BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Ngọc Hồng
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG VÀ SINH THÁI
HỌ BÌM BÌM (Convolvulaceae Juss. 1789)
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Ngọc Hồng
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG VÀ SINH THÁI
HỌ BÌM BÌM (Convolvulaceae Juss. 1789)
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Sinh thái học
Mã số : 60 42 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRẦN HỢP
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy PGS.TS.Trần
Hợp, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi làm luận
văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm TP. Hồ
Chí Minh, khoa Sinh, Phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
đã tạo điều kiện để tôi thực hiện luận văn trong thời gian cho phép. Tôi cũng xin
cảm ơn các đồng nghiệp, gia đình, bạn bè đã quan tâm, động viên, khích lệ giúp đỡ
tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 10 năm 2012.
Trần Ngọc Hồng
ii
DANH LỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1: Bản đồ hành chính thành phố Hồ Chí Minh
Hình 3.1 Hình thái của loài Argyreia nervosa (Burm.f.) Bojer
Hình 3.2 Hình vẽ loài Argyreia nervosa (Burm.f.) Bojer
Hình 3.3 Sinh thái và phân bố của loài Argyreia nervosa (Burm.f.) Bojer
Hình 3.4 Hình thái của loài Dichondra renpens Forst.
Hình 3.5 Hình vẽ loài Dichondra repens Forst.
Hình 3.6 Sinh thái và phân bố của loài Dichondra repens Forst.
Hình 3.7 Hình thái của loài Hewittia scandens (Milne) Mabberly
Hình 3.8 Hình vẽ loài Hewittia scandens (Milne) Mabberly
Hình 3.9 Sinh thái và phân bố của loài Hewittia scandens (Milne) Mabberly
Hình 3.10 Hình thái loài Ipomoea aquatica Forsk
Hình 3.11 Hình vẽ loài Ipomoea aquatica Forsk
Hình 3.12 Sinh thái và phân bố loài Ipomoea aquatica Forsk
Hình 3.13 Hình thái loài Ipomoea batatas (L.) Poir. in Lamk
Hình 3.14 Hình vẽ loài Ipomoea batatas (L.) Poir. in Lamk
Hình 3.15 Sinh thái và phân bố của loài Ipomoea batatas (L.) Poir. in Lamk
Hình 3.16 Hình thái loài Ipomoea cairica (L) Sweet
Hình 3.17 Hình vẽ loài Ipomoea cairica (L) Sweet
iii
Hình 3.18 Sinh thái và phân bố của loài Ipomoea cairica (L) Sweet
Hình 3.19 Hình thái loài Ipomoea carnea subsp. Fistulosa (Choisy) Austin
Hình 3.20 Hình vẽ loài Ipomoea carnea subsp. Fistulosa ( Choisy) Austin
Hình 3.21 Sinh thái và phân bố của loài Ipomoea carnea subsp. Fistulosa (Choisy)
Austin
Hình 3.22 Hình thái loài Ipomoea congesta R. Br.
Hình 3.23 Hình vẽ loài Ipomoea congesta R. Br.
Hình 3.24 Phân bố sinh thái của loài Ipomoea congesta R. Br.
Hình 3.25 Hình thái loài Ipomoea hederifolia L
Hình 3.26 Phân bố và sinh thái của loài Ipomoea hederifolia L
Hình 3.27 Hình thái của loài Ipomoea maxima (L.f.) Don in Sw.
Hình 3.28 Hình vẽ của loài Ipomoea maxima (L.f.) Don in Sw.
Hình 3.29 Phân bố và sinh thái của loài Ipomoea maxima (L.f.) Don in Sw.
Hình 3.30 Hình thái của loài Ipomoea nil (L.) Roth.
Hình 3.31 Hình thái của loài Ipomoea nil (L.) Roth.
Hình 3.32 Hình vẽ loài Ipomoea nil (L.) Roth.
Hình 3.33 Phân bố và sinh thái của loài Ipomoea nil (L.) Roth. [Pharbitis nil (L.)
Choisy ]
Hình 3.35 Hình thái của loài Ipomoea obscura (L.) Ker.-Gawl.
Hình 3.34 Hình vẽ loài Ipomoea obscura (L.) Ker.-Gawl.
Hình 3.36 Sinh thái và phân bố của loài Ipomoea obscura (L.) Ker.-Gawl.
iv
Hình 3.37 Hình thái của loài Ipomoea pes-caprae(L.) R. Br.
Hình 3.38 Hình vẽ loài Ipomoea pes-caprae(L.) R. Br.
Hình 3.39 Phân bố và sinh thái của loài Ipomoea pes-caprae (L.) R. Br.
Hình 3.40 Hình vẽ loài Ipomoea triloba L.
Hình 3.41 Hình thái của loài Ipomoea triloba L.
Hình 3.42 Sinh thái và phân bố của loài Ipomoea triloba L.
Hình 3.43 Hình thái của loài Impomoea quamoclit L.
Hình 3.44 hình vẽ loài Impomoea quamoclit L.
Hình 3.45 Sinh thái và phân bố của loài Impomoea quamoclit L.
Hình 3.46 Hình thái của loài Xenostegia tridentata (L.) D.F Austin et Staples
Hình 3.47 Hình vẽ loài Xenostegia tridentata (L.) D.F Austin et Staples
Hình 3.48 Sinh thái và phân bố của loài Xenostegia tridentata (L.) D.F Austin et
Staples
Phụ lục hình Hình 3.49 Tiêu bản khô loài Argyreia nervosa (Burm.f.) Bojer
Phụ lục hình Hình 3.50 Tiêu bản khô loài Hewittia scandens (Milne) Mabberly
Phụ lục hình Hình 3.51 Tiêu bản khô loài Ipomoea aquatica Forsk
Phụ lục hình Hình 3.52 Tiêu bản khô loài Ipomoea batatas (L.) Poir. in Lamk
Phụ lục hình Hình 3.53 Tiêu bản khô loài Ipomoea carnea subsp. Fistulosa (
Choisy) Austin
Phụ lục hình Hình 3.54 Tiêu bản khô loài Ipomoea cairica (L) Sweet
Phụ lục hình Hình 3.55 Tiêu bản khô loài Ipomoea maxima (L.f.) Don in Sw.
v
Phụ lục hình Hình 3.56 Tiêu bản khô loài Impomoea quamoclit L.
Phụ lục hình Hình 3.57 Tiêu bản khô loài Ipomoea pes-caprae(L.) R. Br.
Phụ lục hình Hình 3.58 Tiêu bản khô loài Ipomoea triloba L.
Phụ lục hình Hình 3.59 Tiêu bản khô loài Ipomoea obscura (L.) Ker.-Gawl.
Phụ lục hình Hình 3.60 Tiêu bản khô loài Xenostegia tridentata (L.) D.F Austin et
Staples
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GPS : Máy định vị toàn cầu (Global Positioning System).
IUCN (09) : Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới, năm 2009 (The International
Union for Conservation of Nature).
NXB : Nhà xuất bản.
TP.HCM : Thành Phố Hồ Chí Minh
VQG : Vườn quốc gia.
vii
MỤC LỤC
Chương 1 MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................. 1
1.2 Mục tiêu của đề tài ......................................................................................... 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu .................................................................................... 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 2
1.5 Đóng góp mới của đề tài ................................................................................ 2
1.6 Bố cục của đề tài : .......................................................................................... 2
Chương 2 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 3
2.1 Điều kiện tự nhiên của Thành Phố Hồ Chí Minh ............................................ 3
2.1.1 Vị trí Địa lý ............................................................................................. 3
2.1.2 Khí hậu .................................................................................................... 5
2.1.3 Địa hình ................................................................................................... 5
2.1.4 Đất đai ..................................................................................................... 6
2.1.5 Thủy văn ................................................................................................. 6
2.1.6 Hệ thực vật .............................................................................................. 7
2.1.7 Hệ động vật ............................................................................................. 8
2.2 Sơ lược những nghiên cứu về họ Bìm Bìm (Convolvulaceae ) trên thế giới và Việt Nam ............................................................................................................. 9
2.2.1 Thế giới ................................................................................................... 9
2.2.2 Việt Nam ............................................................................................... 10
Chương 3 - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................... 13
3.1 Nội dung nghiên cứu ................................................................................... 13
3.2 Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 13
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa .............................................. 13
viii
3.2.2 Phương pháp ghi nhật kí ....................................................................... 14
3.2.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm ............................... 15
3.2.4 Phương pháp tham khảo tài liệu ........................................................... 16
3.2.5 Phương pháp chấm điểm phân bố các loài ........................................... 16
3.2.6 Dụng cụ, hóa chất cần thiết cho việc thực hiện đề tài .......................... 16
3.2.7 Xác định tuyến đi thực địa .................................................................... 17
3.2.8 Thời gian thực địa ................................................................................. 17
3.3 Đặc điểm chung của họ Bìm bìm ( Convolvulaceae Juss.) ......................... 18
3.3.1 Hình thái: .............................................................................................. 18
3.3.2 Khóa tra các chi trong họ Bìm bìm có ở thành phố Hồ Chí Minh ....... 19
3.3.3 Sinh học và sinh thái: ............................................................................ 19
3.3.4 Phân bố: ................................................................................................ 20
3.3.5 Công dụng của các loài: ........................................................................ 20
Chương 4 – KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ......................................................... 21
4.1 Thành phần loài thuộc họ Bìm bìm ở thành phố Hồ Chí Minh ................... 21
4.1.1 Argyreia nervosa (Burm.f.) Bojer [A.speciosa Sweet] ......................... 21
4.1.2 Dichondra repens Forst. ....................................................................... 24
4.1.3 Hewittia scandens (Milne) Mabberly . ................................................. 29
4.1.4 Ipomoea aquatica Forsk. ...................................................................... 33
4.1.5 Ipomoea batatas (L.) Poir. in Lamk. .................................................... 37
4.1.6 Ipomoea cairica (L) Sweet ................................................................... 42
Ipomoea carnea subsp. Fistulosa (Choisy) Austin [ I. crassicaulis 4.1.7 (Benth.) Roxb.] ................................................................................................... 46
4.1.8 Ipomoea congesta R. Br........................................................................ 49
4.1.9 Ipomoea hederifolia L. ......................................................................... 53
ix
4.1.10 Ipomoea maxima (L.f.) Don in Sw. Bìm nhỏ ....................................... 56
4.1.11 Ipomoea nil (L.) Roth. [ Pharbitis nil (L.) Choisy ] ............................. 60
4.1.12 Ipomoea obscura (L.) Ker.-Gawl. ........................................................ 65
4.1.13 Ipomoea pes-caprae(L.) R. Br. ............................................................. 69
4.1.14 Ipomoea triloba L. ................................................................................ 74
4.1.15 Ipomoea quamoclit L. ........................................................................... 78
4.1.16 Xenostegia tridentata (L.) D.F Austin et Staples ................................. 82
4.2 Thảo luận ..................................................................................................... 85
Chương 5 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................... 87
5.1 Kết luận ........................................................................................................ 87
5.2 Kiến nghị ..................................................................................................... 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 89
1
Chương 1 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Giới sinh vật vô cùng đa dạng và phong phú, có nhiều giá trị khoa học, thực
tiễn đối với con người. Con người luôn muốn khám phá tự nhiên nhằm tìm hiểu
những giá trị thực tiễn ấy, đồng thời để bảo tồn và sử dụng bền vững những gì mà
thiên nhiên ban tặng. Hiện nay khi nghiên cứu các loài sinh vật người ta chủ yếu
quan tâm nhiều đến các hệ thực vật trong các khu vực Vườn Quốc Gia, khu Bảo
Tồn….. trong đó các dạng sống cây gỗ, các loài động vật bậc cao là các đối tượng
được chú ý đặc biệt, mà chưa thật sự quan tâm nhiều đến những hệ sinh thái đồi
hoang, đồng cỏ dại. Đặc biệt các loài cây thân thảo, cây bụi, cây leo mọc rải rác ở
khắp mọi nơi, chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và sâu rộng, tuy nhiên một
taxon của hệ thực vật nào, dù nhỏ cũng cũng đóng vai trò nhất định trong tự nhiên
và tiềm năng sử dụng sau này, có khi còn gấp bội các loài cây gỗ (các lâm sản ngoài
gỗ).
Họ Bìm bìm (Convolvulaceae) là một họ thực vật gồm những loài có dạng
sống chủ yếu bằng dây leo cũng nằm trong hoàn cảnh như vậy, ít được chú ý khi
nghiên cứu trong thảm thực vật của các khu bảo tồn, các vùng ven ở các tỉnh thành.
Nhưng đây là một họ có nhiều loài cây có giá trị sử dụng như: làm thuốc chữa bệnh,
làm lương thực cho người và gia súc, làm cảnh, trong đó nhiều loài còn nhiều khả
năng trong y học mà chưa khám phá hết. Các loài cây thuộc họ này thường mọc
hoang ở nhiều nơi, leo quấn ở hàng rào hoặc các bụi cây khác, phân bố rộng rãi ở
các vùng đất trống, bãi hoang ven rừng. Ở các quận huyện ngoại thành của TP
HCM, chúng phát triển khá nhiều và có nhiều tiềm năng kinh tế đáng kể, đặc biệt
các vùng ven đô thị lớn (một số là cây theo người). Thế nhưng vẫn chưa có những
nghiên cứu sâu về họ này, đặc biệt thống kê thành phần các loài trong họ này, vì thế
chúng tôi chọn đề tài “ Nghiên cứu đa dạng sinh học và sinh thái họ Bìm Bìm (
Convolvulaceae Juss. 1789) tại Thành phố Hồ Chí Minh” .
2
1.2 Mục tiêu của đề tài
Điều tra, thu mẫu, miêu tả, định danh để xác định thành phần các Taxon điều tra
được.
Nghiên cứu, ghi chép các đặc điểm sinh thái, phân bố và giá trị sử dụng các
taxon điều tra được của họ Bìm bìm( Convolvulaceae) ở thành phố Hồ Chí Minh.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các Taxon trong họ Bìm bìm
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu tại các huyện : Thủ Đức, Củ Chi, Bình
Chánh, Cần Giờ, Thanh Đa, quận 12, Hocmôn và các khu công viên, vườn hoa, nhà
vườn trong nội thành.
1.5 Đóng góp mới của đề tài
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về họ Bìm bìm ở thành phố Hồ Chí Minh.
Mô tả đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái, phân bố của họ Bìm bìm.
Ghi nhận, định danh và xác định phân bố mới cho 16 loài.
1.6 Bố cục của đề tài :
Chương I- Mở đầu
Chương II – Tổng quan tài liệu.
Chương III – Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương IV – Kết quả và thảo luận
Chương V – Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo .
Phụ lục.
