
TÂY SƠN NGUYỄN HUỆ
MẤY NÉT TỔNG HỢP VỀ THIÊN TÀI QUÂN
SỰ CỦA NGUYỄN HUỆ

TÂY SƠN NGUYỄN HUỆ
MẤY NÉT TỔNG HỢP VỀ THIÊN TÀI QUÂN SỰ CỦA NGUYỄN HUỆ
A.XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI
1.Đào luyện binh sĩ.
Con người và kĩ thuật là những nhân tố chủ yếu quyết định sự phát triển các
phương pháp tiến hành chiến tranh và chiến đấu trong đó con người là nhân tố
quyết định nhất.
Người nông dân và những người yêu nước thuộc các tầng lớp khác, một khi
tham gia hàng ngũ nghĩa quân, với lòng căm thù chế độ chuyên chế hà khắc của
vua quan, căm thù chế độ áp bức bóc lột của địa chủ phong kiến, với lòng yêu
nước chống xâm lược đều mang một phẩm chất mới vào trong quân đội Tây Sơn,
điều mà các quân đội phong kiến phản động đương thời, kể cả trong nước và ngoài
nước, không thể có được. Chính vì vậy mà họ đoàn kết với nhân dân, được quảng
đại quần chúng ủng hộ. Đó cũng là nguồn gốc của tinh thần chiến đấu cao của binh
sĩ quân đội Tây Sơn. Những người phương Tây đương thời có mặt ở Việt Nam đã
hết sức ca ngợi người lính Tây Sơn, gọi người lính Tây Sơn là “những người tiên
khu của chủ nghĩa xã hội cận đại”, vì họ đã thấy tận mắt quân đội Tây Sơn lấy của
cải của bọn quan lại và phú hào để phân phát cho dân nghèo và thấy “những làng
mạc đau khổ dưới gánh nặng thuế má hà khắc đã nhiệt liệt tuyên thệ hưởng ứng
khởi nghĩa”. Cho nên bất kì ở đâu, quân đội Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Nguyễn
Huệ cũng được nhân dân hoan nghênh, ủng hộ.
Trong những ngày đầu gian khổ của cuộc khởi nghĩa, đứng trước những kẻ
thù lớn mạnh, chỉ có mục đích chiến đấu được xác định và tinh thần quật khởi của
tướng lĩnh và binh sĩ mới có thể khiến họ chiến thắng được mọi kẻ địch. Mục đích
chính nghĩa của chiến tranh nông dân và chiến tranh giải phóng dân tộc đã động
viên binh sĩ, tướng lĩnh và nhân dân phát huy tinh thần chiến đấu và tính sáng tạo,
tinh thần chịu đựng gian khổ sẵn sàng hy sinh quên mình. Chúng ta biết rằng các
cuộc nội chiến giữa giai cấp bị áp bức bóc lột và giai cấp áp bức bóc lột, đều nổi
bật tính chất khốc liệt và kiên quyết và không nhân nhượng trong hành động của
hai bên giao chiến. Lê-nin đã nói: “Nội chiến nghiêm trọng và khốc liệt hơn bất cứ
một cuộc chiến tranh nào. Từ những cuộc nội chiến của La Mã cổ đại, trong lịch sử
các cuộc nội chiến đều như vậy, vì các cuộc chiến tranh thế giới bao giờ cũng kết
thúc bằng những cuộc giao ước giữa các giai cấp giàu có và chỉ trong nội chiến
giai cấp bị áp bức mới hướng mọi nỗ lực để tiêu diệt giai cấp đi áp bức đến cùng,
tiêu diệt những điều kiện kinh tế đang tồn tại của giai cấp đó”[1]. Đây cũng là điều
khác nhau căn bản giữa cuộc nội chiến vì tiến bộ mà quân đội Tây Sơn tiến hành
với cuộc nội chiến phản tiến bộ kéo dài trong hai thế kỷ giữa quân Trịnh và quân
Nguyễn. Cũng là điều khác nhau căn bản giữa binh sĩ Tây Sơn và binh sĩ Trịnh,
Nguyễn. Nó cũng là nguyên nhân vì sao ngày thường thì quân lính Trịnh, Nguyễn

kiêu ngạo, hung ác, thẳng tay đàn áp nhân dân nhưng khi giao chiến thì không có
gì là dũng cảm, hy sinh, khi được điều động đi đánh quân Tây Sơn hoặc khi bị
quân Tây Sơn tiến công, thì từ tướng đến quân đều đùn nhau ra trận, chưa giao
chiến tướng đã trốn, quân đã chạy, khi bắt buộc phải giao chiến, thì rất “khôn
ngoan” bằng cách “đánh vào lúc mặt trời lặn để khi có việc gì thì nhờ đêm tối mà
rút lui”[2]. Còn quân Xiêm đứng trước quân Tây Sơn, đã luồn rừng vượt núi chạy
cho mau, “sợ quân Tây Sơn như sợ cọp”. Ngay quân Thanh kiêu ngạo đến cao độ
chỉ chờ cho “quân gầy đến nộp mình” thì trước sức tấn công mãnh liệt của quân
Tây Sơn, đã phải rút chạy tan tành về đến Trung Quốc vẫn chưa hoàn hồn.
