BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
VÕ THỊ THANH TÂM
QUAN NIỆM NHÂN SINH TRONG THƠ
NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS-TS. ĐOÀN THỊ THU VÂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2007
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra trong thời kỳ cực thịnh của triều Hậu Lê nhưng lại
trưởng thành ở thời kỳ rối ren nhất của lịch sử nước nhà. Những trang lịch sử nửa sau thế kỷ
XV-XVI đã ghi lại nhiều biến động về chính trị, nhiều bất công trong xã hội và kéo theo đó
là những suy đồi về đạo đức. Hầu như những nguyên tắc đạo lý của Khổng giáo bị sa sút
trầm trọng, thói đời đen bạc được phơi bày làm cho những ai có tâm huyết với đời, có kỳ
vọng trung hưng về một xã hội phong kiến càng thêm ngao ngán chán chường. Toàn bộ bức
tranh hiện thực xã hội thời ấy đã tác động sâu sắc lên những trang đời và trang thơ của nhà
thơ, ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình cảm, tư tưởng, đặc biệt là thái độ xuất xử của ông trước
thời cuộc. Ông nhập thế là để giúp nước cứu đời. Ông lui về ở ẩn là để giữ vững khí tiết,
thực hiện thú nhàn tản. Thế nhưng, thái độ ẩn dật của tác giả không trầm tư, mặc tưởng như
những nhà Nho thời Lý-Trần mà chứa đựng một “nỗi đau tình đời, vận nước”(Năm trăm
năm Nguyễn Bỉnh Khiêm một nỗi đau tình đời, vận nước-Nguyễn Phan Quang)[78, tr.148],
thái độ “nhàn” của ông là thể hiện cái dũng khí “dĩ bất biến ứng vạn biến” của những bậc
chân Nho.Vì thế, các nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất hiện không chỉ là
một cây đại thụ của nền thơ ca mà còn là cây đời tỏa bóng đạo đức. Ông sống giữa cuộc đời
đảo điên nhưng lại là tấm gương sáng về nhân nghĩa. Tất cả những điều ấy đều xuất phát từ
một quan niệm nhân sinh với những triết lý vô cùng sắc sảo, thâm sâu vượt thời gian của tác
giả. Bình về những triết lý này là điều mà bao năm qua các nhà nghiên cứu, phê bình đã làm
và ngày nay là điều mà chúng tôi mong muốn đóng góp một chút gì đó vào việc tìm hiểu
thêm về nhà hiền triết.
1.2. Ngày nay, đất nước Việt Nam đang vận động trong thế kỷ XXI, tuy không có những
phong ba về mặt chính trị nhưng mấy ai dám khẳng định trong cuộc sống hiện tại không có
cảnh con người chạy theo vật chất mà quên đi nét đẹp tâm hồn. Cuộc sống tinh thần, đạo lý
thánh hiền, truyền thống dân tộc có bị lung lay hay không giữa một xã hội đang hội nhập về
mọi mặt ? Khi công cuộc toàn cầu hóa văn hóa đang diễn ra rất phức tạp, khi cơn bão táp
của nền kinh tế thị trường đang làm cho không ít người chỉ biết lấy vật chất làm thước đo
giá trị con người thì lúc ấy mấy ai quan tâm đến đạo lý làm người. Khi thế lực đồng tiền và
văn hóa thực dụng lên ngôi, thì mấy ai sẽ còn nhớ đến những tinh hoa dân tộc ẩn dưới lớp
bụi thời gian. Vì vậy,“ trong thời buổi xô bồ, náo loạn, quay quắt, bề bộn”(Một danh nhân
văn hóa lớn thế kỷ XVI-Lê Quốc Sử)[78, tr.164], việc đi vào tìm hiểu quan niệm nhân sinh
trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhu cầu bức thiết của cuộc sống. Bởi cái nhìn triết
lý về cuộc đời của ông ngày xưa vẫn còn ảnh hưởng đến hậu thế, vẫn có tác dụng hữu hiệu
cho sự phân định những điều thật-giả; tốt-xấu; thiện-ác; đúng-sai đang diễn ra hàng ngày
hàng giờ trong cuộc sống của chúng ta.
Tất cả những vấn đề trên đều là những vấn đề lí thú cần nghiên cứu để hiểu sâu hơn về
nhà hiền triết Nguyễn Bỉnh Khiêm, để bày tỏ tinh thần trân trọng di sản văn hóa quá khứ,
trân trọng một tấm gương cao quí xưa. Đó chính là những lý do mà chúng tôi chọn làm đề
tài nghiên cứu trong luận văn này.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nguyễn Bỉnh Khiêm được người đời xưng tụng là “cây đại thụ tỏa bóng gần suốt cả thế
kỷ XVI”. Cuộc đời và thơ văn của ông là đề tài khá hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu. Cho
nên, tính đến thời điểm ngày hôm nay, ngoài một số bài viết lẻ tẻ trên Tạp chí Văn học, còn
có nhiều công trình nghiên cứu về thời kỳ lịch sử phức tạp và cuộc đời có nhiều mâu thuẫn
của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm-Trần Thị Băng Thanh-Vũ Thanh tuyển
chọn và giới thiệu. Gồm 67 bài viết tập trung nghiên cứu theo từng phương diện: Nguyễn
Bỉnh Khiêm giữa thế kỷ XVI đầy biến động; Triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm-Tư tưởng và
nhân cách ; Nguyễn Bỉnh Khiêm-Nhà thơ; Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm thức thế nhân xưa
và nay. Những bài viết này thể hiện nhiều phát hiện khoa học lý thú và những lời bình sắc
sảo của các học giả.
Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc–Viện khoa học xã hội –
Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm, đóng góp 28 bài viết có chiều sâu, với nhiều tư liệu có giá
trị về Nguyễn Bỉnh Khiêm: Thân thế và hoàn cảnh lịch sử ; Tư tưởng và Thơ văn; Một số
vấn đề khác có liên quan đến Trạng Trình.
Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập-Nguyễn Khuê. Đây là một công trình
nghiên cứu và phiên dịch có giá trị mới mẻ. Công trình bao gồm bốn phần. Phần thứ nhất,
tác giả đã trình bày những nét đại cương về hoàn cảnh lịch sử, về cuộc đời, về những tác
phẩm chữ Hán, tác phẩm chữ Nôm, Sấm ký. Phần thứ hai, tác giả đi vào khai thác tình cảm,
tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phần thứ ba là những nhận xét về hình thức nghệ thuật
và giá trị nội dung của Bạch Vân am thi tập, đồng thời đã khẳng định vị trí và ảnh hưởng
của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử văn hóa dân tộc, trong lòng dân tộc Việt Nam. Phần
thứ tư là 102 bài thơ trong Bạch Vân am thi tập đã được tuyển dịch khá công phu.
Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm- Đinh Gia Khánh (chủ biên), tập trung trích 161 bài thơ
Nôm và gần 100 bài thơ văn Việt Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tập sách có lời giới thiệu
của tác giả với những lời nhận xét chung khá thuyết phục về nội dung tư tưởng và nghệ
thuật thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Triết lý nhàn dật và tự tại trong sách Nguyễn Bỉnh Khiêm-danh nhân văn hóa-Trần
Đình Hượu. Tập trung bàn khá thú vị về lối sống nhàn, tự tại của nhà hiền triết.
Tập kỷ yếu về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được thực hiện nhân lễ kỷ niệm 500
năm năm sinh của ông. Bao gồm 52 bài tham luận xoay quanh những vấn đề “luôn luôn có
một ý nghĩa thời sự, là những vấn đề còn để ngỏ chứ chưa khép lại”(Lời nói đầu-Trạng
Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm). Những bài viết đề cập đến nhiều vấn đề về Nguyễn Bỉnh Khiêm
và được sắp xếp theo một hệ thống chủ đề gồm bốn phần: phần thứ nhất nói về thời đại và
quê hương Vĩnh Bảo; phần hai là những bài bình thú vị về con người và tư tưởng Nguyễn
Bỉnh Khiêm; phần ba đề cập sự nghiệp văn chương của Nguyễn Bỉnh Khiêm với những lời
bình sâu sắc về nội dung và nghệ thuật thơ. Cuối cùng là những ý kiến trân trọng về vị trí
của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm thức con người hiện nay.
Bạch Vân Quốc ngữ thi tập- Sống Mới của Nguyễn Quân thì chỉ làm rõ thêm một số
vấn đề về thân thế và sự nghiệp tác giả; nêu thêm mấy nghi vấn về Thái ất thần kinh, Thái
Huyền, kinh Dịch, sấm ký Trạng Trình; những ý kiến sơ lược của tác giả về xã hội thời
Nguyễn Bỉnh Khiêm và những lời bình ngắn lướt qua về nội dung-nghệ thuật một vài bài
thơ.
Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu có giá trị khác viết về Nguyễn Bỉnh
Khiêm của Bùi Duy Tân, Bùi Văn Nguyên, Mai Cao Chương, Mai Quốc Liên, Vũ Tiến
Quỳnh, Vũ Tiến Phúc, Trần Lê Sáng, Vân Trình… Mỗi một tác giả nhìn nhận về Nguyễn
Bỉnh Khiêm ở góc độ khác nhau, mỗi một lời bình khá lí thú và hấp dẫn đã mở ra rất nhiều
vấn đề mới. Dù những bài viết đó có mang tính chủ quan hay khách quan hoặc chưa đi sâu
vào một khía cạnh nhưng đều tập trung vào vấn đề chính: tư tưởng và tình cảm của Nguyễn
Bỉnh Khiêm. Chính những nhận định khá sắc sảo của các nhà nghiên cứu đi trước và được
nêu sau đây sẽ làm nền vững chắc để cho luận văn này ra đời :
Mai Quốc Liên khẳng định: “ ….Nguyễn Bỉnh Khiêm được xem như Giang, Hán trong
các sông, như ánh mặt trời thu, cây đại thụ của đạo đức, văn chương thế kỷ XVII”. (Nguyễn
Bỉnh Khiêm trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc)
Trần Thị Băng Thanh, Vũ Thanh cho rằng : “Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà nho có bản
lĩnh, một trí giả. Tìm đến với sự nhàn dật chính là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm về với cái
vụng, cái chuyết mà theo quan niệm của Nho gia, đã được điều chỉnh bởi quan niệm của đạo
Lão, mới là bản chất tự nhiên của sự vật Chính quan niệm nhàn dật đạt tới ý vị triết học đó
đã tạo nên một Nguyễn Bỉnh Khiêm-Bạch Vân cư sĩ tự do, tự tại, giản phác, hồn nhiên, lạc
quan, khỏe khoắn, rất hiếm thấy trong làng thơ nhàn thời trung đại” (Sức sống của thơ ca và
tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Riêng Lê Trọng Khánh-Lê Anh Trà có những ý tưởng trân trọng khi phát hiện quan
niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “…tính chất nhàn tản của Nguyễn Bỉnh Khiêm
thực chất không phải yếm thế, xu thời, ích kỷ và hoàn toàn hưởng lạc…tư tưởng nhàn tản
của Nguyễn Bỉnh Khiêm có những khía cạnh tích cực, phù hợp với tư tưởng hành đạo của
Nho giáo. Cái nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một lối phản ứng của tầng lớp nho sĩ bất lực
trước thời cuộc lúc bấy giờ, phản ứng bằng hình thức tiêu cực, nhưng vẫn bao hàm một nội
dung đấu tranh bằng phương pháp theo lẽ tự nhiên.”(Nguyễn Bỉnh Khiêm-Nhà thơ triết lý)
Còn Nguyễn Khuê nhận định : “Thơ ông là tiếng nói rất chân thực rất nhân bản
của một nhà hiền triết trước cảnh ngộ, nhân sinh, thiên nhiên vũ trụ; là một nỗ lực
hướng tới chân, thiện, mỹ. Vì thế, tiếng nói ấy mãi mãi vang vọng trong tâm hồn dân
tộc”(Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập)
Trong Nguyễn Bỉnh Khiêm-Nhà thơ lớn thế kỷ XVI, Nguyễn Phương Chi có lời bình khá
thuyết phục về Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Thơ văn ông là khát vọng hòa bình, là nỗi lo lắng về
tương lai của đất nước, là nỗi hoài nghi trật tự phong kiến, một trật tự mà đến thế kỷ XVI đã
bị xáo trộn”.
Và khi bàn về Bạch Vân quốc ngữ thi tập, Nguyễn Quân cũng có khẳng định: “Lại nữa,
cụ có chủ trương là chủ trương vô sự, nghĩa là không để có sự gì rắc rối, chớ đâu phải là chủ
trương vô vi nghĩa là không làm gì hết, cứ việc phó mặc cho con tạo xoay vần …..Có thể
nói sự lánh đời, nhưng còn khuyên đời, còn mong ước đời và vẫn không quên ơn vua chúa,
không phụ tình nước non.”
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trong tiến trình khảo sát, ngoài việc tiếp thu thành quả của những công trình đi trước,
chúng tôi tiếp tục đi vào nghiên cứu sâu hơn quan niệm nhân sinh trong thơ của Nguyễn
Bỉnh Khiêm, hướng tới một số vấn đề sau:
1. Đi vào nghiên cứu thời đại và tiểu sử của Nguyễn Bỉnh Khiêm để tìm hiểu cơ sở
khách quan, chủ quan của việc hình thành quan niệm nhân sinh.
2. Khảo sát thơ chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm để tìm hiểu quan niệm
nhân sinh của ông thể hiện như thế nào? Tìm hiểu quan niệm nhân sinh của Nguyễn Bỉnh
Khiêm trong sự đối sánh với tư tưởng các nhà thơ khác.
3. Nhận xét ý nghĩa tích cực và tiêu cực trong quan niệm nhân sinh của Nguyễn Bỉnh
Khiêm.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phương pháp lịch sử-xã hội
Phương pháp Mác-xít khẳng định mối quan hệ giữa văn học và xã hội, giữa văn học
và thời đại, giữa cá nhân và thời đại. Vì vậy, người viết đặt tác giả vào bối cảnh lịch sử-xã
hội thế kỷ XV-XVI để nghiên cứu. Tham khảo những tài liệu có độ chính xác cao, có sự
đồng tình của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình qua quá trình tiếp nhận. Nhưng xin mạn phép
là không tham dự vào cuộc tranh luận để phân định
ai đúng ai sai mà chỉ đưa ra ý kiến cá nhân để chia sẻ cách hiểu riêng về một tác gia.
4.2. Phương pháp hệ thống
Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn tổng quan đối với vấn đề
đang nghiên cứu. ở đây, quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm được biểu
hiện cụ thể qua cuộc đời, tư tưởng, cách sống và tình cảm trước hiện thực khách quan.
Người viết sẽ sưu tầm những tài liệu có liên quan và sắp xếp có hệ thống khoa học. Phân
loại thơ theo từng đề tài nhằm thể hiện cụ thể quan niệm nhân sinh của tác giả.
4.3. Phương pháp đối chiếu so sánh
Sử dụng phương pháp này để khẳng định rằng thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là sự tiếp
nối và phát triển truyền thống văn học Việt Nam. So sánh đối chiếu những điểm tương đồng
và dị biệt với thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Phùng Khắc
Khoan….nhằm phân tích sâu hơn tư tưởng của nhà thơ.
4.4. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Trong quá trình khảo sát, sẽ đi tìm những yếu tố lặp đi lặp lại, xác định những yếu
tố nổi bật làm nên quan niệm nhân sinh. Phân tích từng câu thơ, bài thơ nhằm làm bật lên tư
5. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
tưởng, tình cảm của tác giả.
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Từ trước đến nay, có thể nói chưa có tác gia nào chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi thời
cuộc như Nguyễn Bỉnh Khiêm, cho nên muốn hiểu rõ quan niệm của ông, trước hết phải
khảo sát thời đại ông đang sống. Quan niệm nhân sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm được thể
hiện trong 100 bài thơ chữ Hán và 161 bài thơ chữ Nôm. Bên cạnh đó, người viết cũng lưu
ý tới điểm gặp gỡ về quan niệm nhân sinh của tác giả với các nhà thơ trước và sau
ông.Trong quá trình nghiên cứu người viết sẽ tham khảo những công trình nghiên cứu về
Nguyễn Bỉnh Khiêm từ trước tới nay, tham khảo thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến,
Phùng Khắc Khoan….…
5.2. Giới hạn đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là khảo sát quan niệm nhân sinh trong thơ
Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hướng đi cụ thể là từ xa đến gần từ cái chung đến cái riêng.Vấn đề
nghiên cứu được khảo sát từ hoàn cảnh lịch sử-xã hội, từ tư tưởng Nho, Phật, Đạo, từ truyền
thống văn hóa dân tộc, từ cuộc đời - sự nghiệp đến quan niệm nhân sinh của nhà thơ và sau
đó là so sánh với các nhà thơ khác. Từ đó người viết sẽ đưa ra cách hiểu về ý nghĩa tích cực
và tiêu cực trong quan niệm nhân sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Cuối cùng, vì khả năng có hạn, luận án chưa có điều kiện đề cập tới những giai thoại,
toàn bộ Lý học trong Thái ất Thần kinh, sấm Trạng Trình. Tài liệu nghiên cứu chủ yếu dựa
vào tập Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm của Đinh Gia Khánh biên soạn và Tuyển dịch Bạch
Vân am thi tập của Nguyễn Khuê.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Từ hệ qui chiếu lấy những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc làm chuẩn, chúng tôi soi
vào những tác phẩm thơ ca của Nguyễn Bỉnh Khiêm để tìm hiểu sâu hơn quan niệm nhân
sinh của ông như một giá trị văn hóa quý báu của dân tộc Việt Nam. Đồng thời đóng góp
thêm một số ý kiến về ý nghĩa tích cực và tiêu cực trong quan niệm nhân sinh của Nguyễn
Bỉnh Khiêm.
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn chia làm 3 phần :
7.1. Mở đầu
7.2. Nội dung : có 2 chương. Bao gồm:
Chương 1: Những tiền đề của quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh
Khiêm.
Chương 2: Các khía cạnh của quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.
7.3. Kết luận
CHƯƠNG MỘT
NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA QUAN NIỆM NHÂN SINH TRONG THƠ
NGUYỄN BỈNH KHIÊM
1.1. Hoàn cảnh lịch sử thế kỷ XVI
Xã hội Việt Nam nửa sau thế kỷ XV và thế kỷ XVI xuất hiện những dấu hiệu khủng
hoảng trầm trọng về mọi phương diện. Chính những biến động về chính trị, về xã hội cũng
như về kinh tế đã ảnh hưởng sâu sắc đến tình cảm, đến tư tưởng và thái độ xuất xử của
Nguyễn Bỉnh Khiêm.
1.1.1. Về chính trị
Ngay từ thuở ấu thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được sống trong cảnh thái bình thịnh
trị của nhà Hậu Lê. Đó là thời Lê Thánh Tông (húy Tư Thành, niên hiệu Hồng Đức 1470-
1497). Đến khi Lê Hiến Tông (húy Tăng, niên hiệu Cảnh Thống 1497-1504) qua đời, mầm
mống suy vong của một triều đại bắt đầu xuất hiện. Lê Hiến Tông truyền ngôi cho con thứ
ba là Thuần tức vua Lê Túc Tông (niên hiệu Thái Trinh 1504). Nhưng Lê Túc Tông chỉ làm
vua được sáu tháng đã qua đời, thời kỳ hoàng kim của nhà Lê chấm dứt.
Triều đình tôn người anh thứ hai của Túc Tông là Tuấn lên ngôi tự là Lê Uy Mục (niên
hiệu Đoan Khánh 1505-1509). Kế vị chưa bao lâu, Uy Mục đã làm nhiều điều bạo ngược,
tin dùng bọn hoạn quan và ngoại thích giết hại hoàng thân, ăn chơi hoan lạc. Trong Lịch
triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú đã viết: “Nhà vua đam mê tửu sắc, ưa việc tàn
sát”[Quyển VI, 7, tr.43]. Phó sứ nhà Minh là Hứa Thiên Tích sang nước ta, chứng kiến cảnh
bạo ngược, đã làm thơ:
An Nam tứ bách vận vưu trường,
Thiên ý như hà giáng quỷ vương?[7, tr.44]
Cuối năm 1509, Giản Tu công Lê Oanh trốn khỏi ngục, cùng với Nghĩa quốc công
Nguyễn Văn Lang khởi quân ở Thanh Hóa, đánh vào Đông Đô bắt giết Uy Mục rồi lên làm
vua, xưng Tương Dực đế (niên hiệu Hồng Nhuận 1510-1516). Nhưng Tương Dực cũng bạo
ngược, hoang dâm, tư thông với các cung nhân triều trước, sống xa hoa phung phí (sai Vũ
Như Tô xây ngôi điện một trăm nóc và Cửu trùng đài trong nhiều năm liền). Trong Lịch
triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú cũng viết: “…nhà vua…ăn chơi vô độ, xây cất
nhiều cung điện, khiến cho dân oán, giặc dã nổi khắp nơi, gây nên thảm họa nguy
vong…”[7, tr.45]. Sứ thần nhà Minh là Phạm Hy Tàng gọi là Trư vương, loạn vong không
lâu nữa sẽ tới.
Ứng với lời tiên đoán đó, giặc giã nổi lên khắp nơi, chia bè kết phái đóng ở từng vùng:
năm 1511, tại Kinh Bắc có Thân Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng khởi binh ở huyện Đông Ngạn,
Gia Lâm; vùng Sơn Tây có Trần Tuân dấy binh chiếm cứ Hưng Hóa; năm 1512 Lê Hy,
Trịnh Hưng và Lê Minh Triết nổi quân ở Nghệ An; năm 1515 nổi lên ở Tam Đảo có Phùng
Chương, Đặng Hân, Đặng Ngật ở Ngọc Sơn; năm 1516 Trần Công Minh nổi dậy ở huyện
Yên Lãng; Trịnh Ân và Lê ất ở Thanh Hóa…. Đặc biệt đội quân của Trần Cảo rất hùng
mạnh. Trần Cảo tự xưng là Đế Thích giáng sinh tiến chiếm Hải Dương, Đông Triều, Bồ Đề.
Quân triều đình nhiều lần đi đánh mà vẫn không diệt được.
Năm 1516, Trịnh Duy Sản cùng với Lê Quảng Độ, Trình Chí Sâm mượn cớ đi đánh
Trần Cảo, kéo quân vào cung bắt giết Lê Tương Dực, cùng với triều đình lập con Mục ý
Vương là Quang Trị mới 8 tuổi lên ngôi. Nhưng Quang Trị làm vua mới được 3 ngày lại bị
Trịnh Duy Đại giết ở Tây Kinh. Sau đó, Trịnh Duy Sản lập con Cẩm Giang vương là ỷ lên
làm vua, tức là Lê Chiêu Tông (niên hiệu Quang Thiệu 1516-1522) rồi rước vua vào Tây
Kinh. Lợi dụng sự rối loạn trong triều, Trần Cảo đem quân về chiếm Đông Đô, tự lên ngôi
hoàng đế niên hiệu Thiên ứng. Triều đình cử Trịnh Duy Sản, Nguyễn Hoằng Dụ, Trịnh Tuy
và Trần Chân tiến đánh Đông Đô. Trần Cảo yếu thế bỏ chạy lên Lạng Nguyên. Trịnh Duy
Sản kéo quân truy đánh và bị giặc giết. Do thế lực yếu, Trần Cảo chạy lên đóng quân ở
Lạng Sơn rồi sau đó ở Bồ Đề. Theo Trần Xuân Sinh trong Việt Sử kỷ yếu thì Trần Cảo
“Thấy sự nghiệp không thành, giao binh quyền cho con là Trần Thăng (có sách chép là Trần
Cung) rồi cắt tóc đi tu”[48, tr.290]. Nghĩa quân dần dần tan rã. Trong thời gian này, chẳng
những chiếc ngai vàng đã bao lần thay ngôi đổi chủ mà mâu thuẫn trong nội bộ phong kiến
diễn ra càng lúc càng gay gắt: Trịnh Duy Đại và Trần Chân mưu phản, âm mưu bại lộ bị
giết; Nguyễn Hoằng Dụ và Trịnh Tuy chia bè kết phái, đem quân đánh lẫn nhau. Năm 1518,
bộ tướng của Trần Chân là bọn Hoàng Duy Nhạc, Nguyễn Kính, Nguyễn Ang đem quân
đánh phá kinh thành. Chiêu Tông cho vời Nguyễn Hoằng Dụ ra dẹp loạn nhưng Hoằng Dụ
không ra. Trước tình thế đó, Chiêu Tông phải giao binh quyền cho Vũ Xuyên hầu Mạc
Đăng Dung. Như vậy, rõ ràng mầm họa của triều Hậu Lê bắt đầu xuất hiện từ năm 1518.
Mạc Đăng Dung tiến thân từ thời vua Uy Mục, được phong tước Vũ Xuyên bá từ thời vua
Tương Dực và nhanh chóng được Chiêu Tông thăng làm Vũ Xuyên hầu, cử đi trấn thủ Hải
Dương. Sau khi tảo thanh được bọn loạn thần, Mạc Đăng Dung nắm hầu hết binh quyền từ
trong triều đến ngoài quận. Từ đấy, Đăng Dung chuyên quyền, tìm mọi cách lần lượt giết
chết những người tâm phúc của vua như Đô ngự sử Đỗ Nhạc và phó Đô ngự sử Nguyễn
Dự….Năm 1519, khi Nguyễn Sư làm phản, lập Lê Do làm vua đóng ở Từ Liêm. Nguyễn
Hoằng Dụ cùng với Mạc Đăng Dung đem quân chinh phạt, bắt được Lê Do; chiêu dụ tướng
Nguyễn Kính, Nguyễn Ang, Hoàng Duy Nhạc; dẹp cuộc nội loạn của Vũ Nghiêm Uy ở
Tuyên Quang (1520); phá tan đoàn quân của Trần Cung ở vùng Kinh Bắc, Thái Nguyên
(1521) và Lê Bá Hiến, Lê Khắc Cương ở Đông Ngàn. Từ thời điểm này, có thể nói rằng
Mạc Đăng Dung đã trở thành một nhân vật quan trọng trong triều đình nhà Lê và Đăng
Dung đã tìm mọi cách để mở rộng thế lực dòng họ Mạc.
Chính vì vậy, Chiêu Tông càng lúc càng cô thế, bí mật bàn với Nguyễn Hiến, Phạm
Thứ rời kinh thành trốn lên Sơn Tây, hiệu triệu anh hùng hào kiệt bốn phương đánh giặc.
Lòng người lúc bấy giờ còn hướng về họ Lê nên theo về rất đông. Chiêu Tông lệnh cho
Trịnh Tuy khởi quân đánh họ Mạc. Đăng Dung hội các đại thần trong triều lập em Chiêu
Tông là Xuân lên ngôi, tức là Lê Cung Hoàng (niên hiệu Thống Nguyên 1522-1527). Cuối
năm 1525, Mạc Đăng Dung kéo quân vào Thanh Hóa đánh bại Trịnh Tuy. Vì nội bộ không
đoàn kết, không biết trọng dụng nhân tài, lòng người bất phục, cuối cùng Lê Chiêu Tông bị
bắt. Sau đó Mạc Đăng Dung sai Bùi Khê bá Phạm Kim Bảng giết chết. Dòng họ nhà Lê
tưởng chừng đứt đoạn từ đây.
Mãi đến năm 1533, cơ nghiệp triều Lê Trung hưng nhờ công thần Nguyễn Kim.
Nguyễn Kim cùng Lý quốc công Trịnh Duy Thoan, Phúc Hưng hầu Trịnh Duy Duyệt…đưa
con trai Lê Chiêu Tông từ Ai Lao về tên là Duy Ninh lên ngôi tức Lê Trang Tông (niên
hiệu Nguyên Hòa 1533-1548), đóng ở Sầm Châu. Anh hùng hào kiệt khắp nơi tìm đến quy
phục rất đông, thanh thế càng ngày càng lớn, tạo thế đối đầu với nhà Mạc. Lê Trung Tông
kế vị (tên Huyên, niên hiệu Thuận Bình 1549-1556). Dưới sự phò tá đắc lực của Lương
quốc công Trịnh Kiểm, đất đai nhà Lê càng lúc càng được mở rộng, nhiều danh sĩ ra giúp
sức như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh….Lê Trung Tông qua đời, Thái quốc công
Trịnh Kiểm nghinh lập cháu huyền tôn của Lê Trừ (anh Lê Thái Tổ) là Lê Duy Bang lên
ngôi tức Lê Anh Tông (niên hiệu Thiên Hựu, Chánh Trị, Hồng Phúc). Vì là cháu họ xa với
các vua Lê tiền triều, lại không nắm được binh quyền cho nên nhà Lê chỉ có hư vị.
Nhìn lại lịch sử triều Lê, có thể nhận thấy triều đại nhà Lê bắt đầu khởi nghiệp từ vị anh
hùng Lê Lợi tức Lê Thái Tổ và kết thúc bằng sự sụp đổ ngai vàng của Lê Cung Hoàng (tuy
sau đó cơ nghiệp triều Lê có trung hưng nhưng thực quyền không có). Nhà Lê trị vì thiên hạ
được gần 100 năm (1428-1527), truyền được 10 đời vua. Trong vòng 100 năm, đất nước
Đại Việt trải qua biết bao thăng trầm. Lê Thái Tổ đã từng dấy binh đánh đuổi quân Minh,
khôi phục xã tắc giang sơn, khiến: “Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp
chốn”(Bình Ngô đại cáo-Nguyễn Trãi). Lê Thái Tông thì được xưng tụng là một vị lương
chúa, biết trọng dụng nhân tài. Lê Nhân Tông thì yêu thương dân, trọng người hiền. Lê
Thánh Tông là một đấng minh quân, văn tài võ lược. Đời Hồng Đức là thời kỳ cực thịnh của
triều Lê, là thời kỳ mà bờ cõi đất nước được mở rộng. Còn vua Lê Hiến Tông thì rất thông
minh, ham chuộng văn học, quan tâm đến cuộc sống nhân dân. Cảnh thái bình thịnh trị, vua
hiền tôi trung chấm dứt khi xuất hiện vua Quỷ, vua Lợn. Vua hoang dâm, vô đạo; quan
tranh giành quyền lực chém giết lẫn nhau. Đạo đức suy đồi. Dân chúng khổ ải, lòng người
ly tán. Chiêu Tông chẳng những không biết trọng nhân tài mà còn giết hại người ngay nên
không giữ vững được cơ đồ. Trong tình hình bi đát như vậy, những ai thật sự có tâm huyết
với đời cũng không muốn ra giúp đời vì không đủ lực xoay chuyển càn khôn, những ai có
tấm lòng trung hiếu cũng không muốn ra bảo vệ ngai vàng cho những vị vua bất tài vô đức.
Mặt khác, từ năm 1509 cho đến 1527, hàng loạt cuộc biến loạn tranh giành quyền lực nổ ra
như sấm sét cho thấy sự suy sụp tất yếu của triều đình nhà Lê. Nhà Lê không còn giữ vững
vai trò quan trọng của giai cấp phong kiến. Chính vì vậy, nếu không có một Mạc Đăng
Dung này đứng ra thay đổi thời cuộc, kiên quyết trấn dẹp các cuộc nội loạn, viết nên trang
sử triều Mạc thì cũng sẽ có một người khác muốn lật đổ một vương triều thối nát. Sử Trung
Hoa cũng đã ghi lại chuyện xưa nhà Thương diệt nhà Hạ, nhà Chu lật đổ nhà Thương là
không trái với đạo nghĩa. Về sau, triều Lê được trung hưng, tuy Lê Trang Tông rồi đến Lê
Trung Tông có tài lược của bậc đế vương, chăm dân lo nước nhưng binh quyền phần lớn lần
lượt lại nằm trong tay của Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm và Trịnh Tùng. Cho nên, nhà Lê chỉ
còn hư vị.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê lấy niên hiệu Minh Đức(1527-1529)
mở đầu cho triều đại nhà Mạc. Mạc Đăng Dung giết Cung Hoàng và Thái hậu. Đến năm
1529, Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh (niên hiệu Đại Chính
1530-1540) và lên làm Thái thượng hoàng. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy
Chú có viết: “Đăng Doanh là con của Đăng Dung, tính khoan nhân, giản dị, hay giữ gìn
pháp độ, ngăn cấm những việc hà khắc, bạo ngược, giảm nhẹ sưu dịch thuế khóa. Thuở ấy
được mùa, mọi nhà đều sung túc, nhân dân no đủ, trong nước gọi thời ấy là thời trị bình”[7,
tr.68]. Năm 1537, vua nhà Minh mượn cớ khôi phục nhà Lê đem quân sang đóng gần ải
Nam Quan. Nguyễn Văn Thái được Mạc Đăng Dung cử đi sứ sang Trung Quốc xin thần
phục. Và đến năm 1540, Mạc Đăng Dung đầu hàng quân Minh khi chúng tiến đánh.
Mạc Phúc Hải lên kế vị (niên hiệu Quảng Hòa 1541-1546) Đăng Doanh mất. Phúc Hải
“chỉ thích du hí, lúc ở nhà thì đam mê con hát, đi ra thì tìm thú chọi gà”(Lịch triều hiến
chương loại chí-Phan Huy Chú)[7, tr.68]. Năm 1532, một cựu thần nhà Lê là An Thanh hầu
Nguyễn Kim lập Duy Ninh con Chiêu Tông lên ngôi, tức Trang Tông, rồi khởi quân về
Nghệ An đánh chiếm Tây Đô năm 1543. Đất nước bấy giờ chia làm hai: Nam và Bắc triều
từ Thanh Hóa trở vào thuộc nhà Lê gọi là Nam triều; từ Sơn Nam trở ra gọi là Bắc triều
thuộc nhà Mạc. Hai phe đánh nhau triền miên nhiều năm liền. Đến triều Mạc Phúc Nguyên
(niên hiệu Vĩnh Định 1546), lợi dụng chúa còn nhỏ tuổi, bọn quyền thần trong triều thao
túng, mọi quyền hành rơi vào tay là Khiêm vương Kính Điển. Vì vậy, Thái tể Lê Bá Ly đem
một vạn tư quân phối hợp cùng với Thượng thư Đô Ngự sử Nguyễn Thiếp đầu hàng tập
đoàn Lê-Trịnh, khiến Phúc Nguyên phải rời bỏ kinh thành, sau đó bị bệnh chết. Năm 1592,
Trịnh Tùng chiếm thành Thăng Long, bắt giết Mạc Mậu Hợp (niên hiệu Thuần Phúc), rước
vua Lê về Đông Đô. Cuộc nội chiến chấm dứt chưa được bao lâu thì lại xảy ra sự phân tranh
Trịnh- Nguyễn. Một lần nữa, đất nước bị chia cắt thành hai miền Đàng Ngoài- Đàng Trong .
Từ khi Mạc Đăng Dung tiếm ngôi nhà Lê (1527) cho đến khi Mạc Mậu Hợp bị giết là
gần 66 năm. Khách quan mà nói trong thời điểm này triều Mạc có xây dựng được một trật
tự xã hội ổn định, có kỷ cương và pháp luật nghiêm minh. Và chính Mạc Đăng Dung là
người đã có công trong việc thiết lập một triều đại mới khi triều đại cũ đã suy vong và liên
tục củng cố lực lượng để bảo vệ đất nước. Bên cạnh đó, phải nhìn nhận rằng nhà Mạc có
đưa ra nhiều chính sách có ý nghĩa tiến bộ nhằm thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, tranh thủ sự ủng
hộ của các cựu thần nhà Lê và nhân dân như khuyến khích phát triển nông nghiệp, thủ công
nghiệp, thương nghiệp (hình thành chế độ cấp phát ruộng đất hợp lý, đúc tiền đồng, tiền sắt;
nghệ thuật điêu khắc, đồ gốm; mở rộng buôn bán với Nhật Bản, Triều Tiên…), quan tâm
đến giáo dục và việc trọng dụng, đào tạo nhân tài cho đất nước (xây trường, tổ chức các kỳ
thi…), nhiều nhân vật kiệt xuất có tâm huyết với đời lần lượt xuất hiện như Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Nguyễn Thiến, Nguyễn Quyện, Giáp Hải….
Tuy nhiên, theo quan niệm chính thống và không chính thống về một triều đại, Mạc
Đăng Dung vẫn bị một số thần tử trung thành với nhà Lê chống đối mạnh mẽ. Trong Việt Sử
kỷ yếu, Trần Xuân Sinh có viết: “Thượng thư bộ lễ Lê Tuấn Mậu bị cưỡng ép vào chầu, dấu
hòn đá trong tay áo, ném vào đầu Đăng Dung, rồi đành chịu giết chết. Đô ngự sử Vũ Duệ,
Tham chính sứ Nguyễn Huy Tưởng, Quan sát sứ Nguyễn Tự Cường….đều không chịu
khuất, chửi vào mặt Đăng Dung, rồi nhảy xuống sông mà chết, hoặc hướng về Lam Sơn lạy
rồi tự tử” [48, tr.294]. Các nhà sử gia cũng bày tỏ quan điểm gay gắt với nhà Mạc, Lê Quý
Đôn xếp các vua Mạc vào loại “nghịch thần”. Và sự kiện cắt đất đầu hàng nhà Minh vào
năm 1540 của Mạc Đăng Dung cũng tạo ra nhiều luồng ý kiến. Trong Lịch sử triều Mạc,
Đinh Khắc Thuần có trích lời phê phán kịch liệt của Trần Trọng Kim về Mạc Đăng Dung:
“Đối với vua là nghịch thần, đối với nước là phản quốc, đối với cách ăn ở của loài người, là
không có nhân phẩm; một người như thế ai mà kính phục”.[64, Quyển II. tr.35]. Còn trong
Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác giả Đinh Gia Khánh bày tỏ thái độ phê phán mạnh mẽ
hơn: “….việc Mạc Đăng Dung đã cắt đất, thần phục một cách nhục nhã và hơn nữa đối với
nhà Minh thì về danh nghĩa không dám xưng là quốc vương đủ cho thấy giai cấp phong kiến
đã đốn mạt như thế nào rồi”[22,tr.7]
Nhưng từ sau năm 1985, nhân kỉ niệm 400 năm ngày mất và 500 năm ngày sinh của
Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhiều cuộc Hội thảo khoa học đã diễn ra tại quê hương Hải Phòng của
nhà thơ nhằm mục đích đánh giá lại nhà Mạc và Mạc Đăng Dung. Ngoài ra, các nhà nghiên
cứu cũng đưa ra nhiều ý kiến sâu sắc về thái độ ứng xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với nhà
Mạc. Trong bài viết Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhà Mạc,Trần Khuê nhận định:
Việc giành lấy ngôi vua từ tay một triều đại, một dòng họ đã suy tàn là hợp qui luật,
việc trá hàng nhẫn nhục để giữ yên cõi bờ và bảo toàn chủ quyền là khôn khéo. Còn tội “cắt
đất” dâng cho kẻ thù rõ ràng là không có chứng cứ chính xác. Chờ đến khi có nhà nghiên
cứu nào đưa ra được chứng cứ lịch sử khác, tôi có thể khẳng định rằng: Nhà Mạc không mắc
tội phản quốc.[78, tr.44]
Trong bài Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bối cảnh văn hóa thế kỉ XVI, tác giả
Trần Quốc Vượng có lời bình sắc sảo và thú vị: “Tất cả những ứng xử của nhà Mạc với
Minh cũng chỉ nằm trong một chiến lược ngoại giao hằng xuyên của Việt nhỏ với Hoa lớn
“thần phục giả vờ, độc lập thật sự”.[59, tr.78]
Chính nhờ việc nhìn nhận lại mặt tích cực của triều Mạc của các nhà nghiên cứu mà
người viết mới có cơ sở để phân tích quan niệm xuất xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông là
một người cẩn thận, suy xét sâu sắc thế sự, cho nên không thể là người hời hợt đi phụng sự
cho một triều đại mang tiếng cướp ngôi.
1.1.2. Về xã hội
Do chiến tranh xảy ra liên miên trong vòng một thế kỷ giữa các tập đoàn phong
kiến đã ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi tầng lớp trong xã hội. Bọn quan lại và địa chủ địa
phương ra sức nhũng nhiễu bóc lột dân lành. Còn nhân dân thì sống trong cảnh lầm than,
khốn khổ chẳng những vì chiến loạn mà còn vì nạn đê vỡ, hạn hán hàng năm, trộm cướp,
phiến loạn, thuế má tăng cao. Tuy thời Mạc Đăng Dung, xã hội có bình ổn một thời gian, có
kỷ cương và pháp luật nhưng dấu tích chiến tranh vẫn ám ảnh trong lòng người thời đó. Đến
khi hai thế lực Nam triều-Bắc triều được hình thành thì cuộc chiến tranh bùng nổ trên một
vùng đất đai rộng lớn từ Thăng Long đến Quảng Bình. Chết chóc, chia lìa, đau thương, đói
kém hiện diện trong đời sống nhân dân trong khoảng thời gian khá dài, khiến lòng người lo
lắng khôn nguôi.
1.1.3 Về kinh tế
Nông nghiệp càng lúc càng suy kém vì đất đai bị tàn phá trong chiến tranh, vả lại
do chế độ quân điền đời các vua Lê quá khe khắt nên ngành nông nghiệp không phát triển,
tạo điều kiện cho bọn quan lại cường hào thời đó cướp đoạt ruộng đất của dân. Về công
nghiệp (nghề tơ lụa, thêu thùa, vàng ngọc, đồ đồng, đồ gốm, nghề khai mỏ..) cũng phát triển
nhưng chỉ có tính cách gia đình không có tác dụng gì đối với ngành công nghiệp khác mà
chỉ phục vụ cho đời sống xa hoa của vua quan. Thương nghiệp không phát triển vì các thứ
thuế, việc buôn bán trong nước thì trì trệ, còn với các nước phương Tây thì bị hạn chế do bị
chính sách bế quan tỏa cảng. Chỉ khi nhà Mạc có một số thay đổi về chính sách thì bộ mặt
kinh tế thời đó mới khởi sắc. Về ruộng đất, năm 1543, triều Mạc có quy định mới về chế độ
quân điền thể hiện sự tôn trọng truyền thống cộng đồng làng xã hơn và đem lại quyền lợi
riêng cho nông dân, ruộng quan và ruộng chùa của các làng xã, ngoài những ruộng đất cấp
cho binh sĩ, “còn bao nhiêu ruộng sẽ theo số người trong xã mà chia đồng đều”(Lê Quí Đôn
–Toàn tập, tập III, tr 280). Về công thương nghiệp, triều Mạc không áp dụng đường lối ức
thương quá nặng nề của triều Lê. Thương nhân được phép đi lại buôn bán trao đổi hàng hóa
thuận lợi hơn. Nghề gốm sứ, các thợ thủ công đã được chạm khắc cả tên họ của mình vào
sản phẩm.
