NGÀNH DỆT MAY – DA GIÀY
Hà Nội, ngày 31/03/2016
1
TÓM TẮT
- Ngoài vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam (năm 2015, kim ngạch xuất khẩu dệt may – da giày đạt 41,7 tỷ USD, chiếm 25,7% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước), thì ngành Dệt may – Da giày của Việt Nam cũng có vị trí quan trọng trên thị trường dệt may – da giày thế giới. Cụ thể, Việt Nam nằm trong tốp 5 quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới, chiếm 3,8% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may toàn cầu; có vị thế lớn thứ 3 thế giới về sản xuất, thứ 2 về xuất khẩu giày dép với tỷ trọng lần lượt là 3,7% và 9,2%.
- Nhờ có chỗ đứng/vị thế trên thị trường dệt may – da giày quốc tế cũng như trong nước, ngành Dệt may – Da giày đang có tình hình tiêu thụ và sản xuất rất khả quan, với tốc độ tăng trưởng các chỉ tiêu phần lớn ở mức 2 con số trong những năm gần đây. Cụ thể, tổng giá trị xuất khẩu dệt may – da giày tăng bình quân 17,5%/năm trong giai đoạn 2010- 2015. Tại thị trường nội địa, doanh thu dệt may của riêng Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) đã tăng tốc mạnh trong năm 2015, đạt quy mô 26.327 tỷ đồng, tăng trưởng 19,5% - mức ấn tượng sau thời kỳ chỉ tăng trưởng 1 con số (năm 2014 tăng 5,8%, năm 2013 tăng 5,6%, năm 2012 tăng 8%). Đầu ra thuận lợi đã giúp sản lượng lĩnh vực dệt tăng bình quân 18,6%/năm kể từ năm 2013; sản lượng trang phục tăng 9,4%/năm; sản lượng giày dép tăng 19,1%/năm. Nhập khẩu nguyên phụ liệu đầu vào năm 2015 đạt quy mô 18,3 tỷ USD, bằng 43,9% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may – da giày, tăng trưởng giai đoạn 2010 – 2015 trung bình đạt 13,6%/năm.
- Hiện nay, chuỗi giá trị ngành Dệt may – Da giày còn nhiều khuyết điểm, sự liên kết giữa các mắt xích chưa chặt chẽ khiến giá trị gia tăng còn thấp. Cụ thể, Việt Nam phụ thuộc 99% vào nguồn bông nhập khẩu; sự lệch pha về cung cầu khiến Việt Nam xuất khẩu 60% sợi sản xuất được nhưng lại nhập về một số lượng bằng 86,2% lượng xuất đi; năng lực dệt, nhuộm, hoàn tất phát triển chưa tương xứng với sản xuất sợi khiến Việt Nam phải phụ thuộc 83,6% vào nguồn vải nhập khẩu; tại khâu hoàn thiện sản phẩm, 80% sản phẩm thực hiện theo hình thức gia công xuất khẩu khiến gia trị gia tăng đạt khoảng 50,6% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may – da giày.
- Ngành Dệt may – Da giày dự báo sẽ có triển vọng tích cực trong thời gian tới. Theo đó, 2 Hiệp định thương mại vô cùng quan trọng là TPP và FTA Việt Nam – EU (bao gồm 3 thị trường tiêu thụ 66,1% kim ngạch xuất khẩu dệt may – da giày của Việt Nam là Mỹ, EU, Nhật Bản) dự kiến có hiệu lực từ năm 2018. Các hiệp định này sẽ thúc đẩy đầu tư vào sản xuất nguyên phụ liệu vốn đang rất yếu cũng như thu hút đơn hàng sản xuất về Việt Nam để hưởng ưu đãi về thuế. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp phụ trợ dệt may – da giày cũng nhận được sự ưu đãi rất lớn về thuế, kinh phí hỗ trợ từ Chính phủ với Nghị định số 111/2015/NĐ-CP.
- Phần lớn giá trị gia tăng thuộc về doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Giá trị gia tăng của ngành Dệt may - Da giày chủ yếu là tiền công sản xuất của tất cả doanh nghiệp dệt may – da giày tham gia và giá trị phần nguyên liệu nội địa trong quá trình hoàn chỉnh sản phẩm. Tương ứng với tỷ lệ giá trị gia tăng là 50,6% thì với kim ngạch xuất khẩu dệt may – da giày đạt 41,7 tỷ USD trong năm 2015, phần giá trị gia tăng thu về là 21,1 tỷ USD. Doanh nghiệp doanh nghiệp FDI đóng góp 65,7% vào kim ngạch xuất khẩu dệt may – da giày, tương ứng 13,9 tỷ USD giá trị gia tăng; 34,3% còn lại thuộc về doanh nghiệp trong nước, tương ứng với giá trị gia tăng là 7,2 tỷ USD.
2
MỤC LỤC
A. TỔNG QUAN NGÀNH ......................................................................................................... 5
I. KHÁI NIỆM, PHÂN NGÀNH ............................................... Error! Bookmark not defined.
1. Khái niệm ........................................................................... Error! Bookmark not defined.
2. Phân ngành ......................................................................... Error! Bookmark not defined.
3. Mục đích phân tích ngành .................................................. Error! Bookmark not defined.
II. QUY MÔ NGÀNH DỆT MAY – DA GIÀY THẾ GIỚI ................................................ 5
1. Quy mô ngành ...................................................................................................................... 5
Hiện tại, EU là thị trường tiêu dùng dệt may lớn nhất thế giới, tuy vậy, đến năm 2025, vị trí này dự báo được thay thế bởi Trung Quốc .............................................................................. 5
Sản xuất giày dép của Việt Nam đứng thứ 3 thế giới .............................................................. 5
2. Thương mại dệt may – da giày toàn cầu .............................................................................. 6
Việt Nam nằm trong top 5 các nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới .............................. 6
Việt Nam là nước xuất khẩu giày dép lớn thứ 2 thế giới ......................................................... 6
III. QUY MÔ VÀ ĐẶC ĐIỂM NGÀNH DỆT MAY – DA GIÀY VIỆT NAM .................. 7
1. Quy mô và đặc điểm doanh nghiệp ngành .............................................................................. 7
2. Giá trị ngành ........................................................................................................................ 9
IV. CHUỖI GIÁ TRỊ ............................................................................................................. 10
1. DỆT MAY ......................................................................................................................... 12
BÔNG .................................................................................................................................... 12
DỆT ....................................................................................................................................... 13
MAY ...................................................................................................................................... 16
PHÂN PHỐI .......................................................................................................................... 18
TIẾP THỊ, BÁN HÀNG ........................................................................................................ 18
ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHUỐI GIÁ TRỊ ......................................................................... 18
2. DA GIÀY ........................................................................................................................... 20
NGUYÊN LIỆU .................................................................................................................... 20
SẢN XUẤT ........................................................................................................................... 20
V. PHÂN TÍCH SWOT ............................................................................................................ 21
VI. DIỄN BIẾN NGÀNH ....................................................................................................... 22
1. Tiêu thụ .............................................................................................................................. 22
1.1. Xuất khẩu .................................................................................................................... 22
1.2. Tiêu thụ nội địa ........................................................................................................... 25
3
2. Sản xuất .............................................................................................................................. 25
3. Kết quả kinh doanh của một số doanh nghiệp niêm yết .................................................... 29
Doanh thu thuần năm 2015 của nhiều doanh nghiệp may gia công giảm sút ....................... 29
Thêm nhiều hơn số lượng doanh nghiệp có lợi nhuận giảm ................................................. 30
VII. TRIỂN VỌNG NGÀNH .................................................................................................. 31
Triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam tốt hơn trong năm 2016 hỗ trợ nhu cầu tiêu dùng tăng lên, trong đó có dệt may, da giày: .................................................................................. 32
Các hiệp định thương mại tự do (FTA) giúp đơn hàng sản xuất và vốn đầu tư chảy mạnh vào ngành Dệt may – Da giày Việt Nam: .............................................................................. 32
Ngành công nghiệp phụ trợ dệt may – da giày có khả năng phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới nhờ chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ mới đây của Chính phủ: ................... 33
Một số chi phí đầu vào tiếp tục giữ ở mức thấp: ................................................................... 33
B. CẤP TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGÀNH TẠI LPB ................................................................ 34
I. TÌNH HÌNH CHO VAY NGÀNH DỆT MAY – DA GIÀY TẠI LPB ĐẾN NGÀY 31/12/2015 .................................................................................................................................... 34
1. Dư nợ và nợ xấu theo nhóm nợ .......................................... Error! Bookmark not defined.
2. Dư nợ và nợ xấu theo kỳ hạn ............................................. Error! Bookmark not defined.
3. Dư nợ và nợ xấu theo đối tượng khách hàng ..................... Error! Bookmark not defined.
4. Dư nợ và nợ xấu theo mục đích sử dụng vốn .................... Error! Bookmark not defined.
5. Dư nợ và nợ xấu theo Chi nhánh ....................................... Error! Bookmark not defined.
II. TÌNH HÌNH CẤP TÍN DỤNG NGÀNH DỆT MAY – DA GIÀY TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM......................................................................................... 34
Nhóm Ngân hàng nước ngoài đang chiếm thị phần tín dụng cao đối với nhóm khách hàng Dệt may – Da giày đầu ngành ............................................................................................... 35
Đối với nhóm ngân hàng trong nước, thị phần cấp tín dụng nhóm khách hàng đầu ngành dệt may - da giày thuộc về 4 ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước .................................... 35
Tín dụng ngành Dệt may- Da giày của LienVietPostBank còn rất khiêm tốn nếu so với nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh năm 2015 của ngành ............................................................... 36
III. ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT CỦA KHỐI NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC VÀ QUAN HỆ KINH DOANH QUỐC TẾ .................................................................................................. 37
1. Đánh giá về rủi ro của ngân hàng khi đầu tư/cấp tín dụng đối với ngành ..................... 37
2. Đề xuất ........................................................................................................................... 37
4
TỔNG QUAN NGÀNH A.
QUY MÔ NGÀNH DỆT MAY – DA GIÀY THẾ GIỚI I.
Quy mô sản xuất, tiêu thụ ngành 1.
Hiện tại, EU là thị trường tiêu dùng dệt may lớn nhất thế giới, tuy vậy, đến năm 2025, vị trí này dự báo được thay thế bởi Trung Quốc
Theo công ty tư vấn tiêu dùng toàn cầu Wazir Advisors của Ấn Độ, quy mô tiêu thụ dệt may thế giới năm 2012 đạt 1.105 tỷ USD; chiếm khoảng 1,8% GDP toàn cầu. Dự báo đến năm 2025, quy mô ngành dệt may toàn cầu có thể đạt 2.110 tỷ USD, tương ứng tăng trưởng lũy kế hàng năm (CAGR) giai đoạn 2012-2025 đạt khoảng 5%/năm. Cũng theo Clean Clothes Campaign 1 tổ chức có văn phòng tại 16 quốc gia EU, quy mô tiêu thụ dệt may toàn cầu năm 2014 là 1.209 tỷ USD. Dựa trên tốc độ tăng trưởng 5%/năm, năm 2015, quy mô tiêu thụ dệt may toàn cầu ước đạt 1.261 tỷ USD.