3
Chương 2 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện tự nhiên của Thành Phố Hồ Chí Minh
2.1.1 Vị trí Địa lý Toạ độ địa lý:
TP.HCM nằm trong tọa độ địa lý khoảng 10°10' – 10°38' vĩ độ Bắc và
106°22' – 106°54' kinh độ Đông.
Phạm vi ranh giới: Thành phố Hồ Chí Minh nằm giữa khu vực đồng bằng sông
Cửu Long và khu vực Đông Nam Bộ
- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương
- Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh,
- Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai,
- Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Nam giáp biển Đông)
- Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.
4
Hình 1: Bản đồ hành chính thành phố Hồ Chí Minh
( Nguồn http://web.vietecon.org/sedec/solieu/bando/m-hcmc1.htm)
5
2.1.2 Khí hậu
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Lượng bức xạ hằng năm tương đối lớn, khoảng 140 kcal/cm2/năm. Số giờ nắng trung bình trong ngày khoảng 6/24h. Nhiệt độ trung bình khoảng 27 - 28oC. Nhiệt độ cao nhất khoảng 32oC, vào tháng 6 hằng năm. Nhiệt độ thấp nhất khoảng 23oC,
thường rơi vào tháng 12 hằng năm. Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm thấp, khoảng 2 - 3oC.
Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô
từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình 1.931mm/năm, phân bố
không đều theo thời gian và không gian. Theo thời gian, khoảng 90% lượng mưa
trong năm tập trung vào mùa mưa. Theo không gian, lượng mưa có xu hướng tăng
dần từ Tây Nam lên Đông Bắc. Các huyện phía Nam và Tây Nam của thành phố
như: Cần Giờ, Nhà Bè, Bình Chánh, lượng mưa tương đối thấp, khoảng 1.000 -
1.400 mm/năm. Các quận nội thành và các huyện phía Bắc như Củ Chi, Hóc Môn
lượng mưa thường đạt trên 2.000 mm/năm.
2.1.3 Địa hình
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa Nam Trung Bộ
và đồng bằng sông Cửu Long. Địa hình thuộc dạng đồng bằng thấp, nhiều nơi còn
là vùng trũng. Bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng, bị chia cắt mạnh bởi mạng
lưới sông ngòi, kênh rạch. Chiều cao địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông
Nam, độ dốc không lớn lắm.
Địa hình đồi bóc mòn: phân bố nhiều nhất ở khu vực Long Bình, quận Thủ Đức.
Đặc trưng cho dạng địa hình này là các đồi hình bát úp, đỉnh tròn, sườn thoải cao từ
20 - 25 m, bề mặt bị phong hoá mạnh, dễ bị bóc mòn, rửa trôi.
Địa hình đồng bằng thềm với 3 bậc khác nhau: bậc 1 phân bố ở huyện Bình
Chánh, phía Đông huyện Hóc Môn, phía Nam huyện Củ Chi, quận Thủ Đức và toàn
bộ huyện Nhà Bè, độ cao trung bình 1m được cấu tạo bởi trầm tích hỗn hợp sông và
biển. Bậc 2 phân bố chủ yếu ở khu vực nội thành và chạy dọc theo các thung lũng
6
sông thuộc huyện Củ Chi, độ cao trung bình từ 3-8m, tăng dần từ nội thành ra ngoại
thành. Bậc 3 phân bố ở huyện Củ Chi và một phần quận Thủ Đức, độ cao khác nhau
trung bình từ 5 - 25 m.
Địa hình đầm lầy kéo dài từ Thái Mỹ đến nông trường Lê Minh Xuân; vùng đầm
lầy bãi bồi ven biển ở huyện Cần Giờ với độ cao 0,5 - 1 m và các giồng cát ven
biển.
2.1.4 Đất đai
Đất đai của thành phố được chia thành 4 nhóm chính: nhóm đất phèn, nhóm đất
phù sa, nhóm đất xám và nhóm đất mặn.
Nhóm đất phèn chiếm khoảng 27,5%, đang được cải tạo và khai thác ở các huyện
ngoại thành như: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh.
- Nhóm đất phù sa ít bị nhiễm phèn chiếm diện tích tương đối nhỏ, khoảng 12,6%
tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố.
- Nhóm đất xám phát triển trên phù sa cổ chiếm khoàng 19,3%.
- Nhóm đất mặn chiếm 12,2%, tập trung ở huyện Cần Giờ
Ngoài ra, thành phố còn có một số nhóm đất khác chiếm khoảng 28,4% diện
tích còn lại như: đất đỏ vàng phân bố ở vùng gò đồi thuộc huyện Củ Chi và quận
Thủ Đức, đất cát tập trung ở vùng ven biển huyện Cần Giờ, gần sông suối.
2.1.5 Thủy văn
Chế độ thuỷ văn của thành phố chịu tác động qua lại bởi hệ thống sông Đồng
Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông, cùng với thuỷ triều. Hầu hết các kênh
rạch và một phần hạ lưu sông Sài Gòn, sông Đồng Nai đều chịu ảnh hưởng của thuỷ
triều. Thành phố Hồ Chí Minh còn có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng.
Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm viên, hợp lưu bởi nhiều sông
khác, có lưu vực lớn, khoảng 45.000 km². Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s,
hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính
của thành phố.
7
Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quảng, chảy qua Thủ Dầu Một đến
Thành phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố
dài 80 km. Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại
thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m.
Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối
thông ở phần nội thành mở rộng. Một con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh
là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy
ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái. Trong đó, ngả Gành Rái
chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn.
Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống
kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham
Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ,
Kênh Ðôi...
2.1.6 Hệ thực vật
Trên cơ sở các yếu tố cơ bản của điều kiện tự nhiên ở TP.HCM, có thể khái
quát hóa thành ba kiểu sinh thái, tương ứng với nó là ba hệ sinh thái thảm thực vật
rừng tiêu biểu:
- Rừng nhiệt đới ẩm mưa mùa: hệ sinh thái rừng này vốn có ở Củ Chi và
Thủ Ðức.
- Rừng úng phèn: thảm thực vật rừng tự nhiên trên vùng đất phèn TP.HCM
rất nghèo nàn. Các cánh rừng Tràm tự nhiên (Melaleuca cajuputi) trên dải diện tích
rộng lớn khi xưa ở tây nam Củ Chi, Bình Chánh, Hóc môn, Nhà Bè, do khai thác và
canh tác của con người. Nay hầu như không còn nữa, chỉ sót lại số ít rặng cây ở
dạng chồi bụi, hoặc một vài ha rừng tràm trồng còn được bảo tồn ở trạm thí nghiệm
Tân Tạo (Bình Chánh).
- Rừng ngập mặn: tập trung ở huyện Cần Giờ ( phía nam TP) vốn là rừng
nguyên sinh, xuất hiện đã lâu năm theo lịch sử của quá trình hình thành bãi bồi cửa
8
sông ven biển, trong chiến tranh đã bị tàn phá do chất độc hóa học (thuốc khai
quang). Sau giải phóng (1975) đã được trồng lại với loài ưu thế là cây đước
(Rhizophora apiculata) có kích thước lớn. Hiện nay, theo điều tra của “ Dự án bảo
tồn thiên nhiên” (2004) hệ thực vật khá phong phú: 104 loài thuộc 48 họ.
2.1.7 Hệ động vật
Theo nguồn kỷ yếu hội thảo khoa học Đại học Tôn Đức Thắng, 5/2012 do
các tác giả Phạm Văn Miên( Viện Khoa học môi trường và phát triển), Nguyễn Thị
Mai Linh, Phạm Anh Đức(Khoa môi trường và bảo hộ Lao động – Đại học Tôn
Đức Thắng) thực hiện thống kê, đánh giá tính đa dạng của các nhóm sinh vật phổ
biến ở TP.HCM đã lập ra danh mục thành phần loài các nhóm sinh vật gồm :
Động vật không xương sống : 668 loài
Lớp cá : 173 loài
Lớp lưỡng cư : 14 loài
Lớp bò sát : 60 loài
Lớp chim : 142 loài
Lớp thú : 41 loài
Trong đó, có 10 loài cá, 17 loài bò sát, 2 loài chim và 9 loài thú quý, hiếm có
tên trong sách đỏ Việt Nam, sách đỏ IUCN, Nghị định 48/2002/NĐ-CP của Chính
phủ, Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ hoặc Công ước về buôn bán quốc
tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (CITES).
Có thể xem đây là danh mục thành phần loài tương đối đầy đủ và chính xác
về mặt phân loại học và danh pháp của các nhóm sinh vật ở Thành phố Hồ Chí
Minh.Tuy nhiên, cho tới nay nhiều nhóm sinh vật có tầm quan trọng về mặt y học,
nông nghiệp và đời sống còn chưa được nghiên cứu đầy đủ và tu chỉnh lại về mặt
phân loại và danh pháp: động vật nguyên sinh, nấm, rêu, địa y, côn trùng…
9
2.2 Sơ lược những nghiên cứu về họ Bìm Bìm (Convolvulaceae ) trên thế
giới và Việt Nam
2.2.1 Thế giới
Họ Bìm bìm(Convolvulaceae) được H. Jussieu định tên vào năm 1789 trên
cơ sở khi chia Convovulus L. Sau đó họ Bìm bìm được xếp theo nhiều hệ thống
sinh khác nhau và được dùng cho đến ngày nay.
Hệ thống sinh G.Bentham và J.D.Hooker trong “Genera Plantarum 1862-
1883” xếp trong bộ Polemoniales – Bicarpellatae – Gamopetalae
Hệ thống sinh C.G. de Dalla Torre và H. Harms trong “Genera
Siphonogamarum ad Systema Englerianum Conscripta( 1900-1907)”: họ
Convolvulaceae cùng họ Polemoniaceae được xếp trong Convolvulineae –
Tubiflorae – Metachlamydeae .
Hệ thống sinh D.A.Young trong Phytologia 51: 65- 156(1982)
Convolvulaceae – Solanales – Solananae – Rosidae
Hệ thống sinh R.M.T. Dahlgren trong “Nordic J.Bot.3:119 – 149(1983) họ
Bìm Bìm(Convolvulaceae) tách ra Cuscutaceae, xếp trong bộ Solanales –
Solaniflorae.
Hệ thống sinh A. Takhtajan trong “Systema Magnoliophytorum” (1987)
Convolvulaceae tách riêng Cuscutaceae, được xếp trong bộ Convolvulales,
Solananae – Lamiidae – Magnoliopsida
Hệ thống sinh A. Cronquist trong“ The Evolution and Classification of
Flowering Plants ” (1989) Convolvulaceae tách riêng Cuscutaceae xếp trong bộ
Solanales – Asteridae
Ngày nay hầu hết các tác giả đều xếp họ Bìm bìm theo tài liệu của
R.K.Brummitt(1992) có 55 chi và trên 1500 loài. Phân bố rộng khắp thế giới, chủ
yếu ở vùng Nhiệt đới và Cận nhiệt đới, ít có ở vùng Ôn đới. Chủ yếu là cây thân
10
thảo dạng dây leo, chỉ có một ít loài ở dạng cây gỗ( Humbertia Comm.ex Lam) .
Đa phần có các tuyến nhựa mủ.
Theo chúng tôi thì, việc sắp xếp của A. Takhtajan(1987) là hợp lý hơn cả,
như vậy họ Bìm bìm không bao gồm chi Cuscuta(vì đã tách thành họ Cuscutaceae)
nên chỉ tập trung nghiên cứu họ Convolvulaceae .
2.2.2 Việt Nam
Trước khi có các công trình nghiên cứu về họ Bìm bìm, thì các loài trong họ
Bìm bìm được đề cập đến rải rác trong các sách thuốc và các tài liệu về nông
nghiệp, vì họ này có một số loài là cây lương thực phổ biến hay làm thuốc, làm
cảnh.
Ở Việt Nam họ Bìm bìm được các nhà khoa học người Pháp nghiên cứu một
cách hệ thống, được trình bày trong bộ Thực vật chí Đại cương Đông Dương.
F. Gragnepain và L. Courchet trong Notulae systematicae(Pharerogamic-
Herbier du Museum de Paris) tập III trang 134-155 giới thiệu các loài mới của họ
Bìm Bìm Châu Á.
F.Gragnepain và L.Courchet đã viết họ Bìm bìm trong Thực Vật chí đại
cương Đông Dương tập IV (1936) .
Nguyễn Tiến Bân (1997) Convolvulaceae Juss.1789 cùng với Polemoniaceae
Juss.1789; Cuscutaceae Dumort. 1829; Hydrophyllaceae R.B1.1817; Boraginaceae
Juss.1789 được xếp trong bộ Polemoniales
Võ Văn Chi trong “Tự Điển cây thuốc Việt Nam” 1999. Họ Bìm bìm
Convolvulaceae có 23 loài, (họ Tơ hồng (Cuscutaceae) có 3 loài), tổng cộng có 26
loài làm thuốc.
Phạm Hoàng Hộ trong “ Cây cỏ Việt Nam tập 2” - 2000 họ Bìm Bìm có 113
loài, 7 thứ (var) 3 loài phụ (Sspo) và họ Tơ hồng ( Cuscutaceae) có 4 loài.
11
Võ Văn Chi và Trần Hợp trong ‘‘Cây cỏ có ích ở Việt Nam’’ tập II (2002)
họ Bìm bìm có 59 loài có ích.
Đỗ Tất Lợi trong ‘‘ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam’’ – 2004 cũng
mô tả về một số loài cây trong họ Bìm bìm có giá trị làm thuốc.
Trần Hợp trong ‘‘Cây xanh và cây cảnh Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí
Minh ’’ – 1998 cũng đã mô tả về một số loài trong họ Bìm bìm có thể sử dụng làm
cảnh trong thiết kế cảnh quan như: Argyreia nervosa, Ipomoea cairaca, Ipomoea
carnea, Ipomoea purpurea.
Theo Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập III, 2005) của Đại học quốc
gia Hà Nội & Viện khoa học và công nghệ Việt Nam có khoảng 20 chi và 117 loài.
20 chi của họ Bìm Bìm (Convolvulaceae Juss.; 1789) ở Việt Nam cũng
được thống kê trong các bộ thực vật chí [25] là :
Aniseia Choisy
Argyreia Lour.
Bonamia Thouars
Cordisepalum Verdec. (bao gồm cả Cardiochlamys Oliv. )
Dichondra J.R. Forst và G. Frost.
Erycibe Roxb.
Evolvulus L.
Hewittia Wight và Arn.
Ipomoea L.
Jacquemontia Choisy
12
Lepistemon Blume
Merremia Dennst.ex Endl.
Mina Cerv. Được xếp vào Ipomoea L.
Neuropeltis Wall.
Operculina Silva Manso
Pharbitis Choisy được xếp vào Ipomoea L.
Porana Burm.f.
Stictocardia Hallier f.
