
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cá Chạch bùn (Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842) phân bố tự nhiên ở
các nước châu Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Việt Nam. Cá
Chạch bùn còn gọi là Chạch đồng, là một loài cá kinh tế cỡ nhỏ, sống chủ yếu ở lớp bùn
trong ao, hồ, ruộng lúa, kênh mương… Ở nước ta, Chạch bùn thường gặp ở các tỉnh
miền Bắc và Bắc miền Trung. Cá Chạch bùn cũng phân bố rộng rãi ở một số nước châu
Á như Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc. Do thịt thơm ngon, hàm lượng đạm cao tới
18,43%, chất béo ít chỉ có 2,69%, là động vật thủy sản nhiều đạm và ít mỡ, cá Chạch
bùn đang là đối tượng được nhiều người ưa thích (Kim Văn Vạn, 2012) [55].
Tỉnh Thừa Thiên Huế có hệ thống sông suối, ao hồ khá phong phú, diện tích
trồng lúa nước rộng lớn phân bố ở nhiều xã trên các địa bàn của tỉnh tạo điều kiện
thuận lợi cho việc nuôi cá nước ngọt. Với các đối tượng nuôi thủy sản hiện nay chủ
yếu là những đối tượng cá truyền thống (cá Trắm, cá Trôi, cá Chép, cá Mè, cá Rô
phi,…) có giá trị kinh tế không cao, thì cá Chạch bùn là loài thủy sản có giá trị dinh
dưỡng cao. Thịt cá béo, có mùi vị thơm ngon, có giá trị thương phẩm cao. Cá Chạch
bùn là một loại thực phẩm có giá trị thương mại và có vai trò trong y học, có tác dụng
bổ khí huyết, chống lão suy, tráng dương, trợ lực, thanh nhiệt… (Võ Ngọc Thám,
2011) [18].
Tuy nhiên, nguồn cung cấp thực phẩm cá Chạch bùn cho thị trường tỉnh Thừa
Thiên Huế hiện nay chủ yếu là từ khai thác tự nhiên, sức ép khai thác ngày một lớn, do
đó nguồn lợi ngày càng suy giảm.
Lợi ích của cá Chạch bùn với cộng đồng về mặt kinh tế, dinh dưỡng là rất lớn,
song đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về đối tượng này. Chính vì
vậy, nghiên cứu đặc điểm sinh sản và sản xuất giống cá Chạch bùn là rất cần thiết,
nghiên cứu này nhằm đa dạng đối tượng nuôi và hướng việc sinh sản tự nhiên vào sinh
sản nhân tạo để chủ động con giống cung cấp cho nhu cầu nuôi của người dân. Xuất
phát từ thực tiễn trên, được sự định hướng của giáo viên hướng dẫn, tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh sản và sản xuất giống cá Chạch bùn
(Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842) tại Thừa Thiên Huế”.
2. Mục đích của đề tài
Bảo tồn, phát triển nguồn lợi và chủ động tạo ra con giống cá Chạch bùn để
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the watermark

2
cung cấp cho người nuôi tại tỉnh Thừa Thiên Huế và các vùng lân cận.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là cơ sở dữ liệu bổ sung cho đặc điểm sinh học sinh sản của
cá Chạch bùn tại tỉnh Thừa Thiên Huế và Việt Nam đồng thời cung cấp những dẫn liệu
quan trọng cho việc hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá Chạch bùn phù hợp với
điều kiện tự nhiên tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp các cơ sở cho việc bảo tồn, phát triển nguồn lợi cá Chạch bùn tại
Thừa Thiên Huế.
- Chủ động con giống để cung cấp cho nhu cầu nuôi của người dân tại Thừa
Thiên Huế.
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the watermark

3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu sản xuất nhân tạo cá nước ngọt
1.1.1. Thế giới
Lịch sử của nghề sản xuất giống cá nuôi có thể tóm tắt sơ lược như sau: từ khi
nghề nuôi cá ao, hồ, ruộng xuất hiện, vấn đề sản xuất giống cá nuôi cũng được đặc biệt
quan tâm ở hầu hết các nước có nghề nuôi cá. Những nước có nghề nuôi cá lớn nhất
phải kể đến là: Ai Cập, Trung Quốc, Nga... Một trong số đối tượng được đưa vào nuôi
sớm nhất là cá Chép. Cá Chép đã được đưa vào nuôi cách đây 3600 năm trước công
nguyên (TCN) ở Trung Quốc. Các nước Châu Âu phát triển nghề nuôi cá tương đối
mạnh vào thế kỷ XII và XIII. Đặc biệt năm 1258 phát triển mạnh ở Pháp và năm 1660
phát triển mạnh ở Đức và Đan Mạch (Đàm Bá Long, 2006) [16].
Vào thời điểm này, nghề nuôi cá nước ngọt trên thế giới chủ yếu dựa vào nguồn
giống thu gom từ tự nhiên như ở Trung Quốc cá giống được vớt từ sông Trường Giang, ở
Campuchia cá giống được vớt từ Biển Hồ, ở Việt Nam từ sông Hồng, sông Mê
Kông…(Đàm Bá Long, 2006) [16].
