!

Kơ-lăn lại nói Min-dich bảo mẹ cứ bắc nồi lên đậy vung lại nấu. Người mẹ làm theo.

Được một lúc, Kơ-lăn lại nói nhỏ với Min-dich bảo mẹ nhắc nồi xuống.

- Có gì đâu mà nhắc. Người mẹ lại than.

- Mẹ cứ nhắc xuống rồi sẽ biết. Kơ-lăn nói.

Người mẹ nhắc nồi thấy nặng nặng, liền mở vung ra. Bà lấy làm lạ: Nồi đã đầy ắp

cơm lúa mới thơm lừng.

Trong lúc người mẹ cùng Min-dich nói chuyện, Kơ-lăn đã trút đống củ mài như cái

nhà trước sân.

Cả nhà thức dậy. Nghe Min-dich kể chuyện được Kơ-lăn giúp đỡ, không ai tin. Yă-

krua xì mũi, nhổ nước miếng, rồi cười như điên. Khi nghe Min-dich xin được phép lấy Kơ-

lăn, Bok-ria chưa kịp nói Yă-krua đã gạt phắt:

- Mày không phải là người nữa, mày đã ăn ngủ với con trăn kia thì mày phải dời nhà

ngay. Cho mày đến nhà mả ở với ma luôn thể. Không ai cha con, chị em với mày nữa đâu.

Bok-ria nghe lời Yă-krua bảo lấy hết củ mài, và chỉ cho một quả trứng gà thối để làm

phép cưới Min-dich với con trăn rồi đuổi đi, đuổi cả người mẹ.

Kơ-lăn và Min-dich đưa mẹ đến ở trong cái nhà mả đã dột nát. Không có gì ăn, nên

Kơ-lăn bảo vợ:

- Tôi đi đây.

- Anh đi đâu đấy?

- Thì cứ để tôi đi rồi tôi về.

Kơ-lăn ra rừng cởi áo trăn trở thành chàng trai khỏe đẹp, cầm ná đi bắn chim. Lát sau,

chàng mặc áo trăn mang một xâu lớn đủ loại chim. Ba mẹ con nướng ăn cho đỡ đói.

Kơ-lăn lại ra rừng bắt một con mang chà về làm thịt.

Yă-krua vốn ham ăn như con ruồi, nghe mùi mỡ cháy thơm nên mò đến. Min-dich sợ

chị vội đem thịt mang đi giấu.

- Chà, nhà này có thịt gì mà ngon thế? Yă-krua dò hỏi.

- Dạ không. Em làm gì mà có thịt…

Yă-krua lục lạo, không thấy gì, bỏ ra về.

Ăn thịt không cũng ngán, Kơ-lăn bảo vợ:

- Tôi đi đây.

- Anh đi đâu đấy?

- Thì cứ để tôi đi rồi tôi về.

Kơ-lăn đi từ sáng tới trưa vẫn chưa gặp chỗ đất bằng tốt để làm rẫy. Tròn bóng thấy

chim Yă-dai bay ngang Kơ-lăn hỏi:

- Yă-dai ơi, có thấy chỗ nào làm rẫy được chỉ cho tôi với.

- Trước mặt anh đó, còn đi tìm đâu cho mệt Yă-dai nói.

- Có rộng không?

- Chỗ này tôi bay qua phải nghỉ cánh tới ba lần.

- Vậy thì rộng lắm. Cám ơn Yă-dai nhé!

Kơ – lăn cởi áo trăn, cầm rựa chặt bằng rựa, cầm rìu đốn bằng rìu, làm luôn tay. Tới

khi nghe mỏi mệt, Kơ – lăn đứng ngay lưng thì thấy mặt trời sắp lặn. Ngó lại thấy cái rẫy

phát rộng như cái biển, Kơ-lăn mặc áo trăn quay về.

- Min-dich kiếm cái gì thật to để chứa nước uống được nhiều ngày.

- Uả, nước thiếu già mà lo. Min-dich ngạc nhiên hỏi.

- Sắp khô hết nước rồi đó. Kơ-lăn đáp.

Thương cha và mấy chị nên Min-dich đã về làng báo tin trời sắp hết nước. Nghe bảo

Yă-krua quát:

- Đồ nói bậy, hết giếng còn suối, hết suối còn sông, hết sông còn biển, hết biển còn

trời. Mà còn trời là còn nước. Cái thứ ở nhà mà ăn nói chẳng ra gì.

Min-dich về báo lại lời Yă-krua cho kơ-lăn hay, kơ-lăn bảo:

- Min-dich cứ tin lời tôi nói không sai đâu.

- Thế mình chỉ có một cái bầu khô gảy cổ làm sao mà đủ uống!

- Thôi, đưa cái bầu đó cho tôi đi…

Kơ-lăn múc đưa cho vợ một bầu nước đầy. Lạ thay, bầu nước uống bao nhiêu cũng

không hết.

Vào một ngày nắng gắt, kơ-lăn đi đốt rẫy. Chẳng mấy chốc ngọn lửa lan rộng. Lửa

cháy to quá, nóng quá đến nỗi nước suối, nước sông bốc lên mù mịt. Cuối cùng chỉ còn nước

đáy biển đang khô thành muối, không ai uống được. Yă-kru há miệng đi tìm nước, mụ đi từ

sáng đến chiều, đi tới hai ba ngày mới mang về một ít ngước trong bầu. Bok-ria khát cháy

cổ, ôm bầu uống ngay. Nhưng ông mới hớp một miếng đã vội vã phun ra, hỏi Yă-kru:

- Nước gì mà vừa hôi, vừa khai thế này?

Mụ nói là tìm ở đâu cũng không có nước nên mụ đái vô bầu mang về. Bok-ria tức giận

đập cái bầu nát tan. Tờ-xinh khát quá chạy sang nhà Min-dich uống nhờ. Khi Tờ-xinh về,

kơ-lăn hỏi vợ:

- Nhà mình có hột bầu không?

- Mình làm gì có hột bầu, chỉ ở nhà cha mới có.

- Min-dich hẫy về xin một ít.

- Để ăn cho đỡ khát à?

- Để trỉa rẫy chớ.

- Rẫy đâu mà trỉa?

Hỏi vậy nhưng Min-dich vẫn đi xin hột bầu. Cô hỏi cha, cha hỏi Yă-kru. Nhưng mấy

chị của Min-dich đều nói dối là không có hạt bầu. Chỉ mỗi Tờ-xinh lén lấy hai hột đưa cho

Min-dich mang về.

Cầm hột bầu trong tay, kơ-lăn bảo vợ:

Ngày mai, Min-dich ra rẫy để lấy cốm, lấy cơm gạo đấy nhé!

- Ôí, ai biết đường đâu mà đi.

- Min-dich cứ chịu khó đi con đường nhỏ thôi, dù có xa cũng ráng đi rồi sẽ đến.

Nói rồi Kơ-lăn ra rẫy. Trỉa hai hột bầu xuống đất mới, kơ-lăn nói:

- Bầu ơi! Mày thương tao thì mọc lên rồi bò khắp rẫy. Ra trái cho tao thì phải có non

có già, có khô nghe.

Ngày hôm sau, Min-dich thức dậy sớm, tìm đường ra rẫy. Có nhiều con đường mòn

rộng rãi, thoáng đãng nhưng cô không đi. Cô chỉ theo lối mòn, rộng bằng miệng cái gùi. Bò

mãi thấy mỏi, Min-dich muốn ngồi dậy nhưng trên lưng cô ta toàn là gai lá bịt bùng. Cô qua

không biết bao nhiêu rừng, bao nhiêu khe. Tay chân bị gai cào rướm máu và đã mỏi rã

rời…Chợt nghe có tiếng nói tiếng cười và tiếng đàn, tiếng hát, không biết của làng ai vẳng

đến. Min-dich bò thêm một đoan nữa rồi đứng dậy. Trước mắt cô là cái rẫy lớn chỉ toàn là

trái bầu nằm chen nhau như con heo ngủ. Giữa rẫy có ngôi nhà cao ráo, đẹp đẽ và thấp

thoáng dáng một chàng trai ra vào. Min-dich muốn vào hỏi thăm đương đi của Kơ-lăn nhưng

lòng e ngại. Nhưng chẳng có cách nào khác, cô đành phải vào nhà. Người con trai đẹp đẽ

tươi cười bảo:

- Chồng của em chính là anh đây. Em đã về đến nhà ta rồi đấy!

- Không phải- cô trả lời- chồng tôi là kơ-lăn. Nơi của chúng tôi là cái nàh mả dột nát.

Người con trai đẹp lại bảo:

- Em không tin ư, hãy xem đây. Nói rồi người lấy hột lơ-mân ở túi áo bỏ vào miệng.

Trước mặt Min-dich, người con trai mờ dần và sau đó kơ-lăn yêu quý của cô hiện lên.

Min-dich hết sức vui mừng, cô hỏi:

- Anh bảo em ra rẫy lấy cốm, lấy cơm, lấy gạo là lấy ở chỗ nào hả anh Kơ-lăn?

Chàng bảo:

- Min-dich à, em muốn gạo thì hái trái bầu khô, muốn cơm thì hái trái bầu già, còn em

muốn ăn cốm thì hái trái bầu non.

Min-dich hái mỗi thứ một trái và cắt cổ bầu trút ra thấy đúng có gạo, có cơm và có

cốm, lòng nghe như đã no nê.

Nghĩ lúc này mẹ già còn đối khổ, Min-dich xin mang mấy trái bầu về cho mẹ. Về đến

nơi thấy mẹ đã đói lả. Min-dich vội hỏi mẹ mmuốn ăn cơm hay ăn cốm. Người mẹ thở dài:

- Thôi đừng nói các thứ đó…mẹ chỉ cầu một miếng củ mài để sống thêm được ít hôm

nữa.

Min-dich mở nút bầu ra. Thấy có cơm, có cốm, lại có gạo, bgười mẹ mừng đến chảy

nước mắt và lắng nghe con kể chuyện cái rẫy và ngôi nhà của chồng. Min-dich đưa mẹ ra

rẫy. Mẹ con vợ chồng bắt đầu sống những ngày no ấm. Một hôm kơ-lăn bảo vợ:

- Nhà ta sắp có khách đấy em ạ.

- Khách gần hay xa vậy anh kơ-lăn?

- Thôi em cứ ở nhà anh đi tắm về sẽ hay.

- Anh đi tắm ở đâu?

- Anh đi tắm dưới biển – nói rồi kơ-lăn đi ngay.

Ở làng, Yă-krua nghe gió đưa hương thơm vào nhà thì biết có khách sang trọng sắp

đến. Qủa thật, một người đẹp trai đã đứng ở trước cửa. Mụ đon đả:

- Người của trời của đất đi đâu, xin vào nhà em cao ráo, sạch sẽ…

- Không, tôi không vào nhà chị được – chàng đáp.

- Nếu không vào nhà tôi thì xin mời khách vào nhà em tôi. Không bằng lòng nhà nọ,

chắc cũng ưng bụng nhà kia…

- Không, tôi không vào nhà các chị được.

- Thế người của trời đất muốn đến nhà ai.

- Tôi chỉ muốn vào nhà Min-dich.

Yă-krua phì cười:

- Người đẹp trai như thế không nên vào nhà nó.

- Sao lạ vậy? chàng hỏi.

- Nó xấu lắm! nó ăn chung ở chạ với con trăn. Nhà nó là nhà mả hôi thối, ai mà thèm

đến.

- Tôi muốn tới đó

- Anh muốn đi thì tùy anh thôi.

- Nhưng chân tôi không biết đường, nhờ chị dẫn giùm…

Yă-kru nhận lời vì được đi vứoi người đẹp trai. Nhưng mụ đi đã xa nhà mà không thấy

nàh mả, chỉ thấy một cái rẫy lớn trồng toàn bầu, giữa rẫy có ngôi nhà như nàh rông.

- Mời chị vào đó chơi, sẽ gặp người bà con, chàng trai bảo.

- Mụ vừa bước vào tới chân cầu thang thì thấy Min-dich ra đón.

Chàng trai nói:

- Em gái của chị chính là vợ tôi đấy.

Yă-kru còn sửng sờ chưa hiểu ra sao thì Min-dich hái cho mụ ta ba trái bầu và kể

chuyện lại cho mụ nghe. Mụ mừng ra mặt nhưng trong bụng ngầm nghĩ cách bắt Kơ-lăn của

Min-dich về cho mình. Mụ đã mời vợ chồng Min-dich về làng.

Sau khi Yă-kru kể chuyện cho Bok-ria và các chị nghe, chàng kơ-lăn đã xin làm lễ

cưới cô Min-dich, vì hồi trước chàng chỉ được làm phép cưới bằng một quả trứng gà thối mà

thôi. Bok-ria cho cưới, nhưng đòi hỏi phải làm lễ mừng rất lớn để cả làng đều đến ăn. Nghe

cha nói vậy, Min-dich rưng nước mắt lo không có gì để làm tiệc. Kơ-lăn bảo:

- Ơ em Min-dich ơi! Mình là người chắc thiệt thì sẽ gặp điều may thôi. Em đừng lo

lắng gì cả.

Đúng ngày hẹn, kơ-lăn đem đến không biết bao nhiêu heo, trâu, rượu và nhiều của quý

khác. Cả làng đã no say. Khách khứa các làng đến ăn uống ngày này qua ngày kia nhưng

không làm sao hết được của chàng kơ-lăn.

Thấy em út của mình lấy chông trăn mà giàu đẹp, các chị đều xin cha cho lấy chồng

trăn. Bok-ria bắt chàng kơ-lăn phải lo cho các chị. kơ-lăn bảo họ hàng nhà trăn không có ai

tài giỏi nữa, chỉ có trăn dữ và rắn độc thôi. Bok-ria không tin, bắt kơ-lăn phải tìm ngay chồng

trăn cho cô Tờ-xinh.

Kơ-lăn vào núi, mặc áo trăn, gầm hú làm núi rừng rung chuyển. Một con trăn ở đáy

vực sâu nghe tiếng gọi, ồ ồ chạy lên. Kơ-lăn liền đánh nhau với con trăn nước làm cây đá đổ

ầm ầm, nước sông bắn lên rừng, cây rừng đổ xuống sông. Đánh nhau mấy ngày đêm con trăn

nước không chịu nổi sức mạnh của kơ-lăn nên đuối dần và bị kơ-lăn bắt. Kơ-lăn cởi áo trăn

bứt dây cột cổ trăn nước kéo về. Con trăn nước bị đánh đau nằm như chết. Nhưng Bok-ria

bảo:

- Ông kơ-lăn –dak tài giỏi còn đang ngủ. Cứ giết heo, mổ trâu ăn mừng cho Tờ-xinh

đi.

Họ đưa con trăn nước vào một ngôi nhà mới làm cạnh một chuồn chứa và đem tới ba

chục con trâu mà Bok-ria đã chia cho Tờ-xinh.

Nửa đêm con trăn nước tỉnh dậy, bụng đói lại thấy mồi ngon bên cạnh, nó vùng lên,

Tờ-xinh sợ quá la khóc.

Nghe tiếng khóc, Bok-ria cười:

- Con có kơ-lăn-dak đẹp giàu hơn chiồng của Min-dich nữa kia, khóc cái gì mà khóc.

Tờ-xinh khóc thét lên, Bok-ria mắng:

- Kơ-lăn-dak muốn ngủ với mày không mắc mớ gì đâu…

Sau đó, Bok-ria không nghe Tờ-xinh la khóc nữa, bụng cười thầm rằng từ nay có thêm

thằng rể tài ba, chắc chắn ông lại giàu, của cải không biết để đâu cho hết.

Sáng ngày, Bok-ria thấy nhà Tờ-xinh nghiêng đổ, liền chạy đến coi. Không thấy Tờ-

xinh và ba chục con trâu đâu nữa. Chỉ thấy dấu con trăn bò đi, ông vội chạy đến bảo Kơ-lăn:

- Mày phải kiếm ba chục con trâu và con Tờ-xinh cho tao. Nếu không tao bắt con

Min-dich lại, nghe chưa hỡi con thú dữ kia?

Kơ-lăn không đếm xỉa gì lời tráo trở của Bok-ria, nhưng chàng nghĩ thương chị Tờ-

xinh đã cho hai hột bầu khi vợ chồng chàng còn đang đói nghèo nên chàng vội vã đi tìm.

Chàng vào rừng gọi không nghe đáp. Chàng đến sông hú không thấy ai. Chàng ra biển

tìm không gặp được. Chàng bơi ra giữa biển, nhìn xuống, thấy con trăn nằm dưới đáy sâu.

Chàng liền lặn xuóng đánh con trăn. Trận đánh dữ dội diễn ra mấy ngày đêm liền, làm cho

sóng nước nổi như núi, cá to phải chạy tới biển khác, cá nhỏ chạy không kịp chết chẳng bao

nhiêu mà kể. Chàng giếtđược con trăn kéo lên bãi, rạch bụng kéo xác ba chục con trâu và chị

Tờ-xinh ra.

Khi thấy xác con gái và ba chục con trâu, Bok-ria bảo chàng kơ-lăn không cứu sống

được thì ông sẽ đòi Min-dich lại. Chàng lấy bầu nước tưới lên người Tờ-xinh, Tờ-xinh sống

lại; tưới lên xác trâu, lần lượt ba chục con trâu đều sống lại, đi kiếm cỏ ăn.

Bok-ria bảo:

- Ơ Kơ-lăn! Tờ-xinh cũng đẹp đẽ mà không lấy được chồng trăn tài giỏi và giàu có thì

con Min-dich phải về để chị em nó sống chung với nhau cho vui vể…

- Họ nàh trăn không có ai tài giỏi dâu- chàng đáp- chỉ còn họ nhà rắn, nhưng nó cũng

biết làm người.

Bok-ria cười hô hố:

- Cũng được. Nhưng phải là người giàu có hơn ta nữa kia.

Chàng ra rừng kiếm được bạn là Pih-bloong đưa về làng. Sau đó, họ hàng nhà rắn

trong rừng, trong rú bò về dự đám cưới của Pih-bloong với cô Tờ-xinh. Khách khứa các làng

thấy rắn nhiều không dám ăn uống gì cả, chỉ ngồi bụm mặt. Thấy vậy Bok-ria lại dọa Kơ-lăn

sẽ bắt Min-dich lại. Chàng Kơ-lăn gọi bạn ra rừng hết để cởi áo rắn. Lát sau, họ hàng nhà rắn

đã thành những người đàng hoàng đến chúc mừng chàng Pih-bloong đẹp đôi với nàng Tờ-

xinh.

Làng Bok-ria ăn uống vui chơi đến mấy ngày đêm. Gío mang tiến cồng, tiếng trống

bay lên trời. Ông trời không ngủ được, bèn sai thần Sét mang quan xuống

(Truyện cổ miền núi Nghĩa Bình)

12. Y KLUCH CHÉM TRĂN THẦN CỨU CON GÁI MƠ TAO (Ê ĐÊ)

Ngày xưa, có một Mơ Tao thường bắt người dân tế cho con trăn thần, thường lệ cứ

bảy năm, Mơ Tao cho gọi hết con gái khắp vùng rồi chọn lựa lấy một người đẹp nhất đem đi

nạp cho con trăn thần ăn thịt. Bất kể dù là con nhà nghèo hay con nhà giàu, dù có gia đình

đông đúc hay sống một mình, người con gái ấy cũng phải nộp mạng cho trăn thần.

Thưở đó đã có biết bao nhiêu người con gái xinh đẹp bị Mơ Tao bắt nộp mạng cho

trăn ăn. Bấy giờ Y Kluch chưa sinh ra và mẹ chàng H’Bia Wing cũng còn nhỏ, chỉ mới biết

mặc váy. Khi đến hạn định bảy năm H’Bia Wing đã đến tuổi vú phải mọc, cô rất đẹp và đã

biết nhìn, biết phân biệt chàng trai đẹp hay xấu rồi. Nàng đi đâu, con gái cũng phải ngó theo,

con trai bám đi sau mong được trao tặng miếng trầu, lá thuốc.

Đã đến ngày Mơ Tao cho gọi tất cả con gái khắp nơi về lựa chọn. Họ kéo đến đông đủ

chỉ còn thiếu mỗi H’Bia Wing vẫn chưa thấy đến. Nhưng nàng đã biết trước là thế nào Mơ

Tao cũng chọn mình dâng mạng cho con trăn, nên đã chuẩn bị cái gùi, có sẵn váy áo trốn

luôn vào rừng trước đấy.

Không bắt được H’Bia Wing, Mơ Tao liền tới bắt cha mẹ nàng về làm nô lệ. Sau đấy,

có một chàng trai lại chính là người chồng sắp cưới của H’Bia Wing đã lặn lội vào trong

rừng để kiếm nàng. Khi đã kiếm được, hai người thành vợ chồng và sống luôn trong rừng

sâu. Chẳng bao lâu sau, H’Bia Wing đã có bụng. Đến ngày sinh tháng đẻ nàng sinh được một

đứa con trai. Hai vợ chồng đặt tên cho con là Y Kluch.

Lớn lên, khi con trai cao bằng cha, con gái đã to bằng mẹ, Y Kluch mới hỏi cha mẹ

mình:

- Sao mình phải sống ngoài rừng ngoài núi thế này? Không có buôn làng, không có họ

hàng gì cả?

Khi ấy cha mẹ mới nói rõ câu chuyện: “Ngày trước mẹ là người con gái đẹp nhất vùng

nên Mơ Tao chọn để dâng nạp cho trăn thần ăn thịt. Vì vậy mẹ và cha mới phải trốn vào

trong rừng để sống. Mình cũng có họ hàng, buôn nhà đấy chứ! Nghe xong, Y Kluch không

hỏi gì nữa.

Họ ở mãi trong rừng. Nhưng rồi cha mẹ chàng già yếu, bệnh tật qua đời. Chôn cất

xong, Y Kluch đi khỏi, chàng vượt qua bao rừng rậm núi cao, suối sâu, vực thẳm. Cả một

quãng thời gian dài trôi đi.

Ngày kia, khi mặt trời đã ngủ rồi, Y Kluch đi đến bia của một buôn làng. Chàng đi vào

buôn và gặp một cái nhà nhỏ ngay bìa làng. Chàng leo lên cầu thang, đi vào trong nhà và

thấy một bà già và một người con trai. Y Kluch vừa đi tới gần bếp lửa, bà già liền cất tiếng

hỏi:

- Có ai lên nhà mình đấy cháu Y Rít?

Người con trai tên Rít đứng dậy ngó thấy Y Kluch. Thế là hai người bắt chuyện hỏi

thăm nhau. Bà già Sun đi lấy cơm cho Y Kluch ăn xong bà mới hỏi:

- Mặt trời đã tối đen. Cháu đi đâu mà tới nhà bà vậy? Có chuyện gì đấy hả cháu? Hay

là bà cho cháu Y Rít đưa cháu tới nhà khác nhé. Chứ hai bà cháu tôi không biết gì đâu!

Bà Sun vừa dứt lời, Y Kluch mới kể lại cuộc đời mình cho bà nghe, từ đời cha mẹ đến

khi sống một mình ở ngoài rừng như con mang, con nai. Nghe xong, bà Sun nói:

- Nếu thế thì cháu ở lại với bà thôi. Anh Y Rít này ngày trước cũng như thế đấy. Bà

phải nuôi nó bằng rau rừng củ khoai. Khi nó lớn rồi, nó nuôi bà đấy. Hai bà cháu sống cơ

cực lắm.

Khi đêm đã khuya, cả ba người đi ngủ. Y Kluch và Y Rít nằm cùng một chiếu, đắp

cùng một chăn.

Sáng hôm sau, Mơ Tao đã biết có một người tên là Y Kluch đến nhà bà Sun ở. Ông sai

bọn nô lệ đến xem thử. Bọn nô lệ kéo đến nhà bà Sun hỏi:

- Y Kluch đâu rồi bà Sun?

- Nó chưa ngủ dậy.

