Chương tám
NGOI GIAO THỜI LÊ - TRỊNH NGUYỄN – phần 3
4. Quan hệ với nời phương Tây
Đối với các nhà buôn
Năm 1613 , công ty Đông Ấn của Hà Lan lần đầu cho thuyền đến buôn bán với Đàng
Trong, nhưng không thu được kết quả nhiều nên họ bỏ đi, không tới nữa. Thấy thế, năm
1617, chúa Nguyn Phúc Nguyên viết thư mời công ty Đông Ấn của Hà Lan ở Ma-lac-ca
đến buôn bán.
Năm 1624, chúa Nguyễn Phúc Nguyên lại gửi thư và quà tặng cho toàn quyền Hà Lan
Nam Dương (tức In-đô-nê-xi-a) để mời thuyền buôn Hà Lan tại đây tới bn bán vi
Đàng Trong.
Năm 1633, chúa Nguyễn Phúc Nguyên ba ln tch thu hàng hóa của công ty Đông Ấn.
Nhưng có hai lần tàu bn Hà Lan đi từ Ba-ta-via - thủ đô Nam Dương, tới Hội An thì li
được chúa Nguyễn cho vào buôn bán và cho hai người của hđược mở cửa hàng ti Hội
An. Năm sau, 1634, nhà buôn Hà Lan Duijcker cho tàu chở hàng từ Batavia đến Hội An.
Năm 1635, ba tàu bn Hà Lan từ Đài Loan tới cửa Hàn (Đà Nẵng). Nhà buôn Hà Lan
Duijcker đi theo các tàu này đến xin lại số hàng hóa và tin bị chúa Nguyn tch thu năm
1633, và xin cho nời Hà Lan được tới buôn bán dễ dàng. Chúa Nguyễn Phúc Lan tiếp
đãi tử tế, nhận lời cho phép họ vào bn bán, không đánh thuế, nhưng không trả li tin
hàng đã tch thu.
Năm 1637, tàu buôn Le Grol tới Đàng Trong. Chúa Nguyễn Phúc Lan ủy nhiệm đem t
quà tặng cho toàn quyền Hà Lan ở Batavia. Trong thư, chúa Nguyn tỏ ý vui lòng nếu
người Hà Lan ti buôn bán ở Đàng Trong. Thư của chúa Nguyễn có đoạn viết: "Tôi tha
thiết mong tất cả mọi người đến buôn bán ở bến cảng nước tôi".
Nhưng tớim 1640, chính quyền Đàng Trong đối xử với các nhà buôn Hà Lan không
tốt; chúa Nguyễn Phúc Lan tịch thu của công ty Đông Ấn hai chiếc tàu có hàng hóa, 18
đại bác và bắt gi82 thy thủ.
Năm 1641, các nhà buôn Hà Lan ở Hội An đóng cửa hiệu buôn, đi nơi khác.
Năm 1642, chúa Nguyễn thả các thủy thủ của hai tàu Hà Lan đã bị giữ từ năm 1640.
Trong s 82 thủy thủ Hà Lan trên đường về đã bngười Bồ Đào Nha trên tàu biển giết
chết một số. Công ty Đông Ấn Hà Lan không biết rõ, tưởng chúa Nguyn sai giết số thủy
thnày nên cho viên thuyền trưởng Vanh Liesvelt đem tàu đến đánh tàu chúa Nguyn.
Nhưng tàu Hà Lan thua to, viên chỉ huy Vanh Liesvelt tử trận. Để trả thù, người Hà Lan
đem quân đổ bộ lên Đà Nẵng bắn giết một s dân thường, rồi xuống tàu ra Đàng Ngoài.
Người Hà Lan công khai giúp Đàng Ngoài để đánh Đàng Trong.