Biểu đồ 1: Quy mô tiêu thụ dệt may toàn cầu (Nguồn: Wazir Advisors)
Năm 2015, 4 thị trường tiêu thụ chính, lần lượt theo vị trí là EU-27, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, ước chiếm 73,4% tổng giá trị dệt may toàn cầu. EU-27 là thị trường lớn nhất với giá trị ước đạt 371 tỷ USD. Tuy nhiên, dự báo đến năm 2025, Trung Quốc sẽ trở thành thị trường lớn nhất với giá trị 540 tỷ USD do tăng trưởng CAGR giai đoạn 2012- 2025 dự báo lớn hơn 10%/năm so với tốc độ 2%/năm của EU. Các thị trường lớn tiếp theo là Brazil, Ấn Độ, Nga, Canada, Úc, chiếm 19% tổng giá trị dệt may toàn cầu. Các quốc gia khác chiếm khoảng 44% dân số thế giới nhưng chỉ chiếm khoảng 7% quy mô thị trường dệt may toàn cầu.
Sản lượng giày dép của Việt Nam đứng thứ 3 thế giới nhưng chỉ bằng 5,7% sản lượng của Trung Quốc
Theo ước tính của các tạp chí quốc tế chuyên ngành da giầy, tổng sản lượng giầy dép toàn cầu năm 2014 đạt 24,3 tỷ đôi. Trung Quốc là
5
Bảng 1: Các nước sản xuất giày dép lớn nhất thế giới năm 2014 (Nguồn: Hiệp hội da – giày – túi xách Việt Nam) Triệu đôi
quốc gia có sản lượng giày dép lớn nhất thế giới đạt 64,6% sản lượng toàn cầu, bỏ xa quốc gia xếp thứ 2 là Ấn Độ (8,5%). Việt Nam là nước sản xuất lớn thứ 3 thế giới với 3,7% sản lượng giầy dép toàn cầu. Tốp 10 nước sản xuất lớn nhất thế giới chiếm tới 90% sản lượng giầy dép toàn cầu.
Tỷ trọng 64,6% 8,5% 3,7% 3,7% 3,0% 1,6% 1,3% 1,3% 12,3% 100,0%
15.700 2.065 910 900 724 386 320 315 2.980 24.300
Trung Quốc Ấn Độ Việt Nam Braxin Indonesia Pakistan Thổ Nhĩ Kỳ Bangladesh Khác Tổng
Tiêu thụ giày dép toàn cầu năm 2014 đạt 19,5 tỷ đôi. Ba nước tiêu thụ hàng đầu thế giới là Trung Quốc chiếm 19%, Hoa Kỳ gần 12% và Ấn Độ 10,5% sản lượng giầy dép thế giới. Tốp 10 nước tiêu thụ lớn nhất chiếm 60% tiêu thụ toàn cầu.
2. Thương mại dệt may – da giày toàn cầu
Việt Nam nằm trong tốp 5 các nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới
Bảng 2: Các nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới năm 2014 (Nguồn: UN Comtrade)
Tỷ trọng
Thương mại dệt may toàn cầu năm 2014 đạt 1.116,7 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 589 tỷ USD, nhập khẩu đạt 527,7 tỷ USD. 4 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam, chiếm 50,3% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may toàn cầu.
Trung Quốc Ấn Độ Thổ Nhĩ Kỳ Việt Nam Khác Tổng
Tỷ USD 220,9 29,8 23,6 22,2 292,5 589
37,5% 5,1% 4,0% 3,8% 49,7% 100,0%
5 quốc gia nhập khẩu dệt may lớn nhất thế giới gồm Mỹ, Đức, Nhật, Anh, Pháp, chiếm 42,4% tổng kim ngạch nhập khẩu dệt may toàn cầu.
Bảng 3: Các nước nhập khẩu dệt may lớn nhất thế giới năm 2014 (Nguồn: UN Comtrade) Tỷ USD
Tỷ trọng
17,6% 8,2% 6,0% 5,8% 4,9% 57,6% 100,0%
92,7 43,4 31,7 30,5 25,7 303,7 527,7
Mỹ Đức Nhật Anh Pháp Khác Tổng
Việt Nam là nước xuất khẩu giày dép lớn thứ 2 thế giới
Bảng 4: Các nước xuất khẩu giày dép lớn nhất thế giới năm 2014 (Nguồn: Hiệp hội da – giày – túi xách Việt Nam)
Tỷ trọng
Trung Quốc
Tỷ USD 53,8
40,5%
Thương mại giày dép toàn cầu năm 2014 đạt 255 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 133 tỷ USD, nhập khẩu đạt 122 tỷ USD. Về xuất khẩu, thị phần giày dép của Việt Nam đạt 9,2%, chỉ sau Trung Quốc (40,5%). Tốp 10
6
nước xuất khẩu lớn nhất chiếm 80% kim ngạch xuất khẩu giầy dép toàn cầu.
12,2 11,1 5,6 5,1 45,2 133
9,2% 8,3% 4,2% 3,8% 34,0% 100,0%
Việt Nam Ý Belgium Đức Khác Tổng
Bảng 5: Các nước nhập khẩu giày dép lớn nhất thế giới năm 2014 (Nguồn: Hiệp hội da – giày – túi xách Việt Nam)
Tỷ USD
Tỷ trọng
Về nhập khẩu, Mỹ là nước nhập khẩu lớn nhất thế giới chiếm 20,5% về số lượng và 21,8% về trị giá. Các nước phát triển ở châu Âu là Anh, Đức, Pháp, Italia, Hà Lan, Nga… cũng là những nước nhập khẩu lớn nhất. Tốp 10 nước nhập khẩu lớn nhất thế giới năm 2014 chiếm 56% về số lượng và 64% về tổng trị giá nhập khẩu giầy dép toàn cầu.
26,6 10 7,4 7,1 5,5 65,4 122
21,8% 8,2% 6,1% 5,8% 4,5% 53,6% 100,0%
Mỹ Đức Pháp Anh Ý Khác Tổng
II. QUY MÔ VÀ ĐẶC ĐIỂM NGÀNH DỆT MAY – DA GIÀY VIỆT NAM
1. Quy mô và đặc điểm doanh nghiệp ngành
Bảng 6: Quy mô ngành Dệt may - Da giầy (Nguồn: GSO)
Chỉ tiêu
Dệt
Sản xuất da và các sản phẩm liên quan
Sản xuất trang phục
So với cả nước
Tổng ngành Dệt may – Da giày
8.982
2,4%
2.432
5.167
1.383
2.078 231 69 54
4.688 346 93 40
1.148 140 45 50
7.914 717 207 144
1.831 472 51
3.269 1.114 233
771 315 74
5.871 1.901 358
78
551
223
852
926.386
2.259.535
202.330
1.130.81 9
19,5 %
Số lượng doanh nghiệp (năm 2013) Trong đó, theo quy mô vốn: Dưới 50 tỷ Từ 50 – 200 tỷ Từ 200-500 tỷ Từ 500 tỷ trở lên Trong đó, theo quy mô lao động: Dưới 50 người Từ 51 – 299 người Từ 300-499 người Từ 500 người trở lên Tổng số lao động (năm 2013)
Sợi (Nghìn tấn)
Vải (Triệu M2)
Giày, dép da (Triệu đôi)
Giày vải (Triệu đôi)
Sản lượng (năm 2014)
3.671 (Triệu cái)
1.543
1.324
251
55
Giày thể thao (Triệu đôi) 555
7
thương ban hành
Dệt may - da giày là lĩnh vực có số lượng doanh nghiệp lớn và mức độ sử dụng lao động cao: Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tính đến cuối năm 2013 có 8.982 doanh nghiệp hoạt động trong ngành Dệt may - Da giày (tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp bình quân giai đoạn 2009-2013 đạt 9,5%/năm), chiếm 2,4% số doanh nghiệp cả nước và cao nhất trong lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo, nếu tính trên tổng thể nền kinh tế thì số doanh nghiệp trong ngành chỉ thấp hơn một số ngành như Xây dựng, Bán buôn bán lẻ,... Trong đó, lĩnh vực sản xuất trang phục có số lượng doanh nghiệp cao nhất trong ngành, chiếm tỷ lệ 57,5%, tiếp đến là lĩnh vực dệt (27,1%); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (15,4%). Đây cũng là ngành sử dụng số lượng lao động cao. Số lượng lao động trong ngành chiếm tới 19,5% tổng lực lượng lao động cả nước, cao hơn hẳn các ngành khác.
Địa bàn hoạt động của doanh nghiệp dệt may – da giày có tính tập trung cao: Theo số liệu của Vinatex, phần lớn các công ty dệt may được đặt tại miền Nam (62%), còn lại nằm ở miền Bắc (30%), miền Trung và Tây Nguyên (8%). Doanh nghiệp dệt may khu vực phía Nam tập trung chủ yếu tại TP.HCM, Bình Dương và Đồng Nai, trong đó tập trung nhiều nhất tại TP.HCM chiếm 50,2% tổng doanh nghiệp toàn ngành. Trong khi đó, doanh nghiệp da giày phân bố chủ yếu tại khu vực TP.HCM và Đông Nam Bộ với tỷ trọng 80,7%. Theo quy hoạch phát triển dệt may đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 của Bộ công theo Quyết định 3218/QĐ-BCT, phân bổ ngành sẽ được chia theo 7 khu vực chính, với Hà Nội và TP.HCM đóng vai trò quan trọng nhất, được định hướng trở thành trung tâm thiết kế thời trang, sản xuất mẫu mã, cung cấp dịch vụ, nguyên phụ liệu, công nghệ dệt may, phát triển sản phẩm cao cấp.
Các doanh nghiệp trong ngành phần lớn có quy mô vừa và nhỏ: Xét theo quy mô lao động, doanh nghiệp có quy mô dưới 50 người chiếm tới 65,4%, quy mô từ 50 người đến dưới 300 người chiếm 21,2%, quy mô từ 300 người đến dưới 500 người chiếm 4%, quy mô từ 500 người trở lên chiếm 9,4%. Xét theo quy mô vốn, có tới 88,1% số doanh nghiệp có quy mô dưới 50 tỷ đồng, số doanh nghiệp có vốn trên 50 tỷ đồng chiếm tỷ trọng thấp. Ở quy mô nhỏ, doanh nghiệp sẽ khó nhận được các đơn hàng lớn, khó khăn trong việc trang bị máy móc tiên tiến, giữ chân lao động. Điều này làm giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI.
Biều đồ 2: Phân bố doanh nghiệp dệt may trên cả nước năm 2014 (Nguồn: Vinatex)
8
2. Giá trị ngành
Bảng 7: Một số chỉ tiêu về giá trị ngành (Nguồn: GSO)
Chỉ tiêu
Xơ, sợi dệt
Hàng dệt may
Giày dép các loại
Túi xách, ví, vali, mũ, ô dù
So với cả nước
Nguyên phụ liệu, dệt may, da giày
Tổng ngành Dệt may – Da giày
2.540
22.815
12.011
2.878
1.434
41.678
25,7%
Xơ, sợi dệt các loại
5.003
13.298
8,0%
Kim ngạch xuất khẩu (năm 2015, tỷ USD) Kim ngạch nhập khẩu (năm 2015, tỷ USD)
Bông các loại 1.623
1.519
Vải các loại 10.156
Dệt
Sản xuất da và các sản phẩm liên quan
Sản xuất trang phục
534.844
4,4%
Tổng doanh thu thuần (năm 2013, tỷ đồng)
174.531
191.247
169.066
6.549
3.247
4.388
14.184
2,9%
3,69%
1,68%
2,57%
2,64%
Tổng lợi nhuận (năm 2013, tỷ đồng)) Tỷ suất sinh lời (năm 2013)
157.154
132.499
108.709
398.362
2,2%
Vốn sản xuất kinh doanh (năm 2013, tỷ đồng)
Ngành Dệt may – Da giày đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam
Về doanh thu thuần, số liệu năm 2013 của Tổng cục thống kê cho thấy, tổng doanh thu thuần của ngành Dệt may – Da giày đạt 534.844 tỷ đồng, chiếm 12,1% doanh thu của toàn lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo; lớn thứ 3 chỉ sau doanh thu thuần của ngành chế biến thực phẩm và sản xuất điện tử.