Tridynamia Gagnep được xếp vào Porana Burm.f.
Xenostegia D.F.Austin và Staples
Còn lại 17 chi:
Thêm 1 chi Cuscuta L. là 18 chi. Trong các chi trên thì chi Ipomoea L. là có
số lượng loài nhiều nhất. Sơ bộ xếp họ Bìm bìm như sau: Convolvulaceae (incl.
Cuscutaceae) Bộ Bìm bìm (Convolvulales) – Bộ Cà Solananae- Phân lớp Hoa môi
Lamiidae – lớp Ngọc lan - Magnoliopsida (Dicotyledones) – Ngành Ngọc lan –
Magnoliophyta (Angiosperrnae)
13
Chương 3 - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
Tiến hành thu thập mẫu, làm tiêu bản, định danh, ghi chép các đặc điểm hình
thái, sinh thái, sinh học và phân bố của các taxon thuộc họ Bìm bìm
(Convolvulaceae) điều tra được ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Nêu những giá trị sử dụng của những loài có ích trong họ họ Bìm bìm
(Convolvulaceae) ở Thành phố Hồ Chí Minh theo những tài liệu đã có.
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
- Thu thập mẫu thuộc các loài trong họ Bìm Bìm (Convolvulaceae) ở
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Mỗi loài thu có đủ thân, lá, hoa và quả nếu có đủ (Có thể thu hái nhiều
lần để bổ sung).
- Chụp ảnh và các sinh cảnh có nơi thu mẫu và cả cây, hoa, quả nguyên
hay phân tích khi tìm thấy ngoài tự nhiên.
- Dùng máy xác định tọa độ GPS xác định tọa độ của các loài tìm thấy.
- Mỗi mẫu thu được sẽ cho vào túi polyetylen riêng cột lại, sau đó để
chung vào một túi đựng mẫu lớn hơn để tránh nhằm lẫn giữa các mẫu và mẫu không
bị khô. Sau mỗi ngày thực địa, mỗi mẫu cho vào giữa vài tờ giấy báo, vuốt cho
thẳng, gấp lại, và ghi số hiệu mẫu, cứ khoảng 20 mẫu cho vào 1 cặp kẹp gỗ buột
chặt lại.
- Mẫu thu được không ép kịp trong ngày thì gói vào các tờ giấy báo và đổ cồn 70o cho thấm ướt các tờ giấy báo để làm mất tác dụng của các enzim gây rụng
lá và mẫu không bị khô héo, hôm sau sẽ xử lý tiếp.
14
- Hoa, quả của những mẫu giống nhau cho vào lọ nhỏ chứa foocmon 5% ,
hoặc cồn có ghi số hiệu mẫu để giữ lâu, dùng cho việc phân tích cấu tạo hoa, quả.
3.2.2 Phương pháp ghi nhật kí
- Ghi chép những đặc điểm về hình thái, sinh thái, sinh học, chấm điểm
phân bố trên bản đồ của các mẫu tìm thấy, nhất là những đặc điểm dễ mất đi ở tiêu
bản khô: Màu sắc, hình dạng thân, lá, hoa, quả, …
- Dùng phiếu mô tả cây để tránh bỏ sót những điểm quan trọng trong quá trình
mô tả.
- Phiếu mô tả gồm những nội dung sau:
PHIẾU MÔ TẢ CÂY
- Số hiệu: Ngày thu hái:
- Nơi lấy: Người thu mẫu:
- Tên thông thường:
- Tên khoa học: Họ: Convolvulaceae
- Sinh cảnh:
- Phân bố:
- Tọa độ GPS:
- Đặc điểm hình thái:
+ Dạng sống:
15
Bộ phận Hình dạng Màu sắc, mùi Kích thước
+ Thân (rễ)
+ Lá
+ Cụm hoa
+ Hoa
+ Nhị
+ Nhụy
+ Quả
+ Hạt
- Mùa hoa quả
- Tạm xác định tên thông thường và tên khoa học nếu biết, nếu không biết
chỉ ghi số hiệu trùng khớp mẫu mô tả.
3.2.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm - Sau mỗi đợt thu mẫu, đem mẫu về phòng thí nghiệm, sửa mẫu ép cho
hoàn chỉnh và cho vào tủ sấy khô, sau đó tẩm độc để chốc mốc và sâu mọt bằng
dung dịch có thành phần 20g HgCl2 và 1 lít cồn khoảng 5-10 phút sau đó vớt ra ép
lại và sấy khô.
- Làm tiêu bản khô: Mẫu thu được sau khi tẩm độc và sấy khô sẽ được
đính lên giấy bìa cứng, kích thước 28cm x 42cm, bằng cách dùng chỉ cùng màu
khâu lại, chỉ mặt dưới được che kín lại bằng keo giấy dai. Hoa, quả và hạt sấy khô
16
sẽ cho vào túi giấy đính cùng tiêu bản, và dán nhãn cho tiêu bản khô theo mẫu của
phòng thí nghiệm thực vật khoa Sinh Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phân tích cụm hoa, hoa, quả của các loài đã ngâm foocmon, quan sát
trên hính hiển vi soi nổi để mô tả những đặc điểm khó quan sát rõ bằng mắt thường.
- Tiếp tục hoàn thành phiếu mô tả: những đặc điểm chưa mô tả đầy đủ sẽ
được hoàn thiện trong quá trình phân tích trên kính hiển vi soi nổi và tiêu bản khô.
3.2.4 Phương pháp tham khảo tài liệu
- Thu thập tài liệu cần thiết cho việc định danh, mô tả, tìm hiểu công
dụng các loài thuộc họ Bìm Bìm (Convolvulaceae): Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng
Hộ,1999); Cây cỏ có ích ở Việt Nam tập 2 (Võ Văn Chi và Trần Hợp,1999), Những
cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (GS. Đỗ Tất Lợi), Từ điển thực vật thông dụng (Võ
Văn Chi). So sánh những đặc điểm trong phiếu mô tả với các tài liệu: Cây cỏ Việt
Nam, quyển 2; Flore Générale de L’Indochine tập 4, Flora of Thailand, Flora of
China …. để sơ bộ xác định tên khoa học.
- Tham khảo những tài liệu đã có về họ Bìm Bìm (Convolvulaceae) ở
Việt Nam và các nước lân cận qua Internet.
3.2.5 Phương pháp chấm điểm phân bố các loài
Sự phân bố các loài tìm thấy ở Thành phố Hồ Chí Minh được xác định tọa độ
bằng GPS rồi chấm điểm trên bản đồ số của thành phố bằng phần mềm Mapinfo 7.5
và ghép vào bản đồ bằng phần mềm xử lý ảnh Photoshop CS2. Phân bố ở loài trên
Thế giới và Việt Nam được tham khảo từ các tài liệu “Cây cỏ Việt Nam”, “Cây cỏ
có ích ở Việt Nam”, “Danh lục các loài thực vật Việt Nam”….
3.2.6 Dụng cụ, hóa chất cần thiết cho việc thực hiện đề tài - Dụng cụ: Máy ảnh Canon PowerShot A810HD, máy xác định tọa độ
GPS, kéo cắt cành, kẹp gỗ, túi polyetylen, sổ ghi chép, giấy báo, …
- Hóa chất: Foocmon 3%, cồn 70o.
17
- Phần mềm xử lý ảnh Photoshop CS2.
3.2.7 Xác định tuyến đi thực địa - Họ Bìm Bìm (Convolvulaceae) chủ yếu phân bố nơi có nhiều ánh sáng ,
chúng thường là các dạng dây leo, một số ít là dạng cây gỗ hay cây bụi. Mọc ở ven
đường đi, leo lên các cây khác, hay được trồng làm hàng rào, cây cảnh, thực phẩm,
thậm chí là thuốc. Vì vậy các tuyến thực địa theo các sinh cảnh ven đường, đất
trống, các lùm bụi và quanh khu dân cư.
Mỗi tuyến sẽ khảo sát một hay nhiều lần tùy thuộc vào mùa hoa của các loài,
sao cho có thể thu được cả hoa và quả để thuận lợi cho việc định tên khoa học. Tuy
nhiên trong quá trình đi thực tế do khó có thể khảo sát hết tất cả các địa điểm, nên
đã bỏ lở mùa hoa quả của một số loài.
3.2.8 Thời gian thực địa Bảng Địa điểm và thời gian khảo sát thực địa.
STT Địa điểm khảo sát Thời gian
Thủ Đức - Khu trường Đại học Nông 1 19-5-2012
Lâm, Đại học quốc gia, Đại học khoa 29-5-2012 học tự nhiên, Khu vườn thực nghiệm thú
21-6-2012 y
3-7-2012
Thủ Đức – Dọc các lối đi trên đường: 2 19-5-2012
phường Linh Trung 28-5-2012
20-6-2012
2-7-2012
18
Củ Chi – Tân Phú Trung, các bãi đất Từ 5 đến 9-6-2012 3
trống của Ấp Bến Đò, Tân Thông Hội. Từ 27 đến 29-6-2012
Cần Giờ - Dọc theo lối đi ra biển Cần 14-6-2012 4
Giờ, các bãi cỏ, đất trống ven đường. 2-7-2012
10-7-2012
Bình Thạnh - Dọc đường Bình Quới, các 3-6-2012 5
bãi cỏ ven sông gần Bình Quới. 16-6-2012
Nhà Bè - Dọc theo các lối đi, bụi rậm 22-5-2012 6
ven đường Nguyễn Bình, Hương lộ 34 4-6-2012
Hóc Mon - Thới Tam thôn, Đông Thạnh 10-6-2012 7
26-6-2012
30-6-2012
3.3 Đặc điểm chung của họ Bìm bìm ( Convolvulaceae Juss.)
3.3.1 Hình thái:
Chủ yếu là cây thân thảo một năm hoặc nhiều năm, một số có thân leo,
cuốn, bò, nhưng cũng có một số loài ở dạng cây gỗ hay cây bụi, đa phần có các
tuyến nhựa mủ. Lá đơn, mọc cách, có cuống, gốc thường hình tim, phiến nguyên, xẻ
thùy chân vịt hay kép lông chim, không có lá kèm. Trong thân có vòng libe trong,
nhiều loài có tuyến tiết nhựa mủ trắng.
19
Hoa thường trung bình và khá lớn, lưỡng tính, rất ít khi đơn tính, đều, mẫu
năm, mọc đơn độc hay hợp thành hình chùy, hình đầu mang nhiều hay ít hoa. Đài
có 5 lá đài thường rời, không bằng nhau, xếp lợp, đôi khi còn lại hay đồng trưởng ở
quả. Tràng tiền khai vặn, hợp hình chuông, hình phễu hay hình chén, mép nguyên
với 5 nếp gấp, hay chia thùy đều nhau. Nhị 5, nhị ẩn trong ống tràng hoa hay lộ rõ,
chỉ nhị dính vào ống tràng và xếp xen kẽ với các thùy của tràng, bao phấn mở theo
đường dọc. Trong hoa thường có tuyến hay dĩa mật. Bộ nhụy gồm 2 (ít khi 3-5) lá
noãn dính nhau thành bầu trên, 2 ô, mỗi ô có một noãn đôi khi có vách giả với một
hay nhiều noãn trong mỗi ô.
Quả nang mở, ít khi quả nạc mọng không mở hoặc quả hạch nhỏ, thường có
đài còn lại (đôi khi đồng trưởng). Hạt từ 1-2 trong mỗi ô, hình cầu hay 3 cạnh, có
lông hay nhẵn, vỏ có khi có lông nhung, có phôi lớn với lá mầm xếp nếp bao chung
quanh bằng nội nhũ sụn cứng.
3.3.2 Khóa tra các chi trong họ Bìm bìm có ở thành phố Hồ Chí Minh
A. Bầu có lá noãn dính nhau thành bầu đơn
b. Đầu nhụy hình đầu hay hình cầu
c. Quả nang mở, cây ít khi hóa gỗ…………………….…...…Ipomoea
cc. Quả nạc, không mở, cây luôn là thân gỗ……….....……... Argyreia
bb. Đầu nhụy không hình đầu, hình dạng bản hay sợi….. ..………....Hewittia
B. Bầu có lá noãn không dính nhau thành hai mảnh cách nhau………Dichondra
3.3.3 Sinh học và sinh thái:
Họ gồm chủ yếu các loài ưa sáng, chịu được khô hạn, thường ưa đất ẩm,
nhiều mùn, đôi khi mọc ở nơi ngập nước.
Ra hoa theo mùa, chủ yếu là mùa mưa.
20
3.3.4 Phân bố:
Trên thế giới, họ Bìm bìm khá lớn với gần 50 chi và 1500 loài, phân bố rộng,
gặp nhiều ở vùng Nhiệt đới và vùng khí hậu ôn hòa. Châu Á có 15- 18 chi. Nước ta
[8,11,25] hiện biết khoảng 20 chi với trên 100 loài, trong đó chi Ipomoea lớn nhất
với trên 40 loài, phân bố rộng khắp trên cả nước, từ Bắc vào Nam, từ đồng bằng lên
vùng núi. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, các loài của họ Bìm bìm phân bố khắp mọi
nơi nhưng chủ yếu là ở các khu vực vùng ven, dân cư chưa đông đúc và các lùm
bụi, nơi gặp nhiều loài là khu Thủ Đức giáp ranh Bình Dương.
3.3.5 Công dụng của các loài:
Theo các tài liệu “Cây cỏ có ích ở Việt Nam”, “2002 loài cây có ích ở Việt
Nam”, “ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” một số loài trong họ Bìm bìm tìm
thấy ở Thành phố Hồ Chí Minh có thể dùng làm thuốc như: Argyreia nervosa
(Burm.f.) Bojer; Dichondra repens Forst; Ipomoea aquatica Forsk; Ipomoea
cairica (L.) Sweet; Ipomoea batatas (L) Poir. In Lamk; Ipomoea carnea Jacq subsp.
fistulosa (Choisy) Austin; Ipomoea congesta R.Br.; Ipomoea nil (L.) Roth;
Ipomoea obuscura (L.) Ker.-Grawl.; Ipomoea pes-caprae (L) Sw.; Ipomoea
quamocilit L; Ipomoea triloba L.; Xenostegia tridentate (L.) D.F. Austin et Staples
; Aniseia biflora (L.) Choisy; Aniseia martinicensis ( Jacq.) Choisy;
Một số loài cho hoa lớn, màu sắc sặc sỡ và đẹp thường được trồng để làm
cảnh như: Ipomoea cairica (L.) Sweet; Ipomoea congesta R.Br.; Argyreia nervosa
(Burm.f.) Bojer; Ipomoea quamocilit L.; Ipomoea carnea Jacb. Subsp. fistulosa
(Choisy) Austin , Ipomoea nil (L.) Roth.