Năm 1643, ba tàu chiến Hà Lan giúp chúa Trịnh đánh chúa Nguyn ở cửa sông Gianh,
nhưng bị thất bại hoàn toàn, một tàu b phá hủy, hai tàu b hỏng nặng, phải chạy ra Đàng
Ngoài. Quân của chúa Nguyễn đánh đắm mt chiếc tàu nữa của Hà Lan ở cửa biển Hoàn
Hải (cửa Nộn). Về sự việc này, sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn chép: Tháng 4
năm Quý Mùi (1643) con thứ hai chúa Nguyễn Phúc Lan là Nguyễn Phúc Tần đem thủy
quân đánh phá được mười chiếc tàu của Hà Lan ở cửa Eo, tức của Thuận An, gần Huế.
m năm sau, năm 1651, toàn quyền Hà Lan ở Batavia muốn tiếp tục buôn bán với Đàng
Trong nên cử Vestagen đi sứ sang thương nghị với chúa Nguyễn. Khiy, Nguyễn Phúc
Tần lên ngôi chúa, mun giao hảo với người phương Tây, sẵn sàng ký hòa ước với Hà
Lan, trong nhấn mạnh ba điều về buôn bán:
1 Công ty Đông Ấn của Hà Lan có thể ra vào đất Đàng Trong bn bán tự do được
miễn thuế. Sứ thần Hà Lan ở Hội An có thể chọn miếng đất tch hợp dựng mt ngôi nhà
cho những người lại thương điếm.
2. Những tàu thuyền Hà Lan không phải khám khi đến Đàng Trong, được miễn thuế ra
o, trong khi thuế đó vẫn tiến hành thu đối với người Trung Quốc, người Bồ Đào Nha
người các nước khác.
3. S thầnLan sẽ chú ý tới những hàng hóa mà chúa Nguyễn muốn được tàu Hà Lan
mang đến, hàng hóa đó sẽ được trả hoặc bằng bạc, hoặc đổi lấy hàng...
Tuy kết giao thương như vậy, người Hà Lan vẫn b, không tới buôn bán nữa. Gần
mt thế kỷ sau, công ty Đông Ấn Hà Lan mới trở lại buôn bán với Đàng Trong. Năm
1754, các nbn Hà Lan mua vàng của chúa Nguyễn Phúc Khoát. Nhưng từ năm
1756, công ty Đông Ấn của Hà Lan thôi hn việc buôn bán với Đàng Trong.
Các nhà buôn Anh, B Đào Nha cũng đến bn bán với Đàng Trong. Họ mở cửa hàng,
chyếu ở Hội An. Năm 1764, tàu bn Anh Peacock tới buôn bán trực tiếp với chúa
Nguyễn Phúc Khoát. Năm 1777 tàu bn của Rumbold của Anh ghé vào Đà Nẵng cho
hai viên quan của chúa Nguyễn đi nhờ tàu vào Sàin. Gặp bão, tàu không vào Sàin
được, phải chạy thẳng sang cảng Băng Gan (Ấn Độ).
Công ty Anh Ấn Độ cho lái buôn Chapman đi tàu đưa hai viên quan về Đàng Trong và
đặt quan hệ buôn bán với chúa Nguyn. Lúc này phong trào khởi nghĩa Tây Sơn đang
phát triển mạnh, tập đoàn chúa Nguyễn lao đao chạy dài. Chapman được gặp Nguyễn
Nhc và lại Đà Nẵng, Hội An ít ngày. Khi về Ấn Độ, Chapman báo cáo:
"Không có xứ nào ở châu Á sản xuất vật dụng nhiu và tốt hơn là xnày, các thứ rất lợi
cho sự buôn may bán đắt là: quế , tiêu, tơ, bông, đường, gỗ quý, ngà coi... đây thì vàng
t đất moi lên đã là vàng xanh ri... Nếu chúng ta có căn cứ trên đất Đàng Trong và
mt thế lực mạnh ở đó, thì vi sản vật ở Ấn Độ và châu Âu, chúng ta sẽ dễ dàng mua rất
nhiều hàng hóa kể trên".
