intTypePromotion=1

Lucius Artorius Castus - Sự thật về King Arthur Phần 1: Sĩ quan và nhà quý tộc

Chia sẻ: Linh Ha | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

0
113
lượt xem
3
download

Lucius Artorius Castus - Sự thật về King Arthur Phần 1: Sĩ quan và nhà quý tộc

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Một trong những đối thủ sáng giá cho hình ảnh huyền thoại vua Arthur của nước Anh là sĩ quan La Mã có tên Lucius Artorius Castus. Ưu thế đầu tiên cho vị trí danh tiếng là từ Kemp Malone (1924-1925), Castus nhận được vinh hạnh này do nhân cách của ông trong suốt thời gian ông còn sống.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Lucius Artorius Castus - Sự thật về King Arthur Phần 1: Sĩ quan và nhà quý tộc

  1. Lucius Artorius Castus - Sự thật về King Arthur Phần 1: Sĩ quan và nhà quý tộc Một trong những đối thủ sáng giá cho hình ảnh huyền thoại vua Arthur của nước Anh là sĩ quan La Mã có tên Lucius Artorius Castus. Ưu thế đầu tiên cho vị trí danh tiếng là từ Kemp Malone (1924-1925), Castus nhận được vinh hạnh này do nhân cách của ông trong suốt thời gian ông còn sống. Bằng chứng quan trọng nhất về Castus là khá mong manh: được tìm thấy 1 và cực kỳ phổ biến , câu truyện về Castus được tìm thấy trên 1 phiến đá ở bức tường gần Epetium (nay là Strobrez, Podstrana - Croatia), và 1 ở đài tưởng niệm ở 1 nhà thờ nhỏ ở St.Martin (Podstrana) nằm trên đường cao tốc Adriatic. Những câu khắc trên đó đã được dựng lại và dịch ra như sau: "Những linh hồn quá cố: Lucius Artorius Castus, Centurion (Đại đội trưởng) của III Legion Gallica (Quân đoàn 3 Gallica), cũng là Centurion của VI legion Ferrata, II legion Adiutrix, V legion Macedonica, sau thăng lên làm Primus Pilus (sĩ quan trưởng của Đại đội số 1) của V legion Macedonica, Praepositus (chỉ huy trưởng) của classis Misenatium (hạm đội Vịnh Naples),Praefectus (1 cấp bậc sĩ quan cao cấp của quân đội La Mã) của VI legion Victrix, Dux (tướng chỉ huy) của của các đại đội kỵ binh ở Anh trong cuộc chiến chống lại người Armoricans, Procurator Centenarius (Thống đốc) tỉnh Liburnia (Croatia) với quyền lực tối cao. Với cuộc sống của anh ta đã cống hiến cho chính bản thân mình và gia đình.... ( Những dữ kiện về Castus đó được tin rằng đó là về ông ta trong hình tượng người "Vô danh" trong ghi chép lịch sử của Cassius Dio và Herodian. Khi Malone ghi chép những tài liệu của mình, đã không có dữ liệu về ngày tháng của Castus. Nhiều nhà học giả cho rằng Castus sống vào cuối thế kỷ thứ 2 sau công nguyên và ông cũng mất trong thế kỷ đó. Và chính xác là đã có 1 vị tướng quân sự ở thế kỷ thứ 2 và là 1 trong những chỉ huy trong cuộc viễn trinh xứ Armorica năm 185, điều này đã được ghi lại trong sử của Herodian. Vị t ướng trong cuộc viễn chinh đó không được ghi tên nhưng có nói vị này đến từ Liburnia, vị tướng đó có thể là Lucius Artorius Castus. Khi đưa ngày tháng của chiến dịch Armorica và sự thật về vị Artorii (là 1 cấp bậc của giới quý tộc) đó thì nó sẽ dựng lại được cuộc đời của 1 con người với những điều thú vị. Tiểu sử: Artorii là 1 cấp bậc sĩ quan quý tộc, có nghĩa là "gia đình", được dựa trên những bằng chứng cổ có sự phân loại địa lý đặc biệt. Dù nguồn gốc của thị tộc là những gia đình đã phát huy những truyền thống đáng tự hào trong quân ngũ và xã hội của đế chế La Mã. Đã có hàng tá chữ được để lại ở khắp các thành phố La Mã về dòng họ hạt nhân của gia đình. Và Lucius Artorius Castus được sinh ra trong dòng họ Pompeii ở vùng nông thôn thuộc Campania (Italy). 1 nhà quý tộc cần 400.000 sesterce (tiền tệ của La Mã cổ đại) và 1 nhân phẩm mẫu mực để giữ thứ hạng của người đó. Khi có người biết được Castus đã từng là nô lệ và ông đã