Nói chung, chính những tiền đề về chính trị, về xã hội và kinh tế trên đã ảnh hưởng rất
lớn đến quan niệm nhân sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Và một phần nào đó trả lời nguyên
nhân vì sao một nho sĩ tài danh như Nguyễn Bỉnh Khiêm “xuất” cũng muộn mà “xử” lại
1.2. Cuộc đời, sự nghiệp văn chương và tư tưởng chính trị của Nguyễn Bỉnh
càng muộn hơn.
Khiêm
1.2.1. Tiểu sử
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi (1491) năm Hồng Đức thứ 22 triều Lê
Thánh Tông, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương (nay là huyện Vĩnh
Bảo, ngoại thành Hải Phòng) . Ông húy là Văn Đạt, tự Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân cư sĩ.
Xuất thân trong gia đình có truyền thống văn hóa, tổ phụ là Văn Tĩnh được ấm phong Thiếu
bảo Tư quận công. Tổ mẫu là Phạm Thị Trinh Huệ được ấm phong Chinh phu nhân. Ông
ngoại là Thượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan. Phụ thân là Văn Định, hiệu Cù Xuyên tiên sinh,
học rộng đức cao, được phong Thái bảo Nghiêm quận công, được sung chức Thái học sinh.
Thân mẫu họ Nhữ được phong Từ Thục phu nhân. Bà thông kinh sử, giỏi văn chương, tinh
thông thuật số. Chính dòng dõi gia đình và sự giáo dục của người mẹ đã ảnh hưởng sâu sắc
đến sự phát triển toàn diện trong nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bỉnh Khiêm sinh ra
thông minh, từ nhỏ được mẹ dạy chính văn trong kinh truyện, thơ quốc âm. Trong bài tựa
tập thơ chữ Hán Bạch Vân Am thi tập, tác giả đã khẳng định cuộc đời của ông chịu ảnh
hưởng về sự giáo dục rất lớn của gia đình, ông cho biết: “Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia
đình, lớn lên bước vào giới sĩ phu, lúc về già chí thích nhàn dật….”. Lớn lên, theo học Bảng
nhãn Thượng thư Lương Đắc Bằng-một học giả uyên bác và khí tiết thanh cao. Vào năm 7
tuổi, Bỉnh Khiêm đã phải sống với cha vì mẹ bỏ ra đi do bất đồng trong việc dạy dỗ con cái.
Từ trước đến nay, có thể nói, chưa có một tác giả nào bị lịch sử tác động mạnh mẽ đến tư
tưởng, quan niệm như Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cho nên, dựa vào các cột mốc lịch sử và những
hoạt động, có thể chia cuộc đời của nhà thơ làm ba chặng:
Chặng thứ nhất tính từ thời niên thiếu đến năm 1534. Ngay từ tuổi ấu thơ, Bỉnh
Khiêm được mẹ nuôi dạy, chăm sóc cẩn thận về cả thể lực và trí lực. Đến tuổi trưởng thành,
Nguyễn Bỉnh Khiêm được học với quan hưu trí Hộ bộ Thượng thư Dương Đức Nhan và trở
thành con rể của ông. Sau đó, Bỉnh Khiêm “nghe tiếng cụ Bảng nhãn Lương Đắc Bằng là
bậc văn chương cái thế, bèn lặn lội tìm đến học”(Phả kí). Đây là khoảng thời gian mà từ
trong triều đến ngoài xã hội có nhiều biến động, “Nội chiến phi nghĩa làm cho hao người,
tốn của, sưu cao, thuế nặng; rồi cướp bóc, chém giết,….v.v….” (Văn học Việt Nam từ đầu
thế kỷ X đến đầu thế kỷ XVIII - Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương).[21,
tr.358]
Trong khoảng thời gian 1523 và 1526, triều Lê Tương Dực có mở khoa thi nhưng
Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mai danh ẩn tích, không ra ứng thí. Còn theo bài Phả kí về Bạch
Vân Am Cư sĩ Nguyễn Văn Đạt (Bỉnh Khiêm), Vũ Phương Đề có nói: “Nhưng Quang Thiệu
(1516-1526), gặp lúc loạn lạc, ông về ẩn cư để dạy học trò, lấy đạo làm vui, chẳng cầu danh
tiếng,.” [10, tr.398]. Khi Mạc Đăng Dung đoạt ngôi nhà Lê, nhà Mạc đã có một số chính
sách mới nhằm ổn định trật tự xã hội và nhằm thúc đẩy đất nước phát triển về mọi mặt. Do
đó, uy tín nhà Mạc chẳng những được củng cố dần dần mà còn được một số các quan lại
nhà Lê cũ phò trợ đắc lực. Và, tuy nhà Mạc có tổ chức các khoa thi Hội(1529), thi Hương
để kén chọn nhân tài, các sĩ tử hưởng ứng rất đông nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn ẩn cư,
dạy học.
“Người bốn mươi tuổi khỏe triều quan
Ta tuổi bốn mươi đã được nhàn.”
(Thơ Nôm, bài 135)
Năm Mạc Đăng Doanh mới lên ngôi vua (1530), nhà thơ tự nhận mình chưa bằng
Khổng Tử, chưa thấu suốt được lẽ đương nhiên của tạo vật, còn băn khoăn chưa xác định
được hướng đi, còn trăn trở là có nên ứng thí để đem đạo học ra giúp nước cứu đời hay
không, vì con đường trước mặt còn tối đen như mực:
“Thánh, bốn mươi tuổi chẳng còn ngờ
Ta, tuổi bốn mươi vẫn líu lo.”
(Thơ Nôm, bài 100)
Chặng thứ hai tính từ lúc ra đi thi và làm quan (1535-1542). Nguyễn Bỉnh Khiêm
quyết định nhập thế. Mặc dù đã 44 tuổi, ông vẫn đi thi Hương và đỗ Giải nguyên khoa Giáp
ngọ dưới triều Mạc Đăng Doanh (1534). Năm 1535, dự thi Hội bốn kì đều đạt nhất, đỗ Hội
nguyên; dự thi Đình, đỗ Trạng nguyên. Theo Vũ Khâm Lân, khi nghiên cứu Bia ký quán
Trung Tân, ông cho rằng sau khi thi đỗ Trạng nguyên, Nguyễn Bỉnh Khiêm lần lượt được
bổ chức Đông Các Hiệu Thư. Trạng nguyên có làm hai bài thơ “Xuân thiên ngự tửu” đều
đạt hạng ưu. Sau đó được sung chức Hữu Thị Lang Bộ Hình, rồi Tả Thị Lang bộ Lại kiêm
chức Đông Các Đại học sĩ. Như vậy, con đường khoa hoạn của tác giả không có gì trắc trở
thậm chí còn quá thuận lợi. Làm quan được 8 năm, ông từng dâng sớ chém đầu 18 nịnh thần
nhưng vua Mạc không thuận. Tiếp đó, lấy cớ con rể Phạm Dao cậy thế cậy quyền làm nhiều
điều bất nghĩa, ông thác bệnh xin về trí sĩ vào thời Mạc Phúc Hải (1543). Trong bài Trung
Tân quán bi ký, ông cũng có viết: “Mùa thu năm Nhâm dần, ta bỏ quan chức về nghỉ ở quê
nhà, mời các cụ già đi dạo chơi ở bến giữa (Trung Tân)”.
Chặng thứ ba tính từ năm 1543 đến 1585. Trong thời gian ở ẩn, Nguyễn Bỉnh Khiêm
dựng am Bạch Vân, bắc hai chiếc cầu Nghinh Phong và Tràng Xuân, tu bổ chùa chiền, dựng
một ngôi quán gọi là Trung Tân trên bến Tuyết Giang, được học trò xưng tôn là Tuyết
Giang phu tử. Ông có dựng bia cạnh quán và soạn bài văn khắc vào bia đá để khuyên nhủ
người đời nên làm điều thiện. Dựa theo bài Phả ký, trong Công dư tiệp ký, Vũ Phương Đề
cho rằng tuy Nguyễn Bỉnh Khiêm ẩn cư dạy học nhưng với tài đức cao vời vợi của Trạng
Trình, vua Mạc vẫn lấy “sư lễ” đãi ông. Những khi nhà nước có việc gì quan trọng, triều
đình đều sai sứ đến hỏi, có khi triệu ông về kinh “thung dung trù liệu kế hoạch, rồi lại trở về
am, chứ không ở lại”. Bên cạnh đó, cả những người phù Lê cũng luôn tôn trọng, vị nể
Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sau 2 năm, Mạc Phúc Hải gia phong cho ông tước Trình Tuyền hầu
(Hầu tước khơi nguồn dòng suối triết học của họ Trình). Người đời thường gọi ông là Trạng
Trình.
Với một tấm lòng nhân đạo, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn luôn mong muốn đất nước được
thịnh vượng, thái bình. Với sự uyên thâm vốn có, ông nhận thấy vận mệnh của đất nước
trong hoàn cảnh bi đát này không thể trao vào tay bất kỳ một lực lượng chính trị nào. Bởi vì,
lúc bấy giờ các tập đoàn phong kiến huyết chiến với nhau chỉ vì muốn tranh giành quyền
lực. Vì vậy, tương truyền, để tránh những cuộc binh đao khói lửa lan tràn đến cuộc sống của
nhân dân, ông đều bày cho các phe phái những phương sách khác nhau để giữ thế “chân
vạc”. Chẳng hạn, năm 1568, Nguyễn Hoàng thấy anh là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm hãm
hại, sợ mầm họa sẽ xảy ra cho bản thân, đã ngầm cho thân cận đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm
về kế an thân. Được ông mách bảo: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”(ngụ ý nói: Dựa
vào một dải Hoành sơn có thể lập nghiệp được lâu dài), Nguyễn Hoàng liền xin anh rể là
Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa (từ Đèo Ngang trở vào) và sống bình yên trong
nhiều năm. Thời ấy, tại kinh thành Thăng Long, chúa Trịnh cũng ra sức ức hiếp vua Lê, làm
nhiều điều bạo ngược kể cả có ý định muốn phế bỏ vua Lê. Khi chúa Trịnh cho người đến
hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không trả lời mà lẳng lặng dẫn sứ giả của triều đình ra
thăm chùa và nói nói với nhà sư trong chùa: “Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản”(ngụ ý muốn
khuyên chúa Trịnh cứ tôn phò nhà Lê thì quyền hành sẽ nắm trong tay, nếu tự ý phế lập sẽ
dẫn đến chiến tranh). Riêng đối với nhà Mạc, sau nhiều trận đánh diễn ra liên miên, nhà
Mạc phải bỏ chạy lên Cao Bằng. Vua Mạc có cho người về hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm,
ông đã trả lời: “Cao Bằng tuy thiển, khả diên sổ thể”(Cao Bằng tuy đất hẹp, nhưng có thể
giữ được vài đời). Quả nhiên, mãi đến năm 1688, sau ba đời giữ đất Cao Bằng, nhà Mạc
mới bị diệt. Sở dĩ, nhân dân đưa ra những truyền thuyết trên là vì muốn chứng minh rằng
Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có tài tiên đoán, đo nắm được bí truyền của sách Thái ất thần
kinh. Ngoài ra còn rất nhiều truyền thuyết nữa về Trạng Trình trong tập Trình quốc công
sấm ký. Thực-hư, có hay không có, khẳng định hay phủ định sự việc còn là vấn đề mà các
học giả Việt Nam cần phải nghiên cứu kỹ để trả lại vị trí xứng đáng cho Nguyễn Bỉnh
Khiêm trong lòng dân tộc và cả trên lĩnh vực văn học. Một điều chắc chắn là đối với nhân
dân Việt Nam Nguyễn Bỉnh Khiêm thật sự là nhà học giả “thượng thông thiên văn, hạ đạt
địa lý, trung tri nhân sự”. Và trong thời gian trí sĩ ở điền viên, ông chính là một người thầy
mẫu mực, cao minh đã đào tạo biết bao danh sĩ tài năng cho đất nước như Giáp Hải, Lương
Hữu Khánh, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Quyện……..
Tuy nhiên, Nguyễn Khuê nghiên cứu Bạch Vân am thi tập cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm
còn hai lần ra làm quan, trực tiếp tham gia những cuộc “ chinh phạt” của triều Mạc ở phía
Tây nữa rồi mới “ quy lão” năm 73 tuổi (1563):
“Đếm tuổi mình đã bảy mươi ba,
Treo xe hơi muộn, cũng nên thẹn.
Vốn tự hẹn đua bay với người ta, than ôi không đủ sức
Không cần sang hèn đâu phải là tham….”
(Về hưu gửi cho quan Thượng thư Bộ lại Kế Khê Bá)
Dựa vào bài thơ Quá Hữu Giang (bài 3), tác giả Vũ Đức Phúc cho rằng có thể Nguyễn Bỉnh
Khiêm về hưu năm 1541, nhưng sau đó lại ra làm quan và đến khi Phạm Dao cậy quyền càn
quấy, ông chán nản xin về trí sĩ. Nhưng sau đó lại “tòng nhung” hai lần dẹp loạn:
“ Tuổi ngoài sáu chục gắng gượng theo quân,
Hai dịp qua đây, đóng lại ở núi này.”
Còn hơn hai chục bài thơ nói về việc Nguyễn Bỉnh Khiêm hộ giá nhà vua đi dẹp loạn.
Trong bài Qua sông Hữu (bài một, bài hai, bài bốn, bài sáu), ông đã thừa nhận tạm rời cái
thú điền viên để bước lại con đường quan trường tham gia chiến trận giúp vua cứu nước
thoát cảnh binh đao:
“Nho quan tạm khước ủng du chàng
Lưỡng độ trùng lai quá thử giang.”
(Quá Hữu giang-nhất)
Đôi lúc nâng chén ruợu nhàn nhìn bóng trời chiều, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhớ lại những ngày
tòng chinh đi Qua sông Hữu “trợ sức cho quân nhà vua” (bài 2), cùng lo với nỗi lo “tìm một
vị tướng nhân đức” của vua Mạc (bài 4), cùng bày mưu tính kế và vui với nỗi vui mừng
chiến thắng của chư tướng (bài 6). Trong buổi loạn ly gửi Nguyễn Cảo Xuyên (Nguyễn
Thiến, trọng thần nhà Mạc, cha của Nguyễn Quyện), người bạn cùng chung chí hướng đã
từng cùng Nguyễn Bỉnh Khiêm hộ giá vua Mạc đánh Tuyên Quang, ông có tâm sự:
“Xét mình giúp vua trẻ còn giữ được nghĩa,
Biết ông tuy khởi biến vẫn không đành lòng.”
Vì tấm lòng chung thủy với dân, với nước cho nên:
“Ta tuổi già và tật bệnh mà gặp mãi cảnh loạn ly này,
Phải gắng đi theo để tham dự vào việc quân cơ.”
Hàng loạt bài Theo đánh miền Tây (bài một, bài hai) nói về Nguyễn Bỉnh Khiêm đi theo
quân Mạc chinh phạt miền Tây-sáng tác trong khoảng niên hiệu Quang Bảo (niên hiệu của
Mạc Phúc Nguyên) từ 1554 đến 1561. Ông đi theo quân Mạc đánh anh em Vũ Văn Uyên,
Vũ Văn Mật ở vùng Hưng Hóa, Tuyên Quang:
“Thẹn già yếu vụng đường thao lược,
Gượng dấu mình dự cuộc viễn chinh.
Nắng soi rạng rợp cờ tinh,
Thác vang gió chuyển rập rình trống quân.”
Và khi trở lại doanh trại thăm lại bạn cố tri, Nguyễn Bỉnh Khiêm có để lại một bài thơ thể
hiện thái độ tích cực của ông khi giúp nhà Mạc tiểu trừ “yêu nghiệt”:
“Khí yêu nghiệt ở ải phía tây chưa quét sạch
Lại lần nữa vâng mệnh vua đến nơi hành doanh.”
(Ngày mùa đông đến doanh trại, nhớ một vài bạn tri kỷ)
Ngoài ra, Văn Đạt Bá là tướng nhà Mạc. Đạt Bá thường xướng họa và trù tính kế hoạch diệt
bọn “hung tàn” với Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc cùng đi tòng chinh:
“ Chuyến đi này bày sẵn kế sách vỗ yên bờ cõi,
Hẹn ngày bắt bọn hung tàn kia trả đất lấn lại.”
(Vâng mệnh đi theo quân, thuật hoài lúc xuất phát
-họa theo vần của Văn Đạt Bá)
Khánh Khê hầu là một trọng thần nhà Mạc cũng đã từng cùng đi tòng chinh và bàn kế sách
với Nguyễn Bỉnh Khiêm:
“Chuyến đi này hãy bày kế sách vỗ yên bờ cõi,
Đừng nói rằng nhiều năm ôm chiếc lọng hoa.”
(Vâng mệnh đi theo quân qua sông Thao
-họa theo vần của Khánh Khê hầu)
Bên cạnh đó, còn một vài bài thơ chứng tỏ việc tham gia chiến trận của Nguyễn Bỉnh
Khiêm như : Qua nơi đóng doanh trại ở Qui Hóa; Đóng doanh trại ở Liệt Khê, Qua Châu
Văn Bàn thuộc trấn Hưng Hóa:
“Sườn núi vòng vèo, đường đi mấy dặm
Vâng mệnh đi dẹp yên bọn giặc hãy coi trọng chuyến đi này.”
Cuối cùng, điểm dừng thật sự của cuộc hành trình giúp triều đình nhà Mạc là:
“Tuổi đời đã quá bảy mươi tư
Mừng được về nhàn, thăm chốn xưa.”
(Đầu năm cảm xúc làm thơ)
Đến ngày 28 tháng 11 năm Diên Thành thứ 8 (1585) Nguyễn Bỉnh Khiêm mất hưởng
thọ 95 tuổi. Mạc Mậu Hợp sai Mạc Kính Điển đến dự tế, truy phong Thượng thư bộ Lại,
Thái phó Trình quốc công và tặng mấy chữ trước cửa đền thờ : “ Mạc triều Trạng nguyên
Tể tướng từ”
1.2.2. Sự nghiệp văn chương
Tuy Tuyết Giang phu tử có nói: “…rất làvụng về trong nghề thơ. Tuy nhiên, cái
bệnh yêu thơ lâu ngày tích lại chưa chữa được khỏi vậy, mỗi khi được thư thả lại dậy hứng
mà ngâm vịnh, hoặc là ca tụng cảnh đẹp đẽ của sơn thủy hoặc là tô vẽ nét thanh tú của hoa
trúc, hoặc là tức cảnh mà ngụ ý, hoặc là tức sự mà tự thuật, thay thảy đều ghi lại thành thơ
nói về chí, được tất cả một nghìn bài, biên tập thành sách, tự đặt tên là tập thơ Am Bạch
Vân”(Bài tựa tập thơ Am Bạch Vân) nhưng khi nghiên cứu thơ văn của ông, người viết nhận
thấy sự nghiệp văn chương của Trạng Trình chính là tấm gương sáng về quá trình lao động
sáng tạo không ngừng. Tác giả để lại cho đời một núi thơ vĩ đại chứa đựng nhiều tư tưởng
thâm sâu, nhiều bài học giáo hóa rất thiết thực cho đời. Tác phẩm chữ Hán là Bạch Vân am
thi tập gồm 1000 bài (theo Đinh Gia Khánh hiện nay không còn đủ một nghìn bài).Tác
phẩm chữ Nôm là Bạch Vân quốc ngữ thi tập (còn gọi Trình quốc công Bạch Vân thi tập)
gồm hơn 160 bài làm theo thể thơ Đường luật và thất ngôn xen lẫn lục ngôn, không có đề
mục cụ thể, chỉ ghi số thứ tự.
1.2.3. Tư tưởng chính trị
Trong thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm thường hướng về đề tài ngôn chí. Nhưng, có thể
nói, dù sáng tác theo hướng đề tài nào thì tình yêu nước, thương dân, ghét bạo tàn vẫn là nét
bản chất trong tư tưởng và tình cảm của nhà thơ. Khi bàn về Tư tưởng yêu nước, thương
dân trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vũ Đình Toàn cho rằng: “Nguyễn Bỉnh Khiêm không
đưa ra một quan niệm về Nước như Nguyễn Trãi ở Cáo Bình Ngô mà ở Nguyễn Bỉnh
Khiêm Nước đã có từ ấy. Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nước thường gắn với “thời” với
“đời” thì yêu nước là “ưu quốc”, “vị quốc”(lo nước, vì nước)”. [79, tr.286].
Tấm lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ là một tấm lòng vô vi hay vô sự trước cảnh
bon chen của cuộc đời mà còn là tấm lòng “ưu ái”. Niềm ưu ái đó bao giờ cũng “Trong sạch
không tì vết trong và ngoài đều thông”(Mắt tấm giại), trong sáng vằng vặc như vầng trăng
in đáy nước:
“Ái ưu vằng vặc: trăng in nước,
Danh lợi lâng lâng: gió thổi hoa”
(Thơ Nôm, bài 1)
Ra đời sau Nguyễn Trãi 100 năm nhưng điểm gặp gỡ trong tư tưởng chính trị của Ức Trai
và Bạch Vân cư sĩ là tư tưởng nhân nghĩa và ý chí hòa bình. Trong đó bao gồm cả lòng yêu
nước, thương dân, ghét bạo tàn. Điều đặc biệt là tư tưởng này tuy nằm trong phần tích cực
của đạo Nho nhưng đã được cả hai nhà yêu nước tạo cho nó một màu sắc Việt Nam. Nếu
lòng ưu ái của Nguyễn Trãi dào dạt mãnh liệt suốt đêm ngày như nước thủy triều: “Bui một
tấc lòng ưu ái cũ. Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông” (Tự thuật-5) thì Nguyễn Bỉnh
Khiêm cũng trải tấm lòng son với khói mây, với nhật nguyệt:
“Lồng cửa động, vân yên cách,
Giải lòng đan, nhật nguyệt thâu.”
(Thơ Nôm, bài 54)
Mấy ai hiểu được tấm lòng sáng trong, cao vời như trăng, như núi của nhà thơ:
“ Có ai biết được lòng tri kỷ?
Vòi vọi non cao, nguyệt một vừng.”
(Thơ Nôm, bài 6)
Đồng cảm với lòng yêu nước, yêu dân của Nguyễn Bỉnh Khiêm, khi đọc Thơ Nôm, bài 1
của ông, Thomas Engelbert có lời nhận định: “…Đó là nỗi lo đau đáu chân thành vì Tổ
Quốc, lo cho sự gìn giữ đạo lý, giống nòi trong một thời kỳ các cuộc chiến tranh phong kiến
xảy ra triền miên cùng với những biến động xã hội lớn lao”(Giúp nước giúp dân)[60,
tr.657]. Thomas Engelbert cảm nhận một cách rất giản dị cái tình của Nguyễn Bỉnh Khiêm
đối với dân, với nước:
“Thông cảm với người dân, yêu thương đất nước,
Trong trắng như ánh trăng lung linh soi trên mặt hồ,
Niềm vinh quang và danh dự: lâng lâng như đóa hoa, phất phơ trong gió”
Vì tấm lòng son với nước với dân mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã lên đường ứng thí đầu
quân nhà Mạc dù “Chẳng quản ai chê, chẳng quản khen”(Thơ Nôm, bài 128). Ông tự an ủi:
“Vốn học vấn chưa đủ thỏa lòng tin mong của kẻ sĩ. Chỉ có cái hư danh, chuốc lấy sự cười
chê của người đời”(Lý cư giản chư đồng chí). Và có thể nói chính niềm ưu quốc ưu thời là
thứ tâm bệnh nan y khiến ông chẳng những hao gầy về thể xác mà còn thương tổn về tinh
thần:
“…Tuổi đời của ta nay đã sáu mươi,
Già đến, lại cùng bệnh tật hẹn hò nhau.
Tiếc xuân, gượng khuyên mời vài chén rượu
Lo nước, đừng nói hai mái tóc đã bạc như tơ.”
. (Tỏ nỗi lòng trong dịp Nguyên đán)
Nếu tấm lòng: “Ưu ái lòng phiền nửa đêm”(Tự thuật 4) của Nguyễn Trãi dạt dào như ngọn
thủy triều; trong trắng, cứng rắn như viên ngọc thạch; nếu suốt đời Nguyễn Trãi luôn: “Bình
sinh chỉ tâm niệm việc lo trước thiên hạ,” đến nỗi : “Đêm lạnh quàng chăn ngủ chẳng
yên”(Hải khẩu dạ bạc Hữu cảm 2) thì cũng đã biết bao đêm ròng Nguyễn Bỉnh Khiêm lo
lắng, ngậm ngùi cho vận mệnh ngả nghiêng của nước nhà. Nếu hình ảnh nước nhà và “đám
dân xanh đầu” luôn thường trực trong trí của Nguyễn Trãi đến nỗi:
“ Tuế nguyệt vô tình song mấn bạch,
Quân thân tại niệm thốn tâm đan.”
(Hải khẩu tại niệm thốn tâm đan)
Và cảnh nhân dân đau khổ vì nạn can qua là niềm trăn trở lo lắng khôn nguôi của
Phùng Khắc Khoan:
“Can qua loạn lạc khổ lưu ly
Trường sử anh hùng mạn tự tư”
(Thương loạn)
thì cảnh chém giết lẫn nhau để tranh giành quyền lợi, cảnh nhân dân ly tán trong chiến
tranh, cảnh đạo đức suy đồi cũng làm cho Nguyễn Bỉnh Khiêm “mấn thành ty”(mái tóc trở
nên bạc như tơ), biết bao nhiêu lần trái tim ông nhắc nhở “Niềm xưa trung ái, thề chẳng
phụ”(Thơ Nôm, bài 11):
“Bần tiện trùng phùng thử loạn ly,
Khu khu ưu quốc mấn thành ti”
(Trung Tân quán ngụ hứng, thập)
Khi đọc đến hai câu thơ tràn đầy tình yêu nước thương dân của Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Huỳnh Hữu Bát có cảm nhận: “Điềm đạm mà sâu lắng. Ưu tư mà như có lửa đốt ở trong
lòng. Ngậm ngùi mà lại có chất men của trí tuệ. Lo việc nước mà trước hết là lo việc đời,
việc dân.…Dồn lại đến cùng, vẫn là tấm lòng lo cho dân khỏi cảnh điêu linh khốn khổ, có
được cuộc sống sung túc, yên vui.”(Sự an lạc của nhân dân, điểm hội tụ của thơ văn
Nguyễn Bỉnh Khiêm).[79, tr.284]. Dân và nước đã truyền sức mạnh cho Nguyễn Bỉnh
Khiêm, giúp ông có đủ dũng khí để dâng sớ chém đầu bọn loạn thần mà không sợ nguy hại
đến bản thân. Và khi từ bỏ công danh lợi lộc, vui với cảnh quê nhà, trí sĩ vẫn không thể nào
quên hai chữ “ưu ái”. Đó chính là tấc lòng, là tâm huyết suốt đời của ông:
“Ưu ái chẳng quên niềm trước
Thị phi biếng nói sự nay.”
(Thơ Nôm, bài 70)
Chính vì vậy, dù sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, chốn an nhàn hay chốn xôn xao, đeo đai
vàng, đội mũ nho hay sống tự tại. Dù đang ở vào vị trí “xuất” hay “xử”, tấm lòng “trung
cần” của nhà thơ cũng không bao giờ phai lạt:
“Chẳng hết “trung cần” hai chữ ấy
Nhờ ơn đất rộng, cậy trời cao.”
(Thơ Nôm, bài 83)
Tấm lòng “trung cần” hay “trung hiếu” là một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
ta. Nó thấm nhuần trong tư tưởng, tình cảm của các nho sĩ và trụ lại trong tâm như một bức
tường thành vững chắc. Tác giả Huỳnh Hữu Bát cho rằng trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh
Khiêm “có sự đồng nhất giữa vua với nước, giữa chế độ phong kiến với lịch sử dân tộc”.
Điều này là lẽ đương nhiên trong một xã hội còn tồn tại cái nghĩa quân thần. Nói đến nước
là nói đến vua, nói đến sự hưng thịnh hay suy vong của một triều đại là gắn với vận mệnh
của một dân tộc. Rõ ràng, tư tưởng yêu nước, thương dân của ông vẫn không thể thoát khỏi
ý thức hệ phong kiến. Trong ông, học thuyết Khổng Mạnh vẫn tồn tại mạnh mẽ:
“No lòng ấm cật, ơn nhà chúa
Tiết ngọc gan vàng, giữ phận tôi”
(Thơ Nôm, bài 97)
Cho dù có nhiều bài thơ, câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm có nét giống thơ Nguyễn Trãi
nhưng điều chủ yếu mà người viết muốn trình bày là cả hai nhà thơ lớn của dân tộc đều có
chung một tấm lòng “ưu ái”. Tấm lòng đó hay đi về dưới ngòi bút tràn đầy tình cảm chân
thật, giản dị của hai nhà yêu nước. “Bui có một lòng trung mấy hiếu”(Thơ Nôm, bài 128),
câu thơ đẹp cả ý lẫn tình. “Bui có” là tiếng cổ, nghĩa là chỉ có, một cách nói đầy tự hào sang
trọng về tấm lòng của chính Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chẳng những thế, nhà thơ còn đưa ra lời
thề sắt son, trong sáng với vua với dân, cái tình đối với vua và cái tình đối với dân quả là
một. Câu thơ lục ngôn với hai vế tiểu đối: “Mài chẳng khuyết, nhuộm chẳng đen” đã thể
hiện thái độ cương quyết của nhà thơ: tấm lòng trung hiếu dù có mài đi cũng chẳng khuyết,
dù có nhuộm đi cũng chẳng bao giờ đen. Đó chính là đạo làm người mà kẻ sĩ tôn thờ, cũng
là tôn chỉ của Nho giáo. Nếu Nguyễn Trãi dõng dạc tuyên bố rằng: “Chữ học ngày xưa quên
hết dạng. Chẳng quên có một chữ : cương thường” thì Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng từng
khẳng định:
“ Từng xem sách cũ một hai pho,
Mến đạo, thề chăng phụ nghiệp nho.”
(Thơ Nôm, bài 27)
Vì vậy, trong lòng nhà thơ lúc nào cũng mong muốn: “Cơm áo khôn đền Nghiêu, Thuấn
trị”, cũng nuôi một ước vọng : “Thái bình thiên tử, thái bình dân”. Có vua hiền, bề tôi mới
tận trung: “Tể tướng hiền tài, chúa thánh minh”. Có đất nước thanh bình, người nho sĩ mới
thanh thản sống nhàn trọn vẹn, làm bạn cùng với phong nguyệt:
“Non Phú Xuân cao, nước Vị thanh,
Mây quyến khách, nguyệt vô tình.
Đất thiên tử dưỡng tôi thiên tử,
Đời thái bình ca khúc thái bình…”
(Thơ Nôm, bài 140)
Vua hiền, tôi thảo là mơ ước của biết bao người. “Giúp đỡ dân và yêu thương kẻ có
đức”(Thương cảnh loạn ly) là tiêu chí của những người có chủ trương “nhập thế hành đạo”.
“Lấy lòng nhân mà đánh kẻ bất nhân”(Thương cảnh loạn ly) là mục đích chiến đấu vì đại
nghĩa của những đấng trượng phu. Tiêu chí đó cũng là phương châm sống của Nguyễn Trãi:
“Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược; Có nhân, có trí, có anh hùng”. Cho nên, cuộc chiến nào
mang tính chất chính nghĩa, đội quân nào vì dân mà tiểu trừ bạo tặc thì tất sẽ chiến thắng, vị
vua nào biết chăm lo đời sống của dân thì sẽ giữ vững được triều đại. Bởi “Xưa nay nước
phải lấy dân làm gốc, nên biết rằng muốn giữ được nước, cốt phải được lòng dân!”(Cảm
hứng), bởi “Xưa nay nhân giả là vô địch”(Hữu cảm):
“Quân nhà vua biết là tất thắng,
Cứu cho dân điêu đứng bệnh hoạn này
Thì là bước lên cõi nhân cõi thọ.”
(Thương cảnh loạn ly)
Cũng chính vì có một “Tấm lòng lo trước thiên hạ đến già chưa thôi”(Tự thuật), cho
nên, tuy là nhà Nho, trung thành với thuyết “Tam cương ngũ thường” nhưng Nguyễn Bỉnh
Khiêm không cố chấp, câu nệ trong quan niệm xuất xử. Ông nghĩ rằng người quân tử sống
trên đời phải biết chọn lựa cho mình một lối đi riêng. Trên con đường lập sự nghiệp công
danh, người quân tử sẽ đứng trước hai con đường “xuất” và “xử”. Con đường nào cũng
quan trọng đối với người có lý tưởng nhưng chỉ được chọn một mà thôi. Khi lao mình vào
chốn quan trường thì phải cố giữ mình, giữ đạo đức, phải dốc lòng vì vua, vì nước, vì dân.
Khi đã quyết chí lui về ở ẩn thì không nên ghen ghét, quan tâm gì đến những người còn ở lại
chốn đua chen:
“Quân tử gẫm hay nơi xuất xử,
Ắt là khôn hết cả hòa hai.”
(Thơ Nôm, bài 39)
Khảo sát chặng đường hoạt động từ thời niên thiếu đến năm 1534, ta thấy đây là khoảng
thời gian Nguyễn Bỉnh Khiêm không tham gia vào thời cuộc nhưng vẫn không đứng ở vị
thế khách quan. Ông vẫn ẩn nhẫn nghiền ngẫm thế sự và đau lòng chứng kiến triều đình nhà
Lê dần dần đi vào chỗ suy tàn. Vẫn tâm niệm trong lòng
một chữ “trung”, nhưng không phải là một thứ “ngu trung” của Nho giáo, theo ông:
“Quân nào thần ấy đã bày
Trên đầu bất chính dưới nay dấy loàn.”
Ông không thể giữ vẹn chữ “trung” đối với những tên vua hoang dâm, bạo tàn. Ông càng
không thể ra phụng sự một triều đình thối nát, nhan nhản trước mắt với những chuyện
thương luân bại lý. Ông từ chối bước vào chốn quan trường vì nơi đó đầy rẫy cảnh đau lòng.
Bọn vua quan ăn chơi xa xỉ, trác táng vô độ. Nếu ông có xuất hiện trong các buổi “tiệc
vàng” thì chỉ là một vị khách lẻ loi:
“…Rau không đắng giốt là rau mát,
Cá có tanh tao ấy cá bùi.
Yến, thuở thôi đai nào kẻ cấm,
Hội, đêm thu mũ có ai đôi.
Tiệc vàng đã biết duyên chăng có,
Sơn dã thì làm khách lẻ loi.”
(Thơ Nôm, bài 101)
Rõ ràng, Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là một người vội vã trong quan niệm “xuất xử”.
Ông quan sát, chiêm nghiệm, phân tích tình hình thế sự xưa-nay và lựa chọn thời điểm thích
hợp để thực hiện con đường ông đã chọn. Ông nghĩ rằng: “Lâu chóng xem ra tùy cảnh
ngộ”(Gửi bạn). Ông khiêm tốn tự nhận là “học ít” lại thêm “bất tài”, nên hai con đường
“xuất” và “xử” chỉ có thể chọn một, chỉ có thể hết lòng thờ một triều:
“Học ít hòa thêm lại bất tài,
Già mà luống phụ chí con trai.
Quân thân thề hết lòng thờ một,
Xuất xử cầu chưa đạo được hai.”
(Thơ Nôm, bài 12)
Tuy nhiên, con đường xuất xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy nhất quán về tình cảm yêu
nước, thương dân nhưng đầy phức tạp do hoàn cảnh chính trị xã hội đương thời. Thử nghĩ,
khi nhà Lê còn tại vị nhưng bạc nhược thì liệu một con người có tâm huyết với đời, luôn
giương cao ngọn cờ nhân nghĩa như Tuyết Giang phu tử có nên “xuất” để giúp vua Lê giữ
vững cơ đồ hay không? Vả lại, vua hôn muội, quanh vua toàn là kẻ xu nịnh thì kẻ bầy tôi dù
có tài đến đâu, dù có đức đến mấy cũng không thể giữ được nước. Những bài học về “Quân
minh thần lương” trong Tam Quốc chí còn đó. Gia Cát Lượng Khổng Minh tuy có tài quán
thông vũ trụ, am tường binh pháp, dụng binh như thần, người đời nể phục, kẻ thù kiêng sợ
nhưng vị quốc sư nhà Hán đành bất lực vì gặp phải tên vua bạc nhược, hôn muội Lưu Thiện.
Vị hiền tài nhắm mắt lìa trần mà lòng luôn trăn trở, những “Mong sao Vận Hán dần xoay
chuyển” để đất nước mãi mãi thanh bình.
Luận về chuyện xứ người, nghĩ lại chuyện xứ ta, khi Mạc Đăng Dung thay đổi lịch sử,
thay đổi luôn cả những chính sách giúp an dân, lợi nước, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn còn ẩn
nhẫn chờ thời. Có lẽ ông nghĩ rằng người thực sự có tài chẳng khác nào như vàng mười, cần
chi vội vã, cần chi cầu danh. Vả chăng, trong quan niệm “xuất” của ông là mong muốn tìm
một vị vua anh minh. “Quân minh thần lương” là ước vọng không chỉ của riêng ông mà còn
là niềm mơ ước của bao nhiêu người, trong đó có Nguyễn Trãi : “Vua Nghiêu Thuấn, dân
Nghiêu Thuấn. Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền” (Tự thán, 4). Như vậy, “tiệc ngọc, mâm son”
bày ra trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đang trông ngóng hiền tài. “Gươm trời, búa nguyệt”
chờ đó để trao vào tay người có chí. Cách nói của nhà thơ vừa cụ thể mà cũng vừa ẩn ý:
“…Tiệc ngọc còn chờ người quý giá,
Mâm son hãy đợi khách cao tài.
Gươm trời nỡ để tay phàm tuốt,
Búa nguyệt chi cho đứa độc mài.
Ơn nghiêm liệt soi thăm thẳm,
Vàng mười đúng giá lọ rao ai?”
(Thơ Nôm, bài 79)
Khi thấy nhà Mạc đã ở thế vững vàng và có nhiều chính sánh mới, Nguyễn Bỉnh Khiêm như
con chim phượng hoàng vỗ cánh mạnh mẽ bay cao để thực hiện hoài bão. Ông khẳng định
cái chí và cái trung khi ra phụng sự triều Mạc:
“Bình cũ, song bình vẫn dấu hương,
Con công thần lỡ gọi rằng ương.”
(Thơ Nôm, bài 98)
Cách hành xử “cũng tùy theo cảnh ngộ” của Nguyễn Bỉnh Khiêm chẳng khác nào như cách
hành xử của Khổng Tử khi đến giúp đại phu nước Lỗ-Công Sơn Phất Nhiễu, như Khương
Tử Nha “ném cần câu” ra giúp Chu Văn Vương, như Y Doãn buông cày giúp Thành Thang
diệt nhà Hạ lập nhà Thương:
“Mang tráp sách, cùng theo thầy học đạo ở Hà Phần,
Tài năng và sự nghiệp, hẹn nhau sẽ có bước đi xa xôi rộng lớn.
Đời suy mạt bỏ tài năng, dẫu tạm thời chịu khuất,
Nhưng sẽ là bậc phù tá nghiệp vương thì đã biết trước…”.
(Gửi bạn)
Nhưng đến khi thấy triều Mạc dần dần mất đi vai trò tích cực của một chính quyền phong
kiến, càng lúc nhà Mạc càng bộc lộ bản chất thoái hóa và lại thỏa hiệp, cầu hòa vội vã với
nhà Minh, nhà thơ có lúc đắn đo, băn, khoăn, cân nhắc:
“ Thửa nơi xuất xử đâu là phải?
Ở ắt nên, về cũng ắt nên.”
(Thơ Nôm, bài 7)
Khi nghiên cứu những trang sử thời Mạc, Phan Huy Lê cũng cho rằng:
Nhưng rồi trước yêu cầu của lịch sử, triều Mạc cũng bộc lộ những mặt bất lực và
hạn chế. Triều Mạc thay thế triều Lê nhưng không giữ vững được chính quyền trung ương
và quốc gia thống nhất, để cho từ năm 1533, các thế lực phong kiến thù địch, dưới danh
nghĩa phù Lê, xây dựng lực lượng và thành lập chính quyền riêng ở Thanh Hóa. Đất nước từ
đó lâm vào thảm họa phân liệt và nội chiến mà kết cục là sự thất bại của chính triều Mạc”
(Nguyễn Bỉnh Khiêm và thời đại của ông.)[60, tr.66]
Cho dù, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng “Thề chưng xuất xử, đạo thờ ba”(Thơ Nôm, bài 17),
cho dù “Ba đời chúa được phúc tình cờ”(Thơ Nôm, bài 24) nhưng vì vua không minh thì
ông đành quay về chốn nước non làm bạn với thiên nhiên: “Nghĩa cả luống quên tôi chúa
cũ. Thề xưa nỡ phụ nước non xanh”(Thơ Nôm, bài 13). Ông không thể phò tá một Mạc
Phúc Hải ham mê tửu sắc; một Mạc Phúc Nguyên hôn quân, mê muội; một Mạc Mậu Hợp
chưa biết quyết đoán việc gì. Tuy Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “được tiếp cận với ánh sáng trong
suốt của thiên nhan”(Thơ vịnh giấy), và đã “Dâng sớ can, nhân nghĩa rõ ra”(Thơ vịnh giấy)
nhưng vua Mạc không thuận, ông đành: “Làm quan già bệnh lại xin thôi”(Bài 16-BVATT-
Nguyễn Khuê). Nếu trong Họa hương tiên sinh vận giản chư đồng chí, Nguyễn Trãi từng ví
mình như con chim phượng vì yêu ánh sáng ban mai mà cất tiếng gáy cùng vừng đông
nhưng cuối cùng không thay đổi được tình thế mà phải học theo con chim hồng tránh xa nơi
săn bắn để khỏi bị sa vào lưới người:
“Toan làm phượng gáy vừng đông,
Chim hồng tránh lưới cuối cùng học theo.”
thì Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng ví mình như con cá côn, con chim bằng nơi biển Bắc có sức
bơi xa, bay cao nghìn dặm, nhưng vì cá không gặp nước, chim không gặp gió, không có
không gian cao rộng và như người không gặp thời nên đành phải xếp đôi cánh lớn, quay về
chốn non xanh.
“Cá côn sớm vươn mình trên biển cả muôn dặm,
Gặp phải khi cùng hãy xếp cái vây dài lại.
Trước đây từng là khách nơi ngựa vàng nhà ngọc,
Bây giờ là người bạn của non xanh nước biếc….”
(Thuật ý mình-bài một)
Theo Nguyễn Bỉnh Khiêm, con người cũng giống như tạo vật. Chim kia đang bay trên bầu
trời xanh, có lúc mỏi cánh cũng muốn tìm một nơi để hạ cánh. Cây quạt nọ tuy đem gió mát
đến cho đời nhưng khi mùa thu đến thì phải xếp lại cất đi. Con người cũng thế, khi có thời
cơ thuận lợi để thi thố tài năng thì phải dốc sức, dốc lòng; nhưng lúc nhận ra thời cơ đã trôi
qua rồi thì phải biết lui về:
“Chim thấy non cao, chim đến đỗ,
Quạt hay thu đến, quạt càng thâu.”