21
Chương 4 – KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thành phần loài thuộc họ Bìm bìm ở thành phố Hồ Chí Minh
Đã ghi nhận gồm có 16 loài thuộc 5 chi trong họ Bìm bìm: chi Ipomoea L
(12 loài ), Argyreia Lour.(1 loài ), Hewittia Wight và Arn. (1 loài ), Dichondra J.R.
Forst và G. Frost. (1 loài), chi Xenostegia Austin & Staples ( 1 loài) (đôi khi được
xếp trong chi Ipomoea).
4.1.1 Argyreia nervosa (Burm.f.) Bojer [A.speciosa Sweet]
Bạc thau tím
Argyreia nervosa (Burm.f.) Bojer,1837(CCVN, 2:1002) – Convolvulus
nervosus Burm. f. 1768 [18].
Tên khác: Thảo bạc gân, Bạc thau tím.
Đặc điểm : Cây thân gỗ leo, cuốn bằng thân, cao đến 8 m, sống lâu năm. Thân hơi tim tím, đầy lông ngắn mềm, màu trắng bạc, lóng dài 20-40 cm. Lá đơn, mép nguyên, có phiến to dài đến 30cm, hình tim rộng, đầu nhọn, mặt trên nhẵn, màu xanh bóng, mặt dưới đầy lông trắng mịn, gân bên khít nhau ở gần gốc, 10-12 đôi.
Cụm hoa hình xim, cao khoảng 20 cm, mang nhiều hoa, thường nở 1- 3 hoa. Hoa có lá bắc con to, màu trắng, có mũi dài. Lá đài cao 1cm, màu trắng, có mũi dài. Tràng hợp thành ống, phía trong màu tím hồng hay tía, phía ngoài tràng có lông trắng mịn, đường kính 5-8 cm, phía trên loe rộng, mép nhăn nheo, tròn đều. Nhị 5, rời, chỉ nhị dạng sợi, hơi phình ở đáy, dài không bằng nhau, 3 nhị thấp cao 3 cm, 2 nhị cao cao 4cm, đính vào gốc ống tràng. Phần gốc nhị có lông mịn màu trắng nhưng rất ít. Bao phấn 2 ô, đính đáy, tiền khai dọc. Vòi nhụy một, dạng sợi mảnh, màu trắng dài 2,9 – 3,1 cm ( thấp hơn nhị). Đầu nhụy hình cầu, dạng cuộn não, có 2 thùy màu trắng. Quả mọng nâu vàng được bao bởi các lá đài đồng trưởng.
Sinh thái : Cây dễ trồng bằng đoạn,cành hay bằng hạt. Ra hoa từ cuối tháng
6.
Sinh học : Cây ưa sáng, phát triển tốt trong điều kiện thoát nước tốt, đầy đủ
dinh dưỡng.
22
Hình 3.1 Hình thái của loài Argyreia nervosa (Burm.f.) Bojer
A : dạng sống ; B,C : hoa, D: nh; E: nhụy; F, G: lá.
23
Hình 3.2 Hình vẽ loài Argyreia nervosa (Burm.f.) Bojer
1-Cành mang hoa; 2- Nhụy; 3- Nhị.
Người vẽ : Trần Ngọc Hồng
24
Phân bố: Loài của Ấn Độ, được nhập trồng làm cảnh nhiều ở thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt và một số nơi. Ở thành phố Hồ Chí Minh gặp ở Quận 2, Thủ Đức, Củ Chi.
Hình 3.3 Sinh thái và phân bố của loài Argyreia nervosa (Burm.f.) Bojer
Công dụng: Cây trồng làm cảnh vì hoa đẹp. Ở Ấn Độ, rễ và lá được sử dụng làm thuốc, rễ gây chuyển hóa, tăng trương lực, được dùng trị thấp khớp và các chứng đau thần kinh, lá có tác dụng chống viêm, được dùng làm thuốc đắp mụn nhọt và dùng ngoài trị các bệnh ngoài da [5].
4.1.2 Dichondra repens Forst.
Mã đề kim
Dichondra repens Forst. f. 1776 (FGI, 4:310; CCVN, 2: 970 ) [18].
Tên khác: Mã đề kim, cây Hai hạt.
Đặc điểm: Cây thảo nhỏ sống nhiều năm, bò ở đất có rễ bất định, thân mảnh có lông nằm. Lá mọc so le, phiến hình tròn hay hình thận, dài 5-10mm, rộng 8-
25
15mm, đầu tù và lõm, gốc hình tim, màu xanh lục, gân từ gốc 7, có lông thưa. Cuống lá dài 1-2cm.
Hoa ở nách lá, màu vàng, nhỏ 1-1,3 cm, mặt dưới có nhiều lông màu trắng. Cuống hoa ngắn hơn cuống lá, lá đài 5, hình trứng, dài cỡ 2 mm. Tràng hoa hình dĩa nhỏ, có 5 thùy, nhị 5, có chỉ nhị ngắn. Vòi nhụy 2, bầu 2 ô, 2 noãn. Quả gồm 2 mảnh vỏ hình cầu, có lông. Hạt 1-2.
Sinh thái: Cây mọc rải rác trên đèo dốc, ven đường, trên đất cỏ và nơi đất
ẩm, độ cao trên 1300m .
Phân bố: Ở Thành phố Hồ Chí Minh gặp ở Quận 12, Củ Chi. Ngoài ra còn gặp ở Lâm Đồng (Đà Lạt). Gặp rộng rãi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Loài của Nam Trung Quốc.
26
Hình 3.4 Hình thái của loài Dichondra repens Forst.
A: dạng sống; B: thân ; C,D: hoa ; E,F: lá.
27
Hình 3.5 Hình vẽ loài Dichondra repens Forst.
1-Cành mang hoa; 2- Hoa
Người vẽ : Trần Ngọc Hồng
28
Hình 3.6 Sinh thái và phân bố của loài Dichondra repens Forst.
Công dụng : Toàn cây được sử dụng làm thuốc tiêm viên, giải độc và nối
xương.
Ở Trung Quốc người ta dùng chữa : 1. Viêm gan, viêm túi mật ; 2. Viêm thận, phù thủng, bệnh đường tiết niệu, sỏi ; 3. Lỵ . Liều dùng 15 -30g, dạng thuốc sắc, thường phối hợp với các vị thuốc khác. Dùng ngoài trị tràng nhạc, cụm nhọt ở ngực, đinh nhọt, đòn ngã tổn thương. Dùng cây tươi giã đắp tại chỗ.
Cỏ bò, có rễ bất định, thân mảnh, có lông nằm . Lá có phiến hình thận tròn, dài 2-3 cm, gân từ đáy 7, có lông thưa. Cuống dài hơn phiến. Hoa ở nách lá, cọng ngắn hơn cuống, vành hình dĩa nhỏ, có lông, tiểu nhụy 5, tâm bì 2, rời nhau, vòi nhụy 2. Bế quả 2, tròn, có lông [5].
Ngoài ra ở Đà Lạt cây còn được trồng làm cảnh.
29
4.1.3 Hewittia scandens (Milne) Mabberly .
Bìm thùy
Hewittia scandens (Milne) Mabb. 1980 (CCVN, 2:978) - Convolvulus scandens Milne, 1773. - Convolvulus sublobatus L.f. 1781. - Hewittia sublobata (L.f.) Kuntze, 1891 (SVF, :177). - Schutereia sublobata (L.f.) House, 1906. - Hewittia bicolor Wight & Arn. 1837 (FGI, 4:298). - Schutereia bicolor (Wight& Arn.) Choisy, 1833 [14].
Tên khác: Bìm lưỡng sắc, Bìm Thùy.
Đặc điểm : Dây bò hay leo quấn, thân màu nâu nhạt, có lông trắng, không có nhựa mủ. Lá đơn nguyên, mọc cách, không có lá kèm, phiến hình tim. Lá dài 5-10 cm, mặt trên màu xanh lục, mặt dưới nhạt, hai mặt đều có lông ngắn, gân 5- 6 cặp, cuống dài 2- 5,5 cm.
Cuống hoa dài 3,5 – 6 cm, cuống hoa dài hơn cuống lá, thường một hoa. Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 5, màu vàng nhạt hay trắng với tia màu vàng sữa, tâm có màu nâu đỏ cao 2,5cm. Lá tiểu bắc nhỏ hơn lá đài và cách xa hoa 1 – 1,5 cm, gắn dưới đài. 5 lá đài rời, kích thước không bằng nhau, 3 lá đài ngoài to và rộng hơn 2 lá đài trong, dài 0,8 – 1cm, đường kính 0,4 – 1,5 cm, màu xanh lục nhạt, phần tâm phía trong màu trắng, có lông mịn màu trắng. Cánh tràng hợp thành hình phễu loe rộng ở đỉnh.
Nhị 5, rời, chỉ nhị dạng sợi, hơi phình ở đáy, dài bằng nhau 1,2 – 1,4 cm. Phần thân giữa của chỉ nhị có màu hồng tím, phần đầu gắn với bao phấn và phần gốc đính với ống tràng có màu trắng, không lông. Bao phấn 2 ô, đính đáy, hướng trong, khai dọc. Vòi nhụy một, dạng sợi mảnh, màu trắng, dài 1,3 – 1,4 cm. Đầu nhụy không hình đầu, dạng bản, có 2 thùy, màu trắng. Bầu nhụy có lông dài, mảnh, màu trắng.
Bầu 2 khô, quả nang hình cầu, đường kính 1 -1,3 cm, cao 0,8 cm, có lông
màu trắng, dài, mảnh, gốc có lá đài còn lại. Hột 2- 4.
30
31
Hình 3.7 Hình thái của loài Hewittia scandens (Milne) Mabberly
A: dạng sống; C: cành mang hoa; B: hoa; D: nhị và nhụy; E,H: nhị; F: nhụy; I,J: lá ; K: lá đài; G: quả.
Sinh thái: Mọc rải rác ven rừng, lùm bụi, nơi khô và sáng, chịu được khô
hạn, thường ưa đất ẩm.
Sinh học: Ra hoa tháng 12 – 2 (năm sau), tái sinh bằng hạt.
32
Hình 3.8 Hình vẽ loài Hewittia scandens (Milne) Mabberly
1-Cành mang hoa; 2- Hoa và nhị ; 3- Nhụy và 5 lá đài.
Người vẽ : Trần Ngọc Hồng
Phân bố : Tại Thành phố Hồ Chí Minh Hewittia scandens gặp ở Thủ Đức (khu đất gần Đại học Nông Lâm, hàng rào khu trường Đại học Khoa học Tự nhiên).
33
Ngoài ra loài còn gặp ở: Sơn La, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hà Nội (Ngọc Hà, Cổ Loa), Hà Tây (Ba Vì, Thủ Pháp), Hà Nam (Kiện Khê), Thanh Hóa (Đông Sơn), Thừa Thiên Huế (Phú Lộc, Lộc Trì), Đắc Lắc (Dac mil, Nam Đà), thành phố Hồ Chí Minh. Còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, các nước nhiệt đới châu Á và châu Phi [18].
Hình 3.9 Sinh thái và phân bố của loài Hewittia scandens (Milne) Mabberly
4.1.4 Ipomoea aquatica Forsk.
Rau muống
Ipomoea aquatica Forsk. Fl. AEg. Arab. P. 44 ; Clarker in Fl. Brit . India IV, p. 210; Ipomoea reptans Poir. Encycl. Subbl. III, p. 460; Choisy in DC. Prodr. IX, p. 349; I. repend Roth; Ipomoea subdentata Miq. Fl. Ind. Bat.; II, p. 614 ;Convolvulus reptans L; C. repens Vahl. Roxb. Fl. Indica I, p. 432; C. Adansoni Lamk [25].
Tên khác: Rau muống, Ung thái.
34
Đặc điểm: Cây thảo sống nhiều năm, bò lan trên mắt đất hoặc sống thủy sinh. Thân hình trụ rỗng ruột, có rễ mắt, không lông, có nhựa mủ trắng. Lá mặt trên màu xanh lục nhạt, mắt dưới màu nhạt hơn, hình tam giác hay hình mũi tên, không lông, mép nguyên. Phiến lá dài 7-9 cm, rộng 3,5 -7 cm, cuống lá nhẵn dài 3-6 cm. Cuống hoa ngắn hơn cuống lá.
Hoa to, đều, lưỡng tính, mẫu 5, màu trắng hoặc màu tím lợt, dạng hình phễu, mọc từ 1- 2 hoa trên một cuống. 5 lá đài rời, hình bầu dục, đầu có mũi nhọn, màu xanh lục nhạt, không lông, cao khoảng 6-8 mm.
Nhị 5, dính trực tiếp trên tràng, ngay phần nửa dưới của ống tràng, thường gần gốc, chỉ nhị dạng sợi, hơi phình ở đáy, dài không bằng nhau, nhị thấp nhất khoảng 1.3cm, cao nhất khoảng 2,1- 2,2 cm, phía trên không lông, phía dưới có nhiều lông trắng. Bao phấn, gốc và chỉ nhị đều màu trắng. Vòi nhụy một, dạng sợi mảnh, màu trắng, dài 1,6 – 1,8 cm. Đầu hình cầu, dạng cuộn não, chia làm 2 thùy. Bầu nhụy không lông, vòi nhụy thấp hơn nhị cao nhất khoảng 0,2 cm. Bầu 2 ô.
Quả nang mở, tròn 7- 9 mm, chứa 4 hạt có lông màu hung. Hạt hình bầu dục,
khi già màu đen, đường kính khoảng 4 mm.
Sinh học : Ra hoa quanh năm, tái sinh bằng hạt hoặc bằng thân (dây )
Sinh thái: Tùy theo điều kiện trồng trọt, ở nước ta có mấy loại rau muống:
- Rau muống ruộng: có 2 giống trắng và đỏ. Giống trắng thường trồng cạn,
kém chịu ngập; giống đỏ trồng được ở cạn và nước ngập.
- Rau muống phao: cấy xuống bùn cho rau nổi trên mặt nước, cắt ăn quanh
năm.
- Rau muống bè: thả quanh năm.
- Rau muống thúng: trồng vào thúng có đất và phân đặt vào giá trong ao sâu
cho thúng nổi trên độ ¼ để rau bò kín mặt ao.
35
Hình 3.10 Hình thái loài Ipomoea aquatica Forsk
A: Dạng sống; B,D : hoa; C: lá; E: nhị; F: nhụy; G,H: hạt và quả.
36
Hình 3.11 Hình vẽ loài Ipomoea aquatica Forsk
1-Cành mang hoa; 2- Nhụy; 3- Nhị.
Người vẽ : Trần Ngọc Hồng
37
Phân bố: Tại thành phố Hồ Chí Minh cây rau muống cũng được trồng rộng rãi khắp mọi nơi, chủ yếu là để lấy rau ăn: Củ Chi, Hoc Môn, Thủ Đức, Bình Chánh, Cần Giờ, Thanh Đa, Quận 12, Nhà Bè.