Về nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh, tổng nhu cầu vốn năm 2013 đạt 398.362 tỷ đồng, lớn thứ 2 trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo.
Về xuất khẩu, năm 2015, lĩnh vực hàng dệt may có kim ngạch xuất khẩu 22,8 tỷ USD lớn thứ 2 chỉ sau lĩnh vực điện thoại các loại và linh kiện (30,2 tỷ USD); lĩnh vực giày dép có kim ngạch xuất khẩu 12 tỷ USD – lớn thứ 4. Tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành Dệt may – Da giày (xơ sợi, hàng dệt may, giày dép, túi ví..., nguyên phụ liệu) đạt 41,7 tỷ USD, chiếm 25,7% kim ngạch xuất khẩu cả nước, xếp số 1 trong số các ngành đóng góp lớn nhất vào tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
9
III. CHUỖI GIÁ TRỊ
DỆT MAY Dệt May Phân phối Tiếp thị, bán hàng, dịch vụ hậu mãi Nguyên liệu thô
Nguyên liệu nhiên: tự Bông, lanh, gai, đay Đầu vào
Nguyên liệu hóa dầu: hóa chất, dầu khí
Xuất khẩu Đan, thêu, dệt Cắt, may Hoạt động Nghiên cứu, phát triển xu hướng thời trang Quay, xe sợi, dệt sợi, kết cuộn… Tẩy, nhuộm, hấp, chống co… Tiêu dùng nội địa Bảo hành sản phẩm
Sợi tự nhiên
Sợi nhân tạo Vải dệt thoi Nguyên phụ liệu
Vải dệt kim
Vải đan móc
Quần áo: bộ bảo hộ lao động, áo khoác… Thảm, chăn, ga giường, màn, rèm, vải bạt che… Sản phẩm
Dây thừng, dây chão, dây bện, lưới đánh cá… Phụ kiện: tất tay, thắt lưng, khăn, mũ…
10
DA GIÀY Thuộc da Sản xuất Phân phối Tiếp thị, bán hàng, dịch vụ hậu mãi Nguyên liệu thô
sống: Da cừu, dê, cá sấu, trâu, bò… Đầu vào
Hóa chất: axit, crom, cacbonnat nẩti
Xuất khẩu
Cắt, tạo phom, khâu, dính Hoạt động Nghiên cứu, phát triển xu hướng thời trang Tẩy lông, ngâm vôi, làm mềm, nhuộm da, phơi, căng da… Tiêu dùng nội địa Bảo hành sản phẩm
Da thành phẩm Nguyên phụ liệu
Sản phẩm Vali, túi xách, yên đệm, dây đeo đồng hồ
Giày dép cho mọi mục đích sử dụng
11
1. DỆT MAY
BÔNG
(USDA),
Biểu đồ 3: Sản lượng tiêu thụ bông của các quốc gia trên thế giới
Việt Nam nằm trong tốp 10 nước tiêu thụ bông lớn nhất thế giới: Theo Bộ nông nghiệp Mỹ trong niên vụ 2014/2015, tiêu thụ bông của Việt Nam đạt 893 nghìn tấn, chiếm 3,7% tổng lượng bông tiêu thụ toàn cầu, đứng sau các nước Trung Quốc (7.185 nghìn tấn), Ấn Độ (5.334 nghìn tấn), Pakistan (2.308 nghìn tấn), Thổ Nhĩ Kỳ (1.393 nghìn tấn), Băng la đét (1.197 nghìn tấn). Dù vậy, trong giai đoạn 2011-2014, Việt Nam lại là quốc gia có tốc độ tăng trưởng tiêu thụ bông cao nhất, bình quân 34,9%/năm so với Trung Quốc (-4,6%), Ấn Độ (8,0%)…. Dự báo niên vụ 2015/2016, Việt Nam có thể tiêu thụ 1.110 nghìn tấn bông, tăng 24,3% so với niên vụ trước. Mức tiêu thụ bông của Việt Nam tăng mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu đầu vào trực tiếp cao của ngành công nghiệp kéo sợi cũng như sự phát triển của mắt xích phân phối (xuất khẩu và tiêu dùng nội địa) và giá bông thế giới ở mức thấp.
(Nguồn: USDA)
Giá bông thế giới liên tục giảm qua các năm: Năm 2015, giá bông đạt mức trung bình 70,4 Cents/pound, giảm 15,3% so với năm 2014 (năm 2014 giảm 11,4%, năm 2013 tăng nhẹ 1,3%, năm 2012 giảm 42,3%). So với mức đỉnh cao 154,6 Cents/pound của năm 2011, giá bông năm 2015 đã giảm 54,4%. Tồn kho bông thế giới ở mức cao, đạt 24,4 triệu tấn, tăng bình quân 14,8% giai đoạn 2011-2014 tạo áp lực giảm giá bông toàn cầu. Trung Quốc – nước tiêu thụ bông lớn nhất thế giới (40% sản lượng bông toàn cầu) thay đổi chính sách thu mua và dự trữ bông (thu mua bông nội địa với giá cao hơn thế giới) khiến nhập khẩu bông của nước này giảm mạnh (từ 5,3 triệu tấn niên vụ 2011/12 xuống còn 1,8 triệu tấn niên vụ 2014/15) là nguyên nhân chính dẫn đến tồn kho bông thế giới cao. Giá bông thế giới giảm giúp giá nhập khẩu bông trung bình của Việt Nam trong năm 2015
Biểu đồ 4: Giá bông trên sàn Nymex (Nguồn: Indexmundi)
12
giảm 15,2%, đạt 1.622,7 USD/tấn, giá xơ sợi giảm 8,9% còn 1.918 USD/tấn và khối lượng bông nhập khẩu tăng 34,4% so với năm 2014.
Biểu đồ 5: Cơ cấu nguồn cung bông cho đầu vào lĩnh vực dệt (Nguồn: LPB Research tổng hợp)
Ngay trong mắt xích nguyên liệu thô là bông, cơ cấu nguồn cung đã cho thấy sự mất cân đối: Theo đó, nguồn cung bông từ thị trường nội địa chiếm chưa đầy 1%, hơn 99% bông phụ thuộc vào nhập khẩu. Cụ thể, từ nguồn ngoại nhập, năm 2015, Việt Nam đã nhập khẩu 1,0 triệu tấn bông, kim ngạch 1,6 tỷ USD. So với năm 2010 (khối lượng nhập khẩu đạt 357,4 nghìn tấn, kim ngạch 674,2 triệu USD), nhập khẩu bông năm 2015 đã tăng 180% về khối lượng và 137% về kim ngạch. Trong khi đó, từ nguồn nội địa, niên vụ 2014/15, sản lượng trong nước chỉ đạt 1.360 tấn, giảm 61,1% so với mức 3.500 tấn của năm 2010. Sau giai đoạn phát triển nhanh 2001-2006 diện tích trồng bông tại nước ta đang ngày càng thu hẹp lại (đến nay đạt khoảng 2.000 ha) do không có lợi thế về điều kiện thời tiết, giá bông giảm mạnh những năm gần đây, chất lượng cây bông kém nên không cạnh trạnh được với các nước xuất khẩu lớn như Mỹ, Ấn Độ, Brazil… bất chấp các chính sách phát triển của Chính phủ (như không thu tiền hạt giống đối với người trồng bông). Do đó, không bất ngờ khi Việt Nam trở thành nước nhập khẩu bông lớn thứ 3 thế giới, chỉ sau Băng la đét và Trung Quốc. Và trong tương lai, việc phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn bông nhập khẩu là có thể.
DỆT
Sản xuất sợi nội địa tăng trưởng 2 chữ số trong giai đoạn 2005-2014: Năm 2014, sản lượng sợi đạt 1,5 triệu tấn, tăng 16,8% so với năm 2013, tăng 90,5% so với năm 2010, tăng 495,4% so với năm 2005. Trong giai đoạn 2005-2014, sản lượng sợi ghi nhận mức tăng bình quân 22,9%/năm. Quy mô sản xuất sợi tăng nhanh do nhiều dự án trong nước và đầu tư FDI đi vào vận hành nhằm đón đầu những lợi ích mà các hiệp định thương mại tự do
Biểu đồ 6: Sản lượng sợi qua các năm (Nguồn: GSO)
13
Việt Nam đã và đang ký kết mang lại. Đặc biệt là để đáp ứng quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi” của hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) vốn được kỳ vọng sẽ giúp ngành dệt may tăng hơn 20 tỷ USD đến năm 2020. Trong đó, có thể kể đến những doanh nghiệp lớn như Tập đoàn Texhong với quy mô khoảng 450.000 tấn sợi/năm tại KCN Hải Yên, Quảng Ninh; Sợi Thế Kỷ xây thêm nhà máy với công suất 30.000 tấn sợi/năm tại KCN Trảng Bàng 3, Tây Ninh.
Ngoài ra, trong bối cảnh giá bông cao tại thị trường Trung Quốc do chính sách thu mua bông nội địa giá cao và cấp hạn ngạch bông nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp lớn của nước này đã chuyển nhà máy sản xuất sợi sang Việt Nam để tận dụng nguồn bông nhập khẩu giá rẻ, sau đó xuất ngược trở lại Trung Quốc – là nguyên nhân thứ 2 khiến sản lượng sợi tăng mạnh.
Biểu đồ 7: Kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu sợi qua các năm (Nguồn: GSO)
Lệch pha về cung và cầu của lĩnh vực sợi là sự đứt gãy tiếp theo trong chuỗi giá trị dệt may: Cụ thể, năm 2014, Việt Nam sản xuất được 1,5 triệu tấn sợi, nhưng lại xuất đi 858,3 nghìn tấn, tức gần 60% sản lượng sợi sản xuất được. Trong khi đó, nước ta lại nhập khẩu về 739,9 nghìn tấn, tức 86,2% lượng xuất đi. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, gồm: chất lượng sợi không phù hợp, quy mô khâu dệt nhuộm hoàn tất chưa phát triển tương xứng và đặc tính may gia công xuất khẩu của Việt Nam. Theo đó, sản phẩm sợi của nước ta chưa đa dạng về chủng loại (chủ yếu là sợi cotton, sợi polyester), chất lượng các sản phẩm sợi tập trung ở phân khúc cấp thấp, trung bình nên không đáp ứng được nhu cầu dệt nhuộm vốn đòi hỏi nhiều loại sợi khác nhau (sợi len, sợi spandex, sợi nylon…). Thứ hai, năng lực của khâu dệt nhuộm chậm phát triển hơn so với khâu sợi khiến đầu ra của sợi bị tắc nghẽn, buộc các doanh nghiệp sợi phải tìm đường xuất khẩu. Thứ ba, khâu may của Việt Nam có đến 80% là gia công nên việc chọn nguyên liệu phải theo sự chỉ định của khách hàng. Các doanh nghiệp không thể chủ
14
động đặt nguồn nguyên liệu vải trong nước tác động không tốt đến nhu cầu của khâu dệt nhuộm và sợi trong nước.