(Thơ Nôm, bài 54)
Tuy nhiên, theo ông, nếu không thể phò tá triều đình thì cũng có thể trở thành kẻ sĩ cứu giúp
dân lành. Khi quay về vui thú thôn dã, Nguyễn Bỉnh Khiêm từng xây cầu, tu bổ chùa chiền,
mở trường dạy học…. Bằng những vần thơ đầy cảm khái, bằng nghệ thuật ẩn dụ sâu sắc, tác
giả đã bày tỏ quan niệm hành tàng khá độc đáo qua bài thơ Hai cây đa già ở bến Trung Tân.
Ông ví mình như cây đa già, tuy trải qua biết bao gió sương, mưa nắng, tuy chẳng thể trở
thành cột rường chống đỡ mái nhà nhưng cây đa vẫn có thể làm bóng mát che chở cho dân
chúng, không kiêng sợ búa rìu. Vì vậy, ông quan niệm cái gì chẳng đáng giữ nữa thì nên bỏ
đi, nếu không mình
sẽ mua lấy sự nhọc công vô ích vì thời gian không quay trở lại. Vả lại, theo ông, người quân
tử phải cân nhắc kỹ hai con đường xuất xử; đấng trượng phu phải giữ vững chí làm trai.
Hơn nữa, việc nước là việc chung của những người trong thiên hạ, một mình ông không thể
“đội đá vá trời”, đành quay về “chốn xuân phong”:
“Chẳng nên để, ắt chẳng nên dùng
Lẩn thẩn ngày qua luống nhọc công.
Quân tử mới hay nơi xuất xử,
Trượng phu cũng có chí anh hùng.
Nhân tài làm trọng, đời nào khỏi?
Thiên hạ chẳng tư, của ấy chung.
Cảnh cũ vẫn còn non nước cũ,
Chốn nào là chẳng chốn xuân phong.”
(Thơ Nôm, bài 34)
Câu thơ như có tiếng thở dài tiếc nuối vì đấng trượng phu không thỏa chí tang bồng. Khi
đọc bài thơ này, Đào Thái Tôn khám phá : “Bài thơ rất đặc sắc mà ở đó thể hiện nỗi dằn vặt,
bâng khuâng của Nguyễn Bỉnh Khiêm trước khi từ bỏ công danh tìm đường ẩn dật”(Tìm
cách hiểu một câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm)[68, tr.46].Vì nếu không dứt khoát chọn con
đường đi như Đào Tiềm, như Dữu Lượng…lúc “ngâm biếm nguyệt”, lúc “chén vầy thu” thì
sẽ chuốc lấy sự phiền muộn trong lòng:
“…Khó khăn mới biết người quân tử,
Nghèo hiểm thì hay tiết trượng phu.
Mọi sự chăng còn mắc mớ,
Nỗi hay vụng liệu phải lo.”
(Thơ Nôm, bài 27)
Khi luận về quan niệm xuất xử tùy thời của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ôn Đình hầu Vũ Khâm
Lân có bày tỏ sự cảm thông sâu sắc: “Còn như tiên sinh: sẵn có tư chất thông tuệ, thêm vào
đạo học thánh hiền, ví thử đắc thời để mà thi thố sở học, chắc sẽ tạo ra được cảnh trị bình,
thay đổi phong tục phù bạc thành ra lễ nghĩa văn minh. Thế mà trái lại: một người có đức đủ
phò tá vương lại sinh ra giữa thời bá giả, thành ra sở học trở nên vô dụng, thực đáng tiếc
thay! Tuy nhiên đời dùng thì làm đời bỏ thì ẩn, đối với tiên sinh dù chẳng đắc dụng cũng có
hề chi. Ta rất hâm mộ tiên sinh về chỗ đó.” [10, tr. 411-412].
Từ bỏ công danh giữa lúc danh cao vọng trọng. Từ bỏ mọi tước quyền giữa lúc được
triều thần nhà Mạc nể trọng, kiêng dè. Thử hỏi với cách hành xử này mấy ai đã làm được
như Trạng Trình. Điều đó chứng tỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm không tham công danh, không
thích quyền thế, nhưng trước đó có thái độ nhập thế rất tích cực và giữ chữ trung với nhà
Mạc là vì muốn thực hiện hoài bão và cái chí của một người luôn vì dân, vì nước:
“ Ba đời chúa được phúc tình cờ,
Ơn nặng chưa từng báo tóc tơ.”
(Thơ Nôm, bài 24)
Cái phúc tình cờ mà Nguyễn Bỉnh Khiêm nói đến trong câu thơ đầy cảm xúc chính là sự
trọng đãi của các triều vua Mạc đối với ông và gia đình. Lời thơ vừa như là lời biết ơn vừa
như có sự trăn trở vì chưa phò tá trọn vẹn đương triều. Khảo sát những bài thơ ngôn chí và
cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm, người viết nhận thấy việc ông ra phụng sự nhà Mạc là
kết quả của một sự lựa chọn theo quan niệm chuẩn mực của riêng ông. Ông đã xác định
được hướng đi theo triều Mạc. Cho nên, ra phò tá nhà Mạc, ông tuyên bố rất tự tin và hùng
hồn rằng “Ta nay muốn thi thố sức phò nguy” mà “cứu vãn lại quan hà, thành cũ của nhà
vua”. Lời tuyên bố đó không chỉ là lời tuyên thệ mà còn bộc lộ “Tấm lòng chí nghĩa vững
bền sắt son” của ông:
“…Ngã kim dục triển phù nguy lực,
Vãn khước quan hà cựu đế thành…..”
(Cự ngao đối sơn)
Trong Nguyễn Bỉnh Khiêm trong quá trình chuyển biến về ứng xử chính trị của trí thức Việt
Nam, Cao Tự Thanh có sự so sánh về quan niệm chính trị của hai nhà yêu nước: “…nhân
cách chính trị ở cả hai người trí thức này đều sáng ngời một tấm lòng thương dân yêu nước,
nhưng thời đại đã cho phép Nguyễn Bỉnh Khiêm đạt tới một quan niệm cũng như một thái
độ ứng xử chính trị phù hợp hơn. Nếu chính quyền nhà Lê đối với Nguyễn Trãi gần như là
lý tưởng thì chính quyền nhà Mạc đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là phương tiện.”[78,
tr.187]
Nhà Mạc không chỉ là một phương tiện để tác giả thực hiện cái chí của một bậc chân Nho
mà còn là giúp ông bộc lộ cái tình đối với đất nước, với nhân dân:
“Bao giờ lại thấy đời Nghiêu Thuấn,
Giúp chúa lo dân mới thỏa tâm.”
(Tự thuật-Nguyễn Khuê dịch)
Từng câu thơ vừa thể hiện sự dứt khoát trong tư tưởng và hành động vừa bộc lộ tấm chân
tình của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với triều đại mà ông đang phụng sự. Cho nên, tuy “Công
danh hờ hững chiếc thuyền không”(Ngụ hứng-bài ba) nhưng lòng ông luôn trăn trở, vì : “Xa
vua đâu phải đã nguôi lòng”(Thơ ngụ hứng về quán Trung Tân-bài 12), tuy “Công danh hai
chữ đã nhường người” nhưng vẫn một lòng gắn bó: “Ưu ái một niềm hằng nhớ chúa”(Thơ
Nôm, bài 109), tuy “Buồng văn cài cửa, luận xuân thu”(Thơ Nôm, bài 113) nhưng lòng ông
luôn khăng khăng một nỗi: “Bui có một niềm chầu nhớ chúa”(Thơ Nôm, bài 117). Bởi trong
lòng ông: “Ơn chúa chăng quên một bữa cơm”(Thơ Nôm, bài 33). Ngẫm lại cuộc đời của
Nguyễn Bỉnh Khiêm, vua và chúa trong thơ chính là những vị vua nhà Mạc. Dù triều Mạc
mang tiếng là nghịch thần, phản quốc nhưng:
“Dữ lành miệng thế mặc chê khen,
Tuổi đã già thì mọi sự hèn.
Lộc nặng, há quên ơn chúa nặng?
Máy nên, những lệ thuở công nên…”
(Thơ Nôm, bài 36)
Có nhiều người cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm ra làm quan thời Mạc là bất đắc dĩ do
nhiều yếu tố khách quan như bạn bè khuyên nhủ, gia cảnh thanh bần, triều đình cưỡng bách
ứng thí. Trong Phả ký về ông Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn Văn Đạt, Vũ Khâm Lân có viết:
“Khi bốn phương đã trở lại yên tĩnh, bạn hữu đều khuyên ông ra làm quan, đến năm 44 tuổi
ông mới chịu ra ứng thí”. Cùng ý kiến này, Phan Huy Chú cũng viết: “Khi họ Mạc lấy được
nước rồi, bốn phương tạm yên, các thân thích bạn bè đều khuyên ông ra làm quan”. Riêng
trong bài Mối quan hệ giữa Nguyễn Bỉnh Khiêm với vương triều Mạc, người viết đồng tình
với Ngô Đăng Lợi về quan niệm xuất xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tác giả cho rằng
Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất thế là do nguyên nhân chủ quan: “Bản thân ông trước sau đều
muốn có dịp sẽ ra giúp dân, giúp nước. Lúc ấy, chỉ có triều Mạc Đăng Doanh là khá hơn, có
thể là chỗ dựa để ông thi thố tài năng, nên cuối cùng ông đã quyết định cộng tác. Nhưng có
phần chắc nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy Nguyễn Bỉnh Khiêm phải có thái độ dứt khoát,
không thể dùng dằng chính là nguy cơ ngoại xâm đe dọa sự mất còn của Tổ quốc.”[60,
tr.91]
Một người có “tấm lòng tiên ưu đến già chưa thôi” như Nguyễn Bỉnh Khiêm làm sao có thể
ngồi nhàn nhìn đất nước, nhân dân rơi vào cảnh lầm than. Vì vậy, dù “biếng chen chân” vào
chốn lợi danh, dù “Ngại bước chân chen áng cửa quyền”(Thơ Nôm, bài 51), ông vẫn lên
đường ứng thí đầu quân nhà Mạc, vẫn tận tụy với công việc được giao, vẫn “Tham dự việc
quân, gắng gượng theo đòi”. Nguyễn Trãi cũng đã từng dứt áo công danh xa rời chốn thị phi
nhưng khi nghe tiếng gọi của trách nhiệm, của lý tưởng, của non sông, ông lại ra gánh vác
việc đời với một lời tuyên bố mới:
“Vì nợ quân thân chưa báo được,
Hài hoa còn bận dặm thanh vân!”
(Ngôn chí,11-Nguyễn Trãi)
Đó chính là lý do mà khi Tuyết Giang phu tử mất đi, tự tay vua Mạc Mậu Hợp viết biển
ngạch treo trước đền thờ ông: “Mạc triều Trạng Nguyên Tể tướng từ” để tỏ lòng kính trọng
vị hiền tài thời Mạc. Ngoài ra, trong Bạch Vân am sự tích cũng như trong Công dư tiệp ký,
có ghi rất cụ thể tước phong của những người con của Nguyễn Bỉnh Khiêm do nhà Mạc
phong tặng khi cầm binh có công. Như con trưởng được tập ấm Trung Trinh đại phu, làm
quan đến chức Hiến phó. Con thứ hai được phong hàm Triều Liệt đại phu, tước Quang
Nghĩa hầu. Con thứ ba phong hàm Hiển Cung đại phu, tước Nghĩa Xuyên hầu. Con thứ tư
phong hàm Hoằng Nghị đại phu, tước Quảng Đô hầu. Con thứ năm được phong tước Bá
Nghĩa hầu. Con thứ sáu là Thắng Nghĩa hầu. Như vậy, không chỉ riêng nhà thơ phò tá tận
tụy triều Mạc mà cả
gia đình ông đều một lòng vị quốc đương triều.
Trong bài Một số vấn đề về con người, tư tưởng thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác giả Mai
Quốc Liên luận rất sâu sắc về chữ “trung” của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Nguyễn Bỉnh Khiêm là người như ông nói: “cùng, thông, đắc, táng ta có lo chi cho
riêng mình, tấm lòng tiên ưu đến già chưa thôi”. Vậy động cơ của ông là vì dân, vì nước.
Cái động cơ ấy biện minh cho tất cả, và Nguyễn Bỉnh Khiêm được xem như Giang, Hán
trong các sông, như ánh mặt trời thu, cây đại thụ của đạo đức, văn chương thế kỷ 17.[78,
tr.141]
Bên cạnh đó, là một bậc túc nho thông kim bác cổ, là một nhà thơ lỗi lạc với nhiều bài
thơ mang tính triết lý sâu sắc, Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ dùng thi ca làm thú tiêu khiển,
dùng những vần thơ thể hiện chữ “trung” với đất nước mà còn dùng văn chương để truyền
bá những tư tưởng vừa có tính đạo đức vừa có tính giáo hóa con người, nói chính xác là
dùng nhân nghĩa để trị nước. Người thầy Tuyết Giang đã thực hành đúng phương châm
“Văn dĩ tải đạo” của Thánh hiền. Chỉ “Biết một khăng khăng giữ đạo thường”(Thơ Nôm,
bài 92). Nếu tuyên ngôn nghệ thuật của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu là:
“ Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.”
và ngòi bút của Nguyễn Trãi đã từng vạch ra bổn phận của người làm vua, than tiếc cho
“người hiền lương phải ngậm oan, kẻ trung trực đành khóa miệng”, từng viết Thư trả lời
Phương Chính, Lại dụ Vương Thông, Thư dụ thành Bắc Giang…. cứu biết bao sinh linh thì
ở người thầy đạo cao, đức trọng Tuyết Giang là: “Yêu nhau chăng đã một luân thường”(Thơ
Nôm, bài 77). Ông luôn hy vọng rằng trong cuộc sống đầy bon chen nếu đạo đức và nhân
phẩm của con người được giữ gìn, bồi dưỡng thì con người sẽ nhân đức và xã hội sẽ tốt đẹp
hơn. Vì vậy, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là những lời thơ chân thành được cảm nhận ở góc độ
đạo đức và triết lý. Cũng như các bậc hiền triết khác, người thầy Tuyết Giang luôn khuyên
nhủ mọi người nên tu nhân tích đức bởi ác giả ác báo; bởi con người sống trên đời ít ai được
cả mặt này hay mặt khác, không ai toàn vẹn cả. Cho nên, cần phải giữ gìn khí tiết, giữ trọn
đạo Thánh hiền. Trước một sự việc nên suy xét tinh tường, tránh đôi co mà chém giết lẫn
nhau
tạo bao cảnh tang thương:
“Làm người hay một, họa hay hai,
Chớ cậy rằng hơn, chớ cậy tài.
Trực tiết cho bền bằng sắt đá,
Đi đường sá lánh chốn chông gai.
Miệng người tựa mật, mùi càng ngọt,
Đạo thánh bằng tơ, mối hãy dài.
Ở thế cả yêu là của khá.
Đôi co, ai dễ kiếm chi ai?”
(Thơ Nôm, bài 60)
Đạo đức suy đồi, ông mong muốn đem năm chuẩn tắc của quan hệ gia đình mà giáo huấn
con người: “Phụ thì phải nghĩa, mẫu thì phải từ, huynh thì phải hữu, đệ thì phải cung, tử thì
phải hiếu”. Xã hội bất ổn, ông muốn chấn chỉnh lại kỷ cương bằng chín nguyên tắc trị nước
trong sách Kinh thư. Những lời tâm huyết với đời, tấm lòng tha thiết với người của Nguyễn
Bỉnh Khiêm được bộc lộ trong những dòng thơ tràn đầy Cảm hứng-ba trăm câu. Quả thật:
“Giáo hóa như thế thực là đẹp.”
Nhìn chung, trong cuộc đời, Tuyết Giang phu tử đã lập am Bạch Vân, xây quán Trung
Tân, mở trường dạy học trên bờ sông Hàn, đào tạo biết bao con người nhân nghĩa, lập biết
bao công ích cho xã hội. Trong văn chương, Tuyết Giang phu tử đã lập ngôn bằng sự kết
hợp hài hòa, linh hoạt, sáng tạo tư tưởng Tống Nho. Có thể nói, tư tưởng Tống Nho là tư
tưởng rất gần gũi với suy nghĩ, tình cảm của người Việt Nam. Cho nên, những lời giải thích
trên tấm bia dựng ở quán Trung Tân về chữ “Trung Tân” của Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là
những lời khuyên nhủ vừa thâm thúy vừa giản dị, vừa gần gũi vừa sâu xa.
1.3. Những hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo
Trong bài Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhà Mạc, Trần Khuê có đưa ra lời
bình sắc sảo về sự có mặt của cả ba hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo trong thơ của Nguyễn Bỉnh
Khiêm: “Điều thú vị là Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất thân từ cửa Khổng, ông đi ngang qua sân
nhà Lão Tử, rồi dừng lại trước cửa Thiền, suy ngẫm về giáo lý và đạo lý; cuối cùng ông đã
trở về với ruộng đồng và lũy tre xanh của làng
quê Việt Nam, hay nói khác đi, ông đã trở về với dân tộc. Suốt đời ông, ông đã sống
như mình cần sống và đã hành động như mình cần hành động.” [78, tr.34]. Xét cho cùng,
đối với các nhà nho Việt Nam từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du cho đến
Nguyễn Đình Chiểu đều chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho, Phật, Lão. Có điều là mức độ ảnh
hưởng ít hay nhiều, đậm hay nhạt có khác nhau tùy theo quan niệm của từng cá nhân và thời
đại.
1.3.1. Tư tưởng Nho
Ngay từ thời niên thiếu cho đến lúc trưởng thành, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận
được sự giáo huấn trong một gia đình và môi trường Nho học. Tinh thần Khổng giáo thấm
nhuần trong ông khi ông được tiếp nhận những bài học từ danh nho Lương Đắc Bằng. Và
kết quả của bao năm khổ luyện từ “cửa Khổng sân Trình” là nho sĩ đã chiếm bảng vàng
trong ba kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình. Giải nguyên, Hội nguyên, Trạng nguyên không chỉ
là sự thỏa chí công danh nơi ông mà còn minh chứng rằng ông đã thành đạt từ một nền giáo
dục của Nho giáo.
Nho giáo từ lúc thâm nhập vào Việt Nam cho đến nay đã trở thành một phần truyền
thống văn hoá Việt. Những tư tưởng quý báu của Nho giáo đi vào tâm hồn, tình cảm người
Việt và trở thành tư tưởng chính thống của các nhà Nho. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng bước
vào cửa Nho nên việc tiếp nhận có sáng tạo học thuyết Nho giáo là một điều tự nhiên. Xét về
bản thể luận, tư tưởng của Khổng Tử là triết lý định mệnh, Khổng Tử đã từng nói : “Người
quân tử có ba điều sợ: sợ mệnh trời, sợ vương công đại nhân, sợ lời nói của thánh nhân”.
Cái sợ đầu tiên của con người khi sống trên cõi đời là “mệnh trời”. Bản thân Khổng Tử cũng
từng khẳng định: “Học thuyết của ta có thực hiện được hay không là do số mệnh, học thuyết
của ta không thể thực hiện được cũng là do số mệnh…”. Mọi việc đều do ý trời. Họa hay
phúc, may hay rủi, vui hay buồn, giàu hay nghèo… tất cả đều do thiên mệnh tiền định, vì
“Tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên”. Không ai có thể cãi lại mệnh trời, vì “Bốn mùa vẫn
vận hành, vạn vật vẫn sinh hóa mãi, trời có nói gì đâu”(Luận ngữ, Dương hòa, 18). Tuy
trong thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm ít nhắc đến từ “thiên mệnh” nhưng do ảnh hưởng tư tưởng
thiên mệnh của Khổng Tử, ông cũng cho rằng “ông trời” là chúa tể của muôn loài. Muôn
loài sinh sinh hóa hóa đều do trời. Trời điều hòa sự vận hành của vũ trụ. Vũ trụ lạnh lẽo hay
ấm áp, hạn hán hay lũ lụt đều do bàn tay của ông trời sắp đặt, san sẻ, bù đắp:
“Công nhờ trời đất ơn còn rộng,
Che chở điều hòa kẻo chiếu chăn.”
(Thơ Nôm, bài 20)
Chẳng những thế, mọi vật trong trời đất dù lớn hay nhỏ, xấu hay đẹp, hoàn thiện hay khiếm
khuyết, vơi hay đầy, hạnh phúc hay sung sướng, vinh sang hay nghèo hèn, tan vỡ hay sum
họp,…đều hướng về trời sinh trưởng và nuôi dưỡng. Trời đã tạo ra Mưa nắng ngày hè thì
muôn vật trên đời làm sao mà không do trời sinh ra và chăm sóc. Vì vậy, Nguyễn Bỉnh
Khiêm luôn nghĩ:
“Mọi vật có lớn có nhỏ,
Có loài nào không do trời sinh dưỡng.
Thánh nhân mở rộng lòng thương yêu mình,
Khiến cho mọi loài đều được phúc.”
(Đến quán xem cá, thấy cá lớn nuốt cá bé, cảm xúc làm thơ )
Vì “Trời sinh ra dân chúng” (Ghét chuột) nên họ được no ấm hay đói nghèo, sống hay chết;
đất nước loạn hay an; triều đại thịnh hay suy, được hay mất …đều do ý trời. Vì thế, Nguyễn
Bỉnh Khiêm nghĩ rằng: “Sống chết, cùng thông đều có số” (Tân quán ngụ hứng, bài 19-
BVATT), bởi lẽ “Cùng thông, được mất đều do số”(Tân quán ngụ hứng, bài 36-BVATT) và
“Cùng thông có số há lo âu”(Tân quán ngụ hứng, bài 15-BVATT). Khổng Tử từng nói:
“Không hiểu được số mệnh thì không phải là người quân tử…”. Ngẫm suy cái lẽ của trời
đất, cho nên người quân tử Nguyễn Bỉnh Khiêm đã hoạch định hướng đi của mình sao cho
phù hợp với cái lẽ ấy. Nghĩ về cái lý tự nhiên, nên nhà thơ vẫn bình tĩnh trước tuổi già,
trước bệnh tật:
“…Bệnh nếu đến muộn cũng không nên oán hận,
Biết đó là ý trời hậu tình riêng với ta”
(Trung Tân quán ngụ hứng-bài 6)
Ông không hờn, không trách bởi vì ông biết “Khó khăn dầu mệnh ở trời” (Thơ Nôm, bài
21), bởi vì ông tin tưởng rằng ông trời với đức hiếu sinh sẽ không để cho đạo Nho rơi vào
cảnh khốn cùng mãi, trời “chưa làm cho nền tư văn mất đi”. Ngoài ra, Trời luôn chí công vô
tư, không thiên vị riêng ai. Thời tiết có lúc thay đổi; gió mưa có lúc làm bầu trời tối tăm;
mặt trời, mặt trăng có lúc khuyết lúc tròn nhưng trời lúc nào cũng công bằng:
“Gió mưa có lúc tối tăm,
Mặt trời mặt trăng có lúc “bị gấu ăn”
Chỉ có ông trời là không thiên lệch riêng ai.”
(Thương cảnh loạn ly)
Cho dù trời không thiên lệch riêng một ai nhưng rõ ràng ông trời luôn thương yêu, che chở
người có đức, có nhân. Luôn bênh vực cho những ai hành động thuận theo ý trời, hợp với
lòng dân, đúng với đạo nghĩa:
“Ơn trời còn có bấy nhiêu nữa
Che chở chăng đành kẻ khó khăn.”
(Thơ Nôm, bài 56)
Vì vậy, lúc gặp khó khăn con người luôn luôn hướng về trời. Với một lòng tin thành khẩn,
họ biết rằng khi gặp khổ nạn thì “Thương xót che chở cho, may thay còn có trời!”(Cảm
hứng thi). Do đó, con người nên tâm niệm điều này:
“Đức của Trời vốn hiếu sinh,
Nên thận trọng chớ giết nhau bừa bãi.”
(Đến quán xem cá, thấy cá lớn nuốt cá bé, cảm xúc làm thơ)
Câu thơ vừa là sự khẳng định tư tưởng thiên mệnh vừa như là lời răn đe những ai làm trái
với ý trời. Con người chớ vì lòng tham không đáy mà tranh giành quyền lợi, chém giết nhau
bừa bãi tạo cảnh thương tâm. Vì một lẽ, Trời hậu đãi ai thì trao Nước vào tay người đó:
“Năm năm được làm chủ ánh sáng đẹp mùa xuân,
Biết đó là lòng trời riêng hậu với ta.”
(Đêm cuối năm tức sự)
Ngoài ra, quan niệm về thiên mệnh của Nguyễn Bỉnh Khiêm còn được đặt căn bản trên
triết lý Kinh Dịch. Dịch là triết lý “động”. Theo Dịch thì mọi vật đều biến đổi không ngừng.
Vận hành liên tục theo qui luật tự nhiên như hoa nở rồi hoa tàn, ngày đi đêm lại, xuân sinh
hạ trưởng, thu liễm đông tàn….Qui luật tự nhiên điều khiển chặt chẽ vũ trụ, xã hội, con
người cho nên con người phải hiểu lẽ biến động đó mà thuận theo tự nhiên, tùy thời mà
hành xử, tránh đôi co, tránh “ chen lấn làm chi cho nhọc nhằn?”(Thơ Nôm, bài 87), tránh bi
quan chán nản:
“Chẳn lẻ đầy vơi ấy sự thường,
Thừa trừ tiêu trưởng khí âm dương…”
(Cảm tưởng khi đọc Chu dịch-Nguyễn Khuê dịch)
Xét về chính trị-xã hội, triết lý của Khổng Tử với tam cương ngũ thường đã buộc chặt
con người vào gia đình và xã hội. Đạo Khổng xem gia đình là một trong ba khâu không thể
thiếu của hoạt động con người: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Đạo quân thần, phụ tử,
phu phụ, huynh đệ, bằng hữu là gốc của đạo đức Nho gia. Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín là cách
ứng xử đẹp của những bậc quân tử. Cho dù theo sách Trung dung có nói: “Thiên mệnh chi
vi tính”, bản tính con người tự nhiên mà có nhưng con người cũng phải được giáo dưỡng
theo một chuẩn mực đạo đức của thời đại. Thời đại Nguyễn Bỉnh Khiêm đang sống là thời
đại suy đồi về đạo đức. ở đâu, bất cứ lúc nào, con người cũng luôn ở thế tranh giành quyền
lợi. Lòng người khó đoán như sóng bể, lúc rút ra thì cạn nhưng bất ngờ dâng lên thì đầy:
“Lòng người sóng bể cạn thì sâu”. Vì vậy, tác giả mong muốn dùng thơ văn gióng lên hồi
chuông cảnh tỉnh người đời quay về với đạo. Bài Cương thường tổng quát là một bài thơ
độc đáo và đầy ý nghĩa. Bài thơ vừa là một sự tổng kết về thuyết tam cương, ngũ thường của
đạo Nho vừa bộc lộ cái tình của người thầy Tuyết Giang đối với cuộc đời, với con người-
dùng thơ văn là phương tiện để giáo dục đạo đức con người. Đầu tiên, con người theo tinh
thần Khổng học là con người phải có trách nhiệm đối với vua. Cũng như Nguyễn Trãi,
Nguyễn Khuyến và nhiều nhà nho khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn mang nặng trong lòng
hai chữ “trung quân”, lúc nào cũng canh cánh một điều: “Lộc nặng ơn nhờ đức thánh
minh”(Thơ Nôm, bài 125), lúc nào cũng khăng khăng một niềm: “Lui tới thìn cho phải đạo
trung”(Thơ Nôm, bài 119), và vì trung quân nên lúc nào cũng muốn thực hiện lý tưởng “trị
quốc, bình thiên hạ”:
“Xã tắc nguy ngập nghiêng đổ, ra sức phù trì,
Tuổi già chẳng ngại, gắng gỏi ruổi rong…”
(Thơ cảm hứng-bài 5)
Nếu Nguyễn Trãi đã quy sơn để “Say mùi đạo trà ba chén”(Thuật hứng, 13) mà vẫn : “Một
tấm lòng son còn nhớ chúa. Tóc hai phần bạc bởi thương thu…”(Trần tình, 7) thì Nguyễn
Bỉnh Khiêm dù tuổi già sức yếu vẫn quyết lòng: “…Thường gắng gỏi lòng trung thành, mưu
toan trả ơn nước” (Ngày mùa đông đến doanh trại, nhớ một vài bạn tri kỷ). Bên cạnh đó,
nhà thơ sáng tác nhiều đề tài khác nhau nhưng tựu trung đều đề cập tới thuyết tam cương,
ngũ thường. Ông đã từng khẳng định: “Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia đình….”(Bài tựa
tập thơ am Bạch Vân) cho nên khi viết về những tình cảm gia đình, ông viết bằng một tình
cảm chân thật, giản dị và trong sáng. Đạo làm con, đạo vợ chồng, tình anh em, nghĩa bằng
hữu chẳng những là đạo đức Nho gia mà còn là truyền thống văn hoá tốt đẹp của con người
Việt Nam, là bài học giáo dục cho con người ở mọi thời đại.
Với Khổng Tử, ông rất quan tâm đến đạo đức, chủ trương dùng đạo đức để giữ gìn kỷ
cương xã hội. Trong đó, ông đề cập đến nhiều nhất đến chữ Nhân. Học thuyết Nhân trải dài
trong Luận Ngữ của Khổng Tử. Hạt nhân của học thuyết Khổng Tử là nhân ái. Có thể nói
Khổng Tử là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đề cập đến con người (trên bình diện
nhân đạo chứ không phải trên bình diện nhân quyền). Khi phát hiện ra con người, Khổng Tử
cũng đã phát hiện nhân ái, phát hiện ra sức mạnh của đạo đức. Cốt lõi của nhân ái lại là hiếu
đễ (Hiếu đễ dã giả kì vi nhân chi bản dư- Luận ngữ, Vi chính). Môi trường sống của hiếu đễ
là gia đình. Gia đình không còn thì hiếu đễ chẳng làm gì cả. Từ đó, thuyết nhân ái cũng
chẳng còn lí do để tồn tại. Như vậy, đức Nhân trong Nho giáo không những là thương người
mà còn giáo dục đạo làm người. Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy mang tính triết lý thâm sâu
nhưng khi nói đến chữ Hiếu, chữ Nhân ông nói rất rõ ràng, giản dị, không ẩn ý, không
khách sáo cầu kỳ. Từ việc ông khuyên Con thờ cha mẹ, Khuyên nàng dâu thờ cha mẹ
chồng:
“…Nết ở chiều người tính sở ưa
Yêu nể càng gìn lễ phép.
Giận hờn cũng chớ thẩn thơ,
Mắng thương người phải dùng khoan nhặt
Ta giữ cho hay thì mới vừa.”
(Khuyên nàng dâu thờ cha mẹ chồng)
Khuyên anh em chớ giành lẫn nhau mà cần phải “Giúp nàn, chống rẻ cùng nương cậy. Biết
kính, hay yêu miễn thuận hòa”; Khuyên chồng đối với vợ hãy “Xin xót cùng nhau hỡi thế
thường. Lỗi nhỏ thứ cho đừng sá giận” cho đến Khuyên đối xử với họ hàng, Khuyên đối xử
với hàng xóm, Khuyên đối xử với bầu bạn,….. ông đều viết bằng giọng điệu nhẹ nhàng như
đang tâm sự với mọi người. Nếu ca dao Việt Nam có câu: “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy
rằng khác giống nhưng chung một giàn” thì để khuyên nhủ người đời nên “Yêu nhau nghĩa
ấy mới bền dai”, giúp đỡ lẫn nhau trong những lúc hoạn nạn, trong bài Khuyên đối xử với họ
hàng, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nói bằng cách nói rất giản dị, rất dân gian:
“Cùng nhau bầu bí yêu thương lấy,
Chớ nỡ xem bằng khách tới qua.”
Bên cạnh học thuyết của Khổng Tử, học thuyết tính thiện của Mạnh Tử cũng thấm sâu
trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Theo Mạnh Tử, đã là con người thì ai cũng có tính
thiện, tính thiện nằm sẵn trong con người. Lòng thương xót đó là tiền đề của tính thiện. Cái
tâm là biểu hiện của tính thiện.
“Ở có đức lành hơn ở dữ,
Yêu nhau chăng đã một luân thường”
(Thơ Nôm, bài 77)
Nguyễn Bỉnh Khiêm thấm nhuần tư tưởng Nho giáo. Do đó, dù sống trong bất cứ hoàn
cảnh nào, ông vẫn tin tưởng “Người ta tính vốn thiện” ; dù chứng kiến bao cảnh đau lòng
đang diễn ra trước mắt, người thầy đạo cao đức trọng vẫn khám phá ra một điều “May là
trong lòng người điều thiện chưa hề mất hết”(Bài bia ký quán Trung Tân). Chỉ khi nào tính
thiện bị vật dục che lấp thì tính thiện mới không giữ được toàn vẹn như thuở ban đầu. Lúc
đó, con người sẽ làm điều trái với đạo lý. Vì vậy, con người cần tu dưỡng tâm tính, tránh
“vô nhai”, cương quyết “diệt dục” và luôn “tri túc” để giữ gìn đạo đức. Câu thơ Nôm, số 76
là lời kêu gọi rất chân tình :
“Giữ mối giường, hay giữ mối giường,
Làm người hãy giữ đạo thường thường.”
1.3.2. Tư tưởng Phật
Trong bài Tinh thần Phật học của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác giả Minh Chi đã giải
thích rất cụ thể từ “cư sĩ”: “Nguyễn Bỉnh Khiêm còn nhận tự hiệu là Bạch vân cư sĩ. Từ cư
sĩ là ngôn ngữ nhà Phật. Từ cư sĩ có thể là xuất hiện lần đầu tiên trong văn chương Phật
giáo, trong Kinh Duy Ma Cật. Trong kinh, ông Duy Ma Cật được tôn bằng bốn danh hiệu là
Đại xĩ, là Thượng nhân, là trưởng giả, là cư sĩ….Như vậy, từ Cư sĩ trong Kinh Duy Ma chỉ
có những vị có trí tuệ lớn, tuy không xuất gia, nhưng hành đạo Bồ Tát, để cứu nhân độ
thế.”[60, tr.161]
Xét trong cuộc đời, tinh thần Phật giáo thấm sâu vào trong tư tưởng nên nhà thơ mới
tự xưng mình là Cư sĩ. Và lúc về trí sĩ ông cùng với các cụ già làng “làm chùa, làm quán,
chốn chốn đều được tu sửa”(Bài bia ký quán Trung Tân). Khi vãn cảnh chùa, Bạch Vân cư
sĩ cảm nhận không gian cao rộng cô tịch của cảnh chùa tạo cảm giác về sự hiện hữu vô
thường của vạn vật, cảm nhận nơi đây có thể giúp ông dứt hẳn bụi hồng trần. “Ngọn núi
lặng lẽ, bóng trăng tịch mịch, mây phủ sâu kín” là những thi liệu độc đáo trong thơ Thiền
gợi cảnh tĩnh lặng, trang nghiêm; gợi nhớ cái bản thể vũ trụ lớn lao không hình sắc, hằng
thường. “Đó cũng là cái tâm trống không của con người đã đạt đến sự hòa nhập cùng bản
thể tự nhiên, tự tại và thư thái vô biên”(Thơ Thiền Việt Nam thời Lý Trần-Khảo sát từ góc
độ nghệ thuật-Đoàn Thị Thu Vân)[71]. Thư thái trong không gian tĩnh lặng, trang nghiêm:
“Xanh um tùng trúc rợp ngàn cây,
Chùa cổ nguy nga tựa núi xây.
Chỗ cách phàm trần, soi nguyệt lặng;
Cửa ngăn thế tục, tỏa mây dày.
Mắt tăng sắc núi làm thêm tỏ,
Tâm Phật đèn đêm đã rạng bày.
Cảnh giới trang nghiêm bàn khó hết,
Khách xem ai chẳng muốn lên đây?”
(Thơ vịnh chùa-BVATT-Nguyễn Khuê dịch)
Nguyễn Bỉnh Khiêm đêm đêm thường tĩnh tâm trước bàn thờ Phật để mong ánh sáng Phật
Tổ soi sáng tấm lòng ái quốc ưu thời: “Đèn Phật đêm soi rõ dạ rồi”(Tân quán ngụ hứng-
Nguyễn Khuê dịch), bình lặng lắng nghe: “Tiếng chuông chùa làng văng vẳng giữa canh
khuya”(Thơ ngụ hứng về quán Trung Tân-bài 12). Và giác ngộ được âm thanh kỳ diệu của
tiếng chuông chùa. Tiếng chuông ngân vang, trầm bổng, hiền hòa có thể đánh tan giấc mộng
phù danh của con người và kêu gọi con người trở về với tịnh thổ không chút bụi trần:
“Chùa chiền, cảnh vật khói sương che;
Tiếng tiếng kình kêu khắp suối khe.
Vang đến u nhàn, tan giấc mộng;
Gọi về tịnh thổ, thức lòng mê…”.
(Thơ vịnh cái chuông-BVATT-Nguyễn Khuê dịch)
Nếu không có cái tâm tĩnh của Thiền, không thấu đáo sâu sắc tư tưởng Phật giáo thì làm sao
Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể giác ngộ được giá trị thực tiễn của chiếc Khánh đá, chuông
đồng ở các chùa thờ Phật. Cái nhạc khí đó vừa có tác dụng giáo dục vừa giúp con người
giác ngộ Phật pháp. Âm thanh của các nhạc khí này nhằm thức tỉnh lòng người mê mộng,
biết tu dưỡng thần tâm, biết bỏ ác làm thiện, biết sống hòa hợp với mọi người: “…Nguyên
có chùa Trang Hoa ở làng Đồng Dịch, huyện Vĩnh Lại, thuộc Hồng Châu, chùa ở đất cổ mà
thanh u, cảnh đẹp mà vắng vẻ, rõ rệt là một vùng trời “Thiền” ở cõi Chấn Đan (Đông Á).
Phiến đá khi chưa gõ lên sao mà lại có thể khiến người ta tự xét mình sâu sắc, hiểu rõ được
về nghiệp chướng của tấm thân, rửa sạch được nhĩ căn mà có thể được sự cảnh tỉnh giác ngộ
ư ?....Ôi! Hòa là cái chủ của âm nhạc, thiện là dòng dõi của giáo hóa, khánh đá một khi treo
lên, tiếng nó vang tỏa ra không cùng”(Bài Ký về chiếc Khánh đá)
Như vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm đi tìm chân lý Phật không chỉ trong kinh Phật, tư tưởng Phật
mà còn nhận ra qua những cảnh hiện hữu trước mắt. “Tư tưởng của ông là những sở đắc từ
trong kinh điển, nhưng chất liệu của thơ ông lại được lấy từ hiện tượng giới”(Nguyễn Bỉnh
Khiêm qua Bạch Vân am thi tập-Nguyễn Khuê)[24, tr.120]. Nhân chuyến vãn cảnh chùa
Phổ Minh, ngắm nhìn ngôi chùa xưa phủ rêu xanh; tấm văn bia mờ dần theo bụi thời gian;
vạc Phổ Minh đã bị quân xâm lược Minh phá hỏng; Nguyễn Bỉnh Khiêm nghiệm ra được
một chân lý từ trong kinh Phật: cái không có hình tượng cụ thể thì thắng cái có hình tượng
cụ thể:
“Sau khi loạn lạc lại tìm đến chùa Phổ Minh,
Vẫn hoa vườn cỏ nội với cửa đá cũ.
Văn bia mờ nhạt hòa trong làn khói biếc,
Mắt Phật lạnh lùng soi thấu đêm thanh.
Pháp giới phải ngang với tầm rộng lớn của trời,
Người làng vẫn nói đến sự anh linh của đất.
Vắng vẻ lặng lẽ, vạc xưa nay còn đâu?
Thế mới biết vô hình vẫn thắng hữu hình.”
(Chơi chùa Phổ Minh)
Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm nghiệm chân lý Phật từ những vật hữu hình ở chùa Phổ Minh, ở
chiếc Khánh đá thì Nguyễn Trãi cũng đã từng gắn bó với giáo lý Phật trong những lúc náo
thân ở vùng đất Côn Sơn, du lãm và làm thơ vịnh các chùa Hoa Yên trên núi Yên Tử, chùa
Đông Sơn, Tiên Du, Nam Hoa …..Đến Yên Tử, Nguyễn Trãi hồi tưởng đến vị Thiền sư
Trúc Lâm: “Dấu cũ Nhân Tông còn ở đấy. Trùng đồng thấy giữa áng quang minh”(Đề Yên
Tử sơn Hoa Yên tự). Đến chùa Đông Sơn, Nguyễn Trãi nghiệm ra cái lẽ huyền diệu của một
kiếp đời từ một tiếng chim kêu:
“Ba mươi năm lẻ trong trần mộng.
Và tiếng chim kêu: tỉnh lại thôi!”
(Đề Đông Sơn tự)
Xét về bản thể luận, Phật giáo đưa ra tư tưởng “nhất thiết duy tâm đạo”(duyên), đưa
ra quan niệm vô thường, tinh thần vô ý “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”(tùy duyên mà hành
động, gặp việc phải làm, ở vị trí nào khu xử theo vị trí đó, không rơi vào cái Có hay Không,
không cần nhiếp niệm) với phương châm “Dĩ tâm truyền tâm” và luật nhân quả. Nói một
cách cụ thể học thuyết Phật giáo là chân lý về nỗi đau khổ và sự giải thoát con người khỏi
nỗi đau khổ. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đốn ngộ, giác ngộ ra chân lý Phật pháp. Ông cho rằng
việc hành xử trong đời người đều phải tùy duyên. Lợi lộc có hay không là do cái duyên đến
hay không đến: “Lợi lộc mặc duyên, chăng ý chớ. Đôi co dầu thế, chớ cho hay”. Đó là đầu
mối và điều kiện cho nguyên nhân biến thành kết quả. “Thời” đến ông hăng hái bước vào
chốn quan trường, thăng tiến nhanh trên con đường lập sự nghiệp công danh. “Thời” hết
ông lui về ở ẩn chốn nước non bằng lòng với những gì đã mơ ước. Có thể nói tinh thần vô ý
đã len vào trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm để tạo cho ông có cái thế bình tĩnh mà
khu xử theo từng vị trí trong cuộc đời:
“Hễ kẻ làm quan đã có duyên,
Tới lui mặc phận tự nhiên.
Thân xưa hương lửa chăng còn ước,
Chí cũ công danh đã phỉ nguyền.”