Nghe bà Sun nói vậy, bọn tôi tớ Mơ Tao lên nhà, kéo cái chăn ra và nói với Y Kluch:

- Hè hè… Tưởng Y Kluch thế nào? Đúng là giống như con heo, con chó.

Bọn tôi tớ trở về nhà nói lại với Mơ Tao biết: “Thằng Y Kluch có gì đâu! Không có

một manh áo, còn cái khố thì rách xơ xác, cái đầu thì dơ bẩn hơn con chó nữa kia!”

Y Rít và Y Kluch sống với nhau như anh em ruột. Họ cùng làm nương phát rẫy, đặt

bẫy bắt cá nuôi bà Sun. Y Rít và Y Kluch lớn lên như những thanh niên trong buôn làng,

cũng biết đánh chiêng, ăn trầu, hút thuốc như mọi người khác.

Đã đến năm Mơ Tao phải lựa chọn người con gái đẹp nhất để dâng nạp cho trăn thần.

Các cô gái khắp vùng đã đến nhưng lại không sao tìm được một người nào xinh đẹp cả. Cô

thì mù một mắt, cô thì chân cao chân thấp, cô thì miệng méo đi một bên…

Thấy vậy, Mơ Tao đuổi bọn họ về hết. Bỗng đâu có một người nói lên:

- Chỉ có con gái Mơ Tao đẹp nhất vùng. Sao Mơ Tao không cho con gái của ông ra

đây.

Rồi mọi người, dân làng ai ai cũng nói vậy. Mơ Tao không làm sao chối cãi được. Thế

là ông buộc lòng phải gọi con gái mình từ trong buồng ngủ đi ra và phải đem nạp mạng dâng

cho trăn thần.

Trước khi đi, Mơ Tao cho giết nhiều trâu bò cúng con gái mình. Bảy ngày đêm đánh

chiêng đánh trống, uống rượu.

Y Rít và Y Kluch cũng đến nhà Mơ Tao để giúp múc nước, khiêng về cho nhà Mơ

Tao uống rượu. Nhưng hai anh em vừa mới đến chưa làm được gì thì đã bị người ta nhổ

nước bọt lên đầy đầu và đuổi ra khỏi đám. Hai người về nhà, bà Sun liền hỏi:

- Sao hai anh em không đi giúp cho nhà Mơ Tao à?

- Dạ! Hai anh em con vừa tới nơi, họ nói chúng con dơ bẩn nên nhổ nước bọt lên đầy

đầu, rồi đuổi đi. Anh em con phải về thôi.

Nghe vậy bà Sun rất thương hại hai đứa cháu. Đến chiều tối, bà lấy ra một ché rượu

nhỏ, một con gà ra làm thịt, ba bà cháu cùng ăn.

Trong bảy ngày đêm Mơ Tao cúng, đã đến lúc phải dâng nạp đứa con gái, ông cho làm

một cái nhà nhỏ gần bờ sông. Phải đợi đúng trăng mọc được ba đêm, con trăn thần mới tới

ăn thịt. Mơ Tao phải đem cơm nước cho con gái mình ăn.

Bấy giờ, Y Kluch nhớ lại ngày trước mẹ mình bị Mơ Tao bắt đem nạp cho con trăn

thần như con gái Mơ Tao bây giờ. Nhưng bà đã trốn được. Y Kluch nghĩ lại, thở dài. Mấy

ngày sau, Y Kluch nói với Y Rít:

- Bữa nay anh em mình đi câu cá, anh Y Rít nhé

Hai người liền đi qua ba bốn đoạn sông. Y Kluch mới nói:

- Anh ngồi câu đi, em muốn đi cầu một chút.

Y Kluch đi cầu, đang ngồi bỗng nghe có tiếng khóc thút thít chàng lắng tai nghe. Đúng

là có tiếng người khóc thật. Y Kluch đứng dậy đi tới một đoạn, trông thấy một cái nhà nhỏ

ngày trên bờ sông. Đợi một lát, Y Kluch mới lên tiếng hỏi:

- Có ai ở trong nhà đấy?

Con gái Mơ Tao ngỡ con trăn tới ăn thịt, nên nói luôn:

- Tôi đây, còn hỏi gì nữa? Muốn ăn thì cứ đến ăn, muốn nuốt thì cứ tới.

Y Kluch mới nói rằng:

- Có phải con gái Mơ Tao đấy không? Tôi không phải con trăn độc ác kia đâu!

Nghe vậy, con gái Mơ Tao hỏi lại:

- Ông là ai? Ông tới đây làm gì?

- Chúng tôi là người đi câu cá đây.

- Các ông sướng thật, được đi câu cá, đi tát nước. Còn tôi bị cha mẹ bắt nạp cho con

trăn thần. Chẳng biết mấy ngày nữa rồi sẽ chết thôi.

Y Kluch lại hỏi:

- Nếu như có người cứu thoát cho cô. Cô nghĩ thế nào?

Con gái Mơ Tao chưa kịp trả lời, Y Kluch đã nói luôn:

- Tôi đi nhé!

Trong khi ấy, Y rít ngồi chờ mãi, hút hết hai ba điếu thuốc mới thấy Y Kluch trở lại. Y

Rít hỏi:

- Sao mày đi cầu gì mà lâu thế?

- Em bị đau cái bụng anh ạ!

Y Kluch không cho anh mình biết chuyện gặp con gái Mơ Tao. Mặt trời đã ngả về

chiều, hai người đi về nhà, Y Kluch vẫn không nói ra.

Hai ba ngày sau, hai người lại đi câu tiếp ở đoạn sông cũ. Đang câu cá, Y Kluch lại

nói với Y Rít:

- Em đi cầu anh nhé!

Y Kluch đi đến cái nhà nhỏ, nơi có con gái Mơ Tao đang ngồi ở trong, anh liền hỏi:

- Ơ Hơ Bia! Nàng còn sống không?

Con gái Mơ Tao nhận ra tiếng nói của anh chàng đã đến hôm trước nàng mới trả lời:

- Con trăn chưa tới ăn thịt đâu anh ạ! Khi nào trăng mọc ba đêm nó mới tới đây.

Nghe xong Y Kluch không hỏi han thêm, chàng chỉ dặn dò:

- Khi nào cha mẹ có đem cơm tới, cô nói với cha mệ làm một cái dàn sạp tiếp nối cái

nhà này. Phải thật cứng, thật chắc đấy!

Y Kluch trở lại đi câu cá với Y Rít. Đến ngày Mơ Tao đem cơm nước đến, H’Bia mới

nói với cha mẹ:

- Ơ cha, ơ mẹ! Hãy cho người tới đây làm thêm cho con cái dàn sạp bằng gỗ thật

cứng!

Ngày hôm sau, Mơ Tao bắt nô lệ tới làm cái dàn sạp đúng như lời H’Bia đã nói. Nàng

dặn kĩ thêm:

- Ơ chú, ơ bác làm cho chắc nhé!

Ngày hôm ấy Y Rít và Y Kluch không đi câu cá nữa. Ăn cơm tối xong, Y Kluch mới

nói:

- Ngày mai anh em mình vào rừng chặt cây, đốt lấy than để rèn cái dao, anh Y Rít nhé!

- Rèn cái dao để làm gì? Y Rít hỏi lại.

- Có cái dao để cầm theo đi câu cá, lúc làm nương rẫy chứ làm gì.

Sáng hôm sau, ăn cơm xong, hai anh em vào rừng đốt than rèn con dao, mỗi người

một cái. Vừa đến khi trăng mọc được ba đêm , Y Kluch nói:

- Anh Y Rít ở nhà với bà nhé! Em đi dạo chơi một tí! Y Rít hỏi lại: - Em đi chơi ở

đâu?

Nhưng Y Kluch không trả lời, chàng đi đến chỗ người ta nhốt con gái Mơ Tao. Y

Kluch ngồi xếp mình gọn vào dưới gốc cây to, chờ con trăn đến. Đến nửa đêm vẫn không

thấy con trăn bò tới ăn thịt, Y Kluch nghĩ bụng:

- Hay là mình bị H’Bia lừa chăng?

Chưa kịp nghĩ tiếp, thì cố tiếng động dữ dội từ dưới sông. Con trăn đã bò tới và kêu

lên bằng tiếng người:

- Nghe có mùi người trần gian quá!

Nó lại gọi tiếp: - H’Bia! H’Bia!

H’Bia quá sợ hãi, chết ngất đi nửa người, vừa khóc, vừa nói:

- Muốn ăn thì cứ ăn, muốn nuốt thì cứ nuốt, tôi là người trần gian đây.

Bấy giờ, trời còn mù mờ, chưa đươch sáng rõ lắm. Con trăn bò lên, nó nhấc cái đầu

đặt lên trên dàn sạp gỗ cứng mới làm. Thế là Y Kluch không chần chờ, tay cầm sẵn con dao,

nhảy tới chém con trăn đứt làm ba khúc. Chém xong, Y Kluch leo lên nhà nói với H’Bia:

- Tôi đã giết chết con trăn rồi. Từ đây về sau họ nhà Mơ Tao không được bắt người đi

dâng cho con trăn thần và dân làng khắp vùng không ai phải đi nạp mạng nữa!

Nói đến đây, Y Kluch nhảy xuống đi về nhà. Nhưng H’Bia đã nắm chắc đuôi khố và

nói rằng:

- Dù anh có đi kgắp núi rừng, buôn gần làng xa đi nữa, anh cũng là người chồng của

tôi rồi!

Y Kluch rút dao ra quay lại chặt đứt đuôi khố rồi chặt thêm con trăn đứt làm ba khúc

nữa. Con dao cắm chặt xuống đất, không sao rút lên được. Y Kluch chạy về nàh nằm ngủ.

Sáng hôm sau, Mơ Tao và vợ thương tiếc con mình nên cùng bọn nô lệ đến xem sao. Đi gần

tới cái nhà nhỏ nhốt con gái, họ nhìn thấy ngọn cây, tre nứa, lồ ô bị gẫy nằm ngả nghiêng. Có

cả máu còn dính trên thân cây, lá cây. Thấy vậy hai vợ chồng Mơ Tao nằm khóc thảm thiết

đến ngất luôn đi.

Thấy mấy người nô lệ đi tới, H’Bia liền hỏi:

- Các anh là ai? Có phải các anh giết chết con trăn này không?

Bọn nô lệ nhà Mơ Tao nói ngay:

- Chúng tôi là nô lệ của cha cô đây! Không phải là người giết con trăn này đâu!

Thấy H’Bia còn sống, bọn nô lệ chạy đi báo với Mơ Tao:

- Ơ Mơ Tao! H’Bia vẫn còn sống đấy!

Nghe vậy, hai vợ chồng Mơ Tao chạy tới mừng rỡ rồi Mơ Tao hỏi nàng:

- Cha mẹ tưởng con trăn nó nuốt con rồi. Ai cứu sống con? Con có biết ai chém chết

con trăn này không? Cha mẹ có cái chiêng, cái ché! Nó muốn gì cha mẹ cho nó hết.

Thế nhưng H’Bia cũng chỉ trả lời:

- Con không biết! Cả mặt cả tên con cũng không nhớ được. Chỉ còn khúc đuôi khố của

người ấy mà thôi.

Để tìm người giết chết con trăn ấy, Mơ Tao cho gọi hàng trăm, hàng ngàn người tới.

Cả người Mơ nông Yăk, nguời Mơ nông Yai có cái tai rộng biết cầm ná, cái dao, đeo bầu ở

trên lưng. Người đến nhiều như thú trong rừng, đông như mối trong tổ, như kiến trong hang.

Mỗi người đến đều phải cầm theo một con dao và cắt đứt đuôi khố để mang theo. Bọn họ

kéo đến cái nàh nhỏ nơi Mơ Tao nhốt con gái nạp mạng cho trăn thần. Tới đó, Mơ Tao cho

từng người kéo con dao lên và đo đuôi khố. Nhưng không có cái đuôi khó nào bằng đường

chỉ và không ai kéo nổi con dao lên, chém con trăn cũng không tróc được da của nó. Không

được ai, Mơ Tao cho gọi người hầu việc đến, bắt đi khắp buôn làng gần xa xem có chàng trai

nào chưa tới. Người giúp việc mới trả lời:

- Chỉ có Y Rít chưa đến!

Mơ Tao sai nô lệ gọi tới. Y Rít lo sợ, vừa đi vừa khóc không biết Mơ Tao sẽ làm gì

mình đây? Khi Y Rít đi họ cũng bắt phải cắt cái đuôi khố và mang theo một con dao. Mơ

Tao đo đuôi khố thấy chỉ thiếu có ba sợi chỉ và khi Y Rít chém con trăn, chỉ còn hai ngón tay

nữa là đứt. Dù vậy, Mơ Tao cũng không cho Y Rít là người giết con trăn cứu sống con gái

mình. Thấy vậy, Y Rít khóc lóc chối là mình không phải là người đã cứu con Mơ Tao.

Thấy Y Rít không nhận, Mơ Tao lại gọi người giúp việc đến hỏi:

- Còn chàng trai nào chưa đến nữa không?

Người ấy nhớ lại hôm Mơ Tao cúng cho con gái trước khi đi nạp mạng, có một chàng

trai đã đi cùng với Y Rít tới đây. Thế là, Mơ Tao liền cho bọn nô lệ tới gọi đến.

Họ đến nhà bà Sun và gọi:

- Ơ Y Kluch! Mơ Tao bảo chúng tôi gọi anh đến chỗ nhốt con gái Mơ Tao ngày trước

đấy.

Y Kluch nói ngay:

- Về nói với Mơ Tao là tao không đi được, sợ dơ bẩn mọi người.

Bọn nô lệ về báo lại với Mơ Tao

- Y Kluch không tới. Người nó dơ bẩn quá!

Mơ Tao lại cho người khác đến gọi. Y Kluch buộc lòng phải đi. Mơ Tao lấy đuôi khố

ra do thấy không thừa không thiếu một sợi chỉ nào, Y Kluch kéo cái đuôi dao lên, cho vào

vỏ. Chàng chém luôn cái vỏ bị đứt làm bảy khúc. Y Kluch chạy về nhà nằm ngủ. Thấy vậy

mọi người đều nói:

- Y Kluch là người chồng của H’Bia đó.

Biết được người giết con trăn thần, Mơ Tao đưa con gái về nhà. Ông chuẩn bị trâu bò,

ché rượu ngon để cúng con gái mình. Đánh chiêng khua trống liên hồi, cái dùi không dời

khỏi tay.

Thấy Y Kluch can đảm như con nhà trời, mạnh như con thần đất, chém con trăn thần

không run cái tay. Mơ Tao cũng run cả người. Trước khi cúng cho con gái, Mơ Tao cho bảy

con voi đến chở Y Kluch về nhà. Cho người biết nói biết cười sang mời Y Kluch sang nhà

làm lễ cúng hỏi chồng cho con gái.

Một con voi chở bà Sun, một con chở anh Y Rít và một con voi đực chở Y Kluch.

Trăm người đi trước, ngàn người đi sau. Y Kluch, Y Rít, bà Sun đi giữa. Họ đi đón con rể về

nhà.

Từ đấy Y Kluch trở thành kẻ giàu mạnh nhất vùng, già trẻ ai nấy đều mến phục, trời

đầy mây, tháng tròn ngày, mùa gặt đã về lúa tẻ đã về chòi, lúa nếp đã đầy bể, mùa suốt lúa đã

xong xuôi.

Ngày kia, Y Kluch và cả dân làng làm lễ cúng cho người mẹ, người cha ngày trước bị

mất trong rừng; gọi hồn về với bến nước, với buôn làng.

Thời gian sau, Mơ Tao tuổi già sức yếu mất đi như cây lúa ra già phải mục, như cây bí

hết trái dây nó cũng phải khô đi.

Người già nào không thương, đứa trẻ nào lại không mến Y Kluch. Chàng đứng vững

như cây Kơ-nia đầu làng, như cây sung mọc trên đầu bến nước.

Từ ngày ấy, người Ê-đê, người Mơ Nông, người Bih… không còn ai phải nộp con gái

mình cho con trăn thần độc ác kia nữa.

(Truyện cổ dân tộc Ê đê)

13. CHÀNG ĐÁNH CÁ Y ANG (M’NÔNG)

Ngày xưa ở một buôn người M’Nông bên bờ sông Mê Công, có một chàng đánh cá

tên là Y Ang. Cha mẹ chết khi chàng còn nhỏ tuổi. Chú thím đến nhà Y Ang lấy cớ là phải

trông nom cháu bé, rồi ở hẳn lại đó, chiếm hết trâu bò, nương rẫy, chiêng ché của cha mẹ

chàng để lại. Không những thế, chú thím còn bắt Y Ang làm việc suốt ngày đêm nữa. Y Ang

phải đi chăn trâu, chăn bò, trồng nương, trồng rẫy. Lớn lên, chàng phải ra sông Mê Công

đánh cá để kiếm sống và nuôi béo chú thím.

Một hôm, Y Ang đi đánh cá như thường lệ. Chèo thuyền ra giữa sông, Y Ang trông

thấy một con cá lớn lượn lờ trước mũi thuyền, chàng vội buông tay chèo tung lưới. Bỗng một

cơn gió mạnh thổi tạt về phía sau, làm chiếc lưới bay ngược trở lại, chụp kín lấy chàng. Y

Ang định gỡ lưới ra, nhưng chàng càng giữ bao nhiêu thì lưới càng siết chặt lại bấy nhiêu.

Cuối cùng, bị lưới cuốn chặt, chàng ngã vào lòng thuyền. Lúc đó, chiếc thuyền tự nhiên theo

dòng nước vun vút lao đi. Trên không vẳng lặng, vẳng có tiếng hô : “Dô ta! Dô ta nào!” Y

Ang biết mình đã bị một vị thần nào đó trêu ghẹo, nên chàng nằm yên không vùng vẫy,

chàng thử kêu to nhưng không thể được, hình như có một vật gì đó nặng chặn lấy cổ chàng.

Chiếc thuyền cứ trôi, trôi mãi. Nhiều đêm, nhiều ngày trên mặt sông. Y Ang vừa mệt,

vừa đói, vừa khát, cuối cùng cũng lả đi trong thuyền. Lả đi không biết bao lâu, rồi anh chợt

tỉnh. Anh thấy hình như chiếc thuyền chạm đất. Nhưng mệt quá, tỉnh dậy rồi chàng lại thiếp

đi ngay.

Sáng hôm sau, có hai vợ chồng ông già đáng cá ra biển sớm. Hai ông bà thấy có chiếc

thuyền lạ gối đầu trên bãi biển. Họ đến gần xem. Trong thuyền có chiếc lưới cuốn chặt lấy

một xác người. Ông già bước vào thuyền để nhìn cho kỹ, thấy người vẫn còn thở, ông rút

dao đeo bên mình cắt lưới. Ông lấy nước vã lên trán cho chàng tỉnh lại.

Y Ang hồi tỉnh, mở mắt, ngơ ngác nhìn xung quanh. Nhưng mệt và đói quá, Y Ang lại

thiếp đi. Ông già bảo vợ về nấu cháo, đem ra đổ cho chàng. Nuốt được ít cháo loãng, Y Ang

tỉnh ra, một lát sau chàng ngồi được dậy. Ông già đỡ chàng ra cho chàng ngồi trên cát.

Chàng kể lại cho ông bà già nghe chuyện của mình. Chàng là người M’Nông, sống tận trên

bờ sông Mê Công. Do một chuyện lạ mà nay trôi dạt đến đây. Nói rồi, chàng lại đưa mắt

nhìn xung quanh, chàng hỏi:

- Thưa cụ, đây là ở đâu, là sông gì mà rộng quá? Chắc thuyền của cháu bị trôi đi xa

làng cháu lắm rồi.

- Cháu ạ, từ bé đến giờ, bác chưa nghe ai nói, có con sông nào tên là sông Mê Công,

vùng nào là vùng Ca Ra Chi Ê.

- Thế thưa cụ, sông này không phải là sông Mê Công sao?

- Không, đây là biển. Thế cháu không biết biển à?

Mới đầu Y Ang không tin là thật. Hồi còn ở nhà Y Ang có được nghe các cụ kể rằng

có một nơi nào đó có tên là biển, nhưng xa lắm, xa lắm. Hồi đó, nghe nói nước biển mặn,

đứng bờ bên này không nhìn thấy bờ bên kia. Y Ang cho rằng họ bịa ra để lừa bọn trẻ. Nay

thấy cảnh này đã rõ trước mắt, Y Ang đứng ngẩn người rồi như sực nhớ ra điều gì. Y Ang

chạy đến bờ biển, quỳ xuống vốc nước lên uống. Quả nhiên là nước mặn. Y Ang lại ngẩng

lên nhìn về phía trước mặt, chàng không thấy bờ bên kia. Đây đúng là biển rồi.

Y Ang chạy lại hỏi cụ già:

- Thưa cụ, thế đây là ở đâu ạ ?

- Đây là biển cháu ạ, chắc là xa chỗ cháu ở lắm đấy. Thôi cháu hãy về nhà lão mà nghỉ

ngơi đã, sau sẽ hay. Y Ang không còn cách gì khác tốt hơn là đi theo ông bà già về nhà. Hai

ông bà già này sống riêng biệt ở một túp lều trong một xóm chài bên bờ biển. Hai người con

trai của họ đã chết trong một trận đánh nhau với bọn cướp biển.

Ít lâu sau, hai ông bà nhận Y Ang làm con nuôi. Thấy Y Ang ngoan ngoãn và siêng

năng, hai ông bà yêu Y Ang như con đẻ.

Một hôm, hai ông bà đi chợ xa, giao cho Y Ang ở nhà trông nhà. Lúc sắp đi, bà mẹ dắt

Y Ang vào một góc nhà, chỉ vào một chiếc hũ mở miệng trong xó và dặn:

- Con ạ! Cái hũ này là từ thời các cụ xưa để lại, lâu lắm rồi bà nội mẹ dặn mẹ rằng :

“Ông thần làm ra các vua sống ở trong cái hũ ấy”. Vậy con ở nhà chớ có đụng đến nhé, nếu

nghịch ngợm thì vạ vào thân đấy.

Y Ang vâng lời mẹ ở nhà trông nhà. Một hôm, đã chập choạng tối, Y Ang nghe có

tiếng động ở bên ngoài, liền lấy ná xuống, định đi ra ngoài xem sao, không ngờ mũi tên gài ở

chiếc ná tuột ra, rơi xuống đúng miệng chiếc hũ. Trong lúc vội vã, Y Ang quên cả lời mẹ

dặn, thò tay vào hũ định lấy mũi tên ra. Nhưng chàng khua mãi trong hũ mà không thấy mũi

tên đâu, chỉ thấy có nước và dưới nước có một hòn gì như hòn đá cuội to bằng quả cà. Anh

lấy ra xem thì lạ thay, tay chàng đã nhuốm màu vàng chói. Chàng vội đi rửa tay, nhưng rửa

mãi mà không sạch. Y Ang sợ quá, mắt nhìn tay mình rồi lại nhìn hòn đã giữa nhà, một vầng

sáng lấp lánh tỏa ra từ hòn đá.

Bực mình, Y Ang nhặt hòn đá ném luôn ra ngoài. Thốt nhiên chàng nghe thấy có tiếng

trâu rống. Y Ang chạy vội ra thì thấy một con trâu buộc ngoài bờ dậu đang đứng khập

khiễng. Y Ang lại gần thì thấy đùi trâu có một lỗ thủng, máu chảy như suối. Gần đó, hòn đá

vẫn tỏa ánh sáng long lanh. Y Ang lại nhặt hòn đá lên, ngẫm nghĩ rồi vung mạnh tay ném

vào một gốc cây to. Bốp! một lỗ thủng to hiện ra ở thân cây! Y Ang chợt hiểu hòn đá ấy có

sức mạnh kỳ diệu. Chàng chạy lại nhặy hòn đá, cất vào bóc cẩn thận, lấy giẻ cuốn bàn tay bị

nhuộm vàng lại rồi đi ngủ.