Tinh thần chiến đấu cao, chiến đấu vì lý tưởng chống áp bức giai cấp, chống
nô dịch dân tộc, đó là đặc điểm thứ nhất của người lính trong quân đội của Nguyễn
Huệ. Nguyễn Huệ lấy nguyên tắc “quân lính cốt hòa thuận, không cốt đông”[3] để
xây dựng quân đội và giáo dục tướng lĩnh và binh sĩ. Đoàn kết là sức mạnh. Không
phải là các vua chúa, các tướng lĩnh của các quân đội phong kiến không nói đến
sức mạnh của đoàn kết trong quân đội, nhất là khi có chiến tranh. Nhưng, trong
thực tế, một mặt vì không tin quảng đại binh sĩ, một mặt cần duy trì chính sách
chia để trị, cho nên trong các quân đội phong kiến thời đó và các thời trước đó, đều
có tổ chức những loại quân đội đặc biệt làm nòng cốt, có quyền hành đặc biệt,
được ưu đãi hơn các quân khác. Các đội cấm quân, quân ngự tiền, ưu binh, cấm
vệ…..đều thuộc loại quân đặc biệt này. Ưu binh nhà Trịnh chỉ tuyển trong các trấn
Thanh Hóa, Nghệ An. Thân binh nhà Nguyễn chỉ chọn trong huyện Tống Sơn.
Dùng dịa vị, vật chất để mua chuộc, bọn phong kiến mưu toan xây dựng một nòng
cốt vũ trang trung thành với họ. Chính đó lại là nguyên nhân khiến cho nội bộ quân
đội không thể đoàn kết, thường xảy ra xung đột. Cho nên không thể có đoàn kết
thực sự trong các quân đội phong kiến, cũng như trong các quân đội phản động.
Khác với quân đội Trịnh, Nguyễn, trong quân đội Nguyễn Huệ không có tổ
chức loại quân đặc biệt này. Trái lại trong quân đội của Nguyễn Huệ, mỗi khi có
tuyển mộ lính mới, thì những người lính mới ấy được đặt ngay dưới sự chỉ đạo trực
tiếp của Nguyễn Huệ, được phiên chế trong những đạo trung quân sống ngay bên
mình người anh hùng lỗi lạc ấy. Việc tuyển mộ lính mới và cách thức phiên chế
lính mới ở Nghệ An trong khi Nguyễn Huệ tiến ra Bắc đánh quân Thanh đầu năm
1789 đã chứng minh rất rõ điều đó. Thái độ đối xử và cách thức phiên chế lính mới
của Nguyễn Huệ như thế đã làm nức lòng họ, làm tăng cường tinh thần chiến đấu
của họ và dưới sự chỉ huy trực tiếp của Nguyễn Huệ, kĩ thuật chiến đấu của những
người lính mới ấy càng được bảo đảm. Thái độ đối xử và cách thức phiên chế ấy
làm cho người lính mới cũng như người lính cũ không có gì khác biệt nhau lắm, về
đãi ngộ cũng như về chuyên môn. Do đấy, họ đoàn kết, hòa hợp được với nhau dễ
dàng.