(Thơ Nôm, bài 51)
“Công danh đã phỉ nguyền” bởi vì Cư sĩ thấu hiểu qui luật vận hành của tự nhiên. Ông nhận
định tự nhiên bằng tinh thần phá chấp triệt để. Mọi vật do nhân duyên tạo thành, sau đó tồn
tại trong một khoảng thời gian vô cùng, rồi dần dần lụi tàn và cuối cùng mất đi. Như vậy,
nói theo ngôn ngữ nhà Phật thì mọi vật “có sinh tất có diệt, hữu hình tất hữu hoại”(Nguyễn
Khuê). Hoa xuân nở tất hoa xuân sẽ tàn. Trăng thu tròn vằng vặc rồi trăng cũng lại khuyết.
Tất cả vốn vô thường. Không có rồi lại có : “Xuân hoa thu nguyệt không mà sắc”. Quan
niệm “sắc không, không sắc” của Phật giáo được đưa vào trong thơ của nhà thơ một cách
nhẹ nhàng mà thấu đáo:
“Trời đất vốn là đầy, lại là vơi,
Bỗng vào mà lại bỗng ra.
Lại chẳng thấy:
Quỉ thần vốn ghét sự thịnh mãn,
Được một cách phũ phàng thì cũng mất một cách phũ phàng.
Từ đầu, thì sắc đã là không,
Vốn là không có một vật gì cả.”
(Ý xưa cảm khái về thời thế)
Tác giả chẳng những tiếp thu tư tưởng Phật giáo mà còn nhận thức tư tưởng đó từ sự suy
nghiệm trong thực tại. Nếu Khổng Tử than thở cho cảnh: “Nước chảy mãi như thế kia, ngày
đêm chẳng ngừng” thì Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng ngán ngẩm cảnh:
“Khói thôn, nước suối tươi rồi nhạt;
Mây núi, trăng sông sắc ấy không.
Thế sự nhân tình là vậy đó,
Đường đời đừng lạ có cùng thông.”
(Ngụ hứng, H29, Nguyễn Khuê dịch)
Có thể nói cuộc đời làm quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm không đầy chông gai như Nguyễn
Trãi. Nhưng ông cũng nhận ra qui luật biến đổi của tự nhiên, sự tráo trở trong lòng người,
cái có và cái không trong thế giới vô thường. Còn Nguyễn Trãi, có lúc ông muốn thoát ly
cõi đời, lúc “Lại tìm lên núi để nói chuyện tiền duyên”, lúc muốn “tu đạo thiền thượng
thừa”(Tống tăng Đạo Khiêm qui sơn) và có lúc bừng tỉnh, đốn ngộ ra quãng đời hành xử
trong quá khứ chỉ là “sắc” và “không”. Bông hoa trong ánh nước, mai nở rồi hôm rụng là
hình ảnh thực và không thực, hữu hình và vô hình, có cũng như không:
“Ánh nước hoa in một đóa hồng,
Vết nhơ chẳng bén, bụt làm lòng.
Chiều mai nở chiều hôm rụng,
Sự lạ cho hay tuyệt sắc không.”
(Cây mộc cận-Nguyễn Trãi)
Phải hiểu rõ cái lẽ sắc không trong kinh Viên Giác: “Nhất thiết tu đa la giáo như tiêu nguyệt
chỉ”(tất thảy những giáo lí giảng bày trong kinh điển đều là ngón tay chỉ mặt trăng), phải
ngẫm sâu câu nói của nhà hiền triết Hi Lạp: “Người ta không bao giờ tắm hai lần trong một
dòng sông”, Nguyễn Trãi mới có những vần thơ uyên áo, sống động đến như vậy.
Nếu Nguyễn Khuê cho rằng: “Chỉ đức Phật là bậc đã giác ngộ mới vượt lên trên bình diện
tương đối của hình tướng, thoát khỏi ngã chấp và pháp chấp mà đạt tới cảnh giới tuyệt đối,
không nhìn chân lý từ một trong hai quan niệm cực đoan của một lưỡng tính “có” và “không
có”….” [24, tr.120] thì Ni sư Diệu Nhân cho rằng cầu Phật, cầu Thiền là một việc làm sai
lầm: “Mê chi cầu Phật. Hoặc chi cầu Thiền”. Trong Bài Tân quán ngụ hứng, H 18, Nguyễn
Bỉnh Khiêm cũng có lúc quan niệm:
“Chưa Phật nào hay vô hữu tướng,
Đạt thiền mới biết bổn lai cơ.
Ở đời mọi việc không mà sắc.
Phải trái còn bàn, rõ chán chưa!”
Chính vì vậy mà Bạch Vân cư sĩ khuyên nhủ người đời rằng cho dù họ không phải là Phật
nhưng nên giữ chữ nhẫn. Giữ được chữ nhẫn thì lòng trong sáng, tâm thanh thản. Tâm thanh
thản sẽ không vướng bụi trần, sẽ coi tiền tài, danh vọng như gió thoảng qua. Chỉ có những
người từng trải nghiệm cuộc đời mới có thể sống thanh nhàn lúc về già. Chỉ có ai yêu cảnh
nhàn mới nhận ra giá trị của cuộc sống nhàn:
“Chửa dễ ai là bậc Thích ca,
Mọi niềm nhân ngã, nhẫn thì qua.
Lòng vô sự; trăng in nước,
Của thảng lai, gió thổi qua.
Kìa khách xuân xanh khi trẻ,
Mấy người đầu bạc tuổi già.
Thanh nhàn ấy ắt là tiên khách,
Được thú, ta đà có thú ta.”
(Thơ Nôm, bài 31)
“Thú ta”, chính là cái thú thanh nhàn. Cái thú không bị trói buộc bởi lợi danh, không có cái
nhìn vướng mắc nhị nguyên, mà là cái tâm không sai biệt. Chính nhờ cái thú đó mà Nguyễn
Bỉnh Khiêm mới trở thành con người tự do, tự tại với tinh thần phóng nhiệm tiêu dao. Trong
thơ, người đọc bắt gặp những giây phút Bạch Vân cư sĩ để tâm hồn thanh tĩnh hòa hợp với
tạo vật, chẳng khác nào phong thái tiêu dao của vị đạo sĩ tu tiên. Tâm hồn cư sĩ lâng lâng
siêu thoát với gió với trăng. Cùng uống rượu ngâm thơ nghe đàn với thiên nhiên hữu tình.
Cư sĩ sống tự tại cùng trời đất trong từng khoảnh khắc của thực tại. Với tinh thần vô ngã, có
lúc Cư sĩ đặt mình trong trạng thái như Huyền Quang cư sĩ “ vong thân, vong thế, dĩ đô
vong”(quên mình, quên hết cuộc tang thương)(Cúc hoa):
“Cửa xuân rợp, gió đưa cầm,
Mùi tới hay thuở bụng im.
Mặt trời vàng, còn in bóng thỏ
Dầu non bạc, đã chật cây chim
Hữu tình là cảnh đà cùng hẹn,
Vô sự thì tiên lọ phải tìm?
Bạn cũ Kỳ anh xuân họp mặt,
Lòng mừng phơi phới nhẹ tăm tăm.”
(Thơ Nôm, bài 42)
Vì có tinh thần vô ngã nên Nguyễn Bỉnh Khiêm mới thực hiện được tinh thần vị tha, mới có
những ứng xử hợp nghĩa và cao thượng với mọi người. Vì tâm hồn nhà thơ lúc nào cũng hòa
điệu với thiên nhiên, không bị ràng buộc bởi thế giới hữu hạn của đời người nên ông luôn có
cái nhìn độ lượng đối với vạn vật:
“Giang quán tiêu dao bóng xế tà,
Thừa nhàn uống rượu lắng ngư ca.
Một cơn gió thoảng trời man mác,
Hai rặng cây xanh lá rượm rà.
Lúc hứng, hứng xui lòng mến cúc,
Chén say, say khướt mắt nhòe hoa….”.
(Ngụ hứng-bài 2)
Vì Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng cuộc đời con người rất ngắn ngủi, quãng đời của họ sẽ đi
qua rất nhanh, tuổi già tới lúc nào không biết cho nên con người cần giữ cái tâm bình thản,
sống tự tại. Không chỉ Nhàn trong cuộc sống thực tại mà còn Nhàn trong tâm. Tâm nhàn là
tâm siêu thoát, không vương vấn thế tục lợi danh. Đó là cái nhàn mà đạo Phật đề cao, cái
nhàn mà sống giữa đời vẫn vui với đạo, cái nhàn của con người đã đoạn tuyệt với tham, sân,
si. Xa lánh bụi hồng trần, vui với thiên nhiên, vui với cuộc đời giản dị, quên cả ngày tháng.
Chỉ khi nào ngắm trăng thấy trăng lại tròn mới biết một tháng đã đi qua. Chỉ khi nào nhìn
hoa nở, tiết trời mát mẻ mới biết một mùa xuân lại tới:
“Xóm tự nhiên, lều một căn,
Quét không thay thảy, bụi hồng trần.
Nghìn hàng cam quít, con đòi cũ,
Mấy đứa ngư tiều, bầu bạn thân.
Thấy nguyệt tròn, thì kể tháng,
Nhìn hoa nở, mới hay xuân.
Cày ăn, đào uống yên đòi phận,
Sự thế chăng hay đã Hán, Tần.”
(Thơ Nôm, bài 50)
Ngày đi tháng lại, theo triết lý nhà Phật thì cuộc đời con người tựa phù du, ganh đua chen
chúc nhau chi cho nhọc lòng. Đâu biết rằng tấm thân ở đời chỉ như kẻ ăn đậu ở nhờ. Thời
gian trôi đi nhanh tựa thoi đưa, cảnh sang giàu sẽ lạt sẽ phai: cũng như hoa kia càng khoe nở
lại mau tàn, như nước nọ chứa cho đầy ắt phải vơi phải cạn. Việc đời cũng thế. Thịnh, suy
như nước lúc đầy, lúc vơi đã có định số, ai có thể thay đổi được cái Lý của Tự nhiên?
“ Làm người chen chúc nhọc đua hơi,
Chẳng khác nhân sinh ở gửi chơi.
Thoi nhật nguyệt đưa thấm thoát,
Áng phồn hoa khá lạt phai.
Hoa càng khoe nở, hoa nên rữa,
Nước chứa cho đầy, nước ắt vơi.
Mới biết doanh hư đà có số,
Ai từng dời được đạo trời.”
(Thơ Nôm, bài 48)
Vì không thể “dời được đạo trời” cho nên theo Nguyễn Bỉnh Khiêm, con người sống ở đời
không nên phân biệt đối xử giữa giàu và nghèo, sang và hèn mà nên sống hài hòa, theo nếp
sống Trung Đạo và Bình Đẳng của đạo Phật. Theo Đinh Gia Khánh, Nguyễn Bỉnh Khiêm
“chịu ảnh hưởng tư tưởng “tự thân tác nghiệp” của nhà Phật” nên ông cho rằng rõ ràng mọi
hành vi thiện ác, hạnh phúc hay khổ đau, họa hay phúc đều do chính mình tạo ra theo thuyết
nhân quả. Câu chuyện “Hàn Tín nên công” và “Tái Ông thất mã” còn đó cho mọi người suy
nghiệm:
“Chưng trong họa phúc ít người hay,
Suy, thịnh hằng lề rắp đổi thay.
Hàn Tín nên công thì cả phúc,
Tái Ông thất mã, há chau mày?
Kiến thác, bởi ang bùi ngọt,
Ruồi qua, vì bát đắng cay.
Vốn trời phân đà có tính,
Chân thì hay bước, cánh hay bay.”
(Thơ Nôm, bài 57)
Kiến chết vì ham mật ngọt. Ruồi bay qua vì bát có mùi. Trái khế càng chua càng mau úng.
“Lan nọ thơm dai mới có hương”(Thơ Nôm, bài 76). Cũng như cái vũng nọ có bờ đê ngăn
nước, khi nước vào rồi thì khó mà thoát ra. Và vì ngăn nước cho nên nước mới đầy: “Vũng
bởi hay ngăn, vũng mới đầy”. Đó là luật nhân quả. Khi con người đã giác ngộ được luật
nhân quả thì nên làm điều thiện. Nguyễn Bỉnh Khiêm lui về sống ngoài vòng danh lợi vì
ông biết: “Mọi sự chăng còn mắc mớ. Nỗi hay vụng liệu phải lo” (Thơ Nôm, bài 27). Ông
cắt đứt mọi sự ràng buộc của phú quý và trở thành Bạch Vân cư sĩ, sống ở Bạch Vân am và
tâm niệm rằng Phật trong lòng ta can chi tìm ở bên ngoài:
“Khinh để làm chi, khó bấy là!
Dữ lành toàn bởi một mình ta.
Giác thân dầu đã hay tu phúc,
Thế phát cho nên phải xuất gia.”
(Thơ Nôm, bài 55)
Theo Cư sĩ, đời người chịu ảnh hưởng của luật nhân quả. Nhân ác thì quả khổ. Nhân lành
thì quả an. ở hiền gặp lành. Vì vậy, con người hãy ăn ở cho hiền lành, nhân đức. Nghèo hèn
chớ than thân trách phận vì đó là định mệnh. Giàu sang nên giúp đỡ và yêu thương mọi
người vì điều đó làm mọi người gần nhau hơn. Nếu không bồi dưỡng đạo đức, chỉ chăm
chăm làm điều ác thì đã có gươm sắc công lý trừng trị. Nếu chăm làm điều phước thì cuộc
đời sẽ được tốt tươi như hoa cỏ mùa xuân:
“Trời sinh, trời ắt đã dành phần,
Tua hãy cho hiền, dạ có nhân.
Khó chớ oán thân, thân mới nhẹ,
Giàu mà yêu chúng, chúng càng gần.
Bạo hung chỉn đã gươm mài đá,
Phúc đức đành hay cỏ đượm xuân.
Chớ có hại người mà ích kỷ,
Giấu người, khôn giấu được linh thần.”
(Thơ Nôm, bài 80)
Rõ ràng theo giáo lý Phật giáo thì gieo quả nào gặt quả ấy. Hại người tất bị người hại.
Nhưng tấm lòng Phật tổ lúc nào cũng từ bi hỉ xả, sẵn sàng xá tội cho những ai có tội ở trên
đời qua lễ Vu Lan. Đó không chỉ là biểu hiện chữ Tâm trong kinh Phật mà còn là chữ Tâm
trong Nguyễn Bỉnh Khiêm:
“Trời đất nào có dung tha kẻ ác,
Thế thì tại sao lại có ngày lành tha tội.
Ta nay muốn nhờ vào sức của lòng từ bi,
Cứu bằng được những người vô tội lầm than.”
(Gặp Tiết Trung Nguyên Xá Tội)
Bao nhiêu người rơi vào cảnh khổ ải chỉ vì chạy theo giấc mộng công danh. Họ đâu hiểu
rằng đời là bể khổ, là “mây nổi, chiêm bao”, là một bàn cờ luôn biến đổi vô thường, luôn
“vật hoán tinh di”, lúc thăng lúc trầm, lúc vinh lúc nhục, lúc sướng lúc khổ cho nên phải
sống sao cho nhẹ nhõm tâm hồn. Vì đã là con người thì không ai có thể tránh khỏi số kiếp,
tránh khỏi cảnh “nước chảy, hoa bay”, phải trải qua quá trình “Sinh, lão, bệnh, tử”. Cho nên,
cần chấp nhận đau khổ, xem cái chết là chuyện bình thường để sống sao cho trọn đạo làm
người. Bài thơ Nôm số 99 đã diễn tả nhiều ẩn ý sâu xa về cuộc đời, về công danh phù
phiếm. Suy ngẫm về điều này, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “Lánh trần, đến náu thú sơn
lâm”.(Thơ Nôm, bài 126) để lắng nghe “Lá thông đàn; tiếng trúc cầm”(Thơ Nôm, bài 126);
hòa mình với đêm thanh, nguyệt bạc; chiêm ngưỡng cùng nước biếc, non xanh. Bài thơ
Cảnh nhàn (Thơ Nôm, bài 73) chính là bức tranh về cảnh nhàn đơn sơ, bình dị. Tâm hồn Cư
sĩ tiêu sái với thiên nhiên, hòa nhịp theo mạch sống của tạo vật, mùa nào thức ấy. Con người
ở đây quên hết sự đời, xem công danh phú quý như là một giấc chiêm bao, có đó rồi mất đó.
Mấy ai có cái hứng thú tuyệt vời như Nguyễn Bỉnh Khiêm:
“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao,
Rượu đến cội cây, ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. ”
Nhìn chung, tư tưởng Phật tuy không phải là tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Bỉnh
Khiêm nhưng những triết lý Phật pháp cũng ảnh hưởng đến quan niệm xuất xử và nhẹ
nhàng đi vào trong thơ của ông. Nhà thơ vận dụng linh hoạt triết lý Phật giáo và biến nó
thành quan niệm nhân sinh của riêng ông đồng thời là lời khuyên chân thành cho hậu thế về
cách sống đẹp. Rõ ràng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đạt tới cái nhàn trong tâm. “Đó là truyền
thống nhàn đích thực và quý báu của cha ông ta, dân tộc ta.”(Tinh thần Phật học của
Nguyễn Bỉnh Khiêm- Minh Chi)[60, tr.166]
1.3.3. Tư tưởng Đạo
Có thể nói hầu hết các nhà nho Việt Nam đều chịu ảnh hưởng tư tưởng của Lão-
Trang. Sinh bất phùng thời như Nguyễn Công Trứ; không tìm được minh quân, tuổi già sức
yếu, chán ngán thế sự hay gặp chuyện bất bình trong chốn quan trường như Nguyễn Trãi,
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến….thường lui về làm bạn cùng nước biếc, non xanh,
nguyệt bạc, rượu nồng, túi thơ, bàn cờ. Cho nên, tư tưởng Lão Trang tự nhiên đi vào trong
thơ của các nhà nho là một lẽ đương nhiên. Nguyễn Bỉnh Khiêm chẳng những chịu ảnh
hưởng sâu sắc tư tưởng Nho giáo mà tinh thần Lão-Trang cũng có mặt xuyên suốt trong thơ
của ông.
Từ quan trở về cố hương, Nguyễn Bỉnh Khiêm dựng một am nhỏ và đặt tên là Bạch
Vân am, tự đặt biệt hiệu là Bạch Vân cư sĩ. Ngay cách đặt tên am và hiệu cho mình là “Bạch
Vân” cũng đủ diễn tả chủ ý vô vi thanh tĩnh, nhàn lạc của một bậc ẩn sĩ. Ẩn sĩ sống an nhàn,
sống cao khiết như “bậc tiên trên đời”, làm bạn với trăng thanh gió mát, với mây trắng suối
trong; tâm tình với rượu nồng, với mấy vần thơ; thưởng thức ba luống cúc thơm nở muộn
như Đào Tiềm; sống giản dị trong gian nhà tranh như Ngọc Xuyên Tử:
“Gần cái am Bạch Vân bắt nguồn cái khe nhỏ,
Mua đứt được cảnh ấy mà không tốn kém một đồng tiền nào.
Cao khiết ai là kẻ sĩ của thiên hạ,
An nhàn ta là bậc tiên trên đời.
Có ba luống cúc thơm muộn như Đào Bành Trạch,
Có vài gian nhà tranh nát như Lư Ngọc Xuyên.
Cũng riêng chiếm một cảnh thú vui chân thật này,
Bên cảnh trăng trong gió mát, say rượu và ngâm thơ.”
(Ngụ hứng-bài 10)
Ẩn sĩ lấy hiệu là “Bạch Vân”. “Bạch Vân” là mây trắng. Mây trắng bắt nguồn từ cái khe
nhỏ rồi bay lơ lửng vào trong khoảng hư không. Tâm hồn “thanh vân thanh tự bạch vân
cao”(Lý cư giản chư đồng chí) trôi bềnh bồng trên bầu trời, xa lánh bụi hồng trần, không
bận tâm gì đến thế sự đảo điên. Nếu cổ thi Trung Hoa có bài thơ “Bạch Vân”:
“ Bạch Vân sơn thượng, Bạch Vân toàn
Toàn tự vô tâm, vân tự nhàn
Hà tất bôn lưu hạ sơn khứ
Hựu thiêm ba lãng đáo nhân gian.”
Thì Bạch Vân cư sĩ cũng say sưa với cảnh trí tuyệt vời của thiên nhiên. Ngày ngày sống
cạnh làng mây trắng, chiều chiều soi mình dưới mặt nước trong xanh, tối đến ngắm nhìn
cảnh ánh trăng sáng bao trùm bóng hoa, lóng lánh trong chén rượu nồng. Nhà thơ lắng nghe,
cảm nhận âm thanh nhẹ nhàng của tiếng gió đưa hơi tre thoang thoảng tới bên gối nằm. Mấy
ai có được những phút giây đẹp đến như thế?
“Am Bạch Vân bên cạnh làng mây trắng,
Tiếp cận với ngôi lầu trên sông, đối diện với bóng chiều.
Cười nói trên chỗ ngồi, xuân càng thêm đẹp,
Ngâm vịnh ở trong cửa, bút nảy sinh thơm.
Trăng sáng dọi bóng hoa vào vài chén rượu,
Gió trong đưa hơi tre mát tới nửa gối nằm.
Cảnh sơn thủy cũng theo vào niềm vui nhân trí,
Ý vị đến mức ấy có ai hay rõ được?”
(Thuật ý mình-bài ba)
Sống trong cuộc đời đầy rẫy đua chen, con người luôn giữ cái tâm cho thanh tĩnh, gạt bỏ
mọi chuyện trần tục, sống an nhiên tự tại. Đó là lúc đạt đến thuyết vô vi của Đạo giáo. Có
thể nói, trên con đường tìm kiếm hướng đi cho riêng mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thực
hiện được tôn chỉ của Đạo. Nếu “ảnh hưởng Đạo gia trong văn chương Nguyễn Trãi là ảnh
hưởng khá toàn diện – cả cảm hứng sáng tác và nghệ thuật biểu hiện, là ảnh hưởng khá sâu
– không chỉ ở bề mặt câu, chữ mà có khi còn xuyên thấm cả vào nhân sinh quan, thế giới
quan”(Ảnh hưởng Đạo gia trong thơ Nguyễn Trãi- Lã Nhâm Thìn”)[50, tr.69] thì tư tưởng
của Nguyễn Bỉnh Khiêm rõ ràng một phần nào đó có ảnh hưởng học thuyết Lão Tử. Lão Tử
đã luận nhiều triết lý rất thâm sâu. Theo học thuyết của Lão Tử, trước khi có trời đất đã có
Đạo. Đạo là “bản nguyên của vũ trụ”, là cái gốc nguyên thủy của tạo hoá. Vạn vật sinh sôi,
chuyển hóa, phát sinh từ Đạo rồi trở về với Đạo như một cái vòng tròn khép kín. Vậy sửa
mình và trị nước phải theo Đạo, nghĩa là con người nên điềm tĩnh, vô vi, cứ tự nhiên chớ
không dùng trí lực mà làm gì cả. Do đó, Nguyễn Trãi cho rằng cuộc đời là huyền ảo, danh
lợi là huyền ảo:
“Rốt cuộc muôn điều hư ảo cả,
Sở còn, Phàm mất hãy thôi bàn.”
(Đêm thu khách cảm-Nguyễn Trãi)
Nguyễn Trãi nhìn đời bằng con mắt và suy nghĩ bằng tư tưởng của Đạo gia. Ông đã từng
trải thân báo quốc, đã từng trở thành vị đệ nhất công thần đời nhà Lê nhưng trong bài thơ
Đêm đậu thuyền ở Lâm cảng, ông vẫn quan niệm:
“Danh hão ngoài da thân huyễn hoặc,
Kiếp trần trong mộng, chuyện luyên thuyên.”
Cũng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống một quãng đời nhàn dật, từ bỏ mọi
vinh sang phú quí xem nó như một giấc chiêm bao, để tìm lấy sự thanh tĩnh vô vi của Lão
Trang. Ông nghĩ rằng: “Miễn là tiêu sái qua ngày tháng. Lộc có bao nhiêu ăn bấy nhiêu”.
“Lộc” ở đây mang đầy ý nghĩa. Có thể là lợi danh, cũng có thể là cái có sẵn trong tự nhiên.
Nghĩ thế, nên ông tìm vui trong cỏ cây, làm bạn cùng muông thú, lấy mây trắng- trăng
thanh- bóng hoa làm nguồn cảm hứng, sống tự tại trong cái thú yên hà:
“Cày mây, cuốc nguyệt, gánh yên hà,
Nào của nào chăng phải của ta?
Đêm, đợi trăng cài bóng trúc,
Ngày, chờ gió thổi tin hoa…”
(Thơ Nôm, bài 17)
Một điều thú vị là tuy tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm có thấm sâu tư tưởng vô vi nhưng
thuật ngữ “vô vi” của Đạo gia không thấy xuất hiện trong thơ của ông. Không xuất hiện
nhưng cảm hứng chủ yếu toát lên từ trong thơ của ông vẫn là tư tưởng vô vi giống như
Nguyễn Trãi: “Diều bay, cá nhảy đạo tự nhiên”(Tự thán, bài 33-Nguyễn Trãi). Vô vi là sống
thuận theo tự nhiên, không làm trái tự nhiên. Nguyễn Bỉnh Khiêm “chán nhìn cái đời ô trọc
chen vinh hoa hão huyền”(Ngụ hứng-bài 5). Ông nghĩ rằng:“Tới lui mặc phận tự
nhiên”(Thơ Nôm, bài 51) cho nên, ông tìm về chốn xưa “vui với tính tự nhiên của ta”(Ngụ
hứng-bài 4), hoạt động theo sự vận động tự nhiên của trời đất. Sáng sáng, “đến vườn rau,
sương dính vào dép”. Đêm đêm, “chơi ở ghềnh xóm chài, trăng rọi đầy thuyền”. Ngày ngày,
trù liệu, quyền biến khi đánh cờ, khi câu cá. Mấy ai có cuộc sống thanh nhàn, thanh cao,
giản dị như Nguyễn Bỉnh Khiêm:
“Gửi lời cho khách ở gác tía lầu hồng,
Chớ đem đàn hát khuấy động giấc ngủ say của ta.”
(Ngụ hứng-bài 4)
“Chớ đem đàn hát khuấy động giấc ngủ say của ta”(Ngụ hứng-bài 4) bởi vì điều này sẽ trái
với tự nhiên, mà theo Trang Tử thì điều gì làm trái với tự nhiên sẽ chuốc lấy khổ đau: “Cái
cẳng của con le le tuy ngắn, nối thêm vào thì đau. Cái cẳng của con hạc tuy dài, chặt bớt đi
thì khổ”(Biền mẫu). Vì thế, mọi sự vật-hiện tượng-con người nên trở về với bản tính tự
nhiên vốn có của nó: đơn giản, chất phác. Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đồng quan niệm với
Trang Tử. Vì thế, đọc thơ ông, người đọc luôn có cảm giác bâng khuâng khó tả. Nhà thơ
đưa ta lạc vào cõi hồng trần sống trong không gian vắng vẻ, tịch mịch; sống cuộc đời giản
phác, tự nhiên:
“Xóm tự nhiên, một cái lều,
Qua ngày tháng, lọ là nhiều?
Gió cuốn rèm, thay chổi quét,
Trăng cài cửa, kẻo đèn treo.
Cơm ăn chẳng quản dưa muối,
Áo mặc nài chi gấm thêu?
Tựa gốc cây ngồi hóng mát,
Đìu hiu, ta hãy một đìu hiu.”
(Thơ Nôm, bài 67)
Bài thơ gợi ra tư tưởng quả dục, thiểu tư, thanh tịnh trong cốt cách của một bậc ẩn sĩ. Gợi ra
một tâm hồn tiêu sái không vướng bận bụi trần. Do vậy, khi luận về quan niệm công danh,
Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đồng quan niệm với Lão Tử. Lão Tử từng nói: “Giữ chậu đầy
hoài, chẳng bằng thôi đi; mài cho bén nhọn thì không bén lâu. Vàng ngọc đầy nhà, làm sao
giữ nổi; giàu sang mà kiêu là tự rước lấy họa. Công thành rồi thì nên lui về, đó là đạo trời”
(Đạo Đức kinh chương 9). Như chúng ta đã biết, Nguyễn Bỉnh Khiêm thi đỗ Trạng Nguyên,
được sung rất nhiều chức rất cao trong triều nhà Mạc. Ông đã đem tài năng thao lược ra
giúp nước cứu đời, thỏa chí trượng phu. Như vậy: “Công danh đã vẹn, sá về nhàn” là hợp
với lẽ Đạo :
“Thửa nơi doanh mãn là nơi tổn,
Hãy gẫm cho hay mới kẻo âu.”
(Thơ Nôm, bài 9)
Suy ngẫm về cái lẽ thịnh suy, vơi đầy của cuộc đời để không còn có những băn khoăn, lo
nghĩ. Nghiệm lại cuộc đời của chính mình và của người xưa, Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng
trên con đường lập thân, nếu đã đạt được ý nguyện, công danh sự nghiệp đã được viên mãn,
nam tử không còn vương nợ với đời thì phải sớm lui về ẩn dật. Nếu vẫn còn luyến tiếc phú
quí thì chắc chắn sẽ bị kẻ khác tìm cách hãm hại. Vì ở đời : “Mấy người trọn được chữ thân
danh.”(Thơ Nôm, bài 13). Đấng trượng phu muốn giữ trọn được thanh danh thì phải nắm
chắc qui luật tuần hoàn của tự nhiên. Bởi “Nhân sinh ký nhất thế; Yêm hốt nhược tiêu
trần”(Cổ thi)(người sống gửi một đời, chớp nhoáng như gió cuồng cuốn bụi). Con người,
sống gửi thân xác cho đời, thác trở về với cát bụi. Huống chi “Thoi nhật nguyệt, đưa thấm
thoắt,”. Huống chi hoa nở rồi hoa sẽ tàn, nước có lúc đầy cũng có lúc vơi. Huống chi:
“Mới biết doanh hư đà có số,
Ai từng dời được đạo trời.”
(Thơ Nôm, bài 48)
“Đạo trời” chính là những qui luật của tự nhiên. Những bậc túc nho khôn ngoan ở
đời luôn luôn nhận biết có thăng thì phải có giáng, có lúc thịnh thì phải có lúc suy,
có tiểu đương nhiên phải có đại, có “khuất bao nhiêu thì lại duổi”. Vì “Đạo trời lồng lộng
chẳng hề sai” (Thơ Nôm, bài 2). Vì vậy, Lão Tử cũng nói: “Trở về mệnh là luật bất biến
(thường) của vật. Biết luật bất biến thì sáng suốt, không biết luật bất biến thì vọng động mà
gây họa. Biết luật bất biến thì bao dung, bao dung thì công bình (vô tư), công bình thì bao
khắp, bao khắp thì phù hợp với tự nhiên, phù hợp với tự nhiên thì phù hợp với đạo, hợp với
đạo thì vĩnh cửu, suốt đời không nguy”(Đạo Đức kinh, chương 16). Nắm được lẽ Đạo gọi là
minh triết, cho nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ quan khi không can gián được vua Mạc, khi tận
mắt chứng kiến bọn gian thần cậy thế lộng quyền. Nhà thơ biết mình không đủ lực đủ quyền
diệt trừ bọn tham quan và cảm thấy “Đường thế nhiều nơi hiểm hóc thay!”(Thơ Nôm, bài
70), nên đành “Nép mình qua trước chốn xôn xao”(Thơ Nôm, bài 83), xa lánh chốn đua
tranh lợi lộc. Bạch Vân cư sĩ cũng muốn như Lão Tử cỡi trâu xanh bay mãi về phương Tây,
dõi tìm cõi Thần Châu, “Việc đời phó mặc thuyền trôi bình bồng”. Ông muốn theo chim âu
xòe cánh thỏa sức bay trên muôn trùng sóng nước, trong khoảng không mênh mông vô cùng
vô tận:
“Biển khơi hồng nhật đông thăng
Ngàn Tây mây trắng trông vời Thần Châu
Suối khe vui thú nhiệm mầu
Thề xưa nỡ phụ chim âu muôn trùng?”
(Ngụ ý)
Bên cạnh đó, vì không hòa hợp được với thói đời, Bạch Vân cư sĩ tự nhận mình là “vụng
dại”. Thơ Cư Sĩ thường đề cập đến “vụng và xảo” nhưng không đơn thuần mang ý nghĩa là
vụng về và khéo léo mà là sự ngay thẳng, chân thật (vụng, dại) và sự giả dối, nham hiểm
(xảo, khôn)
“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.”
(Thơ Nôm, bài 73)
Có thể nói, ta dại, ta vụng là tư tưởng chủ yếu của Đạo gia. Lão Tử nói: “Khử trí dữ xảo, trí
xảo bất khử, tất thiên hạ loạn”(Bỏ cái khôn khéo đi, không chịu bỏ cái khôn khéo, tất nhiên
thiên hạ sẽ loạn”. Lão Tử lại nói: “Tuyệt xảo khí lợi, đạo tặc vô hữu”
(Dứt bỏ cái khéo, vất cái lợi, xã hội sẽ không có trộm cướp). (Đạo Đức kinh, chương
19). Theo quan niệm của người đời là có lợi, có danh cao tước trọng mà từ bỏ tất là dại.
Riêng Bạch Vân cư sĩ lại quan niệm “dại, khôn” theo một ý nghĩa khác, vừa thâm thúy vừa
chua chát bằng bài thơ độc đáo chỉ có một vần (độc vận):
“ Làm người có dại mới nên khôn.
Chớ dại ngây si chớ quá khôn.
Khôn được ích mình, đừng rẻ dại,
Dại thì giữ phận, chớ tranh khôn.
Khôn mà hiểm độc là khôn dại,
Dại vốn hiền lành ấy dại khôn.
Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại,
Gặp thời, dại cũng hóa nên khôn.”
(Thơ Nôm, bài 94)
Trong bài “Trung Tân ngụ hứng”, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng cho rằng người quân tử sống ở
đời phải biết răn mình, bỏ xảo nhận vụng, phải biết suy xét thiệt hơn, lấy “Chí thiện làm
mẫu mực” vì “Đường đời rất gập ghềnh,” và “Lòng người rất hiểm nghèo”. Từng câu thơ
bộc lộ một sự phê phán nhẹ nhàng mà sâu sắc hàm chứa một triết lý, một cách ứng xử trong
cuộc sống. Hai cặp từ đối lập “ta và người”, “xảo với vụng” được sử dụng rất nhuần nhuyễn
và đầy sức thuyết phục :
“ …Người xảo ta thì vụng,
Ấy vụng thế mà hay.
Ta vụng người thì xảo.
Ấy xảo thế mà gay.
Tính suy lẽ trời đất,
Nghiền ngẫm việc xưa nay”
Ngoài ra, tư tưởng “thủ phác, quả dục, bất tranh ” cũng là một trong những tôn chỉ của Đạo
giáo. Lão Tử quan sát cuộc đời, nghiệm ra rằng càng ngày con người vì tư lợi mà càng mưu
mô, xảo quyệt. Ông khuyên: “..ngoài thì biểu hiện sự mộc mạc, trong thì giữ sự chất phác,
giảm tư tâm, bớt dục vọng.” (Đạo Đức kinh, chương 19). Khi chọn “Trúc mai làm bạn,
hứng thơ nồng”(Thơ Nôm, bài 30), Nguyễn Bỉnh Khiêm một lòng dứt khoát “Đạp gót mong
theo người ẩn dật”(Thơ Nôm, bài 85), sống cuộc đời đạm bạc. Thiên nhiên “Xuân, hạ, thu,
đông” đem đến cho ẩn sĩ những món ăn dân dã, không bận lòng đến những cảnh phồn hoa
đô hội:
“ Giàu, khó đành hay chỉn phận mình,
Mấy đường gai góc biếng đua tranh.
Cơm ăn chẳng quản mùi xa bạc,
Áo mặc nề chi tấm rách lành ….”
(Thơ Nôm, bài 85)
Thấy điều trong trắng, giữ tính chất phác, ít lo, ít dục vọng, không tranh giành với người kể
cả cỏ cây muông thú, như vậy là hợp với Đạo. Trong thơ ông, ta thường bắt gặp thái độ
chán ghét cảnh chém giết, tàn sát lẫn nhau vì tư lợi của người đời. Ông luôn bày tỏ một tâm
trạng “Buồn về, biếng thấy áng đao binh”(Thơ Nôm, bài13), hay dứt khoát “Thế sự ngoài
tai, biếng nói năng”(Thơ Nôm, bài 16), và “Giữ miệng cho hay, biếng nói năng”(Thơ Nôm,
bài 66). Không can dự vào chuyện đời là vì “Quyền môn chốn ấy biếng chen chân”(Thơ
Nôm, bài 87). Cho nên, ông ngẫm nghĩ:
“Hễ kẻ trêu ngươi, kẻ phải lo,
Chẳng bằng vô sự ngáy pho pho.
Tay kia khéo nắm còn khi mở,
Miệng nọ hay cười có lúc ho.
Có thuở được thời, mèo đuổi chuột,
Đến khi thất thế, kiến tha bò.
Được thua sao mới ăn năn lại,
Vô sự chăng hơn có sự ru?”
(Thơ Nôm, bài 75)
Chính vì có tư tưởng “vô vi, vô sự” nên các đạo gia nhìn đời và thiên nhiên tạo vật bằng
một nhãn quan khác. Họ giác ngộ sự biến dịch vô thường của tạo hóa một cách nhẹ nhàng,
tự nhiên. Với tư tưởng đó, Lão Tử có nói: “ít nói thì hợp với tự nhiên (với đạo). Cho nên,
gió lốc không hết buổi sáng, mưa rào không suốt ngày. Ai làm nên những cái ấy? Trời đất.
Trời đất còn không thể lâu được, huống hồ là người?” (Đạo Đức kinh, chương 23). Công
việc của trời đất còn phải có lúc dừng, huống chi là công việc của con người. Nghiệm ra
được điều diệu kì của tạo hóa, mặc “Thế sự đôi co, dầu thế sự”, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn
bình thản đón nhận cuộc sống thanh tịnh như một người đang lạc vào cõi hồng trần: có bạn
tri âm, có túi thơ rượu bầu, có vừng trăng sáng trong, có tiếng đàn trong trẻo ngân nga. Mấy
ai mua được cuộc sống “vô vi, vô sự” này?
“Lẻ tẻ bên giang bảy tám nhà,
Thú nhàn mừng thấy bạn ngâm nga.
Thơ nên, ngồi đợi vừng đan quế,
Rượu chuốc, han thầm ngõ Hạnh hoa.
Lục ỷ tiếng thanh, đêm tựa ngọc,
Lan châu chèo vỗ, nước bằng là.
Ít nhiều ngày tháng qua thì chớ,
Tiêu sái ta thìn vẹn chi ta.”
(Thơ Nôm, bài 120)
Tuy Nguyễn Bỉnh Khiêm chọn lối sống tự do phóng khoáng, sống không bận lòng đến
chuyện thế gian nhưng trái tim nhà thơ sẽ nhói đau nếu “thế gian” rơi vào cảnh loạn ly. Tấm
lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là nỗi lòng của Lão Tử. Lão Tử từng nói: “ Ta có ba vật
báu mà ta ôm giữ cẩn thận: một là lòng từ ái, hai là tính kiệm ước, ba là không dám đứng
trước thiên hạ. Vì từ ái nên tận lực che chở dân mà sinh ra dũng cảm; vì kiệm ước nên hóa
ra sung túc, rộng rãi; vì không dám đứng trước thiên hạ nên mới được làm chủ thiên hạ. Nếu
không từ ái mà mong được dũng cảm; không kiệm ước mà mong được sung túc, rộng rãi;
không chịu đứng sau người mà tranh đứng trước người, thì tất phải chết!”(Đạo Đức kinh,
chương 67). Rõ ràng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đang ôm giữ và trân trọng ba vật báu đó. Vật báu
thứ nhất là lòng nhân từ. Trong cuộc đời hay trong văn thơ, ông luôn trải lòng mình với
muôn dân. Khi có chiến tranh, ông đau với nỗi đau chia lìa tan tác của nhân dân. Thông
cảm, xót xa khi thấy dân lành đói khổ, cực nhọc trăm bề: “Lưu ly khốn đốn không đường
dung thân”(Thơ cảm hứng-bài 7). Chính vì lòng từ ái mà Nguyễn Bỉnh Khiêm cương quyết
dâng sớ chém đầu bọn nịnh thần, phơi thân nơi sa trường trừ loài nghịch tặc. Thái độ dũng
cảm kiên cường đó mấy ai sánh kịp? Vật báu thứ hai là chọn lối sống lao động giản dị chân
chất nhưng thanh cao. Nghèo về vật chất nhưng giàu có về tinh thần. Bằng cách nói dí dỏm,
tự nhiên, nhà thơ đưa người đọc vào một thế giới của riêng ông. Một thế giới mà trong đó
thiên nhiên chính là thứ của cải quí giá và vô tận. Con người mặc sức mà chọn lựa. Có thức
ăn là măng trúc đắng, có áo vải thô thay cho chăn ngự hàn, có bạn tri giao là cá, tôm. Quên
đi nỗi nhọc nhằn, quên đi thế sự đua chen, sống một cuộc đời thanh đạm. Như vậy mới gọi
là tri túc:
“Gối lọ vàng, mấy lọ đen,
Dài dùng đà mặc của tự nhiên.
Xôi măng trúc đắng thèm thay thịt,
Đắp áo sô to lạnh kẻo chiên.
Bạn có cá tôm dầu được thứ
Cửa chăng xe ngựa bởi không quyền.
Ngày ngày tiêu sái nhàn vô sự
Tuy chửa là tiên ấy ắt tiên.”
(Thơ Nôm. bài 19)
Tư tưởng nhàn vô sự đã dẫn đến tư tưởng vô tranh. Đó chính là vật báu thứ ba mà hiền sĩ đã
thực hiện trong cuộc đời. Sống trong xã hội đầy bon chen, ông muốn giáo dục người đời
đức tính khiêm nhường “Văn chương nghề cũ xác như vờ”(Thơ Nôm, bài 100), mong muốn
khuyên người đời không nên tranh đua, không nên để lộ tài năng của mình mà nên che giấu
ưu thế mới dễ dàng bảo toàn tính mạng. Bởi vì tước lộc đầy đủ sẽ khó lòng giữ được thân
danh, ví như cái bát chứa đầy nước quá sẽ khó giữ cho nước khỏi tràn. Bởi vì : “Thuở nơi
doanh mãn là nơi tổn”(Thơ Nôm, bài 9)
Nói chung, khi giải quyết những vấn đề về tự nhiên và xã hội nhiều phức tạp đương
thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có một cách ứng xử linh hoạt để hòa hợp giữa ba dòng tư
tưởng Khổng Tử, Lão Tử và Thích Ca của Phật giáo. Sự dung hợp “Tam giáo đồng nguyên”
tạo nên một truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
1.4. Truyền thống văn hóa Việt
Năm 1982, tại Hội nghị quốc tế do UNESCO tổ chức ở Mexico, trong Tuyên bố về
những chính sách văn hóa, UNESCO đã đưa ra định nghĩa chung về văn hóa: “Văn hóa
hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và
vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm
người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những
quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín
ngưỡng; Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm
cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn
thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân,
tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành, đặt ra và xem xét những thành tựu của bản
thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt
trội lên bản thân.”