Hôm sau, ông bà già trở về nhà, thấy tay Y Ang bị cuốn giẻ kín. Ông bà già hỏi thì

chàng nói dối là bị bỏng. Bà già muốn xem chỗ bỏng như thế nào nhưng Y Ang không chịu.

Chờ đến đêm, Y Ang ngủ say, bà cụ đến giường, nhè nhẹ cởi giẻ ở tay Y Ang ra. Lúc

ấy, bà mới rõ rằng tay Y Ang không bị bỏng mà chỉ nhuộm một màu vàng rực.

Bà cụ không nói gì, đi ra khẽ đánh thức ông cụ dậy. Bà bảo chồng:

- Ông nó ạ. Thằng Y Ang đã nhúng tay vào hũ nước thần mà không việc gì. Chắc là

thần phù hộ cho nó. Bây giờ tôi và ông phải lấy nước trong hũ tắm cho nó để nó có thêm sức

mạnh.

Da của Y Ang còn nâu đỏ như đồng hun, nhưng khi tắm nước trong hũ thì biến thành

một màu vàng rực rỡ. Trước kia, tuy sống với ông bà già nhưng Y Ang vẫn đóng khố, theo

lối ăn mặc của người M‘Nông. Từ khi da biến thành màu vàng thì Y Ang mặc quần áo để

mọi người không bàn tán về màu da kỳ lạ ấy. Y Ang xin cha mẹ cho đi chăn trâu ở một bãi

rộng thật xa, thật vắng. Chỉ ở đó, Y Ang mới dám cởi bộ quần áo ra cho thoải mái, dễ chịu.

Lần đầu tiên, trước khi Y Ang đánh chăn trâu đi, cha nuôi dặn kỹ:

- Con có trông thấy dãy đồi xa kia không? Sau cái dãy đồi ấy có một cái đầm lầy, và

bên cái đầm lầy ấy có một tòa lâu đài lớn. Con không được cho trâu đi qua dãy đồi đó.

- Con cứ tưởng ở gần đầm lầy mới có nhiều cỏ cho trâu ăn chứ ạ?

- Chết, con không biết, trong lâu đài ấy, lâu nay, nhà vua đang nhốt một nàng công

chúa. Ở đó có năm trăm con trâu, năm trăm con heo và năm trăm gà vịt. Đó là mồi để cúng

các Ác Long. Cứ bảy năm, vua phải dâng cho nó một lần như thế. Không làm như thế, con

Ác Long sẽ hại công chúa và mò đi khắp thế gian để hại người.

Thế là Y Ang đánh trâu đến tận chân đồi, cho đàn trâu tản mát gặm cỏ xung quanh đó.

Còn chàng, một mình leo dốc, sang tận đầm lầy. Ở đó, quả nhiên chàng thấy có một tòa lâu

đài lộng lẫy. Y Ang tò mò, muốn biết trong lâu đài đó có gì lạ. Liền tìm cách vượt qua đầm

lầy, vào tận lâu đài. Qua đầm lầy thì có đường dẫn tới đầm lầy. Y Ang không thấy một bóng

người nào đi lại. Lâu đài hoang vắng. Y Ang đi tận vào trong sân vẫn không thấy nghe tiếng

quát hỏi… nhưng từ trong lâu đài nghe có tiếng lợn eng éc, tiếng gà vịt quang quác. Y Ang

đi qua cửa thứ hai thì thấy có mấy trăm con trâu buộc ở sân trong. Ở đây cũng có hàng trăm

lồng gà vịt vất ngổn ngang. Y Ang đi sâu mãi vào. Những căn phòng rộng thênh thang không

có người ở. Cột nhà to mà cao vút, cánh cửa to, rộng chạm trổ cầu kỳ. Tất cả đều im lìm. Y

Ang xông vào mấy phòng nữa. Đến một phòng lớn ở cuối lâu đài, trang trí rất đẹp, Y Ang

thấy một người con gái tuổi độ hai mươi, đẹp vô cùng, ăn mặc sang trọng, ngồi ủ rũ trên một

chiếc giường, chiếu hoa sặc sỡ.

Chưa bao giờ, chàng thấy một cô gái đẹp như vậy. Mắt cô sáng tựa sao sa, da trắng

như thứ ngà quý của người Khơ Me. Chân tay nhỏ nhắn, mềm mại như cây lau, cây sậy mọc

bên bờ sông Mê Công. Y Ang không nói gì mà chỉ kêu lên một tiếng:

- Chao, người đâu mà đẹp thế?

Thiếu nữ ngửng lên, thấy người lạ mặt, rồi vội cúi xuống, mặt đỏ bừng. Cô gái cũng

chưa bao giờ thấy một chàng trai đẹp như thế. Y Ang đến chỗ người con gái để hỏi chuyện.

Cô gái bắt chuyện ngay. Y Ang kể chuyện mình. Cô gái cũng kể chuyện triều đình và chuyện

lâu đài bí mật. Đến chiều thì hai người đã thân quen nhau, mắt nhìn mắt, tay cầm tay. Trời

nhá nhem tối, đã đến lúc Y Ang phải trở về, cô gái bảo Y Ang:

- Em chỉ còn sống được bốn tháng nữa thôi. Đến tháng thứ năm con Ác Long sẽ đến

ăn thịt em. Cứ bảy năm một lần, cha em phải mang trâu bò, lợn gà cho nó cùng một người

con gái. Không làm như thế nó sẽ phá hết đất nước.

- Thế cứ để mặc nó sao?

- Lệ đã đặt ra như thế rồi, từ xưa đến nay và mãi sau này vẫn thế. Nếu không con Ác

Long không làm mưa nữa thì cả nước này phải chết vì hạn hán.

- Vậy cứ để nó làm mưa xong, mọi người mọi nơi đủ nước dùng rồi thì giết nó đi.

- Ồ, làm thế nào mà đủ sức giết nó.

- Tôi có đủ sức giết nó. Bây giờ tôi sẽ trở về quê tôi ở tận bên kia sông Mê Công nhờ

những người khổng lồ ở bên ấy sang giúp thêm một tay.

Công chúa rẫu rĩ nói:

- Nhưng khi anh đi xa thì làm sao mà em biết được tin anh?

- Không lo, tuy tôi đi xa, nhưng tôi sẽ có cách báo tin cho em được.

Nói rồi Y Ang ra sân vắt một chén sữa trâu, lấy bảy sợi chỉ treo lên và dặn công chúa:

- Nếu sữa trong chén biến thành màu đỏ thì anh đã gặp nguy. Nếu bảy sợi chỉ chùng

lại thì đó là anh gặp khó khăn nhỏ nhưng không ngại. Còn nếu sữa vẫn trắng, chỉ vẫn thẳng

thì mọi chuyện đều tốt lành.

Nói xong, Y Ang từ biệt công chúa ra về. Về đến nhà, Y Ang nói với cha mẹ nuôi là

chàng muốn trở về quê cũ vài ngày. Thấy Y Ang ngỏ ý muốn về quê, cha mẹ nuôi rất lo

lắng, hỏi:

- Đường sá xa xôi hiểm trở, nhiều rừng lắm núi, con đi làm sao được. Dọc đường hổ

báo ăn thịt con mất, đừng về một mình con ạ!

Y Ang nói với cha mẹ nuôi:

- Không sợ đâu bố mẹ ạ, con đủ sức vượt núi rừng, đủ sức giết con hổ, con báo cơ mà.

Bố mẹ cố giữ, Y Ang cố đòi đi. Cuối cùng bố mẹ phải chiều Y Ang. Bà mẹ nói:

- Nhưng làm thế nào bố mẹ biết được tin tức của con lúc con đi xa?

Y Ang lại đi lấy một chén sữa trâu, bảy sợi chỉ treo lên và dặn bố mẹ như đã dặn với

công chúa.

Bố mẹ chuẩn bị gùi, lương khô. Y Ang giắt hòn đá thần vào lưng khố, nhắm hướng

tây mà đi tới.

Y Ang đi hơn một tháng trời. Dọc đường gặp không biết bao nhiêu là thú dữ: hổ, báo,

voi, tê giác, gấu... nhưng nhờ tài lẩn tránh mà chàng thoát được. Ngày đi, đêm trèo lên cây

mà nghỉ, mệt thì hái thêm hoa quả, cuối cùng chàng cũng về đến quê nhà.

Thăm làng xóm ít ngày, chàng vội tới xứ sở của vua khổng lồ Y Ác.

Lâu đài Y Ác to và rộng, có mười tám lớp thành bao bọc vững chắc. Y Ang cầm viên

đá đi vào trong thành. Cổng thành đóng, chàng cầm hòn đá đập vào cổng, lập tức công thanh

mở ra. Cổng thứ hai chắc quá, chàng đập mạnh, cả cửa thành sụp đổ, một tiếng kêu rầm như

sấm làm chấn động đến tai vua. Y Ang càng đi vào, cổng thành càng thêm chắc, chàng càng

phải đập mạnh. Cả thành trì rung chuyển, đu đưa liên tiếp làm vua Y Ác một phen kinh

hoàng.

Y Ang đã đứng trước cửa chính của lâu đài, vừa định giơ tay đập cửa, thì thốt nhiên

cửa đã mở và một tiếng nói ầm ầm như lệnh vỡ nổi lên:

- Kẻ nào đến phá kinh thành của ta đó hử ?

Y Ang ngẩng đầu lên, vua khổng lồ đã đứng trước mặt chàng như một quả núi, trông

thật khủng khiếp, không đợi chàng trả lời, vua cầm con dao lớn bằng cánh cửa múa loang

loáng trên đầu Y Ang. Chỉ tiếng gió của thanh gươm đã làm Y Ang chao đảo.

Y Ang liền rút hòn đá trong bọc ra ném một phát trúng lưỡi gươm của vua khổng lồ.

Lưỡi gươm vỡ tan tành. Hòn đá còn rơi vào tường làm đổ một mảng tường lớn. Vua khổng

lồ nghĩ thầm:

- Thằng bé này khỏe quá nhỉ?

Lão hạ giọng, ồn tồn nói:

- Cháu đến đây làm gì vậy?

- Thưa bác, cháu đến đây phải qua mấy tháng đường, vượt qua bao hiểm nguy để xin

bác rèn cho cháu một thanh gươm đủ sức giết con Ác Long.

- Cháu thì làm sao mà vác nổi gươm của bác rèn và làm sao giết được con Ác Long?

- Đây là việc cháu nhờ bác. Sức cháu có làm được thì cháu mới dám nhờ.

- Thế cháu đã ăn cơm chưa? Đi ăn cơm với bác đã.

Vua Y Ác sai lâu la mang thức ăn ra, nào thịt chim, thịt trâu, thịt khỉ, thịt gà, thịt kỳ

nhông... không thiếu một thứ gì. Lại cho uống rượu nữa để thử sức vóc của chàng trẻ con

này.

Chàng ăn khỏe, uống khỏe chẳng kém gì bác.

Ăn xong, Y Ang bảo vua khổng lồ:

- Cháu rất vội, mong bác giúp cho.

- Được, nhưng cháu phải đốt lò cho bác rèn đấy!

Vua Y Ác nghĩ thầm: “Nếu nó đốt lò, cháy không to thì cũng là một thằng láo lếu,

mình phải tóm cổ nó ném luôn vào lò mà luyện cho thanh kiếm của mình tốt hơn một thể.

Nhưng Y Ang sau khi ném vỡ dao Y Ác đã nhặt lại cục đá cho vào bọc nên chỉ cần

giơ tay vẫy một cái ngọn lửa đã bốc lên cao vút. Lửa bén vào mái lá lò rèn làm cho gian nhà

bốc cháy ngùn ngụt. Vua Y Ác giật mình hét lên:

- Thôi, thôi, mạnh quá. Thằng bé ghê thật, oắt con mà khỏe thế. Thôi cháu nghỉ đi để

mấy đứa người nhà của bác làm cho, chúng nó quen việc hơn.

Bọn người nhà Y Ác kéo đến, đứa phùng mồm thổi lửa, đứa hì hục thụt bễ. Chẳng

mấy chốc sắt đã chảy thành nước, nước sắt chảy vào một cái khuôn.

Y Ang ngạc nhiên, đứng há hốc mồm mà nhìn. Ở vùng Y Ang người ta dùng toàn đồ

gỗ, đồ đá, ở vùng cha mẹ nuôi thì dùng toàn đồ đồng, đồ thau. Còn việc làm cho sắt chảy ra

thành nước, nước sắt chảy thành một suối lửa như thế này thì bây giờ Y Ang mới thấy đây là

một.

Đúc xong, Y Ác khiêng thỏi sắt cho vào lò luyện. Nung đỏ sắt lên lại cho ra để lên đe

đập. Thỏi sắt to mấy sải tay vòng dần co lại bằng cây luồng, cây cột. Một nhát búa hạ xuống

là lửa lại tóe ra như sao. Rèn kiếm xong, Y Ác ném xuống một hồ nước để tôi. Một luồng

hơi nóng bốc lên, cả hồ nước sôi sùng sục, cá chết trắng mặt hồ. Vua đưa kiếm cho Y Ang:

- Cháu chém thử vào hòn đá trước mặt.

Y Ang cầm kiếm phạt mấy cây cổ thụ trước mặt như chém chuối rồi bập vào tảng đá,

lửa tóe ra, hòn đá vỡ làm hai mảnh ngọt như chém bùn.

Y Ang từ biệt vua Y Ác ra về.

Về đến nhà, ba mẹ nuôi mừng rỡ vô cùng:

- Chắc con đi đường gặp nhiều nguy hiểm lắm phải không? Đã bao lần dây chỉ chùng

rồi lại thẳng, thẳng rồi lại chùng. Mẹ lo quá, mẹ sợ quá.

Hôm sau, Y Ang xin đi chăn trâu như hồi trước. Người cha nuôi dặn dò như trước kia

đã dặn.. Y Ang vâng dạ cho qua chuyện rồi đuổi đàn trâu đi ra đồi. Trâu đến chân đồi, chàng

chạy một mạch tới lâu đài. Công chúa ngày càng rầu rĩ. Sắp đến ngày con Ác Long đến ăn

thịt. Giữa lúc đó thì Y Ang đến. Công chúa vừa khóc vừa nói:

- Ngày mai, ngày mai thôi, con Ác Long đến. Ngày mai em sẽ chết…

Y Ang mỉm cười:

- Ngày mai em sẽ sống và cả dân mình cũng sống chứ. Ngày mai anh sẽ đến đây với

em. Em đừng sợ.

Ngày đó đến, Y Ang đến sớm hơn giờ hẹn với công chúa. Hai người đang trò chuyện

với nhau thì nghe gió ào ào, bóng Ác Long che rợp cả góc trời. Công chúa sợ quá ngất đi.

Y Ang thấy thế ôm công chúa vào lòng:

- Em ơi! Tỉnh dậy đi, đừng sợ. Anh sẽ giết nó như giết một con nai. Dậy mà xem, tỉnh

lại mà xem!

Y Ang vừa nói xong thì cả tòa nhà chìm trong bóng tối. Con Ác Long che hết ánh

sáng. Trông nó thật gớm ghiếc. Cái mồm rộng phun khói phì phì, khói ẩm và thối. Răng nó

dài như sừng tê, lưỡi dài như vòi voi. Trên mình nó bao nhiêu là vẩy. Vẩy cọ vào nhau như

tiếng sắt cọ sát. Mắt nó phóng ra hai luồng ánh sáng. Luồng sáng bắt gặp công chúa chết

ngất trên giường.

- A ha, của kia ăn được đấy. Nhưng là thứ tráng miệng, ta đi ăn trâu, bò, lợn, gà đã.

Nói xong con Ác Long quay ra sân, loáng một cái nó nuốt chửng một con heo. Y Ang

lững thững đứng trên đỉnh lâu đài nhìn con Ác Long. Nó đớp con trâu một nhát, xương xẩu

qua răng nó tuồn ra ngoài như một cái cào cào trên nương rẫy. Nó cuốn một lúc, chừng như

cơn đói đã thỏa, nó nằm lăn ra. Bỗng nó trông thấy Y Ang đứng trên cao:

- À, lại thêm một món tráng miệng nữa. Nhà vua chu đáo thật đấy!

Nói rồi, nó rướn cổ thè lưỡi liếm vào người Y Ang. Y Ang ngồi yên không động đậy.

Chàng quát lên:

- Đừng động vào người tao, mày ăn no chưa? Xong chưa? Đủ sức thi với tao chưa?

Tao còn chờ mày đây?

- Hả, hả, mày nói gì oắt con?

- Bây giờ mày phải hút thuốc thi với tao.

Y Ang liền bê ra mầy gùi thuốc. Ác Long không hiểu đó là những món ăn gì. Nhưng

nghe nói là thi nhau thì cứ thi. Y Ang tống vào mồm nó mầy gùi, nó ngai trệu trạo. Y Ang

đốt lửa, thuốc bốc cháy, khỏi tỏa mù mịt. Khoái trá, Ác Long thở khói ra đằng mũi, đằng mắt

và cả đằng tai nữa. Nó say thuốc, cái đầu nó lắc lư. Y Ang cầm hòn đá, nhằm giữa đầu nó mà

ném. Choang một cái, sọ nó tung ra, óc nổ bùng như tiếng trống. Con Ác Long chết, Y Ang

cầm kiếm chặt làm ba khúc. Cả ba khúc đều quằn quại lăn đi lăn lại tìm nhau để chắp lại,

nhưng Y Ang đã đá bắn cái đầu vào một góc thật xa.

Y Ang vào lay công chúa dậy. Công chúa vẫn mê man, chàng phải cắt một đoạn khố

của mình đốt cháy cho công chúa uống, công chúa mới tỉnh lại.

Y Ang từ biệt công chúa ra về. Công chúa nắm chặt lấy đuôi khố Y Ang không cho

chàng về. Chàng cắt đứt khố và chạy ra ngoài.

Đã quá ngày hẹn với Ác Long mà trời không mưa, vua sai mấy tên bộ hạ đến tòa lâu

đài xem xét. Tên nào cũng sợ, nhưng lệnh vua thì không thể sai được. Bộ hạ đi về kể lại mọi

sự việc cho vua nghe, vua thân chinh đến lâu đài thị sát.

Đi từ xa vua đã ngửi thấy mùi hôi thối, vua biết chắc là không có gì nguy hiểm nữa.

Vào lâu đài, thấy xác Ác Long bị chặt làm ba khúc, máu của nó chảy ngập sàn. Vua

lội trên máu của nó đi vào chính điện. Con gái vẫn sống, nhà vua vui mừng khôn siết. Vua

hỏi con gái:

- Ai đã giết con Ác Long trừ họa cho con, cho dân?

- Khi con quái vật đến, con sợ quá, con chết ngất. Lúc tỉnh dậy con thấy sự tình như

thế này. Con sợ quá, con cứ nằm nguyên ở đây. May hôm nay cha đến. Xin cha, đón con về

với cha.

Bọn lính nhặt được mẩu khố đưa cho vua. Vua đoán mẩu khố ấy là của người giết Ác

Long, liền bảo bọn lính cất giữ cẩn thận để sau này tìm người anh hùng đó.

Lệnh tìm người giết Ác Long truyền đi khắp nơi. Từ các vùng núi Trường Sơn xa xôi

đến các miền đồng bằng bao la, người Kinh, người Chàm, người Êđê, Gia Rai, Xê Đăng, Giẻ

Triêng… lũ lượt kéo đến. Lắm người láu lỉnh cắt ra một mảnh khố của mình vứt đi, rồi đến

nhận mẩu khố trong tay vua là mẩu khố của mình. Nhà vua cũng không kém khôn ngoan.

Vua bảo từng người một vần thử cái đầu con Ác Long thì không ai đủ sức lay chuyển đi một

gang tay. Thấy vậy, nhà vua sai các quan đi báo tin sang tận người Khơ Me, người Lào đến

người Thử. Nhưng vẫn vô hiệu. Nhà vua nói các quan trong vòng một tuần nữa phải kiếm

cho ra người đã giết con Ác Long, nếu không tìm được nhà vua sẽ giết tất cả bọn họ. Các

quan lo lắm, sai bọn lính đi khắp nơi nhưng cũng không thể nào tìm ra được con người đó.

Một hôm chàng Y Ang động lòng nhớ tới nàng công chúa mà chàng đã cứu sống.

Chàng chát bùn vào người rồi lững thững đi qua lâu đài để tìm cách gặp nàng công chúa xinh

đẹp. Y Ang đang đi trên đường thì tình cờ một tên lính trông thấy dây khố của chàng bị cụt

mất một mẩu, liền gọi lại và dẫn chàng vào gặp nhà vua. Nhà vua đưa chàng đến chỗ để đầu

con Ác Long và nhờ chàng mang giúp đi nơi khác. Y Ang không ngờ đó là mẹo của nhà vua.

Chàng xách đầu con Ác Long nhẹ như người thường xách cái đầu lợn.

Nhà vua và mọi người xung quanh đều reo hò ầm ĩ thán phục. Nhưng thấy Y Ang bẩn

thỉu quá nhà vua mới bảo nhỏ tên cận thần:

- Người nó bẩn thỉu, nhà ngươi đưa nó ra suối tắm đi.

Viên cận thần khẩn khoản mời đi, Y Ang mới chịu đi tắm. Khi Y Ang về tất cả mọi

người đều ngạc nhiên. Trước mặt họ là một con người có màu da vàng chói.

Nhà vua sai đưa công chúa ra chào Y Ang. Vừa trông thấy Y Ang, nước mắt công

chúa đã tràn ra. Công chúa không nói lên lời, quỳ xuống dưới chân chàng khóc nức nở. Nhà

vua đã tìm được người giết quái vật, cứu con mình liền gả công chúa cho Y Ang.

Hai vợ chồng từ biệt vua, đem nhau trở về rừng núi, sinh sống, làm ăn.

Y Ang dẫn công chúa về thăm bố mẹ nuôi, rồi trở về quê, cùng người M’Nông đi lấy

sắt, mở lò đúc lưỡi cày, lưỡi cuốc, rèn dao gươm.

Hai vợ chồng sống giữa núi rừng cùng với những người M’Nông thật thà cởi mở và dũng

cảm.

(Truyện cổ các dân tộc Trường Sơn Tây nguyên)

14. Y RÍT VÀ Y RON (BANA)

Y Rít và Y Ron là hai anh em mồ côi cha mẹ. Người anh có sức khỏe lạ thường. Một

mình anh làm nương thì hàng trăm người theo không kịp. Hàng ngày, hai anh em đi làm

mướn nuôi nhau. Tuy nghèo khổ nhưng hai anh em rất thương yêu nhau, cùng nhau nhường

cơm sẻ áo. Trong buôn ai cũng khen hai anh em là người tốt bụng.

Tháng mười, trời nhiều mưa, nước lũ tràn ngập khắp nơi. Hai anh em rủ nhau đi câu

cá. Câu một buổi sáng mà chẳng con cá nào chịu đớp mồi. Buồn quá, hai anh em bèn chui

vào một hốc cây cao, ôm nhau mà ngủ. Mặt trời lệch bóng, Y Rít tỉnh giấc kéo em dậy rồi rủ

nhau vào tận hang thẳm rừng sâu. Đến nơi, Y Rít thấy có một vũng nước lớn đen ngòm bèn

bảo em mắc mồi thả xuống. Lạ thay, mồi vừa thả, cá đớp ngay. Chỉ một lát, hai anh em đã

câu được gần đầy hai giỏ toàn những cá to. Mặt trời đã tụt xuống đến đỉnh núi, nhưng hai

anh em thấy nhiều cá nên vẫn mải mê ngồi câu. Đang ngồi nhìn mồi, Y Rít bỗng thấy Y Ron

rú lên và ồm chầm lấy mình. Y Rít hỏi, Y Ron chỉ tay ra phía sau, Y Rít nhìn theo thì thấy từ

trong hang tối ẩm ướt cạnh vùng lầy, một con rắn độc thò cái đầu to bằng đầu voi, há cái

miệng chơm chởm những nanh nhọn hoắt và thè cái lưỡi đỏ hỏn dài đến cả hai sải tay, đang

định cắn anh em. Nhanh như cắt, Y Rít rút rựa chặt đứt đầu lưỡi của rắn độc. Bị đánh bất

ngờ, rắn hoảng hốt chui đầu vào hang. Hai anh em tiếp tục ngồi câu như không có gì xảy ra.