Nguyên sản từ vùng nhiệt đới châu Á (có thể là Ấn Độ hoặc các nước Đông
Nam Á), châu Phi, Nam và Trung Mỹ [5].
Công dụng : Rau muống là cây rau ăn lá, vừa làm thức ăn chăn nuôi quan trọng của nhân dân ta. Toàn cây rau muống được dùng làm thuốc xem như có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, cầm máu. Thường dùng chữa: 1. Ngộ độc thức ăn; 2. Ngộ độc lá ngón, thạch tín, nấm độc, thuốc độc; 3. Tiểu tiện bất lợi, đái ra máu; 4. Chảy máu cam, ho ra máu, trĩ xuất huyết, dạ dày xuất huyết, lỵ ra máu. Còn dùng chữa phong thủng, đàn bà đẻ khó, huyết vận, mề đay, phong lở ngứa và rắn trun cắn. Thường dùng dưới dạng thuốc sắc hay chiết dịch dùng tươi. Dùng ngoài giã nát đắp [5, 12 ].
Hình 3.12 Sinh thái và phân bố loài Ipomoea aquatica Forsk
4.1.5 Ipomoea batatas (L.) Poir. in Lamk.
Khoai lang
38
Ipomoea batatas Lamk Encycl. VI, p. 14 ; Clarke in Fl. Brit. India IV, p. 202; I. Catesbaei G. F. W. Meyer; Convolvulus batatas L. Lour Fl. Coch. p. 107 ; Roxb. Fl. ind. I, p.483 ; C. indicus Moris ; C.edulis Thunb. ; C. esculentus Salisb. ; Batatas edulis Choisy, DC. Prodr. IX, p. 338 ; B. xanthorhiza Bojer [25].
Đặc điểm : Cây thảo bò, thân dài 2-3m, có thể dài 4-5m cho đến 7m nếu để mọc tự nhiên, có mủ trắng. Rễ phình thành củ tròn dài, màu đỏ, trắng hay vàng, có mủ trắng. Lá có nhiều hình dạng, có 2 dạng chính : lá nguyên hay lá xẻ thùy chân vịt . Lá xẻ thùy thường hình tim xẻ 3 thùy sâu hay cạn, cao 8,3 – 11 cm, không lông, mép nguyên, mặt trên màu xanh thẫm, phía dưới màu nhạt hơn,có mủ, cuống dài.
Cụm hoa xim, ít hoa ở đầu cành hay nách lá, cuống hoa thấp hơn cuống lá. Hoa hình phễu, màu tím nhạt, phần cánh tràng màu hơi lợt và đậm dần về phía trong ống tràng, mặt ngoài có màu tím nhạt. Ngoài ra còn có màu trắng hay vàng. Lá đài màu xanh lục,hình bầu dục, không lông, cao khoảng 0,8 – 1 cm.
Nhị 5, dính trực tiếp trên tràng, ngay phần nửa dưới của ống tràng, thường gần gốc, chỉ nhị dạng sợi, hơi phình ở đáy ,dài không bằng nhau khoảng 1,3- 1,7 cm, phía trên không lông, phần gốc có nhiều lông trắng. Vòi nhụy một, dạng sợi mảnh, màu trắng, dài 1,8 – 2 cm. Đầu nhụy hình cầu dạng cuộn não, không lông. Bầu nhụy có rất ít lông màu trắng nhạt, vòi nhụy cao hơn nhị. Bầu 2 ô. Hạt hình bầu dục, khi già màu đen, kích thước khoảng 0,8 – 0,9 cm.
Rất ít khi thấy quả và hạt.
Sinh học : Thường nhân giống bằng các đoạn dây, có khi người ta dùng củ
để nhân giống và có thể trồng bằng các mầm nảy từ củ ra. Ra hoa quanh năm.
Sinh thái: Mọc hoang dại hoặc có thể được trồng ở nhiều điều kiện khí hậu, đất đai khác nhau nhưng tốt nhất ở đất pha cát, lượng mưa hàng năm khoảng 1000mm, không chịu hạn trong thời gian sinh trưởng.
Phân bố: ở thành phố Hồ Chí Minh cây mọc ở nhiều nơi : Thủ Đức, Củ Chi, Hocmôn, Nhà Bè, quận 12, Cần Giờ, Thanh Đa, Quận 2… chủ yếu là được trồng làm thức ăn.
Khoai lang có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, lan truyền sang các đảo Thái Bình Dương, nay được trồng ở khắp các vùng nhiệt đới, ôn đới. Ở nước ta, khoai lang được trồng khắp nơi [5].
39
Hình 3.13 Hình thái loài Ipomoea batatas (L.) Poir. in Lamk
A : Dạng sống ; B,C: hoa ; E : nhị và nhụy ; D : nhụy ; G : nhị ; F: lá.
40
Hình 3.14 Hình vẽ loài Ipomoea batatas (L.) Poir. in Lamk
1-Cành mang hoa; 2- Nhụy; 3- Nhị; 4- đài
Người vẽ : Trần Ngọc Hồng
41
Hình 3.15 Sinh thái và phân bố của loài Ipomoea batatas (L.) Poir. in Lamk
Công dụng : Ngọn non và lá khoai lang dùng để luộc ăn. Củ có thể luộc ăn hoặc thái lát, phơi khô hoặc chà lấy bột để chế biến các món ăn. Khoai lang còn được dùng chế mạch nha, glucose, cồn, làm nguyên liệu công nghiệp, thức ăn chăn nuôi, dùng trong công nghiệp thực phẩm.
Dây khoai lang, lá khoai lang được dùng phơi khô, giã lấy bột làm thức ăn
chăn nuôi lợn (heo) và gia súc.
Củ và lá cũng được dùng làm thuốc. Thường dùng trị:
- Thiếu sữa, chữa ngộ độc sắn, chữa vàng da, ung nhọt, viêm tuyến vú, phụ nữ
kinh nguyệt không đều (dùng trước kỳ kinh)
- Đại tiện táo bón, trẻ em cam tích, lỵ mới phát
- Di tinh, đái đục [5].
42
4.1.6 Ipomoea cairica (L) Sweet
Bìm bìm cảnh
Ipomoea cairica (L.) Sweet, 1827 (CCVN, 2: 990) - Convolvulus cairicus L.
1759. - Ipomoea pulchella Roth, 1821 (FGI, 4:257) [18].
Tên khác : Bìm Hy Lạp , Bìm bìm cảnh, Bìm đẹp
Đặc điểm : Cây thảo lâu năm, có rễ củ. Cây leo dài bằng thân quấn, thân mảnh, nhỏ, mọc leo dài 3-6 m, không lông, phần gốc hơi hóa gỗ. Lá mọc cách, do 5 lá chét không lông, xẻ sâu đến tận cuống lá, hình chân vịt, bìa nguyên. Phiến lá mỏng hình mác, đầu nhọn, màu xanh bóng, hai mặt nhẵn, gân nổi rõ. Cuống lá dài 2-5 cm, có 2 lá kèm nhỏ do chồi nách sinh ra, hình dạng như lá. Không có tuyến nhựa mủ.
Phát hoa ít hoa ở nách lá. Lá đài gần như bằng nhau, màu xanh nhạt, không lông. Hoa to, hình phễu màu tím nhạt, chóng tàn. Cánh tràng hợp thành hình phễu loe rộng ở đỉnh, mép nguyên, có vạch dọc phân chia rõ 5 thùy.
Tràng vặn, nhị 5, nhị đính trên ống tràng, gắn 5 mm cách đáy ống vành, chiều dài nhị không bằng nhau: 3 nhị thấp cao khoảng 1,2 -1,3 cm , 2 nhị cao vượt hơn nhưng cũng không bằng nhau, nhị cao nhất khoảng 2,1 – 2,2 cm. Cuống và đầu nhị đều có màu tím nhạt, phần đầu không lông, phần gốc nhị ngay sát tràng có nhiều lông trắng, hạt phấn màu trắng. Vòi nhụy một, dạng sợi mảnh, dài 2- 2,2 cm, cao hơn nhị khoảng 0,3 cm. Đầu nhụy hình cầu, dạng cuộn não, chia làm 2 thùy. Vòi và đầu nhụy màu trắng, bầu nhụy không lông, bầu 2 ô. Quả nang khô hình cầu, đường kính 1cm, chứa 4 hột, cao 5-6cm, gốc có lá đài còn lại, không lông.
Sinh học : Ra hoa gần như quanh năm, chủ yếu tháng 5-12, cây tái sinh bằng
hạt hoặc giâm cành.
Sinh thái : Mọc hoang ở nhiều nơi, thường mọc quấn vào hàng rào hoặc các bụi cây khác. Người dân các địa phương và một số khu du lịch còn trồng cây này làm cảnh, làm hàng rào, làm dàn che nắng, …... Cây có nhu cầu dinh dưỡng trung bình, đất tơi xốp thoát nước tốt, ưa sáng.
43
Hình 3.16 Hình thái loài Ipomoea cairica (L) Sweet
A: dạng sống; B: thân; C,D: hoa; E,F: nhị và nhụy; G: lá.
44
Hình 3.17 Hình vẽ loài Ipomoea cairica (L) Sweet
1-Cành mang hoa; 2- Nhị; 3- Nhụy; 4- lá đài.
Người vẽ : Trần Ngọc Hồng
45
Phân bố: Loài cổ nhiệt đới, có nhiều ở các nước nhiệt đới châu Á và châu
Phi. Ở thành phố Hồ Chí Minh gặp ở: Thanh Đa, Thủ Đức, Hoc Mon .
Ngoài ra cây còn phân bố ở một số nơi khác ở nước ta như : Lạng Sơn (Đại Thắng), Phú Thọ (Phủ Đoan), Hải Phòng (Đồ Sơn), Nam Định, Ninh Bình, Thừa Thiên Huế (Huế: đường Hà Nội), Lâm Đồng (Đà Lạt, Thác Cam Ly) và nhiều nơi khác [18].
Hình 3.18 Sinh thái và phân bố của loài Ipomoea cairica (L) Sweet
Công dụng : Cây được trồng dọc hàng rào vì hoa đẹp. Toàn cây cũng được sử dụng làm thuốc, có thể dùng tươi hay phơi khô. Dân gian thường dùng lá đâm rịt trị bệnh đầu voi. Ở Haoai, người ta dùng rễ củ và thân để ăn. Ở Ấn Độ người ta dùng lá giã ra xoa đắp trên cơ thể người bị ban; hạt được dùng làm thuốc xổ. Ở Trung Quốc người ta dùng trị : 1. Ho do bệnh về phổi; 2. Giảm niệu, đái ra máu; 3. Phù thủng. Dùng liều 5-12g dạng thuốc sắc. Không dùng cho người bị yếu, ốm. Dùng ngoài trị đinh nhọt, viêm mủ da, đòn ngã tổn thương; giã cây tươi đắp vào chỗ đau [5].
46
4.1.7 Ipomoea carnea subsp. Fistulosa (Choisy) Austin [ I. crassicaulis (Benth.)
Roxb.]
Bìm màu thịt
Ipomoea carnea Jacq. Amer. Hist., p.26, tap. 18 , ssp. Fistulosa (Choisy) Austin, 1977 (CCVN, 2: 995). – Ipomoea fistulosa Mart. Ex Choisy in DC. 1845. – Batatas crassicaulis Benth. 1884. – Ipomoea crassicaulis (Benth.) Robins. 1916. [25].
Tên khác: Bìm khói, Bìm bộng, Bìm màu thịt.
Đặc điểm: Cây nhỡ, mọc trườn hay dây leo quấn, có khi mọc thành bụi. Cành non có lông, có mủ trắng. Lá dạng tim, to, đầu nhọn dài thành mũi, dài 10 - 25cm. Lá non màu lục bóng, có lông mịn, lá già màu lục đậm pha vàng, cuống lá cứng, mập, dài 5-15 cm. Cuống hoa dài hơn cuống lá.
Hoa mọc thành xim ở nách lá, với nhiều hoa, hoa nở dần chỉ 1-2 hoa sau đó các hoa khác lần lượt nở tiếp. Hoa lớn, cao 8-12cm, lá đài bằng nhau, dài từ 5-7 mm, màu xanh lục nhạt. Tràng màu trắng, hơi xám hay tím nhạt màu khói, dạng phễu dài, đỉnh loe rộng chia thành 5 thùy nông tròn đều. Nhị 5, rời, chỉ nhị dạng sợi, hơi phình ở đáy, dài không bằng nhau (3 ngắn, 2 dài) 1,5 – 3,6 cm, đính vào gốc ống tràng, xếp xen kẽ cánh hoa, đầu và vòi nhụy màu trắng, gốc màu tím có lông nhỏ màu trắng. Vòi nhụy một, dạng sợi mảnh, màu trắng, dài 3-3,2 cm, thấp hơn nhị. Bầu nhụy không lông, 2 ô. Quả nang to 1,5 – 2,5 cm, hạt đen.
Sinh học: Cây ra hoa gần như quanh năm, rộ vào mùa mưa. Tái sinh bằng
hạt hoặc giâm cành.
Sinh thái : Cây mọc hoang dọc các lối đi ven đường, bờ nước, bờ ao và bờ
ruộng.
47
Hình 3.19 Hình thái loài Ipomoea carnea subsp. Fistulosa (Choisy) Austin
A: dạng sống; B,C,D: hoa; G: nhị và nhụy; E: nhị; F: nhụy; H,I: lá.
48
Hình 3.20 Hình vẽ loài Ipomoea carnea subsp. Fistulosa ( Choisy) Austin
1-Cành mang hoa; 2- Nhụy; 3- Nhị; 4- Đài
Người vẽ : Trần Ngọc Hồng
49
Phân bố: Ở Thành phố Hồ Chí Minh gặp ở Củ Chi (Tân Phú Trung), dọc lối đi ra biển Cần Giờ. Gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ, được trồng, nay thành hoang dại ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
Công dụng : Lá dùng ăn như rau, có tính chất tẩy nhẹ. Cây được gây trồng
làm cây cảnh ở thành phố Hồ Chí Minh và một số nơi [5].
Hình 3.21 Sinh thái và phân bố của loài Ipomoea carnea subsp. Fistulosa (Choisy) Austin
4.1.8 Ipomoea congesta R. Br.
Bìm bìm biếc.
Ipomoea congesta R. Br. 1810 (CCVN, 2: 986; PROSEA, 12, 2). - Ipomoea leari Paxt. 1839 (FGI, 4: 242). - Pharbitis leari (Paxt.) Lindl. 1841 (SVF, 1: 185). Pharbitis congesta (R. Br.) Hara, 1948 [18].