Còn “Bản sắc dân tộc của văn hóa là các giá trị đặc trưng tiêu biểu phản ánh diện mạo,
cốt cách, phẩm chất và bản lĩnh riêng của mỗi nền văn hóa, là dấu hiệu cơ bản để phân biệt
nền văn hóa của dân tộc này với nền văn hóa của dân tộc khác. Bản sắc dân tộc của văn hóa
được thể hiện tập trung trong truyền thống văn hóa dân tộc”(Văn hóa xã hội-Lê Quý Đức
chủ biên.tr 39).
Riêng trong bài Nguyễn Bỉnh Khiêm và dân tộc học, Nguyễn Tuấn Triết phát hiện: “Thơ
Nguyễn Bỉnh Khiêm toát lên tinh thần làng xã Việt Nam vào thế kỷ XVI, đặc biệt là tâm
hồn của người nông dân và nho sĩ. ở đó, nền văn minh Việt cổ đã như một cái nôi nuôi
dưỡng tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên”(Khổng, Phật, Lão), nhằm đề cao tính nhu thuận,
đức hiếu hòa, tinh thần cộng đồng, lòng trung hậu…Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, đặc biệt là
thơ Nôm, gắn bó với những cảm nghĩ của nhân dân. Tư duy của Nguyễn Bỉnh Khiêm là tư
duy dân tộc……Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ đem vào thơ những giá trị lâu đời của văn
hóa dân tộc, những kinh nghiệm, phong tục, tập quán của nhân dân, mà còn đem vào thơ
những động thái sinh hoạt hiện trạng của tộc người, gắn với những yếu tố văn hóa vật chất
cụ thể và đa dạng.”[60, tr.669]
Thứ nhất, đất nước Việt Nam là một đất nước nông nghiệp. Cuộc sống nông nghiệp lúa
nước phần lớn phụ thuộc vào sự vận động của thiên nhiên. Vì thế, để tồn tại người nông dân
phải gắn kết với nhau mà tạo lập cuộc sống. Đây chính là cơ sở để nhà nghiên cứu Trần
Ngọc Thêm cho rằng nét đặc trưng trong truyền thống văn hóa tổ chức đời sống tập thể Việt
Nam là tính cộng đồng, tính tự trị. Biểu hiện cụ thể cho tính cộng đồng và tính tự trị làng xã
là lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết toàn dân. Trân trọng lòng yêu nước của dân tộc,
trong Đặc trưng Văn học trung đại Việt Nam, tác giả Lê Trí Viễn đã khẳng định: “Đó là đạo
lý mà cũng đồng thời là một thành phần của lý tưởng thẩm mỹ dân tộc và là thành phần cao
đẹp hạng nhất…”.[73, tr 109]. Nhìn lại những trang lịch sử oai hùng của dân tộc Việt, nếu
không có đạo lý cao đẹp này thì làm sao nhân dân Việt Nam có thể giữ vững vị trí trên bản
đồ thế giới; có thể dũng cảm, lạc quan, kiên trì vượt qua bao thử thách mà lèo lái con thuyền
Việt Nam vượt qua bao thác ghềnh xâm lược, bao giông bão thiên tai để đến bến bờ độc lập-
tự do. Riêng đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, lòng yêu nước- thương dân, tinh thần đoàn kết
không chỉ là nét bản chất trong tư tưởng và tình cảm của nhà thơ mà còn là nét đẹp ngàn đời
của dân tộc. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã kế tục và phát huy sáng tạo truyền thống văn hóa tinh
thần của ông cha ta.
Tinh thần yêu nước, thương dân chính là nguồn động lực chủ yếu giúp Nguyễn Trãi đứng
vững vàng trong một xã hội phong kiến tàn khốc thuộc triều Lê. Tinh thần yêu nước, thương
dân đã tạo nên sức mạnh vĩ đại giúp Hồ Chí Minh đủ bản lĩnh vượt biển bôn ba xứ người
tìm đường cứu nước. Nếu Ức Trai đã từng: “Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung”(Thuật
hứng-XXIII) để đếm từng tiếng vọng của chuông chùa buổi sớm mai như tiếng gọi của đất
nước, Hồ Chí Minh luôn “Trằn trọc, băn khoăn giấc chẳng thành”(Không ngủ được) vì đất
nước đang chìm trong bóng đêm nô lệ và trong những đêm hè thanh vắng, Nguyễn Khuyến
lắng nghe tiếng cuốc kêu mà máu chảy hồn tan vì nó gợi trong tâm hồn thi sĩ lắm nỗi xót xa,
cay đắng:
“Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ,
Ấy hồn Thục đế thác bao giờ ?
Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ…”
(Cuốc kêu cảm hứng-Nguyễn Khuyến)
thì Nguyễn Bỉnh Khiêm đêm đêm vẫn canh cánh một điều: “Đầu đã bạc mà chưa báo đền
nợ nước”(Thơ ngụ hứng về quán Trung Tân-bài 15). Nợ nước, tình dân luôn là nỗi niềm tâm
sự khắc khoải trong tim ông, luôn bàng bạc trong thơ ông đến nỗi “Khăng khăng lòng lo
nước, mái tóc thành tơ”(Thơ ngụ hứng về quán Trung Tân-bài 10). Rõ ràng, sở dĩ Nguyễn
Bỉnh Khiêm hăm hở bước lên con “đường tía”, mở cánh “cửa mận, tường đào” đâu phải vì
ham thích vua phong tước phong hầu mà vì mong muốn thi thố tài năng giúp dân, giúp
nước: “Thường gắng gỏi lòng trung thành, mưu toan trả ơn nước…”(Ngày mùa đông đến
doanh trại, nhớ một vài bạn tri kỷ). Và khi không muốn làm bạn “với người rèm châu cửa
vóc”(Cái trần nhà), ông quay về phó hẹn cùng vườn cũ quê xưa. Tuy về nhàn nhưng phải
chăng Tuyết Giang phu tử vẫn muốn hóa thành Cây khoai mộc mạc để: “làm cho dân no
cũng đủ giúp vào việc dùng đến hàng ngày,”(Thơ vịnh cây khoai); vẫn ao ước làm nước
“trong hơn băng ngọc” trong Quả dừa để “làm giải khát quí hơn cả mơ” và khao khát hóa
thân vào cây đa già ở bến Trung Tân để “đem bóng mát che chở cho dân này”(Hai cây đa
già ở bến Trung Tân). Quả thật, trong thơ văn cũng như trong cuộc đời, Nguyễn Bỉnh
Khiêm đã thực hiện được những điều ông ấp ủ. Tấm lòng ưu ái của nhà thơ chính là tấm
gương sáng cho bao thế hệ. Tinh thần yêu nước, thương dân của nhà thơ như là viên gạch
xây đắp thêm cho truyền thống văn hóa muôn đời của dân tộc Việt.
Thứ hai , thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm còn toát lên một tinh thần nhân đạo cao cả, thái độ
trọng nghĩa tình đạo lý. Nét đẹp này là đặc trưng của nền văn hóa nông nghiệp, là nét nổi
bật trong văn hóa giao tiếp của người Việt Nam. Trong từng dòng thơ, ngòi bút của nhà hiền
triết không ngừng bày tỏ tình cảm đau xót chân thành trước cảnh: “Già ốm lăn xuống ngòi
rãnh. Chết đói nằm đầy cổng làng”(Cảm hứng). Trái tim nhà thơ từng hồi oặn thắt khi phải
chứng kiến bao cảnh đời, cảnh người ly tán vì chiến tranh trong Ý xưa cảm khái về thời thế:
“Vợ và con phải nhiều phen lưu ly,
Phải tìm đến kẻ khác mà ăn xin,
Áo quần rách rưới khó che thân thể
Vét xanh, vét niêu, thức ăn khó no bụng,…”
Câu thơ vừa có tác dụng gợi ra hình ảnh xác xơ, đói nghèo cùng cực của dân lành vừa có tác
dụng khơi gợi tình cảm trong lòng người. Đạo lý yêu người, trọng nghĩa mến tình của nhân
dân không những thấm sâu vào trong con người nhà thơ mà còn là lý tưởng thẩm mỹ của
dân tộc. Nhà thơ không chỉ bày tỏ tình chung đối với nỗi đau lầm than, ly biệt của nhân dân
mà còn trải tình riêng với những người thân trong gia đình và bạn bè cùng chung chí hướng.
Trong dòng văn học cổ, có thể vì ý thức hệ phong kiến nên hiếm có nhà nho nào đề cập trực
tiếp đến tình gia thất. Cho dù tình chồng nghĩa vợ cũng chiếm vị trí thứ ba trong Ngũ luân
nhưng khi muốn bày tỏ đạo nghĩa này, các nhà thơ cổ vẫn giãi bày bằng ý tứ thầm kín. Nếu
Tú Xương ca ngợi đức tính đảm đang, chịu thương chịu khó và trân trọng sự hy sinh thầm
lặng của bà Tú qua bài thơ tuyệt tác “Thương vợ” thì trong bài thơ “Khuê tình”, Nguyễn
Bỉnh Khiêm cũng cảm nhận nỗi nhớ nhung khắc khoải của người hiền thê chốn khuê phòng
đang chờ đợi mỏi mòn.
Coi trọng tình nghĩa vợ chồng sắt son bao nhiêu thì nhà thơ càng trân trọng tình bạn bấy
nhiêu. Từ ngàn xưa, người đời đã từng truyền tụng, ca ngợi tình bạn keo sơn thắm thiết giữa
Bá Nha và Chung Tử Kỳ, Quản Trọng và Bão Thúc Nha, Kinh Kha và Cao Tiệm Ly. Ở đất
Việt, người đời cũng từng khâm phục trước tình bạn giữa Lưu Bình và Dương Lễ, ngậm
ngùi tiếc thương nỗi ly biệt giữa Nguyễn Khuyến và Dương Khuê. Nếu Nguyễn Khuyến gạt
bỏ hết mọi cái rườm rà, hoa mỹ, cầu kỳ bề ngoài để bày tỏ tình cảm chân thành đối với
người bạn “thơ rượu” đã quá cố:
“Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan.”
(Khóc Dương Khuê-Nguyễn Khuyến)
thì người đọc cũng bồi hồi xúc động trước tình bạn thắm thiết, thủy chung của Nguyễn Bỉnh
Khiêm với các bạn đồng liêu. Tuy rời xa “cái mũ nhà nho”, về quê sống ẩn dật “vui thú với
tùng trúc trong những năm tàn” (Lý cư giản chư đồng chí); làm bạn với cầm, kỳ, thi, họa,
tửu; tương tri với non xanh nước biếc nhưng “đàn gảy một mình cũng tẻ, thơ ngâm một
mình cũng buồn, rượu uống một mình mất ngon và cờ thì cần phải có bạn để đấu trí cao
thấp”(Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập-Nguyễn Khuê)[24, tr 85]. Vì thế, có lúc
nhà thơ buồn bã “Lang thang ca hát bên bờ khe, tìm kiếm bạn rượu”(Thơ ngụ hứng về quán
Trung Tân-bài 8), có lúc gửi trọn tình cảm thân thiết vào trong những dòng thư gửi bạn bè ở
nơi xa xôi vạn dặm để bày tỏ lời thề vàng đá sắt son: “Chẳng phụ tình cố cựu hiểu biết
nhau”(Ngày mùa
đông đến doanh trại, nhớ một vài bạn tri kỷ):
“Thư bằng ngọc tự truyền tân tín,
Nghĩa đế kim giao cố cựu minh…”
(trích BVATT_Nguyễn Khuê)
Chính vì “nghĩa kết tình vàng” cho nên trong tình bạn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không có
màu sắc giả tạo, không khách sáo cầu kỳ. Ông đến với bạn bằng cái tình của người tri âm
đối với người tri kỷ. Ông không có món ngon vật lạ để mừng bạn mà chỉ có một món quà
giản dị, chân tình là “tình bạn” thiêng liêng, cao quí.
Gượng đến mừng nhau một mặt không,
Nhiều thì chẳng có, ít chăng thông.
Hươu nai hãy đợi trên rừng bắc,
Thu vược còn chờ dưới bể Đông.
Nam Sách rượu nồng còn mượn cút,
Tây Chân quít ngọt mới đâm bông.
Cực mong, rắp đợi, song còn muộn,
Vậy đến mừng nhau một mặt không.
(Thơ Nôm, bài 88)
Chẳng những có mối thâm tình đối với bằng hữu: “Nghĩa bằng hữu cũ lâu càng thắm”(Thơ
Nôm, bài 130) mà thi sĩ còn có tấm lòng trung hậu với những vật vô tri vô giác. Muôn vật
nơi thôn dã ùa vào trong thơ của thi sĩ, chiếm một vị trí không nhỏ trong tâm hồn nhà thơ.
Bên cạnh những loài hoa đài các chỉ xuất hiện trong những bức tranh tứ bình như mai, lan,
cúc, đào, hạnh, liễu…(“Mai kia chưa dễ thu nên muộn”; “Cúc vàng thơm đổi mấy phen
hoa”…); bên cạnh những loài cây tượng trưng cho phẩm chất của người quân tử như thông,
tùng, trúc, sen…(“Trúc mai làm bạn, hứng thơ nồng”; “Nhà thông, đường trúc lòng hằng
mến”;…); bên cạnh những loài chim mang nét đẹp khí tiết nhà nho như chim bằng, chim
phượng hoàng, chim hồng, âu lộ…(“Cùng bầy âu lộ từng quen mặt”; “Chim phượng hoàng
kia tiếc vũ mao”..); ta còn thấy xuất hiện những hình ảnh bình thường trong cuộc sống
người nông dân như cái mõ, cái trần nhà, cây khoai, cái trống, quả dừa, cây khế.…hoặc
hình ảnh biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng người Việt như sân đình, bến nước,
cây đa, quán nước….(“Thú nhất sáo chài trên bến nước”); những con vật gần gũi với đời
sống làng quê như con vẹt, con cá, con ếch, con bò, con rùa, con cốc….
(“Mềm gối cóc khô, mềm gối mãi”; “Nếm ếch còn thèm có giống măng”; “Ngựa mạnh,
đường trường tua biết sức. Rùa thiêng chân chậm, lọ là mau?”); những sản vật đậm đà
phong vị quê hương bộc lộ rất rõ dấu ấn của truyền thống văn hóa nông nghiệp lúa nước rất
xa lạ với thơ văn bác học nhưng lại rất quen thuộc với nhân dân như canh cua rốc, hạt
muống, măng trúc, “một ao niềng niễng, mấy đòng đong”…..
Con người Việt Nam sống bằng nghề lúa nước cho nên càng gắn mình với thiên nhiên
tạo vật. Thiên nhiên chính là một nét thẩm mỹ lớn trong tư tưởng người Việt. Cuộc sống vất
vả và gian lao của họ vì “ruộng hiềm, đất áy, cày chưa chín”(Thơ Nôm, bài 104) nên cần có
trời mây, trăng nước, cây cỏ, chim muông làm thú vui cao nhã, làm nguồn an ủi. Điều này
lý giải vì sao thiên nhiên lại có mặt xuyên suốt trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tuy không
có những bài thơ viết thiên về đề tài cảnh vật như thơ chữ Hán nhưng với ngôn ngữ dân tộc,
đất nước, đời sống xã hội cũng được miêu tả rất sinh động và bộc lộ rõ nét tâm hồn chân
chất của nhà thơ. Con mắt thư nhàn của Bạch Vân cư sĩ luôn say sưa tận hưởng cái đẹp hữu
tình của non nước quê hương “Giang sơn tám bức là tranh vẽ. Phong cảnh tư mùa ấy gấm
thêu”(Thơ Nôm, bài 3). Ông lấy “Lá thông đàn, tiếng trúc cầm”(Thơ Nôm, bài 126) làm tri
âm. Ông xem “Thuyền phong nguyệt, gánh yên hà”(Thơ Nôm, 117) là nguồn cảm hứng.
Cảnh “non xanh-nước biếc, bích thủy-thanh sơn” đã gắn chặt trong tâm khảm thi sĩ và tăng
thêm chiều sâu trong cảm quan về cảnh trí thiên nhiên. Nhà thơ miêu tả lối sống bình dị,
mộc mạc của ông khi ở “Bạch Vân am vắng chim kêu muộn. Kim tuyết dòng thanh cá mát
tươi” (Thơ Nôm, bài 109) bằng những dòng thơ đậm đà phong vị dân tộc:
“Bếp trà hâm đã, xôi măng trúc
Nương cỏ cày thôi, vãi hạt muồng.
Cửa vắng, ngựa xe không quít ríu,
Cơm no tôm cá, kẻo thèm thuồng.”
(Thơ Nôm, bài 38)
Đặc biệt trong văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên quan niệm về ăn và dấu ấn nông
nghiệp trong cơ cấu bữa ăn của người Việt với những bữa cơm rau (đặc thù là rau muống)
đạm bạc được nhà thơ diễn đạt nhẹ nhàng, tự nhiên như lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân
dân: “Giàu cơm thịt, khó cơm rau” hay “Cơm ăn chẳng quản mùi xa bạc”. Phải hòa mình
vào cuộc sống ở nông thôn và có thái độ trọng nghĩa tình làng xóm, nhà thơ mới có cách
miêu tả tự nhiên như thế. Theo Trần Ngọc Thêm thì ăn uống cũng là văn hóa-văn hóa tận
dụng môi trường tự nhiên. Còn tác giả Lê Trí Viễn nhận định: “Ăn của ta có cái đẹp của nó.
Vừa có tính khoa học vừa có tính thẩm mỹ” [73, tr.112]. Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy không
đưa ra một định nghĩa gì về văn hóa Việt nhưng ông đã cảm nhận sâu sắc được chất nghĩa
tình đọng lại trong từng bữa cơm Việt: “Ăn cơm không rau như đánh nhau không có người
gỡ”. Giữa không gian tĩnh mịch, tâm hồn của nhà thơ hòa nhập cùng tạo vật, sống cùng với
trăng thanh, gió mát trong cuộc đời đơn giản, chất phác, thanh cao. Chỉ cần “Cơm một nải,
nước một bầu” là có thể sống an nhiên, tự tại. Chỉ cần: “Áo mặc nề chi tấm rách lành” (Thơ
Nôm, bài 85) là có thể sống an lành không phiền lụy:
“Cơm ăn chẳng quản dưa muối,
Áo mặc nài chi gấm thêu?
Tựa gốc cây, ngồi hóng mát,
Đìu hiu, ta hãy một đìu hiu.”
(Thơ Nôm, bài 67)
Có thể nói cái ăn, cái mặc gắn liền với cái ở, với ngôi nhà. Đối với người dân nông nghiệp,
ngôi nhà là tấm gương phản ánh đặc điểm của truyền thống văn hóa dân tộc. Nhất là nếp
nhà tranh tre (ba gian am quán, vài gian nhà lá..) ở làng quê Việt Nam vừa quen thuộc vừa
thân thiết tạo cho không gian làng quê một màu sắc yên bình. Không gian làng quê trong
thơ Bạch Vân cư sĩ có lũy tre bao bọc xóm làng(“Gió lật, đưa qua trúc ổ”-Thơ Nôm, bài
115); có vườn có ao trồng muống hoặc ương sen (“Ao cạn, vớt bèo, cấy muống. Trì thanh,
là cỏ, ương sen”-Thơ Nôm, bài 128); có ba luống cúc thơm trồng ở trước sân (“Trồng cúc ở
trước sân, không có khách tục đến”-Ngụ hứng, tam); có sắc hoa leo trên vòm cổng ra vào
(“Thu êm, cửa trúc hồng vân phủ”Thơ Nôm, bài 52); có “bạn nhiều cày cuốc, ngày ngày
họp”(Thơ Nôm, bài 116)……tất cả là một cảnh quan hài hòa đất với nước, con người với
thiên nhiên:
“Trà tiên nước kín, bầu in nguyệt
Mai động hoa xoay, bóng cách song
Gió lật, đưa qua trúc ổ
Mây tuôn, phủ rợp thư phòng…”
(Thơ Nôm, bài 115)
Ngoài ra, trong việc ứng phó với môi trường xã hội, lối giao tiếp tế nhị, tránh đôi co,
trọng sự hòa thuận là sản phẩm của lối sống trọng tình của người Việt. Bởi con người của
văn minh lúa nước vốn là con người hiền hòa, chân thật. “Vẻ hiền hậu, thực thà của con
người xứ lúa nước ấy thế là đã ẩn ngụ vào trong, kín đáo, thầm lặng, chẳng chút phô trương,
lại lắng sâu, tha thiết, tinh tế bất ngờ…”(Đặc trưng Văn học trung đại Việt Nam-Lê Trí
Viễn)[73, tr.132-133]. Lối sống hiếu hòa là một trong những quan niệm sống của Nguyễn
Bỉnh Khiêm, là lời khuyên chí tình của một nhà hiền triết có cái tâm đối với đời. Ông chủ
trương “Nhân dĩ hòa vi quý”, tránh tranh hơn-tranh thua, tranh khôn-tranh giỏi, vì “Vô sự
thì hơn, kẻo phải lo”. Do đó, ông nhắn nhủ người đời:
“Ở thế, đừng tranh đứng trượng phu,
Làm chi cho có sự đôi co?..”
(Thơ Nôm, bài 72)
Bởi vì sa vào sự đôi co tất sẽ lụy đến thân. Bởi vì cuộc đời như là một vòng tuần hoàn khép
kín, cái gì đến độ viên mãn ắt phải suy tàn. Nay được thời “mèo đuổi chuột” nhưng đến khi
thất thế có thể kiến cũng sẽ tha bò. Vì thế, người đời đừng tự phụ, khinh người, đừng chê ai,
cười ai. Tư duy của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chính là tư duy của dân tộc. Lối ăn, lối mặc,
nếp cảm nếp nghĩ của ông đều bắt nguồn từ cách sống của người Việt. Người Việt luôn chủ
trương nhường nhịn, hiếu hòa và quan niệm “ở hiền gặp lành” hay “ác giả ác báo” “nhân
nào quả đấy”. Vì thế, nếu ông cha ta thường khuyên nhủ mọi người nên tu nhân tích đức thì
Tuyết Giang phu tử cũng nhắn nhủ người đời: “Thấy câu “khuyến thiện” nhà hằng chứa.
Chữ “thận”
đem mình kẻo lụy đời.”(Thơ Nôm, bài 121). Lời nhắn nhủ của nhà thơ cũng là lời
dạy chí tình chí nghĩa của người xưa dành cho thế hệ sau: hãy tích âm đức “Phúc đức đành
hay cỏ đượm xuân”, làm việc thiện để cho con cháu được hưởng hạnh phúc: “Tích đức cho
con, ấy mới mầu”(Thơ Nôm, bài 122):
“Quét cửa nho chờ khách đến
Trồng cây đức để con ăn”
(Thơ Nôm, bài 87)
Bên cạnh đó, những kinh nghiệm, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của nhân dân,
“những động thái sinh hoạt hiện trạng của tộc người, gắn với những yếu tố văn hóa vật chất
cụ thể và đa dạng.” lần lượt hiện lên rõ rệt trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Người nông
dân trên cánh đồng thì gắn bó với “Một mai, một cuốc, một cần câu”(Thơ Nôm, bài 73),
ngày ngày lao động vất vả về thể xác “vớt bèo, cấy muống, là cỏ” nhưng tiêu sái về tinh
thần “ương sen.”. Khi thì “Vun thông, tưới cúc ba thằng mọn”(Thơ Nôm, bài 4); khi thì “Bó
củi, cần câu, chốn nước non”(Thơ Nôm, bài 29). Những bài thơ miêu tả cuộc sống, nhất là
cuộc sống ở nông thôn bao giờ cũng đầy rung cảm chân thành, bao giờ cũng tha thiết, cụ thể
như chính cuộc sống của họ :
“Ruộng năm, bảy khóm trồng cây lúa.
Tằm chín, mười nong để giống ngài”
(Thơ Nôm, bài 121)
Đất nước Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, người Việt sống bằng nghề lúa nước cho
nên sự gắn bó với tự nhiên dài lâu và bền chặt là một lẽ đương nhiên. Họ ao ước một cuộc
sống bình yên dù chỉ sống trên “Một lá thuyền nhỏ nổi trên nước biển”, dù “Sinh nhai của
lão chỉ một cái nón lá, một cái áo tơi”(Hỏi ông lão đánh cá). Họ luôn mong muốn mùa
màng tươi tốt để gia đình được ấm no, để duy trì cuộc sống. Và luôn có một niềm tin tuyệt
đối về sức mạnh của siêu nhiên, của thần thánh:
“Thời tiết “Tây thành” là tháng thuộc sao Lâu
Tế thần, ai nấy mừng được mùa.
Chọn ngày lành của năm ngày mậu để lập đàn,
Làm lễ Tam nông sửa sang việc cúng tế.
Lễ cúng hàng năm, các cụ già cầu đảo ở trong làng,
Bói được mùa trong năm lúa má thu hoạch nhiều.
Ướm hỏi dân ta lấy gì làm vui,
Vui vì gặp lúc chính sự truyền bá tốt”
(Đàn tế thần xã mùa thu)
Quả thật, Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ nắm bắt tâm lý tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
của người Việt mà còn trân trọng những phong tục lễ Tết, lễ hội cổ truyền của dân tộc. Khi
“năm mới vừa đến năm cũ hết”, ông cùng gia đình ngắm “cảnh khói hoa là bất tận trong trời
đất” (Đêm cuối năm tức sự), cùng vui đùa làm thơ chúc mừng xuân mới năm Ất Sửu:
“Ánh thiều quang mượt mà ấm áp vừa gặp tiết lành,
Rất thích mùa xuân này hơn hẳn xuân trước.
Hoa và ngày tết cùng đến vào ngày mồng một năm mới
Đầu có tóc bạc mấy phen được thấy người thưở trước.”
(Xuân mới năm Ất Sửu, vui đùa làm thơ)
Thông qua các nghi lễ truyền thống của nhân dân, thông qua những cảnh sinh hoạt quen
thuộc của người nông dân trên cánh đồng hay trên sông nước, nhà thơ tìm thấy cái hồn
thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, phát hiện tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, nếp sống
cộng đồng vẫn được bảo giữ hàng nghìn năm nay. Có thể nói bài thơ Nguyên Đán thuật
hoài, Ngộ Trung nguyên xá tội, Ất Sửu tân xuân hý tác, Trừ tịch tức sự là những bài thơ vừa
biểu hiện nếp sống cộng đồng người Việt-nét đặc trưng văn hóa điển hình vừa khẳng định
một bài học chân lý cao đẹp: giữa Cá nhân - Gia đình - Làng xã - Tổ quốc có sự gắn kết
chặt chẽ với nhau như cá với nước. Chính sự gắn kết đó mà trong giao tiếp người Việt luôn
có cách ứng xử tinh tế, năng động, linh hoạt trong tư duy. Đó là cách tư duy tổng hợp với
sản phẩm điển hình là triết lý âm dương quân bình. Chính từ những quan niệm âm dương
với hai cặp phạm trù vừa mâu thuẫn vừa thống nhất mà người xưa đã dần dần phát hiện ra
nhiều vấn đề có tính quy luật. Người Việt Nam nhận thức rõ về hai quy luật này và biến nó
thành một triết lý sống quân bình. Nhờ có triết lý sống này mà người Việt luôn có khả năng
thích nghi cao với hoàn cảnh, với môi trường sống (lối sống linh hoạt). Chính nhờ thấm
nhuần triết lý này mà Nguyễn Bỉnh Khiêm rất bình thản trước sự thay đổi của thời cuộc, lẽ
biến thiên của cuộc đời. Chính nhờ thấu suốt đặc điểm của thuyết âm-dương cho nên nhà
thơ chủ động dứt khoát trong quan niệm xuất xử, rất phóng khoáng trong quan niệm về công
danh, về lối sống nhàn, về cách xử thế chiết trung. Tuyết Giang phu tử chính là người chủ
trương chọn cách sống“thời trung”, cách xử thế dung hòa. Theo nhà thơ trong dòng chảy bất
tận của cuộc đời, mọi vật luôn ở trạng thái động, luôn có sự mất đi của vật này và sự xuất
hiện của vật kia. Xã hội một hồi trị một hồi loạn; triều đại này suy rồi sẽ thịnh; hoa có lúc
nở có lúc tàn, nước lúc đầy lúc vơi.
Và chính sự kết hợp chặt chẽ giữa tính tổng hợp và linh hoạt tạo nên tính dung hợp.
Dung hợp là một dạng tiếp biến văn hóa - đặc biệt văn hóa Việt. Trong lĩnh vực ứng xử với
môi trường xã hội, với vị trí ngã tư đường của các nền văn minh nhân loại, bên cạnh tín
ngưỡng thờ cúng ông bà, người Việt Nam cũng mở rộng cửa lần lượt đón nhận tư tưởng
Nho-Phật-Đạo. Đặc biệt là việc sắp xếp thứ tự vị trí tam giáo cũng là một cách ứng xử rất
tổng hợp và linh hoạt của người Việt: Nho-Phật-Đạo. “Tính dung hợp này khiến cho mọi
tôn giáo du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận và phát triển chứ không có tình trạng
xung đột hoặc độc tôn về tôn giáo như ở một số nước khác”(Cơ sở văn hóa Việt Nam-Trần
Ngọc Thêm)[61, tr.317]. Ngay từ đầu Công nguyên, Phật giáo trực tiếp đi vào Việt Nam
bằng con đường từ Ấn Độ và được tín ngưỡng cổ truyền tiếp nhận. Rồi cả hai loại tín
ngưỡng này cùng tiếp nhận và có mối quan hệ bền chặt, lâu đời với văn hóa Trung Hoa là
Đạo giáo. Cả Phật giáo, Đạo giáo tiếp nhận Nho giáo tạo thành quan niệm Tam giáo đồng
nguyên. Tam giáo đã đi sâu vào đời sống tinh thần của người Việt và trở thành nguồn sức
mạnh tâm linh nâng đỡ họ trong cuộc đời. Tam giáo đều có chung một mục đích là khuyên
con người làm điều thiện. Vua Trần Thái Tông từng cho rằng: “sách Nho thì dạy thi nhân bố
đức; kinh Đạo dạy yêu vật, quý sự sống; còn Phật thì chủ trương giữ giới, cấm sát sinh”.
Trong Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm nhận ra sự bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau của ba
tôn giáo: “Nho giáo lo tổ chức xã hội sao cho quy củ; Đạo giáo lo thể xác con người sao cho
mạnh khỏe; Phật giáo lo cho tâm linh con người sao cho thoát khổ”. Vì thế, “Nguyễn Bỉnh
Khiêm chọn con đường phát huy tiếp tục truyền thống tư tưởng bác học Việt Nam, đó là con
đường “Tam giáo đồng nguyên”. Có thể có lúc ông tâm đắc hơn cả với đạo Lão Trang, láy
đi láy lại cái nguyên lý “cơ cấu tạo hóa mặc tự nhiên”…trong khi lập luận lý sự, song ông
không bỏ qua sự hợp lý của Nho giáo và Phật giáo, nghĩa là tính đến những chiều cạnh biện
chứng, hợp lý của cả ba lý thuyết triết học vĩ đại ấy của Đông phương thời đại ông”(Nguyễn
Bỉnh Khiêm và phương pháp tư duy biện chứng-Tô Duy Hợp)[60, tr.171]
Có thể nói bài thơ “Cảm thời cổ ý” là bài thơ Tuyết Giang phu tử vừa chịu ảnh hưởng
tương đối luận của Lão Trang, vừa ảnh hưởng sâu sắc chủ nghĩa hư vô của Phật giáo, vừa
thấm nhuần tư tưởng của Nho giáo. Mở đầu bài thơ là tư tưởng về quy luật xoay vần, tiêu
trưởng của vận hội vũ trụ và xã hội mà Nguyễn Bỉnh Khiêm gọi là “thế và thời” (một hồi trị,
lại một hồi loạn; một khi co, lại một khi duổi-Kinh Dịch). Kế tiếp là học thuyết của Lão Tử
(Họa hề phúc sở ỷ; phúc hề họa sở phục) về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt
đối lập của cùng một sự vật. Tiếp theo là dựa vào quan niệm trong Kinh Dịch (Mãn Chiêu
tổn, khiêm thụ ích), tác giả đưa ra lời khuyên kín đáo về tính khiêm nhường tránh tự mãn
của người đời; Dựa vào câu: “Vân tòng long, phong tòng hổ, thánh nhân tác nhi vạn vật đố”,
tác giả có nhắc đến hội phong vân và công danh của kẻ sĩ. Cuối cùng, bài thơ khép lại bằng
hai hình ảnh đối lập về sự thành công-giàu có và sự thất bại-nghèo khó; bằng thuyết hư vô
(sắc thị không) của Phật giáo. Chính tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” dung hòa tạo nên
bài thơ độc đáo.
Còn bài thơ “Cảm hứng-ba trăm câu” là bài thơ tổng hợp cho việc vận dụng xen kẽ cả ba
loại thuật ngữ và tư tưởng Nho, Phật, Đạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Mở đầu bài thơ, nhà
thơ luận bàn về thái cực (là khởi nguyên của vũ trụ, là vầng nguyên khí chưa phân khai), về
tam tài (thiên, địa, nhân) trong Kinh Dịch; về năm chuẩn tắc (ngũ điển) của quan hệ gia đình
và chín nguyên tắc (cửu trù) để trị nước của Kinh Thư. Kế tiếp, từ việc phê phán sự suy đồi
về đạo đức trong xã hội, từ việc phơi bày nỗi khổ của nhân dân do nạn cát cứ phong kiến,
nhà thơ đề cập đến quan niệm của Phật giáo về “việc cõi đời, việc cõi âm” vừa nhắn nhủ
vừa cảnh báo con người: “Ban phúc cho người thiện, giáng họa cho kẻ xấu”; sau cùng là
bức tranh về lối sống “mặc sức tiêu dao” nơi quán Trung Tân và am Bạch Vân:
“Giữa khoảng ánh trăng soi qua khung cửa sổ,
Trong cơn gió mát ghé đầu trên chiếc gối.
Chẳng thích thú vui ở thảo đường,
Chỉ thích giấc ngủ ở Hoa Sơn
Để quên buồn thì mượn chén rượu,
Đến khi mỏi thì dựa ghế sách,
Để sạch mình nên thôi làm quan….”
Sau cùng, Nguyễn Bỉnh Khiêm hiểu rõ ngôn ngữ chính là tấm gương phản chiếu văn hóa
dân tộc cho nên ông tận dụng ngôn ngữ dân tộc vừa giản dị, chân chất vừa tế nhị, trong sáng
vừa tinh tế, sâu sắc để sáng tác thành những bài thơ mang đậm phong vị dân tộc Việt Nam.
Đặc biệt là những bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm có sự tiếp nối và phát triển thành
tựu thơ tiếng Việt dân tộc. Những lời thơ Nôm mang rõ dấu vết khẩu ngữ thường ngày của
quần chúng:
“Giàu chĩnh chện, khó lai dai,
Vần chuyển lưu thông, há của ai?”
(Thơ Nôm, bài 2)
Và lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân:
“Tóc đã thưa, răng đã mòn,
Việc nhà đã phó mặc dâu con”
(Thơ Nôm, bài 29)
Đồng thời “tuy là nhà thơ triết lý và đạo lý, thơ quốc âm của ông lại đậm đà màu sắc dân
tộc, đậm đà phong vị ca dao, tục ngữ, nên dễ đi vào lòng người đọc Việt Nam”
(Bạch Vân quốc ngữ thi và âm vang ca dao, tục ngữ-Bùi Văn Nguyên)[60, tr. 523]. Những
câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao được nhà thơ sử dụng nhuần nhuyễn, tinh tế và linh hoạt.
Chẳng hạn, từ câu tục ngữ: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, nhà thơ sáng tạo ra câu:
“Gần son thì đỏ, mực thì đen”(Thơ Nôm, bài 64) để cảnh báo người đời về ảnh hưởng tốt,
xấu ở đời. Từ câu ca dao:
“Sông sâu còn có kẻ dò,
Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng?”
nhà thơ khám phá nhân tình thế thái qua câu:
“Lành dữ lòng người khôn biết,
Dầu sủng nhục chớ thờ lơ”
(Thơ Nôm, bài 24)
Tóm lại, những giá trị văn hóa vật chất và giá trị tinh thần của dân tộc nói trên có
những nét đậm nhạt khác nhau nhưng đều có thể tìm thấy trong thơ của Nguyễn Bỉnh
Khiêm. Người thầy trên dòng sông Tuyết Giang không thể hiện những nét đẹp đó bằng thái
độ khách quan mà diễn tả bằng tất cả tấm lòng, bằng sự trân trọng tài sản quí báu của dân
tộc Việt. “Nguyễn Bỉnh Khiêm xứng đáng được coi như một trong những người đã góp
phần không nhỏ vào quá trình xây dựng phẩm chất Việt Nam, tâm hồn Việt Nam”(Thơ văn
Nam.
Nguyễn Bỉnh Khiêm-Đinh Gia Khánh)[22, tr.44] và nói chung là lý tưởng thẩm mỹ Việt
CHƯƠNG HAI
CÁC KHÍA CẠNH CỦA QUAN NIỆM NHÂN SINH TRONG THƠ
NGUYỄN BỈNH KHIÊM
2.1. Cái nhìn hiện thực
2.1.1. Chiến tranh xảy ra liên miên, tàn khốc
Có thể nói rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm là chứng nhân của một xã hội đầy máu lửa.
Một xã hội mà trong đó người là chó sói đối với người. Có thể nói, bắt đầu từ năm 1509 đến
năm 1520, nhà thơ đã chứng kiến biết bao cảnh tranh chấp quyền vị trong triều giữa các đại
thần; cảnh tàn sát trong chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến; cảnh đại hạn, lũ lụt, đói
kém thường xuyên xảy ra trong nước. Nạn cát cứ và xung đột nội chiến diễn ra triền miên
không chỉ mang tính chất phi nghĩa để tranh giành quyền lợi, để thỏa lòng tham muốn độc
chiếm giang sơn của bọn tham quyền mà còn lẫn vào đấy là những cuộc khởi nghĩa của
nông dân giành quyền sống. Trước những cảnh xâu xé đó, trước nguy cơ “Xã tắc nguy ngập
nghiêng đổ…”(Thơ cảm hứng-bài năm), nhà thơ đau lòng tự hỏi mình và cũng hỏi người:
“Nước non, nào phải của ai đâu?
Nhiều ít công tư cũng mặc dầu.
Có chẳng giữ giàng, không chẳng lụy,
Được chăng háo hức, mất chăng âu…”
(Thơ Nôm, bài 28)
Trong giai đoạn lịch sử đầy biến động này, nhà thơ đã lên tiếng phê phán mạnh mẽ chiến
tranh. Cho dù, Nguyễn Bỉnh Khiêm từng là “tôi trung” của triều Mạc và nhiều lần tòng
chinh hiến kế “Vì nước bảo toàn đứa trẻ mồ côi, nêu rõ nghĩa lớn”(Thơ cảm hứng-bài năm);
cho dù, Nguyễn Bỉnh Khiêm bày tỏ dứt khoát thái độ đối với phe phái chống đối nhà Mạc,
ông phẫn nộ gọi họ là “nghịch tặc” và cho dù ông chưa nhận thấy được toàn diện tính chất
chính nghĩa hay phi nghĩa của các cuộc khởi nghĩa nhưng ông vẫn nghĩ chiến tranh là mầm
họa của tang thương, của cùng cực:
“Họa hoạn đến như thế này là cùng cực”(Thương cảnh loạn ly). Ông cho rằng chiến
tranh bùng nổ là do con người “Không có mối lòng nhân biết xót thương”(Thương cảnh
loạn ly). Cho nên, tiếng nói phản chiến đầu tiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn là tiếng nói tố
cáo tội ác của “loài giặc quỉ thích tàn sát”(Thương cảnh loạn ly):
“Nhà ở đem bẻ làm củi,
Trâu cầy đem mổ làm thịt ăn.
Cướp đoạt tài sản không phải là của mình,
Hiếp dỗ người không phải là vợ mình,
Mắt thấy nơi nơi đều lầm than,
Đi qua khắp chốn đều là sinh gai góc
Tiều tụy đến như thế là quá lắm.
Thương xót van kêu đâu có được…”.
(Thương cảnh loạn ly)
Khi cuộc chiến giữa tập đoàn phong kiến Lê Trịnh-Mạc diễn ra ác liệt và lan rộng khắp nơi,
tuy Nguyễn Bỉnh Khiêm đang ẩn nhẫn tại am mây nhưng ông không thờ ơ với đời mà rất lo
lắng và đau lòng trước cảnh loạn ly. Câu thơ vừa là lời thông báo về tình hình chiến sự ác
liệt khiến “chủ ưu, thần nhục”, vừa thể hiện tâm trạng đầy xúc động của nhà thơ, vừa là lời
phê phán gay gắt chiến tranh phong kiến:
“Nghịch tặc xương cuồng phạm đế kinh,
Chủ ưu thần nhục trọng thương tình…”
(Cảm hứng thi-tam)
Lòng nhà thơ không chỉ quặn xót khi “dân mọn mắc nạn đói rét”(Thơ cảm hứng-bài 6), mà
còn đau đớn trước những hậu quả trầm trọng do chiến tranh để lại. Trái tim nhà thơ thổn
thức khi thấy: “Gươm giáo đầy mắt, khổ nỗi chưa ngớt”(Thuật ý mình-bài năm):
“Liền năm chinh phạt, quân nhà vua mỏi mệt,
Bao đời xâu thuế, vận chuyển, của nước kiệt quệ"
(Thơ cảm hứng-bài 6)
Chính vì thế, trong thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm thường dùng ngòi bút lên án bá
đạo và phê phán những sự vô lý của cảnh tàn sát trong chiến tranh. Cuộc chiến bùng nổ,
mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé và “cậy khỏe ăn thịt con nhỏ” là chuyện đáng buồn:
“Ngán xem nghịch tặc rông rỡ đã lâu,
Đánh lẫn nhau chết một nửa.
Lửa dữ cháy bừng bừng thiêu đốt cả ngọc đá.
Một con chim ưng hung dữ khủng bố chim loan chim hoàng”
(Thơ cảm hứng-bài 2)
“Ngọc đá, chim loan, chim hoàng” là cách nói đầy ẩn ý về một đối tượng mà nhà thơ trân
trọng. Ông không chỉ bày tỏ nỗi xót thương mà còn bất bình khi chứng kiến cảnh tan tác
chia lìa, cảnh lưu ly của dân lành. Ông ngán ngẫm và mỉa mai hỏi những kẻ cầm quyền:
“Thù đánh nhau chi khéo nực cười?”. Viễn cảnh về một xã hội có chiến tranh đang hiện ra
trước mắt nhà thơ với “núi xương, sông huyết”, với cảnh:
“Thương dân ta bị hãm trong đất giặc chiếm đã từ lâu,
Ai có thể cứu vớt, thể hiện tấm lòng chí nhân.