Đoàn kết hòa thuận, là đặc điểm thứ hai của quân đội Nguyễn Huệ. Quân đội của
Nguyễn Huệ có kỷ luật nghiêm minh. Nhiều bằng chức do các giáo sĩ phương Tây,

do các thương nhân ngoại quốc để lại, đã nêu bật sự hà hiếp, áp bức, cướp bóc của
các quân đội Trịnh, Nguyễn đối với nhân dân, nêu bật tình trạng kém kỷ luật trong
chiến đấu của các binh sĩ trong các quân đội này. Đồng thời nêu bật tinh thần kỷ
luật của binh sĩ Tây Sơn, trong chiến đấu và đối với nhân dân. Quân đội Tây Sơn
tiến đến đâu, giải phóng đến đâu thì trật tự an ninh được lập lại ở đấy. Một hành
động có thể được xem là gương mẫu cho tinh thần kỷ luật của quân đội Tây Sơn là
việc Nguyễn Huệ trả lại các tặng phẩm cho nhân dân chỉ lấy một ít bánh chưng làm
tượng trưng cho lòng tốt của nhân dân mà thôi. Bằng hành động dũng cảm trong
chiến đấu, luôn luôn tiến lên trước trong những trường hợp nguy hiểm, gay go
nhất, bằng hành động giữ kỷ luật, nhất là lúc đang chiến thắng mạnh mẽ Nguyễn
Huệ đã nêu tấm gương sáng để giáo dục tinh thần dũng cảm và tinh thần kỷ luật
cho quân đội.
Có tinh thần kỷ luật cao, đó là đặc điểm thứ ba của quân đội Nguyễn Huệ.
Những đặc điểm trên nêu lên cái khác nhau căn bản về nhân tố tinh thần về binh sĩ
Tây Sơn và binh sĩ các quân đội phong kiến đương thời. Phẩm chất quý báu đó của
tướng lĩnh và binh sĩ Tây Sơn được phong trào khởi nghĩa và Nguyễn Huệ bồi
dưỡng, phát huy, khiến họ có thể hoàn thành bất kỳ nhiệm vụ nào, với tinh thần
dũng cảm phi thường, tinh thần chịu đựng gian khổ cao độ, tinh thần kỷ luật trong
mọi trường hợp.
Song quân đội Nguyễn Huệ không chỉ có tinh thần chiến đấu. Họ còn được
huấn luyện chu đáo, nắm vững được vũ khí có trong tay, biết phát huy uy lực của
vũ khí. Nguyên tắc xây dựng và huấn luyện quân sự của Nguyễn Huệ là: “Quân
lính cốt tinh nhuệ không cốt nhiều”[4]. Cũng như các tướng lĩnh thời đó, Nguyễn
Huệ đã tiếp thu tư tưởng của Tôn Tử và nhất là các nhà quân sự Việt Nam như Lý
Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi….song, tính sáng tạo của Nguyễn
Huệ là ở chỗ biết vận dụng nguyên tắc xây dựng, huấn luyện quân đội trong những
điều kiện mới. Nội dung của “tinh nhuệ” đã phong phú hơn xưa. Vũ khí của thời
Nguyễn Huệ đã khác so với thời đại Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn và Lê Lợi.
Người lính bộ binh không những có giáo, kiếm mà đã có súng trường. Tác chiến
không phải chỉ là đánh giáp lá cà, mà đã bao gồm các giai đoạn dùng hỏa lực từ xa
và xung phong giáp chiến. Sự hiệp đồng giữa nhiều binh chủng trở nên phức tạp.
Nhiều hình thức chiến đấu mới xuất hiện. Chiến trường cũng trở nên phức tạp, có
nhiều loại địa hình khác nhau. Tác chiến xảy ra lúc thì ở địa hình hẹp ít đồng bằng
nhiều rừng núi như Thuận- Quảng, lúc thì ở khu vực đồng bằng rộng rãi có nhiều
sông ngòi, kênh đào, đất xốp như ở Gia Định, hoặc ở khu vực có nhiều đồng bằng
rộng rãi như ở ruộng nước xen kẽ đồng bằng khô như ở Bắc Hà. Tất cả những điều
đó đòi hỏi muốn giành được thắng lợi, binh sĩ phải được huấn luyện chu đáo, công
phu từ ngày bắt đầu khởi nghĩa đến khi đánh tan cuộc xâm lược của nhà Thanh,
trải gần 20 năm, quân đội của Nguyễn Huệ lúc nào cũng ở trong điều kiện tác
chiến liên tục. Nhân dân ta vốn có truyền thống thượng võ, quần chúng thanh niên

ta ở các thời đại trước lại có tập quán thường xuyên luyện tập võ nghệ, cho nên
một khi ra tòng quân là họ có khả năng chiến đấu, khả năng xuất trận được ngay.