Tên khác : Bìm bìm tím, Bìm Biếc
Đặc điểm : Dây leo quấn, thân mảnh. Lá có phiến hình tim, nguyên hay có 3 thùy, dài 10- 15 cm, có lông dày nằm, nhất là ở mặt dưới gân từ gốc 3. Cuống dài 6- 7 cm. Không có lá kèm.
50
Hoa lớn, lưỡng tính, mẫu 5. Tràng hoa hình chuông, màu lam nhạt hay tim tím rồi đỏ, có 5 vạch màu sáng hơn. Hoa mọc thành xim, nhiều, xếp thành bó 10-30 . Cuống dài 14 – 16 cm. Lá đài nhọn dài, có lông nằm, dài 20-23 mm. Không có nhựa mủ.
Nhị 5, rời, chỉ nhị dạng sợi, hơi phình ở đáy, dài không bằng nhau (3 ngắn, 2 dài) 1,3 – 2,5 cm, đính vào gốc ống tràng, xen kẽ cánh hoa. Phần gốc chỉ nhị có nhiều lông nhỏ màu trắng. Bao phấn 2 ô, đính đáy, hướng trong, khai dọc. Cả gốc, chỉ nhị và bao phấn đều màu trắng. Vòi nhụy một, dạng sợi mảnh, màu trắng, dài 3,2 – 3,4 cm. Đầu nhụy hình cầu, dạng cuộn não, có 2 thùy, màu trắng. Bầu nhụy không lông. Quả nang hình cầu.
Sinh học : Thường ra hoa vào mùa mưa, tái sinh bằng hạt.
Sinh thái: Cây mọc được ở vùng thấp lên đến độ cao 1500 m, thường mọc
hoang nơi lùm bụi, ven đường, nơi khô và sáng . Đôi khi được trồng làm cảnh.
51
Hình 3.22 Hình thái loài Ipomoea congesta R. Br.
A: dạng sống; B: cành mang hoa; D: hoa; E: nhị và nhụy; C:nhị; I: nhụy; G,H: lá; F: lá đài
52
Hình 3.23 Hình vẽ loài Ipomoea congesta R. Br.
1-Cành mang hoa; 2- Nhụy; 3- Nhị; 4- đài
Người vẽ : Trần Ngọc Hồng
53
Phân bố: Tại thành phố Hồ Chí Minh gặp ở khu du lịch Văn Thánh (Thanh
Đa), 1 số hàng rào ở các hộ dân khu Bình Chánh, Thủ Đức, Quận 2.
Loài của các vùng nhiệt đới, được du nhập vào nước ta, ngoài thành phố Hồ Chí Minh còn gặp ở một số nơi khác như: Hà Giang (Phó Bảng), Hà Nội (Bách Thảo), Lâm Đồng (Đà Lạt) [18].
Công dụng : Cây được trồng làm cảnh, làm hàng rào vì hoa đẹp [5].
Hình 3.24 Phân bố sinh thái của loài Ipomoea congesta R. Br.
4.1.9 Ipomoea hederifolia L.
Bìm cạnh
Ipomoea hederifolia L. 1759 (CCVN, 2:993); Ipomoea angulata Lamk.
1791 [18].
Tên khác : Bìm cạnh, Bìm đỏ
Đặc điểm : Cây thảo, mọc leo dài đến 5m. Thân tròn hay có cạnh, phần thân ngoài nắng đôi khi có màu tím, không lông. Lá mọc so le, mặt trên xanh lục, mặt dưới nhạt, hai mặt đều không lông, gốc hình tim. Phiến lá chia 3 thùy cạn hoặc có
54
3-5 thùy bên nhỏ, rộng 5- 8 cm, dài 8-10 cm, gân từ đáy 5. Cuống lá dài gần bằng phiến lá 6 – 8 cm.
Cụm hoa xim trên cuống chung dài hơn cuống lá. Hoa lớn, rộng cỡ 2cm, lá đài có móng dài, không lông. Tràng hoa màu đỏ thắm như nhung, hình kèn rộng từ 1-2 trên, thùy không sâu.
Nhị và nhụy dài, thò ra ngoài tràng hoa 1,5 – 2 cm. Nhị 5, rời, chỉ nhị dạng sợi, màu vàng nhạt, dài gần bằng nhau 3,2 – 3,5 cm, đính vào gốc ống tràng, không lông. Bao phấn 2 ô,màu trắng, đính đáy, hướng trong, khai dọc. Nhụy dài 4,5 cm, đầu nhụy không lông, hình cầu, dạng cuộn não, màu trắng, bầu nhụy không lông. Quả nang tròn, đường kính 5-7mm, có lá đài còn lại. Hạt 4, cao 4mm, đen, có lông.
Sinh thái: Cây mọc từ vùng thấp đến độ cao 1000m, thường mọc hoang nơi
lùm bụi, ven đường, nơi khô và sáng.
Sinh học : Ra hoa tháng 10-2. Hoa nở ban ngày. Cây thường tái sinh bằng
hạt.
Phân bố : Loài của các vùng nhiệt đới, tại Thành phố Hồ Chí Minh gặp ở
Thủ Đức. Ở nước ta, có gặp khắp Bắc, Trung, Nam.
55
Hình 3.25 Hình thái loài Ipomoea hederifolia L
A: dạng sống; B: hoa; C,D,E: cành mang hoa; F: nhị; G: nhụy; H: lá; I: quả; J: hạt
56
Hình 3.26 Phân bố và sinh thái của loài Ipomoea hederifolia L
Công dụng: Cây được trồng làm cảnh. Chữa phù thũng, tinh thần phân liệt, lợi đại tiểu tiện. Có tác giả xem nó như là một thứ của loài bìm đỏ - Ipomoea coccinea L. [5]
4.1.10 Ipomoea maxima (L.f.) Don in Sw. Bìm nhỏ
Ipomoea maxima (L.f.) G. Don in Sweet, 1827 (CCVN, 2:990) - Convolvulus
maximus L.f. 1781. – Ipomoea sagittifolia Burm. f. 1768 (FGI, 4:260; DLTN:76;
SVF, 1:180) [18].
Đặc điểm: Cỏ leo quấn, thấp . Thân mảnh có lông sát ở mắt, có màu hơi đo đỏ không đều nhau. Lá mặt trên có màu lục tươi, mặt dưới màu nhạt, không lông, hình tim đều hay hơi đầu tên, gân từ đáy 5-7 . Đôi khi phía trên mặt lá có những vệt màu tím. Phát hoa ít hoa ở nách lá, cuống lá dài 3 -5,5 cm, cuống hoa dài 6- 8 cm.
57
Hoa có kích thước nhỏ , dài khoảng 2,5 – 3 cm , hoa vàng nhạt hay trắng với đáy màu đỏ đậm , hoa mọc thành xim với 4- 5 hoa chung 1 cuống. 5 lá đài rời, hình bầu dục, đầu có mũi nhọn, màu xanh lục nhạt, không lông.
Nhị 5, rời, chỉ nhị dạng sợi, dài không bằng nhau (3 ngắn, 2 dài) dài 6- 11 mm, đính vào gốc ống tràng, xen kẽ cánh hoa. Chỉ nhị màu trắng, bao phấn và phần gốc chỉ nhị có màu hồng tím, phần gốc màu đậm hơn và có nhiều lông mịn màu trắng. Bao phấn 2 ô, đính đáy. Vòi nhụy một, dạng sợi mảnh, màu trắng, đầu nhụy hình cầu dạng cuộn não. Nhụy cao bằng nhị cao nhất khoảng 11mm. Bầu nhụy không lông. Bầu 2 ô.
Quả nang hình cầu đường kính 6-7 mm . Hạt đường kính 2-3 mm, một quả
có từ 2-4, màu xám nhạt, có lông mịn.
Sinh học: Ra hoa vào tháng 6 -9. Thường nở đến 10h là bắt đầu tàn. Cây tái
sinh bằng hạt .
Sinh thái: Mọc rải rác trong rừng thưa, ven đường, hàng rào, quanh làng
bản, lùm bụi, nơi khô và sáng.
Phân bố: Tại TP HCM gặp ở : Thanh Đa, Thủ Đức, Nhà Bè, Cần Giờ ( dọc
lối đi ra biển Cần Giờ).
Ngoài ra, ở nước ta còn gặp ở một số nơi : Đắc Lắc (Krong Pắc), Bến Tre (
Ba Tri, Tân Thủy). Gặp ở Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan [18].
58
Hình 3.27 Hình thái của loài Ipomoea maxima (L.f.) Don in Sw.
A: dạng sống; B: hoa; C: nhị và nhụy; D: nhị; E: nhụy; G: thân; H: quả, I:
hạt; F: lá.
59
Hình 3.28 Hình vẽ của loài Ipomoea maxima (L.f.) Don in Sw.
1-Cành mang hoa; 2- Nhụy; 3- Nhị.
Người vẽ : Trần Ngọc Hồng
60
Hình 3.29 Phân bố và sinh thái của loài Ipomoea maxima (L.f.) Don in Sw.
4.1.11 Ipomoea nil (L.) Roth. [ Pharbitis nil (L.) Choisy ]
Bìm bìm lam
Pharbitis nil (L.) Choisy, 1833 (SVF, 1: 185). Convolvulus nil L. 1762. - Ipomoea nil (L.) Roth, 1797 (CCVN, 2: 987); TĐCT: 92; PROSEA, 12, 2). – Ipomoea hederacea Jacq. 1786 (FGI, 4: 241; CCVN, 2:987). [18]
Tên khác: Hắc sửu, Bạch Sửu, Khiên ngưu, Bìm biếc, Bìm lam, Bìm bìm
lam, Bìm bìm khía
Đặc điểm: Thân leo quấn 2-3 m, mảnh, có lông nằm ngược. Phần thân già có màu nâu nhạt, phần còn non xanh hơn. Nhất niên hay đa niên. Lá có phiến xoan, dạng tim dài 8-13 cm, thường có 3 thùy hình trái xoan, nguyên, thùy bên có khi có răng (do vậy nên còn có tên bìm bìm khía), có màu xanh lục đậm, mặt dưới màu nhạt hơn, gân 5-7, cả 2 mặt trên và dưới đều không có lông.
61
Cuống lá dài 5- 7 cm, có lông nằm ngược. Hoa xếp 1-3 cái trên cuống ngắn hơn cuống lá. Lá đài có lông, cao 15- 25 cm, hình dải, có mũi cong. Tràng hoa hình phễu, cao khoảng 5cm, có ống trắng, phiến trải ra màu lam, tía hay hồng.
Nhị 5, rời, chỉ nhị dạng sợi, dài không bằng nhau (3 ngắn, 2 dài ) 7- 15mm, đính vào gốc ống tràng, xen kẽ cánh hoa. Cả bao phấn, chỉ nhị và gốc chỉ nhị đều có màu trắng, phần gốc chỉ nhị có nhiều sợi lông nhỏ màu trắng. Vòi nhụy một, dạng sợi mảnh, màu trắng, dài 2,5 cm. Đầu nhụy hình cầu, dạng cuộn não. Quả nang to 1cm, chứa 5-6 hạt tròn cao 5 mm, hạt đen, không có lông.
Sinh học : Ra hoa vào tháng 7-9, có quả tháng 10- 12. Hoa trổ từ sang sớm
đến trưa, tái sinh bằng hạt.
Sinh thái : Mọc rải rác ven rừng, lùm bụi, hàng rào ven đường, nơi khô và
sáng .
Phân bố: Tại TP Hồ Chí Minh gặp ở Thanh Đa (hàng rào lối đi bên Bình
Quới), Hóc Mon, Nhà Bè.
Loài của châu Mỹ nhiệt đới, được trồng và trở thành cây mọc hoang ở nhiều nơi. ở Việt Nam gặp ở: Lạng Sơn, Hòa Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Bình, Đắc Lắc (Krong Pắc, Krong Bông) Ninh Thuận, Bình Dương, Bà Rịa- Vũng Tàu [18].
62
Hình 3.30 Hình thái của loài Ipomoea nil (L.) Roth.
A,B: dạng sống; C,D: hoa; E : cành , F: nhị; G: đài
63
Hình 3.31 Hình thái của loài Ipomoea nil (L.) Roth.
A : Nhụy ; B,C: Lá; D: Quả ; E: Hạt
Công dụng: Cây thường được trồng làm cảnh, Ở Trung Quốc, hạt được kết hợp dùng với một số loại khác làm thuốc trị viêm thận phù thủng, xơ gan cổ trướng, táo bón, bệnh giun đũa và sán xơ mít. Ngoài ra còn được dùng để trị ăn khó tiêu, mất kinh, kiết [5] .
64
Hình 3.32 Hình vẽ loài Ipomoea nil (L.) Roth.
1-Cành mang hoa; 2- Nhụy; 3- Nhị. 4- Dài
Người vẽ : Trần Ngọc Hồng
65
Hình 3.33 Phân bố và sinh thái của loài Ipomoea nil (L.) Roth. [Pharbitis nil (L.)
Choisy ]
4.1.12 Ipomoea obscura (L.) Ker.-Gawl. Bìm bìm mờ
Ipomoea obuscura Ker in Bot. Regist. tab. 239 ; Choisy in DC. Prodr. IX, p. 370 (p. p.): Clarke in Fl. Brit. India IV, p. 207 - Ipomoea insuavis Bl. - Ipomoea ocularis Bartl. - Ipomoea ochroleuca Span. - Convolvulus obscurus L., Roxb. F. indica II, p. 52 [17]
Đặc điểm: Dây leo quấn, cành mảnh, không lông. Lá mọc so le, phiến lá hình trái xoan, đầu nhọn, gốc hình tim, gân từ gốc 5-7, mỏng, không lông hay có lông mịn, không có lá kèm. Cuống hoa dài hơn cuống lá, phát hoa có 1-2 hoa ở nách lá. Hoa trắng có tia vàng sữa hay lam với đáy màu đỏ đậm, cánh tràng hợp thành phễu loe rộng ở đỉnh. Lá đài trong hơi cao hơn ngoài, 5 lá đài rời, hình bầu dục, đầu có mũi nhọn, màu xanh lục nhạt, không lông.
Nhị 5, rời, chỉ nhị dạng sợi, hơi phình ở đáy, dài không bằng nhau, 3 nhị cao 3 mm, 2 nhị cao 5 mm, đính vào gốc ống tràng, xen kẽ cánh hoa. Phần gốc chỉ nhị màu đỏ đậm, có nhiều lông mịn màu trắng. Bao phấn 2 ô, đính đáy, hướng trong,
66
khai dọc, màu trắng. Vòi nhụy một, dạng sợi mảnh, màu trắng, dài 1cm. Đầu nhụy hình cầu, dạng cuộn não, màu trắng. Quả nang mở, đường kính 8 – 10 mm, hạt màu đen có lông sát.