Hại đến cả trâu trong chuồng, hình ngục bừa bãi,
Họa tới tận ngọc núi Côn, lửa thiêu cháy rụi….”
(Thơ cảm hứng-bài bảy)
Có thể nói, bài thơ Cảm hứng-300 câu là bài thơ được viết theo thể trường thiên với những
câu thơ dài ngắn khác nhau bộc lộ một tài năng sáng tạo độc đáo. Đặc biệt, với bài thơ này,
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tóm tắt nhân sinh quan, phản ánh hiện thực và phê phán xã hội thế
kỷ XVI khá đầy đủ. Với trái tim nhân đạo sâu xa, nhà thơ đã phơi bày những cảnh “lưu
ly”đau thương mất mát, những bi kịch, những cảnh khốn cùng trong chiến tranh, cảnh “trộm
cướp nhiều khắp”. Bài thơ như một đoản phim buồn đang từ từ tái hiện lại hiện thực cuộc
sống của nhân dân trong thời loạn lạc.
Rõ ràng chiến tranh đã gieo rắc bao tai họa đến cho mọi người. Vì vậy, cũng như bao
nhà “ưu quốc, ưu thời” khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn bày tỏ thái độ chán ghét chiến tranh.
Chán ghét những thủ đoạn tranh hùng xưng bá của bọn tham chiến, bọn thống trị. Chính vì
buồn chán cảnh đua tranh ở chốn phồn hoa mà ông cương quyết từ bỏ chốn quan trường.
Chính vì ái ngại phải nhìn thấy cảnh chém giết, tàn sát lẫn nhau trong đao binh mà ông dứt
khoát: “Buồn về, biếng thấy áng đao binh”(Thơ Nôm, bài 13). Câu thơ tuy câu chữ đơn giản
nhưng ý tứ phong phú. Vừa bày tỏ thái độ khinh bỉ, miệt thị bọn tham quyền vừa là tiếng
nói không đồng tình với chiến tranh. Từng tham gia giúp vua dẹp loạn nhưng Nguyễn Bỉnh
Khiêm cũng ngán ngẩm cảnh : “Giáo và mộc tua tủa bày đầy ra trước mắt”(Thơ cảm hứng-
bài bốn). Ông mong muốn can qua chấm dứt để cuộc sống của nhân dân khỏi lầm than. Ông
ao ước thời bình trị trở lại trên quê hương để nhân dân sống mãi trong cảnh thái hòa:
“Ngày nào lại gặp được đời Nghiêu Thuấn,
Vua đời thái bình, dân đời thái bình.”
(Xuân mới năm Ất Sửu, vui đùa làm thơ)
2.1.2. Nhân dân li tán , đói khổ, chết chóc
Như trên đã nói, chiến tranh là mầm họa của cuộc sống yên lành. Bởi vì chiến
tranh dù khoác lên mình màu áo chính nghĩa hay phi nghĩa thì nó cũng để lại bao bi thương,
bao tang tóc. Bi thương, tang tóc phủ lên từng số phận, len vào trong cuộc sống của con dân.
Chiến tranh càng ác liệt thì mức độ tàn phá của nó càng nhiều. Chiến tranh đến nhà cửa,
ruộng vườn của nhân dân bị đốt phá ; của cải bị cướp đoạt; dân lành rơi vào cảnh cay cực
xót xa. Chiến tranh đi nhưng vết thương chiến tranh chưa lành bởi bao người thân bị giết
hại, bao người phải sống trong cảnh cô độc, u uất:
“Năm nay lại gặp phải cái ách đói cơm, đói rau,
Khốn đốn trôi giạt biết đến nơi nào để dung thân.”
(Thơ cảm hứng-bài bảy)
Nhân dân không chỉ ly tán vì những cuộc chiến phi nghĩa mà còn đói khổ vì bị cướp đoạt tài
sản bởi những tên tham quan bất lương tàn ác. Bằng nghệ thuật ẩn dụ độc đáo, nhà thơ đã vẽ
lên bộ mặt “bất nhân” của lũ chuột bốn chân và bầy chuột hai chân trong xã hội thối nát lúc
bấy giờ. Nếu chiến tranh là tàn bạo, là hủy diệt sinh mạng con người thì lũ “chuột lớn” cũng
đã gieo rắc vào đời sống nhân dân biết bao tai họa khủng khiếp. Nhà thơ vận dụng từ ngữ
vừa xác thực vừa giàu ý nghĩa tố cáo:
“…Chuột lớn sao bất nhân?
Gậm khoét thật thảm độc
Đồng ruộng trơ rơm khô
Kho đụn kiệt gạo thóc
Khó nhọc nông phu than
Đói gầy nông phụ khóc
Sao dám khinh mạng dân
Phá hoại thật tàn khốc
Rình mò dưới lỗ hang
Thần dân đều căm tức…”
(Ghét chuột)
Từng câu thơ như vẽ ra trước mắt người đọc cuộc sống bi thảm của người dân cày lam lũ,
vất vả. Nhà thơ đã lắng nghe tiếng khóc đau thương của dân nghèo bằng trái tim nhân ái bao
la. Ông từng tận mắt chứng kiến cảnh lưu lạc tha phương: “Dân gặp loạn nhiều người ly tán
bốn phương”(Thơ cảm hứng-bài hai), cảnh đói khổ cùng cực của dân lành. Và cảnh sinh
linh đồ thán chính là nỗi đau, niềm trăn trở của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
“Giáo và mộc tua tủa bày đầy ra trước mắt,
Nhân dân trốn chạy muốn tìm nơi an toàn.
Khốn đốn dắt dìu nhau, thở than không có đất
Thương xót che chở cho, chắc rằng vốn còn trời…”
(Thơ cảm hứng-bài 4)
Người dân không chỉ tan đàn xẻ nghé một lần mà “trải loạn” nhiều lần vì bọn “giặc nhiễu
nhương” chưa bị diệt trừ. Cảnh dân đen xa lìa tổ ấm, tan tác mỗi người một phương như đàn
chim vỡ tổ làm đau lòng người. “Hỏi ai là kẻ nhân từ không ham giết người, thỏa được lòng
dân chờ cứu sống”(Thơ cảm hứng-bài năm). Hỏi ai là người yêu nước thương dân có biết
chăng: “Nhân dân vô tội gặp phải cảnh cay cực, độc ác từ lâu”(Thơ cảm hứng-bài năm).
Ngòi bút nhà thơ không ngừng liệt kê từng tội ác tàn ngược của những kẻ bá quyền, không
ngừng vạch ra từng nỗi khổ mà nhân
dân gánh chịu. Từ đó cho thấy mục đích sáng tác của nhà thơ không “chỉ vì đối với thơ đã
trót nghiện ngập” mà còn hướng vào nhân nghĩa. Nhân nghĩa trong việc yêu dân, luôn đấu
tranh vì cuộc sống của dân:
“Đảo huyền dân cửu ly hung đạo
Trắc đát thùy vô xúc thiện đoan…”
(Tây hộ quá Lục Yên Châu hữu cảm thứ Lễ Độ Bá vận)
Nếu không có sẵn “lòng từ thiện” và “tình thương xót” thì làm sao người thầy Tuyết Giang
có thể cảm thông với Nỗi lòng ở chốn phòng khuê của người chinh phụ? Nếu không có tấm
lòng nhân ái bao la thì làm sao nhà thơ có thể thấu hiểu niềm u uất, thương nhớ khôn nguôi
của người chinh phụ khi rơi vào cảnh biệt ly? Bầu trời thì xa vời vợi, không gian thì lạnh
vắng chỉ có âm thanh tí tách của giọt mưa rơi, tình người thì sâu thăm thẳm, mấy ai hiểu
thấu nỗi lòng của khách má hồng. Trong những đêm thu buồn lạnh lẽo, người thiếu phụ
trông chồng lặng ngắm ánh trăng, lắng nghe từng giọt nước nhỏ rơi xuống điểm từng canh
lạnh lùng, cảm nhận thêm một mùa đông sắp tới thông qua âm thanh của tiếng thổ phát ra từ
ống ngọc luật và chợt giật mình bởi văng vẳng đâu đây có tiếng vang lanh canh như tiếng dế
kêu than nỗi bất bình. Bài thơ là nỗi niềm tâm sự cô đơn, u hoài của người vợ có chồng ra
trận. Là tiếng nói tố cáo chiến tranh phong kiến. Là nỗi bất bình không chỉ của nhà thơ mà
còn của hàng triệu người dân bị đẩy vào cuộc chiến vô nghĩa:
“Đêm thu tiêu điều, giọt nước nhỏ điểm canh lạnh lùng,
Ống ngọc luật đồng vọng, âm thầm mà phát ra thành tiếng.
Chỉ nghe thấy trong cây tiếng kêu sột soạt,
Bỗng giật mình dưới trăng tiếng vang lanh canh.
Mới nghe, người vợ lính thú buồn rầu không ngủ,
Như xui con dế gợi nỗi bất bình.
Toan làm bài phú như Âu tử đất Dĩnh Xuyên,
E rằng lại chỉ làm việc bắt chước bị người đời khinh bỉ.”
(Tiếng thu)
Trước cảnh tan tác, chia lìa của từng gia đình, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn mong ước nhân
dân sống ấm no, hạnh phúc, mong ước một xã hội thanh bình như xã hội đời vua Nghiêu,
vua Thuấn. Niềm mong ước của nhà thơ cũng chính là niềm mong ước của dân lành: “Dân
vẫn đang mong ngóng người đến cứu sống cho mình”(Thơ cảm hứng-bài 7):
“….Chờ người đến cứu sống, lòng mong đợi của dân chúng uất kết đã từ lâu
Thương dân đánh kẻ có tội, ai dấy quân như trận mưa gặp thời.
Bốn biển theo về, nhân dân đội ơn đã lâu,
Trời cao nêu tỏ, vầng nhật lại sáng như xưa.
Từ xưa đến nay người có nhân không ai địch nổi,
Việc gì phải khư khư theo đuổi chiến tranh.”
(Thơ cảm hứng-bài 3)
Cũng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm quan niệm dân là vạn đại, là gốc của mọi thời
đại. Vì “chở thuyền và lật thuyền mới biết sức dân như nước”(Nguyễn Trãi) cho nên ông
mong có một trận mưa nhuần tắm gội núi sông cho cỏ cây không còn khô héo, cho dân lành
bớt đau thương; ông mong có đội quân chính nghĩa dấy binh tiểu trừ bạo ngược để trên trái
đất này không còn chiến tranh. Ước vọng chân chính của nhà thơ cũng chính là ước vọng
của nhân dân Việt Nam. Chính vì thế, trong Nguyễn Bỉnh Khiêm-Nhà thơ lớn thế kỷ XVI,
Nguyễn Phương Chi có lời bình khá thuyết phục về Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Ông là người nói
lên tiếng nói chung của tầng lớp sĩ phu, hơn thế nữa, là người phát ngôn những nguyện vọng
của quần chúng trong giai đoạn chế độ phong kiến suy tàn. Thơ văn ông là khát vọng hòa
bình, là nỗi lo lắng về tương lai của đất nước, là nỗi hoài nghi trật tự phong kiến, một trật tự
mà đến thế kỷ XVI đã bị xáo trộn”.[79, tr.269]
2.1.3. Đạo đức xã hội suy đồi, thế lực đồng tiền chi phối cuộc sống và những mối
quan hệ gia đình- xã hội
Xã hội trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một xã hội suy đồi về đạo đức. Theo
ông, nguyên nhân đầu tiên biến một xã hội thịnh vượng thành suy tàn, một xã hội mà “Kẻ
dân mọn được hưởng cảnh cực trị”(Cảm hứng-ba trăm câu) thành xã hội “tối tăm u ám” là
vì trong triều thì “Đám tóc dài tràn ra cái nọc dâm độc. Trong phòng riêng có cái mưu thoán
thí” (Cảm hứng-ba trăm câu); bọn vua quan chẳng những quen thói xu nịnh, luồn cúi nhục
nhã: “Mềm gối cóc khô, mềm gối mãi. Uốn lưng rùa mốc, uốn lưng dài”(Thơ Nôm, bài 134)
mà còn tranh giành đối địch chém giết nhau chỉ vì danh lợi: “Lúc bình thường có khi cùng
hợp nhau. Vào triều đình lại quay ra đố kỵ”(Cảm hứng-ba trăm câu). Trong gia đình, cái
tình thân hiếu đạo giữa cha con không còn. Ngoài xã hội, vì quyền lợi, vì “Lòng tham chưa
no chán. Chỉ cốt thân mình béo”(Đến quán xem cá…) mà con người sẵn sàng:
“Kiếm chước tạo thêu, không hóa có.
Tìm điều đặt bỏ, ít nên nhiều,
Phải chăng rối lý, khôn bề đoán
Kiện cáo xui người, đến nỗi xiêu…”
(Răn người kiện cáo, gian giảo)
Ngòi bút của người thầy trên dòng sông Tuyết Giang đã không ngừng phơi bày những cách
ứng xử thiếu tình người của con người trong xã hội đồng tiền. Nhắc đến xã hội đồng tiền là
nhắc đến một xã hội có sự phân chia giai cấp rõ rệt giữa giàu-nghèo. Giàu-nghèo không phải
là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự suy đồi về đạo đức của con người nhưng chính vì muốn
làm giàu mà con người sẵn sàng làm điều trái với đạo nghĩa. Chính vì quá nghèo khó mà
con người sẵn sàng quên đi đạo làm người. Có thể nói, nhà thơ có nhiều bài thơ đề cập đến
đề tài giàu-nghèo nhưng điều thú vị là mỗi bài thơ diễn đạt bằng các ý tưởng khác nhau,
bằng các hình thức, giọng điệu khác nhau làm cho mỗi bài thơ có nét độc đáo riêng, ý tứ
thâm thúy riêng. Có lúc Nguyễn Bỉnh Khiêm quan niệm con người sống ung dung (giàu)
hay lôi thôi, lếch thếch (nghèo) là do qui luật tuần hoàn, luân chuyển từ người này sang
người khác: “Giàu chỉnh chện, khó lai dai. Vần chuyển lưu thông há của ai”(Thơ Nôm, bài
2). Nhà thơ khuyên chớ có tranh giành, hay cố công tìm kiếm sự giàu có vì con người được
phú quý hay không là do số mệnh xoay vần, do “thời” đến: “Mới hay phú quý bởi thời vần”.
Nhà thơ còn nhắc nhở người đời chớ có lượm lặt, khúm núm, luồn cúi để được tiền tài bởi
“Tiền tài là số của lưu thông. Cắp nắp làm chi cho nhọc lòng?”(Thơ Nôm, bài 68); Và một
khi đã chấp nhận giàu-nghèo là qui luật tự nhiên, không thể thay đổi được thì nên: “Yên
phận thì hơn hết mọi điều”(Thơ Nôm, bài 3). Có lúc ông đã dùng cách nói của dân gian:
“Giàu ba bữa, khó cũng đỏ lửa ba lần” để nói đến sự chênh lệch rõ rệt về cách sống, mức
sống của những kẻ giàu sang và người nghèo khó:“Giàu ba bữa, khó hai niêu”(Thơ Nôm,
bài 3) hay “Giàu cơm thịt, khó cơm rau”(Thơ Nôm, bài 4). Có lúc, bằng giọng mỉa mai
châm biếm, ông phơi bày thói đời đen bạc trong cuộc đời. Hễ giàu sang thì có nhiều người
đến cầu cạnh, xu nịnh và bần tiện, nghèo khó ắt sẽ bị xem thường. Bởi vì trong xã hội kim
tiền thì: “Giàu: người hợp, khó: người tan”(Thơ Nôm, bài 46). Cho nên, khi giao tiếp, dẫu
có ai chào hỏi họ cũng lẳng lặng làm ngơ để khỏi bận lòng:
“Giàu sang: người trọng, khó: ai nhìn?
Mấy dạ yêu vì kẻ lỡ hèn,
Thuở khó, dẫu chào, chào cũng lặng
Khi giàu, chẳng hỏi, hỏi thì quen.
Quen, hiềm dan díu điều làm bạn,
Lặng, kẻo lân la nỗi bạ men.”
(Thơ Nôm, bài 5)
Có lúc Bạch Vân cư sĩ an ủi người đời bằng học thuyết của Khổng Tử. Tư tưởng “Thiên
mệnh” hay số phận đã được ông khéo léo đưa vào trong những câu thơ tiểu đối. Nếu Phùng
Khắc Khoan trung thành với quan niệm của đức Khổng Tử: “Giàu sang sắp xếp mệnh trời
cho” (Tự thuật, bài 1) thì Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng cho rằng cuộc đời con người đã được
ông trời an bài. Vì thế, người đời đừng bận tâm, tránh so bì : “Giàu mặc phận, khó đâu
bì”(Thơ Nôm, bài 84) và nên “Giàu, khó đành hay chỉn phận mình”(Thơ Nôm, bài 85). Vả
lại, nghèo khó đâu phải là cái họa; giàu sang cũng đâu phải là cái phúc. Câu chuyện về Nhan
Tử, Thạch Sùng vẫn còn đó như là một lời cảnh báo, lời khuyên nhủ cho mọi người. Chỉ có
một giỏ đựng cơm, một bầu chứa nước thôi mà Nhan Tử chẳng âu lo vì được thầy Khổng
Tử yêu trọng. Còn giàu có như Thạch Sùng cũng chẳng có ý nghĩa gì, vì cuối cùng cả gia
đình, tài sản bị tiêu tan do quyền thế. Cho nên:
“Giàu vì phận, khó vì phận
Khôn mặc người, dại mặc người”
(Thơ Nôm, bài 134)
Chính vì “biếng chen chân”(Thơ Nôm, bài 87) vào chốn quyền môn nên Nguyễn Bỉnh
Khiêm “Chẳng chịu dấn thân vào cái nguy cơ của sự giàu sang”(Ngụ hứng, bài 6). Ngoài ra,
nhà thơ còn vận dụng cách nói của tục ngữ: “Nhà giàu trồng lau ra mía, nhà khó trồng củ tía
ra củ nâu” để nói về thời vận của người nghèo. Người nghèo khó thường hay gặp tai vạ,
thường hay chịu nhiều oan trái:
“Yên phận mà thôi, chớ chớ cầu
Gặp sao hay vậy, có làm sao?
Giàu được dịp, lau nên nứa,
Khó thua mòn, củ hóa nâu.”
(Thơ Nôm, bài 137)
Bên cạnh đó, bằng giọng đắng cay chua chát, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nêu bật sự giả dối, sự
lừa lọc trong mối quan hệ giữa người với người. Lời thơ tuy nhẹ nhàng nhưng chất chứa
nhiều bài học về đường đời lắm chông gai, về thế thái nhân tình, về cách đối nhân xử thế.
Bề ngoài, trước mặt người khác, con người có thể “thơn thớt nói cười”(ca dao), nói năng
ngọt ngào “mềm tựa lạt”; có thể uốn lưỡi mềm dẻo như uốn chiếc kim chì “Lưỡi đưa trước
mặt giống kim chì”(Thơ Nôm, bài 102) nhưng bên trong, sau lưng, họ không từ bất cứ thủ
đoạn nào khi “chẳng bằng lòng”; lời nói của họ có thể “sắc như chông”, “như dao nứa”.
Từng cặp câu thơ vừa mang ý nghĩa đối lập phơi bày những biểu hiện suy đồi về đạo đức
vừa bộc lộ thái độ ngao ngán của nhà thơ trước tình đời:
“Người ta bằng mặt, chẳng bằng lòng,
Đo đắn cho hay sự sá phòng
Lưỡi thế gẫm xem mềm tựa lạt,
Miệng người toan lại, sắc như chông.
Ăn cùng, thốt khác nhiều điều dữ,
Nói thực, làm hư những chước vòng
Kham hạ thánh nhân còn dõi để,
“Xảo ngôn” hai chữ chép dòng dòng.”
(Thơ Nôm, bài 127)
Quả thật, việc đời khó lường, lòng người khó đo. Bằng cách nói vừa cụ thể vừa ẩn ý,
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vẽ ra một xã hội trọng của hơn trọng người, đã nói lên một điều có
tính triết lý về mối liên hệ giữa nhân và quả. Khi giàu sang, khi có quyền có
thế trong tay, biết bao người xu phụ xung quanh. Khi nghèo khó, khi rơi quyền mất chức,
hàng xóm láng giềng đều xa lánh. Cũng như cánh cửa này có nhện giăng tơ vì thiếu bóng
dáng con người; tấm thớt kia có tanh mùi thức ăn thì ruồi mới sa vào; cái ang nọ có mùi mỡ,
có mật ngọt nên kiến nào chịu đi; nhị kia có kết thành hoa, hoa có tỏa hương thơm thì ong
mới đến đỗ. Thói đời đen bạc là thế! :
“…Đắc thời, thân thích chen chân đến,
Thất thế, hương lân ngoảnh mặt đi.
Thớt có tanh tao ruồi đậu đến,
Ang không mật mỡ kiến bò chi?”
(Thơ Nôm, bài 53)
Sở dĩ thói đời đen bạc là vì ai cũng có lòng thiên tư. Từ câu “Nhân, mạc tri kỳ tử chi ác, mạc
tri kỳ miêu chi thạc”(Đại học) và “Treo đầu dê, bán thịt chó”(Tục ngữ), nhà thơ đã phơi bày
sự tham lam, sự giả dối lừa lọc của người đời:
“Dù thiệt dù hơn, phận tự nhiên,
Hiểm thay người thế dạ tư thiên.
Nết con dữ, chẳng hay rằng dữ,
Ruộng lúa nên, còn biểu chửa nên.
Lân thế treo dê mang bán chó…..”
(Thơ Nôm, bài 124)
Có thể nói, xã hội thế kỷ XVI với biết bao cảnh chém giết lẫn nhau để tranh danh
đoạt lợi, biết bao thủ đoạn lừa lọc bất nhân, phản trắc và thái độ tham quyền cố vị của con
người đã lần lượt đi vào trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nào là cảnh: “Trả đũa, máu
chảy thê thảm. Tranh ăn, tay bị hủy thương…”(Cảm hứng-ba trăm câu) để tranh quyền đoạt
vị giữa các tập đoàn phong kiến diễn ra khiến nhà thơ quặn lòng. Nào là cảnh giành giựt để
giữ miếng cơm manh áo của con dân khiến nhà thơ vừa đau xót vừa bất bình. Câu thơ
không chỉ là lời kể về chuyện đời mà còn là lời chỉ trích thói đời:
“Ở thế làm chi cười lẫn nhau,
Giàu chê khó, khó chê giàu.
Người hàng thịt nguýt người hàng cá,
Đứa bán bò gièm đứa bán trâu.
Bé vú thở than người cả vú,
Ít râu ánh ỏi kẻ nhiều râu.
Mặc trời phú tính yên đòi phận,
Ở thế làm chi cười lẫn nhau.”
(Thơ Nôm, bài 112)
Một bức tranh hiện thực xã hội suy sụp, lỏng lẻo về tam cương, ngũ thường lần lượt hiện rõ
mồn một trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Làm sao nhà thơ không đau lòng trước một viễn
cảnh u ám tối tăm đang dần phủ lên đất nước. Làm sao nhà thơ không than tiếc trước việc lễ
nghĩa càng lúc càng bị lãng quên. Đạo vua tôi, tình cha con, nghĩa vợ chồng, lòng hữu ái
anh em…có còn bền vững hay không trước một xã hội “Cương thường ngày một suy sụp,
lỏng lẻo”, suy đồi về đạo đức, trước viễn cảnh: “Thế sự xem ra tựa bọ giòi”(Tự thuật, bài 1-
Phùng Khắc Khoan)
Sở dĩ đạo đức xã hội thế kỉ XVI rơi vào tình cảnh như vậy là vì từ khi nhà Mạc lên nắm
chính quyền, xã hội dần dần được ổn định và phát triển. Với sự xuất hiện của ngành thương
nghiệp, đồng tiền ngày càng phát huy vai trò và tác dụng của nó đối với cuộc sống của con
người. Đồng tiền chẳng những thúc đẩy việc giao lưu kinh tế được thuận lợi mà còn có thể
làm đảo lộn những chuẩn mực giá trị đạo đức đã hình thành từ nghìn năm nay. Qua ngòi bút
của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đồng tiền có thể làm lũng đoạn nhân cách con người, chi phối
cuộc sống con người, từ đó dẫn đến sự suy đồi về đạo đức và làm thay đổi mối quan hệ gia
đình-xã hội. Nếu Nguyễn Khuyến chỉ trích mạnh mẽ thói tham tiền mà quên đi điều sĩ nhục
quốc thể của bọn tham quan ô lại: “Tham tiền cột mỡ lắm anh leo”(Hội Tây) còn Tú Xương
chua chát phê phán những cái tệ nạn trong giới quan trường: “Chữ “y” chữ “chiểu” không
phê đến. Ông chỉ phê ngay một chữ tiền.”(Đùa ông Phủ) thì Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng ngao
ngán cực tả sự tham lam của lòng người: “Lập danh cỡi hạc lại đeo tiền…”(Thơ Nôm, bài
124). Rõ ràng đồng tiền đã làm cho con người quên đi nhân nghĩa mà chỉ chăm chăm nhớ
đến vàng mười:“Đời này nhân nghĩa tựa vàng mười”. Từ “này” trong câu thơ vừa là lời xác
tín về xã hội thế kỷ XVI vừa bộc lộ một thái độ bất bình về cuộc đời, bởi “Đời chẳng trọng
người bằng trọng của”(Thơ Nôm, bài 104). Chính vì vậy, bằng giọng mỉa mai cay đắng, nhà
thơ khẳng định sức mạnh của đồng tiền. Tiền của có thể làm thay đổi mối quan hệ trong gia
đình và ngoài xã hội:
“Đời này nhân nghĩa tựa vàng mười
Có của thì hơn hết mọi lời.
Trước đến tay không, nào thốt hỏi?
Sau vào gánh nặng, lại vui cười.
Anh anh, chú chú mừng hơ hãi,
Rượu rượu, chè chè, thết tả tơi.
Người, của lấy cân ta thử nhắc,
Mới hay rằng của nặng hơn người.”
(Thơ Nôm, bài 74)
Một xã hội mà có “của nặng hơn người” thì làm sao không xảy ra bao cảnh trái ngang. Bởi
khi còn “thời”, còn bạc, còn tiền thì còn tình gia đình, nghĩa bạn bè: “Còn bạc, còn tiền, còn
đệ tử”(Thơ Nôm, bài 71). Trái lại, khi “thất thế”, hết tiền, hết bạc thì tình thân cũng ngoảnh
mặt đi: “Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi”(Thơ Nôm, bài 71). Từng câu thơ dường như bộc lộ
tư tưởng bi quan chán ngán tình đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Âm thanh “thinh thỉnh” của
đồng tiền len vào trong tâm trí của nhà thơ. Chỉ cần nghe tiếng vang của đồng tiền là con
người sẽ không còn tranh cãi với nhau về đạo này nghĩa nọ:
“Đạo nọ, nghĩa này, trăm tiếng bướm,
Nghe thôi thinh thỉnh lại đồng tiền”
(Thơ Nôm, bài 5)
Bằng cách nói ẩn ý, một lần nữa, nhà thơ khẳng định giá trị của đồng tiền, sức mạnh của
đồng tiền. Đồng tiền “chảy” vào nhà càng nhiều thì tình nghĩa giữa con người càng cân càng
nặng. Lúc ấy, khách không mời cũng “tưng bừng đến”. Ngược lại, người ta càng “linh lỉnh
đi”, bàng quan trước cảnh “nhà khó tay không”:
Tiền ròng bạc chảy, tưng bừng đến,
Nhà khó tay không, linh lỉnh đi.
(Thơ Nôm, bài 102)
Nói chung, những dòng thơ triết lý của người thầy Tuyết Giang chính là tiếng chuông
cảnh tỉnh mọi người hãy quay về với đạo lý Thánh hiền; chính là một bức tranh xã hội suy
đồi về đạo đức. Lời thơ như là một bài học sâu sắc có tác dụng giáo dục nhân cách con
người, giáo dục mọi người cách ứng xử trong cuộc sống. Bởi vì, theo ông: “Ai là người biết
rằng chỗ vui nhất. Chỉ là ở chỗ làm điều thiện mà thôi”.
2.2. Cách lý giải những vấn đề cuộc sống
2.2.1. Quan niệm về công danh, tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến”.
Có thể nói Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những nhà Nho có bản lĩnh, chủ động
trên con đường xuất xử. Cùng chung chí hướng với các nho sĩ yêu nước, ông chủ động chọn
con đường công danh để thỏa chí đem tài năng ra giúp dân, giúp nước. Nếu Nguyễn Trãi
trải lòng với bạn thơ: “Từ ngày gặp hội gió mây. Đền đáp công ơn chưa về được mấy
chút”(Trần Tình I) và Phùng Khắc Khoan tâm sự “Cần cù quyết thỏa chí công danh” (Tự
thuật, bài 2) thì Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng cảm nhận: “Hội cả công danh nhiều thỏa
chí”(Thơ Nôm, bài 10). Ông thỏa chí vì trên bước đường lập sự nghiệp công danh, ông đã
dốc lòng vì nước, vì dân. Chữ “danh” thường xuất hiện trong thơ ông như là sự bày tỏ một
quan niệm, một hoài bão. Hoài bão trong ông là: “Nối nghiệp nhà xưa học một kinh”(Thơ
Nôm, bài 125) nhưng “Chẳng ngờ lạc đến áng công danh”(Thơ Nôm, bài 125). Đó là thứ
công danh chân chính, lập công và lưu danh thơm cho đời sau, chứ không phải là thứ công
danh phù phiếm, không phải thứ giàu sang, quyền vị nhất thời như bao người đã nghĩ. Cho
nên, tuy “áng công danh, xem trễ nải”(Thơ Nôm, bài 18) nhưng bất cứ lúc nào, ông cũng
“thức và ngủ không bỏ tấm lòng luyến chúa”(Con vẹt). Bất cứ trường hợp nào, ông cũng:
“Sinh bình chí nghĩa quan hoài thiết,
Dạ bán sơn gia nhập mộng dung.”
(Phụng can tòng phát hành thuật hoài- bộVăn Đạt Bá vận)
Như vậy, con đường công danh chính là con đường giúp Nguyễn Bỉnh Khiêm thực hiện chí
hướng đã ôm ấp bao năm dù ông biết rằng tạo hóa xếp đặt luật thừa trừ là có danh thì có
lụy, càng yêu danh bao nhiêu càng hứng nhọc nhằn bấy nhiêu, càng đam mê cái gì thì càng
vất vả vì cái đó. Có lẽ, nhà thơ thấu hiểu
sâu sắc điều đó nên mãi đến năm 44 tuổi ông mới bước đến cửa “danh”:
“Một cơ yêu nhục, đổi thay đều,
Yêu bao nhiêu, thì nhục bấy nhiêu.
Tham, phải áng công danh lụy,
Muộn, do con tạo hóa trêu…”
(Thơ Nôm, bài 25)
Và cho dù trên con đường đi đến “cửa mận, đường tía”, Nguyễn Bỉnh Khiêm thuận lợi hơn
Nguyễn Trãi nhưng có lúc, ông cũng cảm nhận: “Thấy dặm thanh vân, bước ngại chen”(Thơ
Nôm, bài 8). Nếu Nguyễn Trãi:“Danh lợi lòng không hề có ý cầu mong”(Trần tình V-
Nguyễn Trãi) còn Nguyễn Công Trứ thì xem: “Cái công danh là cái nợ nần”(Thơ Nguyễn
Công Trứ) thì Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy làm quan nhưng vẫn coi thường công danh phú quý,
vẫn không màng đến công danh, không tìm cách chiếm lấy công danh: “Áng công danh sá
cắp tay”(Thơ Nôm, bài 70). Bởi ông nghĩ rằng: “Phù thế công danh hưu thuyết trước” (Công
danh phù thế nhắc đến làm gì- Thơ ngẫu thành, bài 2). Nó như là dòng nước chảy cuồn
cuộn không ngừng, theo đuổi làm chi cho nhọc lòng. Nó như cơn gió nhẹ nhàng lướt qua
những bông hoa: “Danh lợi lâng lâng: gió thổi hoa”(Thơ Nôm, bài 1). Bởi cuộc đời này
không đơn giản như ta tưởng. Nó như một bàn cờ đầy phức tạp. Nếu thế gian đủ mùi đủ vị:
“Mặn, nhạt, chua, cay lẫn ngọt, bùi” thì trong đó, con đường danh lợi cũng lắm chông gai,
nhiều hiểm hóc: “ Đường danh lợi có chông gai”(Thơ Nôm, bài 40). Nó đầy chông gai vì khi
có công danh, có quyền cao chức trọng thì dễ bị người đời ganh ghét. Ganh ghét tất sẽ dẫn
đến hãm hại. Khi ấy, sẽ lụy đến thân và đến danh. Hóa ra, tự mình tạo cái lụy cho mình, tự
mình tạo cái nạn cho mình: “Thưở áng công danh, nhiều phải lụy”(Thơ Nôm, bài 9):
“Nẻo có công danh thì có lụy
Cho hay dù có chẳng bằng chăng.”
(Thơ Nôm, bài 16)
Từng nghiên cứu sử sách của người đời xưa, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất tâm đắc với hạng ẩn sĩ
Lã Vọng. Là người có bản lĩnh trong quan niệm xuất xử, cũng như Lã Vọng, ông cho rằng
việc ra làm quan hay về ở ẩn đều do ý thích của bản thân. Tuy có khoảng thời gian làm quan
với triều Mạc nhưng ông không phải là hạng người ham công danh phú quý. Ông luôn có
thái độ dứt khoát khi xuất và khi xử. Vì vậy, ông sẵn sàng từ bỏ chốn quyền môn về trí sĩ
bầu bạn cùng sơn thủy hữu tình:
“Trước đây từng là khách nơi ngựa vàng nhà ngọc
Bây giờ là người bạn của non xanh nước biếc”
(Thuật ý mình-bài 1)
Không phụ lòng người bạn “non xanh nước biếc” năm xưa đã ước hẹn, Nguyễn Bỉnh Khiêm
chủ động cởi bỏ mũ nho, đai vàng; tự do tự tại làm theo ý thích riêng: “Già đã khỏi áng
công danh”(Thơ Nôm, bài 15). Bên cạnh đó, ông chủ động xa lánh công danh cũng vì không
thực hiện được hoài bão. Hoài bão của ông là xây dựng một xã hội như đời Thuấn, Nghiêu,
một đất nước mà “Thái bình thiên tử thái bình dân”. Thiên tử không minh, dân không hạnh
phúc, niềm mơ ước thời trẻ không thành: “ Thân xưa hương lửa chăng còn ước”(Thơ Nôm,
bài 51), ông dứt khoát: “Công danh hai chữ đã nhường người”(Thơ Nôm, bài 109). Nếu Ức
Trai “Rút lui về, may giữ được nết bầy tôi trung”(Trần Tình I-Nguyễn Trãi) thì Bạch Vân
cư sĩ cũng quan niệm rằng:
“Vì danh cho phải lụy đòi phen,
Phận khó khăn xưa ắt đã quen.
Cửa mận, người yêu, nhiều khách trọng,
Am hoa, ai ủ đến ông nhàn.
Xuân xanh khôn lại, lòng thêm cảm,
Đường tía đã qua, bước ngại chen.
Ngu dại trần trần là tích cũ,
Mặc dầu ai, cũng ắt chăng đen.”
(Thơ Nôm, bài 22)
Đồng suy nghĩ với Nguyễn Trãi về nhân tình thế thái: “Miệng thế nhọn hơn chông mác
nhọn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nghiệm rằng: “Đường thế nhiều nơi hiểm hóc thay!”, cho
nên khi “Chí cũ công danh đã phỉ nguyền”, ông muốn quay về làm bạn với loài chim âu lộ
bay khắp đó đây, sống tự do phóng khoáng, mặc cho thế sự đua chen :
“Cùng bầy âu lộ, từng quen mặt,
Khỏi áng công danh lại đắp tai
Ba bảy mươi nào lòng lẫn được,
Làm người chớ có sự chau mày.”
(Thơ Nôm, bài 32)
Nhìn chung, quan niệm về công danh hay quan niệm xuất xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm
có nhiều điểm tích cực cũng như hạn chế. Và cho dù thế nào đi nữa, khí tiết của Tuyết
Giang phu tử vẫn sáng ngời trong lòng dân tộc Việt Nam. Trên bước đường tìm kiếm công
danh, cho đến khi “công danh đã vẹn”, cũng như khi rời khỏi chốn quan trường, người thầy
Tuyết Giang vẫn giữ tấm lòng ưu ái, bền lòng vững chí, không để bất cứ thế lực nào khuất
phục, không lung lay trước bất kỳ những sự ràng buộc nào trong cuộc đời, bỏ mặc ngoài tai
những lời chê khen của thế gian::
“Công danh đã vẹn, sá về nhàn
Chẳng quản ai chê, chẳng quản khen”
(Thơ Nôm, bài 128)
2.2.2. Quan niệm sống nhàn và tình yêu cuộc sống
Khi bàn về lối sống nhàn của nhà hiền triết, Trần Thị Băng Thanh, Vũ Thanh cho
rằng : “Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà nho có bản lĩnh, một trí giả. Tìm đến với sự nhàn dật
chính là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm về với cái vụng, cái chuyết mà theo quan niệm của Nho
gia, đã được điều chỉnh bởi quan niệm của đạo Lão, mới là bản chất tự nhiên của sự vật .
Chính quan niệm nhàn dật đạt tới ý vị triết học đó đã tạo nên một Nguyễn Bỉnh Khiêm-
Bạch Vân cư sĩ tự do, tự tại, giản phác, hồn nhiên, lạc quan, khỏe khoắn, rất hiếm thấy trong
làng thơ nhàn thời trung đại” (Sức sống của thơ ca và tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm)[60,
tr.34]
Trân trọng về quan niệm nhàn của Bạch Vân cư sĩ, Lê Trọng Khánh-Lê Anh Trà cho rằng:
“…tính chất nhàn tản của Nguyễn Bỉnh Khiêm thực chất không phải yếm thế, xu thời, ích
kỷ và hoàn toàn hưởng lạc….tư tưởng nhàn tản của Nguyễn Bỉnh Khiêm có những khía
cạnh tích cực, phù hợp với tư tưởng hành đạo của Nho giáo…. Đó là nhân sinh quan của
Nguyễn Bỉnh Khiêm, gồm những quan niệm về chính trị và đạo đức. Nó xuất phát từ một
triết lý vũ trụ biến dịch theo lẽ tự nhiên, có quy luật, có mâu thuẫn, xuất khi thuận tiện, xử
khi thấy mình bất lực, nhưng trong cái xử ấy vẫn có phần thúc đẩy tự nhiên tiến tới có lợi
cho nhân dân quần chúng.”(Nguyễn Bỉnh Khiêm-nhà thơ triết lý)[60, tr.247]
Còn trong Tinh thần Phật học của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Minh Chi nhận định: “Tâm nhàn là
tâm siêu thoát, không vương vấn thế tục lợi danh. Đó là cái nhàn mà đạo Phật đề cao, cái
nhàn sống giữa đời mà vẫn vui với đạo, cái nhàn của người đã đoạn tuyệt với tham, sân, si,
cái nhàn của người sống đạo đức, sống trong sáng…..Đó là cái nhàn có đạo đức và trí tuệ.
Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm chuyên chở đến chúng ta một tư tưởng nhàn tiến bộ và tích
cực như vậy đó. Đó là truyền thống nhàn đích thực và quý báu của cha ông ta, dân tộc
ta.”[60, tr146]
Bài thơ Trí sĩ tác là một lời tâm sự khi về nhàn của người thầy trên dòng sông Tuyết Giang.
Ông bày tỏ thái độ dứt khoát từ bỏ danh lợi bằng từ “bất đãi” và niềm “phiêu nhiên” khi trở
về vườn cũ tình xưa. Đó là cái tình đối với cái thú an nhàn, với trời quang sắc liễu xanh
tươi, với chén rượu xuân nồng nàn hơi ấm của gió thơm mùi cây cỏ. Tuy ông khiêm tốn tự
nhận không phải là bậc lão thành về đạo đức của thiên hạ nhưng khi hưởng thú an nhàn ông
quả là “bậc tiên trên mặt đất”:
“Chẳng đợi ở cổng đô thành đặt cỗ cúng tổ thần,
Mà cái ý muốn trở về quê cũ đã lâng lâng.
Trời quang làm sắc liễu rỡ ràng, chén rượu xuân thêm đậm,
Buổi sớm đưa gió thơm đến, thuyền khách yên ổn.
Tuy chẳng nêu cao đức cũ, làm bậc lão thành của thiên hạ,
Nhưng hưởng thú an nhàn, cũng được là bậc tiên trên mặt đất.
Nhà nghèo muốn gây dựng cơ ngơi sinh sống,
Lại e rằng con cháu chưa chắc đã giỏi giang.”
Rõ ràng quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có ảnh hưởng tư tưởng vô vi của
Lão Trang. Trên con đường hành tàng, ông đã thực hiện được tôn chỉ của Đạo. Một điều
khá lý thú là tuy tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm có thấm nhuần triết lý vô vi của Lão
Trang nhưng thuật ngữ “vô vi” không thấy xuất hiện trong thơ của ông mà rải rác trong các
bài thơ là những từ mang đậm ý “vô vi” như “tự tại, thong thả, đủng đỉnh”. Tự tại vừa có ý
vô vi vừa bao hàm thái độ ung dung, thong thả của một con người chủ động trong quan
niệm xuất xử, hành tàng. Sống tự tại, an nhiên vì nhà thơ nghĩ rằng:“Tới lui mặc phận tự
nhiên”(Thơ Nôm, bài 51), vì “Tự tại, nào âu lụy đến mình?”(Thơ Nôm, bài 15). Cho nên,
ông tìm về chốn xưa “vui với tính tự nhiên của ta”(Ngụ hứng-bài 4), tự do làm theo ý thích
riêng và điều hòa, hoạt động theo sự vận động tự nhiên của trời đất:
“Phú quý lòng, phú quý danh,
Thân hòa tự tại, thú hòa thanh.
Tiền sen tích để bao nhiêu thúng
Vàng cúc đâm bông biết mấy giành
Ngoài cửa mận đào là khách khứa
Trong nhà cam quít ấy tôi mình.
Ai xem, ai chẳng hay là chớ,
Lại một ta khen ta hữu tình.”