  2. bị đuổi khỏi giới quý tộc. Khi đó ông đã chọn con đường gia nhập quân ngũ, để chứng minh rằng 1 người trẻ tuổi không dựa trên sự thừa kế hay dựa dẫm vài tài sản của gia đình để có được vị trí quý tộc. Việc này chỉ cho ông 1 lựa chọn là nhập ngũ trong cấp bậc của 1 centurion. Lựa chọn này đã thúc ép ông từ khi ông còn rất trẻ, và ông sẽ nhận được sự huấn luyện hoàn chỉnh trong điều kiện có thể. Anh cả của ông có được sự huấn luyện tốt nhất vì là người kế thừa của gia đình. Điều tranh cãi là số tiền để ông có được sự huấn luyện này tốn bao nhiêu khi gia đình của ông không đủ giàu để cho ông 1 sự thừa kế đầy đủ. Chính xác là Castus gần như không có cơ hội nào vì nó được dành cho Dio, có thứ hạng trong nghị viện và là con của 1 thống đốc. Nhưng Castus vẫn tốt nghiệp và thành Centurion vì thứ hạng xã hội của ông và ông cho rằng ở vị trí cao nhất của quyền lực thì phải thông thạo việc phát biểu trước công chúng. Kết quả là, ông có được sự tiến bộ trong lãnh vực địa lý, ngữ pháp, lịch sử, triết học, hùng biện và khoa học. Những kiến thức và kỹ năng đó được ông dùng cho các nhiệm vụ dân sự trong công việc quân nhân của mình, cũng như tài chính gia đình. Khi ông nhập ngũ, với học thức khá trong cấp bậc của mình, ông trở thành chuyên gia trong nghệ thuật thuyết phục. Các nghề trong quân đội La Mã được chia thành các "Tour". Nhóm được nhắc tới thường xuyên là "equestrian cursus" (danh hiệu cho nhà quý tộc phục vụ trong quân ngũ), gồ m có praefectus cohortis, tribunus militum (angusticlavius), và praefectus alae. Nhà quý t ộc nào có được những thứ hạng này sẽ có lợi thế trong 1 nghề nghiệp của họ. Thường thì có quyền lực trong 1 thị trấn nhỏ hay những văn phòng dân sự. Tuy nhiên còn có đường thứ 2 để có được danh hiệu này là người lính nhập ngũ với vị trí là Centurion và thăng đến cấp bậc primus pilus. Để có thể thành Centurion, người quý tộc này phải rời khỏi vị trí dân sự của mình. Khi họ có thể sống sót đến khi đến cấp bậc primus pilu s thì họ có thể khôi phục lại vị trí dân sự này. Để đổi lấy sự từ chức này, người cựu quý tộc sẽ nhận được cấp bậc decimus hastus posterior, là cấp bậc Centurion thấp nhất trong quân đo àn, và đó cũng là cấp bậc đầu tiên của ông. First Tour Chúng ta biết rằng Castus đầu tiên được bổ nhiệm tới quân đoàn III Galacia. Quân đoàn này có truyền thống tuyển dụng người Ý và nam xứ Gaul, vậy nên nó một lần nữa khẳng định huyết thống người Ý trong gia đình của Castus. Được trao cho cấp bậc Dux thống soái là đỉnh cao trong binh nghiệp của Castus, và nó có thể được trao tặng do Castus đã tham gia 6 tour ( 5 trong số đó được miêu tả chi tiết trong các văn bia) khoảng 4 năm một lần (thực chất là 25 hay 26 năm) và 1 năm giữ chức thống soái, ông giành được nó khoảng năm 185, nên ông tòng quân kho ảng năm 158. Vì ông tòng quân năm 18 tuổi nên ông sinh vào năm 140 hay 141, dưới thời cai trị của Antoninus Pius. Castus có thể nhập ngũ dưới thời vị hoàng đế náy, 3 năm trước khi Marcus Aurelius và Lucius Verus xưng đế. Khi Castus nhập ngũ, quân đoàn III Galacia được điều đến Syria. Nhiệm vụ chính của họ
  3. là bảo vệ hòa bình, đặc biệt quan tâm tới động thái của người Do Thái và Thiên Chúa Giáo trong địa hạt. Các Centurion được cử đến các làng khác nhau. Đây chính là đợt huấn luyện ban đầu của Castus, có ảnh hưởng đến các quyết định sau này của ông. Để được thăng cấp, Castus phải chờ đợi và sống sót trong khi các sĩ quan chỉ huy của ông ta hoàn thành nhiệm vụ và giải ngũ, chuyển tới quân đo àn khác hay là hy sinh. Với 58 cấp bậc giữa Castus và Primus Pilus, việc này có thể và thực ra là đã mất một khoảng thời gian đáng kể. Second Tour Khoảng năm 162, Castus được chuyển tới quân đoàn VI Ferrata ở Judea. Việc thăng chức thường dẫn tới việc chuyển công tác, nên Castus rất vui lòng, bởi việc thăng cấp đảm bảo cho cơ hội sống sót của ông ta. Lúc này Parthia