Với truyền thống ấy và khả năng ấy, người lính trong quân đội Nguyễn Huệ lại
được giác ngộ tinh thần chiến đấu vì dân tộc vì giai cấp, được tôi luyện không
ngừng trong điều kiện chiến đấu liên tục, nên họ có khả năng chiến đấu cao đánh
đâu thắng đấy. Chỉ cần nêu lên những trận tiến công Gia Định, Ba Vát, Đồng
Tuyên, trận đổ bộ Phú Xuân, trận đánh thủy quân Trịnh ở cửa Luộc, các trận tiêu
diệt quân Trịnh ở Thúy Ái, Vạn Xuân, Thăng Long và nhất là các trận Ngọc Hồi,
Khương Thượng, khi đánh quân Thanh cũng đủ để chứng minh rằng trình độ chiến
thuật, kỹ thuật của tướng lĩnh và binh sĩ của Nguyễn Huệ rất cao, đánh giặc co
mưu mẹo, biết cơ trí, linh hoạt, động tác chiến đấu rất mãnh liệt.
Khác với binh sĩ của các quân đội thời đó, quân đội của Nguyễn Huệ rất cơ
động, linh hoạt trong tác chiến. Thọc rất sâu đánh rất bất ngờ, cơ động rất táo bạo,
xung phong mạnh, khuếch trương chiến quả mạnh, truy kích mạnh, đó là đặc điểm
vè kỷ năng chiến đấu của quân đội Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ trong khi giáo dục
lòng quả cảm và kỹ thuật chiến đấu cho tướng lĩnh, binh sĩ Tây Sơn, ông không
quên nói đến mưu trí. Trong thư gửi Thang Hùng Nghiệp, Nguyễn Huệ cũng nói:
“người khéo thắng là thắng ở chỗ rất mềm dẻo, chứ không phải lấy mạnh đè yếu,
lấy nhiều hiếp ít”[5]. Mềm dẻo nói ở đây tức là cơ trí, linh hoạt. Đánh thắng không
phải chỉ vì số lượng, mà vì mưu trí. Ở đây Nguyễn Huệ đã “gặp” một trong những
người nổi tiếng ở nước Nga ở thời đại đó, là Ru-mi-an-xép, người đã giáo dục cho
tướng lĩnh và binh sĩ Nga theo tinh thần: “Phải cố gắng đánh địch nhiều bằng mưu
trí hơn là thực lực và dùng biện pháp tiến công để bù vào sự thiếu sót của lực
lượng”[6].
Có trình độ chiến thuật và kỹ thuật cao đó là đặc điểm thứ tư của quân đội
Nguyễn Huệ. Cho nên quân đội Nguyễn Huệ vừa có tinh thần chiến đấu cao, có kỷ
luật chặt chẽ lại vừa có tài nghệ. Điều đó khiến họ trở nên gan dạ, dũng cảm, một
người địch nổi mười người, đánh đâu được đấy như chúng ta đã biết.
Chúng ta biết rằng nhân tố tinh thần tác động rất mạnh đến tính chất các kế
hoạch chiến lược và kế hoạch chiến dịch. Khi làm kế hoạch chiến lược, song song
với việc tính toán các nhân tố khác, phải tính toán đến tình trạng tinh thần của nhân
dân và quân đội của cả hai bên. Điều đó, tất nhiên bọn vua chúa, tướng lĩnh phong
kiến, bọn Tôn Sĩ Nghị, Hứa Thế Hanh, bọn chiêu Tăng, chiêu Sương…. Không thể
tính toán chính xác được. Kế hoạch chiến lược của họ biểu hiện sự mất cân đối
giữa mục đích chiến lược quá cao và khả năng chiến lược quá thấp, vì họ đánh giá
quá cao lực lượng bản thân, đánh giá quá thấp lực lượng của đối phương. Còn
Nguyễn Huệ vốn xuất thân từ nhân dân lao động, có một tâm tư, tình cảm, nguyện
vọng, lý tưởng, ý trí chiến đấu như quảng đại quần chúng lao động nên đã “tính
toán” được những khả năng vô tận của nhân tố tinh thần, đã biến được sức mạnh
tinh thần thành sức mạnh vật chất.