(Thơ Nôm, bài 141)
Nhà thơ bằng lòng, thanh thản sống một cuộc sống thanh đạm nhưng tràn ngập niềm vui
không kém gì những kẻ thừa tiền nhiều của. Tuy chỉ có sen, cúc là thức ăn; mận, đào là
khách khứa; cam, quít là kẻ hầu nhưng nhà thơ vẫn cảm nhận sự giàu có do thiên nhiên ban
tặng. Vì trên đời này, mấy ai có sự giàu có bền vững bằng của cải của thiên nhiên “Một kho
tạo hóa cũng chia đều”(Thơ Nôm, bài 37). Cho nên, dù đã “Ngoài năm mươi tuổi, thân tự
tại”(Thơ Nôm, bài 54), nhà thơ vẫn thản nhiên “trọn mừng nước một bầu”(Thơ Nôm, bài
54). Ông nghĩ rằng:
“Yên đòi phận dầu tự tại
Lành dữ khen chê, cũng mặc ai”
(Thơ Nôm, bài 12)
Nhà thơ bỏ ngoài tai những lời khen chê của người đời, không còn bận tâm đến sự thay đổi
ở thế gian. Có lúc thong thả tâm sự cùng khách thơ bên song cửa: “Song hiên ngỏ cửa ngồi
xem sách”(Thơ Nôm, bài 66); có lúc sánh vai đối ẩm cùng tuế hàn nhị hữu “Trúc mai làm
bạn, hứng thơ nồng”(Thơ Nôm, bài 30), cùng “Gió mát trăng trong, rượu vài chén”(Thơ ngụ
hứng về quán Trung Tân-bài 6); có khi thì “Thong thả: hôm khuya nằm, sớm thức”(Thơ
Nôm, bài 3); cũng có khi, nhà thơ lui về chốn thôn dã hưởng thú điền viên, tự hào vì có “bốn
mùa đều hưởng thiên nhiên lộc”(Thơ Nôm, bài 81):
“Ngắm chơi đã trải miền thôn dã,
Hóng mát từng vui chốn thạch bàn.
Một cỏ hoa đều đủ được,
Rất vời thong thả cõi trần gian.”
(Thơ Nôm, bài 142)
Mấy ai có cách sống tự nhiên, tự tại như Bạch Vân cư sĩ “Tự tại ngày qua mấy kẻ
bằng.”(Thơ Nôm, bài 66). Vì thế, có những lúc an nhàn, nhà thơ nghĩ về một xã hội thái
bình, thịnh trị “Thong thả ngồi chơi cõi Thuấn, Nghiêu.”(Thơ Nôm, bài 81) mà lãng quên
mùi vị biến đổi của thế gian. Vì “thế thái khi tan hợp”, còn nhân gian có nhiều “thuở thắm
phai” nên làm người đời nhọc lòng. Để xa lánh thế tục nhiều chông gai, nhà thơ thường tìm
đến “nước trí, non nhân”. Dựa vào câu: “Nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thủy”(Luận ngữ),
Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn ca ngợi thú vui vừa bền vững vừa trí tuệ của các bậc ẩn sĩ xưa:
“Làm chi nghĩ ngợi, nhọc tinh thần?
Đắc thú thanh nhàn, ấy dưỡng thân.
Đủng đỉnh hôm mai, chơi nước trí,
Nghêu ngao ngày tháng, dạo non nhân”
(Thơ Nôm, bài 133)
Trong Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, ta không chỉ bắt gặp một Bạch Vân cư sĩ sống tự
do, tự tại, hòa mình cùng với thiên nhiên tạo vật; sống đạm bạc, thanh bạch mà còn có một
Tuyết Giang phu tử sống nhàn lánh đời nhưng luôn bày tỏ một tấm lòng hiếu sinh đối với
con người và vạn vật. Mấy ai có cùng quan niệm sống nhàn phóng khoáng như Nguyễn
Bỉnh Khiêm. Ông cho rằng:“Thanh nhàn ấy ắt là tiên khách” (Thơ Nôm, bài 31). Ta từng
ngưỡng mộ một ông tiên trong làng thơ là Lý Bạch. Ta từng xúc động trước tình cảm chân
thành của một ông thánh thơ là Đỗ Phủ. Nay ta lại bắt gặp trong thơ Việt Nam có một “ông
nhàn”, “ông tiên khách” ở “Am hoa”. Nơi đây, ngày ngày, nhà thơ lắng nghe tiếng cung
đàn, tiếng sáo hòa nhịp cùng tiếng vang của dòng sông và “Bên cửa sổ mây che, tiếng chim
gọi khách khoan thai”(Ngụ hứng-bài 6). Nơi đây, ông nhàn đối ẩm cùng với bạn tri âm bên
bàn cờ “Bàn cờ, cuộc rượu, vầy hoa trúc”(Thơ Nôm, bài 29). Bên cạnh đó, với cái thú học
hành, với “cái bệnh yêu thơ lâu ngày”, nhà thơ có “Trang đồ thư làm ta hiểu biết được tình
hình cổ kim.”(Ngụ hứng-bài 5). Cung cấp những vật liệu cho nhà thơ ngâm vịnh thì có gió
mát, trăng trong, “còn mừng có mai như có tuyết”(Thơ ngụ hứng về quán Trung Tân-bài
15), có cả “Cỏ thơm cung cấp ý xuân đầy đủ”(Ngụ hứng-bài 6). Khi thì “khát uống chè
mai”, khi thì “kề hiên nguyệt”, cảm nhận có cơn gió hiu hiu xua tan cái nóng bức, oi nồng.
Ông vui với cuộc đời giản dị mà không cần biết đến sự thay đổi của thế sự. Nếu phong cách
sống theo lẽ tự nhiên của Đào Duy Từ là: “Sớm thì dậy, tối thì nằm. Khát: đào uống, đói:
cày ăn”(Tư dung vãn) thì nối gót theo ý người xưa, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng: “Cày ăn, đào
uống, yên đòi phận”(Thơ Nôm, bài 50). Cuộc sống an nhàn như thế, làm sao Bạch Vân cư sĩ
không cho rằng:“Được nhàn, ta sá dưỡng thân nhàn”(Thơ Nôm, bài 8). Thân nhàn là thân tự
tại, là giữ được tính tự nhiên:
“Thanh nhàn dưỡng được tính tự nhiên,
Non nước cùng ta đã có duyên.
Dắng dỏi bên tai cầm suối
Dập dìu trước mặt tán sen
Xuân về, hoa nở mùi hương nức,
Khách đến, chim mừng dáng mặt quen.
Chốn ấy thanh nhàn được thú,
Lọ là Bồng đảo mới tiên.”
(Thơ Nôm, bài 118) .
Rõ ràng, lối sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải ai muốn là cũng được “Nhàn
được thú vui hay nấn ná”(Thơ Nôm, bài 29). Vì muốn trở thành “Khách nhàn sơn thủy
dưỡng thân nhàn”(Thơ Nôm, bài 41) thì người ẩn sĩ phải có bản lĩnh, có khí tiết và điều cốt
yếu là chấp nhận cuộc sống nghèo. Nghèo ở đây là nghèo về vật chất nhưng lại giàu có về
tinh thần. Tuy trước đây, nhà thơ từng là “khách nơi ngựa vàng nhà ngọc”, từng có lúc
hưởng vinh hoa phú quý nơi cửa quyền nhưng chí không thành, nhà thơ quay về làm bạn
với “tuế hàn tam hữu”(Nhà thông, đường trúc lòng hằng mến-Thơ Nôm, bài 41), sống cuộc
sống giản dị, đạm bạc nhưng thanh cao:
“Cơm ăn chẳng quản mùi xa bạc,
Áo mặc nề chi tấm rách lành.”
(Thơ Nôm, bài 85)
Lời thơ tuy phảng phất ý tứ của Nguyễn Trãi nhưng cũng chính là quan niệm sống nhàn của
Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông nhàn Bạch Vân cư sĩ từng tự hào về những thú vui cao nhã lúc về
nhàn và từ chối lối sống “nguy cơ của sự giàu sang”. Ông vẫn giữ vững khí tiết thanh cao,
không bị lung lay trước mọi cám dỗ của cuộc sống phong lưu. Người ẩn sĩ bao lần chứng
kiến cảnh: “Nhà ai đàn sáo say sưa thú vị phong lưu” nhưng “Riêng ta chuốc lấy chữ nhàn
để tìm thú vui chơi cao nhã”(Thơ Ngụ hứng về quán Trung Tân-bài 15). Thú vui chơi tao
nhã của Cư sĩ là dựng lên một cái lều giữa bốn bề thiên nhiên vắng vẻ, tĩnh mịch. Sống cuộc
đời đơn giản, chất phác cùng tạo vật. Bài thơ Nôm 67 quả là bức tranh nhàn vừa nên thơ, tự
nhiên, sống động vừa giản dị, thanh cao:
“Xóm tự nhiên, một cái lều,
Qua ngày tháng, lọ là nhiều?
Gió cuốn rèm, thay chổi quét
Trăng cài cửa, kéo đèn treo.
Cơm ăn chẳng quản dưa muối,
Áo mặc nài chi gấm thêu?
Tựa gốc cây, ngồi hóng mát,
Đìu hiu, ta hãy một đìu hiu.”
(Thơ Nôm, bài 67)
Người sống trong cảnh ẩn dật thanh bần luôn nghĩ về sự tri túc(biết là đủ), luôn tự làm chủ
bản thân, sống thuận theo tự nhiên, tự thay đổi cách sống sao cho phù hợp với hoàn cảnh
nhàn. Thức ăn do tự nhiên cung cấp người ẩn sĩ dùng thỏa thích, dùng mãi mãi. Có măng
trúc đắng thay cho cao lương mĩ vị; có áo vải thô thay cho chăn ngự hàn; có cá tôm, hươu
nai làm thú tiêu khiển…
“Xôi măng trúc đắng thèm thay thịt,
Đắp áo sô to lạnh kẻo chiên.
Bạn có cá tôm dầu được thứ,
Cửa chăng xe ngựa bởi khôn quyền.”
(Thơ Nôm, bài 19)
Xa lánh thế tục, xa lánh cửa quyền, trở về với cuộc sống ẩn dật an nhàn thì không còn lo gì
đến sự nguy hiểm ngặt nghèo. Vì “Nẻo có công danh thì có lụy” cho nên biết bao nho sĩ đã
chọn hướng “Đạp gót mong theo người ẩn dật”(Thơ Nôm, bài 85), với cách sống:
“Tính thơ dại cũ hãy còn đeo,
Nẻo được nhàn thì kẻo có nghèo.
Bến nguyệt, thuyền kề hai bãi mía
Am mây, cửa khép một cần pheo.
Cá tôm tối chác bên kia bến,
Củi đuốc ngày mua mé nọ đèo.
Khách đến hỏi: nào song viết?
Nữa rằng: còn một túi thơ treo”
(Thơ Nôm, bài 35)
Cũng có lúc vì chán ngán thói đời đen bạc, chán ngán cảnh tranh danh đoạt lợi,
“chán nhìn cái đời ô trọc chen vinh hoa hão huyền”(Ngụ hứng-bài 5) mà Nguyễn Bỉnh
Khiêm chọn lối sống nhàn. Đó là lối sống bàng quan, dửng dưng trước mọi sự tranh chấp
của người đời: “Dửng dưng mọi sự gác bên ngoài. Dầu được, dầu thua, ai mặc ai”(Thơ Nôm,
bài 40), bình thản không bận tâm trước lời hơn lẽ thiệt, tiếng lành tiếng dữ của búa rìu dư
luận: “Lành dữ khen chê, cũng mặc ai”(Thơ Nôm, bài 12). Nhà thơ nghĩ rằng việc mọi
người hơn, kém, cậy tài, cậy giỏi là việc của thiên hạ cho nên ông vẫn giữ quan niệm “ai
mặc ai”. Ông bày tỏ thái độ dứt khoát bằng từ ngữ đơn giản “mặc chê, mặc ai” nhưng dồn
chứa sự kiên định trong quan niệm riêng: “Dữ lành miệng thế, mặc chê khen” (Thơ Nôm,
bài 8, bài 36) hay “Thị
phi chẳng quản, mặc chê khen”:
“Giữ miệng cho hay, biếng nói năng,
Thìn lòng, hôm sớm hãy khăng khăng
Tranh khôn, ắt có bề lo lắng,
Chịu dại, làm chi nỗi thớt thăng.
Mảng tiếng dữ lành, tai quản đắp,
Thấy lời hơn thiệt, mặt bằng chăng…”.
(Thơ Nôm, bài 66)
Chính vì quan niệm rằng: “Thanh nhàn dưỡng được tính tự nhiên”(Thơ Nôm, bài
118), chính vì có thái độ: “Mảng tiếng dữ lành, tai quản đắp. Mặc ai chê miễn mặc ai
đàn”(Thơ Nôm, bài 46) cho nên Nguyễn Bỉnh Khiêm cương quyết chọn con đường “Lánh
trần, đến náu thú sơn lâm”(Thơ Nôm, bài 126). Có thể nói đó không phải là lối sống yếm
thế, bi quan mà là cách ứng xử tinh tế, linh hoạt trong quan niệm sống ở xã hội đầy biến
động về chính trị; là tính giản dị, trong sạch, thanh cao trong lối sống của các bậc ẩn sĩ.
Trong rất nhiều bài thơ Nôm, nhà ẩn sĩ bày tỏ thái độ dứt khoát với cảnh sống giàu sang,
quyền tước và bằng lòng với cảnh sống nhàn. Ông nghĩ rằng người nào ham giàu sang thì
yêu chuộng cảnh giàu sang. Sa vào cuộc sống đó chỉ khổ lụy cho thân danh. Còn riêng ai đã
được thanh nhàn thì nên quý trọng cái thanh nhàn:
“Người tham phú quý, người hằng trọng,
Ta được thanh nhàn, ta sá yêu”
(Thơ Nôm, bài 47)
Chính vì yêu cuộc sống thanh nhàn mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chọn con đường ẩn dật. Ông
nghĩ rằng người nho sĩ không thể vừa muốn đi con đường phú quý, vừa muốn đi con đường
thanh nhàn. Không thể tự mâu thuẫn với chính mình, tự tạo cho bản thân sự lo lắng, phiền
muộn:
“Ta đã thanh nhàn, người phú quý,
Dễ đâu hầu được lọn hai đàng. ”
(Thơ Nôm, bài 90)
Khi dâng sớ chém đầu 18 nịnh thần, với bản tính cẩn trọng, chắc hẳn Nguyễn
Bỉnh Khiêm đã nhận ra ông đang sống giữa những bầy lang sói. Cho nên, về nhàn đối với
ông cũng là một cách sống nhằm phủ nhận công danh để bảo toàn danh tiết. Trong bài thơ
Bạch lộ thi, nhà thơ ví mình như con chim hồng cất cánh bay vào khoảng trời cao rộng để
lánh xa thế tục. Nơi đó không còn một chút bụi trần, nhà thơ thả sức thung dung dạo chơi
cùng tuyết trắng, trăng tròn, sương mai và gió lạnh. Với khí tiết thanh cao, chim hồng “Đâu
chịu bám lấy chốn hồ ao để gửi hồn vào mộng?” cũng như nhà thơ đâu cần chịu cảnh luồn
cúi nhục nhã chốn quan trường:
“Cò trắng rửa sạch không còn một mảy bụi;
Một mình bay cao, nêu rõ phẩm cách như
chim hồng ở chỗ trời xa mờ mịt.
Lúc ôm tuyết, vầng trăng sớm treo trên ngọn thông;
Khi đội sương, gió lùa nơi bờ sông tạnh ráo um tùm…”
(Thơ Vịnh cò trắng-BVATT,qu.12, tờ 56b-Nguyễn Khuê)
Theo Nguyễn Bỉnh Khiêm, công danh là con đường trải đầy hoa thơm nhưng cũng không dễ
bước vì có nhiều chông gai, lụy phiền. Nếu cứ nấn ná, khăng khăng không dứt bỏ sẽ mang
lụy vào thân. Lúc ấy, danh không còn, thân cũng mất. Điều này, tác giả đã nâng lên thành
một triết lý sống với ý tứ rất thâm thúy. Khi tiết trời của mùa thu ấm áp đi qua, cái rét thấu
da của mùa đông dần tới, có ai biết được rằng loài trúc có danh thơm vẫn kiên cường chịu
đựng tuyết sương. Cũng như khi thời vận đến, mọi người dễ dàng thỏa chí công danh.
Nhưng khi thời vận qua, mấy ai còn giữ được khí tiết, danh dự và ngay cả bản thân:
“Cỏ hoa xuân đến cũng đầm hâm,
Thu muộn ai hay trúc có thơm…”
(Thơ Nôm, bài 33)
Vì thế, mấy ai đã thỏa chí công danh mà hiểu thấu sự thú vị của cuộc đời ẩn dật: “Thú
nhàn sơn dã, mấy hay mùi”(Thơ Nôm-bài 10). Sống nhàn là một điều may mắn, hạnh phúc
cho những ai đã lạc đến chốn công danh:“Thân nhàn phúc lại được về nhàn”(Thơ Nôm, bài
11). Về nhàn để hưởng tuổi tàn, để tránh lụy phiền, để tránh mọi sự rắc rối. Như vậy, trong
tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, triết lý “vô vi” đã nảy sinh triết lý “vô sự”,
2.2.3. Triết lý Vô sự, tư tưởng bất tranh, thái độ dĩ hòa vi quí
Khi bàn về Bạch Vân quốc ngữ thi tập, Nguyễn Quân có khẳng định: “Lại nữa,
cụ có chủ trương là chủ trương vô sự, nghĩa là không để có sự gì rắc rối, chớ đâu phải là chủ
trương vô vi nghĩa là không làm gì hết, cứ việc phó mặc cho con tạo xoay vần như ai kia đã
nghĩ chỉ vì cứ tưởng “vô sự” với “vô vi” là một…..Có thể nói sự lánh đời, nhưng còn
khuyên đời, còn mong ước đời và vẫn không quên ơn vua chúa, không phụ tình nước
non.”[60, tr.16]
Một điều đặc biệt là trong thơ của Bạch Vân cư sĩ, tuy thuật ngữ “vô vi” không xuất hiện
như là sự biểu hiện cho một quan niệm sống nhưng thuật ngữ “vô sự” và tư tưởng “yên
phận” thì có mặt rải rác trong từng câu thơ. Sống trong xã hội “cứ một hồi trị, lại một hồi
loạn”(Ý xưa cảm khái về thời thế) thì làm sao Cư sĩ không mong muốn “yên phận thì hơn,
yên phận thì lành”. Trải qua biết bao gian nguy, từng bước vào cửa mận tường đào, làm sao
Cư sĩ lại không thích sống cuộc đời phóng khoáng và càng không muốn dính dáng gì đến
thế sự. Nếu Phùng Khắc Khoan cho rằng lối sống vô sự là lối sống của các bậc tiên nhân và
tĩnh tâm là vị thuốc tốt nhất trên đời:
“Vô sự tức là tiên, chả có thuật tiên nào khác
Tĩnh tâm ấy là thuốc, chẳng có thuốc nào hơn”
(Thơ Khiển muộn)
Thì trong bài thơ Nôm số 19, thi sĩ chỉ mong ước một điều hết sức giản dị:
“Ngày ngày tiêu sái nhàn vô sự,
Tuy chửa là tiên ấy ắt tiên.”
Ông nhàn đã phó hẹn cùng non nước, cùng những cảnh vật hữu tình nên thơ “Hữu tình là
cảnh đà cùng hẹn” (Thơ Nôm, bài 42). Nơi hẹn ước là một thôn trang nho nhỏ nơi quê nhà,
trong đó có vườn có ao. Nhà thơ yêu quý đặt tên là am Bạch Vân và quán Trung Tân. Tuy
nó không nguy nga tráng lệ bằng Lục dã đường của Tể tướng Bùi Độ đời nhà Đường nhưng
nơi am, quán cũng có đủ thạch động, đào nguyên, hương thơm, rượu nồng, “ngông thơ tùy
ý phóng dật”; có cả âm thanh “tiếng chuông chùa làng văng vẳng giữa canh khuya”. Rõ
ràng “Vô sự thì tiên lọ phải tìm.”(Thơ Nôm, bài 42). Chỉ cần trong lòng không vướng bận
thế sự thì sẽ mãi mãi thư nhàn. Chỉ cần nghĩ đến cảnh trăm hoa đua nở giữa mùa xuân thì
mùa xuân
sẽ mãi mãi không già:
“Núi nhuộm sắc thu, xanh chuyển thành nhạt,
Sông lồng bóng nguyệt, sắc trắng ganh nhau.
Trong lòng không có cơ mưu thì tự nhiên vô sự,
Cửa sài ở quán Tân cứ mở suốt ngày.”
(Ngụ hứng-bài 8)
Quán Trung Tân mở cửa suốt ngày để đón “trăng thanh, gió mát lìa tương thức”(Thơ Nôm,
bài 84). Nhà thơ thả hồn vào nước biếc, non xanh; tâm hồn thanh thản nhẹ nhàng mặc thế sự
đôi co; rũ thay thảy mọi muộn phiền mà cười ngạo với gió đông:
“Đứng một mình vô sự trong lúc bóng xế,
Vấn khăn vải để lộ vầng trán mà cười ngạo với gió đông”
(Thuật ý mình-bài một)
Có lúc nhà thơ quan niệm vô sự là bất tranh và lánh đời là vô sự. Mà vô sự “ấy là tiên”. Bởi
lẽ, con người sống trên đời, dẫu có tài có khôn ngoan đến mấy cũng chẳng tránh khỏi có lúc
gặp khó khăn. Cho nên, để giữ gìn cuộc sống yên ổn, người đời nên lánh xa những chốn xấu
xa, những nơi lầu vàng gác ngọc; nên xử sự theo đúng đạo lý Thánh hiền, theo lẽ kinh
quyền:
“Ở thế có khôn thì có khó
Chữ rằng: “Vô sự tiểu thần tiên”
(Thơ Nôm, bài 64)
Triết lý vô sự chẳng những bày tỏ một quan niệm sống mà còn là lời khuyên về cách xử thế.
Triết lý đó bắt nguồn từ những ngày Nguyễn Bỉnh Khiêm chứng kiến cảnh người đời đua
tranh quyền lực, tranh nhau cái tiếng trượng phu “Đây cậy, đây khôn đây chẳng chịu. Đấy
rằng đấy phải, đấy không thua”(Thơ Nôm, bài 72) và cảnh con người tự phụ, kiêu căng
tranh khôn, tranh tiếng. Nếu không có cái nhìn sâu sắc về con người, không trải nghiệm
cuộc đời thì làm sao Nguyễn Bỉnh Khiêm có những lời khuyên thâm thúy đến như thế. Từng
câu thơ có tính triết lý nhưng không khô khan, đơn điệu trong cách diễn đạt. Để diễn tả cảnh
tranh chấp nhau vì quyền lợi, để khuyên người đời nên lấy sự hòa hảo với nhau làm điều cốt
yếu, nhà thơ mượn điển tích về loài vật “Bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi” trong Chiến
quốc sách và cảnh “Lươn kia hầu dễ kém chi cò”(Thơ nôm, bài 72). Để khuyên nhủ mọi
người không nên hăm hở đua tranh, giành giật danh lợi mà phải lo nghĩ đến lúc gặp khó
khăn, đến lúc phải rơi vào cảnh thất thế, đến lúc “Được thua sau mới ăn năn lại”(Thơ Nôm,
bài 75), nhà thơ sử dụng hình ảnh sinh động vừa có tính quy luật vừa có ý tứ sâu xa. Chẳng
bằng không xảy ra chuyện gì thì chẳng lo âu gì, chẳng bằng đừng sinh sự với ai thì chẳng
phiền muộn gì, chẳng bằng đừng ăn ở “Tráo trở, khôn ai thói bạc đen”(Thơ Nôm, bài 64) và
tốt nhất là “Vô sự chăng hơn có sự ru”(Thơ Nôm, bài 75) hoặc:
“Chữ rằng: “Nhân dĩ hòa vi quý”
Vô sự thì hơn, kẻo phải lo”
(Thơ Nôm, bài 72)
Nói chung, không tranh giành, dĩ hòa vi quí chính là tư tưởng bất tranh của Lão Trang
và cũng là triết lý sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không thôi nhắc nhở mọi người điều
ấy để khỏi rơi vào cảnh bất hạnh. Sống trong một đất nước mà “Cương thường ngày một
suy sụp, lỏng lẻo”, chiến tranh xảy ra liên miên, tàn khốc thì làm sao Tuyết Giang phu tử
không coi trọng “vô sự” hơn “ngọc vàng”. Sống trong một xã hội mà “ Giàu: trọng, sang:
yêu, khó: chẳng vì”(Thơ Nôm, bài 82) thì làm sao nhà thơ không để mặc ngoài tai những
tiếng thị phi:
“Mặc ai chê để, mặc yêu thương,
Vô sự thì hơn nữa ngọc vàng.”
(Thơ Nôm, bài 90)
2.2.4 Triết lý về qui luật xoay vần của cuộc sống
Trong bài “Chu Dịch”với thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phan Văn Các có nhận định:
“Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng như các nhà nho Việt Nam xưa kia, do hạn chế giai cấp và hạn
chế thời đại, không có một hệ tư tưởng triết học độc lập, đã tìm thấy ở Chu Dịch những
quan điểm triết lý mà họ cho là cực kỳ thâm ảo, vi diệu. Một số nhà trí thức kiệt xuất của
giai cấp phong kiến Việt Nam tiếp thu tư tưởng “vạn vật đều biến động” cũng như tư tưởng
“chuyển hóa của các mặt đối lập” là những yếu tố duy vật và biện chứng tuy còn thô sơ
nhưng có ý nghĩa khá tích cực của Chu Dịch và vận dụng nó vào hoạt động thực tiễn của
mình một cách có kết quả.”[60, tr.193]
Khảo sát thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, người viết nhận thấy triết lý về qui luật
xoay vần của cuộc sống của ông có ảnh hưởng tư tưởng thâm sâu của Chu Dịch. Vấn đề cốt
yếu mà người viết muốn đề cập đến là tác giả đã vận dụng linh hoạt triết lý này trong cuộc
đời như thế nào và đưa vào trong thơ văn nhằm muốn lý giải điều gì, mặc dù rải rác trong
nhiều bài viết, các nhà nghiên cứu đã hướng ngòi bút luận bàn về tư tưởng, về phương pháp
tư duy biện chứng-tư duy thế sự, về thế giới quan triết học, về nhân sinh quan của Nguyễn
Bỉnh Khiêm, đặc biệt là việc sử dụng các cặp từ phản nghĩa với mức độ đậm đặc và những
tứ thơ triết lý nhân sinh quán xuyến trong toàn bộ những dòng thơ của Bạch Vân cư sĩ.
Có thể nói Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những nho sĩ Việt Nam hứng thú tận dụng
sáng tạo các lời hào lời quẻ trong Kinh Dịch để lý giải cuộc sống. Bài thơ Độc Chu Dịch
hữu cảm là bài thơ vừa tâm đắc vừa biểu hiện ý tứ triết lý thâm sâu của ông. Các cặp từ đối
lập, thuyết Âm-Dương chẳng những nói đến quy luật biến hóa của thiên nhiên mà còn cảnh
báo người đời về thói đời:
“Xưa nay lẻ thì có chẳn, đầy rồi lại vơi,
Âm và dương tiêu tan đi rồi lại sinh sôi ra,
đủ nghiệm rõ lẽ thừa trừ của tạo hóa.
Quẻ Cấu có hào sơ lục(hào âm ở dưới) mới sinh,
tiến lên thì xấu, như con lợn cái đi luẩn quẩn,
Quẻ Bác có hào lục ngũ(hào âm thứ 5) đứng đầu các hào âm,
như đốc suất một đàn cá để được yêu thương.
(Cảm tưởng khi đọc Chu Dịch)
Trước hết, qui luật biến hóa của tự nhiên cũng như của xã hội được nhà thơ diễn đạt
bằng những dòng thơ độc đáo, giàu thủ pháp tượng trưng. Nhà thơ lấy sự vật, sự việc cụ thể
diễn ra thường xuyên trong cuộc sống để tượng trưng cho sự vật, sự việc là điều cát hung,
điều thủ xả, được mất, vụng khéo, vinh nhục…….(tư tưởng mâu thuẫn biến hóa). Khi giải
thích khởi nguyên của vũ trụ, ông đã dựa vào nguyên lý của Dịch xem Thái cực là vầng
nguyên khí chưa phân khai, là hình thái chuyển hóa đầu tiên của bản thể dẫn tới sinh thành
nên muôn vật. Tác giả dùng hình tượng này
để nói lên sự tuần hoàn của trời đất, sự chuyển biến của xã hội, sự thay đổi của tự
nhiên. Theo tác giả thiên, địa, nhân đã được sắp xếp và ổn định vị trí:
“Thái cực sơ triệu phân,
Tam tài định quyết vị,
Khinh thanh thượng vi thiên,
Trọng trọc hạ vi địa,
Trung tập nhi vi nhân
Bẩm thụ thị nhất khí”
( Thái cực từ lúc mới tạo lập đã phân chia,
Tam tài đã ổn định vị trí của chúng.
Nhẹ và trong bốc lên là trời,
Nặng và đục lắng xuống là đất.
Ở giữa tập kết lại thành người
Bẩm thụ cùng một khí chất….”
(Cảm hứng-ba trăm câu)
Dựa vào Kinh Dịch, nhà thơ chẳng những cắt nghĩa cụ thể thế nào là trời, đất, nhân mà còn
suy từ lời tượng của tám quẻ để biết sự vận động tuần hoàn của vũ trụ, biết được quan niệm
triết học và ý nghĩa nhân sinh của quẻ bói, nghiệm tiếng chim đỗ quyên kêu biết lẽ thịnh
suy: “Vừa kêu đã có nắng dương tràn”(Nghe đỗ quyên kêu thành thơ-Phùng Khắc Khoan):
“Suy từ tượng của tám quẻ, biết sự vãng phục của trời,
Nghiệm qua vài tiếng đỗ quyên, hiểu lẽ hưng suy ở đời..”
(Trung Tân quán ngụ hứng-thập)
Nếu không miệt mài, say mê nghiên cứu Kinh Dịch làm sao Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể
hiểu rõ hình tượng của quẻ Khảm là nước, nước luôn luôn trôi đi chảy mãi, vận động không
ngừng; hình tượng của quẻ Cấn là núi, núi đứng sừng sững vững vàng và không bao giờ di
động. Chỉ cần nắm ý nghĩa của hai quẻ Khảm và Cấn là có thể biết lẽ hành tàng, xuất xử của
một con người. Ngoài ra, theo Kinh Dịch, muôn việc muôn vật trong trời đất cứ nối tiếp
nhau sinh sản ra mãi mãi là do sự vận động không cùng của âm-dương (sinh sinh chi vị
dịch). Chỉ cần hiểu vị trí của âm dương
trong quẻ Phục là có thể thấy hoa mai bắt đầu nở vào tháng rét:
“Khảm: chảy, cấn: dừng rõ nét hành tàng,
Muốn biết cơ trời thần diệu, muôn sự vật cứ sinh sản ra mãi,
Hãy xem mai nở tháng rét, sẽ thấy một khí dương lại sinh ra.”
(Trung Tân quán ngụ hứng-thập nhất)
Vạn vật sinh ra và mất đi đều có cái lẽ vãng phục tuần hoàn của nó. Ngày, tháng, năm, thời
tiết, hoa cỏ bốn mùa sinh sinh, diệt diệt đều theo nguyên lý phủ định: “Mặt trời qua thì mặt
trăng đến, mặt trăng qua thì mặt trời đến. Mặt trời mặt trăng đẩy nhau mà ngày tháng sinh
ra. Rét qua thì nóng tới. Nóng qua thì rét về. Nóng lạnh đẩy nhau mà năm sinh ra”(Nhật
vãng tắc nguyệt lai, nguyệt vãng tắc nhật lai. Nhật nguyệt tương thôi nhi minh sinh yên. Hàn
vãng tắc thử lai, thử vãng tắc hàn lai. Hàn thử tương thôi nhi tuế thành yên-Chu dịch, “Hệ
từ, hạ”).
Hiện tượng mâu thuẫn biến hóa này là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt trong sáng tác của
Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông ghép triết lý này vào trong từng bài thơ để bày tỏ quan niệm xuất
xử của riêng ông. Từ một qui luật của tự nhiên dẫn đến qui luật của xã hội rồi nói về quan
niệm hành tàng, mấy ai có lối diễn đạt độc đáo, uyên thâm như Bạch Vân cư sĩ?. Chẳng hạn,
trong bài thơ Nôm số 98, nhà thơ bàn về con đường “xuất”, khẳng định dứt khoát chữ trung
với nhà Mạc; kế tiếp là diễn tả lẽ tuần hoàn biến dịch của thiên nhiên qua hiện tượng mọc
tàn của hoa sen, lên xuống của nước thủy triều; sau đó dựa vào quẻ Bĩ, quẻ Thái trong Dịch
lý mà nói về then máy màu nhiệm của Tạo hóa là hết âm đến dương, hết bĩ thôi thì thái; cuối
cùng, nhà thơ quay về cái lẽ suy thịnh tự nhiên của con người, hết xuất thì xử và kết thúc bài
thơ là sự ví von sinh động về động tác gấp vào bao nhiêu thì giương ra bấy nhiêu của cây
dù. Có thể hiểu rằng có xuất thì có xử, đó là cái lẽ đương nhiên:
“Bình cũ, song bình vẫn dấu hương,
Con công thần lỡ gọi rằng ương.
Sen, mùa trước đổi, mùa sau mọc,
Triều, cửa này ròng, cửa khác cường.
Âm đã lại dương, đành máy nhiệm,
Bĩ thôi thì thái, ấy cơ thường.
Thế gian mựa biết nhàn làm tiện
Dù gấp bao nhiêu, dù lại giương.
(Thơ Nôm, bài 98)
Xuân, hạ, thu, đông qua đi rồi trở lại là lẽ tuần hoàn của tự nhiên. Cho nên, người đời đừng
tự trách cuộc đời sao dài quá, vì “Một phen xuân tới một phen già”(Thơ Nôm, bài 1), đừng
nuối tiếc những gì đã qua vì “Xuân ấy qua thì xuân khác còn”(Thơ Nôm, bài 29). Sống trong
thời đại đầy biến động, lúc trị lúc loạn, nếu không tự trang bị cho mình một tư tưởng Dịch lý
thì Nguyễn Bỉnh Khiêm làm sao có thể chủ động trên con đường xuất xử, làm sao có đủ bản
lĩnh và tinh thần lạc quan để bước vào cuộc đời đầy chông gai hiểm trở. Ông chẳng những
nghiên cứu ý nghĩa cao siêu của Kinh Dịch mà còn quan sát sự vận động của thiên nhiên để
từ đó trình bày quan niệm lúc hành lúc tàng của mình. Nếu trong bài Vịnh cảnh nghèo,
Nguyễn Công Trứ vẫn tin tưởng vào vận hanh thông của con người khi rơi vào cảnh cùng
quẫn:
“Số khá bĩ rồi thời lại thái,
Cơ thường đông hết lại sang xuân.”
thì Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa quan sát cảnh hoa mai nở rực rỡ vào cuối mùa đông vừa
nghiệm ra một điều vừa có tính quy luật bất tuyệt vừa có tính triết lý: khi mai nở thì người
đời biết rằng mùa đông sẽ qua mùa xuân sắp tới, cũng như triều đại này suy vong báo hiệu
có một triều đại hưng thịnh khác sẽ đến. Vì sao nhà thơ lại có tư tưởng độc đáo như thế ?
“Mai kia chưa dễ thu nên muộn
Xuân nọ tin hoa cũng mấy phen.”
(Thơ Nôm, bài 8)
Vì lẽ thừa trừ của tạo hóa nên con người cần giữ cái tâm bình lặng trước những phong ba
bão táp của cuộc đời, trước thế thái nhân tình. Lúc ấm cúng hãy nhớ đến những ngày lạnh
giá, khi mưa tuôn hãy nghĩ đến những ngày hạn hán. Và khi giàu sang, công thành danh toại
hãy nghiệm lại những lúc nghèo khó, lúc chưa đạt công danh. Lúc đắt thời, đừng vội khoe
tài, đừng vội háo hức khi “thân thích chen chân đến”, bởi vì lúc “Thất thế, hương lân
ngoảnh mặt đi.”(Thơ Nôm, bài 53). Để diễn tả triết lý vừa bình thường vừa sâu xa này, nhà
thơ vận dụng hàng loạt các cặp từ đối lập nhằm phê phán thói đời đen bạc:
“Lấy khi đầm ấm bù khi lạnh,
Chứa thưở khô khan, có thưở dào
Kìa nẻo Tô Tần xuân thưở trước,
Chửa đeo tướng ấn, có ai chào?”
(Thơ Nôm, bài 44)
Nhà thơ mượn điển tích nhà du thuyết Tô Tần thời Chiến quốc đeo ấn về quê để nói về nhân
tình thế thái. Mượn hình ảnh thay đổi vị trí của sao trên trời (vật hoán tinh di) để ám chỉ về
cái được, cái mất của công danh quyền quý. Theo Nguyễn Bỉnh Khiêm, sự sang giàu- thiên
hạ- giang sơn không nhất định của riêng ai mà sẽ thay đổi nay người này, mai đến người
khác. Đó là lẽ tự nhiên của Tạo hóa và cũng là lẽ tự nhiên của cuộc đời. Vì thế, được thì
cũng không lấy làm vui mừng, mà mất cũng chẳng âu lo, phiền muộn làm gì: “Được chăng
háo hức, mất chăng âu”(Thơ Nôm, bài 28). Việc đời như cuộc cờ, lòng người như sóng bể,
“vật hoán tinh di” như vì sao trên trời. Có điều là con người chưa lường trước Tạo hóa cũng
như lòng người đổi thay lúc nào, ở mức độ nào, ván cờ cuối cùng ai sẽ thắng. Cặp từ đối lập
“cạn-sâu” được tác giả vận dụng khá thành công cho ý “sao dời, vật đổi”:
“Sao dời, vật đổi trong nền tưởng.
Nước chảy, hoa bay áng cửa hầu
Sự thế cuộc cờ đâu miễn được
Lòng người sóng bể cạn thì sâu.”
(Thơ Nôm, bài 99)
Lòng người lúc “cạn” lúc “sâu” như nước thủy triều, hoa có lúc nở sẽ có lúc tàn, nước chứa
khi đầy ắt có khi vơi cũng như nơi phồn hoa đô hội có lúc ồn ào, náo nhiệt rồi đến lúc sẽ lạt
phai. Đây là một qui luật. Từ qui luật của tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm suy ra qui luật của
xã hội. Ông xét đoán sự thăng trầm của thế sự theo tư tưởng phương Đông: âm-dương, bỉ-
thái, cùng-thông, thịnh-suy, sang-hèn….Và “do chịu ảnh hưởng của Kinh Dịch, nên ông cho
là loạn mãi thì phải đến thời bình, sang thì có khi hèn, giàu thì có khi nghèo khổ rồi ngược
lại. Mọi việc cứ tuần hoàn, và nói chung là biến hóa, nhưng nó là một sự biến hóa vòng
quanh không có tiến hóa….”(Tư tưởng chính trị và xã hội của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua thơ
văn- Vũ Đức Phúc)[60, tr.103]:
“Áng phồn hoa khá lạt phai
Hoa càng khoe nở, hoa nên rữa,
Nước chứa cho đầy, nước ắt vơi”.
(Thơ Nôm, bài 48)
Biến đổi tuần hoàn là biến đổi theo vòng tròn, một vòng tròn khép kín. Đó là hình thức vận
động của vũ trụ mà triết học phương Đông đã nhận thức và đúc kết. Nhờ thấu suốt tư tưởng
này mà cái tâm của Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc nào cũng bình thản trước sự đổi thay của cuộc
đời, trước sự bình phẩm khen chê chủ quan của thiên hạ:
“Khen thì nên ngộ, chê nên dại,
Mất ắt chăng âu, được chẳng mừng”
(Thơ Nôm, bài 6)
Tuy tự dặn lòng: “Thị phi chẳng quản, mặc chê khen,”(Thơ Nôm, bài 41) nhưng đôi khi
Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng cảm thấy ngao ngán trước sự đổi thay của thiên nhiên và con
người, bởi vì nó có lúc thật đáng sợ, khó lường. Sự đổi thay đó được đúc kết thành một bài
thơ tuyệt tác với ý tứ thâm sâu. Có thể nói bài thơ Nôm số 2 cũng là một bài thơ tiêu biểu
cho sự biến hóa khôn lường của tạo vật. Trong bài thơ, nhà thơ đã diễn tả thành công quy
luật “lượng biến thành chất”. Vũng nước nọ đến một lúc nào đó được bồi thành bãi cát. Doi
đất kia tới thời khắc nào đó sẽ lở xuống thành vũng sâu thẳm. Thời thế, cuộc đời con người
cũng biến đổi như thiên nhiên, lúc thăng lúc giáng, lúc giàu lúc nghèo, khi sung sướng khi
khổ đau…Nghiệm qui luật tự nhiên ra qui luật của xã hội, sự hiểu biết về Dịch học của cụ
Trạng trình như là “vỏ nghêu lường bể, trong ống dòm trời”(Phan Bội Châu):
“….Vũng nọ ghê khi làm bãi cát,
Doi kia có thưở lút hòn Thai
Khôn ngoan mới biết thăng thì giáng,
Dại dột nào hay tiểu có đài
Đã khuất bao nhiêu thì lại duổi
Đạo trời lồng lộng chẳng hề sai.”
(Thơ Nôm, bài 2)
Chính vì “Lẽ thường trời đất hẳn là chẳng sai”(ca dao) cho nên người thầy trên dòng sông
Tuyết giang đã dùng triết lý về qui luật xoay vần của cuộc sống mà răn mình và giáo dục
đạo đức cho người đời. Ông nắm vững triết lý của Chu Dịch với những tư tưởng “mâu
thuẫn biến hóa” đồng thời biến nó thành một thứ triết lý nhân sinh của riêng ông. Hàng loạt
các cặp từ trái nghĩa được nhà thơ sử dụng tối đa và phát huy tác dụng trong từng câu thơ có
tính triết lý. Đặc biệt là cặp từ “lành-dữ”, “khen-chê”, “khôn-dại”……Như trên đã nói,
Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng tư tưởng “tự thân tác nghiệp” của nhà Phật để cảnh tỉnh người
đời về việc rèn luyện tu dưỡng đạo đức bản thân. Ông cho rằng: “Dữ lành toàn bởi một
mình ta”(Thơ Nôm, bài 55). Tuy lòng người lành dữ rất khó lường “Lành dữ lòng người
khôn biết”(Thơ Nôm, bài 24) nhưng nhà thơ vẫn khuyên “Người dữ thì ta miễn có
lành”(Thơ Nôm,bài 26). Bởi vì họa và phúc, sống và chết chỉ cách nhau một sợi tóc: “Họa
phúc chăng dong cái tóc chen.”(Thơ Nôm, bài 11) nên cần có cách xử thế thích hợp với
hoàn cảnh sống. Đó là dứt khoát bày tỏ thái độ bàng quan trước thế sự:
“Mảng tiếng dữ lành, tai quản đắp
Mặc ai chê miễn mặc ai đàn”
(Thơ Nôm, bài 46)
Hoặc là có cách xử thế chiết trung(Kinh Dịch nâng lên thành thuật ngữ gọi bằng “thời
trung”). Tuyết Giang phu tử chính là người chủ trương chọn cách sống“thời trung”, cách xử
thế dung hòa. Theo ông, đó là cách sống phù hợp đối với một đất nước đầy biến động, một
xã hội mà “Lòng người rất hiểm nghèo” chỉ chực chờ tranh giành, chém giết nhau vì quyền
lợi. Do đó, ông nghiệm theo Kinh Dịch và dùng nó thực hành trong cuộc đời.