Tuy vậy, khi nghề nuôi cá phát triển mạnh thì nguồn giống thu từ tự nhiên đã
không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn sản xuất. Hoạt động nuôi cá ngày càng
được phát triển đa dạng về hình thức nuôi, đối tượng nuôi và mức độ thâm canh. Sự
phát triển của các ngành khoa học khác như: thuỷ điện, thuỷ lợi, công nghiệp hoá học
vv.. đã tác động nhất định và ngăn cản các loài cá di cư sinh sản, môi trường cho cá đẻ
không phù hợp, do vậy ảnh hưởng nhiều đến số lượng, chất lượng giống cá ngoài tự
nhiên. Do vậy, việc tạo ra đàn cá giống nhân tạo là đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn sản xuất
(Đàm Bá Long, 2006) [16].
Sản xuất cá giống bằng con đường sinh sản nhân tạo là sự tác động của con
người vào quá trình sinh sản của cá, hướng quá trình sinh sản của cá theo ý muốn của
con người và theo một mục tiêu nhất định. Thông qua đặc điểm sinh học sinh sản của
nhiều loài cá, con người đã nghiên cứu và tác động vào quá trình sinh sản của cá, tiến
đến xây dựng và hoàn thiện quy trình sinh sản nhân tạo một số loài cá có giá trị kinh
tế, đáp ứng nhu cầu thực tế (Đàm Bá Long, 2006) [16].
Thời kỳ đầu, người ta bắt cá đã thành thục ngoài tự nhiên đưa vào ao để cho cá
đẻ. Hơn 2400 năm về trước, Phạm Nãi - đại thần của Việt Nam, sau khi đi sứ sang
Trung Quốc đã viết cuốn “Phép nuôi cá”, trong đó mô tả cách kỹ thuật cho cá Chép đẻ
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the watermark

4
tự nhiên trong ao ở Trung Quốc, cụ thể: “ao rộng 6 mẫu (1mẫu = 1/15ha) được chia
thành 9 ô, cho cỏ vào từng ô. Thả 20 cá cái mang trứng có chiều dài 60 cm và 4 cá Chép
đực vào các ô, để nước yên tĩnh sau mấy ngày thì cá đẻ”. Đây là hình thức cho cá đẻ tự
nhiên, phỏng theo hiện tượng sinh sản của cá trong tự nhiên, điều khiển môi trường, để
chúng phải đẻ trứng theo ý muốn của con người. Tuy nhiên, hình thức cho cá đẻ như thế
này mang lại hiệu quả sản xuất không cao (Đàm Bá Long, 2006) [16].
Mãi đến thế kỷ XIX, Monguri (1954) mới công bố thí nghiệm của tu sĩ người
Pháp là Penshon thực hiện từ năm 1420. Penshon đã làm những máng ấp trứng đơn
giản, đáy sử dụng một lớp cát khô, thành máng làm bằng lau, sậy, cành liễu. Sau đó thả
trứng cá Hồi đã thụ tinh và đặt nơi nước chảy, trứng cá phát triển tốt, nở thành cá bột, có
thể nói đó là công trình ấp trứng đầu tiên trên thế giới (Đàm Bá Long, 2006) [16].
Trong nửa đầu thế kỷ XVIII, người ta còn hoài nghi về sự thụ tinh của cá kể cả
Linne (nhà bác học nổi tiếng). Họ cho rằng cá đực phóng tinh ra ngoài và cá cái hút tinh
dịch vào và quá trình thụ tinh xảy ra trong cơ thể cá cái (Nguyễn Văn Kiểm, 2004) [15].
Năm 1763 và 1765, C.L.Jacobi (1711 - 1784) qua nghiên cứu nhiều năm đã thu
được nhiều kết quả trong lĩnh vực sinh sản nhân tạo cá, đặc biệt là việc thụ tinh nhân
tạo cho cá. Trước thời Jacobi, nhiều nhà khoa học cho rằng, cá cũng giống như các
loài động vật khác, trứng được thụ tinh bên trong cơ thể bằng cách: con đực phóng
tinh trùng vào nước và con cái thu lấy tinh ấy để tiến hành thụ tinh bên trong cơ thể
của nó. Qua kết quả nghiên cứu cá Hồi, Jacobi đã chứng minh trứng cá được thụ tinh
bên ngoài cơ thể, trứng và tinh trùng gặp nhau trong môi trường nước. Qua thí nghiệm
này, ông đã xây dựng phương pháp thụ tinh ướt cho trứng cá (Nguyễn Văn Kiểm,
2004 ) [15].
Cùng với Jacobi, Zanvictor Kost - một nhà nghiên cứu phôi thai học, đã thiết
lập công cụ ấp trứng cá và được gọi là công cụ của Kost. Cho đến năm 1852, ở Pháp
đã xây dựng trại sản xuất giống cá và ở đó đã trang bị công cụ ấp trứng của Kost -
dụng cụ ấp trứng này đã mang lại hiệu quả cao hơn (Đàm Bá Long, 2006) [16].