Biểu đồ 8: Sản lượng vải trong nước qua các năm (Nguồn: GSO)
Khâu Dệt, nhuộm và hoàn tất chậm phát triển đã tạo thành nút thắt cổ chai trong chuỗi giá trị dệt may: Năm 2014, năng lực sản xuất vải của nước ta đạt 1,3 tỷ m2, tăng 6,8% so với năm 2013, tăng 12,5% so với năm 2010, tăng 136% so với năm 2005. Trong giai đoạn 2005-2014, sản lượng vải chỉ tăng bình quân 11,1%/năm. Các mức tăng trưởng trên đều thấp hơn các mức tăng trưởng sản lượng sợi trong cùng thời kỳ so sánh. Đặc biệt, do năng lực nhuộm và hoàn tất của Việt Nam chỉ đạt khoảng 0,8 tỷ m2 vải/năm nên 40% vải thô làm ra được xuất khẩu sang các nước có hệ thống nhuộm, hoàn tất tốt như Hàn Quốc, Trung Quốc, sau đó xuất ngược trở lại Việt Nam. Khâu dệt, nhuộm, hoàn tất có những lợi thế là nguồn cung sợi đầu vào dồi dào, nhu cầu vải đầu ra cao nhưng lại chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Đầu tư vào khâu này đòi hỏi những yêu cầu rất lớn về vốn, công nghệ, nhân lực và những yêu cầu khắt khe về môi trường nhưng khả năng thu hồi vốn lại chậm. Do đó, chỉ những doanh nghiệp nước ngoài mới đủ khả năng đầu tư. Hơn nữa, nhiều địa phương cũng đưa ra các chính sách hạn chế dự án dệt nhuộm do lo ngại ô nhiễm môi trường khiến quy mô ngành chậm mở rộng.
Biểu đồ 9: Kim ngạch nhập khẩu vải qua các năm (Nguồn: GSO)
Sự mất cân đối tiếp tục diễn ra ở nguồn cung vải khi Việt Nam phụ thuộc phần lớn vào nguồn nhập khẩu: Hiện nay, ngành dệt may Việt Nam cần sử dụng khoảng 8 tỷ m2 vải để sản xuất, trong đó, nguồn vải trong nước chỉ đáp ứng được 16,4%, còn lại là nhập khẩu. Trái với tốc độ tăng trưởng thấp của sản xuất vải trong nước, giá trị vải ngoại nhập lại tăng mạnh trong giai đoạn 2005-2014. Cụ thể, năm 2014, kim ngạch nhập khẩu vải đạt 9,4 tỷ USD, tăng 16,9% so với năm 2013, tăng 75% so với năm 2010, tăng 281% so với năm 2005. Trong giai đoạn 2005-2014, giá trị nhập khẩu bình quân tăng 16,6%/năm. Về cơ cấu
15
thị trường nhập khẩu vải, năm 2014, nhập từ Trung Quốc chiếm 49,5%, Hàn Quốc 19,6%, Đài Loan 14,8%, Nhật Bản 5,9%, Hồng Kông 2,7%.
MAY
Biểu đồ 10: Kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may – da giày qua các năm (Nguồn: Tổng cục Hải quan)
Lĩnh vực công nghiệp phụ trợ phát triển không tương xứng khiến Việt Nam phải nhập khẩu lượng lớn nguyên phụ liệu cho khâu may: Ngoài vải, Việt Nam cũng phải nhập khẩu thêm các vật liệu dựng khác như cúc, khuy, khóa kéo, chỉ may… để hoàn chỉnh sản phẩm. Năm 2015, giá trị nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may – da giày đạt 5 tỷ USD, tăng 90,9% so với năm 2010, chiếm 21,9% kim ngạch xuất khẩu. Trong giai đoạn 2010-2015, kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân 17,6%, cao hơn tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may (16,8%). Việc đầu tư chưa đúng mức vào sản xuất nội địa nguyên phụ liệu ngành may cũng như tính chất gia công của khâu may (mua nguyên phụ liệu theo sự chỉ định của khách hàng) là nguyên nhân chính khiến ngành dệt may phụ thuộc lớn vào nguồn cung nguyên liệu nhập khẩu.
Ở mắt xích may, Việt Nam mới ở mức độ sản xuất cấp thấp:
chức mua hàng cung cấp cho doanh nghiệp gia công toàn bộ đầu vào để sản xuất sản phẩm bao gồm mẫu thiết kế, nguyên liệu, vận chuyển, các nhà sản xuất chỉ thực hiện việc cắt, may và hoàn thiện sản phẩm. Hình thức sản xuất này có tỷ suất lợi nhuận rất thấp, khoảng 4% và thường được các nước phát triển chuyển giao sang thực hiện ở các nước đang phát triển để tận dụng nguồn lao động nhân công dồi dào và giá rẻ. Tại Việt Nam, 80% lượng doanh nghiệp sản xuất theo hình thức này.
CMT (Cut – Make – Trim) (Gia công): Đây là hình thức sản xuất đơn giản nhất khi các tổ FOB (Free on Board) (mua nguyên liệu – bán thành phẩm): Đây là một phương thức sản xuất ở bậc cao hơn so với CMT và có tỷ
16
ODM (Original Design Manufacturing) (Thiết kế dựa trên ý tưởng sẵn có, sản xuất): Đây là phương thức sản xuất xuất khẩu bao gồm khâu thiết kế và cả quá trình sản xuất từ thu mua vải và nguyên phụ liệu, cắt, may, hoàn tất, đóng gói và vận chuyển. Các doanh nghiệp ODM tạo ra những mẫu thiết kế, hoàn thiện sản phẩm và bán lại cho người mua, thường là chủ của các thương hiệu lớn trên thế giới.
suất sinh lời khoảng hơn 7%. Khác với CMT, các nhà xuất khẩu theo FOB sẽ chủ động mua nguyên liệu đầu vào cần thiết thay vì được cung cấp từ các người mua của họ. Tại Việt Nam, khoảng 18% lượng doanh nghiệp sản xuất theo phương thức này. Có thể kể đến những cái tên như: CTCP dệt may đầu tư thương mại Thành Công (TCM), CTCP đầu tư và thương mại TNG, CTCP Everpia Việt Nam. Có 3 phương thức sản xuất FOB như sau:
FOB cấp I: Các doanh nghiệp thực hiện theo phương thức này sẽ thu mua nguyên liệu đầu vào từ các nhà cung cấp do khách mua chỉ định. Phương thức xuất khẩu này đòi hỏi các doanh nghiệp dệt may phải chịu thêm trách nhiệm về tài chính để thu mua và vận chuyển nguyên liệu.
OBM (Original Brand Manufacturing) (Tự thiết kế, sản xuất, phân phối): Các hãng sản xuất tự thiết kế và ký các hợp đồng cung cấp hàng hóa trong và ngoài nước cho thương hiệu riêng của mình. Các nhà sản xuất theo phương thức OBM chủ yếu phân phối sản phẩm tại thị trường nội địa và thị trường các quốc gia lân cận. Khoảng 2% lượng doanh nghiệp Việt Nam sản xuất theo ODM và OBM, điển hình là: Việt Tiến, Phong Phú, May 10…. Tỷ suất sinh lời của 2 phương thức này có thể đạt 30-40%.
FOB cấp II: Các doanh nghiệp thực hiện theo phương thức này sẽ nhận mẫu thiết kế sản phẩm từ các khách mua nước ngoài và chịu trách nhiệm tìm nguồn nguyên liệu, sản xuất và vận chuyển nguyên liệu và thành phẩm tới cảng của khách mua. Điểm cốt yếu là các doanh nghiệp phải tìm được các nhà cung cấp nguyên liệu có khả năng cung cấp các nguyên liệu đặc biệt và phải tin cậy về chất lượng, thời hạn giao hàng.
Hiện nay, ngành dệt may gặp khó khăn khi dịch chuyển lên các phương thức sản xuất cao hơn do không có khả năng tìm được nguồn vải đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và thời gian giao hàng và không đủ khả năng về tài chính để đề phòng giải quyết cho các trường hợp phát sinh rủi ro khi thực hiện hợp đồng nhằm đáp ứng việc giao hàng đúng thời hạn. Đặc biệt, ngành may mặc Việt Nam đang rất yếu ở mảng thiết kế sản phẩm vì thiếu các nhà thiết kế giỏi, khó tiếp cận và thiếu thông tin về nhu cầu khách hàng, xa thị trường tiêu dùng cuối cùng.
FOB cấp III: Các doanh nghiệp thực hiện theo phương thức này sẽ tự thực hiện sản xuất hàng may mặc theo thiết kế riêng của mình và không phải chịu ràng buộc bởi bất kỳ cam kết trước nào với các khách mua nước ngoài. Để có thể thực hiện thành công hoạt động sản xuất theo phương thức này, các doanh nghiệp cần phải có khả năng thiết kế, marketing và hậu cần.
17
PHÂN PHỐI
Doanh nghiệp dệt may Việt Nam chú trọng nhiều hơn vào hoạt động xuất khẩu: Về sản xuất, năm 2014, sản lượng quần áo mặc thường đạt 3,7 tỷ chiếc, trong đó, 70% dành cho xuất khẩu, 30% cho tiêu dùng nội địa. Về doanh thu, năm 2014, doanh thu xuất khẩu hàng dệt may đạt 20,9 tỷ USD, doanh thu nội địa đạt 70.000 tỷ đồng (3,3 tỷ USD), tương ứng với cơ cấu tỷ trọng 86% doanh thu đến từ xuất khẩu, 14% từ nội địa. Trong giai đoạn 2010-2015, giá trị xuất khẩu ghi nhận tốc độ tăng trưởng bình quân 18,3%, trong khi tăng trưởng tiêu dùng dệt may nội địa là 10-15%.
Biểu đồ 11: Cơ cấu doanh thu tiêu thụ dệt may (Nguồn: LPB Research tổng hợp)
TIẾP THỊ, BÁN HÀNG
Người mua toàn cầu
Người tiêu dùng
T h
i ế u
Các nhà buôn Văn phòng đại diện
l i ê n k ế t
Các nhà sản xuất khu vực
Các DN dệt may Việt Nam
Đây là mắt xích yếu nhất trong chuỗi giá trị dệt may, hạn chế sự xâm nhập của hàng dệt may Việt Nam ra bên ngoài thế giới: Do khoảng cách địa lý xa thị trường tiêu dùng cuối cùng, do phương thức xuất khẩu gia công làm triệt tiêu động lực tìm kiếm, khảo sát nhu cầu thị trường nên các doanh nghiệp dệt may nước ta đang phụ thuộc rất lớn vào khâu trung gian để đưa sản phẩm tới người tiêu dùng. Họ phải thông qua các nhà bán buôn khu vực, văn phòng đại diện của hãng thời trang lớn thế giới để có các hợp đồng gia công, rất ít doanh nghiệp dệt may có được các hợp đồng trực tiếp từ các nhà bán lẻ để cung cấp sản phẩm của mình. Việc không nắm bắt sự thay đổi nhu cầu của người mua cũng như xu hướng thời trang mới trên thế giới khiến mắt xích may dậm chân rất lâu ở phương thức sản xuất gia công.
ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHUỐI GIÁ TRỊ
Ngành dệt may Việt Nam đang phát triển những mắt xích có giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị: 3 mắt xích đó gồm Dệt, May, Phân phối. Hiện nay, các doanh nghiệp đang làm tốt nhất ở khâu may gia công do khâu này không đòi hỏi đầu tư cao về
18
Giá trị gia tăng
Dệt
May
Phân phối
Tiếp thị, hậu mãi
Nguyên liệu thô
Biểu đồ 121: Giá trị gia tăng dệt may (Nguồn: LPB Research tổng hợp)
công nghệ và tận dụng được nguồn lao động giá rẻ. Tỷ suất sinh lời của khâu này cũng ở mức thấp, khoảng 4% (tỷ suất sinh lời năm 2015 của các CTCP SX&TM may Sài Gòn là 3,7%, ĐT&TM TNG là 3,9%, may Phú Thịnh Nhà Bè là 5,5%). Ở khâu dệt, các sản phẩm chủ yếu vẫn là sợi, chăn, ga, gối, đệm. Tỷ suất sinh lời của khâu này cao hơn khâu may, khoảng hơn 7% (tỷ suất sinh lời năm 2015 của CTCP Sợi Thế Kỷ là 6,9%, Everpia Việt Nam là 13%). Ở khâu phân phối, không có số liệu cụ thể về tỷ suất sinh lời. Tuy nhiên, tại thị trường trong nước, bước đầu, các doanh nghiệp đã đặt nền móng bằng việc phát triển thương hiệu Made in Vietnam cũng như chuỗi cửa hàng Vinatex. Tại thị trường xuất khẩu, hàng dệt may Việt Nam cũng dần được biết đến như cứ điểm sản xuất cho hàng dệt may toàn cầu.