Tuy vậy, Anh đã có thị trường rộng lớn Ấn Độ nên không tha thiết lắm với vấn đề Việt
Nam. Trái lại Pháp thì quan tâm đặc biệt. Năm 1660 nhà buôn Fermanel thành lp mt
công ty ngoại thương để kinh doanh ở Việt Nam và được Thủ tướng Pháp đỡ đầu. Thủ
tướng Pháp là Mazarin giáo chủ đạo Gia . Mục đích của công ty là vừa đi buôn, vừa
truyn đạo. Cho nên trong công ty có cả nhà buôn và giáo sĩ. Nhiệm vụ của các giáo sĩ
trong công ty được ghi rõ trong điều lệ của công ty: "Các giám mục được mời vào trông
coi công ty là để người khác không ăn cắp được vốn của công tyđể giữ bọn nhân viên
của công ty quản lý các sổ sách được tốt”.
Năm 1664, Thủ tướng Pháp Colbert thành lập công ty Đông Ấn Độ của Pháp để cạnh
tranh với Hà Lan, Anh và B Đào Nha ở châu Á và châu Phi. Công ty Đông Ấn của Pháp
vừa mc đích truyn giáo, vừa có mục đích buôn bán. Những hiệu buôn của công ty
đều là trụ sở của hội truyền giáo. Các giáo sĩ khi lên bthường mặc quần áo lái buôn và
chính hcũng buôn bán.
Trong nửa cuối thế k XVII, thế lực chính tr và kinh tế của BĐào Nha giảm sút. Anh
đang vươn lên chiếm gần hết nước Ấn Độ rộng lớn, Pháp cũng mưu đồ xâm lược Việt
Nam.
Năm 1675, một lái buôn Pháp là Leroux nêu ý kiến nên chiếm đảo Côn Lôn của Việt
Nam.
Năm 1686, lái buôn Véret từ công ty Đông Ấn của Pháp sang Đàng Trong tính chuyện
m hiệu buôn, khi vcũng đề nghị chính phủ Pháp nên chiếm đảo Côn Lôn, là nơi nhiều
thuyn bè qua li đmua các sản vật của Lào và Cam-pu-chia. Véret miêu tCôn Lôn:
Đảo này có ba bến tốt, nhiu suối nhỏ, kinh, rạch, cây cối tốt đẹp tuyệt trần, chiếm được
nơi này thì có lợi như chiếm cả hai eo biển Malacca và Sonde".
Năm 1748, chủ nhiệm công ty Đông Ấn của Pháp là Dumond đích thân sang Việt Nam
dò xét tình hình. Khi về, Dumond đề nghị chính phủ Pháp nên chiếm cù lao Chàm ở gần
cửa Hội An.
Năm 1749, hội đồng Pondichéry của Pháp ở Ấn Độ cho lái buôn Poivre, trước đã làm
giáo sĩ, đi một chiếc tàu mang theo 30 khẩu đại bác và 200 nh đến Việt Nam gặp chúa
Nguyễn là Võ Vương ở Phú Xuân, xin đặt căn cứ ở Đà Nẵng, Hi An và hi mua lệ.
Sau đó, Poivre có viết một cuộn "Hồi về Đàng Trong" và nhận xét:
"Đàng Trong gần như xứ sở của vàng. Vàng ở đây tốt đẹp nhất, tinh khiết nhất thế gii
. . . Vàng này đem bán ngay ở Quảng Đông cũng lãi trăm phần trăm".
Poivre còn ghi những điều cụ thể:
“Rất nhiều thứ không có giá trị ở bên Pháp lại được coi là rất quý ở xứ này. Tất cả các
thđ bằng sắt tây, thủy tinh, vải màu đẹp (ví dụ màu đỏ) sẽ bán được. Có thể bán chạy
ở đây tất cả các thvũ khí ở châu Âu, nhất là lưỡi gươm đúc theo kiểu xứ nàyMặt đá
kim cương cho tới loì đá sông Nin sẽ bán được cao giá. . . Đồng thau, lưu hoàng. . . giá
rất đắt. Các thuốc như canh-ki-na, nhân sâm Ca-na-đa, các thứ thuốc tây khác... Một vải
tấm vải Lyon hoa màu vàng hoặc bạc sẽ được nời Đàng Trong dùng làm thứ đựng trầu
thuc... Chớ quên vòng tay, hoa tai mạ. . . “.