Được một lát, hai anh em bỗng nghe có tiếng khóc thảm thiết, văng vẳng ở phía sau.

Y Rít định rút rựa chạy tới, Y Ron ngăn lại và nói:

- Đừng anh ạ. Hôm qua em nghe bà con nói trong buôn bàn tán rằng: “Đúng ngày

trăng tròn, khi nước lũ tràn về, nước hồ dâng lên, nhà vua phải nộp đủ hai nàng công chúa

xinh đẹp cho rắn độc ăn thịt”.

Y Rít lấy làm lạ, hỏi:

- Sao nhà vua không bắt con gái trong buôn đi thay?

Y Ron trợn mắt đáp:

- Không được, nó chỉ thích ăn thịt con gái vua thôi, nộp con gái trong buôn nó không

chịu, nó sẽ cắn chết cả buôn, không một ai sống sót.

- Thật không?

- Thật!

Nghe em nói vậy, Y Rít vung rựa lên:

- Nếu đúng thế, chúng ta phải đi cứu ngay hai cô gái con vua mới được.

Nói rồi, Y Rít kéo em cùng rẽ cây vạch lá tìm đến chỗ hai công chúa. Đang than

khóc, nghe tiếng động, hai chị em công chúa nín bặt, mặt tái đi, quay lại. Nhận ra hai chàng

trai trẻ, hai chị em vừa sợ vừa thẹn vội cúi mặt xuống. Y Rít bèn vung rựa chặt đứt hết dây

trói, rồi bảo em cùng đỡ hai cô gái dậy, rồi bảo hai cô gái đi về ngay trong khi rắn độc chưa

biết. Hai chị em được cứu thoát, cảm động không biết nói gì, đành quay về. Hai cô vừa đi

vừa ao ước sẽ được gặp lại hai chàng trai dũng cảm và tốt bụng.

Ở trong hang, rắn độc đánh hơi thấy mất mồi thì cuộc khúc lao ra, nhằm thẳng hai anh

em Y Rít, Y Ron mà bổ tới. Y Rít nhảy lộn lại phía sau chém một nhát đứt đuôi rắn. Rắn vặn

mình răng rắc, cuộc khúc rồi lại vươn cổ há miệng, thè lưỡi lao thẳng vào mặt Y Rít định cắn

chết. Ở phía sau, Y Ron thừa cơ băm một nhát, thân rắn đứt đôi. Rắn càng hăng tiết, trợn hai

mắt xanh lè và há miệng đỏ lòm, phun nọc độc ra phì phì. Hơi độc bốc mù mịt, Y Rít nhanh

như cắt, nhằm thẳng đầu rắn bổ xuống một phát mạnh như sét đánh. Đầu rắn bị bổ làm hai

mảnh. Rắn vỡ đầu, giãy chết. Anh em Y Rít, Y Ron bèn chém thêm mấy nhát rồi kéo xác rắn

vứt xuống suối. Trên mặt suối từng khúc xác rắn nổi lềnh bềnh, máu bỏ tanh thối tuôn ra,

làm dân buôn phía dưới dòng mấy ngày không uống được nước. Mặt trời đã lặn hẳn, hai anh

em Y Rít, Y Ron bấy giờ mới gánh cá về, vừa đi vừa nghĩ đến hai cô gái xinh đẹp, không

biết giờ đây đang ở nơi nào. Lại nói hai chị em công chúa được hai anh em Y Rít cứu thoát,

vội vã chạy về. Đến nhà, dân buôn và nhà vua trông thấy hai nàng vừa mừng vừa lo. Khi

nghe hai con kể lể đầu đuôi thì nhà vua tái mặt đi. Sợ rắn độc trả thù, vua bèn hạ lệnh cho tất

cả quân lính và dân buôn phỉa mang khiên đao và tên nỏ cùng rìu rựa ra đứng vây quanh

buôn sửa soạn đánh nhau với rắn độc. Nhưng chờ suốt đêm không thấy rắn độc đến , dân

buôn cũng đã mừng, nhưng rồi lại lo đến sáng hôm sau, khi mặt trời mọc cao, dân buôn mới

thấy chỉ có hai chàng trai đang gánh gì rất nặng từ xa đi đến. Chờ hai người đến gần, họ

xông ra bắt, giải vào nộp vua. Vua chưa kịp hỏi, hai người đã cùng nói:

- Hai anh em tôi là Y Rít và Y Ron đi câu cá ngon, định gánh vào đây bán cho vua,

nhưng không hiểu tại sao lại bị bắt trói thế này.

Hai công chúa đang ở trong nhà trông ra nhận được hai chàng trai đã cứu mình hôm

qua, bèn nói với vua cha. Nghe hai con kể chuyện nhà vua càng sợ rắn độc đến trả thù. Y Rít

hiểu rõ chuyện bèn thuật lại chuyện giết rắn độc. Vua nghe xong nửa tin nửa ngờ, bèn sai

một trăm người mang đủ giáo mác và dây thừng vào rừng xem có thật thì khiêng đầu rắn về.

Tất cả vua và dân buôn đều hồi hộp chờ đợi. Đến chiều, quả nhiên đoàn người đã ì ạch

khiêng được đầu rắn về. Vua và dân buôn trông thấy rõ ràng rắn độc đã bị giết, tất cả đều reo

mừng ẩm ĩ. Ai cũng cảm phục và khen ngợi hai anh em Y Rít, Y Ron tài giỏi. Để đền đáp

công ơn to lớn của hai anh em chàng, vua liền gả hai công chúa cho hai anh em.

Hôm sau, một đám cưới to nhất từ xưa tới nay bắt đầu trong tiếng chiêng chống và tiếng

reo mừng vang dậy trời đất. Hai anh em Y Rít và Y Ron từ đấy sống hạnh phúc bên người

hiền xinh đẹp.

(Truyện cổ Bana)

15. CHUYỆN BA CHÀNG DŨNG SĨ (BANA)

Ở làng kia, có một bà mẹ rất chăm làm. Mờ sáng khi chim mơ – lang vừa cất tiếng

hót thì đã thấy bà rời làng lên nương rồi. Bà cặm cụi làm việc cho đến khi ngôi sao Bắc đẩu

lấp lánh trên cao, mới lại trở về làng.

Một hôm, đang làm rẫy, bà bỗng thấy trong người choáng váng khó chịu, côt họng

khô như lửa đốt. Bà vội tìm đến chiếc chòi giữa rẫy, nhấc ống nước định uống. Nhưng không

hiểu sao, nước trong ống đã cạn khô, chẳng còn lấy một giọt. Cơn khát hành hạ bà mẹ. Bà

đảo mắt nhìn quanh để tìm nước uống. Chợt thấy xa xa từ khe núi có một dòng nước đang

nhỏ giọt. Bà mừng rỡ, vội vã rảo cảng chạy tới. Đó là một quả núi giống hệt như hình một

người đàn ông to lớn đang cầm chà – gạc ngó lên trời. Nước từ trên đỉnh đầu hình người

chảy ra. Những giọt nước trong vắt và mát lạnh. Bà ngửa cổ, vừa uống ba ngụm đã thấy cơn

khát dịu ngay, cổ họng còn đọng mãi vị thơm ngọt của dòng nước lạ.

Tối hôm đó, trở về nhà, bà thấy trong người khang khác. Bà đã thụ thai.

Nhưng chín tháng mười ngày rồi mà bà vẫn chưa thấy đẻ. Một năm, rồi hai năm, ngày

sinh vẫn chưa tới. Mãi cho đến năm thứ ba, vào một ngày mà mặt trăng và mặt trời gặp nhau,

tỏa ánh sáng vàng dịu dịu, bà mẹ mới trở dạ đẻ. Bà sinh được một lúc ba đứa con trai bụ

bẫm, kháu khỉnh, giống nhau như lội.

Ngày tháng qua, ba đứa trẻ lớn dần. Từ đấy, núi rừng có thêm ba chàng trai khỏe

mạnh nhất. Cánh tay họ cứng như sắt, có thể bẻ gãy cây to như ngắt ngọn cỏ. Cặp chân họ

chạy nhanh như gió, một bước nhảy, vượt băng một cánh rừng. Mắt họ sáng, nhìn xa hơn

mắt chim ưng.

Thấy các con đã khôn lớn, một hôm bà mẹ bảo họ: “Đất trời mình còn rộng lắm. Các

con hãy chia nhau đi các ngả mà làm ăn đi. Lâu lâu thì về thăm mẹ.!” Nghe ra, ba chàng trai

cúi đầu từ biệt mẹ, lên đường.

Người em út theo hướng mặt trời mọc mà đi. Đường đi mỗi ngày một xuống thấp. Và

rồi thì đồng bằng bát ngát, bể khơi mênh mông sóng nước hiện ra. Người em út ưng miền đất

đẹp này lắm và chọn nơi ấy làm chốn ở của mình. Từ đó, ngày tắm nước bể trong xanh, đêm

nằm dài trên cát mịn, da dẻ chàng thay đổi dần, trắng trẻo như cục bột. Người ta gọi là chàng

Ngọc.

Người em thứ hai theo hướng mặt trời lặn mà đi. Đất dưới chân cứ nâng cao dần.

Rừng rừng trùng điệp hiện ra. Và núi non hùng vĩ nhô lên như chào đón chàng. Gặp một khe

suối nước chảy óng ánh như màu đồng hun, chàng cởi áo lội qua bờ bên kia. Dòng nước kỳ

lạ ấy đã làm cho người em thứ hai khi từ khe nước bước lên thay đổi hẳn màu da, trở thành

ngăm ngăm đen hệt như màu nước. Thấy đất ở đấy màu mỡ, người em thứ hai dừng chân ở

lại, dựng trại làm ăn. Từ đó người ta gọi chàng là chàng Lèo.

Còn người anh cả ở giữ quê hương. Chàng dựng lên một chíếc nhà rông cao ngất trời,

mái nhà cong vút chấm tới mây, cột nhà dựng san sát như cây rừng. Chàng sống ở đó, trông

nom núi rừng cho suối đánh đàn, cho hoa nhảy múa, cho muôn thú và gió lộng hát ca…

Nhưng một hôm, bỗng có một con xà tinh không biết từ đâu vụt hiện đến. Mình nó

lớn cả bằng một dãy núi, nó có cánh để bay vút lên trời, lại có vây để lặn sâu xuống nước.

Nhưng lợi hại nhất là ba viên ngọc ước của họ nhà trời mà xà tinh ăn cắp được, đem về cất

giấu trong chiếc túi tròn, đeo ở bên nách phải của nó. Hòn ngọc thứ nhất màu xanh biếc, khi

giơ ra thì giông bão nổi lên, gió gào thét điên cuồng, thổi bật đi từng khu rừng một. Hòn

ngọc thứ hai màu trắng nhạt. Cầm đến nó thì lập tức sóng nước cuồn cuộn dâng trào, cuốn

trôi băng cả hàng chục làng. Hòn ngọc thứ ba màu đỏ chói, khi tung lên thì khói lửa rừng rực

bốc lên, thiêu trụi hết mọi vật. Xà tinh đã dùng ba viên ngọc ước này để tàn phá tất cả những

miền mà hắn đi qua.

Một hôm xà tinh hiện đến quê hương của ba chàng trai, hắn đi đến đâu, cây rừng

nghiêng ngả, gió rú ào ào, khói mây bay mù mịt đến đó. Người anh cả thấy có chuyện lạ, vội

từ trong nhà rông bước ra, một tay cầm cây khiên đính lục lạc đồng, một tay cầm con dao

nhọn sắc như nước.

Xà tinh trông thấy vẻ hùng dũng của người anh cả thì cũng có ý chờn. Nó thò tay vào

túi, bốc viên ngọc xanh biếc ra, tức thì giông bão ầm ầm nổi lên ngay. Cây bật rễ, đá bay ào

ào. Thấy xà tinh bỗng dưng tác yêu tác quái, tàn phá quê hương mình, người anh cả nổi giận,

lao ngay tới trước mặt hắn, vung mạnh tay khiên, xô bạt cơn giông của xà tinh đi.

Sau nửa ngày đánh nhau kịch liệt, xà tinh đuối sức hết hơi phải thu ngay viên ngọc

xanh lại. Nó tức giận gầm lên một tiếng inh trời rồi nhấc viên ngọc trắng nhạt ra. Lập tức, cả

một bể nước ập tới, phủ kín núi rừng. Lợn lòi, chồn, rắn nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Trước

sức mạnh ghê gớm của nước lụt, người anh cả hết phương chống cự. Chàng chạy vội lên

ngọn núi cao nhất của quê hương, quờ cây khô, dồn lá héo, chất thành một đống lớn, châm

lửa đốt lên. Ngày trước, lúc chia tay lên đường, ba anh em đã hẹn ước với nhau rằng bao giờ

có giặc hay gặp nguy nan, người anh cả sẽ dùng lửa đốt trên núi cao để báo hiệu gọi các em

về, hễ một ngọn lửa là gọi em út, hai ngọn gọi em thứ hai.

Thấy một ngọn lửa nơi quê mẹ bùng cháy, chàng Ngọc, lúc đầu ngỡ là ấnh sáng mặt

trời rọi lên, chẳng để ý tới. Nhưng ánh lửa mỗi lúc cháy một to, ngọn lửa lắc lư như vẫy gọi,

chàng Ngọc biết là lửa của anh cả gọi mình, bèn chạy một mạch như bay về quê hương.

Tới làng cũ, nhìn thấy núi rừng tiêu điều xơ xác, chàng Ngọc vô cùng căm giận, ngày

đêm ngồi bên suối nghĩ kế trừ xà tinh. Một buổi sáng, chàng Ngọc từ biệt anh, đi thẳng vào

sào huyệt của yêu quái. Thấy người chàng Ngọc trắng trẻo, xà tình gầm gừ quát tháo:

- Hỡi con thỏ trắng kia, mày mang da đến đây cho tao lột phải không?

Chàng Ngọc dũng cảm thét vào mặt nó:

- Ta đến tìm mày để hỏi tội đây. Thần nước ở quê ta, ta còn trị được nữa là vũng nước

chân trâu hôi thối của mày.

Xà tinh giận lắm, không làm gió, nó bốc ngay viên ngọc trắng ra. Lập tức sóng ngàn,

nước cả hiện ra trắng xóa một vùng. Nhanh như chớp, chàng Ngọc co mạnh tay, giậm mạnh

chân xuống đất. Tức thì từ trong lòng đất nổi lên một bức thành dài dằng dặc. Lớp thành đất

vững chắc như thép nhô cao mãi lên, vây chặt lấy bể nước rồi khép chặt lại. Dòng nước hung

dữ cố phá vỡ bức tường thành để vượt ra ngoài nhưng không nổi. Nước ngày một cạn đi. Xà

tinh yếu thế vội thu viên ngọc trắng lại và giở viên ngọc đỏ chói ra. Lập tức, khói bốc lên mù

trời, lửa cháy rừng rực, cây cháy thành than. Nước suối sôi ùng ục. Người em út không trị

được nạn lửa ghê gớm ấy đành phải chạy về dưới biển.

Thấy nguy khốn, người anh cả lại chạy lên núi cao, chất hai đống lửa lớn, gọi người

em thứ hai về cứu. Chàng Lèo trông thấy hiệu lửa liền nhằm hướng lửa mà chạy như gió,

chẳng quản ngày đêm. Chàng Lèo thẳng đến hang xà tinh. Gặp nó đang mài vuốt trước cửa

hang, chẳng rằng, chàng Lèo nhằm mặt nó phóng một ngọn lao mạnh như sấm sét. Biết là

dòng họ dũng sĩ lại đến, xà tinh liền tìm cách thử tài. Lùi lại tránh mũi lao, hắn bốc một nắm

lá, niệm thần chú rồi tung lên trời. Lập tức một đàn ong vò vẽ hiện ra, vù vù xông tới. Chàng

Lèo bình tĩnh tháo bông hoa cài trên đầu, cắm nhẹ xuống đất. Tức thì một cánh rừng, những

bông hoa muôn sắc tỏa ra rồi dệt lại thành một tấm thảm đẹp tuyệt vời. Đàn ong bén mùi mật

hoa, sà cả xuống đen nghịt. Chúng chui vào các bông hoa để hút mật. Bỗng nhiên các bông

hoa rùng mình, khép luôn cánh hoa lại, nhốt chặt đàn ong ma quái ở bên trong. Thấy phép

thuật của mình đã bị hại, xà tinh gầm lên bốc viên ngọc đỏ chói ra, thét:

- Đến phép này thì mày cũng phải chạy như hai tên nhãi trước thôi.

Thấy ngọn lửa ngùn ngụt bốc cao, cháy hừng hực, dữ tợn, chàng Lèo liền cởi ống

nước phép đeo trên lưng, trút xuống đất. Nhưng tia nước mát dượi loang ra rồi bỗng dâng to,

thành một màng lưới suối nước khổng lồ bao lấy lửa. Chẳng bao lâu lửa của xà tinh bị các

suối nước mát rượi làm cho tắt ngấm hết. Bị thua, xà tinh càng điên cuồng gầm thét. Hắn thu

viên ngọc đỏ lại và vung viên ngọc trắng ra. Lập tức sóng nước dâng lên cuồn cuộc, mưa xối

ào ào như nước chảy trong ống. Nước dâng lên rất nhanh khiến người em thứ hai không tài

nào chống nổi, đành lại phải theo hướng mặt trời lặn mà chạy về núi.

Người anh cả thấy các em mình không trị được xà tinh thì lo lắng lắm. Suốt ngày

chàng ngồi im, không cười, không nói. Dân làng thấy vậy cũng rất lo. Họ liền họp sức nhau

lại, góp công đóng một chiếc thang thật dài, bắc qua sông, bảo người anh cả leo lên hỏi Trời

xem có phép gì giúp dân làng giết được xà tinh không. Người anh cả leo thang lên trời ngay.

Sáng hôm ấy, Trời ngủ dậy muộn. Vừa mở mắt đã thấy người anh cả quỳ ở trước mặt, thưa

rõ đầu đuôi câu chuyện và xin Trời giúp cho cách đánh xà tinh. Suy nghĩ một lát, Trời gật gù

bảo:

- Con xà tinh này quả có lắm phép. Nhưng tài trí của các cháu cũng không kém gì nó

đâu. Chỉ vì các cháu chưa biết họp sức lại mà đánh, nên mới trị được phép này nó lại giở

phép khác. Thôi bây giờ cháu trở về núi cao, đốt lửa gọi hai em đi! Cả ba anh em cùng họp

sức nhau đánh thử xem. Nếu thua thì ta sẽ bày cho cách khác.

Người anh cả nghe lời Trời, trở về núi cao đốt lửa gọi hai em lần nữa. Ba anh họp

nhau lại cùng với dân làng, chia làm ba ngả kéo thẳng đến xào huyệt của xà tinh.

Xà tinh đang gục đầu ăn gan trâu trắng, uống rượu đen chợt thấy ba chàng dũng sĩ

đứng chặn ngay ở trước cửa hang, liền gầm gừ trong cổ họng.

- Kìa, ba con thỏ non lại kéo đến nộp mạng rồi. Đợi đấy, ăn uống xong ta sẽ hỏi tội

chúng mày.

Người anh cả đáp lại, giọng to như tiếng cồng vang:

- Yêu quái, hôm nay mày sẽ phải đền tội. Mày đã tàn phá rừng núi này, giết hại dân

làng này, giờ đây họp sức nhau lại, anh em ta sẽ trị tội mày.

Xà tinh giận lắm. Nó nhảy ra khỏi hang giơ viên ngọc xanh ra. Dông bão nổi lên.

Nhanh như chớp, người anh cả vung tít chiếc khiên, giơ đằng đông núi đằng đông sạt, giơ

đằng tây núi đằng tây đổ. Chiếc khiên quay tròn, cuốn gió thổi bạt cả dông bão của xà tinh

đi. Xà tinh thua trận đầu, vội giở ngay viên ngọc trắng ra. Nước lũ ào ào tràn tới. Người em

út chạy lao ngay ra giữa dòng nước, giơ cao kiếm, giậm mạnh chân xuống đất. Tức thì lớp

lớp thành lũy nổi lên, bủa vây và nhốt chặt bể nước lại. Xà tinh thất bại, hấp tấp bốc vội ngay

viên ngọc đỏ ra. Khói lửa cuộn đến, cháy ngút trời. Nhanh như cắt, người em thứ hai trút

ngay ống nước phép xuống đất. Những dòng nước nhỏ trong chốc lát biến ngay thành trăm

ngàn con rồng bằng nước lạnh, uốn khúc, lấp loáng bám lấy bể nước. Lửa lụi dần và tắt

ngấm.

Thấy mất trọn cả ba phép lạ, xà tinh cuống cuồng toan chạy trốn ra bể. Nhưng chàng

Ngọc đã lăm lăm thanh kiếm chặn ngay mất đường. Xà tinh hoảng sợ quay đầu chạy lên núi.

Nhưng chàng Lèo đã chống ngọn lao đợi sẵn ở đấy. Bí thế, xà tinh toan bay trốn lên trời.

Nhưng nhanh như cắt, người anh cả đã nhảy vọt tới, vung con dao sắc như nước xả tới tấp

vào mình nó. Xà tinh gào thét giãy giụa chuyển cả rừng, rung cả núi. Cuối cùng kiệt sức nó

lăn ra chết, hóa thành dãy núi Róc – ron lởm chởm, nứt nẻ, lồi lõm, cằn cỗi, màu đất chết.

Từ đấy núi rừng Tây Nguyên trở lại cảnh thanh bình ngày trước. Nương đầy lúa, rẫy

đầy khoai, sông đầy cá, bờ suối khoe sắc hoa vàng, hoa đỏ. Ba chàng dũng sĩ lại chia tay

nhau, kẻ xuống hướng đông, người lên hướng tây làm ăn. Người anh cả ở lại rừng, dựng nhà

rông cao hơn, đẹp hơn xưa để giữ gìn quê mẹ. Hàng năm em út gánh muối biển lên cho hai

anh, người em thứ hai cõng chiêng, mền về cho anh cả. Còn anh cả thì chia cho các em gỗ

quí, mật ong, thịt rừng, nếp thơm.

Cho đến nay, đồng bào Tây Nguyên còn truyền tụng rằng: người anh cả có tài múa

khiên bạt gió đó là người Tây Nguyên. Chàng Ngọc, người em út ở gần sông gần bể nên thạo

nghề đắp sông ngăn nước, là người Việt; còn người em thứ hai, chàng Lèo ở xứ nóng bức có

gió Lào, hay bị hỏa hoạn nên có tài chống lửa, đó là người Lào. Ba anh em, xưa là con một

mẹ.

(Truyện cổ Bana)

16. VU HƠ – MIN (HƠ RE)

Nhà Vu Rây vừa giàu lại vừa đông con. Vợ chồng lão sinh được mười ba người con tất

cả, mười một người con gái và hai người con trai. Người con gái út, nàng Dạch đẹp nhất nhà.

Tất cả gái làng không ai xinh bằng nàng. Dạch vừa được bố mẹ thương yêu vừa được người

làng mến.