Sinh thái: Cây mọc vùng duyên hải, lên đến độ cao 1300 m. Có quả vào
tháng 1. Ra hoa từ tháng 1-10.
Phân bố: Loài của Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Inđonexia. Tại thành phố Hồ Chí Minh loài này phân bố rất rộng rãi, hầu như gặp ở mọi nơi trong các điểm nghiên cứu.
Ngoài ra, ở nước ta có gặp ở Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hải Dương (Chí Linh, Bảy Chùa), Quảng Ninh, Ninh Bình, Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa vào tới thành phố Hồ Chí Minh [18].
67
Hình 3.35 Hình thái của loài Ipomoea obscura (L.) Ker.-Gawl.
A,B: dạng sống; C: hoa; F: cành mang hoa; D: lá; G:nhị và nhụy; H: nhị; I: nhụy; E: quả.
68
Hình 3.34 Hình vẽ loài Ipomoea obscura (L.) Ker.-Gawl.
1-Cành mang hoa; 2- Nhụy; 3- Nhị.4- Hoa chẻ dọc.
Người vẽ : Trần Ngọc Hồng
69
Hình 3.36 Sinh thái và phân bố của loài Ipomoea obscura (L.) Ker.-Gawl.
Công dụng: Ở Ấn Độ, lá được dùng rang lên, giã ra và nấu với bơ lỏng được
dùng làm thuốc đắp trị đau miệng, lở miệng [5].
4.1.13 Ipomoea pes-caprae(L.) R. Br.
Rau muống biển
Ipomoea pes-caprae (L.) R. Br. 1818 (PROSEA, 12, 2); Sweet, 1818, 1818 (CCVN, 2: 992). – convolvulus pes-caprae L. 1753. – Ipomoea biloba Forsk. 1775(FGI, 4: 259; LTĐ: 1177). – Ipomoea maritime (Desr.) R. Br. 1810 [14].
Tên khác : Rau muống biển, Muống biển, Bìm chân dê, Mã yên đằng, Mã đề
thảo.
Đặc điểm : Cây thảo, mọc bò lan trên đất cát dọc bờ biển, không leo, phân rất nhiều cành. Có thân dày (đặc) có hai đường rãnh nông ở hai bên thân dọc theo chiều dài từ mấu nọ đến mấu kia. Thân nhẵn, thường đo đỏ, ngọn hướng lên. Cuống lá dài 5 -9,5 cm, màu tím nhạt, mặt trên có đường rãnh màu đậm hơn, dày về phía gốc, rải rác có nhiều u, mang hai tuyến đối nhau ở đầu cuống. Lá đơn nguyên, mọc
70
cách, không có lá kèm, có phiến gần như dạng hình vuông, hình tim sâu ở gốc, tròn hay lõm ở đầu, xẻ thành 2 như hình móng chân con trâu. Lá dài 4-6 cm, rộng 5- 7cm, mặt trên xanh lục, mặt dưới nhạt, hai mặt đều không lông. Lá non 2 mảnh cụp vào nhau. Gân lá hình lông chim lồi mặt dưới, có 6-8 cặp gân phụ hơi lồi ở mặt dưới, tập trung nhiều ở gốc. Có nhựa mủ trắng.
Hoa mọc thành xim 1-3 hoa ở nách lá với cuống chung dài 5 - 6,5 cm. Hoa to, màu hồng tím. Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 5. Cuống hoa dài 1,5 - 2,5 cm, có màu xanh nhạt. Lá bắc và 2 lá con hình vảy tam giác. 5 lá đài rời, hình bầu dục, đầu có mũi nhọn, màu xanh lục nhạt. Cánh tràng hợp thành hình phễu loe rộng ở đỉnh.
Nhị 5, rời, chỉ nhị dạng sợi, hơi phình ở đáy, dài không bằng nhau (3 ngắn, 2 dài) 4- 8 mm, đính vào gốc ống tràng, xen kẽ cánh hoa. Phần gốc chỉ nhị có nhiều lông mịn màu trắng. Bao phấn 2 ô, đính đáy, hướng trong, khai dọc. Vòi nhụy một, dạng sợi mảnh, màu trắng, dài 1- 1,2 cm. Đầu nhụy hình cầu dạng cuộn não, có 2 thùy, màu trắng. Bầu nhụy không lông.
Quả nang hình cầu, đường kính 2cm. Hạt, đường kính 7mm, dẹp, màu hung.
71
Hình 3.37 Hình thái của loài Ipomoea pes-caprae(L.) R. Br.
A: dạng sống; B: cành mang hoa; C: hoa; F: nhị và nhụy; E: nhụy; D: nhị;
H,G: lá.
72
Hình 3.38 Hình vẽ loài Ipomoea pes-caprae(L.) R. Br.
1-Cành mang hoa; 2- Nhụy; 3- Nhị; 4- đài
Người vẽ : Trần Ngọc Hồng
73
Sinh học: Cây ra hoa hầu như quanh năm, chủ yếu vào mùa hè và mùa thu. Cây có thể tái sinh bằng hạt, hoặc trồng bằng cách dâm cành vào đất phù sa vào mùa mưa.
Sinh thái : Cây mọc tỏa ra trên các bãi cát ven biển.
Phân bố: Tại Thành phố Hồ Chí Minh gặp ở Cần Giờ.
Loài của Việt Nam,Campuchia, Thái Lan, Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc, Inđônêxia và Philippin. Ở Việt Nam cây mọc khắp nơi dọc bờ biển, là cây cố định cát ở biển [18].
Hình 3.39 Phân bố và sinh thái của loài Ipomoea pes-caprae (L.) R. Br.
Công dụng: Rau muống biển là cây cố định ở cát biển. Nhân dân ta thường dùng làm thức ăn cho thỏ, dê, ngựa, chuột lang, cũng dùng cho trâu bò nhưng chúng không thích ăn vì có mùi hăng. Bò ăn lá cho sữa có mùi vị không ngon.
Toàn cây được dùng làm thuốc chữa cảm mạo, sốt, sốt rét, tê thấp, chân tay đau nhức, mỏi, thông tiểu tiện, chữa thủy thũng, đau bụng. Dùng ngoài, lá rau
74
muống biển tươi giã nát đắp lên các vết loét, mụn nhọt đang mưng mủ và cũng dùng trị rắn cắn. có thể phơi khô tán nhỏ rắc lên những nơi bị bỏng.
Ở Ấn Độ, lá được dùng đắp ngoài trị tê thấp và đau bụng, dịch lá dùng trị bệnh phù và đồng thời dùng lá giã nát đắp vào những phần bị phù. Ở Thái Lan, lá được dùng ngoài để trị chất độc của thịt sứa.
Ở Trung Quốc, người ta dùng toàn cây trị: phong thấp đau nhức khớp xương, đau ngang thắt lưng. Mụn nhọt và viêm mủ da, trĩ xuất huyết, liều dùng 15 -30g, dạng thuốc sắc. Không dùng cho phụ nữ có thai. Dùng ngoài, lấy cây tươi giã đắp [5].
4.1.14 Ipomoea triloba L. Bìm ba thùy
Ipomoea triloba L. 1753(CNVN, 2: 998). - Ipomoea triloba L Choisy in DC. Prodr. IX, p. 383; Merrill Fl. Of Manila p. 391; I. Blancoi Choisy, l. c. p. 389; I. parviflora Vahl; Convolvulus trilobus Desr.; C. Sloanei Spreng.; C. Ipomoea Vell [25].
Tên khác: Bìm ba thùy, Bìm bìm ba thùy.
Đặc điểm : Cây thảo leo quấn, dài 1-3m, thân mảnh có khía. Lá có phiến xẻ ba thùy, gốc hình tim, không lông, dài 3-6cm, rộng 2-5cm, hơi có mũi, với tai tròn, mặt trên có màu xanh lục đậm, mặt dưới nhạt hơn. Cuống dài 3,5 -5,5 cm, ngắn hơn cuống hoa, nhẵn hoặc có lông mịn. Có nhựa mủ trắng.
Hoa mọc thành xim, cuống hoa dài 4-6m, có khoảng 4- 6 hoa. Hoa cao 2 cm, hoa đều, lưỡng tính, mẫu 5. Lá đài bằng nhau, thuôn dài, cao 7 – 8 mm, màu xanh lục nhạt, mép đài có lông dài. Tràng màu hồng, hình phễu, loe nhỏ. Hoa nở từ sáng sớm, đến khoảng gần trưa là bắt đầu tàn.
Nhị 5, rời, chỉ nhị dạng sợi, gắn gần gốc ống tràng, 5 nhị gần bằng nhau, dài 8-9 mm. Phần đầu và gốc nhị có màu tím hồng nhạt, gốc chỉ nhị có nhiều lông mịn màu trắng. Bao phấn 2 ô, đính đáy, khai dọc, có màu hồng tím. Hạt phấn màu trắng. Vòi nhụy một, dạng sợi mảnh, màu trắng dài 1,1 -1,3 cm. Nhụy cao hơn nhị. Đầu nhụy có 2 thùy hình gần cầu, bầu nhụy có lông.
Quả nang tròn hơi dẹp, đường kính 7 mm, chia 4 van . Quả có nhiều lông dài phía đầu quả, gốc có lá đài còn lại. Một quả có từ 3-4 hạt, màu nâu, nhẵn hoặc có ít lông ở các góc, dài 3,5 mm.
75
Hình 3.40 Hình vẽ loài Ipomoea triloba L.
1-Cành mang hoa; 2- Nhụy; 3- Nhị.
Người vẽ : Trần Ngọc Hồng
76
Hình 3.41 Hình thái của loài Ipomoea triloba L.
A: dạng sống; B, E: hoa; D: nhụy, C: nhị ; F: quả; G: hạt; H,I : lá.
77
Sinh học : Tái sinh bằng hạt, ra hoa gần như quanh năm, rộ vào mùa mưa.
Hoa mau tàn
Sinh thái: Cây mọc ở bờ rào, lùm bụi, đồng cỏ từ đồng bằng tới độ cao
700m.
Phân bố: Tại thành phố Hồ Chí Minh loài này khá phổ biến, gặp ở Thủ Đức,
Củ Chi, Thanh Đa, Nhà Bè, Quận 2, Hocmon.
Loài ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ, được nhập trồng ở nhiều nước, nước ta
phân bố rộng rãi từ Bắc vào Nam [5].
Hình 3.42 Sinh thái và phân bố của loài Ipomoea triloba L.
Công dụng: ở Malaixia, lá được dùng làm thuốc đắp trị đau đầu [5].
78
4.1.15 Ipomoea quamoclit L.
Tóc tiên
Ipomoea quamoclit L. 1753 (CCVN, 2: 993). Convolvulus quamoclit Spreng. 1824. - Quamoclit pennata Voigt, 1845. - "Quamoclit pennata (Lamk.) Bojer" sec. V. V. Chi, 1997 (TĐCT:1219). – Quamoclit quamoclit Britt. In Britt. & A. Br. 1903 . - Quamoclit vulgaris Choisy, 1833 [18].
Tên khác: Dây tóc tiên, Tóc tiên, Dương leo.
Đặc điểm : Cỏ nhất niên, thân nhỏ, mảnh, leo bằng thân quấn, không lông. Cuống lá dài 2 – 2,5 cm. Lá có phiến xẻ như kép lông chim, thành đoạn mảnh hẹp, màu xanh lục nhạt, dài 7,6- 10,2 cm, không lông. Có lá kèm ở gốc cuống lá, có hình dạng như lá nhưng nhỏ hơn.
Phát hoa ít hoa, hoa có màu đỏ thắm, đẹp, dài 3,5- 3,8 cm, hình phễu ống nhỏ, phần cánh nở ra thành hình ngôi sao 5 cánh. Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 5. Cuống hoa dài 4- 4,5 cm, có màu xanh nhạt. 5 lá đài rời bằng nhau, hình bầu dục, dài 0,5- 0,7 cm, ở giữa có 1 đường gân nổi, đầu có mũi nhọn như mũi kim, có màu xanh lục nhạt.
Nhị và nhụy đều cao hơn vành ống tràng khoảng 6-8 mm. Nhị 5, rời, chỉ nhị dạng sợi có màu hồng nhạt, phần gốc đính vào ống tràng có màu vàng nhạt, có rất ít lông, đầu nhị màu hồng, hạt phấn màu vàng nhạt. 5 nhị dài không bằng nhau 2,3 - 2,5 cm, Vòi nhụy 1, dạng sợi mảnh, màu trắng, dài 2,8 -3 cm, đầu nhụy hình cầu, dạng cuộn não, màu trắng, bầu nhụy không lông.
Quả nang hình trứng, không lông, mở từ dưới lên trên, cao 9mm, phần đầu của quả còn dấu vết vòi nhụy sót lại thành sợi dài. Hạt đen, không lông, dài 5-6mm.
Sinh thái : Hoa nở quanh năm,nhiều từ tháng 1-4, gây trồng bằng hạt.
Sinh học: Cây dễ trồng, thường mọc nơi lùm bụi, hàng rào hay dọc lối đi bên
đường.
Phân bố: Loài của các vùng nhiệt đới Châu Mỹ, có ở Châu Phi, Châu Á, Ấn Độ, được nhập trồng ở nước ta và nhiều nước Đông Nam Á [18]. Ở nước ta gặp ở Bắc chí Nam, tại thành phố Hồ Chí Minh loài này được phân bố cũng khá rộng rãi, gặp ở nhiều nơi.
79
Hình 3.43 Hình thái của loài Ipomoea quamoclit L.
A: dạng sống; B: hoa; C: cành mang hoa; D: nhị và nhụy; H: nhị; E: nhụy; I: lá ; F:
quả; G: hạt và quả.
80
Hình 3.44 hình vẽ loài Ipomoea quamoclit L.
1-Cành mang hoa; 2- Nhụy; 3- Nhị.
Người vẽ : Trần Ngọc Hồng
81
Công dụng : Hoa được dùng làm cảnh, được trồng cho leo lên các hàng rào vì hoa đẹp nở gần như quanh năm. Hay cho leo lên các cổng chào, trên khung kiểu nghệ thuật bằng các chất liệu sắt, gỗ… ít khi cho leo giàn vì khi nở hoa, hoa chỉ hướng lên trời không thưởng thức được vẻ đẹp của hoa..
Ở Ấn Độ, lá dùng trị mụn nhọt, giã ra rồi đắp trị chảy máu,còn dịch lá với bơ lỏng dùng đun nóng dùng uống. Cây được dùng như thuốc lọc máu và được dùng trị nọc độc rắn cắn.
Ở quần đảo Angti, bột rễ được dùng làm thuốc hắt hơi và lá làm chất gột
sạch.
