
Môn đệ thứ mười hai
TRUYỆN NGẮN CỦA LÊ HOÀI NAM
Vào dịp lễ Vượt Qua, Đức Giê-su ki-tô rời thành Na-da-rét lên Giê-ru-sa-lem để hoàn
mãn nước Chúa. Vài ngày trước đó, Đức Giê-su nói với mười hai môn đệ:
- Chúng ta chuẩn bị lên thành Giê-ru-sa-lem, ở đó thầy sẽ bị nộp cho các thầy thượng tế
và các thầy thông thạo Kinh Thánh. Họ sẽ giao thầy cho người Rô-ma. Họ sẽ nhạo cười
và nhổ vào thầy, đánh đòn và giết chết thầy. Nhưng sau ba ngày thầy sẽ sống lại.
Giu-đa, gã môn đệ thứ mười hai, nghe thầy nói thế liền chột dạ. Y tự hỏi: thầy linh cảm
thấy cái chết hay thầy đã đọc thấu lòng dạ, tâm địa của ta? Những kẻ theo nhóm Pha-ri-
sêu luôn kỳ thị, ghen ghét với thầy, bọn họ không mấy khi được giáp mặt thầy mà thầy
còn gọi ra ý nghĩ thầm kín u ẩn của họ, huống hồ ta luôn đi theo thầy, thầy ắt phải thấu
lòng ta hơn ai hết. Điều nữa: thầy chết rồi liệu có sống lại được như thầy nói không? Có
thể lắm! Thầy đã từng ban phát sự sống cho những người tưởng như đã giã biệt dương
thế đó thôi. Hay là ta thay đổi ý đồ, quỳ xuống chân thầy xưng tội, xin được tiếp tục đi
theo hầu thầy?
Không! Không thể được! Đức Giê-su có đủ tâm cao đức trọng để xá tội cho ta trong phút
chốc, nhưng ấn tượng về ta, tên môn đệ đã ít nhất một lần phản thầy dù mới chỉ trong tâm
thức sẽ mãi mãi không xóa nhòa được, nó như một vết sẹo lớn trong tâm khảm thầy. Hơn
nữa, và điều này mới là quan trọng nhất: ta đã quá chán ghét cái cuộc sống khốn khó và
nhàm chán này. Ta muốn nhanh chóng có sự đổi thay...
Đức Giê-su ngồi trên lưng lừa, chú lừa tơ chưa ai cưỡi bao giờ, đi về phía thành Giê-ru-
sa-lem. Dân chúng đi theo người rất đông. Nhiều người cởi áo của mình trải xuống lót
đường cho Đức Giê-su đi. Họ vừa đi vừa tưng bừng hô to: “Hoan hô! Kính mừng Đấng

nhân danh Chúa ngự xuống trần. Mừng cho một triều đại mới đang tới, triều đại của vua
Đa-vít, tổ phụ chúng ta! Hoan hô Chúa từ trên các tầng trời!...”
Cũng vào dịp đó, các thầy thượng tế và các thầy thông thạo Kinh Thánh nhanh chóng tụ
họp. Xưa nay họ được coi như những kẻ mũ cao áo dài, đấng bậc trong bàn dân. Họ có
dư thừa đức tin vào Thiên Chúa và thông thuộc Kinh Thánh hơn cả lời chào hàng ngày.
Nhưng họ không thể tin Thiên Chúa lại mượn Ma-ri-a, một trinh nữ thuộc tầng lớp bình
dân để đầu thai ra một ngôn sứ của Chúa. Họ càng không chịu nổi một kẻ trẻ măng như
Giê-su lại có thể rao giảng những điều thiêng liêng của Chúa trước muôn dân. Tụ họp bàn
bạc, họ mong tìm ra một cơ hội để bắt Đức Giê-su và giết đi. Họ nói với nhau: “Chuyện
này không thể làm vào ngày lễ, cũng không thể vào ban ngày, kẻo đám dân mông muội
đang tin Giê-su sẽ nổi dậy chống chúng ta!”.
Đúng lúc ấy, có một kẻ có cái cằm nhọn, rậm râu, mũi khoằm và cặp mắt xếch hay liếc
ngang tìm đến gặp họ và nói:
- Tôi sẵn sàng nộp Giê-su cho các ông!
Các thầy thượng tế và các thầy thông thạo kinh thánh nhận ra người đàn ông này là Giu-
đa Ít-ca-ri-ốt, họ tỏ vẻ ngờ vực. Một người trong bọn họ nói:
- Giu-đa, ngươi vốn là kẻ được tin cẩn nhất của Giê-su, nay vì cớ gì đã nhạt đức tin vào
thầy của ngươi?