Năm ấy, nóng bức đã quá mùa, mùa đông rét mướt vừa đến. Xóm làng tất bật rủ nhau

đi đốn củi về sưởi. Một buổi sáng, mẹ Dạch gọi nàng dậy rất sớm:

- Này Dạch ơi! Người làng đã rủ nhau vào rừng đốn củi cả rồi. Con gái của mẹ đi theo

họ, chặt cho nhiều củi vào, gọi cơ rơ, gọi cơ roang nhé!…

Dạch hớn hở, theo chị em bạn bè vào rừng đốn củi. Họ mang theo bầu nước. Dạch

cũng mang theo bầu nước. Họ hát, Dạch cũng hát theo, nhưng giọng hát của Dạch trong trẻo,

khi bổng, khi trầm, thanh như tiếng chim hót. Lên đến rừng, mọi người lần lượt treo bầu

nước vào các cành cây, rồi tản ra mỗi người một ngả. Dạch chặt từ sáng đến trưa đã được hai

đọn củi to. Hôm ấy, trời bỗng trở nắng, nóng như lửa đốt, Dạch cố sức gánh đọn củi đến nơi

để nước. Nàng cầm bầu nước lên, nhưng lạ thay, cái bầu nhẹ không, nước biến đâu mất.

Chiếc bầu khô ráo như một ống tre để trên giàn bếp. Cổ họng Dạch đã khô, nàng chạy đến

các chị và các bạn xin nước, nhưng họ uống hết rồi. Các chị và các bạn thương Dạch lắm

nhưng họ cũng không biết làm sao được. Bên kia chân núi có một con suối nước rất trong.

Nhưng sang đến đó phải mất một buổi đường, mà nắng đã tròn bóng.

Khi bạn bè của Dạch, mấy chị của Dạch đã gánh củi về rồi, Dạch cũng cố vuốt mồ hôi

gánh củi lên vai. Nhưng chỉ được đi một chốc nàng phải dừng lại, thở dốc vì khát. Dạch đành

phải bỏ củi trên đường chạy vào rừng tìm nước. Nàng đi mãi. Khi mặt trời đã lên cao chừng

một con sào, nàng nghe có tiếng nước chảy róc rách. Gió chiều thổi mát rượi, nàng sung

sướng bước chân nhanh hơn. Nhưng đến nơi, Dạch chỉ thấy một lòng suối sâu với những

tảng đã rêu bám khô rang, cát phơi mình trắng muốt. Con suối không có lấy một giọt nước.

Thất vọng, Dạch ngồi khóc nức nở, rồi cố sức quay lại đường cũ. Nhưng chỉ đi được

mấy bước, nàng lại ngã xuống, thở dốc, môi nàng khô cứng, tim đập mạnh, mắt hoa lên.

Bỗng nàng thấy trước mặt có một cây có một quả chín mọng, vỏ mịn và mát. Đó là quả Hơ –

min. Dạch vội vàng đứng dậy, chạy đến hái quả, nhai ngấu nghiến ngon lành. Ăn xong nàng

thấy người khoan khoái, miệng ngọt, môi ướt. Nàng chạy như bay về chỗ đọn củi, cõng lên

vai, thoăn thoắt đi ra khỏi rừng. Đến nhà thì trời vừa tối.

Xếp đọn củi dưới gầm sàn, Dạch hớn hở bước lên cầu thang. Nhưng sao trong người

nàng đổi khác, bụng nàng nặng như mang một vật gì. Nàng nhìn xuống, mới thấy mới đầu

bụng còn bé, sau bụng to rất nhanh, rồi to như quả mít chín. Nàng đến gần bếp lửa, nhìn kỹ

lại thấy bụng mình quả thật đã có thai. Thấy con như vậy, cha mẹ nàng vừa lo vừa sợ. Dạch

cũng khóc nức nở. Càng ngày cái thai trong bụng Dạch càng đập mạnh và trở mình.

Dạch bị cha mẹ gạn hỏi mãi:

- Con nằm với ai? Cứ nói thật cho cha mẹ biết, để còn sắm sửa gà lợn và rượu xin dân

làng tế cây đa, giếng nước…

Trước sau, Dạch một mực nói với cha mẹ:

- Con không ăn nằm với ai cả mà chỉ có ăn quả Hơ – min thôi.

Bố mẹ Dạch không tin, mắng mỏ nàng rồi ruồng đuổi nàng ra khỏi nhà.

Một buổi chiều, Dạch buồn bã bước đi. Nàng bơ vơ như một con chim lạc mẹ. Nàng

băng qua không biết mấy con sông, mấy quả núi, mấy con suối, mấy cánh rừng rồi mà chưa

gặp một làng nào cả. Nàng đi mãi, đi mãi… Đến lúc kiệt sức thì nàng trông thấy một ngôi

nhà nhỏ ở giữa rừng. Trong nhà chỉ có hai vợ chồng già và một đứa con trai còn bé. Dạch

đánh liều đẩy cửa bước vào, kể thật tình cảnh của mình cho chủ nhà nghe và xin ở. Vợ chồng

ông lão nghèo sẵn lòng giúp Dạch. Ở được mấy hôm, Dạch sinh được một đứa con trai. Để

nhớ ngày ăn quả Hơ – min mà có thai, nàng đặt tên cho con trai là Vu Hơ – min.

Hơ – min lớn nhanh như thổi, bốn năm ngày đã biết ăn, bốn năm tháng đã cao lớn lực

lưỡng. Nhưng Hơ – min lớn nhanh bao nhiêu thì ghẻ lở nhiều bấy nhiêu. Hơ – min bị ghẻ lở

đầy người, Dạch chẳng ngại hôi tanh, hết sức chăm sóc con nhưng Hơ – min vẫn không khỏi.

Cụ già phải làm cho mẹ con Dạch một căn nhà nhỏ để mẹ con nàng ở riêng. Từ đó, hai mẹ

con nàng nương tựa vào nhau mà sống. Ngày ngày Dạch đi làm thuê kiếm gạo, còn Hơ –

min thì ra sông câu cá.

Trong lúc mẹ con Dạch sống giữa rừng hoang đất lạ thì làng quê cũ xảy ra một việc

đáng buồn. Một hôm, Vu Rây, cha của Dạch đi đốt rẫy, vô tình lại đi đốt cả một hang rắn

thần. Rắn này có tên là: “Ring rương – tương – gông – tương – oang”. Nó là người nhà trời

có nhiều phép lạ và rất hung dữ. Nó buộc Vy Rây phải nộp Hơ – chin, người con gái xinh

đẹp của ông cho nó. Nếu không nó sẽ tàn phá nhà cửa và ăn thịt hết cả dân làng. Vu Rây

chạy đêm chạy ngày tìm người trí dũng đánh rắn cứu Hơ – chin, cứu dân làng, nhưng không

ai dám ra mặt. Ngay cả hai chàng trai vốn là con nhà trời, có tiếng là mạnh khỏe tài giỏi,

đang yêu Hơ – chin say đắm, tên là Đăm Dút và Đăm Doi, cũng đánh bó tay, không dám

đương đầu với rắn thần.

Hết phương kế, Vu Rây đành phải nhờ người Kinh, người Thượng làm giúp ông một

ngôi nhà cao lớn ở giữa cánh đồng phì nhiêu, cách xa làng. Nhà làm xong vợ chồng Hơ Rây

bùi ngùi tiễn chân Hơ – chin ra ở đó và cho nàng đủ mọi thứ của cải, trâu một trăm con, chóe

một trăm chiếc… Dân làng cũng tiễn chân Hơ – chin ra nhà mới, chờ nộp mạng cho rắn thần.

Từ đó, Hơ – chin sống cô quạnh trong ngôi nhà cao. Một buổi chiều, thấy một người con trai

đang ngồi câu cá, Hơ – chin mừng quá, nàng cất tiếng hát:

“… Ước sao ta được là con gái của tiên

Tiên cho ta có phép cầu Trời làm mưa to, gió lớn

Nước ngập và dâng cao

Đưa chàng trai kia đến ở cùng ta!”

Nàng hát chưa dứt. Mây đen bốn phía kéo tới đen kịt. Sấm chớp ầm ầm. Mưa nặng hạt,

nước chảy ào ào. Gió bão mỗi lúc một mạnh. Cây rừng nghiêng ngả đổ ầm ầm. Vu Hơ – min

nấp vào gốc cây, cây chuyển mình răng rắc. Vu Hơ – min chạy vào hang đá, nước dâng ngập

hang. Chàng bước vội ra thì nước đã dâng cao, Vu Hơ – min nổi bồng bềnh, chàng vừa trôi

dạt vào nhà Hơ – chin thì nước rút. Vu Hơ – min ngơ ngác nhìn, tự hỏi:

- Nhà ai ở giữa cánh đồng mà có nhiều trâu dê bò lợn thế này?

Bị mưa, thấm ướt, rét buốt, Vu Hơ – min bước lên cầu thang vào xin lửa sưởi. Nhà im

lặng như tờ, con chuột nhấm lúa cũng nghe thấy, mọt nghiến gỗ cũng nghe rõ.

Lửa trong bếp còn đượm khói. Vu Hơ – min ngồi nhìn ngơ ngác. Bên trong có tiếng

động, chàng ghé mắt nhìn vào, thấy một người con gái lông mày dài và cong, mắt sáng, da

trắng như bột gạo, đang từ từ bước ra. Người con gái đó niềm nở chào Vu Hơ – min rồi ngồi

xuống cho thêm củi vào bếp. Vu Hơ – min đang rét thấy lửa rất sung sướng. Hơ – chin hỏi

chàng:

- Anh từ nơi nào đến đây?

- Tôi ở nơi xa lắm, nước lũ đưa tôi dạt đến chốn này!

- Anh còn bố mẹ không?

- Chỉ còn mẹ thôi

- Cha anh chết từ bao giờ?

- Tôi không biết nữa. Từ bé đến giờ tôi chỉ thấy có mẹ.

Hơ – chin cảm động. Nàng đi thôi cơm mời Vu Hơ – min. Trong bữa ăn, nàng ngồi

bên Vu Hơ – min hỏi chuyện. Mùi ghẻ lở trong người Vu Hơ – min xông ra nhưng Hơ – chin

không hề ngại. Ăn cơm xong. Vu Hơ – min hỏi:

- Sao nhà vắng thế này? Bố mẹ đi đâu cả?

Nghe hỏi chuyện mình, Hơ – chin gục đầu khóc nức nở. Vu Hơ – min gạn hỏi mãi,

nàng mới nói rõ ngọn ngành. Nghe rắn thần hung ác sắp đến hãm hiếp người con gái xinh

đẹp. Vu Hơ – min hỏi:

- Ai là chồng của cô mà không đến cứu?

- Chẳng có ai dám chống lại rắn thần, đến người yêu của em cũng đành gác giáo.

Ngẫm nghĩ hồi lâu, Vu Hơ – min hỏi:

- Thôi đừng khóc nữa. Tôi xin ra sức cứu nàng.

Nói xong, Vu Hơ – min đứng dậy, lớp da xù xì hôi thối của chàng bỗng biến mất.

Chàng trở thành một thanh niên cao lớn, nước da hồng hào, cặp mắt sáng quắc. Hơ – chin

chẳng còn biết e thẹn, rụt rè nữa, nàng bước tới úp đôi bàn tay vào ngực Vu Hơ – min và nói:

- Chàng ơi! Hãy cứu lấy em!

Vu Hơ – min an ủi Hơ – chin mấy lời, đoạn biến mất.

Buổi chiều hôm ấy, Dạch thấy con mãi không về, bà ra tận đầu rừng đón con. Thấy Vu

Hơ – min, bà vội hỏi:

- Đi đâu mà lâu về thế Hơ – min?

- Con đi câu cá, gặp trời mưa lớn, nước suối lên to, không về ngay được.

Vu Hơ – min nói chưa dứt lời, một trận mưa rào kéo đến như trút nước. Nước dâng lên

ngập cả cỏ cây, nước bò lên cầu thang. Vu Hơ – min đứng dậy nhìn ra, bất ngờ bị ngã xuống

nước. Nghe tiếng rơi, Dạch giật mình nhìn lại không thấy con đâu nữa. Bà hốt hoảng gọi

khản cả cổ mà không thấy con trả lời. Dạch đau đớn ngã sấp xuống sàn, kêu la thảm thiết.

Dạch không biết đứa con trai của bà là con của vua Thủy tề. Qua Hơ – min mà bà ăn phải

trong cơn khát chính là một thứ quả do vua Thủy tề hóa ra, nên nàng mới có mang. Hôm

này, Vu Hơ – min trốn mẹ, tìm xuống gặp cha. Thấy con về đột ngột, vua cha hỏi. Chàng

quỳ xuống tâu chuyện chàng gặp Hơ – chin trên trần. Nghe con nói, vua Thủy tề bảo:

- Ta sẽ truyền pháp thuật cho con, nhưng con phải cố công tập tành, mới trừ được rắn

thần.

Vua Thủy tề cho Vu Hơ – min một thanh kiếm bạc, Hơ – min ngày đêm ra sức luyện

tập. Chẳng bao lâu chàng sử dụng kiếm rất tài. Chàng đeo gươm trở lại trần gian, đến nhà Hơ

– chin chờ rắn thần. Mấy hôm sau Rắn thần bò tới. Vu Hơ – min nấp sau cánh cửa. Rắn thần

thò đầu vào, định cuốn lấy Hơ – chin. Vu Hơ – min giơ cao gươm chém xuống. Lưỡi gươm

báu của Vu Hơ – min phập vào đầu rắn như chặt một cây chuối non. Đầu rắn thần bị chẻ làm

đôi. Rắn rống lên mấy tiếng vang trời, giãy giụa rồi tắt thở. Thấy rắn chết, Hơ – chin vô cùng

mừng rỡ. Vu Hơ – min quay lại bảo nàng:

- Em chạy ngay về báo tin cho cha mẹ biết để cha mẹ đừng than khóc nữa. Nếu cha mẹ

có hỏi, em bảo là em tự giết rắn nhé.

Hơ – chin đi rồi, Vu Hơ – min lại biến thành người ghẻ lở, trở về với mẹ. Hơ – chin về

đến cổng nghe tiếng cha mẹ than khóc thảm thiết, nàng lên tiếng gọi. Cha mẹ tưởng hồn

nàng hiện về, lại càng khóc to hơn. Đến lúc Hơ – chin đẩy cửa bước vào, cha mẹ mới nhận ra

con. Cả nhà vui mừng xúm lại hỏi han Hơ – chin. Hàng xóm cũng chạy lại mừng nàng. Cha

nàng giết trâu, dê, bò, lợn, để làm lễ mừng nàng còn sống. Trong đám cúng, Vu Rây và giá

Rếch (bố mẹ của Hơ - chin) mời mọc không thiếu một người nào. Nhà ông vui như ngày hội.

Riêng Hơ – chin thì rầu rĩ. Cha mẹ nàng lấy làm lạ, hỏi:

- Sao con không vui, con gái yêu của mẹ?

Hơ – chin thật thà đáp:

- Hôm nay là ngày vui của gia đình, sao cha mẹ không mời chàng Hơ – min đến đây?

Rồi Hơ – chin kể cho cha mẹ nghe về chuyên Vu Hơ – min. Cha mẹ Hơ – chin bèn sai

người đi mời Hơ – min tới. Thấy Vu Hơ – min nghèo khó, bẩn thỉu mà được Hơ – chin ra tận

ngõ đón chào, mọi người trong tiệc đều lấy làm lạ. Riêng Đăm Dút và Đăm Doi đang say mê

sắc đẹp của Hơ – chin thì càng bực tức. Bọn chúng khoe khoang với mọi người là tự tay

chúng giết rắn thần. Dân làng nghe chúng nói, tưởng thật, đều tỏ ý kính phục. Riêng Hơ –

chin rất ghét hai kẻ tranh công. Chiều hôm đó, nàng mời Hơ – min, hai kẻ xấu bụng và dân

làng ra cánh đồng xem ai chặt đứt xác rắn. Đăm Dút và Đăm Doi hùng hổ xách gươm đi

trước. Đến nơi thấy xác rắn nằm chết, mỗi đứa hăm hở cố sức chặt đến mấy lần, nhưng xác

rắn vẫn trơ như đá. Chém không được, chúng chữa thẹn:

- Hai chúng tao chặt không nổi Rắn thần, thì cả thế gian này không kẻ nào chặt được

đâu.

Một người làng đứng ra nói:

- Hai anh kia đã chặt thử ba lần rồi, chỉ có Đăm Dút và Đăm Doi chưa chặt. Chúng ta

hãy bảo anh ta ra chặt thử xem sao?

Đăm Dút và Đăm Doi nghe nói, tỏ vẻ khinh bỉ:

- Thằng gầy gò ghẻ lở thế kia thì làm gì nổi. Bảo nó lại gãi đuôi rắn cho ta xem thì

được.

Nói xong cả bọn phá lên cười. Vu hơ – min không nói một lời, anh đến gần xác rắn,

đưa gươm chặt nhẹ một phát, mình rắn đứt ngang như người ta chặt một bẹ khoai nước.

Thuận tay, Hơ – min lấy gươm xâu vào xác rắn ném xuống biển. Mọi người nhìn chàng hết

sức kính phục. Riêng Đăm Dút và Đăm Doi vẫn còn lồng lộn, bực tức. Chúng thách Vu Hơ –

min:

- Nếu mày có tài thì năm ngày nữa đến đây đọ sức với chúng tao, mày có dám không?

Vu Hơ – min nhận lời. Bọn chúng đỏ mặt đem chiếc khiên biết bay về trời gọi tất cả

tôi tớ lại, bắt xuống trần gian, đào hào, gài bẫy, cắm chông dày khít, một con thằn lằn chui

qua cũng bị sát lưng. Vu Hơ – min không có quân lính nào cả, anh chỉ có một người tên là

Vu Rốc đến giúp sức. Vu Rốc to lớn, cao đến tận mây, một con trâu to, Vu Rốc ăn một

miếng là hết.

Ngày đọ sức đã đến, Vu Hơ – min và Vu Rốc đến làng của Đăm Dút và Đăm Doi. Hai

người dùng gươm phá sạch hàng rào. Quân của Đăm Dút và Đăm Doi bắn tên ra như mưa,

rồi cầm gươm cầm giáo xông ra dày đặc như cát vãi. Vu Rốc một tay múa khiên, một tay

cầm lưỡi mác dài mười sải, cán dài bảy sải, chỉ chém một nhát thì hàng trăm quân của Đăm

Dút và Đăm Doi đều rụng đầu. Thấy yếu thế Đăm Dút và Đăm Doi cầu trời làm cho mưa to

gió lớn, rồi chúng dùng khiên bay vút lên trời. Vu Hơ – min hóa phép cho khiên của mình

bay lên đánh nhau với khiên của chúng. Cuối cùng khiên của Đăm Dút và Đăm Doi rơi

xuống nát tan tành. Vu Hơ – min cầm kiếm xông vào, giết sạch bọn Đăm Dút và Đăm Doi,

rồi biến thành một chàng trai rất khỏe, đẹp, không còn chút ghẻ lở nào.

Bọn Đăm Dút và Đăm Doi đã chết. Vu Hơ – min cùng Vu Rốc vào nhà chúng lấy hết

trâu bò, chiêng chóe đem về chia cho dân làng.

Từ khi diệt trừ được rắn thần và bọn con nhà trời hung ác, dân làng được sống yên vui. Họ

làm lễ lớn để mừng Vu Hơ – min, mừng ngày Hơ – chin và Vu Hơ – min kết hôn cùng nhau.

(Truyện cổ của các dân tộc Việt Nam tập 3)

17. HƠ MÊNH CHÉM RẮN THẦN (HƠ RE)

Ngày xưa ở ven sông Krông có một gia đình người dân tộc Hơ – rê nghèo khổ. Nhà

chỉ có hai bà cháu. Cháu là Hơ mênh có tài câu cá rất giỏi. Tuy còn nhỏ nhưng Hơ mênh đã

làm chỗ dựa của bà. Đó là một cậu thiếu niên thông minh, ngoan ngoãn, dễ thương. Vì vậy

bà ngoại càng quý mến cháu. Một hôm, Hơ mênh câu không được nhiều cá như mọi ngày mà

chỉ có một con cá bóc lóc bé tí teo (dân tộc Hơ – rê gọi là ca - ưu). Cậu đem về để tùy bà kho

luộc hay xào nấu. Bà cầm giỏ cá của cháu xem thử được nhiều hay ít, cá to hay nhỏ. Nhưng

trong giỏ chỉ thấy một con cá bóc lóc nhỏ bằng que tăm. Thế mà Hơ mênh đặt một cái nồi to

tướng lên để kho. Bà thấy lạ bèn hát:

Cá bóc lóc nhỏ tí teo

Sao cháu bắt bà đặt

Lên nồi bung thật to

Bà thấy chuyện làm ngược đời

Toàn vùng dân tôc Hơ – rê

Không có chuyện lạ lùng này

Cháu làm việc quay rầy

Ở cháu Hơ mênh!

Tuy vậy, vì thương Hơ mênh, bà cũng chiều theo ý cháu. Bà đặt lên bếp một nồi bung

thật to, rồi đi gánh nước. Bà giao cho Hơ mênh rửa cá để cho vào nồi. Hơ mênh làm theo và

nhóm lửa bếp. Một lát sau, cá chín, Hơ mênh nhắc nồi xuống chờ bà đi gánh nước về mới

dọn cơm. Ngồi vào mâm, múc canh, gắp cá, bà thấy chuyện lạ, khúc cá bóc lóc to bằng khúc

gỗ, béo như thịt heo ngậy. Bà lo sợ và hỏi Hơ mênh:

Sao có chuyện lạ này

Hỡi cháu Hơ mênh

Lúc nãy bà thấy cá nhỏ

Cá bóc lóc chỉ tẹo tèo teo

Bây giờ cá béo, cá to

Như khúc gỗ trong rừng

Việc này không phải việc mừng

Hỡi cháu Hơ mênh?

Hơ mênh thưa với bà rằng, sự việc có ai đoán biết trước được đâu. Nhưng bà đừng sợ,

đừng nói cho ai biết, bà cháu ta cứ ăn uống bình thường. Hai bà cháu ăn xong thì trời đã tối

mịt. Hai bà cháu đi ngủ. Sáng hôm sau, Hơ mênh xin phép bà đi câu ở một nơi thật xa để

được nhiều cá hơn. Bà ưng cho cậu đi và nắm cơm, gói cá cho cháu mang đi ăn trưa. Mới tờ

mờ sáng, Hơ mênh đã vác cần câu, xách giỏ ra đi tới một nơi xa hơn mọi khi. Đến nơi Hơ

mênh thấy ở đó có rất nhiều cá. Cậu vui lắm vì tin chắc hôm nay sẽ câu được nhiều. Quả

nhiên, đúng như vậy, cậu câu lần nào, giật lần ấy, được bao nhiêu là cá lớn, cá nhỏ. Cậu nghĩ

bụng phải câu được nhiều cá để bà mừng. Giỏ đã đầy ắp mà vẫn còn bao nhiêu cá nữa, chưa

có gì đựng. Hơ mênh ngồi câu trên một tảng đá phẳng, dưới gốc cây đa cành lá sum xuê, tỏa

bóng mát phủ kín cả người. Gần đó là đồng ruộng. Giữa ruộng có một ngôi nhà vừa dài lại

vừa đẹp. Mải câu mặt trời lặn lúc nào, cậu cũng không biết. Trời tối âm u, từng luồng gió

đưa mây bay trên đỉnh núi cao vòi vọi. Lúc đó Hơ mênh mới luống cuống giật cần câu lên,

rồi vơ giỏ cá chạy đến trú ở một gốc cây. Cây đó đổ, cậu chạy vào hang đá. Hang đá tự nhiên

sụp xuống. Cuối cùng Hơ mênh chạy đến trú tạm bên ngôi nhà ai mới làm ở giữa đồng. Vừa

chạy đến bên nhà sàn ấy, cậu đã nghe tiếng có người chào hỏi và mời lên nhà. Hơ mênh nghe

tiếng đó là tiếng một cô gái nói nhỏ nhẹ, trong trẻo và duyên dáng. Cô hỏi:

Chàng bé nhà ai

Chàng trai nhà nào?