đang xâm lược Armenia. Quân đoàn III Galacia, quân đoàn IV Scythica và quân đoàn XVI Flavia cũng được điều động. Tuy nhiên, khó có thể nói rằng việc thăng chức của Castus liên quân đến biểu hiện của ông trong việc chống lại cuộc xâm lược trên. Tại quân đoàn VI Ferrata, ông lại lãnh nhiệm vụ bảo vệ cho các thành phố hay làng mạc được chỉ định, có thể được luân phiên đến bảo vệ Jerusalem. La Mã đã giành lại được Armenia và chỉ định Gaius Avidius Cassius làm thống đốc. Vài Centurion của quân đoàn Galacia đã hy sinh trong cuộc chiến. Họ được thay thế bằng các Centurion cấp cao từ quân đoàn Ferrata và các đội quân lân cận, dẫn tới kết quả là các Centurion cấp thấp hơn, bao gồm cả Castus, được thăng chức mà không hề tham gia chiến trận. Khi tình hình ở Trung Đông lắng đọng xuống, thì tình hình ở Danube lại nóng lên. Castus lại được thăng chức, việc này khiến ông ta phải thuyên chuyển, hay có lẽ là ông ta muốn được điều đến một chỗ có thanh thế hơn. Dù thế nào chăng nữa, năm 166 ông ta đã chuyển tới quân đoàn II Adiutrix, lúc ấy đang tập trung đầy đủ ở Danube. Third Tour và sau đó Quân đoàn II Adiutrix, một trong những quân đo àn của Marcus Aurelius, đóng quân tại Lower Pannonia, Aquincum (Budapest), để có thể leo lên vị trí cao hơn trong quân đoàn, Castus phải tiếp đón nhiều nhà ngoại giao từ các nơi khác. Và 1 trong những phái đoàn đến Aquincum có phái đoàn đến từ Iazyges, một bộ tộc người Sarmatian liên minh với người Quadi và Marcomanni. Không có sự lựa chọn nào khác, Castus phải làm quen với văn hoá, ngôn ngữ và kỹ thuật chiến đấu của người Sarmatian. Điều nó mang lại sự liên kết thành công với những kỵ sĩ sau này, đó là sự hiểu biết sâu rộng về bộ tộc Iazyges, điều mà rất ít sĩ quan khác có được. Với kiến thức đặc biệt đó đã khiến ông trở thành nhân tài hiếm có của đế chế. Năm 170, Tour thứ 3 của Castus sẽ bắt đầu một cách bình thường, nếu ông không trở thành primus pilus và khôi phục lại vị thế quý tộc của mình. Vì không muốn phải trở lại
  4. cuộc sống thường dân với địa vị xã hội thấp, Castus đã ở lại quân ngũ, và chuyển tới quân đoàn V Macedonica, đóng quân t ại Potaissa, Dacia (nay là Turda, Transylvania). Vào năm 172 hoặc 173, Castus đã đạt đến cấp bật primus pilus. Trong suốt những năm đó, Dio đã ghi lại những trận chiến độc đáo giữa người Roman và Iazyges. Chứng cứ cho các quân đoàn ở Danube được tăng cường bởi các phân đội được chỉ huy bởi các Centurion, là từ các cuộc tuần tra của các quân đoàn khác cho quân đoàn Danube. Để đến được Danube từ các doanh trại của V Macedonica và XIII Gemina, quân sĩ phải hành quân 1 đoạn đường dài về phía tây đến sông Mures từ cánh đồng Transylvanian Plain. Con đường này đưa các đơn vị ở Danube, Tisza tới đúng nơi diễn ra trận chiến được mô tả bởi Dio. Trận đánh được bắt đầu với những thủ đoạn chiến đấu của vùng thảo nguyên, sự tháo chạy giả. Người Roman đổi theo cuộc tháo chạy giả của người Iazyges đến Danube lạnh giá, và người Iazyges bất ngờ quay lại và tấn công, quét sạch mạn sườn và bao vây quân Roman. Kết quả là quân Roman thất bại thảm hại trong khi người Iazyges bình an vô sự. Nhưng không phải lần này, viên sĩ quan Roman tấn công bằng kỷ luật đại đội kỷ luật của ông ta bằng phiên bản được thay đổi từ kỹ thuật chiến đấu H ình vuông bộ binh, đã giúp quân Roma chiến thắng trong cuộc chiến với những người Parthian ở Armenia. Đáng lẽ trong trận với người Iazyges trong những hàng dọc song song, quân Roman sẽ dàn hàng song song trong hình hộp với những cây giáo chỉa ra ngo ài. Họ đã cắm khiên lên mặt băng và giữa bằng 1 chân để chống bị trượt, sau đó quân Roma chỉ đơn giản là tiến lên tấn công. Khi quân Iazyges đến đủ gần, quân Roma đã tóm lấy dây cương và kéo ngã con ngựa lẫn kỵ sĩ đang cưỡi nó. Trận chiến có thể có nhiều thiệt