Ở Vân Nam (Trung Quốc), lá hạt được dùng trị mụn nhọt, lở, ngứa, trĩ và đái dắt. ở
Quảng Tây, người ta còn dùng toàn cây trị rắn cắn. Liều dùng 8-12g, dạng thuốc
sắc, dùng ngoài giã đắp và nấu nước rửa. Hột xổ, trị đau bao tử [5].
Hình 3.45 Sinh thái và phân bố của loài Ipomoea quamoclit L.
82
4.1.16 Xenostegia tridentata (L.) D.F Austin et Staples
Xenostegia tridentata (L.) Austin & Staples, 1981 ('1980') (CCVN, 2: 985). _ Convolvulus tridentatus L. 1753. Evolvulus tridentatus (L.) L. 1762. - Ipomoea tridentata (L.) Roth, 1798 (FGI, 4: 265). Merremia tridentata (L.) Hallier f. 1893 (DLTN: 77; SVF, 1: 184). Ipomoea angustifolia Jacq. 1789 (FGI, 4: 265) [18].
Tên khác: Bìm ba răng, dây Lưỡi đòng, Bìm xen.
Đặc điểm: Cây thảo leo, hoặc mọc bò lan dưới đất, không quấn. Thân mịn, không có lông, phần thân già hay phần tiếp xúc nhiều ngoài nắng có màu nâu nhạt. Lá thuôn hẹp hay hình dải, chóp nhọn, gốc hình tim và có 2 tai ở 2 bên, mỗi tai có 3 răng, dài 5,5- 6cm, rộng 0,8 – 1 cm. Mặt trên và dưới của lá đều không có lông. Cuống lá rất ngắn 0,1- 0,2 cm hoặc không có. Cụm hoa gồm 1-2 hoa. Cuống hoa dài 5-6 cm. Hoa màu vàng sữa hoặc màu trắng, với trung tâm tía hay nâu đỏ . Lá đài bằng nhau, hình trứng hay hình mũi mác.
Nhị 5, đính gần gốc ống tràng, 5 nhị dài bằng nhau 0,6-0,8 cm. Chỉ nhị, gốc và bao phấn đều màu trắng, phần gốc không lông. Nhụy cao hơn nhị, dài 1,1 – 1,3 cm, đầu nhụy hình đầu, dạng cuộn não, chia làm 2 thùy. Đầu nhụy màu xanh lục nhạt, bầu nhụy không lông. Quả nang cao 7mm. Hạt đen, 3-4 mm không lông.
Sinh học : Ra hoa quanh năm, cây tái sinh bằng hạt.
Sinh thái: Cây mọc rải rác ven rừng, ven đường, nơi khô và sáng. Trên cát
từ vùng thấp đến độ cao dưới 500m.
83
Hinh 3.46 Hình thái của loài Xenostegia tridentata (L.) D.F Austin et Staples
A: dạng sống; B: cành mang hoa; C: hoa ; D: nhị; E: nhụy; F: quả; H,G : lá.
84
Hình 3.47 Hình vẽ loài Xenostegia tridentata (L.) D.F Austin et Staples
1-Cành mang hoa; 2- Nhụy; 3- Nhị.
Người vẽ : Trần Ngọc Hồng
Phân bố: Ở Thành phố Hồ Chí Minh cây gặp ở rừng Sác (Cần Giờ)
85
Ngoài ra, cây còn gặp ở một số nơi như: Cao Bằng (Nguyên Bình, đèo Lea), Quảng Ninh (Uông Bí, Bãi Cháy, Ba Mùn ), Bắc Giang, Hà Nội, Hải Phòng (Đồ Sơn), Ninh Bình (Chợ Ghềnh), Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa (Nha Trang), Kon Tum (Đác Giây, Đác Choong), Đắc Lắc (Đác Mil, Nam Đà) Lâm Đồng (Bảo Lộc), Bà Rịa-Vũng Tàu (Côn Đảo). Còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malaixia, Inđônexia, Oxtrâylia [18].
Hình 3.48 Sinh thái và phân bố của loài Xenostegia tridentata (L.) D.F Austin et Staples
Công dụng: Cây và rễ sắc uống dùng chữa thấp khớp, liệt nửa người, trĩ, sưng phù và các rối loạn đường tiết niệu. Ở Campuchia nhân dân một số nơi sử dụng toàn cây để chế một loại thuốc chữa đau mình mẩy.
Ở nước ta, tại An Giang, một số người dùng cây này với tên cây Lưỡi đòng
phối hợp với các vị thuốc khác chữa sốt rét và chữa ban xuất huyết[18].
4.2 Thảo luận
Thành phần loài của họ Bìm bìm ở TP.HCM khá phong phú. Đã ghi nhận
gồm có 16 loài thuộc 5 chi trong họ Bìm bìm. Chi Ipomoea L (12 loài ): Rau muống
(Ipomoea aquatica Forsk), Khoai lang (Ipomoea batatas (L) Poir. In Lamk), Bìm
86
bìm cảnh (Ipomoea cairica (L.) Sweet), Bìm màu thịt (Ipomoea carnea Jacb. Subsp.
fistulosa (Choisy) Austin), Bìm bìm biếc (Ipomoea congesta R.Br.), Bìm cạnh
(Ipomoea hederifolia L.), Bìm nhỏ (Ipomoea maxima (L.f.) Don in Sw.), Bìm bìm
lam (Ipomoea nil (L.) Roth), Bìm bìm mờ (Ipomoea obuscura (L.) Ker.-Grawl.),
Rau muống biển (Ipomoea pes-caprae (L) Sw.), Bìm ba thùy (Ipomoea triloba L.),
Tóc tiên (Ipomoea quamocilit L.); Argyreia Lour.(1 loài ): Argyreia nervosa
(Burm.f.) Bojer; Chi Hewittia Wight và Arn. (1 loài ): Bìm thùy (Hewittia scandens
(Milne) Mabberly), Dichondra J.R. Forst và G. Frost. (1 loài): Mã đề kim
(Dichondra repens Forst); chi Xenostegia Austin & Staples ( 1 loài): Bìm ba răng
(Xenostegia tridentate (L.) D.F. Austin et Staples) (đôi khi được xếp trong chi
Ipomoea).
Đặc điểm phân biệt giữa các chi chủ yếu dựa vào đặc điểm của bầu, nhụy và
quả. Các loài thuộc chi Ipomoea thường bầu có lá noãn dính nhau thành bầu đơn,
đầu nhụy thường hình đầu hay hình cầu, quả nang mở, cây ít khi hóa gỗ. Còn chi
Argyeia thường là quả nạc, không mở và cây luôn là thân gỗ. Chi Hewittia thường
đầu nhụy không hình đầu, hình dạng bản hay sợi. Chi Dichondra thường có bầu với
lá noãn không dính nhau thành hai mảnh cách nhau. Trong các loài ghị nhận được
thì loài Bìm bìm mờ (Ipomoea obuscura (L.) Ker.-Grawl.) là phân bố rộng rãi nhất,
hầu như gặp ở tất cả các địa điểm nghiên cứu. Ngoài ra hai loài Rau muống
(Ipomoea aquatica Forsk), Khoai lang (Ipomoea batatas (L) Poir. In Lamk) phân bố
cũng rộng, nhưng chủ yếu là do người dân trồng làm thực phẩm. Chỉ có riêng loài
Rau muống biển (Ipomoea pes-caprae (L) Sw.) là phân bố dọc theo các bãi biển
Cần Giờ của TP.HCM còn đa số các loài còn lại phân bố rải rác khắp nơi như trong
phần đặc điểm và phân bố các loài đã trình bày.
87
Chương 5 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1 Kết luận
- Đã ghi nhận, định danh và mô tả đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái, phân bố 16 loài thuộc 5 chi thuộc họ Bìm bìm (Convolvulaceae) ở Thành phố Hồ Chí Minh .
- Họ Bìm bìm phân bố ở những nơi sinh cảnh thoáng mát, có ánh sáng hoặc nửa che bóng, nơi các lùm bụi, lối đi ven đường hay được trồng làm hàng rào ở các hộ dân.
- Sử dụng làm thuốc như: Argyreia nervosa (Burm.f.) Bojer; Dichondra
repens Forst; Ipomoea aquatica Forks; Ipomoea cairica (L.) Sweet ; Ipomoea
batatas (L) Poir. In Lamk; Ipomoea carnea Jacq subsp. fistulosa (Choisy) Austin ;
Ipomoea congesta R.Br.; Ipomoea nil (L.) Roth; Ipomoea obuscura (L.) Ker.-
Grawl.; Ipomoea pes-caprae (L) Sw.; Ipomoea quamocilit L; Ipomoea triloba L.;
Xenostegia tridentate (L.) D.F. Austin et Staples .
- Làm cảnh: một số loài cho hoa lớn, màu sắc sặc sỡ và đẹp thường được
trồng để làm cảnh, làm cổng chào tại các khu du lịch hay trồng làm hàng rào ở các
hộ dân như: Ipomoea cairica (L.) Sweet; Ipomoea congesta R.Br.; Argyreia
nervosa (Burm.f.) Bojer; Ipomoea quamocilit L.; Ipomoea carnea Jacb. Subsp.
fistulosa (Choisy) Austin , Ipomoea nil (L.) Roth.
- Làm thực phẩm: một số loài được sử dụng làm rau ăn cho người như
Ipomoea aquatica Forks; Ipomoea batatas (L) Poir. In Lamk và cho gia súc như:
Ipomoea pes-caprae (L) Sw.; Ipomoea aquatica Forks; Ipomoea batatas (L) Poir.
In Lamk .
- Đây là nghiên cứu đầu tiên cho họ Bìm bìm ở Thành phố Hồ Chí Minh.
5.2 Kiến nghị
Do điều kiện thời gian và mùa ra hoa, nên cần nghiên cứu thêm để thống kê
loài được đầy đủ hơn.
88
Cần nghiên cứu thêm các tính chất có ích, đặc biệt về dược chất của các loài
trong họ Bìm bim có tiềm năng trong y học để chữa bệnh cho con người.
Do đa số loài có dạng sống leo bám .Cần nghiên cứu thêm về đặc điểm hình
thái, và nhu cầu sống của các loài cây trong họ Bìm bìm cho hoa đẹp, để giới thiệu
sử dụng làm cây trang trí cho sân vườn, nhà cửa, đường phố. Phục vụ cho du khách,
nhân dân trong thành phố có thể sử dụng trong thiết kế cảnh quan, góp phần cải tạo
môi trường sống và tô điểm cho cảnh quan đô thị.
89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Tiến Bân (1997), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt
kín ở Việt Nam, Nxb Nông Nghiệp.
2. Võ Văn Chi (2007), Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam, Nxb Giáo dục.
3. Võ Văn Chi (2003, 2004) Từ điển thực vật thông dụng, Tập 1 và 2 Nxb Khoa
học và Kỹ thuật, Hà Nội.
4. Võ Văn Chi (1997), Từ điển cây thuốc Việt Nam, NXB y học
5. Võ Văn Chi, Trần Hợp ( 2002), Cây cỏ có ích ở Việt Nam tập 2, Nxb Giáo
dục.
6. Trần Hợp (1998), Cây xanh và cây cảnh Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh,
Nxb Nông nghiệp.
7. Trần Hợp (1993) , Cây cảnh, hoa Việt Nam, Nxb Nông nghiệp.
8. Phạm Hoàng Hộ (1999), Cây cỏ Việt Nam, quyển II, Nxb trẻ.
9. Phạm Hoàng Hộ (2006), Cây có vị thuốc ở Việt Nam, Nxb trẻ.
10. Trần Công Khanh (1981), Thực tập hình thái và giải phẫu thực vật, Nxb Đại
học và trung học chuyên nghiệp.
11. Lê Khả Kế (1969), Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam , Nxb Khoa học.
12. Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Y học.
13. Trần Đình Lý (1993), 1900 loài cây có ích của Việt Nam, Nxb Thế giới.
14. Hoàng Thị Sản (2006), Phân loại học thực vật, Nxb Đại học Sư Phạm
15. Nguyễn Nghĩa Thìn (2008), Các phương pháp nghiên cứu thực vật, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội.
90
16. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật, Nxb
Nông nghiệp. Hà Nội.
17. Nguyễn Nghĩa Thìn (2006), Thực vật có hoa, NXB Đại học quốc gia Hà Nội
18. Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam – Viện sinh thái và tài nguyên sinh
vật (2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập 3, Nxb Nông nghiệp tr
157-151.
Tiếng Anh:
(2012), Taxonomic studies on genus Ipomoea 19. B. L. Bhellum
(Convolvulaceae) in the floraof Jammu and Kashmir State .
20. Fang Rhuizheng , George Staples (1995) Flora of China : 271-325.
21. F. Raymond Fosberg and Marie-Hélenè Sachet (1977) Flora of
Micronesia, 3: Convolvulaceae , SMITHSONIAN INSTITUTION PRESS
City of Washington
22. Kai Larsen, Thaiwatchai Santisuk, Kongkanda Chayamarit, George Staples
(2010), Flora of Thailand (Volume 10 part 3) Anacardiaceae &
Convolvulaceae .
23. Robert E. Woodson, Jr. Robert W. Schery and Daniel F. Austin (1975)
Annals of the Missouri Botanical Garden. Flora of Panama. Part IX. Family
164. Convolvulaceae, Vol. 62, pp: 157-224
24. Takhtajan A. (2009), Flowering plants, Second edition, Springer
Tiếng Pháp
25. Lecomte M. H. (1927), Flore Générale de L’indo chine, Tome IV, Paris, Pp.
228- 313.
i
PHỤ LỤC
Tiêu bản khô một số loài trong họ Bìm bìm
(thu được ở Thành phố Hồ Chí Minh).
Hình 3.49 Tiêu bản khô loài Argyreia nervosa (Burm.f.) Bojer
ii
Hình 3.50 Tiêu bản khô loài Hewittia scandens (Milne) Mabberly
iii
Hình 3.51 Tiêu bản khô loài Ipomoea aquatica Forsk
Hình 3.52 Tiêu bản khô loài Ipomoea batatas (L.) Poir. in Lamk
iv
Hình 3.53 Tiêu bản khô loài Ipomoea carnea subsp. Fistulosa ( Choisy) Austin
v
Hình 3.54 Tiêu bản khô loài Ipomoea cairica (L) Sweet
vi
Hình 3.55 Tiêu bản khô loài Ipomoea maxima (L.f.) Don in Sw.
vii
Hình 3.56 Tiêu bản khô loài Impomoea quamoclit L.
viii
Hình 3.57 Tiêu bản khô loài Ipomoea pes-caprae(L.) R. Br.
ix
Hình 3.58 Tiêu bản khô loài Ipomoea triloba L.
x
Hình 3.59 Tiêu bản khô loài Ipomoea obscura (L.) Ker.-Gawl.
Hình 3.60 Tiêu bản khô loài Xenostegia tridentata (L.) D.F Austin et Staples.