Dám vào câu cá

Trên tảng đá gần nhà tôi?

Chàng ngồi câu cả ngày

Chàng không hay trời mưa to

Chàng không biết mặt trời lặn

Chàng không biết tôi đây uất hận

Phải thí thân cho rắn thần

Rắn thần pa – rin sắp xé nát thân tôi

Trong một ngày không xa

Chàng nên tránh ra

Đừng xông pha chạy vào mà thiệt mạng

Hơ mênh nói cho cô gái biết cảnh chạy mưa và xin trọ tạm một đêm. Cậu cho cô gái

biết tên, tuổi, gia đình mình, cậu hát:

Tôi tên là chàng Hơ mênh

Ở trên ngọn suối, ngọn sông

Sông Krông, suối Króc

Mênh mông xanh biếc một màu

Tôi sống trong rừng phi lao

Không cha, không mẹ

Không chị, không anh.

Nhà nghèo đói, hiu quạnh

Cơm không có (mà) ăn

Chăn không có mà đắp

Gạo khoai sắn cũng không

Quanh năm phải câu cá

Nuôi sống bà (ngoại)

Cô gái nghe chàng nói đến cảnh gia đình túng thiếu, nghèo khổ thì động lòng thương,

muốn giúp đỡ chàng. Nhưng việc đó với cô khó thực hiện vì cô sắp bị pa – rin (rắn thần) ăn

thịt nay mai, mà không ai dám đến cứu. Càng nghĩ cô càng thương Hơ mênh. Cô mời Hơ

mênh lên nhà, sưởi lửa và hong quần áo. Cô hát:

Mời chàng Hơ mênh

Lên nhà có lửa

Sưởi ấm, khô người

Tội tình gì ở dưới gầm sàn

Lên đây lửa cháy bập bùng

Cho chàng khỏi lạnh lùng

Trời mưa gió bão quanh vùng

Mời chàng lên gặp ngại ngùng chi ai

Lúc này trời mưa to gió lớn, giá lạnh thấu xương, Hơ mênh đành mạnh dạn lên sàn nhà

cô gái chưa biết tên ấy. Chàng rón rén nhích từng bước một đến gần bếp lửa sưởi ấm. Cô gái

thấy chàng ướt, lạnh, run cầm cập, liền lấy thêm củi chụm cho lửa cháy to để chàng chóng

ấm. Hơ mênh vừa nóng người, ấm lòng thì bụng đói. Chàng thiu thiu ngủ gật bên bếp. Nhân

lúc đó, cô gái dùng mẹo khéo léo làm cho chàng tức giận. Cô lấy vỏ một quả bầu khô, nhét

một bộ quần áo đẹp, một cái chăng khách (kiếm) vỏ mạ bạc, thân mạ vàng, treo lên trên giàn

bếp chỗ Hơ mênh đang ngồi, rồi cô tránh ra chỗ khác. Lúc đó gió thổi mạnh, quả bầu trên

giàn bếp đu đưa đập vào trán Hơ mênh. Chàng giật mình nhờ cô gái cất các thứ đó vào chỗ

khác. Cô không cất mà lại bảo Hơ mênh đập bỏ đi, không có gì đáng sợ cả. Quả bầu lại đập

vào trán Hơ mênh lần nữa. Tức quả chàng giật lấy quả bầu đập nát tan tành. Không ngờ

trong quả bầu có quần áo đàn ông. Trời ơi! Quần áo đẹp nhất, khố, khăn hoa gấm kiếm mạ

bạc vàng, sang trọng quá. Hơ mênh gọi cô gái lại lấy quần áo, khố, khăn, kiếm cất đi chỗ

khác. Cô mời Hơ mênh mặc liền cho ấm. Cô nói hiện vật đó là của cha mẹ cô đã cho cô

trước khi nhắm mắt xuôi tay. Hơ mênh cứ lấy mà dùng, đừng ngại ngùng gì. Hơ mênh cũng

muốn có quần áo đẹp, nhưng ngại mặc lắm vì quần áo này là loại đắt tiền, cả vùng dân tộc

Hơ – rê này ít người có, mình mặc khó coi vì nghĩ mình không phải là con người giàu sang,

sợ họ hàng, làng xóm chê cười. Cô gái cứ giục chàng mặc. Cuối cùng chàng phải mặc quần

áo và đeo kiếm bên lưng, trông rất đẹp mắt, giống như một vị tướng quân. Cô gái xinh đẹp

cũng liếc nhìn chàng một cách âu yếm. Cô thổi cơm, mổ gà, pha rượu cần mời chàng tráng sĩ

cùng ăn. Cô gái thật xinh đẹp, da trắng như bông, má đỏ như hoa vông, người thơm như hoa

bưởi. Cô mời Hơ mênh uống rượu cần, Hơ mênh mời cô cùng uống. Họ uống cho say để

quên tai họa sắp xảy đến với cô. Nhưng lạ thay, Hơ mênh càng uống lại càng khỏe và đẹp

trai hơn, da thịt hồng hào. Cô gái lúc này cũng xinh gái hơn, mà lúm đồng tiền, miệng cười

hé lộ hai hàm răng trắng nuột. Khi ấy Hơ mênh mới mạnh dạn hỏi tên, tuổi cô, tại sao bị rắn

thần sắp đến ăn thịt, mà không ai đến cứu? Chàng hỏi:

Cô là con gái nhà ai?

Tại sao không người cứu mình?

Cô vừa đẹp vừa xinh,

Cả người Hơ – rê mình ai cũng mến

Cả làng xóm phải góp sức giết rắn thần

Để cứu lấy cô gái xinh đẹp

Cô bèn nói rõ cảnh ngộ của mình:

Tôi là cô gái Y Mười

Con út ông bà Rỉn thứ mười

Ở vùng người Hơ-rê giàu có

Tôi có cha mẹ chị anh

Xung quanh có chú bác, họ hàng

Có làng xóm gần xa…

Tôi sống gốc sông Krông xanh biếc,

Tôi sống gốc sông Króc rộng mênh mông

Cả người Hơ-rê mình đều biết tôi

Tôi bị Pa-rin rắn thần sắp ăn thịt

Tôi đã kêu cứu nhiều rồi…

Chẳng ai dám cứu sống tôi.

Từ trước đến nay, Hơ mênh nghe đồn cô Mười con ông Rỉn rất xinh đẹp, đến giờ mới

thấy mặt. Vừa xinh đẹp cô vừa nói chuyện có duyên và vừa thương quý người nghèo. Nghe

đồn, nhiều trai làng đã đến hỏi dạm cô. Cha mẹ cô có đòi mấy chục trâu bò, chiêng ché họ

đều sẵn sàng lo đủ. Nhưng cô chưa muốn lấy chồng. Nay ai cứu được cô, ai cần bao nhiêu

của cải gia đình cô cũng sẵn sàng cho hết. Nếu không lấy của cải, muốn lấy cô làm vợ, cô

xin sẵn sàng.

Hơ mênh hát:

Cô là cô gái xinh đẹp nhất trên đời

Cô là cô gái Y Mười đáng mến làm sao

Cô là con nhà nòi…

Lúc bé được mẹ yêu, cha dấu…

Suốt đêm lại suốt ngày

Nay gặp việc không may

Rắn thần sắp đến ăn thịt

Tuổi xuân cô chỉ đến ngày này thôi ư?

Thật đáng thương xót vô vàn cô ơi!

Anh nghĩ cả vùng người Hơ – rê này phải chung sức chung lòng, đánh chết rắn thần,

cứu sống cô Mười để được chung sống yên vui. Nếu mình cứu được cô sống thì không lấy

của cải, mà chỉ lấy cô làm vợ.

Hơ mênh đang suy nghĩ về việc ấy thì bỗng nhiên cô âu yếm hỏi chàng, có tài có sức

cứu được cô không, nếu được thì cha mẹ cô sẽ đền ơn bằng tất cả gia tài.

Cô hát:

Chàng Hơ mênh dũng cảm

Chàng hãy đọ sức đua tài giết rắn thần

Cứu sống lấy em

Em sẽ đền ơn mấy nghìn trâu, gà, bò, heo.

Em sẽ trả nghĩa bằng vật quý giá

Mà Hơ mênh thương yêu quá chừng.

Ngoài Hơ mênh ra thì bây giờ cô không cầu cứu ai được vì người ta đưa cô ra sống

riêng một mình trong nhà này để đợi thí thân cho rắn thần. Của cải, chiêng ché, trâu bò, gà,

heo cũng đã phân chia cho cô rồi. Đó là chưa kể quần áo, gạo thóc, thức ăn để sống tạm

trong thời gian rắn thần chưa xuống ăn thịt. Trước khi Hơ mênh tới, suốt ngày đêm cô khóc

lóc, không ăn, không ngủ, lúc nào cũng lo sợ cho số phận của mình. Cô rất muốn sống, rất

muốn dệt vải, may váy, lên rừng hái củi, xuống sông bắt cá, cấy, giặt như các cô gái khác,

nên cô rất mong có người cứu sống.

Cô van vỉ: “Nếu Hơ mênh cứu được tôi sống trên đời này không bị rắn thần ăn thịt, thì

công lao đó tôi coi cao hơn núi, sâu hơn biển cả. Hơ mênh muốn thứ gì tôi xin trả ơn. Nếu

Hơ mênh muốn lấy tôi làm vợ độc nhất của mình, tôi cũng xin vui lòng. Tôi sẽ là vợ hiền âu

yếm nhất của Hơ mênh, miễn là tôi được sống làm người”.

Hơ mênh đang suy nghĩ và tính toán kỹ về tài sức của mình có thể đánh nhau được với

rắn thần không? Cha mẹ cô Mười có chiều ý cô không? Suy đi, tính lại, cuối cùng chàng

quyết định phải ra tay giết rắn thần, cứu sống cô Mười, còn việc cô đền ơn, trả nghĩa sẽ tính

sau.

Chàng nghĩ, rắn thần là loại rắn độc ác nhất ở vùng này. Cứ hàng năm mỗi gia đình

phải nộp cho nó một mạng người. Nhà nào có con gái xinh đẹp, khách khứa lui tới nhiều, thì

phải nộp trước. Nếu không nộp mạng người cho nó, nó hóa phép đánh chết cả làng người Hơ

– rê. Cả vùng dân tộc Hơ – rê ai ai cũng thù ghét rắn thần, nhưng chưa có tài sức đánh chết

nó. Nó là con vật của trời, nó ở trên mây, lúc muốn ăn thịt người thì nó bay xuống đậu trên

ngọn cây rừng. Mọi người đều sợ hãi.

Hơ mênh nhất định diệt nó để cứu Y Mười và trừ họa cho dân làng. Chàng hỏi cô

Mười:

Cô gái xinh đẹp kia ơi!

Rắn thần sẽ xuống

Ăn thịt cô vào lúc nào?

Ngày, tháng, năm ra sao?

Cô cho tôi biết thử nào?

Tôi quyết định đánh chết rắn thần.

Cứu cô, cứu dân làng được sống yên vui

Nghe Hơ mênh nói là sẽ cứu sống cô và trừ họa cho dân làng. Y Mười cảm động rơi

nước mắt. Cô càng mời Hơ mênh uống nhiều rượu cần. Cô dịu dàng báo tin cho Hơ mênh

biết là con hai ngày nữa rắn thần sẽ tới. Cô lại năn nỉ: “Hơ mênh anh cứu lấy em đi. Em

không tiếc anh một thứ gì trên đời này, em không chê anh xấu đâu”.

Họ ăn uống, tâm sự với nhau vừa tròn một đêm. Tờ mờ sáng hôm sau, Hơ mênh vội

vàng thay trả quần áo cho Y Mười. Cô mời chàng mặc luôn, nhưng chàng quyết đưa trả lại.

Chàng báo cho cô biết, sáng nay chàng về nhà lấy vũ khí. Cô dặn chàng liệu lên sớm kẻo

muộn.

Hơ mênh cầm lấy cần câu, giỏ cá, vừa đi vừa chạy như bay về nhà, báo cho bà biết sự

việc sắp tới, rồi xin phép bà đi ngay vì phải cứu sống được cô gái Mười. Chàng chạy đến hồ

nước sâu thẳm, xanh biếc một màu, nhảy ùm xuống giữa hồ, tìm xuống nhà cha mẹ ở dưới

đáy biển báo tin cho cha mẹ. Chàng vừa kể, vừa khóc xin cha mẹ cứu sống cô gái. Cha Hơ

mênh là vua thủy tề rất có tài. Cả nhà đều giúp sức cho Hơ mênh. Cha chàng cho mượn chiếc

kiếm thần vỏ mạ bạc, thân mạ vàng, đánh đâu thắng ấy. Sau khi được kiếm, chàng liền chạy

về nhà Y Mười. Thấy chàng trở lại với kiếm thần, cô rất vui vẻ, pha rượu cần mời chàng

uống thêm sức. Chàng bảo cô đi tìm đá mài để mài kiếm, kiếm được mài rất sắc, con ruồi

đậu phải cũng đứt chân ngay tức khắc. Chàng bảo cô đem ba cái ché để chém thử, chỉ một

nhát kiếm, chàng đã phạt đôi cả ba cái ché đựng nước đầy.

Thấy vậy cô rất tin tưởng ở tài sức người mình yêu, cả vùng dân tộc Hơ – rê này không

ai bằng, chắc chắn chàng sẽ thắng rắn thần. Lúc này, cô lấy váy gấm hoa ra mặc, lấy kiềng

vàng, vòng bạc ra đeo đầy cổ, khiến cô đã xinh lại càng xinh đẹp hơn. Hơ mênh trông càng

thêm yêu mến. Đêm đó là đêm hẹn cuối cùng của Y Mười, nên cô đem hết mọi thứ trong nhà

ra đãi tiệc Hơ mênh trước khi ra trận đánh nhau với rắn thần độc ác. Hai người âu yếm chúc

nhau thắng lợi.

Sáng sớm hôm sau, Hơ mênh đã xem lại vũ khí và ở tư thế sẵn sàng. Bỗng nghe một

tiếng động long trời, lở đất, sấm chớp ầm ầm. Rắn thần từ trên trời bay xuống. Cả vùng dân

tộc Hơ – rê đều sợ hãi, không ai dám ra khỏi nhà.

Đây là một con rắn rất to, rất dài, lưng đen sẫm, bụng hung đỏ, miệng rộng hơn miệng

một con cọp to, răng nhọn hơn lưỡi dao, lưỡi đỏ như máu, mắt đỏ như lửa. Từ trên rừng nó

bò dần xuống đồng ruộng.

Hơ mênh bảo Y Mười đóng tất cả các cửa lại và thay quần áo mới vào, đeo kiềng

vàng, cườm bạc, rồi lấy chiếu trải ra giữa nhà, nằm dang tay đắp chiếu lên. Cô làm theo. Còn

chàng cũng đắp chiếu ẩn vào một bên. Vừa lúc đó, rắn cũng bò đến cổng. Nó tìm lối vào, lấy

thân húc hàng rào đổ ầm ầm, rồi luồn vào sân. Đến cửa chính nó ngẩng đầu lên kêu “hứ” một

tiếng. Nó bò xung quanh nhà, không có lối vào, nó quay lại cửa chính ngẩng đầu lên kêu

“hứ” rồi hỏi Hơ mênh đâu. Cô Y Mười đang nằm, nói vọng ra:

- Nhà tôi không có ai là Hơ mênh, ông muốn ăn thịt tôi thì vào.

Rắn tưởng xông vào bắt cô rất dễ dàng. Nó bò đến chỗ cô nằm cách một sải tay thì Hơ

mênh tung chiếu nhảy lên lưng nó, chụp lấy cổ họng rút kiếm chém phập một cái, cổ rắn đứt

làm đôi. Chàng chặt thêm một nhát nữa, mình rắn đứt làm đôi, lăn đơ ra như gỗ. Lúc đó có

tiếng nổ “ầm”, đó chính là tiếng kiếm của Hơ mênh chém rắn.

Chàng vứt đầu rắn bên này bờ và thân rắn bên bờ khác của sông Krông. Đầu rắn tự

nhiên bò lại để nối lại với thân nhưng đã bị dòng sông ngăn cách, đầu nó rơi xuống sông, cá

sấu đớp ngay. Hơ mênh kéo xác rắn cuốn lại thành một đống to như quả đồi. Chàng gọi Y

Mười dậy xem xác rắn. Cô tung chiếu vùng dậy, nhìn xác rắn to quá, sợ tái cả mặt, nhưng

định thần lại ngay và mừng chảy nước mắt. Cô chạy lại ôm chặt lấy Hơ mênh và âu yếm nói:

- Rắn thần to thế mà chàng đánh nổi nó, chàng khỏe thật, giỏi thật, chàng xứng đáng là

chồng của em. Em xin cảm ơn chàng. Công lao của chàng cao hơn núi, sâu hơn biển cả. Em

được sống yên vui, dân làng cũng không lo sợ nữa. Suốt đời, không bao giờ em quên ơn của

chàng.

Hơ mênh nói:

- Tôi giết được rắn độc để trừ họa cho cả vùng người Hơ – rê ta, để cứu sống một

người con gái xinh đẹp, hiền hậu, biết thương dân nghèo là cô Y Mười.

Đêm hôm đó, hai người ăn mừng thắng lợi vui vẻ suốt đêm. Trước khi chia tay nhau,

họ trao tặng nhau vật kỷ niệm làm tin, để sau này kết nghĩa lứa đôi. Cô Mười tặng Hơ mênh

một chiếc vòng than sáng ngời, hứa hẹn suốt đời sẽ là vợ của Hơ mênh. Chàng tặng lại cô

chiếc vỏ kiếm bạc quý. Họ trao tặng của tin xong thì trời vừa sáng. Hơ mênh chia tay người

yêu, về báo tin mừng cho cha mẹ biết. Vua Thủy tề mời mọi người đến ăn mừng chiến thắng,

đoạn Hơ mênh lại lên cạn sống với bà ngoại như xưa. Bà nghe nói cháu tài giỏi lập công to

cũng rất vui mừng.

Còn Y Mười, xế chiều hôm ấy, chạy về nhà báo tin vui cho cha mẹ. Đến nhà, cả nhà

đã đi ngủ, cổng đã đóng chặt. Cô cất tiếng gọi:

- Cha mẹ, anh chị ơi, ra mở cổng cho em vào. Em còn sống về đây!

Không có tiếng đáp lại, cô gọi lần thứ hai, tha thiết hơn. Lúc đó, trong nhà cô có tiếng

đáp lại một cách buồn bã:

Con còn về đòi gì?

Con còn về đòi gì?

Con đã chết rồi

Sao còn về gọi cha, mẹ, chị, anh

Của cải đã chia hết cho con

Sao còn tìm về…

Cha mẹ anh chị rất thương con

Thương em út của mình…

Lần thứ ba cô lại gọi, lại nói rõ là mình còn sống và đã đánh chết rắn thần để trở về

nhà đây. Nghe tiếng gọi tha thiết, cô Một vùng dậy ra mở cổng cho em. Cổng mở thấy đúng

Y Mười về thật, chị gọi cả nhà dậy. Mọi người mừng rỡ tíu tít hỏi Y Mười làm sao thoát

được nạn rắn thần ăn thịt.

Cô nói dối là đã tự tay đánh chết rắn, bằng mưu trí và sức mình.

Hôm sau cha mẹ cô cho mở tiệc ăn mừng cô sống lại. Người trong vùng nghe tin đã

giết chết rắn độc ác, đến dự đông đủ. Trong số khách khứa này có hai tên gian ác, ai ai cũng

ghét và không mời cũng đến. Đó là Dró và Drai con trời, cậy thế làm lắm điều ngang ngược,

oan ức cho dân. Trước khi cô Mười bị thí thân cho rắn thần, hai tên này đã đến nhà, buộc cha

mẹ cô phải gả cô cho chúng. Chúng đã bắt ức nhiều nhà phải gả con cho chúng như vậy. Cha

mẹ Y Mười sợ hãi phải làm theo lời chúng. Nhưng cô một mực không thuận vì ghét chúng

độc ác và sợ cảnh một vợ, hai chồng, thà chịu chết vì nạn rắn ăn thịt còn hơn sống làm vợ

chung của hai tên gian ác.

Hôm ấy, khi thấy chúng không mời mà đến, cô Mười rất đau khổ. Cô nhìn khắp nhà

không thấy Hơ mênh đâu. Cô hỏi người nhà có ai đi mời Hơ mênh không. Cha mẹ cô nói

không, chắc xưa nay vốn khinh Hơ mênh mồ côi nghèo khổ. Cô buồn bực giục anh trai đi

mời cho bằng được Hơ mênh.

Nhưng cả bà cháu Hơ mênh đều từ chối không đến, vì không có quần áo đẹp, sợ khách

chê cười. Họ lại trở lại lần nữa kéo bằng được Hơ mênh. Không thể từ chối nữa, Hơ mênh

đành phải đến nhà Y Mười. Chàng ăn mặc bình thường, khi đến, ngồi vào góc nhà, chỗ ít

người qua lại. Trong khi đó cô Mười đã trang điểm, quần áo đẹp để tiếp đón Hơ mênh,

nhưng cô vẫn chưa thấy chàng trong đám khách đông nghịt, cô tưởng chàng chưa đến. Ở một

góc nhà, Hơ mênh không được ai dọn cho ăn uống. Hai tên Dró và Drai tiếp tay người nhà,

dọn cho chàng ăn như cho ăn mày:

Lấy cơm cháy đáy nồi

Lấy xương trâu xương bò

Còn tươi còn sống cho ăn

Lấy mo múc nước sông

Làm thay nước canh

Họ hàng khách khứa ngăn lại

Dró Drai không nghe…

Hơ mênh tức giận bỏ ra về.

Đợi mãi không thấy Hơ mênh, cô đi hỏi mọi người. Các anh các chị cô nói là đã mời,

khách nói là chàng đã đến nhưng vì Dró và Drai bạc đãi nên chàng đã về rồi. Nghe vậy cô

liền tức tốc chạy đến nhà Hơ mênh. Được bà cháu Hơ mênh cho biết rõ chuyện vừa xảy ra,

cô rất giận hai tên Dró và Drai. Cô năn nỉ mời Hơ mênh đến một lần nữa. Chàng vẫn từ chối

không chịu đi.

Cô tủi cực quay về nói với cha mẹ làng xóm rằng nếu Hơ mênh không đến dự thì bãi

tiệc. Người làng phải hùa nhau đem ngựa đến rước, nói chàng phải thương tình Y Mười mà

đến. Chàng nể lời ra đi.

Lần này chàng được tiếp đón như một vị khách sang, một vị anh hùng thắng trận trở

về. Y Mười ra tiếp đón, người nhà dọn cỗ trên mâm vàng, mâm bạc mời chàng, đích thân cô

ra tiếp rượu anh. Thấy vậy hai tên Dró và Drai rất tức giận. Chúng trêu chọc họ, quyết phá

đám cuộc hôn nhân của họ. Chúng thách Hơ mênh đánh chiêng, ai đánh giỏi, làm cho chim

chóc thú rừng chạy đến nghe thì người đó có tài và được lấy Y Mười. Hơ mênh từ chối,

chàng nói:

- Cái hay cái giỏi đều thuộc về các anh, còn tôi có hay ho gì đâu mà các anh thử thách

tôi. Nếu cô Y Mười ưng làm vợ các anh thì các anh lấy, tôi có giàng đâu.

Nhưng chúng không nghe, bắt Hơ mênh phải đánh chiêng. Anh không từ chối nữa.