Nói chung, triết lý về quy luật xoay vần của cuộc sống xuất hiện thường xuyên trong
thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nếu không am hiểu sâu sắc Chu Dịch thì làm sao nhà thơ có thể
cho ra đời những bài thơ vừa có tính nghệ thuật cao vừa biểu hiện một quan niệm nhân sinh
cao đẹp. Sống trong một thời đại mà mâu thuẫn xã hội càng ngày càng diễn ra gay gắt,
quyết liệt thì việc người thầy Tuyết Giang đưa ra triết lý về quy luật biến hóa của tự nhiên,
xã hội là điều cần thiết để cảnh tỉnh người đời hãy quên đi giấc mộng bá quyền mà xây dựng
một xã hội tốt đẹp hơn. Mấy ai hiểu được tấm lòng “ưu đời” của một bậc hiền triết:
“Nhìn vật, biết ngay tươi héo,
Xem sông, nói chuyện nông sâu.
Hun đúc tình cảm tùy theo ý ung dung,
Thừa theo hứng thú, vui thích trèo núi.
Được hay mất tỏ rõ lành hay dữ,
Thịnh và suy phải xét nghiệm ở xưa và nay.
Tạm mượn hứng để tỏ nỗi lòng,
Lưu thủy có mấy bạn tri âm ?
(Ngụ hứng-15 vần)
2.3. Những ý nghĩa tích cực và tiêu cực trong quan niệm nhân sinh của
Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Đầu tiên, khi luận bàn về sự nghiệp văn chương và tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm,
các nhà nghiên cứu, dù đứng ở góc độ bình luận nào, vẫn không thể không thừa nhận quá
trình lao động sáng tạo không mệt mỏi của ông trong sáng tác thơ văn, tấm lòng ưu ái của
ông đối với cuộc đời. Vì vậy, khi đọc thơ Tuyết Giang phu tử, Nguyễn Khuê nhận định :
“Thơ ông là tiếng nói rất chân thực rất nhân bản của một nhà hiền triết trước cảnh ngộ, nhân
sinh, thiên nhiên vũ trụ; là một nỗ lực hướng tới chân, thiện, mỹ. Vì thế, tiếng nói ấy mãi
mãi vang vọng trong tâm hồn dân tộc”(Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi
tập)[24,tr.182).
Trước hết, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là tiếng nói chân thực về hiện thực xã hội thế
kỷ XVI. Ông như là một nhà sử học đang tái hiện lại những trang sử đầy biến động với
những cuộc nội chiến diễn ra liên miên, với những nạn cát cứ không vì quyền lợi chung của
dân tộc mà chỉ giải quyết quyền lợi cá nhân. Nguyễn Bỉnh Khiêm chẳng những đã tìm ra
nguyên nhân chủ yếu nảy sinh các cuộc chiến đẫm máu mà còn vạch ra những hậu quả khôn
lường do chiến tranh để lại. Ông đã nhìn thấy nỗi khổ của nhân dân trong thời loạn và
những điều ước mong chân chính của bao nhiêu người. Cũng như Nguyễn Trãi, Nguyễn
Du,Nguyễn Khuyến…..Tuyết Giang phu tử nhận biết sức mạnh của đồng tiền. Đồng tiền có
thể lũng đoạn xã hội, lũng đoạn nhân cách con người. Ông bất bình và chán ghét cảnh tranh
danh đoạt lợi, chán ghét thủ đoạn tranh hùng xưng bá. Dùng ngòi bút để tố cáo chiến tranh
phong kiến, để phê phán bá đạo cường quyền, để lên án một xã hội suy đồi về đạo đức, để
cảnh tỉnh mọi người hãy quay về đường ngay nẻo chính, để khuyên răn người đời những
điều hay lẽ phải, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có sự đóng góp rất lớn cho nền giáo dục đạo đức
nước nhà. Đồng thời, những bài thơ lên án triệt để chiến tranh của nhà thơ không chỉ phù
hợp với yêu cầu phát triển của lịch sử mà còn phù hợp với lòng dân, ý dân. Vì thế, trong
Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú có nói: “Lòng trạng không một lúc nào quên
đời. Lo thời thương tục đều phát lộ ra thơ”. Đặc biệt một quan niệm có ý nghĩa tích cực, một
bài học đạo đức có giá trị sâu sắc mà người thầy Tuyết Giang để lại cho đời chính là quan
niệm phụ tử, phu phụ với các đức nhân nghĩa, lễ, trí, tín của đạo Nho pha lẫn với các tính từ
thiện, bác ái của đạo Phật và kết hợp nhẹ nhàng với tư tưởng vô vi, vô sự, vô tranh của Lão
Trang. Một phần nào đó, tư tưởng Nho-Phật-Đạo trong thơ Tuyết Giang phu tử đã hướng
con người tới cái chân, thiện, mỹ. Ngày nay, tuy đất nước và con người Việt Nam đang sống
trong thời hiện đại, đang phát triển về mọi mặt nhưng những quan niệm nhân sinh của ông
vẫn là hành trang đẹp cho mọi thế hệ và cũng chính là truyền thống văn hóa ngàn đời của
dân tộc Việt.
Ngoài ra, quan niệm “xuất xử” của Bạch Vân sĩ bộc lộ một thái độ triết lý, bắt nguồn từ sự
hiểu biết quy luật của thời thế, quy luật của tự nhiên và quy luật của xã hội. Chính vì nắm
bắt những quy luật này mà ông chẳng những không câu chấp trong quan niệm xuất xử mà
còn hăng hái trên con đường lập sự nghiệp công danh và nhẹ nhàng, thanh thản khi quay về
làm bạn với thiên nhiên lánh xa cuộc sống ô trọc, xấu xa. Điều thú vị là khi tìm ra các quy
luật, ông biến nó thành quan niệm nhân sinh cho riêng ông và vận dụng nó một cách linh
hoạt trong cuộc đời. Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm còn biểu hiện truyền thống văn hóa ngàn đời
của dân tộc Việt. Trong thơ ông, ta bắt gặp đạo lý cao đẹp của dân tộc, lý tưởng thẩm mỹ
dân tộc, cách ăn, mặc, ở, những kinh nghiệm, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của nhân dân,
cách ứng xử tinh tế, năng động, linh hoạt trong tư duy đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm
nhân sinh của nhà thơ….
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đem đến ích nước lợi dân, tư tưởng của
Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có một số mặt hạn chế cần suy nghĩ. Hạn chế đầu tiên dễ nhận
thấy trong quan niệm nhân sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm là tuy nắm được phép duy vật biện
chứng, sự vận động của các quy luật nhưng trong tư tưởng của ông vẫn còn nặng về duy
tâm, vẫn còn có những mâu thuẫn chưa dứt khoát. Không tìm ra biện pháp để giải quyết
được những xung đột xã hội đương thời; không lý giải được các vấn đề sống-chết, may- rủi,
phúc-họa….ông lấy tư tưởng Phật giáo làm chỗ dựa tinh thần. Mặt khác ông cho rằng sự tồn
tại hay không tồn tại của mọi sự vật, hiện tượng và ngay cả chiếc ngai vàng dành cho ai
cũng đều do “Trời” quyết định. Vì: “Phép tắc của trời phải thuận theo mà không thể biết.
Ngôi vua đã lập nên thì không thể đổ”(Cảm hứng-ba trăm câu):
“Bởi lẽ trời ư ? hay bởi việc người ư ?
Là lý đấy mà cũng lại là số đấy.”
(Cảm hứng-ba trăm câu)
Quan niệm về sự phát triển của ông còn nằm trong khung tròn khép kín: “Sinh ra, diệt đi,
hết rồi lại bắt đầu”(Cảm hứng- ba trăm câu). Đó là sự phát triển tuần hoàn, là cái phép biện
chứng của Chu Dịch cộng với phép biện chứng thô sơ của Lão Tử trong Đạo Đức kinh. ảnh
hưởng quan niệm này không chỉ có ở Nguyễn Bỉnh Khiêm mà còn ở rất nhiều Nho sĩ khác.
Trong Sức sống của thơ ca và Tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trần Thị Băng Thanh và Vũ
Thanh cũng cho rằng: “Mặc dù đã có cách nhìn biện chứng, vũ trụ quan nhất nguyên, đã
thấy được quy luật chuyển hóa giữa các mặt đối lập của sự vật và giữa các sự vật nhưng
Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng vẫn bị quan niệm tuần hoàn níu kéo, đồng thời khi ứng dụng
trong cách giải quyết mọi quan hệ xã hội ông vẫn trở về với các quan niệm của trung hiếu,
tín nghĩa, thuận hòa và lợi cho Nho gia. Đó là chỗ hạn chế của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà
cũng là hạn chế của lịch sử, của thời đại.”[60, tr.24]
Rõ ràng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phát hiện ra sự phát triển của vạn vật, đã nắm bắt được
các quy luật cuộc sống và đã nâng lên thành cả một hệ luận biện chứng. Nhưng trong quan
niệm của ông thì tự nhiên phát triển trong một cái thế tuần hoàn bế tắc, xã hội vận động
trong vòng tròn luẩn quẩn của chế độ phong kiến. Ông không nhận thức được tác dụng
mạnh mẽ của hoạt động con người, không nhận ra vai trò to lớn của con người, nét đẹp lao
động chân chính của con người có thể tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn thế giới hiện hữu. Ông
không nhận thấy tác dụng ngược lại của hành động con người trong việc cải tạo thiên nhiên
và cải tạo xã hội. Vì đồng nhất quy luật tự nhiên với quy luật xã hội, ông không thấy được
sự phát triển ngày càng cao của xã hội, không nhận thấy yêu cầu của lịch sử của thời đại,
không quan niệm một trật tự khác thay cho trật tự xã hội phong kiến đương thời. Chính vì
vậy, ông không tán thành thậm chí còn phê phán đường lối đấu tranh của các cuộc khỡi
nghĩa nông dân, không chấp nhận sự trỗi dậy của một thế lực mới đang cần thay thế cho một
thế lực cũ đã hết vai trò lịch sử. Thực ra, ông không nắm được xu thế của thời đại, không
hiểu rõ kẻ thù chính của nhân dân là ai? Tuy là nhà yêu nước chân chính nhưng ông không
chỉ ra được con đường hữu hiệu để cứu nước, cứu dân.
Vì được đào tạo trong môi trường cửa Khổng sân Trình nên khi truyền bá tư tưởng cho
đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm không muốn thay đổi nguyên lý chính trị và đạo đức Nho giáo với
lý thuyết Tam cương, Ngũ thường. Bằng chứng là tuy không câu nệ, cố chấp trong quan
niệm xuất xử nhưng ông vẫn chịu sự ràng buộc bởi chữ “Trung” với nhà Mạc, tức là không
thoát khỏi cái vòng kềm tỏa của ý thức hệ phong kiến. Về trí sĩ nhưng khi vua cần ông vẫn
“Tạm từ bỏ mũ nhà nho mà cầm cái lọng quang dầu”(Qua sông Hữu-bài một), vẫn “Xông
pha tuyết giá, đâu nề hà nghìn dặm xa”(Thư gửi đồng sai là Nghĩa Trai bá và Hoành Trung
hầu), kiên quyết “Định kỳ hạn thề khôi phục giang san cũ” cho nhà Mạc. Vì ông nghĩ:
“Ngôi vua đã lập nên thì không thể đổ”(Cảm hứng-ba trăm câu)
Bên cạnh đó, quan niệm sống nhàn xa lánh thế sự với thái độ: “Dửng dưng mọi sự gác
bên ngoài. Dầu được, dầu thua ai mặc ai”(Thơ Nôm-bài 40); bàng quan, thờ ơ để “thế sự
ngoài tai, biếng nói năng”(Thơ Nôm-bài16); thậm chí không can thiệp vào lẽ phải, điều trái
của con người “Thị phi biếng nói sự nay”(Thơ Nôm-bài 70); Và tư tưởng “nhân dĩ hòa vi
quý”, sống theo kiểu “yên phận thì lành”, luôn giữ thái độ “biếng đua tranh” của Nguyễn
Bỉnh Khiêm ít nhiều mang ý nghĩa tiêu cực. Thứ nhất dựa vào ý nghĩa câu tục ngữ :“Rút
dây, lại sợ động rừng”, tác giả đã bày tỏ thái độ dè dặt, e ngại trước một sự việc cần phê
bình mà sợ va chạm :
“Vuốt mặt còn chừa qua mũi nọ,
Rút dây lại nệ động rừng chăng?
Dầu ai nghị luận điều lành dữ,
Chữ “vị” là vì biếng nói năng.”
(Thơ Nôm-bài 89)
Thái độ đó có thể sẽ thủ tiêu tư tưởng đấu tranh giành quyền sống của nhân dân. Trước
những sự việc sai trái con người sẽ không thể hiện tinh thần tranh đấu cho lẽ phải, cho công
lý; không thể hiện trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội. Đồng thời, còn đẩy họ vào rơi vào
cách nghĩ “an phận thủ thường”, không có tinh thần cầu tiến, cúi đầu chấp nhận sự an bài
của số phận mà không đấu tranh để thay đổi số phận nghèo khó. Điều này Nguyễn Bỉnh
Khiêm khác với Phùng Khắc Khoan. Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan dõng dạc bày tỏ hùng
tâm tráng khí:
“Vinh hiển do trời an định sẵn,
Nhà tranh có chí vẫn thành danh.
(Tâm sự lúc ốm-Phùng Khắc Khoan)
Ngoài ra, nhiều bài thơ có tính chất triết lý về thói đời, về thế thái nhân tình của Nguyễn
Bỉnh Khiêm ít nhiều khiến người đọc(đặc biệt đối với những người đã và đang thất bại trên
đường đời) rơi vào trạng thái hoang mang, dao động, có khi mất cả niềm tin về một xã hội
tốt đẹp, văn minh; về bản chất “chân, thiện, mỹ” trong mỗi con người:
“Trong nhàn, ngẫm lẽ xưa nay
Không gì hiểm bằng đường đời,
Không cắt đi thì toàn là gai góc,
Không gì nguy bằng lòng người
Buông lỏng ra thì đều là quỉ quái “
(Thơ ngụ hứng ở quán Trung Tân)
KẾT LUẬN
Trong Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập, Nguyễn Khuê có nhận định:
“Nguyễn Bỉnh Khiêm không những đã có những đóng góp quan trọng cho văn hóa, văn học
của dân tộc bằng một sự nghiệp văn học to lớn chứa đựng những tư tưởng cao thâm, những
tình cảm sáng ngời, đánh dấu một bước tiến của thơ văn bằng tiếng mẹ đẻ, mà còn cống
hiến cho dân tộc bằng chính lòng yêu nước thương đời sâu sắc, bằng thái độ xuất xử hành
tàng độc đáo của một nhà trí thức kiệt xuất, bằng chính phẩm cách thanh cao của một bậc
hiền triết.”[24,tr.7).
1. Có thể nói, chính những phong ba về mặt chính trị-xã hội đã tác động mạnh mẽ đến tư
tưởng, tình cảm của nhà hiền triết Nguyễn Bỉnh Khiêm. Có thể nói, chưa có giai đoạn lịch
sử nào có nhiều biến động dữ dội như giai đoạn thế kỷ XV-XVI. Chỉ trong vòng một thế kỷ,
đã có hai triều đại (Lê-Mạc) ghi tên trên trang lịch sử Việt Nam. Chỉ trong vòng gần 100
năm, đất nước đã hai lần bị chia cắt bởi hai phe Nam và Bắc triều, bởi sự phân tranh quyền
lực của Trịnh-Nguyễn. Trong thời gian này, ngoài xã hội, biết bao cuộc nội chiến đẫm máu
đã nổ ra, giặc giã nổi lên khắp nơi, chia bè kết phái đóng ở từng vùng; trong triều đình, diễn
ra bao cảnh thay ngôi đổi vị. Sự việc đó đã đẩy triều đại nhà Lê từ hưng thịnh đi đến suy
vong; đưa nhà Mạc lên ngai vị cao sang rồi lại rơi vào cảnh mạt vận như là một qui luật tuần
hoàn của trời đất. Mầm mống suy vong của triều Lê bắt đầu xuất hiện từ thời vua Quỷ, vua
Lợn và tưởng chừng đứt đoạn khi Lê Chiêu Tông khởi binh thất bại, khi Lê Cung Hoàng bị
Mạc Đăng Dung giết. Rõ ràng, sau này, nhà Lê suy nhược, bất tài kém đức, không đảm bảo
vai trò lịch sử đối với đất nước nên ngôi vị rơi vào tay Mạc Đăng Dung là một lẽ đương
nhiên. Còn triều Mạc không còn nhận được sự đồng tình ủng hộ của các bậc sĩ phu từ lúc
Mạc Đăng Dung đầu hàng quân Minh và dấu hiệu suy tàn của triều đại này xuất hiện từ đời
Mạc Phúc Hải, tạm thời chấm dứt từ đời Mạc Mậu Hợp. Hiện trạng suy tàn của các triều đại
đã làm cho chiến tranh xảy ra liên miên, tàn khốc. Nhân dân sống trong cảnh lầm than, khốn
khổ. Kỷ cương xã hội lỏng lẻo, đạo đức suy đồi, chính sự đảo điên, lòng người bất ổn.
2. Trong di sản thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại cho chúng ta, so với các nhà
thơ thuộc dòng văn học trung đại, thơ ông chiếm một vị trí rất quan trọng về số lượng lẫn
chiều sâu trong tư tưởng và chiều cao về nghệ thuật. Đây chính là những bài thơ tập trung
những nét đặc trưng nhất về lý tưởng thẩm mỹ dân tộc, về truyền thống văn hóa dân tộc và
còn thể hiện vẻ đẹp kì diệu của một tâm hồn thanh cao, trong sáng, một tài năng nghệ thuật
xuất sắc của một nhà yêu nước. Đi vào thế giới thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm tức là người đọc sẽ
đi vào khám phá thế giới tâm hồn bất tận, bắt gặp những cung bậc tình cảm, những tư tưởng
mang tính triết lý thâm sâu của nhà thơ. Từ thơ, người đọc cảm nhận sâu sắc ở con người
Tuyết Giang phu tử tấm lòng yêu nước, thương dân tha thiết. Tấm lòng ưu ái của nhà thơ
trải dài bàng bạc trong từng câu thơ, trong sáng như vầng trăng, cao rộng như núi sông. Do
đặc điểm lịch sử thế kỷ XV-XVI có nhiều biến động nên “Tư tưởng yêu nước, thương dân
trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy vẫn tiếp nối truyền thống yêu nước thương dân ở các thế
kỷ trước nhưng nó vẫn có những nội dung mới mang đặc sắc của thời đại ông”(Tư tưởng
yêu nước, thương dân trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm-Vũ Đình Toàn)[79, tr.286].
2.1 Vì yêu nước thương dân nên Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn lo lắng, ngậm ngùi, đau
xót cho vận mệnh ngả nghiêng của nước nhà. Niềm ưu dân ái quốc chính là nguyên nhân
chủ yếu khiến ông lên đường ứng thí đầu quân nhà Mạc, là nguồn sức mạnh tinh thần giúp
cho ông có đủ dũng khí dâng sớ chém đầu bọn nịnh thần mà không sợ nguy hại đến bản
thân và cũng là nguồn động viên giúp nhà thơ sẵn sàng xả thân tham gia chiến trận “đánh
dẹp quân tàn bạo”.
2.2 Quan niệm xuất xử hành tàng độc đáo của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng xuất phát từ
tấm lòng yêu nước thương dân. Ông không câu chấp trong quan niệm xuất xử. Ông chủ
động chọn con đường công danh để thỏa chí đem tài năng ra giúp nước, cứu đời và chủ
động xa lánh công danh cũng vì không thực hiện được hoài bão. Người hiền sĩ rất phóng
khoáng, tự do trong quan niệm công danh và kiên định trong hành động. Không có bất cứ
một thế lực phong kiến nào trong xã hội lúc bấy giờ có thể khuất phục được ông. Không có
bất kỳ lợi lộc, danh vọng nào có thể lung lay được ý chí của người thầy Tuyết Giang.
2.3 Trong quan niệm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hai chữ “ái quốc” không thể
tách rời hai chữ “trung quân”, lo lắng cho vận mệnh nước nhà cũng là băn khoăn cho vận
mệnh triều Mạc. Cho nên, ra phò tá nhà Mạc, ông tuyên bố rất tự tin rằng “muốn thi thố sức
phò nguy” mà “cứu vãn lại quan hà, thành cũ của nhà vua”(Con ngao lớn đội núi). Cho nên,
giữ chữ “trung” với nhà Mạc, cũng chính là muốn thực hiện cái chí của một người luôn vì
dân, vì nước. Mặt khác, không chỉ riêng Nguyễn Bỉnh Khiêm phục vụ tận tụy triều Mạc mà
cả gia đình ông đều một lòng vị quốc đương triều.
3. Nền văn học Việt Nam có một lịch sử ra đời và phát triển lâu dài gắn bó với vận
mệnh đất nước, vận mệnh dân tộc. Nền văn học ấy chính là tấm gương phản chiếu trung
thực lịch sử tinh thần vô cùng phong phú, đa dạng và tinh tế của dân tộc ta. Thơ Nguyễn
Bỉnh Khiêm chính là một hiện tượng đặc sắc của nền thơ ca dân tộc Việt Nam. Trong giai
đoạn thế kỷ XV-XVI, giữa không khí sôi động của những biến động về mặt chính trị-xã hội,
giữa những cuộc chém giết nhau để tranh giành quyền lực của các tập đoàn phong kiến,
giữa một xã hội cương thường lỏng lẻo, thì sự xuất hiện những bài thơ của Tuyết Giang phu
tử là sự tái sinh những ánh hào quang đạo đức của một thời thơ cổ điển Việt Nam. Người
thầy Tuyết Giang đã tiếp nối và phát huy quan niệm nhân nghĩa của ông cha ta và ngày nay
cũng là quan niệm mang tính nhân văn của vị lãnh tụ Hồ Chí Minh. Nhân nghĩa trong việc
phơi bày hiện thực xã hội nhiễu nhương, đầy máu lửa vì chiến tranh xảy ra liên miên, tàn
khốc; trong việc tố cáo tội ác dã man của bọn tham chiến. Nhân nghĩa trong việc yêu dân,
thông cảm với những nỗi bất hạnh, điêu linh của nhân dân và mong ước một đất nước thái
bình thịnh trị cho dân lành sống yên bình, hạnh phúc. Nhân nghĩa trong việc dùng thơ văn
chuyên chở đạo lý Thánh hiền và chuyên chở những bài học đạo đức cho đời. Bởi vì xã hội
thời ấy là một xã hội suy đồi về đạo đức, biết bao cảnh chém giết lẫn nhau để tranh danh
đoạt lợi, biết bao thủ đoạn lừa lọc bất nhân, phản trắc diễn ra rất đau lòng; thế lực đồng tiền
chi phối cuộc sống và những mối quan hệ gia đình-xã hội. Do vậy, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
chẳng những có giá trị hiện thực mà còn có giá trị nhân đạo cao quí.
4. Nhà thơ sử dụng điêu luyện, linh hoạt những khuôn mẫu của tư tưởng Nho- Phật -
Đạo và có những sáng tạo độc đáo làm nên một quan niệm nhân sinh cho riêng ông và cũng
là nét chung của dân tộc Việt Nam. Điều đó thể hiện một phong cách sáng tác riêng và việc
tiếp nhận văn hóa nói chung ở Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chính vì vậy, những giá trị truyền
thống trong thơ ông luôn sống trong tinh thần của thời đại, sống mãi với thời gian. Với tinh
thần khoan dung văn hóa, nhà thơ tiếp thu tư tưởng “trung quân” của Nho giáo Trung Hoa
trên cơ sở tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sẵn có và biến cái trung quân đó thành
tình cảm thẩm mỹ Việt Nam: ái quốc. Ông biến quan niệm “tam cương, ngũ thường” kết
hợp với chữ “hiếu”, chữ “nhân” hài hòa với thuyết tính thiện của đạo Nho thành phẩm chất,
đạo lý tốt đẹp của người Việt Nam. Ngoài ra, tư tưởng thiên mệnh của Khổng Tử chỉ là cách
nói, là chỗ dựa tinh thần để ông vừa vạch cho mình hướng đi phù hợp trong cuộc đời, vừa tự
an ủi bản thân không rơi vào trạng thái bi quan chán nản, vừa cảnh báo răn đe người đời.
Sang đời Lê, tuy Phật giáo dần dần suy thoái vì nhà nước tuyên bố lấy Nho giáo làm quốc
giáo nhưng lúc bấy giờ đạo Phật đã trở nên thân thiết trong đời sống tâm linh người Việt.
Vả lại, sống trong xã hội bất ổn, Tuyết Giang phu tử muốn dùng triết lý Phật giáo để vừa
cảnh tỉnh vừa phê phán vừa khuyên nhủ người đời những bài học đạo đức ở đời, để lý giải
qui luật xã hội, qui luật cuộc sống. Tinh thần Lão-Trang với triết lý vô vi, vô sự, vô tranh
không chỉ là con đường rút lui của Bạch Vân cư sĩ khi không thực hiện được hoài bão an
dân trị nước mà còn là cái chí thích nhàn dật của ông.
5. Nghiên cứu quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm thực chất phần nào
chúng tôi đã thật sự tiếp cận được với bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam. Bản sắc dân
tộc của văn hóa Việt được thể hiện tập trung trong truyền thống văn hóa dân tộc. Truyền
thống văn hóa Việt được Nguyễn Bỉnh Khiêm kế thừa, khai thác và phát huy tạo nên sự tiếp
nối của lịch sử văn hóa Việt Nam. Những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng
Việt Nam được biểu hiện cụ thể trong thơ. Đó là lòng yêu nước sâu sắc, ý chí đấu tranh vì
độc lập dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã -
Tổ Quốc; lòng nhân ái khoan dung bao la, thái độ trọng nghĩa tình đạo lý; đức tính cần cù,
sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử hòa thuận; tính giản dị, thanh bạch trong
lối sống; những kinh nghiệm, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của nhân dân Việt Nam; cách
tư duy tổng hợp với sản phẩm điển hình là triết lý âm dương quân bình… Cho nên,
“Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đi vào lịch sử tư tưởng văn hóa Việt Nam như một mẫu hình độc
đáo góp phần làm phong phú thêm giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc.”(Nguyễn Bỉnh
Khiêm: Nhà văn hóa lớn-Phạm Xuân Nam)[34,Tạp chí văn học số 6-1991]
6. Tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến” hoặc tùy “thời” được nhà thơ vận dụng rất linh
hoạt để biểu hiện quan niệm về công danh và quan niệm sống nhàn. Trong 161 bài thơ Nôm
và gần 100 bài thơ chữ Hán, Bạch Vân cư sĩ sử dụng khoảng 53 từ “nhàn” và 32 từ “danh”.
Điều độc đáo ở chỗ, tư tưởng nhàn được diễn tả bằng những ý tứ vô vi bằng các từ “tự tại,
thong thả, đủng đỉnh, ẩn dật…”. Vì chán ngán thói đời đen bạc, chán ngán cảnh tranh danh
đoạt lợi mà ông nhàn muốn quay về trí sĩ. Quay về cảnh cũ điền viên, đối với ông cũng là
một cách sống nhằm phủ nhận công danh để bảo toàn danh tiết. Lối sống nhàn của cư sĩ
không phải là lối sống yếm thế, bi quan mà là cách ứng xử tinh tế, linh hoạt trong một xã
hội đầy biến động. Lối sống nhàn còn biểu hiện tính giản dị, trong sạch, thanh cao của bậc
ẩn sĩ. Và lối sống nhàn còn tạo ra tư tưởng bất tranh, an phận thì lành, thái độ dĩ hòa vi quí
nơi Nguyễn Bỉnh Khiêm.
7. Theo lẽ biến dịch của vũ trụ, tất cả mọi sự vật hiện tượng không thể ở một điểm cố
định mà luôn luôn dịch chuyển, xoay vần. Ảnh hưởng tư tưởng thâm sâu của Kinh Dịch,
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vận dụng nguyên lý Dịch để diễn tả qui luật tự nhiên, giải thích qui
luật xã hội rồi lý giải về quan niệm hành tàng của con người. Xuyên suốt trong từng bài thơ,
nhà thơ sử dụng các cặp từ đối lập nhằm phê phán thói đời đen bạc, phơi bày nhân tình thế
thái, xét đoán sự thăng trầm của thế sự và giáo dục đạo đức cho người đời.
8. Quan niệm nhân sinh trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa mang ý nghĩa tích cực
vừa có một số hạn chế cần suy nghĩ. Những tư tưởng triết lý, những bài học giáo dục đạo
đức, những tình cảm chân thành…chính là hành trang cần thiết cho thế hệ sau bước vững
vàng trên đường đời đầy phức tạp. Bên cạnh đó, do hoàn cảnh lịch sử-xã hội tác động mạnh
mẽ đến tư tưởng cho nên trong quan niệm của người thầy Tuyết Giang không tránh khỏi
những hạn chế. Điều đáng nói là thế hệ chúng ta sẽ tiếp nhận và vận dụng sáng tạo như thế
nào để những vần thơ tuyệt tác của nhà hiền triết không rơi vào quên lãng.
Khi nghiên cứu quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng tôi mong
muốn đóng góp một chút gì nhỏ bé để hiểu sâu hơn về nhà hiền triết này. Song với tầm vóc
của một bậc thầy về đạo đức, người viết luận án này kiến thức còn nông cạn, chưa hiểu hết ý
tứ và tâm niệm của Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn chuyển tải cho hậu thế, chưa có điều kiện để
nghiên cứu chữ Hán, chữ Nôm nên trong khi viết chắc chắn không tránh khỏi nhiều điều
thiếu sót. Kính mong các bậc thức giả đóng góp và chỉ bảo thêm.
Ngoài ra, tuy vào tháng Mười Hai năm 1985, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam phối hợp
với Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã long trọng tổ chức lễ Kỷ niệm 400 năm ngày
mất Nguyễn Bỉnh Khiêm (28 tháng XI năm Ất dậu), tu bổ lại đền thờ Bạch Vân Cư sĩ và có
hơn 50 bản tham luận của các nhà nghiên cứu viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm tại Hội nghị khoa
học toàn quốc nhưng trên thực tế “gia tài văn hóa nhiều mặt” (Kỷ yếu Trạng Trình Nguyễn
Bỉnh Khiêm) chưa được bạn đọc tiếp nhận. Tùy theo từng trình độ học sinh các cấp, các nhà
soạn sách giáo khoa có thể đưa vào chương trình những bài thơ tả cảnh thiên nhiên vừa giản
dị vừa thể hiện cuộc sống thanh bạch của nhà thơ hoặc những bài thơ có tính giáo dục đạo
đức nhẹ nhàng….đó chính là điều mong muốn của người thực hiện luận án này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Văn hóa Thông tin và thể thao – Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1991), Nguyễn
Bỉnh Khiêm danh nhân văn hóa (Nguyễn Huệ Chi chủ biên), Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Giáo trình Triết học Mác-Lênin, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
3. Nguyễn Đổng Chi (1993), Việt Nam cổ văn học sử, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh.
4. Nguyễn Huệ Chi (1986), “Nguyễn Bỉnh Khiêm-nhìn từ một nhân cách lịch sử đến dòng
thơ tư duy thế sự”, Tạp chí văn học,(số 3), tr.87.
5. Hà Như Chi (1951), Việt Nam thi văn giảng luận, Nxb Tân Việt, Hà Nội.
6. Lâm Hòa Chiếm-Lý Thị Xuân Các-Xuân Huy (1997), Từ điển Việt-Hán thông dụng, Nxb
Trẻ.
7. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí-Tập 1-Dư địa chí-Nhân vật chí-
Quan chức chí, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
8. Nguyễn Nghĩa Dân (1982), Thơ quốc âm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong Giảng
văn, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
9. Lê Trí Dũng (2001), Tính chất Việt Nam trong thơ Nôm Đường luật, Nxb Văn
hóa.
10. Vũ Phương Đề, Công dư Tiệp Ký, tr 397-415.
11. Lê Quí Đôn, Đại Việt thông sử, Cổ học viện tàng bản, bản chép tay VS.15 của Thư viện
Khoa học Xã hội Thành Phố Hồ Chí Minh.
12. Thomas Engelbert, “Giúp nước thương dân”, tuần báo Chủ Nhật của Hội Văn hóa Cộng
hòa dân chủ Đức,(số ra ngày 5-1-1986)
13. Dương Quảng Hàm (1925), Quốc văn trích diễm, Nghiêm Hàm xuất bản, H.,
14. Dương Quảng Hàm (1943), Việt Nam văn học sử yếu, Nha học chính Đông Pháp xuất
bản, H., Tóm tắt tiểu sử. Giới thiệu tập Bạch Vân quốc ngữ thi.
15. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb
Đại học quốc gia, Hà Nội.
16. La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (1998), Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb Giáo Dục Hà Nội,
Tập III: Trước tác phần 3, tr 122-123.
17. Hoàng Xuân Hãn, Nghiêm Toản (1951), Thi văn Việt Nam (từ đời Trần đến cuối đời
Mạc), Nxb Sông Nhị, Hà Nội.
18. Hồ Sĩ Hiệp, Lâm Quế Phong…(tuyển chọn)(1997), Lê Thánh Tông-Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nxb Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh.
19. Trần Đình Hượu (1992), Triết lý nhàn dật và tự tại trong sách Nguyễn Bỉnh Khiêm-danh
nhân văn hóa, Nxb Bộ văn hóa thông tin và thể thao, Viện KHXH Việt Nam, Hà
Nội.
20. Đinh Gia Khánh, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Ngọc San, Ngô Lập Chi, Nguyễn Sĩ Lâm
(1962), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
21. Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương (1979),Văn học Việt Nam thế kỷ X đến
nửa đầu thế kỷ XVIII, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
22. Đinh Gia Khánh, Hồ Như Sơn, Bùi Duy Tân (1983), Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB
Văn học, Hà Nội.
23. Lê Trọng Khánh, Lê Anh Trà (1957), Nguyễn Bỉnh Khiêm-nhà thơ triết lý, Nxb Văn
hóa-Cục xuất bản BộVăn hoá, Hà Nội.
24. Nguyễn Khuê (1997), Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập, Nxb Tp Hồ Chí
Minh.
25. Trần Trọng Kim (1955), Nho giáo, 2 qu, in lần thứ 3, Nxb Tân Việt, SàiGòn.
26. Nguyễn Hiến Lê (1998), Lão Tử-Đạo Đức kinh, Nxb Văn hóa TT, Hà Nội.
27. Đặng Thanh Lê (1986), “Từ một phạm trù triết học về một quan niệm đạo đức của Nho
gia đến cảm hứng nghệ thuật “thế sự” trong thơ nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm”, Tuyển
tập 40 năm Tạp chí văn học,(số 4), tr 395-405.
28. Mai Quốc Liên (1998), Phê bình và tranh luận văn học, Nxb Văn học,Hà Nội.
29. Nguyễn Đăng Long(Tuệ Quang)(1964), Phật giáo, Nxb Trường Sơn, SàiGòn.
30. Nguyễn Lộc (1985), “Nguyễn Bỉnh Khiêm-con người và văn chương”, Báo Đại đoàn
kết, (số 26).
31. Phương Lựu (1989), Tinh hoa lý luận văn học cổ điển Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
32. Nguyễn Đăng Mạnh (1977), “Những vần thơ Bác”, H, Báo Nhân Dân, (số 19)
33. Hồ Chí Minh (2000), Thơ toàn tập, Nxb Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và Trung
tâm Quốc học.
34. Phạm Xuân Nam (1991), “Nguyễn Bỉnh Khiêm-Nhà văn hóa lớn”, Tạp chí văn học, (số
6)
35. Bùi Văn Nguyên (1986), Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb Hải Phòng.
36. Bùi Văn Nguyên (1988), Văn chương Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb Hải Phòng.
37. Bùi Văn Nguyên (1989), Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
38. NICULIN.N.I. Văn học Việt Nam từ thời trung cổ đến hiện đại (thế kỉ X-XIX), Nguyễn
Mạnh Cường (dịch), Phòng Khoa học công nghệ và sau Đại học, trường Đại học sư
phạm thành phố Hồ Chí Minh.
39. Ngô Văn Phú (2003), Danh nhân Việt Nam qua các đời, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
40.Vũ Tiến Phúc (1974),Việt Nam văn học giảng minh, Nxb Alpha, Sàigòn, tr. 332-365.
41. Nguyễn Quân (1974), Bạch Vân quốc ngữ thi tập, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nxb Sống mới, Sàigòn.
42. Quốc sử quán triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, T.IV, Bản dịch của Cao Huy Giu, Nxb
Khoa học xã hội, H, 1967.
43.Vũ Tiến Quỳnh (1991), Nguyễn Bỉnh Khiêm, Chu Mạnh Trinh, Phan Bội Châu, Nxb
Tổng hợp Khánh Hòa.
44. Vũ Tiến Quỳnh (1998), Lý Tế Xuyên, Vũ Quỳnh, Kiều Phú, Lê Thánh Tông Ngô Chi
Lan, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb TP.Hồ Chí Minh.
45. Trương Hữu Quýnh-Đào Tố Uyên-Phạm Văn Hùng, Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến
1858, chương IV-Việt Nam trong các thế kỷ XVI-nửa đầu XVIII.
46. Trần Lê Sáng (1990), Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp, ba bậc thầy của
nền giáo dục Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
47. Trần Lê Sáng (2005), Phùng Khắc Khoan-Cuộc đời và thơ văn, Nxb Văn hóa thông tin,
Hà Nội.
48. Trần Xuân Sinh-hiệu chính Nguyễn Hào Hùng, Việt sử kỷ yếu, Hội nghiên cứu khoa học
Đông Nam á-Việt Nam, Nxb Hải Phòng.
49. Nguyễn Hữu Sơn (2000), “Về cảm quan Phật giáo trong thơ văn Nguyễn Trãi”, Tạp chí
Văn học, (số 6)
50. Nguyễn Hữu Sơn (2000), “Anh hưởng Đạo gia trong thơ Nguyễn Trãi”, Tạp chí Văn
Học, (số 6) .
51. Hà Thiên Sơn (2001), Lịch sử Triết học, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
52. Trần Đình Sử (1996), Lý luận và phê bình văn học, Hội nhà văn Việt Nam, Hà Nội.
53. Bùi Duy Tân (1964), Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong Văn học cổ Việt Nam, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
54. Bùi Duy Tân (1983), Bạch Vân am thi tập, trong Từ điển văn học, Tập I, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội, tr 50-51.
55. Bùi Duy Tân (1983), Bạch Vân quốc ngữ thi, trong Từ điển văn học, Tập I (Thư mục, số
38), tr 51.
56. Bùi Duy Tân (1984), Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong Từ điển văn học, Tập II, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội, tr 49-51.
57. Bùi Duy Tân (1999), Khảo và luận một số tác gia-tác phẩm Văn học Trung đại Việt
Nam,Tập I, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
58. Văn Tân (1958), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, quyển II, Nxb-Văn sử địa, Hà Nội,
tr.322.
59. Trần Thị Băng Thanh (2001), “Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm thơ ngôn chí”, Tạp
chí văn học, (số 6),
60. Trần Thị Băng Thanh-Vũ Thanh (2001)(tuyển chọn và giới thiệu), Nguyễn Bỉnh Khiêm
về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục.
61. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo Dục.
62. Chu Thiên (1945), Tuyết Giang phu tử, Nxb Đại La Hà Nội, Hội nghiên cứu và giảng
dạy văn học TP Hồ Chí Minh.
63. Huệ Thiên (1991), “Đời làm quan và nghĩa quần thần của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua thơ
quốc âm của ông”, Kiến thức ngày nay, Kỷ niệm 500 năm ngày sinh danh nhân
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1991)
64. Đinh Khắc Thuần, Lịch sử triều Mạc-Qua thư tịch và văn bia, Nxb Khoa học xã hội,
Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia Viện nghiên cứu Hán Nôm.
65. Nguyễn Tài Thư (1986), “Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà tư tưởng tiêu biểu của thế kỷ XVI”,
Tạp chí Triết học,(số 1), tr.50.
66. Nghiêm Toản (1949), Việt Nam văn học sử trích yếu, Nxb Vĩnh Bảo, Sàigòn.
67. Nghiêm Toản (Hạo Nhiên)(1973), Lão Tử Đạo đức kinh (quốc văn giải thích), in lần thứ
1, Nxb Bộ QGGD, SàiGòn (1959); qu.2, Nxb Khai Trí, SàiGòn.
68. Đào Thái Tôn (1997), “Tìm cách hiểu một câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm”, Tạp chí
Văn học,(số 7), tr 47-50.
69. Vân Trình (1976), “Tìm hiểu thêm về nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm”, Tạp chí
văn học,(số 3), tr.81.
70. Viện sử học, ủy ban khoa học xã hội Việt Nam(1976), Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội.
71. Đoàn Thị Thu Vân(1996), Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam từ thế
kỉ X đến thế kỉ thứ XIV, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Nxb Văn học.
72. Trần Trung Viên, Hư Chu (hiệu chính)(1968), Văn đàn bảo giám, Nxb Nam Kỳ, H,
1932; Nxb Mặc Lâm tái bản, SàiGòn.
73. Lê Trí Viễn (1996), Đặc trưng Văn học trung đại Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội.
74.Trần Ngọc Vương (2001), “Nguyễn Bỉnh Khiêm-hư và thực”, Tạp chí văn học, (số 6),
75.Trần Ngọc Vương (1990), Văn hóa Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung, Đại học
quốc gia Hà Nội.
76. WILL DURANT, Nguyễn Hiến Lê (dịch), Lịch sử văn minh Trung Hoa, Nxb Văn hóa-
Thông tin.
77. Lê Thu Yến-Đoàn Thị Thu Vân-Lê Văn Lực-Phạm Văn Nhu (2000), Văn học Việt Nam-
Văn học trung đại-Những công trình nghiên cứu, Nxb Giáo dục.
78. Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm(1991), Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử phát triển
văn hóa dân tộc (Kỷ yếu hội thảo khoa học), Nxb TP Hồ Chí Minh.
79. Viện văn học và Hội đồng lịch sử Hải Phòng (1991), Kỷ yếu Trạng Trình Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Nxb Hải Phòng.