Bảng 8: Cân đối thặng dư thương mại (Nguồn: Hiệp hội Dệt may Việt Nam)
Tiêu chí
10T2015
Tổng xuất khẩu (XK) XK dệt may Trong đó: XK vải XK Xơ sợi XK vải không dệt XK NPL dệt may Tổng nhập khẩu (NK) Bông Xơ sợi các loại Vải NPL dệt may NK cho XK
Năm 2014 24692 20949 800 2543 456 744 15461 1443 1559 9428 3031 12239
22208 18953 830 2119 377 759 13790 1419 1264 8395 2712 10971
Cân đối Xuất khẩu - NK cho XK Tỷ lệ GTGT
11237 50,6%
12453 50,4%
Trong chuỗi giá trị dệt may xuất khẩu, Việt Nam thu về 50,6% giá trị: Cụ thể, trong 10 tháng 2015, giá trị thặng dư từ xuất khẩu (sau khi trừ đi giá trị nhập khẩu cho xuất khẩu) đạt 11,2 tỷ USD, bằng 50,6% giá trị xuất khẩu, tăng nhẹ so với mức 50,4% của năm 2014. Như vậy, nếu coi giá trị của 1 sản phẩm xuất khẩu là 100%, Việt Nam chỉ thu về 50,6% giá trị. Đó là tiền công sản xuất của tất cả doanh nghiệp dệt may tham gia và giá trị phần nguyên liệu nội địa trong quá trình hoàn chỉnh sản phẩm và đưa đến tay người tiêu dùng. Gần 50% giá trị còn lại thuộc về giá trị nguyên phụ liệu nhập khẩu và khâu Tiếp thị, hậu mãi trong khi phần lớn công đoạn tạo ra sản phẩm là do doanh nghiệp Việt Nam đảm nhận. Điều này đặt ra cơ hội cũng như thách thức cho ngành Dệt may Việt nam là phải chuyển sang các khâu nguyên phụ liệu và tiếp thị, hậu mãi để đạt được giá trị gia tăng lớn nhất.
19
2. DA GIÀY
NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT
Sản lượng giày ghi nhận các mức tăng trưởng cao những năm gần đây: Năm 2014, Việt Nam sản xuất được 861,9 triệu đôi giày, trong đó có 251,2 triệu đôi giày da; 55,4 triệu đôi giày vải; 555,3 triệu đôi giày thể thao, tương ứng với tỷ trọng là 29,1%; 6,4% và 64,4%. Đối với giày dép da, sản lượng giày tăng trưởng 10,3% năm 2014; 2,6% năm 2013 và 10,8% năm 2012. Đối với giày thể thao, sản lượng giày tăng trưởng 15,5% năm 2014; 19,9% năm 2013 và 5,5% năm 2012. Đối với giày vải, tốc độ tăng thấp hơn, lần lượt ở các mức 4,3%; 3,9%; 3,0%. Trong giai đoạn 2005-2014, tổng sản lượng giày ghi nhận mức tăng trưởng bình quân 6,6%, trong đó, sản lượng giày dép da tăng bình quân 2,1%; giày vải tăng 6,0% và giày thể thao 9,9%. Hầu hết các thương hiệu giầy quốc tế lớn như Nike, Adidas, Reebok, Puma, New Balance, Reebok, Salomon… đều đặt hàng gia công tại Việt Nam. Hiện có 90% sản lượng giày dép là dành cho xuất khẩu.
Cũng giống như Dệt may, ngành Da giày phụ thuộc hơn 50% vào nguyên liệu nhập khẩu: Theo Hiệp hội Da – Giày – Túi xách Việt Nam (Lefaso Vietnam), sản xuất da thuộc trong nước (sản xuất mũ giày, lót giày, túi cặp) trong năm 2014 đạt 210 triệu m2, đáp ứng được 24,4% nhu cầu về da thuộc. Sản xuất giả da trong nước cũng đáp ứng được 4,2% nhu cầu; sản xuất vải dệt (sản xuất mũ giày, túi cặp, ba lô) đáp ứng 17,5%; vải không dệt (làm lót, đệm mũ giày, túi) đáp ứng được 12,5%; carton (sản xuất đế trong) đáp ứng 16,7%; sản xuất đế giày các loại có tỷ lệ đáp ứng cao nhất - 58,7% nhu cầu. Riêng nhập khẩu da thuộc trong năm 2014 đạt 1,1 tỷ USD, tăng 37,7% so với năm 2013. Chưa kể nhập khẩu nguyên phụ liệu khác được gộp với ngành dệt may là 5 tỷ USD trong năm 2014. Hiện nay, chưa đến 20 doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam đủ sức làm hàng FOB, khoảng 70% doanh nghiệp sản xuất da giày, túi xách của Việt Nam theo phương thức gia công. Nhà sản xuất không được chủ động tìm kiếm và đặt nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất mà phải theo chỉ định của khách hàng, thường là đối tác nước ngoài. Do đó, không tạo động lực cho lĩnh vực sản xuất nguyên phụ liệu phát triển.
20
IV. PHÂN TÍCH SWOT
Điểm mạnh Điểm yếu
Khâu may, sản xuất và phân phối ít nhiều đã khẳng định được thế mạnh khi giúp hàng dệt may, giày dép có được vị trí cao tại các thị trường xuất khẩu khó tính là Mỹ (dệt may và da giày đều có thị phần lớn thứ 2); EU (dệt may đứng 4, da giày đứng thứ 2), Nhật Bản.
Các mắt xích đều có những điểm yếu: nguyên phụ liệu chưa đáp ứng đủ nhu cầu và phụ thuộc lớn vào nhập khẩu, khâu thiết kế chưa phát triển, khâu may phần lớn ở cấp độ gia công, không chú trọng tới mảng tiếp thị, bán hàng. Điều này khiến giá trị gia tăng của ngành còn thấp.
Indonesia
Phần lớn các doanh nghiệp dệt may có quy mô vừa và nhỏ, tiềm lực tài chính mỏng, khó có khả năng dịch chuyển nhanh sang các mắt xích có hàm lượng giá trị gia tăng cao.
Việt Nam có chi phí lao động thấp hơn một số quốc gia cạnh tranh là Trung Quốc (lương cơ bản năm 2013 khoảng (390 410 USD/tháng), Thái Lan USD/tháng), (210 USD/tháng)…, của Việt Nam là 180 USD/tháng.
Cơ hội Thách thức
Đáp ứng các quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi” của hiệp định TPP, “từ vải trở đi” của FTA Việt Nam – EU trong bối cảnh Việt Nam chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu từ các nước ngoài hiệp định là Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ…
Hai hiệp định thương mại là TPP và FTA Việt Nam – EU sẽ đem lại những cơ hội rất lớn cho ngành dệt may thông qua: (1) Gia tăng thị phần xuất khẩu tại thị trường Mỹ và EU do thuế nhập khẩu giảm xuống 0%. (2) Gia tăng đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp phụ trợ nhằm giải bài toán nguyên liệu tại Việt Nam
Việt Nam đón nhận được luồng dịch chuyển đơn hàng sản xuất từ Trung Quốc, Hàn Quốc nhờ chi phí nhân công thấp, tình hình xã hội ổn định… … Thách thức đối với doanh nghiệp nội địa khi phải cạnh tranh với doanh nghiệp FDI về đơn hàng, lao động. Từ đó, khó nâng được tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước so với doanh nghiệp FDI.
Đảm bảo tuân thủ chính sách phát triển của Chính phủ khi khuyến khích đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ (dệt nhuộm) nhưng lại hạn chế các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường.
21
V. DIỄN BIẾN NGÀNH
1. Tiêu thụ
1.1. Xuất khẩu
Giá trị xuất khẩu dệt may – da giày liên tục tăng trưởng 2 chữ số trong giai đoạn 2010- 2015
Năm 2015, tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may – da giày đạt 41,7 tỷ USD, tăng 11,7% so với năm 2014. Tính riêng từng sản phẩm, xuất khẩu hàng dệt may đạt 22,8 tỷ USD, chiếm 54,7% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may – da giày. Xuất khẩu giày dép các loại đạt 12 tỷ USD, chiếm 28,8%. Xuất khẩu túi xách, ví, ba lô đạt 2,9 tỷ USD, chiếm 6,9%. Xuất khẩu xơ, sợi dệt đạt 2,5 tỷ USD, chiếm 6,1%. Xuất khẩu nguyên phụ liệu đạt 1,4 tỷ, chiếm 3,4%.
Trong giai đoạn 2010-2015, tổng giá trị xuất khẩu dệt may – da giày tăng bình quân 17,5%/năm. Xét riêng từng thành phần, xuất khẩu hàng dệt may tăng bình quân 15,4%/năm; giày dép các loại tăng 18,7%/năm; túi xách, ví, ba lô tăng 24,1%/năm; xơ, sợi dệt tăng 12,9%/năm; nguyên phụ liệu tăng 22,4%/năm.
Biểu đồ 13: Kim ngạch xuất khẩu dệt may – da giày các năm (Nguồn: Tổng cục Hải quan)
Khoảng 80% doanh nghiệp dệt may – da giày Việt Nam chỉ thực hiện công đoạn sản xuất trong khi đầu vào và đầu ra đã có các chủ hàng, các công ty có chuỗi giá trị toàn cầu cung cấp, bao tiêu. Đây là nguyên nhân cốt lõi giúp kim ngạch xuất khẩu dệt may – da giày Việt Nam tăng nhanh trong những năm qua. Hơn nữa, mức độ tinh xảo của các sản phẩm dệt may Việt Nam chưa cao, chủ yếu là áo khoác (chiếm 22,6% giá trị xuất khẩu dệt may trong 10 tháng 2015), áo thun (chiếm 19,8%), quần áo trẻ em (5,9%), trong khi các sản phẩm giá trị cao hơn là váy có giá trị xuất khẩu thấp, chiếm 5,3%, áo Ghilê (chiếm 0,4%)….
Phần lớn kim ngạch xuất khẩu dệt may – da giày của Việt Nam thuộc về khối doanh nghiệp FDI
22
Biểu đồ 14: Cơ cấu xuất khẩu của các khối doanh nghiệp năm 2015 (Nguồn: Tổng cục Hải quan)
Năm 2015, giá trị xuất khẩu dệt may – da giày đạt được 41,7 tỷ USD, trong đó có tới 65,7% giá trị thuộc về doanh nghiệp FDI, còn lại 34,3% thuộc về doanh nghiệp nội địa, trong khi số lượng doanh nghiệp FDI và nội địa tương ứng là 25% và 75%. Xu hướng chung của các đối tác nhập khẩu lớn tại Mỹ, Nhật Bản và châu Âu là chọn những doanh nghiệp có khả năng sản xuất trọn gói, từ kéo sợi, dệt vải cho đến cắt, may hoặc tương tự với lĩnh vực da giày. Do đó, các doanh nghiệp FDI với lợi thế về đầu tư sản xuất theo chuỗi khép kín đang là đối tượng tìm đến của các nhà nhập khẩu lớn tại Mỹ, EU, Nhật Bản. Điều này giải thích vì sao giá trị xuất khẩu của khối FDI chiếm gần 70% giá trị xuất khẩu dệt may – da giày cả nước.