Tiếng chiêng của chàng bay đến tận rừng sâu, bay lên chín tầng mây xanh, xa gần đều nghe

rõ. Các loài chim trong rừng rủ nhau bay về đậu trên mái nhà để nghe. Các loại thú rừng như

voi, nai, hươu, khỉ, vượn đều chạy về gần để lắng nghe. Đàn cá sấu cũng bơi lên mặt nước để

lắng nghe. Làng xóm khách khứa ai cũng tấm tắc khen Hơ mênh. Bây giờ đến lượt Dró và

Drai đánh chiêng. Khi tiếng chiêng của chúng nổi lên, chim chóc liền bay đi mất, thú rừng

chạy đi xa, họ hàng làng xóm đều phải chạy đi xa vì đinh tai nhức óc. Trẻ con kêu khóc vì sợ

hãi. Bầy cá chìm vào hang sâu.

Bị thua Hơ mênh chúng tức lắm, hùa lại đá Hơ mênh rơi xuống chuồng trâu. Chàng

thản nhiên xem như không có chuyện gì xảy ra, ung dung đi tắm rửa rồi lại vào nhà vui chơi

với mọi người.

Lần thứ hai, chúng thách Hơ mênh uống rượu cần, mỗi người một ché rượu, kèm theo

bảy ché nước lã. Chúng lại thua và lại đá Hơ mênh văng ra ngoài sân.

Lần thứ ba chúng thách Hơ mênh ngồi trên mũi giáo. Chúng trèo lên trước, nhưng

không ngồi được. Hơ mênh từ chối cho đó là trò chơi nguy hiểm. Chúng bắt buộc chàng phải

làm theo. Cuối cùng chàng không từ chối nữa và nhảy lên mũi giáo một cách nhẹ nhàng và

ngồi lâu hằng nửa ngày.

Tất cả ba cuộc thách thức chúng đều thua Hơ mênh. Tức giận chúng đạp mây bay về

trời, dọa sẽ kéo binh lính nhà trời xuống đánh. Y Mười liền ngăn chúng lại nói là ngày mai

hãy thử sức cùng Hơ mênh dọn xác rắn thần ở giữa ruộng xem ai được.

Sáng hôm sau, cô Mười ra quân dọn xác rắn thần. Cô nói:

Nếu ai có sức tài

Dọn xác rắn thần hết ngay tức khắc

Chắc chắn sẽ là chồng tôi

Dù lớn, nhỏ, nghèo khổ tôi đều không chê

Miễn chàng chém hết xác rắn bỏ cho xa

Sạch đồng, sạch ruộng, đó là khỏe, là tài.

Dró và Drai xắn quần áo, hóa phép chạy như bay tới chém một nhát, nhưng không chặt

được xác rắn. Chúng chém lần thứ hai vẫn không đứt. Lần thứ ba kiếm của chúng tóe lửa và

quằn lại. Chúng chạy về trời, dọa sẽ đem binh lính xuống đánh Hơ mênh và Y Mười.

Khách khứa, làng xóm họ hàng đều xuống chặt thử xác rắn. Họ chặt nhiều lần đều

không đứt.

Đến lượt Hơ mênh, chàng vừa rút kiếm ra đã thấy một ánh chớp làm lóe mắt, mọi

người phải nhắm mắt lại. Hơ mênh chém, chặt xác rắn, vứt bỏ sang bên kia sông Krông. Một

tiếng động vang trời nổi lên, đó là tiếng của đường kiếm Hơ mênh. Xác rắn được dọn, ruộng

đồng lại quang đãng như trước, khách khứa đứng xem đều tươi tỉnh, hổ hởi khen ngợi Hơ

mênh, và đều cho việc chàng lấy Y Mười thật xứng đáng.

Y Mười lúc ấy cũng muốn tỏ rõ cho mọi người biết từ trước đến nay cô vẫn yêu mến,

quý trọng Hơ mênh và đón tiếp chàng như một vị tướng quân thắng trận trở về. Cô mời mọi

người tiếp tục tiệc mừng công.

Khi Hơ mênh ra về, cô lấy xe ngựa tiễn chàng đến nửa đường, gửi quà biếu bà chàng,

rồi mới quay trở lại. Hơ mênh lại xuống nước báo cho cha mẹ ý định xấu của Dró và Drai.

Cha chàng khuyến khích con cần trừ cho được bọn quỷ hung bạo đó.

Từ ngày từ biệt nhau, Y Mười hằng mong nhớ Hơ mênh, mong chàng chóng trở lại.

Cô quên dệt vải và may, hằng ngày cứ ra ngõ ngóng trông người yêu.

Bỗng một hôm có một người khách lạ đến nhà. Hỏi ra mới biết đó là người của Dró và

Drai, đến báo tin không hay là một ngày gần đây Dró và Drai sẽ cử quân xuống đánh để

cướp Y Mười về làm vợ.

Vừa thoát nạn rắn thần ăn thịt, nay tai họa mới lại ập đến. Y Mười tức tốc cho người

đến cầu cứu Hơ mênh. Hơ mênh nhắn cô cứ yên lòng, chàng quyết không để cô lọt vào tay

bọn quỷ dữ.

Chập tối hôm đó, nhìn lên trời, cô thấy như ánh sao lấp lánh, đó là lúc chàng Hơ mênh

đang đạp mây bay đến để cứu cô. Trong luồng ánh sáng của cầu vồng, cô thấy một chàng trai

xinh đẹp đang bay lượn là là trên mái nhà cô. Lòng cô vui xiết kể, ra đứng vẫy tay chào,

bụng nghĩ độ này Hơ mênh đã thay da đổi thịt, trở nên chàng trai tuấn tú. Hơ mênh đáp

xuống vào nhà, cả nhà Y Mười mừng rỡ. Y Mười hát:

Mời chàng ăn trầu

Mời chàng uống chè tươi

Mời chàng uống rượu cần

Cho vui lòng em

Ngày mai đây

Dró và Drai sẽ đến

Tai họa ập đến, lòng em lo

Chàng hãy cứu lấy đời em

Ăn uống xong. Hơ mênh bảo Y Mười cho người nhà lùa trâu đực khỏe về cho chàng.

Chàng ra tay mài đôi sừng con trâu nhọn như mũi dao và dặn trâu trực sẵn ở hàng rào, thấy

bọn cướp đến thì xông ra húc chúng lòi ruột.

Rồi đêm hôm đó, trong nhà Y Mười mọi người vẫn cười nói, tưởng như không có việc

gì xấu sắp xảy ra.

Rạng sáng hôm sau quân lính của Dró và Drai xuống chật đường. Y Mười gọi Hơ

mênh dậy. Chàng điều khiển trâu cho mỗi lần húc chết năm mươi tên, làm cho quân Dró và

Drai chết nhiều, xác ngổn ngang mặt đường. Cuối cùng hai tên hung dữ phải xông ra. Hơ

mênh gọi chúng xuống mặt đất đánh nhau. Chúng thách Hơ mênh lên trời.

Hơ mênh bảo Y Mười bắt cho con gà trống lông trắng. Chàng hóa phép, đánh một roi

vào gà, gà liền biến thành một con ngựa vừa to vừa khỏe, vừa có cánh biết bay. Chàng nhảy

lên lưng ngựa, bay lên trời đánh nhau với Dró và Drai. Chàng ra roi cho ngựa bay vút lên

chín tầng mây cao hơn chỗ Dró và Drai đang đợi. Chúng cũng vượt lên chém Hơ mênh,

nhưng chàng tránh được và quay lại dùng kiếm phạt bên phải, bên trái, lửa tóe ra sáng loáng.

Cuộc chiến đấu kéo dài, vẫn chưa phân được thua. Y Mười nhìn lên thấy Hơ mênh vân còn

sức lực và nhanh nhẹn, trong lòng mừng thầm. Khi hai bên đều mệt thì nghỉ rồi lại tiếp tục

đánh nhau. Cuối cùng Hơ mênh chặt đứt đầu hai tên một lúc và túm đầu chúng vứt xuống bờ

biển. Cá sấu liền chụp xác chúng nuốt liền. Thế là kết liễu cuộc đời hai tên quỷ dữ.

Hơ mênh cưỡi ngựa bay về báo tin mừng cho mọi người. Làng xóm và cả nhà Y Mười

mừng rỡ, từ nay không con sợ nạn rắn thần, nạn Dró và Drai nữa.

Những tên lính còn sống sót của Dró và Drai đều được Hơ mênh tha tội chết cho về

làm ăn.

Cả vùng người Hơ – rê gần xa đều đồn tin về Hơ mênh, chàng trai tài giỏi và họ bàn

việc thu xếp lễ cưới cho đôi trai tài gái sắc Hơ mênh – Y Mười.

Mọi người vui mừng hát tặng đôi vợ chồng trẻ:

Chàng Hơ mênh có sức có tài

Cứu giúp người mắc nạn

Chàng đã dẹp xong rắn thần và cả nạn Dró, Drai

Thường reo tai họa cho dân

Chàng xứng đáng lấy cô gái Y Mười xinh đẹp

Từ đấy vợ chồng Hơ mênh sống yên vui trong tình thương yêu của cả vùng dân tộc Hơ – rê.

(Truyện cổ các dân tộc thiểu số miền Nam tập 2)

18. Y TƠ LÔNG ĐI TÌM HẠNH PHÚC (Ê ĐÊ)

Trong một làng giàu có kia, có hai ông bà rất nghèo, chỉ sinh được một đứa con trai

tên là Y Tơ Lông. Y Tơ Lông lướn lên rất nhanhnhwng càng lướn càng lười biếng. Suốt

ngày hắn hcir lo thả diều đánh quay, không muốn làm việc gì khác. Thấy con chẳng lo làm

ăn, hai vợ chồng buồn lắm. Khuyên bảo con mãi vẫn không ăn thua gì, hai vwoj chồng cho

là mình cưng chiều con quá, nên cin hư. Y Tơ Lông không chịu làm, cha mẹ liền phạt không

cho ăn cơm. Nhưng lạ quá, không cho ăn cơm mấy ngày rồi mà Y Tơ Lông vẫn khỏe mạnh

và vẫn chơi diều, đánh quay với lũ trẻ làng, có khi còn hăng hơn trước. Hai ông bà lại dùng

lời ngon ngọt bảo con. Bảo mãi cũng không được, họ đành phải nghĩ ra cách khác để dạy

con: họ đuổi Y Tơ Lông ra khỏi nhà. Y Tơ Lông lẳng lặng đi vào rừng, đi mãi, đói bụng thì

ăn quả rừng, khát nước thì uống nước suối. Y Tơ Lông đi qua nhiều núi, vượt qua nhiều suối,

chàng gặp một chú thỏ. Thỏ hỏi Y Tơ Lông:

- Anh Y Tơ Lông đi đâu đó?

- Tao đi tìm hạnh phúc đây!

Nghe nói đi tìm hạnh phúc, thỏ thích quá, liền nói với Y Tơ Lông:

- Thế anh cho em đi với.

- Mày ở nhà giữ em đi thế nào được!

Thỏ nói mãi Y Tơ Lông mới cho thỏ đi theo. Hai anh em lại băng rừng vượt suối,

quyết đi tìm hạnh phúc. Trên đường đi họ lại gặp chú khỉ tinh nghịch. Khỉ hỏi:

- Hai anh đi đâu đó?

- Chúng tao đi tìm hạnh phúcđây!

- Hai anh cho tôi đi với.

- Mày ở nhà giữ em, đi thế nào được!

Cuối cùng Y Tơ Lông cũng cho khỉ đi cùng. Ba anh em đi mãi. Một ngày kia họ đến

một vùng khô ráo, nắng gay gắt, cây cỏ chết cả. Hỏi ra mới biết vùng này vẫn có tục lệ cứ

bảy năm một lần chúa làng phải mang một người con gái đẹp cho con trăn tinh ăn thịt. Bao

đời nay, con trăn tinh đã ăn hại không biết bao nhiêu người con gái xinh đẹp trong vùng. Đã

có nhiều dũng sĩ khỏe và tài gỏi đến giết trăn tinh, nhưng không một ai giết được. Năm ấy,

đã đến kì nộp con gái đẹp cho trăn tinh. Chú làng lo lắng vì không tìm đâu ra con gái đẹp để

nộp.Trời hạn hán đã lâu, ngày một gay gắt hơn. Nếu quá hạn lâu, thì trăn tinh không những

làm cho trời nắng mà còn làm cho nước các sông dâng lên, làm ngập cả một vùng nữa. Từ

chúa làng cho đến người dân thường đều lo chết đói, chết chìm. Con trăn tinh đã cho nước

dâng ngập mấy làng dưới chân núi. Thấy không thể chậm được nữa, chúa làng phải đem con

gái của mình đến một ngôi nhà trên núi cao nộp cho trăn tinh độc ác. Ba anh em Y Tơ Lông

đang đi thì bỗng thấy nước dâng lên ngập lối đi, ba người đóng thuyền vượt qua. Ngồi trên

thuyền Y Tơ Lông nhìn thấy xa xa có nhiều làng mạc, nhà cửa sắp bị chìm dưới nước. Y Tơ

Lông không hiểu sao không có một giọt mưa mà lại có nước lũ như thế. Chàng nhìn lên ngọn

núi thì thấy có một ngôi nhà nhỏ, bèn ghé thuyền vào để hỏi. Bước vào trong nhà không thấy

bóng người. Chàng liền cất tiếng gọi:

- Người nhà đi đâu?

Tiếng trả lời thê thé, yếu ớt của người con gái từ trong tối vọng ra:

Mày muốn ăn thì ăn, mày muốn giết thì giết, mày ăn rồi mày cũng sẽ chết.

Y Tơ Lông nhìn mãi không thấy người con gái đâu cả. Chàng đành phải trả lời lại:

- Ta ăn gì nhà ngươi, ta giết gì nhà ngươi và ta chết làm sao được. Ta đã đi bao nhiêu

lần trăng tròn, vượt bao nhiêu khe suối, bao nhiêu núi đồi còn không chết nữa là…

Người con gái nói vọng ra:

- Mày muốn ăn thì ăn, rồi mày cũng chết.

Khỉ thấy vậy liền chạy vào trong xem sao thì thấy một người con gái xinh đẹp bị trói

vào cột. Khỉ chạy ra báo cho Y Tơ Lông biết… Y Tơ Lông đến gần người con gái, nói:

- Nếu người thật thì giơ cánh tay lên cho ta xem.

Người con gái liền nói:

- Tay tôi bị trói chặt không giơ lên được.

Y Tơ Lông biết người con gái bị trói là người thật, liền hỏi:

- Làm sao người đẹp thế này mà lại bị trói ở đây?

Người con gái không tin chàng là người thật nhưng vẫn bảo:

- Nếu anh là người thì hãy tránh đi, ở đây sẽ chết cả đấy.

Y Tơ Lông cho người con gái ăn tạm trái cây của mình mang theo và hỏi chuyện nàng.

Người con gái kể lại đầu đuôi câu chuyện cho chàng nghe và khuyên chàng nên đi mau

không phải vạ vào thân. Người con gái còn phân trần thêm về câu chuyện của mình lúc nãy

là câu nói của bất kì ai đến đây trước khi chết. Còn nàng bị trói là khỏi để tự tử trước khi bị

trăn tinh đến ăn thịt. Trăn tinh chỉ ăn thịt người còn sống và người bị trói mấy nhày chứ

không ăn thịt người chết. Khi nào ăn xong thì nó mới cho nước rút dân làng mới được yên

ổn. Nghe xong chuyện Y Tơ Lông bàn kế với thỏ và khỉ để giết trăn tinh. Bàn xong, khỉ liền

chạy đến một làng gần đó, giết bảy con trâu, lột lấy bảy tấm da, đánh thành một cái chão

vừa dài vừa to lại vừa chắc. Đánh chão xong khỉ mang về cho Y Tơ Lông, chàng thắt thành

một cái thòng lọng đặt gần chỗ người con gái bị trói.

Trời vừa tối, sấm chấp đùng đùng nổi lên, trăn tinh đã xuất hiện và bay tới. Nó bay quanh

nhà một vòng rồi đỗ xuống sân mài răng “kèn kẹt” nghe rơn cả người. Nó trương cái bụng

ra, thở phì phò, hơi thở bay ra thành gió bão, mùi hôi sặc sụa. Mài răng xong, trăn tinh chui

vào nhà và cất tiếng hỏi như sấm động:

- Khà! Mồi của ta đâu? Người con gái đẹp đâu?

Lúc ấy, người con gái sợ ngất đi trên cột. Trăn tinh trợn mắt sáng rực như mười bó

đuốc để nhìn người con gái. Nó vừa ghé răng định cắn dây trói cô gái thì chiếc thòng lọng ền

thắt lấy cổ nó lôi nó ra khỏi nhà. Tay trái cầm chão kéo, tay phải sẵn dao Y Tơ Lông vung

tay bổ xuống một nhát, đầu trăn tinh đứt làm đôi. Bị đánh bất ngờ, con quái vật không kịp

chống cự và chết không kịp ngáp.

Thấy con trăn tinh đã chết. Thỏ chạy lại cởi trói cho người con gái. Vì sợ quá người con gái

ngất đi. Khỉ liền chạy tót vào rừng kiếm lá thuốc hồi sinh mang về chữa cho cô gái.

Người con gái sống lại, Y Tơ Lông khẽ bảo nàng:

- Trăn tinh chết rồi, nước cũng đã rút dần, cô lên thuyền này, thuyền sẽ đưa cô về nhà.

Người con gái mở mắt nhìn Y Tơ Lông, một chàng trai thân hình to lớn, con mắt sáng

như mặ trời, người đã cứu sống nàng, cứu sống dân làng. Nàng không biết nói thế nào cả.

Nàng mời chàng về nhà thì chàng không chịu về, hỏi đến tên thì chàng không chịu nói. Y Tơ

Lông bỏ ra đi, nàng cầm lấy đuôi khố của chàng, cành giật mạnh, đuôi khố đứt. Y Tơ Lông

lại cùng thỏ khỉ đi tìm hạnh phúc. Nàng nhìn đuôi khố đứt trong tay, đứng nhìn theo.

Y Tơ Lông nhằm hướng mặt trời đi mãi. Đi được một đoạn đường, bỗng nghe tiếng

ầm ầm như trời đổ, núi nhào, cây cối một vùng rung chuyển ghê gớm. Y Tơ Lông men dọc

theo một con suối thấy cây cối, tre nứa đua nhau gãy đỗ cả xuống. Nhìn kĩ, Y Tơ Lông thấy

một người khổng lồ, cao ngất, đứng choáng một vùng trời đang gò lưng kéo một bè gỗ, nứa

to tướng. Y Tơ Lông chạy lại chẳng nói chẳng rằng, dùng đôi chân dẫm lên đuôi bè. Người

khổng lồ ráng hết sức mà không kéo bè đi được. Bực quá, người khổng lồ liền quay lại nhìn,

chú ý lắm mới thấy một chú bé giẫm lên đuôi bè của mình. Người khổng lồ cất tiếng ồm ồm

như sấm động:

- Oắt con kia, tao giết chết mày đấy!

- Ông kéo bè gỗ nứa này về làm gì hả?

- Làng bị ngập nước hết cả rồi, tao lấy gỗ nứa cho dân làng làm nhà ở.

- Ông lấy cho cả làng hay từng nhà hả?

- Tao đem về cho chủ làng, chủ làng đem chia cho từng nhà.

- Tôi đi với ông được không? Tôi kéo giúp ông mà!

- Làm sao mày kéo nổi?

- Ông cứ cho tôi kéo thử xem.

Người khổng lồ đưa chão cho Y Tơ Lông. Chàng liền chạy một hơi, người khổng lồ

đuổi theo không kịp. Gần đến làng Y Tơ Lông dừng lại, chờ ngườ khổng lồ đến. Đến nơi,

hắn khen Y Tơ Lông kéo khỏe và muốn kết bạn chàng nhận lời. Cả bốn cùng về làng. Từ xa

họ nghe tiếng chiêng, tiếng trống gõ vui tai. Đến nơi chàng mới biết là dân làng đánh chiêng,

đánh trống múa hát mừng thoát nạn trăn tinh, được ra nương, ra rẫy làm lụng.

Nhà chủ làng cũng đánh chiêng, đánh trống như là để cúng ma con gái, chứ không

phải ăn mừng. Cả nhà chủ làng đang buồn vì nhớ thương con gái, bỗng có người về báo,

ngoài suối có chiếc thuyền gỗ đang trôi thẳng về làng, ở trên có một người con gái. Chủ làng

sợ quá mặt biến sắc xanh như tàu lá, tóc dựng đứng như cỏ tranh, tai ù lên như gió thổi vào

ống tre.Miệng chủ làng lầu bàu: “Thôi chết rồi, ma con gái về bắt tội rồi!”. Củ làng không

dám ngồi yên một chỗ, chạy lung tung hết chỗ này sang đi nơi khác, sai người nhà đóng chặt

cửa lại. Thuyền đến bờ, người con gái chạy thẳng về nhà để gặp cha mẹ. Nhà đóng kín cửa,

nàng liền gọi:

- Cha ơi, mở cửa cho con vào.

Người cha vừa run vừa hỏi lại:

- Con gái của cha về thật đấy à?

Người con gái nói thêm:

- Con được một người cứu thoát, cha mở cửa nhanh cho con vào.

Chủ làng vừa mừng vừa sợ, ra mở cửa. Cha con ôm lấy nhau mừng rỡ. Cô con gái kể

lại mọi việc cho cha mẹ nghe và lấy đuôi khố của chàng trai nọ cho cha xem. Ngày hôm sau,

chủ làng mở tiệc, mời tất cả trai trán trong làng đến đọ đuôi khố ai đúng thì người đó sẽ được

chủ làng gả con gái cho. Y Tơ Lông cũng có mặt trong buổi tiệc đó. Chỉ có chàng mới đọ

III. KHU VỰC NAM BỘ:

đúng đuôi khố và được lấy cô gái đẹp. (Truyện cổ Êđê)

1. THẦY RẮN Ở ĐỒNG THÁP MƯỜI

Muỗi kêu như sáo thổi

Đỉa lội như bánh canh

Cỏ mọc thành tinh

Rắn đồng biết gáy

Đó là cảnh hoang vu của Đồng Tháp Mười cáh đây khoảng hơn một thế kỷ. Rắn ở

Đông Tháp Mười ai cũng biêt tiếng. Rắn ở đây chẳng những to mà còn độc. Đối với những

người dân tiền phong đến khai phá Đồng Tháp Mười, rắn là một trong những mối đe dọa ghê

gớm nhất.Nhưng vỏ quýt dày thì có móng tay nhọn. Ở đây dù thiên nhiên khắc nghiệt đến

đâu con người vẫn tìm cách chinh phục cho được. Khoảng năm 1858, tại vùng Đồng Tháp

Mười xuất hiện một con mãng xà vương rất hung dữ. Ai đi vào vùng ấy rủi gặp phải nó thì

kể như chết. Hôm nọ có một nông dân tên là Năm Hơn vào rừng tìm trâu lạc, phỉa đi sâu vào

nơi mãng xà vương ở. Anh vừa đi vừa dáo dác nhìn thì bỗng thấy từ xa một người cao lớn

vạm vỡ đang đang chạy như bay đuổi theo một con rắn lớn mà từ trước đến nay anh chưa

từng trông thấy. Người nọ và rắn quần nhau dữ dội. Rắn dữ dần dần đuối sức bị người nọ

khống chế: chân đè chặt khúc đuôi, tay nắm chặt cổ rắn, tay kia mổ bụng giết rắn. Năm Hơn

sau một hồi đứng nhìn sửng sốt , chạy đến chào hỏi người ấy, và không giấu được tò mò:

- Ông thật là phi thường mới trừ được con rắn ấy. Dám mong ông cho biết quý danh.

Người ấy đáp:

- Ta là Lê Huy Nhạc. Nghe nói mãng xà về đây hại người, ta đã tìm kiếm nó suốt cả

tháng nay mới trừ được. Con rắn này độc lắm. Nó phì hơi ra cũng giết được người. Ta

chuyên nghề bắt rắn từ bé đến giờ mà cũng ghê loại mãng xà vương này.