hại cho quân Roma, nhưng viên sĩ quan đã huấn luyện cho his men kỹ thuật chiến đấu được dựa trên kỹ thuật đấu vật Graeco-Roman. Kết quả quân Roma chỉ mất 1 đơn vị nhỏ trong khi Iazyges thiệt hại 1 lực lượng rất lớn, và vua Iazyges gởi thư cầu hòa đến Marcus Aurelius. Dù Castus không phải là viên Centurion khôn khéo đã nghĩ ra phương pháp chiến đấu kỳ lạ này nhưng được khắp nơi biết tới như người đã vận dụng chiến thuật này. Và nó cũng đưa cho ông nhiệm vụ đàm phán với người Iazyges sau đó ở Bremetennacum, cuối cùng Castus cũng được thăng đến cấp bậc primus pilus. Trong văn bản t ường thuật của Dio, Castus chính là viên Centurion cấp cao của 1 trong 2 quân đo àn được gởi đến hỗ trợ cho Danube và thậm chí Castus đã phục vụ như 1 sĩ quan dưới quyền của cha Dio (Dio đã nghe câu truyện về Castus từ cha của ông ấy) trong trận chiến đó, và Castus cũng chính là viên sĩ quan đã nắm bắt được cơ hội để tiêu diệt quân Iazyges trên sông Danube băng giá. Đạt được cấp bậc primus pilus, Castus đã có lại địa vị quý tộc của mình và có thể từ bỏ việc phục vụ công ích nếu có đủ tài sản để duy trì địa vị xã hội này. Có lẽ Castus chưa đạt được mục tiêu này hay cũng có thể chỉ đơn giản là ông thích ở lại cuộc sống quân nhân. Trong bất kỳ trường hợp nào, ông cũng đã tại ngũ và theo đuổi cấp bậc quý tộc cursus: 3 đến 4 năm cho mỗi cấp praefectus cohortis, tribunus militum hay tribunus legionis, cuối cùng là praefectus alae. Phần lớn các nhà quý tộc chọn con đường này đều không phải trải qua huấn luyện quân sự trước đó.Castus với thời gian phục vụ trước đó khiến ông trở thành viên sĩ quan cực kỳ hiếm có. Điều đó cũng giải thích tại sao binh nghiệp của ông thay đổi đột ngột đến bất thường vậy. Cùng thời gian đó khi ông tiếp tục nhập ngũ, ông đủ tư cách để làm điều mà một người lính Roma trung bình không thể làm: đó là kết hôn.
  5. Ông đã kết hôn với người vợ được sắp đặt bởi bố vợ vì ông muốn có người thừa kế nam. Cuộc cưới hỏi này thậm chí đủ để cho ông số tiền để rời quân ngũ nếu thu nhập của bản thân Castus không đủ. Dù vậy ông cũng không cần quan tâm vì sự nổi bật của ông đã vượt xa hầu hết các nhà quý tộc cùng thời. Praefectus Cohortis/Numeri Castus đã trở thành primus pilus của quân đoàn V Macedonica. Ở vị trí primus pilus của 1 trong 3 quân đoàn Danubian, Castus giữ vai trò quan trọng trong chiến thắng của Rome trước cuộc chinh phạt Iazyges và 5.500 quân trong số 8.000 kỵ binh nghĩa vụ của Sarmatian được tuyển bởi Marcus Aurelius và gởi đến Anh; nguyên văn: "fifty-five hundred of [the eight thousand Sarmatian cavalry conscripted by Marcus Aurelius] . . . [were] sent to Britain". Trải qua khoảng thời gian đó ông được thăng lên Dux cùng với 2 chức vị mà Castus đã giữ từ trước. Ông tái nhập ngũ vào năm 175, và giữ chức vị không được nói rõ trong những câu khắc chính. Với việc tái nhập ngũ với địa vị quý tộc, Castus sẽ trở thành praefectus cohortis của Auxilia (người nước ngoài, không phải dân Lã Mã, tham gia với tư cách là lính đồng minh của La Mã, và không có quyền công dân) hay Numeri (người nước ngoài bị cưỡng ép gia nhập quân đo àn, và không có quyền công dân). Năm 175 sau công nguyên, có 2 cuộc di chuyển lớn của những người lính không phải là công dân này, điều này cần các praefecti chỉ huy họ khi chưa được bổ sung chính thức cho các quân đoàn: 8,000 chiến binh Sarmatian đã nói trước đây, 5,500 trong số họ đã được gởi tới Britain và 2,500 người khác đã được gởi đến những nơi khác. Bởi vì Castus sau này trở thành chỉ huy người Iazyge ở Britain, nó dường như là đơn vị mà ông được bổ nhiệm khi ông tái nhập ngũ. Những người lính này không di chuyển 1 cách bình thường với tốc độ không thể đoán trước, 5.500 chiến binh với 2 con ngựa mỗi người cùng với trang bị, trẻ con, và người giúp việc lo chuyện