Riêng trong tháng 10, các doanh nghiệp FDI đóng góp giá trị xuất khẩu lớn cho hàng dệt may Việt Nam có thể kể đến những cái tên như: Sakurai Việt Nam (Nhật), May Tinh Lợi (Crystal Hong Kong), Hanesbrands Việt Nam Huế (Mỹ), Hansae Việt Nam (Hàn Quốc)…. Phía doanh nghiệp Việt Nam có các doanh nghiệp điển hình là May Việt Tiến, May Bắc Giang, May Sông Hồng, May Nhà Bè…
Mức độ xuất khẩu theo thị trường là khá tập trung khi 5 thị trường xuất khẩu là Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc chiếm 80,4% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may – da giày
Các sản phẩm dệt may của Việt Nam đã có mặt tại 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong khi đối với da giày là 40 quốc gia. Trong 5 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Việt Nam đều đã có quan hệ thương mại song phương hoặc đa phương.
Thị trường Mỹ: Năm 2015, xuất khẩu dệt may – da giày của Việt Nam sang Mỹ đạt 16,3 tỷ USD, là thị trường tiêu thụ lớn nhất của Việt Nam, chiếm 39,1% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may - da giày. Tính riêng hàng dệt may, năm 2015, Mỹ nhập khẩu 111,9 tỷ USD, trong
23
đó, nhập từ Việt Nam đạt 11,3 tỷ USD. Với giá trị này, thị phần hàng dệt may Việt Nam tại Mỹ đạt 10%, đứng thứ 2 sau Trung Quốc (thị phần 38,6%). Hiệp định TPP vừa kết thúc đàm phán vào tháng 11/2015 và dự kiến hiệu lực năm 2018 sẽ thúc đẩy hàng dệt may – da giày sang Mỹ nhờ mức thuế giảm mạnh
Biểu đồ 15: Cơ cấu thị trường xuất khẩu năm 2015 (Nguồn: Tổng cục Hải quan)
Thị trường EU: EU là thị trường tiêu thụ hàng dệt may – da giày lớn thứ 2 của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt 8,4 tỷ USD, chiếm 20,2%. Trong 9 tháng đầu năm 2015, thị trường này tiêu thụ 69 tỷ USD hàng dệt may nhập khẩu. Thị phần hàng dệt may của Việt Nam tại EU đạt 3,4%, đứng thứ 4 sau Trung Quốc (thị phần 37%), Băng la đét (17%), Thổ Nhĩ Kỳ (11,5%), Ấn Độ (6,7%). Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đã kết thúc đàm phán vào tháng 12/2015, dự kiến hiệu lực vào năm 2018 là sẽ là một trong những yếu tố đẩy mạnh xuất khẩu dệt may – da giày.
Thị trường Trung Quốc: Trung Quốc trở thành thị trường tiêu thụ dệt may – da giày lớn thứ 3 của Việt Nam với giá trị nhập khẩu 3,2 tỷ USD từ Việt Nam. Giá nhân công, giá bông nội địa nước này cao hơn các quốc gia cạnh tranh khác đã khiến nước này dịch chuyển nhà máy sang Việt Nam sản xuất và nhập ngược trở lại Trung Quốc. Hiện Trung Quốc là nước tiêu thụ xơ sợi lớn nhất của Việt Nam với thị phần 53,7%. Hiện nay, Việt Nam và Trung Quốc đang có quan hệ thương mại thông qua Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc.
Thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc: 2 thị trường này chiếm lần lượt 6,8% và 6,7% kim ngạch xuất khẩu dệt may – da giày của Việt Nam trong năm 2015. Hàng dệt may của Việt Nam đều có thị phần lớn thứ 2 tại Nhật Bản và Hàn Quốc sau Trung Quốc. Hiện nay, Việt Nam đều có quan hệ song phương với Nhật Bản và Hàn Quốc thông qua 2 hiệp định thương mại là Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản và FTA Việt Nam – Hàn Quốc.
24
1.2. Tiêu thụ nội địa
Doanh thu dệt may nội địa tăng trưởng mạnh trong năm 2015
Biểu đồ 16: Doanh thu nội địa của Vinatex qua các năm (Nguồn: LPBResearch tổng hợp)
Năm 2015, doanh thu dệt may tại thị trường trong nước của Tập đoàn dệt may Việt Nam (Vinatex) ước đạt 26.327 tỷ đồng, chiếm khoảng 30% thị trường tiêu dùng hàng dệt may trong nước. Tăng trưởng doanh thu năm 2015 tăng 19,5% so với năm 2014, cao hơn nhiều các mức tăng 5,8% của năm 2014, 5,6% năm 2013 và 8% năm 2012. Nhờ các chương trình kích cầu tiêu dùng như hội chợ, xu hướng “người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”, nhiều sản phẩm “Made in Việt Nam” đã được người tiêu dùng lựa chọn, giúp thị phần dệt may nội địa tăng lên.
Dệt may – da giày là một trong những lĩnh vực có cầu tiêu dùng cao nhất trong giỏ tính hàng tiêu dùng nội địa
Chỉ số giá tiêu dùng lĩnh vực may mặc, mũ nón, giày dép có xu hướng giảm tốc kể từ năm 2011, cùng chiều với nhiều lĩnh vực khác. Năm 2015, chỉ số này tăng 3,3%, cao hơn tốc độ tăng của chỉ số chung (0,6%), hàng ăn và dịch vụ ăn uống (1,5%), đồ uống và thuốc lá (2,2%). Chỉ số giá tiêu dùng tăng cho thấy trong quan hệ cung cầu, nhu cầu lĩnh vực may mặc, mũ nón, giày dép trong nước vẫn đang khả quan.
Biểu đồ 17: Chỉ số giá tiêu dùng các ngành (Nguồn: GSO)
2. Sản xuất
Nhìn chung, sản lượng các lĩnh vực đều ghi nhận mức tăng trưởng cao trong năm 2015
25
Cụ thể, Chỉ số sản xuất ngành dệt may da giày của GSO (đây là một chỉ số đo lường khối lượng sản xuất tạo ra trong kỳ) cho thấy sản lượng lĩnh vực giày dép trong năm 2015 đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất, ở mức 17,4%; tiếp đến là sản lượng lĩnh vực dệt với 13,9% và sản lượng trang phục 5,6%. Do tính chất sản xuất và xuất khẩu theo phương thức gia công là chủ yếu nên có sự tương đồng rõ rệt trong xu hướng tăng trưởng giữa các chỉ tiêu sản xuất và xuất khẩu của từng sản phẩm.
Biểu đồ 18: Chỉ số sản xuất các lĩnh vực (Nguồn: GSO)
Đối với lĩnh vực sản xuất dệt (sợi, vải), từ năm 2012 đến năm 2015, tốc độ tăng trưởng sản xuất luôn lớn hơn tốc độ tăng xuất khẩu (sợi các loại). Cùng với việc hàng tồn kho ở mức thấp, có thể thấy rằng, nhu cầu về sợi và vải trong nước vẫn ở mức cao. Việc Việt Nam tham gia đàm phán Hiệp định TPP trong năm 2010 đã thu hút lượng lớn dự án đầu tư nước ngoài cũng như sự mở rộng nhà máy của doanh nghiệp nội địa vào lĩnh vực sợi dệt để đáp ứng quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi”. Điều này giúp tăng trưởng sản lượng lĩnh vực này gần như luôn ở mức 2 chữ số từ năm 2011 đến nay, so với mức tăng dưới 5% từ năm 2010 trở về trước.
Đối với lĩnh vực sản xuất trang phục, trong giai đoạn 2010-2015, tốc độ tăng trưởng sản xuất luôn thấp hơn tốc độ tăng xuất khẩu (hàng dệt may). Điều này cho thấy hàm lượng giá trị gia tăng trong các sản phẩm xuất khẩu đang dần được cải thiện. Tuy vậy, cả tăng trưởng sản xuất và xuất khẩu đều đang đối mặt với sự giảm tốc trong 3 năm gần đây.
Lĩnh vực sản xuất trang phục có thể đang gặp khó khăn về đơn hàng khi tồn kho ở mức cao
26
Lĩnh vực này đang đối mặt với tốc độ tăng trưởng sản xuất và xuất khẩu ở mức thấp nhất của giai đoạn 2010-2015. Trong năm 2015, tốc độ tăng trưởng của sản xuất và xuất khẩu lần lượt đạt 5,6% và 9,1% (năm 2014, sản xuất tăng 11,8%, xuất khẩu tăng 16,6%). Sự tăng trưởng chậm lại củaxuất khẩu là nguyên nhân khiến sản lượng tồn kho tại thời điểm tháng 12/2015 ở mức cao, đạt 20,0%. Lĩnh vực này yêu cầu tính thời trang cao nên sản lượng tồn kho cao có thể mang đến những rủi ro như giảm giá hàng bán hoặc không bán được hàng đối với nhà sản xuất.
Biểu đồ 19: Chỉ số tồn kho các lĩnh vực dệt may – da giày (Nguồn: GSO)
Đối với lĩnh vực dệt và giày dép, tồn kho tại tháng 12/2015 lần lượt tăng 11,7% và 30,3% so với cùng kỳ năm 2014. Sản lượng giày dép tồn kho lớn nhưng không đáng ngại bởi tăng trưởng sản xuất và xuất khẩu đều đang ở mức cao, tương ứng 17,4% và 16,3%. Hơn nữa, tồn kho tại thời điểm cuối năm 2014 giảm 8,1% nên việc tăng tồn kho năm 2015 sẽ đảm bảo lượng hàng đủ cho xuất khẩu.
Nhập khẩu nguyên phụ liệu liên tục tăng qua các năm
Năm 2015, kim ngạch nhập khẩu tất cả nguyên liệu cho ngành Dệt may – Da giày gồm: bông, xơ, sợi, vải, nguyên phụ liệu đạt 18,3 tỷ USD, tăng 6,2% so với năm 2014, bằng 43,9% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may – da giày. Trong đó, giá trị nhập khẩu bông đạt 1,6 tỷ USD, chiếm 8,9% tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu; Xơ, sợi dệt đạt 1,5 tỷ USD, chiếm 8,3%; Vải đạt 10,1 tỷ USD chiếm 55,5%; nguyên phụ liệu đạt 5 tỷ USD, chiếm 27,3%.
Biểu đồ 20: Cơ cấu nhập khẩu nguyên vật liệu dệt may – da giày (Nguồn: Tổng cục hải quan)
Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu trong giai đoạn 2010-2015 đạt bình quân 13,6%/năm. Có thể thấy, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu bông cho sản xuất ở mức khá cao trong giai đoạn 2010-2015, bình quân đạt 21,7%/năm. Kéo theo đó là sự giảm tốc của nhập khẩu xơ, sợi dệt. Đây cũng là kết quả của làn sóng đầu tư mới và mở rộng nhà máy xơ sợi tại Việt Nam trong thời gian qua, trong bối cảnh sản
27
lượng bông nội địa không đáp ứng đủ nhu cầu.
Biểu đồ 21: Cơ cấu thị trường nhập khẩu nguyên liệu dệt may – da giày (Nguồn: LPB Research tổng hợp)
Thị trường nhập khẩu phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc, Đài Loan. Đối với xơ, sợi dệt, giá trị nhập khẩu từ 2 thị trường này trong năm 2015 đạt 933 triệu USD, chiếm 61,4% kim ngạch nhập khẩu xơ sợi dệt các loại. Đối với vải, giá trị nhập khẩu là 6,7 tỷ USD, chiếm 66,6% kim ngạch nhập khẩu vải các loại. Đối với nguyên phụ liệu, giá trị nhập khẩu đạt 2,2 tỷ USD, chiếm 44,9%. Việc tập trung cao vào một vài thị trường nhập khẩu dễ khiến doanh nghiệp bị động trước những biến cố về chính trị đã từng xảy ra (tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc) cũng như hạn chế khả năng đa dạng hóa nguồn hàng của doanh nghiệp.