Năm Hơn vồn vã mời ông thầy rắn về nhà rồi bảo vợ con làm cơm thiết đãi và tôn

kính ra mặt. Sáng hôm sau, trước khi Lê Huy Nhạc ra đi, Năm Hơn nài nỉ xin theo học. Lê

Huy Nhạc cảm động lòng thật thà của Năm Hơn, bằng lòng nhận Hơn làm học trò. Theo thầy

được một năm, Năm Hơn đã học được những kinh nghiệm quý báu. Tài bắt rắn của Năm

Hơn nổi tiếng khắp vùng. Có điều là không ai gặp được ông thầy rắn Lê Huy Nhạc, chỉ có

Năm Hơn thì lâu lâu mới thấy ông đến thăm mình. Bỗng một hôm ở làng bên, có một con

rắn lớn xuất hiện. Mình rắn nửa đen nửa trắng. Da ắn xù xì trông rất kinh. Hễ ai bị nó cắn thì

không sao cứu chữa được. Dân làng sợ hãi, treo giải thưởng ba mươi nén bạc cho ai trừ được

rắn dữ. Năm Hơn được mời đi trừ hại. Được dịp giúp đời, Năm Hơn không chút nao núng,

khăn gói vào rừng. năm ngày sau, Năm Hơn tìm được hang rắn. Năm Hơn tìm cách nhữ rắn

lên khỏi hang rồi tìm cách giết đi. Năm Hơn xem xét tường tận thấy mình rắn cứ cách giưa

mỗi khoang đen lại có một vòng tròn nhỏ. Năm Hơn vốn có ít nhiều kinh nghiệm nhưng

không rõ rắn ấy thuộc loại nào, bèn xách vào làng cho dân chúng xem, rồi đem về nhà định

phơi khô chờ thầy đến hỏi cho biết.Năm Hơn vừa mang xác rắn về nhà thì ông thầy rắn đến.

Sực trông xac rắn, ông Nhạc kêu lên:

- Trời đất! nọc độc của thứ rắn này còn hơn mãng xà vương nữa. Mày làm sao hạ được

nó vậy?

Năm Hơn thuật chuyện, nghe xong ông Nhạc liền bảo:

- Phước là tao đã gặp mày sớm , không thì mầy phải chết. Năm Hơn kinh ngạc:

- Vì sao vậy?xin thầy dạy bảo cho

Ông Nhạc giảng giải :

- Đây là phi lân xà, loài rắn có thể bắn vảy bay được. Ai đến gần noshay bắt nó không

sao tránh khỏi vảy nó bay trúng vào người, truyền nọc độc giết chết. Con đã bị trúng vảy nó

rồi. Chỉ chậm vài ngày nữa là vảy nó đánh thấu tim, hết phương cứu chữa.

Năm Hơn còn nghi ngờ, ông Nhạc biết ý chỉ mấy cái vòng tròn trên xác rắn bảo:

- Đó là vảy độc của nó. Tất cả có 8 cái. Nay chỉ còn sáu cái, vảy nó đã bắn hai cái vào

mình con rồi. Con cởi áo ra xem kĩ thì biết.

Qủa thật trên người Năm Hơn có hai vòng nhỏ ấy, một cỉa ở trên rún, một cái bên

cạnh sườn, hơi lộ ra ngoài.

Ông Lê Huy Nhạc bảo:

- Con hãy nằm nhà, đừng đi đau, chờ thầy đi tìm thuốc về trị cho.

Dặn xong ông Nhạc đi ngay. Năm Hơn nằm nhà, lát sau ê ẩm cả người. Nọc chạy lên

cổ khó thở lạ lùng. Đến khi ông Nhạc trở lại thì Năm Hơn đã mê sảng, bất tỉnh. Ông Nhạc

lấy thuốc hòa rượu rồi đổ vào miệng Nam Hơn. Rồi bảo vợ Năm Hơn lấy chiếu dắp kín

người Năm Hơn lại và dùng dây trói chạt vào giường, phía dưới để một lò than cháy rực.

Xong đâu vào đấy, ông bảo vợ Năm Hơn lui ra ngoài sân. Ông cũng ra theo, đóng chạt cửa

để một mình Năm Hơn nằm trong nhà. Trời đang mùa nóng bức, lại trùm kín chiếu và bị hơ

lủa đỏ, Năm Hơn bừng tỉnh vùng dậy kêu la dữ dội. Vọ Năm Hơn lo lắng cuống cuồng, định

tông cửa chạy vào mở dây trói cho chồng. Ông thầy rắn khoát tay bảo:

- Có vậy mới sống được. Đừng sợ. Một lát thì khỏi.

Suốt mấy giờ vùng vẫy la hét, Năm Hơn dần dần thiếp đi. Nghe bên trong chỉ còn

tiếng thở đều đều, ông thầy rắn mới chịu mở cửa cho vợ Năm Hơn vào. Lò than đã tàn. Trên

giường Năm Hơn nằm dài như chết. Người vợ vừa khóc vừa giở chiếu ra xem kĩ. Năm Hơn

thở đều. Mắt nhắm nghiền như đang say ngủ… Đến khi tỉnh dậy, Năm Hơn thấy khỏe khoắn

trở lại. Ông Nhạc vạch áo ra xem xét kỹ bụng và sườn của Năm Hơn. Dấu vảy rắn đã biến

mất. Năm Hơn mừng khôn xiết, gắng ngồi dậy chắp tay xá tạ ơn người cứu sống .

Từ đó không ai gặp lại ông thầy rắn, kể cả Năm Hơn. Mĩa về sau, người ta mới biết ông trở

về quê ở Chợ Gạo theo cụ Thủ Khoa Huân chống Pháp. Cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa

Huân thất bại, ông Nhạc trở lại Đồng Tháp Mười ẩn náu và mất tại đó.

(Huyền thoại miệt vườn)

2. RẮN CHÚA

Trước đây ở huyện giồng Riêng, tỉnh Rạch Gía có một người thầy thuốc sống với nghề

trị rắn cắn và bắt rắn bán quanh năm. Ông cùng gia đình sống phủ phê bằng số rắn bắt hằng

ngày. Tính ra đến tuổi bốn mươi ông giết được không biết bao nhiêu là rắn. Mỗi lần gặp ổ

rắn ông ngang nhiên thò tay vào nắm từng con lôi ra. Tay ông có xoa thuốc, rắn cắn như mổ

vào cây, vào đá, không ăn thua gì hết. Một hôm ông đi với người học trò giỏi nhứt. Anh này

gánh giỏ đựng rắn. Ông tìm hang rắn rất mau vì quá rành nghề. Vùng đất ông chọn có một

lớp cỏ khô, trấp, choại ở trên, rắn làm ổ ở dưới. Chỗ nào có răn thì tai nhà nghề nghe rõ tiếng

nó bò. Tìm trúng miệng hang, ông ngồi xuống thò tay vào nắm đầu từng con lôi ra đưa anh

học trò may miệng rắn bỏ vào giỏ. Hàng chục con rắn hổ đua nhau cắn vào tay ông nhưng

ông vẫn trơ trơ, tiếp tục bắt đến con cuối cùng. Ông tóm tất cả bốn mươi tám con! Chưa bao

giờ ông bủa được mẻ lưới to tát như vậy. Ông quơ tay tìm xem còn sót con nào trong hang

không, thì thình lình ông bị một con rắn cắn vào cổ tay. Ông phát rùng mình ớn lạnh, vội rút

tay ra thì con rắn còn ngậm cứng chưa nhả. Hình dáng con vật thật là quái dị: đầu lướn bằng

bàn chân mà thân hình ốm như cổ tay và ngắn chừng ba tấc chứ không dài như mấy con bị

bắt vừa rồi! Hang rắn này quả là một “triều đình” nhà rắn. Bao nhiêu rắn thường bảo vệ và

tìm mồi nuôi con rắn chúa ở ngay giữa hang. Rắn chúa không bao giờ bò ra ngoài vì không

xê dịch được. Khi cần di chuyển nó cắn vào đuôi con khác để con kia kéo đi. Nhà nghề bắt

rắn rất sợ loài rắn nayfvif hễ gặp phải nó thì khó mà thoát chết. Ông thầy thuốc rắn biết mình

gặp thứ dữ rồi, chất thuốc xoa trên tay hết hiệu nghiệm. Ông vội rút gói thuốc phòng thân

giắt trên đầu tóc, đây là phương thuốc thần hiệu đặc biệt của ông dùng để hộ thân khi cần kíp

và khi hết phương cứu chữa. Ông mở gói ra thì thuốc không cánh mà bay mất tự bao giờ.

Ông biết mình hết thời rồi nên mới quên lời thầy dặn về loại rắn này, bèn gọi anh học trò chỉ

cho mấy loại thuốc rắn mà ông còn giấu và trối lại những điều cần thiết nhờ nói với vợ con,

đoạn trào đờm ngã chết trên ổ rắn.

(Truyện kể dân gian Nam Bộ)

3. SỰ TÍCH RẠCH CÁI RẮN

Rạch Cái Rắn chảy ra rạch Ban Dây ở xã Phú Nhuận, huyện cia Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Có người giải thích vì con rạch này khá to, trong rạch mang nhiều phụ lưu nên gọi là “rạch

cái” và vì hình dáng nó quanh co như mọt con rắn khổng lồ bò tìm cánh đồng bát ngát nên

người dân mới xác định tên nó là “Rắn”. Như thế tên “Cái Rắn” là do hình dạng của nó.

Nhưng nhiều người cho rằng người Phú Nhuân ngày nay trù phú, nhưng đời Gia Long còn

hoang vu, có thể gọi là một làng ven Đông Tháp Mười. Lúc mới lập làng, đình cất lại vàm

rạch. Trước cửa đình có một cây đa khổng lồ, xung quanh là một đám lâm rậm rạp. Trong

đám lâm trước cửa đình Phú Nhuận có một hang rắn nên gọi rạch là “Cái Rắn”. Bon rắn

trong hang đã gây nhiều tai hại cho dân làng Phú Nhuận không kể xiết. Nào chuyện cắn chết

người. Nào chuyện rắn đòi hối lộ: mỗi khi làng Phú Nhuận cúng lễ kì yên hàng năm phải

hiến cho bọn rắn mấy con heo trắng mới yên chuyện. Một hôm có một thầy thuốc rắn từ

phương xa đến gặp các chưc việ trong làng tỏ ý muốn diệt trừ hết bọn rắn ở đình để cứu

nguy cho dân làng, với điều kiện phải cấp cho ông ta một chiếc quan tài. Tất nhiên hương

chức Phú Nhuận đều đồng ý. Riêng đối với việc đòi hỏi “thù lao”, ai ai cũng cho rằng ông

nói chơi. Hôm đó thầy dùng mác tông tấn công vào đám lâm, miệng hang rắn lòi ra sâu hun

hút. Thầy bẻ cành cây khô làm củi đốt, rồi móc trong bị ra một túi thuốc rắc lên ngọn lửa,

quạt xông khói vào miệng hang. Trước đó thầy đã thoa tẩm thuốc men khắp thân thể, nên

bọn rắn chịu phép để thầy bắt vào giỏ. Cuối cùng trong hang rắn bò ra một con rắn nhỏ bằng

ngón tay, mình màu đen, cổ có bốn khoang trắng. Nó chậm chạp không thấy gì là dữ nhưng

chẳng hiểu sao bọn rắn bị nhốt trong giỏ lại khiếp vía như đứng trước một đấng tối thượng.

Ông thầy rắn thò tay bắt, tức khắc nó cắn ngay “hổ khẩu”. Thầy ngạc nhiên, sẵn mác trên

tay, phức một dao rồi đưa lên qua sát kỹ. Một lúc sau như phát hiện được ý gì, thầy buồn bã

nói với người ở phía sau:

- Mạng tôi đến đay là hết. Tôi đã bị con rắn chúa cắn rồi. Bà con ở lại mạnh giỏi!

Không ai biết tên họ ông thầy thuốc rắn ấy. cũng không ai biết rõ quê quán, gia đình

của ông ta. Mọi người chỉ biết ông là một người ơn của dân làng nên đùm đậu tổ chức đám

tang của ông trọng thể.

(Nghìn năm bia miệng)

4. ÔNG THẦY THUỐC GIA TRUYỀN

Ngày xưa, vùng núi Sam, ngay cả ban ngày ít ai dám đi một mình trên đường vắng.

Lối đi trong xóm, hai bên gai góc rậm rì, đi đêm phải cầm đuốc cầm cây để xua đuổi rắn.

Những năm “nước lớn” những ngôi nhà gần bãi phải kê sàn lên tận mái nàh. Trăn rắn chạy

lụt bò lên những gò đất, chui vào những ngôi nhà bập bềnh ven bãi. Lắm khi rắn bò lên tận

chỗ người nằm, thu mình dưới chiếu. Có con chắc vì mệt quá chưa bò kịp lên sàn, cuộn tròn

quanh chân cột suốt đêm. Sáng ra chủ nhà lấy gậy dìa chọc đuổi mới đi. Đêm đêm rắn hổ

ngựa ào ào rượt chuột trên mái nhà. Ban ngày nhiều con rắn lục màu da xanh, quấn đuôi trên

cành cây, miệng huýt sáo những tràng dài. Nhiều hôm, có những con trăn dài hai ba thước

đeo lủng lẳng trên cành tre. Người ta xô nhau ra vây bắt. Rất vui.

Hầu như năm nào trong làng cũng có vài người bị rắn cắn. Nhưng không mấy người

chết vì nọc độc của những con rắn quanh quẩn trong làng. Chỉ có một lần, ông Tu Ất bị rắn

chằm oặm cắn lúc đang làm rọ ở nơi xa. Nửa đêm chở ông về đến làng, bà chị đứng trên vồ

đá kêu to, nghe lạnh sống lưng: “Làng xóm! Làng xóm ơi! Ai biết thuốc đến cứu giùm em

tôi, nó bị rắn cắn”

Dân xóm chạy đến chật nhà, người bị rắn cắn nằm ngay đơ trên chiếc chõng tre, miệng sôi

bọt. Ông thầy thuốc rắn đã có mặt từ lúc nào, tay cầm chiếc đèn con xem xét vết thương, coi

vẻ mặt nạn nhân, ông lắc đầu: “Muộn quá rồi! Bị cắn từ xế chiều, nọc độc đã ngấm vào máu,

vào tận tim. Hết cứu chữa!”

Cả nhà nạn nhân òa khóc. Ông thầy thuốc lặng lẽ ngồi nhìn bóng núi loáng thoáng trong ánh

trăng khuya, vẻ mặt lạnh lùng. Đó là lần đầu tiên tôi thấy ông bó tay, chịu thua rắn độc.

Ông Bảy Lễ đại tài! Rắn nào cũng phải thua ông. Dân làng đối với ông như người thân

quyến. Họ nói về ông như nói danh y, họ coi ông là ân nhân của cái làng nhiều rắn này, mặc

dù có người chưa được ông chữa trị lần nào. Họ nói về ông với giọng như hiểu rõ tường tận

tài năng và đức độ của ông. Này nhá! Người lớn, con nít xóm này ai bị rắn cắn, gãy tay gãy

chân không có ông Bảy Lễ thì đã chầu trời hoặc đã suốt đời què quặt. Trời đất cũng ngộ, đã

sinh ra cái làng rắn độc, lại sinh tiếp con người có tài trị nọc rắn. Theo người ta – mà có

người tài như ông- thì đã làm giàu mấy kiếp rồi. Đằng này cả vợ chồng con cái, bảy tám con

người vẫn sống hẩm hiu trong mái nhà tranh đơn sơ, không cửa nẻo. Đố ai thấy ông Bảy Lễ

mặc áo bao giờ? Quần lúc nào cũng ống cao ống thấp. Cái lưng trần đen thui, da sần lên,

cứng như tấm da thộc mới phơi khô. Đến đám tiệc, ông khoác hờ cái áo trên lưng một lúc,

rồi vui vẻ “Xin lỗi bà con” cho ông cởi áo. Đã quen trần trụi với nắng mưa, ông không thể và

cũng không cần mặc áo.

Mỗi lần trong làng có người bị rắn cắn, người ta chạy tìm ông Bảy Lễ. Dù đang giông

mưa, bão tố hay đêm khuya tối tăm, nghe tin báo, ông lật đật đi ngay. Người sống hơn đống

vàng. Vàng mất đi còn tìm vàng khác lại được. Mỗi lần cứu sống mạng người ông thường

nói thế.

Phong thái ông rất ung dung, nhưng không bệ vệ. Đến chỗ người bị rắn cắn nằm, ông thầy

thuốc tự bưng đèn xem kỹ dấu răng. Biết chắc loại rắn gì rồi, ông lặng lẽ ra vườn cây, tìm hái

một nhúm cỏ gì đó, bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến. Biểu thân nhân lấy đũa bếp cạy răng

người bị nạn, ông nhổ nước cỏ vào miệng người đang ngắc ngoải. Tức khắc dờm hạ, cổ kêu

on ót. Xác cỏ còn lại ông đắp vào chỗ rắn cắn, nói rất thản nhiên:

Sống rồi! Nấu nồi cháo đậu xanh cho ăn, sáng mai sẽ khỏe.

Gia đình nạn nhân quá đỗi vui mừng, nhưng đáp lại cái ơn cứu mạng đối với ông thầy

thuốc rắn, hết sức giản đơn. Một xị rượu, con khô cá bổi và trái xoài còn xanh, bày vẽ món

gì khác ông không bằng lòng và xin khước từ.

(Truyện kể dân gian Nam Bộ)

5. MÃNG XÀ VƯƠNG Ở TÂN BẰNG

Cách nay gần ba thế kỷ, ở Tân Bằng, một làng nằm dọc trên bờ sông Cán Gáo, vùng U

Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang, tương truyền có một cặp rắn lớn, dân chúng gọi là mãng xà

vương. Hằng năm cứ đến đúng ngày, hai con mãng xà vương từ ngoài vịnh Thái Lan đến

quấy rối xóm làng. Đôi mãng xà vương to như cái khạp da bò. Khi chúng đến, cả một vùng

rung chuyển, nổi giông gió, sập cả nhà cửa. Dân làng khấn vái, hứa hàng năm nộp cho mãng

xà vương hai đứa trẻ để ăn thịt. Từ đó mãng xà vương không còn hung hãn như trước. Tránh

vỏ dưa gặp vỏ dừa. Mãng xà vương có bớt gây thiệt hại cho dân làng. Nhưng từ đó, mỗi năm

hết hai gia đình này đến hai gia đình khác đem con mình nộp cho rắn dữ. Đó là điều bất hạnh

cho người dân Tân Bằng. Ai dám liều mình chống lại sức mạnh kinh hồn của mãng xà

vương? Năm nọ, có một thầy thuốc, trên bước đường lưu lạc, đang xuôi thuyền theo sông

Cán Gáo, đến địa phận làng Tân Bằng thì nghe trên bờ sông có tiếng chuông trống inh ỏi.

Ông cặp xuồng vào bến, hỏi thăm thì được biết dân trong xóm đang làm lễ dâng hai đứa bé

cho mãng xà vương. Nghe chuyện lạ động lòng, ông thầy thuốc lên bờ đi thẳng đến nơi có

tiếng chiêng trống để xem cho tường tận. Ông thấy dân làng đang tắm rửa cho hai đứa bé, rồi

đem xông hương trầm để “hiến” cho mãng cà vương.

Thấy hai đứa trẻ vô tội sắp bị rắn nuốt sống. Ông thầy thuốc vô cùng xúc động, ông hỏi:

- Chừng nào mãng xà vương đến?

Các kì lão đáp:

- Dạ, đúng vào giờ tý, canh ba.

Suy nghĩ một lát, ông thầy thuốc gọi các bô lão đến bàn bạc cách giết mãng xà vương. Các

bô lão nghe nói giết mãng xà vương thì ai cũng muốn. Nhưng cũng có người tỏ ra ái ngại:

- Này, rủi có bề gì “họa hổ bất thành” gây thêm tai họa cho xóm làng- họ nói với ông

thầy thuốc như vậy.

- Đừng ngại, ta cứ làm như vầy, như vầy. Điều quan trọng là đừng tiết lộ trước làm

cho dân chúng xôn xao, mưu kế khó thành- thầy thuốc động viên họ.

Ngày hôm sau, ông thầy thuốc cùng vài người dân làng làm thịt hai con chó lớn tại một căn

chòi giũa rừng vắng. Đoạn ông tán vài vị thuốc thật nhuyễn bỏ vào bụng hai con chó, rồi

may lại thật kín. Đêm hôm sau, dân chúng kéo nhau đến sân làm lễ như thường lệ. Cha mẹ

hai đứa trẻ khóc la thảm thiết. Còn hai đứa bé bị bỏ đói nằm ngất xỉu. Bầu không khí đầy

mùi trầm hương ngột ngạt. Đến canh hai, các kỳ lão bảo dân chúng về nhà đóng chặt cửa lại,

không cho ai lấp ló ra ngoài sợ bị mãng xà vương làm hại. Mọi người đều răm rắp nghe theo.

Riêng chỉ có hai cha mẹ và thân nhân của hai đứa bé vẫn còn than khóc. Chờ khi mọi người

ai về nhà nấy, ông thầy thuốc mới biểu cha mẹ của hai đứa trẻ:

- Bây giờ các người hãy đem con về, đừng cho chòm xóm biết.

Họ băn khoăn lo ngại:

- Chúng tôi sợ mãng xà vương trả thù.

- Thôi hãy cứ đi cho mau, để ta còn lo cách đối phó.

Theo chỉ dẫn cảu ông thầy thuốc, mấy người dân làng đem hai con chó đã được dồn

thốc ra đặt ngoài sân, giống hình dạng hai đứa trẻ đang quỳ. Họ dùng mực và son để vẽ

miệng và tô mắt xác hai con chó cho giống hình hai đứa bé. Xong đau đó họ khiêng ra hai

thùng nước sơn đặt gần đấy. Công việc vừa chu tất thì khu rừng chuyển động như giông bão.

Ông thầy thuốc khoát tay biểu mấy người dân phụ việc nọ ẩn núp cho kịp quan sát, chờ đợi.

Ngoài sân, đỉnh trầm tỏa khói nghi ngút. Dưới ánh đèn chài mù mờ, hai con chó cạo lông

phơi màu da trắng giống như hai đứa bé. Thình lình giông gió im bặt. Hai con mãng xà

vương xuất hiện. Chúng bò sát đất, chầm chậm tiến lại đỉnh trầm, rồi ngóc đầu lên để lộ

chiếc mồng đỏ ửng như cái quạt, múa qua múa lại.Rồi chúng tiến lại gần quấn chặt lấy mồi

rồi nuốt trọn vào cổ. Lát sau, cúng bò tới bò lui, ngày càng chậm chạp uể oải. Chờ thuốc mê

đã ngấm, ông thầy thuốc khoát tay làm hiệu. Tức thì những người dân làng từ chỗ núp chạy

đến lôi hai thùng sơn ra sơn hai con rắn dữ. Con rắn đực sơn xanh, con rắn cái sơn đỏ. Các vị

bô lão không hiểu cớ sao, hỏi:

- Tại sao thầy chẳng ra lệnh giết chúng?

Thầy thuốc đáp:

- Thế của chúng như vạy nhưng vẫn còn khỏe. Đám ta lại ít người, tốt nhất là để chúng

tự hại nhau.

Hai con mãng xà vương dần tỉnh dậy. Thuốc mê đã giải dần. Chúng ngóc đầu đảo mắt

nhìn nhau. Trông thấy mầu sắc kỳ lạ của nhau, chúng hốt hoảng, xem nhau như kẻ thù khác

loại. Chúng xông vào nhau cắn xé, rồi rượt đuổi nhau gây ra giông gió dữ dội. Chúng đuổi

nhau chạy mát dạng về vịnh Thái Lan. Từ đó đôi mãng xà vương không đến Tân Bằng nữa,

không ai biết chúng cắn nhau chết hay chưa,chỉ biết sau lần ấy chúng không dám bén mảng

đến xứ này nữa.

(Truyện kể dân gian Nam Bộ)