ăn uống cho họ. Với trang bị, và nhân lực như thế này cho việc hành quân tới cực tây của đến chế, bao gồm việc băng qua 1 con kênh, quân đi vòng qua địa phận của quân đoàn VI Victrix đủ khiến cho người khác phải kinh sợ khi nghỉ đến. Nếu Castus ở lại với người Iazyge cho đến khi họ định cư ở Bremetennacum, học tiếng Latin đủ để hiểu mệnh lệnh từ các decurions (thập trưởng, tiểu đội trưởng) cũng như các sĩ quan khác, và trở nên quen thuộc với sự tổ chức và chiến thuật của người La Mã để có thể hỗ trợ hiệu quả các quân đoàn, Castus sẽ phải mất 2 năm cho việc này. Pháo đài Bremetennacum Nhiều nhà học giả đưa ra ý kiến rằng sau khi Castus được mời vào quân đoàn Victrix VI thì Castus đã là Praefectus Castrorum (Camp Perfect). Điều này là không thể, vì praefectus castrorum là cấp bậc dân sự, sau khi hết thời gian quân ngũ, trong khi Castus vẫn tiếp tục ở trong quân đôi cho đến khi có được cấp bậc Dux. Không có việc Castus lẫn
  6. lộn giữa cấp bậc praefectus và primus pilus, trong suốt cuộc sống của ông. Là một nhà quý tộc, cấp bậc ông mong chờ kết tiếp là praefectus alae (Chỉ huy đội kỵ binh), và đó là thứ ông chắc chắn lấy được. Một tour nhiệm của những người lính trong quân đội Rome là 25 năm. Khi kết thúc, những người đã là lính sẽ trở thành công dân Rome. Khi đó, họ sẽ lấy cái tên của vị hoàng đế đang trị vì mà họ bị chinh phạt và thêm vào phần tên học chọn. Ví dụ: năm 200 ở Anh, 25 năm sau khi Marcus Aurelius chinh phục người Iazyges, đã nảy sinh hiện tương như nhiều bức tranh các chiến binh trong bộ quần áo du mục mang những cái t ên như Marcus Aurlius Castus và Aurelius Lucius. Dù danh hiệu cho cấp bậc sĩ quan tại đồn Bremetennacum trong những năm sau là "praepositus numeri et regionis" (Troops Perfect of Region), không có lý do gì cho rằng cấp bật chỉ hủy bắt đầu với sự bất thường. Chỉ huy một đại đội là praefectus, cho dù có là chỉ huy của những người đi nghĩa vụ hay ngoại quốc. Hay thậm chí là chỉ huy của một pháo đài chứ không phải một quân đo àn, và cấp bậc praepositus của Castus là "Fort commander" và pháo đài ông ta chỉ huy là Bremetennacum. Người anh đã thành công trong việc gây ra sự hỗn loạn quân sự trong suốt thời kỳ Castus ở Anh. Trong khi Augusta cố duy trì hòa bình ở miền nam nước Anh (bắt từ Isca đến Caerleon_ và trong khi quân đoàn Valeria Victrix XX kiểm soát xung đột ở xứ Wales, thì quân đoàn Victrix VI tăng viện cho Bức tường Hadarian tại tổng hành dinh ở Eboracum (York ngày nay). Một phần tiếp viện của Bức tường là binh lính từ pháo đài Bremetennacum tính cả Camboglanna (pháo đài Castlesteads; Ordnance Survey 1978) và Avallana (pháo đài Burgh-By-Sands; Ordnance Survey 1978) Hầu hết các nhà học giả đồng ý rằng, đã có điều gì đó rất lạ đã xảy ra tại pháo đài Bremetennacum trong suốt thời kỳ đó. Trong khi những tấm bia của ng ười Sarmatian cho thấy những ký tự của tên người Rome có được quyền công dân, kế đó là pháo đài trở thành khu định cư của các cựu binh - Bremetennacum Veteranorum, cùng với con cái cũng những người lính phục vụ đang hỗ trợ cho những tân binh đến pháho đài. Mô hình của vùng đất người Sarmatian trong nước Anh rất giống với điều mà Castus từng làm khi ơ Syria trong khoản thời gian đầu ông trở thành Centurion, một sĩ quan phụ trách một ngôi làng hay một thành với với lãnh thổ bao quanh. Ông biết rằng sẽ có lợi nếu khuyến kích người Sarmatia duy tr ì văn hóa của họ. Với việc các pháo đài khác trong vùng bị dỡ bỏ, ông sẽ trở thành "Commander of the region" cùng với việc ông sẽ không có được danh hiệu nào cả. Trong bất kỳ trường hợp nào xảy ra, trong vòng 250 năm kế, những người Sarmatian duy trì được sự liên kết chặc chẽ lãnh thổ của họ khiếp kín như một pháo đài hơn là sự đặc trưng cho những người lính. Năm 180 đến 185, người Roman lãnh