Năm 1854, Vrasskii (một người Đức) lần đầu tiên tiến hành thụ tinh nhân tạo
trứng cá Hồi, loài Lota lota theo phương pháp thụ tinh ướt, nghiên cứu cấu tạo của trứng
cá, của tinh trùng, đặc điểm của tinh trùng trước và sau khi vào môi trường nước, cấu
trúc và sự phát triển của phôi trứng cá. Qua quan sát bằng kính hiển vi, Vrasskii đã nhận
thấy việc thụ tinh bằng phương pháp ướt hiệu quả không cao chỉ đạt 10 - 20% và chính
ông đã đề xuất phương pháp thụ tinh khô cho cá. Đây là phương pháp có kết quả tốt, tỷ
lệ thụ tinh đạt 90%. Ngoài ra, Vrasskii còn nghiên cứu các khâu kỹ thuật khác trong sinh
sản nhân tạo như: nuôi cá bố mẹ, bảo quản tinh trùng, ấp nở trứng cá, ương nuôi cá
giống, kỹ thuật vận chuyển trứng cá thụ tinh... Kết quả nghiên cứu của Vrasskii đã bắt
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the watermark

5
đầu một thời đại kinh điển trong nghề nuôi cá, sản xuất cá giống, kéo dài trong nửa cuối
thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX (Đàm Bá Long, 2006) [16].
Năm 1855, tại Mỹ đã xây dựng trại nuôi cá bố mẹ và lưu giữ tinh trùng của cá
cho mục đích chọn giống. Cũng từ đây kỹ thuật sản xuất giống cá bằng phương pháp
sinh sản nhân tạo được hình thành (Đàm Bá Long, 2006) [16].
Năm 1930, Cole và Hert đã nghiên cứu sử dụng huyết thanh ngựa chửa (HTNC).
Dựa vào hàm lượng FSH cao mà nhiều nhà nghiên cứu đã dùng HTNC trên cá (Nguyễn
Tường Anh, 1999b) [4].
Đầu thế kỷ XX, ngành thú y đã thu được thành tựu đáng kể khi sử dụng kích
dục tố (KDT) kích thích cho động vật có vú sinh sản nhân tạo thành công, đã mở ra
việc sử dụng kích dục tố trong sản xuất cá giống nhân tạo. Năm 1935, ở Brazil,
Ihering đã cùng cộng tác viên tiến hành tiêm dịch chiết từ não thùy giàu kích dục tố
cho loài cá Astina bimaculatus. Kết quả nghiên cứu của tác giả này cho thấy, cá đã
đẻ nhân tạo thành công.
Năm 1936, ở Liên Xô (cũ) Gherbilsky đã thí nghiệm tiêm dịch chiết não thuỳ
vào sọ não của cá Tầm, giống Acipenser. Kết quả thí nghiệm cho thấy cá đã rụng
trứng. Tuy thí nghiệm thành công, nhưng còn một số hạn chế khi tác giả của nghiên
cứu này cho rằng: kích dục tố khi đưa vào cơ thể cá được dẫn đến tuyến sinh dục
không bằng đường máu, mà đi vào xương sọ. Ngoài ra ông còn xác định sai vị trí não
thùy. Nhưng sau khi Ihering công bố kết quả tại hội nghị sinh lí học tại Leningrad, thì
Gherbilsky chuyển hướng tiêm KDT vào cơ. Từ đó kỹ thuật này được áp dụng trong
các xí nghiệp sản xuất giống cá Tầm ở Liên Xô cũ (Đàm Bá Long, 2006) [16].
Từ năm 1935, nghề nuôi cá nước ngọt đã bước vào một thời kì mới. Con người
có thể chủ động sản xuất giống cho một số loài cá theo yêu cầu và ý nuốn của mình
bằng cách sử dụng kích dục tố. Lúc này lại nảy sinh ra một vấn đề cấp bách là việc cung
cấp chất kích thích sinh sản nhân tạo cho nghề nuôi cá, vì qui mô sản xuất giống ngày
càng mở rộng thì não thùy ngày càng khan hiếm. Và thực tế cho thấy, để có đủ lượng
KDT tiêm cho một khối lượng cá bố mẹ lớn thì cần một khối lượng không nhỏ cá dùng
để lấy não thùy. Do đó, yêu cầu của thực tiễn đặt ra là tìm một chất khác thay thế cho
não thuỳ (Đàm Bá Long, 2006) [16].
Morozova, 1936 đã thành công trong việc đã kích thích cho cá Perca rụng trứng
bằng nước tiểu của phụ nữ có thai, trong đó có chứa hormon HCG (Human Chorionic
Gonadotropin), chất này có thể kích thích cho cá rụng trứng và sinh sản (Nguyễn
Tường Anh, 2011) [6].
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the watermark