Nhưng nuôiỡng mưu đồ xâm lược nhiều hơn cả vn là các giáo sĩ, mà đối với Việt
Nam thời bấy giờ là các giáo sĩ Pp.
Đối với các giáo
Năm 1621, Đàng Trong có hơn 200 tín đồ theo đạo Gia Tô.
Năm 1624, giáo sĩ Pháp Alexandre de Rhodes và sáu giáo sĩ Dòng Tên đến Đàng Trong,
ra sức học tiếng Việt và đã góp phần tích cực vào việc đặt ra chQuốc ngữ. Năm năm
sau, Alexandre de Rhodes đi giảng đạo bằng tiếng Việt, tới Huế tiếp xúc với gia đình
chúa Nguyễn, truyền đạo cho Minh Đức vương thái phi, là phi tần của chúa Nguyễn
Hoàng. Bà này lấy tên đạo là Marie Madeleine. Bà b trí hẳn một ngôi nhà trong cung
điện của mình để các giáo và giảng đạo. Chính giáo Rhodes đã đề nghị chính ph
Pháp:
"Đây mt vị t cần phải chiếm lấy. Chiếm được xứ này thì các lái buôn châu Âu s
kiếm được mt nguồn lợi nhuận và tài nguyên rất phong phú” (Al. de Rhodes: Divers
voyages et missions en la Chine et autres royaumes de l'orient. Paris, 1653. (Những cuộc
hành trình và truyn đạo ở Trung Quốc và các vương quốc khác ở phương Đông) pp.
109-110).
Nhưng các giáo chưa thể thực hin được mưu đồ của họ. Năm 1639, chúa Nguyễn
Phúc Lan cấm truyn đạo Gia Tô và trục xuất các giáo sĩ.
Nhờ sự che giấu của đồng bào theo đạo, nhiều giáo vẫn lẩn lút trong dân chúng, ngấm
ngầm truyền đạo nên ni theo đạo vẫn ngày càng nhiều. Nếu năm 1621 số người theo
đạo ở Đàng Trong là 200 ni thì 43 năm sau, từ năm 1664, số người theo đạo đã lên tới
10 vạn.
Trong năm 1664, chúa Nguyễn Phúc Tần lại ra lnh cấm đạo.m 1699, chúa Nguyễn
Phúc Chu tiếp tục ra lnh cấm đạo, bắt giam người theo đạo, phá nhà, đốt sách của nhng
người theo đạo. Người phương Tây trú ngụ từ Thuận Quảng trở vào Nam đều bị trục
xut, không cho ở nước ta.
Chúa Nguyễn cấm đạo liên tục tới giữa thế kỷ XVIII. Năm 1750, Nguyn Phúc Khoát ra
lệnh trục xuất các giáo phương Tây. Nhưng chỉ hơn 20 năm sau, dòng chúa Nguyn lại
chèo kéo giáo sĩ phương Tây đến vi họ, giúp đỡ họ chống lại nhân dân, chống lại phong
to nông dân Tây Sơn, níu gingai vàng cho dòng hNguyễn. Cụ thể là năm 1777,
Nguyễn Ánh trong dòng hNguyn đã tìm gặp giáo sĩ Pháp Pigneau de Béhaine mang
tên Việt là Bá Đa Lộc. Ông này là giám mc, đại diện go hội đạo Gia Tô ở Đàng Trong.
Nguyễn Ánh cầu xin Bá Đa Lộc giúp đỡ
Bá Đa Lộc nm lấy cơ hội, dùng Nguyn Ánh làm con bài mở đường cho đế quốc Pháp
o Việt Nam. Bá Đa Lộc lấy tin đóng góp thờ Chúa của giáo dân để mua khí giới, chế
to thuyn chiến, tàu chiến kiểu châu Âu, thuê m võ quan, thủy thủ người châu Âu cho
Nguyễn Ánh.