lấy nhiều thất bại nặng nề từ bắc cho đến nam của Bức Tường, và cuộc xâm lược của người Pict, đã tấn công sâu vào lãnh thổ Rome và đã giết chết Quan Tổng Trấn Anh cùng người đại diện quân đoàn Victrix VI tại Eboracum. Quân đoàn Victrix tan thành từng nhóm nhỏ và nổi loạn, đưa đến sự kiện một trong những preafecti của Castus là Priscus tự lên vị trí Hoàng Đế. Dù cho tất cả rơi vào hỗn loạn, thì vẫn còn một vùng đất trong hòa bình, đó là vùng lãnh thổ được kiểm soát bởi pháo đài Bremetennacum. Trong khi t ất cả phía đông của Pennines đang hỗn loạn thì phía
  7. tây vẫn yên bình. Lực lượng của của Bức Tường phía tây dưới sự chỉ huy của Castus đã đẩy lùi thành công cuộc xâm lược. Và khi những sĩ quan nổi loạn của quân đoàn Victrix bị tử hình bởi Pertinax hoặc chuyển đi nơi khác thì ngược lại, Castus được thăng lên cấp bậc Dux và được gởi tới Armorica để dập tắt cuộc nổi loạn. Dux Cuộc viễn chinh người Armorica, Castus chỉ huy hai quân đo àn gồm lính tuyển. Trong thật tế, những câu khắc trên đá của M.Aurelii ở Anh được tìm thấy trong ở trong doanh trại quân đoàn Valeria Victrix XX và quân đoàn Victrix VI, nói rằng một viên sĩ quan Sarmatian được chôn cất gần tổng hành dinh của quân đoàn Valeria Victrix XX tại Dave (Chester), cả hai quân đoàn đều có sự góp sức trong việc xây dựng nên pháo đài Bremetennacum, và chỉ nổi loạn sau khi thiệt hại năng nề, quân dự bị và quân ngoại quốc là lực lượng chính trong đội quân của Castus chắc chắn được rút ra từ hai quân đoàn này. Những người lính này đều là kỵ binh, như trong những câu khắc của Castus. Điều này không có gì là ngạc nhiên, vì những người lính ở vùng phía Tây Bức Tường hầu hết dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Castus đều là kỵ binh. Castus giành chiến thắng tại Armorica, và ông ta chỉ đơn giản là cho lính của ông ta trở về Anh và nhận nhiệm vụ tại kế tiếp. Tuy nhiên, ông đã làm một số điều được cả 2 nhà học giả Dio và Herodian nhắc đến trong lịch sử của họ: "Gởi 1500 "lính ném lao" (nguyên văn: Javelin men) đến Rome để báo cho Hoàng đế Commodus về cuộc ám sát dưới sự giật day của Perennis. Lực lượng này được gởi bởi "các chỉ huy của Anh" (Lieutenants of Britain). "Lính ném lao" là một từ đặc biệt lạ, nếu 1500 lính là lực lượng nòng cốt của quân đoàn thì tại sao không gọi họ là "lính viễn chinh" (legionnaire) hay "lính đặc biệt" (mile, discen)? Chúng ta có được từ "javelin" là từ được viết lại bởi một thầytu Byzantin là Xiphilinis, được ghi lại trong lịch sử của Dio. Vì Xiphilinis không biết từ "pilum" nên từ javelin trong trường hợp này có thể là một cây giáo, hay một thứ vũ khi ưa dùng của kỵ binh vũ trang nhẹ, sau đó trở thành "javelin man" trong tiếng Latin, tất cả chúng đều được dùng bởi kỵ binh Iazygan.Tốc độc của lời cảnh báo từ Anh đến Rome của lính kỵ binh nhanh hơn là lính bộ. Và vị chỉ huy đã gởi thông điệp đó không ai khác chính là Castus, và ông ta đã hoàn tất chiến dịch Armorica trước khi trở về Anh. Vị anh hùng đó không được xác định là người Anh nhưng ông ta nói rằng những người Anh đã chặn đứng việc những đồng t iền mang hình của Perennis. Whittaker giải thích rõ bí mật những đồng tiền được chèn vào đó hình của con trai của Perennis. Whittaker đoán rằng những đồng tiền đó được phát hành bởi Perennis để đáp lại chiến thắng của con trai ông ta trong chiến thắng chống lại người Sarmatia ở Pannonia. Vì người Sarmatia ở Pannonia có quan hệ huyến thống với người Sarmatia ở Anh những người đã cùng với lính của Castus ở Armorica. Cuộc trả thù cá nhân này chống lại Perennis và gia đình ông ta là một phần dễ dàng trong việc cảnh báo cho Hoàng đế Commodus biết về âm mưu. Nhắc lại là "1500 lính ném lao" được gởi đến cảnh báo cho Hoàn Đế Commodus là những người Sarmatian, và nếu đúng là họ thì Castus chính là viên sĩ quan gởi họ. Cùng với những sự kiện này, thì tour của ông trong quân đội kết thúc. Ông đã phục phục 25 năm, năm 60 ông đã có vợ và những đứa con đến tuổi thiếu niên. Thông thường, ông