- Tôi vẫn tin - Giu-đa đáp - Tôi vẫn tin Đức Giê-su là Em-ma-nu-en (Thiên chúa ở cùng
chúng ta)!
Một vị thượng tế cười khẩy:
- Giu-đa, nhà ngươi hãy nhìn đây: còn ai nhiều đức tin và lòng ngưỡng mộ Thiên Chúa
hơn đám chúng ta. Có ai mà am tường, thuộc Kinh Thánh hơn cánh ta! Vậy lẽ nào Thiên
Chúa không chọn một thục nữ trong giới thượng đẳng để đầu thai mà lại chọn tiện dân
Ma-ri-a?

- Thiên Chúa không chọn một thục nữ trong giới thượng lưu bởi Thiên Chúa sợ thói kiêu
hợm của loại người đó xa lạ với sự thần thiện của Đức chúa con. Trinh nữ Ma-ri-a tiện
dân mà hình hài tuyệt mĩ, cốt cách cao thượng, lòng lành vô cùng. Đức Giê-su đã được
mẹ Ma-ri-a cho thừa hưởng tất cả những gì là tinh cốt nhất của một thiên thần hiện hữu
nơi trần thế. Vẻ đẹp giản dị mà cao sang của người khiến muôn dân chiêm ngưỡng. Lòng
lành và phép mầu nhiệm của người đã cứu độ mọi sinh linh...
Một vị thông thạo Kinh Thánh ngắt lời Giu-đa Ít-ca-ri-ốt:
- Nhà ngươi ngu muội quá rồi! Nhà ngươi không lấy làm hổ thẹn khi một gã thợ mộc như
Giê-su lại có thể đóng vai kẻ làm sáng danh Chúa?
Giu-đa đáp:
- Thiên Chúa ban cho người nghề thợ mộc để người biết thương bao nhiêu thợ mộc khác.
Đức Giê-su từng làm thợ mộc nên mới chọn Phê-rô, một dân chài làm môn đệ của người.
Cả anh em nhà Gia-cô-béc, cả cậu Gio-an tóc vàng cũng từ chốn bình dân; và tôi nữa,
một kẻ vô danh tầm thường...đều được người cứu độ đoái thương...
Một người trong đám thượng tế nói:
- Ta nghe bảo nhà ngươi vốn có nghề môi giới buôn bán nô lệ, đang giầu có lên nhanh,
ngươi không lấy làm tiếc khi trót đi theo Giê-su chỉ để làm một môn đệ mạt hạng ư?
- Tôi môi giới buôn bán nô lệ, đã kiếm được khá tiền trên thân xác những kẻ khốn cùng,
nhưng chưa bao tôi biết nhỏ một giọt lệ khóc thương họ. Dạy tôi làm việc ấy, chính là
Đức Giê-su. Lần đầu nhìn thấy tôi đang buôn người, đôi mắt Giê-su đã dạy tôi điều đó,
rồi người nói: “Này Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, bỏ đi hết, theo ta!”. Thế là tôi đi theo người luôn.
Phải, Đức Giê-su từng bao phen nhỏ lệ chốn bình dân nên người mới truyền dậy những ai
có đức tin nơi người những lời thiêng liêng như thế này:
“Tất cả những ai biết mình nghèo khó trước Thiên Chúa, hãy vui mừng vì nước Trời là
của họ.
Tất cả những ai không đùng bạo lực, hãy vui mừng vì Thiên Chúa sẽ ban đất cho họ.

Tất cả những ai ao ước ý muốn của Thiên Chúa được thực hiện, hãy vui mừng vì Thiên
Chúa sẽ thực hiện lòng ao ước của họ.
Tất cả những ai có lòng xót thương, hãy vui mừng vì họ sẽ được thấy Thiên Chúa.
Tất cả những ai xây dựng hòa bình, hãy vui mừng vì Thiên Chúa sẽ tiếp đón họ như con
của ngài.
Tất cả những ai bị bách hại vì giữ đúng ý muốn của Thiên Chúa, hãy vui mừng vì nước
Trời là của họ”...
- Thôi đi nào! - một vị thượng tế quát lên - tất cả những lời hay ho ấy chưa thể làm bằng
chứng nói rằng Giê-su là một kẻ nhân danh Chúa.
- Thì tôi sẽ nói tiếp để các ông nghe - Giu-đa đáp - vì thời gian lúc này là rất quý giá đối
với các ông và tôi nên tôi chỉ kể hai trong số hàng trăm sự việc mà tôi theo hầu Giê-su đã
từng chứng kiến.