Bảng 9: Giá trị nhập khẩu từ nội khối TPP năm 2015 (Nguồn: Tổng cục Hải quan) Sợi
48,3
Vải 34,6 568,1 3 50,9
22,1
NPL 299,2 198,2 1,8 27,5 29,7
38,2
21,5
70,4
656,6
616,1
Mỹ Nhật Bản Singapore Malaysia Niudilan Peru Úc Chi lê Canada Bruney Mehico Tổng Tỷ trọng từ TPP
6,5% 12,3%
Một số ít doanh nghiệp dệt may – da giày có thể hưởng lợi từ các hiệp định thương mại có ràng buộc về quy tắc xuất xứ. Theo hiệp định TPP, quy định về hàm lượng giá trị khu vực nội khối “từ sợi trở đi” phải đạt từ 50-55% thì doanh nghiệp mới được hưởng thuế nhập khẩu 0% từ mức 17-18% hiện nay tại thị trường Mỹ. Dù vậy, kim ngạch nhập khẩu nguyên vật liệu từ các thành viên TPP vẫn ở mức thấp. Trong năm 2015, nhập khẩu sợi từ nội khối TPP đạt 70,4 triệu USD, chiếm 4,6% kim ngạch nhập khẩu sợi cả nước; nhập khẩu vải đạt 656,6 triệu USD chiếm 6,5%; nhập khẩu nguyên phụ liệu đạt 616,1 triệu USD, chiếm 12,3%. Tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu gồm sợi, vải, nguyên phụ liệu từ TPP mới chiếm 8% tổng kim ngạch nhập khẩu các loại này của cả nước.
4,6% Bảng 10: Giá trị nhập khẩu từ nội khối EU năm 2015 (Nguồn: Tổng cục Hải quan) NPL
Vải
7,3 35,6
35,1 14,7 2,8 6,7 191,6
7,8 61,6 2,3
4 1,44
Theo hiệp định tự do Việt Nam – EU (VEFTA), quy định xuất xứ có phần dễ dàng hơn “từ vải trở đi”, dù vậy cũng rất ít doanh nghiệp được hưởng thuế nhập khẩu về 0% từ mức 12% nếu nhìn vào tỷ trọng nhập khẩu từ nội khối EU. Năm 2015, giá trị nhập khẩu vải từ EU đạt 114,6 triệu USD, chiếm 1,1% nhập khẩu vải cả nước; nhập khẩu nguyên phụ liệu đạt 256,3 triệu USD, chiếm 5,1%. Tổng kim ngạch nhập khẩu vải và nguyên phụ liệu từ các nước EU chiếm chưa đầy 3% nhập khẩu các
Anh Đức Tây Ban Nha Hà Lan Pháp Ý Bỉ Đan Mạch Thụy Điển Ba Lan Áo CH Séc
28
loại này của cả nước.
Phần Lan Hy Lạp Slovakia Hungary Tổng Tỷ trọng từ EU
114,6 1,1%
256,34 5,1%
Những con số rất thấp trên về hàm lượng giá trị nội khối cho thấy sẽ là một thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam để dịch chuyển nguồn cung ứng đầu vào vốn phần lớn đang ở Trung Quốc, Đài Loan sang các thị trường thuộc TPP và EU.
3. Kết quả kinh doanh của một số doanh nghiệp niêm yết
Tên doanh nghiệp
Mã CK
Bảng 11: Kết quả kinh doanh các doanh nghiệp niêm yết (Nguồn: Báo cáo tài chính các công ty) Doanh thu thuần (Tỷ đồng) 2014
Lợi nhuận sau thuế (Tỷ đồng) 2015 % 2015/2014 2014
2015 % 2015/2014
GMC
1409,5
1438
2,0%
56,9
53,6
-5,8%
TET
42,7
41,1
-3,7%
17,3
13,6
-21,4%
CTCP SX&TM may Sài Gòn CTCP Vải sợi may mặc Miền Bắc
TNG CTCP ĐT&TM TNG SFN CTCP Dệt lưới Sài Gòn TCM CTCP ĐTTM Thành Công EVE CTCP Everpia Việt Nam
1377,1 179,3 2571,4 781,5
1925,4 161,4 2792 880,5
39,8% -10,0% 8,6% 12,7%
53,2 8,8 168,4 84,5
75,3 9,9 153,7 114,4
41,5% 12,5% -8,7% 35,4%
NPS
58,4
42,5
-27,2%
3,4
0,38
-88,8%
GIL
1108,3
940,2
-15,2%
48,1
46,2
-4,0%
CTCP May Phú Thịnh- Nhà Bè CTCP SXKD&XNK Bình Thạnh KMR CTCP Mirae STK CTCP Sợi Thế Kỷ
346,5 1457,5
355,2 1035
2,5% -29,0%
4,5 106,1
5,6 71,8
24,4% -32,3%
Doanh thu thuần năm 2015 của nhiều doanh nghiệp may gia công giảm sút
Điển hình là các công ty Vải sợi may mặc Miền Bắc (doanh thu thuần giảm 3,7%), May Phú Thịnh – Nhà Bè (-27,2%), SXKD&XNK Bình Thạnh (-15,2%) hay cả doanh nghiệp Sợi Thế Kỷ (-29%). Hai nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm doanh thu của không chỉ các doanh nghiệp kể trên mà phần lớn doanh nghiệp gia công tại Việt Nam là từ giá hàng bán giảm và đơn hàng sản xuất giảm.
Về giá bán, xu hướng giảm giá bán bắt đầu từ năm 2011 cho đến nay. Năm 2015, giá bán sản phẩm trang phục của người sản xuất chỉ tăng 4,2%, mức tăng thấp nhất trong giai
29
đoạn 2010-2015. Giá bán sản phẩm dệt năm 2015 thậm chí giảm 1,1% so với năm 2014. Nền kinh tế thế giới năm 2015 phục hồi chậm chạp, giá cả hẩu hết nguyên vật liệu đều giảm sút, nhiều nước phá giá đồng tiền nội tệ, khiến doanh nghiệp của Việt Nam phải giảm giá sản phẩm để cạnh tranh giữ khách hàng.
Biểu đồ 22: Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp (Nguồn: GSO)
Về đơn hàng, doanh nghiệp dệt may – da giày Việt Nam đang đối mặt với tác động kép từ việc mất đơn hàng cũng như phải cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp FDI vốn trước đây là đối tác, nay lại trở thành đối thủ cạnh tranh. Nếu trước đây doanh nghiệp FDI không có cơ sở tại Việt Nam, chủ yếu đặt các doanh nghiệp trong nước làm gia công thì nay họ đầu tư vào Việt Nam, xây dựng các cơ sở từ cung cấp nguyên phụ liệu đến sản xuất nhằm tận dụng các cơ hội do FTA mang lại, khiến các doanh nghiệp nội địa mất các hợp đồng từ các đối tác này. Không những thế, doanh nghiệp nội còn phải cạnh tranh trực tiếp với chính các doanh nghiệp FDI về đơn hàng, lao động trong bối cảnh công nghệ, nguồn lực tài chính, kinh nghiệm đều yếu hơn.
Thêm nhiều hơn số lượng doanh nghiệp có lợi nhuận giảm
Biểu đồ 23: Tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận năm 2015 của các doanh nghiệp niêm yết (Nguồn: GSO)
Những doanh nghiệp làm hàng FOB thành công như SX&TM may Sài Gòn (GMC), ĐTTM Thành Công (TCM) dù có doanh thu tăng tương ứng 2% và 8,6% nhưng lại ghi nhận lợi nhuận giảm lần lượt 5,8% và 8,7%. Chi phí nguyên vật liệu đầu vào của ngành Dệt may – da giày như bông, xơ, vải... đều giảm, cùng chiều với mức giảm của các loại hàng hóa chung trên thế giới. Lẽ ra, doanh nghiệp Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ việc giá vốn hàng bán giảm nhưng lại gặp phải nghịch cảnh mua nguyên liệu ở mức giá cao, bán thành phẩm ở mức giá thấp. Rõ ràng nhất là trường hợp của Sợi Thế Kỷ và mảng sợi của công ty ĐTTM Thành Công. Do phụ
30
thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, thời gian vận chuyển dài, trong bối cảnh giá nguyên liệu liên tục theo chiều hướng giảm thì giá chốt mua nguyên liệu khi về đến cảng trong nước đều cao hơn giá cùng thời điểm. Sản phẩm làm ra cũng phải giảm giá nhưng vẫn không cạnh tranh được với những nước tận dụng được nguồn nguyên liệu nội địa. Ngoài ra, việc tăng lương tối thiểu hàng năm (năm 2015 tăng từ 12-14,8%/năm) khiến chi phí đóng bảo hiểm, công đoàn tăng lên.
Bảng 12: Một số chỉ tiêu vay nợ của doanh nghiệp niêm yết
Mã CK
Cơ cấu nợ ngắn hạn trên tổng nợ
Khả năng trả nợ ((LNTT + lãi vay)/lãi vay)
Khả năng thanh toán ngắn hạn (TSNH/nợ ngắn hạn)
2015
2014
2015
2014
2015
2014
13,7
15,1
GMC TET TNG SFN TCM EVE NPS GIL KMR STK
100% 71% 77% 100% 76% 80% 40% 100% 91% 39%
100% 87% 80% 100% 79% 87% 39% 96% 100% 36%
2,0 6,2 7,7 53,2 10,8 4,1 2,2 19,0
1,1 3,7 0,8 8,2 1,0 5,0 0,4 1,4 2,0 1,2
1,1 1,6 0,7 2,8 1,0 5,1 0,6 1,4 1,9 2,2
2,6 17,5 7,1 59,0 12,0 8,1 3,0 17,9
Nhìn chung, các chỉ tiêu năng lực tài chính của doanh nghiệp dệt may - da giày đều đang ở mức an toàn và phù hợp với đặc điểm ngành.