  8. có thể trở thành người thu thuế hay tương đương, nhưng sự phục vụ ưu tú đã mang lại cho ông điều sau: một vị trí Chỉ huy kiểm sát trưởng của Liburnia (procurator centenarius of Liburnia). Kiểm sát trưởng (Procurator Centenarius) Cấp bậc của Kiểm sát trưởng (procurator) thường được dịch là Thống đốc (governor), và quyền để làm được nhiều thứ. Nhiều người điều hành các hầm mỏ, cũng có nhiều người thành lập các xưởng dệt, xưởng nhuộm, xưởng vải lanh, cũng có người thử trồng cây bạc hà v.v. nhưng cũng có người chỉ làm công việc điều hành tài sản của đế chế. Trong trường hợp của Castus, vì danh hiệu mà ông đạt được trước đó đã đưa ông vào vị trí quan toàn cấp cao khi gắng vác trọng trách của tỉnh. Tiền lương cho vị trí này là 100.000 sesterces mỗi năm, cộng với tài sản mà ông đã tích góp, đủ điều kiện tài chính cho ông duy trì cấp bậc quý tộc của ông ta, phát triển gia đ ình, mua biệt thự, và xây nhà mộ cho riêng ông ta lẫn gia đình. Vì tất cả các quan tòa đều hỗ trợ cho những người dưới quyền, nên học thường có rất nhiều bạn và thành viên gia đình tại nơi làm việc của họ. Với việc tìm thấy xương cốt của một người phụ nữ có lẽ là con gái của ông, một cậu bé có thể là cháu trai và một phụ nữ khác có thể là cháu gái ở gần Dalmatia, cho thấy ông đã làm như thông lệ đó. Vào thời điểm đó, Liburnia là một khu vực hành chính của Dalmatia, và Thống đốc Dalmatia là cha của Dio, Marcus Cassius Apronianus. Như thế, bản thân Castus là nguồn gốc của những lời truyền tụng đến từ các câu truyện của người Anh. Những năm của Castus ở vị trí Kiểm soát trưởng trải qua trong yên bình, vùng láng giềng phía Bắc là Pannoia thường yên tĩnh, vì sự có mặc của Hoàng đế tương lai Severus ở vị trí Thống đốc của vùng Thượng Pannonia. Dalmatia yên bình và Liburnia thịnh vượng. Năm 193, Commodus bị ám sát. Pertinax, bạn đồng nghiệp của Castus ở Pannonia và Anh, lên ngôi Hoàng Đế -- và bị giết chỉ sau 87 ngày tại vị. Didius Julianua ngồi lên Ngai vàng đế chế, dẫn đến việc bị tẩy chay bởi quân đội, và 66 ngày sau, ông bị xử tử bởi Septimius Severus dựa trên mệnh lệnh của Quốc Hội. Khi Severus lên ngôi Hoàng đế, ông ra lệnh chôn cất Pertinax, và tất cả các nhà quý tộc đều phải đến dự. Dù Castus bị bệnh nặng vẫn đến dự, vì không có chiến tranh ở Liburnia hay bị kỳ điều gì ngăn cản ông làm chuyến du lịch đến Rome. Sau đó ông trở về Liburnia, nơi ông hoàng thành sứ mạng Kiểm sát trưởng và nghỉ hưu. Castus thật sự không bao giờ nghỉ hưu. Nếu ông ta vẫn sống vào năm 196, điều đó hoàn toàn có thể vì ông chỉ mới 54 tuổi, các sự kiện lịch sử đưa ra giả thiết ông được gọi trở lại trọng trách. Trong năm đó ở Albinus, Thống đốc của Anh, đã tự xưng Hoàng đế bởi binh lính của ông ta và xâm lược Gaul từ lãnh thổ Anh. Dẫn đến cuộc hành quân trực tiếp đến Gaul, Severus lập tức lên phía Bắc qua vùng Pannonia, Noricum, Raetia, Thượng Đức và đến Gaul. Trên con đường này, Severus đã chiêu mộ binh lính suốt dọc được, ông ta khó mà không gởi bảng thông báo chiêu mộ đến Liburnia láng giềng, và lệnh cho Castus tham