Sự việc thứ nhất:
Chiều hôm ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Chúng ta sang bờ bên kia!”. Họ lên
thuyền và chèo đi. Bỗng nhiên một trận gió lớn nổi lên. Dưới sông sóng bạc đầu. Trên
trời mây đen vần vũ. Sóng dùa qua mạn thuyền, lòng thuyền ngập nước. Trong lúc đó
Đức Giê-su vẫn nằm ngủ phía khoang lái. Các môn đệ đánh thức người dậy và nói:
“Chúng ta chết đến nơi rồi, thầy chẳng lo gì sao?”. Đức Giê-su vươn mình đứng dậy.
Người ngăn đe gió và truyền cho sông biển: “Im đi! lặng đi!”. Gió liền ngừng thổi và
sông biển bỗng êm ả như không có chuyện gì vừa sẩy ra. Đức Giê-su nói với các môn đệ:
“Tại sao các con sợ? Tại sao các con không có lòng tin?”. Các môn đệ nhìn nhau nói:
“Người là ai mà cả gió và sông biển cũng phải nghe lời?”
Sự việc thứ hai:
Đức Giê-su muốn ở một mình với các môn đệ, nhưng dân chúng cứ theo người rất đông,
họ muốn người nói với họ điều gì đó về đời sống mà Thiên Chúa ban cho. Người không

chối từ. Người nói với họ toàn những điều có khả năng băng bó những vết thương tinh
thần mà trong cõi đời thống khổ nơi xứ xở Pa-le-stin cằn khô họ đã và đang nếm trải.
Trời đã gần tối, cả mười hai môn đệ đi đến bên Giê-su và nói: “Xin thầy cho dân chúng
về lại làng tìm chỗ trọ và tìm thức ăn, ở đây hoang vu không có gì, chỉ toàn nước là
nước!”. Đức Giê-su bảo họ: “Các con hãy cho đồng bào của mình ăn đi!”. Các môn đệ
đáp: “Chúng con chỉ có năm cái bánh và hai con cá, trong khi số người đi theo thầy có
khoảng hơn năm ngàn, cả đàn ông, đàn bà và trẻ nhỏ”. Đức Giê-su truyền cho các môn
đệ: “Hãy nói với họ ngồi thành từng nhóm năm mươi ngươi một!”. Các môn đệ nhanh
chóng làm như lời người. Đức Giê-su cầm lấy cái bánh và hai con cá. Người ngước mắt
lên trời cầu nguyện, rồi người bẻ bánh và cá trao tay các môn đệ để họ phân phát cho
từng người dân. Mọi người có mặt đều được ăn, không một ai bị bỏ đói.
Giu-đa kể xong hai sự việc thì các thầy thượng tế và các thầy thông thạo Kinh Thánh phá
lên cười nhạo báng. Vị đứng đầu trong đám ấy nói:
- Này Giu-đa, nhà ngươi tin yêu Giê-su nhường ấy sao nỡ mang dã tâm phản thầy?
Giu-đa đáp:
- Tôi chưa bao giờ suy giảm lòng tin với Giê-su, nhưng tôi đã quá mệt mỏi rã rời, trước
sự thống khổ của dân chúng, ngán ngẩm trước những lời rao giảng hay ho, những lời hứa
hão của các ngài chức sắc. Khi tôi bỏ lại tất cả để đi theo Giê-su là bởi tôi những tưởng
nước Trời đã đã ở rất gần. Giê-su còn trẻ, lại có phép nhiệm mầu Thiên Chúa ban, người
sẽ nhanh chóng mang lại sự phồn vinh cho xứ xở. Đã bao lần dân chúng hô to: “Một
vương quốc mới sắp đến”, nhưng Giê-su lại tỏ ra thờ ở với sự sốt mến đó, người quá bận
rộn về những việc nhỏ bé. Tôi, được Giê-su giao quản lý túi tiền của mười ba thầy trò,
nhưng sự nghèo hèn, chắt bóp đã khiến tôi nhiều lần ra chợ phải cò kè thêm bớt, từng
phải nhịn nhục vì đám con buôn mắng vào mặt tôi là đồ keo bẩn. Chúng tôi đi theo Giê-
su, với những bước dầu dãi, nhưng chỉ luẩn quẩn nơi xứ xở khô cằn, từ Giu-đê tới Ga-li-
lê, từ Khép-rôn tới Ca-phác-na-um....tới đâu cũng thấy dân chúng mông muội, đói khổ,