Bá Đa Lộc khuyên Nguyễn Ánh cầu cứu nước Pháp. Năm 1784, Bá Đa Lộc đưa con
Nguyễn Ánh còn nhỏ tuổi sang Pháp làm con tin để cầu Pháp viện trợ. Ngày 28 tháng 11
năm 1787, một hiệp ước bán nước được ký kết ở điện Versailles ti Paris, một bên là b
trưởng ngoại giao Pháp Montmorin, một bên là Bá Đa Lộc - đại diện cho Nguyễn Ánh.
Với hiệp ước này, pháp hứa giúp Nguyễn Ánh 1.650 tên lính, 4 tàu chiến và một s súng
đạn. Đáp lại, Nguyễn Ánh phải nhượng hẳn đảo Côn Lôn và cảng Hội An làm thuộc địa
của Pháp, để cho Pháp đặc quyn và độc quyn vào buôn bán ở Việt Nam, không được để
người châu Âu nào khác tới buôn bán. Khi chiến tranh kết thúc, Nguyễn Ánh phải trả cho
Pháp 4 chiếc tàu chiến mới. Kèm theo một điều kiện nữa là khi nào Pháp có chiến tranh
với mt nước khác ở châu Á thì Nguyễn Ánh phải cung cấp cho Pháp: quân lính, tàu
thuyn, lương thực và mi thứ quân nhu khác .
Hip ước đã ký kết, vua Pháp Louis XVI giao cho toàn quyền Pháp ở Pondichéry (Ấn
Độ) thực hiện. Nhưng toàn quyn ở đây không có điều kiện thực hiện. Bá Đa Lộc phải tự
mình quyên tiền mua tàu chiến, mua súng đạn, mlính và đưa thêm giáo sĩ sang Việt
Nam giúp Nguyễn Ánh. Vai trò phản bội nhân dân Việt Nam của Bá Đa Lộc thực dân
Pháp đã ca ngợi công lao như sau:
T1787, mt giám mục tài ba li lạc, ngài Pigneau de Béhaine, giám mc Adran, đại
diện Tòa thánh ở Đàng Trong đã đề nghị với vua Louis XVI thiết lập một thuộc địa ở An
Nam. Sự nhận xét của ngài Pigneau thực sâu sắc, c và hoàn toàn thời sự. Hơn nữa,
ông ta không ch i tới Đàng Trong mà còn nói tới Đàng Ngoài.
Theo Adran (Bá Đa Lộc), nếu chiếm được nước này, sẽ có nhiều lợi thế nn được ảnh
hưởng của người Anh trong thi bình cũng như thời chiến. Một là bn bán tốt. Hai là
ngăn chặn được những kẻ cạnh tranh buôn bán. Ba là có nhiều gỗ để đóng tàu Bốn là có
cơ sở tiếp tế nguyên liệu. Năm là nguồn nhân lực, vật lực, cung cấp thủy thủ và nh.
Adran nhấn rất mạnh tầm quan trọng của cảng Đà Nẵng" .(E. Veuilld: Le Tonkin et la
Cochinchine - Le pays, l'histoire et les missions.)
Nguyễn Ánh còn ca ngợi Bá Đa Lộc hơn thế nữa. Trong một bức thư gửi vua Pháp Louis
XVI vào đầu năm 1790, Nguyễn Ánh viết:
"Mặc dù trùng dương cách trở, tôi vẫn ln luôn được nghe các du kháchi về thanh
danh đức độ của nhà vua. Tiếc rằng tôi không có cách nào để tỏ bày bằng chính tiếng
i của mình dưới chân bệ hạ. Tôi đành phải ấp ủ tất cả những ni niềm đó trong trái tim
mình. May mắn cho tôi đã gặp được mt người đầy tài năng li lạc mà tôi thể hoàn
toàn tin cy gửi gắm o đó. Ngườiy là ông giám mc Adran, người của nhà vua.
i đã ủy cho ông giám mục Adran toàn quyn điều đình mi công việc, và hiện nay tôi
đương chờ đợi ông ta trở lại với mi sự giúp đỡ của quý quốc" (H.Cordier: La