  9. gia với ông. Vì Castus không những biết rõ về lính Anh, đặc biệt là người Iazyges, mà còn đã chiến đấu và chiến thắng trong một chiến dịch ở Gaul. với. Với sự hiểu biết đó, đã đẩy hình ảnh Castus lên mức vô giá và Severus không phải là người không biết trọng tài năng. Lực lượng của Severus giao chiến trận đầu tiên với Albinus tại Tinurtium (Battle of Lugdunum - năm 197), nơi mà kỵ binh Anh gặp những thiệt hại nặng nề. Một chi tiết thú vị là Albinus đã mang theo một lượng đáng chú ý kỵ binh đi cùng ông ta. Tại thời điểm đó, chỉ có một nhóm trong lực lượng kỵ binh Anh đã gặp thiệt hại đáng kể về quân số chính là những người Sarmatia từ Pháo đài Bremetennacum. Trong thời gian làm Thống đốc Pannonia của Severus, có lẽ đã có được sự hiểu biết cần thiết để đánh bại kỵ binh thảo nguyên, nhưng Dio lưu ý một điểm là Severus không trực tiếp chỉ huy các trận đánh trừ trận cuối cùng. Có thể những cái đầu đứng sau thất bại đầu tiên của lực lượng Albinus dưới sự chỉ huy của Viên cựu chỉ huy người Iazyges, là Castus. Albinus kéo xuống phía nam. Severus truy đuổi và giao tranh với Albinus trận Lygdunum lần thứ 2 và cũng là cuối cùng. Lần nữa, Dio đã phát họa chi tiết khung cảnh "Mặt đất bị che phủ bởi xác người và ngựa". Nếu Castus chết trong trận chiến này, có lẽ đã được đưa về Liburnia, từ Marseilles đến Spalato, nghiêm trang trên Hạm đội Misenensis (Classis Misenensis), và mai táng tại nhà mộ mà ông ta đã chuẩn bị. Không lâu sau đó, bảng đồng về cuộc đời của ông được tìm thấy tại nhà thờ St. Martin, đã khắc ghi nên niềm vinh dự của ông. Nhiều tấm bia đá với tên họ Artonii xuất hiện ở Dalmatia và nhiều vùng lân cận, cũng nhu cái tên "Lucius Artorius" được chứng thự trong suốt thời kỳ trị vị của Diocletian ( Several Artorii grave stelae appear in Dalmatia and neighboring regions, and the name "Lucius Artorius" is attested during Diocletian's reign (Ví dụ: "Lucius Artorius Pius Maximus" là cháu chắc của Castus cũng là một sĩ quan Rome) cho thấy dòng dõi của ông ta vẫn tiếp tục sau khi ông ta chết. Lý do tại sao Castus chính là người được tạo dựng thành hình ảnh King Arthur vì: 1. Cái tên Artorius, bắt đầu từ chiến công lẫy lừng của ông ở Anh được lan tỏa và nổi tiếng ở Anh. 2. Danh hiệu Dux hay được gọi là Dux Britannia mà ông đạt được chính là nguồn gốc của chữ King Arthur. Dux trong hệ thống quân đội Rome, là Tổng chỉ huy quân đội trong một tỉnh, vào thời kỳ này cũng đồng nghĩa với vị trí Thống Đốc hay là Ruler của tỉnh đó, và vùng Castus được giao quản lý là cả nước Anh lúc bấy giờ cũng chỉ là một tỉnh của Đế chế Rome, và trong tiếng Anh vào thời kỳ đó bất kỳ ruler nào cũng được gọi là King tương đương với Dux thời kỳ này. Nên từ cái tên Dux Artorius of Britannia theo cách gọi của người Rome thành King Arthur of Britain theo cách đọc của người Anh. Theo thời gian, câu truyện về Artorius được truyền đi truyền lại và có nhiều dị bản cùng với dòng họ Artorius - Artoria, trong đó bản King Arthur chống lại cuộc xâm lăng của người Saxon vào thời kỳ cuối của Đế chế Rome là nổi tiếng nhất. Có điều thời kỳ này thì không thể có các hiệp sĩ trong bộ giáp sáng bóng cho tận đến nửa cuối thời Trung Cổ.
  10. 3. Tại các đền thờ của người Sarmatia luôn có hình một cây kiếm cắm trong đá theo tôn giáo của họ. Việc ai rút được thanh kiếm ra khỏi đá là hình ảnh của việc là nhà lãnh đạo người Sarmatia, mà lúc này kỵ binh Sarmatia gần như không có đối thủ ở Anh. Trong thật tế thì Castus là chỉ huy kỵ binh Sarmartia tại pháo đài Bremetennacum. 4. Knight là từ bắt nguồn từ chữ Cavalry, và các kỵ sĩ Sarmatia luôn mang theo Khiên tròn (Round shield), nên trở thành hình tượng Knight of the Round trong tác phẩm truyền thuyết về King Arthur. Qua đó thấy rất rõ hình ảnh King Arthur và các Hiệp sĩ bàn tròn rất gần với hình ảnh Sĩ quan kỵ binh Lucius Artorius Castus và các Kỵ sĩ khiên tròn Sarmartia. 5. Tiền đồn Caerleon là một trong những đồn quan trọng của quân Rome trong cuộc chiến chống lại cuộc xâm lược của người Picts và các cuộc bạo loạn ở phía Đông, được đội quân của Castus sử dụng như một tiền đồn dã chiến chỉ huy chiến dịch. Trong truyền thuyết thời kỳ đầu của King Arthur, Caerleon chính là thủ đô của King Arthur, về sau đổi thành Camelot để tránh bị các sử gia phản đối.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2