máy Trảng Bàng giai đoạn 3 và 4; May Phú Thịnh – Nhà Bè (NPS) có quy mô tổng tài sản rất nhỏ với 76,3 tỷ đồng, doanh thu 42,4 tỷ đồng trong năm 2015, do đó nhu cầu vay vốn lưu động cho sản xuất là thấp hơn. Về khả năng thanh toán lãi vay, tất cả doanh nghiệp đều có khả năng trả các khoản lãi đến hạn khi thu nhập cao gấp từ 2,6 – 59,0 lần lãi vay. Trường hợp của Vải sợi may mặc Miền Bắc (TET) là do công ty không vay nợ ngân hàng nên không phải trả lãi. Về khả năng thanh toán ngắn hạn, đa số doanh nghiệp có hệ số lớn hơn 1, cho thấy mức độ thanh khoản của tài sản ngắn hạn để trả khoản nợ ngắn hạn là khá tốt. Về cơ cấu nợ, do tính chất sản xuất gia công theo đơn hàng, sản phẩm cũng mang tính mùa vụ nên nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp chủ yếu phục vụ/bổ sung vốn lưu động cho hoạt động thu mua/dự trữ nguyên phụ liệu, thuê nhân công và các chi phí sản xuất khác. Đây là nguyên nhân khiến nợ ngắn hạn chiếm tỷ lệ áp đảo so với nợ dài hạn. Một số doanh nghiệp có nợ ngắn hạn thấp như Sợi Thế Kỷ (STK) là do STK đang vay vốn dài hạn để mở rộng công suất nhà
31
VI. TRIỂN VỌNG NGÀNH
Triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam tốt hơn trong năm 2016 hỗ trợ nhu cầu tiêu dùng tăng lên, trong đó có dệt may, da giày:
cao hơn mức 2,4% của năm 2015; con số này trùng khớp với dự báo của Liên Hợp Quốc. Theo IMF, tăng trưởng kinh tế toàn cầu ước tăng 3,1% trong năm 2015, dự báo tăng lên 3,4% năm 2016. Các thị trường tiêu thụ dệt may – da giày hàng đầu của Việt Nam là Mỹ, EU và Nhật Bản đều có tăng trưởng kinh tế năm 2016 cao hơn năm 2015 nhờ chính sách tiền tệ nới lỏng, giá dầu giảm, thu nhập tăng lên. Đây là 1 trong những yếu tố tích cực thúc đẩy tiêu dùng hàng dệt may – da giày năm 2016. Các cơ quan quốc tế lớn như WB, IMF, Liên Hợp Quốc đều dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới (GDP) năm 2016 sẽ cao hơn năm 2015 bất chấp các số liệu điều chỉnh gần đây thấp hơn so với các con số mà các cơ quan này đã đưa ra trước đó. Báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 01/2016 của WB dự báo, tốc độ tăng GDP thế giới năm 2016 ở mức 2,9%,
Biểu đồ 24: Các thị trường đã ký hoặc mới ký hiệp định thương mại với Việt Nam (Nguồn: Trung tâm WTO)
Các hiệp định thương mại tự do (FTA) giúp đơn hàng sản xuất và vốn đầu tư chảy mạnh vào ngành Dệt may – Da giày Việt Nam:
Trong năm 2015, Việt Nam đã ký kết và kết thúc đàm phán 4 Hiệp định quan trọng với các khu vực thị trường lớn. Trong đó, Việt Nam kết thúc đàm phán 2 hiệp định lớn là TPP và FTA Việt Nam - EU; ký kết 2 hiệp định gồm FTA Việt Nam - Liên minh kinh tế Á Âu (VCUFTA) và FTA Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA). Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu dệt may – da giày từ các mức trên 10% về 0% của các thị trường tiêu thụ sẽ giúp giá sản phẩm của Việt Nam cạnh tranh hơn các
32
Một số chi phí đầu vào tiếp tục giữ ở mức thấp
quốc gia đối thủ khác, từ đó Việt Nam có cơ hội thu hút nhiều đơn hàng sản xuất hơn. Các quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi” hoặc “từ vải trở đi” quy định trong các hiệp định cũng sẽ thúc đẩy dự án đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ dệt may – da giày vốn đang rất yếu của Việt Nam.
Ngành công nghiệp phụ trợ dệt may – da giày có khả năng phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới nhờ chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ mới đây của Chính phủ:
Giá bông năm 2015 đã ở mức thấp nhất 5 năm khi trung bình cả năm ở mức 70,4 Cents/pound, so với mức 154,6 Cents/pound của năm 2011. Ủy ban tư vấn bông quốc tế (ICAC) dự báo, giá bông năm 2016 không tăng do dự báo tiêu thụ và nhập khẩu của Trung Quốc – thị trường tiêu thụ bông lớn nhất thế giới giảm xuống mức thấp nhất trong hơn một thập kỷ bởi ngành kéo sợi nước này tiếp tục suy yếu, nhu cầu sợi ít hơn so với dự kiến.
Theo Nghị định số 111/2015/NĐ-CP hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016, dệt may và da giày là 2 trong số 6 lĩnh vực nằm trong danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển của Việt Nam. Cụ thể, Nhà nước sẽ hỗ trợ tối đa đến 50% kinh phí các hoạt động nghiên cứu và phát triển, 50-75% đối với hoạt động ứng dụng và chuyển giao công nghệ sản xuất. Ngoài ra, các doanh nghiệp phụ trợ dệt may – da giày cũng được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế nhập khẩu, thuê đất...
Chính sách tỷ giá theo hướng giảm dần giá trị VNĐ, có lợi cho hoạt động xuất khẩu dệt may – da giày. Năm 2015, đồng tiền VNĐ đã giảm giá 5% so với đồng USD sau 3 lần điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước. Năm 2016, theo dự báo từ các tổ chức tài chính, VNĐ có thể giảm giá thêm từ 3-5%. Do có hàm lượng giá trị gia tăng trong các sản phẩm xuất khẩu (giá trị xuất khẩu cao hơn giá trị nhập khẩu), việc phá giá VNĐ hỗ trợ doanh nghiệp dệt may – da giày cạnh tranh hơn trong xuất khẩu so với các quốc gia đối thủ khác.
33
CẤP TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGÀNH TẠI LPB B.
I. TÌNH HÌNH CHO VAY NGÀNH DỆT MAY – DA GIÀY TẠI LPB ĐẾN NGÀY
31/12/2015
Vui lòng liên hệ:
Phòng Chiến lược và Phân tích kinh tế
Khối Nghiên cứu Chiến lược và Quan hệ kinh doanh Quốc tế
Email: research@lienvietpostbank.com.vn
ĐT: 04 – 008 - 6160
34
II. TÌNH HÌNH CẤP TÍN DỤNG NGÀNH DỆT MAY – DA GIÀY TRONG HỆ
THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
Nhóm Ngân hàng nước ngoài đang chiếm thị phần tín dụng cao đối với nhóm khách hàng Dệt may – Da giày đầu ngành
Biểu đồ 25: Thị phần tín dụng đối với nhóm khách hàng đầu ngành Dệt may – Da giày (Nguồn: LPBResearch tổng hợp)
Theo một nghiên cứu, khoảng 30 Ngân hàng và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài chiếm 37,7% thị phần tín dụng nhóm khách hàng đầu ngành dệt may – da giày. Trong đó, nhóm ngân hàng Hàn Quốc chiếm thị phần chủ yếu (31% tổng dư nợ tín dụng nhóm khách hàng đầu ngành) với vị trí đứng đầu là Shinhanbank (10%), Woori (7%), tiếp sau là nhóm ngân hàng Đài Loan, Trung Quốc chiếm thị phần thấp hơn khá nhiều (3%). Các ngân hàng nước ngoài có lợi thế tiếp cận được các khách hàng FDI theo quốc gia như các doanh nghiệp Hàn Quốc thường vay ngân hàng Hàn Quốc; các doanh nghiệp Đài Loan thường vay các ngân hàng đến từ Đài Loan, Trung Quốc, ngoài ra các doanh nghiệp FDI cũng thường có quan hệ với các ngân hàng toàn cầu như ANZ, HSBC và Citi Bank. Đây là nguyên nhân giúp thị phần tín dụng đối với nhóm dệt may – da giày đầu ngành của khối ngân hàng nước ngoài ở mức cao.
Đối với nhóm ngân hàng trong nước, thị phần cấp tín dụng nhóm khách hàng đầu ngành dệt may - da giày thuộc về 4 ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước
là Vietcombank
Đó (25,157%), BIDV (12,133%), Vietinbank (9,146%), Agribank (2,836%). Nhóm ngân hàng trong nước còn lại chiếm 12,981%. Một phần nhờ vị thế đầu ngành ngân hàng của nhóm ngân hàng TMCPNN, phần khác ngành Dệt may – Da giày được xếp vào nhóm ngành hàng trọng điểm cần gia tăng thị phần của các ngân hàng TMCPNN nên thị phần tín dụng đối với ngành ở mức cao. Chẳng hạn, BIDV thoả thuận cho Vinatex vay 600 triệu USD giai đoạn 2014-
35
2016 nhằm đầu tư, mở rộng và đổi mới công nghệ. Trong tháng 9/2015, BIDV tiếp tục cam kết dành 15.000 tỷ đồng cho các doanh nghiệp dệt may nội địa. Vietcombank đã dành khoảng 3.000 tỷ đồng cho vay Vinatex và các đơn vị thành viên.
Tín dụng ngành Dệt may - Da giày của LienVietPostBank còn rất khiêm tốn nếu so với nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh năm 2015 của ngành
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, năm 2013, nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của ngành Dệt may- Da giày đạt 398.362 tỷ đồng, trong giai đoạn 2009-2013, tốc độ tăng trưởng nhu cầu vốn đạt 19,3%/năm. Giả định tốc độ tăng này giữ nguyên trong năm 2014 và 2015, nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh năm 2015 của ngành có thể đạt 566.968 tỷ đồng.
Biểu đồ 26: Nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh hàng năm của ngành Dệt may – Da giày (Nguồn: GSO)
36
III. ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT CỦA KHỐI NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC VÀ QUAN
HỆ KINH DOANH QUỐC TẾ
1.
Đánh giá về rủi ro của ngân hàng khi đầu tư/cấp tín dụng đối với ngành
tình chiếm đoạt khoản vốn vay của ngân hàng bằng việc triển khai xây dựng nhà máy nhưng bỏ dở giữa chừng và bỏ trốn về nước. Trong hoàn cảnh này, ngân hàng sẽ chịu tổn thất mất vốn rất lớn.
Rủi ro thu hồi vốn khi doanh nghiệp giảm thị phần hoặc chịu thiệt hại do hàng hóa bị trả về: Rủi ro xảy ra khi doanh nghiệp thiếu vốn, không đủ khả năng đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô. Doanh nghiệp cũng không đủ tài chính để giữ chân lao động lành nghề, ảnh hưởng đến hiệu quả, năng suất lao động. Về dài hạn, hàng hóa làm ra không đủ sức cạnh tranh với doanh nghiệp FDI, làm giảm thị phần.
Rủi ro về quản lý TSĐB là hàng tồn kho hoặc hàng hóa bị lỗi mốt dẫn đến khó xử lý: Rủi ro này liên quan mật thiết tới hàng tồn kho làm tài sản đảm bảo, đặc biệt hàng dệt may lại có tính thời trang cao. Do đó việc cấp tín dụng cho những doanh nghiệp trong ngành không có uy tín trên thị trường dẫn tới nguy cơ không thu hồi được vốn do sản phẩm không thể tiêu thụ.
Các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản đều có các tiêu chuẩn về tỷ lệ hóa chất trong sản phẩm may mặc. Việt Nam nhập khẩu tới 80% lượng vải cho sản xuất. Do đó, việc kiểm soát hóa chất là vô cùng khó khăn. Nếu doanh nghiệp đối mặt với vấn đề này, có thể thiệt hại nặng nề hoặc mất thị trường tiêu thụ, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Rủi ro tỷ giá: Phần lớn doanh nghiệp dệt may – da giày đều có nhu cầu vay ngoại tệ phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu. Khi tỷ giá giảm dẫn tới khoản phải trả của khách hàng giảm, ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng.
Rủi ro mất vốn do doanh nghiệp cố ý lừa đảo: Các Hiệp định đã và đang đàm phàn sẽ thu hút khá nhiều doanh nghiệp FDI đầu tư vào các dự án dệt may, giày dép. Trên thực tế, đã có những doanh nghiệp nước ngoài cố
Rủi ro mất vốn nếu doanh nghiệp bị hỏa hoạn: Hàng dệt may, giày dép là những hàng hóa dễ bắt cháy. Việc doanh nghiệp không trang bị tốt hệ thống phòng cháy chữa cháy có thể dẫn đến những thiệt hại lớn. Khi đó, doanh nghiệp khó có khả năng trả nợ ngân hàng đúng hạn.
2. Đề xuất
Vui lòng liên hệ:
Phòng Chiến lược và Phân tích kinh tế
Khối Nghiên cứu Chiến lược và Quan hệ kinh doanh Quốc tế
Email: research@lienvietpostbank.com.vn
ĐT: 04 – 008 - 6160

